Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Suy nghĩ của tôi và các tác phẩm văn học

14 trả lời, 310 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-31 00:01:40Leo*>
            Một đôi điều về bài thơ Mộ (Chiều)
                     Của cụ Hồ chi Minh
Tôi đã đọc thắc mắc của bạn Hương tình yêu và ý kiến của một vài bạn xung quanh bài thơ này. Tôi cũng đã
 đọc một vài bài bình về bài thơ này . Những bài bình ấy làm tôi không thỏa mãn. Nó có vẻ hơi khiên cưỡng
 khi người viết cố áp đặt cho nó những điều vốn nó không có ( có thể là vì một lí do tế nhị nào đó) Vì vậy tôi
 mạnh dạn viết bài này
                                    Quyện điểu qui lâm tầm thúc thụ
                                    Cô vân mạn mạn độ thiên không
                                    Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
                                    Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
Điều đầu tiên phải nói rằng : Đây là một bài thơ hay, rất hay và độc đáo. Nó hay và độc đáo ở ngay trong
 hoàn cảnh sáng tác bài thơ . Những bài thơ tả cảnh như thế này các thi nhân đều làm trong những lúc trà
dư ,tửu hậu, nhàn nhã còn cụ Hồ chí minh làm nó trong lúc bị giải đi tù. Trong hoàn cảnh đó, phải là một
 người rất lạc quan, rất tin vào lí tưởng của mình, rất tin vào sự chiến thắng của con đường mình đã lựa
 chọn thì cụ mới có thể ung dung ngắm nhìn phong cảnh, cảm hứng viết thơ như một người đang du ngoạn
 Phong thái đó chỉ có thể tìm thấy trong những vĩ nhân. Nếu không hiểu điều này bài thơ bị mất một nửa
 giá trị
Quyện điểu phi lâm tầm thúc thụ
Quy lâm mạn mạn độ thiên không
Hai câu đầu đẫm chất đường thi. Hai câu tả cảnh và là hai câu thực . Chim mỏi cánh rồi đi tìm chỗ để ngủ. Trên trời,những đám mây cô độc đang chầm chậm trôi về rừng. Chỉ với hai câu một cảnh chiều bình yên ở một miền rừng núi vắng vẻ đã được nhà thơ vẽ nên một cách sinh động. năm từ “mạn mạn độ thiên không” thật là tuyệt bút. “Mạn mạn”có nghĩa là chậm chạp, từ “Độ” có nghĩa từ từ . Đọc cả câu “Mạn mạn độ thiên không”người đọc có cảm giác thời gian như ngưng đọng lại. Nhịp thơ kéo dài triền miên tạo nên được một cảm giác vắng vẻ u buồn của một miền sơn cước
   Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì đó chưa phải là Hồ chí Minh mà ta mong đợi . Vì tất cả các nhà thơ đường đều làm được điều này. Ta thử đọc một vài câu thực của những bài thơ đường nổi tiếng để thấy được điều đó
                                                Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
                                                Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Hay như
                                             Cốc khẩu sơn tàn hoàng điểu hi
                                             Tân di hoa tận hạnh hoa phi
Ta sẽ thấy tất cả các nhà thơ đường đều có thể chỉ bằng hai câu thơ mà vẽ nên một bức tranh rất sinh động. Vậy đâu là sự khác biệt của một bậc vĩ nhân, của một danh nhân văn hóa thế giới?
Điều đó nằm trong hai câu kết của bài thơ. Đối với các nhà thơ xưa,cái tôi của thi nhân bao giờ cũng là trung tâm của bài thơ. Muốn nói trời nói đất gì thì nói thì cuối cùng câu kết bao giờ cũng nhằm nói đến tâm trạng, một ước vọngcủa chính tác giả. Cái  “Tôi”của người viết trùm lên toàn bộ bài thơ. Ta thử đọc một vài câu kết của những bài thơ nổi tiếng để thấy được điều này
                      Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu (tôi say nằm lăn ở sa trường anh đừng cười)
                      Cổ lai chinh chiến thử nhân hồi      ( vì xưa nay đánh trận mấy ai trở về)
            Hay
                    Thi liên u trúc sơn song hạ  ( Thương mấy cây trúc lặng lẽ trước song)
                    Bất cải thanh âm đãi ngã quy (Không thay màu chờ ta về)
Nhưng trong bài mộ này thì khác. Cái “Tôi” của người viết đã biến mất mà thay vào đó là một cô thôn nữ và chính cô đã trở thành trung tâm của bài thơ
                           Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
                          Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
Giữa cảnh chiều vắng vẻ, u buồn hình bóng một cô gái hiện lên làm không khí thay đổi hẳn. Thời gian như ngưng đọng của hai câu thực bắt đầu chuyển động. Nếu hai câu thực “Tĩnh”bao nhiêu thì hai câu kết lại “ Động” bấy nhiêu.Đặt hai câu động cạnh hai câu tĩnh, bản thân sự sắp xếp này đã chứng tỏ bút lực dồi dào của người viết. Chúng tôn nhau lên làm cả hai đều rực rỡ
Tôi xin tự nhận tôi là người đọc không nhiều. nhất là cổ thi  nhưng những bài cổ thi nổi tiếng tôi đều đã đọc và tôi chưa đọc được một bài thơ tả cảnh nào lấy con người làm trung tâm của bài thơ cả. (Tôi xin giới hạn điều này ở thơ tả cảnh vì những bài thơ cổ tố cáo chế độ , thương sót người nghèo như bài bần nữ của Tần thao Ngọc hay bài Thạch hào lại của Đỗ Phủ thì lại khác. Nhưng kể cả những bài đó hình ảnh con người cũng không phải là trung tâm của bài thơ mà phải nói chính xác là số phận con người mới là trung tâm của bài thơ)
Đây là bài thơ tả cảnh nếu không nói là duy nhất thì cũng là cực kì hiếm hoi đã lấy hình ảnh con người làm trung tâm của bài thơ và đấy,theo tôi,chính là sự khác biệt giữa một danh nhân văn hóa với những nhà thơ khác. Việc bao túc ma hoàn (xay ngô xong) với việc “Lô dĩ hồng” (lò than hồng) là hai việc độc lập với nhau chẳng hề có một chút quan hệ gì thế nhưng chính cô gái, chính con người, đã làm cho những thứ rời rạc ấy đã có mối liên kết với nhau. Người đọc như có cảm giác rằng chính vì cô gái xay ngô xong nên lò than mới rực hồng
  Chắc có bạn sẽ hỏi tôi rằng : Vậy anh nói thế nào về  Bà huyện thanh quan? Tôi xin thưa rằng trong thơ của bà huyện thanh quan hình bóng con người cũng luôn xuất hiện như câu
                                  Lom khom dưới núi tiều vài chú
                                  Lác đác bên sông rợ mấy nhà
                      Hay
                                  Gác mái ngư ông về viễn phố
                                  Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Nhưng hình ảnh con người ở đây chỉ là những nét chấm phá của một bức tranh tả cảnh chứ nó không phải là hình ảnh trung tâm của bài thơ. Trung tâm bài thơ vẫn là nỗi lòng của người viết là cái “ Ta với ta “của bà
Tôi nhớ rằng Hồ chí Minh chưa bao giờ nói nghệ thuật vị nhân sinh. Nhưng qua bài thơ này , cụ đã thể hiện rõ quan điểm sáng tác của mình
Chúng ta hãy đọc lại câu cuối của bài thơ
                                   Bao túc ma hoàn – lô dĩ hồng
Câu thơ bị ngắt làm đôi. Nhịp thơ nhanh khác hẳn với nhịp thơ của hai câu thực càng làm cho người đọc có cảm giác “ động” của câu kết. Tiếng Hồng ở cuối bài thơ làm không gian bừng sáng. Giữa khung cảnh sâm sẩm tối một miền rừng núi hoang vắng, hình ảnh bếp lửa hồng rực rỡ gieo vào lòng người đọc một cảm giác tươi sáng ở phía trước. Một số nhà phê bình văn học thường ví bếp lửa hồng như một niềm tin,vào lí tưởng hay những gì khác nữa tôi cho rằng như thế quá khiên cưỡng, có vẻ chính trị hóa văn học. Nó chỉ làm cho bài thơ mất đi vẻ đẹp đích thực của nó
Nếu hai câu thực là một bức tranh mầu xám thì hai câu kết là một bức tranh mầu hồng. Đặt hai bức tranh cạnh nhau và giữa hai bức tranh ấy là hình bóng một cô gái. Cụ đúng là một thiên tài. Có phải cụ muốn nói :Con người, Chỉ có con người mới làm nên sự thay đổi kì diệu này?
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi rất thích bài bình trên của Nguyễn Thế Duyên.Phải nói là anh có ngòi bút bình luận rất hay,hấp dẫn và thuyết phục người đọc.Chân thành cảm ơn anh!
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nhờ xem bài bình của Nguyễn Thế Duyên mà mình biết đến bài thơ này của cụ Hồ, thơ đã hay, người bình càng làm tôn vinh cái đẹp của bài thơ lên. Lời bàn xác đáng, dẫn chứng thuyết phục, lập luận chắc chắn, tâm hồn nhiệt thành. Đó là những gì mình cảm nhận được qua bài bình luận của Nguyễn huynh. Một bài thơ đẹp và một cảm nhận đẹp.
Diễm diễm tuỳ ba thiên vạn lý
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh ?
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-21 19:08:54Leo*>
    
     Mấy suy nghĩ nhân đọc  “Thời của thánh thần”
                   của Hoàng minh Tường
Điều đầu tiên tôi muốn nói, câu đầu tiên tôi muốn viết đó là tôi kính trọng, tôi khâm phục tác giả của cuốn tiểu thuyết. Hoàng Minh Tường quả thật là con người dũng cảm. Cuốn tiểu thuyết là phát đại bác đầu tiên bắn thẳng vào khu vực cấm trong nền văn học nước nhà. Trước Hoàng Minh Tường đã lẻ tẻ có một hai truyện ngắn đề cập đến cải cách ruộng đất nhưng so với thời của thánh thần nó cũng chỉ như một phát súng lục bắn vào một bức tường kiên cố. Tiếng nổ của nó cũng chỉ như tiếng nổ của một quả pháo tép giữa chốn đồng không mông quạnh. Nhưng tôi nghĩ lần này thì khác. Tác phẩm của Hoàng Minh Tường lần này là một trái đại bác chứ không phải là phát súng lục và tiếng nổ của nó đã chấn động lương tri người đọc. Chắc dư âm của nó sẽ còn kéo dài.
Tuy nhiên tôi rất buồn khi phải nói rằng tác phẩm “Thời của thánh thần”không phải là một tác phẩm hay. Trong tác phẩm còn rất nhiều điều chúng ta cần phải bàn luận. Tôi vẫn tự hỏi mình: Liệu mình có điên không khi dám hạ bút viết câu này?Liệu dư luận sẽ phản ứng thế nào khi mà chỉ tính riêng trong Việt Nam thư quán thôi số người đọc nó đã lên đến gần 100.000 người và số phiếu bầu chọn cho nó là gần 100 phiếu năm sao? Tôi nghĩ rằng tôi không điên. Tác phẩm tuy không hay nhưng mà lạ. Chính cái lạ đồng thời với cái lệnh cấm phát hành đã thu hút người đọc. Vô hình dung, không ai khác, mà chính bộ văn hóa và thông tin đã lăng xê tác giả đến tận mây xanh
Tôi viết bài này không nhằm mục đích phê bình tác phẩm “Thời của thánh thần”.Mà chủ yếu thông qua việc phê bình tác phẩm (rất ít thôi) nói lên những suy nghĩ của tôi về nền văn học nước nhà
Đã từ rất lâu rồi,người đọc chúng ta chỉ được đọc những tác phẩm nhờ nhờ, nhàn nhạt. chẳng hư mà cũng chẳng thực. Gấp quyển sách vào là lăn ra ngủ quên hết tác phẩm viết gì .Nay đột nhiên vớ được một cuốn với một giọng điệu khác, ngồn ngộn những hiện thực chưa từng  biết đến,với bao nhiêu trăn trở suy tư thì ai chẳng háo hức, ai chẳng tìm đọc. Ăn mãi dưa muối với cà rồi nay được miếng thịt, dù bé và bạc nhạt, ai chẳng thấy ngon. Bản thân tôi mặc dù viết “không phải là một tác phẩm hay. Trong tác phẩm còn nhiều điều cần phải bàn luận” nhưng khi vớ được quyển sách ,tôi đã ngốn ngấu nó từ dòng đầu tiên đến dòng cuối cùng.
Nếu so sánh cải cách ruộng đất của chúng ta với cách mạng văn hóa của trung quốc thì thảm họa của cải cách ruộng đất của chúng ta chẳng là gì cả. Thế nhưng tại sao ở Trung quốc không sảy ra hiện tượng tạm gọi là “Hoàng Minh Tường” như ta hiện nay?
Bởi vì họ không cấm đoán. Rất nhiều những tác phẩm viết về cách mạng văn hóa đã ra đời nhưng khác với “Thời của thánh thần” những tác phẩm ấy đều đề cao tính nhân văn. Nhân vật trong những tác phẩm của họ,mặc dù trong hoàn cảnh tàn khốc của cách mạng văn hóa vẫn vượt qua số phận và đặc biệt vẫn yêu đất nước mình, thậm chí vẫn tin vào đảng cộng sản của mình. Đấy là điều ở  Hoàng Minh Tường không có. Nhân vật của ông đã đầu hàng số phận. Một tác phẩm văn học hay phải là một tác phẩm ngợi ca con người phải là một tác phẩm mà sau khi đọc người đọc thấy mình phải sống tốt đẹp hơn, nghị lực hơn. Có một câu hỏi chúng ta cần phải đặt ra đó là : “Tại sao những tác phẩm viết về cách mạng văn hóa của trung quốc người ta không phản ánh hiện thực một cách trần trụi như của Hoàng Minh Tường mà hiện thực tàn khốc của cách mạng văn hóa chỉ được thể hiện như một bối cảnh để trong bối cảnh đó hình ảnh con người được nâng cao?” Câu trả lời vẫn là vì Trung Quốc họ không cấm đoán.
Tác phẩm văn học là một thứ hàng hóa vì vậy nó cũng chịu sự chi phối của các quy luật thị trường. Chúng ta giả sử nếu ở Việt Nam có mười tác phẩm văn học viết đề tài như “Thời của thánh thần” thì liệu những tác phẩm ấy có chỉ phản ánh hiện thực một cách trần trụi nữa không? Chắc chắn là không bởi vì phản ánh hiện thực trần trụi là một cách viết dễ nhất và cũng dở nhất. Với cách viết ấy tác giả sẽ mất khách hàng,mất người đọc. Nhưng vì cấm đoán, một mình Hoàng Minh Tường một chiếu chẳng có ai cạnh tranh thì “Thời của thánh thần” dù viết có dở nữa nó vẫn thu hút người đọc ( Tôi phải nói với mọi người rằng Thời của thánh thần không phải là một tác phẩm hay nhưng nó cũng không phải là một tác phẩm dở. Nó thuộc diện thường thường bậc trung) Nếu một tác phẩm thể hiện hiện thực một cách trần trụi nó rất dễ lạc vào một hình thức lên án chế độ. Nhưng nếu hiện thực ấy chỉ là  bối cảnh để thông qua đó ngợi ca con người thì mức độ lên án sẽ giảm đi rất nhiều. Các nhà quản lí văn hóa Trung Quốc khôn hơn chúng ta nhiều bởi vì họ biết rằng có cấm cũng không được. Những tác phẩm văn học là hàng hóa nhưng những người cầm bút lại không phải là những người làm kinh doanh. Đối với họ, văn là “nghiệp chướng”. Lập thân tối hạ thị văn chương. Họ viết không phải vì tiền . Họ viết vì những thôi thúc trong lòng mình.Vì vậy cấm nhà văn viết là một điều không tưởng. Ngày trước có thể dùng cách không cho ín sách đăng báo để khống chế nhà văn nhưng với thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay cách ấy đã mất tác dụng. Bằng chứng là hiện chúng ta đang đọc một tác phẩm bị cấm. Chỉ còn một cách cuối cùng là tống nhà văn vào tù. Cách ấy cũng không dễ dàng gì trong thời buổi hội nhập và dân trí đang cao như hiện nay
Cấm không được thì họ mở. Nhưng khi cánh cửa được mở toang ra thì lại chẳng có tác phẩm nào viết theo kiểu lên án chế độ cả mà họ gặt hái được rất nhiều thành công về mặt văn học và còn một điểm quan trọng hơn về mặt con người, khi  sai lầm của cách mạng văn hóa được công khai mổ sé, thừa nhận thì chính những nạn nhân của nó cảm thấy mình được thỏa lòng. Những uất ức vợi đi trông thấy vì văn học nói với họ rằng Trong bất cứ một cuộc cách mạng nào thì những sai lầm cũng không thể tránh khỏi. Họ là nạn nhân của sai lầm ấy nhưng cách mạng đã nhận thấy mình sai lầm  và đang đồng cảm với những nạn nhân của mình
Còn chúng ta, sau nửa thập kỉ vẫn cố gắng bưng bít chỉ làm cho những vết thương ấy mưng mủ rồi đến một ngày nó sẽ vỡ tung. Mà khi đã để nó tự vỡ thì những cái tốt đẹp của cách mạng sẽ bị xóa sạch. Đấy cũng là cái dở của cuốn “Thời của thánh thần”
Đảng cộng sản việt nam đã mắc phải một số sai lầm . Đó cũng là một tất yếu đối với tất cả các nước không riêng gì nước ta. Liên xô, Trung quốc thì không nói làm gì nhưng các nước tư bản khác họ cũng mắc phải những sai lầm mang tính tội ác như vậy. Tôi xin lấy ví dụ .Đức với vụ tiêu diệt người Do Thái,Mĩ, Úc với việc tiêu diệt những thổ dân da đỏ mà mới đây chính Thủ Tướng nước này đã phải lên tiếng xin lỗi. Nhật với những vụ tàn sát Triều Tiên, Trung Quốc Rồi Chi Lê và gần nhất là Nam Triều Tiên thời Pắc Chung Hi ,rồi Nam Tư v…v… Còn Châu Phi hiện nay không kể
So sánh số nạn nhân thì theo tôi cải cách ruộng đất số nạn nhân bị chết là không nhiều ( Điều này thì chính Nguyễn Tư Hiên công nhận trong  cuốn đêm giữa ban ngày )Vậy thì tại sao điều đó vẫn nhức nhối trong lòng người Việt Nam đến vậy? Tại vì chúng ta cứ bưng bít . Lẽ ra ta phải mở nó ra để giải phẫu nó bằng văn học để thỏa tâm nguyện của những nạn nhân thì ta lại bó chặt nó lại khiến càng ngày vết thương càng sưng tấy và vỡ mủ. Nhưng muốn nói gì thì nói công lao của đảng cộng sản Việt nNam trong việc giành độc lập dân tộc. trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và mĩ là điều không thể phủ nhận. Dân tộc Việt Nam đã hi sinh hàng triệu con em mình để giành lấy độc lập cho đất nước không phải là họ bị cộng sản lừa như ai đó đã từng nói mà đây là ý chí của cả một dân tộc. Những ngày ấy thật hào hùng. Là một nhà văn đã sống trong giai đoạn đó. Tác phẩm “Thời của thánh thần” về mặt thời gian tác phẩm bao trùm cả thời gian đó mà Hoàng Minh Tường đã không đả động đến thời kì hào hùng nhất, kéo dài nhất, bi thương nhất của cả dân tộc ông thật đáng trách. Nếu tác phẩm của  ông chỉ giới hạn thời gian trong cải cách ruộng đất thôi thì không nói làm gì. Nhưng thời gian của cuốn sách lại xuyên suốt toàn bộ cuộc cách mạng thì điều ông không nói đến là điều khó có thể tha thứ
Cuộc kháng chiến chống mĩ cứu nước của chúng ta là một bản anh hùng ca bi tráng nhất, kéo dài nhất . Số người chết cũng là lớn nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.Số bom đạn mà dân tộc ta phải chịu (nếu tôi nhớ không nhầm) còn lớn hơn cả số bom đạn của cả cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai cộng lại .Thế mà đã hơn ba mươi năm đã trôi qua tôi xin hỏi các vị làm công tác quản lí nhà nước về văn học nghệ thuật.đã có một tượng đài văn học nào tương xứng với những hi sinh của những người lính chúng tôi chưa? Đã có  một tượng đài văn học nào tương xứng với những đau khổ ,nước mắt của những bà mẹ việt nam chưa. Không hề có. Đó hoàn toàn lỗi thuộc về các vị những người làm công tác quản lí văn chương. Các vị đã trở thành “Thiên cổ tội nhân” của cả dân tộc này. Chúng ta hãy nhớ lại cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên xô xảy ra chỉ có bốn năm thế mà hàng trăm tác phẩm vĩ đại về cuộc chiến tranh vệ quốc ra đời. Đọc nó ta thấy xúc động, tự hào , thấy người lính thật vĩ đại và cao cả. Còn cuộc kháng chiến của ta kéo dài hơn hai mươi năm không có lấy một tác phẩm. Tại sao vậy?Các nhà văn của chúng ta kém chăng? Không phải. Chính là do các vị. Chính các vị đã bóp chết cảm hứng sáng tác của các nhà văn, nhà thơ. Cái mà các vị gọi là “Khuôn khổ” đã làm cảm hứng sáng tác của các cây bút tắt ngấm. Người viết cần một không gian “Tự do”đủ rộng, đủ để ngòi bút của họ có thể tung hoành, cảm hứng có thể tung bay nhưng cái “ Khuôn”Của các vị lại quá bé. Bé đến mức bó chết cứng các cây bút. Tôi xin kể một câu chuyện mà chính tôi đã gặp phải để mọi người thấy cái khuôn của các vị bé đến mức nào. Một lần vào ngày 27-7 thương binh liệt sĩ tôi có gửi một bài thơ đến đài tiếng nói việt nam. Tay biên tập viên buổi phát thanh tiếng thơ bảo với tôi
        -Bài thơ của ông hay lắm nhưng đau thương quá không thể phát sóng được. Hay là ông thay nó bằng những bài như những lần phát sóng trước vậy
Tôi hỏi tay biên tập viên “Viết về cái chết làm sao không đau thương được? hắn cười bảo tôi “ Tôi cũng biết vậy nhưng các ông ấy muốn thế”   
Tôi bỏ ra về và từ đấy không bao giờ viết thơ nữa. Đối với các vị,người lính chúng tôi cứ như những con rô bốt. Có lệnh là lao lên bắn giết không hề sợ hãi. Không phải thế đâu. Chúng tôi cũng sợ chết lắm. Tôi đã chiến đấu ở một trung đoàn hai lần được phong danh hiệu anh hùng nhưng mỗi lần xuất kích cả trung đoàn lại nháo nhác như gà phải cáo. Nhưng chỉ thế thôi khi vào trận chúng tôi lại vượt lên trên sự sợ hãi của mình và làm nên chiến thắng. Tôi còn nhớ ở đại đội của tôi có một người ở Thuận thành hà bắc. Trên đường vào chiến trường đã hai lần đảo ngũ bị bắt trở lại. Nhưng cũng chính anh ta trong trận đánh Dắc tô Tân cảnh khi một hàng rào kẽm gai không bị bộc phá  dọn sạch đã lao lênđứng thẳng nâng cả hàng rào kẽm gai cho tiểu đoàn vượt qua. Người lính cũng là những con người. Thẳm sâu trong họ có rất nhiều góc khuất. Có đớn hèn, có sợ hãi, nhưng cái gì? Đã giúp họ vượt qua những cái đó và trở thành những anh hùng. Và chỉ có vượt qua chính những hèn yếu cuả bản thân họ mới trở thành những anh hùng chân chính. Có ai phong cho rô bốt làm anh hùng đâu.Với kẻ thù của chúng ta cũng vậy. Với các vị, kẻ địch bao giờ cũng phải là kẻ độc ác, không có lí tưởng, sợ chết v..v… Không phải thế đâu. Kẻ thù của chúng ta là những người có lí tưởng  của họ có trí thức, khôn ngoan. Tôi đọc được mỗi quyển “Đất quảng”  (của phan tứ thì phải) là thể hiện dược điều đó nhưng chỉ được một tập sau không thấy ra tiếp không biết có phải lại chậm khuôn không? Để thể hiện được những điều đó nhà văn cần có một không gian tự do đủ rộng. Chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm. Số người từng cầm súng nhất là những tướng lĩnh trong cuộc kháng chiến hào hùng ấy đã thưa thớt lắm .Nếu trong vòng mười năm tới mà không có tác phẩm văn học nào xứng tầm với những hisinh của dân tộc thì chắc chắn sẽ không bao giờ có nữa. và các vị sẽ bị muôn đời nguyền rủa
Xin quay lại với tác phẩm mà chúng ta đang bàn. Tác giả đã quá tham. Với một thời gian quá dài (hơn ba mươi năm), một không gian quá rộng mà gói vào một cuốn sách hơn năm trăm trang thì tác giả của chiến tranh và hòa bình có sống lại cũng chào thua. Với số trang như vậy ,lẽ ra tác giả chỉ nên gói gém vào một giai đoạn cải cách ruộng đất không thôi thì tác giả có điều kiện để khắc họa được tính cách của các nhân vật tốt hơn nhiều. Tất cả các nhân vật của Hoàng minh tường đều chỉ có tên mà không có người. Tính cách nhân vật nhạt nhòa. Tác giả nói hộ nhân vật nhiều quá. Không khắc họa được diễn biến nội tâm cho  những đứa con tinh thần của mình thật là một điều đáng tiếc
Nhưng dù sao thời của thánh thần cũng là phát đại bác đầu tiên cho nền văn học thời kì đổi mới. Hi vọng nó sẽ mang lại những thay đổi cho nền văn học nước nhà. Xin chân thành cám ơn tác giả
                                                   Hà Nội 30-10- 2008 
  
 


Đăng nhập để trả lời
0
Phải thừa nhận bài bình luận thật hay, cảm ơn tác giả.Tôi nhớ thầy tôi từng nói nếu đặt Ngục trung nhật kí cạnh những bài thơ Đường đặc sắc ngày trước sẽ có rất nhiều nét tương đồng.Quả không sai.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-06 03:36:40Thanh Công>
MỘ
        Mộ (chiều tối) là bài thơ tiêu biểu của NKTT, thuộc mảng thơ viết về những lần người tù HCM bị giải đi trên đường. Bài thơ không chỉ cho ta biết về cảnh ngộ đau khổ của HCM trong những ngày bị giam cầm mà còn cho ta hiểu rõ đời sống nội tâm phong phú cùng những phẩm chất đẹp đẽ của Người. Bài thơ có sự hoà quyện giữa vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại.
        Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh rất thực về cảnh núi rừng nơi sơn cước:   
                      Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
                      Chòm Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không      
                      (Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ 
                      Cô Cô vân mạn mạn độ thiên không)   
        Bằng hình ảnh những cánh chim mỏi mệt bay tìm về tổ, câu mở đầu đã giới thiệu được rất cụ thể về khoảng thời gian mà tên bài thơ đã báo hiệu: trời sắp tối, ánh sáng ban ngày gần tắt hẳn, những hoạt động ngừng lại, cần tìm chốn nghỉ ngơi. 
         Câu thứ hai (Thừa), tiếp tục làm nổi bật không khí đặc trưng của buổi chiều muộn nơi xóm núi bằng việc vẽ ra dáng di chuyển chậm chạp của một chòm mây lẻ loi. Bản dịch bỏ mất chữ “cô” (cô đơn) và chữ “mạn mạn” (chầm chậm) nên phần nào chưa diễn đạt hết ý câu thơ Cô vân mạn mạn độ thiên không. Chính sự tuân thủ những đòi hỏi ngặt nghèo của thể loại như trên đã cho ta thấy phần nào sự già dặn trong nghệ thuật làm thơ của Bác và màu sắc cổ điển của tác phẩm.            
        Đi vào kho tàng thơ ca truyền thống Trung Quốc và Việt Nam, ta từng bắt gặp rất nhiều bài nói tới hình ảnh cánh chim chiều và chòm mây cô độc: 
                         Chúng điểu cao phi tận
                         Cô vân độc khứ nhàn
                         (Chim bầy vút bay hết
                         Mây lẻ đi một mình)
                               (Độc tọa Kính Đình sơn - Lý Bạch)
                         Chim hôm thoi thót về rừng
                                           (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
                         Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
                               (Chiều hôm nhớ nhà - Bà huyện Thanh Quan) 
          Tuy nhiên, việc đưa ra những hình ảnh thơ trên không nhằm dẫn đến kết luận đơn giản rằng hình ảnh thơ trong bài Chiều tối của Bác chỉ mang tính ước lệ, khuôn sáo mà giúp chúng ta thấy màu sắc cổ điển đã hòa quyện với chất hiện đại trong thơ Người. Cái hay của các câu thơ này có lẽ thể hiện ở chỗ: chúng phảng phất hồn xưa mà vẫn không hoàn toàn giống xưa, vẫn thấm đẫm ý vị cuộc sống đời thường.
         Dù hai câu đầu tả cảnh có thần tình bao nhiêu thì ý nghĩa của chúng vẫn không bị giới hạn ở đó. Đằng sau các nét tả, ta đọc thấy cả một bầu tâm trạng. Chính bầu tâm trạng này đã chi phối sự miêu tả, khiến cho cảnh vật hiện lên mang đậm màu sắc chủ quan. Vẻ uể oải của cánh chim và vẻ lữ hành đơn độc của chòm mây phản ánh rất sâu sắc cảm giác mỏi mệt và cô đơn của chính Bác sau một ngày lê bước dặm trường, là niềm mong mỏi có được chỗ dừng chân qua đêm trên vùng núi xa lạ.
         Theo một góc nhìn khác, ta có thể thấy ở đây tình cảm nồng đượm của Bác đối với thiên nhiên. Bác đã không để cho cảnh ngộ đau khổ trói buộc cảm xúc của mình. Hồn thơ của Bác vẫn thoát ra, rung động với thiên nhiên vùng sơn cước lúc chiều buông - một thiên nhiên bình dị, đượm chút hiu hắt dễ khơi lên những cảm nhận u buồn về thân phận lưu đày nhưng không phải không chứa đựng những nét đẹp đáng nhớ. 
     
                         Cô em xóm núi xay ngô tối
                         Xay hết, lò than đã rực hồng  
                        (Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc 
                        Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng)                                                   
         Hai câu cuối của bài thơ nói về một cảnh sinh hoạt rất gần gũi: một cô gái xóm núi xay ngô và nhóm lên bếp lửa hồng lúc bóng đêm lan toả. Đối với thi sĩ nào khác, hình ảnh này chưa chắc đã nên thơ nhưng đối với Bác, nó đã đưa lại những cảm xúc đậm đà. Điều này chứng tỏ hồn thơ của Bác rất gắn bó với cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống ngưòi lao động.  
         Với sự xuất hiện của hình ảnh cô gái trong câu 3, con người đã trở thành tâm điểm của bức tranh. Những quan sát về mặt đất đã dần thay thế cho những quan sát hướng lên bầu trời. Trình tự quan sát đó có tính chất tự nhiên vì khi chút ánh ngày nhợt nhạt còn sót lại trên bầu trời vừa tắt thì con mắt người ta phải hướng nhìn về nơi có ánh lửa. Nhưng nếu xét sâu vào cấu trúc bên trong của bài thơ, ta phải thừa nhận rằng đây chính là một sự di chuyển điểm nhìn rất đặc trưng cho phong cách thơ HCM - một thứ thơ ưu tiên trước hết cho việc thể hiện mọi buồn vui trong cuộc sống con người.  
         Hình tượng thơ HCM nói chung ít khi đứng bất động, im lìm. Việc lặp lại cụm từ ma bao túc theo trật tự đảo ngược trong hai câu thơ liền kề nhau có tác dụng mô tả rất xác thực động tác xay ngô đều đặn, nhẫn nại, kiên trì của cô gái hay là vòng quay tuần hoàn chậm chạp của cối xay. Nhưng điều đáng nói hơn cả là đọc hai câu thơ ta không chỉ thấy đối tượng miêu tả (cô gái) mà còn thấy đôi mắt Bác đang dõi theo công việc lao động của cô với biết bao đồng cảm và trìu mến. Đặc biệt, lòng Bác như reo vui trước lò lửa đỏ rực mà cô gái nhóm lên lúc ngô đã xay xong. Nếu liên hệ, đối chiếu cảm giác hân hoan toát lên ở cuối bài với cảm giác hiu quạnh bàng bạc ở nửa đầu bài thơ, chúng ta có thể khẳng định chính cảnh sinh hoạt bình dị cùng bếp lửa chiều hôm đã đưa lại cho Bác niềm an ủi đồng thời đã thức dậy trong lòng Bác niềm mong mỏi về một không khí gia đình ấm cúng, về một nơi cư ngụ bình yên giữa cuộc đời gian khó. Ở đây, Bác tự bộc lộ mình là một con người của đời sống thực, không có gì cách biệt với đồng loại chung quanh.                     
          Nhìn trên nét lớn, âm điệu bài thơ có sự chuyển biến từ buồn sang vui và màu sắc của bức tranh được vẽ ra cũng có sự chuyển biến từ ảm đạm sang tươi sáng. Tất cả những sự chuyển biến này trước hết cho thấy sự nhạy cảm khác thường của Bác với muôn sắc thái đa dạng của cuộc sống. Mọi niềm vui nỗi buồn của nó đều in dấu trong tim Bác và để lại niềm rung động trong thơ Bác. Mặt khác, những chuyển biến đó chứng tỏ cái nhìn lạc quan của Bác về chiều hướng phát triển của sự vật. Bài thơ đã không kết thúc bằng hình ảnh bóng tối mà bằng hình ảnh lò lửa đỏ. Chính cái ánh sáng của lò lửa nhỏ bé này từ chỗ sưởi ấm tâm hồn Bác lúc bị lưu đày đã có tác dụng nhóm lên trong lòng người đọc niềm tin bền bỉ vào cuộc sống.
         Trong bài thơ Chiều tối, HCM đã vận dụng rất thành công nghệ thuật điểm nhãn (vẽ mắt) - một nghệ thuật khá cao siêu mà phải những người lão luyện trong nghề thơ mới làm được. Chữ hồng ở cuối bài chính là nhãn tự của tác phẩm. Sự xuất hiện của nó một mặt có ý nghĩa mô tả gián tiếp cái bóng tối đang lan nhanh đến xóm núi (dùng chữ nói về ánh sáng để diễn tả bóng tối, chữ tối trong bản dịch là của dịch giả thêm vào), mặt khác nó giữ vai trò tạo nên chút kịch tính cho tác phẩm (cả bài thơ 28 chữ thì đã có đến 27 chữ diễn tả sự mệt mỏi và những hoạt động nặng nhọc, chỉ chữ hồng như muốn “chọi” lại tất cả và sự thực đã làm được điều đó). Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng trong trường hợp này, cái tài dùng chữ dù đáng khâm phục bao nhiêu cũng chưa sánh được với niềm yêu cuộc sống và bản chất lạc quan của chính con người Hồ Chí Minh. Nếu không có những điều sau, sự xuất hiện của chữ hồng chưa chắc đã gây được ấn tượng đột ngột và mạnh mẽ đến như vậy.    
     Đọc Chiều tối, chúng ta có dịp bâng khuâng sống lại với không khí của những buổi chiều từng được gợi lên trong nhiều bài thơ cổ điển. Tuy nhiên, sức lay động mạnh mẽ của bài thơ lại chính ở chỗ nó đã cho ta hiểu được những nỗi niềm chân thực, rất nhân bản của Hồ Chí Minh-một con người vĩ đại mà hết sức gần gũi với chúng ta.
          Bài thơ thể hiện đầy đủ bản chất thi sĩ của Bác lại vừa có một dáng nét gân guốc riêng bộc lộ rõ sự vận động trong tư tưởng của một nhà cách mạng rất mực gắn bó với sinh hoạt bình dị thường ngày và luôn giữ được niềm tin vào cuộc sống.
                                                             (Huy Dũng-Thanh Công)
 
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
Ôi chẳng thể có ngôn  ngữ nào hay hơn các vị đã bình thơ ỡ trên. Huyền thoại về Hồ Chủ Tịch thì quá nhiều đến hư hư thực thực, công thêm hoàn cảnh lịch sử cho nên Trần Dân Tiên phải đành chấp bút ca ngợi chính mình kẻo đám hậu sinh không biết trọng khinh vị cha già dân tộc. Hào quang đó toả rạng sáng ngời cho các thế hệ lao vào cách mạng... thế mà cái tổ chức UNESCO manh tầm vóc thế giới, 1 tổ chức ngoại vi của Liên Hiệp Quốc trong đó bao gồm  nhiều nhựng nước không liên kết... lại không nhận ra để được ơn ánh hào quang của Người chiếu rọi, sao mà họ u minh nhỉ để không đưa Người vào danh sách các danh nhân thế giới của UNESCO. Chẳng hiểu lý lịch, thân phận, bút hiệu, bí danh,,,, hầm bà lằng khiến UNESCO đâm ra tối mắt chả biết hư thực rằng những kiệt tác văn chương thư phú ấy là của vĩ nhân chứ không thể là đạo văn , đạo thơ. Sao không kiếm cho ra chứng liệu in ấn những kiệt tác được xuất bản, ghi chép tay  .. để dí vào mặt thế giới nhỉ, đến mẩu giấy tay cũng không có sao, hay là ta không có 1 mảnh nào cà. Viện bảo tàng của Người có trưng bày những bút tích thơ văn của Người không nhỉ

Người U minh hay ta u mê
ánh sao toả sáng búa liềm dẫn đưa
hào hùng cách mạng xã thân
nên đời con cháu tham giàu của công
nước nhà xiêu vẹo biển Đông
Bản Giốc dâng đất ba ngôi cầm quyền

Bố hát con vỗ tay hò.  Nước ta kẻ mang chữ sĩ như văn sĩ, thi sĩ... và nhiều thứ sĩ khác nữa... đều có chung 1 cái " bệnh sĩ ' như trong vở kịch cùng tên của Lưu Quang Vũ thế nhưng lại rất ít người có dũng khí như Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương và hiện đang gây cho phòng an ninh điên đầu dù sắp xuống lỗ như nhạc sĩ Tô Hải
Tôi đố ACE trong nước vào được trang blog riêng cũa Bác Tô Hải một các dễ dàng đựơc đấy. Công an bao vây ông cụ 83 tuổi gần đất xa trời bây giờ internet link đã bị cắt để bịt miệng cụ.
Những con người Việt còn có lương tâm chứ không cần đến phẫm chất sĩ có dám đọc những lời văn nói lên sự thực đang bị bóp nghẹt cho chết tức tưởi hay không. Hay ta cứ cùng nắm tay, mũ che tai, mắt nhắm nghiền đi dưới ánh hào quang của Người chứ đừng thèm dòm vào những cái links này
 
http://www.doi-thoai.com/vth_demgiuabanngay01.html
http://langdu126.multiply.com/journal/item/114
http://taphopthanhniendanchu.org/index.php?option=com_content&view=category&layout=blog&id=69&Itemid=83

những người anh hùng này ngày hôm nay còn không có đường thì những liệt sĩ ngày hôm qua cũng chẳng có cữa. Thẹn thay giòng giống con rồng cháu tiên, tất cả đều rúc đầu vào những chỗ êm êm mặc cho vận nước nổi trôi

Đăng nhập để trả lời
0
Những con người Việt còn có lương tâm chứ không cần đến phẫm chất sĩ có dám đọc những lời văn nói lên sự thực đang bị bóp nghẹt cho chết tức tưởi hay không. Hay ta cứ cùng nắm tay, mũ che tai, mắt nhắm nghiền......................


-----------------------------------------------------------------------------

Bài trả lời hay quá!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-21 14:04:52Leo*>
Thanks Nguyễn Thế Duyên về các bài post. Leo đưa topic này lên trên , sau này NTD cứ nhìn phía trên có chữ "chú ý" là thấy.
Và còn việc thay lại topic này là " Suy nghĩ của Tôi và các tác phẩm văn học" có đựợc hôn?
Merry christmas and a happy new year
[:)]
Leo
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0

Cám ơn Leo . Bạn muốn đổi tên cho topic cũng đkhông sao mà. Chỉ có điều nếu đổi tên như vậy thì nên chuyển những bài bình của tôi đăng rải rác ở các trang vào đấy thì hợp với tên của topíc hơn. Mà như thế lại ngại bị nói
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: nguyễn thế duyên

Cám ơn Leo . Bạn muốn đổi tên cho topic cũng đkhông sao mà. Chỉ có điều nếu đổi tên như vậy thì nên chuyển những bài bình của tôi đăng rải rác ở các trang vào đấy thì hợp với tên của topíc hơn. Mà như thế lại ngại bị nói

 
Chúng ta có quyền bình luận "tác phẩm văn học" , chỉ cần NTD chú ý đừng bàn nhiều về chính trị thì không ai nói đâu. Leo cũng biết nói về Hồ Chí Minh thì liên quan nhiều đến chính trị, khi phân tích tác phẩm "thời nào thì bàn thời ấy"  không liên hệ "sâu xa" đến "hiện tại" và chỉ hy vọng người đọc hiểu rằng đây là "Bình Luận Văn Học" và rút ra được cho mình những " cái hay, đẹp" trong việc "sáng tạo nghệ thuật" với cái nhìn "trong sáng". Leo sẽ tìm lại toàn bộ các bài NTD đăng, chỉ cần hợp nội quy Leo mang vào cùng một topic. Leo hy vọng các bài của NTD chuyên sâu về bút pháp nghệ thuật thì hay hơn là nói về tư tưởng. Vì bình về các tác phẩm của "cụ Hồ" nên Leo đưa lên, có hai cái khó cho Leo. Nếu để ở dưới thì lại "không biết điều", đưa lên trên thì "lạm dụng" nên mong NTD "chú ý" giùm Leo khi post các bài bình luận tác phẩm của Hồ Chí Minh.    
Happy new year !
Thân,
[:)]
Leo
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-19 17:44:51nguyễn thế duyên>
Một số suy nghĩ nhân đọc một bài thơ cổ
                                   
                                    Quân tại Tương giang đầu
                                    Thiếp tại Tương giang vĩ
                                    Tương cố bất tương kiến
                                    Đồng ẩm Tương giang thủy
Tôi biết bài thơ này từ lâu lắm rồi,nhưng tôi không hiểu nó hay ở điểm nào. Tôi thấy bài thơ rất bình thường,chẳng có bất cứ một điểm nào đặc sắc .Nhưng chẳng lẽ một bài thơ bình thường như thế lại có thể sống suốt hàng nghìn năm? Làm sao bài thơ bình thường thế mà những cây bút danh tiếng nhất nước ta như Nguyễn Du, Đoàn thị Điểm lại  nhắc đến nó? Trong kiều có câu
                                    Sông Tương một dải nông sờ
                           Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia
  Đoàn thị Điểm thì có câu
                           Cùng ngoảnh lại và cùng chẳng thấy
  Cả hai câu thơ của hai cây bút tài danh này đều bắt nguồn từ bài thơ này. Vậy tất nó phải có một điều gì đó khác biệt lắm mà tôi vẫn chưa nhận ra. Câu hỏi đó cứ luẩn quẩn theo tôi suốt hàng chục năm trời mà tôi không sao trả lời được. Cho đến tận hôm vừa rồi khi tôi viết một câu thơ  “Mong đồng uống nước sông Tương một lần” thì một tia chớp bỗng bừng lên trong đầu tôi, và bài thơ hiện ra với tất cả những vẻ đẹp huyền ảo mà bấy lâu nay vẫn được dấu kín trong cái vỏ bình dị của nó
     Tôi thật là đại ngốc khi tin vào lời cô gái “ Thiếp tại Tương giang vĩ”. Không! Nàng không ở cạnh sông Tương. Nàng cũng như tôi thôi . Nàng cũng chỉ biết sông Tương là nơi vua Thuấn từ biệt hai người vợ của mình và từ đấy dòng sông trở thành biểu tượng cho sự chia li và nàng đã dùng ngay con sông ấy để đổ vào đấy tất cả tình yêu nồng nàn, đắm đuối của mình
     Một đôi trai tài gái sắc tình cờ gặp nhau bên một dòng sông. Không hiểu sao tôi lại luôn luôn nghĩ rằng họ gặp nhau bên một dòng sông? Có lẽ vì một tình yêu đẹp nên bắt đầu từ một nơi có phong cảnh đẹp và vì nên có một dòng sông để cho cô gái có thể dễ dàng gắn nó với dòng sông Tương của lòng mình.
      Chàng trai chắc chắn phải là người mà Nguyễn Du đã từng viết
                                                Phong tư tài mạo tót vời
                                         Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa
Bởi vì nếu không phải là người như thế thì làm sao cô gái có thể bị mũi tên của thần ái tình bắn trúng ngay từ những phút đầu tiên? Còn nàng, chắc chắn nàng cũng phải đẹp lắm không những thế nàng còn rất tự tin vào sắc đẹp của mình. “Tương cố bất tương kiến” Từ “Cố” có nghĩa là ngoảnh đầu lại nhìn. Nếu nàng không đẹp, không tự tin vào sắc đẹp của mình thì làm sao nàng dám nói từ “Tương cố” cùng ngoảng lại nhìn? Cả bài thơ không có một từ nào nói về nhan sắc của hai người nhưng chúng ta, người đọc, phải tự suy ra điều đó. “Ý tại ngôn ngoại”đó chính là cái hay, cái đẹp của cổ thi nhưng nó cũng là cái rất dở của thơ cổ. Một bài thơ nếu vào tay một người có tâm hồn bay bổng, có sự liên tưởng phong phú thì bài thơ thành tuyệt vời. Nhưng cũng chính bài thơ đó mà rơi vào một người tâm hồn cằn cỗi, sức liên tưởng non nớt thì bài thơ cũng chẳng hơn một bài vè là mấy. Thơ cổ quá kín đáo ,nó đòi hỏi người đọc phải bỏ nhiều công sức mới mong thưởng thức được bài thơ một cách trọn vẹn. Chẳng thế mà truyện kiều Nguyễn Du viết đã hai trăm năm nhưng cho đến tận bây giờ  ta vẫn phát hiện ra những điều rất mới lạ. Chúng ta thử xem lại đoạn Kiều khóc Từ Hải
                                                Khóc rằng trí dũng có thừa
                                           Vì nghe lời thiếp nên cơ hội này
Tại sao lại “Nên cơ hội này”?Tôi thì tôi muốn diễn dải lời của Kiều bằng văn xuôi-Chàng ơi! Chàng trí dũng có thừa nhưng vì chàng nghe theo lời thiếp nên bọn khốn nạn này mới có  cái “ cơ hội này” đểhãm hại chàng- Chỉ một chút thôi nhưng câu thơ đã khác hẳn từ một lời khóc đã trở thành một lời chửi rủa
Khác hẳn với thơ cổ, thơ của chúng ta bây giờ lại lại nói nhiều quá. Nói hết cả những điều cần nói khiến cho người đọc chẳng còn gì để tham gia vào bài thơ. Một bài thơ như thế , theo tôi là một bài thơ chết. Có lẽ chúng ta nên dung hòa giữa hai thái cực này
    Tôi hơi lan man mất rồi. Chúng ta quay lại với bài thơ. Chúng ta nên nhớ, bài thơ này còn ra đời trước truyện Kiều gần nghìn năm. Thời của Nguyễn Du mà khi Thúy Kiều gặp Kim Trọng vẫn còn
                                      Chàng Vương quen mặt ra chào
                                      Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa          
Thì đôi trai tài gái sắc của chúng ta chắc chắn không thể gặp gỡ nhau lâu được. Cuộc gặp  gỡ nếu có chắc chắn là sẽ rất ngắn ngủi. Thậm chí tôi còn nghĩ rằng họ chỉ đi lướt qua nhau. Mà tôi thích cái ý nghĩ họ chỉ đi lướt qua nhau hơn. Khi vượt qua nhau rồi, Nàng chắc chắn chàng sẽ phải quay lại nhìn mình.!Mình xinh đẹp thế kia mà. Nàng cũng muốn quay lại để nhìn chàng nhưng không dám. Nàng cố kìm nén lòng mình. Đi thêm một đoạn nữa và lúc này không còn kìm nén nổi lòng mình nữa, nàng quay lại nhìn và không còn thấy bóng dáng chàng đâu. “Tương cố bất tương kiến”  Nếu hình dung theo văn cảnh này thì cô gái hiện lên rực rỡ biết bao
                                    Quân tại Tương giang đầu
                                    Thiếp tại Tương giang vĩ
 Nếu chúng ta đồng ý với nhau là nàng không ở sông Tương thì hai câu này lại có vấn đề. Tại sao chàng ở đầu sông còn nàng lại ở cuối sông? Có thể đảo ngược lại được không? Và nếu đảo ngược lại thì điều gì sẽ xảy ra? Không thể đảo ngược. Nếu nàng ở đầu sông thì sự nhớ nhung của nàng trôi theo dòng nước đến với chàng là chuyện rất bình thường bất cứ cô gái nào cũng làm được điều đó. Không hôm nay thì ngày mai thế nào rồi nỗi nhớ nhung ấy cũng phải trôi đến chỗ chàng. Nhưng cô gái của chúng ta sống mấy nghìn năm thì phải khác.Nhà thơ đã khôn khéo cho nàng ở cuối sông. Tình yêu của nàng ngược dòng nước vượt qua hơn hai ngàn dặm đến chỗ chàng trai và mỗi lần chàng trai uống dòng nước vẫn cảm nhận được hương vị của tình yêu ấy thì không phải cô gái nào cũng làm được. Nàng đúng là hiện thân của một tình yêu mãnh liệt
Bạn Hoangau có nói với tôi theo chỗ bạn biết thì câu thứ ba của bài thơ là “Tương tư bất tương kiến”. Tôi cũng có trong tay một bản in của nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp viết đúng như bạn nói nhưng những sách xuất bản trước năm1960 của nhà xuất bản văn học thì  hay dùng câu của tôi hơn. Theo tôi một tác phẩm văn học trải qua hàng nghìn năm có nhiều dị bản là chuyện bình thường. Vấn đề là ở chỗ  bản nào ta thích hơn thì ta dùng bản ấy. Bản thân tôi thích “Tương cố” hơn “Tương tư”. Tôi mong một bạn nào đó thử tiếp cận bài thơ theo hướng “Tương tư bất tương kiến” có lẽ sẽ có nhiều điều mới lạ.
Từ khi bài thơ ra đời dòng sông Tương càng trở nên nổi tiếng. Nó đã trở thành dòng sông của thi ca. Thậm chí nó còn làm lu mờ cả truyền thuyết vua Thuấn .Thế mới biết thi ca có sức mạnh biết bao
    Bài thơ còn nhiều vấn đề phải bàn luận như vần thơ,tại sao bài thơ lại ngắn thế? Vấn đề ở phía chàng trai v….v nhưng bài viết cũng dài rồi sợ làm các bạn mệt. tôi xin được dừng ở đây. Nếu có bạn nào có một cách tiếp cận khác thì tôi mong được trao đổi cùng các bạn
 
                                
   hoangau
titleAndStar(1695,0,false,false,"","")VIP



Bài viết đã đăng: 1695
Gia nhập ngày: 12.10.2007
Đến từ: Hà Nội
Hiện trạng: offline
quote:

Trích đoạn: nguyễn thế duyên

Khác hẳn với thơ cổ, thơ của chúng ta bây giờ lại lại nói nhiều quá. Nói hết cả những điều cần nói khiến cho người đọc chẳng còn gì để tham gia vào bài thơ. Một bài thơ như thế , theo tôi là một bài thơ chết. Có lẽ chúng ta nên dung hòa giữa hai thái cực này
                                    


[sm=way%20to%20go.gif]

[sm=rose.gif]

quote:



Cuộc gặp  gỡ nếu có chắc chắn là sẽ rất ngắn ngủi. Thậm chí tôi còn nghĩ rằng họ chỉ đi lướt qua nhau. Mà tôi thích cái ý nghĩ họ chỉ đi lướt qua nhau hơn. Khi vượt qua nhau rồi, Nàng chắc chắn chàng sẽ phải quay lại nhìn mình.!Mình xinh đẹp thế kia mà. Nàng cũng muốn quay lại để nhìn chàng nhưng không dám. Nàng cố kìm nén lòng mình. Đi thêm một đoạn nữa và lúc này không còn kìm nén nổi lòng mình nữa, nàng quay lại nhìn và không còn thấy bóng dáng chàng đâu. “Tương cố bất tương kiến”  Nếu hình dung theo văn cảnh này thì cô gái hiện lên rực rỡ biết bao




Thảo nào, mấy lần thấy anh online mà chẳng ý kiến ý cò gì, em cứ tưởng anh giận. Hoá ra là về "độc ẩm Tương giang thuỷ" !!! [:)]

Em đang nghe bài hát "Anh ở đầu sông em cuối sông, uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông" đây. Một "sông Tương" của Việt Nam.

Em rất thích bài bình của anh, đọc đến đâu ngấm đến đó. Tuy nhiên, em vẫn lăn tăn một chút về "tương tư" và "tương cố". Theo em hiểu, bản thân từ "tương" ngoài ý nghĩa là "cùng" về mặt trạng thái, nó còn là "cùng" cả về mặt thời gian. Nếu chàng ngoái lại ngắm nàng chán chê xong đi mất dạng rồi mới đến lượt nàng ngoái lại, thì từ "tương" là không phù hợp. Nếu là "tương cố" thì hai người phải ngoái lại cùng một lúc. Trong bài thơ của Đoàn Thị Điểm, cả hai người "cùng ngoái lại" một lúc mà đều "cùng chẳng thấy" thì mới thể hiện được hết sự éo le.

Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ

"Anh ở đầu sông em cuối sông" chính là đây. Khoảng cách về địa lý quá xa xôi, cũng có nghĩa là thiếp và chàng xa nhau đã lâu rồi. Nếu có máy bay hay điện thoại, chat chit webcam như bây giờ thì xa thế chứ xa nữa cũng là muỗi, nhưng ngày trước thì khoảng cách không gian lớn như thế này cũng gần như đồng nghĩa với việc "bặt vô âm tín". Mà khi người ta yêu nhau thì sự nhớ nhung luôn đi kèm với niềm khao khát.

Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

Nếu không có câu thứ 4 thì câu thứ 3 không thể được đẩy lên đến tột đỉnh của sự khắc khoải như thế. "Đồng ẩm" nghe sao thân thương gần gũi, có cảm tưởng như bát nước ấy là chàng rót cho thiếp uống, rồi thiếp lại rót cho chàng, từ một vò nước múc ở sông Tương. Nhưng hỡi ôi, cái vò nước ấy đang bị xẻ làm đôi, một nửa theo chàng ở tận đầu nguồn, còn một nửa ở lại cùng với thiếp. Nỗi nhớ người yêu lúc nào cũng canh cánh trong lòng, nếu như một lúc nào đó nó ngủ thiếp đi, thì chỉ cần thiếp nhìn thấy sóng nước sông Tương nó lại choàng tỉnh dậy, lại muốn lội ngược dòng sông để gặp được chàng. "Tương tư bất tương kiến", càng nhớ thì càng mong được gặp nhau, càng không gặp được nhau lại càng nhớ. Cái vòng luẩn quẩn đó không những không dứt được ra mà càng ngày càng siết lại ...   




_____________________________

 nguyễn thế duyên
titleAndStar(817,0,false,false,"","")Mạnh thường quân



Bài viết đã đăng: 817
Gia nhập ngày: 1.5.2008
Đến từ: Hà nội
Hiện trạng: online                        
Tôi đã đọc kĩ những ý kiến của bạn Hoangau  và tôi cay đắng nói với bạn rằng tôi buộc phải  “Cãi nhau” với bạn rồi. Nếu tôi chỉ là thằng ngốc khi tin vào lời cô gái trong bài thơ, thì tôi là thằng đại ngu khi “Cãi nhau” với một cô gái trẻ, đẹp như bạn. Nhưng biết làm sao! Số tôi nó vậy rồi
Trong bài viết trước, tôi chỉ đề cập đến ba câu của bài thơ còn câu kết, câu hay nhất, đúng như bạn nói nó  đẩy câu thứ ba lên đến đỉnh điểm, mà theo tôi nó không chỉ đẩy câu số ba lên mà đẩy toàn bộ bài thơ đến mức hoàn mĩ ,thì tôi lại không hề đả động đến là có lí do của nó
Để thưởng thức một bài thơ cổ, cái khó nhất là tìm ra được một văn cảnh thích hợp với bài thơ. Từ văn cảnh ấy chúng ta sẽ đặt ra những câu hỏi và lần lượt trả lời từng câu hỏi  là cả bài thơ sẽ sáng tỏ. Cùng một bài thơ nếu hai văn cảnh khác nhau thì bài thơ sẽ đi theo hai hướng khác nhau. Theo tôi, trong văn học, nhất là trong thơ không có khái niệm đúng sai mà chỉ có hay hoặc không hay mà thôi. Tôi xin minh họa điều này bằng một ví dụ (Tôi xin lỗi trước là ví dụ này không được nhã cho lắm nhưng lại rất điển hình cho thấy văn cảnh khác nhau thì thơ sẽ khác nhau)
                                Khi tựa gối, khi cúi đầu
                         Khi vò chín khúc khi chau lông mày
                                                  (Kiều)
Với văn cảnh bình thường mà ai cũng biết thì tôi không nhắc đến nữa. Nhưng bạn nghĩ sao nếu tôi nói  đây là cụ Nguyễn Du đang tả Kiều đi ỉa và bị táo bón? Với văn cảnh này câu thơ rất đúng. Chắc bạn sẽ nói : Nhưng nó không thích hợp với đoạn trước và sau của truyện kiều. Vâng, đúng vậy. Đó cũng chính là điều tôi đang dẫn bạn tới. Bạn thấy đấy, sau khi lựa chọn văn cảnh rồi thì bạn phải trung thành với nó trong suốt cả bài thơ như người vợ phải chung thủy với chồng mình vậy. Nếu bạn dùng “Tương tư bất tương kiến” thì có nghĩa là bạn lựa chọn văn cảnh :Hai người đã biết nhau , có nhiều kỉ niệm vậy bạn không thể nói đây là một đôi trai tài gái sắc vì không có bất cứ điều gì để nói lên điều đó cả. Vả lại nếu họ đã biết nhau thì hai câu đầu  
                               Quân tại Tường giang đầu
                                Thiếp tại tương giang vĩ
Là chỗ ở thật của hai người và sự bay bổng của hai câu đầu bị mất. Câu thứ ba sự bay bổng mất một nửa vì câu thơ trở thành tả chân .Đầu sông cuối sông thì làm sao có thể nhìn thấy nhau. Nhưng câu cuối thì lại hay lên rất nhiều. Bạn thấy đấy, bạn được một câu nhưng lại mất ba câu
Lựa chọn văn cảnh cũng khó như bạn chọn chồng . Nếu bạn lấy một ông già nhiều tiền thì bạn có thể đi siêu thị thoải mái nhưng lại không thể đến vũ trường. Nếu bạn lấy một chàng trai trẻ thì bạn có thể đến vũ trường nhưng lại không có tiền đi siêu thị. Tất nhiên trong trường hợp đó giải pháp của bạn sẽ là lấy một người không già quá mà cũng không trẻ quá, không giàu quá mà cũng không nghèo quá ( Như tôi chẳng hạn ) làm chồng .Lựa chọn văn cảnh cũng vậy phải nhìn toàn cục của bài thơ
Còn một vấn đề bạn thắc mắc về thời gian “ của cùng ngoảnh lại” thì tôi xin trả lời như sau
Trước tiên bạn phải thống nhất với tôi về mặt văn cảnh đó là “Tương cố” .Nếu vậy thì toàn bộ bài thơ chỉ là sự suy diễn của cô gái. Mà một cô gái đang yêu mà suy diễn thì bạn cũng biết rồi đấy kinh khủng lắm và bài thơ hay cũng chính ở điều đó
Thực ra bài viết của tôi cũng chưa hẳn là một bài bình .Tôi đã dẫn giải ba câu khó nhất còn câu cuối, câu bay bổng nhất tôi muốn để lại để dành cho những người mà tôi yêu mến tiếp nối. Cám ơn bạn đã tiếp nối bài viết của tôi
                       
 
 


 lyenson
titleAndStar(2447,0,false,false,"dừng bước giang hồ","")dừng bước giang hồ



Bài viết đã đăng: 2447
Gia nhập ngày: 18.6.2006
Hiện trạng: offline Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư (cố) bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

Đọc cả 2 ý của bạn Nguyễn Thế Duyên và hoangau, nên lyenson xin mở (đóng) ngoặc đơn từ CỐ, để ta có thể hình dung rằng, có thể "cùng ngoảnh đầu nhìn" hay "cùng nhớ"...; nhưng không thể thấy mặt nhau (!)

Than ôi! Dòng sông Tương có phải chăng là dòng sông thương nhớ? Nên cùng uống chung dòng, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy được nhau!
Dù anh ở đầu sông, em cuối sông...Nhưng vì cùng chung một dòng sông và "đồng ẩm" nước sông này, nên suốt đời ta vẩn thuộc về nhau, thuộc về sông Tương hay bất cứ sông nào cũng được; Ví dù gọi bởi tên gì, đó vẩn là dòng sông thương nhớ của đôi ta...

Có phải hơn chăng? Khi cùng trên một chiếc thuyền xuôi dòng sông Tương, chàng nhìn về thượng nguồn với bao nuối tiếc, nàng hướng về hạ lưu với nhiều khát vọng chưa được thoả thê...Ngụm nước sông Tương khi đó chỉ nặng mỗi mùi...bùn; không đũ sức đưa khổ thơ tứ tuyệt trên vào danh sách những bản tình ca bất hủ.

Anh trên đầu sông,
Mong ngóng...
bóng hình em nơi cửa biển.
Em dưới đất liền,
Ngạc nhiên,
Khi biết núi là mõm đất nhô cao.
Nhưng ta thuộc về nhau,
Vì bao đời,
Mưa lấy nước từ biển...
Bốc cao,
Đổ vào đầu nguồn,
Và thương nhớ đổ tuôn về biển.
*
ls

_____________________________


hoangau
titleAndStar(1695,0,false,false,"","")VIP



Bài viết đã đăng: 1695
Gia nhập ngày: 12.10.2007
Đến từ: Hà Nội
Hiện trạng: offline
quote:

Trích đoạn: nguyễn thế duyên
                       
Còn một vấn đề bạn thắc mắc về thời gian “ của cùng ngoảnh lại” thì tôi xin trả lời như sau
Trước tiên bạn phải thống nhất với tôi về mặt văn cảnh đó là “Tương cố” .Nếu vậy thì toàn bộ bài thơ chỉ là sự suy diễn của cô gái. Mà một cô gái đang yêu mà suy diễn thì bạn cũng biết rồi đấy kinh khủng lắm và bài thơ hay cũng chính ở điều đó
 


Uầy, xưa nay em vẫn được tiếng là người có "trí tưởng ... bở" rất phong phú, nhưng xem ra so với cô gái của anh thì vẫn chưa là cái đinh gì ! [:D]. Hị hị.
Theo em nghĩ, mấu chốt để có thể đặt bài thơ này trong một văn cảnh nào đó chính là ý nghĩa của hai từ: "quân" và "tương". Từ "tương" thì em đã trình bày rồi, còn từ "quân" nữa, thời xưa thì đôi trai gái phải có quan hệ như thế nào rồi thì cô gái mới dành từ "quân" cho chàng ( "phu quân", "quân vương", "tình quân", "tùng quân"...), còn nếu mới một thoáng lướt qua nhau mà đã gọi người ta là "quân" thì e hơi bị ... vơ vào quá nhỉ ! [:D]  

Em chỉ dám "giơ tay phát biểu" chút chút vậy thôi, đến khi "tâm phục khẩu phục" là rụt lại ngay í mà, chứ đâu dám "cãi nhau" với ai, nhất lại là với anh [:)]. "Cãi nhau" là em bỏ chạy liền đấy, vì hôm trước lỡ dại tỉa hết gai đi rồi. [:D]

quote:

Trích đoạn: Lyenson

Có phải hơn chăng? Khi cùng trên một chiếc thuyền xuôi dòng sông Tương, chàng nhìn về thượng nguồn với bao nuối tiếc, nàng hướng về hạ lưu với nhiều khát vọng chưa được thoả thê...Ngụm nước sông Tương khi đó chỉ nặng mỗi mùi...bùn; không đũ sức đưa khổ thơ tứ tuyệt trên vào danh sách những bản tình ca bất hủ.



 
...
 
Giờ đây anh cứ mãi u hoài
Nhớ lúc trước sao mà quá dại
Thà đừng cưới, cứ là người yêu mãi
Mọng mắt em há phải lệ trang đài!
 
LYênSơn

Huynh Lyenson à, em "quán triệt" quan điểm của huynh rồi, cứ yên tâm ! [:)][:)][:)]




_____________________________

Liên Thơ
titleAndStar(2355,0,false,false,"","")VIP



Bài viết đã đăng: 2355
Gia nhập ngày: 15.11.2007
Hiện trạng: offline Thân gửi “đại xướng đại hoạ”
Bình thơ mà nghển nghển giơ tay “Cho em xin phát biểu ...tí  thầy ơi”
Tưởng có cuộc bút chiến xảy ra giữa hai vị tướng già và trẻ, ai ngờ cái  ông tướng sồn sồn lyenson nhảy vào giữa rồi.Thật là chán chết đi được, ngó thế mà cũng lanh chanh phải biết...[:D]Xa quá chứ không chị lôi về nhà lọc cổ ra đánh ít roi[:D].Đây dân “văng” mê bình thơ muốn chết mà nén lòng không dám hó hé chờ “đại xướng đại hoạ” cái đã rồi mới theo đóm ăn tàn...
  Cám ơn những ý kiến rất thấu đáo của các bạn...
          Lê Minh Liên Thanh Thơ
                 14 giờ, 14/7/2008

_____________________________
 nguyễn thế duyên
titleAndStar(817,0,false,false,"","")Mạnh thường quân



Bài viết đã đăng: 817
Gia nhập ngày: 1.5.2008
Đến từ: Hà nội
Hiện trạng: online Ý kiến thứ hai của bạn cũng sai rồi. Chữ Quân  là đại từ ngôi thứ hai tỏ ý kính trọng chứ không hàm nghĩa phải quen biết hoặc thâm giao. Vả lại khi cô gái đang yêu mà tưởng tượng thì....


 hoangau
titleAndStar(1695,0,false,false,"","")VIP



Bài viết đã đăng: 1695
Gia nhập ngày: 12.10.2007
Đến từ: Hà Nội
Hiện trạng: offline
quote:

Trích đoạn: nguyễn thế duyên

Ý kiến thứ hai của bạn cũng sai rồi. Chữ Quân  là đại từ ngôi thứ hai tỏ ý kính trọng chứ không hàm nghĩa phải quen biết hoặc thâm giao. Vả lại khi cô gái đang yêu mà tưởng tượng thì....



Anh cho em một vài ví dụ trong văn thơ cổ, dùng "Chữ Quân  là đại từ ngôi thứ hai tỏ ý kính trọng chứ không hàm nghĩa phải quen biết hoặc thâm giao" (dĩ nhiên là trong quan hệ giữa nam và nữ) đi, nếu không thì em ứ chịu đâu nha !


_____________________________
) donghung
titleAndStar(103,0,false,false,"","")Bạn Thâm Giao



Bài viết đã đăng: 103
Gia nhập ngày: 19.3.2006
Hiện trạng: offline
quote:

Trích đoạn: nguyễn thế duyên

Ý kiến thứ hai của bạn cũng sai rồi. Chữ Quân  là đại từ ngôi thứ hai tỏ ý kính trọng chứ không hàm nghĩa phải quen biết hoặc thâm giao. Vả lại khi cô gái đang yêu mà tưởng tượng thì....


Xin chào các bạn!

Tui chưa biết bình loạn văn học là thế nào. Nhưng đọc kỹ bài của các bạn, xin giơ tay biểu quyết cho Nàng...Hoa [:D]


_____________________________

Đông Hưng
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-23 16:49:27Tiểu Phong>
人道湘江深,
未抵相思畔。
江深終有底,
相思無邊岸

我在湘江頭,
君在湘江尾。
相思不相見,
同飲湘江水

Nhân đạo Tương giang thâm
Vị để tương tư bạn
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên ngạn

Ngã tại Tương giang đầu,
Quân tại Tương giang vĩ.
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

Dịch:

Người bảo Tương giang sâu
Sao bằng lòng riêng tưởng
Sông sâu còn có đáy
Nỗi nhớ chẳng bến bờ

Thiếp ở đầu sông Tương
Chàng ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà chẳng thấy
Cùng uống nước sông Tương

(Tỉểu Phong sưu tầm)
Núi cao còn có núi cao hơn
Người tài còn có người tài hơn.
Đăng nhập để trả lời
0
Thanks về bài viết này. Leo có suy nghĩ thế này khi đọc bốn câu thơ.
 
"Quân tại Tương giang đầu
                                    Thiếp tại Tương giang vĩ
                                    Tương cố bất tương kiến
                                    Đồng ẩm Tương giang thủy
"
 
Thứ nhất về cách xưng hô : Quân - Thiếp.
Thứ hai là các chữ "Tương".
Tuơng ở dòng 1,2,4 : nỗi nhớ, và cũng là hình ảnh dòng sống Tương. Chỉ riêng ở câu thứ 3: Chúng ta bàn Tương Tư hay Tương Cố : Thì bao giờ bản gốc vẫn hay hơn bản dịch. Bởi vì ngay bản thân chữ Tương Cố với chữ Tương Tư nó lại khác, về cảm giác. Khi đọc Tương Cố thì một cảm xúc ùa đến đó là nỗi nhớ về cố nhân mà không thể gặp được,nhưng nỗi nhớ này giống như nhớ về một tri kỷ, còn riêng "Tương tư" thì có vẻ nhớ về người tình. Qua hai chữ Tương cố và Tương tư ta thấy được địa vị của "chàng và thiếp" trong lòng nhau nó khác hẳn. Cho nên khi đọc đến câu thứ tư, một niềm hạnh phúc nhẹ nhàng len vào trong nỗi nhớ : "Đồng Ẩm Tương Giang Thuỷ." Hạnh phúc nào hơn khi có một "tri kỷ" cùng uống cạn "nỗi nhớ" với mình. "Ở hai đầu nỗi nhớ, nghĩa tình đằm thắm hơn"
Vài ý góp vui.
Thân,
Chúc NTD luôn vui
Leo
[:)]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-28 14:09:56Ct.Ly>
Mấy lời dẫn
Vừa qua bạn Kẻ Ngu có gửi cho tôi mấy bức thư. Được sự đồng ý của Kẻ Ngu ,tôi xin đăng toàn văn ba bức thư mà bạn kẻ ngu đã gửi cho tôi
 

Chào Anh Nguyễn Thế Duyên.

Anh cùng gia đình vẫn khoẻ à?.

Gần đến Tết, anh và gia đình có chuẩn bị ăn Tết chưa ?.

KeNgu muốn hỏi thăm anh chuyện này, anh từng đọc cổ thi và thơ hiện đại, thì theo anh thấy dòng thơ nào mới nhất hiện nay?. Và người làm thơ có nên tìm hướng khác để thóat ra khỏi cái khuôn mẫu xưa nay không à?.

Mến chúc anh cùng gia đình năm mới nhiều niềm vui, mọi điều tốt đẹp luôn đến với đời sống. 

 

Chào Anh Nguyễn Thế Duyên.

Cảm ơn anh đã gửi email hồi âm và có những lời chia xẻ rất đáng chú ý. Để hôm nào KeNgu hỏi Ban Điều Hành xem họ có cho phép mở một đề bài mới để anh em cùng nhau trao đổi quan điểm không.

Lý do KeNgu hỏi ý kiến anh là vì gần đây KeNgu đọc báo chí cũng như đọc một số bài văn của người Việt, thấy họ hô hào cho rằng văn thơ cần phải Nổi Lọan. Nhưng càng đọc, càng thấy lọai thơ văn Nổi Lọan không có gì mới lạ, mà ngược lại thấy khá nhiều từ ngữ tục tỉu xuất hiện trong lọai thơ văn mới hiện nay.

Đôi lời trao đổi cùng anh NTD, chúc anh cùng gia đình an lành.

_____________________________



Chào Anh.

Nếu được và anh có thời gian để chia xẻ với mọi người, thì anh cứ tự nhiên cắt dẫn những gì KeNgu đã trao đổi với anh trong PM.

Riêng KeNgu cũng trăn trở giống anh, nhưng lâu nay chưa có dịp lên tiếng.

Tuy nói làm văn thơ là để giải trí, giết thời gian, tìm cái gì đó để cho tâm hồn nương tựa. Nhưng cũng phải đặt vấn đề văn hóa của dân tộc mình lên trên tất cả thì mới thấy được sự cao đẹp. Còn nếu như chỉ quanh quẩn trong chuyện nhục phiền cá nhân thì không bổ túc được gì cho nền văn học Việt nam.

Đôi lời gửi đến anh Nguyễn Thế Duyên. Chúc anh cùng gia đình an lành.


Vấn đề bạn kẻ ngu đặt ra là một vấn đề nghiêm túc mà mọi người chúng ta đều quan tâm vì vậy mới có bài viết này .Tôi mong những ai quan tâm đến vấn đề nay cùng vào đây chúng ta cùng trao đổi
      Bàn về sự nổi loạn trong thơ đương đại
Trong nền văn học viết được chia thành hai mảng rõ rệt . Đó là thơ và văn xuôi. Trong hai mảng đó, thơ luôn được đánh giá là mảng quan trọng nhất, khó nhất. Được ví như nữ hoàng của văn học viết. Tại sao vậy? Vì thơ không nhằm mô tả những sự việc đang xảy ra mà nhiệm vụ của thơ nhằm tìm kiếm, phát hiện những điều nằm ở bên trong những sự việc đang xảy ra đó. Khi Nguyễn Bính viết
                                                     Ai làm gió cả đắt cau
                                              Nửa đêm sương muối để trầu đổ non
Thì không phải ông nói đến cái rụng , rơi của quả cau hay lá trầu mà nằm bên trong nó là sự lo lắng của cô thôn nữ cho tình yêu của mình và còn sâu hơn thế ông muốn nói đến cái mãnh liệt trong tình yêu của cô gái. Tình yêu ấy mạnh đến mức cô gái luôn cảm thấy tình yêu của mình mong manh quá. Cô luôn lo sợ rằng bất cứ cái gì cũng có thể làm đổ vỡ đi mối tình của mình. Từ một cơn gió mạnh làm rụng cau đến một trận sương muối làm lá trầu bị úa vàng. Hay khi bà Huyện Thanh quan viết
                                               Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
                                               Đền cũ lâu đài bóng tịch dương
Thì bà cũng không nhằm tả sự hoang tàn của mảnh đất Thăng Long đô hội trù phú một thời mà cái điều bà muốn nói đó là sự luyến tiếc, hoài nhớ. Một nỗi lòng hoài cổ chua sót, bùi ngùi của mình
Tôi đưa ra hai dẫn chứng  nhằm muốn nói với mọi người rằng : Cái cốt lõi của sự thay đổi trong thơ không nằm ở trong hình thức thể hiện của bài thơ, lục bát,thơ tự do, hay một hình thức viết nào đó mà nó nằm trong sự thay đổi trong cảm nhận của chúng ta về cuộc sống. Sự cảm nhận ấy thay đổi thơ tức khắc thay đổi theo. Hình thức thể hiện chỉ là cái áo hay một lớp son phấn . Nó có thể làm cho cô gái đẹp lên chút ít,nhưng cái áo hay son phấn không thể làm cho một cô gái từ xấu xí trở nên đẹp tuyệt trần. Thơ cũng vậy. Hình thức thể hiện chỉ giúp cho người đọc cảm thấy là lạ chứ không làm cho người đọc cảm thấy hay được. Chúng ta lấy một bài thơ  sau làm ví dụ
  Rao bài thơ hay nhất

tôi đi
đi bán chính mình
trái tim chết lặng
kẻ khinh người lờ
cứ bước như một
thằng khờ
mồm rao bán nỗi
bơ vơ
cho người
Thực chất đây là một bài thơ lục bát.nhưng được trình bầy với một hình thức khác mà thôiCòn cái cốt lõi là sự cảm nhận cuộc sống vẫn không có gì thay đổi nên bài thơ cũng không thay đổi. Nhưng bài này thì khác
tâng lặng

bắt chước cậu bé

tâng cầu trên ngõ hẽm
tôi

tâng lặng vào đêm
gió luồn mình vào môi
răng rít lên

giận dỗi
tôi luồn tình vào

đơn côi
đang bị giam

bằng vô cảm chính tôi
đá thật mạnh
lực trôi vào lặng
hút và hụt
cậu bé

ngừng
tâng cầu trên ngõ hẻm
tôi

ngừng
mà lặng vẫn vào đêm
                              Tác giả: Phan Đức Dũng  

Bài này không những hình thức của bài thơ thay đổi mà cách cảm nhận cuộc sống của tác giả cũng thay đổi. Bài thơ này thực sự là có một sự “Nổi loạn” Hãy khoan nói đến việc hay hay không hay của bài thơ này. Ở đây ,tôi chỉ muốn nói đến sự thay đổi thực sự trong thơ
   Thực ra thơ luôn có sự thay đổi nhưng có những thời điểm sự thay đổi đó trở thành một cao trào. Theo tôi, thi ca việt nam ít nhất đã có hai lần lột xác và hiện nay đang manh nha một lần lột xác thứ ba. Chúng ta cần đặt ra hai câu hỏi
     Thứ nhất :Cái gì đã làm cho thi ca việt nam lột xác
     Thứ hai   :Lần lột xác này sẽ dẫn thi ca việt nam đi theo hướng nào?
Lần lột xác đầu tiên của thơ việt nam chính là phong trào thơ mới (1930-1945) như chúng ta đã biết,phong trào thơ mới đã để lại những nhà thơ tiêu biểu nhất việt nam như Xuân diệu, chế lan viên, Huy cận v…v…
Trước năm 1930 nước ta chỉ là một nước nông nghiệp thuần túy. Có thể nói một trăm phần trăm là nông dân với nền văn hóa chủ yếu là văn hóa làng xã , chỉ trừ một số rất nhỏ quan lại và các thợ thủ công cộng với ảnh hưởng nặng nề của nho giáo tình hình xã hội ấy kéo dài suốt hàng chục thế kỉ nên trước năm 1930 nền thi ca VN không có một sự thay đổi nào mạnh mẽ . Nhưng sau 1930 trở đi tình hình đã đổi khác.Cùng với sự ra đời của hàng loạt đô thị là một tầng lớp tiểu tư sản thành thị hình thành. Cùng với học vấn và ảnh hưởng của nền văn hóa pháp. Tầng lớp này cảm nhận cuộc sống hoàn toàn khác với tầng lớp sĩ phu trước đó và như tôi đã nói : Sự cảm nhận cuộc sống thay đổi tức khắc thơ sẽ thay đổi theo. Một cuộc lột xác của thi ca đã xảy ra . Phong trào thơ mới đã thay đổi tận gốc rễ của thơ VN từ hình thức đến cách cảm nhận cuộc sống. Nó đã đưa cái “Tôi” lên đỉnh cao. Mọi nhận thức, cảm nhận cuộc sống đều thông qua cái “ Tôi” ấy và điều đó phù hợp với sự thay đổi về nhận thức của người đọc nên nó được cuộc sống đón nhận
   Cuộc lột xác thứ hai , theo tôi ,là bắt đầu từ năm1965 ,năm Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền bắc và cuộc kháng chiến chống mỹ trở nên khốc liệt trong cả nước. Trong một cuộc chiến tranh ác liệt, cái “Tôi” trong mỗi một cá nhân con người tất sẽ bị chìm nghỉm trong cái chung của cả cộng đồng. Trong cuộc chiến đó,không một cá thể nào có thể tồn tại nếu định tách riêng ra một mình . Cái “Tôi” buộc phải chuyển thành cái ‘Ta” được hòa tan vào toàn thể cộng đồng và trở thành “Chúng ta”. Chính trong những ngày ấy, Chế Lan Viên  đã viết
                                                 Ta là ai , một câu hỏi siêu hình
                                                 Ngọn gió hư vô thổi nghìn nến tắt
                                                 Ta vì ai sẽ xoay chiều ngọn bấc
                                                 Bàn tay người thắp sáng triệu chồi xanh
Cuộc sống khắc nghiệt. mong manh sự kiện đầy ắp ,dồn dập, không gian sống được mở rộng .Tất cả những điều ấy làm nhà thơ thay đổi cách cảm nhận cuộc sống của mình và như một quy luật tất yếu thơ cũng thay đổi theo. Ở thời kỳ này, Để đáp ứng được sự dồn nén của các sự kiện và tính thời sự của các sự kiện ấy, văn xuôi đã tràn vào trong thơ. Dung lượng của các bài thơ cứ lớn dần lên. Bài thơ cứ dài dần ra và thể loại trường ca xuất hiện như là một tất yếu. Chính trong giai đoạn này, những trường ca như Trường ca chim chơ rao của Thu Bồn  hay Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm đã ra đời
Khi văn xuôi tràn vào trong thơ nó đã làm cho thơ có một diện mạo hoàn toàn mới. Thơ nói được nhiều hơn,thậm chí nó đã làm một phần nhiệm vụ của văn xuôi đó là miêu tả sự việc. Tính thời sự của thơ cũng được nâng cao nhưng tiếc rằng chính nó cũng làm giảm đi tính khái quát và sự lắng đọng của thơ
Lần lột xác thứ nhất, phong trào thơ mới đã được các nhà nghiên cứu văn học nghiên cứu đầy đủ. Còn lần thứ hai thì chưa có một tài liệu nào. Thậm chí cũng chưa từng ai nói đến có một sự lột xác lần hai của thơ. Những điều tôi viết trên đây chỉ là sự cảm nhận và đánh giá của riêng cá nhân tôi. Sai đúng thế nào tôi mong cùng mọi người bàn luận
Hiện nay, đang có một sự hô hào nổi loạn trong thơ đúng như bạn Kẻ Ngu nói. Sự lột xác đang manh nha hình thành. Nó chưa định hình nên để trả lời câu hỏi :Sự lột xác lần này sẽ dẫn nền thi ca của chúng ta đi về đâu ? là một điều rất khó khăn. Nhưng chúng ta có thể tiên lượng được một vài điều nó sẽ xảy ra
Sau hai mươi năm đổi mới ,với chính sách kinh tế thị trường và sự hòa nhập  thế giới không những về kinh tế mà cả văn hóa và chính trị,đất nước đã có một sự thay đổi to lớn.Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ .Trong nền kinh tế ấy vai trò của cá nhân có tính quyết định vì vậy lại một lần nữa cái “Tôi” dần dần sẽ thay thế cho từ “Chúng ta”. Cái “Tôi” lên ngôi và thơ chắc chắn sẽ lại thay đổi. Chỉ có điều cái tôi lần này khác hẳn cái tôi của thời kì thơ mới.
Nếu cái tôi của thời kì thơ mới là một cái tôi luôn thấy mình nhỏ bé trước cuộc đời thì cái “Tôi” hiện nay là một cái “Tôi” đầy mạnh mẽ luôn luôn muốn tự khẳng định mình trước cuộc sống và thậm chí nhiều lúc cái tôi ấy trở nên cuồng ngạo. Nếu ngày trước, cô gái có thể
                                                            Không tham ruộng cả ao liền
                                                       Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ
Từ “Hàn sĩ” từng là mơ ước của bao người thì ngày nay,lớp người mới không thế nữa  Họ muốn trở thành “Phú sĩ” Điều đó sẽ được thể hiện rõ trong thơ
Nếu như thời 30-45 thơ hầu như chỉ có một không gian chung là tình yêu và thơ sau năm 65 hầu như chỉ có một không gian đó là chống ngoại xâm thì tương lai không gian của thơ sẽ bị xé nhỏ thành nhiều mảng nhỏ tuy tình yêu vẫn là một không gian được nhắc tới nhiều nhất trong thơ nhưng nó không còn là một không gian chủ đạo trong thời gian sắp tới. Cũng vì cái tôi lên ngôi và không gian cảm nhận của thơ bị sé nhỏ nên trường ca sẽ biến mất. Thơ sẽ trở nên ngắn hơn, cô đọng hơn và thơ sẽ trở nên kì quái hơn vì một lí do rất đơn giản lớp trẻ muốn khẳng định mình không muốn bó mình trong những khuôn khổ cũ nên con đường kì quái là một sự lựa chọn dễ dàng nhất và dễ gây ấn tượng nhất
Còn vấn đề “ Dùng  nhiều từ tục tĩu”như trong thư bạn Kẻ Ngu nói. Về vấn đề này tôi xin được trao đổi như sau
Thực ra vấn đề” Dục”trong thơ đã có từ thời bà Hồ Xuân Hương chứ không phải bây giờ mới xuất hiên. Chỉ có điều thời Hồ xuân Hương  chữ dục được nhắc đến một cách gián tiếp . Nó được dùng làm biểu tượng để nói đến một khát vọng tình yêu. Một đòi hỏi về tinh thần. Một biểu tượng để nói lên những bất công trong xã hội mà người phụ nữ phải gánh chịu. Chữ dục thời bà dùng không mang nét nhục dục .Nhưng xã hội phát triển lên ,tính dục không còn mang tính tinh thần thuần túy nữa mà còn mang tính vật chất. Nó như là một sự hưởng thụ trong cuộc sống. Thời Nguyễn Bính thậm chí đến từ yêu nhau người con gái còn không dám nhắc đến
                                               Hình như họ biết chúng mình với nhau
Nhưng hiện nay ,con gái sẵn sàng sống thử với một người đàn ông. Chính vì vậy nhục dục đã tràn vào văn xuôi từ lâu rồi . Các nhà văn đã tả những cảnh làm tình, thủ dâm một cách không e dè. Tất yếu nó sẽ tràn vào thơ. Ngày trước, nói đến chữ tình như một cái gì thiêng liêng cao đẹp thì sắp tới tôi nghĩ chữ tình sẽ được nói tới một cách trực diện hơn, tục hơn rất nhiều. Đây là điều tôi và nhiều người khác không muốn có nhưng tôi nghĩ chúng ta không thể thay đổi được.Tương lai thơ sẽ mất đi rất nhiều vẻ đẹp mà thơ vốn có. Đúng là một thảm họa
                                                                      Hà nội 21-1-2009
 

&lt; Sửa đổi bởi: nguyễn thế duyên -- 21.1.2009 22:45:37 &gt;
  Post #: 1 RE: banf về sự nổi loạn trong thơ đương đại - 31.1.2009 17:10:24    showPicture("1/31/2009 11:10:24 AM",0,0,0,439026,242) Minh Xuân
titleAndStar(1089,0,false,false,"","")VIP



Bài viết đã đăng: 1089
Gia nhập ngày: 3.1.2009
Đến từ: Hà Nội
Hiện trạng: offline Em không phải nhà thơ, cũng chẳng phải nhà phê bình, nhưng xin có vài cảm nghĩ về thơ trong thời đại này. Em rất đồng ý với bác Duyên là thơ không phải để mô tả sự việc, mà thơ phải có sự tìm tòi, khái quát. Nếu không thơ chỉ là một bài văn vần mà thôi. Người ta nói "văn để chở đạo, còn thơ để nói chí" đúng là như vậy.

Trước kia người Việt vẫn có tục hát đối, hát giao duyên ở rất nhiều vùng quê. Lời thơ trong những lúc này là thay lời nói (tức là để diễn tả hoàn cảnh), nhưng vẫn có hồn thơ, vẫn có tính sáng tạo, biểu cảm, khái quát của thơ. Bây giờ có mạng rồi, nhưng kiểu chat trên diễn đàn nhiều lúc gọi là thơ thì cũng không phải. Cũng là chuyện vui, chuyên giao duyên, đối đáp nhưng giá trị khác hẳn nhau. Xin đừng hiểu nhầm là em phản đối việc dùng thơ để chat. Người ta chat với nhau bằng văn còn được, huống gì là bằng thơ. Có điều không thể gọi mấy bài thơ kiểu Internet là "sự nổi loạn" trong thơ được.

Theo em nghĩ cái chính để gọi là thơ là bài thơ phải chứa đựng tính Chân - Thiện - Mỹ. Thời đại nào, cách thể hiện thế nào cũng vậy thôi. Những chủ đề gọi là mới như "trọng phú", "nhục dục", khi đưa vào thơ với tính hướng thiện, chân thực và thể hiện một cách nghệ thuật thì vẫn đáng quí. Sự "nổi loạn" trong thời đại này có thể là cần thiết vì khi nội dung thay đổi đến một mức độ nào đó thì sẽ dẫn đến thay đổi về hình thức thể hiện. Nhưng tinh thần của thơ (hồn thơ) về Chân Thiện Mỹ không thể đổi được.


_____________________________

Trái tim anh chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho vợ phần nhiều...

Đường đời http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=431926
Bút Tre http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=450048
Giao duyên http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=435187

Đăng nhập để trả lời
0