Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Thời đại thông tin

3 trả lời, 796 lượt xem — Trang 1 / 1



Thời đại thông tin



30/06/2008

Thời đại thông tin (4.39 MB) - Tải xuống (MP3)
Thời đại thông tin (4.39 MB) - Nghe trực tiếp trên mạng  (MP3)


Ngày nay, thông tin và công cụ để truyền đạt và xử lý nó đã trở thành mạch sống của nhân loại. Con người đã chứng tỏ rằng nếu thiếu xăng dầu, chúng ta có thể tạo ra những loại nhiên liệu thay thế khác, nhưng nếu thiếu thông tin, con người sẽ đứng trước những thảm họa khó lường, vì thông tin không phải sản phẩm của trí thông minh và tài năng sáng tạo. Trong câu chuyện 'Khoa học và Đời sống' hôm nay, Nguyễn Lê xin mang đến quý thính giả phần 1 trong loạt bài nói về lịch sử diễn biến của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ dẫn đến Thời đại Thông tin ngày nay. Bài này dựa trên tường trình của thông tín viên đài VOA Paul Thompson.
   






Một nhân viên của đài VOA lúc ban đầu
Truyền đạt thông tin luôn luôn là một hoạt động cực kỳ quan trọng. Trong suốt lịch sử lịch sử nhân loại, đã có một số thông tin được liệt vào hạng vô giá. Thiếu thốn thông tin thường gây ra những thiệt hại khổng lồ về tiền bạc, và có khi cả về sinh mạng.

Một thí dụ về chuyện này từng xảy ra gần thành phố New Orleans thuộc bang Louisiana của Hoa Kỳ. Lúc đó nước Anh và Hoa Kỳ đang có chiến tranh với nhau, gọi là cuộc Chiến tranh 1812. Trận New Orleans là một trận đánh nổi tiếng. Cũng giống như trong mọi trận đánh lớn khác, hàng trăm binh sĩ đã tử trận hay bị thương trong cuộc giao tranh này.

Sau khi chiến sự kết thúc, cả hai phe Mỹ lẫn Anh đều nhận ra rằng thật ra họ không cần phải đánh nhau. Trước đó hai tuần, các nhà thương thuyết của hai nước đã ký một hiệp ước hòa bình tại thành phố Ghent của nước Bỉ. Tuy nhiên tin tức về hòa ước này đã không tới được Hoa Kỳ trước khi binh sĩ hai bên đụng độ tại New Orleans. Trận đánh đó là một sự phí phạm khủng khiếp không cần thiết về nhân tài vật lực. Bao nhiêu con người đã phải hy sinh mạng sống một cách vô ích vì thông tin về hòa ước đã được truyền đi quá chậm.

Từ thuở sơ khai của lịch sử nhân loại, thông tin đã di chuyển theo tốc độ của ghe thuyền lướt sóng, tốc độ của ngựa phi, hay tốc độ của người đi bộ.

Con người đã thí nghiệm những phương cách khác để truyền đạt thông tin. Có người tìm cách dùng loài chim để mang các điện văn. Nhưng rồi họ khám phá ra rằng đây không phải là một cách an toan để gửi hay nhận thông tin.

Cuối cùng, một phương pháp nhanh chóng hơn đã xuất hiện với việc sáng chế máy điện báo. Những máy điện báo hữu ích đầu tiên được phát triển ở nước Anh và Hoa Kỳ trong thập kỷ 1830.

Máy điện báo là dụng cụ đầu tiên dùng dây kim loại và điện để truyền đạt thông tin. Máy điện báo gửi và nhận điện văn giữa hai địa điểm được nối với nhau bằng dây điện báo. Người ở một đầu đường dây sẽ gửi thông tin. Người ở đầu đường dây kia sẽ nhận thông tin.

Mỗi con chữ trong bảng chữ cái và mỗi con số phải được gửi riêng bằng một dụng cụ gọi là cần điện báo. Người thứ hai sẽ viết mỗi con chữ trên một tờ giấy khi nhận được nó. Những tín hiệu quý vị vừa nghe là tiếng máy điện báo truyền đi hai lần tên đài của chúng tôi là VOA.

Trong thập niên 1850, một người sử dụng cần điện báo vào hàng kiện tướng có thể gửi đi từ 35 đến 40 từ một phút. Muốn gửi đi nhiều thông tin thì phải mất nhiều tiếng đồng hồ. Mặc dù vậy, máy điện báo đã giúp cư dân trong các thành phố liên lạc với nhau nhanh hơn trước nhiều. Các trung tâm đô thị lớn được nối với nhau bằng đường dây điện báo. Chẳng bao lâu sau đó, máy điện báo đã có một ảnh hưởng to lớn đối với đời sống hằng ngày của con người.

Máy điện báo cung cấp thông tin về đủ mọi thứ. Chính phủ các nước, các doanh nghuiệp và cá nhân dùng máy điện báo để gửi thông tin. Đồng thời, báo chí cũng dùng máy điện báo để nhận những thông tin cần thiết để báo cho độc giả biết những gì đang xảy ra trên thế giới. Các nhật báo thường phát hành 4 hoặc 5 ấn bản mỗi ngày sau khi nhận được những thông tin về các sự kiện quan trọng qua máy điện báo. Thời đó, máy điện báo là phương tiện nhanh chóng nhất để gửi tin từ nơi này đến nơi khác.

Ngày 5 tháng 8 năm 1858, điện văn đầu tiên được chuyển đi bằng một đường dây cáp dưới đáy Đại Tây Dương. Đường dây cáp này nối liền Hoa Kỳ với Châu Âu bằng máy điện báo. Điều này có nghĩa là một sai lầm khủng khiếp như trận đánh New Orleans sẽ không xảy ra một lần nữa.

Những bản tin về các sự kiện thời sự hằng ngày ở Châu Âu bắt đầu xuất hiện trên các nhật báo Mỹ. Đồng thời, các tin tức về Hoa Kỳ cũng xuất hiện trên các nhật báo ở châu Âu. Lúc bấy giờ, thông tin chỉ mất vài tiếng đồng hồ để đến được hầu hết mọi thành phố lớn trên thế giới. Điều này đúng với những thành phố lớn được nối liền với nhau bằng các đường dây điện báo. Tuy nhiên, nếu quý vị sống trong một thị trấn nhỏ ở vùng nông thôn, cách xa một thành phố lớn nhiều kilomét, thì tình hình lại khác. Quý vị có thể sẽ nhận được tin tức chậm hơn một hay hai hôm, vì phải mất một hay hai hôm quý vị mới nhận được báo từ các thành phố lớn.

Ngày 2 tháng 11, năm 1920, đài phát thanh KDKA tại thành phố Pittsburgh, bang Pennsylvania, cho truyền đi chương trình phát thanh đầu tiên. Buổi phát thanh này loan báo kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm đó.

Chỉ trong vòng một vài năm ngắn ngủi, người ta đã có thể nghe được tin tức và thông tin ở bất cứ nơi nào nhận được sóng vô tuyến. Máy thu thanh - hoặc là cái đài -- không đắc tiền bao nhiêu. Do đó, hầu như ai ai cũng có ít nhất một cái đài. Các phóng viên đài phát thanh bắt đầu trực tiếp tường trình với thính giả từ các thành phố nơi đang diễn ra các sự kiện quan trọng.

Các nhà lãnh đạo chính trị nhận ra rằng máy thu thanh là một công cụ chính trị quý giá. Nó cho phép họ nói chuyện trực tiếp với công chúng. Nếu quý vị có một máy thu thanh thì quý vị không cần phải chờ nhận được báo hằng ngày mới biết được tin tức. Quý vị có thể đón nghe những tin tức về những sự kiện quan trọng khi chúng xảy ra.

Một vài người nhanh chóng nhận ra rằng thông tin là quyền lực. Trong thập niên 1930, nhiều nước bắt đầu kiểm soát thông tin. Chính phủ nước Đức Quốc xã là một thí dụ điển hình.

Trước và trong Thế chiến thứ hai, chính phủ Đức Quốc xã kiểm soát tất cả các thông tin mà nhân dân Đức nhận được. Chính phủ cũng kiểm soát tất cả các chương trình phát thanh và báo chí. Người dân Đức chỉ được nghe hay đọc những gì mà chính phủ muốn cho họ nghe hay đọc. Chuyện nghe đài phát thanh ngoại quốc là một hành động phạm pháp.







Truyền hình là một sáng chế mới xuất hiện sau Thế Chiến Thứ Hai
Sau Thế chiến thứ hai, một sáng chế mới xuất hiện, đó là truyền hình. Ở các quốc gia công nghiệp, truyền hình nhanh chóng trở thành phổ biến trong hầu hết gia đình. Những công ty lớn được thành lập để sản xuất các chương trình truyền hình. Những công ty này được gọi là những hệ thống, mỗi hệ thống bao gồm nhiều đài truyền hình liên kết với nhau và có khả năng phát chung một chương trình cùng một lúc.

Hầu hết các chương trình được thiết kế nhằm giúp vui người xem với các bộ phim truyện, các chương trình âm nhạc và các chương trình trò chơi. Tuy nhiên, các đài truyền hình cũng phát những tin tức và thông tin quan trọng về những sự kiện trên thế giới, và cũng có cả những chương trình có mục đích giáo dục nữa. Con số các đài phát thanh và truyền hình trên thế giới đã tăng lên rất nhiều, cho nên các nhà độc tài khó kiểm soát thông tin hơn trước.  

Trong thập kỷ 1950, có hai sự kiện quan trọng có ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự truyền đạt thông tin. Sự kiện thứ nhất là một buổi truyền hình cho thấy hình ảnh của miền duyên hải phía đông và miền duyên hải phía tây của Hoa Kỳ cùng một lúc. Một đường dây cáp chuyển tải những hình ảnh này nối liền hai vùng duyên hải. Nhờ đó, những khán giả xem chương trình truyền hình này nhìn thấy Thái Bình Dương bên góc trái của màn hình và Đại Tây Dương bên góc phải. Đây không phải là một phim tư liệu đã quay sẵn từ trước. Người xem có thể thấy các phóng viên nói chuyện với nhau mặc dù họ ở cách nhau một châu lục. Chính công nghệ hiện đại đã giúp họ làm được điều đó.

Sự kiện thứ nhì diễn ra vào ngày 25 tháng 9 năm 1956. Đó là lúc dây cáp điện thoại đầu tiên đặt dưới đáy Đại Tây Dương giúp người ta có thể gọi điện thoại trực tiếp từ Hoa Kỳ đến châu Âu. Chưa đầy 6 năm sau đó, vào tháng 7 năm 1962, vệ tinh viễn thông đầu tiên được đưa vào quỹ đạo trái đất. Một lần nữa, tốc độ truyền đạt thông tin lại được tăng lên gấp bội.

Vào năm 1900, các nhật báo của các thành phố lớn của Hoa Kỳ đã có thể cung cấp cho dân chúng những thông tin về các sự kiện vừa xảy ra chỉ vài giờ trước đó. Giờ đây, nhờ các vệ tinh viễn thông, cả các phương tiện phát thanh lẫn truyền hình đều có thể cung cấp thông tin tức thời. Dân chúng trong các làng xã nhỏ cũng có thể nghe hoặc xem các sự kiện trên thế giới ngay vào lúc chúng đang diễn ra.

Một thí dụ tiêu biểu là khi phi hành gia không gian Neil Armstrong của Mỹ trở thành con người đầu tiên lên tới Mặt Trăng, hàng triệu người trên khắp thế giới đã nhìn thấy cảnh ông thận trọng đặt chân lên nguyệt cầu vào ngày 20 tháng 7 năm 1969.

Dân chúng ở những thành phố lớn cũng như ở các thị trấn và làng xã nhỏ cũng nhìn thấy sự kiện này ngay lúc nó đang diễn ra. Thông tin này được truyền đi không một chút chậm trễ.  

Một vài năm sau khi Phi hành gia Neil Armstrong đặt chân lên Mặt Trăng, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ bắt đầu tiến hành một cuộc thí nghiệm, và cuộc thí nghiện này dẫn tới việc thiết lập một hệ thống có khả năng chuyển tải những số lượng thông tin khổng lồ đến khắp nơi trên thế giới trong vòng vài giây. Các chuyên gia gọi đó là sự khởi đầu của Thời đại Thông tin. Câu chuyện về cuộc thí nghiệm đó sẽ được chúng tôi mang đến quý vị trong câu chuyện 'Khoa học và Đời sống trong tuần tới.

 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-06-27-voa33.cfm
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0

Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin
SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 3/2006
NHỮNG PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐANG HIỆN RÕ KHẢ NĂNG ĐỊNH HÌNH LẠI XÃ HỘI TOÀN CẦU
Dale Peskin và Andrew Nachison

Mối quan hệ giữa giới truyền thông truyền thống và công chúng đang thay đổi, một xu hướng mà những chuyên gia về thông tin này gọi là “We Media” (Chúng ta – Giới truyền thông). Tiến trình báo chí đang xuất hiện này cho phép mạng lưới xã hội trên các trang Web sản xuất, phân tích và truyền bá những tin tức và thông tin tới công chúng được liên kết với nhau bằng công nghệ, mà không bị hạn chế bởi khoảng cách địa lý.

Dale Peskin và Andrew Nachison là Đồng Giám đốc và Giám đốc Trung tâm Truyền thông Reston, bang Virginia. Trung tâm bao gồm một nhóm chuyên gia về truyền thông hoạt động phi lợi nhuận, cam kết xây dựng một xã hội thông tin tốt hơn trong một thế giới được gắn kết lẫn nhau. Trung tâm là một phân hệ thuộc Viện Báo chí Hoa Kỳ.

 

Những đổi mới trong công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến với một kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông dân chủ, trong đó hầu như tất cả mọi người đều được tiếp cận tin tức và thông tin, và trở thành những người sáng tạo và đóng góp cho ngành công nghiệp báo chí. Nhờ đó, ngày nay, tin tức được truyền đi theo những cách thức phi truyền thống với những hệ quả không thể đoán trước được.

 

Những kiến thức về phương tiện truyền thông kỹ thuật số được chia sẻ, ảnh hưởng như thế nào tới những gì chúng ta biết và cách thức chúng ta biết? Những người viết và những người kiểm soát nội dung các câu chuyện sẽ xử sự ra sao khi bất kỳ ai cũng có thể là nhà báo, là nhà xuất bản hay là người lưu trữ thông tin? Đâu là những tác động đối với xã hội toàn cầu của chúng ta?

 

Những câu hỏi này chính là trung tâm của “We Media” - một cụm từ mà Trung tâm Truyền thông đã nghĩ ra cách đây bốn năm để mô tả hiện tượng đang xuất hiện là khả năng tiếp cận mang tính toàn cầu nội dung từ những nguồn vô tận, những nội dung cho phép tăng cường sự tham gia của công chúng vào lĩnh vực tin tức và thông tin có ảnh hưởng tới xã hội.

Google là một biểu hiện của hiện tượng này. Công cụ tìm kiếm trên Internet không chỉ tổ chức thông tin của thế giới mà còn cho phép các cá nhân kiểm soát các thế giới của họ. Họ được trang bị để tìm kiếm và tìm thấy thông tin mà cá nhân họ cần và để hành động. Sự tiếp cận với tin tức và thông tin của cá nhân không còn bị quyết định bởi những tập đoàn hùng mạnh có quyền và tiền để thống trị việc truyền tin.
 
Các trang nhật ký web là một biểu hiện khác. Những trang ghi chép trực tuyến này liên kết các cá nhân trên khắp thế giới và ý tưởng của họ lại với nhau. Những trang như Tiếng nói Toàn cầu
(http://www.globalvoicesonline.org) tập hợp những câu chuyện và quan điểm của những người dân bình thường: những con người thực trong những tình huống và nền văn hóa cụ thể kể chuyện bằng tiếng nói của chính họ. Vì vậy, tính hấp dẫn chính là sức mạnh của chúng mà các trang tin Internet, chẳng hạn như http://technorati.com được tạo lập để theo dõi hơn 25 triệu câu chuyện viết trên Internet - chiếm khoảng ¼ số những tờ báo điện tử thuộc hệ thống báo điện tử toàn cầu.

 

Biểu hiện thứ ba là sự gia tăng của các kênh truyền hình vệ tinh quốc tế. Sự dân chủ hóa các phương tiện truyền thông đã làm cho sóng radio được mở mang tới mọi nơi. Với công nghệ kỹ thuật số chi phí thấp và việc phát sóng nhờ vệ tinh, hơn 70 kênh phát sóng quốc tế đã vượt qua các biên giới để đưa tin tức với đủ mọi quan điểm tới mọi nơi trên thế giới. Đài BBC do chính phủ cung cấp tài chính, đã tạo dựng được một Đế chế Anh mới, với hàng trăm kênh và các địa chỉ trên Internet, vươn tới 100 triệu người trên khắp thế giới, và được dịch sang 43 ngôn ngữ. Đài Al-Jazeera bảo vệ sự tự do truyền thông và gây ảnh hưởng đến suy nghĩ của người A-rập tại một khu vực đầy bất ổn và hỗn loạn. Nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình sau này, trong năm 2006 Al-Jazeera đã đưa ra chương trình tin tức bằng tiếng Anh 24 giờ/ngày.

 

We Media cũng bao gồm sự xuất hiện khắp nơi của các phương tiện truyền thông cá nhân, kích thích sự kết nối thông tin hiệu quả nhất - lời nói. Tính đến cuối năm 2005, hơn 2 tỉ người, gần 1/3 dân số thế giới – đã có điện thoại di động. Gần 800 triệu điện thoại di động được bán ra mỗi năm trên khắp thế giới. Đến năm 2008, ước tính có khoảng 600 triệu người có thể ngay lập tức có được thông tin của các sự kiện nhờ có các camera kỹ thuật số tinh vi, trong đó phần nhiều là nhờ tính năng của những chiếc điện thoại di động của họ. Những công cụ này tạo ra một “thế hệ thông tin toàn cầu” có khả năng chưa từng có để tạo lập, sản xuất, chia sẻ và tham gia vào những gì đang diễn ra của cuộc sống. Mạng lưới toàn cầu cho phép con người đưa tin tức, suy nghĩ, ý tưởng và hình ảnh đi bất cứ đâu, vào bất kỳ thời điểm nào.

 

Biểu hiện quan trọng nhất của We Media là sự tham gia. Tất cả mọi người đều là một phần của câu chuyện. Tất cả mọi người đều có ảnh hưởng.

We Media được đánh dấu bằng mối quan hệ đang thay đổi giữa các tổ chức truyền thông truyền thống. We Media là một quá trình đang nổi lên, có xuất phát từ cấp thấp nhất, trong đó hầu như không có sự giám sát biên tập hoặc luồng báo chí chính thức có thể kiểm soát quyết định của nhân viên. Thay vào đó, nó là kết quả của nhiều cuộc đối thoại đồng thời được truyền đi mà có thể chúng thăng hoa hoặc nhanh chóng tiêu biến trong mạng lưới xã hội trên các trang Web.

 

Hành động của một người dân hoặc một nhóm công dân, đóng vai trò trong quá trình thu thập, đưa tin, phân tích và truyền bá tin tức và thông tin sẽ là sự cạnh tranh đối với các tổ chức truyền thông và những nhà báo làm việc cho các tổ chức này. Tuy nhiên, mục đích có thể lại là giống nhau: cung cấp thông tin độc lập, đáng tin cậy, chính xác, trên nhiều lĩnh vực và các lĩnh vực có liên quan mà một nền dân chủ đòi hỏi.

 

Khi đã nằm bên ngoài nền báo chí truyền thống, We Media đã trở thành một hiện tượng không thể bỏ qua. Các cộng đồng, giới kinh doanh, các cơ quan chính phủ, các học giả, nhà báo độc lập, nhà bình luận, các trường dạy về báo chí và thậm chí cả những tổ chức truyền thông nữa cũng đang tham gia vào hiện tượng này. Nhiều dự án đã xuất hiện trong truyền thông chủ đạo. Chúng xuất phát từ kinh nghiệm đáng ngạc nhiên của Oh My News (http://english.ohmynews.com/) tại Hàn Quốc, nơi tổ chức hàng chục ngàn người đưa tin là công dân vào một hội, nơi mà chỉ một vấn đề cũng thường chiếm ưu thế trong các cuộc tranh luận chính trị. Ba năm sau khi được phát động, Oh My News được thừa nhận là đã lật đổ một chính phủ và làm suy yếu quyền lực của những ông trùm truyền thông của Hàn Quốc.

 

Nghề báo chí đáng tôn trọng cảm thấy mình đang ở trong một thời điểm hiếm có trong lịch sử, khi mà lần đầu tiên sự độc quyền của nó như là người canh giữ tin tức bị đe dọa bởi công nghệ và những đối thủ cạnh tranh mới và bởi chính độc giả mà nó phục vụ.

Những xu hướng này đã làm bùng lên cuộc tranh luận về những giá trị quan trọng của báo chí. Rõ ràng là, báo chí đang trong quá trình tự xác định lại mình, tự điều chỉnh trước những lực lượng gây rối. Điểm chính của cuộc thảo luận là những vấn đề gây nhiều tranh cãi về việc kiểm soát, độ tin cậy và khả năng sinh lời.

Liệu mọi người dân đều có thể là một phóng viên? Nhiều nhà báo truyền thống không công nhận vai trò của các nhà báo là những đối tượng tham gia như trên và mô tả họ, đặc biệt là những người viết trên các trang tin Internet, là những kẻ nghiệp dư ích kỷ, không có kỹ năng, những người không tuân theo các chuẩn mực của nghề báo như tìm kiếm sự thật, sự công bằng và khách quan. Ngược lại, những người này lại nhìn nhận giới truyền thông chủ đạo như là một câu lạc bộ của những kẻ kiêu ngạo, không cho người ngoài tham gia và đặt lợi ích cá nhân và sự sống còn về kinh tế lên trên trách nhiệm xã hội của một nền báo chí tự do.

 

Điều mà hầu hết các nhà báo truyền thống không hiểu được là, mặc dù những người tham gia nói trên thiếu kỹ năng hoặc không được đào tạo về nghề báo, song chính Internet lại hoạt động như là một cơ chế biên tập. Điểm khác biệt là việc biên tập được thực hiện từ nhiều phía, và thường là sau khi sự việc đã diễn ra chứ không phải là trước đó. Trong hệ thống thông tin này, người dân dựa vào nhau để đưa tin, truyền tải và hiệu chỉnh một câu chuyện khi nó tiếp diễn. Một câu chuyện không còn bị cố định bởi thời hạn hoặc lịch đưa tin, mà nó có cấu trúc và phát triển theo hình xoắn ốc qua nhiều hình thức truyền thông. Nó không còn thuộc về bất kỳ ai nữa ngoại trừ chính khán giả của nó.

 

Tính linh hoạt của cách tiếp cận này nhấn mạnh vào việc phát hành thông tin hơn là vào việc lọc thông tin. Những cuộc đàm thoại trong cộng đồng diễn ra để tất cả cùng chứng kiến. Ngược lại, những tổ chức truyền thông truyền thống được thành lập là để lọc thông tin trước khi phát hành chúng. Nhà biên tập và phóng viên cộng tác với nhau, song cuộc thảo luận giữa họ không được công khai cho công chúng biết hoặc tham gia.

Điểm khác biệt rõ thấy nhất giữa nền báo chí có sự tham gia của mọi người với nền báo chí truyền thống là cấu trúc và tổ chức tạo ra chúng. Hoạt động truyền thông truyền thống được tạo lập bởi những tổ chức có phân cấp, được thiết lập vì mục đích thương mại. Cách thức kinh doanh của nó tập trung vào lợi nhuận thu được từ quảng cáo. Nó coi trọng cách thức tổ chức công việc chặt chẽ, khả năng sinh lợi và sự vẹn toàn. Những cộng đồng được liên kết qua mạng coi trọng đối thoại, sự cộng tác và chủ nghĩa bình quân về khả năng sinh lời, tạo lập ra nền báo chí có sự tham gia của mọi người. Nền báo chí này không cần đến một nhà báo được đào tạo theo lối cổ điển làm người dàn xếp. Nhiều trang tin, diễn đàn và cộng đồng trực tuyến hoạt động hiệu quả mà không cần đến một người như vậy.

 

Có người coi sự phá vỡ các hình mẫu truyền tải và tiêu thụ thông tin truyền thống của các phương tiện truyền thông kỹ thuật số chỉ như việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh kinh tế, thông qua việc hủy diệt những công ty truyền thông và tạo ra những cơ hội kinh doanh mới cho thế hệ tiếp theo những người khổng lồ trong lĩnh vực truyền thông. Theo kịch bản này, những công ty như Google, MSN và Yahoo! thay thế những tờ báo, đài truyền hình, phát thanh, và những nhà xuất bản tạp chí địa phương như là người canh giữ mang tính thống trị những kiến thức về truyền thông của chúng ta.

Tuy nhiên, khái niệm thống trị cũng trở nên lỗi thời trong xã hội được kết nối. Các cá nhân có được khả năng chưa từng có, đó là cách thức và thời điểm họ tiếp cận thông tin và quyết định việc chia sẻ thông tin với ai. Như vậy, các phương tiện truyền thông kỹ thuật số sẽ cản trở lợi ích của bất kỳ tổ chức nào muốn có quyền lực và sự kiểm soát. Điều chúng ta biết là những thông tin mà chúng ta có thể tiếp cận đã từng phụ thuộc vào nơi mà chúng ta đã sống. Trong xã hội được kết nối của những người di cư toàn cầu, nguồn vốn xã hội của chúng ta có thể được mở rộng thông qua những mạng lưới cá nhân rộng lớn trải khắp toàn cầu.

 

We Media là một lực lượng sẽ sớm vượt quá ảnh hưởng của các tổ chức kiểm soát tin tức và thông tin. Nó gợi ra rằng, tiếng nói - thực, là một biểu hiện văn hóa của cá nhân - lại đang hồi sinh trong hoạt động của các phương tiện truyền thông của chúng ta.

 

Những ý kiến được trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

 
 
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0306_i.html
[/align]
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0



Thời đại thông tin - Phần II



09/07/2008

Thời đại thông tin - Phần II (4.62 MB) - Tải xuống (MP3)
Thời đại thông tin - Phần II (4.62 MB) - Nghe trực tiếp trên mạng  (MP3)


Các máy điện toán trên thế giới được nối liền với nhau trong một hệ thống liên lạc rộng lớn gọi là Internet. Trong câu chuyện 'Khoa học và Đời Sống' hôm nay, Nguyễn Lê xin mang đến quý thính giả bài thứ hai trong loạt bài nói về thời Đại Thông Tin, với những chi tiết liên quan đến quá trình xây dựng và phát triển của mạng Internet. Bài này dựa trên tường trình của Thông tín viên đài VOA Paul Thompson.







Trên 1 tỷ người trên thế giới được nối kết với mạng Internet bằng máy điện toánTrong bài trước, chúng tôi đã trình bày lịch sử phát triển của các phương cách truyền đạt thông tin trong thời kỳ đầu. Chúng tôi đã mô tả thiết bị đầu tiên có khả năng chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng từ nơi này đến nơi khác. Và chúng tôi cũng đã đề cập đến những buổi phát thanh và truyền hình sơ khởi và sự khởi đầu của hoạt động viễn thông qua vệ tinh.

Trong những năm đầu của thập niên 1970, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện một dự án mới. Trước hết Bộ kết hợp các trường đại học lớn có bộ phận nghiên cứu tiên tiến trên toàn nước Mỹ với nhau.

Các giáo sư tại nhiều trường đại học Mỹ làm công tác nghiên cứu cho chính phủ Hoa Kỳ. Bộ Quốc phòng muốn nối liền các trường đại học này để tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo sư hợp tác với nhau trong hoạt động nghiên cứu. Để thực hiện mục tiêu này, các quan chức Bộ Quốc phòng quyết định nối liền các trường đại học liên hệ với nhau bằng máy điện toán.

Các quan chức vừa kể tin rằng máy điện toán sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà nghiên cứu gửi những số lượng thông tin lớn từ trung tâm nghiên cứu này đến trung tâm nghiên cứu khác. Họ tin rằng họ có thể dùng máy điện thoại nối liền các máy điện toán tại các trường đại học này với nhau. Thực tế đã chứng minh là họ đúng. Việc gửi thông tin từ trường đại học này đến trường đại học  khác trở nên dễ dàng hơn. Các nhà nghiên cứu của các trường đại học làm việc với nhau trong cùng một dự án có thể chia sẻ với nhau những số lượng thông tin lớn một cách nhanh chóng. Họ không còn cần phải chờ đợi nhiều ngày để bưu điện chuyển tới cho họ một bản sao của những báo cáo khoa học.

Đây là cách hệ thống này hoạt động: Trước hết, máy điện toán được nối vào một máy điện thoại bằng một thiết bị gọi là môđem. Môđem này biến đổi những thông tin của máy điện toán thành những văn bản điện tử dưới dạng âm thanh. Những điện văn này chạy qua thiết bị điện thoại đến môđem ở đầu đường dây điện thoại bên kia. Môđem nhận diện văn này biến đổi các điện văn dưới dạng âm thanh trở về dạng thông tin mà máy điện toán có thể sử dụng được.

Thiết bị liên lạc điện tử hiện đại đầu tiên của thế giới, máy điện báo, chỉ gửi đi được mỗi lần một con chữ mà thôi. Nhưng máy điện toán có thể gửi hàng ngàn từ trong vòng vài giây.

Sự nối kết giữa các trường đại học nhanh chóng được mở rộng và bao gồm hầu hết các trung tâm nghiên cứu và các trường cao đẳng ở Hoa Kỳ. Những đường dây nối kết này trở thành những mạng lưới đại quy mô. Khi hai hoặc nhiều máy điện toán hơn được nối với nhau, chúng tạo thành một mạng lưới nhỏ. Chúng có thể được nối liền với nhau bằng một dây kim loại từ một máy điện toán này tới một máy điện toán khác, hay bằng một máy điện thoại. Một mạng lưới có thể được mở rộng ra trên bất cứ quy mô nào.

Thí dụ, chúng ta hãy bắt đầu với 2 máy điện toán đặt trong cùng một phòng tại một trường đại học, được nối liền với nhau bằng một dây kim loại. Tại một nơi khác trong trường đại học này, hai máy điện toán khác cũng được nối với nhau theo cùng một phương cách. Kế đó, cả bốn máy điện toán được nối với nhau bằng các môđem và một đường dây điện thoại được dành riêng cho các máy điện toán này sử dụng. Như thế là ta đã có một mạng cục bộ nhỏ gồm bốn máy điện toán.

Bây giờ, ví dụ mạng cục bộ này được nối bằng môđem của nó qua các đường dây điện thoại với một trường đại học khác cũng có bốn máy điện toán. Như thế chúng ta đã có một mạng gồm tám máy điện toán. Trường đại học kia có thể ở bất cứ nơi đâu, ngay cả ở cách xa hàng ngàn kilomét đi nữa. Giờ đây các máy điện toán này có thể gửi bất cứ loại thông tin nào mà một máy điện toán có thể nhận được, ví dụ như điện văn, báo cáo, hình ảnh, tranh vẽ, âm thanh. Những thông tin này được trao đổi một cách tức tốc.

Từ khi chúng được bắt đầu xây dựng, hệ thống các mạng lưới này đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Hiện nay, tên gọi chính thức của nó là Internet. Năm 1981, hệ thống liên lạc này nối kết 213 máy điện toán. Nhưng chỉ 9 năm sau đó, số máy điện toán được nối kết đã lên tới hơn 350,000. Ngày nay, theo các chuyên gia, trên 1 tỷ người trên thế giới được nối kết với mạng Internet bằng máy điện toán. Và các chuyên gia này nói rằng con số này sẽ tiếp tục tăng lên.

Hầu như tất cả các trường đại học lớn trên thế giới là thành viên của mạng Internet. Các trường đại học và cao đẳng nhỏ hơn và nhiều cơ sở giáo dục công lập hay tư nhân cũng vậy. Các tạp chí, nhật báo, thư viện, doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, và hộ gia đình cũng tham gia vào mạng luới này,







Công cụ tìm kiếm Google
Các chuyên gia về điện toán bắt đầu mở rộng hệ thống Internet trong những năm cuối của thập kỷ 1980. Hệ thống được mở rộng này gọi là World Wide Web, có nghĩa là mạng lưới toàn thế giới, được viết tắt ở đầu các địa chỉ trang web là www. Sự mở rộng này cho phép những người sử dụng máy điện toán dễ dàng tìm kiếm thông tin bằng cách dùng những phần mềm gọi là bộ trình duyệt.

Mạng www hoạt động nhanh đến mức nào trong hệ thống Internet? Sau đây là một ví dụ. Anh Nam dùng máy điện toán ở Cần Thơ. Anh muốn tìm kiếm thông tin về các trường đại học ở bang California của Hoa Kỳ. Anh Nam đánh hai từ 'California' và 'university', tiếng Anh có nghĩa là đại học, vào một công cụ tìm kiếm, như Google chẳng hạn.

Chỉ trong vài giây, máy điện toán cung cấp cho anh một danh sách các hệ thống đại học ở bang California. Trong danh sách này Anh Nam chọn xem những thông tin do một tổ chức nghiên cứu ở miền bắc California. Máy điện toán của tổ chức này ở San Francisco cung cấp cho anh thông tin về các trường đại học và cao đẳng trong khu vực lân cận, cho anh biết địa chỉ, lịch sử, và quy mô của các truờng này cùng những thông tin hữu ích khác.

Ngồi ở Cần Thơ, anh Nam xem các thông tin vừa kể trên máy điện toán của anh. Kế đó, anh in ra giấy một bản sao các thông tin đó. Chỉ trong vài giây, anh có một danh sách các cơ sở đại học ở San Francisco và vùng phụ cận, kèm với cả hình ảnh. Tất cả thời gian anh Nam phải bỏ ra để hoàn tất việc tìm kiếm thông tin này là chưa tới 5 phút.

Ai phải trả tiền cho hệ thống Internet? Đây là một vấn đề không dễ giải thích. Thật sự là mỗi mạng lưới, bất kể là lớn hay nhỏ, phải tự đài thọ lấy các phí tổn. Các mạng luới quyết định số tiền mà các thành viên của mạng phải trả để đài thọ cho những phí tổn của thời gian nối kết dịch vụ địa phương. Kế đó, tất cả các mạng luới lớn quyết định mỗi thành viên phải trả bao nhiêu để tham gia vào một mạng lưới lớn hơn bao gồm một khu vực lớn của nuớc liên hệ. Đến phiên mình, mạng khu vực này trả tiền cho mạng quốc gia để nhận được dịch vụ cần thiết.

Mỗi người có máy điện toán ở nhà phải trả tiền cho một công ty để được nối với mạng Internet. Các công ty này được gọi là công ty cung cấp dịch vụ Internet.

Công ty cung cấp dịch vụ Internet thường tính khoảng 20 đôla một tháng cho dịch vụ nối kết Internet theo tốc độ chậm. Một người sử dụng máy điện toán được nối kết bằng vô tuyến theo tốc độ cao thường phải trả ít nhất là 40 đôla một tháng. Dịch vụ nối kết vô tuyến thông thường nối máy điện toán với Internet bằng một thiết bị công nghệ đặc biệt gọi là router.

Trước đây Hoa Kỳ vẫn là nước có nhiều người dùng mạng Internet nhất thế giới. Nhưng hồi tháng Tư năm nay, báo Mỹ USA Today loan tin rằng hiện nay Trung Quốc là nước có nhiều nguời sử dụng Internet nhất. Theo ước tính của một nhóm nghiên cứu của Trung Quốc thì tính tới tháng 2 năm nay, có trên 220 triệu người Trung Quốc dùng Internet. Con số này tương đương với khoảng 17% dân số nước đó.







Tính tới cuối năm 2007, có 216 triệu người Mỹ dùng Internet, tức là 71% dân số Hoa KỳBáo USA Today cũng cho biết là, tính tới cuối năm ngoái, có 216 triệu người Mỹ dùng Internet, tức là 71% dân số Hoa Kỳ. Trang web có tên là Thống kê Internet Thế giới ghi nhận có nhiều nước khác có số người sử dụng Internet lên tới trên 60 phần trăm dân số của họ. Trong số những nước này có Nhật Bản, Đức, Anh, Australia và Nam Triều Tiên.

Các công trình nghiên cứu đã cho thấy phần lớn người ta dùng Internet để liên lạc và tìm kiếm thông tin. Trong đa số trường hợp, việc tìm kiếm thông tin đó dẫn tới việc mua các sản phẩm trên Internet. Hiện nay có nhiều người hơn bao giờ hết dùng máy điện toán cho mục đích thương mại điện tử, nghĩa là để mua bán sản phẩm bằng phương tiện điện tử.

Chính phủ một số nước cũng như một số tổ chức tư nhân và cá nhân đã phê phán mạng lưới Internet. Chính phủ một số nước không tin cậy Internet vì họ cho rằng khó có thể kiểm soát được những thông tin được đưa lên mạng. Nhiều quan chức chính phủ cáo buộc các nhóm cực đoan đã dùng Internet để phát tán những thông tin độc hại. Họ cho rằng những thông tin chính trị nguy hiểm nên bị cấm. Những nhóm khác thì lo ngại rằng khó bảo vệ được trẻ em tránh khỏi những thông tin và hình ảnh có tính cách khiêm dâm được đưa lên mạng. Họ cũng kêu gọi nên cấm các loại thông tin này.

Những người chỉ trích khác nói rằng càng ngày càng khó nhận ra loại thông tin nào trên Internet đáng được tin cậy, khó phân biệt được thông tin nào đúng, thông tin nào sai. Cũng có những người chỉ trích nêu lên sự kiện là Internet không còn là một diễn đàn để tự do trao đổi thông tin và ý kiến nữa. Họ nói rằng Internet đã biến thành một cửa hàng lớn để bán sản phẩm, dịch vụ và thông tin, Và họ muốn Internet chỉ được sử dụng vào mục đích nghiên cứu và giáo dục mà thôi.   
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-07-09-voa34.cfm
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0




Thời đại thông tin - Phần III


18/07/2008



Sự phát triển của mạng Internet đã dẫn tới sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới. Một số khá lớn những công nghệ mới này hiện đang được sử dụng để tạo ra những môi trường học tập rất có hiệu quả trong lãnh vực giáo dục. Trong câu chuyện 'Khoa học và Đời sống' hôm nay, Nguyễn Lê xin mang đến quý thính giả bài thứ ba và cũng là bài cuối cùng của loạt bài nói về Thời đại Thông tin, đề cập tới những ứng dụng của các công nghệ này ở cấp đại học. Bài này dựa trên tường trình của TTV đài VOA Jill Moss.







Giám đốc điều hành Facebook Mark Zuckerberg
Trong 2 bài trước, chúng tôi đã trình bày sơ lược lịch sử và sự quan trọng của thông tin. Chúng tôi cũng đã nói đến sự phát triển của mạng lưới Internet, một công cụ đã giúp cho hầu như bất cứ ai có một máy điện toán đều có thể chia sẻ những lợi ích của điều được gọi là Thời đại Thông tin.

Các công trình nghiên cứu cho thấy mạng lưới toàn cầu được giới trẻ yêu thích đặc biệt. Vì vậy, các trường đại học và cao đẳng đang chú ý đến những tiến bộ có thể thực hiện được trong việc học tập bằng cách sử dụng công nghệ giảng dạy dựa vào mạng lưới này. Ví dụ, Trường Đại học George Mason ở Thành phố Fairfax thuộc Bang Virginia của Hoa Kỳ huấn luyện cho các giáo sư của trường về công nghệ giảng dạy. Các giáo sư được học cách dùng những công cụ mới nhất của mạng lưới toàn cầu để nâng cao chất lượng lớp học.

Ông Rick Reo là một chuyên viên thiết kế công nghệ giảng dạy tại Đại học George Mason. Ông nói rằng nghề sư phạm đã bước vào thời kỳ Web 2 chấm 0. Ông giải thích, Web 2 chấm 0 là một thuật ngữ tiếp thị xác định sự đổi mới của mạng lưới toàn cầu từ khi thế kỷ 21 bắt đầu. Theo ông, bất cứ một công cụ nào được mạng lưới toàn cầu hỗ trợ mà có tính cách đáng chú ý, hữu ích, dễ học và miễn phí thì đều thuộc thế hệ Web 2 chấm 0.

Dịch vụ liên mạng xã hội là một công cụ như thế. Đây là một trang web giúp người ta tìm kiếm những người có cùng sở thích, tạo bản sắc cá nhân, trao đổi thông tin và cùng làm việc với nhau. Facebook và MySpace là hai trang Web liên mạng xã hội rất phổ biến ở Hoa Kỳ và trên thế giới.

Educause là một tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ việc sử dụng công nghệ thông tin trong lãnh vực giáo dục. Nhóm này nói rằng có tới 90 phần trăm sinh viên đại học Mỹ đã lập các trang Web Facebook. Các trang Web liên mạng xã hội cũng cung cấp một phương cách để tiếp cận với sinh viên bên ngoài lớp học. Chuyên viên thiết kế công nghệ giảng dạy Rick Reo nói rằng các sinh viên dùng Facebook hoặc MySpace thường xuyên ngang với việc mở hộp thư email của trường đại học của họ.

Đánh dấu địa chỉ Internet xã hội là một công nghệ thuộc thế hệ Web 2 chấm 0. Các giáo sư có thể dùng công nghệ này trong việc nghiên cứu riêng, nhưng nó cũng là một công cụ hữu ích trong lớp học. Khi quý vị lưu trữ địa chỉ một trang Web mà quý vị muốn vào xem lại trên máy điện toán của quý vị, quý vị đã đánh dấu địa chỉ này. Việc đánh dấu địa chỉ Internet xã hội cho phép người sử dụng lưu trữ nhiều địa chỉ được sưu tập để dùng riêng hoặc chia sẻ với người khác.

Khi quý vị đánh dấu một địa chỉ trang Web, quý vị cũng dùng một từ có tính cách mô tả để đặt cho nó một cái tên. Ví dụ, quý vị có đặt cho địa chỉ trang Web voatiếngviệt.com những cái tên như thông tin, tin tức, học, dạy, v.v. Tên địa chỉ giúp người sử dụng tổ chức, sắp xếp các địa chỉ trang Web một cách có hệ thống. Người sử dụng cũng có thể thấy được có bao nhiêu người đã dùng cái tên địa chỉ đó và có thể truy tìm tất cả các nguồn thông tin đã được đặt cho cái tên đó.

Chuyên viên thiết kế công nghệ giảng dạy Rick Reo nói rằng việc đánh dấu địa chỉ Internet xã hội đặc biệt hữu ích trong việc tạo ra một bộ sưu tập những nguồn thông tin để chia sẻ với những người khác. Ví dụ, một giáo sư môn sinh học có thể yêu cầu sinh viên của mình đánh dấu những địa chỉ trang Web nói về cây cối và bông hoa. Các sinh viên sẽ cùng làm việc với nhau để lập ra danh sách các địa chỉ này. Khi làm xong, các sinh viên sẽ có một nhóm những nguồn thông tin để giúp họ hoàn thành công việc nghiên cứu, học tập của họ.

Podcasting cũng là một công nghệ giảng dạy rất phổ thông. Từ podcasting này được tạo ra căn cứ vào cái tên của máy nghe nhạc iPod rất phổ biến của công ty Apple. iPod là máy nghe nhạc kỹ thuật số nhỏ cho phép người sử dụng nạp thẳng âm nhạc từ máy điện toán để nghe lại về sau.

Thuật ngữ podcasting ngày nay không còn chỉ liên hệ duy nhất với máy iPod, mà còn bao hàm bất cứ một kết hợp nào của các phần mềm và phần cứng khác nhau giúp người sử dụng nạp xuống những tệp âm thanh và điều khiển khi nghe lại những âm thanh đó. Bất cứ ai có một máy điện toán hiện đại đều có thể tạo ra, cung cấp và nạp xuống một chương trình podcast từ mạng Internet.

Podcasting cũng tạo thêm tính cách di động cho công tác giáo dục. Bằng phương pháp này, các thầy giáo có thể làm cung cấp các bài giảng cho những học sinh vắng mặt. Các chương trình podcast cũng cho phép học sinh-sinh viên nghe được ý kiến của các chuyên gia khác không phải là thầy dạy mình.







iPod của công ty Apple
Chuyên viên thiết kế công nghệ giảng dạy Rick Reo nói rằng Trường Đại Học George Mason là một trong số nhiều cơ sở giáo dục được gọi là “Đại học iTunes” trên thế giới. Công ty Apple đã cho phép các trường đại học sử dụng cửa hàng iTunes của họ trên mạng Internet. Các chương trình Podcast do các trường học tạo ra được lưu trữ trong các máy phục vụ của công ty Apple. Bất cứ ai cũng có thể nạp xuống các tư liệu giáo dục miễn phí từ cửa hàng iTunes của Công ty này. Các đại học Stanford, Yale, Duke và Viện Công nghệ Massachusetts-tức MIT-là những cơ sở giáo dục khác cung cấp các tư liệu bằng âm thanh hay hình ảnh cho mọi người nạp xuống miễn phí.  

Các chương trình podcast được nạp vào máy điện toán bằng một công nghệ được gọi là RSS. Nhiều người tạo thông tin trên mạng Internet cung cấp những thông tin đó một cách trực tiếp đến những người sử dụng công nghệ RSS. Trong ví dụ về vị giáo sư sinh học đã nêu trong một đoạn trước, giáo sư này có thể yêu cầu sinh viên của mình đăng ký để nhận các thông tin được cung cấp bằng công nghệ RSS bởi năm trang Web khoa học rất phổ thông. Để nhận được những thông tin này, các sinh viên cần đăng ký để nạp xuống một bộ đọc RSS miễn phí, tiếng Anh gọi là reader hay aggregator. Các công cụ truy tìm như Google và MyYahoo đều cung cấp các bộ đọc miễn phí.

Một khi các sinh viên đã đăng ký để có bộ đọc RSS, bộ đọc này phải được nối kết với những trang Web khoa học mà học ưa thích. Việc nối kết này được gọi là thuê bao. Đây là một công việc dễ làm; sinh viên chỉ việc tìm dấu hiệu RSS trên trang Web.

Công nghệ RSS giúp người sử dụng truy cập được những tư liệu mới trên các trang Web mà họ chú ý. Chương trình phát thanh bằng Anh ngữ đọc chậm của đài VOA cũng cung cấp các thông tin và tư liệu qua RSS. Muốn nhận được các thông tin này, xin quý vị vào địa chỉ voaspecialenglish.com, và http://www.voanews.com/vietnamese/rss.cfm của Ban Việt Ngữ.

Wiki - hay còn được gọi là công trình mở, cũng đã trở thành một công nghệ Web 2.0 phổ biến trong việc giáo dục. Chúng ta hãy quay lại với lớp học về sinh học của chúng ta. Giả sử vị giáo sư của lớp học quyết định đưa các sinh viên đi dã ngoại để thu thập cây cỏ và bông hoa. Trong trường hợp này, các sinh viên cần làm việc chung với nhau để quyết định phải mang theo những gì trong chuyến đi dã ngoại này. Ở đây, một wiki có thể giúp ích được cho họ. Wiki là một trang Web mà bất cứ ai cũng có thể tạo ra, biên tập hay thay đổi thông tin được thu thập trên trang này. Âm thanh, video và hình ảnh cũng có thể được thêm vào một wiki.

Wiki phổ thông nhất trên Internet là Wikipedia. Đây là một bách khoa toàn thư thông tin miễn phí về nhân vật, nơi chốn, sự vật, sự kiện và ý tưởng mà bất cứ ai cũng có thể viết, bổ chính, hay biên tập. Wikipedia được đưa lên mạng lần đầu tiên năm 2001. Ngày nay, trang Web này có trên 10 triệu bài viết bằng hơn 250 thứ tiếng. Trong số này có hơn 2 triệu bài bằng tiếng Anh. Mỗi bài được nối kết với những bài khác của Wikipedia hay của các trang Web khác.

Educause, một hiệp hội bất vụ lợi ở Hoa Kỳ chủ trương thăng tiến giáo dục đại học bằng cách thúc đẩy việc sử dụng công nghệ thông tin một cách thông minh, loan tin rằng Wikipedia là trang Web có nhiều độc giả vào hàng thứ 8 ở nước Mỹ. Các sinh viên đại học dùng nó làm công cụ nghiên cứu chủ yếu. Nhưng nó đã bị nhiều cơ sở giáo dục phê phán, bởi vì có thể có người đưa những thông tin sai lạc vào Wikipedia. Ví dụ, Phân khoa lịch sử tại Trường Đại học Middlebury ở Hoa Kỳ đã cấm sinh viên dùng Wikipedia làm công cụ nghiên cứu. Biện pháp này đã được đưa ra sau khi có nhiều sinh viên lập lại một thông tin sai lạc như nhau trích từ một bài viết trên Wikipedia.







Wikipedia là trang web có nhiều độc giả vào hàng thứ 8 ở nước MỹCác trường đại học khác đang dùng Wikipedia để dạy cho sinh viên cách viết về một đề tài mà không cần đưa ra một ý kiến cá nhân. Tại Trường Đại học Columbia ở Thành phố New York, các giáo sư đã cho sinh viên viết bài hay biên tập các bài cho Wikipedia để luyện tập cách viết một cách vô tư.

Có lẽ hình thức công nghệ Web 2.0 được nhiều người biết đến nhất là Web log-nhật ký Web - hay gọi tắt là blog, và người viết những nhật ký này được gọi là blogger. Theo tin tức cho biết thì hiện nay có hơn 100 triệu blog trên toàn thế giới. Một blog là một sưu tập những bình luận cá nhân trên mạng và những nối kết với các trang Web khác. Bất cứ ai cũng có thể tạo ra một blog bằng cách dùng những địa chỉ như blogger.com hoặc wordpress.com. Các blogger thường hoạt động chung với nhau trong những cộng đồng nhỏ. Họ đọc nhật ký của nhau, nối kết nhật ký cá nhân với nhau, hay đưa tin về những phát biểu của các blogger khác.

Mỗi nhật ký được đưa lên mạng đều có thể trở thành một cuộc thảo luận thông qua những nhận xét hay bình phẩm của người đọc. Có nhiều loại blog, kể cả blog cá nhân, blog chính trị, và bloc giải trí. Trong giới đại học, các giáo sư dùng blog để truyền đạt ý kiến của mình hay mở một cuộc thảo luận với các nhà giáo dục khác. Sinh viên cũng dùng blog để trình bày ý kiến cá nhân hoặc ý kiến chung của lớp học.    

Còn có nhiều cách khác để sử dụng công nghệ thông tin trong lãnh vực giáo dục. Chúng tôi chỉ mới đề cập đến một số ít những phương cách đó trong loạt bài nói về Thời đại Thông tin này. Ví dụ, còn có điều gọi là những thế giới ảo và trò chơi ảo, kỹ thuật xuất bản qua mạng, chia sẻ ảnh chụp v.v. Khi nói đến công nghệ thông tin trong lãnh vực đại học, ông Rick Reo, chuyên viên thiết kế công nghệ giảng dạy tại Đại học George Mason ở Bang Virginia, cho rằng khả năng ứng dụng của nó là vô cùng vô tận.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-07-18-voa23.cfm
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0