Diễn Đàn » Khoa Học Xã Hội

Ý kiến thắc mắc cho các bài về tiếng Việt

6 trả lời, 2.762 lượt xem — Trang 1 / 1
Chào cả nhà,

Bài Phép bỏ dấu Hỏi Ngã trong tiếng Việt của tác giả ĐST ở trang web thuongviet.
NH thấy hay nên khiêng về đây cho chúng ta cùng tham khảo.

Tuy vậy,
4. Chữ Y sắp chung với chữ I vì không có phân biệt gì trong khi phát âm. Chỉ do thói quen mà viết Quý hay Quí.
câu thứ 4 nầy của tác giả NH mạo muội cho ý kiến sau đây.
NH cảm thấy hình như câu 4 của tác giả chỉ đúng cho vài chữ thôi.
Ví dụ : chữ Quý/ Quí và Quỉ/Quỷ
Tuỳ hỉ / Tuỳ hỷ
.

Còn như với những chữ sau đây thì IY có khác biệt rõ ràng.


1. Thúi / Thuý
2. (Thui) thủi / (Thu) Thu

Vài hàng góp ý.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-18 10:39:27Trương Củng>
Thân chào các bạn.

Hổm rày TC lang thang ở mục thơ sưu tầm, thành thử mãi đếm hôm nay mới ra mắt các bạn. May mà DĐ này không phải là sở làm chứ không thì ngày đầu mà trễ như vậy thì TC chắc được “pink slip” quá. Thành thực xin lỗi.

Bài Phép Bỏ Dấu Hỏi Ngã trong tiếng Việt của tác giả ĐST do NH đăng, là loại sách hay và hiếm, cám ơn NH đã có công sưu tầm. Toàn bộ phần phân tích về phép hỏi ngã của tác giả dựa trên luật giọng: “thanh” và “trọc” là phần TC thích nhất. Luật giọng này hồi còn ở Sài-gòn TC có đọc qua từ cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu (VNVHSY) của Cụ Dương Quảng Hàm (DQH). (Không biết sách ấy bây giờ có tái bản không, TC chưa tìm ra được). Theo luật giọng này thì tiếng Việt mình có tất cả 8 thanh chứ không phải 6. Phần đông chúng ta tưởng rằng vì chỉ dùng sáu dấu, không, sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng, trong chánh tả nên cho là người Việt mình chỉ phát âm sáu giọng (thinh). Kỳ thực điều ấy hoàn toàn lầm, cần phân biệt giữa ký hiệu (dấu) thanh việc phát âm (giọng); người Việt phát âm 8 giọng (thinh) tuy chỉ cần dùng sáu dấu, nếu kể không dấu cũng là một dấu, trong chánh tả. Tiếng Bắc Kinh (Quan Thoại) chỉ có 5 giọng và phần lớn các ngôn ngữ khác số giọng còn ít hơn nữa. Đọc tới đây các bạn có thể tự hào là mình biết tiếng Việt, thứ tiếng mà người nói nó nghe như đang hát!!!

Trong VNVHSY Cụ DQH có nêu lên phần phân tích giọng này, nói chung hoàn toàn không khác với tác giả ĐST, tuy chỉ có một số thuật từ của DQH dùng hơi có vẻ xưa một tí, TC xin trình bày bằng bảng như sau (viết theo trí nhớ, nếu có sai xin các bạn bổ khuyết giùm).


[image]local://upfiles/5617/78E9A04306C1453E87038833D7C1C9B1.gif[/image]

Dựa theo cách phát âm thuận thinh, các tiếng thuộc giọng Phù đi với nhau, các tiếng thuộc giọng Trầm đi với nhau, mà chúng ta có thể suy ra cách bỏ hỏi ngã của hầu hết các chữ đôi trong tiếng Việt, tiếng đôi lấp láy, tiếng Việt (Nôm) gốc Hán, và tiếng thuần Việt (Nôm). Tác giả ĐST đã giảng giải rất kỹ, TC tưởng không cần nhắc lại e rườm tai các bạn.

Bảng liệt kê dấu giọng này, có rất nhiều ứng dụng, bên cạnh việc phân định dấu hỏi ngã trong tiếng Việt như tác giả ĐST trình bày, nó còn rất bổ ích cho người tra cứu tiếng Hán để tìm ra cách phát âm một chữ Hán chưa biết, (xem bài Qui Tắc Hình Thành Âm Hán Việt của Tống Phước Khải http://freewebs.com/songfukai/amhan.htm). Ở đây đang nói tiếng Việt, TC bàn xen chuyện tiếng Hán có vẻ lạc đề. Như nếu có bạn hiếu kỳ xem qua cũng không sao, để biết thêm tiếng Hán và tiếng Việt có những quan hệ sâu xa về thanh giọng chứ không chỉ là sự ảnh hưởng và vay mượn chữ nghĩa trên bề mặt.

Thân,
Trương Củng


📎 table1
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn TC nhiều đã đăng bài về dấu hỏi ngã, liên quan đến tiếng Hán Việt.

NH đi 1 vòng bên viethoc.net thấy bài của tác giả Lữ Tiếu về I và Y.

NH khiêng về đây làm bài tham khảo.



********************


Xin chào quý vị !

Sao khi xem xét vài cuốn tự điển tiếng Việt để tìm ra những chữ nào dùng "i" và những chữ nào dùng "y", và bỏ ít thời gian suy nghĩ về vấn đề này, tôi xin góp ý như thế này:

- Nguyên nhân của sự lầm lẫn giữa việc dùng "i" và "y" là do khi còn nhỏ ở nhà trường chúng ta không được dạy một cái luật nào cho rõ ràng để biết khi nào dùng "i" hay "y", mà chỉ là học theo mặt chữ, thí dụ như phải viết là "li ti", "kỹ thuật", "mỹ thuật", "năm Tý", ...vân...vân. Chúng ta chỉ biết vậy thôi, chứ không hề biết tại sao lại phải dùng "i" hay dùng "y". Cũng vì không có luật lệ gì hết, nên theo thời gian, khi phải viết những chữ liên quan với "i" và "y", ta phân vân và cuối cùng thì dùng đại một cái "i" hay "y". Nhiều người làm như vậy, nên sinh ra lộn xộn và không còn biết viết sao cho đúng chính tả "i" hay "y" nữa. Hơn nữa, ít có người Việt nào chịu khó xem tự điển để xem mình viết trúng hay sai, do đó sai với đúng nó cứ lẫn lộn mãi và không bao giờ dứt.

- Về việc cải cách chữ viết tiếng Việt sau năm 75, nó đã không làm cho tiếng Việt trong sáng hay đẹp hơn mà lại làm cho chữ viết tiếng Việt ta nghèo nàn đi. Việc dạy viết tay theo lối viết như chữ in: y như chữ in trong sách vậy, chỉ có khác là ký tự này dính với ký tự kia bằng một cái "đá" thôi, tất cả đều phải bỏ bớt nét. Hậu quả là các em viết chữ bị đứt khúc và xấu vô cùng tận. Các em nào được anh chị hay cha mẹ trong gia đình dạy cho viết chữ Hoa tay thì còn viết được đẹp, ngoài ra thì hầu hết các em, cả một thế hệ trẻ lớn lên phần nhiều viết chữ rất xấu, thật tình là như vậy. Ngoài ra, việc dùng "i" thay cho chữ "y" đã không làm giàu hay đẹp thêm tiếng Việt mà lại tạo ra những chữ như "mĩ quốc", "mĩ thuật", "mĩ nhân", "kì tình địch thủ", "kì cục", "kĩ thuật", v...v...thiệt tình !!!

- Trở lại "i" và "y", tôi thấy việc này không phải là không có cách giải quyết. Sao khi xem các từ liên quan đến "i" và "y", tôi thấy ra một điều rất trùng hợp: hầu hết các từ dùng "y" thay vì "i" đều là các từ Hán-Việt, và các từ dùng "i" đều là các từ thuần Việt, hay không là từ Hán-Việt. Tôi nghĩ đây là cái chủ ý của các nhà tạo ra chữ Việt mấy trăm năm về trước: đó là phân biệt các từ Hán-Việt và thuần Việt để giảm bớt lượng từ viết giống nhau trong tiếng Việt cho các từ có liên quan đến vần/âm "i"

- Nếu ta nhìn vào các phụ âm (consonants) có thể ghép được với "i" hay "y" trong tiếng Việt, ta sẽ thấy:

1. Các chữ g, gi, ng, p sẽ không đi với "i" và "y".

2. Chúng ta không có các từ: chy, dy, đy, ghy, khy, ny, nghy, nhy, phy, ry, sy, thy, try, vy, xy. Do đó ta sẽ không bâng khuâng gì khi ta viết "trị nước", và "trí khôn" vì ta biết ngay là ta phải viết "trị" và "trí" thay vì "trỵ" và "trý".

3. Phần còn lại là các từ mà người Việt ta thường hay viết lẫn lộn là: hi và hy (hay chính xác hơn là: hi hí hì hị hỉ hĩ và hy hý hỳ hỵ hỷ hỹ), ki và ky, li và ly, mi và my, qui và quy, ti và ty, i và y. Ðối với những trường hợp này, nếu ta dùng cái luật là nếu từ Hán-Việt thì dùng "y" thay vì "i" thì mọi chuyện sẽ rất dễ dàng:

i) Trường hợp hi và hy:

- dùng "i" như trong: "hi hi" (tiếng khóc), "ngựa hí", "hí ha hí hỡn", "hì hục", "hì hì", "hỉ mũi", ... nếu là từ thuần Việt thì dùng "i"

- dùng "y" như trong: "hy hữu", "hy-lạp", "hy sinh", "hy vọng", "hý viện", "hý họa", "hậu hỹ", "hỷ sự" (chuyện vui), "hỷ xả"...nếu là từ Hán-Việt thì dùng "y" (xin lưu ý là có tự điển dùng "hí viện" và "hí họa" thay cho "hý viện" và "hý họa")

ii) Trường hợp ki và ky:

- tương tự ta có: "kí-lô", "ki-mô-nô", "ki-vi", "kì kèo", "kì cọ", "kì hồm" :-) "kí vô đầu"...

- "ký âm", "ký tên", "ký giả","ký kết", "ký sinh trùng", "ký túc xá", "kỳ lạ", "kỳ cựu", "kỳ đà", "kỳ lân", "kỳ phùng địch thủ", "kỳ quan", "kỳ quặc", "kỳ vọng", "kỷ cương", "kỷ luật", "kỹ năng", "kỹ nữ", "kỹ nghệ", "kỹ thuật", "kỹ xảo", "kỵ binh", "kỵ húy",... Các chữ kỳ, ký, kỷ, kỹ, kỵ đều là từ Hán-Việt cả, do đó dùng "y" thay vì "i"

...Các trường hợp khác như li và ly, mi và my, qui và quy, ti và ty, i và y đều tương tự như vậy, hở Hán-Việt thì dùng "y", không thì dùng "i". Rất ít khi có trường hợp ngoại lệ.

- Nói tóm lại nếu chúng ta áp dụng cái luật trên một cách toàn diện hơn cho mọi trường hợp thì nó sẽ rất dễ dàng trong việc phân biệt giữa "i" và "y" và biết khi nào dùng "i" hay "y" cho nó đúng. Ðó cũng là một cách để làm cho tiếng Việt được rõ ràng và có hệ thống...Thiệt tình là như vậy !!!

Lữ Tiếu



*********


Tự điển sao này hay tự điển in lại nếu không giữ đúng bản cũ thì dùng "i" hay "y" rất lẫn lộn. Nhưng thật tình mà nói, tôi vẫn thấy "nô tỳ", "tỳ tướng", "tỳ vị", "tỳ bà", "kiệt lỵ", "song hỷ"...vẫn là cách viết đúng và đẹp mắt hơn "nô tì", "tì tướng", "tì vị", "tì bà", "song hỉ"... Chuyện nhận biết từ Hán-Việt và thuần Việt cho những âm/vần "i" hay "y" thì không có gì là khó, dầu người đó không biết gì về chữ Hán, vì ta có thể liệt kê ra các từ ấy (đâu có là bao) lấy làm tiêu chuẩn, và cứ thế mà học, ít ra nó cũng giúp giảm bớt đi sự lầm lẫn rất nhiều, còn đở hơn bây giờ không còn biết đâu là đúng nữa, nguyên do cũng vì không có luật lệ nào cả hay một luật lệ "ngầm" nào cả.

Việc nhầm lẫn "i" và "y" sau này phần lớn là do việc cải cách tiếng Việt sau 1975 mà ra. Hậu quả quả thật là trầm trọng, có lúc đi đâu người ta cũng bàn tán về "i" và "y", cải cách chữ viết, cải cách giáo dục, còn bây giờ thì cái bệnh "i" và "y" đã lan tràn. Tôi thấy trên Internet có chỗ người ta dùng "nước Mĩ", "bé Mĩ" thấy mà không cầm được cười, nói chung "i" và "y" bây giờ lộn xộn rất nhiều.

Cảm ơn Ô. Lê Bắc nói về từ "tự ti", thì ra là Hán-Việt. Cái luật (nôm na thôi) trên do tôi suy ra là do sau khi đã thấy một sự trùng hợp giữa việc dùng "y" và từ Hán-Việt rất nhiều, và thấy rất ít trường hợp ngoại lệ. Tôi nghĩ là nó sẽ giúp ích phần nào cho việc viết đúng chính tả "i" và "y".

Chữ "tự ti" là một thí dụ điển hình nhất của trường hợp ngoại lệ đối với cái luật thuần/Hán-Việt: "ti" trong "tự ti" là Hán-Việt, nhưng lại được dùng "i" thay vì "y" như trong các từ "công ty", "ty chức", "tỷ lệ", "tỷ giá", "tỷ số", "tỳ bà", "tỳ nữ", "năm Tý"...


Lữ Tiếu


********


Trở lại "công thức" viết đúng i/y thì tôi thấy nó vẫn hợp lý, dầu rằng không tuyệt đối, nhưng lại thấy rất ít trường hợp ngoại lệ. Về "i" và "y" khi đi đôi với "qu" thì các tự điển nói là có thể dùng thay lẫn nhau, dùng cái nào cũng được, thí dụ như ta viết "qui định" hay "quy định" đều chấp nhận được cả. Xét các từ: qui quí quì quị quỉ quĩ (hoặc quy quý quỳ quỵ quỷ quỹ), ta thấy:

- "qui", một từ Hán-Việt, như trong "qui chế, qui định, qui chiếu, qui hoạch, qui mô, qui luật, qui y" hay "long lân qui phụng"...đều là từ Hán-Việt.

- "quí", một từ Hán-Việt như trong "phú quí, quí hóa, quí khách, quí phái, quí tử, quí quốc"...

- "quì", như trong "quì lạy, quì bái", "quì" là từ Hán-Việt.

- "quỉ", một từ Hán-Việt, như trong "quỉ kế, quỉ sứ"...

- "quĩ ", một từ Hán-Việt như trong "quĩ đạo"...

- "quị" và "quị lụy", không biết là Hán-Việt hay thuần Viêt (có thể là từ chữ "quì" mà ra) ... trường hợp này chỉ có 2 từ mà thôi: "quị" đứng riêng và "quị lụy".

Từ trên ta thấy vần "i" đi với "qu" hầu như đều là từ Hán-Việt, và các tự điển đều cho rằng ta có thể dùng "i" và "y" thay thế cho nhau để kết hợp với "qu", nếu vậy ta có thể chỉ sử dụng "i" với "qu" (qui quí quì quị quỉ quĩ) và loại bỏ cách viết "y" đi đôi với "qu" (quy quý quỳ quỵ quỷ quỹ). Việc loại bỏ "y" trong trường hợp này có thể chấp nhận được (vì "từ" thuần Việt chỉ có 1/2 từ) và nó có thể giúp tiêu chuẩn hóa cách viết.

Vài lời góp ý,

Lữ Tiếu


Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Một vài nhận xét về Chính tả Việt Nam

Mạnh Bích

Vấn đề viết đúng tiếng Việt vẫn được giới làm báo, làm sách nhắc đến từ lâu và chỉ chau mày hay lắc đầu mỗi khi đọc một bản thảo hay một ấn phẩm có nhiều "lỗi" chính tả. Sau đấy lại thôi, không bàn đến nữa, làm như chuyện viết sai tiếng Việt là một thứ bệnh nan y của người Việt-nam, đành chấp nhận, phải "sống với nó" vậy. Điều lạ là ngay từ trong học đường, ở cấp tiểu học đã có những giờ chính tả để dạy cho học sinh viết đúng tiếng mẹ đẻ. Ấy vậy mà khi đã trưởng thành, trên cương vị nhà văn, nhà báo, nhà thơ - điều này cũng xẩy ra ngay trong giới cầm bút Pháp - lỗi chính tả lại không được xem là một giá trị cần phải gìn giữ.

Ngược lại, khi nói đến "Lỗi chính tả" thì một số rất đông đảo người làm văn học, viết sách, làm thơ lại dựa vào một cuốn tự điển hay, tệ hơn, trên một thói quen nào đó để quả quyết sự viết đúng của một số chữ, không cần đếm xỉa đến công dụng của chính tả.

Kẻ viết bài này không có ý áp đặt một khuôn phép chính tả vì đấy là nhiệm vụ của một viện hàn lâm đặc trách về ngôn ngữ. Nhưng gần đây, trước những sự xác định nên xem ngôn ngữ được dùng trong các tự điển Miền Bắc như một giá trị tuyệt đối, nên dùng làm tiêu chuẩn, của vài cán bộ văn hóa cộng sản nêu lên, và hơn nữa, trước lối nhắm mắt chấp nhận những tiêu chuẩn chính tả đã được một số từ điển gia, pháp lý gia hay thần học gia tên tuổi sử dụng, tưởng cũng nên đặt lại vắn đề "lỗi chính tả" một cách dân chủ tiến bộ và thông minh hơn.

Từ xưa, do địa vị "nôi văn hóa Việt", ngôn ngữ Miền Bắc được xem như tiêu chuẩn để viết đúng tiếng Việt. Và trong gần hai thế kỷ, tinh thần thống trị ấy được giới làm văn chấp nhận một cách thoải mái vì tính "chuộng nhàn" vốn là một dân-tộc-tính của ta. Trong khi ấy, ngay vào buổi sơ khai của nền văn học quốc ngữ, Phan-kế Bính đã có những nhận xét rất nghiêm chỉnh về những sai lầm chính tả trong tiếng nói của mỗi vùng Bắc, Trung, Nam.

Ví dụ : Người Bắc nói : ông zời (ông trời), mặt zăng (mặt trăng), uống ziệu (uống rượu), zồng cây ăn chái (trồng cây ăn trái), phong chào chanh đấu (phong trào tranh đấu), nhọ nhem (lọ lem), con zộng (con nhộng), con zện zăng tơ (con nhện giăng tơ), zọng zao hàng (giọng rao hàng), xự zối zá (sự dối trá) v.v... Do đó, có sự lầm lẫn trong cách viết những chữ bắt đầu bằng tr, ch, gi, d, nh, s, x ...

Nguời Trung (người Huế), không quen (vì ngại hay không thấy là cần thiết) phân biệt dấu hỏi dấu ngã, cũng như lẫn lộn những chữ :

nh/gi đầu chữ - ví dụ : cái già (cái nhà)
con giện (con nhện)

- c/t cuối chữ - ví dụ : rửa mặc (rửa mặt) - chuyện lặc vặc (chuyện lặt vặt)...
- n/ng cuối chữ - ví dụ : ăng cơm (ăn cơm) - băng khoăng (băn khoăn) ...

Nhiều nhà văn người Nam cũng có tinh thần ấy, không chú trọng sự phân biệt hỏi ngã, và có những lầm lẫn về chính tả như người Trung. Ngoài ra còn có sự lẫn lộn :

- v/gi như : giội giàng giủ nhao đi giề (vội vàng rủ nhau đi về)
- ượu/ụ như : ún giụ (uống rượu)
- t/c và au/ao như : giủ nhao chơi cúc bắt (rủ nhau chơi cút bắt) - trời mưa như trúc (trút) v.v...

Nói như vậy không có nghĩa là người Nam, người Trung cũng như người Bắc nói chuyện với nhau không ai hiểu ai cả vì tiếng nói của mỗi địa phương đầy rẫy những lỗi!

Vậy vấn đề là thế nào là "lỗi" chính tả"? Nên xác định như thế nào để thống nhất chính tả tiếng Việt? Trước hết, không nên dựa vào thói quen hay vì có một "vị chức sắc văn học" nào đấy đã dùng nên mọi người phải rập khuôn theo.

Trước khi nói đến sự xác định - chuyện ấy "còn khuya", vả lại, đấy là việc làm của một viện hàn lâm ngôn ngữ quốc gia - tôi xin tạm đặt một nguyên tắc chính về "sự" viết đúng : một chữ viết đúng không tạo sự lẫn lộn ý nghĩa với một chữ khác.
Ví dụ : con dao, dao động (chuyển động đong đưa) - giao thiệp (vận chuyển sang nơi khác)
nổi trôi (nằm trên mặt nước) &gt; nông nổi (không sâu) - nỗi niềm, nông nỗi (trạng thái tâm hồn).
trinh tiết (không bị hoen ố) - chiến chinh (đi xa)

Nếu không, có thể tùy tiện mà dùng trong khi chờ đợi thẩm quyền của một viện hàn lâm đặc trách xác định thể thức chính tả.
Ví dụ :
dòng sông = giòng sông nhưng không nên viết dòng dống, dòng dã ! (mời xem phần phụ lục)
sử dụng = xử dụng nhưng không thể viết xử xanh, sử án, ngu suẩn v.v...
lầm lỗi = nhầm lỗi nhưng không ai viết nhầm nhì (lầm lì)
dơ duốc = nhơ nhuốc nhưng không nên dùng nhơ nháy (dơ dáy), nhơ nháng (dơ dáng)
giữ dìn # giữ gìn , dữ dìn v.v... (d và gi là một âm để hợp với một âm khác. Ví dụ : d+ơ, d+ìn - gi+a, gi+ỏi ) Trường hợp chữ gì là trầm bình thanh của âm gì ?

Vậy trong những đoạn sau đây, tôi xin bàn riêng về vấn đề :
+dấu hỏi, dấu ngã
+phận biệt tr và ch (đầu chữ)
+phân biệt d, và gi (đầu chữ)
+n và ng (cuối chữ)
+c và t (cuối chữ)

I- Dấu hỏi và dấu ngã

I - Nguyên tắc chung, căn bản : Tiếng Việt gồm có những chữ thuần túy Việt nam và những chữ hán-việt. Vậy khi áp dụng "luật" hỏi, ngã phải cần phân biệt tiếng Việt thuần túy và tiếng hán-việt (tiếng tàu trở thành tiếng việt)

1- Tiếng Việt thuần túy là những tiếng đã có sẵn trong ngôn ngữ của ta : nhà, vườn, ruộng, ăn, uống, đi, nằm, ngồi, buồn, vui, giận, ghét v.v...

Những chữ hán (chữ tàu) đồng nghĩa với những chữ ấy như : gia, viên, điền, thực, ẩm, hành, ngọa, tọa, sầu, hỉ, nộ, hỉ v.v... được đem dùng trong ngôn ngữ của ta gọi là chữ hán-việt.

Vậy làm thế nào để phân biệt được chữ nào là thuần túy Việt-nam?

Ngoài những trạng từ thường có dạng đơn âm như đã, cũng, những, mải, mãi, hãy, để, cả, rồi, mà, nhưng, vì, nếu, như, nếu như v.v... cách phân biệt tốt nhất là suy từ những chữ kép láy. Kép láy là những chữ có một tiếng chính (có nghĩa) và một tiếng phụ (không có nghĩa) được ghép vào để nghe cho êm tai (euphonie). Ví dụ : buồn-bã, vui-vẻ, nhớ-nhung, ồn-ào, lo-lắng, chát-chúa, v.v...

Một tiếng đơn âm trở thành kép láy phải theo định luật phối âm (assonance) của tiếng Việt.

1a- Định luật ấy là :

* Huyền &lt; &gt; ngã &lt; &gt; nặng

- dấu huyền/dấu ngã: bẽ-bàng, rõ-ràng
- dấu ngã/dấu nặng: rõ-rệt, rũ-rượi
- dấu ngã/dấu ngã: đĩ thõa
- dấu huyền/dấu huyền: bàng-hoàng, chàng-ràng
- dấu nặng/dấu nặng: bịn-rịn, lục-đục.
- dấu huyền/dấu nặng: nặng-nề, bề-bộn


* Hỏi &lt; &gt; sắc &lt; &gt; không

- không dấu/dấu hỏi: bỏ-bê, vui-vẻ, bảnh bao, hở hang...
- dấu hỏi/dấu sắc: lở-lói, rả-rích, hí hửng
- dấu hỏi/dấu hỏi: đỏng đảnh, xởi-lởi, lỉnh-kỉnh, lủng củng...
- không dấu/không dấu: lông bông, lang thang, thênh thang, mênh mông...
- không dấu/dấu sắc: le lói, thâm thúy, trơ tráo, nhâng nháo...
- dấu sắc/dấu sắc: tí-tách, nhắng nhít, rối rít, thút thít...


1b- Cách suy ra dấu hỏi, ngã : Nhờ định luật ấy, ta có thể nhận diện được dấu hỏi, dấu ngã đối với một số chữ đơn âm như :
rõ &lt; rõ ràng, rõ rệt
ngỡ &lt; ngỡ ngàng, lỡ làng
rảnh &lt; rảnh rang, bảnh bao
hỏi &lt; hỏi han, lở lói
nở &lt; nở nang, hở hang
ngỗ &lt; ngỗ nghịch # ngổ-ngáo
ngẩm &lt; ngán ngẩm # ngẫm nghĩ = ngẫm + nghĩ)
mải &lt; mê mải (mải làm quên ăn) # mãi (làm việc mãi không thôi)

Chú ý: Do đó, ta có thể giải thích được nguyên nhân của những âm hỏi, ngã trong những trường hợp sau :
cũng = cùng
đã = đà
tĩnh = tịnh
ngỡ = ngờ v.v...


1c- Ngoại lệ : Tuy nhiên, trong bất cứ ngôn ngữ hay văn phạm nào cũng vậy, luôn luôn có những ngoại lệ buộc ta phải thận trọng khi dùng dấu hỏi, dấu ngã. Ví dụ:
- trong những chữ kép gồm có hai chữ đều có nghĩa : ủ-rũ (ủ-ê + rũ rượi); rảnh rỗi (rảnh rang + rỗi)
- nhiều tiếng không đứng trong định luật nói trên như : trơ trẽn, phỉnh phờ, ngoáo ộp, xiêng xẹo, lam lũ, mỏi mòn, ngoan ngoãn, khe khẽ v.v...

Cũng may mà những trường hợp ngoại lệ không có nhiều nên không đến nỗi làm nản lòng người có dụng tâm viết chính tả đúng!


2- hỏi, ngã trong chữ hán -việt

Như trên đã nói, khi các cụ của chúng ta đem dùng tiếng tàu trong ngôn ngữ của ta, các cụ đã nghiên cứu thông minh về cách phát âm của tiếng tàu. Tôi nói thông minh vì tiếng tàu không có nhiều thanh (son) - hỏi, ngã, th, tr, đ, r, n - như tiếng việt và hơn nữa không có nhiều âm (ton) - nhị âm (diphtongue), tam âm (triphtongue) như của ta, nhưng các cụ đã nhận thấy được sự dị biệt của mỗi chữ nên đã đem dấu hỏi, dấu ngã vào những tiếng hán-việt ấy. Ví dụ:

phụ =/= phủ
ương =/= ang
iêu =/= iu
phúc =/= phú

Do đấy, dấu hỏi, dấu ngã được đặc biệt dùng cho mỗi loại chữ hán-việt. Tổng quát, ta nhận thấy những loại sau đây :

2a - Chỉ dùng dấu hỏi những chữ bắt đầu bằng:

A - Â: ải, ảnh, ẩm, ẩn, ẩu v.v...
B: bản, bảng, bảo, bỉ, biển, bổng lộc, bỉnh bút , biển lận v.v..
Ngoại lệ: bãi chức, bãi triều

C: cải, cảm, cảo, cẩm, cảng v.v...
Ngoại lệ : long cỗn, cưỡng bách, lưu cữu

CH: chẩn, chỉnh, chỉ, chủng, chưởng, chử (cái chày)
D: Không có ngoại lệ
Đ: đả, đảm, đảng, đảo, đẳng, điểm, điển, điểu, đỉnh v.v...
Ngoại lệ: đãi, đễ, đỗ
GI: giả, giảng, giản, giảng, giảo v.v...
K,KH: kiểm, kỷ (ghế), thế kỷ, kỷ cương, khả, khảo, khiển, khổ, khoản, khuyển, khủng...
Ngoại lệ: kỹ thuật, kỹ lưỡng...
PH: phản, phẩm, phỉ, phổ, phủ v.v...
Ngoại lệ
: phẫn, phẫu

S: sản, sảng, sảnh, liêm sỉ, sổ, sở, sủng, sử, sửu v.v...
Ngoại lệ: sãi vãi, sĩ tử, sĩ phu, suyễn.

T: tải, tảng, tảo, tẩy, tẩu, tiểu, tỉnh tủy, tổ, tuyển, tử v.v...
Ngoại lệ: tẫn, tễ, tiễn, tiễu trừ, tĩnh mịch, tuẫn tiết.
TH: thải, thảm, thưởng, thủy, thủ, thủy v.v...
Ngoại lệ: thuẫn, thũng

U: ủ, uẩn, uyển, ủng v.v...
X: xảo quyệt, ung xỉ, ngu xuẩn, xử v.v...
Ngoại lệ:xã thôn.

Y: ỷ (dựa vào), yểm trợ v.v...


2b - Chỉ dùng dấu ngã, những chữ bắt đầu bằng :

D: dã man, kiều diễm, dĩ nhiên, dung dưỡng v.v...
L: lũng đoạn, lõa thể, lưỡng lự v.v...
M: mã lực, miễn dịch, mãnh, mãng v.v...
N: niển (nghiên mực), niểu (hiếm dùng)
NH: nhiễu loạn, mộc nhĩ, thanh nhã v.v...
V: vĩnh viễn, võ công, võng v.v...


2c - Đặc biệt: Khi dùng dấu hỏi, khi dùng dấu ngã, những chữ bắt đầu - bằng H :

hải cảng # kinh hãi
hảo, hiểm, hiển, hiểu, hỏa, hoảng, hổ phách, hủ, hủy, hưởng
hãm hại, hãn mã, hãnh diện, trì hoãn, hỗ tương, hỗn hợp, huyễn hoặc, hữu trách.

bằng Q:

quĩ đạo, thủ quỹ,
quảng đại, quỉ quái .


3 -Kết luận :

Vấn đề dấu hỏi, dấu ngã, thiết nghĩ, không nên xem là tiên quyết trong ngôn ngữ và văn chương. Nó chỉ là một sự tô điểm cho sự phát âm, lúc nói và lúc hát chứ không hẳn là một điểm trọng yếu về giá trị văn chương. Khi nằm trong khuôn khổ của một câu hay một cụm chữ (contexte), dù viết sai, ta vẫn hiểu được ý nghĩa của chữ được dùng kia mà! Bằng chứng là người Trung (Huế), người Nam không chú trọng hỏi, ngã lắm nhưng văn chương của họ cũng không đến nỗi nào. Nếu cho vấn đề hỏi ngã này là quan yếu hoặc thích xem đấy là một "cái gì thêm lên" (un plus) cho tiếng Việt được hay, đẹp thì nên dụng tâm học hỏi cách viết cho đúng. Thế thôi. Còn không thì không nên đặt thành vấn đề tranh luận rườm rà, tạo nên những mặc cảm kỳ quái.

Trong tinh thần ấy, tôi chỉ mong là những nhận xét về cách nhận diện dấu hỏi, dấu ngã trên đây không làm nản lòng "khách mộ điệu" mà thôi.

Phụ lục :

1- Những cái vô lý trong Tự điển Việt-Pháp (Lê Khả Kế + Nguyễn Lân) của nhà xuất bản Khoa học xã hội ở Hà nội.

Để góp ý về sự bàn cãi về riêng chữ D và GI, vì có nhiều bạn dùng quyển tự điển này để xác định cách viết D và GI, với tất cả lòng kính quí của tôi, tôi xin chép ra đây vài điểm "trục trặc" của hai Cụ Lê-khả Kế và Nguyễn Lân. (Nguyễn Lân, bút hiệu là Từ-Ngọc, tác giả "Cậu bé nhà quê" là thầy dạy pháp văn và việt-văn đầu tiên của tôi, năm 1943)

1a- Vô lý : Với một tinh thần khẳng định dựa trên quan niệm "tiếng Bắc" được phát âm đúng, nên dùng làm tiêu chuẩn chính tả cho chữ viết, ta có thể thấy những điểm "ngoan cố" sau đây :
tr. 195 : con dộng - tr. 752 : con nhộng
tr. 279 : dấp giọng - tr. 739 : nhấp giọng
tr. 287 : diếc móc - tr. 745 : tr.nhiếc móc tr. 290 : dịp - tr. 748 : nhịp nhàng
tr. 295: dơ bẩn, dơ duốc - tr. 754 ; nhơ nhuốc, nhơ nhớp
tr. 294: dồi (boudin) - tr. 751 : nhồi nhét (bourrer) . Có sự lẫn lộn, trong khi sự khác nhau là dồi bột (nhào bột=pétrir) và nhồi nhét (bourrer)
vân vân...

Cái vô lý là hai tác giả chỉ dựa vào "thói quen" phát âm của miền Bắc để xác định cách dùng chữ D.

1b- Chữ D dùng cho những chữ sau đây có thể tạo ra nhầm lẫn, vậy ta nên chọn lực một cách viết. Ví dụ :
dây (vết bẩn vấy, dính dấp bừa bãi)# dây dưa (kéo dài trong một thời gian dài) # giây (sợi giây, giây phút)
dấu (vết hằn không phai lạt, để ghi nhận) # giấu (cất giấu)
Dấm (chất nước chua) # nhấm (ăn, uống từng miếng nhỏ). Không thể dùng dấm dẳng được. (tr.276)
Dìm (ấn xuống): không thể viết gìm được vì gì+m hay g+ìm đều "lỗi" chính tả.
vân vân...

1c- Tiện đây, nhân lúc xem kỹ những chữ bắt đầu bằng D của quyển tự điển ấy, tôi cũng xin nêu lên một trường hợp sai lầm để, khi ta trân trọng văn học thì ta phải biết suy nghĩ, chứ không nên cúi đầu tuân phục những tự điển gia quá. Ví dụ: dễ ợt = facile comme un bonjour. Tiếng Pháp dùng: simple comme bonjour vì :
- facile khác với simple
- phải dùng comme bonjour vì người Pháp dùng dire bonjour à quelqu'un, souhaiter le bonjour à quelqu'un.

Tóm lại, nếu ta cứ nhắm mắt tin theo các quyển tự điển, trong khi chưa có một viện hàn lâm xác định chính tả Việt nam và từ đó bào chữa cho được "sự viết đúng" của mình thì... lộn xộn lắm. Nên để tự nhiên thì hơn.


2- Để làm nhẹ bớt nỗi lo của những người viết văn, làm thơ hay đặt lời cho các bản nhạc, tôi xin viết ra đây một bản văn 'khá nổi tiếng" để xem chư vị thiết tha đến sự trong sáng của văn chương việt nam có bị lu mờ hay không.

Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm thang, cảnh thương tâm ghê gớm hay dịu giàng, cảnh rực rở, ái ân hay giử gội.
Anh dù bảo tính tình tôi thay đổi, không chuyên tâm, không chủ nghỉa, nhưng cần chi?
Tôi chỉ là một khách tình si, ham vẻ đẹp có muôn hình, muôn thể. Mượng lấy bút nàng Li-tao tôi vẻ và mượn câu đàng ngàng phiếm tôi ca, vẻ đẹp u chầm, đắm đuối hay ngây thơ, củng như vẻ đẹp cao xiêu, hùng cháng của non nước, của thi văng, tư tưởng...

Chắc chư vị vẫn hiểu được ?

Mạnh Bích Trích từ www.honque.net
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Y hay i
Ngắn gọn như vầy:
- Các từ Hán Việt dùng y khi âm /i/ đứng một mình hoặc khi đi cùng với các phụ âm đầu: H, K, L, M và T.
- Tất cả các từ thuần Việt đều dùng i.
 
Sau này, trong các từ Hán Việt, mấy lão dân tộc cực đoan dùng i thay y loạn xạ cho nó Việt hoá nên làm rối tung mọi thứ. Vì vậy, anh chị em ta mà gặp mấy lão này thì xin cứ thẳng tay táng cho mấy lão vài cái tát tai dùm SGLT.
 
Quy hay qui
Chính tả tiếng Việt chỉ có chữ quy chứ không có chữ qui. Những em nào mà định cãi lại thì anh tặng cho 6 chữ này, các em cứ in ra cho to rồi treo giữa nhà, mỗi ngày ngắm nghía, nghiền ngẫm và tụng niệm 300 lần cho anh.
Mỗi lần tụng đến hai chữ viết sai chính tả thì các em hãy tự đập đầu một cái cho mau khôn, mau hiểu ra. Sáu chữ đó là:
 
    Ui      Uy
      Cui    Cuy[sm=dapdau.gif] 
 [sm=dapdau.gif] Qui    Quy  
 
 
Ặc ặc... [8D]
 




http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=197164

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=198040
Đăng nhập để trả lời
0
Y hay i
Ngắn gọn như vầy:
- Các từ Hán Việt dùng y khi âm /i/ đứng một mình hoặc khi đi cùng với các phụ âm đầu: H, K, L, M và T.
- Tất cả các từ thuần Việt đều dùng i.

Sau này, trong các từ Hán Việt, mấy lão dân tộc cực đoan dùng i thay y loạn xạ cho nó Việt hoá nên làm rối tung mọi thứ. Vì vậy, anh chị em ta mà gặp mấy lão này thì xin cứ thẳng tay táng cho mấy lão vài cái tát tai dùm SGLT

 
Sài Gòn Lẩu Thái nè, hai chữ "người đẹp" là phải viết là "mỹ nhân" chứ đâu có ai viết "mĩ nhân" rỗi "mỹ phẩm" chứ đâu có ai viết là "mĩ phẩm"? [8|]
 
 
ôi, bữa nay sao lạnh quá
thèm Sài Gòn Lẩu Thái quá [:D] 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Tiểu thư nhàn rỗi

Y hay i
Ngắn gọn như vầy:
- Các từ Hán Việt dùng y khi âm /i/ đứng một mình hoặc khi đi cùng với các phụ âm đầu: H, K, L, M và T.
- Tất cả các từ thuần Việt đều dùng i.

Sau này, trong các từ Hán Việt, mấy lão dân tộc cực đoan dùng i thay y loạn xạ cho nó Việt hoá nên làm rối tung mọi thứ. Vì vậy, anh chị em ta mà gặp mấy lão này thì xin cứ thẳng tay táng cho mấy lão vài cái tát tai dùm SGLT


Sài Gòn Lẩu Thái nè, hai chữ "người đẹp" là phải viết là "mỹ nhân" chứ đâu có ai viết "mĩ nhân" rỗi "mỹ phẩm" chứ đâu có ai viết là "mĩ phẩm"? [8|]


ôi, bữa nay sao lạnh quá
thèm Sài Gòn Lẩu Thái quá [:D] 


Mỹ nhân đúng TTNR [8D] Thèm SGLT thì call... anh [sm=huglove.gif]0903 00 00 0 có [8D]




http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=197164

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=198040
Đăng nhập để trả lời
0