Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Những bài viết về Tiếng Việt (ngôn ngữ học)

19 trả lời, 12.825 lượt xem — Trang 1 / 1
Tiếng Việt " giàu" nhưng có còn " đẹp"

Vũ Xuân Lương
Trung Tâm Từ Điển Học - Vietnam Lexicography Centre
(Đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống)


Internet đang ngày càng tác động sâu rộng đến đời sống, tình cảm và thói quen văn hoá của toàn nhân loại. Dù muốn hay không, dù nhiều hay ít, cuối cùng thì tất cả chúng ta cũng đều bị cuốn đi theo nó một cách vô hình. Xu hướng hiện nay của kĩ nghệ phần mềm là đều tập trung vào phát triển và phổ biến các sản phẩm dựa trên nền Internet. Công nghệ Internet thực sự đã tạo nên được một “thế giới ảo” về “cuộc sống thực” mà chúng ta đang sống.

Internet là nơi biểu hiện nhiều nét đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của nhiều nước trên thế giới. Kho tri thức chung khổng lồ của nhân loại được luân chuyển từng giây, từng phút trên mạng thông tin toàn cầu này đang đặt ra nhiều thách thức mới cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam chúng ta. Sự phát triển nhanh chóng về mặt năng lực tính toán của cá nhân đòi hỏi phải có những công cụ xử lí thông tin sao cho phù hợp, đồng thời giúp làm tăng năng lực tính toán lên cao hơn nữa và giúp cho quá trình phổ cập thông tin đến cho mọi người cùng được thụ hưởng.

Từ thực tế đó, một xu hướng đa ngôn ngữ quốc tế đã được hình thành. Tuy nhiên, do lí do về văn hoá, địa lí, và nhiều lí do khác, xu hướng này chưa được quan tâm đúng mức tại nước ta. Trong nhiều năm qua, việc trao đổi và sử dụng thông tin đa ngôn ngữ, thậm chí trên cùng một ngôn ngữ như tiếng Việt, cũng đã gặp không ít khó khăn, trở ngại. Vậy thì trong những năm qua, “diện mạo” tiếng Việt ra sao trong xu hướng đa ngôn ngữ này, và chúng ta đã chuẩn bị những gì cho sự “trình làng” của tiếng Việt trong tương lai? Nội dung của bài viết mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây nhằm trả lời cho câu hỏi trên.



I. Giới thiệu

Tiếng Việt được thể hiện qua hai dạng chữ viết, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Các vấn đề nghiên cứu để biểu diễn chữ Nôm trong công nghệ thông tin mới được nghiên cứu và gần đây đã thu được những thành công bước đầu. Mối quan tâm chính của giới công nghệ thông tin trong những năm qua là tập trung nghiên cứu chữ quốc ngữ để biểu diễn bên trong máy tính. Kết quả của quá trình nghiên cứu là đã công bố được một bảng mã tiêu chuẩn cho tiếng Việt, viết tắt là TCVN-5712 (1993). Cùng với bảng mã TCVN-5712 là sự ra đời của bộ font chữ ABC, được quy định là tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế mà bảng mã TCVN-5712 không được sự ủng hộ của giới làm phần mềm, và kết quả là trên lãnh thổ Việt Nam cũng như ở nước ngoài sản sinh rất nhiều bộ mã cho chữ Việt, dẫn đến một tình trạng hỗn độn chữ Việt trên thị trường công nghệ thông tin. Chúng tôi xin điểm qua một số bảng mã dưới đây.

1. Mã chữ Việt 1 byte

Do hạn chế về mặt biểu diễn các mã chữ trong máy tính, nên lúc đầu người ta định ra bảng mã 8 bit để mã hoá chữ viết. Bảng mã 8 bit cho phép chỉ có thể bố trí tối đa 256 kí tự, trong đó có 128 kí tự không được phép xâm phạm, gồm các kí tự điều khiển, các kí tự thể hiện con chữ trong bảng chữ cái Latin (a, b, c, d, e, ..., z), các kí tự toán học và các kí tự khác như @, $, &, *, v.v. Như vậy, chỉ còn lại 128 kí tự để mã hoá chữ viết cho nhiều ngôn ngữ khác nhau. Với các ngôn ngữ có chữ viết theo hệ Latin như tiếng Anh, tiếng Pháp... thì không có vấn đề gì, nhưng với các ngôn ngữ có chữ viết tượng hình như tiếng Hán, tiếng Nhật... thì lại thành vấn đề lớn. Tiếng Việt, tuy chữ viết thuộc hệ Latin, nhưng là chữ viết có thanh điệu nên cũng không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Để cho rõ hơn, chúng ta có thể hình dung như sau:

Tiếng Việt có 20 con chữ ghi phụ âm (du nhập thêm F, J, W, Z) và 5 con chữ ghi nguyên âm (a, e, i, o, u) đã được mã hoá trong máy tính có mã giống nhau cho cả chữ hoa và chữ thường, và thuộc vùng 128 kí tự không được xâm phạm. Còn lại 134 con chữ đặc thù tiếng Việt (ăĂ, âÂ, đĐ, ằẰ ... ặẶ, ..., ỳỲ... ỵỴ) muốn thể hiện đầy đủ buộc phải vi phạm vị trí đã được mã hoá của 6 kí tự trong số 128 kí tự không được phép xâm phạm. Điều này thì không thể được, vì nếu 6 kí tự đã được mã hoá bị mất, sẽ dẫn đến sự mất tương ứng 1-1 giữa kí tự hiển thị với kí tự đã được bố trí sẵn trên bàn phím máy tính. Do vậy, các nhà công nghệ thông tin chọn giải pháp chỉ sử dụng 67 kí tự để mã hoá chữ Việt viết thường (ă, â, đ, ê, ô, ơ, ư, à, ả, ã, á, ạ, ..., ỳ, ỷ, ỹ, ý, ỵ), còn chữ viết hoa sẽ được thể hiện bằng font khác, thường có đuôi là U hoặc H. Đó cũng là nội dung mà bảng mã TCVN-5712 thể hiện. Như vậy, chữ hoa và chữ thường trong bảng mã TCVN-5712 có mã giống nhau, chỉ khác nhau về tên font. Điều này không chỉ gây bất tiện trong khi sử dụng (phải chọn font khác nhau cho chữ hoa và chữ thường), mà còn gây cản trở rất lớn cho việc xử lí thông tin (do không thể phân biệt được chữ hoa với chữ thường).

Tiêu biểu cho font chữ Việt 1 byte bảng mã TCVN-5712 có font ABC, là font chữ tiêu chuẩn quốc gia như đã nêu ở trên, được quy định dùng bắt buộc trong các cơ quan nhà nước. Font chữ này cũng được một số mạng cung cấp dịch vụ Internet như VNN, Netnam, FPT, ViNet... sử dụng. Tuy nhiên, font ABC chỉ được dùng phổ biến ở miền Bắc, còn ở miền Trung và miền Nam hầu như không được sử dụng. Trên thực tế, bảng mã TCVN-5712 vẫn chiếm mất một số kí tự quan trọng trong các phần mềm chế bản điện tử, hay soạn thảo văn bản, v.v. Chẳng hạn: chiếm mất mã 182 vốn được quy định cho việc hiển thị dấu cách để thể hiện cho chữ “ã”, mã 183 hiển thị dấu ngắt đoạn để thể hiện cho chữ “ả”, mã 172 là kí tự điều khiển để thể hiện cho chữ “ơ”, v.v.

Ngoài font ABC còn có font VietKey, do nhóm VietKey phát triển, được nhiều người ưa dùng (xem thông tin chi tiết tại địa chỉ www.vietkey.com), font TCVN2 của tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệp, Trường đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, và font VISCII, do nhóm Việt Kiều ở Mĩ Viet-Std (Vietnamese Standardization Working Group) phát triển, v.v.

2. Mã chữ Việt 2 byte

Thực chất font chữ Việt 2 byte chỉ áp dụng để mã hoá cho các con chữ mang thanh điệu của tiếng Việt. Cụ thể là, với con chữ nguyên âm có thanh điệu sẽ được mã hoá bằng 2 byte, byte đầu tiên thể hiện con chữ trong bảng chữ cái Latin, byte thứ 2 thể hiện cho thanh điệu. Trên lí thuyết, tiếng Việt có 6 thanh điệu, nhưng chỉ có 5 thanh được thể hiện ra bằng đường nét nên chỉ cần 19 kí tự (14 kí tự cho các con chữ ăĂ, âÂ, đĐ, êÊ, ôÔ, ơƠ, ưƯ và 5 kí tự cho dấu thanh) là có thể mã hoá được cho 134 con chữ đặc thù tiếng Việt viết thường và viết hoa. Do các font được thiết kế theo bảng mã 2 byte cho phép thể hiện và phân biệt được các chữ thường và chữ hoa trên cùng 1 font nên ít gây trở ngại cho người dùng. Tuy nhiên, các chữ mang thanh điệu của font 2 byte thường hiển thị không cân đối, khi in ra trông không được đẹp. Hơn nữa, trong các chương trình soạn thảo văn bản, ta phải ấn phím Backspace, hoặc phím mũi tên 2 lần mới xoá hoặc di chuyển qua được một con chữ nguyên âm mang thanh điệu.

Tiêu biểu cho font chữ Việt 2 byte có font VNI, do công ty Vietnam International ở Mĩ phát triển và font BK-TPHCM2, do Trường đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh phát triển. Hai font chữ VNI và BK-TPHCM2 ít được sử dụng ở miền Bắc mà chủ yếu được sử dụng ở miền Nam và miền Trung, đặc biệt font VNI được đa số Việt Kiều ở Mĩ sử dụng.

Ngoài hai bảng mã thông dụng nêu trên, hiện nay vẫn tồn tại rất nhiều bảng mã khác nhau. Tiêu biểu trong số đó có: 1) Bảng mã chữ Việt VIQR (Vietnamese Quoted Readable Specifications), dùng kí hiệu có sẵn trên bàn phím để thể hiện chữ Việt (ví dụ câu “Việt Nam đất nước ta ơi” sẽ được hiển thị là “Vie^.t Nam dda^'t nu+o+'c ta o+i”), bảng mã này cũng do nhóm Viet-Std phát triển. 2) Bảng mã tổ hợp, xử lí chữ Việt tương tự như mã tiếng Việt 2 byte, tức là tổ hợp giữa chữ cái Latin và dấu tiếng Việt, quá trình tổ hợp được thực hiện ngay khi gõ, thông qua chương trình quản lí font riêng biệt đã được cài đặt trên Windows 95 bằng tiếng Việt (Windows 95 Vietnamese).



II. Hình ảnh của chữ Việt

Do sự hạn chế của bảng mã 8 bit, vốn lúc đầu được dùng chủ yếu để mã hoá chữ viết tiếng Anh trong máy tính, nên việc thể hiện sao cho đầy đủ con chữ tiếng Việt mà không gây ra những vi phạm hoặc những nhược điểm là hoàn toàn không thể. Vì vậy mà “hình ảnh” của chữ Việt đã bị những hạn chế về mặt kĩ thuật làm cho méo mó, hoặc những ứng dụng xử lí ngôn ngữ khi áp dụng cho chữ Việt đã không còn giá trị (sắp xếp theo ABC, chuyển đổi dữ liệu qua lại giữa các hệ cơ sở dữ liệu và các hệ soạn thảo văn bản, v.v.).

1. Thời mà Internet chưa phổ biến ở Việt Nam, có ý kiến nêu tại Hội thảo khoa học của Tuần lễ tin học VIII, tháng 10-1998 (Có thể ''đa âm tiết hoá '' chữ Việt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển tiếng Việt và công nghệ thông tin. Vũ Duy Phú. Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam. Tuần lễ tin học VIII, Hà Nội, 10-1998) là nên cải tiến chữ Việt bằng cách “đa âm tiết hoá”, với mục đích là tiết kiệm không gian lưu trữ thông tin bằng chữ Việt, làm tăng hiệu suất truyền tải thông tin trên các phương tiện truyền tin. Tác giả nêu cụ thể các nguyên tắc như sau (xin trích nguyên văn, kể cả những chỗ viết liền âm tiết):

1/ Những từ gồm hai hoặc ba âmtiết, thì ghépliền. Vídụ: nhândân, hợptácxã;

2/ Những từ trên ba âmtiết thì ghép thành tổhợp con, hai hoặc ba âmtiết một. Vídụ: Luật đổimới Doanhgiệp, lữngtha lữngthững, đãhoànthành xong, tiềntưbản chủnghĩa, Nướccộnghoà Ghinê Bítxao;

3/ Những từ phiênâm, vay mượn từ tiếng nướcngoài, thì bỏ gạchnối và viếtliền, không hạnchế sốlượng âmtiết. Vídụ: Luânđôn.

Ngoài ra, tác giả còn nêu việc cải tiến một số trường hợp như: bỏ chữ “h” trong “gh”, “ngh” (người nghèo ® ngườingèo, cai nghiện ® caingiện, ghé thăm ® géthăm...); bỏ dấu sắc trong các âm tiết có “c, t, ch” đứng cuối (bắc ® băc, tắt ® tăt, ngoắt ® ngoăt...), bỏ những phụ âm lặp lại đứng cạnh nhau ở từ đa tiết (phát triển ® phátriển, công nghiệp ® cônghiệp, ngôn ngữ ® ngôngữ, bên ngoài ® bêngoài...), v.v. Các giải pháp mà tác giả đưa ra đã biến chữ Việt thành những kí hiệu vô hồn, đôi khi dẫn đến buồn cười, vô nghĩa. Chẳng hạn, với từ “thú y” thành “thúy”, “cắt tóc” thành “cắtóc” (đọc là cắt óc), “bản gốc” thành “bảngốc” (đọc là bả ngốc hay bảng ốc), v.v. Mặt khác, tác giả cũng không thể phân biệt được ranh giới giữa các đơn vị từ vựng trong tiếng Việt, dẫn đến việc viết phép các âm tiết một cách tuỳ tiện trong bài viết. Nói chung, phương án này hoàn toàn xa lạ với thói quen viết chữ Việt cũng như cách phát âm tiếng Việt. Rất may là nó chỉ nằm lại trên “giấy” mà không được đưa ra “thử nghiệm” nên rất ít người biết đến, và cho đến nay thì hầu như đã bị lãng quên.

2. Khi Internet được phổ biến ở Việt Nam và nhu cầu gửi và nhận thư điện tử (e-mail) tăng nhanh cùng với sự thay đổi phiên bản (version) liên tục của các chương trình duyệt Web (chủ yếu là Internet Explorer của Microsoft), thì bộ mặt chữ Việt mới thực sự có bước “trình làng” đầy gian nan. Do dùng quá nhiều font chữ cũng như bảng mã tiếng Việt khác nhau mà việc trao đổi thông tin giữa các máy tính của cộng đồng người Việt luôn luôn không có “tiếng nói chung”. Chẳng có gì bực mình và bất tiện hơn khi nhận được một văn bản hoặc e-mail của người khác mà không thể đọc được, vì máy tính của mình không có font chữ tương thích. Ngay cả khi có font chữ tương thích thì tình hình cũng chẳng khá hơn là bao. Ai cũng biết, một vài năm qua chữ Việt khi hiện trên các trang Web (qua trình duyệt Internet Explorer), hoặc trong các chương trình gửi nhận e-mail thì bị mất chữ “ư”, và gây ra rất nhiều phiền phức cho người đọc. Ngay trong dịp Tết Nhâm Ngọ 2002 này, tại Site “Ước nguyện giao thừa” của mạng Internet VDC, vấn đề chữ “ư” vẫn còn tồn tại. Xin trích nguyên văn như sau:

- Một user name có bí danh “SB” viết:

“Hà nội từ mấy hôm nay tràn ngập không khí Tết. Ma Xuân bay bay, phố xá đông đúc, đó đây những ngời bán hoa đào... Những cây mai vàng từ phơng Nam đã vợt đờng xa ra vui Tết với ngời Hà nội.” (Ma xuân = Mưa xuân, ngời = người, phơng = phương, đờng = đường)

- Một user name có bí danh “Valentin” viết:

“Mồng 3 Tết năm nay trùng ngày Valentin, không biết mọi ngời đã có ai nhớ đến cha?
Chúc ai cha yêu sẽ gặp một nửa của mình.” (ngời = người, cha = chưa)

Việc mất chữ “ư” không chỉ làm cho câu văn trở nên ngây ngô, buồn cười, mà tai hại hơn, còn làm cho nội dung thông báo bị sai lệch đi, tác động tiêu cực đến tình cảm của người tiếp nhận. Chẳng hạn, với ngữ đoạn “cưu mang đàn em nhỏ”, khi mất chữ “ư” thành “cu mang đàn em nhỏ”, v.v.

3. Để tránh những phiền toái do việc mất chữ “ư” gây ra, số đông người sử dụng Internet, nhất là sử dụng e-mail, đều quay sang viết chữ Việt không có dấu. Với tiếng Việt, sự giàu có về từ vựng, ngữ nghĩa là ở chỗ có thanh điệu. Khi được viết không có dấu, chữ Việt đã trở thành “thương tật”, người tiếp nhận thông tin muốn hiểu như thế nào là tuỳ ý. Thế mới nảy sinh nhiều câu chuyện hiểu nhầm đến nực cười, chẳng hạn:

- Với câu “Em dang o truong, anh den nhanh len nhe”, có thể hiểu “Em đang ở trường, anh đến nhanh lên nhé”, hoặc “Em đang ở truồng, anh đến nhanh lên nhé”.

- Với câu “Vo anh ta dam dang lam”, có thể hiểu “Vợ anh ta đảm đang lắm”, hoặc “Vợ anh ta dâm đãng lắm”.

Tại Đà Nẵng, tác giả Trần Triết Tâm, một người lập trình không chuyên, đã có một ý tưởng rất độc đáo là xây dựng một chương trình có tên “AutoMark” (tự động đánh dấu), nhằm mục đích giúp đọc các văn bản tiếng Việt không có dấu, thường là e-mail gửi qua Internet. Chương trình dựa vào một bộ từ điển lưu trữ những từ có dấu tương ứng với những từ không có dấu để làm căn cứ cho việc chuyển đổi. Việc chuyển đổi này, theo tác giả, là “...không bao giờ đạt kết quả 100%. Theo thực tế sử dụng, chương trình chỉ chuyển đổi đúng được khoảng 95%.”, nhưng theo kiểm chứng của chúng tôi thì không hẳn như vậy. Chẳng hạn, khi gõ:

“Em muon lam roi, anh den ngay di” thì chương trình đổi thành “Em muốn làm rồi, anh đến ngay đi” (đúng là: Em muộn lắm rồi, anh đến ngay đi). v.v...

4. Chữ Việt không có dấu thực sự đã gây trở ngại cho việc diễn đạt cũng như tiếp nhận thông tin. ý tưởng tạo ra một bảng mã chữ Việt có tính tương thích cao, có thể sử dụng các font chữ tiếng Anh sẵn có để thể hiện chữ Việt trong mọi hệ điều hành máy tính, mọi chương trình ứng dụng mà không cần phải có các thiết bị đi kèm đã được cụ thể hoá bằng sự ra đời của bảng mã tiếng Việt VIQR (nêu ở mục “I, 2”). Do tính tương thích cao nên bảng mã VIQR thường được dùng để gửi nhận e-mail trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, bất kể trong máy tính có hay không có font chữ tiếng Việt. Thực chất của giải pháp chữ Việt VIQR là dùng các kí hiệu có sẵn trên bàn phím máy tính để thể hiện chữ Việt, nên có thể áp dụng để nhập chữ Việt cho các font mã 1 byte hoặc 2 byte mà không cần bất cứ chương trình hỗ trợ bàn phím nào. Các phím chữ tiếng Việt trong bảng mã VIQR được quy ước như sau:

` = dấu huyền; ? = dấu hỏi; ~ = dấu ngã; ' = dấu sắc; . = dấu nặng; ^ = dấu mũ, trong chữ â, ê, ô; + = dấu móc, trong chữ ư, ơ; ( = dấu trăng, trong chữ ă; dd = chữ đ.

Có thể dùng kiểu gõ VIQR để gõ chữ Việt, ví dụ:

tru+o+`ng ho.c = trường học

DDa(.ng Tie^'n DDo^ng = Đặng Tiến Đông

Một số chương trình gõ chữ Việt như UniKey, VietKey... đều hỗ trợ bảng mã này bằng kiểu gõ TELEX hoặc VNI, tuỳ theo thói quen của người sử dụng. Nhìn đại thể, chữ Việt thể hiện bằng mã VIQR là tương đối khó đọc, mất mĩ quan vì nó “mọc thêm nhiều u bướu”, đấy là chưa kể những trường hợp bất hợp lí, kiểu như “Ma`y co' ddi kho^ng ha??” (Mày có đi không hả?), v.v.

Như vậy, từ chỗ bất hợp lí của bảng mã TCVN-5712, hay nói đúng hơn là do sự lệ thuộc vào những hạn chế của kĩ thuật trong một thời điểm nhất định nào đó, nên đã kéo theo nhiều giải pháp cho chữ Việt, làm cho chữ Việt mất đi nét đặc thù riêng là chữ viết ghi âm. Nét chữ Việt thân thuộc của chúng ta đã bị công nghệ mổ xẻ, làm cho méo mó, què cụt, và cho đến hôm nay vẫn chưa được lành lặn. Điều đó không phải là do bản chất của ngôn ngữ.



III. Tiếng Việt trong xu thế đa ngôn ngữ



Tiếng Việt đang xuất hiện trên hệ thống thông tin toàn cầu chẳng tương xứng một chút nào với những gì mà nó tiềm ẩn trong tâm tư, tình cảm của mỗi người Việt Nam chúng ta. Dù sao, do lợi thế thuộc hệ chữ cái Latin nên ít nhiều chúng ta vẫn nhận ra được “hình hài” của tiếng Việt thân yêu. Điều này khả quan hơn rất nhiều so với khi nhìn thấy những kí tự loằng ngoằng của các ngôn ngữ khác như tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Arập, tiếng Thái, tiếng Nga, v.v. Lí do là trình duyệt Web (Web Browser) không hiểu những ngôn ngữ này, vì không có font chữ tương thích. Để đọc được thông tin bằng các thứ tiếng này, kể cả tiếng Việt, có nhiều giải pháp mã hoá bảng chữ cái đang được dùng, khiến cho những ai muốn vừa đọc thông tin bằng tiếng Anh, vừa đọc thông tin bằng tiếng Hán, tiếng Nga, tiếng Việt... thì phải có các bộ font chữ cùng các chương trình phần mềm ứng dụng đặc thù được cài đặt trong máy tính. Đến một ngày nào đó, máy tính của chúng ta sẽ đầy ắp những font chữ, làm cho hệ thống xử lí chậm chạp. Trên một văn bản thường không thể sử dụng đồng thời các ngôn ngữ trong cùng một font chữ. Thậm chí, khi có đầy đủ các font chữ thì cũng không thể hiển thị đầy đủ các ngôn ngữ trong một văn bản, do các phần mềm ứng dụng tranh chấp lẫn nhau. Điều này gây tốn kém và bất tiện cho người dùng.

Để khắc phục những nhược điểm nói trên, sự ra đời của bộ mã đa ngôn ngữ 16 bit Unicode/ISO 10646, do tập đoàn Unicode (Unicode Consortium) và Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) thống nhất ban hành, là rất kịp thời và đã được nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận. Các công ti hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin như Microsoft, Adobe, Novell, Lotus, Sun, IBM... đều hỗ trợ Unicode trong các sản phẩm của mình. Đây thực sự là một bộ mã vạn năng để mã hoá chữ viết cho mọi ngôn ngữ trên thế giới. Xu thế đa ngôn ngữ trong một bộ mã và một bộ font chữ càng được khẳng định, khi mà ngành công nghiệp phần cứng cũng như phần mềm máy tính đã có những bước tiến nhảy vọt trong việc khắc phục những rào cản về kĩ thuật.

Unicode là bộ mã kí tự 16 bit, cung cấp 65.536 kí tự, có thể mở rộng cho phép mã hoá tới 1 triệu kí tự, quá nhiều để mô tả cho hầu hết các con chữ của mọi ngôn ngữ trên thế giới. Trong khi bộ mã 8 bit, hiện đang được áp dụng cho tiếng Việt, chỉ cung cấp 256 kí tự cho việc mô tả các con chữ của các ngôn ngữ khác nhau. Tiếng Việt do thuộc hệ Latin nên được thể hiện sẵn trong hầu hết các font chữ Unicode, điều mà một số ngôn ngữ khác như tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Thái... không có được. Các ngôn ngữ không thuộc hệ Latin chỉ được thể hiện ở một vài font Unicode. Unicode cũng dùng 2 byte để mã hoá chữ Việt, nhưng khác với các bảng mã 2 byte do Việt Nam tự xây dựng trước đây. Sự khác nhau ở chỗ, mỗi kí tự trong bảng mã Unicode đều có độ dài 16 bit (2 byte), trong khi ở bảng mã 8 bit chỉ có những chữ nguyên âm mang thanh điệu mới có độ dài 16 bit. Mặt khác, Unicode là bộ mã chuẩn quốc tế nên được các hệ điều hành máy tính, các chương trình ứng dụng hỗ trợ và được tích hợp sẵn trong Windows 2000, WindowsXP, Office 97, Office 2000, Ms Publisher 2000, v.v.

Tiếng Việt được mã hoá trong các font Unicode bao gồm 42 mã ghi chữ phụ âm viết thường và viết hoa (bB, cC, dD, đĐ... zZ), 134 mã ghi chữ nguyên âm có dấu viết thường và viết hoa (àÀ...ạẠ, ăĂ...ặẶ, ..., ơƠ...ợỢ, ..., ỳỲ...ỵỴ), 10 mã ghi chữ nguyên âm không có dấu viết thường và viết hoa (aA, eE, iI, oO, uU), tổng cộng có 186 mã chữ. Ngoài ra còn có mã cho 5 dấu thanh để tạo ra các chữ Việt ở dạng tổ hợp. Như vậy, Unicode đã chứa sẵn các con chữ, hoặc có đủ chỗ để mã hoá chữ viết cho mọi ngôn ngữ trên thế giới, trong đó có chữ quốc ngữ (sắp tới có thể cả chữ Nôm) của Việt Nam. Unicode thực sự làm cho mọi dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau hơn trong một thế giới điện toán mà tất cả các ngôn ngữ đều có vai trò ngang nhau.

Bộ mã vạn năng Unicode đang được vận hành, và đã trở thành chuẩn mực trong thế giới công nghệ thông tin. Sử dụng Unicode để thể hiện chữ Việt là giải pháp hiệu quả nhất, không chỉ làm thay đổi hình ảnh méo mó của chữ Việt vẫn còn ẩn hiện đâu đó trên mạng Internet, mà còn đưa tiếng Việt hoà nhập trong một thế giới mới, thế giới đa ngôn ngữ. Do thấy được tầm quan trọng của Unicode nên hiện nay, một số Website Việt Nam đã chuyển sang dùng mã Unicode thay cho mã TCVN-5712. Và cụ thể hơn, ngày 24-9-2001, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã ban hành bộ mã chữ Việt 16 bit tiêu chuẩn nhà nước TCVN 6909:2001, dựa trên bộ mã Unicode/ISO 10646. Hiện nay, một số cơ quan cũng đã lên kế hoạch chuyển toàn bộ cơ sở dữ liệu của mình sang mã Unicode, trước khi Chính phủ ban hành những quy định chính thức.
Đăng nhập để trả lời
0
Đặc điểm tiếng Việt

Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.

1. Đặc điểm ngữ âm: Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là "tiếng". Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết. Hệ thống âm vị tiếng Việt phong phú và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn.

2. Đặc điểm từ vựng: Mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa. Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng..., chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy.

Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa, ví dụ: đất nước, máy bay, nhà lầu xe hơi, nhà tan cửa nát... Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng. Theo phương thức này, tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới, ví dụ: tiếp thị, karaoke, thư điện tử (e-mail), thư thoại (voice mail), phiên bản (version), xa lộ thông tin, siêu liên kết văn bản, truy cập ngẫu nhiên, v.v.

Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng, chẳng hạn: chôm chỉa, chỏng chơ, đỏng đa đỏng đảnh, thơ thẩn, lúng lá lúng liếng, v.v.

Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một tiếng). Sự linh hoạt trong sử dụng, việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng trong hoạt động. Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc trưng, có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị. Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của khoa học-kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, thì tiềm năng đó còn được phát huy mạnh mẽ hơn.

3. Đặc điểm ngữ pháp: Từ của tiếng Việt không biến đổi hình thái. Đặc điểm này sẽ chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác. Khi từ kết hợp từ thành các kết cấu như ngữ, câu, tiếng Việt rất coi trọng phương thức trật tự từ và hư từ.

Việc sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định là cách chủ yếu để biểu thị các quan hệ cú pháp. Trong tiếng Việt khi nói "Anh ta lại đến" là khác với "Lại đến anh ta". Khi các từ cùng loại kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ thì từ đứng trước giữ vai trò chính, từ đứng sau giữ vai trò phụ. Nhờ trật tự kết hợp của từ mà "củ cải" khác với "cải củ", "tình cảm" khác với "cảm tình". Trật tự chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau là trật tự phổ biến của kết cấu câu tiếng Việt.

Phương thức hư từ cũng là phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt. Nhờ hư từ mà tổ hợp "anh của em" khác với ttổ hợp "anh và em", "anh vì em". Hư từ cùng với trật tự từ cho phép tiếng Việt tạo ra nhiều câu cùng có nội dung thông báo cơ bản như nhau nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm. Ví dụ, so sánh các câu sau đây:

- Ông ấy không hút thuốc.

- Thuốc, ông ấy không hút.

- Thuốc, ông ấy cũng không hút.

Ngoài trật tự từ và hư từ, tiếng Việt còn sử dụng phương thức ngữ điệu. Ngữ điệu giữ vai trò trong việc biểu hiện quan hệ cú pháp của các yếu tố trong câu, nhờ đó nhằm đưa ra nội dung muốn thông báo. Trên văn bản, ngữ điệu thường được biểu hiện bằng dấu câu. Chúng ta thử so sánh 2 câu sau để thấy sự khác nhau trong nội dung thông báo:

- Đêm hôm qua, cầu gãy.

- Đêm hôm, qua cầu gãy.

Qua một số đặc điểm nổi bật vừa nêu trên đây, chúng ta có thể hình dung được phần nào bản sắc và tiềm năng của tiếng Việt.
Đăng nhập để trả lời
0
Chữ viết

Âm vị là kí hiệu âm thanh nhỏ nhất trong ngôn ngữ mà tai ta có thể nghe được. Kí hiệu âm thanh đó cần phải ghi thành kí hiệu vật chất để mắt ta có thể nhìn thấy được, do vậy mà có chữ viết, có hệ thống văn tự của một ngôn ngữ. Trong các ngôn ngữ, mỗi âm vị đều được ghi lại bằng một con chữ (chữ cái), nhưng con chữ và âm vị là không giống nhau. Chẳng hạn âm vị /b/ trong tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp được thể hiện về mặt âm thanh tương đối giống nhau, nhưng lại khác nhau về mặt chữ viết. Trong tiếng Việt, âm vị /u/ đứng cuối âm tiết khi được ghi bằng chữ "o" (đào hào), khi được khi bằng chữ "u" (rau câu). Để hạn chế những bất cập của chữ viết trong việc nghiên cứu cũng như học tập các ngôn ngữ khác nhau, người ta đã đề ra hệ thống kí hiệu phiên âm quốc tế. Hệ thống này đã được Hội ngữ âm học quốc tế công nhận năm 1888.

Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, mỗi một tiếng hay một âm tiết, một hình vị được ghi thành một chữ rời, ranh giới để nhận diện các chữ là khoảng trống (space) giữa các tiếng (âm tiết, hình vị).

Chú ý phân biệt chữ, với cách hiểu là tập hợp chữ viết của một âm tiết (hay một tiếng) như vừa nói ở trên, ví dụ: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", với chữ được hiểu là đơn vị kí hiệu trong một hệ thống chữ (con chữ, chữ cái), ví dụ chữ "a, b, c..." và chữ được hiểu là hệ thống kí hiệu bằng đường nét được đặt ra để ghi lại tiếng nói của con người, ví dụ: chữ quốc ngữ, chữ Nôm, chữ A-rập, chữ Hán, chữ Latinh.

Tiếng Việt có 41 âm vị: 23 âm vị phụ âm và 16 âm vị nguyên âm, 2 âm vị bán nguyên âm. Để ghi lại 41 âm vị này, tiếng Việt dùng 29 chữ cái (con chữ) sau (xếp theo trật tự abc..):

a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y

Ngoài ra, tiếng Việt du nhập thêm 4 chữ cái f, j, w, z để viết các từ ngữ mượn của tiếng nước ngoài bằng phiên âm, và đặc biệt là để viết các thuật ngữ khoa học. Ví dụ: Flôbe (Flaubert), flo-rua (fluorur), juđô (judo), xe jip (jeep), jun (joule), watt, wolfram, Môza (Moza), zero, Zn, v.v.





CHÍNH TẢ

1. Chính tả là cách viết chữ được coi là chuẩn, nó có tính chất bắt buộc đối với toàn thể cộng đồng ngôn ngữ. Sự thống nhất chính tả biểu hiện tính thống nhất của một ngôn ngữ. Chuẩn chính tả, cũng như mọi chuẩn ngôn ngữ khác, không phải là cái gì nhất thành, bất biến. Có những chuẩn cũ đã trở thành lỗi thời, nhường chỗ cho những chuẩn mới ra đời hoặc thay thế nếu nó đáp ứng nhu cầu của đời sống, phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ và được xã hội chấp nhận. Chính tả tiếng Việt cũng không nằm ngoài cái quy luật đó.

2. Do phát âm của tiếng Việt không thống nhất trong cả nước, phát âm của các miền, các địa phương có những mâu thuẫn khác nhau với chính tả, tạo ra những vấn đề chính tả khác nhau Như vấn đề hỏi/ngã đối với miền Nam và phần lớn miền Trung, vấn đề ch-/tr-, s-/x- đối với miền Bắc, v.v. Ngoài ra còn có những trường hợp cần chú ý như:

- ăm - âm, ăp - âp, ay - ây được phân biệt trong mọi phương ngữ, nhưng ở phương ngữ miền Bắc, chỉ riêng với một số từ lại không có sự phân biệt. Ví dụ: con tằm phát âm là con tầm; cặp sách phát âm là cập sách; dạy học phát âm là dậy học, v.v.

- Có khi cùng một từ (hình vị), lại có hai hay ba biến thể ngữ âm và biến thể chính tả tương ứng khác nhau ở các phương ngữ. Ví dụ bệnh tật và bịnh tật; thưa gửi và thưa gởi; lời lẽ và nhời nhẽ, v.v.

Nhìn chung, chính tả của tiếng Việt tập trung trong các trường hợp sau đây:



- Âm tiết có phụ âm đầu
(hoặc bán nguyên âm đầu):

ch-/tr- d-/gi- d-/gi-/r- d-/gi-/v-
l-/n- s-/x- hw-/ngw-/qu-(kw-)/w-
[w viết bán nguyên âm "u" trong oa (wa), oă (wă), oe (we), (q)ua (wa), (q)uă (wă), uâ (wâ), (q)ue (we), uê (wê), uơ (wơ), uy (wi) ở những âm tiết như: hoa, ngoặc, loe, qua, quăn, uất, quen, huê, huơ, nguy...]
- Âm tiết có nguyên âm chính
(kết thúc bằng phụ âm hoặc bán phụ âm):

e-/ê- trong: em/êm ep/êp
i-/iê- trong: im/iêm ip/iêp iu/iêu
i-/ư- trong: iu/ưu
o-/oo- trong: on/oong ot/ooc
o-/ô-/ơ- trong: om/ôm/ơm op/ôp/ơp
u-/uô- trong: ui/ưôi un/uôn ut/uôt
ư-/ươ- trong: ưi/ươi ưu/ươu

- Âm tiết có phụ âm cuối:

-c/-t -n/-ng
- Âm tiết có các khuôn vần:

ai/ay ao/au ên/ênh êch/êt
ich/it in/inh oi/oai

- Âm tiết có thanh điệu:

hỏi/ngã ngã/nặng
- Âm tiết có phụ âm đầu:

d-/nh- gi-/tr- l-/nh-

- Âm tiết kết thúc bằng:

-ăm/-âm -ăp/-âp -au/-âu -ay/-ây -i/-y (sau k-, h-, l-, m-, qu-, t-)

Để nắm vững chính tả tiếng Việt, không cần thiết phải nhớ hết chính tả của mỗi từ ngữ, chỉ cần nắm vững chính tả của một số lượng âm tiết cụ thể, khác nhau đối với từng phương ngữ. Vấn đề này luôn được phản ánh đầy đủ, cụ thể trong các cuốn từ điển chính tả tiếng Việt.

Đăng nhập để trả lời
0
Việt Ngữ

Xin đóng góp ý kiến như sau. Muốn hiểu vấn nạn này ta phải lùi lại thời các ông Cố đạo người Pháp (nổi bật nhất là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes 1593-1660) sáng chế ra chữ Việt. Các ông Cố đạo nghe người Việt nói và cố gắng dùng mẫu tự Latin để ghi, nên mới có tình trạng G và GH (và NG với NGH). Như ta đã biết trong Pháp văn, chữ G đọc là gờ khi đứng trước các nguyên âm A (như Garder = canh gác), nguyên âm O (như Gomme = cục gôm, cục tẩy) và U (như Guerre = chiến tranh; Guitare = cây đàn). Nhưng cũng trong Pháp văn, chữ G không đọc là gờ mà lại đọc là dz khi đứng trước các nguyên âm E và I. Ví dụ: Général (tướng lãnh) đọc là dzê nê ral, Genou (đầu gối) đọc là dzơ nu, Gilet (áo vest) đọc là dzi lê, Gin (rượu mạnh) đọc là dzin. Do đó khi nghe người Việt nói "chiếc ge" ông cố đạo không thể viết là Ge, vì theo ông ấy viết như vậy phải đọc là dze. Cũng vậy khi nghe người Việt nói "gi" (ghi chép) ông không thể viết viết là Gi, vì viết như vậy ông sẽ đọc là dzi. Từ đó các ông đã sáng tác ra phụ âm kép GH, dùng cho trường hợp E và I. Khi gặp GH đứng trước E và I, thì các ông ấy nhớ là phải đọc là Gờ.
Nước ta chưa có một Hàn Lâm Viện về ngôn ngữ, nên chưa ai có thẩm quyền thay đổi các trường hợp không hợp lý này. Thiết nghĩ một ngày nào đó chúng ta cũng nên sửa đổi và đơn giản hoá một số trường hợp như: Gi chép (cứ ráp vần là gờ + i = gi, Ge tàu (ráp vần là gờ + e = ge); fương fáp (ráp vần fờ + ương = fương, fờ + áp = fáp). Vài ý kiến đóng góp, nếu có sai sót kính mong quý độc giả lượng thứ.
Nguyễn Đồng Danh (Trường Việt ngữ Văn Lang - Sydney)


Để viết cho đúng g và gh trong chữ Việt, ta có thêå theo nguyên tắc sau:
- Viết g khi phụ âm kế tiếp sau g là: a, ă, â, o, ô, ơ u, ư. Thí dụ nhà ga, cố gắng, cái gân, gò mối, gồng gánh, gợn sóng, gỗ gụ, củ gừng.
- Viết gh khi phụ âm kế tiếp sau gh là: e, ê, i. Đó là các phụ âm hẹp. Thí dụ các ghế, gồ ghề, ghi nhớ.
Cũng áp dụng nguyên tắc này khi viết ng và ngh. Vẫn những nguyên âm hẹp e,ê,i đi sau 'ngh'. Thí dụ nghe nhìn, nghênh tiếp, nghiên cứu.
Tuy nhiên, đặc biệt là chữ "gì " (cái gì ?), là vần bắt đầu với nguyên âm ' i ' mà lại không có chữ ' h ' là vì: trước ' i ' không phải là phụ âm " g " hay " ng " mà là phụ âm " gi "; (theo đúng thì " giờ i gii huyền giì " ) thay vì viết 2 chữ " i ", mình viết 1 chữ " i " mà thôi. Đây là cái khác biệt giữa " gì " và " ghì ".

(Mai Khánh Thư, Flynn, ACT, 2615), (Quế Quang, Bankstown, NSW 2200), (H. Huỳnh, gởi qua Vietluan Online)
Đăng nhập để trả lời
0
Một vài cảm nhận sơ lược về, đặc điểm ngữ âm & từ vựng tiếng Huế

Xứ Huế vốn là kinh đô cũ của triều Nguyễn, một triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta. Là một tỉnh có diện tích 5.009,2 km2, số dân 1.045.134 người; Đông giáp Biển Đông, Tây giáp Lào, Nam giáp xứ Quảng, Bắc giáp Quảng Trị. Toàn tỉnh Thừa Thiên-Huế hiện nay có 8 huyện là A Lưới, Hương Thuỷ, Hương Trà, Nam Đông, Phong Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền, và Thành phố Huế. Do đó, có thể nói Thừa Thiên-Huế là một địa phương nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, nơi được coi là địa bàn có tầm chiến lược quan trọng. Chính vì thế mà người ta đã ví Huế là “chiếc đòn gánh gánh hai đầu đất nước”. Với một bề dày văn hoá vốn có của mình, xứ Huế luôn được đánh giá là nơi còn chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá độc đáo mà không phải vùng nào, địa phương nào cũng có. Một trong những điều đặc biệt ấy phải kể đến tiếng nói của người xứ Huế, hay như một số người thường gọi là phương ngữ (regional dialect) Huế, hoặc nói một cách chính xác hơn là thổ ngữ (subdialect) Huế.

Ngày nay, cùng với việc đầu tư nghiên cứu ngày một nhiều hơn, sâu hơn về nền văn hoá Huế thì vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ, tiếng nói của người Huế cũng đang được các nhà khoa học quan tâm đặt ra. Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu về lĩnh vực này cho đến nay hầu như chưa có nhiều do đó mà người ta chưa thể đánh giá được hết mọi tiềm năng về bản sắc ngôn ngữ của vùng này. Chính vì vậy, qua một số kết quả nghiên cứu và khảo sát bước đầu, trong khuôn khổ một bài viết ngắn chúng tôi xin được đưa ra một vài cảm nhận nhỏ về tiếng Huế với mong muốn góp một phần hiểu biết ít ỏi của mình để tìm hiểu thêm về ngôn ngữ Huế nói riêng và nền văn hoá Huế nói chung.

1/ Một vài cảm nhận về đặc điểm ngữ âm (phonetic)

Trong quá trình giao tiếp, hầu hết những người ở địa phương khác đều có chung một cảm nhận là người Huế nói năng nhỏ nhẹ, dễ thương, nhất là giới nữ. Cái ý “dễ thương” ở đây có lẽ bao hàm cả ý khen hay, và đẹp. Điều này có thể hơi khác so với hai vùng thổ ngữ láng giềng là Quảng Nam và Quảng Trị. Về phía Nam, bên kia đèo Hải Vân, người xứ Quảng phát âm hoàn toàn khác với tiếng Huế, vì giọng nói (ccent) của họ gần với giọng nói của người miền Nam. Còn ở phía Bắc, mặc dù có cùng một đặc trưng ngữ âm gần giống với tiếng Huế, thế nhưng tiếng Quảng Trị vẫn có một cái gì đó khiến cho người nghe có cảm giác nặng hơn và càng xa dần về phía Bắc (Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An,...) thì đặc trưng ấy càng rõ ràng hơn.

Tuy nhiên, nếu để ý kĩ, chúng ta thấy rằng, người Huế có thói quen nói chậm, nói nhỏ, và có xu hướng kéo dài về cuối câu, nhất là những câu có biểu lộ sắc thái tình cảm; đồng thời trong một câu nói, người Huế cũng có thói quen nhấn nhá ở một số điểm trong khi nói. Chính đặc điểm này mà người nghe có cảm giác rằng người Huế nói năng nhỏ nhẹ, mềm mại, dịu dàng, và đôi lúc có vẻ đài các. Thế nhưng, cũng chính do đặc điểm này mà người nghe đôi lúc cảm thấy khó nghe, nhất là những lúc nói nhanh.

Qua quá trình tiếp xúc với cư dân ở một số địa bàn của Thừa Thiên-Huế như làng Mỹ Xá, làng Đông Xuyên (Quảng Lộc - Quảng Điền), chúng tôi nhận thấy rằng, đại bộ phận ở lớp người lớn tuổi thường có hiện tượng nối âm, nuốt âm trong khi nói. Ví dụ: “Eng chía không có nhà” có nghĩa là “Anh chị nớ (ấy) không có nhà”. Hoặc “Múa không có con” tức là “Mụ nớ (ấy) không có con”. ở đây, chía là hệ quả của hiện tượng nối âm giữa hai từ "chị" và "nớ" trong khi nói nhanh, tức là hai từ này đã bị chồng lên nhau trong khi phát âm (có người cho đây là hiện tượng nói nhịu: lapsus linguae). Tương tự như vậy, trường hợp của múa là sự trùng nhau của hai từ "mụ" và "nớ". Hiện tượng này, theo chúng tôi, về cơ bản gần giống với hiện tượng ổng, bả, chỉ,... của người miền Nam.

Bên cạnh đó, người ta cũng nhận thấy rằng người Huế trong lúc nói năng hầu như phát âm không phân biệt được thanh hỏi với thanh ngã. Điều này thể hiện rất rõ, kể cả đối với lớp trẻ hiện nay. Và điều quan trọng hơn cả là nó chi phối mạnh mẽ tới mức thể hiện ngay cả trên chữ viết (chính tả = orthography); tức là trên bình diện chính tả, để phân biệt dấu hỏi hay ngã quả là một điều hết sức khó khăn đối với họ. Cá biệt, có một số địa bàn còn xảy ra cả hiện tượng không phân biệt được thanh nặng với thanh huyền như: bụi/bùi, đạn/đàn, mụ/mù, nhạn/nhàn, phụ/phù,... Do đó, người nghe rất khó phân biệt được các dạng thanh điệu này trong tiếng Huế.

Ngoài hiện tượng không phân biệt về mặt thanh điệu như trên, thì hiện tượng phát âm không phân biệt một số phụ âm đầu, phụ âm cuối hay một số vần cũng tạo nên một đặc trưng lớn cho tiếng Huế. Trong số đó phải kể đến một số trường hợp điển hình như sau:

- Phát âm không phân biệt hai phụ âm đầu D- với NH- như: dà thay cho nhà, danh dẹn/nhanh nhẹn, dăn dúm/nhăn nhúm, dắc dở/nhắc nhở, dăn dở/nhăn nhở, dẹ dàng/nhẹ nhàng, dịp dàng/nhịp nhàng, dỏ dẹ/nhỏ nhẹ, dộn dịp/nhộn nhịp, dớ dung/nhớ nhung,...

- Phát âm không phân biệt hai phụ âm cuối -NG với -N như: lãng mạng/lãng mạn, chứa chang/chứa chan, đang lác/đan lát, vang vỉ/van vỉ, tai nạng/tai nạn,... và -C/-T như: các bụi/cát bụi, buốc giá/buốt giá, thành đạc/thành đạt, dìu dắc/dìu dắt, bất diệc/bất diệt,...

- Phát âm không phân biệt vần -IÊU với -IU, -ƯƠU, -ƯU như: điều hiêu/đìu hiu, hiêu hiêu/hiu hiu, biều riếu/bìu ríu, mắc miếu/mắc míu, diệu dàng/dịu dàng, liếu lo/líu lo, hiêu nai/hươu nai, ốc biêu/ốc bươu, biếu/bướu, riệu/rượu, khiếu/khướu, hiêu trí/hưu trí, miêu mẹo/mưu mẹo...

- Phát âm không phân biệt hai khuôn vần -OAI với -OI như: coai/coi, boái toán/bói toán, moai móc/moi móc, đoái khổ/đói khổ, loai choai/loi choi, hoải han/hỏi han,...

Qua quá trình khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng những hiện tượng trên xảy ra một cách rất phổ biến trong cách phát âm của người Huế. Chính đặc điểm này đã tạo nên sắc thái riêng cho tiếng Huế; và có thể nói rằng đây chính là nét khác biệt lớn giữa tiếng Huế với các tiếng địa phương khác.

Ngoài những đặc trưng cơ bản trên, người ta còn nhận thấy rằng người Huế có một thói quen hết sức phổ biến trong khi nói đó là phát âm hai nguyên âm -O- và -Ô- trong một số âm tiết nhất định thành -OO- và -ÔÔ-. Ví dụ như: con thành coong, còn/coòng, bón/boóng, đón/đoóng, khóc/khoóc, đọt (ngọn)/đoọc, ngọt/ngoọc, học/hoọc lon/loong,.. hay bông/bôông, tồn/tôồng, khôn/khôông, tốn/tôống, đông/đôông, cột/côộc, dốt/dôốc, một/môộc,... Sở dĩ có hiện tượng này theo chúng tôi có lẽ là do áp lực của việc phát âm không phân biệt hai phụ âm cuối -C/-T và -NG/-N mà tạo thành. Vấn đề về cơ chế của hiện tượng này như thế nào, chúng tôi xin phép sẽ được trình bày trong một hướng nghiên cứu khác.

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi cũng nhận thấy thêm rằng, trong tiếng Huế hiện nay, ở một số vùng, nhất là những vùng làng mạc xa thành phố; hoặc ở một số cá nhân, chủ yếu tập trung ở lớp người lớn tuổi không trực tiếp chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá, ngôn ngữ mới còn tồn tại một số hiện tượng phát âm không phân biệt như: Đ-/D- (đa thịt/da thịt, đắc/dắt, đẻo đai/dẻo dai, đép/dép, đưới/dưới,...), B-/V- (đầy bun/đầy vun, bo gạo/vo gạo, bót/vót, bui bẻ/vui vẻ, bút gạo/vút gạo,...), L-/NH- (lạt/nhạt, hoa lài/hoa nhài, lát/nhát, lanh/nhanh,...), CH-/GI- (chàn bầu/giàn bầu, rau chên/rau giền, ngủ một chớc/ngủ một giấc, con chán/con gián, chập/giập,...), TR-/D-/GI- (troi/dòi, tra/già, trùn/giun, trữa/giữa,...), PH-/B- (phỏng/bỏng, phịa/bịa, đỏ phừng phừng/đỏ bừng bừng,...), -INH/-ÊNH (thinh thang/thênh thang, minh mông/mênh mông, linh đinh/lênh đênh,...), -ENG/-ANH (keng/canh, xeng/xanh, lèng/lành, kéng/cánh,...).

Như vậy, xét về mặt ngữ âm của tiếng Huế, chúng ta thấy ở đó luôn chứa đựng khá nhiều điều thú vị mà các nhà nghiên cứu cần phải đầu tư khám phá nhiều hơn để có thể hiểu sâu hơn và kĩ hơn về tiếng Huế.

2/ Một vài cảm nhận về đặc điểm từ vựng (lexicon)

Ngoài một số đặc điểm cơ bản về ngữ âm như trên, chúng ta cũng nên thử tìm hiểu thêm một số đặc điểm cơn bản về từ vựng truyền thống của tiếng Huế để khám phá thêm nhiều điều thú vị khác nữa trong kho tàng ngôn ngữ Huế nói chung và thổ ngữ (subdialect) Huế nói riêng.

Trong quá trình làm việc, khi so sánh với bảng từ vựng của cuốn Từ điển từ cổ của GS Vương Lộc, và một số nguồn tư liệu khác, chúng tôi nhận thấy rằng trong tiếng Huế hiện nay còn tồn tại khá nhiều từ được xem là cổ (archaic), hoặc có yếu tố cổ.

Ví dụ như: ăn lửa (ăn chịu); áo chế (áo tang); bá (vá trong vá áo); bạ bách (dối, không thật); bái (vái, lạy); bậm (to, mập); bấu (cấu, véo); béng (bánh); bề (tốt, đẹp); biền (khoảnh đất bồi sát bờ sông); biếng (lười, nhác); biệng (đánh); bín (bí trong quả bí); bình tinh (hoàng tinh); bói khoa (bói toán); bông (hoa); bụ (vú); bui (vui); bui bẻ (vui vẻ); buông bức (vuông vức); bức ngựa (bức phản); cảy (sưng); chánh (nhánh); chảu (đẹp, xinh); chảu lảy (rất xinh, rất đẹp); chang mày (chân mày); chay vay (lo lắng, sốt sắng); cheo (nhảy); côi (trên); cươi (sân); dôn (chồng); dể ngươi (coi thường); đọt (ngọn); eng (anh); im (dim); lần đân (lần khân, lì lợm); ló (lúa); lôống (lớn, to); mại lối (ngày trước, hôm trước, không xác định cụ thể); mắt mỏ (đắt đỏ); mè xưa/mì xưa (mở hàng); mụ nghẹ (lọ nồi); mược (mặc trong mặc áo, mặc kệ); nương (vườn); ốt dột (xấu hổ); rào (sông); rẹn (rễ); roọng (ruộng); rú (núi); sợ lện (sợ sệt); tởn (khiếp, sợ); thoét (thét, la, mắng); tra (già); trầm trây (bài bây); trây (bôi); trẽn (xấu hổ, ngượng); triêng (quang, gánh); trốc = trôốc (đầu); trốc cúi (đầu gối); tru (trâu); xăng văng (lăng xăng); xeng (xanh); xửng vửng (choáng váng);...

Có một điều mà cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu cũng phải thừa nhận rằng, Huế chính là mảnh đất còn chứa đựng nhiều yếu tố ngôn ngữ cổ nhất. Điều này không chỉ thể hiện ở mặt ngữ âm mà cả ngay trong lớp từ vụng. Đặc biệt hơn, các giá trị này, cho đến nay hầu như vẫn còn lưu giữ lại khá nguyên vẹn và phong phú. Và đó cũng chính là điều lí thú dành cho những người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ nói riêng và văn hoá xã hội nói chung khi muốn tìm hiểu và nghiên cứu về Huế.

3/ Kết luận

Như vậy, có thể nói, tiếng Huế có một vai trò hết sức đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ và tiếng nói của nước ta. Đây là vùng thổ ngữ hết sức đặc biệt, nó vừa đa dạng vừa phong phú và cũng không kém phần tinh tế ở trong đó. Và cũng có thể coi đây như là vùng thổ ngữ có tính chuyển tiếp giữa vùng phương ngữ Nam (từ Quảng Nam vào đến cực Nam), và phương ngữ Trung (từ Quảng Trị đến Thanh Hoá). Chính vì vậy, nó vừa có tính giao thoa (interference), vừa có tính ổn định trong hệ thống tiếng nói toàn quốc. Do đó, tiếng Huế luôn là nơi chứa đựng, tồn tại và phát sinh nhiều vấn đề hết sức lí thú về đặc điểm ngữ âm cũng như từ vựng. Việc nghiên cứu tiếng Huế một cách đầy đủ, có hệ thống sẽ là điều kiện rất tốt cho công tác nghiên cứu của một số ngành như lịch sử, văn hoá, xã hội học, dân tộc học, lịch sử tiếng Việt, ngữ âm lịch sử tiếng Việt, và đặc biệt là ngành phương ngữ học. Thông qua việc nghiên cứu này chúng ta có thể tìm ra những giải pháp tối ưu cho việc tìm tòi, phát hiện, bảo tồn các giá trị văn hoá phi vật thể của nền văn hoá Huế nói chung và tiếng Huế nói riêng. Đồng thời, việc nghiên cứu các đặc điểm ngữ âm, tiếng nói, đặc trưng từ vựng của tiếng Huế cũng giúp ích rất lớn cho việc hoạch định một kế hoạch chuẩn hoá chính tả (standardization of orthography) - một vấn đề luôn có tính thời sự - cho vùng Thừa Thiên-Huế, cũng như công tác nghiên cứu từ vựng học và từ điển học ở nước ta./.
Đăng nhập để trả lời
0
Quy tắc dấu thanh trong tiếng Việt

Tiếng Việt được thể hiện qua hai dạng chữ viết, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Các vấn đề nghiên cứu để biểu diễn chữ Nôm trong công nghệ thông tin mới được nghiên cứu và gần đây đã thu được những thành công bước đầu. Mối quan tâm chính của giới công nghệ thông tin trong những năm qua là tập trung nghiên cứu chữ quốc ngữ để biểu diễn bên trong máy tính. Kết quả của quá trình nghiên cứu là đã công bố được một bảng mã tiêu chuẩn cho tiếng Việt, viết tắt là TCVN-5712 (1993). Cùng với bảng mã TCVN-5712 là sự ra đời của bộ font chữ ABC, được quy định là tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế mà bảng mã TCVN-5712 không được sự ủng hộ của giới làm phần mềm, và kết quả là trên lãnh thổ Việt Nam cũng như ở nước ngoài đã sản sinh ra rất nhiều bộ mã cho chữ Việt, dẫn đến một tình trạng hỗn độn chữ Việt trên thị trường công nghệ thông tin. Việc ra đời của nhiều phần mềm gõ chữ Việt có tích hợp nhiều cách bỏ dấu khác nhau cũng góp phần tạo nên sự hỗn độn đó. Hậu quả là gây trở ngại không nhỏ cho việc lưu trữ, xử lí cũng như trao đổi ngữ liệu trên máy tính cá nhân, trên mạng máy tính, trên Internet, v.v.

Để tránh sự lệ thuộc vào những thói quen mang tính chất cá nhân, thiết nghĩ việc xác định vị trí đặt dấu thanh cho chữ Việt cũng cần được chuẩn hoá, làm cơ sở cho những người thiết kế các phần mềm gõ chữ Việt.



Định nghĩa.

1. Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, một âm tiết bao giờ cũng được phát ra với một thanh điệu, và tách rời với âm tiết khác bằng một khoảng trống (space). Trên chữ viết, mỗi âm tiết tiếng Việt được ghi thành một "chữ". Vd: “hoa hồng bạch” gồm 3 chữ hoặc 3 âm tiết.

2. Con chữ nguyên âm là những con chữ thường dùng để viết các nguyên âm
a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.

Chú ý: Trong tiếng Việt, các con chữ O và U được dùng không chỉ để viết các nguyên âm o và u, mà còn để viết một bán nguyên âm (hay bán phụ âm) w (đọc là uờ). Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm đệm trong các trường hợp như toán, toàn, xoan, tuần, tuấn, quẩn... thì gọi là bán nguyên âm. Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như đào hào, báo cáo, táo, đau, rau câu... thì gọi là bán phụ âm. Với con chữ I, cũng tương tự, nó vừa dùng để viết nguyên âm i (im ỉm, in ít...), vừa dùng để viết bán phụ âm i đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như: tai tái, cày cấy, táy máy... (xem thêm Bảng nguyên âm). Chúng tôi gộp chung tất cả vào nhóm con chữ nguyên âm.

3. Con chữ phụ âm là những con chữ chỉ dùng để viết các phụ âm:

b, c, d, đ, (f), g, h, (j), k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, (w), x, (z).

4. Tổ hợp con chữ phụ âm là những tổ hợp hai hoặc ba con chữ phụ âm, dùng để viết một phụ âm:

ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr, gi, qu.

Chú ý: Trường hợp gi và qu thì u và i không dùng để viết một nguyên âm nào cả, cũng gọi là những tổ hợp con chữ phụ âm.



Quy tắc

Quy tắc 1. Với những âm tiết chỉ có một con chữ nguyên âm, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm đó. Vd:

á à, ì ạch, ọ ẹ, ủ rũ, ọp ẹp, ục ịch, hà, lán, giá, giục, quả, quỹ, quỵt...
(trường hợp gi và qu xem định nghĩa 4)

Quy tắc 2. Với những âm tiết, mà trong âm tiết đó chỉ cần có một con chữ nguyên âm mang dấu phụ (Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư) và không kể kết thúc bằng con chữ gì, thì dấu thanh bao giờ cũng đặt ở con chữ đó (riêng ƯƠ, dấu đặt ở Ơ).

ế ẩm, ồ ề, ở rể, ứ ừchiền chiện, cuội, cừu, duệ, duềnh, giội, giường,
ngoằng, quyệt, ruỗng, rượu, siết, suyển, tuẫn tiết, tiến triển...

Quy tắc 3. Với những âm tiết có hai con chữ nguyên âm và kết thúc bằng một con chữ phụ âm hoặc tổ hợp con chữ phụ âm, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót. Vd:

choàng, hoạch, loét, quẹt, suýt, thoát, xoèn xoẹt...

Quy tắc 4. Với những âm tiết kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót.Vd:

hoạ, hoè, huỷ, loà xoà, loé, suý, thuỷ...

Quy tắc 5. Với những âm tiết kết thúc bằng hai hay ba con chữ nguyên âm khác với oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm áp chót.Vd:

bài, bảy, chĩa, chịu, của, đào hào, giúi, hoại, mía, ngoáy, ngoáo,
quạu, quẹo, ngoẻo, chịu, chĩa...



Chú ý

Có một vấn đề được nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây, đó là vị trí dấu thanh trong các văn bản, sách báo tiếng Việt thường không xử lí thống nhất với nhau, gây không ít khó khăn cho việc trao đổi cũng như học tập tiếng Việt. Trước nay người ta chỉ quan tâm đến việc đặt dấu thanh vào đâu trong âm tiết cốt để tạo nên "một cái nhìn" cân đối cho chữ viết. Nhưng ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của tin học, máy tính ngày càng thâm nhập rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì yêu cầu thống nhất trong lưu trữ, xử lí cũng như trao đổi ngữ liệu là quan trọng hơn nhiều so với việc xem chữ viết bỏ dấu có cân đối hay không. Cần khẳng định lại mấy điểm sau đây:

1. Chuẩn về vị trí dấu thanh trong âm tiết tiếng Việt đã được xác định từ lâu trong phần lớn trường hợp, về cơ bản tuân theo 5 quy tắc nêu trên. Cho đến nay, chỉ tồn tại sự không nhất trí với các tổ hợp oa, oe, ua, ue, uy. Chẳng hạn viết HỌA, HÒE, HỦY, QỦA, QỦE, QÚY, hay HOẠ, HOÈ, HUỶ, QUẢ, QUẺ, QUÝ?

2. Trong tiếng Việt, các con chữ O và U được dùng không phải chỉ để viết các nguyên âm o và u, mà còn để viết một bán nguyên âm (còn gọi là bán phụ âm) w trong một số trường hợp nhất định như: oa (wa), oe (we), uy (wi), qua (kwa), que (kwe), quy (kwi) (c, q, k phiên âm quốc tế đều là /k/), v.v... Có nghĩa là âm w trong các tổ hợp nói trên thật ra không thuộc thành phần nguyên âm của âm tiết, nguyên âm ở đây là a, e, i (viết bằng Y).

3. Theo quy tắc 1, dấu thanh đánh trên con chữ viết nguyên âm; vậy viết HOẠ, HOÈ, HUỶ, QUẢ, QUẺ, QUÝ là hợp quy tắc (giống như viết HẠ, HÈ, KỸ, CẢ, KẺ), nên coi đó là chuẩn, thống nhất với các trường hợp tương tự khác như NGOAN NGOÃN, KHOÁNG ĐẠT, NGÚNG NGUẨY... (không ai viết NGOAN NGÕAN, KHÓANG ĐẠT, NGÚNG NGỦÂY...). Việc bỏ dấu thanh trên O và U trong những tổ hợp này là kết quả của một sự nhầm lẫn, cho rằng O và U ở đây viết các nguyên âm o và u.

4. Các trường hợp trên đây khác các trường hợp ia, ua, ưa, là những nguyên âm đôi. Đối với nguyên âm đôi, thì dấu thanh đánh trên con chữ đầu của tổ hợp, tức là đánh trên I (IA), U (UA), Ư (ƯA). So sánh CỦA và QUẢ, THỦA và THOẢ. Trong giạ (giạ lúa), nguyên âm là a, nên đánh dấu nặng dưới A: GI + Ạ; khác với trong gịa (giặt gịa), có nguyên âm đôi ia (I ở đây vừa tổ hợp với G viết phụ âm gi, vừa tổ hợp với A viết nguyên âm đôi ia), nên đánh dấu nặng dưới I: GI + ỊA (đúng ra là có hai chữ I, nhưng đã lược bỏ bớt một thành GỊA).

Cũng nên lưu ý là tương ứng với các nguyên âm đôi ia, ua, ưa, có các nguyên âm đôi iê-, uô-, ươ- (luôn luôn có phụ âm hoặc bán nguyên âm cuối), dấu thanh lại đánh trên con chữ thứ hai của tổ hợp IÊ, UÔ, ƯƠ (quy tắc 2). Cho nên những âm tiết như HUỆ, THUỞ, từ lâu viết nhất trí với dấu thanh trên Ê, Ơ, không ai đánh dấu thanh trên U và viết HỤÊ, THỦƠ.

5. Đồng thời với việc chuẩn hoá dấu thanh, cũng cần chuẩn hoá và thống nhất chính tả trong các trường hợp sau đây:

a) Nhất loạt viết khuôn vần /-i/ bằng I (trừ tên riêng) trong các âm tiết H-, K-, L-, M-, T- (nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI, giống như viết BI, CHI, DI, v.v.; không nên viết HY, KY, LY, MY, TY, cũng như không ai viết BI thành BY, CHI thành CHY, v.v.);

Nhất loạt viết khuôn vần /-ui/ (u ngắn) bằng UY (nhất loạt viết QUY, giống như viết HUY, NGUY, TUY, v.v.; không nên viết QUI, cũng như không ai viết NGUY thành NGUI, HUY thành HUI, v.v.).

c) Khi “I” đứng một mình làm thành một từ (hoặc một âm tiết), thì: nếu là từ Hán-Việt, nên viết “Y”, chắng hạn viết Y KHOA, Ỷ THẾ, Ý KIẾN, ..., không viết I KHOA... Í KIẾN...; nếu là từ thuần Việt, nên viết “I”, chẳng hạn viết Ỉ EO, Í ỚI..., không viêt Ỷ EO, Ý ỚI....

6. Nếu căn cứ vào lí do thẩm mĩ để cho rằng bỏ dấu theo kiểu HÒA, QỦA... là đúng vì nó cân đối, thì trong các trường hợp sau tại sao không bỏ dấu lại cho nó cân đối. Ví dụ:



THUỞ
(thuở ấu thơ)

THỦƠ
(thủơ ấu thơ)

NGOÃN
(ngoan ngoãn)

NGÕAN
(ngoan ngõan)

NGOẠN
(ngoạn mục)

NGỌAN
(ngọan mục)

HUYỀN
(huyền diệu)

HUỲÊN
(huỳên diệu)

v.v.


Đăng nhập để trả lời
0
Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam

Chữ Hán
Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ). Điều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

Chữ Nôm
Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.

Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).

Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn "Thiền Tông Bản Hạnh". Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.

Chữ Quốc Ngữ hiện nay
Việc chế tác chữ Quốc Ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt - Bồ - La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt - Bồ - La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt - Bồ - La (1772), tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.
Đăng nhập để trả lời
0
Linh hồn tiếng Việt

Tôi có một bạn đồng nghiệp người Tiệp Khắc, tên là Tvó Vasiljev, tuổi ngoại ngũ tuần, nổi tiếng giỏi ngoại ngữ, tiếng Việt anh nói giọng Hà Nội đặc đến nỗi ai cũng nói nếu không trông thấy đôi mắt xanh và mái tóc vàng của anh thì tưởng đâu anh là dân Tràng An chính cống.

Một hôm cùng anh đi máy bay từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội, khi ngồi trong ga đợi giờ ra máy bay, tôi bày trò đố anh mấy câu tục ngữ xem thử anh hiểu tiếng Việt sâu đến mức nào. Thoạt tiên tôi đố anh câu Vàng gió đỏ mưa. Chỉ sau 5 phút anh hỏi lại:

- Có phải cũng nói là Vàng thì gió, đỏ thì mưa không?

Tôi nói phải, thì anh cho biết là nhiều thứ tiếng châu Âu cũng có những câu tương tự trong cái vốn tri thức gọi là "khí tượng học dân gian", cho nên anh đoán được nghĩa của câu tục ngữ Việt Nam một cách khá dễ dàng. Sau khi lên máy bay, tôi lại đem câu Chó treo, mèo đậy ra đố anh. Lần này anh nhắc đi nhẩm lại mấy lần rồi chìm sâu vào suy tưởng, suốt mấy tiếng đồng hồ bay không nói một câu nào, chỉ nhắc khẽ câu tục ngữ tôi vừa "ra" cho anh, cố phân tích, tìm hiểu nội dung ý nghĩa của nó.

Máy bay đến Nội Bài. Anh vẫn chưa nghĩ ra. Xe về đến Hà Nội, mà anh vẫn chưa trả lời tôi được. Khi chia tay, tôi định giảng cho anh hiểu để kết thúc trò chơi, giải thoát anh ra khỏi một vấn đề có thể làm anh mệt thêm sau chuyến đi, thì anh cương quyết ngăn lại, và hứa với tôi là đến sáng mai khi gặp lại sẽ trả lời.

Hôm sau, mới trông thấy tôi ở phòng họp Vasiljev đã gọi tôi tới và xin đầu hàng không điều kiện, thú thật là vấn đề quá khó đối với anh: anh đã xoay đi xoay lại câu tục ngữ, tìm cách phân tích kiểu này kiểu khác, cố nhớ thêm điển tích qua thơ cổ điển Việt Nam và Trung Quốc,v.v. Rốt cục đầu đau như búa bổ, thậm chí cả đêm chỉ ngủ được ba tiếng, mà vẫn không sao tìm ra một cách hiểu khả dĩ chấp nhận được. Sau buổi họp, khi chúng tôi ngồi ăn tối với nhau, Vasiljev nói:

- Ban đầu tôi cứ tự hỏi xem con chó nó treo cái gì, con mèo nó đậy cái gì, sao không thấy nói? Mà chó với mèo thì làm gì có tay mà treo mà đậy? Sẵn có cuốn từ điển Việt -Pháp, tôi tra đi tra lại hai chữ treo và đậy điểm qua mọi thứ nghĩa đen nghĩa bóng, mà vẫn thấy nó tối mò mò. Đến một lúc nào đó tôi chợt nhớ rằng người Việt có ăn thịt chó, vậy có phải đây là nói về cách làm thịt chó và thịt mèo chăng? Tôi thử vận dụng vốn hiểu biết của tôi về chữ thì (đã nhiều lần chữ này cứu tôi trong những trường hợp lâm vào thế bí). Vậy ta có: Chó thì treo, mèo thì đậy. Tôi nghĩ: liệu có phải "khi làm thịt chó thì phải treo nó lên, còn khi làm thịt mèo thì phải đậy nó lại" không? Câu đầu có vẻ có lý nhưng câu sau thì xem ra chẳng có nghĩa lý gì, thế mà hai câu lại đối ứng với nhau, chắc cấu trúc phải như nhau. Tôi đành từ bỏ giả thiết này, và rốt cục tôi phải tự nhủ là tôi biết tiếng Việt chưa đủ để hiểu những câu như thế vì một khi nó đã là tục ngữ thì mọi người Việt phải hiểu (có hiểu mới nhớ được, và có được mọi người hiểu và nhớ thuộc lòng nó mới thành tục ngữ).

Là một nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp, Vasiljev quan niệm hoàn toàn đúng về tục ngữ và văn học dân gian nói chung cũng như về cái khó mà một người ngoại quốc gặp phải trong khi học một thứ tiếng mà mình chưa thật hiểu cái hồn của nó. Cái hồn ấy, cái mà Wilhelm von Humboldt gọi là Volkstum "hồn dân", và Sprachestum "hồn tiếng" mà người bản ngữ đều mang trong xương tủy, và chỉ một số cực kỳ ít ỏi nhũng người ngoại quốc sống rất lâu giữa lòng bản ngữ mới có được.

Qua những lời tâm sự của Vasiljev, tôi thấy được phần nào tại sao anh không thể hiểu được câu tục ngữ nói trên. Là người châu Âu, anh đã quá quen tư duy bằng thứ ngôn ngữ dùng kiểu đặt câu "Chủ-Vị" của tiếng châu Âu, cho nên khi nghe (hay đọc) mấy chữ chó treo, mèo đậy phản ứng tự nhiên của anh là hiểu chó như "chủ ngữ", treo như động từ , và hiểu câu ấy là chó làm cái việc treo, mèo làm cái việc đậy". Đó là cái nghĩa duy nhất mà một câu tiếng Âu châu có cấu trúc như trên cho phép hiểu. Ngoài cái vai "kẻ hành động" ra, chủ ngữ của tiếng châu Âu chỉ còn đóng được hai ba vai khác, như vai người hay vật mang một tính chất (nó mập), có một tình cảm (nó buồn),v.v. mà thôi. Trong khi đó, câu trong những thứ tiếng không có chủ ngữ như tiếng Việt có một cấu trúc khác hẳn nó gồm hai phần, trong đó phần thứ nhất nêu lên một cái Đề (một đề tài) còn phần thứ hai nói một điều gì có liên quan đến cái Đề ấy. Phần này gọi là Thuyết. Đề có thể bất cứ là vai gì, có bất cứ quan hệ gì với Thuyết, miễn sao thành một nhận định có ý nghĩa, có một nội dung thông báo nào đấy, cho nên các kiểu câu trong các thứ tiếng này đa dạng gấp mấy mươi lần các kiểu câu của tiếng châu Âu.

Những người ngoại quốc dù giỏi tiếng Việt đến như Vasiljev cũng không thể nào hình dung được hết những mối quan hệ đa dạng như vậy giữa Đề và Thuyết, chừng nào họ chưa thấu hiểu được cái hồn của câu tiếng Việt - cái tinh thần mà cấu trúc Đề-Thuyết là một trong những biểu hiện rõ nét. Ngay như việc anh hiểu được rằng trong chó (thì) treo, chó có thể là đối tượng của treo chứ không cần gì phải dùng kiểu "câu bị động" (chó bị treo ) mới hiểu được như thế. Anh đã bắt đầu quen với cách nói tóc nó cắt ngắn, bàn chưa lau sạch, sách viết rất hay để không bao giờ nói hay viết những câu "Tây", như tóc nó được cắt ngắn, bàn bị lau chưa sạch (trong khi có những sách dạy tiếng Việt cho rằng kiểu câu sau mới "chuẩn", còn kiểu câu trước là "câu què" (vì thiếu chủ ngữ) hay ít nhất là "không chuẩn" (vì không có "thái bị động" như tiếng Âu châu).

Tiếng Việt không có chủ ngữ ngữ pháp như trong tiếng Âu châu, thì cách đây 60 năm nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã thấy rõ trong bài Đi tìm chủ từ trong Truyện Kiều, và năm 1965 một nhà ngữ học Mỹ là L.C.Thompson cũng đã khẳng định như vậy.

Những câu đơn (có một Đề và một Thuyết) như:

1. Tham thì thâm
Có kiêng (thì) có lành
Tay làm (thì) hàm nhai
Trên thuận (thì) dưới hòa

2. (Trên mà thuận thì dưới sẽ hòa) hay
(Trên có thuận thì dưới mới hòa)
Trong ấm (thì) ngoài êm
Đất lành (thì) chim đậu
Cha nào (thì) con ấy
Tre già (thì) măng mọc

và những câu ghép (gồm hai câu đơn sóng đôi cân xứng với nhau (đối nhau), mỗi câu đơn có một đề và một thuyết), như:

Bên lở, bên bồi (Bên thì lở, bên thì bồi)
Bồi ở, lở đi
Nát dẻo, sống bùi
Nhiều no, ít đủ
Trên thuận, dưới hòa
Cần tái, cải nhừ
Mềm nắn, rắn buông
(Bồi thì ở, lở thì đi)
(Cơm có nát thì nên khen là dẻo, cơm có sống thì khen là bùi)
(Có nhiều thì lấy làm no, có ít thì lấy làm đủ)
(Trên thì thuận, mà dưới thì hòa)
(Rau cần thì ăn tái, rau cải thì ăn nhừ)
(Mềm thì nắn, rắn thì buông)

là những mẫu mực lý tưởng của cú pháp tiếng Việt. Khi tôi gửi cho Vasiljev mấy câu này kèm theo đôi lời bình luận và cắt nghĩa, anh chân thành cảm ơn và trả lời rằng "Chỉ có mươi câu tục ngữ mà làm cho tôi hiểu được ngữ pháp tiếng Việt gấp mười lần so với thời gian 20 năm tôi đã trải qua trước đây để học tiếng Việt).

Trong ca dao, những cấu trúc hoàn toàn tương tự như thế được khai triển thành những câu thơ lục bát hay thất ngôn, và trong những bài thơ của các tác gia cổ điển, cũng như hiện đại, ta đều gặp lại chính những cấu trúc ấy. Ngay cả trong thơ tự do và thơ không vần, cũng không thể tìm thấy một cấu trúc nào xa lạ với những cấu trúc Đề Thuyết ấy, vốn bao hàm những mối quan hệ cú pháp đủ đa dạng, đủ phong phú để biểu hiện và diễn đạt bất cứ nội dung nào.

Trong tiếng nói hằng ngày của chúng ta, nếu không kể sự đối xứng và hiệp vần đặc thù của thơ, của tục ngữ hay ca dao, và những khuôn khổ nhiều khi rất nghiêm ngặt mà các thể loại này quy định, cũng hoàn toàn tuân theo chính những mô hình ấy. Chỉ có điều là trong câu văn xuôi dùng để giao tiếp với nhau hằng ngày, phần Đề trong câu nhiều khi không cần thiết và do đó thường vắng một nếu người nghe đã biết rõ người nói đang nói về ai, về cái gì hay về đề tài nào, trong khuôn khổ nào (nhờ tình huống lúc phát ngôn hay nhờ ngôn cảnh)(1).

Cả loài người chỉ có một cách tư duy, cho nên trong thứ tiếng nào của nhân loại thì câu cũng phải có Đề và có Thuyết: dù nói gì cũng phải cho biết mình nói về đối tượng nào, về đề tài gì, và kế theo là đưa ra một nhận định về cái đối tượng ấy trong phạm vi cái đề tài ấy. Còn chủ ngữ chỉ có thể có trong những thứ tiếng nào đánh dấu riêng một vai hay một số vai nhất định - những vai hay được đưa ra làm đề tài nhất (như vai người hành động chẳng hạn), và cái vai ấy đâm ra có một đặc quyền riêng trong câu.

Ngay trong những thứ tiếng ấy, câu vẫn không thể không có Đề và Thuyết. Chủ ngữ chính là một thứ Đề. Có điều Đề không phải bao giờ cũng được đánh dấu như một chủ ngữ (bằng hình thái "cách" chẳng hạn), và do đó không phải là một yếu tố cú pháp. Nó thuộc bình diện nghĩa của câu, cho nên không nhất thiết phải được nói đến trong sách ngữ pháp.

Ngược lại, trong những thứ tiếng như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng La-hu, tiếng Nùng, tiếng Nhật, hay tiếng Triều Tiên, Đề được đánh dấu rất rõ (2). Trong tiếng Việt, Đề được đánh dấu bằng chữ thì (có thể được thay bằng là hay mà trong một số trường hợp nhất định). Thì là một từ công cụ chỉ dùng để đánh dấu biên giới giữa Đề và Thuyết của câu. Trong mỗi câu chỉ có thể có một chữ thì, trừ phi trong câu có hai kết cấu Đề Thuyết tương phản như

Trên thì bừa cạn, dưới thì cày sâu hay
Có mấy cái cuốc mà cái thì cùn, cái thì mẻ,

Khác với chữ wa của tiếng Nhật và chữ nun của tiếng Hàn (cũng là những phương tiện đánh dấu biên giới giữa Đề và Thuyết), chữ thì trong tiếng Việt chỉ dùng một cách bắt buộc khi nào biên giới Đề - Thuyết không được rõ.

Thì, là, mà là ba chữ mà vì không hiểu công dụng cho nên nhiều người cho là hoàn toàn vô ích. Thậm chí tôi đã từng biết những biên tập viên đánh giá văn chương theo số chữ thì, là, mà mà tác giả dùng: càng ít thì là mà thì văn càng hay càng nhiều thì là mà thì văn càng dở, cho nên có biên tập viên suốt ngày chỉ đi tìm thì là mà trong các bản thảo cần biên tập để bỏ cho bằng hết.

Thế nhưng khi tính đếm số thì là mà trong các tác phẩm văn học và tính tỷ lệ so với tổng số chữ trong tác phẩm, thì thấy Nguyễn Du dùng thì là mà (trong Kiều) nhiều hơn hẳn các tác giả khác, nhất là các nhà thơ (các nhà văn xuôi tuy không sánh kịp Nguyễn Du về số thì là mà nhưng vẫn vượt xa các nhà thơ, nhất là trong thơ hiện đại). Mà thơ của Nguyễn Du thì chắc không người Việt nào cho là dở.

Trong một số sách ngữ pháp tiếng Việt gần đây cũng nói đến Đề dưới nhãn hiệu "Đề ngữ", nhưng nó bị coi là "thành phần phụ" của câu trong khi "chủ ngữ" mới là thành phần chính. Giả dụ câu tiếng Việt có "chủ ngữ" thật, thì qua cách xử lý chữ đều trong mấy câu sau đây ta có thể thấy rõ Đề mới là thành phần chính:

a. Áo cũ quần cũ đều dùng được.
b. *Cái áo này đều dùng được
c *Bà ta đều mua áo quần cũ
d. Áo cũ quần cũ bà ta đều mua tất.

Bốn câu này đều có dùng chữ đều (vốn dùng để chỉ số nhiều). Hai câu b. và c. không chấp nhận được vì Đề (kiêm "chủ ngữ") có số ít. Trong câu d. "chủ ngữ" (không kiêm Đề) có số ít, nhưng Đề lại có số nhiều, cho nên câu hoàn toàn đúng ngữ pháp; như vậy, khác với tiếng châu Âu, là những thứ tiếng mà Chủ ngữ quyết định số nhiều hay số ít của động từ, trong tiếng Việt yếu tố quyết định lại là Đề (áo cũ quần cũ) chứ không phải là chủ ngữ (bà ta) dù ta có cho rằng bà ta là chủ ngữ như trong tiếng Âu châu.

Trong hầu hết các kiểu câu còn lại như:

Thứ nhạc này tôi không thích
Trong vườn trồng toàn cam
Ngày xưa có anh Trương Chi,v.v.

không thể nào bỏ phần Đề (phần gạch đáy) được.

Vì phân tích cú pháp tiếng Việt theo kiểu ngữ pháp châu Âu, sách dạy tiếng Việt ở trường phổ thông chỉ miêu tả và phân tích những kiểu câu nào hoàn toàn giống câu tiếng Pháp, tức khoảng không đến 30% trong các kiểu câu thông dụng trong tiếng Việt mà đồng bào ta vẫn nói hằng ngày, trong khi hơn 70% kiểu câu còn lại, đều hết sức thông dụng trong tiếng nói hằng ngày, trong văn xuôi và văn vần hiện đại cũng như trong thơ ca cổ điển và trong ca dao tục ngữ, thì học sinh chưa từng được học cách phân tích, ngay cả ở các lớp chuyên ban và ở đại học.

Những kiểu câu không giống tiếng Pháp thì một là không học, hai là bị uốn nắn cho giống tiếng Pháp, ba là bị bỏ bớt đi một phần cho vừa cái khuôn tiếng Pháp.

Chẳng hạn một câu đơn giản mà ai cũng nói và viết rất nhiều như:

Tôi tên là Nam

mà cũng đã vượt ra ngoài cái khung eo hẹp của cú pháp châu Âu và do đó mà bị các nhà ngữ học xử lý thật tàn tệ.

Nhiều người cho rằng câu này "đúng ra" phải viết là Tên (của) tôi là Nam, với chủ ngữ là Tên tôi, động từ là là. Chứ cứ đề nguyên thì không thể phân tích được. Ở trường cần tránh dạy kiểu câu này, và nên dạy cho các em viết đúng câu chuẩn như vừa dẫn, vì nói Tôi tên là Nam có khác gì nói Tên tôi là Nam đâu? Chẳng qua là một cách nói "biến dạng", "lệch chuẩn" mà thôi. Ta cần gì những kiểu nói vô văn hóa, sai ngữ pháp như thế? Nhưng thật ra hai câu khác nhau rất rõ:

Câu trước nói về Tôi cho nên có thể tiếp: Tôi tên là Nam, sinh ở Huế, có ba con, còn câu sau nói về cái Tên của tôi, nên không thể tiếp như vậy (Tên gì lại có ba con?), mà chỉ có thể tiếp: Tên tôi là Nam, do ông tôi đặt tuy không hay, nhưng tôi thích lắm. Còn nếu muốn tiếp như câu trước thì phải đổi cái Đề: Tên tôi là Nam; tôi có ba con.

Một số tác giả khác cho rằng trong câu Tôi tên là Nam, thành phần chính của câu chỉ có tên (chủ ngữ) và là Nam (vị ngữ) là thành phần chính, còn Tôi ("đề ngữ" hay "khởi ngữ") là "thành phần phụ" hay nằm ngoài câu. Nhưng cứ thử bỏ Tôi đi mà xem, còn lại Tên là Nam thì có còn ra câu được nữa không? Nhưng tên là Nam mới phù hợp với kiểu câu "chuẩn", kiểu "Danh là Danh" của tiếng Âu châu.

Cộng thêm vào đó là cái lối dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ đa âm tiết: hễ "từ" tiếng Pháp (hay tiếng Nga) có mấy từ tố thì "từ" tiếng Việt cũng có bấy nhiêu tiếng (âm tiết). Người ta quên mất rằng đơn vị cơ bản của tiếng Việt là tiếng, chứ không phải là từ. Chẳng qua người ta lẫn lộn từ với ngữ định danh tức một cụm gồm nhiều từ dùng để gọi tên một sự vật. Xe là một từ, đạp là một từ điều này ai cũng thừa nhận. Nhưng xe đạp, lạ thay cũng là một từ (1+1=1). Để biện hộ cho phép tính cộng lạ đời này, người ta dám nói rằng hai chữ xe đạp không phải là chữ xe và chữ đạp trong đạp xe, mà chỉ tình cờ đồng âm với nhau thôi, và xe đạp tuyệt nhiên không phải là một thứ xe.

Bằng cách đó người ta phủ nhận đến cùng cái tinh thần chủ đạo của từ vựng học tiếng Việt: tinh thần của một ngôn ngữ phân tích tính đơn tiết, gọi tên sự vật bằng một tiếng duy nhất hay bằng hai ba tiếng bổ nghĩa cho nhau bằng những quan hệ cú pháp, với những tiếng có nghĩa rất khái quát như xe, máy, đòn, bàn làm trung tâm.

Bất kỳ nhà ngữ học nào, sau khi đọc một cuốn sách ngữ pháp mà ta dùng để dạy tiếng Việt cho học sinh, cũng phải kết luận ngay rằng "tiếng Việt là một ngôn ngữ Ấn Âu điển hình, tuy đã mất hết các hiện tượng biến hình trong hình thái học". Vì cái linh hồn của thứ ngữ pháp ấy là linh hồn của các thứ tiếng châu Âu, chứ không phải của tiếng ta.

Cũng khá nhiều người nói rằng ngữ pháp "Đề-Thuyết" rất đúng với tiếng Việt cổ - tiếng Việt của ca dao tục ngữ, của Ức Trai thi tập, của Kiều, của Chinh phụ ngâm, nhưng không còn đúng với tiếng Việt hiện đại, vì ngày nay, do tiếp xúc với ngoại ngữ, tiếng Việt đã "sao phỏng" ngữ pháp châu Âu mà trở thành y hệt như tiếng họ rồi - một sự chuyển biến đáng mừng, vì có thế ta mới thực sự "hội nhập" với thế giới hiện đại được.

Những người nghĩ như thế quên mất rằng tư duy của loài người là một, nhưng các phương tiện biểu đạt tư duy trong các thứ tiếng lại vô cùng đa dạng. Và chính tính đa dạng của ngôn ngữ, cũng như của các lĩnh vực khác trong nền văn hóa dân tộc, làm cho sự hội nhập có thể được thực hiện mà không dẫn tới sự đơn điệu tẻ nhạt. Một dân tộc đã đánh mất cái linh hồn nằm sâu trong tiếng mẹ đẻ của nó liệu còn có thể giữ được cái bản sắc độc đáo trong nền văn hóa dân tộc được không, và từ đó còn có thể đóng góp được gì vào bức tranh muôn mầu của văn hóa nhân loại?

Không! Linh hồn của tiếng Việt không hề mất. Cái ý vị vô song của ca dao tục ngữ của những câu Kiều, vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hằng ngày của dân ta, trong thơ của Nguyễn Bính, Tố Hữu hay Chế Lan Viên, và vẫn làm cho những nam thanh nữ tú mặc quần Jeans hay váy đầm thời nay rung động trong từng đường gân thớ thịt của mình. Nếu giờ học tiếng Việt bị học sinh và giáo viên của ta coi như một buổi lên lớp tẻ nhạt và vô bổ, thì đó tuyệt nhiên không phải vì họ không còn yêu tiếng Việt, không còn cảm nhận được cái đẹp của tiếng Việt nữa, mà vì người ta bắt họ dạy và học một thứ "tiếng Việt" chẳng ra Tây, chẳng ra ta, chỉ còn cái tên là tiếng Việt, không hề truyền đạt và hấp thụ lấy được một phần ngàn cái linh hồn bất diệt của nó.

CAO XUÂN HẠO
(Văn nghệ)
Đăng nhập để trả lời
0
Một sự phân biệt bị đánh mất
( với tuymặc dầu)

Một ngôn ngữ làm tròn công năng của nó là nhờ những sự phân biệt. Những sự phân biệt về hình thức - âm thanh, trật tự của các dấu hiệu, v.v. - không nhiều thì ít đều báo hiệu những sự phân biệt về nội dung, tức về nghĩa, và những ph­ơng tiện phân biệt về hình thức càng phong phú bao nhiêu thì những nội dung đ­ợc truyền đạt càng minh xác và tinh tế bấy nhiêu.

Vì vậy, khi những ng­ời thuộc thế hệ tr­ớc thấy trong tiếng mẹ đẻ có những sự phân biệt bị đánh mất đi, họ tất nhiên phải có phần lo lắng tự hỏi: không biết đây có phải là một b­ớc phát triển có tính quy luật của ngôn ngữ hay chỉ là kết quả của một sự khinh suất nào đó đã dần dần phổ biến để trở thành một thói quen chung đ­ợc mọi ng­ời dung thứ rồi rốt cục chấp nhận nh­ một chuẩn mực?

Trong bài này, chúng tôi muốn nói đến một hiện t­ợng rất phổ biến trong cách sử dụng tiếng Việt của các văn bản xuất hiện vào khoảng m­ơi năm nay trên báo chí, sách vở, kể cả văn bản khoa học và nghệ thuật: đó là lối sử dụng dù (dầu, dẫu, cho dù, dù cho, cho dầu, dầu cho, dẫu cho) thay cho tuy và mặc dầu.

Ngày nay, dù đ­ợc dùng phổ biến hơn hẳn tuy và mặc dầu ở những chỗ mà tr­ớc những năm 70, ng­ời cầm bút vẫn dùng hai từ sau với một ý nghĩa khác hẳn. Vậy sự khác nhau ấy ra sao?

So sánh cách dùng các từ nói trên với nhau trong các tác phẩm cổ điển của thế kỷ 18 nh­ Truyện Kiều, ta thấy rằng một mặt, dù đ­ợc dùng theo một nghĩa cũ không còn có trong cách dùng ngày nay: nghĩa của nếu (đánh dấu một câu phụ chỉ điều kiện) chẳng hạn nh­ trong câu:

Mai sau dù có bao giờ
Thắp lò h­ơng ấy so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ cành cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Cách dùng theo nghĩa này cũng thấy còn lại trong ca dao tục ngữ cận đại và hiện đại:

Dù ai lấy đ­ợc chồng khôn,
Nh­ hũ vàng cốm anh chôn đầu gi­ờng.

Vào thời ấy, chữ nẻo ch­a biến âm thành chữ nếu và đ­ợc dùng thay cho dù nh­ bây giờ, và ta không đ­ợc rõ sự phân biệt giữa hai ý nghĩa dù và nếu nh­ hiện nay đ­ợc diễn đạt nh­ thế nào. Rất có thể là nó đ­ợc dùng để diễn đạt cả hai nghĩa, vì cả hai đều có chứa đựng ý nghĩa "điều kiện", tức ý nghĩa "giả định". Vậy, mặt khác, giữa dù của thời tr­ớc và nếu của ngày nay vẫn có một điểm chung khiến cho hai chữ đó khác hẳn với tuy và mặc dầu, tuy hiện nay giữa dù và nếu đã có một sự phân biệt rất rõ ràng.

Sự khác nhau này cũng phổ quát không kém gì sự khác nhau giữa dù và tuy. Chữ nếu dùng để đánh dấu tính điều kiện của một sự thể giả định: Nếu trời m­a có nghĩa là "trong tr­ờng hợp mà trời có thể m­a (là nói giả dụ nh­ thế)". Sự thể giả định này đ­a ra trong phát ngôn là để thông báo một điều gì khác (phần thuyết của câu, th­ờng đi sau chữ thì) sẽ trở thành hiện thực khi nào cái sự thể giả định ấy trở thành hiện thực. Còn Dù trời m­a hay Dù cho trời có m­a có nghĩa là "ngay cả trong tr­ờng hợp mà trời có m­a (là nói giả dụ thế)". Nh­ vậy, so với nếu, dù có thêm cái ý "ngay cả", cho biết là ng­ời nói tiền giả định rằng "trời m­a" là một hoàn cảnh th­ờng cản trở việc thực hiện điều sẽ đ­ợc nói ở phần thuyết. Ðó không phải là một sự khác nhau ở tính chất hay chiều rộng của khung đề, mà là ở chỗ có hay không có một cái tiền giả định có liên quan đến tác dụng của sự thể (giả định) đ­ợc trình bày trong khung đề đối với sự thể đ­ợc trình bày trong phần thuyết.

Bây giờ ta thử xem trong tiếng Việt hiện đại, ít nhất là tr­ớc 1970, dù (dù cho, dầu cho, dẫu cho, v.v.) khác với tuy và mặc dầu (mặc dù) nh­ thế nào. Ta thử so sánh hai câu sau đây:

(1) a. Tuy/ Mặc dầu hôm qua trời m­a to, tôi vẫn đến.

b. Ngày mai dù có m­a to gió lớn thế nào tôi cũng sẽ đến.

Sự khác nhau quan yếu giữa hai bên là ở chỗ: Trong khi chuyện hôm qua m­a to là một hiện thực, thì chuyện ngày mai m­a to chỉ là một giả định. Ðây là một sự phân biệt mà loại hình học ngôn ngữ đã nhận thấy tính phổ quát từ khá lâu. Trong khi hành chức, ngôn ngữ không thể không phân biệt giữa việc trần thuật những sự việc có diễn ra thực (nhất là những sự việc mà ng­ời nói có chứng kiến, với những giả định, những dự kiến, những phỏng đoán, những suy diễn, vốn chỉ có trong trí óc con ng­ời chứ không hề có (hay ít nhất là ch­a hề có) trong thế giới hiện thực, dù những dự đoán ấy có chắc chắn đến đâu chăng nữa. Ngôn ngữ học cũng đã dần dần nhận ra mối quan hệ đ­ơng nhiên giữa "thì t­ơng lai" và cách diễn đạt tính không hiện thực: trong rất nhiều ngôn ngữ, cái mà ng­ời ta vẫn t­ởng là "thì t­ơng lai" thật ra là một hình thức diễn đạt ý nghĩa tình thái phi hiện thực, trong những ngôn ngữ có hình thái học có thể làm thành một thức (mood) riêng, thức giả định.

So sánh hai câu dẫn trên và những câu t­ơng tự, ta thấy sự phân biệt [ HIỆN THỰC] HAY HIỆN THỰC/GIẢ ÐỊNH giữa dù và tuy/mặc dầu lộ rõ ở chỗ hai từ sau không dùng cho những sự thể đ­ợc giả định hay dự kiến cho t­ơng lai. Những câu nh­:

(2) a.* Ngày mai, tuy/mặc dù trời m­a to, tôi cũng sẽ đến.

b.* Sau này, tuy không gặp nhau, tôi cũng sẽ nhớ đến anh.

đều không ổn, và khó lòng có thể gặp trong một văn bản cũ, nh­ trong tiểu thuyết của Tự lực Văn đoàn chẳng hạn. Và ngay cả những ng­ời ngày nay th­ờng dùng tuy và mặc dầu cho những câu nh­ thế cũng phải thừa nhận.

Ngoài ra, tuy và mặc dầu cũng không thể dùng trong những câu chứa đựng một phần đề đ­ợc đánh dấu là [ bất định/nghi vấn] hay một phần thuyết chứa đựng một tham tố [ bất định/nghi vấn]:

3. a.* Tuy/Mặc dầu có ai nói nh­ vậy anh cũng đừng tin

b.* Mặc dù/Tuy cần gì, anh cứ hỏi tôi.

c.* Tuy/Mặc dầu sao, nó cũng là em tôi.

d.* Mặc dầu/Tuy có đi đâu nó cũng nhớ về Hà Nội.

Trong những câu nh­ thế, tuy và mặc dầu đều phải đ­ợc thay bằng dù.

Cuối cùng, giữa dù và tuy/mặc dầu còn có một sự phân biệt rõ rệt về cú pháp nữa. Một khung đề mở đầu bằng dù bao giờ cũng có thể đ­ợc đánh dấu biên giới bằng thì, trong khi những câu trạng ngữ mở đầu bằng tuy và mặc dầu, vốn không phải là khung đề, không bao giờ đ­ợc đánh dấu nh­ vậy.

Trên đây là tình hình trong tiếng Việt hiện đại kể cho tới những năm 70 của thế kỷ. Còn hiện nay thì không còn nh­ thế nữa. Cùng với ­u thế ngày càng lấn át của những lối viết bất thành cú, với những câu lẫn lộn chủ đề với khung đề (nh­: Trong tình hình này đòi hỏi khắc phục ngay các tồn tại), lẫn lộn trạng ngữ với câu (nh­: Với những cố gắng v­ợt bậc nh­ng họ vẫn không giải quyết đ­ợc dứt điểm), lẫn lộn giữa trạng ngữ với chủ đề (nh­: Bằng những hình t­ợng sắc nét của tác giả đã cho thấy...) (*), cách hành văn của một số ng­ời viết gần đây đã đánh mất những sự phân biệt quan trọng cho phép tiếng Việt truyền đạt những sắc thái tinh tế của t­ duy, nh­ sự phân biệt giữa xác định và bất định, giữa danh ngữ có sở chỉ và danh ngữ không có sở chỉ, giữa tiêu điểm và chủ đề, và cả những sự phân biệt cơ bản nh­ giữa hiện thực và phi hiện thực.

Ngày nay ta thấy có rất nhiều ng­ời dùng dù vừa nh­ một tác tử điều kiện, vừa nh­ một tác tử "nhân nh­ợng" (= tuy), chẳng hạn:

4. a. Dù nói tiếng Anh rất khá, anh ta chỉ có bằng A.
b. Dù ch­a quen anh, tôi đã đọc truyện ngắn của anh từ lâu.
c. Dù anh đã khuyên tôi nhiều lần, nh­ng tôi vẫn ch­a thông.
d. Dù nó rất giỏi môn lý, thì giám khảo cũng đánh tr­ợt nó.
e. Dân bản xứ vẫn còn lo sợ dù tình hình đã lắng dịu hẳn.

Có thể nói rằng trong tất cả các câu này, ng­ời viết đều có ý muốn nói tuy hay mặc dầu, nh­ng cái tập quán dùng đúng những từ cần dùng để diễn đạt cái ý này đã mất đi rồi. Trong tất cả các câu trên không có lấy một lý do nhỏ nào để cho rằng cái mệnh đề bắt đầu bằng dù có tính chất giả định. Việc dùng dù tỏ ra đặc biệt phi lý trong những câu nh­ (4)b, và (4)c, trong đó ng­ời nói (tôi) và ng­ời nghe (anh) tất nhiên phải biết chắc chắn rằng mệnh đề đi sau dù là đúng sự thật, chứ tuyệt nhiên không có tính giả định. Trong (4)a và (4)d, dù không thể dung hòa với rất, vốn không thể dùng trong những câu phi hiện thực nh­ * Tôi muốn tìm mua một cái xe rất tốt (chỉ có thể nói một cái xe thật tốt).

Nh­ chúng tôi đã nói ở phần đầu bài này, đây có thể là một sự chuyển biến có tính quy luật khách quan, do yêu cầu phát triển tự nhiên của tiếng Việt mà có. Ngay những kiểu câu nh­ Với những hành động ấy cho thấy họ thiếu trách nhiệm cũng phải xét kỹ xem có phải là phạm lỗi không. Ta cứ nhìn sang tiếng Pháp mà xem: tiếng Pháp trở thành một ngôn ngữ nh­ ngày nay chính là do những lỗi ngữ pháp và từ vựng mà ng­ời bản xứ vì không nói đúng đ­ợc tiếng La-tinh, phạm phải mà ra. Nh­ng chúng tôi trộm nghĩ đó là tr­ờng hợp khác: những lỗi làm cho tiếng Việt mất đi những ph­ơng tiện diễn đạt hữu hiệu và tinh tế nh­ vậy khó lòng có thể coi là một hiện t­ợng tiến bộ.

CAO XUÂN HẠO

Đăng nhập để trả lời
0
Sơ lược về tiếng lóng

Tiếng lóng là một thực tế đầy sinh động mà hầu nhu bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có, dù muốn hay không. Văn hào Victor Hugo (1802-1885) từng chú ý sử dụng tiếng lóng trong tác phẩm Ngày cuối cùng của một tử tù (Le dernier jour d'un condamné; 1828); thậm chí còn dành hẳn cả quyển VII trong phần thứ tu của bộ tiểu thuyết đồ sộ nổi tiếng Những nguời khốn khổ (Les Misérables; 1861) để bàn riêng về tiếng lóng. Ðây là những nhận định của Victor Hugo: "Tiếng lóng là gì? Là quốc gia, đồng thời là quốc âm; đó là sự đánh cắp duới hai hình thức: nhân dân và ngôn ngữ. Tiếng lóng vừa là một hiện tuợng văn học vừa là một kết quả xã hội. Tiếng lóng, căn bản là gì? Là ngôn ngữ của tiếng lóng khốn cùng. Mọi nghề, mọi nghiệp, có thể mọi ngẫu nhiên của hệ thống xã hội và hết thảy các hình thức của trí tuệ, đều có tiếng lóng của nó. Về phuơng diện thuần túy văn học, nghiên cứu tiếng lóng có thể kỳ thú hơn nhiều khoa học khác...".

Ngày nay, phần lớn giáo trình ngôn ngữ học đại cuơng, tiếng lóng là nội dung không thể thiếu đối với chuyên đề từ vựng học. Trong các hội nghị, hội thảo khoa học - nhu hội nghị "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" đuợc tổ chức quy mô vào cuối tháng 10-1979, một số báo cáo nghiên cứu về tiếng lóng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nguời. Cho đến nay, tồn tại lắm định nghĩa, cách phân loại và đánh giá khác nhau về tiếng lóng.

Tiếng lóng (Hán: lí ngữ; Pháp: argot, Anh: slang cant/jargon) đuợc Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (1992) cắt nghĩa: "Cách nói một ngôn ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm nguời nào đó, nhằm chỉ để cho trong nội bộ hiểu đuợc với nhau mà thôi". Từ điển Petit Larousse illustré (1973) định nghĩa tiếng lóng: "Từ vựng riêng biệt của một nhóm, một nghề hoặc một giai tầng xã hội". Hiện đại Hán ngữ từ điển xuất bản ở Bắc Kinh (Trung Quốc -1998) giải thích về li yu (lí ngữ); "Những phuơng ngôn thô tục hoặc luu hành hạn hẹp". Advanced learner's English dictionary (1993) viết về tiếng lóng: "Các từ, cụm từ rất thân mật, không nghi thức, thuờng dùng trong lời nói, nhất là giữa những nguời cùng một nhóm xã hội, làm việc cùng nhau và không đuợc xem là thích hợp cho những bối cảnh nghi thức, cũng nhu chẳng thể sử dụng lâu dài". Qua loạt định nghĩa vắn gọn và phổ thông ấy, một số yếu tố của tiếng lóng đã bộc lộ:

1. Ðây là loại khẩu ngữ đặc thù dùng để giao tiếp phi chính thức trong một phạm vi xã hội hạn chế.

2. Hoàn toàn thuộc lĩnh vực từ vựng và có tính chất lâm thời, bất ổn định.


Tuy nhiên, các từ điển vừa dẫn đã không phân biệt tiếng lóng với biệt ngữ và tiếng nghề nghiệp. Giáo su Ðỗ Hữu Châu biên soạn Giáo trình Việt ngữ (Tập II: Từ hội học - NXB Giáo dục 1962) cho rằng: "Tiếng lóng (argot des déclassés) bao gồm một số từ bí hiểm để che dấu tu tuởng của nguời nói, không cho nhiều nguời ngoài tập đoàn xã hội của mình biết". Cũng Giáo su Ðỗ Hữu Châu, qua giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB Giáo dục 1981), lại chỉ ra: "Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt ngữ, tức là những tên gọi "chồng lên" trên những tên gọi chính thức. Hiện tuợng tiếng lóng là phổ biến đối với mọi tập thể xã hội. Hầu nhu tất cả các tập thể xã hội nào đã có cái gì chung về sinh hoạt hay về sản xuất, làm việc... thì đều có những tiếng lóng của riêng mình. (...) Do nhiều động lực khác nhau, nhu do ý muốn "tự bộc lộ" cái vẻ riêng của tập thể mình, do muốn gây đuợc những sự chú ý đặc biệt, muốn che giấu những điều mà những nguời ngoài tập thể không nên biết, muốn biểu thị thái độ một cách mạnh mẽ... mà hằng ngày hằng giờ trong các tập thể xã hội đều xuất hiện tiếng lóng. Những tiếng lóng này rất "phù du", không hệ thống, lẻ tẻ, xuất hiện rồi mất ngay". Một số nhà nghiên cứu nhu Luu Vân Lăng (1960), Hoàng Thị Châu (1989)... liệt tiếng lóng vào loại không lấy gì làm tốt đẹp vì phạm vi luu hành "là trong đám nguời làm những nghề bất luơng, bị xã hội ngăn cấm nhu bọn cờ bạc bịp, bọn ăn cắp, bọn buôn lậu". Sách Ngôn ngữ học: khuynh huớng - lĩnh vực - khái niệm của nhiều tác giả (NXB Khoa học Xã hội 1994) còn khẳng định: "Khác biệt ngữ, tiếng lóng có nghĩa xấu".

Thực tế thì ở một số truờng hợp, ranh giới giữa tiếng lóng với biệt ngữ và tiếng nghề nghiệp khó phân lập rạch ròi. Do đó, nhà nghiên cứu Da Zhaomin của Trung Quốc (1996) đề xuất cách gọi khác: ấn ngữ / ám ngữ / hắc thoại. Tác giả này lại chia ra hai loại lớn, gọi là "ẩn ngữ nghề nghiệp" và "ẩn ngữ giang hồ". Nếu thế thì cũng chua lấy gì làm rành mạch!

Một thực tế nữa: chua hẳn tiếng lóng "chỉ thuộc bọn nguời xấu", là "ngôn ngữ duới đáy xã hội". Giáo su Ðỗ Hữu Châu từng nêu thí dụ về tiếng lóng của giới sinh viên một thời, nhu mẹ đốp nhằm trỏ các nữ sinh đáo để, nhuận sắc có nghĩa là "đẹp một cách tuơi mát", ngỗng để chỉ điểm hai, gậy - điểm 1...

Tùy quan niệm rộng hẹp mà có những cách nhìn nhận khác nhau về tiếng lóng đối với công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hiện nay.

Tiếng lóng với ngôn ngữ toàn dân

Tiếng lóng Việt Nam đã đuợc bao học giả trong lẫn ngoài nuớc chú ý nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Một trong những công trình đầu tiên về đề tài lý thú này là của J.N. Cheon, mang tiêu đề L'argot anamite (Tiếng lóng Việt Nam) đăng trên tập san truờng Viễn Ðông Bác Cổ (BEFEO) từ năm 1905. ỨNG HÒE NGUYỄN VĂN TỐ (1889-1947) từng có khảo luận L'argot anamite de Hanoi (Tiếng lóng Việt Nam ở Hà Nội) công bố năm 1925. Nhiều chuyên gia về Việt ngữ học thời gian qua cũng dành công sức nhất định để nghiền ngẫm về tiếng lóng. Ðến nay, tồn tại hai quan điểm trái nguợc nhau trong việc nhìn nhận hiện tuợng ngôn ngữ đặc thù này.

Một quan điểm cho rằng tiếng lóng là hiện tuợng không lành mạnh trong ngôn ngữ, nó chỉ tồn tại ở xã hội có giai cấp và mất dần đi, vì vậy phải triệt để chống tiếng lóng và kiên quyết gạt nó ra khỏi ngôn ngữ văn hóa. Ðó là ý kiến của Nguyễn Văn Tu và Nguyễn Kim Thản... trình bày qua các ấn phẩm Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (NXB Ðại học và Trung học Chuyên nghiệp 1976) hoặc Tiếng Việt trên đuờng phát triển (NXB Khoa học Xã hội 1982). Hãy đọc một đoạn trong tài liệu vừa dẫn đề cập đến tiếng lóng; "...không có tác dụng tích cực, không làm giàu thêm ngôn ngữ toàn dân" (tr.188)

Quan điểm khác thì đề nghị chấp nhận những tiếng lóng tốt, tích cực, nhằm bổ sung cho ngôn ngữ toàn dân. Ðó là ý kiến của Trịnh Liễn và Trần Văn Chánh... phát biểu trong hội nghị "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" đuợc tổ chức tại Hà Nội năm 1979. Ðồng quan điểm ấy, Nguyễn Thiện Giáp soạn sách Từ vựng học tiếng Việt (NXB Ðại học và Trung học Chuyên nghiệp 1985) đã đặt tiếng lóng trong mối quan hệ với toàn bộ lớp từ tiếng Việt rồi cho rằng: Chỉ nên lên án những tiếng lóng "thô tục"; còn loạt tiếng lóng "không thô tục: là tên gọi có hình ảnh của sự vật, hiện tuợng nào đó thì có khả năng phổ biến và thâm nhập dần vào ngôn ngữ toàn dân. Sách này còn chỉ ra rằng tiếng lóng chính là một phuơng tiện tu từ học đuợc dùng để khắc họa tính cách và miêu tả hoàn cảnh sống của nhân vật trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Ðây cũng chính là điều mà nhiều nhà nghiên cứu về tu từ học (rhétorique) về phong cách học (stylistique), cũng nhu nhiều cây bút văn chuơng, báo chí quan tâm tìm hiểu và vận dụng.

Học giả Nguyễn Hiến Lê rất có lý khi cho rằng một trong những đoạn hay nhất trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là lời thoại độc địa phát ra từ miệng Tú Bà lúc mụ "Nổi tam bành mụ lên" truớc Thúy Kiều:

Này này sự đã quả nhiên
Thôi đà cuớp sống chồng min đi rồi!
Bảo rằng đi dạo lấy nguời
Ðem về ruớc khách kiếm lời mà ăn
Tuồng vô nghĩa ở bất nhân
Buồn mình truớc đã tần mần thử chơi
Màu hồ đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đã bán cho ta
Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây
Lão kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe
Cớ sao chịu tốt một bề
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

Có thể tìm thấy trong đoạn lục bát đó ngồn ngộn tiếng lóng của giới "buôn phấn bán son" ở xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 19: đi dạo, ruớc khách, buồn mình, màu hồ, bài bây... Ví nhu thay loại từ ấy bằng chữ nghĩa "nghiêm chỉnh", ắt đoạn văn không chỉ mất hay mà còn hỏng nặng!

Tuơng tự nhu thế, nếu không tích lũy vốn tiếng lóng phong phú để sử dụng phù hợp, thì bao phóng sự và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) làm sao cuốn hút độc giả. Từ thiên phóng sự Cạm bẫy nguời viết năm 1933, nhà báo - nhà văn Vũ đã "đua ra ánh sáng" cả lô tiếng lóng tồn tại trong giới cờ bạc bịp thời đó: mòng, mẻng, bắt, viên đạn, hòn đạn, của, lộ tẩy, cản, quýnh... Ðến các tác phẩm Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lục xì (1937)... thì Thiên Hu Vũ Trọng Phụng trình thêm vô số "ẩn ngữ giang hồ" mà công chúng bình thuờng bấy giờ khó biết nổi: chạy làng, chánh, chúa, hao đào, ngày phiên, trô, xé giấy... Một tiểu thuyết nổi tiếng cũng vào giai đoạn ấy là Bỉ vỏ của Nguyên hồng (1918-1982) đuợc xem đã chứa đựng một luợng lớn tiếng lóng, từ tiêu đề cho đến nội dung, với nhiều câu mà bạn đọc hẳn chua quên:

Anh đây công tử không vòm.

Ngày mai kện rập biết mòm vào đâu?

Trong số tiếng lóng thời kỳ qua, giờ dây có bao nhiêu đơn vị từ vựng trở thành quen thuộc và đi vào ngôn ngữ phổ thông? Chắc chắn không ít. Giáo su Ðỗ Hữu Châu từng trung dãn cả loạt tiếng lóng đuợc chấp nhận vào vốn từ ngữ chung: ba hoa, lộ tẩy, nguội điện, cổ lỗ sĩ, gạo, phe phẩy... Các tác giả sách Tiếng Việt trên đuờng phát triển (sđd, tr.188) cũng ghi nhận những tiếng lóng đã hội nhập vào ngôn ngữ toàn dân: quay cóp, móc ngoặc, phớt lờ... Tra cứu các từ điển tiếng Việt hiện đại, chúng ta còn phát hiện bao tiếng lóng từng hiện hữu trong quá khứ.

Tiếng Việt, cũng nhu các ngôn ngữ khác, luôn cần đuợc cộng đồng sử dụng cố gắng gìn giữ sự trong sáng đồng thời với việc tích cực phát triển. Nói cách khác, phát triển vừa là nguyên nhân, vừa là mục đích trong công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo quy luật chung, phát triển mạnh nhất luôn là từ vựng. Ðóng góp vào khía cạnh này, rõ ràng có tiếng lóng. Sau một thời gian tồn tại chính thức, bất ổn định trong một phạm vi xã hội hạn hẹp, biết bao tiếng lóng sẽ không còn là... tiếng lóng. Hoặc chúng biến mất. Hoặc chúng trở thành đơn vị từ ngữ của toàn dân, đuợc mọi nguời sử dụng rộng rãi, không chỉ tồn tại trong các tác phẩm văn chuơng báo chí, hoặc trên màn bạc, màn nhung, mà còn xuất hiện cả ở nhiều văn bản hành chính. Từ xì ke, xuất xứ bởi tiếng lóng scag, là một ví dụ.

Quanh một từ điển tiếng lóng

Nhu đã nói, tiếng lóng là một hiện tuợng ngôn ngữ học xã hội có vai trò đáng kể đối với vốn từ vựng của toàn dân. Từ truớc tới nay, nhiều chuyên gia về Việt ngữ đã quan tâm nghiên cứu tiếng lóng, song chỉ mới trình bày qua một vài chuơng đoạn trong các công trình liên quan đến từ vựng học, tu từ học, phong cách học; hoặc mới chỉ dừng lại ở báo cáo khoa học - nhu của Trịnh Liễn và Trần Văn Chánh năm 1979; hoặc mới giới hạn trong khuôn khổ bài báo - nhu bài Tiếng lóng trong giao thông vận tải của Chu Thị Thanh Tâm (Ngôn ngữ và đời sống, 1998). Cũng có vài sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp đại học với đề tài tiếng lóng, nhu Lê Lệnh Cáp (1989) hoặc Luơng Văn Thiện (1996). Tuy nhiên, một ấn phẩm độc lập đề cập về tiếng lóng và đuợc phát hành rộng rãi thì mãi tới gần đây mới thấy xuất hiện. Ðó là sách Tiếng lóng Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Khang, do NXB Khoa học Xã hội ra mắt vào tháng 4-2001.

Sách Tiếng lóng Việt Nam gồm 236 trang (khổ 13x19 cm) đuợc chia làm hai phần. Phần đầu là khảo luận Ðặc điểm của tiếng lóng Việt Nam chiếm 39 trang (từ trang 9 đến 48). Phần còn lại là Từ điển từ ngữ lóng tiếng Việt. Do đó, xét về dung luợng, sách chính là pho từ điển tiếng lóng Việt Nam - một công trình biên soạn rất hữu ích với nhiều nguời. Song le, nếu mua và sử dụng cuốn sách công cụ này, bạn đọc ắt không tránh khỏi phân vân.

Ðiều đầu tiên là soạn giả bỏ sót một thao tác tuy đơn giản song bất kỳ nhà từ điển học nào cũng đều chú ý nêu bật truớc tiên: Thống kê số luợng mục từ hiện hữu trong từ điển. Kế tiếp, đặc trung của từ điển này là tiếng lóng Việt Nam - mà soạn giả đã xác định rõ tính chất của nó là dạng ngôn ngữ "ký sinh" và "lâm thời" - thì điều cần thiết là phải hạn định thời gian chặt chẽ. Một đơn vị từ vựng ở thời điểm này là tiếng lóng, nhung thời điểm sau đấy thì hết còn là tiếng lóng nữa rồi. Ấy thế mà từ điển này thu thập tiếng lóng suốt thời gian dài và lại... ngắt quãng: Trong tác phẩm Bỉ vỏ của Nguyên Hồng (vào những năm 1930); rồi từ ngữ lóng xuất hiện cuối những năm 1970, đầu 1980, liên quan đến nhóm xã hội "vuợt biên - di tản"; và từ ngữ lóng trong khoảng 10 năm trở lại đây, tức thập niên 1990...

Ði vào nội dung từ điển tiếng lóng của Nguyễn Văn Khang, bạn đọc có hiểu biết ít nhiều về lĩnh vực này ắt không tránh khỏi thất vọng vì cách biên soạn thiếu khoa học. Buồn cuời nhất là tồn tại khá lớn tiếng lóng bị định nghĩa... sai! Trong một ý kiến ngắn đăng trên tờ Tuổi Trẻ chủ nhật 24-6-2001, Bùi Cát đã sơ bộ chỉ ra chín đơn vị từ vựng mà từ điển này cắt nghĩa trật lất: khâu chẳng phải "cây vàng" (lạng/luợng vàng); nhạc sến chua hẳn "nhạc buồn"; tài pán không phải "chủ chứa"; mắt trừu không phải "bao cao su tránh thai"; hết xí quách không có nghĩa "hết tiền"; mặt rô (maquereau/ma cô) cũng chua chắc "dân giang hồ, dao búa"; còn bà già không phải chỉ mọi loại "máy bay cánh quạt".

Có thể trung dẫn thêm cả lô tiếng lóng đã bị từ điển này định nghĩa hoặc chua đầy đủ, hoặc nhầm lẫn đến mức... phi thực! Từ ái chẳng hạn, đâu chỉ là "con trai có tính cách, cử chỉ, điệu bộ rụt dè (sic!) nhu con gái". Thế con gái cũng bị gọi ái thì sao? Chẳng qua, đấy là rút gọn cụm từ "ái nam ái nữ", dùng để chỉ truờng hợp luỡng giới tính (bisexual), có khi còn đuợc hiểu là đồng tính ái (homosexual). Tiếng lóng đó cũng đồng nghĩa gai/ bóng / pê-đê / bê-đê (do chữ gay hoặc pédérastre, chỉ đồng tính ái nam); chứ bê-đê không phải là "giật đồng hồ" (tr.65). Giới "xã hội đen" thuờng gọi hành động giật đồng hồ bằng các tiếng lóng thổi đổng hoặc bốc hồ / múc hồ / tát hồ... Từ bắt dế cũng đâu chỉ có nghĩa "chép tài liệu vào miếng giấy nhỏ quấn lại bằng con dế mang vào phòng thi" (tr.63) mà còn là hành động nhặt tàn thuốc lá. Từ chặt hẻo chẳng phải chỉ mọi hình thức "chơi bài ăn tiền", mà là cách gọi một lối chơi với bộ bài tây: tiến lên. Chứ đánh xì phé, binh xập xám... dù ăn tiền hay không, chẳng ai gọi là chặt hẻo cả. Hàng tiền đạo có nghĩa dãy răng cửa, chứ nào phải "hàm răng hơi bị vẩu". Kết mô-đen không chỉ "quan hệ yêu đuơng" mà nói chung là thích, là khoái, là muốn. Mátximum đâu phải "nhậu hết cỡ", mà là bất kỳ cái gì đạt tới nguỡng cực đại do chữ maximum (trái với minimum).

Từ điển lại ghi sai chính tả không ít từ ngữ, điều khó chấp nhận đối với loại sách dùng để tra cứu. Thí dụ nhu rụt dè (rụt rè), sui (xui/rủi) thấy mồ... Nhiều tiếng lóng bị ghi không đúng hình thức ngữ âm. Chẳng hạn bá chảy (bá cháy / bá chấy), chè nghim (chè ghim), đam chuột (đâm chuột)... Từ chè ghim vốn do nói lái từ "chìm ghe" mà có. Từ đâm chuột, tức đâm tí, nói lái chệch thành "đi tắm". Do thiếu khảo sát kỹ về từ nguyên, đặc biệt là những tiếng lóng có nguồn gốc ngoại ngữ hoặc đuợc cấu tạo bởi phuơng thức nói lái, nên soạn giả chua đua đuợc lời giải thích đúng, đủ và có sức thuyết phục. Ðó là truờng hợp loạt từ đai, mo, xuya, bứt cỏ, chà đồ nhôm, hạ cờ tây...

Lại thấy ngồn ngộn trong từ điển bao đơn vị từ vựng lâu nay thuộc ngôn ngữ toàn dân, thậm chí đã đi vào văn chuơng, ai ai cũng biết, cũng hiểu, cớ sao soạn giả xếp vào kho tiếng lóng? Nhu các từ mây mua hoặc gò bồng đảo vốn là các điển cố mà bạn đọc quá quen thuộc qua thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Huơng... Hoặc loạt từ ngữ bình thuờng, chẳng mang nghĩa đặc biệt và bí hiểm gì cả, nhu ấm đầu, bà xã, bộ cánh, bộ đồ vía, của quý, gà mờ, keo (kiệt), bao (cao su), ô dù, phê, đã, quỹ đen, sa luới, sâu mọt, tồ, trồng cây si, viêm màng túi, vuợt cạn, xe ôm... mà cho là tiếng lóng e chua thích đáng.

Trong Việt ngữ hiện đại, tiếng lóng ngày càng có xu huớng phát triển mạnh, nhất là đối với giới trẻ ở các đô thị, tạo nên hiện tuợng mà các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ đuờng phố (street language). Hiểu biết và vận dụng tiếng lóng đạt mức độ cần thiết sẽ tạo nên những tác phẩm văn học, báo chí giá trị và có sức hấp dẫn. Jacques Prévert (1900-1977) ở Pháp là một minh chứng sinh động: thơ của ông đầy rẫy tiếng lóng, có tập đuợc xuất bản tới hàng triệu cuốn. Ðó là "hiện tuợng thi ca" vô tiền khoáng hậu, khiến mọi nguời suy nghĩ. Ngay đến việc dịch thuật, với những văn bản nhất định, cũng rất cần tiếng lóng. Tiểu thuyết The Godfather (Bố già) nổi tiếng của Mario Puzo đã đuợc nhiều nguời dịch ra tiếng Việt, song bản chuyển ngữ của Ngọc Thứ Lang đuợc xem thành công nhờ biết tìm đuợc nhiều tiếng lóng tuơng ứng.

Rõ ràng, không chỉ các cây bút viết lách, dịch thuật, mà nhiều ngành hoạt động khác (nhu kịch nghệ, phim ảnh, giáo dục, từ thiện xã hội, công an...) đều cần có từ điển tiếng lóng. Ðông đảo bạn đọc cũng cần để tra cứu cuốn sách, công cụ ấy bao giờ mới ra lò?.

VÕ NGÂN VƯƠNG
Đăng nhập để trả lời
0
Chữ bị và con đường Việt hóa

Một chút lai lịch

Ðúng ra thì phải "vẽ" ra cái chữ Hán này để khỏi lầm với ít nhất là ba, bốn chữ khác cũng đọc là "bị" (theo các ông Ðào Duy Anh và Nguyễn Văn Khôn) nhung làm thế là không cần lắm với nhiều bà con mình. Cái chữ "bị" nói đến ở đây thực ra có đến ba nghĩa. Hai nghĩa khác ta không đua vào tiếng Việt là: cái mềm, khắp đến. Còn nghĩa "chịu, mắc phải" xin đuợc nói sau.

Một điều đáng nói nữa là cái chữ này có tới hai cách đọc khi sang Việt Nam theo phát hiện của ông Nguyễn Tài Cẩn (*). Ðó là cách đọc "bị" và cách đọc "phải" mà ta thuờng cho là thuần Việt.

Một buớc tiền trạm

Theo ông Nguyễn Tài Cẩn, xua kia tiếng Việt chua có hình thức diễn đạt sắc thái đánh giá tiếp nhận tốt xấu, hoặc may rủi. Nguời ta đã muợn của tiếng Hán yếu tố đuợc một hình thức phát âm một chữ, sau này âm Hán Việt đọc là đắc (đắc thắng, đắc ý, đắc cử...) để diễn đạt sắc thái đánh giá "tốt, may": đuợc khen, làm đuợc... Và họ muợn yếu tố phải để diễn đạt sắc thái đánh giá xấu, rủi: phải phạt, giẫm phải gai...

Sự việc đó diễn ra truớc khi có âm Hán Việt (muợn từ thời Ðuờng) nên thuờng các chữ "đuợc", "phải" đều coi nhu từ thuần Việt. Khi đã có anh em sinh đôi (phải) diễn đạt ý nghĩa đánh giá tiếp nhận "rủi, xấu" thì bị không đuợc muợn vào tiếng Việt nữa (vì không cần). Bị chỉ đuợc muợn vào tiếng Việt với tu cách là một từ tố nằm trong vài từ ghép nhu bị cáo, bị động, (số) bị trừ, (số) bị nhân...

Ðến lúc phải vào

Ðó là tình hình truớc đây chừng vài ba thế kỷ, sau đó thì bị phải vào, tức là tiếng Việt phải muợn nó để diễn đạt ý nghĩa đánh giá sự tiếp nhận "xấu, rủi". Tại sao có buớc ngoặt ấy?

   Ấy là vì có sự quá tải của chữ "phải"! Phải làm nhiều việc quá, dễ sinh nhầm lẫn. Phải đã chỉ cái sắc thái chịu sự "rủi, xấu" lại còn phải thể hiện thêm ý nghĩa "cần thiết phải", "buộc phải làm" (Tôi phải ra ga). Nó lại còn phải thể hiện ý "đúng" (Anh phải, nó trái).

Thế là để khỏi lầm, nguời ta chuyển giao trách nhiệm diễn đạt sắc thái tiếp nhận "xấu, rủi" sang cho bị là chính. Do đó ngày nay, chủ yếu sắc thái này đuợc thể hiện bằng từ bị: bị phạt, bị đòn, bị đánh, bị ế, bị điểm xấu... Tuy nhiên, do bị ở chữ Hán chỉ đi truớc động từ, danh từ... nên vào tiếng Việt nó cũng chỉ ở vị trí đó. Cho nên, "phải" vẫn còn đuợc luu giữ ở một vài cụm từ đã dùng quen nhu phải gió, phải biết, phải vạ, phải một bữa đó... Ðặc biệt, trong những truờng hợp đối ứng với đuợc đi sau động từ thì phải vẫn phải có mặt nhu kiểu: ăn đuợc/ ăn phải, vớ đuợc/ với phải...

Thực sự hòa nhập

Khi đã vào tiếng Việt lâu dài, bị đã hòa nhập cùng cộng đồng ngôn ngữ Việt. Nếu không biết chữ Hán, mấy ai biết cái chữ bị quen thuộc này lại là ngoại lai! Thế cho nên, bị hoạt động cũng thoải mái lắm. Nó không chỉ đi truớc các động từ, tính từ, danh từ... mà còn cả các cụm động từ - bổ ngữ, cụm chủ vị (bị đau chân, bị vỡ sọ, bị nguời ta chê cuời, bị vợ ăn vạ...) nghĩa là tất cả kết cấu làm đuợc bổ ngữ chỉ đối tuợng trực tiếp của nó.

Chữ bị này hoạt động mạnh mẽ quá nên nhiều lúc duờng nhu nó không còn là một động từ nữa, nó "hu hóa" đi. Nó chỉ nhu một yếu tố "ngữ khí", nhấn mạnh cái sắc thái đánh giá: cái áo này bị xanh rồi, lòng luộc bị dai (bỏ đi, nội dung thông báo không khác)...

Ðặc biệt gần đây, trong khẩu ngữ còn có lối nói đùa cợt thân mật, trẻ trung và cả hài huớc nữa, khi nguời ta thể hiện một sự đánh giá theo huớng "tốt, may" nhu kiểu: Cô ấy hơi bị xinh đấy! Giọt nuớc hơi bị trong!... Chua biết rồi đây, cộng đồng sử dụng tiếng Việt chúng ta có chấp nhận cái buớc ngoặt nghịch ngợm này của chữ bị hay không, xin cứ tạm ghi nhận.

Ðôi điều nhận xét

Dõi theo buớc đuờng nhập Việt của cái chữ bị gốc Hoa này, ta có thể thấy có nhiều chữ gọi là "thuần Việt" nhung thực ra cũng là từ muợn. Chả nên quá phân biệt đối xử để kỳ thị các từ muợn hợp lý. Có một điều rất lý thú là khi muợn từ, nguời Việt ta có sàng lọc: Không muợn các nghĩa không cần (bị cũng có nghĩa là cái mền), không để lẫn lộn sắc thái tốt, xấu nhu ở ngôn ngữ gốc (Từ điển Hán Việt của Ðào Duy Anh còn ghi bị tuyển cử nhân = nguời đuợc nhân dân tuyển cử).

Ðiều thứ hai dễ nhận là việc du nhập của các từ muợn đuợc cộng đồng chấp nhận, sử dụng đều do nhu cầu nội tại của hệ thống tiếng Việt và tuân theo các quy tắc khá chặt chẽ (nhu cần thì muợn, không thì thôi, vừa phải tiết kiệm lại vừa phải phân công giữa các từ để tránh hiểu lầm, khó cho giao tiếp...).

Ðiều thứ ba là khi đã muợn từ, dân mình rất thoáng, không định kiến, coi bình đẳng nhu các từ khác để nó thỏa sức hoạt động nhu con dân tiếng Việt thực thụ.

Vì vậy, chẳng nên nhu một số trong chúng ta bị phong cách nhà nho gò bó, "chiếu trải không ngay ngắn không ngồi". Khi gặp từ Hán Việt là giở sách cổ ra đối chiếu chê chỗ này chệch âm, chỗ kia sai nghĩa cũ, và để rồi không bao giờ chấp nhận những cách dùng khá hay, nhung chua đuợc ghi vào từ điển, sách ngữ pháp. Rõ ràng nhu thế là không tôn trọng cái thực tiễn của các từ ngữ sống động trong đời sống.

LÊ XUÂN MẬU
Đăng nhập để trả lời
0
Bàn về tên gọi của Người Việt

Bàn về tên gọi của người Việt, có nhiều ý kiến cho rằng tên gọi chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ thuần tuý - tức là chỉ cần một âm thanh thể hiện một ý nghĩa mà có một tên gọị Bên cạnh quan niệm này là quan niệm cho rằng: Tên gọi của người Việt là một hiện tượng ngôn ngữ - văn hoá, nó có nguồn gốc rõ ràng và liên quan đến tâm lý của cộng đồng người Việt truyền thống.
Trong thực tế, Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới đều chú ý đến việc đặt tên. Xã hội càng văn minh thì tên gọi càng được chú ý. Tên gọi có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ đối với giao tiếp mà nó còn là sự thể hiện dấu ấn của văn hoá tâm lý, của gia đình, gia tộc. Như vậy nên nhìn nhận tên gọi ở cả khía cạnh ngôn ngữ và văn hoá trong đó văn hoá phải được coi là yếu tố có giá trị cội nguồn quyết định việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ nào để đặt tên.
Xét ở góc độ văn hoá thì tên gọi là một trong những yếu tố phản ánh rõ nét dấu hiệu của văn hoá gia đình, nó liên quan đến truyền thống gia đình, nếp sống và tín ngưỡng, quan điểm giáo dục và cả trình độ học vấn của cha mẹ. Trong văn hoá cổ truyền việc đặt tên cho con cháu là cả một việc hệ trọng và không thể cẩn tắc vô áy náy được.
Trước hết, tên con cháu thường do ông bà hoặc cha mẹ hay các bậc vai vế trong dòng họ đặt chọ Tục lệ này thể hiện tính liên tục và tính truyền thống của văn hoá gia đình. Ông bà hay những người có vai vế đặt tên cho con cháu thường là những người hiểu biết rộng hoặc nắm được hệ thống những tên gọi có trong dòng họ của mình do đó có thể đặt tên cho con cháu của mình mà không sợ trùng với tên các vị trong dòng họ và tránh trùng với tên của thành hoàng làng, thần thánh... Tránh được điều đó tức là người ta đã tránh khỏi cái tội phạm huý.
Có lẽ vì thế mà trong lúc người mẹ mang thai, tên của đứa trẻ đã được chuẩn bị sẵn. Nhiều gia đình chọn đặt tên theo kiểu nối tiếp với tên của cha mẹ. Chẳng hạn tên cha là Khải, thì tên con là Hoàn. Tên mẹ là Thuần thì tên con là Thục... Những gia đình phong kiến thường đặt tên con theo cung cách của vua quan xưa kiạ Tức là chuẩn bị cả một dãy tên để đặt dần.
Có người cho rằng tên của người Việt nếu không có nghĩa thì thôi chứ khi đã có nghĩa thì phải hay, phải tốt. Tuy nhiên ý nghĩa này chưa thật đúng, bởi vì tên thường có nghĩa nhưng không nhất thiết phải hay, phải tốt. Nhiều gia đình nông dân đã đặt cho con mình những cái tên xấu xí với mục đích cho dễ nuôi vì không sợ phạm vào trời đất và các vật linh thiêng. Quan niệm này thường dẫn đến hai cách đặt tên: cách thứ nhất dùng các từ chỉ các công cụ sản xuất như nồi, niêu, xong, chảo... hoặc như các vật dụng đồng áng như: cuốc, thuổng, cột, kèo... Cách thức thứ hai là dùng các từ chỉ giới tính thuần tuý như: cu, hĩm, cò, gái... để đặt tên. Thậm chí có người đến lớn mới có thêm một tên nữa kèm với cái tên giới tính. Nhiều gia đình đặt tên cho con từ những loài cây hoa lá trong vườn, trong nhà mình như: Lúa, Na, Quýt, Mận, Đào...
Ơ' một số gia đình có học, trong nhiều trường hợp ý nghĩa tên của con cái thường được hợp thành và thể hiện quan điểm văn hoá của gia đình mình. Tỉ dụ như Dung, Hạnh, Hiếu, Nghĩa... Nhìn chung xu hướng đặt tên con theo cách này đều thể hiện ước nguyện của gia đình về vật chất, tinh thần và mẫu hình đối với con cái mà cha mẹ mong đợị Một số trường hợp cha mẹ là người có học thức cao thường đặt tên cho con với ý nghĩa thâm thuý, có thể tên của con cái họ sẽ được bắt nguồn từ những câu thơ bất kỳ tâm đắc, đôi khi còn lấy tên một nhân vật trong văn chương để đặt tên cho con...
Đối với những gia đình thuộc hệ văn hoá bảo thủ mà học vấn không cao, nhất là những gia đình chịu ảnh hưởng của đạo giáo, muốn thuận theo lễ càn khôn thì cứ dựa vào năm sinh, ngày sinh mà đặt tên cho con, hoặc theo mùa sinh mà đặt tên. Có thể thấy do có những tên gọi chỉ chú ý đến ý nghĩa nên phần âm thanh thường lạ tai, đặc biệt là những tên có nguồn gốc Phật giáo như: Chân Giác, Phả Môn... Muốn giải thích được ý nghĩa của những tên gọi đó người ta phải đặt cái tên đó vào trong hệ thống tên của các anh chị em và cả gia đình đó.
Ngày nay cách đặt tên đã có những thay đổi đáng kể. Mặc dù ảnh hưởng của cha mẹ ông bà đối với việc đặt tên cho con cái là rất lớn, nhưng vẫn phải thừa nhận rằng cách nhìn nhận về việc đặt tên cho con cái đã phóng khoáng hơn nhiềụ Trước đây, ngoài việc tránh đặt tên con cái trùng với tên ông bà tổ tiên, bạn bè hay người thân. Nay quan niệm này đã đổi khác trừ ông bà tổ tiên còn thì bạn bè hay người mà cha mẹ hâm mộ họ đều có thể lấy để đặt tên cho con cái mình.
Các dấu hiệu giới tính trong tên gọi như cách dùng đệm Văn cho con trai và đệm Thị cho con gái cũng không còn phổ biến như trước kia nữạ Đặc biệt có cách đặt tên mới theo kiểu kết hợp giữa các tên của từng địa danh. Từ góc độ ngôn ngữ, tên gọi không chi có ý nghĩa mà còn mang âm thanh phù hợp với ngữ âm tiếng Việt. Có những tên gọi do âm thanh xa lạ sau này đã được chuyển âm cho dễ đọc mà vẫn đảm bảo ý nghĩa của tên.
Rất đáng chú ý là những cái tên thuần Việt có khi được đổi sang từ Hán Việt đồng nghĩa hoặc gần nghĩa để tạo cảm giác hay và văn minh hơn. Điều này chính là sự thể hiện cho tính phóng khoáng trong việc đặt tên ngày naỵ Nhìn lại sự biến động của tên gọi người Việt từ trước đến nay rất dễ nhận thấy một điều rằng cách đặt tên kiểu cũ đang dần mất đị Hiện nay duy nhất chỉ có cách đặt tên bằng chữ Hán Việt, bởi một phần do ý nghĩa tốt đẹp của cách đặt tên kiểu nàỵ
Là một hiện tượng ngôn ngữ - văn hoá tồn tại lâu bền với thời gian, cách đặt tên luôn là một vấn đề gây nhiều tranh luận thú vị nhất định trong đời sống văn hoá và ngôn ngữ của người Việt chúng ta

NGUYỄN KHÁNH TOÀN
Đăng nhập để trả lời
0
Ngôn ngữ trong lối nói ngoa của người Việt

Nói ngoa (hay ngoa ngữ) là cách dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt đặc biệt để làm tăng lên nhiềư lần những thuộc tính của đối tuợng đuợc nói tới nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tuợng và gây đuợc ấn tuợng mạnh mẽ cho nguời nghe.

Nếu cho rằng dùng ngoa ngữ là nói điêu, nói sai thì quả là lầm lẫn. Lối nói này không đồng nhất với nói khoác, nói điêu, nói sai sự thật. Sự phân biệt là ở chỗ: nói khoác, nói sai là thổi phồng sự thật để lừa dối, còn nói ngoa là dùng các phuơng tiện ngôn ngữ gây sự chú ý và tác động cao nhất, làm nguời nghe hiểu đuợc nội dung và ý nghĩa đến mức tối đa.

Trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ, khi phải miêu tả hay nói đến những hiện tuợng, hoạt động, trạng thái nào đó, nếu chúng ta muốn thể hiện một sắc thái tình cảm cụ thể ghì chắc chắn chúng ta sẽ lựa chọn cho mình những từ ngữ và những lối diễn đạt phù hợp. Xem xét những phuơng tiện ngôn ngữ mà nguời Việt dùng trong nói ngoa, chúng ta dễ dàng nhận thấy đầu tiên đó là: nguời Việt thuờng rất hay chọn những từ ngữ chỉ các bộ phận cơ thể con nguời, đặc biệt là phần "lục phủ ngũ tạng". Chẳng hạn: Buồn là một trạng thái tâm lý không có liên quan gì đến "ruột" thế mà nguời ta nói "buồn nẫu ruột". Tuơng tự, chúng ta thấy hàng loạt cách dùng: tiếc đứt ruột, đứt từng khúc ruột, tức lộn ruột, giận bầm gan tím ruột, nhớ đến cháy lòng, tan nát cõi lòng, nghĩ nát óc, vắt óc suy nghĩ, cuời vỡ bụng, trông lác mắt, điên tiết, sôi máu, làm đổ mồ hôi sôi máu mắt, làm mửa mật, lo sốt vó, nói vỗ vào mặt, mệt đứt hơi, đói rã họng, buốt giá con tim, rụng rời chân tay, sợ hết hồn hết vía, bạt vía kinh hồn, hồn vía lên mây...

Tín nguỡng truyền thống Việt Nam sùng bái các hiện tuợng thiên nhiên, thần thánh, thậm chí cả ma quỉ. Chính vì thế, khi nói đến điều to tát, vĩ đại, hoặc những việc làm cho nguời ta phải kinh hoàng, khó có thể đem vật gì ra so sánh, nguời Việt thuờng lấy thiên nhiên, thánh thần, ma quỉ ra để so. Nguời ta nói: long trời lở đất, chuyện động trời, chuyện tày trời, bán trời không văn tự, trời không dung đất không tha, tin sét đánh, quỉ tha ma bắt, thánh cũng phải sợ, trời đất quỉ thần, nhất quỉ nhì ma, nhân bảo nhu thần bảo...

Có một điều cũng rất thú vị là nguời Việt truyền thống có tâm lý ua dùng các con số để miêu tả và diễn đạt sự so sánh hơn kém giữa các vật và hiện tuợng. Tuy nhiên, những con số này không phải là những con số chính xác toán học, mà là số uớc lệ, có giá trị biểu cảm: gấp trăm gấp nghìn lần, gấp ti tỉ lần, ba đầu sáu tay, một trời một vực, ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào, yêu nhau tam tứ núi cũng trèo...

Trong cách nói dân gian truyền thống, nguời xua đã khai thác các thành ngữ, tục ngữ để tạo ra những lối nói ngoa mà sau này trở thành chuẩn mực: ruột để ngoài da, vắt cổ chày ra nuớc, rán sành ra mỡ, ngàn cân treo sợi tóc... Sau này, chúng ta có: chân cứng đá mềm, dời non lấp biển, xoay trời chuyển đất, lấp biển ngăn sông...

Có thể nói, thơ văn xua của cha ông ta thuờng sử dụng và khai thác triệt để lối dùng ngoa ngữ. Riêng trong lĩnh vực này, nguời Việt thuờng đẩy cách nói lên đến mức cực đoan, quá quắt, thậm chí bất chấp cả luật cân đối nhằm mục đích nêu bật giá trị đích thực, gây tiếng cuời sảng khoái.

"Không chồng ăn bữa nồi năm
n đói ăn khát mà cầm lấy hơi
Có chồng ăn bữa nồi muời
n đói ăn khát mà nuôi lấy chồng".

"Chim khôn thì khôn cả lông
Khôn cả cái lồng, nguời xách cũng khôn".

"Tiếng đồn cha mẹ anh hiền
Cắn cơm không vỡ, cắn tiền vỡ đôi"

(Ca dao)

Thúy Kiều là nguời con gái có ánh mắt và cặp lông mày đẹp đến mức "hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh", là nhân vật tài sắc vẹn toàn hiếm có "một hai nghiêng nuớc nghiêng thành".

Những chi tiết Nguyễn Du tả trong truyện Kiều đã trở thành mẫu mực sáng tạo: Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây, lệ rơi thấm đá, đá cũng nát gan, xuơng trắng quê nguời, xuơng mai tính đã rũ mòn, ba thu dồn lại một ngày...

Gác kinh viện sách đôi nơi
Trong gang tấc lại gấp muời quan san

Chùa là nơi Kiều đuợc phái ra để chép Kinh với phòng đọc sách của Thúc Sinh chỉ kề nhau trong gang tấc, thế mà giờ đây đã muời lần cách trở quan san! Bằng phóng đại, Nguyễn Du đã cực tả đuợc cái xa cách một trời một vực trong thân phận và cảnh ngộ của nàng Kiều và chàng Thúc.

Bên cạnh việc dùng các từ ngữ và các cách diễn đạt sáng tạo để tạo ngoa ngữ, chúng ta còn có thể liệt kê hàng loạt những từ ngữ chuyên dùng để cấu tạo ngoa ngữ: cực điểm, cực kỳ, cùng cực, vô hạn độ, trứ danh, hết cỡ, chúa, kinh hồn, mê hồn, thấu trời, quá xá, đến chết, không chịu nổi, thấy ông bà ông vải, hết chỗ nói, không để đâu cho hết...

Cùng với thời gian, cách nói ngoa cũng ngày càng phát triển, đa dạng và mang thêm những sắc thái mới của thời đại. Ngày nay, chúng ta vẫn thuờng gặp những câu khen kiểu: "Cái Hà xinh thì Hà Kiều Anh còn phải gọi bằng cụ", hoặc chê kiểu "... Thị Nở phải khóc thét".

Với đặc trung sử dụng rộng rãi về ngôn từ và cách diễn đạt, lối dùng ngoa ngữ có mặt tích cực là gây đuợc hứng thú cho nguời nghe, nhung lại có nhuợc điểm là có thể dẫn đến hiểu lầm nếu nguời dùng ngôn ngữ không cẩn thận lựa chọn ngôn ngữ và quá lạm dụng cách dùng này.

Chính vì vậy, chúng ta không nên chỉ diễn đạt bằng ngoa ngữ, đặc biệt là trong văn bản khoa học, hành chính công vụ và chính luận. Tuy nhiên, trong một phạm vi cho phép và chừng mực nhất định, ngoa ngữ vẫn có những giá trị riêng, tạo một nét bản sắc cần thiết cho sự vận dụng tiếng Việt.
Đăng nhập để trả lời
0
Sách dạy tiếng Việt và tiếng Việt thật

GS CAO XUÂN HẠO

Đã mấy mươi năm nay có nhiều người, trong đó có bản thân tôi, đã viết khá nhiều để chứng minh rằng cái môn mà ta dạy cho học sinh và sinh viên dưới tiêu đề “Ngữ pháp tiêng Việt” thật ra chỉ là ngữ pháp tiếng Pháp với những câu thí dụ dịch rất sát từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, và nội dung của giờ “tiếng Việt” chỉ là học những quy tắc ngữ pháp của tiếng Pháp hay một thứ tiếng Âu châu nào đó, bất chấp những quy tắc này có tác dụng gì đối với việc nói và viết đúng tiếng Việt, thậm chí bất chấp cả những trường hợp nó trái ngược hoàn toàn với những quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt – những quy tắc vẫn thực sự chi phí lới ăn tiếng nói hằng ngày của người Việt.
Những bài vở của chúng tôi tuy kể từ 1968 đã đăng khắp các tạp chí phổ thông cũng như chuyên ngành, suốt mấy mươi năm qua chưa bao giờ gây được một sự phản ứng dù tích cực hay tiêu cực từ phía các bạn đồng nghiệp. Nhìn chung, thái độ của các độc giả cùng ngành đều là cố tình im lặng, coi như chưa bao giờ có ai phát biểu ra những ý kiến ấy. Mãi đến những năm đầu của thế kỷ sau, nhân hai cuộc hội thảo về ngữ pháp tiếng Việt tổ chức ở Hà Nội và ở TPHCM, mới có một bài báo cáo phê phán ý kiến của chúng tôi vê cấu trúc đề thuyết của câu, trong đó ai cũng có thể thấy rõ rằng tác giả hoặc đã quên hết những ý kiến được đem ra phê phán, hoặc chưa từng tìm hiểu những ý kiến ấy với một thái độ vô từ tối thiểu.

Thế nhưng bất kỳ người nào đã qua một quá trình đào tạo ngôn ngữ học nhất định khi lần giở một cuốn sách dạy tiếng Việt xuất bản ờ Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1945 cho đến nay đều có ngay một ấn tượng rất rõ: đó là mối mâu thuẫn gay gắt giữa tính đơn lập lộ rõ trên cách viết chữ dùng trong sách (với những khoảng cách ngăn câu ra thành từng âm tiết một), và cách miêu tả hệ thống ngữ pháp gần y hệt như ngữ pháp tiếng Pháp, tiếng Anh. hay tiếng Nga.

Chẳng lẽ tính đơn lập lại có thể đi đôi với một hệ thống ngữ pháp thuần túy Ấn Âu như thế? Chẳng lẽ sự tiếp xúc với tiếng Pháp, vốn bắt đầu chỉ cách đây chừng một thế kỷ, mà cũng chưa bao giờ vượt quá giới hạn của một số người ít ỏi có học tiếng Tây, lại có đủ thì giờ để làm cho một ngôn ngữ Nam Á đơn lập biến thành một ngôn ngữ khuất chiết Ấn Âu hay sao? Đó là một câu hỏi không thể không nảy ra trong tâm trí của một con người bình thường khi tiếp xúc lần đầu với sách dạy tiếng Việt.

Những điều trình bày trong bài này nhằm mục đích tìm hiểu xem các sách giáo khoa tiếng Việt đã dùng những biện pháp gì đề thực hiện cuộc chuyển biến khó tưởng tượng này. Do những điều kiện thời gian, chúng tôi không thể dẫn hết những tài liệu được dùng làm căn cứ cho những ý kiến được trình bày dưới đây. Kính xin những vị nào muốn có tài liệu tham khảo tìm đọc những cuốn sách và những bài vở của chúng tôi (bản thân tôi và các tác giả như Nguyễn Đức Dương, Hoàng Dũng,.Bùi Mạnh Hùng, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Thị Ly Kha, Nguyễn Văn Bằng v.v... đều thuộc Hội Ngôn ngữ học TP. Hồ Chí Minh).

1. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, trong đó đơn vị cơ bản là âm tiết - hình vị, hay tiếng, chứ không phải là “từ”. Điều này GS Nguyễn Tài Cẩn đã viết từ lâu, căn cứ trên một lý thuyết rất cơ bản của các nhà đông phương học Liên Xô mà ngày nay cả thế giới đều chấp nhận. Nhưng không biết tại sao ở ta có những tác giả cho rằng một ngôn ngữ như thế là “không văn minh”, cho nên nhất quyết tìm cách chứng minh rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ “đa âm tiết”, trong đó có những từ đa hình vị như xe đạp, máy gặt đập liên hợp v.v... Những cố gắng anh dũng và tài tình mà các tác giả này đã dùng để chứng minh cho bằng được tính “đa tiết” của những "từ" như thế rất đáng cho ta khâm phục và tìm hiểu thật kỹ.

Trước hết ta thử theo dõi cách lập luận của các tác giả hữu quan. Họ đều công nhận rằng xe và đạp là hai từ. Nhưng xe + đạp không phải là hai từ, mà là một, vì nó có tính “thành ngữ”: ở đây “xe đạp không phải là thứ xe đi bằng cách đạp” (như xe xích-lô, xe ba gác) mà là một cái gì không thể trực tiếp suy ra từ hai chữ xe và đạp.

Không thể hiểu được từ bao giờ tính thành ngữ lại được dùng để chứng minh rằng hai từ khi kết hợp với nhau lại thì lập tức trở thành một từ duy nhất, trong khi tất cả các từ điển đều định nghĩa thành ngữ là một tổ hợp gồm ít nhất là hai từ.
Các tác giả chủ trương thuyết này còn đi xa đến mức không công nhận rằng chữ xe chính là chữ xe, chữ đạp chính là chữ đạp của tiếng Việt: theo họ, đây là hai từ không rõ nguồn gốc chỉ vì tình cờ mà “đồng âm” với hai chữ xe đạp của tiếng Việt khiến cho nhiều người tưởng lầm xe đạp là một “thứ xe” thật. Và lạ thay, cách lập luận này hình như được toàn thề giới ngôn ngữ học của ta tán thành. Đủ biết mối ác cảm của họ đối với thuyết “đơn âm” mãnh liệt đến chừng nào.

Thật ra, lý do duy nhất để coi xe đạp như một từ đa tiết là: trong tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nga, vélocipède, bécane, bicyclette v.v... đều là một từ. Vậy phải tìm đủ cách để chứng minh rằng tiếng Việt cũng không thua kém gì ba thứ tiếng kia, và xe đạp cũng phải là một từ đa tiết như ai mới được.

Phải nói rằng không phải ờ ta mới có hiện tượng lạ lùng này. Trong một thời gian khá dài, ngay ở châu Âu cũng có người nghĩ rằng chemin de fer và zheleznaja doroga (đường sắt) đều là những “từ”: sự lầm lẫn “từ” với “ngữ định danh” là một hiện tượng khá phổ biến trong giới sinh viên và giới nghiệp dư.

Ở ta, nó còn được tăng cường gấp bội do một sự xấu hổ đáng ngạc nhiên đối với những đặc trưng tiêu biểu của tiếng mẹ đẻ.

2. Tiếng Việt có “chủ ngữ “ không? Từ những năm 30, nhà văn Đoàn Phú Tứ đã ra sức “đi tìm chủ từ” trong tiếng Việt của truyện Kiều mà không sao tìm được. Năm 1965, Lawrence C. Thompson, tác giả cuốn Ngữ pháp tiếng Việt tốt nhất của thời bấy giờ, đã nêu rõ và chứng minh rằng tiếng Việt không có Chủ ngữ (grammatical subject), mà chỉ có Chủ đề Lô-gích (logical subject). Đây là một điều hiển nhiên, vì trong tiếng Việt chỉ có Chủ đề lô-gích được ngữ pháp hoá – được đánh dấu bằng chữ thì. Nhưng sách dạy ngữ pháp ở nhà trường (NPNT), vốn sao chép từng chữ một từ sách ngữ pháp tiếng Pháp, cứ bạ đâu thấy có cụm từ Chủ Vị (sau khi thử dịch ra tiếng Tây) cũng gọi ngay đó là “câu phụ”, trong khi những cụm từ ấy ngay cả HS cấp một cũng thấy ngay là “bất thành cú”. Kết quả là HS không còn biết thế nào là câu, và lên đến đại học cũng viết ra những “câu” bất thành cú như thế.

Theo cách phân loại hình mới đối với các ngôn ngữ của thế giới (kể từ 1976, năm xuất bản cuốn Subject and Topic của Ch. Li và S. Thompson), tiếng Việt cùng với tiếng Hán, tiếng La Hu v.v... phải được xếp vào loại hình các ngôn ngữ Đề -Thuyết, trong đó Đề không được ngữ pháp hóa như Chủ ngữ của các ngôn ngữ Ấn Âu, nhưng lại được đánh dấu (khi cần thiết) bằng chữ thì. Làm Đề cho câu tiếng Việt có thể là bất cứ vai nghĩa nào, kề cả vai đối tượng của hành động (“bổ ngữ trực tiếp”) hay khung cảnh của sự tình (cf. Cơm đã dọn xong, Bàn lau rồi đấy, Hôm qua mưa, Tham thì thâm...).

Những đặc trưng loại hình học của tiếng Việt kéo theo những hệ quả quan trọng về ngữ pháp khiến cho nó khác hẳn các thứ tiếng phương Tây, trong đó có sự phân biệt về thái (voice) tức sự phân biệt ngữ pháp giữ a “chủ động” và “bị động” (x. mục 6).

3.“Loại từ”. Một trong những sự ngộ nhận thô thiển nhất của NNH Âu châu là khái niệm “loại từ”. Từ 1883, Trương Vĩnh Ký đã biết đó thật ra là những danh từ chính danh, tiêu biểu nhất (vi chỉ sự vật đếm được). Và từ 1960, M. Halliday và hầu hết các nhà ngữ học dạy tiếng Anh đã loại bỏ hẳn khái niệm này ra khỏi lý thuyết ngôn ngữ học. Và chính GS Nguyễn Tài Cẩn, tác giả cuốn Từ loại danh từ trong tiếng Việt, trong phần phụ lục ở cuối sách đã viết rằng ngay sau khi viết ông đã thấy lý thuyết coi“loại từ” như một yếu tố phụ trợ cho danh từ là không đúng (đó chính là danh từ trung tâm). Lời đính chính này còn được ông công bố một cách hiển ngôn và đầy đủ hơn trong một vựng tập xuất bản ở Liên Xô (1967). Thế nhưng sách NPPT vẫn coi đó là một “từ loại” riêng thuôc loại hư từ vì nó “không độc lập”. Thật ra tính”không độc lập” chỉ là một cái cớ hoàn toàn hư ảo, vì trong tiếng Việt có hơn 100 từ cũng “không độc lập” như thế nhưng lại được coi là danh từ chỉ vì khi dịch ra tiếng Pháp thì thấy đó là những danh từ.

Công sức được bỏ ra nhiều nhất là khi phải làm việc này với những ngữ đọan như cái đẹp, cái hay cái khó bó cái khôn, việc làm, sự thiên vị, phép cộng. phép trừ, cách xử sự. Vì đã trót coi các danh từ như cái, sự, việc, phép là "hư từ" rồi, người ta đành phải coi mấy từ này như những yếu tố phụ trợ cho từ đi sau, trong khi vẫn thừa nhận cả tổ hợp là những ngữ đoạn danh từ, không nhận thấy rằng cách làm này mâu thuẫn với mọi nguyên tắc phân tích ngữ pháp: làm sao một yếu tố “phụ”, một hư từ lại có thể làm cho một yếu tố chính từ chỗ vốn là động từ (hay “tính từ”) có được tư cách danh từ?

Trong lý luận ngữ pháp đại cương (phổ quát), ai cũng thừa nhận rằng trong bất kỳ thứ tiếng nào trung tâm của một ngữ đọan là từ nào.
1. làm cho cả ngữ đoạn có được tính cách ngữ pháp của chính nó (trung tâm của ngữ đọan danh từ phải là một danh từ, hay
2. làm cho cả ngữ đọan thay đổi chức năng cú pháp cho phù hợp với nó (như tác dụng thay đổi “cách” của các giới từ)
3. giữ đặc quyền thay mặt cho cả ngữ đoạn để có quan hệ ngữ pháp (và ngữ nghĩa) với một ngữ đoạn khác trong câu.

Sở dĩ những danh từ đơn vị như cái, con, sự không đứng một mình được không phải vì nó là “hư từ” (trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có dăm bảy trăm thực từ không bao giờ dùng một mình) mà chính là vì nó cần có (một định ngữ, một lượng ngữ hay một bổ ngữ đi kèm theo để phụ trợ (làm phụ ngữ) cho nó.

Một trường hợp ngộ nhận tương tự về từ loại danh từ là đồng nhất chữ khi làm trung tâm cho một câu định ngữ với một “liên từ phụ thuộc (conjonction de subordination – kiểu như quand, lorsque trong tiếng Pháp hay when, while trong tiếng Anh, kogda trong tiếng Nga) dùng để mở đầu cho một “câu phụ chỉ thời gian”, như trong câu:

Khi gặp cô ấy, tôi thấy xúc động lạ thường.

Những tác giả xử lý từ khi theo mẫu của câu tiếng Tây như vậy, quên mất rằng "khi", ngay cả trong trường hợp đứng trước một câu như câu trên, vẫn giữ nguyên những đặc trưng mà chỉ có từ loại danh từ mới có được, cụ thể là:

1. có thể đi sau một trong các lượng từ (hay quán từ) những, một, mỗi (Những khi gặp…; Mỗi khi gặp…).
2. có thể đi sau một giới từ như trước, sau, trong (Trước khi gặp…; Sau khi gặp…; Trong khi gặp…).
3. Giới từ và giới ngữ. Từ lâu, lý lụận ngôn ngữ học đại cương đã chỉnh lý đuợc một quan niệm sai lầm coi các hư từ như một thứ yếu tố thừa ở bên lề của câu, chẳng thuộc về một ngữ đoạn nào, trong khi đó chính là một từ có vị trí trung tâm trong tất cả các ngữ đoạn mà nó tham gia với tính cách là một tác từ (operator) quyết định “cách” và vai nghĩa của ngữ đọan trong câu. Điều này Trương Vĩnh Ký, đi trước Ch. Fillmore gần một thế kỷ (1883-1968), đã hiểu khá tường tận.

Trong tiếng Việt, nếu không kể từ đánh dấu ly cách (ablatif) và từ tại, tất cả các giới từ đều vốn là vị từ (cho, ở, đi, tới, đến, vào, ra, lên, xuống), hay là danh từ (trên, dưới, trong, ngoài, bên, cạnh), và cũng như các thực từ (nhất là các vị từ ngoại động làm cội nguồn cho nó, nó đều có những bổ ngữ trực tiếp là những ngữ đoạn danh từ và do đó phải được coi là trung tâm của ngữ đọan mới hình thành – những giới ngữ (prepositional phrases).

Nó được khu biệt với các vị từ và các danh từ bằng khinh âm (so sánh: Cởi áo cho nhau[1111] và Cởi áo cho nhau [1101]; Cá lội dưới sông [1101] và Đào đường xe điện ngẩm ở dưới sông [11001011]) . Tác dụng ngữ pháp của giới từ trong các ngôn ngữ đơn lập phân tích tính chính là tác dụng của biến vĩ trong những ngôn ngữ biến hình như tiếng châu Âu. Trong các thứ tiếng này, biến vĩ cũng được một số tác giả Pháp coi là phụ tố làm trung tâm cho từ đa hình vị (xem thêm mục 7 dưới đây)

4. Vị từ tình thái. Có liên quan đến viêc xác định trung tâm của các ngữ đọan còn có vấn đề các vị từ tình thái. Ở đây, cũng như đối với các danh từ bị gọi là “loại từ”, hay đối với các giới từ bị coi là không có chỗ đứng trong câu, các vị từ tình thái được coi là một thứ trợ ngữ lệ thuộc vào các vị từ chính danh. Quan niệm này có thể thấy rõ qua cách dùng thuật ngữ của một số tác giả viết về tiếng Việt như Elisabeth Clark (“Coverbs”) hay Nguyễn Phú Phong (“Préverbes”). Thế mà trong lý luận ngôn ngữ học đại cương đã có sẵn một thuật ngữ dành riêng cho loại vị từ này: đó là thuật ngữ Vị từ tình thái ( modal verbs).

Vị từ tình thái là những vị từ làm trung tâm cho ngữ đọan vị từ.Trong một thứ tiếng SVO nhất quán như tiếng Việt, đó là vị trí đầu tiên trong ngữ đọan vị từ. Nó chỉ khác với các vị từ khác ở chỗ bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp của nó là một ngữ đọan vị từ hay là một câu chứ không phải một ngữ đoạn danh từ. Cùng vối bổ ngữ trực tiếp của nó, nó trả lời những câu hỏi như muốn làm gì, được ăn gì, dám làm gì, phải ra sao, bị làm sao, đã làm gì, sẽ ra sao, chưa biết gì chứ không phải ăn cái gì, đánh ai, nuôi con gì).

5. Thì và Thể trong tiếng Việt. Vẫn một mực trung thành với nguyên lý thiêng liêng “tiếng Pháp thế nào thì tiếng Việt phải y như thế”!, SDTV khẳng định rằng tiếng Việt có ba “thời” quá khứ, hiện tại và tương lai, được diển đạt bằng ba từ đã (rồi), đang và sẽ, trong khi chỉ cần thử nghe một người Việt nói chuyện vài phút cũng đủ thấy ba từ này không bao giờ chỉ ba cái “thời” ấy. Trái lại, ba từ này dùng cho bất cứ “thời” nào – quá khứ, hiện tại hay tương lai, để diễn đạt một ý nghĩa hoàn toàn khác – ý nghĩa “thể và ý nghĩa tình thái, và đã từ lâu, người ta biết rằng tiếng Việt, cũng như các ngôn ngữ Đông Nam Á khác, bên cạnh rất nhiều ngôn ngữ không phải là tiếng châu Âu, vốn không có và không thể có thì với tính cách là một phạm trù ngữ pháp (bắt buộc), tuy khi cần có thể cho biết thời gian của sự việc bằng phương tiện từ vựng (không bắt buộc – như trước đây, hiện nay, hồi ấy, sau này).

Tôi đã từng phải tranh luận trên mặt báo với một dịch giả chủ trương rằng cách duy nhất để dạy cho học sinh hiểu thế nào là “thì” trong ngữ pháp tiếng Nga là dùng ba từ đã, đang và sẽ (tuy ông, vốn là một dịch giả gần như chuyên nghiệp, biết rõ rằng người Việt hầu như không bao giờ dùng mấy từ này như người Nga). Tôi đã phải viết rằng nếu một câu như On byl zdorovym mà dịch sang tiếng Việt là Nó đã khoẻ hay Nó khoẻ rồi thì không phải chỉ sai, mà còn ngược hẳn với nghĩa của nguyên bản, vì câu tiếng Nga có nghĩa là Trước đây nó khoẻ (chứ bây giờ thì không còn khoẻ nữa), còn câu tiếng Việt thì lại có nghĩa là Trước đây nó ốm, còn bây giờ thì nó khoẻ rồi.

Năm 1940, Trần Trọng Kim. Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm viết trong cuốn Văn phạm Việt Nam rằng đã cho biết hành động đã hoàn thành, còn đang cho biết nó đang tiếp diễn. Trong bản dịch sang tiếng Pháp, họ gọi hai từ này là cừ chỉ thể (aspects du verbe). Thể là một phạm trù rất ít được biết đến trong ngữ pháp học đường của tiếng Pháp. Thế mà họ đã hiểu được ý nghĩa của hai từ này một cách chình xác, chứ không bị mắc lừa như trong SDTV của nhà trường ta.

6.Thái bị động? Như ở mục 3 trên kia đã nói rõ, một ngôn ngữ thuộc loại hình “Đề - Thuyết” như tiếng Việt tuyệt nhiên không cần đến sự phân biệt ngữ pháp giữa hai thái chủ động và bi động, một khi Đề có thể đảm đương bất cứ vai nghĩa nào trong câu. Thế nhưng một số tác giả, trung thành với lối suy nghĩtheo nếp sao phỏng ngữ pháp tiếng Pháp, vẫn khẳng định rằng tiếng Việt, tuy không có”thái bị động”, nhưng vẫn có “câu bị động” hay “câu có nghĩa bị độïng”, và do đó có khả năng diễn đạt “phạm trù” {bị động}.

Thật ra như vậy chính là thừa nhận tính phi ngữ pháp (không bắt buộc)của phạm trù thái. Nhưng các tác giả hữu quan không hề ý thức được ý nghĩa thật của những điều họ viết ra. Muốn chứng minh được những điều ấy, họ phải chứng minh được rằng:

1. hai chữ bị và được là những hư từ, tức những công cụ ngữ pháp không có (hay đã mất hết) ý nghĩa từ vựng. Đằng này hai chữ đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa từ vựng.

2. Hai hư từ này có tác dụng như những tác tử bị động hóa (operators of passivization) đối với tất cả các vị từ đứng sau nó. Đàng này hai chữ bị và được rất ít khi có tác dụng ấy. Muốn khẳng định như trên, phải coi khoảng 87% trường hợp là”lệ ngọai”, trong khi rất khó tìm thấy nhưng lệ ngọai ngữ pháp lên đến con số dăm bày từ trên một tổng số vài trăm từ.

Còn nếu họ đứng trên quan điểm ngữ nghĩa mà xét, thì không thể hiểu tại sao họ không xếp những câu như Cơm đã dọn lên, Tôi có các anh giúp cho, Vườn trồng toàn bưởi, Việc này ai cũng biết, Đội B thua hai không (số câu kiểu này nhiều hơn và thông dụng hơn số “câu bị động” của các tác giả nói trên đến mấy trăm lần).

Cách dây hơn nửa thế kỷ, năm 1940, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm đã hiểu hoàn toàn đúng ý nghĩa từ vựng và ngữ pháp của hai từ bị và được, chính vì họ xét hai từ này trong toàn bộ mấy nghìn cách sử dụng: với hầu hết các vị từ, ta đều thấy nó có nghĩa chủ động (bị ngã, bị đau, được ăn, được học v.v...) và họ cũng biết rõ các thứ tiếng Âu châu để thấy rằng ý nghịa của bị và được tuyết nhiên không có chút gì dính dáng đến “thái bị động” hay “ý nghĩa bị động”.

7. Trọng âm ngữ đoạn, một phương tiện ngữ pháp quan trọng của tiếng Việt cần được dạy ngay ở cấp tiểu học.

Cuối cùng, không thể không nói vài lời đến trọng âm, mặc dầu ở đây không có biểu hiện nào của thói sao chép ngữ pháp tiếng Pháp cả - chẳng qua vì chưa có ai nghĩ đến, và cũng chưa có ai viết gì về vấn đề này.

Nhưng chỉ riêng một thí dụ dẫn ở mục 3 trên đây cũng đủ cho thấy vai trò của trọng âm đối với cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của câu quan trọng như thế nào. Bài nghiên cứu về Trọng âm và các quan hệ ngữ pháp đã được công bố từ hơn 20 năm nay (1978 – Báo cáo tại Hội nghị Khoa học của Viện KHXH tại TP.HCM) và trong một cuốn sách xuất bản gần đây (1998), nó đã được in lại, lần này có kèm theo những biểu đồ có được bằng máy ghi thanh phổ. thanh điệu, độ dài (với sai số 10% giây) và cương độ chính xác. Nhưng không hiểu tại sao giới nghiên cứu tiếng Việt vẫn im lặng, và các tác giả SDTV vẫn không đưa nội dung này vào chương trình.

Trong khi đó, các em ở cấp tiểu học vẫn phải tập “đọc diễn cảm”, một nghệ thuật mà ngay ở trường Đại học Sân khấu cũng không có mấy thầy dám viết ra cho sinh viên học.

8. Kết luận

Để kết luận cho bài báo cáo đã khá dài này, tôi chỉ xin nêu một câu hỏi mà những người tha thiết với tiếng Việt, trong đó có chúng tôi và giới phụ huynh học sinh, vẫn mong mỏi được nghe giải đáp từ mấy chục năm nay:

Đến bao giờ sách giáo khoa tiếng Việt mới dạy thứ tiếng Việt mà hơn 70 triệu người Việt đang nói hàng ngày, chứ không phải thứ “tiếng Việt” giả tạo sao chép một cách máy móc từ sách cũ dùng để dạy tiếng Pháp cho dân thuộc địa?

GS C.X.H


Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
Về khái niệm quy tắc ngữ pháp

GS Cao Xuân Hạo
(Báo Văn nghệ)

Mỗi con người bình thường, khi đã biết nói, đều nói và hiểu được tiếng mẹ đẻ một cách hoàn hảo về cơ bản, ít nhất là về phương diện ngữ pháp (tuy đôi khi có thể nói nhịu hay hiểu nhầm). Ðây là một vốn tri thức tuyệt đối, ít nhất là về ngữ pháp cơ bản, tuy không phải là một tri thức hiển ngôn. Thường thường, đến năm tuổi, đứa trẻ đã nắm được toàn bộ ngữ pháp cơ bản của tiếng mẹ đẻ một cách không hiển ngôn.

Biết rằng có thể nói thế này mà không thể nói thế kia, nói thế này "dễ nghe" hay "tự nhiên" hơn nói thế kia, là những tri thức khá minh xác, mà đứa trẻ cũng như mọi người trong cộng đồng đều biết rõ, nhưng là những tri thức không hiển ngôn, nghĩa là người bản ngữ không thể nói rõ bao giờ và tại sao "có thể nói thế này" mà "không thể nói thế kia", hay tại sao nói thế kia lại "khó nghe" hay "thiếu tự nhiên" hơn "nói thế này".

Như vậy ngôn ngữ có những quy tắc mà người bản ngữ nhất trí tuân theo một cách nghiêm túc, và nếu có ai vi phạm thì họ thấy chướng tai và biết là nói "không đúng cách" hoặc ít nhất cũng "thiếu tự nhiên", mặc dầu tự bản thân họ không thể nói rõ mình đang tuân theo những quy tắc gì, nội dung chính xác của những quy tắc ấy ra sao (nếu có ai yêu cầu họ trình bày một cách đủ minh xác để viết thành văn).

Nhiệm vụ của người nghiên cứu ngôn ngữ và soạn sách ngữ pháp chính là nói ra một cách hiển ngôn những điều mà người bản ngữ biết một cách mặc ẩn, những quy tắc mà họ tuân thủ một cách tự nhiên và triệt để mặc dầu không thể tự mình nói rõ nội dung của nó ra, cho biết nó đòi hỏi cái gì và cấm đoán cái gì, trong trường hợp nào thì phải tổ chức từ ngữ lại như thế này hay như thế khác cho thành câu.

Trong khi đó các sách ngữ pháp của ta không bao giờ lập thức được một quy tắc ngữ pháp thực sự của tiếng Việt - trong đó có một số những quy tắc chi phối cách cấu tạo những các ngữ đoạn và mấy trăm quy tắc khác mà người bản ngữ tất nhiên phải biết (một cách không hiển ngôn) để nói và hiểu tiếng Việt. Có chăng cũng chỉ thấy nhắc qua (một cách gián tiếp và đủ mơ hồ để người đọc muốn hiểu thế nào cũng được) những quy tắc ngữ pháp sao lại của tiếng Pháp như "chủ từ đặt trước động từ", "động từ đặt trước túc từ" v.v... thường buộc các tác giả phải xáo trộn các câu tiếng Việt lại cho giống câu tiếng Pháp mới có hiệu lực, hoặc tiện hơn nữa là không bao giờ nhắc đến hàng trăm kiểu câu không giống tiếng Pháp, bị coi như không hề có trong tiếng Việt. Khi nói đến việc "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt", người ta chỉ chăm chăm tìm cách thay những từ gốc Hán (làm thành hơn 70% vốn từ thông dụng nhất của tiếng Việt) bằng những từ gốc Môn-khmer, gốc Thái hay gốc Mã Lai (mà không hiểu tại sao người ta thản nhiên gọi là "từ thuần Việt"), tuyệt nhiên không quan tâm đến ý nghĩa chính xác và phẩm chất tu từ học của các từ hữu quan, bất chấp luôn cả tư cách và thái độ cú pháp của các từ ấy trong câu.

Trong khi đó không thấy ai phê phán và phân tích rõ tính chất sai trái hay không "trong sáng" của những lối viết như:

a. Với những yếu điểm ấy làm cho ta không thể quên đi chúng.

b. Qua nghiên cứu cho thấy tính luôn khả thi của kế hoạch.

c. Dù trong tình hình cam go nhưng tất cả họ vẫn vững vàng.

d. Bộ phim được tài trợ bởi PS bảo vệ hai lần.

e. Bằng các cách quản lý ấy không luôn hữu hiệu.

f. Trên mặt nổi lên các mụn đo đỏ.

v.v, v.v.

mà mỗi ngày ta được nghe đọc mấy trăm lần trên các đài và được các biên tập viên thi nhau truyền bá với tần số ngày càng tăng.

Trên kia chúng tôi có nói rằng người bản ngữ, khi đã biết nói, đều có một tri thức tuyệt đối, tuy không hiển ngôn, về tiếng mẹ đẻ, và nhiệm vụ của nhà ngữ học chẳng qua là hiển ngôn hóa cái vốn tri thức ấy, nghĩa là viết nó ra thành văn trên các trang sách ngữ pháp mà thôi. Nếu quả như vậy, công việc của nhà ngữ học chẳng hóa ra vô bổ lắm ru? Và nếu nhà ngữ học cũng vốn là người bản ngữ, công việc của anh ta chẳng phải là dễ như bỡn hay sao?

Vấn đề không đơn giản như vậy. Hiển ngôn hóa một tri thức không hiển ngôn đòi hỏi một phương pháp nghiêm ngặt và một cảm thức tinh tế. Người làm việc ấy phải có tay nghề. Trong lĩnh vực tiếng nói, đó chính là "tay nghề" của nhà ngôn ngữ học. Một người biết đi xe đạp thành thạo không dễ gì trình bày một cách hiển ngôn cái cơ chế hoạt động của các bộ phận trên thân thể mình, không dễ gì biết cách nói rõ các cơ bắp trên lưng, lườn, vai, bụng và tứ chi của mình co duỗi ra sao để giữ cho chiếc xe đạp mình đang cưỡi giữ được thăng bằng và lăn bánh bình thường. Người muốn biết đi xe đạp không thể có được cái kỹ năng được gọi là "biết đi xe đạp" bằng cách học một lớp lý thuyết nhằm hiển ngôn hóa cái kỹ năng ấy. Cách duy nhất là tập đi xe đạp lấy, nghĩa là không tìm cách hiển ngôn hóa cái gì hết. Kỹ năng đi xe đạp tuyệt nhiên không cần được hiển ngôn hóa. Họa chăng chỉ có người nào muốn thiết kế một thứ robot biết đi xe đạp mới phải xây dựng một lý thuyết hiển ngôn về kỹ năng đi xe đạp của con người.

Kỹ năng ngữ pháp của người bản ngữ cũng không hiển ngôn gì hơn kỹ năng đi xe đạp, nhưng có khác ở một điểm quan trọng: khi vào trường học, người bản ngữ năm - sáu tuổi đã thụ đắc xong xuôi cái kỹ năng ấy rồi, và trong những điều kiện giao tiếp bình thường với gia đình và bè bạn, đứa trẻ đã nắm vững (một cách không hiển ngôn) những nguyên lý cơ bản của ngữ pháp tiếng mẹ đẻ. Dù là trong một xã hội không có trường học, cái kỹ năng ấy sẽ ngày càng được củng cố và mấy năm sau đã trở thành điêu luyện nhờ thực tiễn sử dụng trong giao tiếp, tuy vẫn không hiển ngôn như cũ. Cái vốn tri thức ngữ pháp đã học được từ khi mới học nói không tăng thêm bao nhiêu trong khi vốn từ vựng phát triển thêm gấp bội.

Trong một xã hội có văn tự và có trường học, trẻ con khi nhập học đều phải bắt đầu học tiếng mẹ đẻ một cách hiển ngôn, qua việc học thuộc những câu văn được ghi bằng chữ viết và được phân tích một cách hiển ngôn thành những câu và những ngữ đoạn có chức năng ngữ pháp được hình thái hóa theo những quy tắc nhất định, rồi đến lượt mình lại tập viết ra những câu văn theo những khuôn mẫu lý thuyết được trình bày một cách hiển ngôn.

Trong lớp học, kể cả những lớp cao, học sinh và sinh viên hầu như không biết thêm một cái gì mới về tiếng mẹ đẻ mà họ chưa từng biết. Mọi người bản ngữ đều biết tiếng mẹ đẻ một cách hoàn hảo và tường tận qua hoạt động giao tiếp hằng ngày trong cộng đồng. Tri thức của họ về tiếng mẹ hoàn toàn đủ để cho phép họ hiểu bất cứ câu nào nói hay viết bằng bản ngữ, kể cả những câu mà họ chưa từng nghe thấy hay đọc thấy lần nào, và để diễn đạt bất cứ ý nghĩa nào mà họ muốn diễn đạt, kể cả những ý nghĩa mà họ chưa từng diễn đạt hay được nghe người khác diễn đạt bao giờ. Cái mới mà họ học được ở trường chủ yếu là cách hiển ngôn hóa những tri thức không hiển ngôn mà họ đã có từ lâu về tiếng mẹ đẻ. Việc đó là cần thiết, không phải để có thêm những kỹ năng mới - vì vốn kỹ năng đã hoàn chỉnh rồi - mà để ứng dụng những kỹ năng đã có sẵn trong cái vốn ấy vào những tình huống giao tiếp không đủ quen thuộc để làm thành những kích thích tố có thể gây nên những phản xạ ngôn ngữ trực tiếp, tự phát, hồn nhiên như khi đối thoại với người thân trong gia đình, trong thị tộc hay trong đám bằng hữu.

Một trong những tình huống ấy là khi dùng chữ viết để giao tiếp. Người viết, dù là viết thư cho người thân hay viết báo, viết sách, bị đặt vào một tình cảnh rất khác với khi nói năng (dùng tiếng nói để gọi, để yêu cầu hay sai bảo, để ngăn cản, để quở mắng, để than phiền, để bày tỏ, để mơn trớn, để nịnh hót, để thông báo, để dọa nạt, v.v...). Trước hết, cái đối tượng làm đích cho hành động giao tiếp không có mặt ở hiện trường (để phản ứng ngay khi cần, để hỏi lại ngay khi chưa hiểu, v.v...). Thứ đến, người viết không thể tuôn hết cái nhận định làm thành nội dung của câu nói ra trong một thời gian đủ ngắn để cho tri thức ngôn ngữ bất tự giác có thể chi phối một phản xạ hồn nhiên, gần như bột phát. Viết xong một chữ (một "từ"), người gửi thông điệp có quá nhiều thì giờ để lựa chọn từ ngữ, sắp xếp câu văn, cân nhắc những cách diễn đạt. Câu văn viết không thể là một phản xạ hồn nhiên, tự phát: nói chỉ có thể là kết quả của một quá trình vận dụng những tri thức hiển ngôn. Mà những tri thức hoàn hảo về tiếng mẹ đẻ của người bản ngữ lại là những tri thức mặc ẩn, nghĩa là không hiển ngôn. Cho nên nếu không có một vốn tri thức hiển ngôn về tiếng mẹ đẻ, người bản ngữ có nhiều khả năng viết sai, nghĩa là viết ra những câu không đúng với cái mẫu mà mình vẫn tuân thủ khi nói, và nếu có nghe ai nói thì thấy chướng tai ngay.

Ðã đành rằng ngôn ngữ, cũng như phong tục, và cũng như bất cứ thứ gì tồn tại trên thế gian này, đều có chuyển biến, nhưng ngay sự chuyển biến cũng tuân theo những quy luật xác định có thể và cần được hiển ngôn hóa, chứ không phải có tính hú họa hay hỗn loạn. Nhân danh sự "phát triển", có nhiều người hoan nghênh những câu Tây đặc như Nó được tương trợ bởi các yếu tố thuận lợi và lên án những nhận định ngữ pháp dựa trên văn học dân gian, hay cổ điển, cho rằng đó là thứ ngữ pháp cổ lỗ của thế kỷ 18. Chẳng lẽ người Việt hiện đại không còn hiểu được ca dao, tục ngữ hay Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, hay ít nhất cũng không còn thấy đó là thứ tiếng Việt tinh túy, chuẩn mực, đẹp đẽ nhất?

Cái phần phát triển nhanh nhất trong một ngôn ngữ là vốn từ vựng. Mỗi năm vốn từ vựng có thể tăng hàng trăm đơn vị (từ hay ngữ cố định), nhưng ngữ pháp thì có thể đến năm sáu thế kỷ vẫn không có sự thay đổi đáng kể về cơ bản, như ta có thể thấy qua lịch sử hàng trăm ngôn ngữ được biết rõ trên thế giới. Ngữ pháp tiếng Việt của năm 2000 vẫn chính là ngữ pháp tiếng Việt của Quốc âm thi tập (thế kỷ 15). Nếu trong những câu thơ Nôm của Nguyễn Trãi có những câu ta thấy khó hiểu, thì đó hầu hết là do những cách dùng từ cổ (kể cả hư từ) chứ không phải do cú pháp.

Ở đây cũng cần nói rõ rằng ngay trong vốn từ vựng những sự thay đổi không phù hợp với những quy tắc từ vựng cơ bản của tiếng Việt cũng nhanh chóng bị đào thải, chẳng hạn: người lái (<phi công), người bắn (<xạ thủ), học sinh đại học (<sinh viên), giáo viên gái (<cô giáo, nữ giáo viên), sinh viên gái, dân quân gái (<nữ sinh viên, nữ dân quân), máy bay lên thẳng (<máy bay trực thăng), thằn lằn kinh khủng, thằn lằn khủng khiếp (<khủng long), liệt xa đoạn (<đầu máy), độ cao (<cao độ), điểm cao (<cao điểm), vườn hoa (<công viên), trong khi những sự thay đổi nào phù hợp hơn thì được người bản ngữ chấp nhận và giữ lại, chẳng hạn: Chữ thập đỏ (<Hồng thập tự), nhà văn, nhà thơ (<văn sĩ, thi sĩ), nữ tu (sĩ) (<bà xơ, ma xơ), cỡ lớn, quy mô lớn (<đại quy mô, vĩ mô), v.v...

GS C.X.H


Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-25 02:55:11NuHiepDeThuong>
Chuyện dạy tiếng Việt như
một ngôn-ngữ-một-rưỡi


Nguyễn Hưng Quốc


Ai muốn lo thì cứ việc tự nhiên lo, nhưng xin đừng quên là, với phần lớn các sinh viên Việt Nam ở hải ngoại hiện nay, thuộc lứa tuổi từ khoảng 18 đến 21, tiếng Việt không còn là ngôn ngữ thứ nhất như thế hệ phụ huynh của họ. Một số khá đông sinh trưởng ở ngoại quốc, chưa từng bao giờ đặt chân đến Việt Nam cả. Một số khác, tuy sinh đẻ ở Việt Nam, nhưng lại rời Việt Nam trước khi bước chân vào mẫu giáo. Họ học tiếng Việt chủ yếu từ cha mẹ, ông bà và họ hàng. Tiếng Việt của họ là thứ tiếng Việt mang tính khẩu ngữ, thường được sử dụng trong gia đình, xoay quanh chuyện nhà cửa, quần áo, giày dép, và nhất là chuyện ăn uống. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các lầm lẫn mà các sinh viên của tôi vấp phải đều có quan hệ xa gần với chuyện ẩm thực.

Ðối với những người có trách nhiệm giảng dạy tiếng Việt ở hải ngoại, điều đáng lo không phải là lo cho người đi học mà, thành thực mà nói, lo cho chính người đứng trên bục giảng. Bởi, dạy tiếng Việt cho học sinh hay sinh viên Việt Nam ở hải ngoại chắc chắn là khác hẳn với việc dạy tiếng Việt ở Việt Nam. Ở Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất của học sinh và sinh viên: trước khi vào lớp, ngay cả lớp vỡ lòng, tiếng Việt của các em đã khá lắm rồi; trong suốt thời gian đi học, tiếng Việt của các em không ngừng được bồi bổ từ trong gia đình đến ngoài xã hội, từ các cuộc giao tiếp trong đời sống hàng ngày đến các phương tiện truyền thông đại chúng chung quanh. Vai trò của thầy cô giáo, do đó, chỉ chiếm một phần khá nhỏ. Thầy cô giáo không giỏi, học trò vẫn có thể nói tiếng Việt giỏi. Ở hải ngoại thì khác. Vùng không gian sử dụng tiếng Việt thật hẹp: may lắm là trong gia đình và trong các lớp tiếng Việt. Nói là “may” vì ngay trong phạm vi gia đình và trong lớp tiếng Việt, thời gian các em sử dụng tiếng Việt cũng không nhiều, chủ yếu là với bố mẹ và thầy cô giáo; còn chuyện trò với anh em hay bạn bè, các em vẫn thường sử dụng tiếng Anh hay một thứ tiếng nào ở bản xứ là chính. Ðó là chưa kể vây bọc chung quanh các em, từ truyền hình đến truyền thanh, từ phim ảnh đến âm nhạc, hầu hết đều không phải là tiếng Việt.

Tuy nhiên, với các học sinh hay sinh viên Việt Nam ở hải ngoại, tiếng Việt cũng không hẳn đã là ngôn ngữ thứ hai. Một người Việt Nam sinh trưởng ở hải ngoại đi học tiếng Việt, cho dù là lần đầu tiên, cũng không giống với một người Úc hay một người thuộc các sắc tộc khác học tiếng Việt. Không giống, ít nhất, ở hai điểm. Thứ nhất, trong bốn kỹ năng chính của ngôn ngữ: nghe, nói, đọc và viết; kỹ năng nghe của học sinh và sinh viên Việt Nam, nói chung, thường rất khá. Họ có thể viết vụng, đọc yếu, nói năng ngọng nghịu nhưng thường hiểu rất nhanh khi nghe giảng bài. Lý do chủ yếu là vì, cho đến nay, trong phần lớn các gia đình người Việt, cha mẹ và ông bà thường vẫn giữ thói quen nói tiếng Việt với con cháu. Trong khi đó, một người Úc hay bất cứ một người ngoại quốc nào, khi học tiếng Việt, việc trau dồi kỹ năng nghe bao giờ cũng rất khó, nếu không nói là khó nhất: khi nói, người ta có thể chủ động, và có thể chuẩn bị trước được; còn khi nghe, người ta hoàn toàn bị động và ở trong thế bất ngờ, đòi hỏi phải ứng phó ngay tức khắc. Thứ hai, người học ngôn ngữ từ thuở bé và trong gia đình, bất chấp vô số các hạn chế về từ vựng và kiến thức ngữ pháp, vẫn có một ưu thế hơn hẳn những người ngoại quốc mới bắt đầu học một ngôn ngữ xa lạ trong nhà trường, đó là ở khả năng đoán nghĩa. Khả năng này thường rất dễ thấy ở trẻ em: xem tivi, chúng có thể nắm bắt câu chuyện dễ dàng, dù, nếu chúng ta chận lại hỏi ý nghĩa của một từ nào đó vừa mới nghe, chúng sẽ nghệch mặt ra, không thể giải thích được, và thật ra, cũng không biết được. Thế nhưng toàn câu chuyện thì chúng hiểu. Chúng hiểu, chủ yếu là nhờ đoán. Trong khi đó, một người ngoại quốc cần phải có thật nhiều thời gian và phải đạt đến một trình độ tương đối khá cao, mới có thể đoán được những chữ mình hoàn toàn chưa học như thế.

Không phải ngôn ngữ thứ nhất, cũng không phải ngôn ngữ thứ hai, với học sinh hay sinh viên Việt Nam ở hải ngoại, tiếng Việt là thứ ngôn-ngữ-một-rưỡi.[9] Loại ngôn ngữ này có những đặc điểm riêng, và do đó, những yêu cầu về phương pháp luận riêng: dạy ngôn-ngữ-một-rưỡi như một ngôn ngữ thứ nhất, người học sẽ chán vì thấy quá khó; dạy như một ngôn ngữ thứ hai, họ cũng chán vì thấy quá dễ. Tiếc, tất cả những điều này đều chưa được nghiên cứu kỹ dù đó là một thực tế mà chúng ta phải đối diện hàng ngày ở hải ngoại. Hơn nữa, đối diện với thực tế ấy, chúng ta có rất ít điều để thừa hưởng: phần lớn các tài liệu ngôn ngữ học có sẵn, bằng các thứ tiếng phổ thông ở Tây phương, đều tập trung vào việc dạy và học ngôn ngữ thứ nhất hoặc ngôn ngữ thứ hai. Rất hiếm có tài liệu nào bàn luận về loại ngôn-ngữ-một-rưỡi, một loại ngôn ngữ chủ yếu chỉ phổ biến trong các cộng đồng lưu vong.[10] Và cũng chỉ phổ biến trong một giai đoạn nào đó mà thôi: khi cộng đồng lưu vong mới hình thành, nó chưa có; khi thế hệ thứ nhất của cộng đồng lưu vong ấy hoàn toàn biến mất, chắc nó cũng sẽ không còn nữa. Hoặc nếu còn, chỉ còn ở mức độ thật èo uột.

Ngôn-ngữ-một-rưỡi khác ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai ở nhiều điểm.

Trước hết, trình độ khởi đầu chung của những người học ngôn ngữ thứ nhất cũng như ngôn ngữ thứ hai khá ổn định: với người học ngôn ngữ thứ hai, đó là con số không to tướng; với người học ngôn ngữ thứ nhất, đó là những từ vựng và ngữ pháp căn bản mà mọi đứa trẻ bình thường đều biết. Trình độ khởi đầu chung của ngôn-ngữ-một-rưỡi phức tạp hơn nhiều: chúng thay đổi theo từng gia đình và điều kiện giáo dục cụ thể của từng người. Ở đây, nói chung hình như những học sinh và sinh viên sinh trưởng trong gia đình lao động lại có nhiều cơ hội nói tiếng Việt giỏi hơn những gia đình trí thức cao; những người sống trong gia đình đông người, ngoài cha mẹ, còn có cả ông bà, chú bác dễ giỏi tiếng Việt hơn những người chỉ sống với bố mẹ, nhất là khi bố mẹ cùng đi làm ở ngoài; những người sống ở các địa phương tập trung nhiều người Việt cũng dễ thông thạo tiếng Việt hơn những người sống hoà lẫn với những người bản xứ hoặc các sắc tộc khác. Chính vì vậy, hầu hết các lớp tiếng Việt ở hải ngoại đều bao gồm nhiều trình độ khác nhau: có sinh viên nói, đọc và viết đều khá; và có cả những sinh viên chỉ biết nói, còn đọc và viết thì lại kém, hay có khi, rất kém. Dạy những lớp đa trình độ ấy là một công việc phức tạp và nhọc nhằn. Phức tạp và nhọc nhằn hơn nữa khi mỗi năm trình độ sinh viên mỗi khác, đòi hỏi một chương trình và một cách dạy khác. Những sự thay đổi này làm cho tham vọng tìm kiếm một phương pháp luận giảng dạy phổ quát và cố định dễ trở thành một giấc mơ hão huyền.

Thứ hai, khác với người sử dụng ngôn ngữ thứ nhất vốn có khả năng cảm nhận ngôn ngữ như những kinh nghiệm cụ thể và trực tiếp, người sử dụng ngôn-ngữ-một-rưỡi và ngôn ngữ thứ hai thường chỉ có khả năng cảm nhận ngôn ngữ như những khái niệm trừu tượng và do đó, mơ hồ. Chính điều này làm cho những người sử dụng tiếng Việt như một thứ ngôn-ngữ-một-rưỡi khó, và những người sử dụng tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai cực kỳ khó, có thể cảm thụ được cái hay trong âm vang của một chữ, một câu, yếu tố quan trọng nhất làm nên cái đẹp của thơ văn Việt Nam. Tôi đã nhiều lần loay hoay, và cuối cùng, tuyệt vọng trong nỗ lực làm cho sinh viên hiểu được những cái hay thật tế nhị trong một cách dùng từ hay một hình ảnh, một sự ví von trong thơ văn Việt Nam. Mà kể cũng phải thôi. Ngôn ngữ đâu phải chỉ là chữ. Và chữ đâu phải là những ký hiệu vô hồn trên trang giấy. Mỗi chữ có bề dày văn hoá của nó. Những bề dày ấy được hình thành từ lịch sử, từ nếp sinh hoạt trong xã hội, từ tính chất liên văn bản: các văn bản khác sẽ vang âm trong văn bản này, khiến chữ cũng xôn xao, cũng ngân nga, như có cuộc hoà nhạc tự bên trong. Không thâm nhập được vào cái bề dày văn hoá thăm thẳm, có khi vô tận ấy, người ta khó có hy vọng tiếp cận được cốt tuỷ của thơ văn. Chẳng hạn, không từng thấy cánh cò, không từng nghe lời ru “cánh cò bay lả bay la”, không từng biết đến ruộng đồng và nếp sống êm ả ở các miền quê Việt Nam, có lẽ người ta khó cảm được hết cái hay và cái ấm trong những câu ca dao kiểu “Con cò mà đi ăn đêm...”

Viết như thế, tôi không hề có ý chê bai trình độ của những người sử dụng tiếng Việt như một ngôn-ngữ-một-rưỡi. Thật ra, mất cái này, họ được cái khác. Cảm nhận tiếng Việt như những khái niệm chứ không phải kinh nghiệm, một mặt, sinh viên khó cảm thụ được thơ văn, nhất là thơ văn cổ, nhưng mặt khác, họ lại dễ dàng phát huy khả năng phân tích để từ đó, dễ phát hiện ra những đặc điểm có tính chất ngôn ngữ học hay văn hoá đằng sau các con chữ ngỡ như bình thường nhất. Những “phát hiện” ấy chưa chắc đã có ý nghĩa khoa học gì đáng kể nhưng ít nhất chúng cũng giúp cho quá trình học tiếng Việt trở thành lý thú và có hiệu quả nhanh. Chữ “tái tê” rõ ràng không có quan hệ gì với các chữ “tái chín” hay “tái nạm” trong các tiệm phở, nhưng dù vậy, sự liên tưởng ấy vẫn hợp lý: chúng nảy sinh từ sự tương đồng giữa các hình vị “tái”. Lợi dụng thói quen liên tưởng ấy, chúng ta có thể giúp người học tiếng Việt như ngôn-ngữ-một-rưỡi mở rộng vốn từ của mình: từ chữ “nhỏ” mà ai cũng biết, người ta sẽ dễ dàng biết thêm các chữ “nhỏ nhoi”, “nhỏ nhắn”, “nhỏ nhen”, v.v... Rồi từ âm “oi” trong các chữ như “lẻ loi”, “ít oi”, “loi thoi”; các âm “ắn” trong ‘vuông vắn”, “đỏ đắn”, “ngay ngắn”, “thẳng thắn”...; và các âm “en” trong “ven”, “len”, “men”... sinh viên sẽ dần dần hình dung ra những khác biệt trong màu sắc ngữ nghĩa của những chữ “nhỏ nhoi”, “nhỏ nhắn” và “nhỏ nhen”, v.v... Nói cách khác, học từ mới là học luôn cả chùm từ vựng mới, những từ có quan hệ với nhau hoặc về ngữ nghĩa hoặc về cấu trúc ngữ âm và hình thái.

Với thói quen phân tích được trau dồi từ nền giáo dục Tây phương, những người sử dụng tiếng Việt như ngôn-ngữ-một-rưỡi đặc biệt thích thú với việc truy tìm những đặc điểm văn hoá ẩn giấu đằng sau ngôn ngữ. Họ rất thích đặt những câu hỏi “Tại sao?”. Tại sao biểu tượng của đất nước, trong tiếng Anh là vùng đất để trồng trọt và chăn nuôi (country); trong tiếng Việt, lại chỉ là nước? Tại sao với người Việt Nam, dù có từ ghép “đất nước”, “nước” rõ ràng vẫn quan trọng hơn “đất”, gắn liền với tình cảm và mang tính khái quát hơn “đất”? Tại sao “nước” lại chiếm vai trò quan trọng đến như vậy trong tư duy của người Việt? Tại sao một số khá nhiều các nhận thức về con người và cuộc sống của người Việt Nam đều xuất phát từ kinh nghiệm họ có với nước: từ chuyện “nông / sâu” trong nhận thức đến chuyện “dạt dào / khô cằn” trong tình cảm, chuyện “mặn mà / lạt lẽo” trong quan hệ giữa người và người, chuyện “chìm đắm” trong thói quen, chuyện “trôi nổi / lênh đênh” trong số phận, chuyện bài học đạo đức “uống nước nhớ nguồn”? Tại sao thế? Tất cả những điều đó có quan hệ gì đến vai trò của nước trong sinh hoạt nông nghiệp ở Việt Nam: “nhất nước, nhì phân…”? Vân vân. Rồi tại sao từ “ăn” lại là từ nhiều nghĩa nhất trong tiếng Việt? Tại sao người Việt Nam dùng chữ “ăn” để chỉ những sự tiếp nhận (ăn muối, ăn lương...), sự hài hoà (ăn đèn, ăn ảnh…), sự thắng bại (ăn /thua), và cả cách sống của con người nói chung (ăn ở / ăn nói / ăn học...)? Sự phong phú trong quá trình chuyển nghĩa của chữ “ăn” liệu có quan hệ gì với việc thịnh phát của đề tài tham ăn trong kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam hay không? Rồi tại sao người Việt Nam gọi thịt chó là thịt cầy? Tại sao, ngoài chữ thịt cầy lại có vô số những cách gọi khác, như: thịt nai đồng quê, thịt cờ tây, rồi lại phải nói lái chữ “con cầy” thành “cây còn” rồi dịch ra chữ Hán để có một từ Hán Việt giả cầy là “mộc tồn”? Tại sao phải nói năng lòng vòng và nhiêu khê như vậy? Tại sao sự lòng vòng và nhiêu khê ấy không xuất hiện với các loại thịt khác như thịt heo, thịt bò và thịt trừu như trong một số ngôn ngữ Tây phương, nơi, chẳng hạn, như tiếng Anh, thịt của con pig được gọi là pork, thịt con cow, bull hay ox thì được gọi là beef, thịt con sheep thì được gọi là lamb?

Với cách học như thế, ngay trong các lớp có vẻ như chuyên hẳn về văn học, mục tiêu chính mà sinh viên nhắm tới không phải là tìm hiểu cái hay và cái đẹp của thơ văn mà, qua các bài thơ và áng văn ấy, mở rộng kiến thức về ngôn ngữ và khám phá một số khía cạnh văn hoá ẩn kín đằng sau ngôn ngữ và đằng sau các sự kiện văn học.

Và bản thân tôi, bị lôi cuốn - có khi bị xô đẩy - vào các cuộc khám phá như thế, một lúc nào đó, ngoảnh lại, lòng bỗng dưng thoáng chút bùi ngùi, thèm được nói về thơ, dẫu chỉ một câu thơ thôi, với những người có cùng kinh nghiệm văn hoá với mình, để có thể hiểu được, như mình, những cảm xúc bâng khuâng trong tiếng ngân của một chữ, hay có khi, một thanh bằng thanh trắc, kiểu “Tài cao, phận thấp, chí khí uất / Giang hồ mê chơi quên quê hương”.

Ủa, mà thơ của ai thế nhỉ? Nghe xa lắc như một giấc mơ của thuở thiếu thời.

(Melbourne 05.11.2003)
_________________________

[1]Dĩ nhiên là trừ những ngành học trong đó sinh viên không thể chọn bất cứ ngoại ngữ nào làm môn chính (như các ngành về khoa học kỹ thuật).

[2]Về số liệu liên quan đến cộng đồng người Việt Nam tại Úc, có thể xem website: http://www.vietnameseinaustralia.com.au/As...InAustralia.asp

[3]Về số liệu các lớp Tiếng Việt tại Úc, có thể xem Nguyễn Xuân Thu (1995), Unlocking Australia’s Language Potential, Profiles of Languages in Australia: Vietnamese, Canberra: The National Languages and Literacy Institute of Australia.

[4]Theo Nguyễn Xuân Thu (1995), sđd, tr. 22.

[5]Ðó là các trường Victoria University, the University of Melbourne (chỉ mở một năm, 1995), RMIT, Monash, Swinburne, Deakin, Australian Catholic University (chỉ mở một năm, khoảng 1992).

[6]Gs Nguyễn Xuân Thu cũng là người có công đầu trong việc vận động thành lập viện đại học quốc tế đầu tiên tại Việt Nam: International RMIT.

[7]Xin lưu ý là trong khi tại tiểu bang Victoria có khoảng 7 đại học có môn Tiếng Việt thì tại tiểu bang New South Wales, nơi có đông người Việt nhất, lại chỉ có một trường dạy tiếng Việt: trường University of Western Sydney; tại tiểu bang Nam Úc có một trường: University of Adelaide; và tại thủ đô Canberra một trường: ANU.

[8]Tổng cộng tại trường Victoria University, mỗi năm có 10 lớp Tiếng Việt, bao gồm:

A. Tiếng Việt Sơ Cấp: Gồm 4 lớp:
1. Basic Vietnamese A và B
2. Intermediate Vietnamese A và B
Sau khi học xong bốn lớp thuộc trình độ Sơ Cấp này, sinh viên có thể ghi danh học hai lớp đầu tiên của trình độ Cao Cấp phía dưới để hoàn tất chương trình Tiếng Việt như một môn học chính (major).

B. Tiếng Việt Cao cấp: Gồm 6 lớp:
1. Vietnamese for Business
2. Vietnamese Folklore and Society
3. Vietnamese Language and Culture
4. Vietnamese Film and Media
5. Survey of Vietnamese Literature
6. Special Topics in Vietnamese Literature.

[9]Khái niệm “ngôn-ngữ-một-rưỡi” tôi dùng ở đây hơi khác khái niệm “generation 1.5” (thế hệ một rưỡi) vốn khá phổ biến trong tiếng Anh. Trong tiếng Anh, “thế hệ một rưỡi” được dùng để chỉ những người nằm giữa thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai. Thế hệ thứ nhất chỉ những người sinh ra và được giáo dục ở quê gốc của họ trước khi di cư sang một quốc gia khác; thế hệ thứ hai là con cái của thế hệ thứ nhất: họ sinh ra và được giáo dục hoàn toàn ở quốc gia mới. Thế hệ một rưỡi, ngược lại, được sinh ra và được giáo dục một phần ở quê gốc trước khi sang định cư ở quốc gia thứ hai: họ chịu ảnh hưởng của cả hai nền văn hoá và có thể sử dụng được cả hai ngôn ngữ với những trình độ khác nhau. Khái niệm “ngôn-ngữ-một-rưỡi” tôi dùng không hoàn toàn tương đương với khái niệm “thế hệ một rưỡi” vì nó bao gồm chỉ một phần những người thuộc thế hệ một rưỡi (những người rời Việt Nam lúc còn nhỏ, khoảng lứa tuổi tiểu học hoặc nhỏ hơn nữa) và phần khác, đông hơn, những người sinh ra ở nước ngoài (tức thuộc thế hệ thứ hai) nhưng vẫn được học tiếng Việt trong gia đình hoặc các trung tâm tiếng Việt ở nước ngoài.

[10]Bằng tiếng Anh, có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về phương pháp bồi dưỡng tiếng Anh cho các di dân thuộc thế hệ một rưỡi; tuy nhiên, mối quan tâm chính của họ là chỉ nhắm vào trình độ tiếng Anh của các di dân này mà thôi. Chúng hoàn toàn khác với trình độ tiếng mẹ đẻ của các di dân này.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Chào bạn TK,

Trong bài nầy của ông Vũ Xuân Lương, tại sao tôi thấy viết:
Lí-do mà không viết Lý-do,
Địa-Lí mà không viết Địa-lý.

Tại sao thay chữ "Y" bằng chữ "I" ?
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: congâu

Chào bạn TK,

Trong bài nầy của ông Vũ Xuân Lương, tại sao tôi thấy viết:
Lí-do mà không viết Lý-do,
Địa-Lí mà không viết Địa-lý.

Tại sao thay chữ "Y" bằng chữ "I" ?

những chữ mà có kèm theo chữ "y" được thay thế bằng chữ "i" hết anh gâu ạ.
đây gọi là trương trình cải cách (vào khoảng năm 83.....85 chi đó không nhớ rõ)
cũng may tên của THD không bị thay thế bằng chữ "I" (Mỹ Dung) thật là hú hồn.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
Ngay từ thời thập niên 50 – 60 cũng đã có người chủ trương cải cách thay thế “y” bằng “i” Người gây ồn ào sôi nổi nhất là ông Nguiễn Ngu Í. Ông đưa đơn lên toà án ở Sài-gòn lúc ấy xin sửa tên mình từ Nguyễn Ngu Ý thành Nguiễn Ngu Í. Có người không sôi nổi như ông nhưng lại có rất nhiều độc giả là học giả Nguyễn Hiến Lê. Ai còn giữ các tác phẩm do chính ông tự xuất bản trước 1975 (những ấn bản từ thập niên 90 trở về sau và các ấn bản ở hải ngoại đều đã được biên tập, hiệu đính lại) sẽ thấy ông viết những chữ mĩ thuật, triết lí, cầu kì... Nghĩa là những chữ “y” không có nguyên âm đứng trước đều được đổi thành “i” (ngoại trừ các vần ay, ây, uy không thể đổi được).
Ngoài Bắc người tiêu biểu nhất cho lối viết này là Hồ Chủ Tịch với câu “ Mĩ mà Xấu”.
Ngày 5.3.1984 Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký Quyết định 240/QD và đưa ra "Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt" theo đó chủ trương bỏ “y” thay bằng “i” tương tự như học giả NHL.
Tuy vậy hơn hai mươi năm qua, hình như QÐ của bộ Giáo Dục ít có người nghe theo, tuy là đây đó vẫn thấy có người viết “Mĩ thuật” như ở Talawas là một thí dụ.

Xem thêm về vấn đề Y/I và ý kiến các nhà ngôn ngữ học ở: http://ngonngu.net/index.php?fld=nnh&sub=nguam&pst=cv_datdau_nn79
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-24 15:01:52congâu>
Xin đa tạ sư-phụ TC và sư-tỷ (hay là "tỉ" , Ha ha ha!) đã cắt nghĩa dùm.

Rôi bây giờ, CG viết tên con là Mỹ-Linh hay là Mĩ-Linh???!! Nếu Mỹ-Dung còn giữ được thì Mỹ-Linh chắc vẫn viết như vậy luôn.

Ha ha ha! Chương trình cải cách nầy ngộ quá tay !! chữ "xe ô-tô " để ám chỉ xe hơi , tại sao người ta không sửa đi? ô-tô là danh - từ của tiếng pháp được phiên âm. Nó khg phải là tiếng việt. Hay là "xe ô-tô " là danh - từ quá thông dụng ở ngoài Bắc, nên người ta không sửa lại ....!!?????

Rồi danh - từ "địa chỉ liên lạc " được đổi lại là "địa chỉ liên hệ " trên những tờ báo, những món đồ nào có nhãn viết trên bao hay là những hộp đựng , nghe nó chướng tai quá ! Vậy mà cũng có người học cao , hiểu rộng trong chánh phủ chịu như vậy...

Nếu có nhiều chữ tiếng việt tôi đã quên vì không xài nhiều trong cuộc sống hằng ngày, nhưng ít ra, tôi còn nhớ là "liên lạc " và "liên hệ " rất khác nhau...*

Thế rồi người ta viết Võ-Nguyên-Giáp hay là Võ-Nguiên-Giáp !????
Thật là chưóng tai, gai mắt !!!
Đăng nhập để trả lời
0