Diễn Đàn » Tác giả người Việt

MÙA XUÂN CHÍN-MỘT MÙA XUÂN ĐẦY MÀU SẮC VÀ ÂM THANH

1 trả lời, 1.953 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-18 17:26:00Thanh Công>
                                                   MÙA XUÂN CHÍN-MỘT MÙA XUÂN 
                                                        ĐẦY MÀU SẮC VÀ ÂM THANH
 
            Vườn thơ của Hàn “rộng rinh không bờ bến”. Ở đó, không chỉ có những vần thơ đau thương, kì dị, điên cuồng, tuyệt vọng mà còn có cả những vần thơ đầy thơ mộng, trong sáng, yêu đời… viết về cảnh quê, tình quê. Bài thơ Mùa xuân chín là một trong những bài thơ thuộc loại đó mà Hàn hiến dâng cho đời.
          Mùa xuân được nhà thơ cảm nhận bằng ánh nắng vàng. Nắng dịu dàng ấm áp. Mới chỉ là “nắng ửng” chứ chưa phải là nắng chói chang của mùa hạ. Ánh nắng được Hàn nhìn qua làn khói nhẹ, qua ánh vàng “lấm tấm” trên mái nhà nên càng gợi cảm và thơ mộng. Đây là cách nhìn nắng rất riêng của Hàn mà chúng ta đã từng bắt gặp trong cách “nhìn nắng hàng cau” (Đây thôn Vĩ Dạ).
        Cùng với màu vàng của nắng là màu xanh của đất trời, cây cỏ, của “tà áo biếc”… nhưng nhà thơ chỉ đặc tả màu xanh tươi mơn mởn, vô tận của “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”.
       Hàn tả màu xanh không phải để làm nền tôn màu trắng của hoa lê như Nguyễn Du trong Truyện Kiều mà để làm nổi bật màu xanh như ngọc của cỏ non dưới nắng vàng mùa xuân.
        Mùa xuân không chỉ đẹp. Mùa xuân còn là mùa của lễ hội, mùa của trai tài gái sắc đi chơi xuân.
Hàn Mạc Tử lắng nghe hơi thở thầm thì của mùa xuân. Từ âm thanh rất nhỏ của tà áo bay trong gió đến tiếng hát của các thôn nữ trên sườn đồi đều được nhà thơ ghi lại và làm nổi rõ. Phép đảo ngữ đưa “sột soạt” ra đầu câu và nghệ thuật nhân hóa “gió trêu tà áo biếc” tạo nên mối giao hòa giữa cảnh và người. Gió đồng cảm, chan hòa. Người phấn khởi, rạo rực, đắm say vừa dạo chơi vừa ca hát. Tiếng ca trong trẻo, du dương của họ được nhà thơ ví như “lời của nước mây” đang thầm thì, tha thiết…
        Thi nhân diễn tả lời hát vang vọng, vắt vẻo qua những sườn đồi, ngọn núi lúc to, lúc nhỏ, lúc khoan thai, êm ái lúc dồn dập thiết tha bằng các từ tượng thanh “hổn hển”, “thầm thĩ”. Đồng thời, đại từ “ai” được đặt trong ngữ cảnh trở nên cụ thể, xác định. Do đó, tiếng hát của các cô thôn nữ trở thành “lời của nước mây” đang thì thầm với mùa xuân, thì tầm với tình yêu.
        Trước cảnh xuân, tình xuân rạo rực, lòng người đi xa cũng bâng khuâng thổn thức nhớ lại những hình ảnh tươi đẹp của làng quê-nơi có bóng dáng người con gái đã từng làm trái tim anh thổn thức. Bằng việc sử dụng đại từ phiếm chỉ “chị ấy”, phép điệp vần “trắng”, “nắng”, từ láy “chang chang” và câu hỏi tu từ, hình ảnh người thương mà nhà thơ nhớ nhung hiện lên rất sống động, sắc nét.
       Mùa xuân chín là một bức tranh mùa xuân nơi thôn dã, tất cả đều đậm vẻ xuân: xuân trong cảnh và xuân trong lòng người. Xuân phơi phới, lòng người phơi phới. Đó là một mùa xuân tươi đẹp đầy màu sắc và âm thanh.
                            (Bài đã đăng báo Giáo dục & Thời đại số 61 tháng 5/2001)
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-23 08:52:33Thanh Công>
    NỖI BUỒN TRONG SÁNG CỦA THI NHÂN
 
     Nhà thơ miêu tả “con đường mùa đông” rất đặc trưng Nga trong một đêm trăng mờ. Con đường trắng xóa băng tuyết trải dài giữa thảo nguyên mênh mông và hoang vắng. Cũng có trăng nhưng không không phải là ánh trăng sáng “vằng vặc giữa trời”, hay ánh trăng hồn nhiên, vui tươi, nhí nhảnh “vào cửa sổ đòi thơ” mà là ánh trăng vô hồn, ánh trăng buồn bã đang uể oải chiếu sáng xuống cánh đồng buồn:
            Trăng buồn bã dội ánh sáng
            Lên cánh đồng u buồn.
     Giữa không gian hoang vắng và nhàn nhạt ấy chỉ có một cỗ xe tam mã đang lao vun vút trên con đường vắng. Cái vắng đến rợn người. Mọi dấu hiệu của sự sống như ánh lửa, mái lều… đều biến mất; thay vào đó là “rừng sâu” và “tuyết trắng”. Do đó âm thanh đều đều của tiếng lục lạc, lời ca trầm bổng của bác xà ích vang xa trong đêm vắng càng tạo cho cảnh thêm buồn, thêm cô quạnh.
     “Con đường mùa đông” trải dài trong cả hai chiều thời gian và không gian. Điều thú vị ở đây là trục thời gian có sự chuyển dời theo ánh trăng, theo sương mờ và theo hoạt động của bác xà ích thì trục không gian dường như bất biến. Thời gian dù có chuyển đổi từ lúc “mặt trăng nhô ra” đến lúc “sương mờ che lấp ánh trăng nghiêng” thì không gian vẫn “rừng sâu”, “tuyết trắng”, vẫn “không một ánh lửa, mái lều”… Vì vậy, “con đường mùa đông” còn có ý nghĩa tượng trưng. Phải chăng đó là con đường bế tắc của nước Nga sau thất bại của những người tháng chạp? Phải chăng đó là con đường “tẻ ngắt” của thi nhân?
     Các nhà thơ lớn thường mượn cảnh để ngụ tình, mượn không gian bao la, quạnh quẽ để giãi bày nỗi cô đơn, buồn bã, phẫn uất. Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du đã lấy cảnh “bốn bề bát ngát xa trông” ở cửa bể chiều hôm để diễn tả tâm trạng buồn, lẻ loi, đơn chiếc của nàng Kiều khi bị giam ở lầu Ngưng Bích. Còn ở đây, Puskin lại mượn cảnh “con đường mùa đông” lạnh lẽo, mịt mờ, xa thẳm để gửi gắm tâm trạng buồn, cô đơn, phẫn chí của mình. Lúc này, “Nhà thơ bị đày ải ở phương Bắc và luôn bị Nga hoàng ra sức mua chuộc, dọa nạt, bọn văn sĩ phản động ra sức tấn công, vu khống” (Nguyễn Hải Hà-Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục-Hà Nội 1978, tr, 39) nên âm hưởng chung của bài thơ là buồn. Cảnh buồn. Người buồn. Nỗi buồn ấy khi ẩn mình trong cảnh vật hoang sơ, giá lạnh của mùa đông Nga, khi hiện ra bằng ngôn từ miêu tả về vầng trăng “buồn bã”, về cánh đồng “u buồn”, về con đường “buồn tẻ’, về tiếng nhạc ngựa “đều đều mỏi mệt”, về không gian lạnh ngắt “không một ánh lửa, mái lều”… Đặc biệt nỗi buồn đó còn được bộc lộ trực tiếp thông qua lời thủ thỉ tâm tình với nàng Nhina yêu dấu của nhân vật trữ tình: “Chán quá, buồn quá… ngày mai, Nhina”.
     Có thể nói nỗi buồn thấm đẫm trong cả bài thơ từ hình ảnh, ngôn ngữ, âm điệu đến cảm xúc, nhưng đó không phải là nỗi buồn tuyệt vọng, buông xuôi mà là “nỗi buồn trong sáng” của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu tự do, yêu nước Nga tha thiết. Tình yêu ấy đã giúp nhà thơ cảm nhận được âm thanh ngọt ngào của làn điệu dân ca Nga từ lời ca của bác xà ích. Tính yêu ấy tiếp thêm sức mạnh giúp nhà thơ vẫn nghĩ về tình yêu, về cuộc đời và mơ ước về tương lai tự do, tốt đẹp, hạnh phúc…
 
        (Bài đã đăng Báo Giáo dục & Thời đại số 113, 2001)
Thah
Đăng nhập để trả lời
0