Diễn Đàn » Thơ dịch

Đường Thi Trích Dịch IV - Anh Nguyên

199 trả lời, 32.643 lượt xem — Trang 1 / 7
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.01.2023 12:52:51 bởi Anh Nguyên>

 ĐƯỜNG THI
     TRíCH DỊCH

                        [color="#ff0000"]Quyển IV [/color]
[color="#ff0000"]          [/color]
          Gồm 194 bài của 36 tác giả:
 
                 Hàn-Hủ ~ Hàn-Tông ~ Hạng-Tư
                 Hạo-Nhiên ~ Hoàng-Phủ-Nhiễm
                 Hoàng-Phủ-Tăng ~ Hoàng-Sào 
                 Hứa-Hồn~Khâu-Vi ~ La-Ẩn ~ La-
                 Nghiệp~Lạc-Tân-Vương ~ Lâu-
                 Dĩnh ~ Lệnh-Hồ-Sở~Liễu-Tông-
                 Nguyên ~ Liễu-Trung-Dung~ Linh-
                 Nhất ~ Lý-Bạch ~ Lý-Bân ~ Lý-Đoan 
                 Lý-Động ~ Lý-Gia-Hựu ~ Lý-Hạ
                 Lý-Hàm-Dụng ~ Lý-Hoàn ~ Lý-Ích 
                 Lý-Kiều ~ Lý-Kỳ ~ Lý-Long-Cơ 
                 Lý-Giao ~ Lý-Quần-Ngọc ~ Lý-Sính
                 Lý-Tần ~ Lý-Thân~Lý-Thích-Chi ~ Lý-Thiệp



 

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.01.2023 12:46:00 bởi Anh Nguyên>
 HÀN HỦ
 
HÀN THỰC
 
寒 食

春 城 無 處 不 飛 花
寒 食 東 風 御 柳 斜
日 暮 漢 宮 傅 臘 燭
輕 煙 散 入 五 侯 家
韓 翃
 
Xuân thành vô xứ bất phi hoa,
Hàn thực đông phong ngự liễu tà.
Nhật mộ hán cung truyền lạp chúc,
Khinh yên tán nhập ngũ hầu gia.
Hàn-Hủ
 
Dịch:
 
Tiết Hàn-Thực
 
Thành Xuân khắp chốn hoa bay,
Gió đông, vườn ngự, nhẹ lay liễu mềm.
Hán cung, chiều đốt đuốc lên,
Khói bay tỏa khắp nhà bên Ngũ-Hầu...
Anh-Nguyên


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:40:58 bởi Anh Nguyên>
 
CHƯƠNG ĐÀI LIỄU    

章 台 柳

章 台 柳 章 台 柳
昔 日 青 青 今 在 否
纵 使 长 条 自 旧 垂
也 应 攀 折 他 人 手
韩 横

Chương đài liễu chương đài liễu,
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ.
Túng sử trường điều tự cựu thùy,
Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.
Hàn-Hủ
 
Dịch:
 
Liễu Chương-Đài
 
Liễu Chương-Đài, liễu Chương-Đài,
Ngày xưa xanh biếc, ngày nay có còn?
Dẫu như cành rủ lá non,
Chắc người khác bẻ chẳng còn như xưa...
Anh-Nguyên 
             
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.01.2023 12:48:42 bởi Anh Nguyên>
 
THÙ TRỊNH CẬN THU DẠ
TỨC SỰ KIẾN TẶNG
 
酬 程 近 秋 夜 卽 事 見 贈
 
長 簟 迎 風 早
空 城 淡 月 華
星 何 秋 一 雁
砧 拯 夜 千 家
節 候 看 應 晚
心 期 臥 已 賒
向 來 吟 秀 句
不 覺 已 鳴 鴉
韩 横

Trường điệm nghênh phong tảo,
Không thành đạm nguyệt hoa.
Tinh hà thu nhất nhạn,
Châm chử dạ thiên gia.
Tiết hậu khan ưng vãn,
Tâm kỳ ngọa dĩ xa.
Hướng lai ngâm tú cú,
Bất giác dĩ minh nha.
Hàn-Hồng
 
Dịch:
 
Tặng Trình-Cận
 
Chiếu tre, đón gió sớm về,
Thành hoang, trăng uá não nề trên hoa.
Ngân hà, chiếc nhạn bay qua,
Trong đêm, chầy đá ngàn nhà nện vang.
Tiết trời, xem đã Thu tàn,
Hẹn lòng, nằm chứ chẳng màng chuyện chi.
Thơ hay, ngâm mãi biết gì,
Chẳng hay quạ réo từ khi nào rồi...
Anh-Nguyên  
     
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:47:36 bởi Anh Nguyên>
HÀN TÔNG
 
MỘ XUÂN SẢN THUỶ TỐNG BIỆT 
 
暮 春 產 水 送 別

綠 暗 紅 稀 出 帝 城
暮 雲 宮 闕 古 今 情
行 人 莫 聽 宮 前 水
流 盡 年 光 是 此 聲
韓 琮

Lục ám hồng hy xuất đế thành,
Mộ vân cung khuyết cổ kim tình.
Hành nhân mạc thính cung tiền thủy,
Lưu tận niên quang thị thử thanh.
Hàn-Tông
 
Dịch:
 
Cuối xuân tiễn đưa bên sông Sản
 
Hồng thưa, lục rậm, lìa kinh
Mây chiều, cung điện đượm tình xưa nay.
Đừng nghe nước chẩy cung đây,
Tháng năm trôi hết, tiếng này cuốn theo...
Anh-Nguyên  
   
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:49:53 bởi Anh Nguyên>
 
HẠNG TƯ

TỐNG CUNG NHÂN NHẬP ĐẠO
 
送 宮 人 入 道
 
願 隨 仙 女 董 雙 成,
王 母 前 頭 作 伴 行。
初 戴 玉 冠 多 誤 拜,
欲 辭 金 殿 別 稱 名。
將 敲 碧 落 新 齋 磬,
卻 進 昭 陽 舊 賜 箏。
旦 暮 焚 香 繞 壇 上,
步 虛 猶 作 按 歌 聲。
項 斯
 
Nguyện tùy tiên nữ đổng song thành,
Vương mẫu tiền đầu tác bạn hành.
Sơ đới ngọc quan đa ngộ bái,
Dục từ kim điện biệt xưng danh.
Tương xao bích lạc tân trai khánh,
Khước tiến chiêu dương cựu tứ tranh.
Đán mộ phần hương nhiễu đàn thượng,
Bộ hư do tác án ca hành.
Hạng-Tư
 
Dịch:
 
Tiễn đưa cung nhân đi tu
 
Nguyện theo tiên Đổng-Song-Thành,
Vườn Tây-Vương-Mẫu kết thành bạn thân.
Mũ xưa dát ngọc, lạy lầm,
Điện vàng muốn bỏ âm thầm đổi tên.
Khánh trai, Bích-Lạc vang rền,
Đàn vua, trả lại vào đền Chiêu-Dương.
Diễu đàn, sớm tối đốt hương,
Tụng kinh, âm điệu còn vương hát hò...
Anh-Nguyên                 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:52:10 bởi Anh Nguyên>
 
HẠO NHIÊN
 
TẦM LỤC HỐNG TIỆM
 
尋 陸 鴻 漸 不 遇

移 家 雖 帶 郭,
野 徑 入 桑 麻。
近 種 籬 邊 菊,
秋 來 未 著 花。
扣 門 無 犬 吠,
欲 去 問 西 家。
報 道 山 中 去,
歸 來 每 日 斜。      
僧 皎 然
 
Di gia tuy đới quách,
Dã kính nhập tang ma.
Cận chủng ly biên cúc,
Thu lai vị trứ hoa.
Khấu môn vô khuyển phệ,
Dục khứ vấn tây gia.
Báo đạo sơn trung khứ,
Quy lai mỗi nhật tà.
Hạo-Nhiên
 
Dịch:
 
Đi tìm Lục-Hồng-Tiệm
 
Dời nhà ở phía ngoài thành,
Dâu gai rậm rạp bao quanh cả đường.
Dọc bờ dậu, cúc mới ương,
Thu về hơi sớm nên vườn chưa hoa.
Cửa, kêu, chó chẳng chạy ra,
Muốn đi, thử hỏi bên nhà phía tây.
Bảo: Ông vào dẫy núi này,
Mặt trời xế bóng họa may mới về...
Anh-Nguyên 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:53:34 bởi Anh Nguyên>
 
HOÀNG PHỦ NHIỄM 
 
TIỆP DƯ OÁN
 
婕 妤 怨 

花 枝 出 建 章
鳳 管 發 昭 陽
借 問 承 思 者
雙 蛾 幾 許 長      
皇 甫 冉
 
Hoa chi xuất kiến chương,
Phụng quản phát chiêu dương.
Tá vấn thừa ân giả,
Nga mi kỷ hứa trường.
Hoàng-Phủ-Nhiễm
 
Dịch:
 
Nỗi oán của nàng Tiệp-Dư
 
Cành hoa nở điện Kiến-Chương,
Lại nghe sáo phượng Chiêu-Dương vang rồi.
Vua yêu, xin hỏi mấy lời,
Mày ngài, ân ấy được thời bao lâu!...
Anh-Nguyên 


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:55:46 bởi Anh Nguyên>
 
XUÂN TỨ         
 
春 思

鶯 啼 燕 語 報 新 年,
馬 邑 龍 堆 路 幾 千。
家 住 層 城 鄰 漢 苑,
心 隨 明 月 到 胡 天。
機 中 錦 字 論 長 恨,
樓 上 花 枝 笑 獨 眠。
為 問 天 戎 竇 車 騎,
何 時 返 旆 勒 燕 然。
皇 甫 冉

Oanh đề yến ngữ báo tân niên,
Mã ấp long đôi lộ kỷ thiên.
Gia trú tằng thành lân hán uyển,
Tâm tùy minh nguyệt đáo hồ thiên.
Cơ trung cẩm tự luân trường hận,
Lâu thượng hoa chi tiếu độc miên.
Vị vấn nguyên nhung bảo xa kỵ:
Hà thì phản thị lặc yên nhiên.
Hoàng-Phủ-Nhiễm
 
Dịch:
 
Ý Xuân
 
Xuân về, oanh én báo tin,
Gò Rồng, ấp Ngựa, mấy nghìn dặm xa.
Kinh thành, vườn Hán bên nhà,
Trời Hồ, theo ánh trăng ngà hướng theo.
Gấm, khung chữ hận dệt deo,
Hoa cười trên gác ngủ khoèo một thân.
Chỉ xin hỏi Bảo tướng quân,
Bao giờ công khắc trên phần núi Yên?...
Anh-Nguyên                 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 10:57:22 bởi Anh Nguyên>
 
ĐĂNG VẠN TUẾ LÂU     
 
登 萬 歲 樓

高 樓 獨 立 思 依 依,
极 浦 遙 山 合 翠 微。
江 客 不 堪 頻 北 顧 ,
塞 鴻 何 事 复 南 飛。
丹 陽 古 渡 寒 煙 積,
瓜 步 空 洲 遠 樹 稀。
聞 道 王 師 猶 轉 戰,
誰 能 談 笑 解 重 圍。
皇 甫 冉
 
Cao lâu độc thướng tứ y y,
Cực phố dao sơn hợp thúy vi.
Giang khách bất kham tần bắc vọng,
Tái hồng hà sự hựu nam phi.
Đan dương cổ độ hàn yên tích,
Qua bộ không châu viễn thụ hi.
Văn đạo vương sư do chuyển chiến,
Thùy năng đàm tiếu giải trùng vi.
Hoàng-Phủ-Nhiễm
 
Dịch:
 
Lên lầu Vạn-Tuế
 
Lầu cao nghĩ ngợi một mình,
Non xa bến thẳm đượm tình xanh xanh.
Khách trông mãi bắc sao đành,
Cánh hồng ngoài ải sao quành về nam.
Đan-Dương bến cũ mù tràn,
Bãi cồn Qua-Bộ mấy tàn cây thưa.
Nghe đang đánh dẹp, quân vua,
Nào ai cười nói lại vừa mở vây!...
Anh-Nguyên        
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2022 10:51:31 bởi Anh Nguyên>
HOÀNG PHỦ TĂNG
   
THU TỊCH KÝ HOÀNG
TỐ THƯỢNG NHÂN
 
秋 夕 寄 懷 素 上 人

已 見 槿 花 朝 委 露
獨 悲 孤 鶴 在 人 群
真 僧 出 世 心 無 事
靜 夜 名 香 手 自 焚
窗 臨 絕 澗 聞 流 水
客 至 孤 峰 掃 白 雲
更 想 清 晨 誦 經 處
獨 看 松 上 雨 紛 紛
皇 甫 曾
 
Dĩ kiến cẩn hoa triêu ủy lộ,
Độc bi cô hạc tại nhân quần.
Chân tăng xuất thế tâm vô sự,
Tĩnh dạ danh hương thủ tự phần.
Song lâm tuyệt giản văn lưu thủy,
Khách chí cô phong tảo bạch vân.
Cánh tưởng thanh thần tụng kinh xứ,
Độc khan tùng thượng vũ phân phân.
Hoàng-Phủ-Tăng
 
Dịch:
 
Chiều Thu gửi Hoài-Tố
 
Thấy hoa bông bụp sương rơi,
Lại thương cái hạc giữa nơi đông người.
Chân tăng tâm rất thảnh thơi,
Đêm khuya tự đốt một thời hương thơm.
Trước song, suối nước chảy tuôn,
Khách lên núi vắng, mây vờn quét sao?
Tụng kinh, nhớ ở nơi nào,
Nhìn mưa đổ xuống ào ào trên thông...
Anh-Nguyên   
   
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:03:41 bởi Anh Nguyên>
 
HOÀNG SÀO
 
ĐỀ CÚC HOA           

题 菊 花

飒 飒 西 风 满 院 栽,
蕊 寒 香 冷 蝶 难 来。
他 年 我 若 为 青 帝,
报 与 桃 花 一 处 开。
黄 巢

Táp táp tây phong mãn viện tài,
Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai.
Tha niên ngã nhược vi thanh đế,
Báo dữ đào hoa nhất xứ khai.
Hoàng-Sào
 
Dịch:
 
Đề hoa cúc
 
Gió Thu ào đến vườn hoa,
Nhị tàn, hương lạt, bướm qua làm gì!
Sang năm nếu được trị vì,
Truyền cùng đào nở một thì khắp nơi...
Anh-Nguyên  
              
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.05.2022 16:39:26 bởi Anh Nguyên>
 
HỨA HỒN
 
BẠC DU NGHIÊN LŨNG NGẪU ĐỀ                   

薄 遊 洴 隴 因 題

海 燕 西 風 白 日 斜
天 門 遙 望 五 佚 家
樓 臺 深 鎖 無 人 到
落 盡 東 風 第 一 花
許 渾

Hải yến tây phong bạch nhật tà,
Thiên môn dao vọng ngũ hầu gia.
Lâu đài thâm tỏa vô nhân đáo,
Lạc tận đông phong đệ nhất hoa.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Dạo chơi miền Nghiên-Lũng
 
Gió tây, chiều xế, én bay,
Nhà xa, trông vẫn biết ngay ngũ Hầu.
Gác, lầu, đóng kín, ai đâu?
Gió đông thổi, lớp hoa đầu rụng rơi...
Anh-Nguyên    
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:08:14 bởi Anh Nguyên>
 
TẢO THU
 
早 秋
 
遙 夜 泛 清 瑟,
西 風 生 翠 蘿。
殘 螢 栖 玉 露,
早 雁 拂 金 河。
高 樹 曉 還 密,
遠 山 晴 更 多。
淮 南 一 葉 下,
自 覺 洞 庭 波。
許 渾
 
Dao dạ phiếm thanh sắt,
Tây phong sinh thúy la.
Tàn huỳnh thê ngọc lộ,
Tảo nhạn phất kim hà.
Cao thụ hiểu hoàn mật,
Viễn sơn tình cánh đa.
Hoài nam nhất diệp há,
Tự giác động đình ba.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Đầu Thu
 
Đêm khuya vắng lặng buồn hiu,
Gió tây thổi đến, mọc nhiều cỏ la.
Đóm tàn đậu hạt móc sa,
Mới về, nhạn sớm bay qua Ngân-Hà.
Cây cao, buổi sáng lá xòa,
Khi trời tạnh ráo, núi xa, thấy nhiều.
Hoài-Nam lá rụng tiêu điều,
Động-Đình, tự biết có nhiều sóng Thu...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.06.2022 13:32:52 bởi Anh Nguyên>
        
TẢO PHÁT TRUNG NHAM TỰ, ĐỘ
QUANG LĨNH, THỨ THIÊN MỤ SẦM
 
早 發 中 岩 寺 度 關 嶺 次 天 姥 岑
 
來 往 天 台 天 姥 間,
欲 求 真 訣 駐 衰 顏。
星 河 半 落 岩 前 寺,
雲 霧 初 開 嶺 上 關。
丹 壑 樹 多 風 浩 浩,
碧 溪 苔 淺 水 潺 潺。
可 知 劉 阮 逢 人 處,
行 盡 深 山 又 是 山。
许 浑
 
Lai vãng thiên thai thiên mụ gian,
Dục cầu chân quyết thứ suy nhan.
Tinh hà bán lạc nham tiền tự,
Vân vụ sơ khai lĩnh thượng quan.
Đan hác thụ đa phong hạo hạo,
Bích khê đài thiển thủy sàn sàn.
Khả tri lưu nguyễn phùng nhân xứ,
Hành tận thâm sơn hựu thị sơn.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Sớm đi từ chùa Trung-Nham
đến nghỉ ở núi Thiên-Mụ
 
Thiên-Thai, Thiên-Mụ, lại qua,
Pháp mầu, cầu để mặt ta khỏi già.
Trung-Nham, xuống nửa Ngân-Hà,
Mù tan, Quan-Lĩnh hiện ra cổng chùa.
Như son, hang núi, gió lùa,
Khe xanh róc rách, nước vừa chảy ra.
Nguyễn, Lưu, xưa gặp tiên nga,
Đi vào núi thẳm, vẫn là núi thôi...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:16:21 bởi Anh Nguyên>
 
KIM LĂNG HOÀI CỔ        
 
金 陵 怀 古

玉 树 歌 残 王 气 终,
景 阳 兵 合 戍 楼 空。
松 楸 远 近 千 官 冢,
禾 黍 高 低 六 代 宫。
石 燕 拂 云 晴 亦 雨,
江 豚 吹 浪 夜 还 风。
英 雄 一 去 豪 华 尽,
唯 有 青 山 似 洛 中。
许 浑

Ngọc thụ ca tàn vương khí chung,
Cảnh dương binh hợp thú lâu không.
Thu ngô viễn cận thiên quan trũng,
Hòa thử cao đê lục đại cung.
Thạch yến phất vân tình diệc vũ,
Giang đồn xuy lãng dạ hoàn phong.
Anh hùng nhất khứ hào hoa tận,
Duy hữu thanh sơn tự lạc trung.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Nhớ chuyện xưa ở Kim-Lăng
 
Ngừng ca Ngọc-Thụ, hết vua,
Cảnh-Dương họp lính, gió lùa chòi không.
Mộ quan quanh dẫy ngô đồng,
Lô nhô trong lúa, là cung sáu triều.
Tạnh, mưa, én vẫn liệng đều,
Cá heo phun sóng, gió nhiều về đêm.
Hào hoa, khi mất, cũng quên,
Núi xanh còn mãi, giống miền Lạc-Trung...
Anh-Nguyên          

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:19:38 bởi Anh Nguyên>
 
BIỆN HÀ ĐÌNH                              
 
汴 河 亭

廣 陵 花 盛 帝 東 游,
先 劈 昆 侖 一 派 流。
百 二 禁 兵 辭 象 闕,
三 千 宮 女 下 龍 舟。
凝 雲 鼓 震 星 辰 動,
拂 浪 旗 開 日 月 浮。
四 海 義 師 歸 有 道,
迷 樓 還 似 景 陽 樓。
許 渾
 
Quảng lăng hoa thịnh đế đông du,
Tiên phách côn luân nhất phái lưu.
Bách nhị cấm binh từ tượng khuyết,
Tam thiên cung nữ há long chu.
Ngưng vân cổ chấn tinh thần động,
Phất lãng tinh khai nhật nguyệt phù.
Giang hải nghĩa sư quy hữu đạo,
Mê lâu hà dị cảnh dương lâu.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Đình bên sông Biện-Hà
 
Quảng-Lăng, vua đến xem hoa,
Côn-Luân, trước phải tạo ra kinh rồi.
Kinh, trăm lính cấm đã rời,
Ba nghìn cung nữ xuống nơi thuyền rồng.
Mây ngừng, trống dội, sao rung,
Cờ bay chạm sóng, che cùng trời, trăng.
Khắp sông biển, nghĩa quân tăng,
Mê Lâu há chẳng sánh bằng Cảnh Dương?...
Anh-Nguyên             
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:21:26 bởi Anh Nguyên>
 
HÀM DƯƠNG THÀNH TÂY
MÔN VÃN THIỀU            
 
咸 陽 城 西 門 晚 眺

獨 上 高 城 萬 里 愁
蒹 荷 楊 柳 似 汀 洲
溪 雲 初 起 日 沈 閣
山 雨 欲 來 風 滿 樓
鳥 下 綠 蕪 秦 茆 夕
蟬 嗚 黃 葉 漢 宮 秋
行 人 莫 問 前 朝 事
渭 水 寒 聲 晝 夜 流
許 渾

Độc thướng cao thành vạn lý sầu,
Kiêm hà dương liễu tự đinh châu.
Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
Sơn vũ dục lai phong mãn lâu.
Điểu há lục vu tần uyển tịch,
Thiền minh hoàng diệp hán cung thu.
Hành nhân mạc vấn tiền triều sự,
Vị thủy hàn thanh trú dạ lưu.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Cảnh chiều ở cửa tây thành Hàm-Dương
 
Lên thành, vạn dặm mối sầu,
Cỏ và dương liễu tận đầu bãi sông.
Mặt trời xế, suối mây hồng,
Núi, mưa đổ tới, gió lồng gác cao.
Vườn Tần cỏ biếc chim vào,
Lá vàng cung Hán nơi nào ve kêu.
Chuyện trong triều trước đừng nêu,
Ngày đêm, sông Vị sóng kêu lạnh lùng...
Anh-Nguyên  
      
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:27:19 bởi Anh Nguyên>
      
THÔN XÁ
 
村 舍
 
自 翦 青 莎 織 雨 衣,
南 峰 煙 火 是 柴 扉。
萊 妻 早 起 蒸 藜 熟,
童 子 遙 迎 種 豆 歸。
魚 下 碧 潭 當 鏡 躍,
鳥 還 青 嶂 拂 屏 飛。
花 時 未 免 人 來 往,
欲 買 嚴 光 舊 釣 磯。
許 渾
 
Tự tiển xuân sa chức vũ y,
Nam thôn yên hỏa thị sài phi.
Sơn thê tảo khởi chưng lê thục,
Đồng tử dao nghênh chủng đậu quy.
Ngư há bích đàm đương kính dược,
Điểu hoàn thanh chướng phất bình phi.
Hoa thì vị miễn nhân lai vãng,
Dục mãi nghiêm quang cựu điếu ki.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Nhà trong xóm
 
Lá sa, cắt bện áo tơi,
Thôn Nam, khói, lửa ở nơi cửa rào.
Canh lê vợ nấu hồi nào,
Đón ta trồng đậu gò cao về rồi.
Đáy đầm cá nhẩy gương trời,
Chim bay đầu núi về nơi xanh rì.
Mùa hoa kẻ đến người đi,
Nghiêm-Quang, đá ấy ngại gì không mua...
Anh-Nguyên

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 14:41:36 bởi Anh Nguyên>
 
LY SƠN
 
驪 山

聞 說 先 皇 醉 碧 桃﹐
日 華 浮 動 鬱 金 袍。
風 隨 玉 輦 笙 歌 迥,
雲 捲 珠 簾 劍 佩 高。
鳳 駕 北 歸 山 寂 寂,
龍 輿 西 幸 水 淊 淊。
蛾 眉 沒 後 巡 遊 少,
瓦 落 空 牆 見 野 蒿。
許 渾
 
Văn thuyết tiên hoàng túy bich đào,
Nhật hoa phù động uất kim bào.
Phong tùy ngọc liễn sinh ca qušnh,
Vân quyển châu liêm kiếm bội cao.
Phụng giá bắc quy sơn tịch tịch,
Long dư tây hạnh thủy thao thao.
Nga mi một hậu tuần du thiểu,
Ngõa lạc không tường kiến dã cao.
Hứa-Hồn
 
Dịch:
 
Ly-Sơn
 
Tiên-Hoàng say đắm Bích-Đào,
Nắng lên lóng lánh áo bào đầy hoa.
Gió theo xe ngọc, sênh ca,
Rèm châu, mây cuốn, sáng lòa gươm treo.
Xe loan về bắc vắng teo,
Kiệu rồng tây tiến, nước reo ào ào.
Mày ngài mất, ít đi sao,
Ngói rơi, tường trống, cỏ cao phủ đầy...
Anh-Nguyên                             
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:30:25 bởi Anh Nguyên>
 
KHÂU VI
    
TẢ DỊCH LÊ HOA           
 
左 掖 梨 花

冷 艷 全 欺 雪
餘 香 乍 入 衣
春 風 且 莫 定
吹 向 玉 階 飛
丘 為

Lãnh diệm toàn khi tuyết,
Dư hương sạ nhập y.
Xuân phong thả mạc định,
Xuy hướng ngọc giai phi.
Khâu-Vi
 
Dịch:
 
Hoa lê ở vườn Tả-Dịch
 
Lạnh lùng, đẹp, tuyết coi thường,
Mùi thơm phảng phất như vương áo quần.
Và không định trước, gió Xuân,
Thổi về thềm ngọc ở gần cung vua...
Anh-Nguyên        
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2022 05:02:59 bởi Anh Nguyên>
 
ĐĂNG NHUẬN CHÂU THÀNH       
 
登 潤 州 城

天 末 江 城 晚,
登 臨 客 望 迷.
春 湖 平 島 嶼,
殘 雨 隔 虹 蜺.
鳥 與 孤 帆 遠,
煙 和 獨 樹 低.
鄉 山 何 處 是,
目 斷 廣 陵 西.
丘 為
 
Thiên mạt giang thành vãn,
Đăng lâm khách vọng mê.
Xuân triều bình đảo dữ,
Tàn vũ cách hồng nghê.
Điểu dữ cô phàm viễn,
Yên hòa độc thụ đê.
Hương sơn hà xứ thị,
Mục đoạn quảng lăng tê.
Khâu-Vi
 
Dịch:
 
Lên thành Nhuận-Châu
 
Cuối trời, thành ở bên sông,
Lên lầu, khách mải mê trông cảnh chiều.
Triều Xuân, cồn, đảo, cô liêu,
Cầu vồng, mưa tạnh, nắng chiều, hiện ra.
Chim cùng buồm lẻ xa xa,
Tàng cây đơn lẻ nhạt nhòa khói sương.
Nơi nào là núi quê hương?
Quảng-Lăng xa tít dễ thường thấy đâu!...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2022 05:08:29 bởi Anh Nguyên>
 
TẦM TÂY SƠN ẨN GIA BẤT NGỘ
 
尋 西 山 隱 者 不 遇
 
絕 頂 一 茅 茨,
直 上 三 十 里。
扣 關 無 僮 僕,
窺 室 唯 案 幾。
若 非 巾 柴 車,
應 是 釣 秋 水。
差 池 不 相 見,
黽 勉 空 仰 止。
草 色 新 雨 中,
松 聲 晚 窗 裏。
及 茲 契 幽 絕,
自 足 蕩 心 耳。
雖 無 賓 主 意,
頗 得 清 淨 理。
興 盡 方 下 山,
何 必 待 之 子。   
丘 為     
 
Tuyệt đính nhất mao tì,
Trực thướng tam thập lý.
Khấu quan vô đồng bộc,
Khuy thất duy án kỷ.
Nhược phi cân sài xa,
Ưng thị điếu thu thủy.
Si trì bất tương kiến,
Mẫn miễn không ngưỡng chỉ.
Thảo sắc tân vũ trung,
Tùng thanh vãn song lý.
Cập tư khế u tuyệt,
Tự túc đãng tâm nhĩ.
Tuy vô tân chủ ý,
Phả đắc thanh tĩnh lý.
Hứng tận phương há sơn,
Hà tất đãi chi tử.
Khâu-Vi
 
Dịch:
 
Tìm ẩn sĩ ở Tây-Sơn
 
Đỉnh cao ngất, một mái tranh,
Thẳng ba chục dặm, đi nhanh một hồi.
Cửa, kêu không trẻ trả lời,
Ghé nhìn, bàn ghế không người, vắng tanh.
Nếu không xe gỗ dạo quanh,
Cũng đang câu cá bên gành nước sâu.
Lỡ làng không gặp được nhau,
Thì đành gắng gượng ngẩng đầu nhìn xa.
Cỏ mầu tươi dưới mưa sa,
Gió thông chiều thổi vào qua song nhà.
Vắng, nhàn, thực hợp người ta,
Tâm an, tai thoáng, thật là đủ thay.
Khách chưa hỏi chủ ý này,
Lẽ đời trong sạch hiểu ngay được rồi.
Hứng tàn, xuống núi đi thôi,
Cần chi phải đợi xa xôi ông về...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 14:51:03 bởi Anh Nguyên>
 
LA ẨN

ĐÀO HOA         
 
桃 花

暖 觸 衣 襟 漠 漠 香,
間 梅 遮 柳 不 勝 芳。
數 枝 豔 拂 文 君 酒,
半 裏 紅 欹 宋 玉 牆。
盡 日 無 人 疑 悵 望,
有 時 經 雨 乍 淒 涼。
舊 山 山 下 還 如 此,
回 首 東 風 一 斷 腸。
羅 隱

Noãn xúc y khâm mạc mạc hương,
Gián mai già liễu bất thăng phương.
Sổ chi diễm phú văn quân tửu,
Bán lý hồng y tống ngọc tường.
Tận nhật vô nhân nghi trướng vọng,
Hữu thì khinh vũ sạ thê lương.
Cựu sơn sơn hạ hoàn như thử,
Hồi thủ đông phong nhất đoạn trường.
La-Ẩn
 
Dịch:
 
Hoa đào
 
Hương thơm thấm áo ấm êm,
Ngăn mai, cản liễu, hương thêm ngạt ngào.
Rượu Văn-Quân, phủ đẹp sao!
Bên tường Tống-Ngọc, sắc đào hồng tươi!
Suốt ngày vắng vẻ, ngóng người,
Mưa rơi từng lúc, đầy trời thê lương.
Ở chân núi cũ vẫn thường,
Gió đông, ngoảnh lại xót thương đứt lòng...
Anh-Nguyên              

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:41:33 bởi Anh Nguyên>
 
MAI HOA     
 
梅 花

吳 王 醉 處 十 餘 里
照 夜 拂 衣 今 正 繁
經 雨 不 隨 山 鳥 散
倚 風 如 共 路 人 言
因 憐 粉 艷 飄 歌 席
特 愛 寒 香 撲 酒 樽
欲 寄 所 思 無 好 信
為 君 惆 悵 又 黃 昏
羅 隱 

Ngô vương túy xứ thập dư lý,
Chiếu dạ phất y kim chính phồn.
Kinh vũ bất tùy sơn điểu tán,
Ý phong như cộng lộ nhân ngôn.
Nhân liên phấn diễm phiêu ca tịch,
Đặc ái hàn hương phác tửu tôn.
Dục ký sở tư vô hảo tín,
Vị quân trù trướng hựu hoàng hôn.
La-Ẩn
 
Dịch:
 
Hoa mai
 
Vua Ngô mười dặm ngoài say,
Đêm, hoa nở rộ níu ngay áo ngoài.
Mưa, không tan tác, tươi hoài,
Gió lay, như chuyện cùng ai bên đường.
Phấn bay vào tiệc vì thương,
Đụng vào chén rượu ưa hương lạnh này.
Gửi niềm nhớ, chẳng tin hay,
Vì ai buồn bã, chiều nay xuống rồi...
Anh-Nguyên                 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:55:11 bởi Anh Nguyên>
 
KHÚC GIANG XUÂN CẢM           

曲 江 春 感

江 頭 日 煖 花 又 開
江 東 行 客 心 悠 哉
高 陽 酒 徒 半 凋 落
終 南 山 色 空 崔 嵬
聖 代 也 知 無 棄 物
侯 門 未 必 用 非 才
滿 般 明 月 一 竿 竹
家 在 五 湖 歸 去 來
羅 隱
 
Giang đầu nhật noãn hoa hựu khai,
Giang đông hành khách tâm du tai.
Cao dương tửu đồ bán điêu lạc,
Chung nam sơn sắc không thôi ngôi.
Thánh đại dã tri vô khí vật,
Hầu môn vị tất dụng phi tài.
Mãn thuyền minh nguyệt nhất can trúc,
Gia tại ngũ hồ quy khứ lai.
La-Ẩn
 
Dịch:
 
Xuân ở Khúc-Giang
 
Đầu sông hoa nở, nắng êm,
Về đông lòng khách càng thêm âu sầu.
Cao-Dương, bạn rượu còn đâu,
Chung-Nam, vẫn núi trên đầu ngất cao.
Thánh triều chẳng bỏ bậc nào,
Không tài chưa chắc được vào cửa quan.
Trăng vàng, cần trúc, thuyền nan,
Ngũ-Hồ, đi, lại, an nhàn mái tranh...
Anh-Nguyên       
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2022 11:58:50 bởi Anh Nguyên>
 
LA NGHIỆP              
 
BỘC DỊCH PHA VÃN VỌNG
 
僕 射 陂 晚 望 

離 人 到 此 倍 堪 傷,
陂 水 蘆 花 似 故 鄉.
身 事 未 知 何 日 了,
馬 蹄 惟 覺 到 秋 忙.
田 園 牢 落 東 歸 晚,
道 路 辛 勤 北 去 長.
卻 羡 無 愁 是 沙 鳥,
雙 雙 相 趁 入 斜 陽.
羅 鄴
 
Ly nhân đáo thử bội kham thương,
Pha thủy lô hoa tự cố hương.
Thân sự vị tri hà nhật liễu,
Mã đề duy giác đáo thu mang.
Điền viên lao lạc đông quy vãn,
Đạo lộ tân cần bắc khứ trường.
Khước tiện vô sầu thị sa điểu,
Song song tương sấn nhập tà dương.
La-Nghiệp
 
Dịch:
 
Chiều trên bờ đầm Bộc-Dịch
 
Xa nhà, đau xót đến đây,
Hoa lau, đầm nước, cảnh đầy giống quê.
Thân này chưa biết ngày về,
Vó câu, chỉ biết não nề Thu sang.
Về đông, vườn ruộng muộn màng,
Đường lên phía bắc muôn vàn xa xôi.
Thảnh thơi, bãi cát chim chơi,
Nắng chiều, từng cặp sóng đôi lưng trời...
Anh-Nguyên 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2022 05:18:16 bởi Anh Nguyên>
 
LẠC TÂN VƯƠNG

TẠI NGỤC VỊNH THIỀN    

在 獄 詠 蟬

西 陸 蟬 聲 唱,
南 冠 客 思 深。
不 堪 玄 鬢 影,
來 對 白 頭 吟。
露 重 飛 難 進,
風 多 響 易 沉。
無 人 信 高 潔,
誰 為 表 予 心。
駱 賓 王
 
Tây lục thiền thanh xướng,
Nam quan khách tứ thâm.
Bất kham huyền mấn ảnh
Lai đối bạch đầu ngâm.
Lộ trọng phi nan tiến,
Phong đa hưởng dị trầm.
Vô nhân tín cao khiết,
Thùy vị biểu dư tâm.
Lạc-Tân-Vương
 
Dịch:
 
Trong ngục vịnh ve sầu

Mùa Thu vang tiếng ve kêu,
Trong tù, khách nghĩ bao nhiêu chuyện đời.
Cánh đen này há bỏ lơi,
Tìm ông đầu bạc hiểu đời ngâm nga.
Sương rơi nặng, khó bay xa,
Gió nhiều, nên khiến âm ba dễ chìm.
Thanh cao, trong sạch ai tin,
Dãi bày tâm sự, biết tìm ai đây?...
Anh-Nguyên      
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2022 05:19:29 bởi Anh Nguyên>
 
DỊCH THUỶ TỐNG BIỆT  
 
易 水 送 別

此 地 別 燕 丹,
壯 士 髮 衝 冠。
昔 時 人 已 沒,
今 日 水 猶 寒。
駱 賓 王  

Thử địa biệt yên đan,
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thì nhân dĩ một,
Kim nhật thủy do hàn.
Lạc-Tân-Vương
 
Dịch:
 
Tiễn đưa trên sông Dịch
 
Đất này giã cậu hoàng Yên,
Tóc người tráng sĩ dựng trên mái đầu.
Người xưa khuất bóng đã lâu,
Ngày nay còn thấy nước sâu lạnh lùng.
Ngô-Tất-Tố
 
Chốn này từ biệt, Yên-Đan,
Tóc người chiến sĩ can tràng dựng lên,
Thời xưa, người đã nằm yên,
Ngày nay, nước chảy triền miên lạnh lùng...
 
Nơi này, biệt Thái-tử Yên,
Tóc người tráng sĩ dựng lên, căm thù.
Người xưa chết đã ngàn thu,
Nay nhìn dòng nước còn như lạnh lùng...
Anh-Nguyên     
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2022 05:20:49 bởi Anh Nguyên>
 
LÂU DĨNH
 
TÂY THI THẠCH          

西 施 石

西 施 昔 日 洗 紗 津
石 上 青 苔 思 殺 人
一 去 姑 蘇 不 復 返
岸 旁 棑 李 為 誰 春
樓 穎 
 
Tây thi tích nhật tẩy sa tân,
Thạch thượng thanh đài tứ sát nhân.
Nhất khứ cô tô bất phục phản,
Ngạn bàng đào lý vị thùy xuân.
Lâu-Dĩnh
 
Dịch:
 
Đá Tây-Thi
 
Tây-Thi xưa giặt bến này,
Rêu xanh mặt đá, người nay não nề.
Cô-Tô, đã đến, chẳng về,
Vì ai, đào lý tràn trề nét Xuân?...
Anh-Nguyên           
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»