Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện Kinh Dị của Conan Doyle - Kim Lương biên dịch

6 trả lời, 1.656 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-02 21:56:07Ct.Ly>
Lời Giới Thiệu
 
Tác giả Conan Doyle sinh ở Edimbourg ngày 22 tháng 5 năm 1859, từ trần năm 1930. Ông xuất thân là một bác sĩ y khoa, nhưng ông gần như bỏ nghề chính mà đi theo sự nghiệp văn chương. Ông là một người đa năng, đa hiệu. Ông viết tiểu thuyết, viết kịch, viết về lịch sử, làm thông tin viên chiến tranh, nghiên cứu về khoa học thần bí. Ngoài ra ông còn là một lực sĩ trong môn thể thao và là người ham săn bắn cá voi.

Phần lớn chúng ta từ trước chỉ biết ông qua những truyện trinh thám ly kỳ của ông với vai chính là nhà thám tử đại tài Sherlock Holmes. Nhân vật Sherlock Holmes hoàn toàn do ông tưởng tượng ra, vậy mà được bao nhiêu thế hệ độc giả yêu thích như một người có thật.

Nhưng ngoài tài viết về trinh thám, ông còn rất sở trường về lối tiểu thuyết kinh dị, quái đản. Lối truyện kinh dị của ông có phần nào giống như Liêu Trai Chí dị của Bồ Tùng Linh hoặc Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, nhưng đượm màu khoa học Tây Phương khiến người đọc dễ say mê với những cảnh ly kỳ rùng rợn khiến người ta thấy sởn gai óc.

Chúng tôi xin giới thiệu một số truyện kinh dị tiểu biểu của ông.
 
 
Bàn Tay Nâu
 
    Ai cũng biết ngài Dominic Holden, một y sĩ danh tiếng tại Ấn Độ, đã chọn tôi làm người thừa kế của ông; và cái chết của ông sẽ biến đổi một anh y sĩ nghèo nàn, vất vả thành một ông chủ giàu sang. Mọi người cũng đều biết rằng ít nhất có năm người cũng có thể ngấp nghé vào việc thừa kế ấy như tôi và rằng sự lựa chọn của ngài Dominich đã tỏ ra với một vài người là quá độc đoán và kỳ cục. Mặc kệ! Về phần tôi, tôi xác nhận rằng ngài Dominich đã có những lý do rất vững vàng để bày tỏ lòng ưu ái đối với tôi, mặc dù tôi chỉ mới biết ông trong những năm cuối cùng của đời ông. Tôi cũng dám nói rằng những điều tôi đã làm cho ông chú tại nước Ấn Độ này chưa bao giờ có ai từng làm được cho một người khác. Tất nhiên là tôi không thể hy vọng là người khác tin ở lời tôi, khi câu chuyện của tôi không phải là thứ truyện tầm thường. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng tôi sẽ không làm tròn bổn phận nếu tôi không kể lại câu chuyện đó. Vậy thì sau đây là câu chuyện đó. Các bạn có tin ở tôi hay các bạn sẽ không tin tôi, đó là tùy ý các bạn.
    Ngài Dominich là hội viên của Hội Ordre du Bain, có Huy chương Ấn Độ bội tinh...Lúc sinh thời là một vị y sĩ cực kỳ lỗi lạc, ông đã từ giã quân ngũ để định cư tại Bombay và mở phòng mạch chữa cho các con bệnh thường dân. Ông thường được mời đi thăm bệnh; ông đã đi tới tất cả các tỉnh của Ấn Độ. Tên tuổi ông được gắn liền mãi với bệnh viện Đông Phương mà ông đã tạo lập và khai triển. Vào một thời điểm nào đó, cái cơ thể vững như thép của ông đã biểu hiện những dấu hiện của sự mệt mỏi, tiếp theo sự căng thẳng quá độ lâu năm mà ông đã bắt nó phải gánh chịu. Các đồng nghiệp của ông (có thể là không hoàn toàn bất vụ lợi trong trường hợp này) đã khuyên ông trở về Anh. Ông vẫn cố chịu đựng cho tới khi các triệu chứng thần kinh xuất hiện rõ ràng một cách đáng sợ. Lúc đó ông mới trở về cố hương Wiltshire của ông, tâm trí rất chán chường. Ông mua một tài sản đẹp đẽ, với một trang trại cũ, gần cánh đồng Salisbury và ông giành những ngày tàn của ông cho việc nghiên cứu môn so sánh bệnh lý học; môn học này đã là lý tưởng của một đời ông và ông đã đạt được một sự lừng danh bất khả tranh biện về nó.
    Là những người trong gia đình ông, như các bạn đã thấy, chúng tôi rất xôn xao khi nghe tin ông chú giàu có và không có con cái này trở về Anh. Mặc dầu không tỏ ra có tính hiếu khách hào sảng, ông vẫn biểu lộ một đôi chút ý niệm về các bổn phận đối với gia tộc ông; lần lượt từng người một, bọn chúng tôi đã được mời tới thăm ông.
    Cứ tin ở lời năm người anh em học của tôi đã tới thăm ông trước tôi thì chuyến đi về vùng quê này chả có gì là vui thích cả. Như vậy là với những tình cảm lẫn lộn, cuối cùng tôi đã nhận được một lá thư bảo tôi tới Ronenhurst. Vợ tôi đã bị gạt ra khỏi danh sách một cách quá cẩn thận khiến cho hành động đầu tiên của tôi là khước từ lời mời; nhưng liệu tôi có quyền lợi cùng với những quyền lợi của lũ con tôi không? Với sự đồng ý của vợ tôi, một buổi chiều tháng mười tôi đi Wiltshire. Tôi đã không có chút tưởng tượng nào về các hậu quả của chuyến du hành này.
    Tài sản của chú tôi tọa lạc ở một nơi mà những khoảng đất canh tác được của cánh đồng bắt đầu nhô về hướng các vách đá vôi, một nét đặt thù của lãnh địa. Ngồi xe từ nhà ga Dinton vào lúc hoàng hôn của một ngày mùa thu đó, tôi đã bị trấn áp một cách kinh khủng bởi những dấu tích đồ sộ của đời sống tiền sử đến nỗi hiện tại hình như chỉ là một giấc mộng ở bên cạnh những sự thật ngạo nghễ, đầy sức ám ảnh của quá khứ. Con đường vạch ra những lối ngoằn nghèo trong các thung lũng được bao quanh bởi từng dãy đồi liên tiếp nhau và chóp đỉnh của tất cả những trái đồi này đều được đẽo gọt thành những công sự khá phức tạp, hình tròn hoặc hình vuông, những công sự này đã đứng ngạo nghễ trước gió và mưa hàng bao nhiêu thế kỷ. Nhiều người nói chúng là của người La Mã, nhiều người khác bảo rằng chúng là của người Anh. Thật ra, nguồn gốc chân thật của chúng không bao giờ được làm cho sáng tỏ cả, cũng như các lý do tại sao trong cả các nơi, miền này lại có nhiều thành lũy như vậy. Rải rác đây đó, trên những triền xanh ô liu kéo dài và phẳng phiu, nổi cao lên những mô đất nhỏ, tròn trĩnh. Những ngôi mả này chứa đựng tro tàn của những người đã đào sâu những ngọn đồi, những bình đựng đầy tro bụi, đó là tất cả những gì còn lại của những người xưa kia đã lao động dưới ánh mặt trời.
    Chính là phải đi qua miền quê bí hiểm này mà tôi đã tới gần Rodenhurst, nơi cư ngụ của chú tôi; ngôi nhà rất hòa điệu với những khung cảnh chung quanh. Hai cây cột bị đổ và lem luốc vì tuổi tác, trên mỗi cây đều có một tấm huy hiệu đã bị sứt mẻ, chúng đỡ lấy một tấm lưới mở ra một lối đi được chăm sóc một cách cẩu thả. Một cơn lạnh lẽo rít lên trong đám cây du thụ mọc bên cạnh lối đi. Không khí xào xạc những lá bay lả tả. Ở cuối lối đi, dưới một mái cây uốn cong, một ánh sáng vàng vọt lóe ra. Trong cái ánh sáng của giờ giấc này giữa lúc chạng vạng tối, tôi nhận ra một tòa kiến trúc dài và thấp xòe ra đôi cánh không cân đối, nóc nhà thoai thoải có những mái chìa ra ngoài, những xà nhà theo kiểu thời Tudor bắt chéo nhau trên các đầu tường. Một ngọn lửa ấm cúng nhảy múa phía sau bức cửa sổ lớn hình lục lăng ở bên trái cửa lớn ra vào; nó chỉ cho thấy nơi kê bàn giấy của chú tôi; và đó là nơi mà người quản gia đưa tôi tới để ra mắt ngài Dominich.
    Ông đang cúi mình xuống trên lò than, vì cái lạnh ẩm ướt của một mùa thu ở Anh quốc làm cho ông run rẩy. Ngọn đèn của ông đã tắt ngúm, ánh sáng đỏ hồng của những cục than soi sáng một cách phũ phàng khuôn mặt to lớn có những cạnh góc rõ ràng, một cái mũi và những gò má của người Da đỏ, những nếp nhăn, những đường hằn sâu giữa mắt và cằm. Ông đứng vụt dậy để đón tiếp tôi, với một kiểu lịch sự hơi lỗi thời và ông nồng nhiệt cầu chúc cho tôi sự tiếp đãi ân cần tại Rodenhurst. Khi người quản gia đốt đèn lên, tôi nhận thấy đôi mắt màu xanh trong sáng có vẻ rất soi mói, nom như những người lính thám sát dưới một bụi cây rậm, đang nhìn chằm chằm vào mặt tôi dưới hàng lông mày rậm và cái ông chú xa lạ này đang tìm hiểu tâm tính của tôi với tất cả sự dễ dàng của một quan sát viên được rèn luyện và một người lịch duyệt sự đời.
    Đến lượt tôi, tôi nhìn ông với sự chú tâm, vì chưa bao giờ tôi thấy một người mà thể chất đáng được sự lưu ý của một y sĩ tới như vậy. Ông có vóc dáng của một người khổng lồ, nhưng ông đã bị suy sụp và chiếc áo vết của ông lòng thòng thẳng đuỗn từ đôi vai xương xẩu rộng lớn của ông, nom có vẻ hơi kệch cỡm, xấu và những ngón tay vừa dài vừa nổi u nổi cục. Nhưng chính đôi mắt của ông (những con mắt soi mói, màu sanh trong sáng) mới tạo thành nét đặc thù nổi bật nhất của con người ông. Không phải chỉ bởi màu sắc của chúng cũng không phải bởi sự che dấu của đám lông mày dưới đó chúng ẩn náu, mà bởi sự biểu lộ của chúng. Với dáng dấp đường bệ của chú tôi, lẽ ra đôi mắt ông phải bừng lên một vẻ ngạo nghễ nào đó. Trái lại, cái nhìn của ông là cái nhìn của một con chó khi thấy ông chủ vừa cầm lấy cái roi; cái nhìn của ông biểu lộ một sự buồn nản lớn lao về tinh thần. Ngay tức thì, trong đầu óc tôi, tôi  đã vạch ra sự phán đoán của tôi: ông chú tôi mắc phải một bệnh rất trầm trọng, ông tự biết rằng ông có thể bị chết bất chợt và ông sống trong sự kinh hoàng là phải chết như vậy. Đúng, đó là điều mà tôi đã dự đoán. Sự diễn tiến của các sự việc sẽ chứng tỏ rằng tôi đã lầm, tôi chỉ nói tới cảm tưởng đầu tiên của tôi vì có thể nó sẽ giúp các bạn tưởng tượng được cái nhìn của chú tôi.
    Như vậy là ông đã đón tiếp tôi hết sức lịch sự và một giờ sau đó tôi đã thấy mình ngồi ở giữa ông và bà vợ của ông trước một bữa ăn thịnh soạn; trên bàn ăn có những thứ kẹo kỳ lạ, có trộn ớt cay và đằng sau ghế ông là một tên đầy tớ Đông Phương nom lấm lét và nhanh nhẹn. Cặp vợ chồng già này đã đi tới chỗ muốn diễn lại một cách thê thảm buổi thiếu thời khi mà ở ông chồng lẫn bà vợ đều mất hết mọi người thân và họ chỉ còn trơ trọi hai người đối diện với nhau; nhiệm vụ của họ đã hoàn thành, đoạn kết của cuộc đời đang tiến lại gần với từng bước lớn. Những kể chiến thắng trong cuộc thử thách lớn lao của kiếp nhân sinh là những người đã tiến tới giai đoạn này trong sự yên lành và trong tình yêu và là những người  có khả năng biến đổi mùa đông của họ thành một mùa hè êm ả của nước Ấn Độ. Bà Holden, một người nhỏ nhắn linh hoạt, có vẻ là một người có từ tâm. Những cái nhìn của bà ném vào ông chồng đã phát lộ sự hòa hợp ngự trị trong cuộc sống lứa đôi của họ. Tuy nhiên, mặc dù sự âu yếm giữa hai người, tôi vẫn linh cảm một cách chắc chắn một thứ kinh hoàng chung nào đó trên mặt bà thím tôi. Tôi nhận thấy một phản ánh của nỗi lo sợ đã nằm sâu trong ngài Dominich. Sự trò chuyện của họ khi thì vui vẻ, khi thì buồn rầu. Nhưng sự vui vẻ của họ có một vẻ miễn cưỡng, trong khi sự thiếu che đậy về điều buồn bã của họ ngầm cho tôi biết là ở bên cạnh tôi có hai trái tim nặng trĩu.
    Chúng tôi đã ăn xong bữa, những kẻ hầu hạ đã rời khỏi phòng sau khi mang cho chúng tôi một ly porto, khi cuộc trò chuyện của chúng tôi quay sang một đề tài làm nẩy sinh một kết quả bất ngờ cho các vị chủ nhà của tôi. Tôi không còn nhớ làm thế nào mà chúng tôi đã đi tới chỗ đề cập tới vấn đề siêu nhiên; đại khái là tôi chỉ cho họ thấy là trong các cuộc thí nghiệp  về tâm linh, sự bất bình thường là một vấn đề mà tôi, cũng như nhiều bác sĩ thần kinh học, đã giành rất nhiều sự chú tâm và tôi kết luận bằng cách kể lại một kinh nghiệm bản thân: với tư cách hội viên của Hội nghiên cứu Tâm linh, tôi đã tham dự một ủy ban để ngủ lại qua đêm tại một căn nhà có ma; mặc dù câu chuyện chẳng có gì là say mê, cũng chẳng có sức thuyết phục, cuộc mạo hiểm của tôi cũng khiến cho các vị thính giả của tôi chú ý với mức độ rất cao. Họ nghe tôi nói mà không bao giờ ngắt lời tôi. Tôi bắt gặp giữa họ có một vẻ gì về sự đồng lõa mà tôi không biết giải thích như thế nào. Bà Holden đứng dậy và để bọn tôi ở lại một mình.
    Ngài Dominich đẩy một hộp xì gà về phía tôi. Chúng tôi yên lặng hút thuốc trong một lúc. Khi ông để điếu xì gà lên miệng, bàn tay xương xẩu to lớn của ông run rẩy. Những dây thần kinh của ông chắc chắn phải rung lên như những sợi dây đàn. Linh tính của tôi báo trước cho tôi biết rằng ông đang sắp sửa có điều gì thổ lộ tâm can và tôi định bụng không nói gì cả, sợ làm ông cụt hứng. Cuối cùng ông quay sang phía tôi với một cử động mau lẹ của một người vừa rũ sạch được nỗi áy náy sau cùng.
- Bác sĩ Hardane ạ, chú ít biết về cháu - ông bắt đầu nói - Tuy nhiên, đối với chú hình như cháu mới đúng là người chú muốn gặp.
- Thưa chú, hẳn chú thấy cháu rất sung sướng với điều chú nói.
- Chú có cảm tưởng cháu là người bình tĩnh và cháu có can đảm. Cháu đừng nghĩ rằng chú tìm cách phỉnh phờ cháu, vì hoàn cảnh rất trầm trọng khiến cho chú không thể làm thiếu đi bất cứ một chút gì cho sự thành thực. Cháu đã nắm vững một vài quan điểm của một triết gia, điều đó đã làm cho cháu tránh được một sự kinh hoàng tầm thường. Chú giả thuyết rằng cảnh ma quỷ xuất hiện sẽ không làm cháu hoảng sợ quá mức.
- Thưa chú, cháu không nghĩ là cháu sẽ hoảng sợ.
- Và thậm chí có thể nó còn làm cho cháu thích thú nữa?
- Cháu rất thích thú.
- Vốn là một quan sát viên về tâm linh, chắc chắn là cháu đã nghiên cứu về vấn đề đặc biệt này một cách khách quan cũng như một nhà thiên văn học nghiên cứu ngôi sao chổi bay ở trên trời chứ?
- Vâng, đúng hệt như vậy.
    Ông bật lên một tiếng thở dài:
- Hãy tin ở chú, bác sĩ Hardane ạ, đã có thời chú có thể nói chuyện với  cháu như cháu đang nói với chú lúc này. Ở Ấn Độ, sự dũng cảm của chú đã trở thành chuyện truyền khẩu. Ngay cả cuộc binh biến lớn lao cũng không làm suy yếu lòng dũng cảm của chú một chút nào. Tuy nhiên, cháu nhìn thấy ngày nay chú đã hóa thành một thứ đồ phế thải như thế nào: chú đã trở thành một kẻ nhút nhát nhất trong khắp vùng Wiltshire. Cháu chớ có ngổ ngáo quá trong lãnh vực này; nếu không có khi cháu sẽ bị vướng vào một cuộc thử thách lâu dài giống như cuộc thử thách mà chú đang vướng phải. Một cuộc thử thách chỉ sẽ chấm dứt trong một nhà thương điên hoặc trong nấm mồ.
    Tôi cố kiên nhẫn chờ ông quyết định đi ngay vào điểm chính của mối bận tâm của ông. Khỏi cần phải nói thì ai cũng biết lời mở đầu của ông đã làm tôi say mê.
-...Từ một năm nay, ông nói tiếp, đời sống của chú và đời sống của thím bị buồn phiền. Nguyên nhân rất kỳ cục khiến người ta muốn bật cười. Tuy nhiên, tính cách quen thuộc của nó khiến cho người ta không thể chịu đựng được. Trái lại, ngày tháng qua đi, các dây thần kinh của chú càng suy mòn một cách thảm thương. Nếu cháu không bị nỗi lo sợ về thể chất, bác sĩ Hardane ạ, thì chú rất sung sướng được nghe ý kiến của cháu về cái hiện tượng đã làm chúng ta mâu thuần nhau rất nhiều.
- Ý kiến của cháu, dù nó có giá trị thế nào đi nữa, cũng xin được đặt tùy quyến định đoạt của chú. Cháu có thể hỏi chú về bản chất của hiện tượng đó không?
- Chú nghĩ rằng kinh nghiệm của chính cháu sẽ hữu ích hơn nếu cháu không biết trước những gì mà có thể cháu sẽ khám phá ra. Chắc cháu đã hiểu sự hoạt động của não bộ và những cảm nghĩ chủ quan đã bao hàm một sự mập mờ khó hiểu như thế nào. Chú nghĩ tốt hơn hết là cháu nên tránh điều đó.
- Vậy thì bây giờ cháu phải làm gì?
- Chú sẽ nói cho cháu nghe. Cháu có vui lòng theo chú lại chỗ này không?
    Rồi ông dẫn tôi ra khỏi phòng ăn, đi vào một hành lang tới cái cửa. Sau tấm cửa này là một căn phòng lớn không bày biện đồ đạc gì, được trang bị thành phòng thí nghiệm, với một số dụng cụ khoa học và nhiều chiếc bình. Trên một mảnh xích đông đặt dọc theo mặt tường, có một dẫy xếp đầy những bình đựng các mẫu về bệnh lý học và các bộ phận được giải phẫu.
-...Cháu thấy là chú không xao lãng công việc cũ của chú, ngài Dominich nói. Những bình này chỉ là phần còn sót lại của những gì mà trước đây đã là một bộ sưu tầm quý giá. Bất hạnh thay, chú đã đánh mất phần lớn các mẫu này trong vụ hỏa hoạn làm cháy tiêu tan căn nhà của chú ở Bombay năm 1892. Trong nhiều phương diện vụ cháy tai hại này đã làm chú thiệt thòi quá nhiều. Chú đã có những loại mẫu rất hiếm và bộ sưu tầm của chú về bộ phận lá lách có thể coi là bộ duy nhất trên thế giới. Đây là những thứ đã cứu vãn được....
    Tôi đảo mắt nhìn, khá đầy đủ để cho ta thấy rằng quả thực chúng có một giá trị rất lớn và trên phương diện bệnh lý học, đó là những thứ cực kỳ hiếm thấy: các cơ quan tụ đặc lại, các nang thũng rộng ngoác, các mảnh xương biến dạng, những ký sinh trùng đáng ghét....Tóm lại, một cuộc trưng bày độc đáo về các sản phẩm của Ấn Độ.
-...Như cháu đã nhìn thấy, ở đây còn có một ghế tràng kỷ, ông chú tôi nói tiếp. Chú không hề nghĩ tới việc giành cho một vị khách một tiện nghi xoàng xĩnh như thế này; nhưng qua cuộc nói chuyện của chúng ta, chắc cháu sẽ rất vui lòng chấp nhận việc ngủ qua đêm trong căn phòng này. Chú xin cháu đừng ngần ngại gì, mà cứ nói đi nếu lời đề nghị của chú làm cháu phật ý.
- Không có gì phật ý cả, tôi đáp lại. Điều này rất dễ chấp nhận.
- Phòng của chú là căn thứ nhìn về bên trái. Trong trường hợp cháu thấy cần có người bầu bạn, cháu chỉ việc gọi chú. Chú sẽ tới ngay tức khắc.
- Cháu hy vọng rằng cháu sẽ không bị buộc phải quấy phiền chú.
- Khó có chuyện là chú ngủ được. Chú không ngủ nhiều được nữa. Cứ gọi chú, chớ ngần ngại gì.
    Thế là chúng tôi đã thỏa thuận với nhau, chúng tôi đi ra gặp lại bà Holden trong phòng khách và chúng tôi nói chuyện về những đề tài dí dỏm hơn. 
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
    Tôi công nhận không một chút màu mè nào rằng viễn cảnh của cuộc mạo hiểm này làm tôi vui thích. Tôi không muốn tỏ ra can đảm hơn những người ở bên cạnh tôi, nhưng khi người ta đã quen thuộc với một vấn đề, người ta coi thường những nỗi sợ hãi vu vơ và mập mờ đã làm kinh động một bộ óc giàu tưởng tượng. Bộ óc con người chỉ có thể tiếp nhận một cảm xúc mạnh trong một lúc nào đó: nếu nó đang nôn nóng vì tò mò hay nhiệt tình khoa học, thì sợ hãi không còn chỗ trong nó nữa. Đúng thật ông chú tôi đã nói rằng lúc mới đầu ông cũng đã chia sẻ quan điểm của tôi; tôi nghĩ rằng sự suy sụp hệ thần kinh của ông có thể là do bốn mươi năm ông đã sống ở Ấn Độ, cũng như do bất cứ một cuộc mạo hiểm tâm linh nào. Còn về phần tôi, ít nhất tôi cũng vững vàng, nói về phương diện thần kinh và tâm lý; đó là lý do tại sao tôi đã cảm thấy sự hồi hộp dễ chịu mà người thợ săn thường cảm thấy khi ngồi rình gần tổ con mồi, khi tôi đóng sập cánh cửa phòng thí nghiệm sau lưng tôi. Tôi cởi bỏ một phần quần áo, rồi tôi nằm dài trên ghế trường kỷ trải những tấm da thú.
    Nếu là một phòng ngủ thì khung cảnh không phải là lý tưởng. Không khí nặng trĩu mùi hóa chất, trong đó mùi cồn chín mươi sặc sụa nhất. Hơn nữa, cách trang trí không có chút gì làm người ta muốn ngủ. Cái dẫy những bình bày trong đó nổi lập lờ các vết tích của những bệnh tật và những sự đớn đau, đang phơi bày ra ngay trước mặt tôi. Trên cửa sổ không có cánh cửa, cũng không có màn che; một vầng trăng khuyết tuôn ánh sáng xanh xao vào căn phòng và vạch ra trên bức tường đối diện một hình vuông màu bạc, trong đó những hình lục lăng chồng chéo lên nhau. Khi đã có một vẻ huyền hoặc và rối rắm, một sự yên lặng hoàn toàn chiếm ngự tất cả các căn nhà cũ kỹ; tiếng xào xạc nhẹ nhàng của các cành cây ngoài vườn lọt tới tai tôi một cách dịu dàng. Phải chăng đó là lời ru ngủ của những tiếng rì rầm liên tục? Hay đó là sự mệt mỏi của một ngày qua? Tôi đã cố chống cự để gìn giữ tất cả sự tỉnh táo cho các giác quan của tôi, tôi đã ngủ một giấc ngủ say sưa.
    Một tiếng động trong phòng thí nghiệm làm tôi thức giấc. Ngay tức thì tôi chống khuỷu tay ngồi nhỏm lên. Chắc tôi đã ngủ được một vài giờ đồng hồ, vì vệt sáng hình vuông trên tường đã di chuyển chếch xuống phía dưới và lúc này nó nằm nơi chân ghế trường kỷ của tôi. Phần còn lại của căn phòng bị chìm sâu trong bóng đêm tối sẫm. Mới đầu tôi không thể phân biệt được chút gì cả rồi mắt tôi làm quen với bóng tối, rồi thì tôi nhận ra, với một cảm giác ớn lạnh, rùng mình mà các thói quen thiên về khoa học của tôi đã tỏ ra bất lực không thể kìm hãm được, đó là một vật gì đó đang di chuyển thong thả dọc theo bức tường. Thích giác trở nên bén nhạy hơn của tôi ghi nhận thấy một tiếng động nhẹ vừa tắt đi, tiếng động của những chiếc giày vải kéo lê trên mặt đất và tôi phân biệt ra một cách mơ hồ một bóng người bước đi một cách lén lút. Bóng này từ phía cửa ra vào đi tới; bóng đó nhô ra trong phần được chiếu sáng bởi ánh trăng và tôi đã nhìn thấy nó rõ ràng. Đó là một người đàn ông nhỏ và thấp, mặc một thứ áo dài màu xám đậm, dài thẳng từ hai vai tới chân. Ánh trăng soi sáng một bên mặt hắn ta, tôi nhận thấy da mặt màu sô-cô-la và hắn ta có một búi tóc đen phía sau đầu. Hắn ta đi thong thả, mũi ngẩng lên trời, hướng về các xích đông nơi có những bình chứa đựng các mảnh vụn của những người đã chết. Hắn có vẻ xem ex1t tỉ mỉ từng bình một. Khi hắn xem xét xong, ngay chỗ cuối giường tôi, hắn dừng lại, quay mắt về phía tôi, giơ hai bàn tay lên một vẻ tuyệt vọng và biến mất.
    Tôi nói rằng hắn giơ hai bàn tay lên; lẽ ra tôi nên viết rằng hắn giơ hai cánh tay lên, vì khi hắn ta làm dáng điệu tuyệt vọng đó, tôi nhận thấy một điều đặc biệt: hắn chỉ có một bàn tay! Khi những ống tay áo tụt xuống dọc theo những cánh tay giơ lên  của hắn, tôi nhìn thấy rõ ràng bàn tay trái, nhưng còn bàn tay phải chỉ là một cái cùi tong teo gớm ghiếc. Ngoài cái bàn tay cụt đó ra, hắn ta có vẻ rất bình thường, tôi đã nhìn thấy hắn và nghe thấy hắn một cách rất rõ rệt đến nỗi tôi tự hỏi có phải hắn là một trong những tên đầy tớ người Ấn Độ của ngài Dominich tới kiếm một vật gì trong phòng thí nghiệm không?! Nhưng sự biến mất thình lình của hắn gợi ra cho tôi một sự giải thích thiếu bình thường. Tôi đứng bật dậy, thắp nến lên và xem xét tỉ mỉ căn phòng. Vì tôi không tìm thấy một dấu vết nào của người khách của tôi, tôi phải chấp nhận rằng sự hiện hình của hắn đã một phần nào vượt ra ngoài khuôn khổ các qui luật tự nhiên. Tôi không ngủ lại nữa; nhưng đêm qua đi mà không có một sự cố nào khác.
    Bao giờ tôi cũng dậy sớm; nhưng ông chú tôi đã dậy sớm hơn tôi: ông đi bách bộ trên thềm cỏ trước nhà. Khi ông thấy tôi đứng trên bực cửa, ông chạy lại.
- Thế nào? ông nói lớn. Cháu có thấy hắn không?
- Một gã Ấn Độ chỉ có một bàn tay?
- Đúng.
- Vâng, cháu đã thấy hắn.
   Tôi kể lại cho ông nghe những việc đã diễn ra. Sau đó, ông dắt tôi vào phòng làm việc của ông.
- Chúng ta có đôi chút thời giờ trước khi ăn điểm tâm, ông nói với tôi, khoảng thời gian đó đủ để cho cháu nghe một cách giải thích về sự việc dị thường này, theo như chỗ chú có thể giảng nghĩa cho cháu một điều mà thật ra không thể nào giải thích được. Trước hết, khi chú nói với cháu hay rằng từ bốn năm nay, không bao giờ chú ngủ được trọn vẹn một đêm, dù là ở Bombay, dù là ở trên tàu thủy, dù là ở nước Anh, mà không bị quấy rầy trong giấc ngủ bởi con người đó, cháu sẽ hiểu tại sao chú lại trở thành con người tàn tạ. Chương trình của hắn ta không thay đổi. Hắn hiện ra bên cạnh giường chú, lay mạnh vào vai chú, đi từ phòng chú vào phòng thí nghiệm, đi thong thả trước dẫy bình của chú, rồi biến mất. Ít nhất hắn đã làm như vậy hàng ngàn lần.
- Hắn đòi hỏi gì ở chú?
- Bàn tay hắn.
- Bàn tay hắn ư?
- Ừ, khoảng độ 10 năm trước, chú được mời tới khám bệnh ở Pessawa; trong chuyến công tác của chú, người ta yêu cầu chú xem bàn tay một người bản xứ đi qua thành phố cùng với một đoàn xe của người Afghanistan. Hắn ta gốc gác ở một bộ lạc sơn cước sinh sống ở xa, phía bên kia dẫy núi Kafiristan và hắn nói một thổ ngữ gần như không ai hiểu được. Hắn bị bệnh sưng phù biến nhan ở một trong các khớp xương bàn tay và chú cố sức nói cho hắn ta hiểu là hắn chỉ có thể cứu lấy mạng sống bằng cách hy sinh bàn tay của hắn. Phải vất vả lắm chú mới thuyết phục được hắn ta. Sau hết, hắn đồng ý việc giải phẫu. Ngay khi việc giải phẫu xong xuôi, hắn ta hỏi chú là hắn phải trả bao nhiêu tiền. Thằng quỷ khốn khổ đó gần như một tên ăn xin, nên chú không lấy tiền của hắn. Nhưng chú trả lời hắn với sự bông đùa rằng chú bằng lòng lấy bàn tay của hắn và rằng chú có ý định lấy bàn tay đó để thêm vào bộ sưu tập về bệnh lý của chú.
"Trước sự kinh ngạc vô cùng của chú, hắn ta đưa ra nhiều lý lẽ để phản đối. Hắn ta cắt nghĩa cho chú thấy là theo tôn giáo của hắn, thật là tối quan trọng việc thể xác phải hợp nhất lại sau khi người ta chết, để dùng làm nơi trú ngụ hoàn hảo cho linh hồn. Như cháu đã biết, sự tín ngưỡng này đã có từ rất lâu đời và những xác ướp của người Ai Cập cũng xuất phát từ một mối dị đoan tương tự. Chú hỏi hắn ta là hắn ta làm cách nào để bảo tồn nó. Hắn nói hắn sẽ cho ngâm nó vào muối và hắn sẽ luôn luôn mang nó bên mình. Chú bảo hắn rằng chắc chắn là nó sẽ được an toàn ở nhà chú hơn là ở trong người hắn và rằng chú có sẵn những chất liệu tốt hơn để bảo tồn nó. Khi hắn hiểu rằng chú thực bụng muốn bảo tồn bàn tay ấy, sự chống đối của hắn chấm dứt hình như với sự hoan hỉ. "Nhưng xin ông nhớ lấy, ông quan thầy, hắn nó với chú, rằng tôi sẽ trở lại tìm nó khi tôi chết." Chú bật cười và sự việc đã kết thúc. Chú quay về với các thân chủ của chú và chắc chắn có thể tiếp tục lên đường đi Afghanistan.
"Như chú đã nói với cháu về việc đó chiều hôm qua, nhà của chú ở Bombay hầu như bị cháy rụi hoàn toàn. Cùng với nhiều đồ vất khác, bộ sưu tầm về bệnh lý học của chú đã bị thiêu hủy gần như hoàn toàn, trong đó có cả cái bàn tay của anh chàng người sơn cước. Việc đó xảy ra đã sáu năm rồi.
"Ngay lúc đó, chú không nghĩ tới việc thương tiếc cái bàn tay đó. Nhưng hai năm sau vụ hỏa hoạn, một đêm chú đã bị đánh thức bởi một kẻ nào đó. Hắn giật ống tay áo của chú một cách giận dữ. Chú ngồi dậy, nghĩ rằng con chó cưng của chú muốn làm chú thức giấc. Thay vì con chó, chú đã nhìn thấy anh chàng bệnh nhân người Ấn Độ thưở trước, mặc một cái áo dài màu xám, là bộ y phục dân tộc của anh ta. Hắn ta hua cái cùi tay cụt lên và nhìn chú với một vẻ trách móc. Sau đó hắn đi tới phía những cái bình của chú, mà khi đó chú giữ ở trong phòng của chú. Hắn xem xét những bình này một cách chăm chú, rồi hắn đưa ra một điệu bộ giận dữ và biến mất. Chú đoán rằng hắn ta vừa mới chết và hắn ta tới nhắc lại với chú lời hứa của chú và đòi lại bàn tay của hắn.
"Như vậy đó! Cháu đã biết tất cả, bác sĩ Hardane ạ. Mỗi đêm, cứ vào giờ đó, từ bốn năm nay, cái cảnh đúng hệt như vậy cứ diễn ra. Nó làm chú mòn mỏi đi như một hòn đá bị mòn đi vì một giọt nước cứ đều đặn rơi xuống hoài. Nó đã mang tới cho chú sự mất ngủ. Vì chú không thể nào ngủ được, chú chờ đợi sự xuất hiện của thằng cha người Ấn Độ. Việc này đã đầu độc những ngày tàn của chú và những ngày tàn của vợ chú là người cũng dự phần vào nỗi lo âu lớn này. Nhưng chú vừa nghe tiếng kẻng của bữa điểm tâm. Chắc bà ấy nôn nóng muốn biết đêm qua cháu ngủ nghê như thế nào. Chú thím rất cảm ơn cháu về sự độ lượng của cháu, vì việc được chia sẻ điều bất hạnh của chú thím với một người bạn, dù chỉ là một đêm thôi, cũng làm cho chú thím được thư thái đôi chút. Và đã làm vững lòng chú thím trên sự quân bình về tâm thần mà đôi khi chú thím đã có ý nghi ngờ."
    Đó là câu chuyện kỳ lạ mà ngài Dominich đã tâm sự với tôi. Chắc chắn là nhiều người có thể cho đó là một câu chuyện lố bịch không đúng với sự thật; nhưng tôi, tôi đã thừa đủ kinh nghiệm đêm hôm trước và tôi đã quen thuộc từ lâu rồi với những vấn đề như vậy, tôi sẵn sàng chấp nhận chuyện đó như một việc hiển nhiên. Tôi cầu cứu tới tất cả những việc nghiên cứu của tôi và tất cả những ký ức của riêng tôi. Và sau bữa điểm tâm, tôi đã làm cho các vị chủ nhà của tôi sửng sốt khi báo tin cho họ biết rằng tôi sẽ trở về London bằng chuyến tàu sớm nhất.
- Cháu bác sĩ thân mến của chú - ngài Dominich kêu lên, vẻ bối rối - như thế là cháu làm cho chú hiểu rằng chú đã thất thố một cách nặng nề về các quy luật của sự tiếp đãi khách bằng cách lôi kéo cháu dính vào cái việc vất vả này. Lẽ ra phải một mình chú mang lấy gánh nặng.
    Tôi đáp lại:
- Trái lại, chính vì việc của chú, cháu trở vền London. Nhưng có lẽ chú đã lầm khi tưởng rằng việc mạo hiểm đêm qua đã làm cháu khó chịu. Ngược lại, cháu còn xin phép chú được trở lại đây chiều nay và được ngủ lại một đêm nữa trong phòng thí nghiệm của chú. Cháu rất khao khát muốn gặp lại người khách của chú.
    Ông chú tôi rất muốn biết tôi toan tính làm điều gì, nhưng vì e ngại ông sẽ có những hy vọng sai lầm, tôi không muốn nói gì cả. Sau bữa ăn trưa, tôi về tới phòng mạch của tôi. Nơi đó, tôi bồi bổ ký ức bằng cách đọc lại một vài đoạn quyển sách mới xuất bản nói về khoa học huyền bí.
"Trong trường hợp những linh hồn bị ràng buộc vào trái đất, tác giả nói, chỉ cần một ý nghĩ nào ám ảnh họ vào giờ phút lâm tử cũng đủ để giữ họ lại trong thế giới vật thể của chúng ta. Họ là những lưỡng thể của cõi đời này, cõi đời sau. Họ có thể đi từ đời này sang đời khác giống hệt như con rùa đi từ nước lên đất liền. Những nguyên nhân kết nối một cách vững vàng một linh hồn vào một đời sống mà thể xác của linh hồn đó đã từ bỏ là những cảm xúc dữ dội. Tính keo kiệt, sự trả thù, sự lo âu, tình yêu, lòng thương là những điều mà ta đều biết để gây nên sự linh hiển này, một sự việc thường xảy ra từ một ý nguyện chưa được hoàn thành. Khi ý nguyện đã được thành toàn, mối dây nối liền với vật thể sẽ nới lỏng. Người ta đã ghi chép nhiều trường hợp nêu rõ sự bướng bỉnh đặc biệt của những vị khách này; và cả sự biến đi của họ khi những ý nguyện của họ đã được thành toàn, hoặc đôi khi một sự giàn xếp ổn thỏa được đạt tới."
    Một sự giàn xếp ổn thỏa....Đây chính là những gì mà tôi tìm kiếm suốt một buổi sáng và bây giờ tôi mới thấy trong bài viết. Ở Rodenhurst, không thể có vấn đề một sự tu chỉnh thực sự, nhưng một sự giàn xếp ổn thỏa! Không để sổng một phút nào, tôi đi tới bệnh viện Chartwell của hải quân, nơi mà viên y sĩ giải phẫu tại chức là anh bạn cố tri, Jack Hewell của tôi. Không cần giải thích tình thế với anh, tôi nói với anh điều mà tôi muốn.
- Một bàn tay đàn ông màu nâu?! Anh nhắc lại với một vẻ kinh ngạc. Đồ quỷ quái, tại sao anh lại muốn có một bàn tay màu nâu?!
- Xin chớ tìm hiểu. Hôm khác tôi sẽ nói chuyện đó với anh. Tôi biết rằng anh có những người Ấn Độ chật ních các phòng của anh.
- Thật vậy! Nhưng mà một bàn tay....
    Anh suy nghĩ một lát rồi bấm chuông:
- Taverne, anh bảo một người y tá, những bàn tay của anh thủy thủ mà chúng ta đã cắt hôm qua bây giờ ra sao? Tôi nói  cái anh chàng ở bến cảng Đông Ấn đã bị cuốn trục quay chạy hơi nước đó.
- Chúng hiện ở trong phòng giảo nghiệm, thưa ngài.
- Lấy cho tôi một chiếc, để nó vào các hộp khử trùng và trao nó cho bác sĩ Hardane.
    Tôi về tới Rodenhurst trước bữa ăn tối với cái gói nhỏ của tôi. Tôi không nói gì với ngài Dominich cả, nhưng tôi đóng cửa phòng lại để ngủ đêm trong phòng thí nghiệm và tôi để cái bàn tay của người thủy thủ vào một trong những cái bình ở cuối giường tôi.
    Kết quả cuộc thí nghiệm này làm tôi say mê đến mức tôi không thể nào ngủ được. Ngồi yên với một ngọn đèn được che kín đặt bên cạnh, tôi chờ đợi người khách của tôi. Lần này tôi nhìn thấy hắn ta một cách rõ ràng từ lúc bắt đầu. Hắn hiện ra bên cạnh cửa lớn, nom lờ mờ trong vài ba phút, rồi hình dáng hắn tụ đặc lại và trở thành vững chắc nom như hình dáng của một người sống vậy. Đôi giầy vải đỏ của hắn lê đi dưới tấm áo dài màu xám của hắn. Cũng như đêm hôm trước, hắn đi kiểm soát dẫy bình một cách thong thả và hắn dừng lại trước cái bình có đựng cái bàn tay. Hắn đứng nhón người lên trên các đầu bàn chân; mặt hắn run run vì sự thèm muốn; hắn cầm lấy cái bình, xem xét nó, nhưng mặt hắn co rúm lại vì điên cuồng và thất vọng. Hắn quăng cái bình xuống đất. Tiếng loảng xoảng của chất thủy tinh bị bể vang dội lên khắp căn nhà. Gã Ấn Độ cụt tay biến mất như bởi sự bùa chú. Cửa mở ra và ngài Dominich chạy vội vào phòng tôi.
- Cháu không bị thương chứ? ông kêu lên.
- Không, nhưng thành thực là bị thất vọng.
    Ông nhìn một cách sững sờ những mảnh thủy tinh vỡ và cái bàn tây nâu nằm trên mặt sàn nhà.
- Lạy chúa tôi! Ông kêu lên. Thế là thế nào?
    Tôi nói cho ông biết về ý nghĩ của tôi và về kết quả hẩm hiu của nó. Ông chăm chú nghe tôi nói nhưng ông lắc đầu.
- Lý luận như thế là đúng lắm, ông nói với tôi, nhưng chú sợ rằng những nỗi đau khổ của chú không chấm dứt một cách giản dị như vậy đâu. Ngược lại, chú tuyệt đối nhấn mạnh tới một điểm: bất cứ vì lý do nào, cháu cũng sẽ không được ngủ ở đây nữa. Nỗi lo sợ mà chú trải qua lúc nãy khi nghĩ rằng có điều gì xảy ra cho cháu, lúc nghe tiếng loảng xoảng đó đã là sự kinh hoàng rùng rợn nhất mà chú từng biết. Chú sẽ không muốn chịu đựng một lần thứ hai.
    Tuy nhiên ông vẫn cho phép tôi ngủ nốt đêm đó trong phòng thí nghiệm, nơi mà tôi nằm bực bội nghĩ về sự thất bại của tôi. Những tia sáng đầu tiên của bình minh rọi tới soi sáng cái bàn tay của người thủy thủ còn nằm trên sàn nhà. Tôi nhìn nó một cách máy móc...Và một ý nghĩ đột ngột xuất hiện trong đầu tôi. Tôi nhảy xuống khỏi ghế trường kỷ và tôi cầm lấy cái bàn tay nâu lên. Đúng! Tôi đã có lý! Đó là chiếc bàn tay bên trái của người bị cắt cụt tay.
    Tôi trở về London bằng chuyến tàu sớm nhất và vội vã tới bệnh viện hải quân. Tôi nhớ rằng người thủy thủ trong câu chuyện nọ bị cắt cụt cả hai tay, nhưng tôi cứ thấp thỏm lo sợ rằng cái bộ phận quý giá khiến tôi đến đây để tìm đã bị quăng vào lò thiêu rồi. Nỗi lo sợ của tôi sau đó được xua tan: bàn tay phải còn nằm trong phòng giảo nghiệm. Thế là tôi lại đi Rodenhurst ngay buổi chiều hôm đó, nhiệm vụ của tôi đã hoàn tất và cái bàn tay nâu thứ hai nằm trong túi tôi.
    Nhưng ngài Dominich không muốn nghe gì cả, khi tôi loan báo tôi sẽ ngủ một đêm thứ ba trong phòng thí nghiệm. Ông cứ làm ngơ trước lời thỉnh cầu của tôi. Lòng hiếu khách của ông bị tổn thương, ông tỏ ra không gì lay chuyển được. Thế là tôi phải để cái bàn tay phải vào một cái bình, như tôi đã để cái bàn tay trái đêm hôm qua và tôi đi vào nằm trong một căn phòng rất đầy đủ tiện nghi ở đầu bên kia của căn nhà.
    Nhưng số trời đã định rằng giấc ngủ của tôi vẫn cứ bị phá rối. Vào lúc nửa đêm, vị chủ nhà của tôi chạy xộc vào phòng tôi. Ông quấn người trong một chiếc áo choàng và với thân hình đồ sộ của ông, có lẽ ông sẽ làm cho một người yếu bóng vía sợ hãi ông hơn là con ma người Ấn Độ. Nhưng không phải sự xuất hiện của ông làm tôi kinh ngạc; nhưng đó là vẻ mặt và một dáng điệu mà tôi chưa từng thấy ở ông. Trông ông trẻ ra tới hai mươi tuổi, hai mắt ông sáng ngời, diện mạo ông rạng rỡ sự vui thích. Ông vung vẩy một tay bên trên đầu ông, với một vẻ chiến thắng. Tôi ngồi dậy, thấy lo sợ một cách mơ hồ, lời nói của ông làm tôi thức tỉnh hoàn toàn.
- Thế là xong rồi! Chúng ta đã thành công! Cháu Hardane thân yêu của chú, chú làm thế nào để đền ơn cháu cho đủ?
- Hẳn chú không muốn nói là mưu mẹo đã trót lọt?
- Trót lọt chứ! Chú tin rằng cháu sẽ không giận chú nếu chú đánh thức cháu dậy để báo cho cháu biết một tin tốt đẹp như vậy.
- Giận chú ư? Thật tình cháu không nghĩ tới chuyện đó. Nhưng chú có chắc vậy không?
- Chú không có một mảy may nghi ngờ, cháu thân mến của chú ạ. Chú là người mắc nợ cháu. Từ trước không bao giờ chú mắc nợ bất cứ một ai và chú càng không mong mắc nợ ai! Không biết chú có thể làm gì để xứng đáng với công việc mà cháu vừa mới làm cho chú. Đúng là trời đã xui khiến cháu tới giúp chú. Cháu đã cứu vãn cả linh hồn và đời sống của chú. Và vợ chú nữa!...Bà ấy chết dần, chết mòn ở trước mắt chú. Chưa bao giờ chú dám nghĩ rằng một con người lại có thể gỡ cho chú thóat khỏi gánh nặng đó!
    Ông nắm lấy tay tôi và xoắn chặt nó trong hai bàn tay ông.
- Đó chỉ là một cuộc thí nghiệm, một sự mạo hiểm lúc tuyệt vọng - tôi nói, nhưng trong thâm tâm rất vui thích là công việc đã thành công. Làm thế nào chú biết rằng mưu mẹo đã trót lọt? Chú đã nhìn thấy những gì?
    Ông ngồi xuống cạnh giường tôi:
- Chú đã thấy đầy đủ, ông đáp lại. Khá đủ để tin chắc rằng từ nay chú sẽ không bao giờ còn bị quấy nhiễu bởi anh chàng Ấn Độ đó. Chú sẽ nói cho cháu rõ những gì đã xảy ra. Đêm hôm qua hắn ta cũng tới vào giờ thường lệ của hắn và hắn lay chú một cách dữ dằn hơn mọi khi. Chú đoán rằng sự thất vọng của hắn đêm qua đã làm tăng thêm sự nóng giận của hắn. Sau khi nhìn chú một cách hung bạo, hắn lại ra đi trong cuộc dạo chơi mỗi đêm của hắn. Nhưng sau một vài phút, hắn quay lại phòng chú. Đây là lần đầu tiên từ khi bắt đầu sự quấy nhiễu của hắn, hắn mỉm cười. Chú nhìn thấy những chiếc răng trăng của hắn sáng long lanh, rồi hắn cúi đầu rất thấp ba lần. Đây là một kiểu chào kính cẩn của người Đông Phương, một cách chào từ biệt đầy vẻ trang nghiêm. Lần cúi thứ ba, hắn đã giơ cả hai tay lên khỏi đầu. Chú nhìn thấy hai bàn tay hắn. Và hắn biến mất, theo chú nghĩ, có lẽ sẽ vĩnh viễn biến mất.
    Đó là cuộc phiêu lưu kỳ lạ đã khiến cho tôi chiếm được lòng cảm mến và sự biết ơn của ông chú tôi, vị y sĩ nổi danh tại Ấn Độ. Các điều dự đoán của ông đã thể hiện: không bao giờ ông còn bị quấy nhiễu bởi anh chàng người sơn cước lang thang đi đòi lại cái bàn tay bị mất của hắn ta. Ngài Dominich và phu nhân Holden đã hưởng một tuổi già sung sướng, không bị bận tâm bởi một chuyện nhỏ nhặt nào và họ đã qua đời trong thời bệnh dịch cúm hoành hành, một người chết cách nhau vài tuần lễ. Khi ông còn sống, ông luôn luôn hỏi ý kiến tôi để tiếp thu những lời khuyên về cách xử sự của người Anh mà ông biết rất ít. Tôi cũng giúp ông trong việc khai thác tài sản của ông. Từ lúc đó còn gì mà tôi phải ngạc nhiên với việc tôi đã vượt qua đầu năm ông anh họ đang giận dữ và trở thành chủ nhân của một lãnh địa lớn tại Wiltshire? Dù sao thì tôi cũng có lý do để tôn kính cái ký ức về con người có bàn tay bị cắt cụt và cái ngày mà tôi có được sự may mắn giải thoát Rodenhurst khỏi sự hiện diện phiền toái của hắn ta.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Cuộc Thí Nghiệm Ly Kỳ Tại Keinplatz
 
    Trong tất cả các khoa học thường gây ra sự hồ nghi cho con người, thứ làm cho giáo sư Baumgarten say mê là thứ thuộc về tâm lý học và những gì liên quan không rõ ràng giữa tinh thần và vật chất. Vốn là một nhà giải phẫu tiếng tăm, một nhà toán học nổi danh, một người có thẩm quyền ở Châu Âu về khoa sinh lý học, ông đã cảm thấy thật sự khoan khoái khi từ bỏ những sở trường chuyên môn và sử dụng những kiến thức đã đắc thủ được của ông vào việc nghiên cứu về linh hồn và vào mối liên hệ bí ẩn của các hồn ma. Lúc khởi đầu, hồi còn trẻ tuổi, ông đã tưởng như lạc lõng trong một xứ sở xa lạ, nơi mà mọi thứ đều lộn xộn và tối tăm, ngoại trừ một vài sự việc không thể giải thích được và chẳng có liên hệ gì với nhau đã xuất hiện trước mặt ông. Những năm tháng qua đi và kiến thứ của vị giáo sư lỗi lạc càng tích tụ thêm (vì kiến thức sinh ra kiến thức, cũng như vốn đẻ ra lời), một phần lớn những điều xưa kia tỏ ra kỳ lạ với ông nay bắt đầu mang một vẻ mặt mới. Những hệ thống suy luận mới mẻ đã trở nên quá quen thuộc đối với ông và ông đã nhận ra những miố liên hệ tại các nơi mà trước đây ông đã không phát hiện ra một chút gì. Nhờ vào những kinh nghiệm rải rác trong hai mươi năm, ông đã thu thập được một căn bản của các sự việc và dựa vào đó, ông có tham vọng kiến tạo một khoa học mới, chính xác bao gồm môn chữa bệnh bằng nhân điện, môn thông thần học và tất cả các học thuyết cùng loại đó. Mọi việc trở nên dễ dàng với ông nhờ sự hiểu biết toàn hảo của ông về những yếu tố phức tạp nhất trong môn sinh lý học động vật, là môn nghiên cứu về các luồng thần kinh và về các công việc của bộ óc. Thực ra thì Von Baumgarten là Giáo sư đại học môn sinh lý học tại trường đại học Keinlatz và ông có sẵn trong tay tất cả các tài liệu trong phòng thí nghiệm của ông để dùng vào những cuộc sưu tầm mới mẻ nhất.
    Cao lớn và mảnh khảnh, giáo sư Baumgarten có một bộ mặt thô kệch và một cặp mắt màu thép xám linh hoạt một cách dị thường và rất sắc sảo. Sự suy tư đã vạch ra nhiều nếp nhăn trên trán ông cũng có vẻ cau có; nhưng người ta sẽ lầm nếu coi cái bề ngoài này là sự thật, vì nếu ông là người khắc khổ, ông lại có từ tâm. Các sinh viên rất mến ông. Sau mỗi buổi học, họ đứng vây quanh ông và họ say sưa nghe ông đưa ra những lập luận kỳ lạ. Ông thường nhờ tới những người tình nguyện trong bọn họ để thử một cuộc thí nghiệm. Ít có người học trò nào mà không được ông đưa vào một cuộc thí nghiệm sảng khoái về cách chữa bệnh bằng nhân điện.
    Anh chàng nồng nhiệt nhất trong đám môn đệ trẻ về khoa học đó tên là Von Harman. Các bạn bè của anh ta đôi khi kinh ngạc khi thấy một gã con trai dữ dằn và lông bông, chắc chắn anh ta là một gã ngông ngạo nhất trong bọn các thanh niên quê quán ở thung lũng sông Rhin, mà lại dành rất nhiều thời giờ để tìm những công việc mơ hồ hoặc để phụ giúp giáo sư trong các cuộc thí nghiệm của ông. Thật ra, Harman là một tên láu cá, anh ta đã rõ những gì anh ta làm. Trước đó nhiều tháng, anh đã tỏ tình với cô thiếu nữ Elise, cô gái có mái tóc vàng nâu và đôi mắt màu  xanh, ái nữ của giáo sư. Mặc dù anh đã được nghe tự chính miệng cô nói ra rằng không phải cô đã vô tình trước sự ân cần của anh, nhưng chưa bao giờ anh dám ra mắt cha mẹ cô trong tư cách một vị hôn phu. Do đó, anh đã gặp rất nhiều khó khăn để gặp cô thiếu nữ, nếu anh không kiếm ra được một cái cớ là tới phụ giúp vị Giáo sư. Với mưu chước này, anh thường tới nhà vị thông thái già cả và anh đã mạnh dạn tham dự vào mọi cuộc thí nghiệm có thể làm được và có thể tưởng tượng được nếu như anh có cơ hội nhìn thấy cặp mắt long lanh của Elise hay sờ vào bàn tay nhỏ bé của cô.
    Chàng thanh niên Von Harman là một anh con trai khá đẹp và như người ta nói, một số ruộng đất đáng kể sẽ lọt vào tay anh ta khi nào cha anh chết đi. Nhiều bậc cha mẹ có lẽ sẽ hài lòng với một chàng rể như vậy cho con gái của họ. Nhưng bà Giáo sư thì đã cau mày mỗi khi bà nhìn thấy anh trong nhà bà và bà cằn nhằn ông Giáo sư về việc đã rước một con sói vào gần con cừu non của họ. Thật sự là Harman đã mang tiếng không được tốt lành tại Keinplatz: chẳng có cuộc đánh lộn nào, cuộc đọ kiếm nào, vụ tai tiếng nào mà anh chàng thanh niên thung lũng sông Rhin này lại không đứng đầu sổ. Không ai dám dùng một ngôn ngữ phóng túng hơn và ngỗ nghịch hơn. Không ai uống rượu nhiều hơn, không ai say mê bài bạc hơn, không ai lại vô tích sự hơn, ngoại trừ trong lãnh vực rất đặc biệt này. Do đó, ta không lấy gì làm kinh ngạc về việc bà Baumgarten phải gìn giữ cô gái cưng của bà và tỏ ra khinh miệt sự ve vãn của anh chàng bất hảo này. Về phần vị Giáo sư lỗi lạc, ông đã quá say mê với các công việc của riêng ông nên ông chẳng có ý kiến gì.
    Đã nhiều năm nay, một vấn đề đã làm ông nhức nhối. Tất cả những cuộc thí nghiệm của ông đều xoay quanh một điểm duy nhất. Mỗi ngày hàng trăm lần, vị Giáo sư tự hỏi rằng liệu hồn một người có thể rời bỏ thể xác trong ít lâu và sau đó lại trở về được không?! Lần đầu tiên khi giả thuyết này hiện ra trong đầu óc ông, ông đã tự phẫn nộ với chính mình. Giả thuyết đó đã vấp phải một cách kịch liệt những ý tưởng có từ trước và những định kiến của nền học vấn sơ thủy của ông. Tuy nhiên, trong khi ông tiến hành trên con đường nghiên cứu độc đáo của ông, ông cũng dần dà từng bước một thoát ra khỏi những trở ngại lỗi thời và trở nên sẵn sàng đối diện với bất kỳ một kết luận nào phù hợp có thể tồn tại bên ngoài vật chất. Sau hết, ông nẩy sinh ý nghĩ cho rằng với một cuộc thí nghiệm táo bạo chưa ai dám thử bao giờ, vấn đề này có thể sẽ được giải quyết dứu khoát.
    Ông đã viết một bài báo nổi danh đăng trong một tờ báo về Y học ở Keinplatz vào thời đó nói về các thực thể mà mắt con người không thể nhìn thấy được. Một bài báo đã làm điên đầu các giới khoa học. Đại khái, ông nói: "Rõ ràng là trong một vài hoàn cảnh nào đó, linh hồn hay tinh thần tự động tách rời khỏi thể xác. Trong trường hợp một người được chữa bệnh bằng phép thôi miên, thể xác nằm yên trong trạng thái bất tỉnh nhưng linh hồn thì đã rời bỏ đi rồi. Người ta có thể trả lời tôi rằng linh hồn vẫn còn ở đó, nhưng nó ở trong tình trạng ngủ say. Tôi xin trả liờ rằng chắc chắn là không phải như vậy. Ta sẽ giải thích thế nào về khả năng thấu thị, tức là nhìn thấy quá khứ, vị lai, là thứ đã bị mất uy tín vì cái trò bịp bợm láo khoét của một vài kẻ đê tiện, nhưng vẫn là một sự kiện đã được chứng minh và không thể chối cãi được? Chính tôi đây, là một người nhảy cảm, tôi đã có thể đạt được một sự một sự mô tả chính xác những điều gì diễn ra trong một căn hòng hay một căn nhà bên cạnh. Làm thế nào để giải thích sự hiểu biết đó, nuế không phải bằng giả thuyết là linh hồn của người đó đ rãiờ bỏ thể xác và đi lang thang trong không gian? Trong một lúc, nó được quay về bởi tiếng nói của người phù phép và nó đã nói về những gì nó nhìn thấy, rồi nó lại bay đi. Vì lẽ bản chất của linh hồn là không ai nhìn thấy được nó, chúng ta không thể trông thấy nó đi hay tới; nhưng chúng ta thấy ảnh hưởng của những chuyến đi và tới đó trong thể xác của người chịu thí nghiệm. Khi thì cứng đơ và bất động, khi thì cố gắng để mô tả những cảm giác của anh ta, những cảm giác không bao giờ anh ta đạt được bằng các phương tiện tự nhiên. Tôi nhận thấy có cách chứng minh khả dĩ chấp nhận được cho sự kiện này. Mặc dù nằm trong xác thịt của chúng ta, chúng ta không thể nhìn thấy những linh hồn này, những linh hồn của chính chúng ta, nếu chúng ta có thể tách rời khỏi thể xác của chúng ta, chúng sẽ ý thức được sự hiện diện của chúng. Do đó, tôi có ý định làm mê bằng phép thôi miên một người học trò của tôi. Sau đó tôi sẽ tự làm mê tôi theo một cách thứ đã rất quen thuộc với tôi. Rồi thì nếu giả thuyết của tôi là đúng, thì linh hồn của tôi sẽ không gặp khó khăn nào để bắt liên lạc với linh hồn anh học trò của tôi, linh hồn cả hai chúng tôi đều tách rời khỏi thể xác của chúng. Tôi hy vọng sẽ có thể công bố các kết quả của cuộc thí nghiệm lý thú này trong số sắp tới của Tờ báo Y học Keinplatz."
    Khi vị Giáo sư đức độ giữ lời hứa và cho công bố bản báo cáo về cuộc thí nghiệm của ông, câu chuyện của ông có vẻ dị thường quá đến nỗi nó được đón nhận với một sự nghi ngờ chung của mọi người. Luận điệu của một vài tờ báo còn có vẻ rất gay gắt trong những bài luận của họ. Nhà thông thái giận dữ tuyên bố rằng từ nay ông sẽ không bao giờ mở miệng nói về vấn đề này nữa. Và ông đã giữ đúng lời nói của ông. Tuy nhiên, câu chuyện kể ra sau đây đã được rút ra từ những nguồn tin xác thực nhất và các sự việc được kể lại có thể được xem là chính xác một cách thực tế.
    Ít lâu sau cái ngày mà vị Giáo sư tiết lộ ý định về cuộc thí nghiệm vừa đề cập trên đây, trong khi trở về nhà, ông gặp một toán sinh viên hay quấy phá ồn ào đang từ một quán rượu bên cạnh nhà ông đi ra (và trong toán này được dẫn đầu bởi anh thanh niên Harman đang say bí tỉ!). Vì ông vừa trải qua nhiều giờ mệt mỏi trong phòng thí nghiệm, nên ý ông muốn lảng tránh họ, nhưng cậu môn đồ của ông đứng ra chặn đường ông đi.
- Ủa này, ông thầy đáng kính của tôi! Anh ta la lên, níu lấy ống tay áo nhà thông thái già cả và đi sát bên cạnh ông. Tôi có một chuyện để nói với thầy và nó rất dễ cho tôi để nói với thầy bây giờ hơn là vào lúc nào khác, khi mà rượu bia ngon đang kêu vo vo trong đầu tôi.
- Điều gì vậy, Harman? Nhà sinh lý học hỏi lại, trong khi nhìn anh ta với một vẻ dịu dàng và ngạc nhiên.
- Thưa thầy, tôi nghe tin thầy sắp làm một cuộc thí nghiệm rùng rợn, ý thầy muốn đem một linh hồn ra khỏi một thể xác, rồi sau đó làm cho nó trở lại thể xác. Có phải thật như vậy không?
- Đúng vậy, Harman ạ.
- Thưa thầy kính mến, thầy có nghĩ rằng thầy có thể sẽ gặp khó khăn để tìm ra một người nào đó chịu làm một cuộc thí nghiệm như vậy không? Thử nghĩ rằng linh hồn bay đi và không chịu trở về nữa, đây là một việc nguy hiểm. Ai mà dám chơi cái trò nguy hiểm này?
- Nhưng mà này Harman - vị Giáo sư kêu lên, ông rất bối rối vì ý kiến này đối với công việc của ông - Tôi trông đợi vào sự giúp đỡ của anh đó. Này, anh đừng làm tôi lỡ việc nhé! Anh suy nghĩ gì về danh dự và sự vinh quang?!
- Chà chà! Anh sinh viên cười nhạo. Dễ thường lúc nào tôi cũng bị gán ghép những trò vớ vẩn ấy à? Có phải là tôi đã ngồi yên hai tiếng đồng hồ trên cái ghế điện bằng thủy tinh trong khi thầy truyền điện vào thân thể tôi không? Có phải là thầy đã kích động các dây thần kinh của tôi, hủy hoại bộ máy tiêu hóa của tôi với một giòng điện chạy quanh bao tử của tôi không? Thầy đã làm mê tôi ba mươi tư lần và tôi đã được lợi lộc gì ở đó không? Chả có quái gì hết! Đến bây giờ thấy lại muốn làm cho tôi xuất hồn, như kiểu thầy tháo máy một cái đồng hồ vậy. Thật là quá sức chịu đựng của xác thịt con người!
- Lạy chúa tôi! Vị Giáo sư kêu lên, vẻ bối rối. Điều đó rất đúng, Harman ạ! Trước đây, tôi không bao giờ nghĩ tới điều đó! Nếu anh có thể đề nghị một hình thức đền bù nào, anh sẽ thấy tôi sẵn lòng làm anh thỏa mãn.
- Vậy thì xin thầy hãy nghe đây, Harman nói một cách nghiêm trang. Nếu thầy hứa tôi rằng sau cuộc thí nghiệm này, thầy sẽ gả cô con gái thầy cho tôi thì tôi sẽ bằng lòng phụ giúp thầy. Bằng không thì xin thầy đừng trông đợi gì ở tôi nữa! Đó là những điều kiện của tôi.
- Nhưng phải hỏi ý kiến con gái tôi đã chứ! Vị Giáo sư hỏi lại sau khi đứng lặng đi một lúc.
- Cô ấy sẽ bằng lòng, chàng thanh niên đáp lại. Chúng tôi đã yêu nhau lâu rồi.
- Vậy thì nó sẽ là vợ anh, nhà sinh lý học tuyên bố một cách chắc chắn. Vì anh là một thanh niên dũng cảm và là một trong những con bệnh thần kinh khá nhất mà tôi được biết. Tôi xin nói rõ: khi anh không bị ảnh hưởng bởi men rượu! Mồng bốn tháng sau tôi sẽ hoàn tất cuộc thí nghiệm của tôi. Anh phải có mặt vào buổi trưa tại phòng thí nghiệm khoa sinh lý học nhé. Đây sẽ là một cuộc biểu diễn kỳ diệu, Harman ạ. Ông Von Gruben sẽ từ Iéna tới và ông Hilterstein sẽ từ Bâle tới. Các nhà thông thái vĩ đại nhất của miền Nam Đức quốc sẽ có mặt tại đó.
- Tôi sẽ đúng giờ giấc! Anh sinh viên hứa.
    Và họ chia tay nhau. Ông Giáo sư đi về nhà, chân bước nặng trĩu, vừa đi vừa nghĩ tới việc đại sự sắp tới nơi, trong khi chàng thanh niên chệnh choạng đi tìm các bạn bè gây om sòm của anh ta, trong đầu chỉ nghĩ tới cô nàng Elise có cặp mắt xanh, cũng như nghĩ tới cuộc mặc cả mà anh vừa thỏa thuận được với ông bố vợ tương lai của anh.
    Vị Giáo sư đã không phóng đại chút nào khi ông nói tới sự chú tâm mà cuộc thí nghiệm mới mẻ về tâm lý của ông đã gây ra ở hầu hết mọi nơi. Còn rất sớm trước giờ ấn định, căn phòng đã bị choán hết chỗ bởi một số đông đảo các vị thông thái. Ngoài mấy vị đức cao vọng trọng mà ông đã kể ra, còn có đại giáo sư Lorshire, người vừa trở nên lừng danh bởi một công trình xuất sắc nói về các trung tâm của sống cổ, cũng từ London tới. Nhiều tài năng lỗi lạc về khoa thông linh học cũng vui lòng chẳng ngại đường xa tới họp mặt. Ngay cả một mục sư Tân giáo cũng tới dự với hy vọng là cuộc thí nghiệm sẽ có thể rọi một tia sáng mới vào các chủ thuyết của giáo phái Rose Groix.
    Cả hội nghị những con người lỗi lạc này bùng lên trong tràng pháo tay khi giáo sư Von Baumgarten và môn đệ của ông xuất hiện trên bục. Vị thuyết giảng viên, bằng một vài lời được lựa chọn cẩn thận, đã trình bày ý kiến của ông và giải thích tại sao ông có ý định đem ý kiến này vào một cuộc thí nghiệm có tính cách quyết định. Ông nói:
- Tôi tin chắc rằng khi một người bị nằm trong ảnh hưởng của giấc ngủ thôi miên thì trong một thời gian nào đó, linh hồn anh ta được giải thoát khỏi xác thịt và tôi thách thức bất kỳ một ai có thể đưa ra một giả thuyết khác để giải thích sự nhìn được quá khứ, vị lai! Tôi hy vọng rằng khi đưa anh bạn trẻ của tôi vào giấc ngủ thôi miên và đồng thời sau đó làm cho chính tôi cũng ngủ luôn, linh hồn của chúng tôi sẽ có thể nói chuyện với nhau, trong khi thể xác của chúng tôi vẫn nằm yên bất động. Sau một thời gian nào đó, tạo hóa sẽ nắm lại quyền của mình, linh hồn của chúng tôi sẽ tái nhập, hồn nào sẽ về thể xác của hồn ấy và mọi việc sẽ trở lại như trước. Với sự cho phép của quý vị, bây giờ chúng tôi xin bắt đầu cuộc thí nghiệm.
    Những tiếng vỗ tay lại vang lên. Sau đó, các khán giả yên lặng trông chờ. Trong một vài thoáng qua nhanh chóng, vị Giáo sư đã đánh mê gã thanh niên, khiến anh ta ngồi rũ xuống trên ghế, người nhợt nhạt và cứng đơ. Rồi ông móc ở trong túi ra một trái cầu tròn bằng thủy tinh và ông tâp trung nhãn tuyến của ông vào trái cầu đó và làm một nỗ lực lớn lao về tâm thần, ông đã đạt tới chỗ tự đặt mình vào cùng một tình trạng như vậy. Thật là một quang cảnh dị thường và cảm kích khi nhìn thấy ông già và cậu sinh viên trẻ, cả hai người cùng ngồi trong sự mê man bất tỉnh. Vậy thì linh hồn họ đã bay đi đâu? Đó là một câu hỏi mà tất cả mọi người tham dự đều tự đặt ra cho mình.
    Năm phút đã trôi qua, mười phút, rồi mươi lăm phút và rồi mười lăm phút nữa. Ông Giáo sư và cậu học trò của ông vẫn ngồi nguyên bất động trên bục gỗ và các nhà thông thái hội họp tại đó vẫn chưa nghe thấy một tiếng động nhỏ nào. Tất cả mọi cặp mắt đều đổ dồn vào hai khuôn mặt tái mét để chờ đón dấu hiệu đầu tiên của sự tỉnh lại của họ. Gần nửa giờ đã trôi qua và sự kiên nhẫn của các khán giả đã được đền bù lại. Những màu sắc mơ hồ đã trở lại trên đôi môi của giáo sư Baumgarten: linh hồn đã trở về nơi cư trú trên trái đất của nó. Đột nhiên, ông duỗi thẳng hai cánh tay dài gầy guộc của ông, như ông đã thức giấc. Ông dụi mắt, đứng lên và nhìn chung quanh mình. Ông có vẻ như không biết là mình đang ở đâu.
- Kỳ cục quá! Ông kêu lên trước khi xổ ra một tràng chửi thề của miền Nam nước Đức, trước sự vô cùng kinh ngạc của cử tọa và trước sự xấu hổ của người đệ tử của Swedenborg (người sáng lập ra một giáo phái mới.) Đồ quỷ sứ, tôi đang ở đâu đây?! Việc gì đã xảy ra?! À phải, bây giờ thì tôi nhớ ra rồi! Đây là một trong các cuộc thí nghiệm ngu xuẩn về lối làm mê bằng nhân điện...Lần này không có kết quả, vì tôi không nhớ được chút gì từ lúc tôi mê đi. Vậy là tất cả các ngài đều đi chơi uổng công, các ông bạn quý về khoa học của tôi ạ. A, đúng là một chuyện nhảm!
    Nói xong, vị Giáo Sư sinh lý học phá lên cười và lấy tay vỗ vào đùi một cách hết sức tục tĩu. Những vị khách của ông đã quá bực bội khi thấy mình bị dối trá như vậy, đến nỗi sự lộn xộn chắc chắn sẽ nô ra nếu không có sự can thiệp khéo léo của chàng thanh niên Von Harman vừa tỉnh dậy khỏi giấc ngủ li bì. Tiến bước tới mãi rìa bục gỗ, anh sinh viên cố gắng xin lỗi về lối cư xử đáng giận của ông Giáo sư. Anh tuyên bố:
- Tôi lấy làm tiếc mà nói rằng đó là một thứ lộn xộn đầu óc, mặc dù có sự nghiêm chỉnh mà anh ta đã giả bộ lúc bắt đầu mở cuộc thí nghiệm. Anh ta còn bị sự phản ứng của cơn ngủ mê nhân tạo và quý vị không thể bắt anh ta chịu trách nhiệm về ngôn ngữ của anh ta. Còn như về chính buổi thí nghiệm, tôi không coi nó là một sự thất bại. Rất có thể là linh hồn của chúng tôi đã nói chuyện với nhau trong không gian trong thời phút đã trôi qua đó, nhưng khổ thay, cái trí nhớ thô kệch của thân xác chúng ta là thứ khác biệt với linh hồn của chúng ta và chúng tôi không thể nhớ lại những gì đã xảy ra. Từ nay tôi sẽ giành nghị lực của tôi để tìm ra một phương cách nhờ đó các linh hồn sẽ có thể nhớ lại những gì chúng đã làm trong tình trạng tự do của chúng. Tôi hy vọng rằng sau khi tìm thyấ phương cách đó, tôi sẽ rất hân hạnh được gặp lại tất cả quý vị ở đây, trong căn phòng này và thông báo tới quý vị các kết quả của tôi.
    Bài diễn từ ngắn này, do một chàng sinh viên trẻ như vậy phát biểu, đã gây ra một sự kinh ngạc mạnh mẽ trong các thính giả. Một vài người cảm thấy bị chạm lòng tự ái một cách khó hiểu và cho rằng anh ta đã có những điệu bộ quá quan trọng. Tuy nhiên, đa số những vị khách dự khán đều coi anh ta là một thanh niên có nhiều tương lai. Khi rời khỏi phòng thí nghiệm, họ chỉ có thể so sánh cách cư xử đầy đủ tư cách của anh với sự nông nổi của vị Giáo sư, người mà trong khi anh học trò đưa ra các lời nhận xét, chỉ đứng trong một góc cười luôn miệng, chẳng tỏ ra bối rối chút nào trước thất bại của cuộc thí nghiệm.
    Những con người này của giới khoa học đã ra về với cảm tưởng là họ đã chẳng thấy điều gì là đáng chú ý cả. Tuy nhiên, một trong những việc đnág kinh ngạc nhất trong lịch sử thế giới vừa diễn ra trước mắt họ. Giáo sư Baumgarten đã được công nhận cho lý thuyết của ông theo đó trong một khoảng thời gian nào đó, linh hồn ông và linh hồn anh học trò ông đã rời khỏi thể xác của chúng. Nhưng một chuyện rắc rối bất ngờ đã xảy ra: hồn của Von Harman đã nhập vào xác Baumgarten và hồn của Baumgarten thì lại nhập vào xác Von Harman. Do đó mới có cái thứ ngôn ngữ toàn tiếng lóng vọt ra từ miệng vị Giáo sư nghiêm trang; cũng do đó mới có lời tuyên bố đầy vẻ thận trọng của anh sinh viên lông bông. Thật là một sự việc không tiền, khoáng hậu! Không có ai nhận ra việc này cả, hai đương sự lại càng không nhận ra hơn là các người dự khán.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
    Thể xác vị Giáo sư tức khắc cảm thấy khát khô cả cổ. Ông đi ra phố. Ông vẫn còn cười về kết quả cuộc thí nghiệm, vì hồn của Harman đang nằm trong đó rất vui thích vì đã kiếm được vị hôn thê một cách dễ dàng như v.ậy Hành động đầu tiên của anh muốn làm là tới gặp nàng, nhưng sau khi suy nghĩ, anh thấy tốt hơn là nên chờ cho bà Baumgarten được ông chồng báo tin về sự thỏa thuận đã thì mới thành đạt. Thế là anh đi xuôi về phía tiệm rượu Gruneman, nơi hẹn hò hợp ý của những tên cà chớn tệ hại và anh vung vẩy cây ba toong một cách vui vẻ khi anh bước vào căn tiệm nhỏ hẹp. Ở đó đã họp mặt Spigene, Muler và hàng nửa tá những tên bạn vui nhộn khác.
- À, à các con của ta! Anh kêu lên. Tớ biết rằng tớ sẽ gặp các cậu ở đây. Hãy uống đi, tất cả chúng ta cùng uống. Hãy gọi những gì mà các cậu thích! Hôm nay tớ đã tất cả một chầu!...
    Nếu con người nghiêm nghị mô phạm bất chợt đi vào một quán cà phê và gọi một chai rượu vang thì có lẽ các anh sinh viên cũng không sững sốt hơn. Trong hai ba phút đồng hồ, họ ngẩn người ra mà nhìn ông, không thể trả lời một câu gì trước lời mời thân ái của ông.
- Đem rượu tới đây mau lên! Ông Giáo sư kêu lên trong cơn tức giận. Các cậu mắc bệnh gì đó? Các cậu ngồi đó mà nhìn tớ như những con heo con bị dính chặt vào một cái ghế. Có chuyện gì vậy?
- Đây là một vinh dự bất ngờ! Spigene ấp úng nói.
- Vinh dự? Đồ cục cứt! Dễ thường các cậu nghĩ rằng vì tớ mới đi biểu diễn phép gây giấc ngủ nhân tạo cho những lão khọm xem nên tớ mới hóa ra quá kiêu hãnh không thèm chơi với những bạn cố tri như các cậu phải không? Hãy rời khỏi cái ghế bành này, Spigene, con trai của ta, để tớ ngồi chủ tọa. Rượu bia nhé?! Hay rượu vang?! Hay Schnappse? Hãy gọi thứ gì mà các cậu thích, các con của tớ. Tớ sẽ khao mà!
    Chưa bao giờ tiệm Gruneman lại có một buổi chiều nhộn nhịp hơn. Những bình rượu bia sủi bọt và những chai rượu vang cổ dài miền sông Ranh được chuyền quanh một cách náo nức. Dần dà các cậu sinh viên đã hết vẻ e dè trước mặt vị Giáo sư của họ. Trong khi ông này la hét, hát hỏng, nói năng lung tung, gầm gừ: ông đặt một cái ống vố dài nằm cân bằng trên cái mũi lớn của ông và ông thách một cuộc thi chạy một trăm thước với bất kỳ ai. Đứng phía sau bực cửa lớn, ông chủ tiệm và cô hầu gái của ông ta đang trao đổi những điều họ  suy nghĩ, bộc lộ sự kinh ngạc của họ trước một cách cư xử như vậy. Họ nói, đó có phải là cái  cung cách thích đáng cho một vị giáo sư chủ nhiệm của trường Đại học Keinplatz cổ kính không? Rồi đây họ sẽ còn nhiều chuyện để kể lại cho nhau nghe, vì nhà thông thái còn lột cái đáy mũ của ông chủ tiệm và chạy ôm lấy cô hầu gái ở trong bếp.
- Thưa quý vị! Giáo sư bắt đầu.
    Ông ta đứng lên chỗ đầu cao của cái bàn, người hơi lảo đảo và ông quơ quơ ly rượu vang của ông trước cái mũi lớn của ông.
-....Bây giờ tôi phải giải thích nguyên nhan của cuộc vui này.
- Xin lắng nghe! Xin giữ yên lặng! Các cậu sinh viên vừa la hét vừa lấy các bình đựng rượu bia gõ mạnh xuống mặt bàn. Một bài diễn từ! Một bài diễn từ!
- Thưa các bạn, sự việc là tôi hy vọng rằng tôi sắp sửa cưới vợ, ông Giáo sư tuyên bố, hai mắt ông sáng rực sau cặp kính.
- Cưới vợ?! Một cậu sinh viên ngổ ngáo hơn những cậu khác la lớn lên. Vậy là bà nhà ta đã qua đời rồi?
- Bà nào?
- Ô kìa, tất nhiên là Baumgarten!
- À, à! ông Giáo sư vừa kêu lên vừa cười lớn. Tớ thấy rằng các cậu đã biết những trở ngại nhỏ của tớ. Không, bà ấy không chết. Nhưng tớ có đủ lý do để tin tưởng rằng bà ấy sẽ không phản đối đám cưới của tớ!
- Bà ấy thật là một người tử tế! Một cậu sinh viên đưa ra nhận xét.
- Thực ra bây giờ bà ấy cần phải được thuyết phục rằng bà ấy phải giúp cho tớ tìm lấy một cô vợ, vị Giáo sư nói tiếp. Bà ấy  với tớ không bao giờ thông cảm lẫn nhau cả, nhưng tớ hy vọng rằng các mối bất đồng sẽ chấm dứt và khi tớ cưới vợ, bà ấy sẽ tới ở tại nhà tớ.
- Một gia đình sung sướng làm sao! Một anh chàng có tính hài hước thở dài nói.
- Tớ thề là tớ nói thực đó! Và tớ tính rằng tất cả các cậu sẽ tới dự đám cưới tớ. Tớ sẽ không nêu lên tên tuổi một anh nào, nhưng tớ uống để mừng vị hôn thê bé nhỏ của tớ.
- Chúc mừng vị hôn thê nhỏ bé của ông ấy! Lũ con trai cà chớn rú lên những tiếng cười lớn. Chúc mừng sức khỏe của cô nàng. Xin các bạn nâng ly uống!
    Trong lúc có cuộc vui nhộn tại tiệm Gruneman thì một cảnh hoàn toàn khác biệt diễn ra ở một nơi khác. Anh thanh niên Von Harman, với một bộ mặt nghiêm trang và một dáng dấp kiểu cách, đã tra xét lại các dụng cụ về toán học sau cuộc thí nghiệm. Sau đó, anh ra một cái lệnh có tính cách bắt buộc cho người canh gác phòng thí nghiệm. Rồi anh đi ra và thong thả đi về phía nhà của vị thông thái. Phía trước anh, anh chợt thấy Von Althos, giáo sư Khoa Giải Phẫu. Anh bước mau chân và bắt kịp ông ta.
- Hãy nói cho tôi nghe, Von Althos! Anh kêu lên và đập vào cánh tay ông ta. Hôm nọ ông có hỏi tôi một điều cần biết về cái vách ở giữa các động mạch não bộ. Tôi đã khám phá ra....
- Lạy chúa tôi! Von Althos la lớn lên, ông vốn là một ông già dễ nổi nóng mà. Sự láo xược này là nghĩa làm sao? Thưa ông, tôi sẽ đưa ông ra Hội đồng Kỷ luật của trường Đại học về cái tính ngông nghênh của ông.
    Nói xong lời đe dọa đó, ông xoay gót chân và đi khỏi. Von Harman hết sức kinh ngạc bởi sự tiếp đón này: "Đây là hậu quả của sự thất bại trong cuộc thí nghiệm của mình." Anh tự nhủ vậy. Và anh buồn bã đi tiếp con đường.
    Tuy nhiên, sự kinh ngạc mới còn chờ đợi anh. Hai cậu sinh viên chạy đằng sau anh để bắt kịp anh. Mấy cậu sinh viên này, thay vì bỏ mũ ra hoặc chứng tỏ một dấu hiệu tối thiểu về sự tôn kính đối với anh, đã thốt ra một tiếng la hét man rợ tỏ vẻ vui mừng. Mỗi cậu nắm lấy một ống tay áo của Von Harman, muốn lôi anh đi với họ.
- Đồ mất dạy! Von Harman gầm lên. Một sự nhục mạ có chủ ý như vậy là nghĩa làm sao? Các anh muốn dẫn tôi đi đâu?
- Đi đập bể đầu một chai rượu vang! Hai anh sinh viên đáp lại. Vậy đấy! Hãy đi với chúng tôi! Anh chưa từng từ chối lời mời đó bao giờ mà.
- Tôi chưa từng thấy sự hỗn xược như thế này bao giờ! Von Harman la lớn lên. Buông tay tôi ra. Nếu không tôi sẽ đuổi các anh ra khỏi trường! Buông tôi ra, tôi nói với các anh!
    Trong tâm trạng điên cuồng không thể kìm hãm được, anh lấy chân đá lung tung.
- Ồ, nếu anh nghĩ như vậy thì anh muốn đi đâu thì đi! Các sinh viên nói với anh. Chúng tôi sẽ đi uống ngon lành chẳng cần  có anh.
- Tôi biết các anh. Các anh sẽ phải đền tội này! Von Harman nói với theo họ.
    Anh tiếp tục đi về nơi mà anh cho là nhà của anh, rất bực bội vì hai sự cố vừa qua.
    Bà Baumgarten đang đứng ở cửa sổ nhìn ra vì bà ngạc nhiên thấy ông chồng về trễ để ăn bữa trưa, bà chợt nhìn thấy anh sinh viên trẻ đi trên đường. Như chúng tôi đã nói, đối với anh này, bà đã tỏ ra một mối ác cảm mạnh mẽ và mỗi khi anh ta mạo hiểm tới nhà bà thì đó là nhờ sự bao che của vị Giáo sư. Sự kinh ngạc của bà khi nhìn thấy anh ta đi tới một mình còn tăng thêm khi anh ta mở cánh cửa phên thưa và bước vào lối đi với dáng điệu của một người tự coi mình là chủ nhân của tình thế. Thấy khó có thể tin ở cặp mắt mình, bà chạy vội ra cửa. Tất cả các bản năng của người mẹ đều xao động. Từ các cửa sổ trên cao, cô gái Elise xinh đẹp cũng nhận xét thấy dáng điệu nghênh ngang của tình nhân của cô. Tim cô trở nên hồi hộp, cả vì kiêu ngạo lẫn bối rối.
- Chào ông! Bà Baumgarten nói với anh chàng đang tự do đột nhập vào nhà bà bằng cách ngạo nghễ chặng đường anh ta ở ngưỡng cửa.
- Martha ạ, thật đúng là một ngày đẹp đẽ! Anh ta đáp lại. Đi vào đi, chớ có đứng ở đây như một pho tượng nữ thần ấy. Nhưng xin bà hãy gấp gấp dọn bữa ăn trưa đi, vì tôi gần chết đói rồi đây này.
- Martha! Bữa ăn trưa! Bà vợ của vị Giáo sư nhắc lại, suýt chút nữa thì bà té ngửa xuống.
- Ờ, bữa ăn trưa Martha ạ, bữa ăn trưa! Von Harman gầm lên, lúc đó anh đã trở nên dễ nóng giận. Lời yêu cầu này có gì là khác thường, một người đã làm việc suốt cả buổi sáng? Tôi đợi ở trong phòng ăn. Bà cho tôi bất cứ món gì: xúc xích, củ su, trái mơ, những thứ gì mà bà sẵn có. Nhưng bà làm gì mà cứ đứng nhìn tôi miệng há hốc ra như vậy? Này bà, bà có chịu cất bước đi không nào?
    Câu nói sau cùng này, kèm theo một cái dậm chân có vẻ điên dại, đã có hiệu lực làm cho bà Baumgarten hiền hậu bỏ trốn. Bà đóng cửa đứng trong nhà bếp. Ở đó, bà bị một cơn khủng hoảng thần kinh. Trong khi đó, Von Harman đi vào phòng ăn và ngồi phịch xuống ghế tràng kỷ. Anh ta đang hết sức cáu kỉnh.
- Elise đâu? Anh ta gọi. Bọn đàn bà quỷ bắt! Elise!
    Bị triệu thỉnh với một cái giọng quá thô lỗ đó, cô thiếu nữ e dè từ trên phòng cô đi xuống.
- Người tình của em! Cô kêu lên trong lúc âu yếm ôm lấy anh ta. Em biết rằng anh đã xử sự như thế là vì anh yêu em. Có phải đó là một mưu chước để gặp em không, anh nói đi?!
    Von Harman quá giận dữ với rắc rối mới này đến nỗi anh ngồi lặng đi không nói được một câu nào. Anh chỉ có thể phóng ra những cái nhìn giận dữ. Nắm chặt hai nắm tay lại và đồng thời cố chống đỡ những cái hôn của cô thiếu nữ. Sau hết, khi anh lấy lại được sự ích dụng của ngôn ngữ, anh đã bị lôi cuốn vào một cơn bão tố của sự phẫn nộ quá dữ dội khiến cho Elise phải lùi lại và khiếp sợ ngồi phịch xuống một cái ghế bành.
- Chưa bao giờ tôi phải sống một ngày như thế này!Von Harman vừa dậm chân vừa la lên. Cuộc thí nghiệm của tôi đã thất bại. Von Althos đã làm nhục tôi. Hai thằng sinh viên đã ôm lấy tôi trên đường đi. Vợ tôi suýt nữa thì ngất xỉu khi tôi bảo bà ấy cho tôi ăn bữa trưa và con gái tôi nhảy nhổm lên người tôi để xiết chặt lấy tôi như một con gấu hoang vậy.
- Anh bị bệnh rồi, anh yêu quý của em! Đầu óc anh bị lộn xộn rồi! Anh chưa hôn em một lần nào!
- Không và tôi không có ý định hôn hít gì cả. Von Harman tuyên bố một cách cương quyết. Con phải biết thấy thế là xấu hổ chứ. Tại sao con không đi kiếm cho ba đôi giày vải của ba, mà cũng không vào phụ giúp má con làm bữa trưa cho ba?
- Có phải là em đã yêu anh đắm đuối hơn mười tháng nay để rồi đi tới sự thể như thế này? Elise kêu lên và chúi gục mặt vào tấm khăn lau mặt của cô. Em đã phải đương đầu với cơn giận dữ của má em như thế nào! Ôi, anh đã đập nát trái tim của em! Vâng, anh đã đập nát trái tim em.
    Cô nức nở một cách tuyệt vọng.
- Thế là quá lắm rồi, quá sức chịu đựng của tôi rồi! Von Harman gầm lên. Đứa con gái này muốn nói chuyện quỷ quái gì? Ba đã làm gì từ mười tháng nay để gợi ra cho con một lòng yêu mến đặc biệt đến như vậy? Nếu con yêu ba nhiều thì con nên đi kiếm cho ba một ít xúc xích và một ít bánh, thay vì đứng đấy nói lảm nhảm những điều kỳ cục...
- Ôi, anh yêu quý của em! Cô thiếu nữ khốn khổ kêu lên và lao vào vòng tay của con người mà cô tưởng là Von Harman. Hãy nói với em rằng anh chỉ bông đùa để làm cho Elise bé bỏng của anh sợ hãi thôi.
    Sự ngẫu nhiên muốn rằng lúc mà vòng tay ghì xiết vừa đắm đuối vừa bất chợt này diễn ra thì Von Harman đang ngồi tựa vào một đầu của ghế tràng kỷ. Mà ghế này, giống như trường hợp thường xảy ra với các đồ gỗ của người Đức, đã bị xộc xệch và khủng khiểng. Sự ngẫu nhiên này còn muốn nói rằng chỗ dưới đầu tràng kỷ có một cái chậu đầy nước, trong đó nhà sinh lý học đã tiến hành vài thí nghiệm về các trứng cá và ông để trong phòng ăn để giữ một nhiệt độ ngang bằng. Sức nặng của cô thiếu nữ, kết hợp với sự mãnh liệt của cái đà xô tới của cô đã làm gẫy nát chiếc ghế tràng kỷ. Anh chàng sinh viên kém may mắn té ngửa về phía sau vào trong cái chậu. Đầu và hai bàn tay anh bị kẹt cứng trong đó một cách bất tiện, trong khi hai chân anh giẫy dụa một cách tuyệt vọng trong khoảng không. Nỗi cay đắng của anh thật đã quá thể rồi. Phải chật vật lắm anh mới thoát được khỏi tình trạng bực bội này. Anh kêu lên một tiếng tức tối chẳng ra mạch lạc gì, tay cầm lấy mũ và đi thẳng ra, chẳng muốn nghe những lời nài nỉ của Elise. Người ướt sũng, nước nhỏ giọt lòng thòng, anh quay trở lại phía thành phố để kiếm trong một nhà hàng thức ăn và những tiện nghi mà anh đã bị khước từ ở nhà anh.
    Trong khi hồn của Baumgarten nằm trong thể xác của Von Harman bước vội trên con đường ngoằn ngoèo dẫn tới thành phố nhỏ bé, ông chợt thấy một ông già đang đi tới phía ông, và người này rõ ràng là đang say rượu. Von Harman đứng né ra ria đường để quan sát người này đang khất khưởng vừa bước đi xiên xọ vừa hát bằng một giọng ồ ề một điệp khúc của bọn sinh viên. Thoạt đầu, ông chỉ chú ý tới sự tương phản giữa một ngoại hình đáng kính và một tình trạng buồn khổ như vậy. Rồi ông nghĩ rằng ông rất quen biết người này, tuy nhiên ông không thể nhớ được là ông đã gặp người này khi nào và ở đâu. Cảm tưởng này trở nên quá mạnh khiến cho người lạ đi tới trước mặt ông, ông đứng chắn trước mặt người đó và chăm chú nhìn kỹ ông ta.
- Này, cậu con trai của ta! Người say rượu hỏi và đến lượt ông nhìn kỹ Harman và đứng lảo đảo trước mặt anh. Tôi đã gặp anh ở nơi quỷ quái nào ấy nhỉ? Tôi biết rất rõ anh cũng như tôi biết chính tôi vậy. Anh là đồ ma quỷ nào vậy?
- Tôi là giáo sư Baumgarten, người sinh viên đáp lại. Cho phéo tôi hỏi ông rằng ông là ai vậy? Bộ mặt ông không phải là xa lạ đối với tôi.
- Không bao giờ anh được nói dối, anh bạn trẻ ạ. Người kia nói. Chắc chắn anh không phải là vị Giáo sư, vì đó là một ông già hiền hậu, xấu xí sắp kề miệng lỗ rồi, mà anh thì là một thanh niên ngổ ngáo có đôi vai to lớn. Tôi tên là Von Harman, muốn sẵn sàng giúp đỡ anh.
- Chắc chắn là không phải như vậy! Thể xác của Von Harman kêu lên. Cùng lắm ông có thể là bố anh ta. Nhưng xin ông nói cho tôi rõ, ông có biết là ông đang mang những cái cúc yếm sơ mi của tôi và sợi giây đồng hồ của tôi không?
- Đồ trời đánh! Người kia nói như nghẹn tiếng. Nếu anh không đang mặc cái quần của tôi, mà vì cái quần này mà lão thợ may sắp tới siết nợ tôi, thì tôi sẽ không bao giờ uống rượu bia nữa.
    Bực bội vì những việc kỳ cục mà anh ta đã là nạn nhân suốt cả buổi sáng, Von Harman đặt một bàn tay lên trán và nhắm mắt lại. Sự ngẫu nhiên muốn biết rằng (một lần nữa) anh ta chợt nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của chính mình trong một cái vũng nước mà trận mưa đã để lại trnê mặt đường. Quá kinh ngạc khi anh nhật thấy anh có một cái đầu của một sinh viên trẻ và trên hết cả mọi phương diện là cái phản đề sống động của cái bóng người nghiêm trang và khắc khổ mà linh hồn anh thường quen trú ngụ. Trong một vài phút đồng hồ, bộ óc tinh tế của anh ôn lại mọi sự việc xảy ra và đi tới một kết luận không thể tránh được. Suýt nữa là anh ngất xỉu đi vì sự kích động.
- Đúng rồi! Anh kêu lên. Tôi đã thấy rõ tất cả. Linh hồn chúng ta đã lầm thể xác. Tôi là anh và anh là tôi. Lý thuyết của tôi đã được chứng minh, nhưng với một giá quá đắt! Linh hồn thông thái nhất Châu Âu có thể nào đi chơi dưới một cái bề ngoài xoàng xĩnh thế này không? Ôi, thế là tiêu tan hết những công trình suốt một đời người!
    Với sự thất vọng, ông tự đấm vào ngực mìn.
- Hãy nói đi! Chàng Von Harman chính cống nấp trong thân xác vị Giáo sư đưa ra nhận xét. Tôi thấy rõ sức mạnh của những nhận xét của thầy, nhưng tôi xin thầy đừng vỗ lên người tôi như thế. Thầy đã tiếp nhận thể xác của tôi trong tình trạng tuyệt hảo, nhưng tôi nhìn thấy rằng thầy đã làm nó ướt át và thương tổn. Thầy đã làm áo sơ mi của tôi toàn mùi thuốc lá.
- Ăn thua gì việc đó! Chúng ta sẽ phải snốg như thế này mãi. Lý thuyết của tôi đã được chứng minh một cách rực rỡ, nhưng với cái giá khủng khi.ếp
- Nếu tôi cũng tin tưởng như vậy thì thực tôi cũng sẽ rất buồn phiền. Tôi sẽ làm gì được với những cái chân tay già nua cứng đờ này?! Làm thế nào để tôi tán tỉnh cô Elise và thuyết phục cho cô ấy hiểu rằng tôi không phải là bố cô ấy?! Lạy chúa tôi! Mặc dù rượu bia đã làm tôi say mềm, tôi thấy có một cách để thoát ra khỏi tình trạng này.
- Cách nào? Vị Giáo sư hổn hển hỏi lại.
- Này nhé, bằng cách bắt đầu lại cuộc thí nghiệm. Ta lại giải thoát linh hồn chúng ta một lần nữa. Rất có thể là chúng sẽ nhập lại vào thể xác liên hệ với chúng.
    Chưa bao giờ một người chết đuối lại bám lấy một cọng rơm chặt chẽ hơn là hồn của Baumgarten bám lấy ý kiến này. Trong một sự vội vã điên cuồng, ông kéo lấy cái thân xác của chính ông lên cạnh đường và làm cho nó ngủ mê nhân tạo. Rồi ông lấy từ trong túi ra quả cầu bằng thủy tinh, rồi cũng tự đi vào một tình trạng như vậy.
    Những sinh viên, những nông dân đi qua chỗ đó đều rất kinh ngạc khi nhìn thấy vị Giáo sư lỗi lạc về khoa sinh lý và cậu học trò cưng của ông, cả hai cùng ngồi trên một bãi cỏ be bét bùn và hoàn toàn bất động. Sau một tiếng đồng hồ, cả một đám đông tụ tập lại. Những người tò mò đang định gọi một chiếc xe tải thương tới để chở họ đi bệnh viện, thì nhà thông thái mở mắt ra và nhìn chung quanh ông. Trong một vài phút, ông có vẻ như quên mất tại sao mà ông lại ở chỗ này, nhưng rồi ông làm mọi người kinh ngạc bằng cách vung vẩy đôi tay gầy guộc của ông bên trên đầu và hét lên với sự mãn nguyện:
- Trời đã giúp chúng tôi! Tôi đã trở lại là tôi! Tôi biết điều đó!
    Sự sửng sốt của khán giả cũng lớn lao không kém khi cậu sinh viên đứng phắt dậy, cũng thốt ra một tiếng kêu như vậy. Rồi cả hai người đều hoan hỉ nhảy nhót ngay ở giữa đường.
    Trong một thời gian nào đó, dân cư ở Keinplatz có ý nghi ngờ về sự cân bằng tâm thần của hai diễn viên trong màn kịch này. Khi ông Giáo sư công bố báo cáo về cuộc thí nghiệm của ông trong tờ Báo Y học như ông đã hứa từ trước, ông đã vấp phải từ phía đồng nghiệp của ông đủ mọi thứ ý kiến được trình bày một cách rõ ràng không nhiều thì ít, nhưng đều tóm tắt ở điểm này: ông cnầ phải để ý tới sức khỏe tâm thần của ông, vì một bản công bố khác vào loại này sẽ đưa ông thẳng tới một dưỡng trí viện. Về phần cậu sinh viên, cuộc thí nghiệm cũng dạy cho cậu biết rằng câu nên im tiếng đi thì có lợi hơn.
    Dù sao thì buổi chiều hôm đó, khi vị Giáo sư lỗi lạc về tới nhà mình, ông đã không nhận được sự tiếp đãi thân mật mà ông có quyền mong đợi sau những cuộc phiêu lưu của ông. Trái lại, ông bị bà vợ và cô con gái cằn nhằn một cách thô lỗ, vừa về việc ông thở ra mùi rượu bia và thuốc lá, mà cũng cả về việc ông đã vắng nhà trong khi một tên du đãng trẻ tuổi xâm nhập nhà ông và nhục mạ vợ con ông. Phải mất rất nhiều thời gian, không khí gia đình trong nhà ông Giáo sư mới êm ả được và mất nhiều thời gian hơn nữa để cho bộ mặt dễ gây cảm tình của Von Harman tái xuất hiện trong nhà ông. Tuy nhiên, sự kiên nhẫn thường lật đổ mọi chướng ngại: anh sinh viên đã thành công trong việc làm nguôi ngoai hai người đàn bà phẫn nộ và chiếm lại trái tim cô Elise. Bây giờ anh không còn phải sợ hãi những lời sấm sét của bà Baumgarten vì anh đã trở thành Trung úy Von Harman trong đạo Kỵ binh của Hoàng đế và cô Elise yêu kiều đã tặng anh hai cây giáo nhỏ làm dấu hiệu cho lòng khoan dung của cô.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Chơi Với Lửa (Playing With Fire)
 
    Tôi không có ý định nói vễ những gì đã xảy ra một cách chính xác ngày mười bốn tháng tư vừa qua tại số nhà 17 đường Badderly Gardens. Khi viết ra trên giấy trắng mực đen, các điều giả thuyết của tôi có vẻ quá lố bịch để được mọi người coi là truyện đứng đắn. Tuy vậy, mà đúng là đã có một truyện gì xảy ra; một truyện quá lạ lùng khiến chúng tôi sẽ phải nhớ cho tới khi chết. Câu chuyện này chắc chắn đáng tin cũng như sự chứng nhận chắc chắn của năm người. Tôi sẽ không để tôi bị lôi kéo vào trong những cuộc tranh luận hay những sự suy tư. Tôi chỉ xin đưa ra một kiểu lời khai mà tôi giao nộp cho John Moire, cho Harver Dicon và bà De La Mer. Tôi chỉ cho công bố lời khai này sau khi được họ công nhận từng chi tiết trong đó. Tôi buộc lòng phải bỏ qua sự chấp thuận của Paul La Duc vì ông đã rời khỏi Anh quốc.
    Chính John Moire, người hội viên thứ nhất của công ty Moire và Sanderson, là người đầu tiên đã lôi kéo sự chú tâm của chúng tôi vào các vấn đề của khoa học huyền bí. Giống như nhiều nhà doanh thương rất cương quyết và thực tế, ông có một khía cạnh huyền bí. Khía cạnh này đã đưa ông tới sự khảo sát và khi gặp cơ hội, đưa ông tới việc chấp nhận các hiện tượng huyền hoặc mà người ta đã gói ghém lại cùng với nhiều điều ngu xuẩn và dối trá dưới nhãn hiệu thông linh học. Ông đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu với một tinh thần tự do, chẳng mấy chốc cuộc nghiên cứu đã mang bộ mặt các giáo điều. Lúc đó, ông trở nên cũng tích cực và cuồng tín như một người sùng đạo mù quáng đầu tiên. Trong cái nhóm nhỏ bé của chúng tôi, ông tiêu biểu cho những người huyền bí đã tạo lập ra tôn giáo mới dựa theo các hiện tượng lạ lùng này.
    Bà De La Mer, bà đồng của chúng tôi, là em gái ông và cũng là vợ của nhà điêu khắc De La Mer. Kinh nghiệm đã cho chúng tôi thấy rằng đụng tới các vấn đề này mà không có người ngồi đồng thì chỉ uổng công cũng như một nhà thiên văn muốn làm việc quan sát mà không có viễn vọng kính vậy. Một mặt khác, không bao giờ chúng tôi muốn đưa vào nhóm chúng tôi một con đồng được trả lương. Rõ ràng là một con đồng chuyên nghiệp sẽ chỉ cất lấy tiền của chúng tôi nên mới làm việc đó và dễ đi tới chỗ lừa bịp. Làm sao mà chúng tôi tin dược ở những hiện tượng được tạo ra với giá biểu một đồng bạc một giờ?! May mắn thay là Moire đã khám phá ra rằng cô em gái ông có những văn cốt của một con đồng, nói theo một cách khác là bà ta là một cục pin của năng lượng nhân điện vốn là hình thức năng lượng duy nhất khá tế nhị để được vận dụng trên bình diện tinh thần một cách hữu hiệu cũng như ngay trên bình diện vật chất của chúng ta. Tất nhiên khi tôi nói đến điều này, tôi tuyệt đối không có ý định n óilà những gì liên hệ tới vấn đề là đích thực. Tôi chỉ nhắc tới các lý thuyết nhờ vào đó mà chúng tôi đã giải thích hoặc là sai hoặc là đúng, những điều mà chúng tôi đã nhìn thấy. Bà đồng này đã tới, không phải đã hoàn toàn được sự đồng ý của ông chồng. Mặc dù không bao giờ bà cho ta có cảm tưởng rằng bà có một sức mạnh rất lớn về tâm linh, chúng tôi vẫn thấy những sự truyền thông theo thói quen vừa ngây thờ ấu trĩ vừa không thể giải thích được. Chiều chủ nhật nào cũng vậy, chúng tôi gặp gỡ nhau tại phòng làm việc của Harver Dicon ở Bedderly Gardens, căn nhà ở góc đường Merton Park. Đầu óc giàu tưởng tượng của Harven Dicon đã phung phí trong nghệ thuật của ông làm cho bất cứ ai mới nhìn thấy cũng phải coi ông là một tay chơi tài tử rất hăng say về tất cả những gì kỳ quái và dễ gây xúc động. Sự chắc chắn ngoạn mục trong việc nghiên cứu các khoa học huyền bí đã lôi cuốn ông lúc khởi đầu; nhưng sự chú tâm của ông đã nhanh chóng chuyển sang một vài hiện tường mà tôi vừa nói tới và ông đã đi tới kết luận rằng những điuề mà ông từng coi là một cuộc mạo hiểm lãng mạn để chơi đùa, như là một sự giải trí lúc tà dư tửu hậu thật ra là một sự thực rất đáng sợ. Vốn có một bộ óc thông minh và duy lý nổi tiếng ở trong cái giới nhỏ bé của chúng tôi, ông là hình ảnh của một phần tử hay phê phán, một người không có thành kiến, lúc nào cũng sẵn sàng theo dõi các sự việc đúng như cách ông nhìn thấy chúng và ông từ khước việc đưa ra trước một lý thuyết về những thông tin của ông. Sự khôn ngoan của ông đi ngược lại ý của Moire, giống hệt như đức tin mạnh mẽ của ông này làm trò cười cho Deacon. Nhưng theo lề lối của họ, cả hai người đều là những kẻ phát điên.
    Còn tôi? Tôi tự xác định tôi ra sao đây? Tôi không phải là một người mộ đạo. Tôi không phải là một người phê bình theo lối khoa học. Cứ cho rằng tôi là một anh thị dân có tính tài tử, thích được thấy mình trong một trào lưu thời thượng, biết ơn tất cả những cảm xúc mới làm tôi say mê và mở cho tôi những hướng đi mới về đời sống. Bản thân tôi không phải là người có nhiệt huyết, nhưng tôi thích giao du với những người có nhiệt huyết. Những ý kiến của Moire cho tôi cảm tưởng rằng chúng tôi đã có một giấy thông hành đặc biệt để mở cánh cửa của cõi chết và làm cho tôi hoàn toàn mãn nguyện. Tôi thấy rất thoải mái với bầu không khí ấm cúng của buổi họp mặt với những ánh sáng mờ ảo. Nói tóm lại, công việc làm tôi thích thú. Đó là lý do tôi đã có mặt tại đó ngày 14-4, hiện diện trong một cảnh rất kỳ lạ mà tôi sẽ thuật lại bây giờ.
    Trong số đàn ông thì tôi là người tới trước nhất, nhưng bà De La Mer đã có mặt trong phòng làm việc của Deacon rồi, vì bà đã uống trà với bà Deacon. Hai bà và ông Deacon đứng trước một bức họa chưa hoàn tất đặt trên giá. Tôi không phải là người sành sỏi về hội họa và không bao giờ dám nói là hiểu ý nghĩa các bức họa của Deacon; tuy nhiên, trong trường hợp rõ ràng này, tôi thấy là các bức họa tuyệt đẹp, rất kỳ ảo, thấm đượm vẻ thần tiên, chứa đầy các loài vật và những hình ảnh tượng trưng đủ mọi loại. Các bà ngợi khen ông hết lời; hiệu lực của màu sắc thật là tuyệt mỹ.
- Ông nghĩ thế nào, ông Markham? Ông ta hỏi tôi.
- Thú thật điều này vượt quá mức hiểu biết của tôi! Những con thú này...Đó là những con gì vậy?
- Những con quái vật trong thần thoại, những con vật trong tưởng tượng, những kiểu huy chương. Một thứ đám rước kỳ dị, bí ẩn.
- Với một con ngựa trắng đi đầu!
- Đó không phải là một con ngựa!
    Ông đã phản đối với một giọng nghiêm nghị. Điều làm tôi kinh ngạc vì ông vốn có tính tình rất tốt và không bao giờ tỏ ra quá trang nghiêm.
- Vậy đó là cái gì?
- Ông không trông thấy cái sừng trên trán nó à? Đó là một con kỳ lân. Tôi đã nói  với ông đó là những con thú tưởng tượng. Ông không thể nhận ra một con nào cả sao?
- Tôi thấy thất vọng, ông Deacon ạ!
    Có vẻ như ông đã bị xúc phạm dữ dội, nhưng ông bật cười lớn:
- Hãy tha thứ cho tôi, ông Markham ạ! Thật sự tôi đã làm một công việc điên rồ với con thú này. Suốt cả ngày tôi vẽ nó, vẽ đi vẽ lại, cố tưởng tượng xem nếu như có một con kỳ lân sống thì nó giống cái gì. Sau cùng, tôi tin rằng tôi đã thành công. Ít nhất là tôi cũng hy vọng vậy, nhưng khi ông không nhận ra nó, tôi thấy bị chạm lòng tự ái dữ dội.
- Chắc chắn đó là một con kỳ lân! - Tôi kêu lên với vẻ xác tín, vì tôi thấy ông ta bực bội bởi sự mù tịt của tôi - Tôi phân biệt rất rõ cái sừng, nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy kỳ lân cả, ngoài những thú ở  cạnh các huy hiệu của hoàng gia và tôi tuyệt đối không tin là có con thú này. Những con thú khác là những con quái vật đầu sư tử, những con long xà và những con rồng đủ loại, có phải thế không?
- Vâng. Đối với những con này, tôi không gặp một khó khăn nào. Tôi chỉ có con kỳ lân là làm cho tôi bực mình. Thôi, thế cũng tạm đủ cho tới ngày mai.
    Ông quay lật bức họa lại ở trên giá và chúng tôi chuyển sang một đề tài khác trong câu chuyện.
    Chiều hôm đó, ông Moire tới trễ. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy ông đi tới cùng một người Pháp nhỏ bé và khỏe mạnh, mà ông giới thiệu với chúng tôi với cái tên là ông Paul La Duc. Tôi nói rằng chúng tôi ngạc nhiên vì chúng tôi giữ quy luật là một sự xâm nhập vào nhóm thông linh học của chúng tôi sẽ làm xáo trộn tình thế và đưa vào một phần tử khả nghi. Chúng tôi biết rằng chúng tôi có thể tin cập lẫn nhau, nhưng tất cả những kết quả của chúng tôi có nguy cơ sẽ bị đặt thành nghi vấn bởi sự hiện diện của một người ngoài cuộc. Tuy nhiên, ông Moire đã mau lẹ trấn an chúng tôi. Ông Paul La Duc là một môn đồ danh tiếng của khoa thần bí học. Ông du lịch sang Anh quốc, mang theo một thư giới thiệu của ông chủ tịch hội Huynh đệ những người dân Paris của giáo phái Rose - Croix gởi cho ông Moire. Như vậy thật hoàn toàn là việc bình thường khi ông được mời tới dự cuộc ngồi đồng của chúng tôi. Chúng tôi còn thấy vinh dự vì sự có mặt của ông.
    Như tôi đã nói, ông ta nhỏ bé và khỏe mạnh. Nom bề ngoài không có gì là đặc biệt cả. Trên khuôn mặt lớn được cạo nhẵn của ông, chỉ có đôi mắt to màu nhung nâu là đáng kể thôi. Ông ăn mặc lịch sự, có bộ điệu của một người thượng lưu và ông nói tiếng Anh với một giọng làm cho các bà mủm mỉm cười. Bà Deacon vốn không thích tắt bớt đèn đi như thường lệ và chúng tôi kéo nhích ghế lại gần cái bàn vuông bằng gỗ acajou được kê ở giữa phòng. Ánh sáng yếu ớt nhưng cũng đủ để chúng tôi nhìn thấy nhau rất rõ ràng. Tôi nhớ là tôi còn có thể nhận rõ rằng ông người Pháp có những bàn tay nhỏ mũm mĩm với những ngón tay vuông.
- Thật là vui nhỉ! Ông nói với chúng tôi. Đã từ nhiều năm tôi không ngồi dự theo lối này. Tuy nhiên, tôi rất thích việc này. Bà là con đồng hả? Có phải bà hành nghề lên đồng không?
- Không hoàn toàn đúng, bà De La Mer đáp lại. Nhưng bao giờ tôi cũng cảm thấy một sự chập chờn quá độ nữa thức nữa ngủ.
- Đó là giai đoạn đầu. Chỉ cần thúc đẩy thêm là nó tới chỗ đồng nhập. Khi đồng nhập rồi thì linh hồn bé nhỏ của bà bay đi và một linh hồn bé nhỏ khác tới thế chỗ cho nó. Do đó bà mà đã có giọng nói và tuồng chữ tự động phát sinh. Bà đã để cho người khác nắm quyền điều khiển bộ máy của bà, phải vậy không? Nhưng những con kỳ lân thì có gì dính líu tới chúng ta?
    Harver Deacon giật nẩy người lên. Ông người Pháp từ từ quay đầu lại và chăm chú nhìn vào những màn tối sẫm che phủ các bức tường.
-....Nom có vẻ ngồ ngộ! Ông ta lẩm bẩm...Luôn luôn là những con kỳ lân. Ai đã nghĩ tới một đề tài kỳ cục như vậy với một cường độ mạnh như thế?
- Thật là kỳ diệu! Deacon kêu lên. Suốt cả ngày tôi đã cố sức vẽ ra một con. Tại sao ông lại biết được?
- Ông đã nghĩ tới những con kỳ lân trong căn phòng này à?
- Chắc chắn là thế!
- Những tư tưởng là vật thể đó, ông bạn ạ! Khi ông tưởng tượng một vật gì là ông đã tạo ra vật đó. Ông không biết như thế à? Nhưng tôi có thể nhìn thấy những con kỳ lân của ông vì không phải chỉ có thể nhìn bằng mắt thôi đâu.
- Có phải ông muốn nói rằng tôi đã tạo ra một vật chưa bao giờ có thật cả chỉ bằng cách nghĩ đến thôi ư?
- Rõ ràng là thế. Đó là một sự kiện nằm trong tất cả mọi sự kiện khác. Đó là lý do tại sao một ý nghĩ xấu cũng là một sự nguy hiểm.
- Tôi nghĩ đó là trên bình diện siêu nhiên chứ? - ông Moire hỏi lại.
- À, đó chỉ là những từ thôi, ông bạn ạ! Những con vật đó ở kia kìa, tại một nơi nào đó, tại khắp mọi nơi, tôi không thể nói rõ được. Tôi nhìn thấy chúng. Tôi có thể sờ mó chúng.
- Ông không thể làm cho chúng tôi nhìn thấy chúng được à?
- Chỉ cần làm cho chúng trở thành hiện thực. Xin các ông nghe đây, đây sẽ là cuộc thí nghiệm. Nhưng cần phải có quyền uy. Trước hết, hãy đi lường cái quyền uy mà chúng ta có được, sau đó chúng ta sẽ thấy chúng ta có thể làm gì! Các ông có thể cho phép tôi được xếp chỗ ngồi cho các ông theo ý muốn của tôi không?
- Chắc chắn ông là người thành thạo hơn chúng tôi, Deacon trả lời. Tôi mong rằng ông sẽ điều khiển các công việc.
- Có thể là các điều kiện không được hoàn hảo, nhưng chúng ta sẽ làm những gì có thể làm. Xin bà cứ yên tâm tại chỗ cũ, tôi sẽ ngồi bên cạnh bà ấy và quý ông này sẽ ngồi bên tôi. Ông Moire sẽ ngồi bên cạnh bà, vì sự xen kẽ giữa màu nâu và vàng nâu là rất tốt. Vậy là được rồi. Và bây giờ, xin quý vị cho phép tôi sẽ tắt hết mọi ngọn đèn.
- Sự tối tăm thì có lợi ích gì? Tôi hỏi.
- Cái xung lực mà chúng ta liên hệ tới là một sự rung động của không khí ê te, giống hệt như ánh sáng vậy. Bây giờ chúng ta có những sợi dây liên lạc đặc biệt riêng của chúng ta, các vị hiểu không? Thưa bà, bà sẽ không sợ hãi trong bóng tối chứ? Một buổi cầu đồng như thế này thật là rất vui!
    Lúc mới đầu, chúng tôi thấy hoàn toàn tối mù. Nhưng khoảng một vài phút, mắt chúng tôi quen với bóng tối. Chúng tôi có thể nhận ra bóng của chúng tôi một cách rất mơ hồ và rất lộn xộn, tôi phải nói vậy. Tôi không thể nhìn thấy những đồ vật khác trong phòng làm việc. Cả bọn chúng tôi đều trang nghiêm rất nhiều hơn là những lần trước.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
-....Xin quý vị hãy đặt bàn ta ra trước mặt quý vị. Chúng ta đã không có cơ hội nào để đụng chạm vào nhau vì chúng ta có quá ít người chung quanh một cái bàn kích thước này. Thưa bà, xin bà chuẩn bị đi. Nếu cơn buồn ngủ kéo tới, xin bà đừng cưỡng lại. Và bây giờ, chúng ta hãy ngồi yên lặng và chờ đợi nhé.
    Vậy là chúng tôi đều ngồi trong yên lặng và chờ đợi trong khi phải nhìn soi mói vào bóng tối trước mặt chúng tôi. Ngoài hành lang, tiếng đồng hồ kêu tích tắc. Xa xa, một con chó sủa lên từng hồi. Hai hay ba lần có tiếng xe ngựa chạy lạo xạo ngoài phố và ánh sáng chập chờn của những ngọn đèn của chúng tạt lọt qua kẽ mành đã tạo nên một vài khoảng ấm cúng trong buổi thức thâu đêm của chúng tôi. Tôi cảm thấy các triệu chứng về thể xác mà các buổi cầu đồng trước đây đã trở thành quen thuộc: đôi bàn chân giá buốt, bàn tay như bị kiến bò, một cảm giác ấm áp dịu dàng ở lòng bàn tay và một luồng gió lạnh lẽo trên lưng, những sự đau nhức nhỏ. Kỳ lạ nhất ở hai cánh tay (nhất là ở cánh tay trái, cánh tay gần vị khách của chúng tôi nhất) chắc chắn là do sự lộn xộn của hệ thống kinh mạch, nhưng dù sao cũng đáng lưu ý. Đồng thời, tôi thấy một cảm giác căng thẳng của sự nôn nóng chờ đợi, một cảm giác gần như đau đớn vậy. Cứ xét qua sự im lặng nghiêm ngặt tuyệt đối của các bạn tôi thì đủ biết họ cũng có các dây thần kinh căng thẳng như tôi.
    Rồi đột nhiên, một tiếng động nổi lên từ bóng tối: một tiếng rít lên trầm lặng. Đó là tiếng thở nhanh và nhẹ của một người đàn bà, càng lúc càng nhanh hơn, càng lúc càng nhẹ hơn, như là hơi thở lọt qua những chiếc răng nghiến chặt; rồi chúng tôi nghe thấy một tiếng nấc cụt khá mạnh, kèm theo một tiếng sột soạt của vải.
- Cái gì vậy? Có bình thường không? Một người từ trong bóng tối hỏi ra.
- Hoàn toàn bình thường, ông người Pháp trả lời. Đó là bà ấy thở. Bà ấy đã nhập đồng. Thưa quý ông, bây giờ nếu quý ông vui lòng chờ đợi một cách bình thản, quý ông sẽ thấy một vật mà tôi tin rằng sẽ làm quý ông thích thú vô cùng.
    Vẫn còn tiếng tích tắc ngoài hành lang. Vẫn còn hơi thở, nhưng lúc này thì sâu hơn, dài hơn, của bà đồng. Vẫn còn những ánh sáng chập chờn của những ngọn đèn xe ngựa, nhìn thấy rõ hơn bao giờ hết. Chúng tôi đang lấp đầy một cái vực thẳm gớm ghê! Ở một bên là bức màn của sự vĩnh hằng đã hé lên một nửa, bên kia là những xe cộ của thành phố London. Cái bàn rung lên một nhịp thở mạnh mẽ. Nó lắc lư một cách đều đặn, nhịp nhàng. Nó tự nâng lên, hạ xuống một cách nhẹ nhàng bên trong những mớ gỗ của nó. Ta có thể nói đó là tiếng một bó củi đang nổ lách tách trong lò sưởi vào một đêm đông.
- Có rất nhiều quyền uy! Ông người Pháp lẩm bẩm. Các ông hãy nhìn lên bàn kìa!...
    Tôi đã tưởng rằng tôi là một thứ làm trò cười cho một cái ảo giác của riêng mình, nhưng tất cả mọi người đều nhìn thấy một việc như tôi. Một ánh sáng lân tinh màu vàng hơi xanh nhạt (có lẽ tôi nên nói là một thứ hơi nước có ánh sáng hơn là một ánh sáng) trụ lại trên mặt bàn. Nó lăn đi, uốn éo, xoắn lại thành những nếp lập lòe và mờ ảo xoay quanh và tự xoay tròn như những đám mây khói. Qua ánh sáng kỳ diệu đó, tôi có thể nhìn thấy những bàn tay trắng và những ngón tay vuông của ông người Pháp.
-.....Tuyệt diệu! Ông ta kêu lên. Thật là thích thú.
- Ta có nên đòi các mẫu tự không? Ông Moire hỏi.
- Không! Chúng ta có thể đạt được những điều tốt hơn nhiều. Vị khách của chúng tôi đáp. Làm cho cái bàn lúc lắc ở mỗi chữ trong mẫu tự chỉ là trò trẻ con. Với một con đồng như bà đây, chúng ta phải làm được nhiều hơn.
- Vâng, các ông sẽ làm được nhiều hơn - một giọng nói cất lên.
- Ai nói vậy? Có phải ông đấy không, ông Markham?
- Không, không phải tôi nói.
- Đó là bà đây đã nói, nhưng không phải tiếng của bà ấy.
- Có phải bà không, thưa bà De La Mer?
- Không phải là bà đồng đâu, nhưng đó là quyền uy đã sử dụng cơ quan của bà đồng - tiếng nói trầm trầm xa lạ đáp lại.
- Bà De La Mer đâu rồi? Tôi hy vọng rằng điều này sẽ không làm gì hại tới bà phải không?
- Bà đồng rất sung sướng trong một bình diệnh khác của đời sống. Bà đã ngồi vào chỗ tôi, cũng như tôi đã ngồi vào chỗ bà.
- Ông là ai?
- Điều đó không có gì quan trọng đối với ông. Tôi là một người đã từng sống như ông đang sống bây giờ và đã chết như là ông cũng sẽ chết một ngày nào đó.
    Chúng tôi nghe thấy tiếng ken két của bánh xe ngựa ngừng lại trước cửa một nhà bên cạnh. Bên ngoài đó, người ta đang cãi nhau về giá cả chuyến xe và vừa đánh xe đi, bác đánh xe vừa làu nhàu một câu tục tĩu. Đám mây màu vàng xanh vẫn còn xoay tròn bên trên cái bàn, lờ đờ trên suốt bề mặt của nó, trừ có mặt hướng vào phía bà đồng là nó lập lòe với một tia sáng yếu ớt, làm như nó dồn cả vào trước mặt bà. Tim tôi bị băng giá vì lạnh và sợ hãi. Hình như chúng tôi đã khinh suất và dại dột đi tới gần sự thiêng liêng thực tại nhất và cao cả nhất: sự cảm thông với những người chết mà các Cha của Giáo hội đã nói tới.
- Các ông không thấy rằng chúng ta đã đi quá xa à? Có lẽ chúng ta phải cắt đứt buổi lên đồng này đi chứ?! Tôi kêu lên.
    Nhưng những người khác rất muốn được coi tới phút chót. Sự áy náy của tôi làm họ bật cười.
- Tất cả mọi quyền uy đều được tạo ra cho người ta sử dụng, Harver Deacon trả lời tôi. Nếu chúng ta có thể sử dụng được thì chúng ta phải sử dụng. Tất cả những điểm phát xuất mới của trí thức đều đã được công bố là bất hợp pháp vào lúc khởi đầu. Đó là một điều đúng và hợp lý khi chúng ta tìm hiểu về bản chất của sự chết.
- Đó là đúng và hợp lý - tiếng nói tiếp lời.
- Đó, ông còn muốn đòi hỏi gì hơn nữa? - ông Moire kêu lên, vẻ rất xúc động - Ta hãy làm một sự trắc nghiệm. Ông có vui lòng cho chúng tôi một sự thử nghiệm rằng ông thật sự có mặt ở nơi đây không?
- Ông muốn có một sự thử nghiệm nào?
- Đây này....Tôi có một ít tiền lẻ trong túi. Ông có thể nói cho tôi biết là bao nhiêu không?
- Chúng tôi tới đây với hy vọng là để giáo dục và giác ngộ, chớ không phải để giải đáp những câu đố trẻ con.
- A, a, ông Moire ơi, đó là ông đã bị chỉnh rồi đó - ông người Pháp kêu lên. Nhưng lời chỉ trích hoàn toàn đúng.
- Đây là một tôn giáo chớ không phải là một trờ chơi - tiếng nói lạnh lùng và cứng rắn lại cất lên.
- Đúng thế, tôi cũng nói lên ý kiến như vậy. Ông Moire nói lớn. Tôi rất tiếc rằng đã đặt ra một câu hỏi như vậy. Ông không vui lòng nió cho chúng tôi biết ông là ai à?
- Việc đó có liên can gì tới ông?
- Chắc ông phải là một hồn ma từ lâu lắm rồi phải không?
- Vâng.
- Bao lâu rồi?
- Chúng tôi không tính thời gian như các ông. Các hoàn cảnh đời sống của chúng tôi khác hẳn.
- Ông có sung sướng không?
- Có.
- Chắc ông không muốn trở lại trái đất nữa?
- Không, chắc chắn là không!
- Ông có bận rộn lắm không?
- Chúng tôi sẽ không thể sung sướng được nếu chúng tôi không rất bận rộn.
- Ông làm việc gì?
- Tôi đã nói rằng hoàn cảnh của chúng tôi hoàn toàn khác biệt mà.
- Ông có thể cho chúng tôi một ý niệm về công việc của ông không?
- Chúng tôi làm việc cho sự tiến bộ của chính chúng tôi, cho sự thăng tiến của những người khác.
- Ông có thích tới đây chiều hôm nay không?
- Tôi thấy sung sướng được tới nếu sự tới thăm của tôi có thể làm được điều thiện.
- Vậy thì mục đích của ông là làm việc thiện à?
- Đó là mục đích của đời sống trên mọi bình diện.
- Ông Markham, ông thấy đó, đây là câu trả lời cho các nỗi áy náy của ông.
- Đúng thật vậy. Những mối nghi ngờ của tôi đã tan biến: tôi đã thích thú một cách kỳ diệu.
- Ông có gặp những sự đau đớn trong cuộc sống của ông không? Tôi hỏi.
- Không. Sự đau đớn là một việc của thể xác.
- Ông có những điều đau khổ về tinh thần không?
- Có. Bao giờ người ta cũng có thể buồn rầu hoặc lo lắng.
- Ông có gặp những bạn hữu mà ông đã bỏ lại trên trái đất không?
- Một vài người.
- Tại sao lại chỉ có một vài người?
- Chỉ gặp những người nào có cảm tình thôi.
- Những người chồng có gặp lại vợ họ không?
- Những người nào yêu họ một cách chân thực.
- Còn những người khác?
- Họ chẳng là cái gì đối với nhau cả.
- Liệu có một sợi dây đàn liên hệ tinh thần không?
- Chắc chắn là có!
- Những điều chúng tôi làm có tốt không?
- Nếu các ông làm điều đó với tinh thần thiện hảo.
- Vậy gọi cái gì là tinh thần xấu  xa?
- Sự tò mò và sự khinh xuất.
- Như vậy có thể đưa tới sự tai hại không?
- Rất nhiều  sự tai hại.
- Tai hại như thế nào?
- Các ông có thể làm nảy sinh những sức mạnh mà các ông không thể chế ngự được.
- Những sức mạnh tồi tệ à?
- Những sức mạnh không được khai hóa.
- Ông nói rằng chúng rất nguy hiểm. Nguy hiểm cho thể xác hay cho linh hồn?
- Đôi khi cho cả hai.
    Một sự yên lặng đổ xuống. Bóng tối hình như tối  sẫm hơn, trong khi đám sương mù màu xanh quay cuồng trên mặt bàn.
- Ông có muốn đưa ra những câu hỏi nào không, ông Moire? Harver Deacon hỏi.
- Một câu thôi: trong thế giới của ông, ông có cầu nguyện không?
- Người ta phải cầu nguyện trong mọi thế giới.
- Tại sao vậy?
- Bởi vì đó là cách để biết những sức mạnh ở bên ngoài chúng ta.
- Ở nơi đó, ông theo tôn giáo nào?
- Chúng tôi theo nhiều tôn giáo, giống như các ông vậy.
- Ông không có sự hiểu biết chắc chắn?
- Chúng tôi chỉ có đức tin thôi.
- Những vấn đề tôn giáo này được sự chú tâm của người Anh, là những người trang nghiêm. Nhưng chúng tôi không phải là thứ giải trí đâu. Tôi thấy rằng với quyền uy hiện hữu nơi đây, ta có thể đạt được lợi ích từ một kinh nghiệm lớn, phải không? Về một điều gì đó mà ta có thể nói.
- Nhưng không có gì thích thú hơn điều đó! Moire chống lại.
- Nếu ông nghĩ vậy, được rồi, rất tốt! Ông người Pháp đáp lại với giọng bực bội. Về phần tôi, trước đây tôi đã nghe điều đó rồi và tôi tưởng chiều nay ta nên thử làm một việc khác, nhờ tất cả quyền uy mà chúng ta được ban cho. Nhưng nếu ông có những câu hỏi khác, xin ông đưa ra đi. Khi nào ông hỏi xong, chúng ta sẽ thử làm điều khác.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
    Hỡi ôi, sự say mê đã bị đứt đoạn. Chúng tôi đã hỏi, hỏi mãi mà không có kết quả: bà đồng ngồi im lặng trên ghế. Chỉ có nhịp thở sâu, đều đặn của bà chứng tỏ là bà còn ngồi ở đó. Đám sương mù vẫn còn quay tròn trên mặt bàn.
- Ông đã hủy diệt sự hòa điệu. Bà không muốn trả lời.
- Nhưng chúng ta đã biết được tất cả những gì bà có thể nói với chúng ta, phải không? Về phần tôi, tôi muốn thấy một cái gì mà chưa bao giờ tôi được thấy.
- Cái gì vậy?
- Ông có vui lòng để tôi thử làm không?
- Ông muốn làm điều gì?
- Tôi đã nói với ông rằng những ý nghĩ là những việc, những vật thể. Bây giờ tôi muốn chứng tỏ điều đó với ông, và chỉ cho ông thấy cái vật mà vốn chỉ là một ý nghĩ. Vâng, tôi có thể làm việc đó. Và ông sẽ thấy. Bây giờ, tôi xin các ông giữ im lặng, không nói gì cả và cứ đặt bàn tay của các ông lên trên bàn.
    Căn phòng tối mò hơn, lặng lẽ hơn bao giờ hết. Cũng cái cảm giác lo sợ ấy đã đè nặng lên tôi lúc ban đầu buổi lên đồng, nay lại dằn vặt trái tim tôi. Tôi thấy rờn rợn ở các chân tóc như có kiến bò.
- Được rồi đó! - ông người Pháp nói lớn.
    Đám sương mù có ánh sáng từ từ rời xa cái bàn. Nó vẫn bay chập chờn uốn éo trong phòng làm việc. Nó bay tới một góc tối tăm nhất, nơi đó nó tụ lại và phát ra tia sáng. Rồi thì nó đông đặc lại thành một cái nhân sáng, và rõ ràng thành một vệt tia sáng đang tìm đường lẩn trốn. Không soi sáng và không phát ra các tia sáng vào bóng tối, màu sắc của nó chuyển từ màu vàng xanh nhạt sang một màu đỏ lờ đờ hơi nâu đen nhạt. Chung quanh cái nhân này, một chất tối sẫm, mờ mờ như khói cuốn thành vòng và cứ dày đặt mãi lên, mỗi lúc một đặc thêm và đen kịt. Rồi ánh sáng tắt ngúm, như là bị bóp nghẹt bởi cái vật mà nó bao quanh.
- Hắn đi rồi.
- Suỵt! Có một vật gì trong căn phòng.
    Cái vật đó, chúng tôi nghe thấy nó ở góc phòng mà ánh sáng đã chuyển tới. Một vật gì thở phì phò và cựa quậy.
- Cái gì vậy? Ông Le Duc, ông làm gì vậy?
- Tốt đẹp cả. Sẽ không có gì tệ hại xảy ra đâu - Tiếng nói của ông người Pháp run run vì xúc động.
- Trời đất ơi, ông Moire, có một con vật lớn kếch xù trong căn phòng. Nó đây này. Nó tựa vào ghế của tôi đây này. Cút đi! Cút đi!
    Đó là tiếng nói của Harver Deacon. Rồi thì chúng tôi nghe thấy một cái gì rơi lên trên một vật rắn. Rồi thì....rồi thì...biết nói thế nào với các bạn về những gì xảy ra!
    Một con vật to kếch xù chạy xông lại chỗ chúng tôi trong bóng tối. Một vật gì đó đứng chồm hai chân trước lên. Nó dậm chân, nó nhảy, nó thở phì phò. Nó có thể dẫm nát tất cả mọi thứ trên đường đi của nó. Cái bàn bay tung lên thành từng mảnh. Chúng tôi bỏ chạy tản mác ra mọi hướng. Vật đó gầm lên một tiếng kinh hồn, xô đẩy chúng tôi, xông hết góc này tới góc khác của căn phòng với một sức mạnh tàn bạo. Tất cả bọng chúng tôi gào lên vì hoảng sợ, chúng tôi khụy xuống bốn chân để cố né sự tấn công của vật đó. Tôi không rõ cái gì đã bước lên bàn tay tôi. Tôi cảm thấy những đốt xương của tôi gẫy rau ráu dưới sức nặng.
- Đốt đèn lên! - một người nào đó kêu lên.
- Ông Moire, ông có diêm quẹt đấy chứ? Diêm quẹt?!
- Không, tôi không có diêm quẹt. Ông Deacon, diêm quẹt ở đâu? Diêm quẹt, lạy chúa tôi!
- Tôi không thể tìm thấy chúng. Này ông, ông người pháp, hãy chặn nó lại!
- Đó là ngoài quyền năng của tôi. Ôi, lạy chúa tôi, tôi không thể ngăn chặn được cái gì cả! Cửa ra vào! Cửa ra vào ở đâu?
    Tình cờ, tay tôi đụng phải nắm đấm của cửa ra vào trong khi tôi quờ quạng trong bóng tối. Cái vật có hơi thở phì phò xông tới bên cạnh tôi và đã đập với một tiếng động khủng khiếp vào bức vách gỗ. Tôi vặn nắm đấm và tất cả chúng tôi chạy ra ngoài và đóng cánh cửa lại phía sau chúng tôi. Ở bên trong, sự ồn ào khủng khiếp cứ tiếp tục không ngừng.
- Cái gì vậy? Lạy chúa tôi, vật đó là cái gì vậy?
- Một con ngựa. Tôi đã nhìn thấy nó khi cửa được mở ra. Nhưng còn bà De La Mer?...
- Chúng ta phải quay vào tìm bà ấy. Vào đi, Markham, chúng ta càng đợi lâu thì càng chán ghét vật đó.
    Ông mở lớn cánh cửa và chúng tôi chạy xổ vào phòng làm việc. Bà De La Mer nằm lịm trên mặt đất giữa đống mảnh vụn của cái ghế của bà. Chúng tôi nắm lấy bà, nhanh chóng lôi bà ra ngoài. Một khi đã bước tới ngưỡng cửa, tôi ngoái lại phía sau tôi. Trong bóng tối, hai con mắt kỳ lạ nảy lửa lên khi nhìn chúng tôi. Tôi chỉ có đủ thì giờ đóng sập cửa lại. Phía bên kia, tiếng động khủng khiếp vang dội lên. Cái cửa bị chẻ đôi từ trên xuống dưới.
- Nó sắp đi qua cửa! Nó đây này!
- Chạy đi! Chạy đi nếu các ông muốn sống! - ông người Pháp la lớn.
    Một tiếng động khủng khiếp khác vang lên trước khi một vật gì đó lao ra theo kẽ nứt của cánh cửa. Đó là một cái sừng trắng, dài, long lanh dưới ánh sáng. Trong một chốc lát, nó đứng ngay trước mặt chúng tôi. Rồi với một tiếng động khô khan, nó biến mất.
- Mau lên, mau lên! Lại đây! Harver Deacon kêu lên. Khiêng bà ấy lại đây, mau lên!
    Chúng tôi ẩn náu trong phòng ăn và chúng tôi đóng chặt cánh cửa nặng nề bằng gỗ sến phía sau chúng tôi. Chúng tôi đặt người đàn bà bất tỉnh nằm dài trên ghế tràng kỷ. Moa, con người của công việc có sức bền bĩ, ngã gục ngất xỉu đi trên tấm thảm trải nhà. Harver Deacon, người trắng bệch như một xác chết co rúm lại và nhảy lên như một kẻ bị kinh phong. Trong một tiếng đổ vỡ kinh khủng, cánh cửa phòng làm việc tung bay tất cả lên thành những mảnh vụn. Chúng tôi nghe tiếng dậm chân và tiếng hí ở hành lang. Tiếng đi đi lại lại. Căn nhà rung chuyển dưới cơn thịnh nộ đó. Ông người Pháp, hai tay ômg lấy đầu, khóc nức nở như một đứa trẻ bị khiếp sợ.
- Ta phải làm gì? Tôi hỏi ông ta trong lúc lắc mạnh vào vai ông ta. Trong trường hợp thế này, một khẩu súng có hữu ích không?
- Không! Nhưng quyền uy sẽ biến đi. Rồi sẽ hết.
- Ông là một người điên kỳ quái, suýt nữa ông đã giết chết cả bọn chúng tôi với những kinh nghiệm ma quỷ của ông.
- Tôi không biết. Làm sao tôi có thể đoán trước được rằng nó lại bị khiếp  sợ như vậy? Nó đã điên cuồng vì kinh hoàng. Tất cả đều do lỗi của nó mà ra, nó đã đánh con vật ấy.
    Harver Deacon nhảy cẫng người lên:
- Lạy chúa tôi!
    Một tiếng gào lớn vang dội khắp căn nhà:
-...Đó là vợ tôi! Tôi đây này! Tôi ra đó! Dù ma quỷ hiện hình cũng không ngăn cản được tôi ra!
    Ông mở cửa và chạy bổ vào hành lang. Ở chân cầu thang, bà Deacon nằm bất tỉnh, quá kinh khiếp với những gì bà nhìn thấy. Nhưng ngoài ra không còn ai khác nữa.
    Với những con mắt đờ ra vì kinh hoàng, chúng tôi nhìn chung quanh chúng tôi, nhưng tất cả đều hoàn toàn yên tĩnh. Tôi đi tới gần ô vuông đen xì của cánh cửa phòng làm việc, cứ từng bước một, tôi chờ đợi nhìn thấy một bóng mờ kinh khủng vọt ra. Nhưng không có gì vọt ra cả. Phía trong căn phòng hoàn toàn yên tĩnh. Với sự đề phòng, chúng tôi tiến tới phía ngưỡng cửa và chúng tôi lục tìm trong bóng tối. Hoàn toàn yên lặng, nhưng trong một góc ngoài bóng tối còn có một vật gì khác nữa. Một đám mây có ánh sáng màu đỏ nhạt với một tâm điểm sáng rực lắc lư bập bềnh. Các vành cạnh của nó lờ mờ không rõ rệt. Hình thể của nó cứ mỏng dần và tan loãng. Rồi thì ở tại góc đó chỉ còn có bóng tối dày đặc, êm mướt như nhung lan trần khắp căn phòng. Khi tia sáng cuối cùng đã tắt, ông người Pháp thốt ra một tiếng kêu vui thích.
- Thích thú biết bao! Không ai bị nguy hại gì. Chỉ có một cái cửa bị bể và các bà bị sợ hãi. Nhưng các bạn ạ, chúng ta đã làm được điều mà từ trước không ai làm được bao giờ.
- Và trong quyền hạn của tôi, chúng ta sẽ không bao giờ tái diễn nó nữa, ông Harver Deacon nói.
    Đó là những gì đã xảy ra ngày 14 tháng 4 tại số nhà 17 đường Badderly Gardens. Ở đoạn trên, tôi đã nói thật là kịch cỡm khi ta cổ vũ cho những gì đã thực xảy ra. Nhưng tôi loan báo các cảm nghĩ của tôi, các cảm nghĩ của chúng tôi (vì chúng tôi có những cảm nghĩ như vậy, Deacon, Moire và tôi) về những điều mà các cảm nghĩ ấy đáng được loan báo. Nếu các bạn muốn, các bạn có thể tưởng tượng rằng chúng tôi đã là nạn nhân của một sự huyền hoặc phức tạp và dị thường. Hoặc các bạn có thể nghĩ như chúng tôi rằng chúng tôi đã trải qua một kinh nghiệm rất thực tại và rất kinh khủng.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0