<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 12:20:21Ct.Ly>
TRÊN BỜ SÔNG HOANG VẮNG
TÁC GIẢ: BORIS POLEVOI
DỊCH GIẢ: NGUYỄN THANH BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN CẦU VỒNG, MOCKBA, 1984
PHẦN THỨ NHẤT
I
Chiếc tàu chở khách "Éc-mác", một chiếc tàu thủy lớn và chậm chạp, chạy trên sông Ôn từ trước cách mạng, rời Xta-rô-xi-biếc-xcơ hôm qua lúc trời gần tối. Nó chạy suốt đêm. Những người ồn ào trên ba tầng boong của nó vẫn chưa thỏa thuê về những điều mới lạ của cuộc hành trình. Mặc dầu gió bấc thổi từng đợt và mang hương vị của cỏ khô từ bờ sông thấp đến, không một ai chịu trở về phòng mình cả. Thỉnh thoảng, vì tò mò, hành khách lại di chuyển từ mạn bên này sang mạn bên kia, không để ý đến phó thuyền trưởng đang khuyên họ nên "phân tán ra cho đều" để tàu khỏi nghiêng.
- Đúng là những con cừu!... Khi một con đi là cả bầy đi theo! Không ai chịu nghe ai cả, anh phàn nàn với thuyền trưởng. - Từ lâu ta không thấy những kẻ khờ khạo như thế này.
Thuyền trưởng A-lếch-xây Ra-cốp, một người đứng tuổi, béo tốt, mặt to và hơi rỗ, vừa xong phiên trực; ông khoác sơ mi ngồi vào bàn, trước một chiếc ấm Xa-mô-va điện và uống trà nóng bỏng.
- À, những người trẻ tuổi ấy... họ tò mò và rất tốt... Và sông Ôn - một con sông ra sông! Ở đâu có được quang cảnh như thế này! - Vừa thổi vào chén trà, mắt không nhìn phó thuyền trưởng, ông nói tiếp: - Đó là nơi họ sẽ đến ở. Nhưng anh nói đúng đấy, coi chừng không họ làm đắm tầu mất... Đúng là những con cừu.
Quả thật, những khúc sông quanh co, hoặc bên bờ trái nhiều núi, hoặc bên bờ phải bằng phẳng, thường xuất hiện những cảnh trí mà chính sự độc đáo, sự tươi mát của màu sắc và sự hùng vĩ của thiên nhiên làm cho hành khách ngạc nhiên, bất kể họ từ đâu đến với miền đất bao la và thưa người này.
Con sông Ôn hùng vĩ luôn luôn thay hình đổi dạng; như một tấm gương soi sâu thẳm, nó phản chiếu những cánh đồng xanh tốt, những khu rừng đầy màu sắc vừa bước sang thu, những mảng trời xanh dịu, rồi nó tỏa ra thành những cánh tay nước luồn vào những cù lao bằng phẳng sum suê; rồi khi tập hợp lại, sông Ôn - tăng thêm tốc độ, uốn khúc, dữ tợn và điên cuồng, phát huy hết sức mạnh của nó. Và đến khúc sông đã trở lại hiền hòa, hành khách có thể thưởng thức trọn vẹn các tia nắng rực rỡ và các màu sắc lấp lánh.
Rừng tai-ga rậm rạp với những ngọn thông xanh chọc thẳng lên trời cao, chạy ra đến mặt nước. Giống như một đám muỗi, những con sa yến lượn quanh những bờ đá ba-zan thẳng đứng màu nâu. Bỗng nhiên, con sông ngoặt lại một cách bất ngờ, tất cả những cảnh đó nhường lại cho những cánh đồng cỏ tốt tươi.
Chỉ thỉnh thoảng, trên một sườn dốc ở bờ trái hay ở phía xa xa của cánh đồng ngập nước bên bờ phải, người ta thấy hoặc đoán ra những làng xóm sầm uất. Chỉ những bến tàu và những con đường to, nhỏ mới gợi tới sự có mặt của các làng xóm đó. Nhưng đây, một thành phố trẻ ở ngay giữa cánh đồng hoang vu ấy. Con tàu "Éc-mác" ghé lại đó khoảng hơn một giờ. Thành phố không có trên bản đồ. Trên những chiếc phao cấp cứu treo vào tay vịn của cầu tàu, người ta đọc: "Bến tàu". Trong lúc những chiếc cần cẩu chuyển lên bờ các kiện hàng, nhiều hành khách trẻ tuổi đã kịp bước lên bờ mặc dầu trời đã tối. Họ trở về, kinh ngạc:
- Có cả xe buýt điện và đèn thủy ngân cao áp các cậu ạ!... Người ta tưởng đây là khu tây-nam Mát-xcơ-va, thật đấy.
Hằng hà sa số những chấm sáng của thành phố vô danh biến mất lúc con sông uốn khúc và tất cả một lần nữa lại trở lại với bóng tối của cảnh sông nước hoang vu, thỉnh thoảng điểm một ngọn lửa của chiếc phao trên sông, hoặc ánh mờ nhạt của một ngôi sao mùa thu lấp lánh. Lúc hành khách vừa bắt đầu tản ra, có ai đó kêu lên:
- Xem kìa, xem kìa!
Sau đuôi tàu, ở phía chân trời hiện lên một chuỗi ánh sáng di động. Một tiếng còi dữ dội, khẩn thiết vẳng lại và chiếc tàu "Éc-mác" trả lời bằng một tiếng hú khàn khàn. Các chấm sáng tiến lại gần, rẽ sang một bên, và một con tàu giống hình chiếc máy bay vượt qua con tàu già cỗi trong ánh sáng màu xanh chói lọi. Nó tung lên mặt mọi người những hạt bụi nước mát rượi, rồi khuất sau khuỷu sông, lặp lại tiếng còi dữ dội để báo cho những chiếc tàu ở phía trước nó.
Trên sông Mát-xcơ-va, trên sông Nê-va hoặc sông Đơ-ni-ép, sự xuất hiện của một chiếc thuyền bay chắc không làm ai chú ý. Nhưng trên sông Ôn mà ban ngày, chiếc tàu "Éc-mác" bình tĩnh đã khôn khéo len lỏi tránh những chiếc thuyền câu cổ lỗ, những chiếc đò bằng gỗ, những chiếc sà lan trát nhựa đường - thì sự xuất hiện đó làm cho hành khách ngạc nhiên đến nỗi nhiều người chạy vội lên boong tàu mặc dù đêm đã khuya. Người thuyền phó phải cầu khẩn họ bằng một giọng khàn khàn, chán ngán:
- Bà con ơi, xin bà con giải tán đi cho!
Một giọng nam cao trẻ và bông đùa, tiếng nghe nặng trình trịch, nhắc lại câu nói mà mọi người nghe đã nhàm tai:
- Bà con hành khách ta phải biết điều chứ. Đừng có làm cản trở bước đi của cái chậu cổ lỗ sĩ của chúng ta.
Và một giọng con gái dịu dàng uyển chuyển nói nhanh:
- Bà con ta đừng tụ tập lại như những con cừu; hãy đi vào các phòng khách, bà con có thể nghe ra-đi-ô, nghe đĩa, chơi cờ, chơi đô-mi-nô.
- Một con tàu! Phải chăng đây là một con tàu? Thế mà đúng là một con tàu thực cơ chứ!
- Thủ trưởng, có phải nó đã chở Gri-gô-ri Sê-lê-khốp(1) đi Mỹ dưới thời nữ hoàng Ê-ca-tê-ri-na II không?
Trong các phòng khách cũng không phải là vắng. Hàng rào ngăn chia các hạng bị lật đổ. Trng phòng hạng nhất, những tấm gương to, đóng khung bằng đồng đỏ, trước đây đã phản chiếu sự ăn uống phè phỡn của bọn buôn vàng, giờ đây soi bóng những chàng thanh niên vai rộng, mũ cát két và áo bông cởi ra, khi thì chậm dãi đi quanh mấy cô gái mặc quần áo trượt tuyết bằng phla-nen màu da cam, đeo kính cận, khi thì điên cuồng giẫm đôi bốt bằng cao su xuống sàn hoặc nhảy một vũ điệu dân ca Nga. Một người kéo phong cầm ngồi trên chiếc đi-văng bọc nhung màu đỏ thắm, mắt lim dim thỏa mãn với một nhóm thanh niên trai gái đang vỗ tay đánh nhịp...
Cứ thế, chiếc tàu "Éc-mác" già nua chở quá đầy trong chuyến đi đặc biệt này, xuôi dòng đã hai hôm nay trong tiếng rào rào rộn rã của những chiếc chân vịt. Hành khách để hết cả tâm trí vào phong cảnh đẹp một cách lạ lùng, suy nghĩ về số phận của họ, về bao nhiêu công việc mà họ chưa biết đang chờ họ ở đâu đấy trong rừng tai-ga, nơi công trường mà họ chỉ biết là rất vĩ đại, phấn khởi được làm quen với nhau, trao đổi trò chuyện với nhau, không để ý đến một người đàn ông to lớn, tuổi không đoán được, bề ngoài có vẻ khác thường, vừa xuất hiện trên tàu "Éc-mác".
Người đó đi một đôi bốt kỳ quái làm bằng da, khâu như một đôi bít tất. Một túi đạn bó chặt chiếc áo thủy thủ chăn bông đã sờn rách. Ông đôi một chiếc cát-két bộ đôi xung quanh viền vải màu sẫm và có lưỡi trai đã tróc hết lớp nhựa bọc. Những mớ tóc vàng sẫm ở trong mũ thò ra ngoài rủ xuống vầng trán rám nắng. Râu dày màu vàng sẫm che phần lớn khuôn mặt. Râu mép lẫn với râu cằm mềm mại chảy xuống ngực hình như chưa từng biết lưỡi dao cạo là gì. Một chiếc khăn tay nằm vắt ngang giữ ở sau lưng một chiếc giỏ đầy nấm. Ông cầm một khẩu súng săn gập lại để trong bao.
Chiếc "Éc-mác" vòng qua một khối đá ba-zan đen cứng sừng sững giữa lòng sông... Dốc núi xếp thành tầng, đầy những tổ chim. Những đàn sa yến bay trên tàu, phát ra những tiếng kêu lo lắng. Đây là cảnh tượng hiếm có. Mọi người tập trung ở phía lái, còn ồng râu xồm ngồi ở bên phải. Ông ngồi trên boong tàu, ở một nơi khuất gió, trải một tờ báo và bắt đầu lau nấm. Người ta thấy ông trong tư thế đó trong lúc con tàu qua khỏi khối đá của bầy sa yến.
- Ô, những chiếc nấm đẹp quá.
- Một mình bác nhặt đấy à? Giỏi lắm!
- Con người này may mắn thật... Những cây nấm của ông ta màu sắc thật hài hòa. Với số đỏ như vậy, ông ta đánh bạc thì chắc chắn sẽ được.
- Đồng chí ơi, ở đây có gấu không?... Có chó sói không?
- Có ma-mút không? Có lôi long không?
Những chiếc nấm thông, chân tròn, tán đầy rêu, xếp hàng trên tờ báo. Ông khách râu xồm, bị thu hút vào công việc, hầu như không nhìn thấy những bộ mặt trẻ láu lỉnh, cũng không nghe thấy những câu hỏi chế nhạo. Ông cũng không ngước mắt lên nhìn. Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy ở đôi mắt sáng màu xanh nhạt nằm trong đôi mí rực lửa ấy có vẻ căng thẳng, và đôi bàn tay to lực lưỡng màu nâu đang run.
- Có lẽ ông ấy điếc - cô gái mặc áo màu da cam và mang kính dày nói; đó là cô gái mà anh chàng có chùm tóc trước trán đã quay tròn trong vũ điệu điên cuồng.
- Lời giải của câu đó thật đơn giản, các bạn nhỏ ạ, - một người đàn ông đẹp trai, người tầm vóc, mặt tròn, đỏ hồng như mặt con gái nói nhỏ nhưng để cho mọi người cùng nghe thấy. Người ta biết đó là kỹ sữ Psê-nít-snưi, một người vui tính, thích hát và đã làm quen với tất cả mọi người. Anh than niên hay kể chuyện mính nói rằng anh ta là học trò của nhà thủy lực nổi tiếng Pê-tin, rằng anh ta cùng đi với Pê-tin đến công tác ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, trong rừng tai-ga. - Đơn giản như nụ cười trẻ thơ, anh ta nói tiếp. - Người lạ bí mật này đang say bí tỉ ấy mà. - Psê-nít-snưi hếch chiếc mũi một cách ngạc nhiên, hít lấy hít để. Chẳng lẽ cái mùi thơm này không làm cho các cậu thèm nhá một quả dưa chuột muối à?
Không ai cười. Một sự im lặng lúng túng. Chắc chắn người râu xồm điếc thật. Bàn tay ông ta vẫn khéo léo nhặt hết chiếc nấm này đến chiếc nấm khác bày lên giấy sau khi cắt bỏ chân cẩn thận. Dần dần người ta quen đi và không chú ý đến ông ta nữa. Chỉ còn một người đàn bà trẻ, da xanh, tóc dày màu hạt dẻ, mặc một chiếc áo săng-đay màu đỏ thắm, một chiếc quần bó sát người và khăn choàng len kẻ ô khoác trên vai, vẫn từ trên boong để ý nhìn ông ta.
Qua Psê-nít-snưi, hành khách được biết đó là vợ của Pê-tin, chị ta cùng chồng chiếm gian buồng sang trọng, thượng hạng duy nhất của con tàu. Chị đã bỏ nhà cửa ở Mát-xcơ-va, bỏ mọi tiện nghi của thủ đô để xông vào những khó khăn của cuộc đời nay đây mai đó. Không phải chỉ những hành khách trên tàu biết điều đó. Bạn bè đã ra bến tiễn họ. Một người béo tốt, đầu cạo nhẵn, với đôi mắt hẹp nghịch ngợm như trẻ con vừa ngắm nhìn bà vợ của Pê-tin, vừa dặn dò thuyền trưởng rc đang đứng nghiêm:
- Đồng chí rc, đồng chí hãy chú ý chăm sóc cho Đina Va-si-li-ép-na Pê-ti-na đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê hoàn toàn mạnh khỏe nhé! Đừng làm ô danh những người thủy thủ trên sông Ôn.
Đi-na, hầu như không khi nào rời khỏi boong tàu, hết sức chú ý đến người hành khách mới. Chị vào buồng, kéo chồng ra khỏi đống giấy tờ mà anh tranh thủ thời gian nghiên cứu dọc đường và dẫn ra ngoài:
- Đúng là một người dân Xi-bi-ri gốc! Anh nhìn xem, đó là hiện thân của Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích(2).
Chị nói khẽ, không ngờ gió lại có thể đem lời nói của chị đến tai người lạ. Người này ngẩng đầu lên và nhìn về phía vợ chồng chị. Đôi mắt của ông ta dừng lại một lát trên người vợ, rồi chuyển qua người chồng. Và, Đi-na thấy rõ ông ta rùng mình và giật ngửa người. Chị tưởng như đọc được trong cặp mắt đó không hẳn là sự ngạc nhiên, không hẳn là sự sợ hãi, cũng không hẳn là sự căm hờn, mà có lẽ là tất cả gộp lại. Rồi ông ta cúi xuống, mải mê với những chiếc nấm. Lát sau, như lại để khẳng định, người lạ quay lại nhìn Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin và người phụ nữ thấy khiếp sợ trước nỗi căm hờn sâu sắc mà chị tưởng như đọc được trong cặp mắt ấy.
Đi-na nép mình vào chồng, nói:
- Anh biết ông ta à?
- Lần đầu tiên anh thấy ông ta. Nói chung, anh không biết ai ở đây cả, trừ đồng chí bí thư thứ nhất Ban chấp hành tỉnh đảng bộ đã đưa tiễn chúng ta.
- Nhưng ông ta biết anh... ông ta biết anh, anh thân yêu ạ, ông ta có một cái nhìn thật lạ...
- Đối với những nhà báo Mỹ, danh từ "Xi-bi-ri" gợi lên những dây thép gai, những tháp canh, những con chó săn; còn đối với em - chắc chắn đó là những bọn vô lại và những tù nhân Xi-bi-ri trốn ra dưới thời Sa hoàng... Không, em ạ, tất cả đơn giản hơn nhiều. Chỗ kia, anh đưa bàn tay màu nâu sẫm chỉ vào khoảng không gian ở đằng chân trời giới hạn bởi bức tường thành màu xanh sẫm của rừng tai-ga, - một vùng rộng mênh mông, giàu có như trong chuyện thần thoại, nhưng hoang vắng, đang chờ những con người dũng cảm và cần cù đến đánh thức nó dậy. Chủ nghĩa lãng mạn xưa chỉ có trong sách vở và trong các bài ca...
- Dù sao thì ông ta cũng biết anh.
- Có thể, Pê-tin nhún vai. - Qua các giai đoạn của cuộc đời, biết bao người đã ở dưới quyền anh... Thôi được, anh về làm việc đây. Anh phải nắm được mọi việc ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê trước lúc anh đến nơi.
Một lát sau, anh trở ra với chiếc áo bành tô của vợ. Anh thấy người vợ mình ở bên kia boong tàu đang ngắm trộm người râu xồm. Đến lượt mình, anh cũng chú ý đến người lạ mà những bàn tay to sử dụng con dao bài như sử dụng một con dao mổ. Chỉếc nấm cuối cùng được lau xong, người lạ bèn cẩn thận xếp tất cả vào giỏ. Bộ râu rậm rạp như chiếm hết cả mặt không cho phép đóan được người lạ bao nhiêu tuổi; có thể ông ta bốn mươi, mà cũng có thể đã sáu mươi.
- Đúng là một mẫu người kỳ lạ... Một nhân vật của Ma-min Xi-bi-ri-ác(3). em nhìn xem, hắn ta nâng niu những chiếc nấm khiếp chưa. Các nông trang đang gặt rộ, thế mà một con người như vậy không thấy gì hay hơn là chạy rông trong rừng.
Môtgi ngọn gió đượm mùi cỏ úa, mùi lá mục, mùicỏ tranh hai bên đường, làm rơi chiếc áo bành tô từ trên vai Đi-na xuống. Người chồng âu yếm nhặt chiếc áo, khoác vào cho chị, rồi choàng tay ôm lấy người chị. Người râu xồm đứng lên và nhìn lại họ. Đôi mắt sáng của người đó không biểu hiện cái gì cả, nhưng Đi-na có cảm tưởng như một cái nhếch mép nặng nề, thiếu thiện chí đang núp sau chòm râu rậm ấy.
- Chà, anh đã thấy chưa? - Chị hết sức xúc động thì thào.
Lần ấy, Pê-tin có cảm tưởng mơ hồ như đã gặp người đó ở đâu. Để giấu sự lo lắng không ý thức đang xâm chiếm lòng mình, anh dẫn vợ sang bên kia boong tàu, ở đó nam nữ thanh niên, mặc quần áo cắm trại, áo bông ngắn, áo blu-dông có khóa kéo, áo săng-đay, đang ngồi sát nhau, ra sức hát:
Bạn hỡi, hãy đến những miền xa xôi,
Chúng ta, bạn và tôi,
Là những người chủ đầu tiên
Của những vùng đất mới
- Họ đó, những người chinh phục Xi-bi-ri! - Pê-tin kêu lên. Anh dừng lại gần lan can, ngay trên đầu những người đang hát. - Vâng lời Đảng, họ sẽ đánh thức vùng đất giàu có này dậy, họ sẽ xây dựng một nhà máy thủy điện khổng lồ và sẽ thắp sáng những thành phố mới. - Ở dưới, bài hát đã chấm dứt, những người trẻ tuổi tò mò nhìn vợ chồng Pê-tin trong lúc nhà thủy lực học vẫn xúc động nói tiếp: - Ở đó sẽ có một biển Xi-bi-ri rất lớn, tất cả những ngọn núi đá này sẽ chìm hết, và trên những bờ biển ở đây không nhìn thấy, sẽ được xây dựng một khu liên hợp công nghiệp kim loại, giấy, ximăng, hóa chất, nhà đúc sẵn, đồ gỗ...
Đi-na ngước nhìn chồng, cặp mắt xám sáng lên ngọn lửa nhiệt tình.
- Em rất vui lòng đã đi theo anh!
- Xuống đây với chúng tôi, đồng chí Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin, - Psê-nít-snưi ở dưới gọi. Anh ta đứng giữa vòng người, chỉ huy ban đồng ca tự phát lúc nãy.
Pê-tin mỉm cười xua tay:
- Các bạn ạ, tôi không có thì giờ.
Khoác tay vợ, anh dẫn chị đi dọc boong tàu.
- Có phải em ngần ngại...
- Không, không, em không sợ, cũng không tiếc. Em không cần nhà cửa, tiện nghi! - Nép mình vào chồng, chị nói thêm: - Anh có biết không, lúc nào em cũng nghĩ rằng nếu không có cái ông Lít-vi-nốp trói chân, trói tay anh lại thì với kiến thức của anh, tính gan dạ của anh, anh có thể làm nên kỳ tích ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê.
- Chậc! Rồi sẽ thu xếp ổn thỏa thôi em ạ. Lít-vi-nốp trước đây vốn là một kỹ sư có những quan niệm rất hay, một nhà tổ chức có khả năng, nhưng tuổi tác... À, nếu ông ta không có tất cả mọi quan hệ: bạn bè cũ, đồng nghiệp cũ, người này, người nọ... Thật ra, ông ta đã hết tài rồi, nhưng nói như những công chức, hồ sơ của Lít-vi-nốp nằm trong ngăn số một. Và nó sẽ ở đó cho đến lúc nào ông ta rơi xuống. Nhưng Lít-vi-nốp thì rơi sao được... Tóm lại, những cái đó không liên quan đến chúng ta. Ông ta cần phải dựa vào cái mới, cái hiện đại. Ông ta cần anh. Em sẽ thấy ông ta đón tiếp chúng ta như thế nào. Em cũng đã thấy đồng chí bí thư thứ nhất chúc chúng ta may mắn. Đồng chí ấy, tất nhiên, sẽ gọi điện cho ông ta... Điều đó cũng có một tác động nào đấy đối với Lít-vi-nốp. Em mơ màng gì đấy, mọi việc sẽ tốt đẹp mà...
- Không, không phải cái đó. Em lại nghĩ đến ông ta.
Đi-na đưa bàn tay mảnh khảnh và giá lạnh chỉ về phía người râu xồm. Ông ta bây giờ để đầu trần, tay chống lên lan can. Gió thổi lung lay mớ tóc lượn sóng của ông hơi thưa phía trên đỉnh đầu. Giỏ nấm để gần bức ngăn. Một em bé gái người to, má phính, khoảng lên tám lên chín, tóc kết thành một bím to màu hung, mũi nhỏ, ngắn, lác đác có những nốt ruồi, đang ngồi xổm ngắm những chiếc nấm. Một cậu bé khoảng mười lăm tuổi, tóc màu hung nhạt, tay gầy gò đang ngắm chiếc túi đựng súng không kém phần thích thú.
- Những chiếc nấm đẹp quá, trông như bằng da thuộc! - Cô bé nói bằng một giọng dễ thương, rõ ràng là để làm cho ông chủ ít nói của những chiếc nấm chú ý. - Một mình ông nhặt được tất cả đấy à? Cháu có thể xem được không ông? - Những ngón tay tò mò đụng vào mũ nấm mát vph mượt như da hoẵng.
- Súng của ông cỡ gì đấy, ông?... Ông nạp đạn ria hay đạn viên? - Cậu bé lễ phép hỏi, kiêu hãnh tỏ ra mình cũng thạo chuyện săn bắn. - Chắc là đạn viên? Bởi vì ở rừng tai-ga bây giờ rất nguy hiểm. Hình như sang thu bọn gấu xấu lắm... - Và cậu giải thích với một giọng biết lỗi: - Cháu đọc... đâu đó.
- Xa-sa! Những chiếc nấm sinh đôi... Không, có lẽ là hai chị em sinh đôi cùng một tán.
Người râu xồm không động đậy. Đi-na cũng tưởng ông ta không muốn bắt chuyện với các cháu bé. Xa-sa bị khẩu súng, bao đạn và cả người râu xồm khêu gợi lòng hiếu kỳ, làm như không để ý đến sự im lặng ngoan cố của ông ta. Còn cô bé, mà cậu gọi là Ni-na, thì ít dè dặt hơn. Em cầm lấy cánh tay người râu xồm lay mạnh:
- Ông ơi! Không trả lời câu hỏi là xấu lắm đấy! - Bỗng em nhận xét bằng một giọng lanh lảnh vang đến chỗ vợ chồng Pê-tin: - Anh Xa-sa, ông ta uống quá chén, say rượu đấy.
Đi-na nhắm mắt, ghê tởm. Nhưng người râu xồm vẫn ngồi im, đầu bù xù gục xuống. Cậu anh cầm lấy tay cô em gái, kéo đi:
- Đồ lắm mồm!
Đi-na không thể kiềm chế nổi sự quan tâm đối với người lạ. Chị đề nghị với chồng:
- Em đi mua nấm nhé. Chúng ta sẽ bảo bếp om với kem như anh vẫn thích.
- Tại sao? Ăn ở đây tốt rồi.
- Em muốn thế, - chị nhấn mạnh. Vài âm đục lẫn trong giọng nói du dương của chị. - Bố em và Vô-li-a đem về những giỏ nấm ấy, mẹ em không biết xử trí ra sao cơ... Em cũng vậy, em thích nấm.
- Thì nói với chị quản lý, chị ta nắm được giá cả. Nếu không thì em sẽ hớ đấy. Em cũng biết bọn con buôn ấy.
- Tại sao phải làm phiền người ta? - Người đàn bà trẻ trả lời, rướn đôi lông mày thanh và chớp đôi mắt nhỏ làm cho nó gần như biến mất trong hàng mi dài. - Đừng có lo, em không để cho làm như thế đâu.
- Anh không lo gì cả. - Pê-tin trở về phòng với bước đi bình tĩnh và đóng cửa cẩn thận.
Còn bực bội vì cuộc cãi cọ nhỏ ấy, Đi-na chạy xuống cầu thang và lại gần người lạ. Nhưng thấy mắt ông ta nhắm lại và những mạch máu xanh nổi hai bên thái dương, chị mất bình tĩnh và không biết nói năng ra sao. Ông ta mở mắt và quay lại. Cặp mắt ông ta thong thả nhìn từ đôi giày cắm trại xinh sắn đến chiếc quần, chiếc săng-đay, rồi dừng lại trên khuôn mặt của người đàn bà trẻ. Một cái nhìn lo lắng, dò hỏi:
- Cái gì? - Ông ta nói giọng trầm và khàn khàn, phả hơi rượu vào mặt chị.
- Xin lỗi, tôi muốn... Ông có thể nhường cho tôi... bán cho tôi một ít nấm đẹp này không? - Điệu bộ của chị như phân trần. Vẻ cứng rắn của cặp mắt bốc lửa như dịu lại: - Tôi là vợ của kỹ sư Pê-tin... Chúng tôi đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, nhà tôi làm việc ở đó. Nhà tôi thích nấm lắm.
Cặp mắt màu bạc trở nên lạnh giá.
- Không! - Người đàn ông nói, rồi quay đi nhìn vào nơi sâu thẳm của một thung lũng nhiều cây dẫn đến một con suối róc rách chảy vào sông Ôn. Nhưng khi Đi-na tức giận vì lời khước từ tàn nhẫn đó đi lên boong trên, người đàn ông bèn từ từ đưa mắt nhìn theo.
Đúng là Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích bao giờ cũng có lý. Lẽ ra đừng hỏi hắn ta. Có lẽ đó là tàn dư của những người khổ sai mà Ma-min Xi-bi-ri-ác đã mô tả hay, hoặc là một phạm nhân, sau khi mãn hạn tù, đã đi đến nơi hầu như không có ai này, để tránh sự tìm hiểu quá chu đáo về lý lịch. Đây là một bài học bổ ích cho Đi-na. Chị vào phòng để kể lại cho chồng nghe, nhưng chị bỗng dừng lại. Cái gì đây? Vĩ cầm ư? Không có lẽ.
Đúng là vĩ cầm. Một giai điệu quen thuộc. Sôi nổi, say sưa, vui buồn kế tiếp nhau, giai điệu lững lờ trên sông Ôn như những con chim sa yến đầy gợi cảm kia làm tổ trong những hốc đá ba-zan.
Đi-na đi quanh tàu. Các bạn thanh niên nam nữ vẫn tụ tập ở cuối tàu, với một sự pha tạp hỗn độn những quần áo phla-nen, áo bông ngắn, áo va-rơi của bộ đội, áo khoác lính thủy không có cầu vai. Nhóm người ồn ào và vô tư đứng thành một vòng tròn rộng. Ở giữa, một cô gái trẻ, nhỏ và khỏe, mặc quần áo màu da cam và đeo kính đang lướt mã vĩ trên chiếc vĩ cầm dưới cằm. "Trai-cốp-xki! - Đi-na nghĩ - bài Can-xô-nét-ta của Trai-cốp-xki". Cô gái chơi đàn quên hết mọi người. Mặt cô tròn và đỏ hồng, có vẻ kiêu căng và nghiêm nghị. Đôi mắt được kính phóng đại, sáng lên vì xúc động. Điều làm cho Đi-na chú ý nhất là sự say sưa của người chơi đàn phản ánh lên nét mặt tất cả các bạn trẻ, mà bài hát họ lặp đi lặp lại nhiều lần, không khác gì chiếc loa phóng thanh trên tàu, đã khiến chị khó chịu.
Bao nhiêu ngạc nhiên mà cuộc hành trình này đã đem đến cho cô gái Mát-xcơ-va ngày hôm kia đang còn đi dạo trên đường phố Goóc-ki! Sáng nay, dậy thật sớm, chị lên boong tàu để ngắm cảnh bình minh. Dòng sông Ôn mờ đi trong sương mù. Ông mặt trời khổng lồ và đỏ gay nổi lên sau bờ sông dốc đứng. Trong ánh sáng, chị thấy ở phía sau, một tóan người râu ria xồm xoàm, xanh xao, nóng nảy. Họ mân mê những con bài cũ và bẩn, rồi vất xuống những tấm ván. Nhà cái là một gã trai to lớn, trán bóng như bôi mỡ, núp sau mái tóc trẻ con màu vàng. Con mắt ti hí của gã nhìn đám bạn chơi một cách đầy thù địch và nghi ngờ. Xa hơn chút ít, sau cuộn dây, một người đứng tuổi, nước da màu gạch, đang quỳ xuống cầu kinh, mặt hướng về phía mặt trời. Phía bên kia cuộn dây một thanh niên gầy còm, tóc màu hung, mặt dài, mặc một chiếc quần đùi để lộ đôi chân bắp thịt nổi lên cuồn cuộn như những bó thép, đang tập những động tác thể dục rất khó. Tất cả tắm trong ánh mặt trời đang xua tan sương mù và đem lại tươi vui cho những cánh đồng bát ngát chạy ra tận bìa rừng màu xanh sẫm.
Chiếc vĩ cầm như gợi lên trong tâm hồn Đi-na những điều xót xa, khủng khiếp mà chị còn chưa biết, nhưng chị sẽ nhìn thấy, cảm thấy và sẽ sống trong xứ sở hoang vắng này. Chị lại muốn gặp người râu xồm, người Xi-bi-ri điển hình ấy. Chị đi sang bên kia và dừng lại nghe một giọng đàn bà dịu dàng và thánh thót, giọng U-krai-na, từ dưới đưa lên:
- Chào bác!
Một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc màu nâu, mặt tròn, xinh sắn đang nói chuyện với người râu xồm. Mắt chị ta đen tuyền, bình thản và dịu hiền. Cô bé gái béo mập lúc nãy khép nép đứng sau chị ta. Người đàn bà bình tĩnh sờ từng chiếc nấm một, với động tác bình tĩnh của người nội trợ đi mua bán.
- Đẹp lắm. Bao nhiêu cả giỏ đây, bác? Các cháu tôi thích nấm lắm, cả con bé lắm mồm này nữa... Tha lỗi cho cháu, nếu cháu đã vô lễ...
Người râu xồm lặng lẽ nhìn hai mẹ con. Hình như ông ta vừa ngủ dậy. Từ trên nhìn xuống, người ta thấy những nếp nhăn trên vầng trán nửa rám nửa trắng giãn ra. Có lẽ sau chòm râu rậm đang nở một nụ cười chế nhạo.
- Thế nào, bác bằng lòng chứ? - Người đàn bà năn nỉ.
- Bán đi ông ạ. Một mình ông thì nhiều quá đó. - Cô bé nói thêm.
- Nhưng giá phải cho phải chăng. Chuyến đi là chúng tôi khánh kiệt. Chúng tôi ở Ux-chi tới, đường xa lắm.
- Lấy đi, - người râu xồm chỉ giỏ nấm nói.
- Bác lấy bao nhiêu đấy?
- Năm.
- Năm mươi rúp à? - Người đàn bà giận giữ kêu lên.
- Năm.
- Năm rúp à? - Người đàn bà bối rối.
- Năm, - người râu xồm nhắc lại, rõ ràng ông ta thích thú về sự phân vân của bà mẹ và cô con gái.
- Năm gì?
- Năm cô-pếch. Một đồng thau. Hay cứ lấy không cũng được... Nhưng phải trả tôi giỏ, cái giỏ không phải của tôi đâu.
Người đàn bà mắt đen vẫn nhìn ông ta không hiểu, nhưng cô bé đã tỏ ra khôn ngoan hơn. Em lấy đồng tiền trong túi áo khoác, nhét vào túi người râu xồm và, như sợ ông ta thay đổi ý kiến, em ôm lấy giỏ nấm, nhấc lên và còng lưng xuống vì nặng, em di lon xon về phía cửa. Bà mẹ còn ngập ngừng, vẫn nhìn người râu xồm với đôi mắt sắc.
- Bác ạ, tôi không biêt giá chợ ở đây. Nhưng năm cô-pếch thì quá rẻ. Nếu bác không đùa thì tôi xin cảm ơn bác và mời bác lên ăn cơm với chúng tôi. Phòng số sáu, phía sau, bác đến nhé! Bố cháu lúc nào cũng dự trữ một chai rượu vốt-ca cho những dịp quan trọng. Bác chưa nghe nói đến cái tên Psê-nít-snưi à? Báo chí, đài phát thanh nhiều lần nhắc đến. A-lếch-xan-đrơ Psê-nít-snưi, thợ máy đào đất, - chị quay gót và đôi chân ngắn thoăn thoắt bước đi.
Trong phòng, Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin đang cúi xuống những bản vẽ.
- ... Anh có biết con người lạ lùng ấy đã làm gì không? - Đi-na nói. Nhưng Pê-tin đã ngước bộ mặt màu hổ phách, một màu xanh bệnh tật, nhìn chị ngạc nhiên. Chị dừng lại nửa chừng, vì một tục lệ đã được thiết lập trong gia đình, cấm nói chuyện, mở máy thu thanh, máy thu hình và nói chuyện trong lúc chồng chị làm việc.
Sau khi đã ghi chép vào sổ tay, cuộn các bản vẽ lại, tháo ống tay áo bằng vải láng ra, anh mới hỏi việc gì xảy ra. Lúc đó, một tiếng gầm làm rung chuyển các cửa kính và chiếc tàu "Éc-mác" rời bến tàu bên bờ cát. Vào lúc ấy, họ thấy người râu xồm lần cuối cùng. To lớn, vai rộng, hơi còng, người đó lao lên con đường sụt lở ở trong cát. Chiếc giỏ không đeo sau lưng, túi đựng súng cầm nơi tay. Chân đi bốt bằng da đạp lên một cách vững chắc. Đến bờ dốc, nơi con đường biến vào trong bóng râm màu xanh của một cây thông, người lạ dừng lại, quay về phía con tàu, và chống súng đứng im. Hình dáng của ông ta, được mặt trời chiếu sáng, nổi bật giữa những thân cây màu vàng.
- Em ạ, anh cũng có cảm giác được gặp người này ở đâu, - Pê-tin nói và cảm thấy một nỗi lo lắng mơ hồ. - Anh không biết ở đâu nữa. Nhưng đã gặp người này.
... Trên bờ sông hoang vắng của dòng Iếc-tư-sơ
Kỹ sư Psê-nít-snưi hát với giọng nam trầm. Và các bạn trẻ lặp lại tuy không dài lắm, nhưng rất hào hứng:
Éc-mác vẫn thức, đắm mình trong suy tư...(4)
Chú thích:
1. Sê-lê-khốp Gri-gô-ri I-va-nô-vích (1747-một795) - thương nhân Nga, người lập ra các khu kiều dân Nga đầu tiên ở Bắc Mỹ, người mở các nghề săn bắn thú biển và thú lông ở các đảo bắc Thái Bình Dương và vùng A-lax-ca. Ông đã tiến hành nhiều chuyến khảo sát địa lý quan trọng.
2. Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích (?-1585) - thủ lĩnh Cô-dắc. Cuộc hành quân năm 1581 của ông mở đầu cho việc nước Nga chinh phục Xi-bi-ri. Éc-mác bị chết trong trận chiến đấu chống người Tác-ta.
3. Ma-min-Xi-bi-ri-ác Đơ-mi-tơ-ri Na-rô-ki-xô-vích (1582-1912) - nhà văn Nga. Trong những tác phẩm của mình, ông mô tả hiện thực những tính cách, phong tục và đời sống ở vùng U-ran và Xi-bi-ri nửa cuối thế kỷ XIX.
4. Một bài dân ca Nga nói về Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích.
TÁC GIẢ: BORIS POLEVOI
DỊCH GIẢ: NGUYỄN THANH BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN CẦU VỒNG, MOCKBA, 1984
PHẦN THỨ NHẤT
I
Chiếc tàu chở khách "Éc-mác", một chiếc tàu thủy lớn và chậm chạp, chạy trên sông Ôn từ trước cách mạng, rời Xta-rô-xi-biếc-xcơ hôm qua lúc trời gần tối. Nó chạy suốt đêm. Những người ồn ào trên ba tầng boong của nó vẫn chưa thỏa thuê về những điều mới lạ của cuộc hành trình. Mặc dầu gió bấc thổi từng đợt và mang hương vị của cỏ khô từ bờ sông thấp đến, không một ai chịu trở về phòng mình cả. Thỉnh thoảng, vì tò mò, hành khách lại di chuyển từ mạn bên này sang mạn bên kia, không để ý đến phó thuyền trưởng đang khuyên họ nên "phân tán ra cho đều" để tàu khỏi nghiêng.
- Đúng là những con cừu!... Khi một con đi là cả bầy đi theo! Không ai chịu nghe ai cả, anh phàn nàn với thuyền trưởng. - Từ lâu ta không thấy những kẻ khờ khạo như thế này.
Thuyền trưởng A-lếch-xây Ra-cốp, một người đứng tuổi, béo tốt, mặt to và hơi rỗ, vừa xong phiên trực; ông khoác sơ mi ngồi vào bàn, trước một chiếc ấm Xa-mô-va điện và uống trà nóng bỏng.
- À, những người trẻ tuổi ấy... họ tò mò và rất tốt... Và sông Ôn - một con sông ra sông! Ở đâu có được quang cảnh như thế này! - Vừa thổi vào chén trà, mắt không nhìn phó thuyền trưởng, ông nói tiếp: - Đó là nơi họ sẽ đến ở. Nhưng anh nói đúng đấy, coi chừng không họ làm đắm tầu mất... Đúng là những con cừu.
Quả thật, những khúc sông quanh co, hoặc bên bờ trái nhiều núi, hoặc bên bờ phải bằng phẳng, thường xuất hiện những cảnh trí mà chính sự độc đáo, sự tươi mát của màu sắc và sự hùng vĩ của thiên nhiên làm cho hành khách ngạc nhiên, bất kể họ từ đâu đến với miền đất bao la và thưa người này.
Con sông Ôn hùng vĩ luôn luôn thay hình đổi dạng; như một tấm gương soi sâu thẳm, nó phản chiếu những cánh đồng xanh tốt, những khu rừng đầy màu sắc vừa bước sang thu, những mảng trời xanh dịu, rồi nó tỏa ra thành những cánh tay nước luồn vào những cù lao bằng phẳng sum suê; rồi khi tập hợp lại, sông Ôn - tăng thêm tốc độ, uốn khúc, dữ tợn và điên cuồng, phát huy hết sức mạnh của nó. Và đến khúc sông đã trở lại hiền hòa, hành khách có thể thưởng thức trọn vẹn các tia nắng rực rỡ và các màu sắc lấp lánh.
Rừng tai-ga rậm rạp với những ngọn thông xanh chọc thẳng lên trời cao, chạy ra đến mặt nước. Giống như một đám muỗi, những con sa yến lượn quanh những bờ đá ba-zan thẳng đứng màu nâu. Bỗng nhiên, con sông ngoặt lại một cách bất ngờ, tất cả những cảnh đó nhường lại cho những cánh đồng cỏ tốt tươi.
Chỉ thỉnh thoảng, trên một sườn dốc ở bờ trái hay ở phía xa xa của cánh đồng ngập nước bên bờ phải, người ta thấy hoặc đoán ra những làng xóm sầm uất. Chỉ những bến tàu và những con đường to, nhỏ mới gợi tới sự có mặt của các làng xóm đó. Nhưng đây, một thành phố trẻ ở ngay giữa cánh đồng hoang vu ấy. Con tàu "Éc-mác" ghé lại đó khoảng hơn một giờ. Thành phố không có trên bản đồ. Trên những chiếc phao cấp cứu treo vào tay vịn của cầu tàu, người ta đọc: "Bến tàu". Trong lúc những chiếc cần cẩu chuyển lên bờ các kiện hàng, nhiều hành khách trẻ tuổi đã kịp bước lên bờ mặc dầu trời đã tối. Họ trở về, kinh ngạc:
- Có cả xe buýt điện và đèn thủy ngân cao áp các cậu ạ!... Người ta tưởng đây là khu tây-nam Mát-xcơ-va, thật đấy.
Hằng hà sa số những chấm sáng của thành phố vô danh biến mất lúc con sông uốn khúc và tất cả một lần nữa lại trở lại với bóng tối của cảnh sông nước hoang vu, thỉnh thoảng điểm một ngọn lửa của chiếc phao trên sông, hoặc ánh mờ nhạt của một ngôi sao mùa thu lấp lánh. Lúc hành khách vừa bắt đầu tản ra, có ai đó kêu lên:
- Xem kìa, xem kìa!
Sau đuôi tàu, ở phía chân trời hiện lên một chuỗi ánh sáng di động. Một tiếng còi dữ dội, khẩn thiết vẳng lại và chiếc tàu "Éc-mác" trả lời bằng một tiếng hú khàn khàn. Các chấm sáng tiến lại gần, rẽ sang một bên, và một con tàu giống hình chiếc máy bay vượt qua con tàu già cỗi trong ánh sáng màu xanh chói lọi. Nó tung lên mặt mọi người những hạt bụi nước mát rượi, rồi khuất sau khuỷu sông, lặp lại tiếng còi dữ dội để báo cho những chiếc tàu ở phía trước nó.
Trên sông Mát-xcơ-va, trên sông Nê-va hoặc sông Đơ-ni-ép, sự xuất hiện của một chiếc thuyền bay chắc không làm ai chú ý. Nhưng trên sông Ôn mà ban ngày, chiếc tàu "Éc-mác" bình tĩnh đã khôn khéo len lỏi tránh những chiếc thuyền câu cổ lỗ, những chiếc đò bằng gỗ, những chiếc sà lan trát nhựa đường - thì sự xuất hiện đó làm cho hành khách ngạc nhiên đến nỗi nhiều người chạy vội lên boong tàu mặc dù đêm đã khuya. Người thuyền phó phải cầu khẩn họ bằng một giọng khàn khàn, chán ngán:
- Bà con ơi, xin bà con giải tán đi cho!
Một giọng nam cao trẻ và bông đùa, tiếng nghe nặng trình trịch, nhắc lại câu nói mà mọi người nghe đã nhàm tai:
- Bà con hành khách ta phải biết điều chứ. Đừng có làm cản trở bước đi của cái chậu cổ lỗ sĩ của chúng ta.
Và một giọng con gái dịu dàng uyển chuyển nói nhanh:
- Bà con ta đừng tụ tập lại như những con cừu; hãy đi vào các phòng khách, bà con có thể nghe ra-đi-ô, nghe đĩa, chơi cờ, chơi đô-mi-nô.
- Một con tàu! Phải chăng đây là một con tàu? Thế mà đúng là một con tàu thực cơ chứ!
- Thủ trưởng, có phải nó đã chở Gri-gô-ri Sê-lê-khốp(1) đi Mỹ dưới thời nữ hoàng Ê-ca-tê-ri-na II không?
Trong các phòng khách cũng không phải là vắng. Hàng rào ngăn chia các hạng bị lật đổ. Trng phòng hạng nhất, những tấm gương to, đóng khung bằng đồng đỏ, trước đây đã phản chiếu sự ăn uống phè phỡn của bọn buôn vàng, giờ đây soi bóng những chàng thanh niên vai rộng, mũ cát két và áo bông cởi ra, khi thì chậm dãi đi quanh mấy cô gái mặc quần áo trượt tuyết bằng phla-nen màu da cam, đeo kính cận, khi thì điên cuồng giẫm đôi bốt bằng cao su xuống sàn hoặc nhảy một vũ điệu dân ca Nga. Một người kéo phong cầm ngồi trên chiếc đi-văng bọc nhung màu đỏ thắm, mắt lim dim thỏa mãn với một nhóm thanh niên trai gái đang vỗ tay đánh nhịp...
Cứ thế, chiếc tàu "Éc-mác" già nua chở quá đầy trong chuyến đi đặc biệt này, xuôi dòng đã hai hôm nay trong tiếng rào rào rộn rã của những chiếc chân vịt. Hành khách để hết cả tâm trí vào phong cảnh đẹp một cách lạ lùng, suy nghĩ về số phận của họ, về bao nhiêu công việc mà họ chưa biết đang chờ họ ở đâu đấy trong rừng tai-ga, nơi công trường mà họ chỉ biết là rất vĩ đại, phấn khởi được làm quen với nhau, trao đổi trò chuyện với nhau, không để ý đến một người đàn ông to lớn, tuổi không đoán được, bề ngoài có vẻ khác thường, vừa xuất hiện trên tàu "Éc-mác".
Người đó đi một đôi bốt kỳ quái làm bằng da, khâu như một đôi bít tất. Một túi đạn bó chặt chiếc áo thủy thủ chăn bông đã sờn rách. Ông đôi một chiếc cát-két bộ đôi xung quanh viền vải màu sẫm và có lưỡi trai đã tróc hết lớp nhựa bọc. Những mớ tóc vàng sẫm ở trong mũ thò ra ngoài rủ xuống vầng trán rám nắng. Râu dày màu vàng sẫm che phần lớn khuôn mặt. Râu mép lẫn với râu cằm mềm mại chảy xuống ngực hình như chưa từng biết lưỡi dao cạo là gì. Một chiếc khăn tay nằm vắt ngang giữ ở sau lưng một chiếc giỏ đầy nấm. Ông cầm một khẩu súng săn gập lại để trong bao.
Chiếc "Éc-mác" vòng qua một khối đá ba-zan đen cứng sừng sững giữa lòng sông... Dốc núi xếp thành tầng, đầy những tổ chim. Những đàn sa yến bay trên tàu, phát ra những tiếng kêu lo lắng. Đây là cảnh tượng hiếm có. Mọi người tập trung ở phía lái, còn ồng râu xồm ngồi ở bên phải. Ông ngồi trên boong tàu, ở một nơi khuất gió, trải một tờ báo và bắt đầu lau nấm. Người ta thấy ông trong tư thế đó trong lúc con tàu qua khỏi khối đá của bầy sa yến.
- Ô, những chiếc nấm đẹp quá.
- Một mình bác nhặt đấy à? Giỏi lắm!
- Con người này may mắn thật... Những cây nấm của ông ta màu sắc thật hài hòa. Với số đỏ như vậy, ông ta đánh bạc thì chắc chắn sẽ được.
- Đồng chí ơi, ở đây có gấu không?... Có chó sói không?
- Có ma-mút không? Có lôi long không?
Những chiếc nấm thông, chân tròn, tán đầy rêu, xếp hàng trên tờ báo. Ông khách râu xồm, bị thu hút vào công việc, hầu như không nhìn thấy những bộ mặt trẻ láu lỉnh, cũng không nghe thấy những câu hỏi chế nhạo. Ông cũng không ngước mắt lên nhìn. Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy ở đôi mắt sáng màu xanh nhạt nằm trong đôi mí rực lửa ấy có vẻ căng thẳng, và đôi bàn tay to lực lưỡng màu nâu đang run.
- Có lẽ ông ấy điếc - cô gái mặc áo màu da cam và mang kính dày nói; đó là cô gái mà anh chàng có chùm tóc trước trán đã quay tròn trong vũ điệu điên cuồng.
- Lời giải của câu đó thật đơn giản, các bạn nhỏ ạ, - một người đàn ông đẹp trai, người tầm vóc, mặt tròn, đỏ hồng như mặt con gái nói nhỏ nhưng để cho mọi người cùng nghe thấy. Người ta biết đó là kỹ sữ Psê-nít-snưi, một người vui tính, thích hát và đã làm quen với tất cả mọi người. Anh than niên hay kể chuyện mính nói rằng anh ta là học trò của nhà thủy lực nổi tiếng Pê-tin, rằng anh ta cùng đi với Pê-tin đến công tác ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, trong rừng tai-ga. - Đơn giản như nụ cười trẻ thơ, anh ta nói tiếp. - Người lạ bí mật này đang say bí tỉ ấy mà. - Psê-nít-snưi hếch chiếc mũi một cách ngạc nhiên, hít lấy hít để. Chẳng lẽ cái mùi thơm này không làm cho các cậu thèm nhá một quả dưa chuột muối à?
Không ai cười. Một sự im lặng lúng túng. Chắc chắn người râu xồm điếc thật. Bàn tay ông ta vẫn khéo léo nhặt hết chiếc nấm này đến chiếc nấm khác bày lên giấy sau khi cắt bỏ chân cẩn thận. Dần dần người ta quen đi và không chú ý đến ông ta nữa. Chỉ còn một người đàn bà trẻ, da xanh, tóc dày màu hạt dẻ, mặc một chiếc áo săng-đay màu đỏ thắm, một chiếc quần bó sát người và khăn choàng len kẻ ô khoác trên vai, vẫn từ trên boong để ý nhìn ông ta.
Qua Psê-nít-snưi, hành khách được biết đó là vợ của Pê-tin, chị ta cùng chồng chiếm gian buồng sang trọng, thượng hạng duy nhất của con tàu. Chị đã bỏ nhà cửa ở Mát-xcơ-va, bỏ mọi tiện nghi của thủ đô để xông vào những khó khăn của cuộc đời nay đây mai đó. Không phải chỉ những hành khách trên tàu biết điều đó. Bạn bè đã ra bến tiễn họ. Một người béo tốt, đầu cạo nhẵn, với đôi mắt hẹp nghịch ngợm như trẻ con vừa ngắm nhìn bà vợ của Pê-tin, vừa dặn dò thuyền trưởng rc đang đứng nghiêm:
- Đồng chí rc, đồng chí hãy chú ý chăm sóc cho Đina Va-si-li-ép-na Pê-ti-na đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê hoàn toàn mạnh khỏe nhé! Đừng làm ô danh những người thủy thủ trên sông Ôn.
Đi-na, hầu như không khi nào rời khỏi boong tàu, hết sức chú ý đến người hành khách mới. Chị vào buồng, kéo chồng ra khỏi đống giấy tờ mà anh tranh thủ thời gian nghiên cứu dọc đường và dẫn ra ngoài:
- Đúng là một người dân Xi-bi-ri gốc! Anh nhìn xem, đó là hiện thân của Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích(2).
Chị nói khẽ, không ngờ gió lại có thể đem lời nói của chị đến tai người lạ. Người này ngẩng đầu lên và nhìn về phía vợ chồng chị. Đôi mắt của ông ta dừng lại một lát trên người vợ, rồi chuyển qua người chồng. Và, Đi-na thấy rõ ông ta rùng mình và giật ngửa người. Chị tưởng như đọc được trong cặp mắt đó không hẳn là sự ngạc nhiên, không hẳn là sự sợ hãi, cũng không hẳn là sự căm hờn, mà có lẽ là tất cả gộp lại. Rồi ông ta cúi xuống, mải mê với những chiếc nấm. Lát sau, như lại để khẳng định, người lạ quay lại nhìn Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin và người phụ nữ thấy khiếp sợ trước nỗi căm hờn sâu sắc mà chị tưởng như đọc được trong cặp mắt ấy.
Đi-na nép mình vào chồng, nói:
- Anh biết ông ta à?
- Lần đầu tiên anh thấy ông ta. Nói chung, anh không biết ai ở đây cả, trừ đồng chí bí thư thứ nhất Ban chấp hành tỉnh đảng bộ đã đưa tiễn chúng ta.
- Nhưng ông ta biết anh... ông ta biết anh, anh thân yêu ạ, ông ta có một cái nhìn thật lạ...
- Đối với những nhà báo Mỹ, danh từ "Xi-bi-ri" gợi lên những dây thép gai, những tháp canh, những con chó săn; còn đối với em - chắc chắn đó là những bọn vô lại và những tù nhân Xi-bi-ri trốn ra dưới thời Sa hoàng... Không, em ạ, tất cả đơn giản hơn nhiều. Chỗ kia, anh đưa bàn tay màu nâu sẫm chỉ vào khoảng không gian ở đằng chân trời giới hạn bởi bức tường thành màu xanh sẫm của rừng tai-ga, - một vùng rộng mênh mông, giàu có như trong chuyện thần thoại, nhưng hoang vắng, đang chờ những con người dũng cảm và cần cù đến đánh thức nó dậy. Chủ nghĩa lãng mạn xưa chỉ có trong sách vở và trong các bài ca...
- Dù sao thì ông ta cũng biết anh.
- Có thể, Pê-tin nhún vai. - Qua các giai đoạn của cuộc đời, biết bao người đã ở dưới quyền anh... Thôi được, anh về làm việc đây. Anh phải nắm được mọi việc ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê trước lúc anh đến nơi.
Một lát sau, anh trở ra với chiếc áo bành tô của vợ. Anh thấy người vợ mình ở bên kia boong tàu đang ngắm trộm người râu xồm. Đến lượt mình, anh cũng chú ý đến người lạ mà những bàn tay to sử dụng con dao bài như sử dụng một con dao mổ. Chỉếc nấm cuối cùng được lau xong, người lạ bèn cẩn thận xếp tất cả vào giỏ. Bộ râu rậm rạp như chiếm hết cả mặt không cho phép đóan được người lạ bao nhiêu tuổi; có thể ông ta bốn mươi, mà cũng có thể đã sáu mươi.
- Đúng là một mẫu người kỳ lạ... Một nhân vật của Ma-min Xi-bi-ri-ác(3). em nhìn xem, hắn ta nâng niu những chiếc nấm khiếp chưa. Các nông trang đang gặt rộ, thế mà một con người như vậy không thấy gì hay hơn là chạy rông trong rừng.
Môtgi ngọn gió đượm mùi cỏ úa, mùi lá mục, mùicỏ tranh hai bên đường, làm rơi chiếc áo bành tô từ trên vai Đi-na xuống. Người chồng âu yếm nhặt chiếc áo, khoác vào cho chị, rồi choàng tay ôm lấy người chị. Người râu xồm đứng lên và nhìn lại họ. Đôi mắt sáng của người đó không biểu hiện cái gì cả, nhưng Đi-na có cảm tưởng như một cái nhếch mép nặng nề, thiếu thiện chí đang núp sau chòm râu rậm ấy.
- Chà, anh đã thấy chưa? - Chị hết sức xúc động thì thào.
Lần ấy, Pê-tin có cảm tưởng mơ hồ như đã gặp người đó ở đâu. Để giấu sự lo lắng không ý thức đang xâm chiếm lòng mình, anh dẫn vợ sang bên kia boong tàu, ở đó nam nữ thanh niên, mặc quần áo cắm trại, áo bông ngắn, áo blu-dông có khóa kéo, áo săng-đay, đang ngồi sát nhau, ra sức hát:
Bạn hỡi, hãy đến những miền xa xôi,
Chúng ta, bạn và tôi,
Là những người chủ đầu tiên
Của những vùng đất mới
- Họ đó, những người chinh phục Xi-bi-ri! - Pê-tin kêu lên. Anh dừng lại gần lan can, ngay trên đầu những người đang hát. - Vâng lời Đảng, họ sẽ đánh thức vùng đất giàu có này dậy, họ sẽ xây dựng một nhà máy thủy điện khổng lồ và sẽ thắp sáng những thành phố mới. - Ở dưới, bài hát đã chấm dứt, những người trẻ tuổi tò mò nhìn vợ chồng Pê-tin trong lúc nhà thủy lực học vẫn xúc động nói tiếp: - Ở đó sẽ có một biển Xi-bi-ri rất lớn, tất cả những ngọn núi đá này sẽ chìm hết, và trên những bờ biển ở đây không nhìn thấy, sẽ được xây dựng một khu liên hợp công nghiệp kim loại, giấy, ximăng, hóa chất, nhà đúc sẵn, đồ gỗ...
Đi-na ngước nhìn chồng, cặp mắt xám sáng lên ngọn lửa nhiệt tình.
- Em rất vui lòng đã đi theo anh!
- Xuống đây với chúng tôi, đồng chí Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin, - Psê-nít-snưi ở dưới gọi. Anh ta đứng giữa vòng người, chỉ huy ban đồng ca tự phát lúc nãy.
Pê-tin mỉm cười xua tay:
- Các bạn ạ, tôi không có thì giờ.
Khoác tay vợ, anh dẫn chị đi dọc boong tàu.
- Có phải em ngần ngại...
- Không, không, em không sợ, cũng không tiếc. Em không cần nhà cửa, tiện nghi! - Nép mình vào chồng, chị nói thêm: - Anh có biết không, lúc nào em cũng nghĩ rằng nếu không có cái ông Lít-vi-nốp trói chân, trói tay anh lại thì với kiến thức của anh, tính gan dạ của anh, anh có thể làm nên kỳ tích ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê.
- Chậc! Rồi sẽ thu xếp ổn thỏa thôi em ạ. Lít-vi-nốp trước đây vốn là một kỹ sư có những quan niệm rất hay, một nhà tổ chức có khả năng, nhưng tuổi tác... À, nếu ông ta không có tất cả mọi quan hệ: bạn bè cũ, đồng nghiệp cũ, người này, người nọ... Thật ra, ông ta đã hết tài rồi, nhưng nói như những công chức, hồ sơ của Lít-vi-nốp nằm trong ngăn số một. Và nó sẽ ở đó cho đến lúc nào ông ta rơi xuống. Nhưng Lít-vi-nốp thì rơi sao được... Tóm lại, những cái đó không liên quan đến chúng ta. Ông ta cần phải dựa vào cái mới, cái hiện đại. Ông ta cần anh. Em sẽ thấy ông ta đón tiếp chúng ta như thế nào. Em cũng đã thấy đồng chí bí thư thứ nhất chúc chúng ta may mắn. Đồng chí ấy, tất nhiên, sẽ gọi điện cho ông ta... Điều đó cũng có một tác động nào đấy đối với Lít-vi-nốp. Em mơ màng gì đấy, mọi việc sẽ tốt đẹp mà...
- Không, không phải cái đó. Em lại nghĩ đến ông ta.
Đi-na đưa bàn tay mảnh khảnh và giá lạnh chỉ về phía người râu xồm. Ông ta bây giờ để đầu trần, tay chống lên lan can. Gió thổi lung lay mớ tóc lượn sóng của ông hơi thưa phía trên đỉnh đầu. Giỏ nấm để gần bức ngăn. Một em bé gái người to, má phính, khoảng lên tám lên chín, tóc kết thành một bím to màu hung, mũi nhỏ, ngắn, lác đác có những nốt ruồi, đang ngồi xổm ngắm những chiếc nấm. Một cậu bé khoảng mười lăm tuổi, tóc màu hung nhạt, tay gầy gò đang ngắm chiếc túi đựng súng không kém phần thích thú.
- Những chiếc nấm đẹp quá, trông như bằng da thuộc! - Cô bé nói bằng một giọng dễ thương, rõ ràng là để làm cho ông chủ ít nói của những chiếc nấm chú ý. - Một mình ông nhặt được tất cả đấy à? Cháu có thể xem được không ông? - Những ngón tay tò mò đụng vào mũ nấm mát vph mượt như da hoẵng.
- Súng của ông cỡ gì đấy, ông?... Ông nạp đạn ria hay đạn viên? - Cậu bé lễ phép hỏi, kiêu hãnh tỏ ra mình cũng thạo chuyện săn bắn. - Chắc là đạn viên? Bởi vì ở rừng tai-ga bây giờ rất nguy hiểm. Hình như sang thu bọn gấu xấu lắm... - Và cậu giải thích với một giọng biết lỗi: - Cháu đọc... đâu đó.
- Xa-sa! Những chiếc nấm sinh đôi... Không, có lẽ là hai chị em sinh đôi cùng một tán.
Người râu xồm không động đậy. Đi-na cũng tưởng ông ta không muốn bắt chuyện với các cháu bé. Xa-sa bị khẩu súng, bao đạn và cả người râu xồm khêu gợi lòng hiếu kỳ, làm như không để ý đến sự im lặng ngoan cố của ông ta. Còn cô bé, mà cậu gọi là Ni-na, thì ít dè dặt hơn. Em cầm lấy cánh tay người râu xồm lay mạnh:
- Ông ơi! Không trả lời câu hỏi là xấu lắm đấy! - Bỗng em nhận xét bằng một giọng lanh lảnh vang đến chỗ vợ chồng Pê-tin: - Anh Xa-sa, ông ta uống quá chén, say rượu đấy.
Đi-na nhắm mắt, ghê tởm. Nhưng người râu xồm vẫn ngồi im, đầu bù xù gục xuống. Cậu anh cầm lấy tay cô em gái, kéo đi:
- Đồ lắm mồm!
Đi-na không thể kiềm chế nổi sự quan tâm đối với người lạ. Chị đề nghị với chồng:
- Em đi mua nấm nhé. Chúng ta sẽ bảo bếp om với kem như anh vẫn thích.
- Tại sao? Ăn ở đây tốt rồi.
- Em muốn thế, - chị nhấn mạnh. Vài âm đục lẫn trong giọng nói du dương của chị. - Bố em và Vô-li-a đem về những giỏ nấm ấy, mẹ em không biết xử trí ra sao cơ... Em cũng vậy, em thích nấm.
- Thì nói với chị quản lý, chị ta nắm được giá cả. Nếu không thì em sẽ hớ đấy. Em cũng biết bọn con buôn ấy.
- Tại sao phải làm phiền người ta? - Người đàn bà trẻ trả lời, rướn đôi lông mày thanh và chớp đôi mắt nhỏ làm cho nó gần như biến mất trong hàng mi dài. - Đừng có lo, em không để cho làm như thế đâu.
- Anh không lo gì cả. - Pê-tin trở về phòng với bước đi bình tĩnh và đóng cửa cẩn thận.
Còn bực bội vì cuộc cãi cọ nhỏ ấy, Đi-na chạy xuống cầu thang và lại gần người lạ. Nhưng thấy mắt ông ta nhắm lại và những mạch máu xanh nổi hai bên thái dương, chị mất bình tĩnh và không biết nói năng ra sao. Ông ta mở mắt và quay lại. Cặp mắt ông ta thong thả nhìn từ đôi giày cắm trại xinh sắn đến chiếc quần, chiếc săng-đay, rồi dừng lại trên khuôn mặt của người đàn bà trẻ. Một cái nhìn lo lắng, dò hỏi:
- Cái gì? - Ông ta nói giọng trầm và khàn khàn, phả hơi rượu vào mặt chị.
- Xin lỗi, tôi muốn... Ông có thể nhường cho tôi... bán cho tôi một ít nấm đẹp này không? - Điệu bộ của chị như phân trần. Vẻ cứng rắn của cặp mắt bốc lửa như dịu lại: - Tôi là vợ của kỹ sư Pê-tin... Chúng tôi đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, nhà tôi làm việc ở đó. Nhà tôi thích nấm lắm.
Cặp mắt màu bạc trở nên lạnh giá.
- Không! - Người đàn ông nói, rồi quay đi nhìn vào nơi sâu thẳm của một thung lũng nhiều cây dẫn đến một con suối róc rách chảy vào sông Ôn. Nhưng khi Đi-na tức giận vì lời khước từ tàn nhẫn đó đi lên boong trên, người đàn ông bèn từ từ đưa mắt nhìn theo.
Đúng là Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích bao giờ cũng có lý. Lẽ ra đừng hỏi hắn ta. Có lẽ đó là tàn dư của những người khổ sai mà Ma-min Xi-bi-ri-ác đã mô tả hay, hoặc là một phạm nhân, sau khi mãn hạn tù, đã đi đến nơi hầu như không có ai này, để tránh sự tìm hiểu quá chu đáo về lý lịch. Đây là một bài học bổ ích cho Đi-na. Chị vào phòng để kể lại cho chồng nghe, nhưng chị bỗng dừng lại. Cái gì đây? Vĩ cầm ư? Không có lẽ.
Đúng là vĩ cầm. Một giai điệu quen thuộc. Sôi nổi, say sưa, vui buồn kế tiếp nhau, giai điệu lững lờ trên sông Ôn như những con chim sa yến đầy gợi cảm kia làm tổ trong những hốc đá ba-zan.
Đi-na đi quanh tàu. Các bạn thanh niên nam nữ vẫn tụ tập ở cuối tàu, với một sự pha tạp hỗn độn những quần áo phla-nen, áo bông ngắn, áo va-rơi của bộ đội, áo khoác lính thủy không có cầu vai. Nhóm người ồn ào và vô tư đứng thành một vòng tròn rộng. Ở giữa, một cô gái trẻ, nhỏ và khỏe, mặc quần áo màu da cam và đeo kính đang lướt mã vĩ trên chiếc vĩ cầm dưới cằm. "Trai-cốp-xki! - Đi-na nghĩ - bài Can-xô-nét-ta của Trai-cốp-xki". Cô gái chơi đàn quên hết mọi người. Mặt cô tròn và đỏ hồng, có vẻ kiêu căng và nghiêm nghị. Đôi mắt được kính phóng đại, sáng lên vì xúc động. Điều làm cho Đi-na chú ý nhất là sự say sưa của người chơi đàn phản ánh lên nét mặt tất cả các bạn trẻ, mà bài hát họ lặp đi lặp lại nhiều lần, không khác gì chiếc loa phóng thanh trên tàu, đã khiến chị khó chịu.
Bao nhiêu ngạc nhiên mà cuộc hành trình này đã đem đến cho cô gái Mát-xcơ-va ngày hôm kia đang còn đi dạo trên đường phố Goóc-ki! Sáng nay, dậy thật sớm, chị lên boong tàu để ngắm cảnh bình minh. Dòng sông Ôn mờ đi trong sương mù. Ông mặt trời khổng lồ và đỏ gay nổi lên sau bờ sông dốc đứng. Trong ánh sáng, chị thấy ở phía sau, một tóan người râu ria xồm xoàm, xanh xao, nóng nảy. Họ mân mê những con bài cũ và bẩn, rồi vất xuống những tấm ván. Nhà cái là một gã trai to lớn, trán bóng như bôi mỡ, núp sau mái tóc trẻ con màu vàng. Con mắt ti hí của gã nhìn đám bạn chơi một cách đầy thù địch và nghi ngờ. Xa hơn chút ít, sau cuộn dây, một người đứng tuổi, nước da màu gạch, đang quỳ xuống cầu kinh, mặt hướng về phía mặt trời. Phía bên kia cuộn dây một thanh niên gầy còm, tóc màu hung, mặt dài, mặc một chiếc quần đùi để lộ đôi chân bắp thịt nổi lên cuồn cuộn như những bó thép, đang tập những động tác thể dục rất khó. Tất cả tắm trong ánh mặt trời đang xua tan sương mù và đem lại tươi vui cho những cánh đồng bát ngát chạy ra tận bìa rừng màu xanh sẫm.
Chiếc vĩ cầm như gợi lên trong tâm hồn Đi-na những điều xót xa, khủng khiếp mà chị còn chưa biết, nhưng chị sẽ nhìn thấy, cảm thấy và sẽ sống trong xứ sở hoang vắng này. Chị lại muốn gặp người râu xồm, người Xi-bi-ri điển hình ấy. Chị đi sang bên kia và dừng lại nghe một giọng đàn bà dịu dàng và thánh thót, giọng U-krai-na, từ dưới đưa lên:
- Chào bác!
Một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc màu nâu, mặt tròn, xinh sắn đang nói chuyện với người râu xồm. Mắt chị ta đen tuyền, bình thản và dịu hiền. Cô bé gái béo mập lúc nãy khép nép đứng sau chị ta. Người đàn bà bình tĩnh sờ từng chiếc nấm một, với động tác bình tĩnh của người nội trợ đi mua bán.
- Đẹp lắm. Bao nhiêu cả giỏ đây, bác? Các cháu tôi thích nấm lắm, cả con bé lắm mồm này nữa... Tha lỗi cho cháu, nếu cháu đã vô lễ...
Người râu xồm lặng lẽ nhìn hai mẹ con. Hình như ông ta vừa ngủ dậy. Từ trên nhìn xuống, người ta thấy những nếp nhăn trên vầng trán nửa rám nửa trắng giãn ra. Có lẽ sau chòm râu rậm đang nở một nụ cười chế nhạo.
- Thế nào, bác bằng lòng chứ? - Người đàn bà năn nỉ.
- Bán đi ông ạ. Một mình ông thì nhiều quá đó. - Cô bé nói thêm.
- Nhưng giá phải cho phải chăng. Chuyến đi là chúng tôi khánh kiệt. Chúng tôi ở Ux-chi tới, đường xa lắm.
- Lấy đi, - người râu xồm chỉ giỏ nấm nói.
- Bác lấy bao nhiêu đấy?
- Năm.
- Năm mươi rúp à? - Người đàn bà giận giữ kêu lên.
- Năm.
- Năm rúp à? - Người đàn bà bối rối.
- Năm, - người râu xồm nhắc lại, rõ ràng ông ta thích thú về sự phân vân của bà mẹ và cô con gái.
- Năm gì?
- Năm cô-pếch. Một đồng thau. Hay cứ lấy không cũng được... Nhưng phải trả tôi giỏ, cái giỏ không phải của tôi đâu.
Người đàn bà mắt đen vẫn nhìn ông ta không hiểu, nhưng cô bé đã tỏ ra khôn ngoan hơn. Em lấy đồng tiền trong túi áo khoác, nhét vào túi người râu xồm và, như sợ ông ta thay đổi ý kiến, em ôm lấy giỏ nấm, nhấc lên và còng lưng xuống vì nặng, em di lon xon về phía cửa. Bà mẹ còn ngập ngừng, vẫn nhìn người râu xồm với đôi mắt sắc.
- Bác ạ, tôi không biêt giá chợ ở đây. Nhưng năm cô-pếch thì quá rẻ. Nếu bác không đùa thì tôi xin cảm ơn bác và mời bác lên ăn cơm với chúng tôi. Phòng số sáu, phía sau, bác đến nhé! Bố cháu lúc nào cũng dự trữ một chai rượu vốt-ca cho những dịp quan trọng. Bác chưa nghe nói đến cái tên Psê-nít-snưi à? Báo chí, đài phát thanh nhiều lần nhắc đến. A-lếch-xan-đrơ Psê-nít-snưi, thợ máy đào đất, - chị quay gót và đôi chân ngắn thoăn thoắt bước đi.
Trong phòng, Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin đang cúi xuống những bản vẽ.
- ... Anh có biết con người lạ lùng ấy đã làm gì không? - Đi-na nói. Nhưng Pê-tin đã ngước bộ mặt màu hổ phách, một màu xanh bệnh tật, nhìn chị ngạc nhiên. Chị dừng lại nửa chừng, vì một tục lệ đã được thiết lập trong gia đình, cấm nói chuyện, mở máy thu thanh, máy thu hình và nói chuyện trong lúc chồng chị làm việc.
Sau khi đã ghi chép vào sổ tay, cuộn các bản vẽ lại, tháo ống tay áo bằng vải láng ra, anh mới hỏi việc gì xảy ra. Lúc đó, một tiếng gầm làm rung chuyển các cửa kính và chiếc tàu "Éc-mác" rời bến tàu bên bờ cát. Vào lúc ấy, họ thấy người râu xồm lần cuối cùng. To lớn, vai rộng, hơi còng, người đó lao lên con đường sụt lở ở trong cát. Chiếc giỏ không đeo sau lưng, túi đựng súng cầm nơi tay. Chân đi bốt bằng da đạp lên một cách vững chắc. Đến bờ dốc, nơi con đường biến vào trong bóng râm màu xanh của một cây thông, người lạ dừng lại, quay về phía con tàu, và chống súng đứng im. Hình dáng của ông ta, được mặt trời chiếu sáng, nổi bật giữa những thân cây màu vàng.
- Em ạ, anh cũng có cảm giác được gặp người này ở đâu, - Pê-tin nói và cảm thấy một nỗi lo lắng mơ hồ. - Anh không biết ở đâu nữa. Nhưng đã gặp người này.
... Trên bờ sông hoang vắng của dòng Iếc-tư-sơ
Kỹ sư Psê-nít-snưi hát với giọng nam trầm. Và các bạn trẻ lặp lại tuy không dài lắm, nhưng rất hào hứng:
Éc-mác vẫn thức, đắm mình trong suy tư...(4)
Chú thích:
1. Sê-lê-khốp Gri-gô-ri I-va-nô-vích (1747-một795) - thương nhân Nga, người lập ra các khu kiều dân Nga đầu tiên ở Bắc Mỹ, người mở các nghề săn bắn thú biển và thú lông ở các đảo bắc Thái Bình Dương và vùng A-lax-ca. Ông đã tiến hành nhiều chuyến khảo sát địa lý quan trọng.
2. Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích (?-1585) - thủ lĩnh Cô-dắc. Cuộc hành quân năm 1581 của ông mở đầu cho việc nước Nga chinh phục Xi-bi-ri. Éc-mác bị chết trong trận chiến đấu chống người Tác-ta.
3. Ma-min-Xi-bi-ri-ác Đơ-mi-tơ-ri Na-rô-ki-xô-vích (1582-1912) - nhà văn Nga. Trong những tác phẩm của mình, ông mô tả hiện thực những tính cách, phong tục và đời sống ở vùng U-ran và Xi-bi-ri nửa cuối thế kỷ XIX.
4. Một bài dân ca Nga nói về Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích.
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
古 來 征 戰 幾 人 回.