Diễn Đàn » Cổ Nhạc

Văn Nghệ Sĩ & Quốc Hương_VDN (Paris)

224 trả lời, 119.475 lượt xem — Trang 5 / 8
Cho em ké vào đây thêm một bài cho xom tụ nhé chị 7
[/align]Thân thương [sm=40.gif]
[/align] 
[/align]Gừng càng già càng cay





Gần đây, những live show của các nghệ sĩ thuộc thế hệ vàng như Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Thanh Sang, Thanh Tuấn liên tục gây xôn xao sân khấu, làm nên không khí phấn khởi cho giới làm nghệ thuật cũng như người mộ điệu. Thật ra, các nghệ sĩ ấy tuổi đâu còn trẻ nữa, mà ai cũng thuộc U.60, U.70, thậm chí mai mốt đây tới live show của NSƯT Út Bạch Lan lại thuộc... U.80.



Những gương mặt càng “lão” càng nghề

Một lần đi chung đoàn từ thiện với cô Út Bạch Lan, tôi mới bất ngờ vì cô. Trước nay mình vẫn quen nghe cô hát trên sân khấu với micro, đã khen nức nở rồi, ấy vậy mà lần đó nghe cô "hát sống" tại chùa Trúc Lâm, tỉnh Đồng Tháp, không có micro giọng vẫn vang vang, ai nấy giật mình thán phục. Mà mới vừa xuống xe sau gần 150 cây số, lại hát một lúc mấy bài vọng cổ mới "sợ" chứ ! Và hình như chất giọng "tươi nguyên" này lại trầm ấm, ngọt ngào hơn cả khi thu vào micro nữa. Thật sự mọi người được "đãi" một bữa vọng cổ tuyệt vời. Không biết cô lấy đâu ra hơi ca khỏe như thế ở tuổi hơn 70. Cô cười: "Thì cứ đi hát từ thiện hoài, phổi được luyện thường xuyên". Một năm cô đi hát cho chùa, cho các chương trình cứu trợ không biết bao nhiêu suất, toàn đi cả trăm cây số trở lên, vậy mà tỉnh bơ chẳng nghe than đau lưng nhức mỏi gì hết!

NSƯT Bạch Tuyết cũng là một trường hợp nổi bật. NSND Diệp Lang vốn khó tính, nhưng ông vẫn nói: "Tôi ngồi trong cánh gà lắng nghe Bạch Tuyết hát, giật mình, vì thấy hơi ca của cô rất nhẹ, như không hề tốn sức. Lẽ ra người lớn tuổi giọng càng đục hơn, hơi càng nặng hơn, nhưng Bạch Tuyết lại nhẹ nhàng thanh thoát, lạ lắm. Có lẽ do cô ngồi thiền thường xuyên". Và chắc vì thế mà đầu óc Bạch Tuyết ngày càng minh mẫn, nên chị có thể viết mấy chục kịch bản được dựng trên sân khấu lẫn video, chưa kể làm đạo diễn cho nhiều vở hay như Trần Nhân Tông (Nhà hát Cải lương Việt Nam) hoặc các live show của đồng nghiệp, hoặc tham gia các đợt tập huấn cho lớp trẻ kế thừa. Chị đã 64 tuổi rồi đó! Chỉ một chút xíu phàn nàn nơi khán giả là Bạch Tuyết bây giờ "hơi điệu"! Nhưng fan của chị vẫn xuyên suốt từ trong nước ra tới nước ngoài.

Hồng Nga lại càng là một "củ gừng cay" không tưởng nổi! Cả chục năm nay chị được sân khấu kịch mời về diễn, mà diễn ăn khách vào bậc nhất! Nhiều khán giả nói thẳng: "Tui mua vé vì hai cô đào già Hồng Nga, Ngọc Giàu, chứ không phải vì mấy cô đào trẻ!". Hồng Nga diễn liền tù tì mỗi ngày hai, ba suất kịch cũng không nghe than, chưa kể chị còn chạy Honda từ nhà ở tận Lái Thiêu vô tới Sài Gòn, rồi diễn xong tự chạy về trong đêm khuya thanh vắng. Hơi hám còn mạnh lắm lắm! Đóng vai lẳng độc thì hét không khan cổ, còn vô vai mùi thì sụt sùi sưng mắt cũng không sao! Kinh ngạc hơn là khi trở lại đóng cải lương, Hồng Nga ca ngọt lịm một lúc mấy câu vọng cổ chẳng xi-nhê gì! Ai cũng nói chị là một "ngôi sao mọc muộn"!

NSƯT Ngọc Giàu làm nên một cặp "nữ quái" ăn khách với Hồng Nga. Ngọc Giàu hơi không khỏe bằng Hồng Nga, nhưng chị cười hì hì: "Tui "khôn" lắm nghen, biết lòn giọng, ngắt nhịp ngắn đi, nhấn nhá thiệt khéo để tròn câu vọng cổ mà tăng thêm xúc cảm". Kỹ thuật điêu luyện đã bù đắp cho tuổi tác. Diễn xuất kịch của chị cũng không thèm ào ào tốn sức như mấy năm trước, mà đi vào tìm những điểm nhấn gây ấn tượng.

NSƯT Trọng Hữu cũng là một nghệ sĩ đang được mời sô tới tấp chỉ nhờ vào giọng ca trầm ấm, khỏe khoắn, có thể làm một lèo 6, 7 bài vọng cổ cho chương trình đại nhạc hội. Và một ngày anh có thể hát tại mấy điểm liên tiếp. Hồi trẻ anh đâu có khỏe đến vậy, không hiểu sao bây giờ lại "được lộc trời cho" như thế! Nhưng thật ra, có một phần do anh không đụng tới bia, rượu, thuốc lá, cố gắng dành tất cả cho nghề, mới chạy đường trường không mệt mỏi!

NSƯT Việt Anh và Kim Xuân cũng là hai gương mặt càng "lên lão" càng lên tay nghề. Cả hai anh chị đều có thể đóng đủ các vai độc, lẳng, bi, mùi, với một độ chín lý tưởng. Xem Kim Xuân diễn bây giờ khác hẳn Kim Xuân của 10 năm trước, vừa mặn mà nhan sắc hơn, vừa có chiều sâu nội tâm, tính cách nhân vật rõ nét.

Có khi già cũng... bớt cay

Nói vậy chứ nghệ sĩ chúng ta cũng không thể chống lại quy luật lão hóa, sinh diệt. Nhiều hạn chế cũng nảy sinh đi kèm với tuổi tác. NSƯT Lệ Thủy thẳng thắn tâm sự: "Giọng tôi bây giờ đâu còn trong trẻo bằng ngày xưa. Và ca nhiều mệt lắm". Nghe kỹ thì thấy giọng của Minh Phụng, Tấn Tài, Thanh Tuấn, Thanh Kim Huệ... cũng chỉ bằng 70-80% thời trẻ mà thôi. Chưa kể ngoại hình thường "mập" hơn, nên khi diễn lại vai hồi trẻ cũng hơi khó.

Và đối với các nghệ sĩ cao tuổi thì sợ nhất là học tuồng. Trí nhớ đã giảm rất nhiều, học trước quên sau. Vì vậy khi có kịch bản mới là mọi người rất lo, hoặc có người phải đeo một micro nhỏ xíu gần tai để nghe nhắc tuồng bên trong. Diệp Lang kể một sự cố mà ông nhớ đời: "Hôm đó tôi đi xuống tỉnh hát cho một chương trình từ thiện, cả trăm cây số nên quá mệt. Tôi bèn bảo nhạc công là hạ dây đờn xuống thì tôi ca mới nổi. Nhưng khổ thay, khi hạ dây thì lại không quen với hơi ca trước nay của mình, thành ra tôi cứ lo tập trung vô tiếng đờn, tự dưng quên lời vọng cổ. Chừng nhớ lại lời, thì trật nhịp. Trời ơi, một nghệ sĩ nhân dân mà ca trật nhịp, hết tưởng tượng nổi! Nhưng bà con vẫn vỗ tay ào ào động viên tôi, thật là cảm động!". Lệ Thủy cũng kể có lần chị quên ngang bài hát, mà khán giả vẫn vỗ tay bỏ qua. Mới đây, trong live show của NSƯT Thanh Sang, nghệ sĩ Mộng Tuyền quên lời bài hát tới hai lần, khán giả cũng mỉm cười xí xóa. Bảo Quốc cách đây mấy năm, trong một chương trình cũng tự dưng đứng ngẩn ra trên sân khấu vì quên lời. Trí nhớ là "kẻ phản trắc" nhất đối với người cao tuổi, nó muốn "đình công" lúc nào chẳng trở tay cho kịp!

Và sức khỏe giảm đi thì các động tác vũ đạo cũng không còn nhuần nhuyễn, khỏe mạnh như trước. NSƯT Minh Vương mới đây đóng Kim Vân Kiều vai Từ Hải phải có cascadeur thay thế cho màn đánh nhau với quân của Hồ Tôn Hiến. Tuổi 60 rồi mà cầm cây thương múa sao cho nổi!

Nhưng khán giả vẫn thông cảm cho những hạn chế kia. Công chức 55, 60 tuổi đã được về hưu, huống chi nghệ sĩ mình gần 70, 80 vẫn hoạt động, thì đôi chút thiếu sót không là đáng kể. Miễn sao khán giả còn được gặp họ là vui rồi. Có đi ở ẩn như Thanh Sang, Minh Phụng, Thanh Tú, Nam Hùng, mọi người cũng cố mời ra biểu diễn. Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ mà!

Hoàng Kim
(Thanh Niên)
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Có khi già cũng... bớt cay

Câu này hay hay.. nè [:)].
Cứ tự nhiên dán "nhiều nhiều" cho xôm tụ nha Ly !
Chúc vui vẻ chiều chủ Nhật.
 
7_nn

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0

Nghệ sĩ Chí Tâm, kỳ tài trên nhiều lãnh vực nghệ thuật
 
2007.05.13
Soạn giả Nguyễn Phương đài ACTD, ở đây!
 
Trong lãnh vực sân khấu cải lương, có nhiều trường hợp nghệ sĩ chỉ cần thành danh trong một vai tuồng là có thể thăng tiến mãi trên đường nghệ thuật như trường hợp các cô Thanh Nga, Bạch Tuyết, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, như các nam nghệ sĩ Năm Châu, Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được,…

Bấm vào đây để nghe tiết mục này... theo ACTD, ở đây!
Tải xuống để nghe ...  hay ...  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/13/vconhac051207a.mp3 


     
    Nghệ sĩ Chí Tâm. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương
     
    Nhưng cũng có nhiều nghệ sĩ có tài ba trên nhiều lãnh vực nghệ thuật sân khấu nhưng dường như số phận lận đận lao đao, cứ bị thay đổi việc làm, thay đổi hoàn cảnh nên khó mà đến tuyệt đỉnh trong nghề hoặc trong cuộc sống.
    Tôi xin giới thiệu nghệ sĩ Chí Tâm, người mà tôi theo dõi sự nghiệp của anh nhiều năm và thấy nghệ sĩ Chí Tâm đúng là mẫu người có nhiều tài trên nhiều lãnh vực nghệ thuật sân khấu nhưng là người lao đao lận đận trong quá trình hành nghề của anh.
     
    Lao đao, lận đận
     
    Nghệ sĩ Chí Tâm tên thật là Dương Chí Tâm, sinh tại quận Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Cha mẹ của anh là người Việt gốc Hoa, sinh sống bằng nghề buôn bán, ông bà có cửa hàng tạp hóa lớn hiệu Vĩnh Hưng ở Trà Ôn.
    Vì nhà ở gần rạp hát Long Tấn nên từ nhỏ Chí Tâm thường được bà ngoại dẫn đi xem hát cải lương, bản thân Chí Tâm cũng thích nghe hát vọng cổ, anh xin cha mẹ cho anh học ca cổ nhạc từ lúc mới lên 6 tuổi. Anh đã được các nhạc sĩ cổ nhạc danh tiếng trong vùng như các thầy Minh, Mười Ngoạn, Bùi Kiên, Năm Thê dạy ca và dạy đờn.
    Năm 13 tuổi, Chí Tâm được gởi lên Saigòn học với thầy nhạc sĩ Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu nhưng lò cổ nhạc của Viễn Châu có quá nhiều đệ tử nên Chí Tâm theo học đờn ca với nhạc sĩ Út Châu tức soạn giả Yên Sơn.
     
    Nghệ sĩ Hữu Huệ và các nghệ sĩ Bạch Mai, Thanh Bạch là anh em bạn dì ruột, họ sống gần nhau từ nhỏ cho đến lớn trong đoàn hát, lấy rạp hát làm nhà. Nghệ sĩ tuồng cổ tài danh Minh Ngà là người cậu thứ tư của Hữu Huệ.
    Soạn giả Nguyễn Phương

    Tôi và soạn giả Yên Sơn phụ trách phòng thâu thanh của hãng dĩa Capitol của ông chủ Sáu Sếnh ở Chợ Lớn, chúng tôi hợp soạn nhiều vở tuồng hài ngắn, nhiều bài vọng cổ cho hãng diã Capitol thâu dĩa, những vai diễn phụ đều cho các học trò của nhạc sĩ Yên Sơn diễn coi như thực tập lúc học nghề với Yên Sơn.
    Trong số các đệ tử thành danh của Yên Sơn có nghệ sĩ Chí Tâm và nghệ sĩ Trọng Nhân. Chí Tâm học ca đầy đủ bài bản cổ nhạc và học đờn guitare phím lõm với thầy Yên Sơn. Chí Tâm đáp ứng được nhiều vai trò cần thiết trong phòng thâu thanh, chứng tỏ em rất sáng dạ và có năng khiếu về đờn và ca cổ nhạc.
    Sau đó, Chí Tâm được giới thiệu đi hát cho đoàn hát Tinh Hoa của bà Bầu Mười Cơ, Chí Tâm được các nghệ sĩ dàn anh Hữu Lộc,Ngọc Thanh và nhạc sĩ Tuyết Mai dạy điệu bộ múa hát và kinh nghiệm diễn xuất trên sân khấu.
    Năm sau, được tin mẹ bệnh nặng, anh trở về nhà ở Trà Ôn, giúp cha quán xuyến tiệm chạp phô và học thêm tiếng Tàu. Khi mẹ mạnh, Ba anh muốn anh học chụp hình để mở một tiệm chụp ảnh, anh lên Cần Thơ học nghề chụp ảnh trong tiệm hình Á Châu. Trong thời gian học chụp hình rọi ảnh, Chí Tâm gặp Cò Quốc, một nhạc sư chuyên đờn cò.
     
    Tài năng nhiều mặt
     
    Cò Quốc vốn là bạn thân với nhạc sĩ Chín Trích,(thân phụ của nữ nghệ sĩ Tú Trinh), Chí Tâm không bỏ lỏ cơ hội hiếm có, anh theo nhạc sư Cò Quốc để học đờn cò. Qua quá trình học hát và học đờn, Chí Tâm đã thụ huấn với nhiều nhạc sư nhạc sĩ tài ba nên khi ra hành nghề trên sân khấu, Chí Tâm biểu lộ được tài năng nhiều mặt.
    Anh có thể đóng tuồng trong các vai kép mùi, kép lẳng, đóng hề cũng rất có duyên. Khi vào dàn đờn, Chí Tâm có thể đờn kìm, đờn cò, đờn tranh, đờn độc huyền tức đờn bầu và Chí Tâm cũng đờn guitare phím lõm tuyệt hay.
    Năm 1971, Chí Tâm đi hát cho gánh hát Dạ Quang Châu. Dạ Quang Châu là đoàn Thanh Minh Thanh Nga 2 của bà Bầu Thơ, giao cho vợ chồng soạn giả Tám Vân - Nhị Kiều quản lý. Vì tình trạng giới nghiêm ở Saigon và các tỉnh lớn, đoàn Dạ Quang Châu phải lưu diễn ở các tỉnh Hạu Giang, vô các làng quận như Cái Tàu Hạ, Mỹ Hiệp, Mỹ Long ( Cao Lãnh ) để hát.
    Năm 1972, đoàn Dạ Quang Châu rã gánh, Chí Tâm về hát cho đoàn Kim Chung 5 ở rạp Olympic, thế vai cho nghệ sĩ Minh Vương vì Minh Vương bị động viên. Đoàn Kim Chung 5 trong thời gian nầy cũng chuyên lưu diễn miền Tây, các tỉnh như Long Xuyên, Châu Đốc và các làng mạc xa xôi.
     
    Trong số các đệ tử thành danh của Yên Sơn có nghệ sĩ Chí Tâm và nghệ sĩ Trọng Nhân. Chí Tâm học ca đầy đủ bài bản cổ nhạc và học đờn guitare phím lõm với thầy Yên Sơn. Chí Tâm đáp ứng được nhiều vai trò cần thiết trong phòng thâu thanh, chứng tỏ em rất sáng dạ và có năng khiếu về đờn và ca cổ nhạc.
    Soạn giả Nguyễn Phương


    Sau đó Chí Tâm hát trên đoàn Kim Chung 2, nổi danh qua vai Lữ An Tùng trong tuồng Nhạn Về Xóm Liểu, hát với Lệ Thủy, Kiều Tiên và Minh Phụng. Anh cũng thành công trong vở Băng Tuyền Nữ Chúa trong vai Thái Tử Lưng Gù. Chí Tâm thay cho nghệ sĩ Vương Bình hát vai kép chánh với Mỹ Châu vì Vương Bình nghĩ đoàn Kim Chung để ra lập gánh hát.
    Từ năm 1975, Hữu Phước và Hương Lan được mời về cộng tác với đoàn Kim Chung và cùng xuất hiện với Chí Tâm trong tuồng Hán Đế biệt Chiêu Quân. Chí Tâm trong vai Hán Đế, Hương Lan trong vai Chiêu Quân. Sau đó Chí Tâm và Hương Lan lại thành công chung trong hai vai chánh tuồng Nắng Thu về Ngõ Trúc.
    Thời gian cộng tác chung trên sân khấu Kim Chung đã giúp cho Chí Tâm và Hương Lan hiểu nhau, mến tài nhau đưa đến hôn nhơn vào tháng 12 năm 1975, tiệc cưới được tổ chức trong nhà hàng Ngọc Linh trên đường Cô Giang.
     
    Di cư sang Pháp
     
    Chí Tâm và Hương Lan có với nhau hai đứa con, con trai lớn sanh năm 1977 tại Việt Nam tên Henri Bảo Nhi và một trai chào đời tại Pháp năm 1978, tên Patrick Bảo Trang.
    Vì Hữu Phước có quốc tịch Pháp nên sau năm 1975, anh được hồi hương về Pháp. Chí Tâm và Hương Lan cũng được đi Pháp trong diện hồi hương nầy vào tháng 2 năm 1978. Họ cư ngụ tại Saint Tolomon, ngoại ô thủ đô Paris, sau đó dọn về quận 13 ở Paris.
    Hơn 4 năm chung sống tại Paris, cuộc hôn nhơn của Chí Tâm và Hương Lan gảy đổ vì một sự hiểu lầm tai hại, cả hai đều còn rất trẻ, nóng tánh, không ai chịu nhường ai nên Chí Tâm và Hương Lan chia tay năm 1982.
    Khi mới qua Pháp năm 1978, Chí Tâm phải học riếng Pháp và học nghề, năm 1979, anh xin được việc làm ở công ty Alcatel Thompson, do đó hoạt động nghệ thuật sân khấu chỉ là thứ yếu, hát trong các cuộc lễ của cộng đồng Việt Nam tại Pháp. Sau khi Chí Tâm chia tay với Hương Lan, năm 1986, Hữu Phước thành lập nhóm nghệ sĩ tỵ nạn Paris (Assiociation des Artistes refugiés de Parie) gồm có Minh Dức, Kiều Lệ Mai, Hà Mỹ Liên, Phương Thanh, Hoàng Long, Kim Chi, Minh Thanh.
     
    Chí Tâm và Hương Lan có với nhau hai đứa con, con trai lớn sanh năm 1977 tại Việt Nam tên Henri Bảo Nhi và một trai chào đời tại Pháp năm 1978, tên Patrick Bảo Trang.
    Soạn giả Nguyễn Phương
    Nghệ sĩ Chí Tâm thành lập Hội nghệ sĩ trẻ ( Assiociation de jeunes artistes) gồm có Chí Tâm, Minh Tâm, Tài Lương, Mỹ Hòa, Ngọc Lựu, Hùng Tiến, nhạc sĩ Michel Mỹ. Nhóm Nghệ Sĩ Trẻ lập đoàn hát Năm Châu để tưởng nhớ vị minh sư của ngành sân khấu cải lương Việt Nam. Đoàn hát Năm Châu của Chí Tâm và Michel Mỹ đã hát qua các tuồng Tình Cô Gái Huế, Máu Nhuộm Sân Chùa, Đường Gươm Nguyên Bá, Tâm Sự Loài Chim Biển.
    Đồng bào khán giả ở Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Tây Đức, Na Uy, Đan Mạch rất ái mộ các nghệ sĩ trẻ, biết tiếng tâm của nghệ sĩ đa tài Chí Tâm. Họ rất ủng hộ, mua vé xem hát nhưng vì chi phí quá cao, đoàn hát Năm Châu phải rã gánh.
    Năm 1985, nữ nghệ sĩ Hương Lan đưa hai con sang sống ở California, nghệ sĩ Chí Tâm vẫn ở Pháp. Năm 1986, anh gặp một bạn gái khác, người cùng hoạt động văn nghệ của chùa Khánh Anh, hai người mua một căn nhà gần Versailles để chung sống. Nhưng cái số của Chí Tâm nhiều tài hoa mà kém phần hậu vận với đào nên lại gảy gánh lần nữa.
     
    Di dời sang Hoa Kỳ
     
    Tháng 10 năm 1989, Chí Tâm quyết định dời sang Hoa Kỳ, định cư tại Houston vì hy vọng trên đất Hoa Kỳ dễ hoạt động nghệ thuật cải lương hơn ở Pháp. Tại Houston anh cộng tác với anh Hoàng Ngọc Ẩn, phụ trách mục Điện Ảnh Hồng Kông cho tờ báo VietNam Post, Thương Mại Việt Nam tại Houston và anh được mời làm chuyên viên thu thanh cho trung tâm Hạ Quyên.
    Ở Houston 7 năm, Chí Tâm vẫn chưa tạo được một sự nghiệp văn nghệ theo đúng như sở thích của anh. Anh có thể kiếm sống dễ dàng nhưng tình hình sinh hoạt văn nghệ trong vùng không mấy gì khả quan, anh quyết định di cư sang California vào năm 1996 để thử thời vận. Chí Tâm được trung tâm ban nhạc Làng Văn mời anh phụ trách phòng thu thanh ở quận Cam.
    Sau đó Chí Tâm lập phòng thu thanh riêng mang tên anh Chí Tâm Production, anh thu những dĩa CD cổ nhạc và tân nhạc của anh ca với các bạn bè trong giới nghệ sĩ. Chí Tâm xuất hiện trên vidéo Paris by night của Trung Tâm Thúy Nga trong những năm 1997, 1998 với những tác phẩm Nấu Bánh Đêm Xuân và Chiếc Bánh Bông Lan.
    Chí Tâm gặp nhiều bạn nghệ sĩ cải lương định cư tại Cali nên có nhiều bạn diễn, nhiều show diễn. Chí Tâm sáng tác được các tiểu phẩm hài, tự mình đờn cổ nhạc bằng nhiều cây đờn khác nhau rồi làm thành CD cổ nhạc, mới nghe qua tưởng như có một ban cổ nhạc hoàn chỉnh cùng hòa tấu với anh.
    Ngoài các show diễn, Chí Tâm còn làm người dẫn chương trình, nhà tổ chức show, làm xướng ngôn viên trên đài little Saigon.
    Về đời sống tình cảm thì từ năm 1999 đến nay Chí Tâm sống với người bạn đời tên Minh Tuyền, quê ở Châu Đốc. Minh Tuyền là người nội trợ giỏi, giúp Chí Tâm không ít trên con đường sự nghiệp văn nghệ và đời sống tình cảm gia đình.
    Chí Tâm là một nghệ sĩ đa tài, trên lãnh vực nghệ thuật nào mà anh tham gia, anh cũng có một khả năng thiên phú và một sự học hỏi chu đáo. Nói về kỷ thuật, mỹ thuật, văn nghệ nói chung Chí Tâm đều đáng gọi có khả năng bậc thầy nhưng anh khó thành đạt vì phải thay đổi chổ ở quá nhiều lần, anh phải làm lại từ đầu cho mỗi lần đổi chổ ở khi anh đi định cư tại Pháp, tại Hoa Kỳ, ở Houston hay Cali.

    Thưa qúy thính giả, giọng ca của nghệ sĩ Chí Tâm vừa rồi chấm dứt chương trình cổ nhạc, Nguyễn Phương xin hẹn giờ nầy tuần sau.

    Chí Tâm Production 
     
     
     
    Những bài liên quan

    ·         Cụ bà Việt Nam 66 tuổi sẽ biểu diễn đổ bánh xèo tại Smithsonian
    ·         Nữ Nghệ sĩ Hồng Nga đa tài, đa tình, đa lận đận...
    ·         Nghệ sĩ Hữu Huệ, một tài năng lớn chìm trong quên lãng!
    ·         Giai nhân sân khấu Mộng Tuyền
    ·         Nghệ Sĩ Châu Thanh
    ·         Tìm hiểu nghệ thuật Hát Chèo
    ·         Chuyện lựu đạn nổ trên sân khấu Kim Thoa, 50 năm trước
    ·         Soạn giả Thế Châu, và tuồng Bên Cầu Dệt Lụa
    ·         Viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương






    Cổ Nhạc... theo LT... 

    Tân Nhạc... theo LT... 


    LT... các bài đã được đăng ở đây!  

    ST

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Thưa cô, nhìn hình cưới của đôi tài tử Hùng và Vân thì người nào cũng đẹp cả, chỉ riêng cô Mười Một , cháu thấy hơi bị chán cô ah, cô thông cảm nhé
    hihihi
    Mailoves
    Đăng nhập để trả lời
    0
     
    SINH NHẬT LẦN THỨ 100 - CÔ BẢY PHÙNG HÁ 
    2009-04-29 22:10:45

    VÕ ĐẮC DANH

     "......Chồng , con, và cả những người tình cũng lần lượt đi về bên kia thế giới. Theo thuyết giáo của nhà Phật, khi ta sống, cái gì ta cho thì cái đó chính là tài sản, ở lại với ta. Phải chăng, những thứ quý giá mà cô đã cho, đó chính là những vai diễn, những môn sinh mà Cô đã nhọc công đào tạo để làm nên một thế hệ cải lương vàng son, vang bóng một thời...."

    TRĂM NĂM NHÌN LẠI
     
    [/align]Ông Trương Nhân Trưởng, người làng Phú Lạng, huyện Hạc Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Những năm cuối thế kỷ XIX, ông đi làm thuê cho một vựa trái cây ở Quảng Tây, một buổi tối, ông nghịch ngợm lấy viên pháo nhét vào bính tóc của một người bạn rồi châm tàn thuốc lên ngòi pháo, pháo nổ, bính tóc bay mất. Chuyện chỉ có vậy, nhưng ông bị nhà chức trách truy nã về tội mưu sát,  phải rời bỏ nhà cửa, vợ con và tổ quốc để làm kẻ lưu vong sang ViệtNam. Đến Mỹ Tho, ông làm nghề mua bán thịt bò. Tại đây, ông kết hôn với bà Lê Thị Mai, một thôn nữ đẹp người đẹp nết ở làng Điều Hòa và sinh được bảy người con, bốn trai ba gái.


    [/align]Câu chuyện về ông sẽ không được ai biết đến, sẽ không có gì để kể thêm. Nhưng chính cái ngả rẽ vô tình của cuộc đời ông lại là cội nguồn của nghệ sĩ Nhân dân Phùng Há. Khác với những người Hoa khác, con cái của ông Trưởng lớn lên đều được ông đưa về cho bà vợ lớn ở cố hương để học ngôn ngữ và lễ nghi Trung Quốc, sau đó muốn ở lại hay trở qua Việt Nam thì tùy theo điều kiện và ý thích của mỗi người. Năm 1915, ông Trưởng qua đời trong khi đang trở thành một người giàu có ở Mỹ Tho: Một lò gạch, một xưởng cưa và một trang trại nuôi bò. Cô Bảy Phùng Há lúc bấy giờ mới lên năm tuổi. Ông Trương Tích Kỳ, con trai đầu của ông Trưởng cùng với chú ruột là Trương Nhân Bá đã lập mưu chiếm đoạt cơ ngơi bằng cách giao cho bà Mai cùng với cô Bảy và người em út là Trương Nguyệt Hảo mang bộ hài cốt hỏa táng của ông Trưởng về Hạc Sơn an táng và ở lại bên ấy để thọ tang. Năm ấy, ở Quảng Đông xảy ra trận dịch đậu mùa, hàng ngàn người thiệt mạng, trong đó có Trương Nguyệt Hảo. Cô Bảy thoát chết nhưng mang trên gương mặt trẻ thơ lớm đớm vết rỗ hoa mè. Sống trong cảnh làm thiếp mà không chồng, bà Mai không chịu nổi những tập tục, lễ nghi phong kiến hà khắc của gia đình Tàu mà mọi quyền hành nằm trong tay bà chánh thất, bà Mai khóc thầm trong đau khổ, muốn trốn về quê mà túi lại không tiền. Hiểu được cảnh ấy, người con gái thứ tư của bà là Trương Liên Hảo, đang làm dâu một nhà hào phú ở Hạc Sơn, đã lén chồng bán của hồi môn để mua vé tàu cho mẹ và em về nước. Trên chuyến tàu Tây hôm ấy, mấy bà đầm phát hiện Cô Bảy Phùng Há mắc bệnh đậu mùa, họ la chóe lên, hành khách xôn xao, thủy thủ đoàn kéo cô quăng xuống biển, mẹ cô lạy lục van xin, những hành khách người Việt và người Hoa đứng ra ngăn cản. Cuối cùng họ đồng ý cho cô đi nhưng hai mẹ con cô phải cách ly, ngồi vào một góc xa phía sau hầm máy.


    [/align]Về đến Mỹ Tho, bà Mai mới tá hỏa ra rằng mình không còn quyền hành gì trong ngôi nhà cũ, và tất cả cơ nghiệp của ông Trưởng đã thuộc về người em ch?= ??ng và đứa con trai. Sống trong nhà mình mà con trai và con dâu luôn nặng lời chửi em mắng mẹ. Một hôm, Trương Tích Kỳ ném cho bà Mai hai chiếc vé tàu và mấy đồng lộ phí buộc bà và Cô Bảy Phùng Há trở về Hạc Sơn. Bà Mai tức tửi, nghẹn ngào dắt con gái về làng cũ Điều Hòa, tá túc trong căn chòi xơ xác của người mẹ mù lòa. Bà bị suy sụp rồi lâm bệnh. Cô Bảy Phùng Há – cô bé Trương Phụng Hảo lúc ấy – đành phải chạy ra tìm anh Hai để xin tiền lo thuốc thang, ăn uống cho mẹ và ngọai. Trong cơn say sượu và thuốc phiện, ông Kỳ đã không cho tiền mà còn nặng lời trách mắng vì đã không về Hạc Sơn theo ý muốn của ông. Cô chạy sang nhà của cha mình mà bây giờ đã thuộc về tay người chú ruột để khóc than, ông Nhân ném cho một đồng rưỡi, ông hứa mỗi tháng sẽ cấp cho mẹ con cô từ một đồng rưỡi đến hai đồng.


    [/align]Bà ngoại qua đời, hai mẹ con cô tiếp tục sống trong căn chòi hiu quạnh, xác xơ, bữa rau bữa cháo. Dù trong cảnh nghèo đói, khổ đau, nhưng bà Mai vẫn vắt kiệt sức mình trong một tiệm thêu để cho con gái được đến trường. Một người bạn cũ của ông Trưởng đã giúp Cô Bảy được vào học miễn phí ở trường Ecole Jeunes Filles – một trường tiểu học của Pháp tại Mỹ Tho. Và tại nơi đây, Cô Bảy Phùng Há đã bắt đầu nổi tiếng về năng khiếu ca hát của mình. Nhưng cũng chính vì cái năng khiếu ấy mà Cô đã bị đuổi ra khỏi trường khi chưa học xong chương trình tiểu học. Hôm ấy, bà đốc học La Fuste đi vắng, bà Giáo Kỳ vốn mê giọng hát của Trương Phụng Hảo nên tổ chức cho cô hát trong giờ học của bà. Phòng học nằm cạnh ven đườ= ng nên khi cô hát, người qua đường cũng đứng lại xem, rồi những tràng pháo tay vang lên. Bất ngờ, ông chánh thanh tra Ty giáo huấn ghé qua, ông buộc tội học trò Trương Phụng Hảo làm mất trật tự học đường. Bị đuổi học, Cô Bảy Phùng Há chợt nhớ lời một nữ tu hồi cô còn học bên trường Giồng: “Con hát hay lắm, nhưng chính giọng hát của con sau nầy sẽ làm khổ đời con”.


    [/align]Thật ra, lúc ấy nếu Cô không bị đuổi học thì cũng không còn điều kiện nào để học. Mẹ Cô vì lao lực lẫn lao tâm mà kiệt sức, nay ốm mai đau. Để có từng bữa ăn cho hai mẹ con, Cô Bảy phải lặn hụp dưới từng con rạch, dòng sông để kiếm từng con cá bống, con tép, con cua, đi móc từng trái dừa thuê cho các chủ vườn để mua cho mẹ từng thang thuốc bắc. Một hôm, có bà láng giềng tốt bụng đã giới thiệu Cô vào làm công cho lò gạch của ông Bang Hoạch. Cứ in một trăm viên gạch, Cô được trả ba xu. Với sức vóc của cô bé lên mười, mỗi ngày Cô kiếm chưa được mười xu, nghĩa là chưa đầy một cắc bạc. Nghĩ mình từng là con của ông chủ lò gạch, bỗng dưng lại trắng tay, giờ phải ngồi in từng viên gạch, chắt mót từng đồng xu ở một lò gạch khác, lòng Cô cứ ngậm ngùi, buồn chán cho thân phận, Cô vừa làm vừa nghêu ngao hát như một sự giải bày. Nhưng mỗi lần Cô hát thì cả nhóm thợ lắng nghe. Tiếng hát của cô đã gieo vào lòng người một niềm cảm xúc đến nao lòng. Mấy chị bảo: “Từ nay em không phải làm nữa, cứ vào đây ngồi hát cho mấy chị nghe, mấy chị sẽ làm thay phần việc cho em”.


    [/align]Như vậy là, tiếng hát của Cô đã nuôi sống mẹ con Cô từ năm mười một, mười hai tuổi, để rồi từ nơi ấy, từ cái lò gạch ấy, tiếng hát của Cô mỗi ngày cứ vang lên, bay cao và bay xa hơn, khắp mọi miền Tổ quốc, vượt cả không gian và cả thời gian để trở thành cây đại thụ của nền nghệ thuật sân khấu nước nhà.


    [/align]*


    [/align]Có những lúc Cô đang hát say sưa thì bất chợt nhìn thấy một người đàn ông đứng trước cửa lò gạch nhìn vào, say sưa nghe cô hát Nhiều lần, khi Cô đang ngồi hát say sưa thì chợt thấy từ phía cửa sổ hành lang lò gạch có một người đàn ông lặng nhìn say sưa nghe cô hát. Rồi cũng bất chợt một buổi chiều khi đi làm về thì thấy người đàn ông ấy đã có mặt trong nhà cô. Mẹ Cô cho biết đó là ông Hai Cu, chủ tiệm vàng kiêm bầu gánh Tái Đồng Ban ở Mỹ Tho. Gánh Tái Đồng Ban đang gặp sự cố, con trai ông, kép hát Hai Gỏi vừa mới qua đời, người tình của anh là Cô Năm Phỉ, đào chánh, đã buồn bã ra đi. Trong khi ông đi tìm đào thay cho Năm Phỉ thì có người nói với ông rằng “Trong lò gạch của ông Bang Họach có con bé xẩm lai hát còn mùi hơn cô Năm Phỉ”.. Ông không tin nhưng vẫn tìm đến để cầu may. Nhưng ngay từ hôm đầu tiên đứng ngòai cửa sổ lò gạch trộm nhìn nghe Cô hát, ông đã bị hốt hồn. Một lần, hai lần, rồi ba lần . . . cứ đứng lặng người nhìn Cô say sưa hát, tiếng hát thanh cao, khi trầm khi bổng, khi quặng thắt lòng người, đôi mắt cứ lững lờ, rười rượi nỗi sầu tư, chơi vơi trong cõi hư vô khiến cho ông Hai như muốn thốt lên rằng, con ơi, con không chỉ là một thiên thần bé bỏng mà là dấu hiệu của một tài năng. Bà Mai không bằng lòng cho con mình đi theo Tái Đồng Ban bởi hai lẽ: Thứ nhất, Cô Bảy chỉ mới mười ba tuổi, thứ hai, mới mười ba tuổi mà đã dấn thân vào con đường “xướng ca vô lọai” thì ắt phải hổ danh trong cái nhìn phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng Cô Bảy thì cương quy= ết: “ Con không chịu nổi cái lò gạch, con phải đi hát để có tiền nuôi mẹ, ai cười chê mặc kệ, họ cười chê chớ họ có giúp mình đâu khi mẹ đói, mẹ đau”. Ông Hai ra giá tám cắc bạc cho mỗi đêm hát, ngày nuôi hai bữa cơm. Cô Bảy nghe mà mừng trong bụng khi nghĩ đến cái thực tại ngồi ép gạch suốt ngày chưa được một cắc, cơm thì bữa đói bữa no, mẹ ốm đau không đủ tiền mua thuốc, nợ nần chồng chất không biết trả đến kiếp nào. Cô nói với ông Hai: “Con đồng ý nhưng xin ông hai điều kiện, thứ nhất ông cho mẹ con theo gánh hát để con chăm sóc, thứ hai, ông cho con mượn trước năm mươi đồng để mẹ con trả nợ”.


    [/align]Từ cái ngả rẽ bất ngờ của buổi chiều hôm ấy, Cô Bảy Phùng Há trở thành đào chánh của Tái Đồng Ban thay cho Cô Năm Phỉ và nổi danh với nhân vật Thúy Kiều, năm ấy, năm 1924, Cô mới tròn mười ba tuổi. Từ một quyết định giản đơn: “Đi hát để kiếm tiền nuôi mẹ”, Cô Bảy Phùng Há đã trở thành ngôi sao sáng rực của bầu trời sân khấu cải lương, và, cũng chính cô là người đã góp sức, góp công, góp cả lòng tâm huyết để nâng niu, nuôi dưỡng nền nghệ thuật nầy từ buổi sơ khai cho đến lúc trưởng thành, đứng trên đỉnh vinh quang. Hơn nửa thế kỷ đắm mình với ánh đèn sân khâu, làm rạng rỡ tên tuổi của hàng chục đoàn hát, từ Tái Đồng ban đến Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Phụng Hảo, Phước Cương, Thầy Năm Tú, Việt Kịch Năm Châu . . ., hóa thân với hàng trăm nhân vật, mà nhân vật nào, dù nam hay nữ, dù danh tướng hay mỹ nhân cũng được Cô Bảy Phùng Há cũng lột tả đến tận cùng tính cánh và số phận. Oai phong, lẫm liệt với Lữ Bố, Phạm Lãi, An Lộc Sơn; đằm thắm, kiêu sa, ngọt ngào, ai oán với Vương Thúy Kiều, với Nguyện Nga, với Dương Quý Phi, với Tô Ánh Nguyệt . . . Phùng Há đã làm nên tất cả những vai diễn, và tất cả những vai diễn ấy đã làm nên một Nghệ Sĩ Nhân Dân Phùng Há.


    [/align]Những  mề-đai, Huân chương, Huy chương của chính phủ Pháp, của toàn quyền Đông Dương, của thống đốc Nam kỳ, của vua Bảo Đại, vua Miên, vua Lào, vua Thái Lan, của Chính phủ Trung Hoa, Hungragri, Ba Lan, Mạc Tư Khoa, Budapest, Prague, Moscou, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha .. . . chứng tỏ một tài năng sân khấu cải lương đã vượt không gian quốc gia, làm rạng rỡ nền nghệ thuật nước nhà.


    [/align]Thế nhưng “Hồng nhan đa truân”, cuộc đời bà không có mối tình nào trọn vẹn.. Ngay từ những năm đầu đến với Tái Đồng Ban, sắc đẹp của bà đã làm ngẩn ngơ hai người thầy, một người dạy ca và một người dạy diễn: Huỳnh Thủ Trung và Năm Châu. Khi Năm Châu đang ôm mối tình câm chưa kịp nói ra thì Huỳnh Thủ Trung tuyên bố cưới cô Phùng Há. Năm Châu thất tình ra đi. Cô Bảy Phùng Há sống với Huỳnh Thủ Trung có một người con rồi chia tay vì không chịu nổi người chồng suốt ngày ngồi trong quán rượu, những chuyện ngoại tình, những trận đòn roi. Khi Năm Châu đang lưu lạc với một đoàn cải lương ngoài Bắc, được tin Cô Bảy Phùng Há thôi chồng và chuyển qua đoàn khác. Ông trở về, tìm gánh hát Trần Đắc với hy vọng nối lại tình xưa. Nhưng đò tình thêm một lần lỡ chuyến. Cô Bảy Phùng Há đã làm vợ của Bạch Công Tử và lập gánh hát Huỳnh Kỳ.


    [/align]Bạch Công Tử - tức Lê Công Phước, còn gọi là George Phước, con trai của Đốc Phủ sứ Mỹ Tho Lê Công Sũng – sau khi chiếm được trái tim của Cô Bảy Phùng Há đã bỏ ra năm trăm đồng trả nợ cho Cô, chuộc Cô ra khỏi gánh Trần Đắc, lập gánh Huỳnh Kỳ cho Cô làm chủ gánh. Thời ấy, giao thông cách trở, các gánh hát lưu diễn phải thuê ghe lườn vận chuyển sân khấu, công nhân và đào kép. Bạch Công Tử đã trang bị cho Huỳnh Kỳ bốn chiếc ghe chài, ba chiếc chở đồ đạc, đào kép và công nhân, một chiếc dành riêng cho đào chánh kiêm chủ bầu Phùng Há với đầy đủ tiện nghi như một tòa lâu đài di động. Có tiền bạc, có phương tiện, Cô Bảy Phùng Há chiêu mộ những đào kép nổi danh, Huỳnh Kỳ thống lĩnh nghệ thuật sân khấu cải lương khắp Nam kỳ lục tỉnh. Nhưng chỉ được bảy năm, Bạch Công Tử sa vào con đường ăn chơi sa đọa, bao nhiêu tiền của ông ném vào sòng bạc, tiệm hút, gái tơ. Huỳnh Kỳ suy sụp, đào kép lần lượt bỏ đi, Cô Bảy ôm hai đứa con đau ốm cùng với bốn chiếc ghe chài  nằm chơi vơi dưới chợ cầu Ông Lãnh. Trong cảnh khốn cùng, một người quen giúp cô ẳm con đi tìm chồng thì gặp Bạch Công Tử đang vui sống với một cô gái khác, một giai nhân nổi tiếng tên là Marie Anne Nhị ở khách sạn Minh Tân. Ông không quan tâm đến con mà lại trách mắng cô thiếu lịch sự, làm như thế là mất mặt ông với bạn gái của mình. Cô nuốt nước mắt ra về. Rồi cả hai đứa con lần lượt chết trên tay Cô trong cảnh không tiền chạy chữa, Cô đành phải chia tay với Bạch Công Tử để làm lại cuộc đời.


    [/align]*


    [/align]Người chồng thứ ba của Cô Bảy Phùng Há là kiến trúc sư Hoàng Phi, con trai một quan huyện ở Gò= Công, cũng là bạn thân với Bạch Công Tử.


    [/align]Sau năm 1945, Bạch Công Tử vừa bị phá sản, vừa nghiện ngập, vừa lâm bệnh ngặt nghèo không tiền chạy chữa. Nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ, Cô Bảy xin phép chồng đem ông về nuôi dưỡng trong nhà tại số 3 đường Ngô Tùng Châu, Sài Gòn.. Năm 1950, Bạch Công Tử qua đời trong cảnh không có đất để chôn. Cô Bảy lại xin phép chồng đưa ông về an nghỉ trên đất nhà chồng ở Gò Công, và nhờ người con riêng của chồng trông coi mộ.


    [/align]Hỏi vì sao cô chia tay với ông Hoàng Phi, cô không nói. Cô chỉ nói đó là một người trí thức và tử tế.


    [/align]Với nghệ sĩ Năm Châu, Cô Bảy cho rằng đó là một chuyện tình buồn và đẹp, cứ chập chờn, chập chờn như con đò lỡ chuyến suốt sáu mươi năm. Năm 1953, ngẫu nhiên Cô và Năm Châu đầu quân trở lại gánh Trần Đắc. Vở Mộc Quế Anh đã đưa ngôi vị của Phùng Há-Năm Châu thành đôi bạn diễn ăn ý số một của sân khấu cải lư?= ?ng. Cô cảm nhận đó là tình yêu, cả hai đã trút cạn tình yêu cho nhau qua vai diễn, những điều khát khao mà chưa bao giờ được nói với nhau. Nhưng khi bước ra phía sau bức màn nhung thì cô cảm nhận được ánh mắt chừng như mất vui, chừng như có chút hờn ghen của nghệ sĩ Kim Cúc, bạn Cô, cũng là vợ của nghệ sĩ Năm Châu. Biết lửa gần rơm rồi sẽ cháy. Cô rời gánh Trần Đắc, lặng lẽ ra đi để bảo vệ hạnh phúc của bạn mình. Cô hiểu tình yêu của nghệ sĩ Năm Châu đối với cô càng ngày càng sâu nặng. Ông viết những vở tuồng Nợ Dâu, Men Rượu Hương Tình, Sân Khấu Về Khuya như để gởi gấm, để giải bày, như để hờn trách sự lạnh lùng, bạc bẽo của Cô.


    [/align]Ngày nghệ sĩ Năm Châu hấp hối, Cô chạy như điên, lê lết trên từng bậc cầu thang trong bệnh viện. Bất chấp sự có mặt của mọi người, Cô ôm chầm lấy ông, Cô gào thét: “Khoan, anh khoan hãy đi, anh hãy nghe em nói rồi mới yên lòng ra đi, em biết anh hận em, nhưng em không phải là kẻ vô tình, em làm như vậy là em hy sinh vì hạnh phúc của gia đình anh, vì vợ con anh. Anh biết không, tới giờ phút nầy em vẫn yêu anh . . .”


    [/align]Chồng , con, và cả những người tình cũng lần lượt đi về bên kia thế giới. Theo thuyết giáo của nhà Phật, khi ta sống, cái gì ta cho thì cái đó chính là tài sản, ở lại với ta. Phải chăng, những thứ quý giá mà cô đã cho, đó chính là những vai diễn, những môn sinh mà Cô đã nhọc công đào tạo để làm nên một thế hệ cải lương vàng son, vang bóng một thời. Một ngôi chùa nghệ sĩ, một nghĩa trang nghệ sĩ với bốn trăm ngôi mộ và gần bốn trăm bộ hài cốt, Cô như người tự nguyện đi trước về sau, níu kéo thời gian đến tuổi 99 nầy để làm điều đó, làm cho trọn tình trọn nghĩa với thế hệ mình và cả thế hệ cháu con.


    [/align]Phải, tất cả những gì mà Cô đã cho, tất cả đã và đang ở lại với Cô, bây giờ và mãi mãi.

    ST

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    CHÚC MỪNG CÔ BẢY
    NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM 20.10

    Kẻ Ngông
    ----------------
    Đời muôn nẻo - tình muôn nơi
    Lòng chơi vơi- đâu bến đỗ???
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-09 21:52:47Viet duong nhan>
    Lời Giới Thiệu
    CD Tân Cổ Hoa Song Đường
    Thơ: Mặc Giang
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-01.mp3[/themNhac]

    *

    Đóa Hoa Song Đường
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Ngọc Nga

    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-02.mp3[/themNhac]
     
    *
     

    Một Đời Ơn Cha
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Châu Thanh
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-03.mp3[/themNhac]
     
    *
     

    Mỗi Năm Giỗ Mẹ
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Kim Thoa
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-04.mp3[/themNhac]
     
    *
     

    Hình Bóng Mẹ Hiền
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Hoàng Nhất & Thy Lan
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-05.mp3[/themNhac]
     
    *
     

    Bóng Hình Cha Muôn Thưở
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Hoàng Nhất
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-06.mp3[/themNhac]
     
    *
     

    Nhắc Những Em Tôi
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Phượng Hằng
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-07.mp3[/themNhac]

    *

    Nhớ Thương Về Mẹ
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Hải Long
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-08.mp3[/themNhac]
     
    *
     

    Nhớ Mãi Tình Quê
    Nhạc Sĩ: Hải Dương
    Trình Bày: Hải Long & Nhân Hậu
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-09.mp3[/themNhac]
    *
     

    Em Bé Mồ Côi
    Nhạc Sĩ: Hồ Kiểng
    Trình Bày: Yến Nhung & Minh Cường
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.net/audio/tanco/hoasongduong/09-10.mp3[/themNhac]
     
     
     

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Trích đoạn: Kẻ Ngông

    CHÚC MỪNG CÔ BẢY
    NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM 20.10


    Xin lỗi KN nhiều nha ! Lâu lắm rồi 7 không ghé "nhà" này nên không hay KN vào chúc 7[:)].Cám ơn em thiệt nhiều.
    Chúc KN luôn an vui may mắn.
    7_vdn
     

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-10 09:06:23Viet duong nhan>
    Tân Cổ Quan Âm Thị Kính Việt Nam
    thơ Mặc Giang - nhạc Quang Nhã - Ns Công Nghĩ 
    [themNhac]http://www.tangthuphathoc.com/tacgia/macgiang/cacoquanamthikinh.wma[/themNhac]

    Quán Âm Thị Kính Việt Nam 1


    Đêm khuya lạnh giữa núi rừng Bình Phước
    Tiếng con ai sao khóc trước cổng chùa
    Già Lam nghèo xuyên vách lá đong đưa
    Tiếng trẻ khóc từng hồi khua thét gió

    Thầy Chiếu Pháp cầm đèn dầu nho nhỏ
    Cùng vài Chú Điệu, cất bước ra soi
    Không bóng dáng ai, sao lạ hỡ trời
    Chỉ thấy em bé, trùm khăn khóc ré

    Hình như mới sinh, em còn nhỏ quá
    Hai mắt nhắm nghiền, da thịt đỏ au
    Sao lạ thế nầy, cha mẹ em đâu
    Không lẽ ở dưới đất chui lên, hay trên trời rớt xuống

    Rừng núi hoang vu, chùa quê thanh vắng
    Nợ phong trần sao lại nặng duyên vương
    Em bé ơi, ôi giấc mộng nghê thường
    Thầy đành phải cưu mang ru giấc điệp

    Đêm đầu tiên Thầy không sao ngủ được
    Tiếng trẻ thơ khát sữa khóc oa oa
    Đun nước sôi, pha sữa hộp, chứ biết sao bây giờ
    Bàn tay Thầy sần sùi không đủ ấm

    Ru bé ngủ, cất tiếng à ơ vịt rống
    Nghe sao mà trầm bỗng giống tiếng tụng kinh
    Em bé nghe, hình như không phải tiếng của mẹ, giật mình
    Thầy chẳng biết bế bồng ra sao, nhìn em mà ứa nước mắt

    Bản thân Thầy mở ra một khúc ngoặt
    Khúc ngoặt hai năm, trải qua biết mấy khúc ngoèo
    Ngoèo như núi rừng, hoang vắng cheo leo
    Ngoặt như đồi dốc, Thầy âm thầm gánh chịu

    Rừng khuya hỡi, có nghe không tiếng núi
    Trăng sao ơi, le lói chi khung trời
    Lòng dạ Thầy heo hút đỉnh chơi vơi
    Là đàn ông, mà phải thành Thị Kính

    Nhân gian có câu :
    Người tính không bằng trời tính
    Thị Kính xưa có pháp danh Kỉnh Tâm
    Tên của Thầy lại là tên Minh Tâm
    Hiệu của Thầy lại còn mang Chiếu Pháp

    Quê ở Vĩnh Long, tìm lên Bình Phước
    Xây dựng chùa, đặt danh hiệu Thanh Tâm
    Núi rừng khuya, vằng vặc ánh trăng rằm
    Sáng và tròn đầy hơn trăng mười sáu

    Nhớ chuyện xưa, có Quán Âm Thị Kính
    Thì chuyện nay, cũng có Thị Kính Quán Âm
    Không phải chuyện của người, mà là chuyện của Việt Nam
    Ta ca hát đi khắp cùng nhân thế.

    Viết ngay, khi đã gởi Câu chuyện này đi cùng khắp,
    và không đầy một tiếng đồng hồ sau, đã có bài này.
    7 giờ tối Thứ Hai ngày 23-11-2009
    TNT Mặc Giang
    macgiang@y7mail.com


    Quán Âm Thị Kính Việt Nam 2

    Thầy Chiếu Pháp sớm hồi đầu, quy y cửa Phật
    Mộng thư sinh, xin trả lại sân trường
    Ba năm đại học, bụi phấn không vương
    Khoác áo nâu sồng, tương chao dưa muối

    Tỉnh Vĩnh Long của Miền Nam bạt ngàn ruộng lúa
    Sợ chim ngàn lỡ gãy cánh sa chân
    Nên Thầy tìm lên tận gió núi mưa rừng
    Đèo heo hút giữa hoang vu Bình Phưóc

    Trên dưới mười năm, bần hàn đạm bạc
    Kiến tạo ngôi chùa, tên tự Thanh Tâm
    Thầy trò trong lành, như tiếng chuông ngân
    Nhưng bổng một hôm, đất bằng dậy sóng

    Vào giữa đêm khuya, núi rừng hoang vắng
    Có tiếng khóc gào, như tiếng bé thơ
    Tiếng khóc ngoài cổng, theo gió bay vô
    Xuyên kẽ lá vách chùa che sao nổi

    Thầy Trò thắp đèn, lần mò ra cổng
    Tiếng khóc trẻ thơ càng rõ ràng hơn
    Con của nhà ai, khóc giữa đêm hôm
    Cha mẹ em đâu, mà em nằm ngo ngoe đỏ hỏn

    Thầy Trò cùng kêu, mà chẳng nghe ai lên tiếng
    Duyên nghiệp thế này, biết đành đoạn sao cam
    Thầy không nói không rằng, đưa hai tay bồng em lên
    Đem vào phòng, châm thêm dầu, thức trắng

    Cứ một hai tiếng, em cục cựa, khóc rống
    Thầy lại đun nước sôi, pha thêm sữa cho em
    Em oe oe, rồi nhắm mắt ngủ yên
    Thầy ngồi đó, tâm can như lửa cháy

    Ngày lại ngày qua, cha mẹ em đâu không có thấy
    Tháng lần năm lựa, bão bùng sóng gió thị phi
    Nghiệp cảnh nghiệp duyên, tột đỉnh tư nghì
    Ập phủ lên Thầy, như Núi Bà Đen, cuối Trường Sơn hùng vĩ

    Rồi Tỉnh, rồi Huyện, mọi Ban Ngành, đem ra cân ký
    Rồi dân, rồi quân, ai cũng mổ xẻ tường tận li ti
    Ngậm miệng cũng mắc quai, đừng nói há miệng, biết nói năng gì
    Thầy cam phận, cam lòng, mang thân Thị Kính

    Thị Kính xưa, vẫn diễm phúc hơn Thầy, nhờ giới tính
    Còn Thầy thì, mang cái kiếp đàn ông
    Khổ gì hơn, bằng cảnh gà trống nuôi con
    Hai vai rộng, nhiều khi thua đôi cánh nhỏ

    Chỉ bú, mớm, dỗ dành, hát ru, thay tả
    Mà khó lòng hơn vượt núi băng đèo
    Năm ba tháng đầu, ghềnh đá đẳng đeo
    Đành chấp nhận như ba hồi kinh dị

    Ngày tháng dần qua, em dần hơi lớn
    Khi em biết đi, Thầy sung sướng quá đi thôi
    Khi em biết nói những tiếng bập bẹ đầu đời
    Thầy diễm phúc như đường tu chứng ngộ

    Bởi thuyền khổ ải đã vượt qua biển khổ
    Bởi bây giờ, em cười, em khóc, còn biết tại sao
    Chứ trước đây, dù Thầy biết Bắc Đẩu, Nam Tào
    Nhưng em bé khóc cười, Thầy không sao hiểu nổi

    Gần hai năm sau, cha mẹ của em, lương tâm mòn mỏi
    Không có nỗi đau nào, bằng nỗi đau cắn rứt lương tâm
    Nên cha mẹ của em, chân thành sám hối ăn năn
    Xin nhận lại đứa con thơ, khúc ruột núm nhau, ôi là da là thịt

    Thầy từ mẫn nhưng nghe lòng xa xót
    Công sinh công dưỡng cũng lắm tơ vương
    Nhưng Thầy chỉ mang tạm một đoạn trường
    Cuộc đày ải trả cho người nhân thế

    Câu chuyện thời xưa, có Quán Âm Thị Kính
    Câu chuyện thời nay, có Thị Kính Quán Âm
    Trời xanh xanh, mà cây lá cũng xanh xanh
    Trăng sáng tỏ trăng rằm, trăng thanh trăng mười sáu

    Tôi xin hát bản trường ca hợp tấu
    Chuyện Quán Âm Thị Kính của Việt Nam
    Truyền cho nhau và đi khắp nhân gian
    Việt Nam ta, cũng có những con người siêu xuất.

    11 giờ đêm Thứ Hai, ngày 23-11-2009
    Dành thêm một tiếng hồ và có thêm một bài nữa.
    TNT Mặc Giang
    macgiang@y7mail.com

    *
    &gt;&gt; Mặc Giang (Toàn Thư)
    _______________
    :: Phủi Bụi Trừ Dơ ::
     
    [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0





    19-9-2010

    Với hơn 200 thính giả đã đến tham dự ngày Giỗ Tổ Cải Lương do Câu Lạc Bộ Cổ Kim Hòa Điệu tổ chức tại Party Hall Houston với sự tham dự của đài truyền hình BNY và một số cơ quan báo chí địa phương.

    Party Hall qúa ít parking đã làm phiền hà số thính gỉa khá nhiều khi những dịch vụ bên cạnh hăm dọa cho kéo xe đã làm cho một số khán gỉa phải bỏ về sớm làm mất đi sự huởng ứng khá nhiều. Thiết tuởng tự hậu BTC nên muớn chỗ tại Trung Tâm Lạc Hồng sẽ tránh đuợc tệ trạng này.

    Hội Phụ Nữ Thủ Đức Houston cũng đã sát cánh yểm trợ với Câu Lạc Bộ Cổ Kim Hòa Điệu trong mọi kỳ tổ chức qua phần hát Quốc Ca VN và phút mặc niệm đã tăng thêm phần trang trọng phần mở đầu chương trình.

    Cổ Nhạc còn, tiếng Việt còn, một hậu duệ chưa đủ tuổi vị thành niên đã hát 6 câu giọng cổ tuyệt vời. Hỵ vọng và uớc mơ các hậu duệ đều đuợc như vậy thì hay biết chừng nào.

    Chúng tôi phải về sớm vì tình trạng đậu xe như đã trình bày ở trên. Một số hình ảnh đính kèm xin cống hiến đến qúy độc giả.

    Nguyễn Vân Tùng

    Houston, ngày 20-9-2010
     















    [/align] 
    Nguồn : e mail

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-08 21:01:19Viet duong nhan>


    "Nguyệt San Nghệ Thuật" của Nhạc Sĩ Lê Dinh ở Montréal_Canada











    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Nghệ sĩ Kim Ngọc qua đời .
    Nghệ sĩ ưu tú Kim Ngọc - mẹ của diễn viên Hiếu Hiền vừa qua đời vào 13h trưa ngày 16/1 vì đột quỵ.

    Tin buồn này đến với diễn viên Hiếu Hiền trong những ngày gần Tết và cũng không lâu sau khi tổ chức lễ cưới. Đây là một mất mát lớn cho giới nghệ sĩ trong nước bởi nghệ sĩ ưu tú Kim Ngọc là một trong những nghệ sĩ lão làng của nghệ thuật cải lương.



    Nghệ sĩ Kim Ngọc qua đời đột ngột vào trưa nay (16/1).

    Nghệ sĩ Kim Ngọc là một nghệ sĩ cải lương với hơn 50 năm trong nghề và là người đi trước luôn tận tình với thế hệ đàn em. Đây có lẽ là giai đoạn khó khăn cho diễn viên Hiếu Hiền vì ba anh- nghệ sĩ Đức Lang vừa bị tai biến và phải nằm viện hồi tháng 10 thì bây giờ mẹ anh lại đột ngột ra đi.

    Nghệ sĩ Kim Ngọc mất lúc 13h ngày hôm nay 16/1 vì một cơn đột quỵ, hưởng thọ 67 tuổi. Hiện tại gia đình và người thân đang bên cạnh Hiếu Hiền để cùng anh san sẻ mất mát này.

    THẢO PHƯƠNG
    [/align] [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Nữ nghệ sĩ danh hài KIM NGỌC
    đột ngột qua đời.

    ( 1946 – 16 / 1 / 2011 )
    Hưởng thọ được 66 tuổi.



    Vừa hững sáng, điện thoại viễn liên réo liên hồi, tôi có dự cảm là chắc có một nghệ sĩ thân quen ở Việt Nam từ trần, vì thông thường vào giờ này, ít có ai gọi điện thoại cho tôi.
    Đúng như sự tiên đoán đó, nữ nghệ sĩ Tú Trinh gọi từ Việt Nam sang báo tin cho tôi biết nữ nghệ sĩ Kim Ngọc, một giọng ca vàng với làng hơi ngọt lịm, một nữ danh hài duyên dáng vừa đột ngột về cõi vĩnh hằng.

    Đôi Dòng Tiểu Sử:

    Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc sanh năm 1946 tại chợ Giồng Ông Tố quận Thủ Đức, con thứ hai trong gia đình có tới 14 anh chị em. Theo lời của Kim Ngọc thì gia đình Ba Má cô rất nghèo vì nhà đông con. Má của Kim Ngọc bán thịt heo ở chợ Giồng Ông Tố, bà cứ sanh con năm một và có năm bà lại sanh đôi. Ba của Kim Ngọc đặt tên các con như sau : « Hoàng, Ngọc, Ẩn, Non, Côn, Vàng, Cầm, Nơi, Hoa, Lệ, Thủy Triều, Phượng, Nở » ý nói nôm na là « Hòn ngọc ẩn ở núi Côn không sánh bằng nước mắt của người tình trong mùa phượng nở »

    Năm 1970, Ba của Kim Ngọc mất vì bịnh xuất huyết bao tử khi cô đang tập tuồng hát tại rạp Quốc Thanh. Chuyện đặt tên có vần có ý nghĩa của cha cô Kim Ngọc như là một lời tiên tri, ứng vào cuộc đời của Kim Ngọc. Kim Ngọc là vàng ngọc nhưng lại không bằng giọt nước mắt người tình mùa Phượng nở nên Kim Ngọc chịu nghèo khổ khá lâu mới được rạng rở như ngày hôm nay khi mà cô nín đau trong lòng để làm duyên hài chọc cười khán giả.

    Những năm 14, 15 tuổi, Kim Ngọc còn ở nhà giúp mẹ, khi thì đi chợ Giồng Ông Tố phụ bán thịt heo, khi thì phải thay mẹ ở nhà chăm sóc đàn em dại, giặt giũ áo quần cho chúng. Kế bên nhà của Kim Ngọc, ông Ba Xậy có máy hát dĩa quay bằng tay, thường hát các dĩa vọng cổ của Út Trà Ôn ca Tổn Tẩn Giả Điên, Thái Sư Văn Trọng giáng thập điều, Tình anh bán chiếu…Kim Ngọc nghe riết rồi học ca theo, thuộc lòng các bản vọng cổ của thần tượng Út Trà Ôn.

    Khi ngồi giặt áo quần cho các em, Kim Ngọc ca nghêu ngao những bài vọng cổ học lóm đó, anh Minh Thành, thợ hớt tóc trong xóm, xưa kia là nhạc sĩ cổ nhạc, nghe Kim Ngọc có hơi ca tốt mà không rành nhịp điệu và bài bản nên anh gọi Kim Ngọc đến mỗi ngày cho anh dạy Kim Ngọc ca ba Nam, sáu Bắc và vọng cổ. Khi Kim Ngọc ca rành rẽ các bài bản cổ nhạc, cô được thầy Minh Thành và cha của cô dẩn đi ca tài tử trong các cuộc tiệc vui trong xóm.

    Ông bầu Ba Bản thành lập đoàn Thủ Đô, nghe đồn giọng ca của Kim Ngọc, ông đã đến nhà xin cha mẹ Kim Ngọc cho cô theo đoàn ông để học hát và ông trao cho má Kim Ngọc một ngàn năm trăm đồng để bà mướn người làm công việc nhà thay cho Kim Ngọc để Kim Ngọc đi học hát. Nhưng gánh hát Thủ Đô của ông bầu Ban Bản mới thành lập, tập trung nhiều đào kép thượng thặng nên Kim Ngọc chỉ được cho ngâm thơ hậu trường hay ca vọng cổ ngoài màn chớ chưa có vai nào trong tuồng hát của đoàn. Năm sau, Kim Ngọc về đoàn hát Trùng Dương, rồi theo đoàn Tuấn Kiệt hát chung với Phương Quang, Phượng Liên. Đây là những đoàn hát ở tỉnh lẽ nên khán giả ở Saigòn ít biết đến. Khi đoàn Tuấn Kiệt hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, các ký giả kịch trường phát hiện những tài năng trẻ nên viết nhiều bài báo giới thiệu các nghệ sĩ trẻ Phương Quang, Phượng Liên và Kim Ngọc.

    Nữ nghệ sĩ KIM NGỌC trong thời hoàng kim của Cải Lương:

    Nam 1962, Kim Ngọc được báo chí kịch trường khen là cô đào trẻ đang lên nên ông bầu Minh Bằng( gia đình của nữ diễn viên Diệp Tuyết Anh) đến mời cô hát chánh trong gánh hát của ông. Vở tuồng đầu tiên Kim Ngọc hát là vở Trăng Lên Đỉnh Núi, hát cặp với kép chánh Trọng Sỹ. Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc nhận được contrat 10.000 đồng khi đi hát với gánh hát của bầu Minh Bàng. Cô đưa hết số tiền đó để giúp cha mẹ nuôi đàn em của cô ăn học và no cơm ấm áo.

    Năm 1965, Kim Ngọc được ông bầu Thu An ký hợp đồng về tập tuồng, chuẩn bị khai trương gánh hát Hương Mùa Thu nhưng chưa đầy một tháng sau, ông Bầu Xuân đoàn Dạ Lý Hương ký một số tiền contrat cao gấp đôi số tiền của đoàn Hương Mùa Thu để Kim Ngọc về hát cho đoàn Dạ Lý Hương.

    Kim Ngọc sáng chói trong tuồng Cô Gái Đồ Long của Hà Triều Hoa Phượng. Nghệ sĩ Tấn Tài trong vai Vô Kỵ, Ngọc Giàu trong vai Triệu Minh, Kim Ngọc trong vai Chu Chỉ Nhược, ba giọng ca vàng nầy đã làm cho bảng hiệu Dạ Lý Hương rực sáng.

    Lúc đó Kim Ngọc quá đẹp, với vòng đo thân mình 80-61-85, nặng 43 kí, nét mặt xinh tươi sắc sảo, giọng ca lanh lãnh, hơi rông, ca giọng cổ điêu luyện. Kim Ngọc sánh chung với vua vọng cổ trên làng dĩa nhựa Tấn Tài và giọng ca nhung lụa của Ngọc Giàu là một dàn đào kép lý tưởng của đoàn Dạ Lý Hương khiến cho các ký giả kịch trường và khán giả ái mộ, gởi thơ đề cử cho Kim Ngọc vào dự thi giành huy chương vảng giải Thanh Tâm năm 1964. Theo lời Ban chấm giải, đáng lý ra Kim Ngọc cũng được huy chương vàng năm 1964, cùng với nữ nghệ sĩ Lệ Thủy như vì giải thường quy định chỉ chọn một nam, một nữ, mà vai nữ thì Lệ Thủy cao ráo hơn, sắc vóc chiếm ưu thế hơn Kim Ngọc nên Kim Ngọc mất dịp may không được giải Thanh Tâm.

    Tuy nhiên năm 1973, 1974, nhật báo Trắng Đen tổ chức giải thưởng văn nghệ Kim Khánh thì Kim Ngọc hai năm liền được đọc giả bỏ phiếu tặng thưởng huy chương Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen của ông chủ báo Việt Định Phương.

    Năm 1972, Kim Ngọc về đoàn hát Bạch Tuyết – Hùng Cường, khi hát tuồng Trăng Thề Vườn Thúy, hề Tùng Lâm té xe gảy tay, Kim Ngọc tình nguyện thế vay Hề Đồng của Tùng Lâm để bảo đảm đêm hát không trở ngại, không ngờ Kim Ngọc hát quá hay, quá có duyên nên cô chuyển qua diễn một số vai hài của đoàn Bạch Tuyết – Hùng Cường.

    Cuộc đổi đời sau tháng 4 năm 1975:


    Sau năm 1975. Kim Ngọc cũng như nhiều nghệ sĩ khác, vì đoàn hát tư nhân bị giải tán, trong khi chờ chánh phủ mới lập đoàn hát theo kiểu văn công hay tập thể, Kim Ngọc mỗi khuya ba giờ, cùng với cô con gái tên Kim Ngân xuống chợ Cầu Ông Lãnh, lột võ tôm mướn để kiếm sống qua ngày.

    Vàng Ngọc( tức Kim Ngọc) và Vàng Bạc ( tức Kim Ngân ), hai mẹ con có tên ngọc ngà trở thành thợ bốc võ tôm để kiếm sống theo cách lao động chân chính sau ngày 30 tháng 4 năm 1975..

    Sau đó, có đoàn hát, Kim Ngọc trở về với sân khấu, nhưng thời hoàng kim của sân khấu cải lương đã qua rồi, Kim Ngọc sống chật vật với những vai tuồng mới, với đồng lương mới. Hoàng Long, chồng cô đã vượt biển với đứa con trai lớn là Hoàng Phương.

    Trước đó thì hai vợ chồng đã chia tay nhau vì những vụ ghen hờn. Kim Ngọc nuôi đứa con gái Kim Ngân, Hoàng Long và Hoàng Phương định cư tại Pháp.

    Khóc cho phận mình nhưng ráng chọc cười thiên hạ để kiếm sống:

    Chuyển qua tấu hài, Kim Ngọc lập tức nổi danh Nữ Quái với vai Tư Xã Láng và diễn viên hài Quốc Hòa trong vai Hai Mưa Nắng trong nhiều chương trình truyền hình” Chuyện trong nhà ngoài phố “. Cặp diễn viên hài Kim Ngọc - Quốc Hòa diễn chung được nhiều năm, kiếm sống được vì khán giả thích được chọc cười.

    Khoản năm 1980, khi đi hát chung trong một đoàn hát, nhạc sĩ Đức Lang, người đờn chánh cho đoàn hát Thanh Tú – Trang Bích Liểu mà Hồng Nga và Kim Ngọc đang cộng tác bỗng trồng cây si Kim Ngọc. Chỉ hát qua vài bến diễn, nhạc sĩ Đức Lang bèn chân thành ngõ ý xin cưới Kim Ngọc. Các bạn diễn trong đoàn hát cũng tán thành cặp nghệ sĩ hiền hậu nầy, nên rồi chiều theo ý trời và lòng người, Kim Ngọc bước thêm bước nữa với nhạc sĩ Đức Lang. Kim Ngọc đã được hơn ba mươi năm hạnh phúc với ông chồng Đức Lang nhạc sĩ, một người chỉ biết yêu vợ và chiều lòng vợ.

    Hai người có với nhau một đứa con tài ba là nghệ sĩ hài Hiếu Hiền. Hiếu Hiền được Kim Ngọc dạy tấu hài nên Hiếu Hiền và Kim Ngọc trở thành một cặp diễn hài ăn khách nhất hiện nay.Khán giả thích cặp tấu hài So Le với các tiểu phẩm &lt;i&gt;Bà Bầu Liều Mạng, Hoa Hậu Vũ Trụ, Câu Chuyện Cái Ti Vi.&lt;/i&gt;

    Kim Ngọc lại có một đứa con nuôi tên Kim Đạt, cùng xuất hiện chung trong một chương trình tấu hài. Vừa bước ra sân khấu, khán giả đã cười vì Kim Đạt thì cao như một cây tre miễu, còn Kim Ngọc và Hiếu Hiền thì mập và lùn như hột mít. Nhóm hài Kim Ngọc đã diễn ở các tụ điểm giải trí Saigon, ở các tỉnh Bình Dương, Long Khánh, Vũng Tàu, Bà Rịa, các tỉnh miền Hậu Giang, Đồng Tháp, Cà Mau.

    Con gái của Kim Ngọc tên Kim Ngân, kinh doanh một cơ sở sản xuất lưỡi câu rất là phát đạt. Gần đây Kim Ngân mở thêm một cơ sở sản xuất xe đạp hiệu Thanh Bình, được khác h hang ưa chuộng trên thị trường cả nước.
    Nữ quái Kim Ngọc vẫn say mê sân khấu, cô vẫn thèm muốn được hát một tuồng chính chắn như các tuồng hát hồi xưa. Nhưng Chu Chỉ Nhược xinh đẹp ngày xưa, giờ đây đã mập tròn và nặng gần tám mươi ký, hết hát đào mùi được thì cô đành đem nụ cười lại cho khán giả, đó cũng là ước vọng của Kim Ngọc khi tuổi đã đến sáu mươi lăm.

    Chết trên sân khấu, Mơ ước của bao nghệ sĩ tài danh.

    Từ lúc 55 tuổi đến năm 65 tuổi, mười năm dài đi chọc cười khán giả, giấc mơ của nữ nghệ sĩ tài danh Kim Ngọc muốn được hát một vở tuồng tình cảm xã hội đàng hoàng như hồi trước 1975 vẫn chưa có cơ hội thực hiện!

    Nhưng cái mơ ước của nhiều nghệ sĩ tài danh là được chết ngay trên sân khấu khi đang hát, ít người đạt được thì chính Kim Ngọc lại bất ngờ đạt được khi chạy show hát ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai. Kim Ngọc chết ngay sau khi nghe hàng ngàn khán giả vổ tay tán thưởng hai câu vọng cổ của cô ca.

    Được tin Kim Ngọc mất, tôi đau xót bàng hoàng.

    Hồi xưa Kim Ngọc cùng tôi đi cho đoàn Dạ Lý Hương. Kim Ngọc hát rất nhiều tuồng của tôi ở đoàn Dạ Lý Hương như tuồng: Chuyện Ba Trái Tim đóng hài với Thanh Việt và Văn Chung, tuồng Người Dừng Chân Đêm Mưa, Cô Gái Diên, Tiền Rừng Bạc Biển, Lệnh của Bà, Kẻ sợ Tình, Tuổi Hồng Cho Em, Cánh Hoa Chùm Gữi, Con Ma Nhà Họ Hứa, ..

    Lúc ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga, vợ chồng tôi là cha mẹ nuôi của nghệ sĩ Hoàng Long, chồng của Kim Ngọc. Khi cùng cộng tác ở đoàn Dạ Lý Hương, Kim Ngọc vẫn gọi tôi là Bố và tự nhận là con dâu của Bố. Ngoài các vở tuồng trên sân khấu, Kim Ngọc thủ diễn nhiều vở tuồng và kịch truyền hình của tôi. Kim Ngọc là một nghệ sĩ đa tài, ngoài giọng ca thiên phú, kỷ thuật ca điêu luyện, Kim Ngọc hát hay tất cả các loại vai và luôn luôn biết tìm tòi để phát triển những vai tuồng mà cô nhận hát.

    Tánh tình vui vẻ, không hề làm mích lòng bạn diễn hay công nhân sân khấu, cô rất lễ phép và biết tôn sư trọng đạo, các nghệ sĩ đàn anh, đàn chị cũng như các nghệ sĩ đồng trang lứa và các soạn giả đều thương mến và có nhiều kỷ niệm thân thương đối với nữ nghệ sĩ Kim Ngọc.

    Theo cảm nghĩ của giới nghệ sĩ chúng tôi, chết có nghĩa là chấm dứt cuộc dạo chơi ở chốn trần thế này. Kim Ngọc đã chấm dứt cuộc dạo chơi bằng cách tạo một trận cười cho khán giả thân thương ở huyện lỵ Long Thành, cách Saigòn vài chục cây số, đó là cách chấm dứt cuộc chơi rất lý thú và rất ấn tượng.

    Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc về cõi vĩnh hằng sau khi ca hai câu vọng cổ trên sân khấu ở huyện Long Thành gợi lại hình ảnh nghệ sĩ tài danh Tư Út ( Phạm Thế Đẩu) mất trên sân khấu năm 1948, tại rạp hát Nam Vang khi anh đang thủ diễn vai Sứ thần Ngô Trung Cảnh trong tuồng Mộng Hoa Vương, hát chung với nữ nghệ sĩ Phùng Há. Lúc đó sứ thần Ngô Trung Cảnh ( tư Út) ca xong hai câu vọng cổ với nữ chúa Mộng Hoa Vương, nghệ sĩ Tư Út xụm xuống ngay trên sân khấu và chết không cứu kịp mặc dầu lúc đó có bác sĩ đang xem hát, làm hô hấp nhơn tạo và đưa ngay vào bệnh viện để cấp cứu.

    Vợ chồng Nguyễn Phương thắp nén nhang tưởng niệm và nguyện cầu cho hương linh Kim Ngọc sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc.

    Xin chia buồn cùng cháu nhạc sĩ Đức Lang và danh hài Hiếu HIền.

    Xin chia buồn cùng nghệ sĩ Hoàng Long, cháu Hoàng Phương (ở Pháp ) và Kim Ngân.( VN )

    Tang lễ của Kim Ngọc tổ chức tại tư gia, số nhà C9 / 4B10 – Bình Hưng – Bình Chánh ( Giao lộ Nguyễn Văn Linh - Phạm Hùng )
    An táng tại quận 9.


    xin thành thạt chia buồn cùng Bác Đức Lang & anh Hiếu Hiền,cầu nguyện cô Kim Ngọc yên nghỉ!

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    THƯƠNG TIẾC
    Nữ Nghệ SĨ Kim Ngoc





    Kim Ngọc ơi ! Mình đồng tuổi nhau ... hic hic, sao TOI lại ra đi trước MOI vậy? Chờ MOI nhé KiM Ngọc ơi !



    MOI vừa e-meo cho nghệ Sĩ Kiều Lệ Mai, hy vọng sẽ báo tin buồn này cho Hoàng Phương, con trai của TOIhay gấp, HP mà TOi đã từng muốn cho MOI làm con NUÔI. Hy vọng và gia đình, con dâu, cháu Nội của TOI hay và về VN đưa tiễn TOI đến nơi cuối cùng yên giấc NGÀN THU

    MOI, bạn Toi thưở XA XƯA ở Sàgòn
    Tuyết_KINH ĐÔ_Paris


    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Nghệ sĩ Kim Ngọc qua đời .

    cô Kim Ngọc với 7 bằng tuổi ha?nghe cô ra đi TQ rất bàng hoàng vì từ lâu TQ cũng mến mộ tài nghệ của cô mà chưa 1 lần được gặp cô,thấy tội anh Hiếu Hiền vừa vui hạnh phúc chưa bao lâu lại mất mẹ .

    Nghệ Sỹ Kim Ngọc trong đám cưới Hiếu Hiền
    [/align] [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Hiếu Hiền mếu máo khóc mẹ

    Quá đau khổ trước sự ra đi đột ngột của mẹ, sáng 17/1, mặc bộ tang phục trắng đứng bên thi hài mẹ, diễn viên Hiếu Hiền khóc nức nở.

    Tiếp đón mọi người đến chia buồn tại nhà riêng của nghệ sĩ Kim Ngọc trên đường Phạm Hùng, huyện Bình Chánh, TP HCM, giọng nghẹn ngào, Hiếu Hiền kể: "Trưa hôm đó, tôi đang tập chương trình để diễn trong liveshow của anh Hoài Linh ở Sài Gòn thì nghe mọi người gọi điện báo tin dữ. Tôi choáng váng đến rụng rời. Nhớ lại mấy ngày nay thấy mẹ hơi mệt trong người nhưng vì say nghề quá nên khi được UBND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mời biểu diễn trong tiệc Tất niên cuối năm, mẹ vẫn vui vẻ nhận lời. Ai ngờ đâu vừa ráng sức ca xong một bài vọng cổ và trở về chỗ ngồi thì mẹ bất ngờ gục xuống tắt thở ngay".

    Nhà neo người, chỉ có hai chị em, Hiếu Hiền và một chị gái nên anh phải cố gắng giữ bình tĩnh để chỉ đạo mọi việc tang ma cho mẹ. Tuy vậy, khi nhận được điện thoại hỏi thăm của bạn bè, đồng nghiệp ở xa, Hiếu Hiền lại không kìm được nước mắt, mếu máo.

    Vợ Chồng Hiếu Hiền đau khổ chịu tang mẹ

    Còn cô con dâu Thùy Liên, vợ của Hiếu Hiền cũng ngậm ngùi, đau xót nhớ lại những ngày cuối cùng còn trò chuyện với mẹ chồng: "Mẹ thương con dâu lắm. Lúc sắp đến đám cưới, thấy sắc mặt mẹ xanh xao có phần không được khỏe tôi lo lắng hỏi thì mẹ bảo không sao, mong đến đám cưới chúng tôi là mẹ vui rồi. Mấy hôm trước vợ chồng tôi qua nhà mẹ chơi, mẹ còn ân cần nấu bún mắm, lột tôm cho tôi ăn. Hôm kia mẹ hỏi tôi có muốn ăn thịt gà không, mẹ mua gà về làm nhưng tôi nói là chỉ thích ăn thịt vịt thôi. Mẹ cười bảo ăn gì cũng được. Lẽ ra hôm nay hai vợ chồng ghé ăn thịt vịt mẹ nấu nhưng không kịp nữa rồi. Lúc nghe tin mẹ mất, anh Hiền quá sốc đến mức suýt đập đầu vào tường...".

    Dù cố nén cảm xúc nhưng cây hài vẫn không kìm được những giọt nước mắt đau khổ cứ chực trào ra vì thương mẹ.

    Biết tin nghệ sĩ Kim Ngọc qua đời, nhiều bạn bè, đồng nghiệp và đàn em trong nghề đã gửi vòng hoa đến viếng chị. Hơn 40 năm miệt mài trên sân khấu với biết bao vở cải lương, vở kịch hài và từng mang lại tiếng cười cho hàng ngàn khán giả, đến khi nằm xuống, cây hài Kim Ngọc lại đón nhận những giọt nước mắt tiếc thương chân thành của bạn bè, khán giả.

    Từng có thời gian diễn xuất chung trong Đoàn Nghệ thuật Sân khấu Trẻ, nghệ sĩ Bạch Lan không kìm được nước mắt trong buổi sáng đến tiễn người bạn đồng nghiệp thân thiết. Bà rưng rưng khi viết dòng lưu niệm cuối cùng cho nghệ sĩ Kim Ngọc: "Ngọc ơi, khóc Ngọc thì đã có nhiều khán giả khóc lắm rồi. Hôm nay Bạch Lan đến chỉ muốn nhớ lại những ân tình sâu nặng đã có với nhau thôi. Nhớ lúc còn ở trong Đoàn Nghệ thuật Sân khấu Trẻ, có thời gian đoàn gặp nhiều khó khăn, Ngọc vẫn cùng mọi người bôn ba, lặn lội để tìm cuộc sống cho anh chị em. Ngọc còn bảo: 'Lo gì chuyện cát sê, cứ diễn đi Bạch Lan ơi!' Tấm lòng đó của Ngọc không bao giờ tôi quên được. Sẽ nhớ mãi những kỷ niệm ngày ấy. Vĩnh biệt Ngọc, bạn của tôi".

    Nghệ sĩ Bạch Lan cũng nức nở, nghẹn ngào khi đến viếng bạn.

    Lễ viếng nghệ sĩ Kim Ngọc kéo dài từ ngày 17/1 đến hết ngày 20/1. 6h sáng ngày 21/1, linh cữu nghệ sĩ sẽ được đưa về an táng tại chùa Linh Sơn Tự, quận Thủ Đức, TP HCM.
    Hương Giang
    [/align] [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Nghệ sĩ Kim Ngọc vẫn chờ con

    Người nhà thay nhau vuốt mặt nhưng chị không nhắm mắt. Ai chứng kiến cảnh này đều rơi nước mắt và hiểu chị chưa thể nhắm mắt vì chờ bàn tay của đứa con xa xứ đã biệt ly gần 35 năm

    Hàng ngàn khán giả đã đến thắp hương và viếng linh cữu của nghệ sĩ (NS) Kim Ngọc tại nhà riêng trên đường Phạm Hùng, huyện Bình Chánh - TPHCM. Từ đêm 16-1, nhiều nghệ sĩ đồng nghiệp thuộc nhiều thế hệ như: NSƯT Ngọc Giàu, Bảo Quốc, Lệ Thủy, NS Phú Quý, Tấn Beo, Hoài Linh, Phước Sang, Hồng Tơ... đã túc trực bên linh cữu của NS Kim Ngọc.

    Người nhà thay nhau vuốt mặt nhưng chị không chịu nhắm mắt. Ai chứng kiến cảnh này đều rơi nước mắt và hiểu chị chưa thể nhắm mắt vì chờ bàn tay vuốt mặt của đứa con xa xứ đã biệt ly gần 35 năm.


    [font="times new roman"][color="#4682b4"]Vợ chồng nghệ sĩ Hiếu Hiền bên quan tài mẹ. Ảnh: Thanh Hiệp

    Ước mơ ngày sum họp không thành

    Kim Ngân nghẹn ngào cho biết: “Điều mẹ tôi mong mỏi nhất là cả gia đình sẽ có một cái Tết sum họp. Em trai tôi – Nguyễn Huệ Phương, năm nay 44 tuổi, sang Pháp định cư cùng với cha tôi, NS Hoàng Long - từ năm 9 tuổi, đến nay đã 35 năm, chưa một lần về thăm mẹ.

    Em tôi làm diễn viên xiếc, ảo thuật, đồng thời làm bầu đoàn xiếc chuyên biểu diễn khắp nơi trên một chiếc ô tô, kéo theo sân khấu lưu động. Tối 16-1, khi chưa làm lễ nhập quan mẹ tôi, bà cứ mở mắt hoài như nuối tiếc điều gì. Tôi đã điện thoại di động cho ba tôi và áp sát máy điện thoại vào tai bà, như để ba tôi nói lời cuối với vong linh của mẹ tôi, rằng Phương sẽ về thọ tang, đến lúc đó, bà mới nhắm mắt”.

    Trên thực tế đến thời điểm này, gia đình vẫn chưa liên lạc được với Nguyễn Huệ Phương vì anh đang lưu diễn tại Thụy Sĩ – quê vợ. NS Hoàng Long chỉ mong sao con trai mình sẽ đọc được những thông tin trên mạng để biết về sự ra đi của mẹ và kịp về thọ tang bà.

    NSƯT Lệ Thủy xúc động kể: “Cách đây mấy năm, lần chị Ngọc lưu diễn tại các nước Tây Âu, chị đã gặp lại con tại Pháp... Đó là cái Tết chị vui nhất vì chị và con dâu người Thụy Sĩ cùng với đứa cháu gái sum họp, cả nhà đi chơi tại tháp Eiffel”.

    Có lần NS Kim Ngọc tâm sự với người viết: “Phương đã trưởng thành, có chiếc xe diễn xiếc nuôi sống được bản thân và gia đình. Vợ của Phương rất mực yêu thương chồng và say mê sân khấu xiếc. Tôi mừng lắm vì khi tôi và anh Hoàng Long chia tay, hai con của chúng tôi là Phương và Ngân mỗi người một ngã. Tội cho con tôi, sống xa mẹ, một mình tự lập trên xứ người. Phương thiếu thốn tình thương của mẹ...”.


    [font="times new roman"][color="#4682b4"]Nghệ sĩ Kim Ngọc và gia đình con trai ở Pháp (ảnh do gia đình cung cấp)

    [align=left][align=left]Đưa cho tôi bức ảnh đoàn tụ với gia đình của con tại thủ đô Paris, chị đã cười giòn tan với tính cách của “bà Tư xả láng”: “Ở Pháp thăm con vài ngày, nghe cháu nội tập nói tiếng Việt rất ngộ. Vì cháu sinh ra và lớn lên ở Thụy Sĩ nên gọi hai tiếng bà nội mắc cười lắm...Tâm trạng này tôi đã đem vào trong vai diễn bà ngoại trong vở Bà ngoại thời @ mà đạo diễn Đức Thịnh đã dàn dựng tại Nhà hát Bến Thành vào năm 2008, trong đêm trao giải Cuộc thi sáng tác kịch bản, tiểu phẩm hài do Trung tâm Văn hóa quận 1 tổ chức....

    Làm cha mẹ không ai muốn con mình chia ly. Nhiều đêm nhìn Hiếu Hiền ngủ say, tôi lại nhớ đến Phương, rồi nhớ đến Hà – đứa con trai đã chết đuối vì té xuống ao năm lên 6 tuổi, là em của Ngân, anh của Phương - tôi không thể ngủ ngon giấc... Những ngày ở bên mẹ, Phương vui không thể tả, cứ muốn mua cho mẹ và các em nhiều quà. Tôi nói, mẹ chỉ cần con về ở bên mẹ thôi”.

    Chị kể rồi lại khóc. Vì chị biết làm như vậy là mình ích kỷ với gia đình của con. Sau một hồi lau nước mắt, chị nói: “Giao thừa năm nào, Phương cũng gọi điện thoại về chúc Tết tôi, anh Đức Lang và các em. Phương thương và kính ông xã sau này của tôi như cha ruột, đồng thời yêu thương Ngân và Hiếu Hiền... Sau Tết, tôi làm lễ mừng thọ mẹ tôi 90 tuổi, chắc chắn sẽ gọi con về để cả nhà sum họp...”.

    Và rồi điều mơ ước sẽ chứng kiến ngày vui sum họp gia đình đã không thành. Chị đã ra đi trong niềm thương tiếc của người thân, đồng nghiệp và khán giả.

    Mẹ già khóc con gái...

    Ngồi một góc lặng lẽ bên quan tài, bà Bùi Thị Sáu – mẹ của NS Kim Ngọc - kể: “Tôi không thể ngờ con mình lại ra đi đột ngột như vậy. Tre già lại khóc măng non. Tôi sinh tất cả 14 người con. Cha của Ngọc đặt tên các con theo hai câu liễn: Hoàng – Ngọc - Ẩn – Non – Côn – Vàng – Cầm – Nơi – Hoa – Lệ - Thủy – Triều – Phượng – Nở, mà ý nghĩa được ông dịch nôm na: “Hòn ngọc ẩn ở núi côn không sánh bằng nước mắt người tình trong mùa hoa phượng”.

    Năm 1970, chồng tôi qua đời vì bệnh xuất huyết bao tử. Lúc đó, thương con, tôi đang tập tuồng ở rạp Quốc Thanh, vở Phước Lộc Thọ cùng với các nghệ sĩ Túy Hoa, Tùng Lâm, La Thoại Tân, Thanh Việt... nên con tôi không kịp về nhìn mặt cha lần cuối. Giờ tình cảnh này lại đến với chính con gái tôi khi cháu ngoại tôi còn đi diễn ở nơi nào...”.

    Bà Sáu không còn nước mắt để khóc, vì cách đây không lâu, người con gái thứ hai của bà cũng ra đi để lại cho bà niềm thương nhớ. Nhạc sĩ Đức Lang – chồng của NS Kim Ngọc - cũng đang trong tình trạng bệnh tai biến mạch máu não. Ông khóc: “Vợ tôi ra đi chưa thanh thản, vì còn mong chờ con cháu xa xứ... chưa về bên mẹ?”.


    ST
    [/align][/align][/color][/font][/font][/color]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    [color="royalblue"]21.01.2011 00:42 /[/color]
    Hàng ngàn khán giả đưa tiễn NS Kim Ngọc



    Sáng 21-1, từ lúc 5 giờ, đông đảo giới nghệ sĩ Sài Gòn đã có mặt tại nhà Hiếu Hiền để đưa tiễn linh cữu NS Kim Ngọc về nơi an nghỉ cuối cùng. Hàng ngàn khán giả đã vây kín ngôi nhà, theo dõi lễ truy điệu và lễ di quan NS Kim Ngọc.
    Tối 20-1, lễ thắp nến cầu siêu do chư tăng thiền viện Quảng Đức đã được tiến hành trang nghiêm với hơn 200 Phật tử, nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên và khán giả hâm mộ.

    Đèn điện được tắt và 200 ngọn nến được thắp lên. Trong giây phút tưởng niệm, khán giả cùng nghe lại tiếng hát của NS Kim Ngọc qua hai dấu ấn đậm nét trong sự nghiệp nghệ thuật của bà:
    Hoa trôi dòng nước bạc (soạn giả Viễn Châu – NS Kim Ngọc thu âm năm 16 tuổi) và Trống trường thành (song ca với Hoàng đế đĩa nhựa.. Tấn Tài năm 1958). Hai tác phẩm này do Hãng dĩa Việt Nam của cô sáu Liên – nơi độc quyền thu âm nhiều giọng ca của danh ca cải lương miền Nam cung cấp.

    Trong lễ thắp nến cầu siêu, người tham dự đã xúc động mạnh khi nghe NS Hiếu Hiền nói trước linh cữu của mẹ: “Mẹ đã mãi ra đi, đã vĩnh viễn rời xa chúng con. Chúng con không thể nén nỗi đau thương nghẹn lòng và không thể hình dung được nỗi đau mất mẹ... Chúng con cũng chẳng bao giờ dám nghĩ đến có một ngày mất mẹ... Mẹ có biết rằng mẹ mất rồi, ba buồn khổ lắm? Chúng con thì bơ vơ như gà con lạc mẹ. Công ơn của mẹ thì con chưa đền đáp…

    Mẹ ơi, chúng con hôm nay đều trưởng thành trong sự nghiệp, đó chính là nhờ công lao to lớn của mẹ. Lời ru của mẹ thuở nào vẫn vang vọng mãi trong tâm hồn chúng con. Trước giờ ly biệt, chúng con xin hứa rằng dù bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con mãi mãi thương yêu nhau, đoàn kết hòa hợp và cùng dìu dắt nhau trong cuộc sống. Và chúng con sẽ chăm sóc, phụng dưỡng ba, làm cho ba vui trong suốt quãng đường đời còn lại”.

    Các nghệ sĩ: Hoài Linh, Phước Sang, Tấn Beo, Thanh Tuấn, Thanh An, Phú Quý, Thanh Hằng, Kim Tử Long, Tú Sương, Trinh Trinh, Lê Văn Gàn, Hồng Tơ, Vương Cảnh, Thanh Long Trẻ, Phương Bình, ca sĩ Phương Thanh, Lý Hải, Phạm Thanh Thảo, Minh Thuận, Bình Tinh…đều khóc nức nở khi nghe những lời tâm sự của NS Hiếu Hiền.

    Khán giả đã xúc động khi nghe lại tiếng hát của NS Kim Ngọc và chứng kiến hình ảnh các nghệ sĩ là con cháu, học trò của bà trình bày những ca khúc viết về mẹ, về quê hương đất nước.

    Trong buổi sáng đưa linh cữu NS Kim Ngọc về chùa Thanh Sơn (phường Bình Long, quận 9), nơi gia đình đã mua phần mộ với giá 120 triệu đồng, có ba đội kèn tây, 5 xe buýt, 7 ô tô 16 chỗ nhưng vẫn không đủ ghế ngồi cho rất đông khán giả muốn đưa bà về nơi an nghỉ cuối cùng. Một số người đã đi xe gắn máy, nối đua nhau thành một đoàn xe dài, thu hút sự chú ý của người dân hai bên đường.

    Các anh chị em ruột của NS Kim Ngọc đau buồn tiễn đưa bà
    Tang lễ NS Kim Ngọc đã nhận được 504 tràng hoa tươi, 1.820 lượt người đến viếng.

    Trên lộ trình di chuyển, đoàn đã dừng chân tại chợ Bình Trưng (cầu Giồng Ông Tố), nơi NS Kim Ngọc đã sống quãng đời tuổi thơ với 13 anh chị em. Mẹ của NS Kim Ngọc, bà Bùi Thị Sáu, năm nay đã 90 tuổi, nhất quyết đòi cùng tháp tùng với các nghệ sĩ để đến nghĩa trang, dù sức khỏe rất yếu.

    Mẹ NS Kim Ngọc dù 90 tuổi ở cảnh tre già khóc măng non vẫn nhất quyết đi tiễn đưa con gái

    Nhạc sĩ Đức Lang (chồng của NS Kim Ngọc) mấy ngày qua trở bệnh, ông không dám rời khỏi giường và NS Hiếu Hiền đã liên tục ngăn không cho cha khóc.

    Trước giờ động quan, ông đã thắp nén hương tiễn đưa vợ. Hình ảnh này làm hầu hết những đồng nghiệp và khán giả có mặt bật khóc. Ông thổn thức: “Từ nay, tôi chỉ có thể nghe tiếng hát của mình mà không còn được gặp mình nữa”.

    Lẩn khuất trong số đông khán giả, nghệ sĩ đến viếng NS Kim Ngọc, soạn giả Viễn Châu năm nay 89 tuổi đã khóc thật nhiều. Ông cứ vịn quan tài mà nói: “Xin vĩnh biệt Mai Đình của tôi…”. Bởi, đối với ông, từ năm 1960 đến nay, chưa có nghệ sĩ nào thu âm hoặc diễn vai Mai Đình (vở Hàn Mạc Tử) qua được tài nghệ của NS Kim Ngọc.

    Kim Ngân – con gái của NS Kim Ngọc đã ca một câu vọng cổ Hoa rơi dòng nước bạc do soạn giả Viễn Châu sáng tác cho mẹ mình, để tặng ông thay cho lời tri ân của cả gia đình.

    NS Hoài Linh cho biết sau Tết Nguyên đán Tân Mão, anh và gia đình NS Hiếu Hiền cùng với Công ty Nụ Cười Mới sẽ tổ chức một chương trình tưởng niệm NS Kim Ngọc.

    NS Phước Sang nói lời tri ân người thầy cũng là người đồng nghiệp đã dìu dắt anh từ ngày mới vào nghề

    Cho đến thời điểm này, người con trai biệt xứ của NS Kim Ngọc là Nguyễn Huệ Phương vẫn bặt vô âm tín.
    Theo NS Kiều Lệ Mai (bạn thân của NS Kim Ngọc, hiện định cư tại Pháp), tin sau cùng từ Nguyễn Huệ Phương là đoàn xiếc của anh đang diễn tại Bỉ.




    ***


    Nữ nghệ sĩ hài Kim Ngọc, người nổi danh Nữ quái!







    Trong tình hình sân khấu cải lương ngày một mất dần khán giả, ngành biểu diễn hài kịch, tấu hài trong các khu trung tâm giải trí được mùa phát triển. Từ một vài nhóm tấu hài ban đầu, ngày nay có hơn bốn chục nhóm chuyên môn tấu hài, hát quậy để chọc cười khán giả. Các nghệ sĩ cải lương không kiếm sống được bằng nghề hát cải lương đành bước sang ngành kịch nói, nhất là ngành tấu hài.

    Không ít nghệ sĩ cải lương đã thành công quá sức tưởng tượng khi bước sang lãnh vực tấu hài. Trong số những diễn viên cải lương đổi nghề mà thành công rực rở đó có nữ nghệ sĩ Kim Ngọc, người mà ngày xưa trên sân khấu Dạ Lý Hương, Kim Ngọc nổi danh Chu Chỉ Nhược trong tuồng Cô Gái Đồ Long, Kim Ngọc là một cô đào hát tài sắc, ngày nay Kim Ngọc nổi danh nữ quái Kim Ngọc trong làng tấu hài.

    Thuở nhỏ cơ hàn

    Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc sanh năm 1946 tại chợ Giồng Ông Tố quận Thủ Đức, con thứ hai trong gia đình có tới 14 anh chị em. Theo lời tự thuật của Kim Ngọc thì gia đình của Ba má cô rất nghèo vì nhà đông con. Má của Kim Ngọc bán thịt heo ở chợ Giồng Ông Tố, bà cứ sanh con năm một và có năm bà lại sanh đôi. Ba của Kim Ngọc đặt tên các con như sau : « Hoàng, Ngọc, Ẩn, Non, Côn, Vàng, Cầm, Nơi, Hoa, Lệ, Thủy Triều, Phượng, Nở » ý nói nôm na là « Hòn ngọc ẩn ở núi Côn không sánh bằng nước mắt của người tình trong mùa phượng nở » Năm 1970, Ba của Kim Ngọc mất vì bịnh xuất huyết bao tử khi cô đang tập tuồng hát tại rạp Quốc Thanh. Chuyện đặt tên có vần có ý nghĩa của cha cô Kim Ngọc như là một lời tiên tri, ứng vào cuộc đời của Kim Ngọc. Kim Ngọc là vàng ngọc nhưng lại không bằng giọt nước mắt người tình mùa Phượng nở nên Kim Ngọc chịu nghèo khổ khá lâu mới được rạng rở như ngày hôm nay khi cô nín đau trong lòng để chọc cười khán giả.
    Những năm 14, 15 tuổi, Kim Ngọc còn ở nhà giúp mẹ, khi thì đi chợ Giồng Ông Tố phụ bán thịt heo, khi thì phải thay mẹ ở nhà chăm sóc đàn em dại, giặt giũ áo quần cho chúng. Kế bên nhà của Kim Ngọc, ông Ba Xậy có máy hát dĩa quay bằng tay, thường hát các dĩa vọng cổ của Út Trà Ôn ca Tổn Tẩn Giả Điên, Thái Sư Văn Trọng giáng thập điều, Tình anh bán chiếu…Kim Ngọc nghe riết rồi học ca theo, thuộc lòng các bản vọng cổ của thần tượng Út Trà Ôn.
    Khi ngồi giặt áo quần cho các em, Kim Ngọc ca nghêu ngao những bài vọng cổ học lóm đó, anh Minh Thành, thợ hớt tóc trong xóm, xưa kia là nhạc sĩ cổ nhạc, nghe Kim Ngọc có hơi ca tốt mà không rành nhịp điệu và bài bản nên anh gọi Kim Ngọc đến mỗi ngày cho anh dạy Kim Ngọc ca ba nam, sáu bắc và vọng cổ. Khi Kim Ngọc ca rành rẽ các bài bản cổ nhạc, cô được thầy Minh Thành và cha của cô dẩn đi ca tài tử trong các cuộc tiệc vui trong xóm.
    Ông bầu Ba Bản thành lập đoàn Thủ Đô, nghe đồn giọng ca của Kim Ngọc, ông đã đến nhà xin cha mẹ Kim Ngọc cho cô theo đoàn ông để học hát và ông trao cho má Kim Ngọc một ngàn năm trăm đồng để bà mướn người làm công việc nhà thay cho Kim Ngọc để Kim Ngọc đi học hát. Nhưng gánh hát Thủ Đô của ông bầu Ban Bản mới thành lập, tập trung nhiều đào kép thượng thặng nên Kim Ngọc chỉ được cho ngâm thơ hậu trường hay ca vọng cổ ngoài màn chớ chưa có vai nào trong tuồng hát của đoàn. Năm sau, Kim Ngọc về đoàn hát Trùng Dương, rồi theo đoàn Tuấn Kiệt hát chung với Phương Quang, Phượng Liên.

    Nổi tiếng trên sân khấu

    Năm 1962, Kim Ngọc được báo chí kịch trường khen là cô đào trẻ đang lên nên ông bầu Minh Bằng( gia đình của nữ diễn viên Diệp Tuyết Anh) đến mời cô hát chánh trong gánh hát của ông. Vở tuồng đầu tiên Kim Ngọc hát là vở Trăng Lên Đỉnh Núi, hát cặp với kép chánh Trọng Sỹ. Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc nhận được contrat 10.000 đồng khi đi hát với gánh hát của bầu Minh Bằng. Cô đưa hết số tiền đó để giúp cha mẹ cô trong việc nuôi đàn em đông đúc của cô ăn học và được no ấm.
    Năm 1964, Kim Ngọc được ông bầu Thu An ký hợp đồng vế tập tuồng, chuẩn bị khai trương gánh hát Hương Mùa Thu nhưng chưa đầy một tháng sau, ông Bầu Xuân đoàn Dạ Lý Hương ký một số tiền contrat cao gấp đôi số tiền của đoàn Hương Mùa thu để Kim Ngọc về hát cho đoàn Dạ Lý Hương.
    Kim Ngọc sáng chói trong tuồng Cô Gái Đồ Long của Hà Triều Hoa Phượng, nghệ sĩ Tấn Tài trong vai Vô Kỵ, Ngọc Giàu trong vai Triệu Minh, Kim Ngọc trong vai Chu Chỉ Nhược, ba giọng ca vàng nầy đã làm cho bảng hiệu Dạ Lý Hương rực sáng, làm cho các đoàn hát thượng thặng như Thanh Minh Thanh Nga, Kim Chung, Thủ Đô phải mệt nhoài để đối phó.
    Lúc đó Kim Ngọc quá đẹp, với vòng đo thân mình 80-61-85, nặng 43 kí, nét mặt xinh tươi sắc sảo, giọng ca lanh lãnh, hơi rông, ca giọng cổ điêu luyện. Kim Ngọc sánh chung với vua vọng cổ trên làng dĩa nhựa Tấn Tài và giọng ca nhung lụa của Ngọc Giàu là một dàn đào kép lý tưởng của đoàn Dạ Lý Hương khiến cho các ký giả kịch trường và khán giả ái mộ, gởi thơ đề cử cho Kim Ngọc vào dự thi giành huy chương vảng giải Thanh Tâm năm 1964. Theo lời Ban chấm giải, đáng lý ra Kim Ngọc cũng được huy chương vàng năm 1964, cùng với nữ nghệ sĩ Lệ Thủy như vì giải thường quy định chỉ chọn một nam, một nữ, mà vai nữ thì Lệ Thủy cao ráo hơn, sắc vóc chiếm ưu thế hơn Kim Ngọc nên Kim Ngọc mất dịp may không được giải Thanh Tâm.
    Tuy nhiên năm 1973, 1974, nhật báo Trắng Đen tổ chức giải thưởng văn nghệ Kim Khánh thì Kim Ngọc hai năm liền được đọc giả bỏ phiếu tặng thưởng huy chương Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen của ông chủ báo Việt Định Phương.
    Năm 1972, Kim Ngọc về đoàn hát Bạch Tuyết – Hùng Cường, khi hát tuồng Trăng Thề Vườn Thúy, hề Tùng Lâm té xe gảy tay, Kim Ngọc tình nguyện thế vay Hề Đồng của Tùng Lâm để bảo đảm đêm hát không trở ngại, không ngờ Kim Ngọc hát quá hay, quá có duyên nên cô chuyển qua diễn một số vai hài của đoàn Bạch Tuyết – Hùng Cường.

    Di cư qua Pháp



    Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc, cha và em trai.
    Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

    Sau năm 1975. Kim Ngọc cũng như nhiều nghệ sĩ khác, vì đoàn hát tư nhân bị giải tán, trong khi chờ chánh phủ mới lập đoàn hát theo kiểu văn công hay tập thể, Kim Ngọc mỗi khuya ba giờ, cùng với cô con gái tên Kim Ngân xuống chợ Cầu Ông Lãnh, lột võ tôm mướn để kiếm sống qua ngày. Vàng Ngọc (tức Kim Ngọc) và Vàng Bạc tức Kim Ngân, hai mẹ con có tên ngọc ngà trở thành thợ bốc võ tôm để kiếm sống theo cách lao động chân chính.

    Sau đó, có đoàn hát, Kim Ngọc trở về với sân khấu, nhưng thời hoàng kim của sân khấu cải lương đã qua rồi, Kim Ngọc sống chật vật với những vai tuồng mới, với đồng lương mới. Hoàng Long, chồng cô đã vượt biển với đứa con trai lớn là Hoàng Phương. Trước đó thì hai vợ chồng đã chia tay nhau vì những vụ ghen hờn. Kim Ngọc nuôi đứa con gái Kim Ngân, Hoàng Long và Hoàng Phương định cư tại Pháp.
    Chuyển qua tấu hài, Kim Ngọc lập tức nổi danh Nữ Quái với vai Tư Xã Láng và diễn viên hài Quốc Hòa trong vai Hai Mưa Nắng trong nhiều chương trình truyền hình Chuyện trong nhà ngoài phố. Cặp diễn viên hài Kim Ngọc - Quốc Hòa diễn chung được nhiều năm, kiếm sống được vì khán giả thích được chọc cười.
    Khoản năm 1980, khi đi hát chung trong một đoàn hát, nhạc sĩ Đức Lang, người đờn chánh cho đoàn hát Thanh Tú – Trang Bích Liểu mà Hồng Nga và Kim Ngọc đang cộng tác bỗng trồng cây si Kim Ngọc. Chỉ hát qua vài bến diễn, nhạc sĩ Đức Lang bèn chân thành ngõ ý cưới Kim Ngọc. Các bạn diễn trong đoàn hát cũng tán thành cặp nghệ sĩ hiền hậu nầy, nên rồi chiều theo ý trời và lòng người, Kim Ngọc bước thêm bước nữa với nhạc sĩ Đức Lang. Kim Ngọc đã được hơn ba mươi năm hạnh phúc với ông chồng Đức Lang nhạc sĩ, một người chỉ biết yêu vợ và chiều lòng vợ.
    Hai người có với nhau một đứa con tài ba là nghệ sĩ hài Hiếu Hiền. Hiếu Hiền được Kim Ngọc dạy tấu hài nên Hiếu Hiền và Kim Ngọc trở thành một cặp diễn hài ăn khách nhất hiện nay. Khán giả thích cặp tấu hài So Le với các tiểu phẩm Bà Bầu Liều Mạng, Hoa Hậu Vũ Trụ, Câu Chuyện Cái Ti Vi.
    Kim Ngọc lại có một đứa con nuôi tên Kim Đạt, cùng xuất hiện chung trong một chương trình tấu hài. Vừa bước ra sân khấu, khán giả đã cười vì Kim Đạt thì cao như một cây tre miễu, còn Kim Ngọc và Hiếu Hiền thì mập và lùn như hột mít. Nhóm hài Kim Ngọc đã diễn ở các tụ điểm giải trí Saigon, ở các tỉnh Bình Dương, Long Khánh, Vũng Tàu, Bà Rịa, các tỉnh miền Hậu Giang, Đồng Tháp, Cà Mau.
    Con gái của Kim Ngọc tên Kim Ngân, kinh doanh một cơ sở sản xuất lưỡi câu rất là phát đạt. Gần đây Kim Ngân mở thêm một cơ sở sản xuất xe đạp hiệu Thanh Bình, đạt chất lượng cao, được ưa chuộng trên thị trường cả nước.
    Nữ quái Kim Ngọc vẫn say mê sân khấu, cô vẫn thèm muốn được hát một tuồng chính chắn như các tuồng hát hồi xưa. Nhưng Chu Chỉ Nhược xinh đẹp ngày xưa, giờ đây đã mập tròn và nặng gần tám mươi ký, hết hát đào mùi được thì cô đành đem nụ cười lại cho khán giả, đó cũng là ước vọng của Kim Ngọc khi tuổi đã đến sáu mươi.

    Chương trình cổ nhạc xin dứt, Nguyễn Phương hẹn tái ngộ vào giờ này tuần sau.
    04.06.2008 20:15 - ngocanh (Theo SoanGiả Nguyễn Phương - ĐACTD)

    Nguôn : http://www.cailuongvietnam.com/modul...iewst&sid=4365
    [/align] [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-26 21:51:16Viet duong nhan>
    Nghệ sĩ Tấn Tài qua đời


    xin chia buồn cùng anh Tấn Beo,Tấn Bo & gia đình
    [/align]
    [/align]
    THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
    &
    THƯƠNG TIẾC MỘT GIỌNG CA 'MÙI' KHÔNG ĐỐI THỦ.
    [color="darkorchid"]Nguyện cầu Anh sớm phiêu diêu nơi cõi vĩnh hằng.[/color]


    *

    Nghệ sĩ cải lương Tấn Tài, từng được mệnh danh là “Hoàng đế đĩa nhựa” những năm 1975, và là cha của hai nghệ sĩ hài Tấn Beo, Tấn Bo, đã từ trần vào lúc 15 giờ ngày 26.1, hưởng thọ 72 tuổi, sau thời gian dài điều trị bệnh tật.
    Theo thông tin từ nghệ sĩ Tấn Beo, cha anh - nghệ sĩ cải lương Tấn Tài bị nhiễm trùng ống dẫn mật từ cách đây hơn một tháng và đã phải tiến hành giải phẫu.

    Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình trạng nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng và vào hôm 25.1, gia đình đã phải đưa ông vào cấp cứu tại bệnh viên Chợ Rẫy trong tình trạng hôn mê nguy kịch.

    Khi nhận được tin nghệ sĩ Tấn Tài lâm vào tình trạng sức khỏe hiểm nghèo, các nghệ sĩ và những đồng nghiệp thuộc Hội Ái hữu nghệ sĩ TP.HCM đã đến thăm viếng, động viên.

    Dù được sự cứu chữa tận tình của các y bác sĩ tại bệnh viện, nhưng giọng ca vàng cải lương miền Nam trước năm 1975 đã không qua khỏi.

    Nghệ sĩ Tấn Tài theo nghiệp diễn từ năm 1959, ông nổi tiếng với giọng ca ngọt ngào, mùi mẫn qua những vai diễn như Hoàng Sương trong Hắc y nữ hiệp, Điệp Nhứt Lang trong Cát Dung Phương Tử, Hoàng Hoa Lữ trong Khói Sóng Tiêu Tương, A Ly Khang trong Bóng hồng sa mạc… hay những bài vọng cổ như Nữ sinh Đồng Khánh, Nữ sinh Gia Long, Ai ra xứ Huế, Dưới rặng ô môi, Áo em màu tím hoa cà…

    Ông đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1963 và được xem là một trong những “giọng ca vàng” của cải lương miền Nam, cùng với những nghệ sĩ như Minh Vương, Minh Phụng, Thanh Tuấn…

    Nghệ sĩ Tấn Tài còn được mệnh danh là “hoàng đế đĩa nhựa” với khoảng 400 bài vọng cổ và 200 tuồng cải lương được thu đĩa phát hành ăn khách.

    Nghệ sĩ Tấn Tài (phải) và con trai Tấn Beo (thứ hai từ trái sang) trong một sự kiện văn nghệ đầu năm 2010

    Những năm gần đây, dù tuổi cao, sức yếu, nghệ sĩ Tấn Tài vẫn không ngừng hoạt động nghệ thuật, đem đến cho khán giả mộ điệu những vai diễn đáng nhớ. Ông còn thường xuyên tham gia phát hành album, video cải lương, hỗ trợ, định hướng cho thế hệ nghệ sĩ trẻ.

    Hiền Nhi



    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Một thời và muôn đời Hoàng đế đĩa nhựa - Tấn Tài
    Nghệ sĩ Tấn Tài không còn nữa

    Cách đây 3 năm tôi nghe kép mùi Minh Phụng qua đời, anh nổi danh qua vai "Áo Vũ Cơ Hàn”. Sau thời gian chống chọi với bệnh suy thận sáng 29/1/2008 NS Minh Phụng đã ra đi tại bệnh viện Chợ Rẫy, Saigon. Minh Phụng tên thật Nguyễn Văn Hoài, sinh năm 1945 tại Mỹ Tho. Lúc mới vào nghề ông lấy tên Tân Tiến, khi vào đoàn hát Thanh Phương mới đổi thành Minh Phụng từ đó đến nay. Gần 50 năm gắn bó với sân khấu cải lương, trong giai đoạn hưng thịnh nhất của bộ môn nghệ thuật văn hóa này, nghệ sĩ Minh Phụng đã đi vào lòng khán giả mộ điệu với hình ảnh một kép đẹp, có giọng hát đặc trưng với thanh âm cao, ngọt ngào và sâu lắng.


    Minh Phụng - Mỹ Châu

    Hôm nay Duy Khiêm từ Úc châu cho biết th6m một kép mùi nữa ra đi trước Tết là Nghệ sĩ Tấn Tài, anh được mệnh anh là "Hoàng đề đĩa nhựa", tên thật là Lê Tấn Tài, sinh năm 1938, quê ở xã Vĩnh Trạch, huyện Núi Sập, tỉnh An Giang. Gia đình không có ai theo nghề ca hát nhưng với giọng ca thiên phú, anh đã phêu lưu lên Sài Gòn để theo đuổi đam mê ngành ca hát và gặt hái được nhiều thành công. Trước khi trở thành nghệ sĩ, ông là thầy giáo của trường Thoại Ngọc Hầu, tỉnh An Giang. Tấn Tài có hai người con nối nghiệp sân khấu là nghệ sĩ danh hài Tấn Beo và Tấn Bo.


    Tấn Tài - Minh Phụng
    Bản tin buồn cho biết: "Thời gian gần đây sức khỏe của NS Tấn Tài không tốt, sau khi đi đám tang NS Kim Ngọc về, NS Tấn Tài đau khắp mình và sốt, và nhập viện vào hôm 19/1/2011, sau khi 2 bệnh viện đều bó tay, sang BV Chợ Rẫy thì dù mỗ hay không mỗ thì "Hoàng Đế Dĩa Nhựa" cũng ra đi. Bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật đường ống dẫn mật (3 năm trước đã có phẩu thuật rồi), sau khi phẫu thuật thì NS Tấn Tài bị tuộc huyết áp, đau đớn và yếu dần đi, rồi chết lâm sàng... Ngoài việc nhiễm trùng đường ống dẫn mật, ông còn bị bệnh gan và nhiễm trùng máu...Nói chung là toàn bộ cơ quan trong cơ thể của NS Tấn Tài đều vướng bệnh nặng, không thể cứu chữa."


    Tấn Tài - Lệ Thủy
    Có lẽ tôi không bao giờ quên giọng ca của NS Tấn Tài có ngọt, có mùi, một thiên tài ca cổ nhạc, xin mời bà con ta hãy thưởng ngoạn bài Sở Bá Vương qua giọng ca Tấn Tài. Câu chuyện thời Sở Hán Xuân Thu (206–202 Trước Công Nguyên). Cuộc chiến Hán Sở tranh hùng là thời kỳ sau thời đại nhà Tần ở Trung Hoa. Trong thời kỳ này, các vị vương từ các đất khác tranh nhau xâu xé đất Trung Hoa đã xuất hiện sau sự sụp đổ của nhà Tần và tạo nên hai phe phái lớn nhất kình chống nhau mãnh liệt nhất. Một bên do Lưu Bang, vua nhà Hán cầ đầu, còn bên kia do Hạng Võ, tự xưng Tây Sở Bá Vương. Cuộc chiến về sau kết thúc với thắng lợi huy hoàng thuộc về Lưu Bang, người sau này đã lên ngôi hoàng đế và thiết lập nên nhà Hán trị vì nước Trung Hoa.
    http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Cx1FC5uyUV

    Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến về sự ra đi của Nghệ sĩ tài danh Tấn Tài.
    Việt Hải Los Angeles




    Minh Phụng - Mỹ Châu

    ViệT Hải LA ghi nhan
    On Thu, 1/27/11, Duy-Khiêm &lt;duykhiem2006@gmail.com&gt; wrote:
    [color="midnightblue"]Asialink:
    http://forum.trungtamasia.com/topic.asp?TOPIC_ID=11753[/color]
    [/align][/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0

    NS Tấn Tài và NS Bạch Tuyết trong vở Một bóng xương khô.
    Ảnh tư liệu Huỳnh Công Minh

    Anh sinh ra từ dòng kênh Thoại Hà, cất tiếng khóc chào đời giữa lòng núi Sập - trái núi lớn nhất nằm trong cụm núi Sập thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, có dáng hình như con thỏ, trải dài theo những cánh đồng bát ngát… Núi không cao, sông không sâu nhưng đủ dưỡng nuôi cho anh một chất giọng ngọt ngào, nồng ấm, nhẹ tênh… Anh là nghệ sĩ (NS) Tấn Tài - "Hoàng đế đĩa nhựa" của sân khấu ca kịch cải lương.

    Năm 1963, hai năm sau ngày đặt chân lên sàn diễn, tôi vinh dự được nhận giải triển vọng Thanh Tâm, cùng anh - đã là một thần tượng của bao khán giả mộ điệu. Đêm trao giải, Ban tổ chức quyết định chọn vở Khói sóng tiêu tương của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng để trình diễn. Khỏi phải nói về cái cảm giác vừa tự hào vừa… run rẩy bởi những cô cậu diễn viên tuổi mới mười tám đôi mươi – như tôi và anh lại được sánh cùng những ngôi sao lớn. Đó là chưa kể, tôi vào vai nữ chính Vương Thúy Mai bên cạnh vai nam chính tráng sĩ Hoàng Hoa Lữ của Tấn Tài. Làm bệ phóng cho chúng tôi lại là NS Hoàng Giang, NS Thanh Nga. Cả tháng trời chúng tôi tập dợt không ngơi nghỉ. Đêm trình diễn, những chú chim được cất cánh. Đó mãi là khoảnh khắc không bao giờ có được, choáng ngợp, nhẹ tênh và mình như không còn là mình nữa.

    Không nồng nhiệt và hừng hực như Hùng Cường; chẳng điệu đàng, thanh tú như Minh Cảnh, NS Tấn Tài hồn nhiên tỏa sáng với chất giọng ngọt ngào, nhẹ bổng “trời cho” của anh. Đáng quý hơn nữa là anh biết cách khai thác để đạt đến độ hoàn mỹ cái vẻ đẹp tự nhiên ấy bằng vốn hiểu biết khá rộng của một người thầy giáo, cứ thế vào sâu với nghề. Anh từng là một thầy giáo trước khi làm NS. Cái chất mô phạm khiến anh, ngay cả khi đã thành danh ca lẫy lừng, vẫn khiêm cung, từ tốn, chuẩn mực trong cả nghệ thuật lẫn đời thường.

    Mới đây, trong lần tái ngộ sau gần 40 năm, tôi và anh lại sánh vai trong Tiếu ngạo giang hồ. “Doanh Doanh ơi! Đừng nói tiếng yêu đương với một hình hài tiều tụy, nắng đã ngã về tây thì đừng nhặt tia nắng rụng mà tạo bình minh cho phí công… trình. Trăng cuối tháng trăng về non lạnh, vạn vì sao không thể gợi hình…”. Tôi vẫn lịm người như thuở nào bởi thời gian như bất lực trước những thanh âm của núi Sập. Tôi la lên giữa sàn tập, trời ơi, mấy mươi năm rồi mà anh vẫn ca thần sầu vậy là sao… Anh cười, hiền lành, chất phác, nhờ Tổ nghiệp thương đó Bạch Tuyết ơi…

    Năm 1964, sau khi đoạt giải Thanh Tâm, Tấn Tài rời Thủ Đô về Dạ Lý Hương cùng tôi. Đó cũng là thời điểm anh cất cánh với độ phủ sóng dày đặc các hãng đĩa danh tiếng như hãng đĩa Việt Nam, Hoa Hồng, Continental, Việt Hải… đưa anh lên ngôi vị “Hoàng đế đĩa nhựa” Tấn Tài. Một sự tiếp nối Minh Cảnh từ Tấn Tài đầy ngoạn mục và xứng đáng.

    Trên sân khấu, anh và tôi gắn bó qua những vở tuồng kiếm hiệp như Vô Kỵ - Triệu Minh, Võ Tòng sát tẩu… Còn nhớ trong Cô gái Đồ Long có đoạn “Nghĩa phụ ơi, người ta đã rạch nát mặt Hân Ly và xẻo tai Chu Chỉ Nhược, còn Đồ Long đao và kiếm Ỷ Thiên đã theo nàng quận chúa nhà Nguyên mà rời khỏi đảo Linh…Xà”. Đây là một câu vọng cổ rất “khó nuốt” chứ chưa nói là “nuốt” sao cho lọt và ngọt. Ca từ toàn danh từ riêng, lại là những động từ gây… cảm giác mạnh như xẻo tai, rạch mặt… Vậy mà qua làn hơi nhẹ bổng, độ luyến láy như không, Tấn Tài đã hóa giải mọi kỹ thuật đánh đố trong bút lực của Hà Triều – Hoa Phượng.

    Báo chí thời đó đưa tin, năm 1961 bầu Thành của đoàn Song Kiều ký với Tấn Tài một hợp đồng trị giá 100.000đ. Ngay lập tức, Tấn Tài thối lại cho bầu Sinh Tân Hương 60.000đ vì anh chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, còn 40.000đ anh chia làm đôi, gửi về cho cha mẹ và vợ ở quê nhà. Hay như đêm trao giải Thanh Tâm, anh sắp cho bằng được cha mẹ ruột và cha mẹ vợ ngồi ngay hàng ghế danh dự. Hai ông thầy dạy ca cho anh từ thuở lọt lòng là Hai Tỉnh và Út Thôi cùng bà con ở xã Vĩnh Trạch, núi Sập cũng được anh trân trọng đón lên Sài Gòn xem hát. Cái hiếu thảo, tận tình tận nghĩa của anh cũng tự nhiên, chẳng cần mài giũa, như chính giọng ca của anh. Đêm hát ấy, bà con núi Sập xúc động, tự hào về người thầy giáo làng đức độ, tài năng của họ… Còn anh, như đã trả được phần nào món nợ ân tình với người thân, thầy dạy và quê nhà.

    Cũng có những thời kỳ anh lâm cảnh ngặt, khi đoàn hát của anh và người vợ thứ hai là NS Như Ngọc vướng nợ nần do gánh hát mới lập, chưa có kinh nghiệm điều hành. Từ đại bang Dạ Lý Hương, tôi xin phép ông bầu Xuân về với anh chị một năm. Một năm, đúng ra là vào mùa mưa ở Nam bộ, chúng tôi rong ruổi ở miền Trung, vậy mà trả hết nợ, gầy dựng trở lại cơ nghiệp. Cái tình trên sân khấu cộng thêm cái nghĩa của những người đồng sự giúp nhau giữa cơn khốn khó, anh cứ hàm ơn tôi mãi chuyện này. Riêng tôi, cũng nhẹ đi một phần bởi những gì anh chăm sóc, chỉ vẽ ân cần trong mỗi câu ca, cách diễn ở những vở tuồng tôi đóng chung cùng anh, giờ tôi đã có thể làm được một việc gì đó cho anh, thay lời cảm ơn. Bài học vỡ lòng mà cha tôi dạy, má Bảy và ba Năm dạy là sự biết ơn, tôi đã được học và hành từ chính anh.

    NSƯT Bạch Tuyết
    [/align] [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    NS Tấn Tài qua đời:
    "Hoàng đế" đã băng hà lúc 6h sáng 27/1 - Xem NS Tấn Tài hát tại Mỹ
    http://www.cailuongvietnam.com/modul...iewst&sid=6260



    Chiều tối hôm qua 26/1/2011, ở nhà của NS Tấn Beo:
    Số 109 - Nguyễn Duy - P.9 - Quận 8.
    Xe bệnh viện Chợ Rẫy đã đưa Ông về...Tình hình là: Ông đã chết lâm sàng từ mấy hôm nay ở bệnh viện, đem về nhà tiếp tục dùng bình oxy để trợ thở, cơ thể đang chết dần từ chân lên...
    Và sáng sớm hôm nay ngày 27/1. Trang nhà đến nhà NS Tấn Beo: NS Tấn Tài đã chính thức ra đi lúc 6 sáng. Sẽ liệm vào lúc 4h chiều cùng ngày...
    ...Thời gian gần đây sức khỏe của NS Tấn Tài không tốt, sau khi đi đám tang NS Kim Ngọc về, NS Tấn Tài đau khắp mình và sốt, và nhập viện vào hôm 19/1/2011, sau khi 2 bệnh viện đều bó tay, sang BV Chợ Rẫy thì dù mỗ hay không mỗ thì "Hoàng Đế Dĩa Nhựa" cũng ra đi. Bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật đường ống dẫn mật (3 năm trước đã có phẩu thuật rồi), sau khi phẫu thuật thì NS Tấn Tài bị tuộc huyết áp, đau đớn và yếu dần đi, rồi chết lâm sàng...

    Ngoài việc nhiễm trùng đường ống dẫn mật, ông còn bị bệnh gan và nhiễm trùng máu...Nói chung là toàn bộ cơ quan trong cơ thể của NS Tấn Tài đều vướng bệnh nặng, không thể cứu chữa.



    NS Tấn Tài đi đám tang NS Kim Ngọc.
    Tang lễ sẽ được tổ chức tại nhà: Số 109 - Nguyễn Duy - P.9 - Quận 8.
    * Qua đời lúc: 6h sáng ngày 27-1-2011 (nhằm ngày 24 âm lịch)
    * Hưởng thọ: 73 tuổi
    * Động quan lúc: 8h ngày 31-1-2011, tức ngày 28 âm lịch.
    * Chôn cất: Nghĩa trang NS Gò Vấp - cạnh mộ của vợ ông là NS Như Ngọc


    NS Tấn Tài qua đời: Hai cơn địa chấn cải lương

    Tin nghệ nữ nghệ sỉ Kim Ngọc "đột ngột" về chầu đất phật chưa làm nguôi đi sự bàng hoàng, ngỡ ngàng của hàng triệu khán giả yêu cải lương cũng như kịch nghệ thì hung tin lại đền nữa như là một cơn dư chấn gieo thêm nổi kinh hoàng, lo sợ cho những người đang sống , có điều cơn dư chấn lần này không thua gì cơn chấn động lần thứ nhất, khi nghệ sĩ Tấn Tài- Hoàng đề đĩa nhựa đã ra đi không bao giờ trở lại.

    Sao thế hệ vàng dường như đi vào mùa rơi rụng làm chúng ta không thể nào không lo lắng cho một nền tảng cải lương. Khi hay tin ông mất, tôi vội nghe lại tuồng "Mộ chồng ngọn cỏ còn xanh, Bóng Hồng Sa Mạc, Sở Bá Vương Hạng Võ, An Lộc Sơn, và bài Bên ràng Ô Môi" .
    Tôi thích nhất là câu " bao giờ đậy nấp áo quan, mới tin là vợ tào khang của mình " trong tuồng " Mộ chồng ngọn cỏ còn xanh", chắc hẳn chúng ta học được bài học khi dùng phương pháp " thử lòng người" mà đôi khi đưa đến hậu quả tệ hại hơn.

    Như nhiều nghệ sỉ nhận xét, nghệ sỉ Tấn tài có làng hơi nhẹ như gió ngay khi cả lên cao, nghe rất lạ. Tài Sản của ông là hơn 400 trăm tuồng cải lương và 1000 nghìn bài tân cồ, được phong là "Hoàng đề đĩa nhựa", ông là một trong những ít nam nghệ sỉ có trình độ học vấn cao, ông vốn là một nhà giáo trước khi đi vào đường nghệ thuật chuyện nghiệp. Ông cũng là một trong ít nghệ sỉ thành công về mặt thành lập , quàn lý đoàn hát. Ngoài những vở tuồng, bài tân cồ, ông còn đề lại hai danh hài cho hậu thế, Tấn Bo, Tấn Beo.

    Nam nghệ sỉ Tấn Tài cùng với nữ nghệ sĩ Mỹ Châu là đại diện những đứa con nghệ sĩ có hiếu với cha mẹ, có đạo đức nghề nhiệp và có một giọng ca chứa nhiều tâm sự, lột tả được mọi cảm xúc của nhân vật...hai giọng ca chuyên chỡ trái ngang, buồn man mác.

    Dũng Thanh Lâm, Minh Phụng, Kim Ngọc rồi đền Tấn Tài về chốn vỉnh hằng, có điều hy hửu rằng cách hai hôm trước khi tạ từ dương thế, Tấn Tài còn cố gắng dự tang lễ của nữ nghệ sĩ Kim Ngọc.

    Tất cả bốn nghệ sĩ trên đều thành công và góp phần tạo sự sống lâu dài cho một tuồng hương xa Á rập không được đánh giá cao khi mới trình làng, đó là tuồng "Bống Hồng Sa Mạc". Nếu chúng ta có một chút dị đoan thì chúng ta sẻ lo cho các nghệ sỉ còn lại trong ê kíp "Bống Hồng Sa Mạc" là Văn Hường, Văn Chung, Diệu Hiền, Mỹ Châu, Diệu Nga ./.


    TAN TAI : CUOC DOI & SU NGHIEP
    Hình: ngocanhTừ năm 1975 về sau, ông gắn bó duy nhất chỉ với tỉnh Hậu Giang (Cần Thơ) cho tới năm 1990. Vì sức khỏe không thể đi lưu diễn, ông được NSUT đạo diễn Đoàn Bá, Giám đốc Nhà hát Trần Hữu Trang mời về cộng tác với đoàn II, phục hồi lại vở cải lương nổi tiếng một thời ''Chiều đông gió lạnh về'' của hai tác giả tài danh Hà Triều - Hoa Phượng, cùng hát với ê-kíp nghệ sĩ trẻ Vương Cảnh, Cẩm Tiên, Thanh Ngân, Linh Trung...

    Sau đó, thì ông từ giã sân khấu, chỉ đi hát show lẻ, vui chơi với bè bạn... Mấy năm nay ông thường sang Mỹ biểu diễn, ở tuổi xấp xỉ 70, ông còn ca rất hay, vẫn ca dây xề (hò nhì) vô vọng cổ chồng hơi, khán giả bên Mỹ rất mến mộ. Dẫu thời gian có khắc nghiệt, không ai có thể trẻ mãi, giữ phong độ lâu dài, trải qua bao cơn bạo bệnh rất nguy hiểm, nhung khi khỏe lại, mọi ngươi lại gặp một Tấn Tài khác tươi vui, duyên dáng và vẫn ca
    hay như ngày nào. Có lẽ sự lạc quan yêu đời chính là phương thuốc thần tiên giúp ông luôn khỏe, sống hạnh phúc với gia đình, với bạn bè đồng nghiệp...

    Tâm sự với bạn bè, ông cho rằng mình rất may mắn, được Tổ nghiệp ưu đãi, đi hát chỉ gặp chút ít gian nan buổi đầu, còn lại là chuỗi ngày vinh quang rực rỡ. Từ một chàng trai
    nghèo ở nông thôn, bỗng chốc trở thành một danh ca, một triệu phú...
    Có một người vợ đẹp, tài hoa, ngay lần gặp đầu tiên ở đoàn Thủ Đô, ông có cảm giác đây chính là người đàn bà sẽ làm chủ cuộc đời ông. Đúng vậy, bà đến với ông suốt cả một đời.
    Nhũng năm tháng hạnh phúc thật dài, nghệ sĩ Như Ngọc, vợ ông chính là người có công vun đắp sự nghiệp lừng lẫy của chồng, tuyệt vời hơn là bà đã sinh cho ônghai chàng trai để ngày nay khán giả có hai danh hài Tấn Beo - Tấn Bo.
    VIỆT KHANG

    Nghệ sĩ Tấn Tài, thầy giáo làng mê đào hát, trở thành ngôi sao sân khấu
    02.06.2007 22:22

    Trong hai thập niên 60, 70, nam nghệ sĩ Tấn Tài được báo chí kịch trường tặng cho danh hiệu “Hoàng đế dĩa nhựa” khi anh thực hiện trên 100 đĩa vọng cổ và tuồng cải lương được thính giả ưa thích. Nam nghệ sĩ Tấn Tài là một trong sáu nam nữ nghệ sĩ đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1963 (đó là các nghệ sĩ Tấn Tài, Diệp Lang, Thanh Tú, Bạch Tuyết, Kim Loan tức Mộng Tuyền và Trương Ánh Loan.)

    Nghệ sĩ Tấn Tài tên thật là Lê Tấn Tài, sanh năm 1940, quê ở xã Vĩnh Trạch, huyện Núi Sập, tỉnh Long Xuyên. Cha là ông Lê Thành Tâm, Mẹ là bà Nguyễn Thị Đang, hành nghề thương mãi. Trong gia đình không có người nào theo nghiệp cầm ca.
    Tấn Tài thi đậu Trung Học đệ nhất cấp ở Long Xuyên, anh làm giáo chức dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, tỉnh An Giang. Phong trào đờn ca tài tử ở miền Hậu Giang rất là rầm rộ, thấy giáo làng Tấn Tài bị cuốn hút theo phong trào, anh đi học ca vọng cổ và cổ nhạc với hai nhạc sĩ ở địa phương là Hai Tỉnh và Út Thôi.
    Giọng ca truyền cảm : Tấn Tài có một giọng ca truyền cảm, anh biết cách diễn đạt nội dung bài ca nên tạo được một lối ca riêng có khả năng thu hút khán, thính giả nên anh mau chóng nổi danh ở địa phương. Các đoàn hát nhỏ về hát ở xã Vĩnh Trạch thường có tiết mục ca vọng cổ ngoài màn trước khi chánh thức hát vở tuồng đêm đó.
    Đầu năm 1959, đoàn cải lương Bướm Vàng của ông Bầu Văn Thà đến xã Vĩnh Trạch hát, theo lệ hát vọng cổ ngoài màn, đoàn hát đã mời Ban ca nhạc tài tử của xã tham dự. Tấn Tài lên ca, được khán giả nhiệt liệt vổ tay khen thưởng đồng thời được mời hát nhiều lần. Giọng ca và phong cách biểu diễn của Tấn Tài được khán giả đánh gíá là hay hơn anh kép chánh của đoàn hát.
    Bầu Văn Thà thấy Tấn Tài có giọng tốt, ca hay, được khán giả ái mộ nên ông bảo con gái của ông là cô đào Thanh Lệ o bế quyến rũ Tấn Tài. Ông muốn luyện Tấn Tài trở thành kép chánh và sẽ làm rể của ông để Tấn Tài giúp ông nắm vững và phát triển đoàn hát.
    Nhưng khi đoàn Bướm Vàng hát ở Chợ Bà - Cái Vồn, mẹ anh đến đoàn hát bắt anh trở về nhà, nhưng Tấn Tài thề quyết theo nghiệp cầm ca, nếu không thành danh thành tài, quyết không trở về quê hương xứ sở.
    Cha mẹ của Tấn Tài đành chìu theo ý nguyện của con nhưng thời vận của Tấn Tài chưa thông nên chỉ sáu tháng sau, đoàn hát Bướm Vàng tan rã, cô đào Thanh Lệ bỏ đi đâu mất. Tấn Tài không dám trở về quê, anh tá túc nơi nhà của một người ái mộ anh tên Hiền ở Mươn Điều, Cao Lãnh, cuốc đất trồng khoai, sống tạm qua ngày.

    Mối tình với cô Năm Ðủ
    Thời gian này Tấn Tài được anh Hiền giới thiệu đi đờn ca tài tử ở các xã lân cận, nhiều cô gái quê mê giọng ca của anh giáo làng thất cơ lỡ vận này, nhưng Tấn Tài chỉ đáp lại mối tình thắm thiết của cô Năm Đủ, giáo viên trường Tiểu học xã Mỹ Hiệp.
    Không ngờ là ông Xã Trưởng Mỹ Hiệp muốn cưới cô Năm Đủ nhưng cô không ưng thuận mà chí quyết chỉ yêu Tấn Tài thôi. Ông Xã Trưởng chụp mũ Tấn Tài là Cộng Sản nằm vùng, ông đem lính tới bao vây rạp hát tìm bắt Tấn Tài, anh phải trốn trong ao nước sau đình, núp dưới dề lục bình. Đêm đó, sợ quá, anh trốn qua Sadec, anh Hiền cũng bỏ nhà trốn theo anh.

    Đoàn cải lương Hữu Tâm của ông Bầu Ba Khuê hát tại rạp Sadec, Tấn Tài và anh Hiền đến xin gia nhập nhưng soạn giả Tứ Lang sau khi nghe thử giọng ca của Tấn Tài, bèn dẫn Tấn Tài đi gia nhập gánh nhát Tân Hương Hoa của Bầu Sinh vì anh nói theo đoàn Tân Hương Hoa có tương lai hơn là theo đoàn Hữu Tâm. Trước khi đi Bãi Sào gia nhập đoàn hát Tân Hương Hoa, Tấn Tài viết thư về cho cô Năm Đủ, hẹn khi ổn định công ăn việc làm, sẽ rước cô về chung sống.
    Trong nghề hát, có giọng ca tốt cũng phải cần có dịp may thì mới mau phất lên được. Tấn Tài gia nhập đoàn Tân Hương Hoa, gặp dịp may là kép chánh Hoàng Sương nghĩ đoàn để hát cho đoàn Thúy Nga, Bầu Sinh liền giao Tấn Tài cho kép Nam Hùng huấn luyện cấp tốc để thế vai của Hoàng Sương.
    Tấn Tài có giọng ca lạ, hấp dẫn, học tuồng mau thuộc nên lầu đầu tiên mới bước ra sân khấu hát, Tấn Tài được khán giả tán thưởng và được Bầu Sinh nâng lên thành kép chánh của đoàn, có lương cao và được ký contrat sáu chục ngàn đồng, hát hai năm cho đoàn Tân Hương Hoa. Cô Năm Đủ là người vợ đầu tiên của Tấn Tài. Hai người chung sống, có được một đứa con gái tên là Lê Thị Thanh Hà, hiện nay là chủ một garage sửa xe hơi ở vùng Phú Thọ.
    Ở đoàn Tân Hương Hoa, Tấn Tài thủ vai chánh trong các tuồng Hắc Y Nữ Hiệp, Tiếng Ai Khóc Trên Đồi, Hoàng Tử Song Sanh, Hoa Tình trong Gió Lốc, Nam Du Huê Quang.
    Năm 1961, ông Bầu Thành đoàn Song Kiều ký với Tấn Tài một conbtrat 100.000 đồng để anh về hát cho đoàn Song Kiều. Tấn Tài thối lại cho bầu Sinh Tân Hương Hoa 60.000 đồng vì hát chưa hết thời hạn contrat. Còn 40.000 đồng anh chia làm đôi, gởi hết số tiền đó về cho cha mẹ của anh và cha mẹ vợ anh.
    Báo chí kịch trường đăng nhiều bài báo khen Tấn Tài là con có hiếu vì thời đó nhiều nghệ sĩ ký tiền contrat cao thường lo sắm xe hơi, mua hột xoàng thay vì giúp đở cho cha mê già.

    Ðoạt nhiều giải thưởng
    Năm 1962, Tấn Tài cộng tác với đoàn hát Thủ Đô của ông bầu Ba Bản, được nghệ sĩ Ba Vân hướng dẩn, Tấn Tài thành công trong vai Điệp Nhứt Lang trong tuồng Cát Dung Phương Tử của soạn giả Thiếu Linh, anh đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1963 nhờ vai tuồng nầy.
    Chỉ sau bốn năm theo nghề hát, Tấn Tài đoạt giải nghệ thuật cao qúy Thanh Tâm mà các nam nữ diễn viên cải lương đồng thời đều mơ ước.
    Đêm phát giải Thanh Tâm được tổ chức tại rạp Quốc Thanh, Tấn Tài thủ vai Hoàng Hoa Lử, diễn chung với Bạch Tuyết trong vai Chu Cẩm Luyện trong vở Khói Sóng Tiêu Tương của Hoa Phượng và Nhị KIều.
    Cha Mẹ của Tấn Tài và cha mẹ vợ của anh được mời ngồi hàng ghế danh dự. Bà con ở xã Vĩnh Trạch và đặc biệt hai ông thầy dạy ca Hai Tỉnh và Út Thôi cũng đến Saigon xem đêm hát nhận huy chương vàng của ông thầy giáo làng kiêm nghệ sĩ Tấn Tài.
    Sau đêm hát nhận huy chương vàng, Tấn Tài được ký contrat thêm 150.000 đồng và được nghĩ 5 ngày để cùng cha mẹ và bà con xã Vĩnh Trạch về quê. Tại xóm cũ, Tấn Tài vật bò, mổ heo, làm thịt gà tổ chức tiệc khoản đải chánh quyền xã và tất cả bà con láng giềng nào đến chia vui với gia đình anh.
    Tấn Tài hát các vai chánh trên sân khấu Thủ Đô, tuồng : Tình Người Tử Tội, Bóng Người Bên Song Cửa, Nhạc Nữ Qúy Xuyên, Cây Quạt Lụa Hồng, Khi Mặt Trời Lên, Năm Xưa Nàng Lổi Hẹn, Cát Dung Phương Tử.
    Tấn Tài thu dĩa vọng cổ cho hãng diã Hoành Sơn của ông Ba Bản các bài nổi tiếng :Ai lên xứ hoa đào, Dưới rặng Ô môi, Đà lạt mưa rơi, Kiều Phong A tỷ. Dương Qúy Phi, Mùa Thu Lá Bay…
    Năm 1964, Tấn Tài và Bạch Tuyết là đôi diễn viên chánh của đoàn hát Dạ Lý Hương của Bầu Xuân. Tấn Tài có những vai hát để đời trong các tuồng Cô Gái Đồ Long, Anh Hùng Xạ Điêu, Tiếng Vọng Ba Đèo, Võ Tòng Sát Tẩu, Sương Mù Trên Non Cao, Thần Anh Cô…
    Khi hát cho đoàn Dạ Lý Hương, Tấn Tài hết bị ràng buộc với ông bầu Ba Bản và hãng dĩa Hoành Sơn nên anh ca thu dĩa cho nhiều hãng dĩa Việt Nam của cô Sáu Liên, hãng dĩa Hồng Hoa (tức Asia cũ), hãng Continental của ông Đông, hãng dĩa Việt Hải của ông Tứ Hải… các bài vọng cổ được khách mộ điệu ưa chuộng như Hàn Mạc Tử, Hạng Võ Biệt Ngu Cơ, Thương miền đất đỏ, Tâm sự anh gù, Qua đò Mỹ Thuận… và Tấn Tài nổi danh Hoàng Đế dĩa nhựa.
    Năm 1966 đến năm 1969, Tấn Tài là diễn viên chánh đoàn Kim Chung 5, hát chung với Mỹ Châu, rồi Lệ Thủy các vở tuồng : Bức họa da người, Băng Tuyền nữ chúa, Tâm Sự loài chim biển, Đường Minh Hoàng, Đào Hoa Khách, Tuyệt tình nương, Hồng y nữ hiệp…

    Cưới vợ lần thứ hai

    Năm 1968, (Têt Mậu Thân) Tấn Tài theo đoàn Kim Chung 5 lưu diễn miền Trung, hát ở đảo Lý Sơn (cù lao Ré, Quảng Ngãi) thì ở Saigon vợ anh, cô Năm Đủ mất, không hiểu vì nạn nhân chiến cuộc hay vì bạo bịnh. Gia đình và Ban giám đốc Kim Chung không biết đoàn Kim Chung 5 đang lưu diễn ở đâu thành ra không báo tin cho Tấn Tài được.
    Mãi tới ba tháng sau, khi Kim Chung 5 về tới Nha Trang thì Tấn Tài mới biết tin vợ anh mất. Con gái của anh Lê Thị Thanh Hà được ông bà nội đem về nuôi dưỡng và cho đi ăn học ở Saigon.
    Năm 1969, Tấn Tài lập gánh hát mang bảng hiệu Tân Thủ Đô - Tấn Tài, anh cưới người vợ thứ hai là nữ nghệ sĩ đệ nhất đào lẵng Như Ngọc, có hai trai tên Lê Tấn Danh tức hề Tấn Beo và Lê Tấn Phúc tức hề Tấn Bo.
    Sau năm 1975, Tấn Tài giao gánh hát lại cho tỉnh Hậu Giang, anh mở quán có ca nhạc, rồi đi hát cho đoàn hát Song Hậu của nhà nước. Anh đi hát từng show khi có yêu cầu. Nữ nghệ sĩ Như Ngọc mất năm 2001 vì tai biến mạch máu nảo.
    Hai con trai của anh là Tấn Beo và Tấn Bo không phải danh ca vọng cổ, họ chọn nghề chọc cười thiên hạ nên nổi danh hề Tấn Beo và Tấn Bo

    Nghệ sĩ Như Ngọc qua đời năm 2001, sau thời gian dài bạo bệnh, ông chợt hiểu, đời người như một kiếp phù sinh... Nhìn Tấn Beo, Tấn Bo ông rất nhớ đến bà, bởi trên gương mặt của hai cậu con trai yêu quý có nét phảng phất giống cả cha lẫn mẹ. Ông hài lòng vì sự thành đạt của hai con. Cha là hoàng đế dĩa nhựa, mẹ là đệ nhất đào diễn, con là danh hài, đúng là hậu sinh khả úy, xứng danh con nhà tông. Ông luôn dặn dò hai con phải sống khiêm tốn, hòa nhã, kính trên nhường dưới, bạc tiền, danh vọng chỉ là phương tiện nhất thời, đạo đức mới trường tồn. Với Tấn Beo ông có phần an tâm hơn Tấn Bo, cậu út nhà còn nông nổi, bồng bột lắm...
    Với các diễn viên trẻ, ông có lời nhắn nhủ: ''Các em đều có giọng tốt, nhưng hay bắt chước, rập khuôn hoặc không dám đột phá, tìm ra cái mới, tạo cho mình nét riêng, chính nét riêng, cái mới, mới tạo nên giá trị đích thực của mình. Ngày nay không thiếu tài năng trẻ, chỉ thiếu đoàn, thiếu nơi hoạt động thường xuyên, thiếu sự định hướng phát triển cho cải lương.''


    Sau ngày góa vợ, ông sống hạnh phúc bên chị Kim Ly, một khán giả ái mộ và yêu ông từ thời còn con gái... Mấy mươi năm xa nhau, ông góa vợ, chị góa chồng, hai người bạn cũ gặp nhau, an ủi, chăm sóc nhau trong những ngày về chiều, nắng xế. Ông vẫn luôn cho rằng mình là người may mắn, hòa nhã, vui vẻ với mọi người là phương châm sống. Tấn Tài - Hoàng đế dĩa nhựa - Tài hoa,hiền lành, hóm hỉnh...

    tancogiaoduyen (Theo SG Nguyễn Phương - ĐACTD)
    Nguôn :
    http://www.cailuongvietnam.com/modul...iewst&sid=3270


    From: linda77
    Date: 2011/1/27
    Subject: Một nghệ sĩ mới qua đời
    Một nghệ sĩ mới qua đời

    Hôm nay đọc báo thấy tin nghệ sĩ cổ nhạc Tấn Tài qua đời ...một giọng ca mà tui rất ưa thích ...xin mời nghe 1 bài tân cổ tui nghe hằng đêm
    [/align] [/align]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0

    Vài Video

    Hồn Kinh Kha - Tấn Tài












    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường

    Nguyễn Phương - RFI - CHỦ NHẬT 27 THÁNG MƯỜI MỘT 2011

    Có lẽ vì sân khấu cải lương thường diễn những vở tuồng Tàu và tuồng lịch sử, nhân vật trong tuồng có vai Vua, Hoàng Đế, Hoàng Hậu, nên các ký giả kịch trường và khán giả ái mộ có thói quen khi thấy nghệ sĩ nào có tài ca hay, diễn giỏi mà họ cho là giỏi bực nhứt trong nghề thì họ tặng cho nghệ sĩ đó những mỹ danh có kèm chức vị Vua hay Hoàng Hậu trước cái tên chính của người nghệ sĩ đó.

    Vì vậy sân khấu cải lương có Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, Hoàng Đế Dĩa Nhựa Tấn Tài, Vua Xàng Xê Minh Chí, Hoàng Hậu Sân Khấu Thanh Nga, Nữ Vương Sầu Mộng Út Bạch Lan, Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường….

    Nghệ sĩ Văn Hường tự giới thiệu về mình:

    "Tôi là một nông dân, một nghệ sĩ rất là nông dân, nông dân ở xã nghèo, xã Long Thạnh Mỹ. Tôi mới bèn xuống dưới Saigon ở. Đó, lúc đó thì khổ sở lắm. Đó…mới là đi học ca, mà học ca là toàn anh em dìu dắt mình học, đó chẳng hạn, rồi lúc tôi ca được thì lúc đó tôi gặp anh Văn Vĩ, anh Năm Cơ, rồi gặp nhiều anh nghệ sĩ lớn tuổi mà rất là thương yêu nghệ sĩ Văn Hường, đó…thương mới bèn đưa đi đây đi đó, đám giỗ, đám cưới gì tôi ca hết, đó…lúc đó thì ca tốt rồi đó, cái bà Lệ Liễu mới mời tôi về ở giải trí trường Lệ Liễu ca, lúc đó là quán Lệ Liễu ở giải trí trường… Đó , rồi được anh em thương, rồi bà con đều thương, đó lúc đó thì có anh Viễn Châu cũng vô đó chơi, nhậu nhẹt rồi ca hát, lúc đó anh Viễn Châu thấy Văn Hường ca được quá, mới bèn mời về hợp tác với hãng dĩa, với cái bài đầu tiên của tôi ca, đó là cái bài Đêm Tân Hôn của soạn giả Viễn Châu viết.

    Rồi cái lần hồi ảnh viết qua cái bài Tư Ếch đi Saigon, Vợ tôi nói tiếng Tây, Pháp Sư giải nghệ… nhiều bài lắm, bây giờ kể không hết được… Lần hồi cái rồi anh Bảy Cao cũng về đó hát…, đó anh Bảy Cao đoàn Hoa Sen, gặp Văn Hường, cũng vô ngồi nhậu nhẹt, rồi nói chuyện, đờn chơi, mới mời tôi hợp tác với đoàn Hoa Sen… Hát được mấy năm trời, kế Kim Chung thấy tôi hát được quá, bèn mời tôi hợp tác với đoàn Kim Chung. Lúc đó thì ký giao kèo hơi lớn đó… hà hà…rồi từ từ hát… đâu 9, 10 năm, mười một năm… A ký hợp đồng với Kim Chung Hát mười mấy năm…"

    Thông thường, nghệ sĩ tự giới thiệu mình thì ít khi có mạch lạc và chi tiết.

    Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường tên thật là Nguyễn Văn Hường, sanh năm 1934 tại xã Long Thạnh Mỹ, huyện Thủ Đức. Cha mẹ là nông dân, có mười mấy người con mà Văn Hường là người con thứ sáu nên bạn bè gọi anh là anh Sáu Văn Hường.

    Trước năm 1975, tôi sáng tác nhiều bài ca cải lương hài hước cho Văn Hường ca thu dĩa cho hãng Capitol, tôi hỏi do đâu mà anh luyện được giọng ca đưa hơi ự ự hài hước độc đáo đó. Văn Hường cho biết là vì anh nghe danh ca Tám Thưa ca rất hay nhờ cái giọng đưa hơi ợ ợ của ảnh, nhờ đó Văn Hường nảy ra sáng kiến, chế cái tiếng ự ự thay cho cái tiếng ợ ợ, cái tiếng ự ự ăn khách dữ lắm.

    Nghệ sĩ Văn Hường trả lời đơn giản như vậy, vì nếp sống và cách suy nghĩ của Văn Hường rất đơn giản. Văn Hường không nghĩ là nếu gặp một bài ca vọng cổ có nội dung lịch sử như bài ca ca ngợi chiến thắng Đống Đa hay Trần Hưng Đạo Bình Nguyên hay một bài ca tình yêu như Lan và Điệp hay bài Đồi Thông Hai Mộ, Văn Hường có ự ự hay cách mấy thì thính giả cũng không cười được, mà nếu thính giả cười thì là cười Văn Hường làm hư nội dung bài ca. Ví dụ Văn Hường đã ca bài Đời là gì, thính giả chỉ mỉm cười vì nội dung trách hờn đời, chớ thính giả không cười rộ lên khi nghe anh ca những bài hài hước khác.

    Muốn có một bài ca vọng cổ hài hước làm cho thính giả cười lên được, phải có một sự kết hợp chặt chẽ giữa người viết bài ca, nội dung bài ca diễu, người ca sĩ có chất giọng và kỹ thuật ca diễu kết hợp với dàn đờn đờn ăn ý với người ca. Cái lối ca dùng tiếng ự ự thay cho tiếng ơ ơ chỉ là một kỹ thuật ca góp một phần nhỏ vào cách chọc cười thính giả.

    Khi khởi nghiệp cầm ca, nghệ sĩ Văn Hường được cái may mắn là gặp được soạn giả kiêm nhạc sĩ Viễn Châu. Anh Viễn Châu khám phá giọng ca lạ của Văn Hường nên viết nhiều bài ca hài để khai thác giọng ca hiếm có với nội dung viết về những trái khoáy trong xã hội từ chuyện sợ vợ, chuyện mê gái, chuyện mê tín dị đoan, đến nạn tứ đổ tường, những chuyện bình dị trong đời thường.

    Lối viết khéo léo của Viễn Châu và các tác giả chuyên viết vọng cổ hài cộng với lối ca duyên dáng dễ thương của nghệ sĩ Văn Hường đã đánh trúng tâm lý của người nghe. Trong các buổi tiệc đám cưới , đám giỗ, các buổi đờn ca tài tử, người ta bắt chước Văn Hường ca : "Một vợ thì nằm giường lèo, hai vợ thì nằm chèo queo, ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm…." ( bài Năm con vợ), hoặc "Uống chi cho đã rồi lủi vô bụi cây cho chó ăn chè…"( bài tâm sự Ba xi đế ).

    Sau bài vọng cổ vui đầu tiên Đêm tân hôn, Văn Hường được soạn giả Viễn Châu sáng tác cho rất nhiều bài vọng cổ hài hước như Tư Ếch đi chợ Saigon, Tư Ếch đại chiến Văn Hường, Tư Ếch coi cải lương, Tư Ếch coi hội chợ, Vợ tui tui sợ, Vợ tui nói tiếng Tây, Tôi mê tài xỉu, Văn Hường thua số đuôi, Pháp sư giải nghệ, Chó mực đầu cáo, Lá sớ Táo Quân…


    DR
    Văn Hường ca Vợ tui tui sợ của soạn giả Viễn Châu:


    "Hỡi những bậc nam tử tu mi, hỡi các đấng trượng phu từ thanh niên râu chí mấy cụ già lão nhược, hãy đứng lên chung lưng đấu cật mà cùng nhau sợ vợ cho vui cửa….

    Vọng cổ câu 1 … Vui nhà…Bà con lối xóm họ điệu thì họ kêu là mình thương vợ, còn họ ghét thì gọi là thờ bà…nhưng ở đời mà, hơi sức đâu bận tâm tới miệng lằn lưỡi mối, ăn no cái rồi bươi móc chuyện của người ta hoài vậy hà… Sách có câu Trị Quốc Tề Gia, phu phụ thuận hòa thì gia đạo mới yên, tơ hồng nguyệt lão se duyên, kẻ được vợ hiền còn người rinh con vợ dữ…ư…ư…

    Câu 2… : Nói không phải khoe với anh Ba, chớ tôi dám chắc nội cái xóm Nancy nầy không có tay nào sợ vợ cho bằng Văn Hường sợ vợ hết á… nhưng cái sợ của tôi là cái sợ có sách có vở. Mà cái sợ vợ cao cấp, cái sợ vợ có nghệ thuật à…chứ đâu phải thứ sợ vợ tay mơ của mấy cha lục đục thường tài… vì hồi ban sơ mới lấy nhau, tôi nhè lỡ sợ nên tới ngày nay tôi tiếp tục sợ hoài…. Vậy bà con lối xóm họ đâu có thông cảm, họ xậm xì xậm xịt, họ nói là hiếu phụ nha nha… sợ vợ như là sợ…sợ…sợ…ối, nhưng mà anh Ba ôi, tôi gẫm lại thì vợ mình mình sợ, phải hông É chớ mình đâu có điên dại gì mình lại sợ vợ của người ta…

    Câu 5 : Nhỏ cũng sợ mà già cũng sợ… Sách có câu sợ vợ mới nên! Tại tôi muốn ăn ở cho đúng sách Thánh hiền, chớ thân bảy thước, ai sợ gì phụ nữ…Ủa , lạm gì mà ngó tôi rồi anh cười chúm chím, làm tôi quê quáa É Anh nhớ lại mấy lần đến thăm tôi, anh đều thấy tôi mặt mày sưng húp, mắt bầm đen và lỗ mũi ăn trầu…Ạ, đó là tại con vợ tôi nó nựng tôi hơi nặng tay, nên tôi mới bể đầu… thì đâu có sao…chết chóc gì anh Ba… Sách có câu, đèn nhà ai nấy sáng, thương nhau lắm mới đánh nhau đau, lổ đầu gẫm chẳng có sao, băng keo dán lại, lấy dầu xức vô, máu ra một lát nó khô, chớ còn cãi lại thì ô hô sanh buồn.

    Câu 6 : Đọ…Anh Ba thấy hông… từ vua chúa đến thứ dân, tứ khố rách áo ôm cho tới tai to mặt lớn, từ quê tới tỉnh, từ ruộng rẫy tới thị thiền, ai ai cũng sợ vợ ráo trơn ráo trọi hết, bởi vì cái vụ sợ vợ là cái sự dĩ nhiên mà anh Ba…xấu hổ gì chuyện đó … Đàn bà là sếp gia đình, Nam tử tụi mình phải rắc rắc tuân theo, Sợ nào bằng sợ vợ làm reo, nổi giận nó dám bỏ chèo queo một mình. Sách Nhị Thiên Đường có câu : Phu xướng phụ tùy, dạy một cách khác nữa là chồng phải quỳ ( oui ) khi vợ gọi, anh Ba ôi, nên hư số hệ nơi trời, vợ mình mình sợ, ai cười mặc ai.

    Sau 200 bài vọng cổ hài của Viễn Châu sáng tác cho Văn Hường, có rất nhiều vọng cổ hài của các tác giả khác viết khai thác giọng ca hài của Văn Hường như bài Thằng Lãnh bán heo của soạn giả Quy Sắc – hãng dĩa Hồng Hoa, bài Văn Hường đau khổ, Văn Hường ba con vợ của soạn giả Văn Giai hãng dĩa Quê Hương, bài Già Đa dạy lái Honda, Văn Hường trúng số hụt, Ông Thần ve chai, Văn Hường làm thầy bói, Văn Hường đi Suzuki, Chàng Rễ độc đắc, Ông Táo cảilLương của hai soạn giả Yên Sơn và Nguyễn Phương hãng dĩa Capitol, bài Anh hùng náo quán bia hơi của Hoàng Việt hãng dĩa Việt Hải… đưa danh tiếng của Văn Hường đến tột đỉnh của nghệ thuật ca hài hước lúc bấy giờ.

    Viết vọng cổ thật ra không khó, nhưng muốn viết hay, có tính văn học lại là chuyện khác. Người viết biết giữ đúng lề lối, đúng khung nhạc, đúng chữ đờn cuối khung và văn chưong có vần điệu là có thể sáng tác vọng cổ, nhưng viết một bài vọng cổ hài thì tác giả phải có cái nhìn sự việc độc đáo và phải biết sử dụng ngôn ngữ hài. "Nhìn sự việc độc đáo" là nhìn ra khía cạnh nào có thể châm biếm được, chọc cười người nghe, khám phá ra những hủ tục cần đả phá và phải dùng lời châm biếm nhẹ nhàng, gây cười khiến cho người nghe dù là kẻ bị châm biếm cũng phải cười mà không phật lòng, người bình thường thì tán thành lối châm biếm đó như là họ đã nhờ tác giả nói thay cho họ vậy.

    Trước danh ca hài Văn Hường, có nhiều nghệ sĩ ca hài hước vọng cổ như Hề Lập ca trong tuồng Lý Chơn Tâm cưỡi củi, hề Tư Xe trong vai Lôi Nhược ca trong tuồng San Hậu, danh ca Tám Bằng ca bài vọng cổ Thầy bói nói mò, danh ca Hồng Châu ca hài bài vọng cổ Cọp cọp, Bonjour thầy Ba…các nghệ sĩ đó dùng cách ca cà lăm để tạo tiếng cười, nhưng khi đến Văn Hường thì anh biết sáng tạo, khai thác thêm giọng ca và cách ca cho phù hợp với nội dung bài vọng cổ hài, với làn hơi độc đáo, anh sử dụng cách luyến láy, nhấn nhá, kéo dài phụ âm " R ", hoặc lên giọng thật cao, ca "sét" ở những chữ mang dấu sắc, dấu hỏi, đặc biệt câu vô với chữ "Ự…Ự" lên xuống trước khi xuống chữ hò vô vọng cổ. Ngoài ra, Văn Hường còn có một làn hơi phong phú, bộ nhịp vững chắc cho phép anh tùy ý ngân nga, chạy nhảy trong bài vọng cổ hài, vốn có những câu rất nhiều chữ và không có khoản nghỉ lấy hơi trong lòng câu vọng cổ. Những sáng tạo của nghệ sĩ Văn Hường trở thành khuôn mẫu để những danh hài sau này bắt chước như Hề Sa, Hề Thanh Nam. Cho đến nay, chưa có nghệ sĩ ca vọng cổ hài nào tìm được sáng tạo mới, thoát khỏi cái khung mà Văn Hường đã định.

    Vọng cổ hài đã có một thời kỳ lên ngôi, Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường cũng có một thời vàng son rực rỡ. Sau năm 1975, ca hài hước không thể tồn tại vì nhà cầm quyền mới cho là cười như vậy là khách quan tư sản, không được phép cười nông dân vì nông dân là thành phần cốt cán của cách mạng. Phải cười có "định hướng chính trị" mà cái định hướng theo nhà cầm quyền muốn thì lại không đúng với ý muốn của người dân, vì vậy không có soạn giả nào viết được bài ca hài hước nữa, kể cả ông vua chuyên viết bài ca hài hước là soạn giả Viễn Châu cũng đành gác bút. Vậy đó, từ sau năm 1975 đến nay, vọng cổ hài hước đã bị khai tử, bị giết chết tiêu giống như họ đã giết chết nghệ thuật sân khấu cải lương.

    Nguyễn Phương

    RFI

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn

    Thứ bảy 10 Tháng Năm 2014
    Nghe (17:09)




    Vua vọng cổ Út Trà Ôn (DR)


    Lê Phước RFI


    Bản vọng cổ được xem là “bài bản vua” của làng tài tử- cải lương. Và mỗi khi nhắc đến tài viết lời thì người ta nghĩ ngay đến “vua soạn lời vọng cổ” Viễn Châu, còn khi đề cập đến tài ca vọng cổ thì người mộ điệu nghĩ ngay đến Út Trà Ôn, nghệ sỹ được mệnh danh “Vua vọng cổ” và “Đệ nhất danh ca” suốt hơn nửa thế kỷ qua.





    Trong làng tài tử-cải lương Nam Bộ, có một đôi nghệ sỹ cầm trịch cho bản vọng cổ từ hơn nửa thế kỷ qua, mà có một điều trùng hợp thú vị là nghệ danh hai nghệ sỹ này lại bắt đầu bằng chữ “Út”: Út Trà Ôn và Út Bạch Lan.
    Nghệ danh Út Bạch Lan là sự kết hợp giữa “Út”, cái tên quen thuộc mà bé Đặng Thị Hai (Tên thật của Út Bạch Lan) được mẹ gọi hàng ngày. Đó cũng là sự thể hiện lòng hiếu thảo của Sầu nữ Út Bạch Lan.

    Nghệ danh Út Trà Ôn

    Còn đối với Út Trà Ôn, ông tên thật là Nguyễn Thành Út, sinh năm 1919 tại làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông là con thứ mười trong gia đình và cũng là cuối cùng, tức thứ Út theo cách gọi của người Nam Bộ. Xuất thân là nông dân ‘‘thứ thiệt” của miền Nam, giọng ca của nghệ sỹ Út Trà Ôn luôn thắm đượm nét chân phương, phóng khoáng và trữ tình của người Nam Bộ. Hồi tuổi lên mười, giọng ca Nguyễn Thành Út đã nổi tiếng trong các sân chơi tài tử địa phương.

    Năm 18 tuổi, tức vào năm 1937, Nguyễn Thành Út rời quê lên Sài Gòn và đoạt Giải nhất trong cuộc thi ca vọng cổ do hãng rượu Bình Tây tổ chức. Sau đó, Nguyễn Thành Út được giới thiệu ca vọng cổ trên sóng Đài phát thanh Sài Gòn và bắt đầu mang nghệ danh Út Trà Ôn. Nghệ danh này là sự kết hợp giữa tên “Út” và huyện “Trà Ôn”, một cách thể hiện sự tri ân đối với quê hương nguồn cội của chàng trai Nguyễn Thành Út.

    Các hãng đĩa bắt đầu chú ý tới giọng ca Út Trà Ôn nên thường xuyên mời ông thu âm. Thời gian gắn bó với các đài phát thanh và các hãng đĩa đã dần đưa tên tuổi Út Trà Ôn lên đỉnh cao vinh quang. Đầu những năm 1940, Út Trà Ôn bắt đầu bước chân vào sân khấu cải lương chuyên nghiệp. Tên tuổi Út Trà Ôn dần trở thành tên tuổi ăn khách hàng đầu của sân khấu cải lương.

    Út Trà Ôn là một trong những nghệ sỹ đầu đàn cùng với Phùng Há, Ba Vân, Năm Nghĩa, Năm Châu … có nhiều đóng góp quan trọng cho sân khấu cải lương từ thời kỳ sơ khai của bộ môn nghệ thuật này đến thời vàng son vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước.

    Trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật hơn 60 năm, Út Trà Ôn đã đi qua nhiều đoàn hát danh tiếng miền Nam. Có khi ông cũng đứng ra thành lập đoàn hát như đoàn Kim Thanh-Út Trà Ôn với nghệ sỹ Kim Chưởng, Thanh Tao, hay đoàn Thống Nhứt với nghệ sỹ Hoàng Giang.

    Các nghệ sỹ cải lương trước khi ra sân khấu thường lạy tổ nghiệp, và người tổ nghiệp của họ không phải là một người cụ thể nào, mà là những bậc tiền hiền có công khai sáng và nuôi dưỡng cải lương. Trong ý nghĩa đó, Út Trà Ôn xứng đáng được xếp vào một trong những vị tổ nghiệp hàng đầu của sân khấu cải lương Nam Bộ.

    Diễn xuất mộc mạc, chân phương

    Út Trà Ôn đã để đời nhiều vai diễn, trong đó vai Ông Cò Quận 9 trong vở tuồng cùng tên (tức Tuyệt tình ca), có thể nói là một trong những vai đến hiện tại chưa có người thay thế. Với cách diễn xuất mộc mạc, chân phương, lại là người rất khó tính trong nghề, bởi vậy Út Trà Ôn là một bậc thầy trong diễn xuất: diễn như không diễn.

    Trong Tuyệt tình ca, Út Trà Ôn đóng cặp với Sầu nữ Út Bạch Lan. Lớp ca diễn để đời là lớp ông tái ngộ vợ hiền sau nhiều năm xa cách, Út Trà Ôn ca với Út Bạch Lan ba câu vọng cổ, đây là ba câu vọng cổ để đời của đôi nghệ sĩ bậc thầy này. Chỉ với bốn câu nói lối gối đầu để vô vọng cổ cũng đủ để khẳng định đẳng cấp thượng thừa của Út Trà Ôn.

    Đó là một tài diễn trong ca, ca trong diễn. Đặc biệt, Út Trà Ôn có biệt tài nói trong ca và ca trong nói, rất cần thiết cho một nghệ sỹ cải lương. Đến hiện tại, chưa thấy có một nghệ sỹ cải lương nào, cả nam lẫn nữ, có được biệt tài như vậy.

    Út Trà Ôn nói lối như sau “Tôi đứng đây tưởng chừng như đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, lúc mình quay xuồng trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn, con nước lớn lục bình trôi rời rạc”. Chỉ một “chiêu” đó thôi mà biết bao nhiêu thế hệ nghệ sỹ cải lương sau ông chưa ai biểu đạt được đến trình độ như vậy. Khi nghe ông ngâm đoạn này người ta cảm nhận được hình ảnh những đám lục bình đang trôi rời rạc trên sông, cũng giống như nỗi đau xé từng đoạn ruột của hai người yêu nhau khi đưa tiễn.

    Út Trà Ôn đã đưa trọn tình cảm và nghệ thuật ca diễn thượng thừa vào lời thoại để nó trở nên truyền cảm một cách thần sầu. Bên cạnh Ông Cò Quận 9, người mộ điệu cũng không thể nào quên hai vai gây khó dễ cho thế hệ sau của Út Trà Ôn là vai Võ Minh Thành trong Đời Cô Lựu và vai Ông Tám Khỏe trong Người ven đô.

    Đệ nhất danh ca, vua vọng cổ

    Tuy vậy, hễ nhắc đến Út Trà Ôn là người mộ điệu nghĩ ngay đến tài ca vọng cổ. Giọng ca Út Trà Ôn được mến mộ đến mức mà nó làm lu mờ tất cả những vai diễn của ông, để cho người mộ điệu mỗi khi nhắc đến ông là nhắc đến tài ca vọng cổ.

    Từ những thập niên 1960, khi hai danh ca nữ Út Bạch Lan và Thanh Hương chập chững vào nghề, thì giọng ca Út Trà Ôn đã làm khuynh đảo làng cổ nhạc. Vào năm 1960, tờ báo Tiếng Dội của ký giả Trần Tấn Quốc, người chủ sự giải thưởng Thanh Tâm danh giá của sân khấu cải lương, đã trưng cầu ý kiến độc giả, và Út Trà Ôn được bầu chọn là “Đệ nhất danh ca” bên cánh nam nghệ sỹ, còn bên cánh nữ là danh ca Thanh Hương.

    Cũng trong thập niên 1960, soạn giả Viễn Châu đã viết bài Tình anh bán chiếu cho Út Trà Ôn ca thu đĩa. Giọng ca Út Trà Ôn đã mở đường cho bài Tình anh bán chiếu trở thành “bài vọng cổ vua”. Từ đó, cái tên Út Trà Ôn bắt đầu gắn với Tình anh bán chiếu. Đây là một cú hít quan trọng cho vọng cổ nhịp 32 bởi trong các bài bản vọng cổ, thì đến hiện tại vọng cổ nhịp 32 vẫn là thịnh hành nhất.

    Chính những bài vọng cổ của Viễn Châu qua giọng ca Út Trà Ôn đã góp phần quan trọng cho sự “chiến thắng” của vọng cổ nhịp 32. Và trong rất nhiều bài đó, thì Tình anh bán chiếu phải được xếp hàng đầu, bởi vì không chỉ ngày xưa, mà đến hiện tại, hễ nhắc đến vọng cổ là nhắc đến Tình anh bán chiếu. Ở miền Nam, từ thành thị đến nông thôn, dù biết hay không biết tài tử-cải lương, thì hầu như ai cũng biết đến bài Tình anh bán chiếu. Đây cũng là một bài quan trọng đưa Viễn Châu-Út Trà Ôn lên cương vị “Vua viết lời vọng cổ” và “Vua ca vọng cổ”.

    Út Trà Ôn mất vào năm 2001 với hơn 60 năm đóng góp cho sân khấu cải lương. Thế nhưng, không chỉ có đến lúc ông tạ thế, mà ngay đến hiện tại, đối với người mộ điệu và các nghệ nhân tài tử hay các nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp lẫn các nhà nghiên cứu, danh hiệu “Đệ nhất danh ca” và “Vua ca vọng cổ” vẫn được gắn với giọng ca Út Trà Ôn.

    Có phải vì Út Trà Ôn có số lượng đĩa vọng cổ nhiều nhất trong giới nghệ sỹ? Hay vì ông đóng góp nhiều năm cho cải lương nên được thế hệ sau “nể” mà khen ngợi? Câu trả lời thuyết phục nhất đó là do tài năng ca vọng cổ của Út Trà Ôn đã đạt đến một trình độ chưa có ai đạt tới.

    Út Trà Ôn có giọng đồng, trầm, mạnh mẽ và rất nam tính. Thế nhưng, chỉ có thiên phú thôi thì chưa đủ để cho Út Trà Ôn đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ca vọng cổ, mà đòi hỏi phải có sự khổ luyện nghiêm túc. Người trong nghề đến hiện tại mỗi khi nhắc về ông thì vẫn không quên chi tiết khi hóa trang cho vai diễn, Út Trà Ôn phải bỏ ra tới hai tiếng đồng hồ để chỉ để … vẽ một bên chân mày. Chỉ vậy thôi cũng thấy sự nghiêm túc với nghề và sự trân trọng khan giả đến mức nào.

    Bàn về bộ nhịp, thì ta thấy rằng, Út Trà Ôn có bộ nhịp thuộc hàng “sư phụ của sư phụ”. Nhờ có nhịp nhàng chắc chắn mà Út Trà Ôn có thể triển khai điêu luyện lối ca sắp chữ theo kiểu chẻ nhịp một cách thượng thừa của mình. Út Trà Ôn ca không theo khuôn, mà rải chữ đều ở các câu. Khi nghe Út Trà Ôn ca, người nghe khó biết được ông đã tới nhịp nào, khuôn nào, mà chỉ biết là khi ông xuống song lang thì như đặt khuôn vậy.

    Nếu chỉ có bộ nhịp chắc thôi còn chưa đủ để đạt đến trình độ sắp chữ như vậy, mà cần phải có một sự khổ luyện và một cái tâm làm nghề nghiêm túc mới ca được như vậy. Cách sắp nhịp và cách ca của Út Trà Ôn đến hiện tại vẫn chưa có nghệ sỹ nào đạt tới. Thế hệ sau ca theo lối của Út Trà Ôn thành công nhất và có thể duy trì được lối ca này có lẽ là nghệ sỹ Phương Quang, nhưng để đạt được trình độ của “Thầy Út Trà Ôn” thì chưa tới.

    Kiểu ca và giọng ca của Út Trà Ôn đã được xếp thành một trường phái ca vọng cổ riêng và luôn được xếp hàng đầu khi có người tìm hiểu về các trường phái ca vọng cổ. Ông được xếp đầu cũng đúng thôi vì trước và sau Út Trà Ôn rõ ràng chưa có giọng ca vọng cổ nào ca thần sầu và trứ danh đến thế.

    Cái hồn của bản vọng cổ

    Để giải thích cho sự thành công của Út Trà Ôn người ta không thể nào không nhắc tới sự tương đồng đến kỳ lạ giữa giọng ca Út Trà Ôn và với cái hồn của bản vọng cổ. Bản vọng cổ thoát thai từ bài Dạ cổ hoài lang do nhạc sỹ Cao Văn Lầu sáng tác vào khoảng năm 1918-1919. “Dạ cổ“ tức là “tiếng trống đêm khuya”, “hoài lang” tức là “nhớ chồng”. Đây là bài mà ông Sáu Lầu viết trong lúc nhớ thương người vợ trẻ khi hai người bị gia đình bắt phải xa nhau.

    Nhạc sỹ Sáu Lầu quê ở vùng nông thôn Bạc Liêu hồi trước, nên bài Dạ cổ hoài lang cũng mang đậm dấu ấn làng quê : nhẹ nhàng, mênh mang, chân phương và trữ tình. Nghe Dạ cổ hoài lang có khác nào đang nghe một điệu hò câu lý của bà con vùng sông nước Cửu Long. Nhà nghiên cứu Sơn Nam nhận định: “Điệu hò đối đáp đã tìm được ở bản Hoài lang một hình thức sang trọng để mà nương náu”.

    Nói như vậy thì giá trị của bản Hoài lang là ở chỗ bình dân, gần gũi với điệu hò câu lý, bởi vậy mà nó được người Nam Bộ tiếp đón nồng nhiệt. Từ bản Hoài lang nhịp đôi (có hai nhịp), dần dần, qua sự đóng góp của nhiều thế hệ, bản Hoài lang phát triển lên thành nhịp Tư, nhịp Tám, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64 rồi nhịp 128. Cái tên Dạ cổ hoài lang sau được đổi thành Vọng cổ Hoài Lang, Vọng cổ Bạc Liêu, rồi sau là Vọng cổ.

    Bản vọng cổ dù xuất thân bình dân nhưng có tính bác học, bởi vì không phải muốn ca thế nào thì ca mà phải ca cho đúng nhịp, đúng cái tinh thần của bài ca. Tuy nhiên, người ca không phải lúc nào cũng bị ràng buộc theo khuôn.

    Trong bản vọng cổ, có một số chỗ ở cuối câu người ca bắt buộc phải giữ đúng nhịp, còn lại trong lòng bản thì người ca được tự do sáng tạo : sắp chữ, ca nhanh, ca chậm, ca dồn … Chính nhờ có sự tự do này, mà người ca có điều kiện thể hiện cái riêng của mình. Có người ca đúng theo khuôn bốn nhịp, có người ca tự do trong lòng bản miễn sau giữ được nhịp ở cuối câu.

    Vọng cổ xuất thân bình dân nên đương nhiên cái hồn của nó là chân phương. Thế nhưng, người ca tùy theo giọng ca, cách ca mà thêm thắt, lạng bẻ, vuốt chữ, ca trầm ca bổng… để tô điểm thêm màu sắc cho bài ca. Thế nhưng, sự điểm tô không được quá đà, mà phải làm sao đảm bảo được cái hồn chân phương của vọng cổ.

    Tức là, ca vọng cổ thì phải “chân phương hoa lá”. Điều đó hoàn toàn tương thích với bản tính người Nam Bộ. Người miền sông nước Cửu Long vốn bình dân, xuề xòa, thích phóng túng tự do, rất lãng mạn, nhưng luôn coi trọng sự chân thành và nặng tình nặng nghĩa. Tức là người miền Nam cũng có cải bản tính “chân phương hoa lá” như bài vọng cổ vậy.

    Giọng ca Út Trà Ôn tương thích hoàn toàn với yêu cầu của bản vọng cổ. Út Trà Ôn ca chân phương, mùi mẫn, hùng tráng, âm vực rộng, không ngân mà thường "hơ" đúng chất đờn ca tài tử. Cách phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Nghe Út Trà Ôn ca người nghe không cần nhìn ông diễn cũng có thể cảm nhận được rõ ràng sắc thái tình cảm mà người viết gửi gắm, người nghe không còn chú ý đến nhịp nhàng tới câu mấy nữa, mà bị ru hồn bởi nội dung bài hát mà ông “tự sự” và bởi kỹ thuật ca điêu luyện, cách xếp chữ và ca chẻ nhịp độc nhất vô nhị.

    Vua soạn lời vọng cổ Viễn Châu nhận xét về giọng ca Út Trà Ôn như sau: “Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm được tròn vành rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp …. Nếu lắng nghe Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã chất chứa sự giàu có của làn hơi”.

    Nếu nhắc đến Vọng Cổ lập tức người yêu thích hay không yêu thích cổ nhạc đều nghĩ ngay đến bài Tình anh bán chiếu, mà hễ nhắc đến Tình anh bán chiếu thì lập tức nghĩ đến Út Trà Ôn và Viễn Châu. Tên tuổi Út Trà Ôn trước khi đến với bài Tình anh bán chiếu cũng đã có tiếng rồi, thế nhưng với bài Tình anh bán chiếu thâu ở hãng đĩa Hồng Hoa, giọng ca Út Trà Ôn đã thật sự làm chấn động làng cổ nhạc, và bài ca này đã làm bất tử tên tuổi của ông.

    Ngoài Tình anh bán chiếu, Út Trà Ôn còn để đời vô số bài vọng cổ khác, có thể kể ra một số sau đây: Sầu vương biên ải, Tôn Tẩn giả điên, Trụ Vương thiêu mình, Gánh nước đêm trăng, Ông lão chèo đò, Gánh chè khuya, Tình người phu xe, Kiều Phong A Tỷ … Đây là những bài ca mà Út Trà Ôn đã để lại cái bóng quá lớn cho thế hệ sau.

    Mấy năm gần đây, nữ nghệ sỹ Diệu Hiền nổi danh với vài Trụ Vương thiêu mình của soạn giả Viễn Châu. Thế nhưng, mỗi khi bắt đầu ca, nghệ sỹ Diệu Hiền đều bộc bạch cùng khán giả rằng: “Đây là bài ca mà sư phụ Út Trà Ôn đã thể hiện thành công hồi hơn 40 năm về trước”. Đó là sự tri ân của thế hệ học trò đối với “sư phụ” Út Trà Ôn, cũng cho thấy dấu ấn quá lớn của Út Trà Ôn trong lòng thế hệ sau.

    Cái gien ca vọng cổ của Út Trà Ôn đã được truyền lại cho người con gái út của ông, ca sỹ Bích Phượng. Đúng với câu “cha nào con nấy”, nếu Út Trà Ôn thống lĩnh bên lĩnh vực vọng cổ, thì Bích Phượng hiện cũng là bậc thầy về dân ca Nam Bộ. Bích Phượng ca vọng cổ cũng rất hay: giọng ca ngọt ngào đậm chất Nam Bộ, cách phân nhịp và điều hơi rất giống Út Trà Ôn. Bích Phượng tâm sự là do mê giọng ca của ba mình từ lúc nhỏ, nên nó thắm vào người lúc nào cũng không hay.

    Giữ gìn nét chân phương của vọng cổ

    Út Trà Ôn đã thành danh hơn 70 năm, nhưng giọng ca và cách ca của ông vẫn thống trị làng vọng cổ. Đó là một giọng ca chuẩn mực nhất thể hiện được trọn vẹn tính “chân phương hoa lá” của bản vọng cổ. Giọng ca Út Trà Ôn là một lời khẳng định thuyết phục nhất cho tính cần thiết phải lấy chân phương làm gốc trong bản vọng cổ.

    Nói một cách cụ thể hơn, đó là phải thể hiện cái hoa lá trên nền tảng của chân phương. Ngày nay, có một số nghệ sỹ cải lương, hoặc do mới vào nghề còn trẻ tuổi nên thích khoe giọng, hoặc do đã có thâm niên nghề nghiệp và có danh hiệu này nọ, nên muốn phô trương tài năng, do đó khi ca vọng cổ đã thể hiện quá điệu đà, làm mất đi cài hồn của bản vọng cổ.

    Nói như vậy không có nghĩa là người nghệ sỹ chỉ chăm chăm vào cái tính chân phương mà bỏ đi phần hoa lá, mà phải biết dung hòa thế nào cho vừa phải, cho phù hợp, tức đảm bảo được cả chân phương và hoa lá, và lấy chân phương làm nền tảng. Để tóm lược về cái hồn cần thể hiện của bài vọng cổ, xin dẫn lời của nhà nghiên cứu Sơn Nam như sau :

    “Bản vọng cổ Bạc Liêu như bức chân dung không bao giờ vẽ xong. Nó giống như bức tranh tố nữ chỉ có đôi mắt u buồn là rõ rệt; mái tóc, làn môi, nếp áo thì để chìm trong sương khói, mặc cho ai thêm bớt tô điểm thế nào cũng được”. Người nghệ sỹ giống như là họa sỹ đứng trước bức tranh tố nữ đó, nên có quyền thêm thắt tô điểm, nhưng đừng quên rằng đó là bức tranh tố nữ, nên mọi sự thêm thắt phải làm sao cho bức tranh vẫn còn là tranh tố nữ chứ không biến dạng thành một cái gì khác!

    TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    ... lâu ghê không gặp chị Bảy kề từ Đặc Trưng đổi thành Phố Rùm ... TH (Hoàng Thu Diệp) kính thăm chị, chị vẫn khỏe và còn hát cải lương chứ ... tình thân [:)]
    Mây thiếu gió, mây buồn rơi xuống thấp
    Gió thiếu cây, há được gọi cuồng phong
    Cây thiếu hoa, sao tránh khỏi thẹn lòng
    Hoa thiếu bướm, hoa thẫn thờ rũ cánh

    Đăng nhập để trả lời
    0
    Trong forum VNTQ minh khong con TOPIC THƠ NÀO CA HUHU [;)]

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.03.2021 12:18:47 bởi Ct.Ly>
    Chào chi6 Việt Dương Nhân trở lại VNTQ
    Nhưng bài đăng của chị cũng còn mà, tại chị bỏ lâu quá nên nó chìm xa lắm á
    Đây là 4 topic thơ của chị đây
     
    Tứ_Linh_Thi_ViệtDươngNhân  Thương Về Quê Mẹ  
     :: TÂM ::  
    Tôn Vinh ''Thơ''  
     
     Thơ Việt Dương Nhân  
     




    Đăng nhập để trả lời
    0

    ::: TÂM :::
    Thơ: Việt Dương Nhân
    Tâm bất dục, Tâm tươi, Tâm sáng,
    Tâm dục tình như áng mây đen,
    Tha Tâm ngăn chận đảo điên,
    Bình Tâm thanh thản an nhiên giữa đời.
    (Ivry sur Seine, 1993)

    Chổi Tâm

    Chổi tâm quét dọn bao lần
    Gió-đời-tám-ngọn sao còn đâu đây ?
    Mắt nhìn tan hợp áng mây
    Vô-thường, huyển hóa đêm ngày trôi qua

    Có gì để dạ xót xa
    Cho lòng chao động, lệ sa mi huyền
    Bao năm học Đạo, Phật truyền
    Thấm nhuần Bát-Nhã, đưa thuyền qua sông.
    (Bạch-am, chiều đông 09-02-2003)

    Mài Tâm

    Thắm thoát trôi. Trôi mấy mươi năm.
    Vẫn tay cầm bút viết âm thầm.
    Văn chương chữ nghĩa không thông suốt.
    Vậy mà mãi moi óc mài tâm ! ! !
    (Chuyến đi thăm Philippe-Trí-Tâm - Los-Angeles, hotel Sofitel, chiều 20-09-1996)

    Bình Tâm
    Kính dâng Thầy Thích Minh T.

    Bạch thầy con tỉnh mộng rồi
    Mới hay là gió giữa đời bay nhanh
    Cố quên những chuyện quẩn quanh
    Giữ tâm Bình-Lặng cầu lành nơi-nơi.

    Xả Tâm

    Hạ bút...
    Xả-tâm con viết gởi Thầy,
    Thân con Tứ-Đại dạn dày gió sương.
    Thăng-trầm xuôi ngược mười phương,
    Ngày nay xin gởi khói hương nương nhờ.

    Nhứt tâm con nguyện tôn thờ,
    Như-Lai Tam-Bảo đợi chờ mãn viên.
    Khổ đau tai nạn triền miên,
    Đó là con bước vào miền nước TU...
    (Tư gia T. Nga - Germany, Hamburg S.M., hè 15-08-1995)

    Rửa Tâm

    Nhứt nhứt, như như chùi rửa tâm,
    Hằng ngày niệm niệm Quán-Thế-Âm.
    Cho lòng không nổi cơn sóng gió,
    Thân xác được êm lúc 'nghỉ nằm'.
    (Ivrys/Seine, mùa Vu-Lan 16-8-2000)

    Hoa Tâm

    Sáng nay bỗng thấy một cành Hoa
    Từ xa ẩn hiện bay là đà
    Cánh hoa màu trắng trong tinh khiết
    Tạm gọi : "Hoa Tâm" cõi Ta-bà...

    Gươm Tâm

    Bao lần nắm lưỡi Gươm Tâm
    Chặt Anh tham dục, chặt Em tham tiền
    Chặt bao tình ái cuồng điên
    Chặt luôn những sợi ưu phiền đứt tan.
    (Bạch-Am, 11 giờ 55 sáng 18-2-2000)

    Tâm Nguyện

    Nhục-vinh lên xuống bao lần
    Áo thô, áo gấm cõi trần đã qua
    Ngày nay ta hỏi cùng ta
    Làm sao ở lại thiết tha với đời ?

    Mong tất-cả cõi đời êm đẹp
    Dẹp tình riêng, lòng tặng người-người
    Có bao nhiêu tỷ trên đời
    Bấy nhiêu Tâm-Nguyện cầu người bình-an...
    (France, Ivry s/Seine, đêm 22-08-1990)

    Bồ-Đề-Tâm

    Tiếng chuông mõ vang vang đây đó
    Hòa nắng vàng cây cỏ mừng vui
    Xuân sang hoa lá xinh tươi
    Động hồn thi sĩ, Tâm khơi Bồ Đề.

    Hạ bút đề năm ba câu kệ
    Mộng hồng trần nhân thế dứt mê
    Cùng chia vui khổ vạn bề
    Cuối đường chung cuộc cận kề Tòa Sen.

    Giữa cảnh đời bao phen lận đận
    Tìm nẻo tu lẫn tránh mây mù
    Vầng Dương tan biến si, ngu
    Tham-Sân ấy là, ngục tù nhốt tâm.

    (France, Villemomble, tư gia Hồng-Lộc, xuân 14-05-1999)

    Việt Dương Nhân




    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.03.2021 13:21:21 bởi Viet duong nhan>
    Cám ơn Lỵ Ở đây Bảy trả lơi bai viết được. Trong Trang Thơ Sáng Tác thì không được [:)]
    Bonne jouree em.
     
    http://diendan.vnthuquan....rofile.aspx?memid=4536

     

    Blog_vdn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    «« « 3 4 5 6 7 » »»