[size=-1]BÀI THỨ BA [/size][size=-1][/size]
[size=-1]I. TÂM VƯƠNG (CÓ TÁM MÓN) [/size]
[size=-1]Tám món tâm này rất thù thắng,tự tại và tự chủ; cũng như vị Quốc vương, nên gọi là Tâm vương(nhứt thế tối thắng cố) [/size]
[size=-1]NĂM THỨC TRƯỚC [/size]
[size=-1](TIỀN NGŨ THỨC) [/size]
[size=-1]1. Nhãn thức: Cái biết của con mắt. Vì thức này nương Nhãn căn, khởi ra tác dụng phân biệt về sắc trần, nên gọi là "Nhãn thức". [/size]
[size=-1]2. Nhĩ thức: Cái biết củalỗ tai. Vì thức này nương Nhĩ căn, khởi ra tác dụng phân biệt về thinh trần, nên gọi là "Nhĩ thức". [/size]
[size=-1]3. Tỹ thức: Cái biết củamũi. Vì thức này nương Tỹ căn, khởi ra tác dụng phân biệt về hương trần, nên gọi là "Tỹ thức". [/size]
[size=-1]4. Thiệt thức: Cái biết củalưỡi. Vì thức này nương Thiệt căn, khởi ra tác dụng phân biệt về vi trần, nên gọi là "Thiệt thức". [/size]
[size=-1]5. Thân thức: Cái biết củathân. Vì thức này nương thân căn, khởi ra tác dụng phân biệt về xúc trần, nên gọi là "Thân thức". [/size]
[size=-1]Trong 8 thức Tâm vương. Vì 5 thức này ở bên ngoài và trước, nên cũng gọi là "Tiền ngũ thức" (năm thức trước). [/size]
[size=-1]KHI Ở ĐỊA VỊ PHÀM PHU NĂM THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Ba cảnh: Năm thức này chỉ có"Tánh cảnh" [/size]
[size=-1]2. Ba lượng: Năm thức này chỉ có"Hiện lượng" [/size]
[size=-1]3. Ba tánh: Năm thức này có đủ 3 tánh: Thiện,Ác và Vô ký. [/size]
[size=-1]4. Năm thọ: Năm thức này chỉ có 3 thọ: Khổ, Lạc và Xả thọ. [/size]
[size=-1]5. Ba cõi: Ở cõi Dục thì năm thức này đủ cả, đến cõi Sắc chỉ cỏn thức: Nhãn,Nhĩ và Thân; vì hai thức Tỹ và Thiệt không hiện hành(Nhãn, Nhĩ, Thân tam Nhị địa cư). [/size]
[size=-1]6. Chín địa: Năm thức này chỉ ở trong hai địa: 1. Ngũ thú tạp cư địa, tức là cõi Dục thuộc về Sơ địa. 2. Ly sanh hỷ lạc địa, ở cõi Sắc, thuộc Sơ thiền gọi là Nhị địa. [/size]
[size=-1]7. Năm mươi mốt Tâm sở: Năm thức này chỉ tương ưng 34 tâm sở: 5 món biến hành, 5 món biệt cảnh, 11 món Thiện, 3 món Căn bản phiền não, 2 món Trung tuỳ và 8 món đại tuỳ. [/size]
[size=-1]8. :Chín duyên:Nhãn thức đủ 9 duyên, Nhĩ thức chỉ còn 8 duyên (thiếu Minh), 3 thức Tỹ, Thiệt và Thân chỉ có 7 duyên ( thiếu Minh và Không ). [/size]
[size=-1]9. Thể: Thể của 5 thức này, chỉ có Tự tánh phân biệt, không có Tuỳ niệm phân biệt và Kế đạt phân biệt. [/size]
[size=-1]10. Tướng: Thức với căn khó phân (ngu giả nan phân thức dữ căn). [/size]
[size=-1]11. Nghiệp dụng: Duyên trần cảnh. Song 2 thức: Nhãn và Nhĩ phải cách trần cảnh mới phân biệt được. Còn 3 thức: Tỹ, Thiệt và Thân phải hiệp với trần cảnh mới phân biệt được. [/size]
[size=-1]KHI LÊN THÁNH VỊ NĂM THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Quán hạnh (tu): Khi lên Thánh vị, thì 5 thức này chuyển thành "Hậu đắc trí", và biến ra cái Tướng phần của 2 món chơn như (Sanh không chơn như và pháp không chơn như) mà quán (duyên). [/size]
[size=-1]2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí: Khi thức thứ 8 đã chuyển thành "Đại viên cảnh trí", thì các căn được vô lậu; lúc bấy giờ 5 thức này cũng được vô lậu và chuyển làm "Thành sở tác trí". [/size]
[size=-1]3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả vị Phật thì 5 thức này chuyển làm "Thành sở tác trí". Lúc bấy giờ nó có công dụng hoá hiện ra 3 loại thân để giáo hoá và dứt trừ các khổ sanh tử luân hồi cho chúng sanh. [/size]
[size=-1]BA LOẠI THÂN: [/size]
[size=-1]1. Thân Đại hoá tức là Thắng ứng thân. Thân này cao 1.000 trượng, để giáo hoá hàng Đại thừa Bồ Tát. [/size]
[size=-1]2. Thân Tiểu hoá tức là Liệt ứng thân. Thân này cao một trượng sáu thước, để giáo hoá hàng Tam hiền Bồ Tát cùng Nhị thừa và phàm phu. [/size]
[size=-1]3. Thân Tuỳ loại hoá. Thân này tuỳ theo loại chúng sanh mà hoá hiện. [/size]
[size=-1]* [/size]
[size=-1]Vì muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức Qui củ, Ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng tóm tắt lại 5 thức như sau. Hai bài tụng đầu là nói 5 thức này khi còn ở địa vị phàm phu, bài tụng thứ 3 là nói khi lên Thánh vị. [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ nhứt [/size]
[size=-1]Tánh cảnh, Hiện lượng, thông tam Tánh [/size]
[size=-1]Nhãn, Nhĩ, Thân tam Nhị địa cư [/size]
[size=-1]Biến hành, Biệt cảnh, Thiện thập nhứt [/size]
[size=-1]Trung nhị, Đại bát, Tham, Sân, Si [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Tánh cảnh, Hiện lượng, thông ba Tánh [/size]
[size=-1]Nhãn, Nhĩ, Thân ba ở Nhị địa [/size]
[size=-1]Biến hành, Biệt cảnh, Thiệt mười một [/size]
[size=-1]Trung hai, Đại tám, Tham, Sân, Si [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Trong 3 Cảnh thì 5 thức này chỉ có "Tánh cảnh"; trong 3 lượng nó chỉ có "Hiện lượng"; còn 3 Tánh thì nó đủ cả Thiện, Ác và Vô ký. [/size]
[size=-1]Ở cõi Dục là Sơ địa, thì đủ cả 5 thức. Lên cõi Sắc về Nhị địa, thì chỉ còn 3 thức là: Nhãn, Nhĩ và Thân. [/size]
[size=-1]Nói về Tâm sở, thì 5 thức này tương ưng với 34 món: 5 món Biến hành, 5 món Biệt cảnh, 11 món Thiện, 2 món Trung tuỳ, 8 món Đại tuỳ và 3 món Căn bản phiền não là: Tham, Sân, Si. [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ hai [/size]
[size=-1]Ngũ thức đồng y Tịnh sắc căn [/size]
[size=-1]Cửu duyên, bát, thất hảo tương lân [/size]
[size=-1]Hiệp tam, ly nhị, quán trần thế [/size]
[size=-1]Ngu giả nan phân thức dữ căn [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Năm thức đồng nương Tịnh sắc căn [/size]
[size=-1]Chín, tám, bảy duyên ưa gần nhau [/size]
[size=-1]Ba hiệp, hai rời, duyên trần cảnh [/size]
[size=-1]Ngu giả khó phân Thức và Căn . [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Căn, có 2 loại: 1. Phù trần căn:Căn thô phù bên ngoài. 2. Tịnh sắc căn: căn thanh tịnh tinh tế ở bên trong; cũng gọi là "Thắng nghĩa căn", vì căn này rất thù thắng. [/size]
[size=-1]Năm thức đều nương 5 căn Tịnh sắc và nhờ có các duyên mới sanh ra được. Như Nhãn thức nhờ 9 duyên, Nhĩ thức chỉ còn 8 duyên, Tỹ, Thiệt và Thân mỗi thức chỉ có 7 duyên. [/size]
[size=-1]Ba thức: Tỹ, Thiệt và Thân phải hiệp với trần cảnh mới duyên được; còn 2 thức là Nhãn và Nhĩ phải cách hở trần cảnh mới duyên được. [/size]
[size=-1]Chúng phàm phu và hàng Nhị thừa vì chấp pháp nặng nề, nên khó phân biệt cái nào là Thức và cái nào là Căn. Vì thế, mà cả hai đều bị gọi là "Ngu giả". [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ ba [/size]
[size=-1]Biến tướng quán không duy hậu đắc [/size]
[size=-1]Quả trung du tự bất thuyên chơn [/size]
[size=-1]Viên minh sơ phát thành Vô lậu [/size]
[size=-1]Tam loại phân thân tức khổ luân. [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Trí Hậu đắc biến tướng không, quán (duyên) [/size]
[size=-1]Khi chứng quả còn chẳng nói chơn [/size]
[size=-1]Viên minh vừa phát thành Vô lậu [/size]
[size=-1]Phân thân ba loại, dứt khổ luân. [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Năm thức này không có "Căn bản trí" mà chỉ có "Hậu đắc trí". Khi duyên chơn như thì nó chỉ biến lại tướng phần của hai món chơn như (Sanh không chơn như và Pháp không chơn như) mà duyên, chớ không thể trực tiếp thân duyên được; vì nó không có "Căn bản trí" nên không thể thân duyên. [/size]
[size=-1]Khi chứng được Thánh quả, cũng không thể nói "Năm thức này thân duyên được chơn như", huống chi là trong lúc tu nhơn. [/size]
[size=-1]Đến khi thức thứ Tám vừa chuyển thànhĐại viên cảnh trí (viên minh sơ phát) thì 5 thức này thành Vô lậu. Lúc bấy giờ, 5 thức này có công dụng hiện ra ba loại thân để hoá độ và dứt trừ các khổ sanh tử luân hồi cho chúng sanh. [/size]
[size=-1]Câu "Biến tướng không quán": Biến lại tướng chơn như mà duyên. Chữ "Tướng không" là tướng Ngã không và Pháp không tức là Chơn như (nhị không chơn như). Chữ "Quán" là duyên. Nghĩa là:Trí Hậu đắc này chỉ biến lại tướng chơn như mà duyên. [/size]
[size=-1]Chữ "Nói Chơn": Nghĩa là nói thân duyên Chơn như. [/size]
[size=-1]BÀI THỨ TƯ [/size]
[size=-1]Ý THỨC (THỨC THỨ SÁU)[/size]
[size=-1]Thức này nương Ý căn (thức thứ 7) khởi tác dụng phân biệt Pháp trần, nên gọi là "Ý thức". [/size]
[size=-1]Trong tám thức duy có thức thứ Sáu này rất lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết, nên trong bài thơ Bát thức có câu rằng:"Độc hữu nhứt cá tối linh ly" (riêng có một cái thức rất lanh lẹ). Suy nghĩ làm việc phải, thức này đứng đầu; còn tính toán tạo tác việc ác, thì nó cũng hơn cả. Bởi thế nên trong Duy thức nói:"Công vi thủ, tội vi khôi" (Nói về "Công" thì thức này hơn hết, còn luận về "Tội" thì nó cũng đứng đầu). Thức này cũng có công năng chấp Ngã và chấp Pháp. [/size]
[size=-1]Một điều mà người học thường thắc mắc: Tại sao thức thứ Sáu gọi là "Ý thức", mà thức thứ Bảy cũng gọi là "Ý thức"? trong Đại thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn, có giải thích như vầy: Thức thứ Sáu mà gọi là "Ý thức" vì thức này nương "Ý căn" mà khởi ra phân biệt, nên gọi "Ý thức". Nghĩa là thức của Ý căn. "Thức" là năng y, còn"Ý" là bị y, hai phần khác nhau.cũng như nói "Nhãn thức", tức là thức của Nhãn căn. Thế là căn với thức khác nhau. [/size]
[size=-1]Còn thức thứ Bảy mà gọi là "Ý thức"; chữ "Ý" là sanh diệt tương tục không gián đoạn. Vì thức này sanh diệt tương tục không gián đoạn nên gọi là "Ý thức". Thế là "Thức" tức là "Ý" không khác. Cũng như "Tàng thức", chữ "Tàng" là chứa đựng. Vì thức này chứa đựng các pháp, nên gọi là "Tàng thức". Thế là "Thức" tức là "Tàng (chứa) không khác. [/size]
[size=-1]
KHI Ở ĐIẠ VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Ba cảnh: Thức này có đủ ba cảnh: [/size]
[size=-1]a) Tánh cảnh, b) Độc ảnh cảnh, c) Đới chất cảnh. [/size]
[size=-1]2. Ba lượng: Thức này có đủ ba lượng: [/size]
[size=-1]a) HIện lượng, b) Tỷ lượng, c) Phi lượng. [/size]
[size=-1]3. Ba tánh: Thức này có đủ ba tánh: [/size]
[size=-1]a) Thiện tánh, b) Ác tánh, c) Vô ký tánh. [/size]
[size=-1]4. Ba cõi: Thức này có đủ trong ba cõi: [/size]
[size=-1]a) Cõi dục, b) cõi sắc, c) cõi Vô sắc. [/size]
[size=-1]5.Chín địa: Thức này có đủ trong chín địa: [/size]
[size=-1]6. Tâm sở: Thức này có đủ 51 món Tâm sở: 5 món Biến hành, 5 món Biệt cảnh, 11 món Thiện, 6 món căn bản phiền não, 20 món Tùy phiền não, 4 món Bất định. [/size]
[size=-1]7. Chín duyên: Trong chín duyên, thuức này chỉ có 5 duyên: a) Căn duyên, b) Cảnh duyên, c)Tác ý duyên, d)Căn bản duyên, e) Chủng tử duyên. [/size]
[size=-1]8. Thể (tánh): Thể của thức này có ba món phân biệt: a)Tự tánh phân biệt, b)Tuỳ niệm phân biệt, c) Kế đạt phân biệt. [/size]
[size=-1]9. Tướng: Tướng của thức này là luân chuyển trong ba cõi (tam giới luân thời dị khả tri). [/size]
[size=-1]10. Nghiệp dụng: Nghiệp dụng của thức này làm cho thân và miệng tạo ra dẫn nghiệp và mãn nghiệp để cảm thọ quả báo trong ba cõi. Và ba tánh cùng năm Thọ, thức nàt thường thay đổi luôn. [/size]
[size=-1]KHI LÊN THÁNH VỊ, THỨC NÀY ĐỐI VỚI [/size]
[size=-1]1. Quán hạnh (tu): Thức thứ sáu này quán sanh không, phá trừ ngã chấp và quán pháp không, phá trừ pháp chấp. [/size]
[size=-1]2. Đoạn hoặc và thành trí: Thức này có năm giai đoạn trừ hoặc chuyển thành trí: [/size]
[size=-1]a)Đến vị Tư lương, thì thức này mới chinh phục được hai món hiện hành của ngã chấp. [/size]
[size=-1]b)Đến vị Kiến đạo, thì thức này mới đoạn được hai món chủng tử về phần phân biệt của ngã chấp và pháp chấp. [/size]
[size=-1]c)Đến vị Tu tập, thức này đoạn được hai món hiện hành và chinh phục được hai chủng tử cu sanh của ngã chấp và pháp chấp. [/size]
[size=-1]d)Đến vị Viễn hành trở lên thì thức này mới đoạn hết cu sanh ngã chấp và hoàn toàn vô lậu. [/size]
[size=-1]e)Đến vị Đẳng giác, thức này đoạn hết cu sanh pháp chấp,chuyển thành Diệu quan sát trí. [/size]
[size=-1]3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả vị Phật, thì thức này chuyển thành Diệu quan sát trí và có công năng chiếu soi căn cơ của chúng sanh trong Đại thiên thế giới, rồi tùy cơ thuyết pháp hoá độ hàm linh. [/size]
[size=-1]Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu, nói thức này khi ở điạ vị Phàm phu, bài tụng thứ ba nói thức này khi đặng Thánh quả. [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ nhứt [/size]
[size=-1]Tam Tánh, tam Lượng thông tam Cảnh [/size]
[size=-1]Tam giới luân thời di khả tri [/size]
[size=-1]Tương ưng Tâm sở ngũ thật nhứt [/size]
[size=-1]Thiện ác lâm thời biệt phối chi. [/size]
[size=-1]Dịch nghiã [/size]
[size=-1]Ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh [/size]
[size=-1]Luân chuyển ba cõi rất dễ biết [/size]
[size=-1]Tâm sở tương ưng năm mươi mốt [/size]
[size=-1]Thiện ác đến thời riêng phối hiệp. [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Thức thứ Sáu này đủ cả ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh. Nó luân hồi trong ba cõi rất dễ biết. Những Tâm sở tương ưng với thức này có 51 món. Khi thức này nghĩ việc lành thì có Thiện tâm sở riêng phối hiệp, còn khi nghĩ việc ác thì có Ác tâm sở riêng phối hiệp. [/size]
[size=-1]*** [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ hai [/size]
[size=-1]Tánh, Giới, Thọ tam hằng chuyển dịch [/size]
[size=-1]Căn, Tùy, Tín dẳng đồng tương liên [/size]
[size=-1]Động thân phát ngữ độc vi tối [/size]
[size=-1]Dẫn, Mãn năng chiêu nghiệp lực khiên. [/size]
[size=-1]Dịch nghiã [/size]
[size=-1]Tánh, Giới, Thọ ba thường biến đổi [/size]
[size=-1]Căn, Tuỳ, Tín chung nhau liên tiếp [/size]
[size=-1]Thân động, miệng thốt nó hơn hết [/size]
[size=-1]Dẫn nghiệp, Mãn nghiệp thọ quả báo [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Thức Này đối với ba Tánh, ba Giới và năm Thọ thì nó thường thay đổi; khi thì vui lúc lại buồn, ...51 món Tâm sở, như căn bổn phiền não, Tuỳ phiền não và Thiện tâm sở, ...cùng nhau liên tiếp không lúc nào rời thức này. Làm cho thân động và miệng nói, duy có thức này là hơn hết. Nó tạo ra dẫn nghiệp và mãn nghiệp để chiêu cảm quả báo đời sau. [/size]
[size=-1]Baì tụng thứ ba [/size]
[size=-1]Phát khởi sơ tâm Hoan hỷ địa [/size]
[size=-1]Cu sanh du tự hiện triền miên [/size]
[size=-1]Viễn hành địa hậu thuần vô lậu [/size]
[size=-1]Quán sát viên minh chiếu Đại thiên. [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Khi đặng sơ tâm Hoan hỷ địa [/size]
[size=-1]Cu sanh ngã, pháp hiện còn ẩn [/size]
[size=-1]Viễn hành về sau thuần vô lậu [/size]
[size=-1]Quán sát viên mãn khắp Đại thiên [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Hành giả trong lúc trãi qua Thập thánh thì thứ c này có ba thời kỳ đoạn phiền não và thuần vô lậu. [/size]
[size=-1]1. Khi lên Sơ địa, tức là Hoan hỷ địa, thì phân biệt ngã chấp và pháp chấp đều đã đoạn. Nhưng cu sanh ngã chấp và pháp chấp hãy còn hiện hành và miên phục trong Tàng thức, chưa có thể chinh phục và đoạn trừ được. [/size]
[size=-1]2. Khi đến Viễn hành địa (tức là Thất địa) trở lên thì mới đoạn được chủng tử cu sanh của ngã chấp và chinh phục được hiện hành của pháp chấp. Lúc bấy giờ thức này mới thuần Vô lậu. [/size]
[size=-1]3. Khi sắp lên quả Phật thì đoạn được chủng tử cu sanh của pháp chấp. Lúc bấy giờ thức này chuyển thành Diệu quan sát trí, quán sát chiếu soi cả Đaị thiên thế giới và tuỳ theo căn cơ của mỗi loài mà thuyết pháp giáo hoá. [/size]
[size=-1]BÀI THỨ NĂM [/size]
[size=-1]MẠT NA THỨC (THỨC THỨ BẢY)[/size]
[size=-1]Thức này có nhiều tên: 1. Mạt na (goị theo nguyên âm tiếng Phạn), 2. Ý căn: Thức này là căn của ý thức (Thức thứ Sáu); Vì thức thứ Sáu nương thức này phát sanh. 3. Thức thứ Bảy: Theo thứ đệ thì thức này đứng nhằm thứ Bảy. 4. Truyền thống thức: Vì thức này có công năng truyền các pháp hiện hành. 5. Ý thức, vì thức này sanh diệt tương tục không gián đoạn nên gọi là "Ý". Song, sợ người lầm lộn với ý thức thứ Sáu, nên thức thứ Bảy này chỉ gọi là "Ý", mà không thêm chữ "Thức". Thức này chỉ duyên kiến phần cuả thức A lại da chấp làm thật ngã và thật pháp. [/size]
[size=-1]KHI Ở ĐIẠ VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Ba cảnh: Thức này chỉ có Đới chất cảnh [/size]
[size=-1]2. Ba lượng: Thức này chỉ có Phi lượng [/size]
[size=-1]3. Ba tánh: Thức này chỉ có Hữu phú Vô ký tánh. [/size]
[size=-1]4. Ba giới: Trong ba Giới, thức này đều có đủ. [/size]
[size=-1]5. Chín địa: Trong chín Địa, thức này có đủ. [/size]
[size=-1]6.Tâm sở: Thức này có 18 tâm sở: 5 món Biến hành, 1 món Huệ trong Biệt cảnh, 4 món căn bổn phiền não: Si, Kiến, Mạn, Ái và 8 món Đại tùy. [/size]
[size=-1]7.Chín duyên: Thức này chỉ có ba duyên: 1. Căn cảnh duyên. 2. Tác ý duyên. 3. Chủng tử duyên. [/size]
[size=-1]8.Tánh: Hằng thẩm xét và lo nghĩ (Hằng thẩm tư lương). [/size]
[size=-1]9. Tướng: Lo nghĩ (Tư lương vi tánh tướng) [/size]
[size=-1]10. Nghiệp dụng: Làm chỗ cho 6 thức trước nương, hoặc nhiểm hay tịnh. [/size]
[size=-1]KHI LÊN THÁNH VỊ THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Quán hạnh: Thật ra thức này không có năng lực đoạn hoặc, chỉ nhờ thức thứ Sáu tu quán, đoạn hoặc, mà thức này cũng được đoạn. [/size]
[size=-1]2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí:Có ba giai đoạn: a) Đến sơ địa, thì thức này mới vừa chinh phục được hai món chấp về phần cu sanh và chuyển thành Bình đẳng tánh trí. b) Khi lên Bát địa (Vô công dụng đạo) thức này đoạn được cu sanh ngã chấp. c) Đến Kim Cang đạo thì thức này mới đoạn được cu sanh pháp chấp [/size]
[size=-1]3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả vị Phật, thì thức naỳ hiện ra thân "Tha thọ dụng", để giáo hoá thập địa Bồ Tát. [/size]
[size=-1]*** [/size]
[size=-1]Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu, nói thức này khi ở điạ vị Phàm phu, bài tụng thứ ba nói thức này khi lên Thánh quả. [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ nhất [/size]
[size=-1]Đới chất hữu phú thông tình bổn [/size]
[size=-1]Tùy duyên chấp ngã, lượng vi phi [/size]
[size=-1]Bát đại Biến hành, Biệt cảnh Huệ [/size]
[size=-1]Tham, Si, Ngã kiến, Mạn tương tuỳ. [/size]
[size=-1]Dịch nghiã [/size]
[size=-1]Đới chất hữu phú thông Bảy, Tám [/size]
[size=-1]Tùy duyên chấp ngã thuộc Phi lượng [/size]
[size=-1]Tám đại, Biến hành, Huệ Biệt cảnh [/size]
[size=-1]Tham, Si, Ngã, Mạn thường theo nhau [/size]
[size=-1]
LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Trong ba cảnh, thức này chỉ duyên về "Đới chất cảnh". Ba tánh, thức này chỉ thuộc về "Hữu phú Vô ký tánh". Cảnh đới chất của thức này là thông cả thức thứ Bảy và thức thứ Tám. Nghĩa là thức thứ Bảy dùng kiến phần năng duyên của mình (Tức là Tâm, trên nguyên văn bài tụng chữ Hán gọi là Tình) duyên qua kiến phần của thức thứ Tám (kiến phần thức thứ Tám cũng là Tâm; song vì bị thức thứ Bảy lấy nó làm "bản chất" để duyên, nên trên bài tụng theo nguyên văn chữ Hán goị là "Bổn", tức là "Bản chất" vậy), rồi biến lại "Cảnh đới chất". Vì thế nên trong Duy thức có câu: [/size]
[size=-1]"Dĩ tâm duyên tâm chơn đới chất [/size]
[size=-1]Trung gian tướng phần lưỡng đầu sanh" [/size]
[size=-1]Nghiã là thức thứ Bảy dùng kiến phần của tâm mình, duyên qua kiến phần tâm của thức thứ Tám, nên chính giữa hai thứ c này sanh ra một tướng phần là cảnh "Chơn đới chất". [/size]
[size=-1]Chúng sanh tùy vọng nghiệp sanh trong Tam giới, thí thức này cũng theo đó mà chấp ngã. Trong ba lượng, thức này thuộc về phi lượng. [/size]
[size=-1]Về tâm sở thì thức này có 18 món: 8 Đại tùy, 5 món Biến hành và một món Huệ trong 5 món Biệt cảnh với 4 món căn bổn phiền não là Tham, Si, Mạn và Ngã kiến. [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ hai [/size]
[size=-1]Hằng thẩm tư lương ngã tương tùy [/size]
[size=-1]Hữu tình nhựt dạ trấn hôn mê [/size]
[size=-1]Tứ hoặc bát đại tương ưng khởi [/size]
[size=-1]Lục chuyển hô vi "Nhiễm tịnh y" [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Hằng xét lo lường theo chấp ngã [/size]
[size=-1]Hữu tình ngày đêm bị mê muội [/size]
[size=-1]Bốn hoặc, tám đại chung nhau khởi [/size]
[size=-1]Sáu thức gọi là "Nhiễm tịnh y" [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Thức thứ Bảy thường suy xét so đo chấp kiến phần của thức thứ Tám làm ngã. Trong Bát thức quy củ tụng Trang chủ có nói: [/size]
[size=-1]Thức thứ Tám, có hằng mà không thẩm xét. [/size]
[size=-1]Thức thứ Bảy, vừa hằng lại vừa thẩm xét. [/size]
[size=-1]Thức thứ Sáu, có thẩm xét mà không hằng. [/size]
[size=-1]Năm thức trước, không hằng và không thẩm. [/size]
[size=-1]Cũng vì thức này chấp ngã, nên chúng hữu tình mê muội trong sanh tử đêm dài mà chẳng tự biết. Thức này tương ưng với bốn món căn bản phiền não là: Si, Kiến, Mạn, Ái và 8 món Đại tuỳ. Sáu thức trước gọi thức này là "Nhiễm tịnh y" (Lục thức hô vi nhiễm tịnh y) [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ ba [/size]
[size=-1]Cực hỷ sơ tâm, bình đẳng tánh [/size]
[size=-1]Vô công dụng hạnh ngã hằng thôi [/size]
[size=-1]Như Lai hiện khởi tha thọ dụng [/size]
[size=-1]Thập địa Bồ Tát sở bị côi (cơ) [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Đến Sơ địa, thành "bình đẳng trí" [/size]
[size=-1]Đến Vô công dụng, hằng phá Ngã [/size]
[size=-1]Như Lai hiện thân "Tha thọ dụng" [/size]
[size=-1]Giáo hoá hàng Thập địa Bồ Tát. [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Hành giả khi chứng được Hoan hỷ địa, tức là Sơ địa, thì thức này chuyển lại thành "Bình đẳng tánh trí". Đến bất động địa, tức là địa thứ Tám, cũng gọi là "Vô công dụng hạnh"; lúc bấy giờ hành giả mới dẹp trừ chủng tử của ngã chấp. Đến khi chứng quả Phật, thức này đã chuyển thành trí, hiện ra thân "Tha thọ dụng" để giáo hoá hàng Thập địa Bồ Tát. [/size]
[size=-1]BÀI THỨ SÁU [/size]
[size=-1]A LẠI DA THỨC (THỨC THỨ TÁM)[/size]
[size=-1]Thức này có rất nhiều tên, khi đọc đến luận "A đà na thức" qýi vị sẽ hiểu rõ. Nay chúng tôi chỉ kể sơ lược một vài tên. [/size]
[size=-1]1. Đệ bát thức: Thức thứ tám. Vì theo thứ đệ: một là nhãn thức, hai là nhĩ thức, cho đến thức thứ Tám là thức này, nên gọi là Đệ bát thức. [/size]
[size=-1]2. A lại da thức: Tàu dịch là "Tàng thức": Thức này có công năng chứa đựng chủng tử của các pháp. "Thức" là thể, mà "chứa" là dụng. Hiệp cả thể và dụng, nên gọi là "thức chứa" (Tàng thức). Có 3 nghĩa: [/size]
[size=-1]a. Năng tàng: Năng chứa. Thức này co công năng chứa đựng và gìn giữ chủng tử (hạt giống) của các pháp. [/size]
[size=-1]b. Sở tàng: Bị chứa. Thức này là chổ để chứa các pháp. [/size]
[size=-1]c. Ngã ái chấp tàng, gọi tắt là "chấp tàng": Thức thứ Bảy chấp kiến phấn của thức này làm Ta và thường ái luyến. [/size]
[size=-1]KHI Ở ĐỊA VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Ba cảnh: Thức này chỉ duyên về "Vô bản chất tánh cảnh". [/size]
[size=-1]2. Ba lượng: Thức này chỉ có "hiện lượng" [/size]
[size=-1]3. ba tánh: Thức này thuộc về "Vô phú vô ký tánh". [/size]
[size=-1]4. Ba thọ: Thức này chỉ có "Xả thọ". [/size]
[size=-1]5. Ba cõi: Thức này tuỳ nghiệp lực dẫn sanh trong ba cõi. [/size]
[size=-1]6. Chín Địa:Trong chín địa đều có thức này. [/size]
[size=-1]7. Tâm sở: Thức này chỉ tương ưng với 5 món biến hành; song trong 5 thọ thì nó chỉ có "Xả thọ". [/size]
[size=-1]8. Chín duyên: thức này chỉ có 4 duyên: a. Căn (Mạt ma), b. Cảnh (Căn thân, thế giới và chủng tử), c. Tác ý, d. Chủng tử. [/size]
[size=-1]9. Thể (tánh): Vơi vơi không cùng (hạo hạo tam tàng bất khả cùng) [/size]
[size=-1]10. Tướng: Thức này như vực sâu (uyên thâm thất lãnh cảnh vi phong). [/size]
[size=-1]11. Nghiệp dụng: Thức này duy trì chủng tử căn thân, thế giới và làm chỗ để thọ các pháp huân vào. [/size]
[size=-1]KHI LÊN THÁNH VỊ, THỨC NÀY ĐỐI VỚI: [/size]
[size=-1]1. Quán hạnh: (Không có quán hạnh). [/size]
[size=-1]2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí: Khi lên "Bất động địa" (Bát địa) thì hành giả đoạn được cu sanh Ngã chấp; lúc bấy giờ thức này bỏ cái tên "Tàng thức". Đến Kim Cang đạo rồi, thì hành giả đoạn hết cu sanh pháp chấp, không còn cảm thọ sanh tử, cho nên cũng không còn tên là "Dị thục thức"; vì đến địa vị này thì các chủng tử hữu lậu đã hết. Lúc bấy giờ thức này được gọi là "Vô cấu thức", và chuyển thành Đại viên cảnh trí. [/size]
[size=-1]3. Chứng quả và diệu dụng: Vì thức này đã thành Đại viên cảnh trí, nên chiếu khắp mười phương các cõi nước nhiều như vi trần. [/size]
[size=-1]Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng để tóm lại các nghĩa trên như sau. Hai bài tụng đầu nói thức này khi còn ở địa vị phàm phu, bài tụng thứ ba, nói khi đã lên thánh quả. [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ nhứt [/size]
[size=-1]Tánh duy vô phú ngũ Biến thành [/size]
[size=-1]Giới, Địa tuỳ tha nghiệp lực sanh [/size]
[size=-1]Nhị thừabất liễu nhơn mê chấp [/size]
[size=-1]Do thử năng hưng Luận chủ tranh [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Vô phú tánh và năm Biến thành [/size]
[size=-1]Ba cõi, chín địa tuỳ nghiệp sanh [/size]
[size=-1]Nhị thừa không rõ sanh mê chấp [/size]
[size=-1]Bởi thế nên chi Luận chủ tranh (cãi) [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Trong ba tánh, thức này thuộc về "Vô phú vô ký tánh". Trong 51 món tâm sở thức này chỉ tương ưng với 5 món Biến hành, song trong 5 thọ thì nó chỉ có Xả thọ. Tuỳ theonghiệp lực kéo dẫn, mà thức này sanh trong ba cõi và chín địa. Hàng Nhị thừa không hiểu, chấp thức này không có. Bởi thế nên Luận chủ dẫn rất nhiều bằng chứng trong các Kinh Luận để tranh luận, chỉ rõ và quyết định phải có thức thứ Tám này. [/size]
[size=-1]***[/size]
[size=-1]Bài tụng thứ hai [/size]
[size=-1]Hạo hạo tam tàng bất khả cùng [/size]
[size=-1]Uyên thâm thất lãng cảnh vi phong [/size]
[size=-1]Thọ huân trì chủng căn thân khí [/size]
[size=-1]Khứ hậu lai tiên tác chủng ông [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Chơi vơi ba tàng không cùng tột [/size]
[size=-1]Vực sâu, bảy sóng, cảnh làm gió [/size]
[size=-1]Chịu huân, trì chủng và thân cảnh [/size]
[size=-1]Đến trước đi sau làm chủ ông [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Ba tàng là Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng. Bởi thức này có công năng duy trì các chủng tử, nên gọi là "Năng tàng". Vì thức này là chỗ để chịu cho các pháp hiện hành huân vào, nên gọi là "Sở tàng". Thức thứ Bảy chấp kiến phần của thức này làm Ngã, nên gọi là "Ngã ái chấp tàng". [/size]
[size=-1]Thể và dụng của thức này sâu rộng vô cùng; hàng phàm phu và Nhị thừa không thể thấu tột. Chúng hữu tình từ vô thỉ đến nay, cũng do thức này mà sanh tử tương tục không cùng tột, nên trong bài tụng nói: [/size]
[size=-1]"Vơi vơi ba tàng không cùng tột". [/size]
[size=-1]Biển tàng thức rất là sâu rộng, gió bốn duyên (căn, cảnh, chủng tử và tác ý) một phen thổi vào, thì sóng bảy thức nhấp nhô nổi dậy. [/size]
[size=-1]Thức này có công năng duy trì chủng tử, căn thân, thế giới và chịu cho các phép hiện hành huân vào. [/size]
[size=-1]Thức này làm ông Chủ; vì khi chúng hữu tình chết thì nó đi sau, còn khi đầu sanh thời nó lại đến trước. [/size]
[size=-1]Cổ nhơn có làm bài kệ, để tả trạng thái người chết, trong lúc thần thức sắp rời thân xác, có thể kinh nghiệm biết người chết rồi được thăng lên hay đọa xuống. [/size]
[size=-1]Chánh văn [/size]
[size=-1]Đảnh Thánh, nhãn sanh Thiên [/size]
[size=-1]Nhơn tâm, Ngạ quỉ phúc [/size]
[size=-1]Bàn sanh tất cái ly [/size]
[size=-1]Địa ngục khước tâm xuất [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Thánh đầu, Trời tại mắt [/size]
[size=-1]Người tim, Ngạ quỉ bụng [/size]
[size=-1]Súc sanh hai chân xuống [/size]
[size=-1]Địa ngục bàn chân ra [/size]
[size=-1]Bài tụng thứ ba [/size]
[size=-1]Bất động địa tiền tài xả tạng [/size]
[size=-1]Kim Cang đạo hậu Dị thục không [/size]
[size=-1]Đại viên vô cấu đồng thời phát [/size]
[size=-1]Phổ chiếu thập phương trần sát trung [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Đến Đệ bát địa bỏ tên "Tàng" [/size]
[size=-1]Chứng Kim Cang đạo, không "Dị thục" [/size]
[size=-1]Gương trí không nhơ đồng thời phát [/size]
[size=-1]Khắp chiếu mười phương vô số cõi. [/size]
[size=-1]LƯỢC GIẢI [/size]
[size=-1]Hành giả khi tới Bất động địa, tức là Bát địa trở lên, thì thức này mới xả cái tên "Tàng thức" mà chỉ còn gọi là "Dị thục thức". Khi đến vị Đẳng giác, được Kim Cang đạo, thì thức này không còn gọi tên là "Dị thục" nữa. Vì lúc bấy giờ, các chủng tử hữu lậu cấu nhiễm đã hết, nên thức này được đổi tên là "Vô cấu thức"; chỉ còn thuần chủng tử vô lậu thanh tịnh, nên cũng được gọi là "Bạch tịnh thức". [/size]
[size=-1]Đến Kim Cang đạo, thì thức này được gọi là "Vô cấu" và chuyển thành Đại viên cảnh trí, nên trong bài tụng nói: [/size]
[size=-1]"Đại viên (trí) vô cấu (thức) đồng thời phát" [/size]
[size=-1]trí Đại viên này chiếu khắp cả mưởi phương thế giới nhiều như số cát sông Hằng; và hiện ra Báo thân Phật và Hoá thân Phật để độ thoát chúng sanh tột đến đời vị lai. [/size]
[size=-1]Tóm lại, thức thứ Tám này vì trải qua 3 giai đoạn, nên có 3 tên khác nhau: [/size]
[size=-1]1. từ phàm phu cho đến mãn Thất địa, thì gọi thức này là Tàng thức (A lại da) hay "Dị thục thức". [/size]
[size=-1]2. từ Bát địa đến Đẳng giác, thì không còn gọi là "Tàng thức" nữa mà chỉ gọi là "Dị thục thức". [/size]
[size=-1]3. Đến quả vị Phật, thì tên "Dị thục" cũng không còn, mà chỉ gọi là "Vô cấu thức" hay "Bạch tịnh thức". [/size]
[size=-1]*** [/size]
[size=-1]Muốn cho người học dễ nhớ hành tướng và công năng của 8 thức tâm vương nên cổ nhân có làm bài thơ rằng: [/size]
[size=-1]Bát cá đệ huynh, nhứt cá si [/size]
[size=-1]Độc hữu nhứt cá tối sinh ly [/size]
[size=-1]Ngũ cá môn tiền tố mãi mại [/size]
[size=-1]Nhứt cá gia trung tác chủ y. [/size]
[size=-1]Dịch nghĩa [/size]
[size=-1]Anh em tám chú một chàng si (thức thứ Bảy) [/size]
[size=-1]duy có ý thức rất linh ly (khôn ngoan) [/size]
[size=-1]năm người ngoài cửa lo buôn bán (năm thức trước) [/size]
[size=-1]làm chủ trong nhà Đệ bát y (thức thứ Tám) [/size]
![[:D]](/images/smiley/s2.gif)
![[:D]](/images/smiley/s2.gif)