Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Tìm hiểu kinh Viên Giác

2 trả lời, 407 lượt xem — Trang 1 / 1
KINH VIÊN GIÁC
Lời Nói Đầu
Mục Lục
I. Phần Dịch Nghĩa - Kinh Viên Giác
A. ChươngVăn Thù [/align] B. Chương Phổ Hiền [/align] C. Chương Phổ Nhãn [/align] D. Chương Kim Cang Tạng [/align] E. Chương Di Lạc [/align] F. Chương Thanh Tịnh Tuệ [/align] G. Chương Uy Đức Tự Tại [/align] H. Chương Biện Âm [/align] I. Chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng [/align] J. Chương Phổ Giác [/align] K. Chương Viên Giác [/align] L. Chương Hiền Thiện Thủ [/align] II. Phần Lược Giải [/align] Phần Lược Giải [/align] Mục Lục [/align] I. Phần Lược Giải [/align] A1. Lược Giải Đầu Đề [/align] A2. Lược Phân Nội Dung [/align] A3. Lược Ghi Dịch Giả [/align] A4. Lược Giải Chính Văn [/align] B1. Mở Đầu [/align] B2. Nội Dung [/align] C1. Chủ Yếu [/align] D1. Chương Văn Thù Nói Về Căn Bản Tu Chứng Viên Giác [/align] D2. Chương Phổ Hiền Nói Về Cách Thức Đốn Tu Viên Giác [/align] D3. Chương Phổ Nhãn Nói Về Cách Thức Tiệm Tu Viên Giác [/align] D4. Chương Kim Cang Tạng Nói Về Viên Giác Vĩnh Viễn Viên Giác [/align] D5. Chương Di Lạc Nói Về Chủng Tánh Tu Chứng Viên Giác [/align] D6. Chương Thanh Tịnh Tuệ Nói Về Đẳng Cấp Tu Chứng Viên Giác [/align] C2. Bổ Túc [/align] D1. Chương Uy Đức Tự Tại Nói Về 3 Mặt Thiền Quán Viên Giác [/align] D2. Chương Biện Âm Nói Về Cách Tu 3 Mặt Ở Trên [/align] D3. Chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng Nói Về Chướng Ngại Tu Chứng Viên Giác [/align] D4. Chương Phổ Giác Nói Về Bịnh Hoạn Tu Chứng Viên Giác [/align] D5. Chương Viên Giác Nói Về Sơ Khởi Tu Hành Viên Giác [/align]B3. Kết Thúc - Chương Hiền Thiện Thủ C1. Bồ Tát Hiền Thiện Thủ Hỏi [/align] C2. Đức Thế Tôn Đáp [/align] D1. Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu [/align] D2. Đáp 5 Câu Hỏi [/align] Đ1. Đáp Tổng Quát [/align] Đ2. Đáp 5 Câu Hỏi [/align] E1. Đáp Câu Hỏi Một [/align] E2. Đáp Câu Hỏi Năm [/align] E3. Đáp Câu Hỏi Hai [/align] E4. Đáp Câu Hỏi Ba [/align] E5. Đáp Câu Hỏi Bốn [/align] C3. Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú [/align] C4. Chư Thiên Thiện Thần Phát Nguyện Hộ Trì [/align] D1. Kim Cang Lực Sĩ [/align] D2. Phạn Vương Đế Thích [/align] D3. Ác Quỉ [/align] C5. Tất Cả Hoan Hỷ Phụng Hành [/align]
[/align]
Phần 1
Ghi Sau Khi Duyệt Viên Giác
Bằng nhiều cách nói, Viên giác cho thấy Tâm không chân không vọng. Mà toàn vọng là chân, toàn chân là vọng. Tâm là nước mà đang đóng thành băng, băng rã thì nước hoàn nước. Dẫn dụ này cho thấy tâm thức chính là viên giác.
Viên giác cho thấy tâm là cả thể. Tu học viên giác thì trước hết đừng nghĩ thân chỉ là tứ đại, tâm chỉ là duyên ảnh. Như vậy là thiền quán của viên giác đó.
Viên giác cho thấy toàn bộ thân cảnh là Thiền. Thiền dễ tu mà không cuồng nhất, là bánh xe 25. Theo đó, không môt đặc tính và sự dụng nào của đời sống mà tách rời viên giác, tách rời Thiền: "hãy y theo hạnh nguyện của Phật mà tập thành cá tính của mình".
Mồng 8 tháng 4, 2537.
Trí Quang        

Lời Nói Đầu
Viên giác là nói về tuệ giác viên mãn của Phật. Nên kinh này rõ ràng duyệt xét khá kyՠvề trí thức con người. Điều kỳ dị trong việc này là đối với trí thức ấy không công nhận mà có vẻ công nhận. Thí dụ chương Tịnh chư nghiệp chướng nói về sự tự ý thức tự ngã: tự biết mới hiện ra tự ngã, vậy là không công nhận, nhưng tự hiểu như vậy nên cũng hiểu tự ngã ấy không đáng nhận, vậy là có vẻ công nhận. Rồi tự biết, tự hiểu và tự rõ, tuệ giác, thì như khối nước đá bị đun sôi mà tự rã từ từ, cho đến rã hết, không còn chút nào để tự biết mình đã rã hết: nước đá đã trở lại nước, tự ngã đã hoàn nguyên viên giác. Như vậy thì sự ngộ nhập viên giác có thể bắt đầu ngay nơi sự tự ý thức tự ngã.
Rồi nói về thiền quán thì trong đó có cách bắt đầu của mặt cực động (chương Viên giác), lại có sự hóa hợp cả 3 mặt cực tĩnh, cực động và cực thuần (chương Biện âm). Sự hóa hợp ấy là tất cả đặc tính và sự dụng của mọi việc làm không rời viên giác. Còn cách bắt đầu mặt thiền quán cực động là tưởng nhớ Phật đà và Đại sĩ, và y theo hạnh nguyện của các ngài mà phát đại nguyện, thì tự huân tập thành cá tính của mình. Như vậy thì tức như sự đọc tụng giảng giải kinh Viên giác đây cũng là cách bắt đầu, không gần cũng xa, của thiền quán cực động, nếu trước khi làm đã sám hối và phát nguyện đúng như sự chỉ dẫn ở trong kinh này. Nên không ai không tu được thiền quán viên giác, cũng không ai tu thiền quán viên giác mà mắc cái bịnh tự tôn và lập dị.
Lời nói đầu ở đây chỉ ghi lại vài điều như vậy.
Tháng Sáu Bính Dần 2530 (1986).
[:)][:)][:)]

Đăng nhập để trả lời
0
KINH VIÊN GIÁC
Phần 2
B. Chương Phổ Hiền [/align] C. Chương Phổ Nhãn [/align] D. Chương Kim Cang Tạng [/align] E. Chương Di Lạc [/align] F. Chương Thanh Tịnh Tuệ [/align] [/align] Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Thế tôn nhập vào chánh định tên là Kho tàng ánh sáng vĩ đại của thần thông. Kho tàng ấy là chỗ ở giữ một cách sáng chói tôn nghiêm của các đức Thế tôn, là tính tuệ giác vốn rất trong suốt sạch sẽ của các loại chúng sinh. Đức Thế tôn nhập vào chánh định ấy nên thân thể và tâm trí đều vắng lặng, đồng nhất với bản thể phổ biến vũ trụ, nghĩa là thích ứng với sự bất nhị. Chính sự bất nhị này biểu hiện thế giới trong sạch. Đức Thế tôn ở nơi thế giới trong sạch này, và cùng ở với ngài có mười ngàn vị đại sĩ mà các bậc đứng đầu là bồ tát Văn thù, bồ tát Phổ hiền, bồ tát Phổ nhãn, bồ tát Kim cang tạng, bồ tát Di lạc, bồ tát Thanh tịnh tuệ, bồ tát Uy đức tự tại, bồ tát Biện âm, bồ tát Tịnh chư nghiệp chướng, bồ tát Phổ giác, bồ tát Viên giác, bồ tát Hiền thiêển thủ; các vị này, và các vị tùy thuộc, cùng nhập vào chánh định, nên cùng dự pháp hội bình đẳng của đức Thế tôn.
 
Chương Văn Thù
Lúc ấy bồ tát Văn thù ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, con xin ngài vì các vị đến dự pháp hội này mà nói về việc làm căn bản sơ khởi của đức Thế tôn là thế nào? Lại nói về các vị bồ tát ở trong đại thừa phát tâm như thế nào mới trong suốt, tách rời bịnh hoạn? Và thời kỳ cuối cùng, những người cầu pháp đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào kiến thức sai lầm? Tác bạch rồi, bồ tát Văn thù gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.
Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Văn thù: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể vì các vị bồ tát mà hỏi đến việc làm căn bản sơ khởi của Như lai, lại vì những người cầu pháp đại thừa trong thời kỳ cuối cùng mà hỏi làm cách nào để được sự trú ở chính xác, không sa vào kiến thức sai lầm. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Văn thù vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.
Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, đức Pháp vương vô thượng có pháp đại tổng trì danh hiệu là Viên giác, tuôn ra tất cả các pháp trong sáng là chân như, bồ đề, niết bàn và ba la mật, để dạy cho các vị bồ tát. Việc làm căn bản sơ khởi của chư vị Như lai là y theo viên giác ẫ y theo tuệ giác trong suốt và chiếu soi trọn vẹn ấy mà diệt trừ vô minh một cách vĩnh viễn, mới thành đạt tuệ giác Phật đà.
Thiện nam tử, vô minh là gì, là những sự thác loạn có từ vô thỉ đến giờ của các loại chúng sinh, những sự thác loạn tựa như một kẻ ngộ nhận thì bốn phương hướng biến đổi vị trí tất cả. Do đó mà ngộ nhận sự tổ hợp của bốn đại chủng làm tự thân, ngộ nhận sự nhận thức về sáu đối cảnh làm tự tâm, khác nào mắt bịnh thì thấy không gian có hoa đốm, hay thấy mặt trăng có mặt trăng thứ hai chồng lên. Nhưng không gian thật không có hoa đốm, hoa đốm chỉ do người bịnh ngộ nhận: vì sự ngộ nhận này mà không những ngộ nhận sự thực của không gian, lại còn ngộ nhận cả xuất xứ chính xác của hoa đốm, và vì như vậy mà có sự sinh tử luân hồi, có một cách không thật, nên mệnh danh là vô minh.
Thiện nam tử, vô minh như vậy là không phải có thật , y như nhân vật trong mộng, mộng thì thấy là có mà tỉnh thì biết là không -- Không đây là như hoa đốm mất đi trong không gian, thì không thể nói không gian có cái vị trí biến mất, vì lẽ không gian vốn không có cái vị trí sinh ra. Trong sự không sinh không mất như vậy, các loại chúng sinh thấy lầm có sinh có mất , nên gọi là sinh tử luân hồi ; còn việc làm căn bản sơ khởi của chư vị Như lai là tu theo viên giác : biết là hoa đốm thì biết sinh tử luân hồi là không, thân tâm lãnh chịu sự sinh tử luân hồi ấy cũng là không ẫ Không, không phải làm cho không đi mới không, mà là thực chất vốn không. Biết là hoa đốm, cái biết ấy cũng là không; cái biết cũng là không như vậy cũng chỉ là sắc thái hoa đốm; và như thế thì cũng không thể nói rằng không biết gì cả: có và không đều loại bỏ thì gọi là thích hợp với tuệ giác trong sáng. Tuệ giác trong sáng là vì bản thể vốn như không gian, vĩnh viễn bất động, nghĩa là Như lai tạng không có sự sinh ra và sự mất đi, không có cái thấy biết phản ảnh sự sinh ra và sự mất đi, mà là bản thể vũ trụ vốn tuyệt đối, trọn vẹn và phổ biến.
Như thế đó là việc làm căn bản sơ khởi của Như lai. Bồ tát y theo căn bản ấy mà ở trong đại thừa phát tâm trong suốt. Và những người thời kỳ cuối cùng y cứ căn bản ấy mà tu hành thì không sa vào kiến thức sai lầm.
Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.
Văn thù nên biết, [/align] tất cả Như lai [/align] căn bản sơ khởi [/align] vận dụng tuệ giác: [/align] biết rằng vô minh [/align] chỉ như hoa đốm [/align] nên hết luân hồi, [/align] khác nào cảnh mộng [/align] mộng mị thấy có [/align] thức tỉnh toàn không. [/align] Cái biết trên đây [/align] vốn cũng là không, [/align] bình đẳng, bất động, [/align] phổ biến mười phương: [/align] ấy là thành đạt [/align] tuệ giác Phật đà. [/align] Huyễn ảo biến mất [/align] thì không vị trí, [/align] tuệ giác thành đạt [/align] cũng vốn là không, [/align] vì lẽ bản thể [/align] vốn là tròn đầy. [/align] Y cứ vào đây [/align] các vị bồ tát [/align] có thể phát ra [/align] tâm đại bồ đề; [/align] những người sau này [/align] heo đây mà tu [/align] thì khỏi sa vào [/align] kiến thức sai lầm.[:D][:D][:D]
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0

Chương Phổ Hiền

Lúc ấy bồ tát Phổ hiền ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch : Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, con xin ngài vì các vị bồ tát trong đại hội này, lại vì những người tu hành đại thừa trong thời kỳ cuối cùng, mà dạy cho họ biết, nghe nói viên giác trong sáng như vậy thì tu hành cách nào: Nếu họ biết là huyễn ảo cả, thì thân thể và tâm trí cũng là huyễn ảo, làm sao đem huyễn ảo tu hành huyễn ảo? Nếu thực chất huyễn ảo là hủy diệt tất cả, thì thân thể và tâm trí cũng là không, như vậy ai là người tu hành để nói sự tu hành cũng như huyễn ảo? Nếu người tu hành cũng không,có nghĩa chúng sinh không tu hành, vĩnh viễn đắm mình trong cảnh huyễn ảo của thế giới sinh tử luân hồi, không hề thấu hiểu chân lý huyễn ảo, như vậy làm sao thoát được tư tưởng ngộ nhận? Con lại thỉnh cầu đức Thế tôn dạy cho những người sau này biết tu hành chánh định Như huyễn bằng phương tiện gì và thứ tự nào để vĩnh viễn thoát bỏ huyễn ảo? Tác bạch rồi, bồ tát Phổ hiền gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.
Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Phổ hiền: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể vì các vị bồ tát và những người sau này mà hỏi Như lai, rằng họ phải tu tập phương tiện và thứ tự của chánh định Như huyễn như thế nào để thoát bỏ huyễn ảo. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Phổ hiền vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.
Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, hết thảy huyễn ảo của chúng sinh đều phát sinh nơi viên giác -- nơi cái tâm vi diệu mà Như lai chứng ngộ, tương tự hoa đốm có trong không gian. Nhưng hoa đốm huyễn ảo thì hủy diệt mà không gian thì không hủy diệt: vô minh huyễn ảo thì hủy diệt vì thân tâm huyễn ảo, huyễn ảo hủy diệt mà viên giác bất động. Đối với huyễn ảo mà nói viên giác, thì viên giác ấy cũng là huyễn ảo; nói viên giác là có thì vẫn thuộc phạm trù huyễn ảo, nói viên giác là không thì cũng y như thế. Huyễn ảo hủy diệt mới là viên giác bất động. Thế nên hết thảy bồ tát, và những người sau này, phải thoát bỏ cho được mọi sự huyễn ảo.
Nhưng cố chấp ý thức thoát bỏ thì cái ý thức thoát bỏ này cũng phải thoát bỏ. Sự thoát bỏ cái ý thức thoát bỏ này cũng phải thoát bỏ. Và sự thoát bỏ cái sự thoát bỏ này cũng phải thoát bỏ. Không còn gì để thoát bỏ nữa thì mọi sự huyễn ảo hủy diệt. Ví như người kéo cây lấy lửa, hai cây cọ xát với nhau, lửa phát thì hai cây cháy cả, cháy đến khói cũng tản, tro cũng bay : đem huyễn ảo diệt trừ huyễn ảo cũng tương tự như vậy. Và huyễn ảo mất hết mà sự đó không nhập vào cái loại kiến thức sai lầm chủ trương mọi sự đều mất hẳn.
Thiện nam tử, biết là huyễn ảo thì thoát bỏ huyễn ảo, không làm phương tiện gì khác; huyễn ảo thoát bỏ thì viên giác trong sáng, không có thứ tự nào cả. Các vị bồ tát, và những người sau này, y theo sự chỉ dẫn trên đây mà tu hành mới vĩnh viễn thoát bỏ huyễn ảo.
Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.




Phổ hiền nên biết, [/align]
vô minh huyễn ảo [/align]
là có ở nơi [/align]
diệu tâm viên giác, [/align]
tương tự hoa đốm [/align]
có trong không gian, [/align]
hoa đốm hủy diệt [/align]
không gian bất động; [/align]
huyễn ảo phát sinh [/align]
ở nơi viên giác, [/align]
huyễn ảo hủy diệt [/align]
viên giác trọn vẹn, [/align]
vì lẽ viên giác [/align]
bản tính bất động. [/align]
Nên các bồ tát [/align]
và người sau này [/align]
thoát bỏ cho được [/align]
mọi sự huyễn ảo. [/align]
Huyễn ảo thoát bỏ [/align]
là như một kẻ [/align]
kéo cây ra lửa, [/align]
lửa phát cây cháy [/align]
cây cháy hết cả [/align]
lửa cũng không còn. [/align]
Viên giác thì không [/align]
phương tiện gì cả, [/align]
và cũng không cả [/align]
cái sự thứ tự. [/align]

 


Chương Phổ Nhãn

Lúc ấy bồ tát Phổ nhãn ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, con xin ngài vì các vị bồ tát trong đại hội này, và vì những người trong thời kỳ cuối cùng, chỉ dạy phương tiện thứ tự mà bồ tát tu hành: họ phải tư duy như thế nào? phải trú ở như thế nào? và truyền đạt như thế nào cho người chưa biết? Thưa đức Thế tôn, nếu họ không biết tư duy và trú ở chính xác theo phương tiện chính xác, thì nghe chánh định Như huyễn của đức Thế tôn dạy, họ sẽ mờ mịt, thác loạn, không thể nhập vào viên giác. Xin đức Thế tôn thương tưởng, vì chúng con và vì những người sau này mà chỉ dạy phương tiện ấy. Tác bạch rồi, bồ tát Phổ nhãn gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.
Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Phổ nhãn: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể vì các vị bồ tát, và những người sau này, hỏi Như lai về phương tiện thứ tự của sự tu hành: hỏi cách tư duy và cách trú ở của sự tu hành, hỏi cách truyền đạt những sự ấy. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Phổ nhãn vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.
Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, các vị bồ tát mới tu học, và những người thời kỳ cuối cùng, muốn phát hiện viên giác mà Như lai đã chứng ngộ thì phải có sự nhớ nghĩ chính xác, nhớ nghĩ về sự thoát bỏ huyễn ảo, bằng cách trước hết phải y cứ pháp hạnh xa ma tha -- pháp hạnh tập trung tư duy của Như lai, phải nghiêm giữ giới luật, sắp đặt đồ đệ cho yên, và thường ngồi trong phòng thất yên tĩnh, nhớ nghĩ luôn như thế này. Thân thể của ta đây chỉ là sự tổ hợp của bốn đại chủng: những gì cố thể thì thuộc về đất, những gì dịch thể thì thuộc về nước, những gì nhiệt lực thì thuộc về lửa, những gì động lực thì thuộc về gió. Nhưng bốn đại chủng ấy tách rời với nhau, thì gọi là cái thân là cái gì? Suy nghĩ như vậy thì biết cái thân ấy cứu cánh không có cá thể, chỉ là một hình thái tổ hợp, thực chất huyễn ảo.
Do bốn đại chủng làm những yếu tố tương quan mà tổ hợp lại một cách không thật nên có ra sáu giác quan, có cũng một cách không thật. Rồi sáu giác quan ở trong và bốn đại chủng ở ngoài tổ hợp với nhau mà có một cách không thật những sự vin theo đối cảnh, và tụ lại tựa như có ấn tượng: như thế giả gọi là tâm thức. Tâm thức không thật như vậy nếu không có sáu đối cảnh thì không thể có được. Nhưng bốn đại chủng phân tán thì sáu đối cảnh cũng không thể có. Đại chủng và đối cảnh phân tán thì rốt cuộc cũng không có tâm thức có thể tìm thấy.
Thiện nam tử, người ấy thấy thân thể như huyễn ảo hủy diệt thì tâm thức như huyễn ảo hủy diệt, tâm thức như huyễn ảo hủy diệt thì đối cảnh như huyễn ảo hủy diệt, đối cảnh như huyễn ảo hủy diệt thì sự hủy diệt như huyễn ảo cũng hủy diệt, sự hủy diệt như huyễn ảo cũng hủy diệt thì cái không phải huyễn ảo sẽ không hủy diệt, giống như lau gương, dơ bẩn lau hết thì trong sáng hiện ra: Phải biết thân tâm toàn là hình thái dơ bẩn, hình thái dơ bẩn diệt hẳn thì vũ trụ trong sáng.
Thiện nam tử, như khối ngọc trong suốt phản ảnh đủ cả năm màu, mỗi màu hiện một phía, vậy mà kẻ ngu dốt thì nói khối ngọc thật có năm màu. Tương tự như vậy, viên giác trong sáng ảnh hiện thân tâm thích ứng từng loại, vậy mà người ngu dốt nói viên giác thật có các hình thái thân tâm. Do đó mà họ không thể thoát bỏ huyễn ảo dơ bẩn, và, với họ, Như lai nói thân tâm đều là huyễn ảo dơ bẩn; đối lại, ai thoát bỏ huyễn ảo dơ bẩn thì Như lai gọi là bồ tát; và huyễn ảo dơ bẩn hết rồi thì sự đối lại cũng không còn: không còn dơ bẩn, không còn người thoát bỏ dơ bẩn, không còn người giả thiết tên gọi.
Thiện nam tử, các vị bồ tát, và những người sau này, khi thực hiện được trạng thái huyễn ảo hủy diệt, thì bấy giờ thấy sự trong sáng vô biên, được biểu hiện bởi viên giác trong sáng vốn như không gian vô hạn.
Viên giác trong sáng nên tâm thức trong sáng, tâm thức trong sáng nên sự thấy trong sáng: sự thấy trong sáng nên nhãn căn trong sáng, nhãn căn trong sáng nên nhãn thức trong sáng; nhãn thức trong sáng nên sự nghe trong sáng: sự nghe trong sáng nên nhĩ căn trong sáng, nhĩ căn trong sáng nên nhĩ thức trong sáng; nhĩ thức trong sáng nên sự hay và sự biết trong sáng, nghĩa là tyՍ căn tyՠthức, thiệt căn thiệt thức, thân căn thân thức và ý căn ý thức đều trong sáng cả. Căn và thức trong sáng nên cảnh trong sáng: sắc thanh hương vị xúc pháp đều trong sáng cả. Sáu cảnh trong sáng nên bốn đại trong sáng : đất nước lửa gió đều trong sáng cả. Bốn đại trong sáng nên mười hai xứ, mười tám giới, và hâm lăm hữu, đều trong sáng cả.
Các pháp trên trong sáng nên mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại trí, mười tám bất cọng pháp, bâm bảy bồ đề phần, cho đến tám mươi bốn ngàn tổng trì môn đều trong sáng cả.
Thiện nam tử, toàn bộ các pháp bản thể trong sáng nên một thân trong sáng, một thân trong sáng nên nhiều thân trong sáng, nhiều thân trong sáng nên cho đến mười phương chúng sinh toàn là viên giác trong sáng.
Thiện nam tử, thân trong sáng nên thế giới trong sáng: một thế giới trong sáng nên nhiều thế giới trong sáng, nhiều thế giới trong sáng nên cho đến cùng không gian mười phương và suốt thì gian ba đời toàn bộ đều trong sáng.
Thiện nam tử, không gian bất động, nên viên giác bất động, bốn đại bất động nên viên giác bất động, và y như vậy, cho đến tám mươi bốn ngàn tổng trì môn đều bất động nên viên giác bất động.
Thiện nam tử, viên giác trong sáng, bất động và phổ biến nên sáu căn phổ biến pháp giới, sáu căn phổ biến pháp giới nên sáu cảnh phổ biến pháp giới, sáu cảnh phổ biến pháp giới nên bốn đại phổ biến pháp giới, và y như vậy, cho đến tất cả tổng trì môn đều phổ biến pháp giới.
Thiện nam tử, viên giác phổ biến nên căn và cảnh không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau, căn và cảnh không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau nên cho đến hết thảy tổng trì môn đều không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau. Sự thể ví như hàng trăm hàng ngàn ngọn đèn chiếu sáng một phòng, ánh sáng ngọn đèn nào cũng phổ biến cả phòng mà không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau.
Thiện nam tử, bồ tát thành đạt viên giác như vậy, nên không buộc các pháp không mở các pháp, không chán sinh tử không ham niết bàn, không kính giữ giới không ghét phá giới, không trọng tu lâu không khinh mới học, vì lẽ toàn thể đều là viên giác. Sự thể ví như mắt thấy cảnh vật, sự thấy ấy thấy toàn diện mà không ghét không ưa, vì lẽ thực chất của sự thấy không có hai ý thức này.
Các vị bồ tát, và người sau này, tu tập mà thành đạt viên giác như vậy, thì đối với chính viên giác ấy đã không tu tập và không thành đạt, chiếu sáng một cách tròn đầy mà trong lặng, không có những khái niệm đối lập lẫn nhau. Chính trong cái trạng thái chiếu sáng này mà thấy hằng sa thế giới y như hoa đốm nổi lên hay mất đi với bao nhiêu là hình thái, thấy các pháp không dính líu không tách rời, không trói buộc không cởi mở, thấy chúng sinh vốn là Phật đà, sinh tử với niết bàn đều như giấc mộng. Vì đều như giấc mộng nên đối với sinh tử và niết bàn thì thấy không nổi không tan, không đến không đi; đối với chân lý sở chứng thì thấy không được không mất, không lấy không bỏ; đối với tuệ giác năng chứng thì thấy không làm không ngưng, không buông không dứt; đối với sự chứng ngộ thì thấy không năng chứng không sở chứng, cứu cánh không có sự chứng ngộ và người chứng ngộ. Thấy như vậy là vì toàn bộ các pháp đều bình đẳng và không phá hoại nhau.
Thiện nam tử, các vị bồ tát hãy tu hành theo phương tiện thứ tự như vậy: hãy tư duy như vậy, hãy trú ở như vậy, hãy đem những sự ấy truyền đạt cho người cầu pháp, thì những người này cũng không mù mờ, rối trí.
Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.




Phổ nhãn nên biết, [/align]
thân tâm chúng sinh [/align]
như huyễn ảo cả: [/align]
thân thuộc bốn đại, [/align]
tâm nhờ sáu cảnh; [/align]
bốn đại rời nhau [/align]
thì gọi cái gì [/align]
là sự tổ hợp? [/align]
Tu dần như vậy [/align]
tất cả trong sáng, [/align]
bất động, phổ biến, [/align]
không làm không ngưng [/align]
không buông không dứt [/align]
không người chứng ngộ. [/align]
Hết thảy thế giới [/align]
chỉ như hoa đốm [/align]
ở trong không gian, [/align]
quá khứ hiện tại [/align]
cùng với vị lai [/align]
bình đẳng tất cả, [/align]
cứu cánh không đến [/align]
mà cũng không đi. [/align]
Bồ tát mới tu [/align]
và người sau này [/align]
muốn được nhập vào [/align]
tuệ giác Phật đà [/align]
thì phải nỗ lực [/align]
tu tập như vậy. [/align]

[:D][:D][:D]
Đăng nhập để trả lời
0