Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Chùm truyện ngắn của VŨ NGỌC TIẾN (Sưu tầm từ INTERNET)

5 trả lời, 2.155 lượt xem — Trang 1 / 1
CHÀNG GÀN
Vũ Ngọc Tiến
 
Hữu Đàm là nhà văn tỉnh lẻ. Thi thoảng mới thấy tên hắn xuất hiện trên mặt báo lớn ở Hà Nội. Thường thì hắn khiêm tốn, cặm cụi ở tờ báo tỉnh, an phận với công viêc sửa bài, chạy lăng xăng liên hệ với nhà in. Suốt mấy chục năm trong nghề chưa thấy Đàm ra nổi cuốn sách. Nói cho công bằng hắn viết nhiều mà chưa biết lách, chẳng nhà xuất bản nào chịu in bởi văn hắn viết nó ngang phè như mấy ông đồ gàn. Thành Nam là đất văn hiến. Bạn bè cùng lứa của Đàm nhiều người thành danh trên văn đàn hay làm giáo sư, tiến sĩ giảng dạy ở các trường đại học. Mỗi lần về quê dự hội trường, ai cũng vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng. Nhìn thấy Đàm thất tha thất thểu trong bộ đồ quân ngũ bạc thếch, sống cô đơn trong căn hộ tập thể mười hai mét vuông, cơm niêu nước lọ, ai cũng ái ngại. Nhưng nhiều người lại tặc lưỡi, chép miệng chung quy lại chỉ tại Đàm gàn, ngang phè như cua. Cái tính gàn ấy từ bé đi học nó đã làm khổ hắn rồi. Ai đời thầy dạy chính trị giảng bài về Công đoàn vàng ở Mỹ ăn lương của giới chủ nên ngăn cản đình công của thợ, hắn dám giơ tay thắc mắc: “Cán bộ công đoàn của ta cũng ăn lương Nhà nước thì là công đoàn gì?” Thầy dạy văn ra đề bình giảng truyện cái sân gạch của Đào Vũ, hắn lại gây một vụ động trời là liên hệ sang chuyện một ông Chủ nhiệm hợp tác xã ở quê tham ô, hiếp đáp xã viên, sai với lý tưởng mà nhà văn họ Đào viết trong tác phẩm… Cái máu đồ gàn, hâm hâm dở hơi xui khiến Đàm không chịu dừng ở đó. Học hết lớp 10, nhiều anh viết đơn tình nguyện đi bộ đội bằng máu hẳn hoi, hắn cười khẩy bóc mẽ, có đến già nửa là học dốt, nếu thi chắc mười mươi sẽ không đỗ vào đại học nên chơi trội. May có ông chú hắn làm Hiệu phó, kiêm Bí thư chi bộ ở trường lo lót các kiểu, chứ nếu không thì hắn tong đời, học giỏi nhất khóa lớp 10 năm ấy cũng về nhà đuổi gà, làm sao vào được đại học Tổng hợp khoa văn Hà Nội, oai như nắng thời đó…        
Ra đời, vẫn cái tính gàn, máu hâm làm cản bước tiến của hắn. Tốt nghiệp loại xuất sắc khóa năm đại học Tổng hợp văn, người đời ai cũng khôn ngoan tròn như hòn bi, khúc gỗ lăn đâu cũng được. Riêng Đàm việc gì cũng phải bánh trưng ra góc. Phàm có chuyện chướng tai gai mắt, sai với lẽ công bằng là hắn nổi đóa. Thiên hạ coi các cuộc họp phê và tự phê cuối năm ở cơ quan là màn kịch vui. Họ rào đón trước sau, trông trên ngó dưới, nói ít nghe nhiều, còn Đàm vào họp là nói văng mạng. Người ta tế nhị đưa hắn đi thực tế ở chiến trường mười năm. Hết chiến tranh, người ta lại bố trí hắn về địa phương gây dựng phong trào văn hóa văn nghệ của tỉnh. Về đến tỉnh chưa nóng chỗ đã sảy ra mấy cuộc tranh luận, người ta nể hắn thương binh loại nặng, có công lao kháng chiến nên lại tế nhị điều động hắn sang làm biên tập báo tỉnh. Đựơc ít lâu, bài vở hắn biên tập toàn giọng gàn, ngang phè nên người ta tế nhị điều sang phòng trị sự để hắn sửa bông và liên hệ với nhà in, cơ quan phát hành. Cứ thế, đời Đàm qua vài lần tế nhị sắp xếp công tác mới, nó cứ tàn tạ dần. Bạn bè, đồng nghiệp thương quý hắn, góp ý phải thay đổi cách sống thì hắn lại nổi đóa nên họ cứ xa dần, nhạt dần. Đàn bà con gái nhà quê nghe danh nhà văn Hữu Đàm, lúc đầu nhiều người hâm mộ, muốn làn thân. Nhưng họ hàng ngày đối mặt với bếp núc, cơm áo gạo tiền. Ngồi gần hắn chỉ thầy hồn thơ bay bổng lên tận chín tầng mây nên chuyện cứ lạt như nước ốc. Họ bảo nhau, ngữ ấy vừa gàn, vừa hâm lấy vào có mà nuôi báo cô suốt đời!
Lương thấp, việc nhàn, không vướng nợ vợ con nên Đàm trở thành con mọt sách. Thôi thì thượng vàng hạ cám đủ các loại sách văn, triết, lịch sử… Đông - Tây, Kim - Cổ, gặp sách gì là hắn đọc ngấu nghiến. Đồng lương hạng bét của hắn một nửa để dành mua sách, còn một nửa chỉ đủ chè thuốc và ngày hai bữa cơm rau. Nhiều hôm mê mải đọc sách, Đàm nấu mì ăn liền với ít rau xanh, khi mớ cải cúc hay cải thìa, lúc chỉ có nhúm hành tươi là xong bữa. Các cụ ta xưa có câu: “Một ngày không đọc sách soi gương thấy xấu hổ mặt”. Đàm còn hơn thế nữa. Sách với hắn là niềm vui, là người bạn để quên đi mọi nỗi cô đơn, thổi vào lòng hắn những khát khao, đam mê. Thói đời đọc nhiều, biết lắm mà không nói ra lời khác nào anh chàng thợ cắt tóc trong truyện cổ tích Arập biết ông vua Đặc La Vương có tai lừa. Không nói thì ấm ức mà nói ra ai cũng bảo Đàm hâm, Đàm gàn. Đã có lúc Đàm giật mình tự hỏi chẳng lẽ hết thảy những điều hắn đọc đều nhăng nhít. Thị xã tỉnh lẻ cũng chẳng đào đâu ra lắm sách. Hễ có dịp lên Hà Nội, Đàm hăm hở đến các hiệu sách lớn, các quầy sách báo cũ lục tìm những cuốn sách mình yêu thích. Mỗi lần như vậy, hắn đều tá túc ở nhà tôi, không chịu đến nhà Hùng. Bộ ba chúng tôi thân nhau từ thủa mặc quần lủng đít hay tồng ngồng giữa trưa ở ao đình mò cua, bắt ốc. Hùng đang làm Tổng giám đốc một công ty xuất khẩu, có biệt thự riêng ở Tây Hồ, nhưng Đàm bảo: ‘Nó tốt thật, nhưng còn vợ con nó chưa chắc được như tao với mày”. Hùng biết tính Đàm gàn dở, không chấp, nhưng có lúc cũng phải than phiền với tôi: “Tao về quê ghé thăm, thấy nó sống khổ quá, chạnh lòng đưa cho bạn ít tiền, mày biết nó làm gì không?! Nó cầm tiền mân mê từng tờ như tra sổ số độc đắc rồi trả lại, giọng tỉnh queo, hỏi lại tao lương tháng bao nhiêu, tiêu xài xa hoa vậy lấy đâu còn tiền cho bạn. Thật điên hết chỗ nói. Đời bây giờ mà chỉ biết trông vào lương có mà ăn cám… Giời ơi là giời!.. Bạn ơi là bạn!...” Nói vậy thôi chứ Hùng quý Đàm thật lòng. Tình bạn giữa ba đứa dù đời có ném mỗi đứa một nơi, đặt từng đứa vào các nấc thang, vẫn nguyên vẹn những kỷ niệm thời chăn trâu, cắt cỏ. Quê hương là sợi dây vô hình níu buộc chúng tôi với nhau, cho dù năm tháng và những biến động của đời vốn đầy rủi ro, bộn bề lo toan sinh kế…                                                    
Sớm hôm ấy vào tiết lập đông, trời lất phất mưa bụi, xao các gió heo may, gieo vào lòng người cảm giác buồn tê tái. Tôi dắt xe ra tới cổng, toan khóa cửa chợt nghe chuông thiện thoại réo liên hồi.
- A lô! Mày đã nghe tin gì về Đàm chưa? – Hùng hỏi.
- Không, có chuyện gì thế? – Tôi hỏi lại.
- Đàm quỵ rồi. Nó nằm ở phòng cấp cứu viện lao Trung ương từ đêm qua.
- Nặng không? – tôi hỏi  Hùng mà nước mắt cứ ứa ra.
- Tao đến viện thấy nó nằm co quắp như nắm xương khô, nom tiều tụy thê thảm lắm! Mày đến ngay với nó một lúc. Tao đã đưa ít tiền bồi dưỡng cho bác sĩ, y tá nhờ họ hết lòng quan tâm. Giờ tao có việc phải đi công tác nước ngoài gấp. Bạn bè thân thích ở  Hà Nội chỉ có mày và tao thôi.
- Liệu có còn hy vọng gì không?
- Mười phần chết chín rồi! Bác sĩ nói nó cùng một lúc trong người chứa đủ ba thứ bệnh: Ho lao, sốt rét và suy dinh dưỡng trầm trọng kéo dài.
Tôi buông máy điện thoại chạy ra ngoài, phóng xe như điên đến bệnh viện. Tiếng thở gấp, giọng nghẹn ngào của Hùng mách bảo tôi, Đàm đang rất nguy kịch. Thế giới đang xôn xao về một căn bệnh AIDS khủng khiếp. Thứ bệnh nào đe dọa mạng sống của con người đều đáng phải tiêu diệt. Nhưng xét cho cùng, cái bệnh AIDS khủng khiếp kia xuất phát ở những nước giầu, trong đám người thừa tiền đú đởn ở các hộp đêm rồi từ đó mới lan sang các nước nghèo. Vì nó trực tiếp đe dọa mạng sống trước hết ở các nước giàu nên sớm được quan tâm sôi động khắp thế giới, với những khoản tiền kếch xù. Từ nhiều thế kỷ nay, già nửa nhân loại ở các nước nghèo đang chết dần chết mòn mỗi năm hàng chục triệu sinh mạng vì các bệnh của người nghèo là ho lao, sốt rét, suy dinh dưỡng, sao chỉ như chuyện thường ngày phố huyện, hở giời?... Thì ra mạng sống của người nghèo muôn thủa vẫn là rẻ  rúng! Đàm ơi, sao số phận lại dành cho Đàm hội đủ ba thứ bệnh nan y của người nghèo?...
Sau ba ngày thở ôxy, được bác sĩ hết lòng cứu chữa và nhờ loại thuốc đặc hiệu do Hùng bỏ tiền gửi cô y tá mua hộ nên Đàm đã tỉnh lại. Tôi thầm nể phục sự chu đáo và cái tình Hùng dành cho bạn trước lúc đi công tác xa. Phần tôi chỉ còn mỗi việc xin nghỉ phép, túc trực ở bênh viện nghe ngóng, chăm sóc cho Đàm. Hắn vừa tỉnh lại đã nằng nặc đòi hút thuốc và đọc sách, nhưng tôi không thể làm sai lời dặn của bác sĩ. Đàm nắm tay tôi buồn rầu tâm sự:
- Có lẽ mình chẳng sống được bao lâu nữa đâu. Có câu: “con chim sắp chết tiếng kêu buồn bã, con người sắp chết lời nói thật thà.” Mình rất biết ơn cậu và Hùng. Nhờ cậu giúp mình nói lại với nó rằng, hãy tha thứ cho cái thói trái tính, trái nết của thằng bạn nghèo hèn, yếm thế. Đến lúc này mình mới hiểu không phải ai trên đời trở nên giầu sang đều do lừa lọc, giả trá. Nó còn do tài, đức họ và hồng phúc tổ tiên nữa. Cái quý là Hùng nó giàu mà nó vẫn có tâm. Ở đời cái tâm, cái đức, đi đôi với sự giầu hiếm lắm!
- Cậu hiểu được Hùng như vậy là tốt rồi.
- Đất nước mình sau đổi mới sẽ giàu lên, nhưng mình vẫn lo tình đời sẽ lạt, đạo Nhân sẽ suy vi.
- Cậu lo làm gì cho nó mệt xác.
- Từ lâu tớ cứ tự hỏi: Vì sao gần đây ở các nước phương Tây Nho giáo lại được giới thức giả quan tâm? Phải chăng sau khi xóa bỏ các giá trị cổ truyền, họ đã đi vào cuộc sống mà hạnh phúc chân chính không chỉ đạt được bằng khoa học kỹ thuật và những tiện nghi vật chất hoàn hảo? Phải chăng con người trong xã hội văn minh không không thể vừa lòng  với những quan hệ cứ ngày một xấu đi giữa người với người trong đời sống đô thị hóa? Ở nước Trung Hoa mới ngày nào còn phê Lâm, phê Khổng mà nay họ lại khôi phục vị trí của Khổng tử, coi ông như một người thầy không chỉ của Trung Quốc mà của cả nhân loại là vì sao? Phải chăng việc tiếp thu những tinh hoa  trong đạo đức truyền thống Nho giáo đã giúp nước Nhật mau chóng trở  nên hùng cường sau thế chiến hai? Gần đây những con rồng mới đang cất cánh ở châu Á, phải chăng ở Hàn Quốc có phong trào tân dân, Đài Loan có phong trào phục hưng văn hóa Trung Hoa, Singapo có phong trào tái sinh Nho giáo?...
Giời ơi là giời! Sao mà lắm thứ “phải chăng” cứ phịt ra từ cái lỗ mồm gàn dở? Đàm nói say xưa như chưa bao giờ được nói. Mắt hăn ngời sáng, đầu lắc lư, trán lấm tấm mồ hôi. Những lời hắn nói khúc triết, mạch lạc, đầy hình ảnh và nhiều dẫn dụ có sức thuyết phục người nghe. Tôi có cảm giác hắn say sưa diễn thuyết, hùng biện trong cuộc hội thảo của các nhà xã hội học danh tiếng. Vì sợ hắn mất sức sẽ quỵ trở lại, tôi cố ép hắn uống một cốc sữa và lái câu chuyện sang đề tài về quê hương, về các bạn bè thủa còn đi học. Đàm khoan khoái uống liền hơi xong cốc sữa, ăn vài lát trái cây và nhìn tôi bằng ánh mắt biết ơn. Hắn van nài tôi cho hút một vài hơi thuốc lá và tôi đã nềm lòng vi phạm lời khuyên của bác sĩ. Thức ăn làm hắn ấm lòng, khỏe lại. Chất nicotin của thuốc lá làm thần kinh hắn hưng phấn. Đàm lại nói tiếp:
- Mấy năm gần đây mình bỗng nhiên mê đọc sách cổ. Đọc các cuốn Kinh Dịch, Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung của cổ nhân mới vỡ ra nhiều điều.
- Mình nghe nói có lắm cái trong sách thánh hiền người đời sau chưa lý giải hết, đến giờ vẫn còn mu mơ.
- Theo cậu, một trong bí quyết của công nghệ thông tin ngày nay là nhờ sự biến đổi nào của toán học?- Đàm cười hỏi tôi.
- Có lẽ nhờ vào sự biến đổi toán học từ phép thập phân sang nhị phân.
- Vậy mà ở phương Đông, cách đây mấy nghìn năm, toán học nhị phân đã từng có mặt trong sách Chu Dịch. Nét chấm gạch và nét liền trong mỗi hào chẳng là nhị phân thì là gì. Thánh thật! Chỉ một nét liền, một nét chấm gạch các cụ chồng lên nhau rồi thành ra nội quái, ngoại quái. Xoay vần dịch đổi  nó ra thành 64 quẻ dịch 384 hào. Chỉ ngần ấy thôi mà các vị thánh phương Đông luận giải ra hết mọi lẽ sinh linh, hóa hóa của vũ trụ, đạo lý ở đời và vận số con người.
- Cậu nghiên cứu những thứ ấy để làm gì? – Tôi hỏi.
- Để chiêm nghiệm vào mình, thế thôi. Tiếc rằng số kiếp mình đã hết chẳng kịp nữa rồi.
- Đừng bi quan thế, cậu còn sống thêm mươi mười  lăm năm nữa.
- Đừng giấu nhau làm gì. Người tĩnh tâm như tớ, không hao tán trí lực và trực giác ra ngoài, biết cái chết đang đến.
Tôi im lặng nhìn Đàm đau xót, không biết nói thêm gì. Hắn cũng im lặng nhìn ra bầu trời lã chã mưa rơi, ầm ào gió mùa Đông Bắc thổi trên các ngọn cây, mài nhà. Bỗng hắn quay sang tôi hỏi:
- Nhân loại hiện nay có bao nhiêu người?
- Khoảng năm, sáu tỷ gì đó – Tôi đáp.
- Theo cậu nên chia mấy tỷ người ấy ra thành mấy loại?
- Cũng tùy theo cách chia: Có người chia theo tài đức, có người chia theo sang hèn, lại có người chia theo số mệnh.
- Mấy trăm năm trước, Ngô Thừa Ân trong truyện Tây du ký chia nhân loại thành năm hạng người: có người sinh ra chẳng cần biết có tài cán, công tích, nhưng do âm đức từ tiền kiếp nên phúc lộc dồi dào, được làm thầy, làm cha kẻ khác. Ai trái ý chỉ cần niệm một câu thần chú là lăn đùng ngã ngửa. Đó chính là Đường Tăng – Loại người thứ hai, tài năng mưu trí hơn người, nhưng ngang ngạnh ngỗ ngược suốt đời làm trò cười cho thiên hạ, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì. Đó là Tôn Ngộ Không – Loại người thứ ba luôn bẻm mép, lém lỉnh, ăn cỗ đi trước lội nước theo sau lại được bề trên tin dùng yêu mến. Đó là Trư Bát Giới – Loại người thứ tư suốt đời ba phải, ậm ừ và siêng năng cần mẫn. Đó là Sa Tăng – Loại người cuối cùng là con ngựa trắng sinh ra để cho người ta đè đầu, cưỡi cổ. Năm loại người này số phận đã định từ kiếp trước nên kiếp này phải đoàn kết, nương tựa vào nhau, đừng tranh đoạt đòi đổi hạng, quyết chí tu hành thì mọi yêu ma quỷ quái trên đời sẽ tiêu diệt hết và họ cùng nhau lên cõi niết bàn.
- Cách chia này có vẻ thụ động, huyền bí, không thích hợp với thế giới hiện đại – Tôi nhận xét.
- Đúng. Đạo Phật là thứ tôn giáo thụ động, khuyên con người ta thoát tục, lánh xa trần thế vốn là bể khổ. Đạo Nho khác đạo Phật ở chỗ chủ động. Nó khuyên con người ta tu thân rồi phải dấn thân tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nhưng xưa nay nhiều thế hệ đã quên mất phải lấy chữ Nhân điều hòa mọi quan hệ xã hội. Đó chính là thứ bi kịch của muôn đời. Vậy nên mình mới có một cách chia khác.
- Cậu định chia như thế nào?
- Mười hai người là cả thế gian. Nói chính xác hơn nhân loại năm, sáu tỷ người có thể chia thành mười hai bản mệnh: Tý - Sửu - Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi. Mỗi giáp có mười hai chi vừa nêu lại đi kèm với mười can: Giáp - Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỷ - Canh -Tân - Nhâm – Quý. Như vậy mỗi năm một bản mệnh có can, có chi đi kèm. Mỗi năm mười hai tháng, một tháng 30 ngày và một ngày theo cách tính thời gian của Phương Đông thời cổ có mười hai giờ. Mỗi đơn vị tháng, ngày, giờ lại đều có can, có chi nữa. Như vậy, bản mệnh con người chỉ có mười hai con giáp, nhưng biến hóa vô cùng theo năm, tháng, ngày, giờ sinh của họ. Con người muốn chủ động dấn thân vào xã hội phải nắm chắc bản mệnh của mình. Mười hai bản mệnh kết thành nhân loại, cùng hòa đồng, giải quyết mọi mối quan hệ, đừng tranh đọat thì cái ác sẽ hết, quả đất này chung một cơn ấm lạnh.
Tôi thật sự ngỡ ngàng, lúng túng trước sự phân chia nhân loại có phần cổ lỗ, rối rắm, gàn dở của Đàm giữa thời buổi văn minh hiện đại. Đàm vẫn say sưa không để ý thái độ băn khoăn của tôi. Hắn nói:
- Mình có ước mơ nếu ông trời cho sống thêm một giáp nữa thì mỗi năm sẽ viết mười hai truyện về mười hai con giáp. Như vậy thông tin về mỗi bản mệnh chí ít cũng được lặp lại mười hai lần. Tiếc rằng vừa mới vết xong tập truyện mười hai con giáp đầu tiên đã quỵ rồi.
- Để làm gì cơ chứ? – Tôi hỏi.
- Ở tuổi năm mươi như mình, người nhà quê thường hay đẵn xoan, chặt tre đóng bè ngâm xuống ao bùn đợi ngày làm nhà. Họ làm nhà để cho con cháu hưởng chứ bản thân họ còn được mấy nỗi. Mười hai truyện về mười hai con giáp này mình viết với tâm trạng ông lão nhà quê nọ. Nếu nó gieo được vào lòng người đọc một chút gì hữu ích là mình mãn nguyện…
Tôi không ngờ buổi nói chuyện tầm phào, điên điên dở dở ấy là lần tâm sự cuối cùng với Hữu Đàm. Theo di chúc, tôi lượm lặt mười hai câu chuyện hắn viết và miễn cưỡng phải đứng tên tác giả vì theo lời hắn nói, muốn tránh cái tên Đàm gàn, Đàm hâm mà thiên hạ vẫn gán cho mình. Hùng đã về, nhưng không kịp đưa tiễn bạn ra nghĩa trang. Hắn khóc thương Đàm thống thiết như em mất anh. Sau 49 ngày của Đàm, Hùng bảo tôi lo các thủ tục xuất bản, còn mọi chi phí in ấn hắn sẽ ủng hộ. Tôi cầm tập bản thảo đi đến nhà xuất bản cứ bị ám ảnh bởi câu trong sách Luận Ngữ: “Con chim sắp chết tiếng kêu buồn bã, con người sắp chết lời nói thật thà”. Đàm ơi! Mười hai truyện này là lời nói thật cuối cùng của Đàm. Nếu có chút gì trong đó người đời cho là gàn dở cũng chẳng sao. Suốt đời Đàm đã mang danh chàng gàn rồi cơ mà, Đàm ơi!...

 
 
 

tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
ĐÊM CỦA THIÊN THẦN NHẠC JAZZ
Vũ Ngọc Tiến
 
Đêm cuối tháng. Trời một màu đen đặc quánh. Bãi sông phơ phất những ngọn đay đang sắp mùa thu hoạch. Sông Đuống trôi lờ đờ, chỉ nghe tiếng sông thở như người đàn bà góa, giàu có, cô đơn, bơ thờ, lười nhác. Ngôi miếu hoang bên mép nước, thấp tè, chìm lấp giữa ngút ngàn ruộng đay. Bên trong miếu có hai cái bóng. Nếu không có ngọn nến cháy leo lét ở chận tường rêu mốc, có kẽ không ai nhận ra đó là người hay ma, hay chó hoang, mèo lạc. Cô bé dựa lưng vào đống hành lý, nửa ngồi, nửa nằm, ngủ say và thở đều. Gã đàn ông râu xồm, tóc buông xõa tận bờ vai, ngồi nhâm nhi chai rượu với nhúm lạc rang. Vừa uống gã vừa ngắm cô bé rồi thở dài. Trong người gã đang sôi lên sự thèm khát của con đực. Muốn lắm rồi mà dường như có sức mạnh nào vô hình đóng đinh gã ngồi chết lặng bên chai rượu, nhìn ngắm con bé và suy nghĩ mông lung. Ma quỷ nào xui khiến gã dẫn con bé vào ngôi miếu hoang này và từ lúc sẩm tối đã mấy lần gã muốn đè nó ra làm chuyện đực cái. Bao năm bỏ nhà, bỏ dàn nhạc giao hưởng đi lang thang hát rong, gã ngỡ đã quên hẳn cái bản năng đàn ông của mình. Thoắt mười năm kể từ ngày gã nhặt được con bé 5 tuổi, lấm lem, người đầy chấy rận, tóc tanh mùi cá hệt như con mèo hen ở góc chợ quê miền biển Giao Thanh hay Giao An gì đó, dưới Xuân Thủy, gã không nhớ nữa. Gã nhận nó làm con, dạy nó học chữ, học nhạc lý và tập hát những bài tình ca nhạc Jazz, do gã sáng tác. Gã nuôi mộng chăm chút nó thành một ngôi sao chỉ hát những bản tình ca trầm buồn của mình. Cả hai rồi sẽ nổi tiếng, nhất định sẽ nổi tiếng trong làng nhạc trẻ vào đầu thiên niên kỷ tới. Đã có lúc gã nằm mơ đến những “sô” diễn triền miên, vào Nam ra Bắc. Cả hai cha con gã luôn bị bao vây bởi những đám đông, chìm ngập giữa biển người và hoa, những tràng pháo tay và ánh mắt ngưỡng mộ.
Lúc chiều, hai cha con rong ruổi đàn hát từ bến phà Hồ qua Trạm Lộ về chợ Dâu. Đi đâu cũng có đám con trai choai choai bâu lại, giả lả chòng ghẹo con bé. Gã không thấy bực, mặt tỉnh bở, phớt lờ, ôm đàn đệm cho con bé hát. Lạ chưa, nó phấn khích hơn hẳn mọi ngày, hát say sửa, hát đam mê, bốc lửa những bản tình ca của gã. Giai điệu nhạc Jazz với sức mạnh biểu cảm, tính tự phát hồn nhiên cộng với tiết tấu đảo phách rất phù hợp tâm trạng xao xuyến của con bé đang chớm sang tuổi dậy thì. Sự hòa trộn phong cách nhạc “Rock and roll” mà nghĩa đen của từ này là “lắc lư, đu đưa và lăn” trong mỗi bài hát của gã khiến con bé phấn khích và bốc lửa khi nhìn thấy đám con trái choai choai quanh mình tán dương, chòng ghẹo. Cây đàn ghi ta dưới bàn tay điêu luyện của gã, bằng những kỹ xảo của “Swing”, những sắc thái biểu hiện của “blues” tạo thêm nguồn cảm hứng cho con bé cất lời ca. Gã chợt nhận thấy con bé đã vỡ giọng, chất giọng nữ trung (Anto) trầm ấm, gợi cảm đến mê hồn.
 Hai cha con vào nghỉ, uống nước trong một quán nhỏ ở chợ Dâu. Gã lượm đống tiền lẻ, vuốt thẳng từng tờ, mua hai chục cái bánh chưng, vài chai nước khoáng, một gói ô mai cho con bé và phần hắn là nửa lít rượu trắng với dăm gói lạc rang.
- Đi đâu bây giờ, hở cha? – Con bé hỏi.
Cha đang lưỡng lự.
- Chùa gì mà có cái tháp chuông cao to như quả núi thế kia cha?
- Chùa Dâu đấy con ạ! Gần hai ngàn năm trước nơi đây là thành Luy Lâu, còn ngôi chùa ấy là trung tâm Phật giáo lớn nhất, sớm nhất nước mình.
- Đi theo cha thích ơi là thích. Vào miền Trung con biết lăng tẩm, cung điện, những tháp Chàm… Lên miền ngược con biết được thành Nhà Mạc, động Tam Thanh, phố Kỳ Lừa. Ở Nam Bộ lại được đi thăm thánh thất Cao Đài và những vùng quê Long Xuyên của giáo phái Hòa Hảo. Mỗi bước theo cha con học được rất nhiều làn điệu dân ca Kinh Bắc, Thanh Nghệ, Tây Nguyên, Nam Bộ, hát then của người Tày, hát đối của người Dao…
 Người nghệ sĩ tâm hồn phải thấm đẫm tình quê sông nước, phải biết làm giàu vốn văn hóa dân tộc của mình bằng những chuyến đi.
Con mệt và mỏi chân lắm. Hay ta vào chùa Dâu xin nghỉ tạm đêm nay cha nhé!
Cha muốn ra bờ đê sống Đuống. Ở đó có ngôi miếu hoang gần mép nước, đêm nằm được nghe sông thở.
- Có xa không? Con… con hơi… đau bụng.
- Gần thôi. Đi dọc bờ mương, qua thôn Trí Quả thì đến… Cái ấy của con hôm nay vẫn ra à?
Không. Nó khô từ hôm qua rồi, cha ạ! Lúc nó mới ra con sợ quá, chẳng biết hỏi ai, may có bà hàng xén trên chợ Bắc Ninh bảo giúp, lại dúi cho một bịch băng vệ sinh để dùng.
 Con bé hơi đỏ mặt, ngước nhìn gã. Một cái nhìn khác lạ mà mười năm qua gã chưa hề thấy, cái nhìn của một thiếu nữ. Dẫu sao gã vẫn là đàn ông, không cùng huyết thống. Nó sượng sùng quay đi, người run lên, hai núm vụ phập phồng dưới áo. Bỗng nhiên, gã thèm ôm chặt nó vào lòng mà… Cái ý nghĩ tội lỗi ấy làm gã như bị tấy lên cơn sốt rét ác tính. Máu trong người gã lúc đông cứng lại, lúc réo sôi lên. Cái đầu gã giống như lò than hồng. Mắt cay xè. Nỗi cô đơn châm chích con tim. Lòng trống rỗng. Gã vùng đứng dậy, lảo đảo như người say, nhằm phía ngôi miếu hoang bước đi trong nỗi sợ hãi cái hiện hữu oái oăm của số phận phơi bày, muốn dập xóa nỗi ám ảnh mê cuồng không sao dập nổi. Con bé ngơ ngác chạy theo, run rẩy và sợ hãi. Một nỗi sợ mu mơ không rõ hình tích, chẳng hiểu nguyên do, nhưng mà sợ, sợ và hoang mang.
Chừng đã nửa đêm. Con bé vẫn ngủ say sau một ngày đi bộ và hát. Tiếng thở đều và gương mặt non tơ, trinh trắng bừng lên vẻ đẹp của thiên thần. Chai rượu đã cạn. Gã vẫn ngồi ngây, bất động, bần thần ngắm nhìn con mèo hen năm xưa vụt lớn thành thiếu nữ. Gã với ngọn nến, lại gần soi lên mặt, khẽ vuốt lọn tóc mai và hôn nhẹ lên vầng trán thơ ngây. Con bé như đang mơ, chợt ú ớ, nhoẻn cười. Nụ cườt tuyệt diệu. Có đến ngàn vạn năm sau, nếu dã được đầu thai vào kiếp khác cũng không tìm đâu ra nụ cườu trinh trắng, hồn nhiên đến vậy. Và nó lại nói mê, lại cười, vẫn nụ cười tuyệt diệu ấy. Không ghìm được, gã vuốt nhẹ làn môi như đôi cánh hoa hồng, rồi bầu má mịn màng, cái cằm lẹm dễ thương và xuôi bàn tay xuống bờ vai tròn mềm, ấm lạ. Con bé choàng tỉnh, mở to mắt như hai miệng giếng sâu thăm thẳm, nhìn gã, chẳng hề ngạc nhiên, có phần hưởng ứng.
- Cha chưa ngủ à? – Nó hỏi.
- Cha thấy buồn và cô đơn quá.
- Thế thì cha nằm xuống đây, ôm con mà ngủ. Con sẽ lại rúc vào nách cha như mọi ngày.
- Hôm nay thì không thể được nữa rồi, thiên thần của cha ạ!
- Sao thế, hở cha?
- Con vừa mơ thấy một chuyện lạ, cha ạ!
- Con mơ thấy gì?
- Con mở thấy mình và cái thằng điển trai trong đám choai choai ở bến phà Hồ. Hai đứa dắt tay nhau đi mãi, đi mãi, đến một nơi toàn lâu đài lộng lẫy và những bồn hoa tươi thắm, thảm cỏ xanh rờn.
- Rồi sao nữa?
- Chẳng có ai cấm đoán, nhìn ngó và ngăn cản gì sất, cha ạ! Chúng con được tự do hoàn toàn: tự do ăn uống, tự do múa hát, tự do reo hò và nhảy nhót như hai con chim chích bông giữa rừng cây. Thế rồi chúng con vào một lâu đài có cái giường ngủ giát vàng, nạm ngọc và thơm lừng. Rồi chúng con lên giường quấn vào nhau thật chặt, thật lâu. Vừa lúc ấy thì con mở mắt, nhìn thấy cha. Tiếc quá! Tiếc ơi là tiếc!...
 Gã ôm chặt con bé vào lòng, nước mắt giàn giụa. Nó lớn thật rồi. Không nghi ngờ gì nữa, nó đã là thiếu nữ. Gã nghĩ vậy. Oái oăm thay, nó lúc này vừa là niềm sung sướng, hạnh phúc tột cùng, lại vừa là nỗi lo âu, là mầm hiểm họa trong lòng gã. Hồi lâu, gã nghẹn ngào:
Phải xa con thôi. Cha sắp phải xa con rồi, thiên thần của cha ạ!
- Không… Con đang sung sướng đến bàng hoàng, cha đừng làm con sợ. Cha phải là của con, mãi mãi là của con. Xa cha con sống sao nổi.
- Bình tĩnh lại đi thiên thần của cha. Nếu cha còn tiếp tục gần con thì bản năng sẽ có lúc làm cha lú lẫn để làm cái việc như thằng bé trai ở trong giấc mơ.
Thì đã sao!
- Không được. Con còn bé lắm, hiểu sao hết sự phức tạp ở đời sau cái lần sung sướng ấy. Con phải về Hà Nội, vào nhạc viện học tiếp để thành ngôi sao nhạc nhẹ. Cha con mình khổ sở, cay cực là để đạt tới điều mong ước ấy. Người ta chỉ thật sự hạnh phúc khi được tự do lựa chọn, tự do vươn tới con người mà mình muốn trở thành. Mười năm qua cha đã dạy cho con đủ trình độ phổ thông trung học, am hiểu nhạc lý, lại có giọng ca vàng thiên bẩm mà chiều nay cha phát hiện được, nó là thứ giọng “Anto” trầm đục mà vẫn mượt, khỏe hiếm thấy ở đàn bà phương Đông. Cách đây mấy tháng, cha bị bệnh, sợ không qua nổi, đã viết sẵn lá thứ tiến cử con với anh bạn làm giáo sư ở Nhạc viện. Chắc chắn con sẽ thành danh trong giới âm nhạc vào đầu thiên niên kỷ tới.
- Con chẳng cần. Con chỉ muốn gần cha. Hai cha con mình đều là người tự do. Cha vừa nói con đã thành thiếu nữ, vậy thì con có tự do, có tình yêu của con. Chẳng ai cấm được con cho người khách cái gì là của con, thật sự của con. Cha đã cho con nhiều thứ, từ lúc còn là một con mèo hen. Bây giờ con dâng hiến cho cha tất cả cái gì con có, cái gì là của con, sao lại không được?
-  Không thể được. Con phải nghe cha. Thật lòng lúc chiều dắt con vào miếu hoang cha đã nghĩ vậy, may mà cha bình tĩnh lại. Ta là những cá thể tự do. Nhưng ta lại phải sống tự do giữa nhân quần. Khuôn nếp xã hội, truyền thống đạo đức luôn giằng níu các cá thể tự do trong chừng mực có thể. Đời người là phép số cộng của những nỗi oái oăm, âu lo, bất trắc và thất vọng triền miên vì không thể, không bao giờ được tự do làm hết mọi điều ta muốn. Cuộc sống nó vốn vậy. Lạ thay, nhờ đó mà con người tìm ra ý nghĩa đích thực của đời, vươn lên, lựa chọn, tranh đấu để được là chính mình.
 Con bé gục đầu vào ngực gã khóc nấc lên từng hồi thổn thức. Tiếng khóc nghe ai oán, giận uất trước sự bất lực của con người về nỗi trớ trêu của số phận. Nó càng gào to, gã càng bối rối, hoảng loạn, rã rời thân xác. Gã vỗ về, an ủi, khuyên con ngủ tiếp mà nước mắt cứ lã chã rơi xuống mái tóc đen huyền của nó đang dày lên, dài thêm. Tâm hồn gã chống chếnh, chơi vơi lần hồi qua bóng tối trên các ngọn đay bạt ngàn khắp bãi sông. Gã cảm thấy mình với nó như đang nằm dưới đáy mồ, bên trên chất toàn đay. Thân phận hắn, hơn năm mươi năm làm người luôn chỉ là cái bóng lẻ cô đơn, lần hồi trong bóng tối cuộc đời. Vào thời của gã, bảy năm học ở Nhạc viện muốn yêu mà chẳng được yêu. Người ta cấm đoán, rình mò, đe nạt gã phải ép xác đi tu để học thành tài một cái nghề vốn lấy khát vọng tình yêu làm cứu cánh cho mọi sáng tạo, ủ nóng những đam mê. Bố mẹ thành phần tư sản, có thân nhân đi Pháp hoặc di cư vào Nam mà thêm tội yêu đương bất chính thì bị đuổi học là cái chắc. Ra trường vào làm việc ở dàn nhạc giao hưởng quốc gia, gã cũng tí tởn liếc dọc, nhìn ngang, mơ tưởng cô này cô kia, nhưng bố gã lại tính toán một suất đi Tây học thêm ở nhạc viện Bucaret, nên đã nhờ người mai mối cho gã làm quen với con gái ông cán bộ cốp ở Thành phố. Đi Tây, hấp thụ ảnh hưởng trào lưu nhạc Jazz, nhạc Pop, nhạc Rock đang sôi động khắp Âu – Mỹ thời đó cũng là một thứ tai họa nghề nghiệp. Tác phẩm của gã chẳng đâu chịu dùng, còn gắn thêm cho gã cái mác “xét lại”, nhiễm nọc độc của tư tưởng văn hóa phương Tây. Đầu những năm 80, dàn nhạc giao hưởng gặp cơn khủng hoảng, đời hắn đã rách lại càng rách như xơ mướp. Vợ gã chán ngấy chồng, gọi gã là đồ vô tích sự, thằng ăn bám. Sau chuyến đi biểu diễn ở các tỉnh phía Nam về, gã thấy nhà hoang lạnh và trống trơn. Mụ vợ đã ôm con đến ở chung với một thằng vô lại, vừa đi lao động ở Nga về, rủng rỉnh đô la và vàng. Gã đóng cửa giam mình trong nhà, để râu, để tóc, ăn mì tôm, uống nước máy và sáng tác những bản tình ca nhạc Jazz. Một thời gian sau đó, gã khóa cửa nhà hàng xóm trông hộ, gói ghém ít bộ quần áo tàng tàng, ôm cây đàn ghi ta đi hát rong khắp chợ cùng quê để thu thập ghi chép các điệu dân ca thuộc mọi miền đất nước. Lớp trẻ thích nghe nhạc Jazz và tiếng đàn ghi ta điệu nghệ nên gã kiếm được tiền đủ sống và tự do làm những gì gã thích. Cuộc sống lang thang đã cho hắn đứa con nuôi để hôm nay nó thành thiếu nữ…
- Cha ơi! Cha nói gì đi chứ, im lặng trong bóng tối cô quạnh thế này con sợ.
 - Ngày mai cha con mình sẽ chia tay. Con phải cầm theo lá thư của cha về ngay Nhạc viện Hà Nội.
- Vâng, con sẽ làm theo lời cha.
- Có giáo sư nhạc sĩ, bạn của cha bảo lãnh, chắc chắn con sẽ được nhận. Có thể chưa đến kỳ tuyển sinh, ông ấy sẽ bố trí con làm một việc gì đó tạm thời và học bổ túc văn hóa thêm. Mọi việc ổn rồi thì con về ở nhà của cha trên phố Hàn Thuyên.
- Làm sao con đến được, ai cho con vào ở?
- Bạn của cha sẽ lo việc này. Xa cha, con phải hứa cố học thành tài. Người nghệ sĩ phải luôn là chính mình dù trong sáng tác, biểu diễn hay trong đời thường. Ta không là ta thì sẽ chẳng bao giờ có tác phẩm ra hồn. Nền âm nhạc trong thế kỷ mới, xã hội phát triển sẽ là đất tốt cho các dòng nhạc nhẹ vì nó hướng về công chúng bình dân, nhất là lớp trẻ. Dù là nhạc Pop, nhạc Rock, “Rock and roll” hay Pop – Rock hay nhạc trẻ gì gì đi nữa, con phải hiểu là đều có góc xuất xứ từ nhạc Jazz. Điều này rất quan trọng vì con phải vừa là ca sĩ vừa là nhà sáng tác. Các ngôi sao nhạc nhẹ lớn của thế giới đều như vậy cả. Loại trừ các mặt nổi loạn, kích dục vào những năm 60, cuối thế kỷ này các dòng nhạc trẻ đã đi vào chiều sâu biểu cảm nội tâm, phong cách đa dạng, có sự giao hòa phối kết văn hóa Đông – Tây. Cội nguồn của nhạc Jazz là âm nhạc của hậu duệ những người nô lệ châu Phi bị bán sang Mỹ. Trải qua mấy thập niên đầu của thế kỷ này nó được người da trắng cải biên thành thứ nhạc Jazz kinh điển. Nét đặc sắc của nó là câu hát đơn giản và ngắn, nhiều đảo phách và đa tiết tấu. Khi nhạc Jazz tràn sang châu Âu nó lại tiếp tục được cải biên vì Châu Âu vốn là thánh địa của dòng âm nhạc bác học, lại nhiều vùng dân ca đặc sắc. Đến nay, con nghe nhạc Jazz, nhạc Rock hay nhạc Pop của Đài Bắc, Hồng Kông, Hàn Quốc đã lại thêm những nét cải biên độc đáo theo truyền thống của âm nhạc châu Á. Con đường sáng tác những bản tính ca nhạc Jazz – Rock của cha mà con đang hát là theo hướng này. Nhạc Jazz của con sau này phải là nhạc Jazz của Việt Nam, nhạc Jazz của chính con, không thể lẫn với một ai khác, càng không thể là sản phẩm ngoại lai  thô thiển. Cuộc sống mười năm theo cha lang thang khắp nơi miền quê sẽ là vốn quí để con làm được cái điều cha mong muốn. Cha đặt niềm tin và hy vọng ở con, thiên thần của cha ạ!
 Con bé day mạnh chiếc cằm lẹm vào ngực gã. Mặt nó nhòe ướt. Người nó run rẩy. Tay nó luồn sâu vào áo vuốt ve tấm lưng gầy khô khốc của gã. Miệng nó lắp bắp:
- Cha ơi! Những điều ấy, mấy năm qua con đã nghe cha căn dặn biết bao lần. Nếu đời cho con được thành nghệ sĩ thì mỗi lời của cha sẽ thấm vào từng hơi thở, sợi tóc của con. Nhưng sắp xa con rồi cha hãy ban cho con ba nụ hôn, một ở môi còn hai ở bầu vú. Chiều con đi cha. Con cầu xin ba nụ hôn thôi.
Con bé bạo liệt mở cúc áo, phanh ngực lộ ra hai bầu vú chỉ mới nhú lên bằng hai quả ổi trên lồng ngực trắng nõn nà. Nó nhắm mắt, chờ đợi. Gã choáng váng bất ngờ và không còn tự chủ, hôn thật lâu lên môi con bé. Sau đó, gã quì xuống lần lượt hôn vào hai núm vú rắn đanh của cô gái trinh nguyên. Con bé giàn giụa nước mắt, khẽ rên lên:
- Ôi hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt vời… Rồi mai xa nhau, nghĩ về cha con lại sẽ mơ thấy lại.
 Chính vào lúc nghe những lời ấy, gã choàng tỉnh, hoảng loạn như thằng điên Gã ôm cây đàn vùng chạy ra khỏi miếu, lao vào ruộng dây dưới  màn đêm bao phủ. Những cây đay cao một đầu một với, ken dày trên mặt đất cản lối, làm gã ngã sấp ngã ngửa liên tục. Mặc kệ. Gã phải chạy ra thật xa, chọn một khúc sông vắng. Vừa nghe sông thở, gã sẽ vừa sáng tác bản nhạc tặng con bé. Tựa đề gã đã chọn rồi: Đêm của thiên thần nhạc Jazz…
 
tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
CHUYỆN TÌNH TRÊN ĐẢO KHỈ
Vũ Ngọc Tiến
 
1- Máy bay từ từ hạ cánh xuống đường băng sân bay Nha Trang. Giáo sư Vương Đại Tôn bước xuống cầu thang chói chang nắng. Xe taxi đưa ông ra khỏi cổng gặp đại lộ Trần Phú xanh rì bóng dừa, lồng lộng gió biển. Nha Trang của ông vẫn như xưa, ngập đầy nắng và nắng!... Nắng lung linh nhảy múa trên các vòm cây bên Hòn Chồng, Đồng Đế. Nắng dát vàng những con đường phố thân thương quanh khu chợ Đầm. Nắng lan toả mênh mang trên bãi cát, vịnh biển. Nắng quyện trong mùi cá, mắm làm đặc quánh không gian xóm chài đang neo đậu ở Cầu Đá. Nắng theo cánh gió bay lượn trên hồ cá Trí Nguyên, Hòn Rùa, Hòn Tre. Nắng ấp ủ, chờn vờn quanh tháp Chàm cổ kính. Nắng làm sáng thêm ánh mắt nụ cười những cô gái thành phố biển. Chao ôi!... Đã có một thời tuổi trẻ ông để lại nơi đây lỗi lầm và sự tệ bạc với một người con gái gốc quê Diên Khánh. Đường từ trung tâm thành phố về huyện Diên Khánh bây giờ là một đại lộ rộng dênh, có bồn hoa, thảm cỏ làm lộ giới cho hai luồng xe chạy hết tốc lực mà sao như có barie vô hình làm rào cản giữa lòng ông. Viện nghiên cứu trên đường Trần Phú vẫn một màu trắng loá trong nắng và gió biển, mà sao lúc taxi chạy qua chỉ làm ông nhói lên một nỗi buồn hiu hắt như có cơn mưa nào sậm sùi rơi vào cõi nhớ mênh mông, sâu thẳm. Ông nhắm mắt lại vì cảm thấy mỗi ô cửa trong viện nghiên cứu như con mắt đang trừng trừng nhìn ông trách móc, oán giận. Con người ta khi còn thênh thang trên bước đường thăng tiến, chẳng mấy ai ngoái đầu lại nhìn quá khứ lầm lỡ, đoái hoài đến người tình của một thời trai trẻ đã qua. Giờ mất chức Thứ trưởng, cầm tờ quyết định nghỉ hưu, trong giây phút trống chếnh, hụt hẫng giáo sư Vương Đại Tôn mới chợt nghĩ về Thân. Đêm về cô quạnh, ông bỗng hỏi mình sao lâu nay ta thờ ơ với số phận người cộng sự khoa học ấy và ông lại nhớ câu Thân nói năm nào: “Người ta tuổi Hợi tuổi Mùi – Sao em phải chịu ngậm ngùi tuổi Thân”. Không. Không phải tuổi Thân làm số kiếp em hẩm hiu, thiệt thòi, cô độc nuôi đứa con ngoài giá thú. Chính ta mới là thủ phạm gây ra tất cả. Ông nghĩ vậy và giọt lệ trào ra làm cay rát bờ mi. Ông ngồi chết lặng như cái xác ướp cho đến khi xe taxi đưa ông đến nhà khách của tỉnh, trên đường Phan Chu Trinh. Tới nơi, ông nhận phòng, lảo đảo bước lên phòng ở lầu hai, nằm vật xuống giường, muốn khóc mà không thành tiếng. Ông chua xót hồi tưởng ngày đầu gặp Thân và Phương Trang.
 2- Chiến tranh kết thúc, nhiều viện nghiên cứu chuyên ngành của đối phương để lại cần được nhanh chóng tiếp quản. Đoàn cán bộ chuyên môn cao cấp do đích thân ngài Bộ trưởng dẫn đầu đã tiến hành khảo sát các viện và cơ sở nghiên cứu của ngành nằm rải rác từ thành phố Hồ Chí Minh ra cố đô Huế. Thời gian tham gia đoàn công tác, Phó tiến sỹ trẻ Vương Đại Tôn đã suy nghĩ rất nhiều, cân nhắc lựa chọn cho mình một nơi thích hợp với đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ khoa học mà anh đang ấp ủ. Ở thành phố Hồ Chí Minh có quá nhiều “cây đa”, “cây đề” trong giới khoa học, thuộc cả hai chế độ cũ và mới. Ở đó anh sẽ phải cọ sát và dễ dàng bị lu mờ, lép vế. Hơn nữa, ở vào thời điểm đó nếu anh chọn viện nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh có thể còn bị dư luận đánh giá là “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, chưa thể hiện tính “xung kích” của lớp cán bộ khoa học trẻ. Chọn viện nghiên cứu ở Nha Trang, Tôn vừa tránh được hai điều bất lợi kia, vừa nắm chắc cái ghế viện trưởng trong tay để làm bàn đạp thăng tiến sau này. Một lý do khiến Tôn chọn Nha Trang vì ở đó có đảo nuôi khỉ, rất thuận lợi cho ý đồ tìm hiểu đời sống tâm lý và tổ chức xã hội loài khỉ của anh. Điều cốt yếu là phải giấu kín ý đồ này, chọn một trí thức của chế độ cũ người địa phương làm vật thế mạng, nếu không khéo anh sẽ bị giam chân giữa nơi đảo vắng. Người ra đảo tiếp quản bầy khỉ phải có tài, say sưa với nghề và yêu quý động vật mới có thể giúp anh thu thập tài liệu thực tế, đóng góp vào công trình nghiên cứu. Ngay khi đoàn công tác đang ở Nha Trang, Tôn tranh thủ xem tài liệu lưu trữ, dò tìm ra địa chỉ hai nhân viên cũ của viện nghiên cứu, quê Diên Khánh, tốt nghiệp bác sỹ thú y ở Mỹ là Phương Trang và Thân. Anh báo cáo với Bộ trưởng cho mời họ đến Viện để mình gặp gỡ trao đổi. Cả hai đều giỏi chuyên môn, yêu nghề, tha thiết muốn được tiếp tục cống hiến cho khoa học. Thân bằng tuổi Tôn, sinh năm bốn tư, tốt nghiệp ở Mỹ về nước năm Mậu Thân sáu tám, có thâm niên công tác, nhưng sức khoẻ yếu. Nàng hơi gầy và xanh, nhưng đẹp thùy mị một cách quý phái. Sống mũi cao và thẳng. Cặp mắt to, đen láy, lúc nào cũng mọng nước như hai trái chôm chôm vừa bóc vỏ. Phương Trang trẻ hơn, sinh năm năm mươi, tuổi Dần học sau Thân bốn khoá. Nàng không đẹp nhưng có duyên, thông minh, lanh lẹ, hợp với công việc ngoài thực địa trên đảo Khỉ. Đáng lưu ý, Phương Trang có người bác ruột làm lớn ngoài Hà Nội. Hai nàng rất thân thiết với nhau như chị em, cùng là viên chức chế độ cũ, đang cần chiếc phao cứu tinh của đồng nghiệp từ miền Bắc vào nên đều quấn quýt lấy Tôn, xin được làm việc. Công việc chuyên môn đòi hỏi một nàng ở lại Viện, nàng kia ra đảo Khỉ. Anh tự cho mình cái quyền của người thuộc phe chiến thắng để cân nhắc, ban ơn cho người của phe chiến bại. Là chàng trai chưa vợ, anh cũng bồi hồi, xao xuyến trước hai mỹ nhân đang làm anh liên tưởng đến chị em Thúy Kiều để mà lựa chọn. Trong đầu chàng Phó tiến sỹ miền Bắc chợt lóe lên sự tính toán. Nếu ưu ái Phương Trang, anh sẽ có cơ hội tiếp cận ông bác và cái chức Viện trưởng có thêm một ô dù che đỡ sẽ mau thành hiện thực. Ông bác chắc sẽ càng nhiệt tình khi cháu mình làm thư ký khoa học cho anh và biết đâu…Sự lọc lõi chốn quan trường mách bảo anh phải biết chiều lòng bề trên, thuận tình kẻ dưới. Hơn nữa, anh rất cần người ra đảo hết lòng với đề tài làm luận văn tiến sỹ khoa học của mình. Trong thâm tâm dù đã chọn xong, anh vẫn nói lửng lơ trước mặt hai nàng:
-  Phương Trang hợp với công việc ngoài đảo hơn, ngặt vì tuổi Dần xung khắc với loài khỉ theo luật “tứ xung tam hợp”, nhưng để Thân ra đảo tôi lại lo cho sức khỏe của em, lỡ có bề gì tôi sẽ ân hận.
 Ngỡ rằng Thân sẽ thất vọng, anh không ngờ nàng nắm chặt tay anh xúc động nói:
- Cám ơn anh Tôn đã quan tâm! Từ lâu em rất muốn ra đảo, ngặt vì thời chiến, thân gái một mình ngoài đó nguy hiểm nên má em không chịu. Hòa bình rồi, không còn gì ngăn cản em đến với bầy khỉ. Anh là ân nhân của em. Em sẽ làm việc, gắn bó suốt đời với đảo để không phụ lòng tin của anh.
- Nhưng Thân không được khoẻ, liệu có vất vả quá không?
- Anh khỏi lo. Người kỹ thuật được làm việc mà mình yêu thích là nguồn thuốc bổ công hiệu nhất, anh ạ!
  Tôn mừng thầm vì đã tìm được người thế mạng và chắc chắn sẽ giúp ích được nhiều cho đề tài nghiên cứu của mình. Anh cám ơn ông trời đã khéo sắp đặt, nhưng cố kiềm chế không để lộ niềm vui sướng trên nét mặt. Tôn  mỉm cười nhìn Thân, nói đãi bôi:
- Tôi vẫn chưa thật an tâm vì sức khỏe của Thân. Để Thân phải ra đảo làm việc vất vả thui thủi một mình, lương tâm tôi cứ thấy bứt dứt. Hay Thân để tôi báo cáo lãnh đạo bộ tìm người khác.
- Đừng. Em van anh, xin anh cứ cho em ra đảo.
- Nếu sau này thấy cần, Thân cứ đề đạt nguyện vọng. Tôi hứa, nếu vào đây phụ trách Viện sẽ giải quyết cho Thân về thành phố sau khi nhận được đơn đề nghị của em.
- Cám ơn anh! điều ấy chắc sẽ không xảy ra.
Ngay hôm sau Thân thu xếp hành lý ra đảo nhận bàn giao công việc, kiểm tra bầy khỉ, tổ chức lại nhân lực trên đảo, ai vào việc nấy. Nàng lao vào công việc với tất cả niềm đam mê khoa học và tình yêu với bầy khỉ. Tôn nán ở lại thành phố ít ngày, làm thân rất nhanh với Phương Trang. Trước hôm ra Huế để về Hà Nội, anh không quên gợi ý Phương Trang viết thư cho ông bác đáng kính. Mọi việc sảy ra sau đó không ngoài sự tính toán của anh. Chẳng bao lâu, Tôn sung sướng gọi điện báo tin cho Phương Trang, anh đã nhận quyết định bổ nhiệm viện trưởng viện nghiên cứu. Ngồi trên máy bay, anh thấy lòng lâng lâng, xốn xang bao dự định.
Phương Trang đón Tôn ở sân bay. Nàng đưa anh về nhà giới thiệu với ba má, anh là bạn cũng sẽ là thủ trưởng cấp trên trực tiếp của mình. Ba Phương Trang là kỹ sư điện tử danh tiếng, nhiều năm làm việc trong hãng điên tử Sony ở Nhật. Ông còn có vốn cổ đông ở Mỹ và Hàn Quốc. Ông được nhà nước trọng dụng phần vì tài năng khoa học, phần vì có anh ruột đi tập kết, làm lớn ở Hà Nội. Ngôi biệt thự của ông trên đường Tản Viên không lớn, có vẻ khiêm nhường, nhưng rất nhiều cây kiểng. Phòng làm việc của ông như một thư viện nhỏ. Sách bày kín ba mặt tường từ sàn lên tận đường chỉ sơn tường làm cổ trần của căn phòng thoáng đãng, thanh lịch. Ông tiếp Tôn vừa đủ lịch sự của người cha với bạn trai của con gái, không để ý đến chức Viện trưởng của anh theo lời giới thiệu. Với phong độ trí thức, từng trải việc đời, ông quan sát, dò hỏi đôi lời, chủ yếu là nghe đôi trẻ tâm sự về công việc của mình. Khi Tôn ra vườn ngắm cây kiểng, anh nghe loáng thoáng lời nhận xét của người cha, nói với con gái: “Ba thấy anh ta có vẻ kiệm lời, kín đáo. Đàn ông loại này có thể thành đạt trong sự nghiệp. Có điều đã là đàn ông, trong giao tiếp ban đầu phải thấy toát lên phong độ cách riêng, chinh phục hoặc thậm chí mếch lòng người đối thoại. Điều này ba chưa thấy. Ba chỉ băn khoăn về cái lý do anh ta không chọn con ra đảo khỉ vì con tuổi Dần, xung khắc với loài khỉ. Vậy sao anh ta tuổi Thân lại sớm quen thân, tâm tình cởi mở với con? Những điều ba nói chỉ là cảm giác ban đầu. Tình bạn, tình yêu vốn tự nó thiêng liêng và rất riêng tư, ba không giám can thiệp.” Tôn loáng thoáng nghe cha con họ tâm sự lòng chạnh buồn, pha chút tự ái. Anh chợt nghĩ về Thân ngoài đảo Khỉ. Giờ này Thân đang tiêm chủng cho mấy chú khỉ con, vui đùa với khỉ mẹ, hay đang đọc sách? Cặp mắt đen láy, hàng mi cong thoáng hiện lên trong giây lát. Nụ cười đôn hậu và cái bắt tay rụt rè lúc chia tay ngỡ như còn phảng phất dư vị ngọt ngào. Nhưng anh vội xua đi hình ảnh Thân, nhắm đích về phía Phương Trang như người thợ săn lành nghề. Tình yêu với người đàn ông đơn giản là chinh phục, anh nghĩ. Tôn có thế mạnh và sự kiên trì đảm bảo cho sự chinh phục ấy. Bước khởi đầu Trang như vậy vẫn chưa có gì đáng ngại. Thời gian, sự gần gũi và danh vị sẽ giúp anh khỏa lấp mọi băn khoăn trong lòng người đẹp, tìm hiểu mọi ý thích, sở nguyện của nàng. Với ba má nàng, anh sẽ giữ một khoảng cách vừa đủ để thông cảm và không cách bức hoặc suồng sã, nhưng cũng khôn ngoan ngầm hé lộ cái quyền uy của những người thuộc phe chiến thắng. Tôn đã tính toán chi li từng bước cho cuộc chinh phục người tình và Phương Trang  sớm ngã vào lòng anh, ngất ngây hạnh phúc…
 3- Giáo sư Vương Đại Tôn cố dằn lòng quên đi những ám ảnh quá khứ. Ông vùng dậy mở tủ lạnh, lấy một lon bia uống liền một hơi như muốn mượn hơi men lấy thêm dũng khí nhìn vào thực tại. Ông với Phương Trang đã chung một tổ ấm suốt mấy chục năm, con cái đều đã phương trưởng. Ông là người chồng biết chiều chuộng vợ, hết lòng vì con cái. Sự vinh thăng của ông cũng đem lại tiền tài và niềm vinh dự cho bà, cho cả gia đình chứ đâu chỉ cho mình ông. Vậy mà lúc ông kiêu hãnh bước lên ngồi ghế Thứ trưởng lại là lúc ông cay đắng hiểu ra sự thật lâu nay quan hệ vợ chồng vẫn chỉ là “đồng sàng dị mộng”. Phương Trang thừa hưởng tính cách thâm trầm của người cha, suốt mấy chục năm giữ lòng kín bưng. Cái vỏ thuận hòa, êm ấm hạnh phúc gia đình bỗng nhiên bị rách toạc vào cái đêm ông nhậm chức. Hôm ấy, ông lên giường phởn phơ hút thuốc chờ vợ, còn bà ngồi ngay như tượng đá trên ghế, im lặng đến khó hiểu. Không thể chờ đợi được lâu ông lên tiếng:
- Mình hôm nay sao thế? Tôi vừa được đề bạt, lẽ ra đêm nay mình phải vui lên mà sao không khí nặng nề quá!
- Em muốn nói chuyện nghiêm chỉnh với anh.
- Chuyện gì?... Sao lại lúc này?...
- Lúc này là hợp lý nhất. Các con đã lớn cả rồi, đứa lớn đã ra trường nhận công tác, đứa út là gái có chồng. Chúng nó cần phải biết sự thật và em cũng cần tự giải thoát mình.
- Em nói gì, anh không hiểu?
- Anh không hiểu hay không muốn hiểu? – Nàng đay lại.
- Nhưng em muốn nói về chuyện gì?
- Em muốn nói rằng chúng mình cần phải chia tay.
- Chia tay?... Trời ơi, em điên rồi!
- Không em rất bình tĩnh và sáng suốt. Em suy nghĩ hai mươi năm để nói với anh hai chữ chia tay. Anh cũng nên dứt khoát với em để quay lại làm tròn trách nhiệm với mẹ con chị Thân. Chị ấy tốt quá! Chị ấy quên mình, vị tha quá! Còn anh...
- Lại một sự hiểu lầm tai hại. Chắc là có đứa muốn ngáng chân anh lên Thứ trưởng, bịa đặt câu chuyện hoang đường để hại anh.
- Trời ơi! Anh ích kỷ, tàn nhẫn, lạnh lùng đến thế kia ư?
 Phương Trang oà khóc, khiến ông thấy chột dạ, lạnh buốt sống lưng. Câu chuyện giữa ông và Thân ngỡ đã đào sâu chôn chặt nào ngờ bục vỡ ra lúc này. Chẳng lẽ Thân đã tiết lộ sự thật với Phương Trang. Không đời nào. Ngày ấy chuyện Thân chửa hoang trên đảo là việc động trời. Người ta hùa nhau tra khảo Thân ai là cha đứa bé, nhưng nàng một mực im lặng. Nhiều khi chỉ vì thoả mãn trí tò mò, con người ta thời ấy trở nên tàn nhẫn, không chịu buông tha nỗi đau khổ của người khác. Ông già chuyên đánh kẻng, chia thức ăn cho bầy khỉ trên đảo đã đứng ra nhận đứa bé là của mình. Cái số của Tôn luôn có quý nhân phù trợ. Mỗi lần gặp bước nguy nan hay tình huống khó xử, Tôn đều có người tình nguyện làm hình nhân thế mạng. Chẳng ai thiết bày đặt kỷ luật một công nhân hợp đồng, đang làm công việc thuộc loại mạt hạng nhất cơ quan. Sự việc nhanh chóng rơi vào im lặng. Sau đó, Tôn đi nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sỹ khoa học ở Nga. Về nước, ông nhận công tác ở Bộ, đưa Phương Trang và các con ra Hà Nội. Tôn không tin Phương Trang biết sự thật. Có lẽ bà chỉ đoán mò hoặc nghe tin tầm phơ từ một kẻ độc miệng...
- Chuyện vớ vẩn. Nếu không còn chuyện gì khác anh đi ngủ đây. Mình chỉ ghen tuông lấp bấp, sinh lẩm cẩm mất rồi – Tôn lấy lại bình tĩnh thản nhiên nói.
- Không - Điều em nói là sự thật. Anh thú nhận đi.
- Em định lải nhải cái chuyện hoang đường ấy đến bao giờ nữa? Anh hỏi mình: Nếu đứa bé kia là con anh, sao từ ngày về nước anh không một lần nhắc đến Thân, chưa một lần gặp mặt con?
- Chính điều ấy làm em ghê sợ con tim hoá đá của anh. Phụ nữ chúng em không ngờ nghệch như anh tưởng đâu. Đứa bé giống anh như tạc. Ngày sinh của nó tính ngược lại thời gian đủ chín tháng mười ngày, chỉ có anh trên đảo, còn ông già chia cơm cho khỉ về quê Khánh Vĩnh một tuần lo việc tang. Thời gian anh đi Nga, tuy ông lão thường xuyên chăm sóc đứa bé, nhưng giữa ông và Thân không hề có quan hệ tình cảm. Em biết và mọi người cũng thừa biết, nhưng chẳng ai muốn bới ra thêm nát chuyện.
- Tất cả mới chỉ là do mình suy đoán.
- Không phải là suy đoán mà em khẳng định. Em âm thầm nuốt hận, nén nhịn cho êm ấm cửa nhà vì lúc ấy các con mình quá nhỏ. Không có gì đau khổ hơn khi phải tự mình đóng kịch, giả dối với lòng mình hết một phần ba cuộc đời. Vì vậy em đã thầm nhủ, đợi ngày các con trưởng thành sẽ giải thoát cho anh quay lại với mẹ con chị Thân, để em được sống thật với mình. Mỗi ngày qua đi, nhìn vẻ mặt vô tư, bình thản của anh, em càng thấy ghê sợ. Em chiêm nghiệm lại lời nhận xét của ba em ngay từ buổi  đầu gặp anh sao mà sâu sắc. Đã không có tình với nhau, lâu nay chúng ta sống chỉ là “đồng sàng dị mộng”, em tự biến mình thành cái máy vô tri vô giác. Nhưng đến hôm nay nhìn thấy anh hớn hở nhậm chức, trong mắt anh khi về nhà không bợn chút suy tư về chị Thân, em không còn chịu đựng được nữa, càng thêm sợ anh. Nếu lâu nay anh giấu mẹ con em đi thăm chị ấy, chăm sóc đứa trẻ, có lẽ em chỉ tủi thân, thậm chí lồng lộn ghen tức, nhưng lại không ghê sợ con người của anh đến vậy. Người đời nhìn anh là ông chồng tốt, người cha mẫu mực, gia đình ta là tổ ấm ngọt ngào hạnh phúc. Vậy còn em và anh, ta nghĩ gì? Thật là kinh khủng! Em không thể giải thích nổi ngoài tình yêu con, trách nhiệm với gia đình, cái gì đã giúp em đủ nghị lực, kiên trì chung sống với anh ngần ấy năm. Anh không hề yêu em, yêu con, không hề yêu ai cả. Anh chỉ yêu mình anh. Sự giả trá đã ngấm vào máu, hằn sâu lên não tủy, biến anh thành kẻ lạnh lùng, tàn nhẫn...
 Phương Trang nói liền một mạch không nghỉ. Bà nói toạc ra tất cả, gay gắt và dứt khoát. Tôn cay đắng ngồi nghe và hiểu rằng không còn gì để thanh minh cứu vãn. Thực ra Phương Trang đã nói quá lời, kết tội ông quá nặng nề, có phần oan uổng. Trước ngày đi Nga làm luận văn tốt nghiệp tiến sỹ ông đã gặp Thân. Nàng động viên ông an tâm lên đường, hứa sẽ phá bỏ cái thai chung của hai người. Ông đinh ninh Thân sẽ thực hiện lời hứa ấy nên đâu ngờ mình đang có một đứa con riêng. Ông chỉ ân hận giá ngày về nước đánh liều tìm cách gặp Thân một lần sẽ không xảy ra chuyện đáng tiếc này. Nhưng hồi đó ông đang là tiến sỹ khoa học đầu tiên của ngành, con đường tiến bộ thênh thênh rộng mở. Chuyện xảy ra với Thân, ông chỉ xem như lầm lỡ thoảng qua nên tốt nhất hãy tránh xa nhau. Việc gì đã qua thì cho nó qua luôn. Triết lý sống của ông là như vậy. Trở lại Nha Trang lần này, lòng ông xót xa, bồi hồi ôn lại những gì đã xảy ra trong một tuần trên đảo khỉ thời xa ấy...
 4- Bình minh trên đảo ngập đầy gió và hương cỏ mật. Gió miên man trên vành tai, mái tóc gây cảm giác khoan khoái như người vừa qua giờ vật lý trị liệu. Xa xa phía Hòn Tre mặt trời nhô lên khỏi mặt biển một nửa. Nửa kia còn ngậm trong sóng biển  mênh mang, lan toả những vạt sáng màu hồng trên mặt nước xanh biếc. Bầu trời xanh nhạt, loáng thoáng những giải lụa bằng mây mỏng tang, chờn vờn trong gió sớm. Những áng mây lúc nhập vào, lúc tách ra, màu sắc biến đổi kỳ ảo từ trắng nõn, sang hồng nhạt, lại vàng mơ lẫn pha sắc tím phớt nhẹ. Sóng biển dập dềnh xô từng lớp vào bờ cát dưới chân đảo, tung bọt trắng tan dần trong cát mịn.
 Tôn đứng trên mô đất dưới tán dừa của đảo Khỉ say sưa ngắm cảnh bình minh. Ba năm làm Viện trưởng anh chỉ ra đảo có vài lần nhưng đều xấp ngửa vội vàng. Các số liệu về sự tăng trưởng của bày khỉ và những nhận xét về tâm sinh lý của chúng đã được Thân đều đặn viết báo cáo gửi về hàng tháng. Anh ra đảo khỉ chỉ để kiểm tra theo định kỳ, giải quyết một vài việc sự vụ linh tinh khác. Mỗi lần gặp Thân trao đổi  công việc chuyên môn, tuy vội vàng, nhưng Tôn rất khâm phục lòng yêu nghề, tác phong nghiên cứu tỉ mỉ và thận trọng của nàng. Anh không ngờ một cô gái mảnh mai, yếu đuối như Thân đã chỉ huy công nhân biến đảo Khỉ thành một rừng cây đầy hoa trái xum xuê. Theo Thân giải thích, việc trồng cây ăn trái chẳng những tạo nên cảnh quan môi trường hấp dẫn bầy khỉ mà còn tăng thêm khẩu phần ăn cho chúng. Nhận được quyết định đi nghiên cứu sinh làm luận án tiến sỹ ở Nga, Tôn đã nghiên cứu rất kỹ từng bản báo cáo định kỳ của Thân. Anh ngỡ ngàng trước những phát hiện độc đáo của nàng về giác quan thứ sáu của loài khỉ. Nhiều ví dụ minh họa, kèm theo lời nhận xét của Thân và những dự kiến nghiên cứu tiếp theo của nàng. Tôn rất khâm phục tuy còn đôi chút phân vân, nghi ngờ. Bản chất của khoa học là một vòng quay tuần hoàn: Giả thuyết, phán đoán rồi nghi ngờ, chứng minh, tiếp đó lại giả thuyết, phán đoán, nghi ngờ, chứng minh. Quá trình ấy tuần hoàn lặp đi lặp lại và sau mỗi vòng tuần hoàn, tri thức khoa học của con người lại nâng lên một bậc. Tôn nghĩ vậy và bàn với Phương Trang để anh ra đảo khỉ cùng Thân nghiên cứu một tuần, giải tỏa những nghi ngờ, thắc  mắc của anh về giác quan thứ sáu của loài khỉ. Phương Trang lúc đó vừa sinh đứa thứ hai, nàng sốt sắng động viên chồng ra đảo, mọi việc ở nhà đã có người giúp việc và bà ngoại lũ trẻ giúp đỡ. Thời hạn đi nghiên cứu sinh còn sáu tháng để Tôn chuẩn bị tài liệu và bàn giao công tác với Viện phó. Anh hăm hở ra đảo, mang theo nhiều quà của phụ nữ mà Phương Trang gói cẩn thận gửi cho Thân. Hai người tuy cách nhau sáu tuổi nhưng rất tâm đắc, hiểu từng sở thích rất nhỏ, rất phụ nữ của nhau. Ngày Tôn cưới Phương Trang, chính Thân làm phù dâu, giúp Phương Trang tô điểm cho gương mặt hơi thô bỗng trở nên khêu gợi, kiều diễm.
Tuần nghiên cứu trên đảo Khỉ mới bước sang ngày thứ ba, nhưng Thân đã đưa Tôn qua hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Xã hội loài khỉ có nhiều điều lý thú. Lâu nay Tôn chỉ mới hiểu biết làng màng qua sách tham khảo và báo cáo của các cơ sở nuôi khỉ. Đêm qua, lúc gần sáng Thân đến tìm Tôn. Mắt nàng mọng nước, giọng nàng run run xúc động:
- Anh Tôn! Anh có nghe thấy gì không?
- Mải xem tài liệu, anh ngủ thiếp đi không biết trời đất gì nữa. Có chuyện gì thế, hở Thân?
- Gia đình khỉ đực số 125H  có một con khỉ cái chết.
- Sao em biết?
- Chúng đang tụ tập than khóc thê thảm lắm, anh đi với em khắc biết.
 Tôn cầm đèn pin, theo Thân bước ra ngoài sân. Trời tối đen như mực. Phía lưng chừng núi xuất hiện một đống lửa, từ đó vọng lại tiếng  khóc than, rên rỉ.
- Giống khỉ rất sợ lửa, làm sao chúng đốt được đống lửa to như vậy? Chúng lấy lửa ở đâu? – Tôn ngạc nhiên hỏi.
- Con khỉ đực số 125H rất táo bạo và yêu vợ. Hiện tượng khỉ đốt lửa chưa từng xảy ra từ ngày em ra đảo. Có lẽ nó lấy lửa trong nhà bếp vẫn thường ủ than cho ngày hôm sau. Tình yêu giúp khỉ đực 125H quên hết mọi sợ hãi, nguy hiểm.
- Thật kỳ kạ! Anh chưa từng nghe khỉ đốt lửa bao giờ.
- Con khỉ đực 125H rất khôn, y như người vậy
Khi Tôn bám theo Thân leo lên con đường dốc, tiến đến gần đống lửa, một cảnh đưa ma rất độc đáo của xã hôi loài khỉ diễn ra trước mắt làm anh bàng hoàng xúc động. Cách đống lửa chừng mười mét, cả gia đình nhà khỉ đực 125H ngồi vây quanh xác con khỉ cái  rên rỉ, khóc than nghe thống thiết, nghẹn ngào đầy vẻ tang tóc. Các gia đình khỉ khác ngồi thành vòng tròn cách xa gia đình khỉ đực 125H như tỏ ý chia buồn, im lặng đưa tiễn linh hồn khỉ về nơi cực lạc. Chúng ngồi như vậy khoảng một giờ, sau đó khỉ đực vác xác khỉ vợ lầm lũi đi về hang đá trên đỉnh núi. Từng tốp khỉ lặng lẽ đi sau như đám ma diễu hành trên sườn núi trong đêm vắng lạnh, giữa rừng cây xao xác lá khô bay. Đặt xác khỉ vợ vào hang đá trở về, đi được một quãng khỉ đực 125H còn quay lại gào lên những tiếng não nùng...
Thân nghe tiếng gào ấy xúc động, gục đầu vào vai Tôn thổn thức. Anh vuốt nhẹ lên mái tóc Thân an ủi:
- Thôi nào Thân. Em xúc động quá sẽ không có lợi cho sức khoẻ. Ta về đi em.
- Thương chúng quá, anh Tôn ạ! Em ra đảo suốt ba năm, chứng kiến nhiều đám ma khỉ, nhưng chưa lần nào xúc động và kỳ lạ như lần này.
- Chúng vẫn thường làm như vậy khi có một con khỉ chết à?
- Vâng. Dù chết ban ngày chúng cũng đưa ma về ban đêm. Mọi đám khác không có đốt lửa vì khỉ rất sợ lửa. Duy có đám này khỉ đực 125H nghĩ ra trò đốt lửa, chứng tỏ nó rất yêu vợ, bất chấp mọi nguy hiểm.
- Em nói qua về gia đình khỉ đực 125H cho anh nghe nào. Có thể em sẽ vơi bớt cơn xúc động và anh sẽ có thêm ví dụ sinh động cho công trình nghiên cứu.
- Loài khỉ, con đực nào cũng có mươi mười lăm con cái làm vợ. Chúng tách thành một gia đình nhỏ trên đảo cùng ăn uống, sinh hoạt chung với nhau. Hễ có con khỉ đực nào đến lân la tán tỉnh đám khỉ vợ của mình là khỉ đực lồng lên giận dữ, đánh nhau kịch liệt, có khi đến chết. Con khỉ đực 125H có chín khỉ vợ, nhưng con khỉ cái hôm nay chết được nó yêu nhất, luôn luôn cặp kè bên nhau. Trên đảo có một con khỉ đực to lớn và hung dữ, dâm bạo. Nó tự cho mình là khỉ chúa trên đảo. Con khỉ này không kết bạn và lập gia đình riêng với bất kỳ khỉ cái nào. Hàng ngày, đến giờ ông già công nhân của đảo đánh kẻng chia cơm cho khỉ là lúc nó hú lên những tiếng man rợ. Từ trên đỉnh núi, nó rẽ cây chạy ào ào xuống như trận cuồng phong dữ dội. Tất cả các gia đình nhà khỉ đều lấm lét nhìn nó, lẩn tránh ắnh mắt dâm bạo, độc ác. Ăn uống no nê, con khỉ chúa chạy lồng quanh bãi tìm kiếm, gặp con khỉ cái nào ưng ý là nó chồm tới vồ bắt rồi vác lên vai chạy vào rừng. Các con khỉ đực đều sợ oai và sức mạnh của khỉ chúa, không dám chống cự. Duy có con khỉ đực 125H nhiều lần vì bảo vệ con khỉ vợ vừa chết hôm nay, đã xông vào đánh nhau kịch liệt, tận đến khi các công nhân trên đảo hò nhau đến bắn súng chỉ thiên, giải cứu nó.
- Sao em không tách con khỉ độc hung dữ kia khỏi đàn, nhốt nó vào cũi?
- Em đã thử rồi, nhưng không có kết quả?
- Lý do vì sao vậy?
- Xã hội loài khỉ cũng giống như xã hội loài người, luôn tồn tại thiện và ác, chúa tể và thần dân. Năm ngoái em đã bí mật tổ chức anh em công nhân bắt con khỉ chúa nhốt vào cũi, đem sang đảo khác nuôi. Sau một thời gian trên đảo lại xuất hiện khỉ chúa khác cũng tàn bạo và dâm loạn như con khỉ trước. Chính nó đã vật lộn với khỉ 125H và giằng co con khỉ cái làm cả hai vợ chồng bị thương nặng. Con khỉ vợ bị động thai, ốm lử khử hàng tháng. Em đã phải tốn rất nhiều công sức chữa trị, dưỡng thai cho nó nên mới qua khỏi. Tội nghiệp nó, vừa sinh khỉ con được ít ngày lại bị cảm, đột ngột chết hôm nay.
- Hơn hai ngày trên đảo, sống bên em anh học thêm được bao điều về đời sống loài khỉ và hiểu em thêm – Tôn bồi hồi nắm chặt tay Thân xúc động nói.
- Mai em còn phải vào rừng tìm đứa con của khỉ mẹ vừa chết đưa về “trại khỉ mồ côi”.
- Lại còn chuyện lạ ấy nữa hả Thân?
- Đúng vậy. Em đang nghiên cứu về vấn đề này, chưa kịp báo cáo với anh và lãnh đạo Viện. Suốt một thời gian dài, em thống kê số khỉ mẹ chết thấy rất trùng hợp với số khỉ con bị chết sau đó vài tuần lễ. Đi sâu tìm hiểu từng gia đình khỉ, em phát hiện ra một sự thật đau lòng về mối quan hệ “dì ghẻ con chồng”. Mỗi khỉ đực như em đã nói, có đến cả chục cô khỉ vợ. Chúng ngấm ngầm ghen tức lẫn nhau, nhưng đều sợ chồng không dám ra mặt đánh ghen. Một khi có khỉ cái chết, các con khỉ vợ khác trong đàn đều dồn nỗi ghen tức lên đầu khỉ con. Chúng hắt hủi, giành giật thức ăn của khỉ con để ăn hoặc cho con mình. Khỉ đực vốn ham chơi nên không  chú ý đến đứa con cô đơn, bất hạnh. Vì vậy khỉ con sau một thời gian sẽ chết đói, không ngoại trừ cả nỗi cô đơn, nhớ mẹ. Em đã lập một  khu chuồng chuyên nuôi khỉ mồ côi với chế độ chăm sóc đặc biệt. Đợi khi chúng thật sự trưởng thành mới thả ra sống tự do trên đảo...
Suốt từ lúc chứng kiến đám ma khỉ và nghe Thân kể chuyện, Tôn về phòng nằm thao thức suy nghĩ. Anh đã phác thảo trong đầu một hướng mới cho đề tài nghiên cứu. Giờ đây, đứng trước cảnh bình minh tươi đẹp, rực rỡ của đảo khỉ lòng anh xốn xang niềm vui. Một nét đẹp trong tâm hồn của Thân vừa được phát hiện, khiến trái tim anh xao xuyến. Hơi thở phập phồng và những giọt nước mắt nóng hổi đêm qua, khi Thân gục đầu vào vai anh như còn để lại hương vị ngọt ngào. Hình như Tôn đã tìm được ở Thân những gì mà Phương Trang thiếu hụt. Sau cái vẻ dịu dàng, kín đáo có phần cam chịu của Thân, anh bắt gặp từ trong khóe mắt ánh lên thứ tình cảm nồng cháy, mãnh liệt.
 Mặt trời đã nhô hẳn lên khỏi biển, tròn như vành đĩa nhuộm hồng cả khoảng trời xung quanh. Những tia nắng đầu tiên của một ngày mới trên đảo lung linh nhảy nhót trên các vòm lá. Biển chan hoà ánh sáng, chạy đuổi theo những đợt sóng hối hả xô bờ.
- Anh thức dậy đã lâu chưa? – Thân đứng sau lưng Tôn tự bao giờ, nàng hỏi.
- Lâu rồi. Anh ra ngắm cảnh bình minh trên đảo. Giá lúc nãy khi trời còn nửa mờ nửa tỏ, có Thân cùng ngắm thì thật tuyệt.
- Ở đây bình minh hay hoàng hôn đều có nét đẹp riêng. Người có tâm hồn sẽ tìm thấy trên đảo Khỉ trăm buổi bình minh hay hoàng hôn có trăm vẻ đẹp khác nhau.
- Em nói chuyện cứ như thi sĩ hay hoạ sĩ ấy.
- Thỉnh thoảng em cũng tỷ mẩn làm thơ hay vẽ tranh.
- Thật thế ư?
- Vâng. Có những lúc nỗi niềm không biết tâm sự cùng ai, em ngồi vẽ tranh hay làm thơ, “thơ con cóc” ấy mà!
 - Từ hôm ra đảo anh phát hiện ra nhiều điều về loài khỉ và cả về Thân nữa. Hôm nay thêm một phát hiện ra em là thi sĩ.
- Em đã nói rồi.Thi sĩ gì em…
- Ở đảo quanh năm suốt tháng em không thấy buồn sao?
- Buồn vui ở tại tâm mình chứ đâu tại cảnh vật. Hơn nữa, hôm đầu gặp anh trong đoàn công tác của Bộ, em đã tình nguyện xin ra đây, hết lòng với đảo.
- Thú thực anh vẫn nghĩ em chỉ bồng bột nhất thời, sớm muộn gì em cũng xin về.
- Vậy thì anh chưa hiểu hết tâm sự của người bạn gái đồng nghiệp. Em thật lòng yêu súc vật, yêu bầy khỉ. Còn  một lý do thầm kín khiến em xin ra đảo, chưa từng thổ lộ với ai.
- Thân nói đi. Em còn lý do nào khác nữa?
- Em muốn lẩn tránh ông bố dượng loạn luân. Má em chính là con dâu cả của ông ấy. Ba em đi lính cho Pháp, chết ở Tây Nguyên. Một thời gian sau thì người Pháp ký hiệp định ngừng chiến. Lúc ấy, gia đình em còn đang tá túc bên họ ngoại ở cố đô Huế. Ông bố chồng đón má con em về chung sống ở Diên Khánh rồi một đêm ông cưỡng hiếp má em. May mà giữa ông và má em không sinh thêm được người con nào, em tránh được cảnh “con ông cháu cha”. Em được học bổng đi du học ở Mỹ là do thành tích học tập chứ chẳng nhờ cậy gì đến tiền bạc và thế lực của ông ấy đâu, anh ạ! Khi về nước, gặp buổi loạn lạc, em muốn ra đảo cho quên cảnh nhà lại sợ tụi lính hải quân say rượu đến đảo làm bậy. Vì vậy, khi nghe anh gợi ý, em mừng và biết ơn anh lắm! Ra ngoài đảo, gắn bó với bầy khỉ, em chợt phát hiện chúng không bao giờ loạn luân. Khỉ con khi trưởng thành tự tách khỏi gia đình, đi cặp với khỉ cùng thế hệ. Chưa bao giờ có chuyện khỉ đực bố giao cấu với khỉ cái con hoặc khỉ con giao cấu với khỉ mẹ. Hai con khỉ khác thế hệ dù không có quan hệ máu mủ, nếu giao cấu với nhau chỉ do cưỡng  bức. Thông thường, chúng lập thành gia đình chung sống giữa những con khỉ đực, khỉ cái cùng thế hệ và khác bố mẹ. Sống với bầy thú sao em cảm thấy dễ chịu hơn sống với con người. Mỗi ngày qua đi, càng gắn bó với bầy khỉ trên đảo em càng tìm thấy niềm vui, càng say mê nghiên cứu chúng.
- Xin lỗi? Anh đã gợi lại cho em chuyện buồn. Anh không ngờ gia đình em lại có cảnh éo le như vậy. Sao má em sau lần bị cưỡng bức không bỏ đi nơi khác.
- Đi sao được nữa, hở anh. Ông ấy giàu có, còn gia đình má em ở Huế rất nghèo. Chiến tranh với người Pháp vừa ngừng, lại tiếp đến chiến tranh hai miền Nam- Bắc. Má em cam phận sống chung với ông ấy để có tiền nuôi em ăn học.
- Nhưng chẳng lẽ em cứ giam mình sống mãi ngoài đảo. Em không muốn yêu và lập gia đình hay sao?
Thân nghe nói, nhìn Tôn thở dài. Mắt nàng hướng ra biển, đăm đăm dõi theo một cánh buồm. Đôi mắt đen láy bất chợt quay lại, nhìn sâu vào mắt Tôn rồi lại quay đi theo tiếng thở dài. Hồi lâu Thân nói:
- Có một người đàn ông đã hớp hồn em từ buổi đầu gặp gỡ, nhưng anh đã thuộc về người khác. Có lẽ suốt đời em không tìm được người nào như anh ấy... số mệnh anh ạ! “Người ta tuổi Hợi, tuổi Mùi – Sao em phải chịu ngậm ngùi tuổi Thân”.
- Chắc anh ấy phải là một người lý tưởng. Em quen anh ta từ khi học ở Mỹ à?
- Không anh ấy rất gần mà cách xa vời vợi...
 Thân bỏ dở câu chuyện chạy về nơi làm việc. Tôn lờ mờ hiểu ra người mà Thân thầm yêu trộm nhớ bấy lâu là ai. Anh nhìn theo vóc dáng mảnh mai của nàng khuất dần sau rặng cây và khẽ mỉm cười. Bầu trời như cao thêm, rộng ra. Gió biển ào ạt thổi, lay động cả rừng cây trên đảo Khỉ huyền bí. Sóng biển dạt dào đập vào bờ, ngân lên bản tình ca. Tôn nhớ lại buổi đầu gặp nàng và cả những lần gặp thoảng qua sau đó. Anh đã vô tình hờ hững, đã để tuột khỏi tay một mối tình nồng cháy. Giờ đây ván đã đóng thuyền. Phương Trang là người vợ tần tảo lo toan, vun vén cho gia đình. Nàng đã sinh cho anh một hoàng tử và một công chúa, đã làm hết sức mình  để vận động ông bác giúp đỡ cho anh đi Nga làm luận văn tiến sĩ. Suốt ngày Tôn đi lang thang trên đảo, quan sát sinh hoạt của bầy khỉ mà lòng cứ vẩn vơ, suy nghĩ lung tung. Tối, Tôn uống rượu và đóng kín cửa phòng cố ghìm nén tình cảm trước những đam mê, thèm muốn vừa trỗi dậy trong ngày. Nửa đêm tỉnh rượu, như có ma lực nào xui khiến, thúc giục Tôn gõ cửa phòng Thân. Trong phòng vẫn còn le lói ánh đèn. Nàng hỏi khẽ:
- Ai đó?
- Anh đây, Tôn đây, mở cửa cho anh.
- Khuya rồi anh Tôn. Anh về nghỉ giữ sức kkỏe, mai còn làm việc.
- Em vẫn thắp đèn, thức ngồi đọc sách cơ mà. Mở cửa đi em.
- Không. Anh về đi. Em van anh – Nàng khóc...
- Đừng Thân ơi! Em hãy mở cửa, anh chỉ muốn ngồi tâm sự với em một lúc thôi.
Trong phòng vẫn im lặng. Ngoài cửa Tôn vẫn kiên trì đứng đợi. Thỉnh thoảng anh lay nhẹ chốt cửa. Hồi lâu Thân thở dài, run tay kéo chốt cửa. Tôn xô vào ôm chặt lấy Thân hôn như mưa lên môi, lên mặt. Nàng cố vùng vẫy, gạt Tôn ra thì thào nói:
  - Anh Tôn! Đừng làm thế. Buông em ra không em kêu lên đây này. Tôn sượng sùng buông nàng ra, mắt nhìn trân trối hồi lâu rồi lại nhào tới, ôm chặt lấy nàng.
  - Anh yêu em, Thân ơi! Hãy hiểu cho lòng anh.
  - Buông em ra rồi ta từ từ nói chuyện, anh Tôn!... Tối nay nghe nói anh uống nhiều rượu lắm phải không?...
Tôn ngoan ngoãn để Thân dắt tay kéo đến bên bàn, ấn vai anh ngồi xuống ghế. Nàng lấy khăn mặt ướt lau cho Tôn tỉnh rượu, rót nước pha trà nóng bắt anh uống. Tôn ngồi thiểu não trên ghế, mắt lờ đờ, tay xoay xoay chén nước trên bàn.
- Không phải anh say rượu mà say tình, Thân ạ! Tôn lầm bầm nói, vẻ mặt đau khổ, ngây dại.
- Anh với Phương Trang lâu nay vẫn hạnh phúc chứ? – Nàng hỏi.
- Phương Trang là người vợ tốt, nhưng cô ấy có lối sống lạnh quá, lý trí quá!
- Em vừa là bạn vừa giống như người chị của Phương Trang nhiều năm nay nên em hiểu nó. Phương Trang yêu anh, sẵn sàng hy sinh mọi thứ vì anh. Nó là người vợ đảm đang, chỉn chu việc nhà, giao tiếp tế nhị ngoài xã hội. Anh còn đòi hỏi Phương Trang gì hơn nữa?
  - Anh không chê cô ấy. Anh chỉ thấy đối với chồng cô ấy quá rạch ròi tách bạch mọi thứ, nó cứ lành lạnh thế nào ấy, khô khan quá!
  - Nó thừa hưởng một nền giáo dục của ba má theo phong cách văn minh Âu - Mỹ. Điều đó em biết, nhưng Phương Trang hết lòng chung thủy và yêu anh. Đừng phụ lòng Phương Trang, anh ạ!
  - Vậy còn Thân thì sao? Em không yêu anh, tất cả những gì anh cảm nhận là hoang tưởng?
  - Em yêu anh suốt ba năm, kể cả sau ngày đi làm phù dâu cho Phương Trang. Sau đêm cưới của Trang, em về đảo khóc ròng, khóc mừng cho nó và tủi phận mình. Em tự biết mình và hiểu  rằng anh đã lựa chọn đúng. Em không hờn trách gì anh, chỉ ngao ngán cho mối tình một phía vô vọng.
  - Trời ơi! Sao em không nói sớm. Anh yêu em, chỉ yêu có mình em thôi. Hoàn cảnh đưa đẩy anh sống gần Phương Trang rồi yêu, rồi cưới vội vàng. Giá như anh sớm cảm nhận tình yêu của em. Chung quy chỉ tại anh quá ham mê với công việc, còn em thì ở xa và kín đáo quá.
  - Không phải là trong hai chị em, anh đã lựa chọn Phương Trang từ đầu rồi sao?
  - Lựa chọn vì công việc thì có, vì tình cảm thì chưa. Trong lòng anh vẫn còn phảng phất hơi ấm bàn tay của Thân trong buổi đầu gặp gỡ, nó lại bùng lên cháy bỏng khi đêm qua em ngả vào vai anh thổn thức, thương cho vợ chồng con khỉ đực 125H. Em mới là tình yêu đích thực của anh.
  Thân bắt đầu cảm thấy mềm lòng. Nàng cố trấn tĩnh lại gần, vuốt nhẹ lên mái tóc  Tôn, an ủi.
- Dẫu sao bây giờ anh đã có một gia đình. Phương Trang là người vợ hiền, người mẹ lý tưởng. Nghe em về nhà đi nghỉ đi, khuya rồi, anh Tôn.
- Bỗng Tôn vùng dậy bế thốc Thân lên giường. Anh hôn lên khắp người của nàng. Thân lúc đầu chống cự mãnh liệt nhưng nàng mệt, mềm lòng và khuất phục...
 Một tuần trên đảo với Tôn là chuỗi ngày mạo hiểm điên cuồng chinh phục. Thân luôn lúng túng, bị động và chống đỡ một cách gượng gạo. Nhiều lúc nàng nằm bên Tôn khóc ròng, ân hận đã xen vào hạnh phúc của Phương Trang, phá hoại tổ ấm gia đình của người bạn mà Thân coi như em gái. Đôi lúc nghe Thân khóc, Tôn cũng chạnh lòng, thoáng gợn chút băn khoăn. Nhưng Tôn lại nghĩ, đàn ông ai chẳng tham lam, khao khát chinh phục. Bầy khỉ trên đảo cũng chẳng thể hiện nam tính bằng việc đa thê, một con khỉ đực cặp với mươi mười lăm con khỉ cái cơ mà. Tôn mỉm cười và ham muốn lại trỗi dậy, thả sức trút ào lên cơ thể của Thân đang mềm nhũn dần.
5- Cho đến bây giờ, nằm trong nhà khách của tỉnh, mái tóc đã điểm sương, đường đời đã trải, giáo sư Vương Đại Tôn mới chịu thừa nhận với lòng mình, lúc đó ông hoàn toàn lừa gạt và giả dối. Ông không hề yêu Thân mà chỉ tìm cách chiếm đoạt. Ham muốn xác thịt đã xui khiến những lời bịa đặt, lừa mị, giả trá cứ trôi tuồn tuột trên đầu miệng lưỡi. Thân đã tin vào những lời ấy, đã mềm lòng cam chịu để ông chiếm đoạt. Nàng không hề có lỗi với Phương Trang. Điều mà bây giờ ông mới cay đắng nhận ra rằng, Phương Trang đã nhìn thấu tâm địa của ông từ lâu, hiểu và thông cảm với Thân khi bà nói với ông: “Chị ấy tốt quá! Chị ấy quên mình, vị tha quá! Còn anh...”. Nàng bỏ lửng hai chữ “còn anh” vì có lẽ  không nỡ nói những lời thoá mạ nhân cách ông. Tôn nhớ  lại khi nghe tin Thân có mang ông đã bối rối hoảng sợ mọi việc vỡ lở, ông sẽ mất Phương Trang, mất học vị tiến sĩ, mất nhiều thứ nữa. Chính lúc đó Thân đã an ủi, động viên ông cứ an tâm, mọi hậu quả cứ để mình Thân gánh chịu. Ông nghe Thân nói không hề có chút phản ứng, đã hèn nhát chấp nhận sự hy sinh của Thân. Có lẽ vì vậy mà Phương Trang càng thêm coi thường, ngấm ngầm khinh ghét ông. Ngay cả những đứa con ông từng nuôi nấng dạy dỗ, lúc này cũng đứng về phía mẹ phán xét, chê trách cha của chúng. Trước ngày bố mẹ ra tòa ly dị, con gái ông vừa khóc vừa nói:
- Bố mẹ chia tay nhau là cần thiết, là tốt  cho cả hai người. Phận làm con không cho phép chúng con can thiệp vào tình cảm bố mẹ, lên án phê phán bố. Con muốn bố hiểu cho nỗi đau khổ, sự chịu đựng âm thầm của mẹ suốt từ lúc con vừa ra đời đến nay con đã ngoài hai mươi tuổi. Nếu là con, chắc sẽ không làm được như mẹ. Chia tay với mẹ xong, bố không nên sĩ diện với cái chức Thứ trưởng làm gì. Bố nên tìm lại bác Thân và em tạ lỗi, làm tròn bổn phận với họ
Đứa con trai mạnh bạo và từng trải hơn em gái, nó đã nói thẳng tuột với ông:
- Bố ạ! Nghe chuyện bố với bác Thân con rất ngạc nhiên và đau khổ. Suy đi ngẫm lại con càng kính phục mẹ, càng thương bác Thân và oán giận bố. Việc chia tay của bố mẹ chẳng còn phải bàn gì nữa. Nó giải phóng cho mẹ và giúp bố có điều kiện nối lại với bác Thân, chăm sóc em của con. Cách đây mấy tuần con đã giấu bố mẹ vào thăm bác Thân. Cho dù bố có ngăn cản hay phản đối con vẫn sẽ còn vào thăm bác Thân, tìm bằng được đứa em cùng cha khác mẹ của con. Bác ấy đã già yếu nhưng vẫn yêu nghề và trung thành với lời hứa giữ trọn bí mật cho bố. Khi được con cho biết bố mẹ sẽ chia tay, bác ấy đã khóc, ân hận vì đã  phá hoại hạnh phúc của  mẹ. Người ta đã hy sinh cả cuộc đời mình, trải thảm lên bước đường thăng tiến của bố, sao bố còn sĩ diện, chỉ viết thư vào thanh minh vì điều kiện công tác chưa thể vào thăm hai mẹ con? Cho đến tận bây giờ bố vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn chỉ biết yêu có chính mình. Bố vẫn sợ gặp lại bác Thân người ta sẽ dị nghị về chức Thứ trưởng của mình. Vì cái danh, cái chức đó mà nấn ná, dùng giằng chưa chịu làm bổn phận con người chân chính thì làm sao bố nhận được sự thông cảm của mẹ, sự kính trọng của các con?
Mỗi lời nói của hai đứa con như dao cứa, muối sát vào lòng giáo sư Vương Đại Tôn. Ông thực sự quỵ ngã sau phiên toà ly hôn. Nửa năm nằm trong  bệnh viện ông vẫn được bà và các con chăm sóc tận tình, chu đáo. Nhưng ông biết đó chỉ là nghĩa vụ. Đêm đêm, ông bị những cơn ác mộng dày vò. Có lúc ông mơ mình biến thành con khỉ chúa hung bạo và dâm dục trên đảo Khỉ, bị Thân và Phương Trang cầm gậy xua đuổi, bị các con ông ném đá chửi rủa. Ông đã viết đơn xin từ chức Thứ trưởng vì lý do sức khoẻ, nhưng tổ chức vẫn tế nhị đợi đến đợt trong bộ sắp xếp lại nhân sự mới giải quyết.Tuy vậy, khi nhận quyết định về hưu ông vẫn thấy hụt hẫng, buồn tê tái. Ông đã mất tất cả.
6- Bà Thân từ bờ biển tâp thể dục dưỡng sinh trở về phòng thấy người phấn chấn, tinh thần sảng khoái. Mấy năm gần đây căn bệnh thấp khớp theo hành bà. Có lúc bệnh chạy vào tim tưởng chết. Nhờ con trai mang tài liệu luyện tập khí công ở thành phố Hồ Chí Minh về, hướng dẫn bà luyện tập nên bệnh đã thuyên giảm đôi phần. Nó sắp tốt nghiệp đại học kinh tế quốc dân, giỏi tiếng Anh, tiếng Nhật nên có khả năng nhận được học bổng đi tu nghiệp ở TOKYO. Tội nghiệp thằng bé, không lúc nào nguôi nhớ mẹ. Nó định từ chối đi du học để ở nhà chăm sóc mẹ già. Bà Thân muốn an lòng con đã dày công luyện tập các bài hướng dẫn luyện khí công của Ấn Độ mà con trai sưu tầm  qua một vị cao tăng trong hội phật giáo thành phố. Điều thú vị là nhiều con khỉ già trên đảo cũng bắt chước các động tác của bà Thân lâu dần thành thói quen, sáng sáng người và khỉ luyện tập trên bờ biển thật hào hứng và vui nhộn.
Đảo Khỉ nay không còn là tài sản của viện nghiên cứu. Cơ chế thị trường sôi động nhịp sống thành phố biển, tràn cả ra đảo. Suốt nhiều năm liền đảo không được quan tâm đầu tư, đời sống cán bộ công nhân trên đảo quá thấp nên những công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm, theo bà từ ngày đầu ra đảo cứ lần lượt bỏ về đất liền. Số công nhân mới làm ăn chểnh mảng, tắc trách và luôn rình thời cơ bà ốm hoặc đi vắng là bắt trộm khỉ bán cho các nhà nấu cao khỉ hoặc xuất lậu qua biên giới phía Bắc. Một mình bà Thân dẫu trăm tay nghìn mắt cũng không thể quán xuyến, chèo chống cho đảo Khỉ  tránh khỏi cơn lốc của kinh tế thị trường. Một hãng nước ngoài có cơ sở kinh doanh ở Nha Trang đã thương lượng với ngành chủ quản, mua lại toàn bộ tài sản của viện nghiên cứu trên đảo. Lúc đầu bà Thân không tránh khỏi choáng váng, buồn tủi, nghĩ mình sẽ phải rời xa đảo, xa bầy khỉ. Nhưng họ đã sớm phát hiện ra bà chính là tài sản vô giá, lâu nay như kho vàng đắp chiếu giữa biển cả mênh mông. Họ tha thiết đề nghị bà ở lại hợp tác. Bà Thân được ông chủ hãng nước ngoài mời đi tham quan một số cơ sở nuôi khỉ của nước ngoài. Bà được toàn quyền chỉ đạo mọi công việc trên đảo Khỉ, được trả lương hậu, một ngàn Mỹ kim một tháng cho lương giám đốc đảo.
 Có thu nhập cao, bà Thân rất an tâm vì có điều kiện chu cấp đầy đủ cho con trai học tập ở thành phố Hố Chí Minh. Nó là ước mơ, là niềm an ủi, động viên duy nhất trong cuộc đời cô đơn, bất hạnh của bà. Điều khiến bà Thân say sưa làm việc, dốc toàn tâm sức và kinh nghiệm vào sự nghiệp cuối đời của mình còn vì ông chủ hãng luôn tôn trọng, ủng hộ sáng kiến của bà. Khu vực nuôi khỉ giờ đây theo giấy phép của Nhà nước đã mở rộng thành ba đảo: Một đảo chuyên nuôi khỉ vàng là loại động vật quý, có trong sách đỏ của thế giới, giá xuất khẩu một con có lúc lên tới gần hai ngàn Mỹ kim. Một đảo chuyên nuôi khỉ sư tử là loại khỉ to lớn, có nhiều đặc tính sinh lý giống con người. Loại khỉ này chuyên dùng cho các thí nghiệm y học và bà Thân đã kiến nghị hội đồng quản trị phải ưu tiên cung cấp trong nước với giá thấp bằng nửa giá xuất khẩu. Đảo thứ ba, theo sáng kiến của bà Thân, người ta đã chọn ra trên đảo một số con khỉ đã miễn dịch, được huấn luyện tốt để xây dựng một điểm du lịch sinh thái trên biển.
 Việc làm ăn trên đảo Khỉ từ khi có đầu tư của nước ngoài mỗi ngày thêm phát đạt. Nhiều lúc âu yếm chơi đùa với các chú khỉ con, bà Thân lại bần thần nhớ ngày bàn giao bầy khỉ trên đảo cho hãng nước ngoài. Những con khỉ khôn ranh như có giác quan thứ sáu. Chúng nhìn thấy hết đoàn này đến đoàn khác ồn ào ra đảo và linh cảm sẽ có sự thay thầy đổi chủ, nên cố tình lẩn trốn trong rừng, không chịu ra điểm danh mỗi bữa ăn. Con số bàn giao trên sổ sách luôn sai lệch với số khỉ điểm danh trên đảo rất lớn nên ông chủ hãng kiên quyết không chịu nhận bàn giao. Mọi người cảm thấy bất lực, chỉ còn biết chờ đợi sáng kiến của bà Thân. Chính vào lúc đó, bà Thân nhớ lại kỷ niệm đau xót về mối tình với giáo sư Vương Đại Tôn. Nếu không có đám ma khỉ vào cái đêm hôm ấy xui khiến bà gục đầu vào vai ông Tôn, có lẽ cuộc đời của bà rẽ sang ngả khác. Con khỉ đưc 125H giờ đây cũng đã theo vợ gửi hồn gửi xác trong hang đá trên đỉnh núi. Ông lão chia cơm cho bầy khỉ, người đỡ đầu bất đắc dĩ của con trai bà cũng đã qua đời. Theo nguyện vọng của ông, người ta mai táng ông gần hang đá có tên là “Hang Hồn Khỉ”. Con trai bà lần nào về thăm mẹ nó cũng lên đó thắp nhang. Nó bảo, cứ mỗi lần lên đó thắp nhang về là đêm nó mơ thấy ông lão dắt nó lên “Hang Hồn Khỉ”, xem đám ma của gia đình khỉ đực năm nào. Nó hỏi gì ông lão cũng lắc đầu, im lặng. Bà Thân quyết định tắm gội, ăn chay bẩy ngày rồi lên hang đá trên đỉnh núi thắp nhang. Bà cầu khấn ông lão chia cơm và những linh hồn khỉ trên hang đá, nếu có linh thiêng hãy về nhắn nhủ bầy khỉ trên đảo ra điểm danh. Bà thề với chúng, dù đảo có thay thầy đổi chủ vẫn sẽ suốt đời ở lại đảo, gắn bó với bầy khỉ chia ngọt, sẻ bùi. Sớm hôm sau, bà Thân tự tay đi khắp các lối mòn gõ kẻng, gọi bầy khỉ vào giờ ăn. Không hiểu vì hồn ma khỉ về bảo ban, nhắc nhở hay vì thương bà thân già lọ mọ leo núi gõ kẻng, lũ khỉ rủ nhau ra điểm danh không sót một con...
Kể từ buổi bàn giao đầy màu sắc huyền thoại, mối tình bao nhiêu năm đào sâu chôn chặt dưới đáy lòng bỗng nhiên khơi dậy. Hình ảnh giáo sư Vương Đại Tôn đôi lúc thoáng hiện lên ám ảnh tâm trí khiến bà Thân bồn chồn, đứng ngồi không yên. Bà có linh cảm ông Tôn đang gặp nạn hay gặp chuyện chẳng lành. Bao nhiêu nỗi hờn giận tan biến, bà chỉ thấy thương ông với tất cả niềm bao dung, vị tha của người vợ bị bỏ rơi. Nhưng bà không thể thổ lộ cùng ai. Đêm đêm, nước mắt bà trào ra ướt gối. Với con trai, bà không muốn làm xáo trộn niềm tin vào cuộc đời, trong tâm hồn trong trắng của nó. Bà muốn nó chỉ tin vào một người cha mà nó dự định trước khi lên đường đi du học ở TOKYO, sẽ về Khánh Vĩnh thăm quê nội. Với Phương Trang, bà đã ân hận nhiều năm, càng không thể làm tổn thương hạnh phúc của người bạn gái cùng quê...
 Giữa lúc đó con trai của Phương Trang vào Nha Trang và ra đảo tìm bà Thân. Nó ôm bà khóc lóc, đau khổ, muốn gặp mặt đứa em cùng cha khác mẹ. Nó báo tin bố mẹ sắp sửa ra toà ly hôn, ông Tôn đang ốm nặng, nằm ở bệnh viện Hữu Nghị. Trong lòng bà Thân dâng lên niềm xót xa, ân hận vì có tội với mẹ con Phương Trang và cảm thấy thương ông Tôn vô hạn. Nhưng nghe theo lời cầu xin nó, ra thăm ông Tôn ở Hà Nội thì bà không thể...
Thường ngày sau giờ tập khí công buổi sáng bà Thân hay xem sách hoặc làm mấy vần thơ Đường luật dãi bày tâm sự lúc tuổi già. Sáng nay, bà thấy thảng thốt, đứng ngồi không yên. Hơn nữa mấy con khỉ mà bà thương quý nhất, sau giờ tập cứ lẵng nhẵng chạy theo, nhảy múa xung quanh là điềm báo bà sẽ có khách. Bà vẫn tin loài khỉ có giác quan thứ sáu. Lòng bà hồi hộp, ruột gan thấy bồn chồn. Vừa lúc đó, cô thư ký người ngoại quốc vào lễ phép báo tin bà giám đốc đảo Khỉ có khách.
Bà Thân theo cô thư ký lên văn phòng nhận ra ông Tôn đang ngồi đợi. Nom ông già và xấu đi so với những lần bà nhìn thấy trên ti vi. Tay ông run run chìa ra phía trước, nét mặt buồn rầu, tủi hổ khiến bà Thân không cầm được lòng, chạy xô đến nắm bàn tay, dìu ông ngồi xuống ghế.
- Em có khoẻ không? – Ông lắp bắp hỏi.
- Cám ơn anh! Em khoẻ. Anh mới vô?
- Anh vào Nha Trang hôm qua. Sáng nay mới có tàu đưa anh thăm đảo. Nhìn cơ ngơi khang trang và nghe nhiều tin về sự đổi mới của đảo Khỉ, anh thấy mừng cho em.
- Cũng may nhờ có đầu tư nước ngoài. Em chỉ là ngưòi làm thuê thôi anh ạ!
- Con chúng mình giờ đi học hay đi làm?
- Nó sắp nhận được học bổng tu nghiệp thêm ở nước ngoài.
- Cảm ơn em đã nuôi nấng dạy dỗ nó lên người. Thật lòng anh cứ nghĩ em đã phá thai nên vô tâm, thiếu trách nhiệm với con.
-Thôi bỏ đi, anh ạ! Em không hờn trách gì anh. Tại em ngoan cố giữ lại giọt máu cuả anh. Anh đừng tự dằn vặt mình sẽ không có lợi cho sức khoẻ. Em nghe anh bị bệnh, phải nằm viện vì chuyện gia đình cũng buồn lắm! Cái việc phải trả giá, chúng ta đã trả rồi. Nên vui lòng chấp nhận và sống thanh thản lúc tuổi già.
- Làm sao có thể sống thanh thản khi em không chịu trả lời những lá thư viết từ giường bệnh của anh?
- Anh nên tự hiểu là em không thể.
- Nhưng còn con chúng ta?... Nó cần biết cha thực sự của nó là ai. Anh cần được gặp nó và anh muốn làm một chút gì cho nó, dù có muộn mằn.
- Điều đó không nên, chưa cần thiết.
- Vì sao vậy?
- Em không muốn làm xáo động đột ngột đời sống của nó.
- Vậy anh sẽ phải đợi đến bao giờ?
- Đành phải kiên trì mà đợi thôi, anh Tôn ạ! Hãy để vòng quay của số mệnh an bài cho ngày cha con gặp nhau. Em cầu chúc cho ngày ấy mau đến, nhưng bây giờ thì chưa thể. Anh hiểu cho lòng em có muốn vậy đâu.
- Anh đã mất hết, mất tất cả. Giờ đây hy vọng gặp con chuộc lỗi với nó cũng mất nốt sao?
- Những gì anh có sẽ chẳng bao giờ mất. Hãy tin là như vậy, anh Tôn ạ! Chỉ đáng buồn là cái quý nhất, cần có ở  một con ngưòi là tình yêu thì anh chưa hề có, nên cũng chưa hề mất nó. Điều này phải đành chấp nhận, anh đừng quá thất vọng. Quanh anh vẫn  luôn nồng ấm một tình thương của Phương Trang, của em và của các con, thế chẳng đủ làm anh khuây khỏa hay sao?...
Giáo sư Vương Đại Tôn rời đảo nặng trĩu u buồn. Bà Thân đưa tiễn ông ra bến, thương ông mắt lưng tròng. Đứng trên cầu tàu, ông Tôn chợt nhìn thấy con khỉ chúa từ trên đỉnh núi rẽ cây ào ào đi xuống.Tiếng hú của nó vọng vào vách núi, lan theo gợn sóng con tàu đưa ông rời bến. Về đến khách sạn, ông nhận được điện của con trai báo tin vợ cùng các con sẽ vào thăm đảo Khỉ. Lòng ông nôn nao chờ đợi và hy vọng.
tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
RỒNG ĐÁ
Vũ Ngọc Tiến
 
Kim Hòa gấp cuốn sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, lặng lẽ nhìn Trần Thăng. Đã một tuần nay chị thấy chồng mình đi về như một cái bóng không hồn. Anh không nói năng, bỏ cả lệ đọc sách. Thỉnh thoảng anh uống rượu, mắt lờ đờ nhìn vào góc tối, luôn miệng thở dài. Có lúc anh cao hứng ngâm thơ Nguyễn Trãi: “Kim cổ vô cùng giang mạc mạc – Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu”. Chị là nhà nghiên cứu lịch sử nên hiểu xuất xứ hai câu thơ ấy Nguyễn Trãi viết khi cáo quan về ở ẩn trên núi Côn Sơn. Vào một chiều cuối thu sắp sang tiết lập đông, ông nhìn thấy từng đàn mây trắng đùn từ phía biên ải xa mờ kéo đến, dòng sông Đá Bạc ầm ào vỗ sóng và rừng cây sau lưng xào xạc trút lá khô vàng rơi đầy mặt đất. Ông tức cảnh, sinh tình mà ngâm hai câu thơ bày tỏ nỗi lòng mình. Nhưng Thăng đâu có giống tình cảnh Nguyễn Trãi. Anh là giáo sư tiến sĩ toán học, sao anh không an phận với những công trình lý thuyết về toán tin học của mình. Chức viện trưởng lâu nay chỉ tổ làm anh suốt ngày bận bịu với những vụ linh tinh, biến anh thành thứ viên chức hành chính tầm thường, báu gì. Đã thế, cái viện cỏn con của anh có một dúm người mệnh danh là “nhà” hay “lều” khoa học cả đấy, mà sao quanh năm suốt tháng vẫn gầm ghè, đấu đá tranh ăn, giành ghế. Họ ăn không nói có, tung lời đặt chuyện về nhau chẳng khác gì mấy chị hàng tôm, hàng cá ngoài chợ. Hình như đam mê quyền lực là thứ bệnh thâm căn, cố đế của cánh đàn ông. Sa đà vào đó, mặt người bỗng trở nên lem luốc, chẳng ra mặt người. Biết thế mà có ai chịu từ bỏ dễ dàng đâu! Nhiều lần anh thanh minh với chị rằng không phải anh ham quyền chức, nhưng làm viện trưởng sẽ thuận lợi cho công trình nghiên cứu và có dịp giao tiếp học hỏi với thế giới bên ngoài. Chị biết đó chỉ là ngụy biện. Làm vợ ai chẳng muốn hãnh diện về chồng. Anh làm xếp có xe đưa, xe đón, thỉnh thoảng lại xuất hiện trên ti vi, đài báo thì vợ con cũng nở mày mát mặt. Chồng đi Tây, đi Tàu, chị cũng có thêm đồ này, thứ nọ để khoe với chị em, bè bạn. Nhưng chị cũng là nhà trí thức. Chị khao khát anh có những công trình khoa  học sáng giá để lại cho đời, lưu danh sử sách. Ngày ấy chị yêu anh vì anh đẹp trai, thông minh, lịch lãm và rất hồn nhiên yêu đời. Anh là nhà toán học trẻ tuổi, có công giúp nhà vật lý bên quân đội tính toán ra vùng mù sóng nhiễu máy bay B52. Nhờ đó mà mấy vị tướng lĩnh quân đội đã bố trí các trận địa tên lửa, các trạm ra đa trong vùng mù nhiễu sóng ấy để phát hiện và bắn rơi máy bay địch, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội. Nếu anh cứ vẫn yên tâm theo đuổi các công trình toán học, biết đâu sẽ có nhiều cống hiến lớn khác trong thời bình. Chức viện trưởng và quyền lực như ma ám, làm anh u mê chỉ biết say sưa lao vào các vụ đấu đá, củng cố quyền lực.
 Rất nhiều năm rồi, chị chưa thấy anh có thêm phát minh nào mới, mặc dù học hàm, học vị của anh đã lên tới tột đỉnh. Anh trở nên người thích xu nịnh, háo danh và mất cảnh giác. Đợt bầu viện trưởng vừa rồi anh bị hạ bệ êm ru cũng vì mất cảnh giác. Chắc anh nghĩ rằng gã viện trưởng mới ngày nào chỉ là một thằng cử nhân “gia công” dốt đặc cán mai, làm sao dám so bì uy tín với anh trong giới khoa học. Nhưng anh đã lầm, là phụ nữ nên nhạy cảm và đã sớm nhắc anh đề phòng. Mấy năm nay vợ hắn buôn bán phất lên nhờ mấy vụ sốt giá nhà đất. Hắn có tiền chạy vạy để được làm phó tiến sĩ trong nước. Anh là người hướng dẫn phụ, nhưng nể lời ông bạn làm giáo sư ở trường Đại học đã gần như viết hộ luận văn tốt nghiệp cho hắn. Mỗi lần thấy hắn đến nhà khệ nệ ôm gói to gói nhỏ, mắt la mày lét, miệng luôn vâng dạ, hai tay xoa vào nhau, lưng hơi cúi khòng, chị thấy khinh bỉ đến lợm giọng. Chị nhắc anh nhớ lại lời của Jo-han Gốt-liep Phích-tơ, nhà triết học cổ điển Đức: “Kẻ nào làm thuộc hạ mà lúc nào trước mặt anh cũng sẵn sàng quỳ mọp xuống đất một cách đê tiện thì sớm muộn gì nó cũng phản anh”. Thật lòng mà nói, khi nghe tin anh mất chức viện trưởng chị cũng hơi choáng váng, hụt hẫng. Nhưng chị không ngờ anh hốc hác, gày rộc, chán đời và mất hết thăng bằng đến như vậy. Chị nghiên cứu lịch sử, hiểu thấu mọi lẽ hưng phế của các triều vua. Chị là người ngoài cuộc nên có lẽ chị bình tĩnh, sáng suốt hơn anh chăng. Chị muốn an ủi, động viên, nhưng anh cứ ậm ừ rồi lảng tránh. Tính anh xưa nay không muốn làm phiền người khác. Nhưng chị là vợ, gắn bó suốt đời với anh chia ngọt sẻ bùi. Chị sẽ phải làm gì để lấy lại thăng bằng cho anh, để anh lại tiếp tục say sưa với công trình khoa học như ngày xưa anh say sưa tính toán ra vùng mù sóng nhiễu của B52.
Kim Hòa đứng dậy, nhẹ nhàng đi về phía chồng. Trần Thăng vẫn nằm dài trên ghế xích đu đặt gần ban công để anh ngắm trời, ngắm đất. Đêm cuối tháng tối thâm, không một vì sao, vẳng tiếng côn trùng eo óc, nỉ non. Chiếc đôn sứ bên cạnh với bao thuốc gần rỗng và chiếc gạt tàn đầy ặc các mẩu đầu lọc. Xưa nay anh vốn ít hút, cứ thế này thì đen xì hai lá phổi còn gì! Chị thầm nghĩ, lắc đầu chua xót nhìn anh, tròng mắt ươn ướt. Lồng ngực của chị như có gì chèn tức đến ngẹt thở. Chị âu yếm quàng tay lên cổ, ray ray cằm lên mái tóc bồng đốm bạc của anh.
- Em không đọc sách nữa à? – Anh hỏi.
- Không. Đêm nay em muốn mình đi ngủ sớm. Chiều em một tí, đi mình! -Chị lắc người nũng nịu như hồi trẻ. Tay chị vuốt lên ngực anh để trần.
- Nghĩ mà ngao ngán cho đời, không ngủ được.
- Quên mọi chuyện đi. Nghĩ lắm cho già người.
- Quên sao được hở em. Mình dày công xây dựng viện từ khi còn trứng nước, công lao và học vấn là thế, bỗng nhiên bị thằng mất dạy nó đá đít với lý do trẻ hoá cán bộ. Nếu phải giao quyền cho mấy cậu vừa tốt nghiệp tiến sĩ ở nước ngoài về đã đành một nhẽ. Đằng này...
- Quan nhất thời, dân vạn đại mà anh. Xưa nay có triều vua nào ngự trị bền mãi đâu anh.
- Em lại sắp lên cơn bệnh nghề nghiệp, bà phó tiến sĩ sử học của anh ạ! Hôm nay anh hết hứng thú nghe em kể chuyện xưa, tích cũ rồi. Bụng anh đang rối bời, chán phè. Ước gì anh hóa rồng lúc này, bay tít lên cao nhìn rõ mọi cuộc đấu đá, tranh giành ở khắp thế gian.
- Vậy chúng mình buông màn đi nghỉ. Nằm trên giường em sẽ kể chuyện rồng cho anh nghe.
 Chị dìu anh đứng dậy, đi về phía giường, nhẹ nhàng đặt đầu anh xuống gối và tháo dép cho anh. Lòng chị lâng lâng sung sướng khi thấy vầng trán anh bớt nhăn, khoé mắt anh sáng lên nụ cười hiếm hoi. Chiếc màn tuyn xanh mát buông xuống, thoảng bay mùi nước hoa chị vừa kín đáo phun nhẹ bốn góc màn để xua muỗi. Cả chiếc quần lót và váy ngủ của chị cũng thoảng bay mùi hương quyến rũ, được chị mua về từ siêu thị chiều nay. Trần Thăng xoay người nhìn sâu vào mắt vợ. Anh vuốt nhẹ mấy sợi tóc mai, mỉm cuời, nháy mắt hỏi yêu:
- Chuyện rồng của em thế nào? Ở bên Tây người ta xem rồng là ma. Vợ anh đừng kể chuyện gì về rồng làm anh sợ ma mất ngủ là bắt đền đấy.
- Đền gì nào, anh yêu?
- Đêm hai ngày một.
- Khiếp… sức đâu mà đền! Nhưng sao đêm nay anh bỗng thành con nít sợ ma thế ?
- Thì chuyện bầu viện trưởng ở chỗ anh cũng là ma hiện đại còn gì.
- Nói cho cùng trên đời làm gì có rồng - Chị lựa lời kéo dài thời gian bằng câu chuyện bâng quơ, tay mơn man thoa nhẹ khắp người anh..
- Em nói đúng. Nếu cắt bỏ cái đầu rồng có bờm như sư tử đi thì nó có khác gì con rắn, con rết hay con giun đất, em nhỉ !
- Bởi vì rồng không có thật nên mới linh thiêng. Lúc đầu nó tượng trưng cho sức mạnh huyền bí của thiên nhiên có thể hô gió, gọi mưa. Lâu dần nó được con người huyền hoặc, gắn nó tượng trưng cho vương quyền và sức mạnh của vua chúa.
- Đời thật thú vị! Cứ cái gì hư thực, thực hư bỗng thành thiêng liêng, uy quyền trùm khắp thiên hạ.
- Chẳng có gì là uy quyền tuyệt đối anh ạ! Em nghiên cứu rồng qua các triều vua thấy thế rồng cũng biến đổi theo thời cuộc, theo quyền uy và điểm yếu của các ông vua. Triều Lý, vương quyền còn đang manh nha, chưa với tới được các bộ tộc, bản làng ở rừng núi xa xôi. Người ta phải mượn tích Âu Cơ có trăm trứng để nhắc nhở các tộc trưởng miền núi thần phục vương triều. Vậy nên thế rồng thời Lý có thân cuộn lại thành khúc tròn và trong mỗi khúc cuộn ấy chứa biểu tượng một quả trứng rồng, theo tích Lạc Long và Âu Cơ. Sang đến thời nhà Lê, nhất là triều vua Lê Thánh Tông, vương quyền được củng cố, vươn ra thâu tóm các bộ tộc xa gần, lấn át cả vua nước Chàm và Ai Lao. Thế rồng thời Lê trở nên lượn sóng hình sin, rất tao nhã và thanh thản, hài hoà. Đến thời nhà Mạc các nghệ nhân ngầm có ý ám chỉ vương quyền đang trong tay cha con một ông võ tướng tiếm ngôi, biến vị. Thế rồng thời nhà Mạc biến đổi một cách kỳ lạ. Lưng rồng không còn uốn éo hình sin như thời nhà Lê và gồng lên như một cái yên ngựa. Nó khác nào con rồng thời Lê vừa bị đánh một côn trượng đau oằn lưng. Dưới triều nhà Nguyễn, văn hoá phương Tây tràn qua, tư tưởng và lối sống của con người trở nên phóng khoáng, không câu nệ, chấp nhặt theo các giáo lý các bậc hủ nho. Các nghệ nhân điêu khắc ở nước mình sáng tác đủ các thế rồng không theo một khuôn mẫu nhất định nào. Cái lạ là rồng vẫn ra rồng, không thể lẫn với con vât nào khác. Một điều lạ nữa là có lẽ rồng thời Nguyễn biến đổi nay thế này mai thế khác nên đã ứng nghiệm vào cuối triều Nguyễn vương quyền được thay như thay áo. Có ông lên ngôi được ba tháng, có ông được ba ngày...
 Trần Thăng nằm yên tận hưởng sự vuốt ve và nghe vợ kể chuyện rồng. Trong lòng anh bỗng nhiên thanh thản. Anh chạnh nhớ về miền quê Kinh Bắc. Nhớ cái làng nhỏ bên bờ đê sông Đuống nơi anh chôn nhau, cắt rốn và tuổi thơ anh thả diều, bắt bướm. Lòng anh nôn nao nhớ từng con đường gạch lát nghiêng, cây đa, bến nước, sân đình. Ôi! Cái ngôi đình nhỏ ở quê anh có tự bao giờ sao anh chẳng biết, chẳng bận tâm hỏi rõ ngọn ngành. Ở hai bên thành của bậc tam cấp bước lên thềm cao ngôi đình cổ ấy có hai con rồng đá, sao anh chẳng nhớ nó cuộn khúc ủ trứng rồng, hay lượn sóng hình sin, hay oằn lên như yên ngựa.
 Thăng nhớ thằng bạn nối khố có tên là Tươi mà suốt đời chỉ gặp chuyện buồn. Tươi ra trận, trở về với một chân và nhằng nhịt vết sẹo ở lưng, ở bụng. Giờ đây Tươi đang yên phận làm anh chăn vịt. Có lẽ bù lại Tươi được Thảo yêu, chờ đợi gần chục năm ròng. Họ đã có với nhau cả một nửa tá thị mẹt và đang sống nheo nhóc ở làng quê nghèo bán sơn, bán địa. Vậy mà sao những lúc vinh hiển, vào Nam ra Bắc, đi Tây đi Tàu, anh chẳng có chút bận tâm mua ít quà nhỏ cho sáu cô lọ lem của Tươi và Thảo... Thăng nhớ như in cô bé Thảo ngày nào. Nàng kém anh và Tươi chừng năm sáu tuổi. Khi hai đứa học cấp hai thì Thảo còn bé tí, suốt ngày cùng đám trẻ mẫu giáo trèo lên, trượt xuống trên lưng hai con rồng đá. Hợp tác xã hồi ấy biến ngôi đình cỏ thành nhà trẻ, mẫu giáo. Trẻ con nhà quê thường lấm lem nhếch nhác, có khi cởi truồng đến lớp. Thăng và Tươi hay ra sân đình trêu Thảo: “lêu lêu có đứa cởi truồng!” Phải đến khi Thảo khóc ré lên hay cô giáo ra quát mắng hai đứa mới chịu rủ nhau ra ao tắm hay mò ốc vặn.
 Năm qua đi, tháng qua đi, thoắt cái Thăng đã trở thành chàng sinh viên khoá bảy Bách khoa. Lần trở về làng, anh không dám tin ở mắt mình trước một cô Thảo mắt bồ câu lúng liếng, bộ ngực căng tròn, tấm thân thắt đáy lưng ong. Anh và Tươi cùng ngấm ngầm mê Thảo, cùng ganh đua để được Thảo yêu. Hóa ra anh chàng Tươi củ mỉ cù mì mà có duyên ngầm nên đã chiếm được trái tim nàng... Thăng nhắm mắt mơ màng thả hồn theo dòng hồi ức. Hòa bồi hồi nhìn chồng đang mỉm cười, nụ cười làm sáng cả đêm tối trăng. Chị khẽ lay anh.
- Mình! Mình buồn ngủ rồi à?
- Không, anh đang nhớ quê, nhớ bạn bè thủa ấu thơ, nhớ đôi rồng đá ở hai bậc tam cấp ngôi đình.
- Vậy thì mai chúng mình về quê, anh nhé!
- Có lẽ nên như vậy. Anh sẽ cảm thấy nhẹ lòng, thư thái hơn.
 Họ ôm nhau, xoắn chặt vào nhau như đôi rồng phun nước. Thăng như chàng trai mới lớn đầy ham hố, chồm lên đi thật sâu vào cơ thể vợ tìm khoảnh khắc thần tiên. Chị hưởng ứng bằng tất cả sự phấn khích trào dâng trong từng động tác mặn mòi của tuổi hồi xuân. Hơi thở hai người làm ấm cả trời đêm mùa thu se lạnh, lác đác hạt sương rơi. Đêm cuối tháng chìm sâu, huyền bí, ẩn hiện những bóng rồng giữa bốn bề lặng im bao la trời đất và cả trong cõi nhân sinh muôn thủa những kiếp người.
Sáng. Hòa tỉnh dậy sớm. Chị sợ làm động giấc của anh sau nhiều đêm thao thức, dằn vặt. Chị khẽ khàng trườn qua người anh, trượt gót xuống nền nhà. Hòa đẩy cửa ra ban công hít thở không khí trong lành buổi sớm mai. Phía rạng đông bắt đầu hé sáng. Những mái nhà rêu mốc của khu phố cổ đang ửng dần những tia nắng màu hồng nhạt, lẫn pha sắc tím, chiết quang từ những hạt sương li ti. Nó bò dần theo các ống máng và chuyển sang màu  đỏ. Từng vạt nắng lung linh lan trải trên hàng sấu và trên hè phố loáng thoáng rơi mấy quả sấu chín vàng vỏ đã nhăn nheo, báo mùa thu sắp hết. Hòa chợt giật mình nhận ra một mùa đông sắp về theo ngọn gió heo may trên các ngọn mía bên đê sông Đuống quê chồng. Đã nhiều năm bận rộn với công việc nghiên cứu, việc nhà lút cổ, Hòa không về quê. Những ngồng cải hoa vàng sau ngôi nhà ngói năm gian thân thương ở vùng quê Kinh Bắc như vẫy gọi chị về. Hòa thẫn thở vơ vẩn hồi lâu rồi quay vào tủ lạnh, lấy quả bầu dục với hai gói mì xuống bếp. Chị ý tứ giấu một nửa trái bầu dục dưới đáy bát của anh. Nửa còn lại chị chia đều hai bát. Các con đã trưởng thành, đi xa. Ở nhà ăn miếng gì ngon chị cũng nhường anh. Chị khẽ mỉm cười vì nếu anh biết nhất định sẽ đòi vợ đổi bát và ép chị ăn bằng hết mới chịu đụng đũa. Hạnh phúc đơn sơ thầm kín này chị sẵn sàng đánh đổi mọi thứ quyền chức, giàu sang để được nó. Thăng đã nghe thấy tiếng lục đục dưới bếp và tỉnh dậy. Anh khăng khăng giành lấy chậu quần áo từ tay chị mang lên sân thượng phơi. Hai người thủng thẳng ăn hết bát mì. Chị tất tưởi đi chuẩn bị hành lý về quê, còn anh ngồi uống cà phê vợ đã pha sẵn. Thăng không quên nhắc vợ gói ít kẹo và mấy mảnh vải hoa mang về cho mấy đứa cháu ngoại của Tươi và Thảo.
Xe bon bon trên con đường nhựa rộng rênh, phẳng lì. Hai bên đường những thửa ruộng vừa gặt còn trơ lại gốc dạ nâu đen. Những chú chim gáy đi ăn sớm đang tha thẩn tìm hạt lúa sót trên các đường cày lật đất nổi gợn lên giữa cánh đồng, nhìn từ xa nom giống như vồng ngực của người thiếu nữ tuổi dậy thì. Xe đưa Thăng rẽ lên bờ đê sông Đuống vàng rực nắng, lồng lộng gió. Lòng anh phơi phới niềm vui. Con đường càng ngắn lại, tình yêu quê càng bùng cháy, thiêu đốt mọi nỗi ưu tư, phiền muộn. Câu chuyện về những con rồng qua các triều vua Hoà kể  đêm qua khiến Thăng thao thiết mong gặp lại ngôi đình cổ với đôi rồng đá tuổi thơ. Vừa đến đầu làng, anh cho xe lượn thẳng vào sân đình. Hòa nắm tay chồng cùng hớn hở chạy lại quỳ bên con rồng đá. Thăng vỗ tay vào lưng vợ reo lên thích thú:
- Mình ơi! Nó uốn lượn mềm mại, bay bướm, uyển chuyển hình sin. Đúng là rồng đời Lê rồi.
- Vâng. Đình làng mình có từ đời Lê. Em cũng không ngờ quê nội các con có ngôi đình cổ đến như vậy. Mọi lần về quê đều sấp ngửa, vội vàng em chưa ra sân đình lần nào.
- Anh nghĩ, rất có thể góp thêm tư liệu cho công trình nghiên cứu của em cũng nên.
 Hòa nhoài người bò lên thân con rồng đá. Chị áp sát cặp kính cận dày cộp vào từng nét chạm sâu, từng đường uốn lượn của các hoạ tiết trên mặt, lưng và bụng rồng. Hồi lâu chị ngẩng lên nhìn Thăng say sưa giải thích cho anh ý nghĩa từng hoạ tiết. Thăng nghe vợ như uống từng lời. Anh bồi hôi xúc động, thầm cảm phục Hòa. Cuộc sống quanh anh có bao cái đẹp, cái quý giá mà anh hờ hững hoặc chưa chịu khám phá, cảm nhận được nó. Anh nghĩ vậy và cảm thấy yêu đời hơn, gắn bó với làng quê nghèo khó, với những con người quanh năm lam lũ mà rất hồn nhiên, không màng danh lợi, không bon chen đấu đá, tranh cướp quyền lực. Chợt anh nhìn thấy bóng Tươi chống nạng phăm phăm đi tới, sau lưng Tươi là Thảo là mấy đứa trẻ nhỏ trong làng.
- Thăng về đấy phỏng? – Tươi hỏi như quát.
- Sao biết vợ chồng mình về mà ra đón?
- Đón điếc cóc khô gì. Mình nghe trẻ con trong làng kháo nhau có hai ông bà lịch sự ngoài Hà nội, mỗi người đeo hai đít chai dày cộp, đang ở ngoài sân đình xem con rồng đá nên đoán ngay ra vợ chồng ông thôi mà. Ngọn gió lành nào đưa ông bà về quê đẩy, hử?
- Nhớ thì về chứ gió lành, gió dữ gì…
 Thăng đẩy nhẹ vợ về phía Thảo. Hai người đàn bà thẽ thọt chào nhau, làm thân rất nhanh và rủ rỉ tâm sự. Tươi vẫn nói oang oang như sân đình chỉ có anh và Thăng.
- Ông là chúa tệ, làm quan rồi, giàu sang rồi chẳng thèm ngó ngàng hỏi đến bạn bè.
- Bận tối mũi tối mắt, ông và các bạn bè ở quê tha cho mình.
- Bận... Bận... Bận cái nỗi gì? Có mà bận đỡ đòn giữ ghế. Cái tạng ông thật thà như đếm, chống đỡ làm sao cho được bọn tiểu nhân mẹo vặt đầy người. Bị chúng nó cho lộn tùng phèo rồi phỏng?
- Thế ra ông biết hết mọi chuyện? –Thăng ngỡ ngàng hỏi lại.
- Đừng khinh thằng bạn lính què, chăn vịt ở xó quê nhá. Chuyện to chuỵên nhỏ của bạn bè ngoài Hà Nội cũng không lọt qua lỗ tai, con mắt của mình. Mà thôi, vứt quách ba cái chuyện ấy cho nó nhẹ lòng. Ông và Hòa từ nãy ngắm nghía con rồng đá đố biết có gì hay không?... Đám trí thức thị thành các vị không rành rõ chuyện nay bằng cánh nhà quê ấm ớ như mình đâu. Này nhé! Các con rồng thiêng ở đâu mình không biết, chỉ thấy nó dù làm bằng gỗ, bằng đồng, bằng đá, hay bằng vàng đi nữa mà đặt xa cách với con người là vứt! Nếu nó không mốc meo, mối mọt thì cũng nhện chăng, bụi bám rồi khuất chìm dưới đáy bể thời gian. Cứ như con rồng đá đình làng ta lại hoá hay. Bao nhiêu thế hệ mẫu giáo xa xưa đến lớp mụ Thảo nhà mình và bây giờ là lớp con, lớp cháu đã nối tiếp nhau, áo quần nhếch nhác, leo lên tụt xuống nên cái lưng rồng mời nhẵn bóng, sáng loáng. Chỉ cần nhìn xuống chân, xuống bụng con rồng đá khắc thấy chỗ nào các thằng cu, con hĩm ít gí chim, chạm bướm tới là rêu mốc đã bám ngay rồi...
Tươi nói say sưa, giọng choang choang như chuông không cần e dè, kiêng nể. Có lúc cao hứng, anh gõ chiếc nạng cạch cạch xuống sân đình. Hòa liếc nhìn sang chồng. Chị mừng vì chưa thấy bao giờ anh hồn nhiên, vui vẻ như vậy. Cái chất nhà quê thật thà, nói nhanh, nói to của Tươi như lây sang người Thăng. Họ vung tay, múa chân, nói cười ngả ngớn, tự do. Cái tự do không dễ tìm được ở các hội nghi trang nghiêm giả tạo, nói lời vay mượn mà Thăng và chị vẫn từng miễn cưỡng tham dự đã nhiều năm. Nó giá trị chẳng bằng nửa lời của Tươi vừa nói về rồng chăng?...Chị xúc động ngả đầu vào vai Thảo ngắm nhìn hai người đàn ông thao thao, bất tận những câu chuyện mà họ dành cất trong kho kỷ niệm từ thời tám hoánh.
 Nắng trưa đã lên tròn bóng. Mặt nước ao đình lăn tăn gợn sóng theo nhịp khoả chân của các cô thôn nữ đi làm đồng về. Lòng Hòa thầm reo: Ôi quê hương, con cám ơn người! Nếu biết thế này, con đã đưa Thăng về với người từ hôm đầu xảy ra câu chuỵên bầu bán ở viện của anh…

 

tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
MỸ LINH CỦA TÔI
Vũ Ngọc Tiến
 
1. Bà chủ khách sạn Hoàng Long mời tôi lên gặp giữa ca trực tối khiến tôi phân vân e ngại. Lúc này đã gần mười giờ đêm, khách lưu đi chơi chưa về, khách mới nhập phòng không có, sảnh khách vắng hoe. Cô nhân viên quầy tiếp tân đến bên tôi nhắn tin nheo mắt cười tinh quái làm tôi càng bối rối. Đồn rằng, bà chủ chỉ là vợ bao của ông sếp cỡ bự trên thành phố, đã trọm trẹm tuổi “đầu năm đít to”. Tuổi ấy, lại thêm cái vòng bụng càng to thì của nợ kia càng có khả năng lắm lúc bất tuân thượng lệnh. Bà chủ sồn sồn tuổi “đầu bốn”, đang lúc hồi xuân, khát tình như khát nước, nhưng là người từng trải nên bà chẳng dại gì cặp bồ lộ liễu để ông sếp kia biết, sẽ mất nguồn viện trợ và cả sự bao bọc trong làm ăn. Vậy nên bà sẵn sàng trả lương rất hậu cho nhân viên bảo vệ, nhưng phải là người đứng tuổi, có mẽ ngoài coi được, phong độ trí thức và nếu biết tiếng nước ngoài càng hay. Bà lý luận với đức ông chồng: “Thời buổi thịnh hành nền kinh tế tri thức, nhân viên khách sạn của tôi từ giám đốc điều hành đến tiếp tân, bảo vệ đều phải có bằng cấp, nói tiếng Tây, tiếng Tàu như gió thì khách mới nể phục bà chủ. Ngoài đường phố nhan nhản cử nhân, kỹ sư về hưu non ngồi bơm xe hay đạp xích lô, chở xe ôm thì khó gì việc tìm một ông trí thức làm bảo vệ tuổi trên dưới 50 vẫn còn khỏe mạnh.” Nghe bà lý luận thế, đến ông chồng hờ là chính khách lão luyện cũng phải xoa tay thán phục, khen bà có mắt tinh đời. Ông đâu biết, mấy đời bảo vệ ở đây đã từng kiêm nhiệm chuyện phòng the cho bà rồi nhanh chân kiếm một khoản kha khá bằng cách vay mượn hoặc tống tiền trắng trợn và… “ù té quyền”. Bà căm lắm, lu loa với chồng rằng họ là lũ trí thức lưu manh, bằng rởm người cũng rởm nên bà đuổi thẳng cổ. Ông tự ái hỏi vặn: “Thế bà cho tôi có bằng thạc sĩ cũng là bằng rởm ư?” Bà điên tiết: “Rởm tất, nhưng chỉ cần ông lưu manh ở chốn quan trường, còn tử tế với tôi là được rồi.” Nghe thế mà ông chịu im mới lạ! Anh bạn nhà báo kể cho tôi những chuyện này, sau khi đã giúp tôi đến xin việc chỗ bà khoảng vài tuần. Tôi trách nhẹ, anh vỗ lưng tôi cười xòa bảo: “Thôi đi bố ạ! Bỗng dưng có việc nhẹ nhàng, tối làm bảo vệ khách sạn, ngày ngủ no giấc đến trưa rồi tha hồ viết lách, lương tháng một “vé”, chẳng hơn ngày ngày thồ than tổ ong, tối lọ mọ viết hết đêm ư? Mày không muốn thì mụ ta cưỡng hiếp được sao?” Tôi nói: “Biết thế, nhưng mình sợ có lúc khó xử, mang tiếng chết.” Anh bạn nói thẳng: “Tao nghĩ thương cho mày. Xét cho cùng tội gì mày phải ép xác giữ lấy hai chữ “có đạo” ở thời buổi này. Ly thân với mụ vợ ngần ấy năm, nó cặp kè với thằng khác, sao mày không bỏ quách đi cho rảnh nợ? Mày cũng nên giải thoát cho mình, tự do xả láng với mụ chủ cho ả biết mặt.” Chẳng biết anh bạn nhà báo vốn quen biết cả hai ông bà đã tán dương tôi thế nào mà bà chủ xem chừng nể trọng và quý tôi ra mặt, khiến đám nhân viên cứ nhìn tôi xì xầm to nhỏ. Thây kệ đời. Tôi cũng đã mệt mỏi với chiếc xe đạp lặc lè hai rọ sắt chất đầy than tổ ong đằng sau. Hơn nữa, làm cái nghề phơi mặt ra trên đường phố như thế cũng ê chề lắm. Chẳng gì tôi cũng là thằng kỹ sư địa chất có hạng, từng làm chủ nhiệm mấy đề tài nghiên cứu cấp quốc gia. Tôi bỏ nghề đi viết văn, viết báo theo sở nguyện lúc còn trai trẻ, nhưng ở xứ này hiếm  cây bút ngay thẳng, trung thực nào mà đủ sống bằng ngòi bút. Thế nên tôi mới phải đi bán than tổ ong kiếm thêm, đến nỗi thiên hạ đồn thổi chuyện tôi bị kỷ luật, tước bằng kỹ sư. Giờ làm chân bảo vệ khách sạn Hoàng Long kể cũng nhàn thân, lương cao, lại không phải phơi mặt ra đường là tốt rồi. Thỉnh thoảng có dịp, tôi chuyện trò tiếng Tây, tiếng Tàu với khách, khoe cái sở học của mình cũng là niềm vui nho nhỏ cho cái kiếp đời mạt vận, yếm thế. Thú nhất là vào những ngày trực ca đêm, khi thành phố chìm trong giấc ngủ say nồng là lúc tôi tự do thả hồn lên trang giấy, nói hết những điều mình cảm, mình nghĩ giữa nơi phòng ốc khang trang gấp nghìn lần cái ổ chuột nhà mình. Sách có được in hay không chưa hẳn đã quan trọng, chí ít thì đó cũng là cơ hội để tôi tìm lại chính mình… Cũng đã đôi lần bà chủ ngồi chuyện trò khá lâu với tôi, xem chừng bà muốn làm thân, nhưng không đến nỗi sỗ sàng hay khêu gợi như lời kể của anh bạn nhà báo. Bà thủng thẳng chuyện gần chuyện xa, pha chút hài hước, vẻ thân tình, nhưng vẫn giữ khoảng cách cần thiết. Có lẽ bài học về mấy vố lừa trước đây khiến bà thận trọng thăm dò đối phương chăng? Cứ thoáng nghĩ vậy tôi lại chạnh lòng cảm thấy mình như con mồi bị dền dứ. Lần này theo hẹn, tôi bước vào phòng làm việc của bà, ngập ngừng nhìn lên đồng hồ chỉ vào đúng con số mười. Bà chủ ngước nhìn tôi, nở nụ cười rất tươi như mong đợi từ lâu. Bà lại gần bộ xa lông, mời tôi cùng ngồi, ý nhị hỏi: “Em có làm phiền bác không?” Tôi đáp: “Không, thưa chị! Đang giờ làm việc, chị cho gọi thì bổn phận tôi phải có mặt.” Bà cười lấy lòng: “Bác đừng quá khiêm nhường thế, khó xử cho em quá. Em sợ bác đang bận viết lách gì cơ.” “Hôm nào phải trực đêm, tôi thường đợi đến lúc người khách cuối cùng đi chơi về mới viết gì thì viết, chị ạ!”- tôi cũng cười và khẽ khàng thưa lại trong cương vị kẻ làm thuê. Hình như để xóa đi cái không khí trang nghiêm có phần khách sáo, bà chủ của tôi ân cần mời thuốc, tự tay pha nước và bàn thẳng vào công việc sắp tới. Bà cho biết, khách sạn chuẩn bị đón một vị khách VIP từ Pháp sang ăn Tết và tìm cơ hội đầu tư lớn ở Việt Nam. Vị này vừa đưa ra hai yêu cầu khá đặc biệt vào lúc chín giờ tối, khiến bà chủ đang dự tiệc với giới quan chức trong thành phố phải vội vàng về tìm tôi. Khách muốn đón Tết ở Hà Nội bằng một chậu mai trắng, có dáng kết hợp giữa hai thế cây “Kình thiên độc trụ” và “Tam thế anh tài”, bà chủ và nhiều quan khách trên bàn tiệc bàn tán mãi vẫn không luận ra thế cây độc đáo ấy. Tôi giải thích, “Kình thiên độc trụ” là cây mai chỉ có một thân mập, xù xì vươn cao và hơi nghiêng, ở trên có tán tròn xum xuê, nếu kết hợp với “Tam thế anh tài” thì ngoài tán tròn ở phía trên, cây phải có thêm hai tán vươn dài nữa, một tán chúc xuống đất, một tán nằm ngang, hợp lại thành Thiên- Địa- Nhân. Bà chủ nghe vậy mừng rỡ chồm hẳn người về phía tôi, nắm chặt tay lắc lắc. Bà bảo: “Bác đã gỡ cho em một bàn thua trông thấy. Từ mai bác chuyên tâm tìm mua cây mai này giúp em, khách sạn sẽ có thưởng xứng đáng.” Nhưng cái yêu cầu thứ hai của khách mới thật sự làm tôi ngỡ ngàng. Bà chủ nhìn tôi rất lâu thăm dò, cười và bảo, khách muốn nhờ đích danh tôi làm hướng dẫn du lịch và giúp việc trong đàm phán đầu tư của họ. Điều này thật ngoài sức tưởng tượng của tôi, vì một thằng trí thức mạt vận như tôi, phải đi bán than, đi làm bảo vệ bỗng dưng được vị khách lạ hoắc bên trời Tây biết đến. Văn nghiệp của tôi lại cũng loàng xoàng, chìm nghỉm trong rừng sách thời nay với vài cuốn truyện ngắn, một cuốn tiểu thuyết dở dang, hơn nữa nó chẳng liên quan gì đến việc đầu tư của khách. Đêm ấy tôi bồn chồn thao thức, nghĩ mãi không thể tìm ra nguyên cớ, cứ nghĩ bà chủ lắm tiền rửng mỡ đùa dai…
2. Suốt mấy ngày tôi bươn bả đạp xe đi khắp nơi tìm mua cây mai theo yêu cầu của khách. Nhìn vào tờ FAX đặt phòng, tôi biết vị khách VIP là một phụ nữ người Pháp gốc Việt có tên là Mỹ Linh. Nàng với tôi chưa hề quen biết, sao lại nhờ đích danh tôi làm những việc tôi cũng chưa từng làm? Người chơi mai này phải có cốt cách thanh tao, tâm hồn mơ mộng mới thích loài mai trắng xứ rét, chứ không theo phong trào mua mai vàng phương Nam về bày trong phòng khách ngày Tết ở Hà Nội cho lạ mắt. Thế mai đặt ra trong yêu cầu cũng là bài toán hóc búa, không dễ gì đáp ứng. Tôi linh cảm nàng phải là con người có cuộc đời bí hiểm, bởi người chơi mai yêu thế cây “Kình thiên độc trụ” thường là đàn ông từng trải, có nghị lực thép, nhưng cô đơn chống chọi với số phận nghiệt ngã. Thế cây “Tam thế anh tài” lại thường phù hợp với con người thâm trầm, sâu sắc, bình thản trước mọi biến cố dữ dội của cuộc đời, trong kiếp nhân sinh vốn đầy rẫy bất an, âu lo, trắc trở. Hai thế cây này hợp làm một, trong chậu mai mà chủ nhân là người đàn bà giầu có cứ làm tôi thắc thỏm chờ đợi xem mặt nàng trên suốt những chặng đường tìm chậu mai thế. Tôi đã cất công lùng sục vào vườn của nhiều nghệ nhân trồng mai ở Quảng Bá, Nghi Tàm, Đông Mỹ, lên cả Bắc Ninh, cuối cùng mới tìm được chậu mai ưng ý nhất. Ngày đưa chậu mai về khách sạn Hoàng Long, mọi người đổ xô lại nhìn ngắm, ngẩn ngơ thất vọng. Gốc mai xù xì, mốc thếch, thân cây thô mập, ba tán cây thì khô khốc với những nhánh, cành khẳng khiu, lấm tấm nụ mai dày đặc chỉ nhỏ bằng đầu tăm. Vài ngày sau, cây bắt đầu ra lộc, nụ hoa lớn dần, nhưng trong ánh mắt bà chủ khách sạn vẫn còn nỗi hoài nghi, không thể hiểu nổi chậu cây đơn sơ như thế lại có giá tới năm triệu đồng. Mặc dầu vậy, bà hồ hởi cám ơn người mua, hào phóng thưởng thêm cho tôi một triệu đồng. Vào hôm khách đến, bà chủ khách sạn nghe lời ông chồng, đích thân ra sân bay đón, trang điểm lộng lẫy như một bà hoàng. Bà sai người mua cho tôi bộ com-lê đắt tiền, nài nỉ tôi cùng đi, nhưng tôi lễ phép từ chối. Tôi ở lại khách sạn chỉ huy nhân viên bày biện lại nội thất phòng VIP. Chậu mai đặt ở bậc dưới cùng bộ tam sơn bằng gỗ gụ, ngăn cách bàn làm việc của nàng Mỹ Linh với nơi tiếp khách bày bộ xa-lông kiểu đời Minh. Trên tường treo bức tranh  thêu “Thiếu nữ với hoa huệ”, phỏng theo tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân. Bên buồng ngủ phía trong, tôi yêu cầu dẹp hết những thứ lỉnh kỉnh, pha tạp cổ kim. Người yêu mai thế như nàng chắc sẽ không thích không gian bức bối, phòng ngủ phải thoáng, đượm nét phương Đông. Tôi chỉ giữ lại trong buồng chiếc sập bách điểu, bàn trang điểm, tủ treo quần áo, đều bằng gỗ gụ, chạm khắc tinh xảo, và bày thêm một chậu lan hồ điệp ở góc phòng, gần cửa sổ nhìn ra hồ Trúc Bạch. Sàn nhà, tôi chọn loại thảm dạ màu xanh lam cho gần gũi với thiên nhiên và giảm bớt cái nét buồn của gam màu kem trên tường nhà… Xong xuôi mọi việc, tôi tẩn mẩn ngồi tỉa từng tán cây mai thế, ngẩn ngơ chờ đợi người phụ nữ chưa hề quen biết, nhưng dường như đã có chút thân gần, đồng cảm nhen lên từ một loài hoa tôi ưa thích.
3. Chiếc xe chuyên đưa đón khách của khách sạn Hoàng Long ghé sát bên thềm. Từ trên xe bước xuống một thiếu phụ thoạt nhìn thật khó đoán tuổi. Nàng bận một chiếc váy liền áo bằng tuyết nhung màu đen, may cách điệu từ kiểu sường xám Thượng Hải. Tóc nàng bới cao về phía sau, cài cây trâm bằng đá hồng ngọc làm tôn vẻ kiều diễm, quý phái của chiếc cổ cao ba ngấn trắng mịn đến mát mắt đàn ông. Chuỗi hạt xoàn đeo trước ngực dường như không sánh nổi cặp mắt sáng long lanh dưới hàng mi cong dài. Nàng khoan thai bước vào sảnh khách, ngả người trên ghế xa lông, chờ nhân viên khách sạn tíu tít chuyển hành lý lên phòng. Dáng vẻ tự tin của người lắm tiền, nhiều của không làm tôi ngạc nhiên, nhưng trên gương mặt kiêu sa kia hình như đang bợn chút u hoài. Có điều gì tận thẳm sâu miền ký ức đang khơi dậy trong nàng chăng? Nàng đảo mắt nhìn quanh sảnh khách rồi đứng dậy, lững thững ra ngoài nhìn ngược nhìn xuôi con phố nhỏ uốn lượn ven hồ. Tôi nhìn theo bóng nàng, bỗng thấy xốn xang niềm cảm thông, muốn được chia sẻ. Hình như giữa tôi với nàng có sợi dây mong manh nào đang buộc mối thắt vu vơ. Song cái sĩ diện của kẻ sĩ đã ngăn tôi lại. Người ta giầu có, đài các nhường kia, mới chỉ đánh tiếng qua bà chủ về cái tên hèn mọn này mà tôi đã vội chầm vập làm thân, khác nào thấy người sang bắt quàng làm họ. Nàng đã trở lại khách sạn, khẽ thở dài, chậm rãi bước lên cầu thang, không chịu đi thang máy. Bóng nàng mờ dần theo hình xoáy trôn ốc. Bà chủ lại gần, đập nhẹ bàn tay mềm mại lên vai tôi hỏi: “Sao hôm nay nom bác cứ đần cả người ra thế? Bị người đẹp phương xa đến hớp hồn rồi phải không?” Tôi không dám nhìn vào mắt bà, nói lảng: “Kê dọn xong phòng VIP tôi mệt quá chị ạ!” “Bác cũng đào hoa thật. Suốt dọc đường chị Mỹ Linh cứ hỏi mãi em về bác. Hai người quen biết nhau bao giờ thế? Từ hôm nay bác sẽ không còn là người của khách sạn nữa, nhưng em chỉ cho chị ấy mượn bác ít ngày thôi, nhớ đấy, đừng có mới nới cũ, bác nhé!” – bà chủ nói như hát bên tai, cử chỉ có phần hơi nũng nịu. Ơ hay, tôi đã “có gì” với bà đâu mà “có mới nới cũ” kia chứ! Tôi đánh bạo nhìn vào mắt bà, thấy như ánh lên chút ghen tỵ. Bà nói tiếp, lời pha chút hờn mát, bảo với tôi rằng, khách sẽ nghỉ ngơi yên tĩnh vài giờ, không tiếp bất cứ quan khách nào của thành phố hay người lạ; sau đó khách sẽ đi tắm, có một nữ nhân viên mát-xa giỏi phục vụ; đúng bảy giờ tối, tôi sẽ phải có mặt ở phòng VIP để bà chủ mới làm quen và giao việc. Nàng sẽ là “bà chủ mới” của tôi ư? Cái gì đang chờ đợi tôi trong những ngày sắp tới? Vẳng bên tai tôi lời nói xa xôi, bóng gió của bà chủ khách sạn từ mấy hôm trước: “Em làm khách sạn đã vài năm, tiếp xúc với Việt kiều không ít, cũng có dăm bẩy loại. Có người là doanh nhân, trí thức nổi tiếng mà lại khó làm ăn, hợp tác với trong nước. Có kẻ lưu manh chuyên nghiệp hay chỉ làm bồi bàn bên ấy mà về nước mang nhãn Việt kiều dụ được khối cô ả xí xởn mơ cuộc sống vàng son, các cô bị lừa mất cả tình lẫn tiền, cho họ cơm no bò cưỡi mới nhục chứ. Lão chồng nhà em làm chính khách mà óc bã đậu, không hơn gì mấy ả xí xởn, hễ nghe tin Việt kiều về đầu tư là mắt cứ sáng lên, gặp phải tay em thì thật giả em bóc mẽ được hết.” Bà ta nói không sai, nhưng điều ấy với tôi cũng chẳng can hệ gì. Tôi là thằng làm thuê, một kẻ nghèo hèn, không mấy hứng thú chuyện quốc gia đại sự. Tôi  cũng không có ảo tưởng xí xởn với một ai trong hai bà chủ. Họ là một thế giới khác, thế giới của quyền và tiền. Vả chăng cái tờ giấy hôn thú đã cột chặt tôi với người vợ đang ly thân cùng với những hệ lụy về con cái, giáo lý và kỷ cương gia tộc, định kiến xã hội. Điều này tôi đã từng bộc bạch với anh bạn nhà báo lúc mới vào đây làm rồi cơ mà. Thế nhưng nàng, bà chủ mới của tôi cứ khuấy động trí tò mò bởi cái thông điệp kỳ bí về cây mai thế nàng yêu cầu mà để chiều khách, bà chủ khách sạn đã sai tôi mua về.
4- Cuộc trình diện của tôi với nàng khá êm ái, dễ chịu. Tôi gõ cửa phòng VIP, nàng mở cửa, nghiêng mình chào tôi rất điệu đàng, lịch duyệt. Hai người ngồi đối diện trên bộ sa lông kiểu đời Minh. Tôi chủ động tìm trà pha nước cho cả hai người. Nàng tủm tỉm cười, lặng yên quan sát từng động tác của tôi lúc pha trà, mời nước. Loại trà ướp sen này chính tay tôi mua ở hiệu Chính Thái phố Phó Đức Chính để bà chủ khách sạn dùng đãi riêng nàng. Nâng tách trà nóng hổi trên tay, nàng mỉm cười và nói:
- Quả như lời ông bạn tôi, ông đúng là người Hà Nội gốc, rất gia giáo, nho nhã.
- Xin bà giải thích rõ thêm được không?
- Cứ nom bộ điệu ông thì biết. Ngày xưa ba tôi cũng dạy: “Mời trà nếu cầm một tay là vô lễ, thiếu lịch sự. Nếu cầm hai tay khư khư bưng lên mời khách là khúm núm, thiếu tự trọng. Mời trà phải tay nâng tay đỡ mới thể hiện vừa kính trọng lại vừa tự trọng.” Loại chè sen này phải qua ba lần ướp ba lần sấy, rất đúng bài bản của các cụ người Hà Nội mới có hương thơm mát và đằm đến như vậy. Nếu tôi không lầm thì nó do con cháu cụ bà chủ hiệu Chính Thái ngày xưa sao tẩm, chỉ không biết họ còn ở ngôi nhà cũ phố Hàng Bồ hay đã chuyển đi nơi khác.
- Thì ra bà cũng là người dân gốc Hà Nội.
- Gia đình tôi ở phố Lãn Ông đã năm đời.
- Nếu vậy chúng ta là đồng hương Hà Nội.
- Vâng, tôi mong rằng cùng là người Hà thành, chúng ta không cần khách sáo nữa. Từ giờ xin ông cứ gọi tôi là Mỹ Linh, còn tôi xin phép được gọi ông là anh xưng em cho thân mật. Là người gốc Hà Nội, nhưng tôi chẳng còn ai thân thích nội ngoại ở đây. Mong ông hãy coi tôi như đứa em gái xa quê lâu ngày trở về.
- Vâng. Nếu vậy xin phép hỏi, vì sao Mỹ Linh biết tôi?      
- Anh có người bạn Mỹ là Robert? – Nàng hỏi lại.
- Vâng, chúng tôi biết nhau đã gần ba năm nhưng Robert vừa mới về Mỹ, có lẽ không quay lại.
- Theo giới thiệu của Robert, anh là nhà văn, cũng đã từng là kỹ sư địa chất?
- Tôi vốn là kỹ sư địa chất nhưng chưa thể coi là nhà văn. Có lẽ bạn tôi quá yêu nên giới thiệu như vậy.
- Sao thế? Em đã được Robert cho xem khá nhiều tác phẩm của anh.
- Ở xứ mình, ai chưa có thẻ hội viên Hội Nhà văn thì vẫn chỉ là “tác giả”.
- Ra thế!... Nhưng em vẫn thích từ “tác gia” hay “tác giả” hơn từ “nhà văn” vì nó thực chất và chuẩn về nghĩa. Ở nước ngoài người ta cũng gọi “tác gia” thôi. Làm anh nhà văn có thẻ mà cả đời không viết ra một tác phẩm nên hồn thì hữu danh vô thực, báu gì.
- Tôi đồ rằng người làm ăn như Mỹ Linh sẽ chỉ cần anh địa chất trong tôi, phải vậy không?-  tôi hỏi và lái câu chuyện sang ngả khác. Nàng cười rất hồn nhiên đáp:
- Chẳng giấu gì anh, em về ăn Tết chuyến này cũng là để tái thẩm định hai dự án đầu tư, một là khai thác vàng ở Cẩm Thủy - Thanh Hóa, hai là khu du lịch sinh thái ở ngoại ô Hà Nội.
- Nếu ở lĩnh vực địa chất, Mỹ Linh cần giúp gì tôi sẽ cố hết sức, còn mảng du lịch sinh thái thú thật tôi mù tịt.
- Cũng chưa hẳn thế đâu. Em cần anh cả trong những cuộc đàm phán đầu tư khu du lịch sinh thái ở Hà Nội, song vì một lẽ thầm kín khác, mong anh đừng chối từ.
- Cái chính là tôi có làm được việc, có đáng được hưởng lương không - Tôi nhìn vào mắt nàng thăm dò. Nàng cúi xuống, tránh ánh mắt tôi, nhấp ngụm trà sen, khẽ thở dài nói:
- Anh đừng xem nhau bằng quan hệ chủ tớ nữa, được không? Em đã nói ngay từ đầu, mong anh hãy coi như đã gặp lại người em xa quê lâu ngày trở về. Giờ em xin nói thật, đối tác đầu tư du lịch sinh thái chính là ông chồng hờ của bà chủ khách sạn Hoàng Long này. Ông ta thông qua đứa con trai của bà vợ chính thức, lập công ty Thế Kỷ Mới rồi liên hệ hợp tác với em. Chuyện dài dòng lắm, lâu dần anh sẽ hiểu, chỉ biết em rất cần anh đóng vai tình nhân của mình trong các cuộc tiếp xúc với ông ta…
Tôi sững sờ trước yêu cầu đường đột của nàng. Chắc tại ông bạn Robert người Mỹ có ý đùa cợt nên đã giới thiệu tôi làm cái việc oái oăm này. Ông ta làm ở phái đoàn MIA, đóng trụ sở ở phố Đốc Ngữ, lấy vợ người Việt. Ông là giáo sư Sử học nên rất thân với tôi. Cuộc chơi này ngoài sức tưởng tượng và tôi không hề chuẩn bị tinh thần nhập cuộc. Chắc nàng còn nhiều lý do để cần tôi sắm vai ấy trong cuộc chơi, chưa tiện nói hết. Bản lĩnh kinh doanh và sự sòng phẳng của cuộc chơi buộc nàng phải nói trắng phớ cái giá của vai kịch là một ngàn đô la. Nhưng nhìn vào cử chỉ, ánh mắt nàng, tôi cảm nhận thấy nàng rất hiểu sự trả giá ấy là bất nhẫn, là xúc phạm người đối thoại. Tôi không nỡ chối từ, cũng chưa thể nhận lời. Nàng bảo, chỉ cầu xin chứ không nài ép và tôi hứa sẽ suy nghĩ, trả lời sau. Chúng tôi lặng im ngồi thưởng thức trà sen, ngắm chậu mai thế. Nàng thổ lộ mình rất yêu hoa mai từ nhỏ. Cha nàng đã giảng giải cho nàng nhiều loại thế mai và nét đẹp của hoa. Hoa mai đem đến cho nàng cảm giác về cái đẹp huyền biến, sự vô thường của tạo hóa. Nụ mai xuất hiện trên những cành khẳng khiu vào cuối đông giá lạnh. Những chấm li ti lớn dần, hé lộ ra một điểm hồng thắm nho nhỏ. Thế rồi một sớm mùa xuân mai nở rộ, xòe ra những cánh mỏng, trắng ngần, thanh khiết. Hoa to bằng đồng xu, hương thơm dìu dịu. Qua đi dăm ngày, giữa mỗi đài hoa trắng lại xuất hiện trong lòng nó một điểm phớt hồng, gieo vào lòng ta niềm xốn xang khi mùa xuân về… Nàng nói về hoa mai với tất cả niềm đam mê, xen lẫn nỗi lòng thành kính tưởng nhớ người cha. Người yêu cây, yêu hoa, hiếu đễ như nàng mà lại thuê tôi sắm vai tình nhân trong cuộc chơi giữa đời nhiều sự phản trắc, dối lừa, hẳn có nhiều lý do thầm kín, song người như nàng không thể đẩy tôi vào chỗ bất nhân, phi pháp.
Tôi chia tay nàng về nhà miên man suy nghĩ. Các con tôi vẫn vô tư ngoan ngoãn học bài. Mẹ chúng đi chơi khuya về đang dằn hắt chúng vì những chuyện vu vơ. Chúng có tội gì đâu, cô ấy muốn mượn cớ gây sự với tôi thì có. Tôi ngang ngạnh, bất tài, để gia đình phải sống trong nghèo túng. Cô ấy chán chồng thì cứ việc đi chơi với gã nào đó, từ lâu tôi chẳng thiết, chỉ đừng dằn hắt lũ con bé bỏng, tội nghiệp của tôi. Chao ôi, một ngày sắp hết, biết bao biến cố dồn dập làm tôi phân thân, mệt rã!... 
5- Những ngày đầu, tôi đưa Mỹ Linh đi thăm thú khắp nơi trong thành phố, ăn những bữa cơm bình dân ở quán nhỏ ven đường. Chúng tôi kể cho nhau nghe về những kỷ niệm với từng hàng cây, góc phố, con đường tuổi thơ. Nàng ứa lệ chỉ cho tôi căn nhà xưa ở phố Lãn Ông, ngôi trường ở phố Chợ Gạo. Về tới khách sạn, nàng thân mật cởi mở, nói chuyện với mọi người, kể cả nhân viên phục vụ, nhưng không hề suồng sã. Từng cử chỉ lời nói của nàng đều đoan chính, lịch sự mà không một chút kênh kiệu, đài các như mấy bà Việt kiều rởm khác mà tôi từng gặp. Tuy vậy, có vài điều khiến tôi băn khoăn về lai lịch của nàng nên chưa thể nhận vai diễn. Có những tối khách đến tìm gặp Mỹ Linh rất đông, pha tạp đủ loại, thậm chí cả những vị khách có khuôn mặt dữ dằn, lời nói bặm trợn kiểu chợ trời hay dân đao búa ngoài nhà ga, bến xe. Họ trò chuyện với nàng rất thân mật kiểu bỗ bã, nhưng thái độ lại rất khúm núm, sợ sệt. Đứng giữa họ, con người Mỹ Linh toát ra một thứ uy lực đặc biệt, không phải vì tiền mà vì một thứ ám ảnh ma quái từ rất lâu, rất sâu sắc, mãnh liệt. Bà chủ khách sạn đã mấy lần thì thầm với tôi về những hình xăm, tôi không tin, ngỡ bà nhỏ nhen, xúc xiểm để tôi xa lánh nàng. Đàn bà khi ghen dễ thành kẻ điêu toa, nanh nọc. Bà chưa có gì với tôi, nhưng gần đây có lúc tỏ ra tình tứ với tôi hơi lộ liễu, khiến tôi ngượng chín người. Mỹ Linh vẫn có thói quen hàng ngày vào chiều hoặc tối, sau khi tắm xong nằm khỏa thân trên giường, thuê một nữ thầy thuốc Đông y đến mát-xa và tôi đã tìm cô hỏi chuyện. Đúng vậy, cô xác nhận, trên cơ thể nàng, bụng và ngực xăm một con sư tử lớn, hai chân trước con sư tử chồm lên đỡ lấy hai bầu vú. Lưng nàng xăm trổ rất đẹp, copy theo bức tranh của danh họa cổ điển người Ý, vẽ cảnh nữ thần ái tình sau mỗi cuộc ái ân đều chặt đầu gã đàn ông trước lúc bình minh ló rạng. Chuyện đến nước này khiến tôi tá hỏa, hoang mang không rõ con người thật của nàng ra sao nữa. Tôi nhớ lại buổi nói chuyện với nàng về hoa mai, càng thêm khó hiểu. Tận thẳm sâu tôi tin nàng là người đàng hoàng, nhưng sự thật diễn ra trước mắt làm tôi cứ rờn rợn. Bà chủ khách sạn được đà, thả sức nói xấu nàng trước mặt tôi. Thậm chí bà quả quyết rằng, nàng là chúa đảng mafia trong đám Việt kiều lưu manh ở nước ngoài, về nước đầu tư là để rửa tiền mà thôi. Có điều rất lạ là dù bà chủ khách sạn nói thế nào thì ông chồng vẫn gạt phắt, cứ thản nhiên cười xòa, cho đó là chuyện vặt. Ông còn ra lệnh cho bà phải nhắc nhở nhân viên giữ lễ độ, phục vụ chu đáo, không để khách mếch lòng. Một lần cùng nàng đi lễ ở phủ Tây Hồ, để thăm dò việc đầu tư của nàng hư thực ra sao, tôi hỏi:
- Mỹ Linh lần này về đầu tư khai thác mỏ vàng đã tìm hiểu tình hình đến đâu rồi?
- Đương nhiên, để chuẩn bị cho hạng mục đầu tư này, trước khi về Việt Nam, em đã giao cho văn phòng phát triển của hãng nghiên cứu suốt ba tháng trời. Theo báo cáo của các chuyên viên, có ba hãng của Úc, Thái Lan, Nga đã đi trước em một bước. Họ đã giành được những mỏ có điều kiện khá tốt. Tuy nhiên Nga đã thất bại ở Na Rì (Bắc Thái) còn Úc ở Bồng Miêu (Quảng Nam) và Thái Lan ở Lục Yên (Yên Bái). Song họ đều chỉ là những hãng nhỏ, không có tiếng tăm, thực lực yếu, sẽ không thể là đối thủ của em. Lần này về Việt Nam, văn phòng phát triển của hãng đề nghị em xem xét tính khả thi dự án ở các vùng Sông Cầu (Phú Yên), Sông Lô (Tuyên Quang), Cẩm Thủy – Bá Thước (Thanh Hóa), Kim Bôi (Hòa Bình)… Nhưng thâm tâm em đã chọn Thanh Hóa vì tài liệu địa chất ở đây cho biết ngoài vàng sa khoáng ra, khả năng có vàng gốc không thể lường trước là sẽ lớn đến mức nào. Hơn nữa, nếu thành công, em muốn vươn tay với thêm vùng Quỳ Châu (Nghệ An), sẽ rất thuận lợi. Đấy là không kể đến việc em có duyên nợ với xứ Thanh, không sao quên được, anh à. Chuyện đời éo le và dài lắm!...
- Nhưng ở Cẩm Thủy – Bá Thước điều kiện giao thông rất kém?
- Giao thông không phải là điều em quan tâm. Vàng là loại hàng hóa đặc biệt, giá trị cao, tỷ trọng phí giao thông trong giá thành sản phẩm khai thác mỏ vô cùng bé.
- Vậy điều quan tâm nhất của Mỹ Linh là gì?
- Quản lý và điều hành khi khai thác. Làm thế nào để có năng suất cao và không bị ăn cắp sản phẩm là vấn đề đau đầu em nhất trong hạng mục đầu tư này.
- Em định chọn hình thức đầu tư nào?
- Từ bài học của Úc, Nga, Thái Lan ở Việt Nam mấy năm qua, em rút ra kết luận đầu tư khai thác vàng bạc đá quý chọn hình thức liên doanh là không ổn. Em sẽ đầu tư một trăm phần trăm vốn. Vấn đề là còn phải chờ xem phía Việt Nam đưa ra điều kiện thế nào? Nếu hợp lý là em ký liền.
- Mỹ Linh thực không hổ danh là bà chủ lớn trong giới Việt kiều. Những hiểu biết của em còn sâu sắc hơn cả một số chuyên gia khai thác vàng sành sỏi ở Việt Nam.
- Nguyên tắc kinh doanh đòi hỏi em phải nghiên cứu, tìm hiểu tỉ mỉ mọi vấn đề. Người làm ăn dù lớn hay nhỏ đều phải như vậy. Không thể ngẫu hứng hay cưỡi ngựa xem hoa được đâu, anh ơi! Qua Robert, em tìm đến anh cũng là để khai thác thêm những gì còn chưa biết, chưa hiểu. Buổi đầu là như thế. Nếu sau này có hợp tác làm ăn với nhau, chính công việc sẽ đẻ ra tình cảm, công việc sẽ đẻ ra tiền cho anh và em. Phải thế không anh?
Nàng cười nhìn tôi, đuôi mắt hơi nheo lại rất hóm hỉnh. Càng tiếp xúc với nàng, tôi càng thấy người đối thoại dễ bị chinh phục bởi sắc đẹp, vẻ duyên dáng, ứng xử nhanh nhạy, tế nhị của nàng. Sau lần đi phủ Tây Hồ, tôi đã phần nào yên tâm về nàng. Tôi đưa nàng đi tiếp xúc với các quan chức, các nhà khoa học có tên tuổi trong ngành địa chất, khai mỏ, tuyển khoáng, phân kim… Nàng nhờ tôi tháp tùng đi đàm phán với Bộ Công nghiệp và chính quyền địa phương tỉnh Thanh Hóa.
Lễ ký biên bản ghi nhớ về hợp tác khai thác vàng giữa ông chủ tịch tỉnh và Mỹ Linh diễn ra suôn sẻ, dưới sự chứng kiến của Thứ trưởng Bộ Công nghiệp và chủ nhiệm Ủy ban hợp tác đầu tư của Chính phủ. Trên đường từ Thanh Hóa ra Hà Nội, Mỹ Linh rất vui. Nàng luôn miệng cười nói. Thỉnh thoảng nàng khẽ hát một bản tình ca bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Tôi để ý thấy nàng không hát nhạc hiện đại phương Tây mà rất thuộc nhạc cổ điển của G.Verdi, Sube, Sopanh… Giọng nàng nghe rất trẻ, vừa mượt vừa trong. Đến Tam Điệp, trước cảnh núi non hùng vĩ, nàng đưa mắt nhìn ra ngoài đăm chiêu, tư lự. Hồi lâu nàng nói:
- Em biết mấy ngày đầu anh còn dè dặt với em nhiều.
- Quả có như vậy, Mỹ Linh ạ!
- Dễ hiểu thôi. Người ta thường nói: “Muốn biết anh là người thế nào hãy quan sát các bạn bè anh”. Nhìn thấy đám khách của em ở khách sạn chắc anh hết vía, và có lẽ anh khinh thường em lắm phải không?
- Chưa hẳn là như vậy.
- Nhiều lần em muốn tâm sự, giải thích cho anh nghe về lai lịch của mình, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy chưa cần thiết.
- Đến hôm nay tôi đã phần nào hiểu Mỹ Linh. Hy vọng chuyến về nước đầu tư của em sẽ thành công.
- Cảm ơn anh!...
Chúng tôi còn tâm tình nhiều chuyện về thành phố quê hương, về gia đình và học hành của con cái. Tôi nói sơ sơ về cô vợ, giấu nhẹm những bất hòa gần đây. Tôi cũng kể  về tuổi thơ khốn khó của mình và rất muốn nghe chuyện tuổi thơ của nàng. Mỹ Linh xúc động cầm tay tôi bóp nhẹ. Nàng ngả hẳn đầu vào vai tôi kể về gia đình và thời thơ ấu của mình. Nàng vừa kể vừa thổn thức, có lúc ôm chầm lấy tôi, người run lên, mắt nhòa lệ, toàn thân cứng đơ, lạnh giá như hồn ma xác chết. Tôi bàng hoàng ngồi nghe, ngỡ chuyện xảy ra ở một hành tinh khác, ở đó, con người sống lẫn với quỷ sứ, sói lang... 
6- Em sinh ra trong một gia đình trí thức có danh có giá ở Hà Nội. Họ Lê nhà em người thì dịch sách, người thì soạn từ điển, người làm giáo sư sinh ngữ hoặc nghiên cứu Hán học. Bố em là giáo sư tiếng Anh từ thời Pháp thuộc. Ông giỏi tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ, tu nghiệp thêm tiếng Anh ở Luân Đôn, về nước mở một trường tư thục. Các giáo viên đều là bạn học cũ có hoàn cảnh gia đình nghèo túng hay đang thất nghiệp. Ông vừa làm hiệu trưởng vừa nhận phụ trách môn tiếng Anh. Thực ra ông mở trường học cho vui và giúp đỡ bạn bè, học sinh nghèo. Hồi ấy, nhiều người viết hay dịch sách chỉ cần cầu cạnh bố em một chữ ký “đã hiệu đính” là ông có đủ tiền mua một chiếc ô tô loại sang. Song không phải với ai ông cũng nhận lời. Mẹ em có một cửa hàng bán thuốc bắc to nhất phố Lãn Ông, cung cấp cho các tỉnh ở Bắc và Trung Kỳ. Tiền, vàng của mẹ em đủ tậu hàng chục ngôi nhà ở Hà Nội. Em học tiếng Anh, tiếng Pháp từ hồi còn bé tí. Nếu cuộc đời không có những bước ngoặt cay đắng thì vào thời mở cửa như lúc này, với vốn liếng tiếng Anh, tiếng Pháp và gia tài được chia của bố mẹ, xoàng ra em cũng là chủ một khách sạn lớn… Chuyện bắt đầu từ điều bất hạnh của bố em. Một tai họa vừa phi lý lại vừa khủng khiếp. Trong trường của bố em có một lão chuyên quét rác và đánh trống. Quê hắn ở Phủ Hồ bên đất Kinh Bắc. Năm Ất Dậu, khi cách mạng nổi lên, hắn là thằng mõ làng hùa theo đám đông đi phá kho thóc ở Phủ Hồ. Sau đó, hắn được bầu làm xã đội trưởng dân quân. Người Pháp quay trở lại lùng bắt cán bộ Việt Minh, hắn sợ chết không dám lên chiến khu mà trốn ra Hà Nội lang thang xin việc. Bố em gặp hắn ở chợ người phố Hàng Chiếu đói rách, ghẻ lở. Ông thương tình cho hắn về làm chân gác cổng, quét rác và đánh trống. Hắn được ở trong trường, được cấp lương và còn được bố em dạy cho biết đọc, biết viết. Tuy nhiên, do lối sống bê tha, dung tục, hắn thường bị bố em đe nạt, nghiêm khắc nhắc nhở, dọa nếu không sửa sẽ đuổi việc. Nhiều lần người ta phát hiện hắn dám chứa chấp bọn gái điếm đưa giai vào hành nghề trong trường học để lấy vài chục đồng Bảo Đại. Bố em nghe chuyện quá tức giận, cho hắn mấy cái bạt tai. Ai ngờ chính mấy cái tát đó sau này trở thành tai họa khủng khiếp cho ông và gia đình. (Kể đến đây nàng bật khóc. Tôi lấy khăn lau nước mắt cho nàng.) Trước ngày Thủ đô giải phóng, họ hàng, bè bạn khuyên bố em di cư vào Nam, nhưng bố em dứt khoát không nghe. Để ép buộc bố em phải di cư, ông bà nội lấy cớ không thể xa cháu đích tôn đã đưa anh trai em vào Sài Gòn. Dẫu thế, bố em khi ấy vốn sục sôi nhiệt huyết cách mạng, kiên quyết không theo chân người Pháp vào Nam, ở lại đón chờ Chính phủ kháng chiến. Em khi ấy mới tròn một tuổi. Hàng ngày ông cùng học sinh đi tập hát những bài ca cách mạng, may cờ và biểu ngữ đón chào những người con anh dũng của Thủ đô từ chiến khu trở về, trong đó có cả bạn bè và học trò cũ của ông. Ngày đầu tiếp quản, gã đánh trống của trường lăng xăng khắp chốn cùng nơi hò hét, hô khẩu hiệu. Hắn tình cờ gặp người cùng làng làm đại đội trưởng, đóng quân ở gần trường học, bèn lân la làm thân và tìm cách chạy chọt, nhờ ông ta xác nhận đã từng là đảng viên, làm xã đội trưởng dân quân từ năm 1946. Lập tức hắn trở thành nhân vật quan trọng của trường học và các khu phố lân cận. Người ta cho hắn đi học lớp bổ túc lý luận ba tháng, sau đó trở về làm hiệu trưởng của chính trường do bố em lập, nay đã thành trường quốc lập. Việc làm đầu tiên khi nhận chức của hắn là thay toàn bộ ban giám hiệu cũ của trường. Hắn ngồi ghế chủ tọa, hút thuốc lào sòng sọc bằng điếu cày, xoa tay tuyên bố: “Tiếng Anh, tiếng Pháp là những thứ tiếng thực dân đế quốc. Học sinh bây giờ chỉ học tiếng Nga, tiếng Trung. Giáo viên tiếng Anh của trường không cần nữa nên phải chuyển sang làm đánh trống, gác cổng.” Mọi người nhìn bố em ái ngại, nhưng ông chỉ cười buồn, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới phân công của cách mạng. Từ hôm đó, bố em âm thầm an phận với chùm chìa khóa và chiếc dùi trống, không một tiếng phàn nàn. Khi Nhà nước tiến hành cải tạo công thương nghiệp, mẹ em bị quy là thành phần tư sản. Gia đình em có người di cư vào Nam và ngôi nhà phố Lãn Ông do ông bà nội đứng tên nên bị coi là nhà vắng chủ, đi theo địch, phải tịch thu làm trụ sở y tế khu phố. Người ta phân cho bố mẹ em một gian gác ở phố Hàng Thùng. Nơi đây suốt ngày chát chúa tiếng gò hàn. Bố em không chịu được tiếng ồn, đau đầu vật vã không thể làm việc, đọc sách được. Tay hiệu trưởng giả bộ đạo đức, đồng ý cho gia đình em chuyển vào ở trong trường, ngay tại gian nhà gần khu vệ sinh mà khi xưa hắn từng ở để tiện việc quét dọn. Cả ba nhân mạng trông vào đồng lương gác cổng của bố em và ít tiền, vàng mẹ em cất giấu được, lâu dần cũng cạn. Đã thế, tay hiệu trưởng luôn tìm cách soi mói, làm nhục bố em trước mặt mọi người. Hắn công khai tuyên bố phải để cho loại người chuyên ăn trên ngồi chốc như bố mẹ em cải tạo lao động “cho biết thế nào là lễ độ”. Thỉnh thoảng, hắn ghé qua nhà em nhăn mặt, nhăn mũi, phê bình người trí thức sao ăn ở mất vệ sinh làm gương xấu cho học trò. Thật tức cười! Một thằng vô học, áo quần xộc xệch, tay cầm tăm xỉa răng tanh tách, tay khác gãi bụng sồn sột lại cao ngạo lên lớp nhà trí thức có tên tuổi như bố em về cách ăn nếp ở, về tính mô phạm nhà giáo! Bố em chỉ cười mát, báo cáo xin tiếp thu ý kiến phê bình của ông hiệu trưởng. Con người bố em là thế, luôn ung dung tự tại, nhẫn nhịn để chờ thời, hy vọng có ngày người ta nhận ra sai lầm, thay đổi chính sách với người trí thức, đưa xã hội tiến lên. Thấy vậy hắn càng cay cú tìm cách trù dập ông cụ… Thấm thoắt mười năm qua đi. Bố mẹ em quen dần với cảnh sống đạm bạc. Ông xin dịch thêm tài liệu cho một cơ quan nghiên cứu lấy tiền uống cà phê và hút thuốc Bông Lúa, loại thuốc rẻ tiền nhất lúc bấy giờ. Mẹ em khi tiền, vàng giấu được đã hết, muốn nuôi em ăn học chỉ còn nước liều, muối mặt ra cửa chợ Bắc Qua, Đồng Xuân buôn bán trao tay các loại tem phiếu và hàng nhu yếu phẩm. Hồi đó mẹ em bị liệt vào hàng “con phe” tức thành phần bất hảo. Nghề này khá phức tạp, vốn dĩ hiền lành nên mẹ em hay bị chèn ép. Em thỉnh thoảng phải ra chợ giúp mẹ nên sớm trở thành con bé đanh đá chua ngoa, nhất là những lúc em bênh vực mẹ, chửi nhau với người khác. Điều này bố em cấm kỵ, nhưng vì thương mẹ nên em vẫn lén lút làm. Dần dần, vừa đi học em vừa là người buôn bán chính của gia đình. Vì học ca chiều, sáng em dậy từ năm giờ cắp rổ ra chợ. Quầy thịt cá, đậu phụ, nước mắm nào cũng có vài hòn gạch của em dấm chỗ. Em len lỏi giữa đám người xếp hàng rồng rắn, xô đẩy, chen lấn, chửi bới họ để mua thực phẩm. Sau mỗi lần mua thuê như vậy, em được từ hai đến ba hào. Tính ra mỗi buổi sáng, lúc chợ Đồng Xuân khi chợ Hàng Bè, em cũng kiếm được từ đồng rưỡi đến hai đồng, hơn cả tiền dịch sách một đêm của bố. Đó là chưa kể có người không dùng đến phiếu đậu phụ hay phiếu nước mắm, em có thể xin lại để mua hàng giá cung cấp, bán hàng giá cao ăn chênh lệch. Nếu gặp mấy ông bà thợ móc cống có phiếu thịt loại cân rưỡi đem bán để mua quần áo sách vở cho con, thậm chí để đánh bạc thì hôm đó em trúng to. Mấy bà bạn nghề của mẹ không ngớt khen em lanh lợi, xông xáo. Nghe họ khen con mình, bà chỉ cười buồn, u uất. Chỉ sau này mình có con gái, em mới hiểu được hết nụ cười buồn ấy. Bà đâu muốn em lam lũ nhếch nhác suốt ngày ngoài chợ. Bà đâu muốn con mình đi học mà quần áo, đầu tóc sặc mùi nước mắm. Và trước hết, bà không muốn con mình như kẻ hạ lưu. Bà thầm ao ước em hàng ngày mặc quần áo đẹp, tung tăng cắp sách tới trường. Người ta nói đang xây dựng một xã hội công bằng, nhưng hơn ai hết, tuổi thơ của em thấm thía sự bất công. Mặc dù vậy, em vẫn học xuất sắc nhất nhì lớp. Có lẽ đó là do di truyền của bố em. Riêng về tiếng Anh, tiếng Pháp thì cả trường không có ai học nên em không có đối thủ. Em có thể nói và viết khá chuẩn những câu tiếng Anh, tiếng Pháp thông thường trong giao tiếp, ngay từ lúc còn học cấp một. Ác thay, vì thế mà người ta lại vu cho bố em ngấm ngầm cho con gái học tiếng của bọn đế quốc để chờ thời cơ liếm gót địch, chống lại cách mạng!... (Nàng lại khóc tức tưởi)…Em dậy thì vào loại sớm. Mười ba tuổi em đổi khác từng ngày, càng dậy thì càng đẹp. Ngực nở. Tóc dày, óng mượt, mặc dù có vương mùi cá thịt hay nước mắm.  Môi đỏ không cần son phấn. Khách đến nhà nức nở khen tay em thừa hưởng của mẹ, ngón nào ngón ấy thon dài như búp tay phật. Thoạt nhìn ít ai nghĩ em mới đang ở tuổi mười ba, chớm sang tuổi mười bốn. Giữa lúc đó mẹ em qua đời sau một ca đẻ khó. Mấy năm kiêng cữ, hai ông bà thèm có một đứa con trai. Ai ngờ lần ấy mẹ em không qua được số mệnh đã an bài, bà và con trai cùng chết trong bệnh viện. Bố em thương vợ, suốt ngày ngồi ở góc nhà biếng ăn quên ngủ. Bà mất được mấy ngày thì ông cũng ốm liệt giường. Em có ngờ đâu giữa những ngày tang tóc, ông giời lại bắt em phải dồn dập hứng chịu bao nỗi bất hạnh và tủi nhục, tưởng không còn thiết sống, thà chết theo mẹ còn hơn…(Nàng gục vào tôi rồi đấm ngực, cào cấu mà khóc như chưa bao giờ được khóc.)… Gã hiệu trưởng từ lâu vẫn sống độc thân. Thời ấy người Hà Nội ta tuy đời sống khốn khó nhưng vẫn còn giữ đượcnhiều nét thanh lịch, làm sao có thể chấp nhận một thằng hạ lưu như lão ấy cơ chứ. Không người đàn bà nào đến gần hoặc bắt chuyện với hắn. Các cô giáo trong trường hễ thấy hắn lại gần là tìm cớ bỏ đi nơi khác. Trong trường chỉ có hắn sống ở một phòng to trên gác hai và gia đình em chui rúc trong gian nhà hôi hám tầng dưới. Hắn nhiều lần hướng cặp mắt thèm thuồng về phía em. Thậm chí hắn còn rình lúc em đi vệ sinh hay đi tắm vào buổi đêm, vờ vịt ra mở nhầm cửa để nhòm ngó. Lợi dụng lúc bố em ốm nặng, hắn lấy tư cách lãnh đạo xuống lân la hỏi thăm sức khỏe ông cụ, giả nhân giả nghĩa ái ngại cho em sớm phải vất vả. Một hôm, trời vừa sẩm tối, hắn mò đến nhà, lại giường bố em sờ trán ông rồi kêu lên: “Sao đầu ông cụ lại nóng thế này? Có lẽ nguy mất!... Cháu chạy nhanh lên phòng chú lấy lọ thuốc hạ sốt xuống đây.” Em khi ấy còn non dại ngây thơ, chỉ biết thương bố, nào có đề phòng gì, hốt hoảng chạy lên gác vào buồng của hắn. Vừa đẩy cửa bước vào em chỉ kịp thấy bóng đàn ông lao theo, đè nghiến mình xuống nền nhà. Em điên cuồng cào cấu, giãy đạp, nhưng không chống cự nổi. Hắn xé nát hết quần áo của em, phả hơi thở nồng nặc mùi rượu và mùi tỏi lên mặt em, mắt hắn trắng dã và dữ tợn. Hắn chiếm đoạt em với tất cả sức lực trâu điên, bằng sự cuồng dâm thô bạo. Em đau đớn và kiệt sức mê man không biết giời đất gì nữa. Hắn còn không chịu buông tha, trói tay em vào thành giường, nhét giẻ vào mồm, tiếp tục dày vò em suốt đêm. Khi em tỉnh dậy, thấy mình trần truồng nằm trên giường. Bên cạnh em là thằng già bằng tuổi bố mình, ngáy như bò rống, nước rãi sùi ra hai bên mép. Em đã trở thành đàn bà giữa tuổi mười bốn còn non một tháng, vào chính ngày “tuần tứ cửu” của người mẹ xấu số. Em gào lên cắn cấu, chửi rủa thằng khốn nạn đã phá đời con gái của mình. Hắn còn trơ cái mặt thớt nhe răng cười và bảo sẽ cưới em làm vợ. Em đời nào chịu làm vợ một thằng đê tiện, hèn hạ như hắn! Mấy hôm sau, đợi lúc em hồi sức ra chợ kiếm sống, hắn ngồi bên giường bệnh kể hết chuyện xảy ra với bố em, vờ sụt sùi ân hận và yêu cầu được cưới em làm vợ, sau khi đã tự tay lục hồ sơ của trường, tảy xóa giấy khai sinh và học bạ của em chữa tuổi thành 18. Ông cụ quá uất ức, bột phát đau tim chết ngay trên giường, không kịp trăn trối với em nửa lời. Trong vòng hai tháng trời, em mất cả cha lẫn mẹ, tấm thân bị dày vò ô nhục. Đưa người cha ra nghĩa địa, em thề sẽ trả thù tên hiệu trưởng đê tiện ấy… (Tôi bồi hồi xúc động, rót chén trà sen mang theo trên xe để cho nàng tạm ngừng kể, hồi tâm tĩnh trí.)... Nghề phe phẩy của em ngoài chợ va chạm với đủ loại người. Em thường xuyên cãi lộn, thậm chí phải đánh nhau với kẻ khác bất kể đàn ông hay đàn bà. Sức vóc em mảnh mai không dễ gì thắng cuộc. Vũ khí duy nhất của em là sự chua ngoa, đanh đá đến bặm trợn, liều lĩnh. Cùng nghề phe phảy của em ở chợ Hàng Bè có Sếnh Tàu. Nó hơn em một tuổi, nhưng rất to con. Bố Sếnh Tàu là người Sơn Đông - Trung Quốc rất giỏi võ thuật. Trước khi lưu lạc sang Việt Nam, ông đã từng đi khắp miền Giang Nam - Trung Quốc làm nghề mãi võ, bán thuốc cao kiếm sống. Sếnh Tàu được bố dạy võ từ năm lên bảy. Là con gái, một mình nó có thể xơi tái năm người đàn ông lực lưỡng. Nếu vào thế đứng ở góc tường hay gốc cây cổ thụ, tay cầm một dây thắt lưng bộ đội, mười thằng đàn ông cầm gậy, cầm dao cũng không dám tới gần. Thằng nào liều lĩnh xông vào không rách môi cũng què cẳng. Em mê nhất là cú đá “phi thiên cước” của Sếnh Tàu. Chính mắt em đã chứng kiến nó tung người lên đá trúng giữa mặt thằng hàng xóm bất hiếu đang chửi đánh mẹ, nã tiền đi đánh bạc. Tên hàng xóm mặt mày thâm tím, sưng vù như bị ong đốt hàng tháng trời vẫn chưa khỏi. Sếnh Tàu rất thân với em. Hai đứa như hai chị em ruột chia sẻ ngọt bùi. Trong làm ăn nó có võ, em có mẹo, hai đứa thành một cặp bài trùng lý tưởng. Từ hôm biết em bỏ học, bố mẹ chết hết, thân bị làm nhục, nó cứ lồng lên sùng sục, đòi đi đánh thằng hiệu trưởng một trận nên thân giữa buổi chào cờ thứ hai đông đủ học sinh. Em cố can Sếnh Tàu. Em muốn đợi đến sau giỗ đầu bố mẹ, học xong võ thuật sẽ tự mình hỏi tội thằng chó đẻ… Và từ hôm đó, em mang đồ đạc, quần áo đến ăn ngủ tại nhà Sếnh Tàu ở ngõ Phất Lộc để chuyên tâm học võ. Hàng tháng em chỉ ghé qua nhà vào ngày rằm, mồng một thắp hương cho hai cụ. Lòng khao khát được trả thù khiến em say mê học võ, luyện tập khí công bền bỉ đêm ngày. Bố con Sếnh Tàu không hề e ngại, hết lòng truyền cho em những miếng võ bí truyền. Sau một năm em đã thành đạt. Em thuần thục ngón đá “phi thiên cước” không thua gì Sếnh Tàu. Gót và mắt cá chân em được luyện tới mức dùi sắt nung đỏ có thể gí vào cháy xèo xèo, mặt vẫn tỉnh bơ hút thuốc. Trực diện với đối phương, mũi chân em như lưỡi rìu thép của tiều phu đốn củi, có thể phạt bay quai hàm của kẻ địch. Những khi em đảo một vòng nện gót chân vào gáy của đối phương thì chẳng khác gì búa tạ mười cân giáng xuống, kẻ dính đòn không gãy cổ thì cũng mang tật suốt đời. Bước nhảy của em gọn nhẹ và biến hóa khôn lường. Sau lần tỷ thí, kiểm tra công lực và võ thuật với bố con Sếnh Tàu, em thầm nhủ lòng đã đến ngày trả thù thằng mõ làng, quân chó đểu mạo danh trí thức.
Đêm ấy là hạ tuần tháng tám âm lịch. Trời tối trăng và oi bức. Em chủ động đón đường lão hiệu trưởng, giả bộ ngoan ngoãn tuân theo số phận, thuận tình làm vợ hắn,  rủ hắn đạp xe đèo em lên bãi mía ở bờ sông làng Chèm, ngoại ô thành phố. Khi em và hắn vào sâu trong bãi mía um tùm, em bấm đèn pin, cởi hết quần áo, bảo hắn quỳ xuống, úp mặt lên cái của mình thè lưỡi liếm. Bây giờ lũ bụi đời hay những thằng quan tham, những ông chủ đỏ vô luân xem phim con heo mới coi đó là trò khoái lạc, chứ thật sự lúc đó em cho đó là trò hạ nhục khủng khiếp nhất nên chỉ thấy hả hê vì được trả thù. Ở nhà quê, các bà chửi nhau thường hay rủa kẻ đối diện liếm nọ, mút kia mà. Hắn tưởng bở, toan làm nốt cái động tác cuối cùng của giống đực. Bấy giờ em mới thúc mạnh đầu gối vào mặt hắn, chống nạnh cười khanh khách, tay lăm lăm cầm con dao nhọn sắc, gầm lên: “Đủ rồi thằng đĩ đực! Thằng mõ làng đê tiện! Bà gọi mày đến đây để hỏi tội, để trả món nợ nghìn đời chứ đâu phải cho mày đú hả con! Bà sẽ cắt cái của nợ của mày về làm gỏi.” Hắn lắp bắp van lạy em như tế sao, mặt xám ngoét. Em điên tiết, nhảy lên đá một cú như trời giáng giữa mặt, làm hắn rống lên như bị chọc tiết rồi đổ vật xuống đất. Bao nhiêu căm thù dồn nén khiến em lồng nên dữ dằn như cọp mất mồi, đấm đá túi bụi lên mặt hắn. Chỉ một lúc sau người hắn mềm như sợi bún, mặt méo mó biến dạng đến thảm hại, hơi thở thoi thóp. Em đã có chủ định bêu xấu thằng lưu manh mạo danh trí thức. Bao nhiêu quần áo của hắn, em đặt lên bè chuối, thả xuống sông Hồng cho nước cuốn đi, không quên cài thêm mảnh giấy vào cúc áo, thông báo địa chỉ, chức vụ, tên tuổi, tội trạng của hắn. Còn thân thể phì nộn, trần như nhộng của hắn, em trói nghiến lại, lật ngửa, đội lên đầu hắn cái silíp của mình, cổ quàng vào chiếc cóc sê và viết lên mặt hắn bằng mực Tàu mấy chữ “sự trả thù của đàn bà”. Chiếc xe đạp của hắn thời đó là của quý hiếm, em lấy đá ghè nát… Sau chuyện đó hắn phải rời trường cũ, lánh về quê làm hiệu trưởng một trường cấp hai. Thế là bỗng nhiên hắn thành tấm gương sáng, tình nguyện đem ánh sáng văn hóa của Đảng tới vùng nông thôn hẻo lánh. Cuộc đời sao cứ như tấn trò hề cười ra nước mắt! Em làm nhục hắn đến mức ấy, ngỡ hắn phải nhục đến đâm đầu xuống sông mà chết thì hắn lại được tâng bốc lên thành nhà giáo gương mẫu...
7- Tôi ngồi trên xe, chết lặng đi vì câu chuyện về tuổi thơ dữ dội của nàng. Phải chăng vì cuộc đời xô đẩy nàng từ chốn cao sang vào kiếp sống giang hồ nên nàng mới quen biết những khuôn mặt dữ dằn mà tôi đã thấy ở khách sạn Hoàng Long, để bà chủ có cớ nghi ngờ, dè bỉu nàng với tôi? Tuổi thơ tôi cũng có phần na ná cảnh ngộ của nàng. Mẹ tôi muốn chồng được yên thân, con cái được học hành tử tế đã hiến cả tiệm buôn vải và tơ lụa to nhất phố Hàng Đào, xin làm việc ở tổ hợp tác thu mua vỏ bao xi măng ở các công trường. Tôi phải vừa đi học vừa kéo xe bò chở than quả bàng, đi giao cho các hộ dân trong nội đô để phụ giúp mẹ nuôi tám đứa em thơ. Bây giờ, trong cảnh huống trớ trêu, tôi đang dính dáng đến ba người đàn bà, họ khiến tôi có cảm giác như cuộc đời này là một mớ rối bòng bong, đảo lộn tất cả. Nàng như thế đã đi một nhẽ, còn bà chủ khách sạn thì sao? Bà gốc người xứ Thanh, bố dỡ đó mẹ xó chùa, chỉ nhờ chút nhan sắc, khéo chài mồi ông sếp bự mà bỗng từ chị văn thư đánh máy quèn nhẩy lên thành bà chủ đài các giữa đô thành hoa lệ thời mở cửa. Vợ tôi ư? Cô ấy xưa đâu có đến nỗi nào, cũng gia đình nề nếp, bằng cấp đại học hẳn hoi, bỗng nhiên đổ đốn, bồ bịch lăng nhăng. Tôi ly thân nhưng không muốn phá vỡ tổ ấm gia đình, sợ các con bơ vơ, họ mạc phiền trách. Cô ấy thì một hai đòi ly hôn, nói đốp vào mặt chồng rằng, chỉ tại tôi hèn để vợ con đói rách, xa tôi cô ấy sẽ chẳng thiếu người quyền chức, học hàm, học vị chạy theo xin chết. Thật đau đớn, ê chề cái thằng tôi… Ô tô đưa chúng tôi về đến khách sạn đã mười giờ đêm. Trời không mưa, nhưng nhiều sương mù nên hơi lạnh, làm Mỹ Linh húng hắng ho khan suốt dọc đường từ Phủ Lý đến Hà Nội. Tôi dắt tay nàng xuống xe, dìu vào ghế phô tơi trong khách sạn.
- Chị Linh! Chị không nhận ra em sao?
- Ôi Diệu Loan! Em đợi chị lâu chưa? Từ hôm về, chị mong em đỏ mắt mà em cứ biến đi đâu ấy. Em là đáng đánh đòn lắm!
- Chào bác Linh đi con! – Loan dắt tay một bé gái lại gần, bé khoanh tay lễ phép chào Mỹ Linh.
- Lại đây với bác nào con gái – Mỹ Linh bồng cháu nhỏ lên đùi, âu yếm vuốt từng sợi tóc – Con tên là gì? Mấy tuổi rồi? Thơm má bác mấy cái thật kêu vào nào!..
- Con tên là Thúy Quỳnh, con lên bảy tuổi ạ!
Mỹ Linh thơm chùn chụt vào má nó. Đứa bé cứ quấn lấy nàng, hai bác cháu ôm nhau cười khúc khích. Chợt nàng thảng thốt kêu lên:
- Trời ơi! Sao mặt con trầy xước thế này? Tay chân con tôi sao thô ráp, nhăn nheo làm vậy?
Nàng quay sang Diệu Loan nghiêm sắc mặt hỏi:
- Loan! Em với Nhật béo sống ra sao? Thằng khốn nạn ấy đã làm gì em phải không?
- Chúng em bỏ nhau lâu rồi.
- Em nói lại, bỏ nhau… ly hôn… hay nó ruồng bỏ, lừa gạt em?
- Từ ngày chị đi Pháp, bao nhiêu tiền vàng chị cho chúng em nó nướng hết vào xóc đĩa, thuốc phiện, đĩ bợm. Tiền hết là tình hết. Nó bỏ rơi hai mẹ con em chạy theo con mẹ bán phở đầu Cửa Nam hơn nó 9 tuổi, mập ú như thùng tô nô. Nhưng khốn nạn nhất là thỉnh thoảng nó mò về dày vò em suốt đêm rồi sáng ra có gì cuỗm sạch. Em uất quá, viết đơn ra tòa ly dị. Nó lánh mặt không đến nên tòa xử cho em ly hôn vắng mặt chồng, có đầy đủ nhân chứng ở khu phố.
- Đồ chó má! Quân voi dày ngựa xéo! Tao sẽ hỏi tội nó, lột da nó!
Mỹ Linh nghiến răng ken két, tia mắt đỏ vằn, quắc lên dữ tợn.
- Đừng. Em van chị. Em xin chị. Quên nó đi chị ạ! Tại em hết cả. Tại em không nghe chị từ đầu.
Tôi cảm thấy sự có mặt của mình là thừa và hơi chướng nên xin phép cáo lui. Mỹ Linh choàng dậy, níu tôi ngồi xuống ghế:
- Anh cứ tự nhiên ngồi đây với chúng em. Diệu Loan như em gái ruột của em. Chúng mình đều là người trong nhà, anh đừng ngại.
Tôi lúng túng ngồi lại trên ghế nghe hai chị em tâm sự và quan sát Diệu Loan. Nàng chừng 31, 32 tuổi, đẹp mê hồn dù trang điểm sơ sài. Nàng mặc bộ váy rộng bằng vải trắng mềm, có những mảng hoa văn sẫm màu kiểu Ả Rập. Cặp đùi thon dài thoáng gợn những đường gân xanh chìm dưới làn da trắng nhợt, dấu hiệu của sự ốm yếu. Gương mặt trái xoan, má lúm đồng tiền, sống mũi cao và thẳng, chiếc cằm hơi lẹm… tạo nên vẻ dịu dàng pha chút nhẫn nhục… Mỹ Linh ôm chặt cháu Thúy Quỳnh hôn lên cổ, lên má, lên tóc nó, mắt nàng ngấn lệ. Nàng mở ví đếm 2000 USD dúi vào tay Diệu Loan:
- Em cầm tiền về sắm sửa, bồi bổ cho hai mẹ con. Lúc nào rỗi chị sẽ đến thăm. Dù đời em, đời chị có khốn nạn đến đâu cũng phải chăm sóc cho bé Quỳnh. Thiếu gì em cứ bảo chị. Con trẻ nó có tội gì đâu mà bỏ vật, bỏ vạ nó. Tội là đấng tạo hóa đã vô tình nhào nặn thêm một kiếp đàn bà qua cái lỗ nẻ của em thôi. Có lẽ tạo hóa Người thấy những kiếp đàn bà bạc phận như chị em mình vẫn còn ít, chưa đủ cho Người hả giận. Đã thế chị và em phải dồn sức chăm chút cho bé Quỳnh. Thôi em về đi, khuya rồi! Có lẽ cô nhân viên mát-xa đợi chị đã buồn ngủ rồi cũng nên.
- Chị đã biết tin gì về Sếnh Tàu chưa?
- Từ hôm về nước, gặp ai chị cũng hỏi thăm về nó mà chẳng người nào cho chị biết tin chính xác. Họ chỉ trả lời qua loa, Sếnh Tàu vẫn khỏe, hình như đang về Trung Quốc thăm quê.
- Chị ấy chết rồi.
- Sao, Sếnh Tàu chết rồi? - Mỹ Linh kêu lên thảng thốt.
- Chị ấy đòi nợ cho một khổ chủ. Phía bị đòi nợ lại thuê bọn Dũng quỷ bảo vệ. Hai bên kịch chiến. Chị ấy bị Dũng quỷ rút súng bắn ba phát vào ngực, đưa đến bệnh viện thì tắt thở. Từ ngày chị Sếnh Tàu chết, quân tướng ngày xưa của hai chị tan tác và rách lắm. Mấy thằng mạt hạng, ngày xưa vẫn thường hay bị chị xử phạt nặng, giờ buôn đất cát, có ô dù các ông lớn bỗng thành triệu phú tiền đô.
- Chị chỉ thương cho Sếnh Tàu chết không có mụn con, không một mảnh tình vắt vai. Đám “lính” ngày xưa, đứa nào còn khốn khó, chị đã có kế hoạch đổi đời cho họ rồi. Thôi em về đi kẻo muộn.
Tôi và Mỹ Linh tiễn mẹ con Diệu Loan ra cổng. Nàng búng búng ngón tay vào má Diệu Loan thở dài, mắt ngấn lệ đi lên phòng. Nàng giữ thói quen không đi thang máy. Tiếng gót giày nghe uể oải, rời rạc gõ nhẹ lên cầu thang. Ngoài trời sương rơi mỗi lúc một dày thêm…
8- Cô nhân viên mát-xa của khách sạn Hoàng Long hớt hải chạy xuống tìm tôi, tay cầm một nắm đô la lẻ đã nhàu nát.
- Bác ơi! Bác lên phòng xem thế nào. Bà ấy hôm nay là lạ như người điên, cháu sợ quá!
- Sao?... Cô nói rõ thêm xem nào.
- Bà ấy vừa tắm vừa nức nở khóc, vòi hoa sen vặn hết cỡ. Lúc nằm trên giường cho cháu mát-xa, bà nói lảm nhảm luôn mồm, chợt cười chợt khóc. Xong rồi bà ấy ra bàn ngồi hút thuốc, uống rượu ừng ực, mắt vằn lên những tia dễ sợ…
Tôi chạy vội lên, đập cửa hồi lâu vẫn không nghe Mỹ Linh trả lời. Muốn phá cửa vào lại sợ nàng còn đang ở trần. Tôi vừa đập cửa  to hơn vừa nói như van vỉ:
- Mỹ Linh ơi, Mỹ Linh! Mở cửa cho tôi vào, đừng tự làm khổ mình như thế. Mỹ Linh ơi, tôi van em đấy.
- Ai… ai đấy?... – Nàng lè nhè hỏi lại.
- Tôi đây Mỹ Linh, em say quá rồi, không nhận ra giọng tôi sao, hở Mỹ Linh?
- Anh… Anh chờ… chờ em mặc đồ đã – Nàng bật khóc nấc - Mỹ Linh trần truồng… Mỹ Linh đầy hình xăm… Mỹ Linh là con nữ tù có linh hồn mang số… Mỹ Linh là nữ tướng cướp, bà chúa chợ Linh trọc… Anh có ghê tởm em không?...
Khoảng mười phút sau mới thấy Mỹ Linh mở cửa. Tay trái nàng cầm chai rượu Black Label, miệng hút thuốc phì phèo, váy áo xộc xệch… Tôi dìu nàng ngồi xuống ghế xa lông, lấy khăn ướt lau mặt cho nàng tỉnh lại.
- Đàn bà chúng em khổ nhục thế nào anh biết cả rồi đấy. Sếnh Tàu chết, chưa biết mùi mồ hôi đàn ông chua mặn ra sao. Diệu Loan bị lừa gạt sạch túi hết tình. Em căm thù bọn đàn ông các anh. Em hận… Em hận hết thảy cái thế giới đàn ông của các anh!
- Bình tĩnh đã Mỹ Linh. Đời em bây giờ có đến nỗi nào. Thượng đế vẫn công bằng, em ạ! Em cứ dày vò bản thân đến bao giờ nữa. Chuyện của Diệu Loan từ từ thu xếp, sẽ ổn thôi. Thế giới này chưa chết hết những đàn ông có nhân cách. Diệu Loan còn trẻ, đời cô ấy sẽ có hồi sung sướng, hạnh phúc.
- Anh chưa biết Diệu Loan thân thiết với em thế nào đâu. Nó là cả một phần đời khốn khổ khốn nạn của em. Nó đã từng là vợ em… Vợ em anh có hiểu không?... Lúc nãy em cứ nghĩ cô nhân viên mát-xa của khách sạn là Diệu Loan. Em đã làm tình với cô ấy, thế có khốn nạn không, hở giời?… Diệu Loan đã không chịu nghe lời em, nó đã bỏ em đi lấy chồng, lấy thằng Nhật béo để rồi chuốc tội chuốc nợ vào thân. Diệu Loan không nói ra hết đâu, nhưng em linh cảm thấy nó ghẻ lạnh hắt hủi bé Quỳnh. Nó đổ lỗi cho mình đã sinh con gái, sinh thêm một kiếp lênh đênh như em và nó…
Mỹ Linh úp mặt vào lòng bàn tay, gục xuống thành ghế khóc nức nở. Tôi xích lại gần, đặt tay lên vai nàng, cố tìm lời an ủi mà không biết phải nói gì… Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trên tường ném những giọt thời gian vào khoảng trời bao la, tĩnh mịch. Chúng tôi ngồi bên nhau hút thuốc, nhấm nháp ly rượu Black Label không ai nói với ai một lời nào. Chợt Mỹ Linh ngẩng lên, xoay người nhìn sâu vào mắt tôi hỏi:
- Anh có muốn nghe tiếp chuyện đời em không? Chuyện một nữ tướng cướp, chuyện trả thù đàn ông, chuyện một kiếp lênh đênh, một linh hồn tù tội có danh chỉ bản DC 1357 trong trại giam nổi tiếng ma thiêng nước độc ở Thanh Hóa.
- Mỹ Linh kể tiếp đi, kể cho nguôi vợi những gì đang ghìm nén trong em. Tôi đang nóng lòng nghe em kể đây.
- Ở Tam Điệp em đã kể cho anh nghe chương một của bản Simphony Pathetic (giao hưởng bi thương). Nó chỉ là khúc dạo đầu. Bản giao hưởng nào cũng thường có bốn chương. Chương một là khúc dạo đầu, chương bốn là khúc kết, còn chương hai, chương ba mới là linh hồn của bản giao hưởng. Nó hệt như năm vần “phá – thừa – thực – luận – kết” trong bài thơ Đường luật tám câu bảy chữ ấy… Anh nhìn em cách gì mà lạ thế? Anh nghĩ em, một con đàn bà hư hỏng không hiểu gì thơ ca nhạc họa sao? Em thách ối ông trí thức rởm thời bây giờ hiểu mấy thứ đó bằng nửa em thôi… Nào, bây giờ anh hãy nhắm mắt lại nghe tiếp chương hai và chương ba bản Simphony Pathetic đời em…
Nàng kể tiếp câu chuyện đời mình. Khác lúc ở Tam Điệp, lần này nàng kể ào ạt một hơi. Giọng nàng lúc chậm rãi, lúc hối hả trào ra cơn phẫn uất, lúc lại hả hê vì trả được thù. Tôi ngồi bên nàng bàng hoàng kinh ngạc và đau xót, ngỡ như câu chuyện ở sao Hỏa hay âm ty, địa ngục.
9- Em đã kể xong chuyện thời thơ ấu, trả thù thằng hiệu trưởng lưu manh lạc loài vào giới trí thức đánh cắp quyền lực, hành hạ bố em, hủy hoại cả đời thiếu nữ của em. Nếu chuyện chỉ dừng ở đấy, có lẽ em không thù hận bọn đàn ông các anh đến mức tàn tệ rồi lấy Diệu Loan làm “vợ” mình đâu. Cái số của em toàn gặp những thằng đàn ông tham lam, đê tiện và đểu cáng. Anh còn nhớ hôm đầu gặp nhau, em nhờ anh đóng vai tình nhân và hé lộ điều cơ mật về thằng quan chức lưu manh, chồng hờ bà chủ khách sạn là đối tác đàm phán trong dự án đầu tư du lịch sinh thái không? Nó đấy, thằng Tâm, chính nó là thằng đàn ông khốn nạn em gặp trong đời kể từ sau vụ trả thù thằng hiệu trưởng gốc gác mõ làng. Vào khoảng năm 69, chiến tranh bước vào giai đoạn ác liệt. Hàng viện trợ nhu yếu phẩm từ Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu đổ vào Việt Nam nhiều vô kể. Nghề phe chúng em được dịp phất to. Em và Sếnh Tàu vàng đeo đầy người, tiền “cụ” mượt mười đồng đếm hàng nón. Ngoài việc phe tem phiếu, em và Sếnh Tàu còn chung nhau mở hai lò nước mắm “đểu” ở phố Bờ Sông (phố Trần Nhật Duật) để bán cho khách nhà quê các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Tây, Hà Bắc. Chúng em mua nước mắm thối của mậu dịch sắp đổ đi nên không mất tem phiếu. Về xưởng chúng em dùng than hoạt tính để lọc và khử mùi. Cứ một lít chúng em pha thêm ba lít nước lá chuối khô và cho ít muối, mì chính Trung Quốc. Hàng bán đắt như tôm tươi. Có ngày xuất tới năm sáu chục can hai mươi lít. Giữa lúc ấy em gặp Tâm, một sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội, bố mẹ anh ta gốc quê Kim Bảng, tỉnh Nam Hà. Ông bà ấy là cán bộ kháng chiến, được phân một căn hộ đẹp ở ngay góc phố Hàng Giầy giao với phố Lương Ngọc Quyến. Sống giữa phố buôn bán, ăn chơi vào loại bậc nhất ở Hà Nội, vừa thoát xác nhà quê được dăm năm, cả ông lẫn bà đều rửng mỡ, đổ đốn, ông ăn chả thì bà cũng ăn nem, cả hai đều có nhân tình rồi ly hôn mỗi người một ngả, để lại ba đứa con bơ vơ. Em gặp Tâm vào giữa buổi trưa hè nắng như đổ lửa. Chiếc xe đạp Phượng Hoàng xích hộp màu cánh trả là mốt thời thượng lúc đó của em bị bẹp lốp. Tìm mãi mới gặp chỗ vá xe, lại vớ phải anh thợ lóng nga lóng ngóng như thợ vụng mất kim. Chiếc săm mới tinh của em cứ tháo ra lắp vào mấy bận vẫn xì hơi, lần sau còn tệ hơn lần trước vì bị kẹp. Em điên tiết chửi té tát cho anh chàng một trận đủ những lời tục tĩu của con phe ngoài chợ. Bỗng em nghe ai đó hỏi anh chàng chữa xe đạp: “Tâm ơi! Hôm nay mày không lên lớp à? Ngày mai khoa văn có buổi nói chuyện về phương Tây - văn học và con người của giáo sư Đỗ. Nếu đi nhớ gọi mình cùng đi nhé!” Em ớ người phát hiện ra cái anh chàng chữa xe nửa mùa kia là sinh viên. Vừa giận lại vừa thương, em ném cho anh ta mấy tờ bạc loại mười đồng rồi dắt xe đi tìm thợ khác vá. Một tuần sau không hiểu vì sao em cứ vẩn vơ đạp xe, lượn đi lượn lại ở góc phố Lý Thường Kiệt, đoạn vắng vẻ nhất, gần Thư viện khoa học. Tìm mãi mới thấy anh ngồi dưới gốc cây xà cừ chúi đầu đọc sách. Từ hôm đó chúng em thân nhau. Tâm hơn em đến gần chục tuổi nhưng trẻ trai, giỏi giang, em còn đòi hỏi gì hơn nữa. Thời đó trai gái yêu nhau không còn đâu tốt hơn là dắt nhau vào công viên Thống Nhất. Em nhớ mãi bãi cây vắng vẻ ở góc công viên, giáp đường Đại Cồ Việt. Chính tại nơi ấy em đã trao thân cho Tâm. Tâm đã cho em cơ hội khám phá cái tuyệt vời thẳm sâu trong cơ thể đàn bà của mình mà em đã tưởng bị thằng mõ làng đánh cắp vĩnh viễn. Em đê mê sung sướng đón nhận cái cảm giác thần tiên đầu đời với tất cả niềm hân hoan, khát khao dâng hiến. Chúng em về sống với nhau chẳng cần cưới xin gì. Tâm nói như thế mới lãng mạn, khác thường và thật sự yêu nhau. Em chỉ cần có anh ấy là đủ, chẳng thiết nghĩ đến điều gì khác. Những ngày đầu thật là hạnh phúc. Hàng ngày chàng lên giảng đường Đại học, nàng ra chợ hay xuống xưởng nước mắm. Vì Tâm học năm cuối cùng, đang làm đề án tốt nghiệp nên không phải lên khu sơ tán. Tối về cơm nước xong, chúng em đèo nhau đi xem phim, nghe ca nhạc hay kịch nói. Xem xong ghé vào quán Bà Tàu ở đường Lương Văn Can ăn bát sủi cảo, chàng uống thêm một chén rượu. Lũ bạn ngoài chợ phát ghen với hạnh phúc của em. Hiền lành như Sếnh Tàu cũng phải buột miệng thèm được như em và Tâm dù chỉ một tối. Lũ em của Tâm cũng được em chăm sóc hết lòng. Đứa nào cũng lột xác rất nhanh. Chúng khá ngoan, học giỏi và kính nể chị dâu. Khi Tâm bảo vệ xong luận văn tốt nghiệp cũng là lúc em có mang đứa con gái đầu lòng, Ái Vinh. Em vung tiền chạy chọt các cửa để Tâm được nhận công tác tại một viện nghiên cứu nghệ thuật ở Hà Nội. Nhưng đàn ông các anh chỉ có thể thủy chung với đàn bà chúng em lúc còn hàn vi. Một khi đã thành đạt, vinh hiển thì trăm vụ bạc tình có tới chín mươi vụ do đàn ông. Với tài học rộng biết nhiều, dẻo mồm, lại thêm sẵn tiền do em kiếm được dùng vào việc quà cáp, biếu xén các sếp nên Tâm nhanh chóng được đề bạt trưởng phòng, được đi dự nhiều hội nghị quốc tế ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các tỉnh đánh xe con về mời Tâm đi nói chuyện. Anh ta bắt đầu cảm thấy ngượng với bạn bè ở cơ quan vì có cô vợ phe phẩy và buôn nước mắm thối. Mỗi lần anh ta lấy khăn mùi xoa bưng mồm, khịt khịt mũi vì vợ mới ở chợ về chưa kịp tắm là em thấy điên cả người, muốn vít cổ anh ta xuống, kẹp đầu vào háng mà đánh cho hả giận. Trước kia anh ta hồ hởi đón em ở chợ, xăng xái giúp em thu dọn can, túi xách lỉnh cà lỉnh kỉnh. Vậy mà bây giờ anh ta tránh cả việc đạp xe qua chợ. Mỗi lần có việc phải đi qua chợ, anh cố tình mua đường để đi vòng. Đời thật chó má! Anh ta sống bằng tiền buôn nước mắm đểu của em, nhưng lại ghê mùi nước mắm. Anh ta thăng quan tiến chức bằng đồng tiền của một con phe, nhưng lại khinh bỉ, bảo đó là nghề vô văn hóa, thất đức. Con phe như em còn có thể giúp cho Nhà nước khỏi phải hàng năm đổ đi hàng chục tấn nước mắm thối ra sông Tô Lịch, bà con nông dân lại có nước mắm ăn. Anh ta đã làm gì cho xã hội ngoài việc đến cơ quan tán gẫu, ra hội nghị nói phét? Tình vợ chồng cứ phai nhạt dần. Nhiều đêm em nằm khóc một mình, chờ chồng đi họp mà lòng thừa biết anh ta đi với bạn gái cùng cơ quan. Vào đúng lúc em đem con Ái Vinh đi bệnh viện vì viêm phổi cấp tính, ông chồng quý hóa, ông bố trí thức ấy đã cuỗm sạch số vàng trong tủ, chạy theo một con đàn bà chửa với thằng khác, nhưng là em ruột ông sếp của anh ta. Chỉ một tháng sau em được tin đám cưới của Tâm với con đàn bà đó được tổ chức linh đình ở cơ quan. Bạn bè khuyên em đến phá, nhưng em cay đắng nhận ra mình với Tâm chưa hề đăng ký kết hôn. Hắn đã chủ định lừa đảo, lợi dụng em để học hết đại học và tiến thân. Hắn không hề yêu em. Đã vậy em còn cố đấm ăn xôi làm gì?... Một năm sau, cái số lận đận đường tình của em vẫn chưa hết nợ. Em gặp Thùy râu qua một đám cưới cô bạn tổ chức ở Cầu Diễn. Anh ta để râu kiểu Hít-le hay Nguyễn Cao Kỳ, nói chuyện còn hay hơn chàng trí thức Tâm của em ngày trước. Dáng người lịch sự tử tế, phong độ đĩnh đạc đường hoàng, cử chỉ rất đàn ông, xã giao lịch duyệt, thoạt nhìn hắn là em mê liền. Đúng là một cú sét ái tình! Ai có thể ngờ hắn là thằng Sở Khanh. Hắn thừa biết em là trùm buôn nước mắm chợ Bắc Qua, tiền nhiều như rác. Hắn còn biết em giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp từ bé. Thế nhưng hắn rất cao tay, giả tảng phớt lờ. Ngồi cạnh em, hắn lẩm bẩm hát bài Xan-ta-lu-xia bằng tiếng Anh “I love you madly…”, câu hát làm em mê lịm đi, ngây ngất bởi chàng trai trong mộng. Thực tình nửa chữ tiếng Anh hắn cũng không biết. Chỉ sau đó ba tuần chúng em vội vàng làm đám cưới. Thùy râu đưa em ra Đồ Sơn tắm biển, lên Yên Tử thắp nhang lễ Phật. Lần đầu tiên, sau bao năm bon chen vất vả, em có được tuần trăng mật ngọt ngào hạnh phúc. Hắn tôn thờ em như nữ thần sắc đẹp. Hắn giở đủ ngón làm tình khiến em chỉ còn biết ứa lệ vì sung sướng. Em hân hoan dự định sẽ mua một ngôi nhà khang trang ở phố yên tĩnh, sắm sửa đồ đạc để hai mẹ con về sống với Thùy râu. Bất chợt công an – theo sự tố cáo của Thùy râu, sau này em mới biết - ập đến khám xét hai xưởng làm nước mắm của em. Họ kết tội em sản xuất hàng giả và bắt giam em vào Hỏa Lò Hà Nội. Bé Ái Vinh phải để lại cho Sếnh Tàu chăm nuôi. Những ngày đầu Thùy râu thăm nuôi em tận tình chu đáo. Hắn tỷ tê hỏi em chỗ cất giấu tiền, vàng và những ai còn nợ tiền hàng hoặc vay lãi. Sau đó, hắn cuỗm một mẻ sạch sành sanh rồi ù té quyền. Ngẫm mà cay đắng cho cái thân em. Lần bị lừa trước là vì không chịu cưới hỏi, đăng ký kết hôn. Lần này kẻ lừa đảo lại giăng bẫy bằng việc tổ chức đăng ký và cưới xin linh đình ầm ĩ để em mất cảnh giác. Lần lừa sau tiền của mất nhiều, nhưng tình lại không đau như lần trước... Hết hạn bốn năm ngồi tù, em và Sếnh Tàu mất thêm nửa năm săn lùng Thùy râu mà không tìm ra tung tích. Tiền mất sạch, tình cũng mất. Em căm thù tất cả những ai khác giới, tìm đủ mọi cách để hạ nhục họ. Em cắt tóc ngắn như đàn ông, mặc bò cả cây, kính râm gọng to đi xe máy hiệu Zawa phân khối lớn, bắt đầu cuộc sống giang hồ. Vì vậy, giới giang hồ đồn thổi tiếng tăm, gọi em là Linh trọc hay Linh bít. Để giải sầu, em nuôi một cô bé nhà lành xinh đẹp nhất phố Hàng Đào để đêm đêm ôm ấp, vuốt ve. Em cùng Sếnh Tàu thành lập một đội nữ binh hai mươi đứa, dạy cho chúng võ thuật. Dưới sự chỉ huy của em, đội nữ binh ra oai sấm sét đánh bạt lũ đàn ông trùm lưu manh ở các chợ nội ngoại thành. Tất cả dân “mõi”, cướp giật, lừa đảo, buôn đồ rởm ở chợ đều phải thuần phục chúng em. Cứ mỗi chợ em cắt cử một đội trưởng là đàn bà. Chỉ từ cấp bậc tổ trưởng, nhóm trưởng trở xuống em mới chấp nhận cắt cử đàn ông. Đứa nào phạm tội không trung thành hay gian lận, nếu là đàn ông em xử phạt nặng gấp đôi đàn bà. Hàng ngày các tổ trưởng nộp tiền và sổ sách cho đội trưởng kiểm tra. Em cho phép đội trưởng tùy quyền phân phối lại cho “lính” và “sỹ quan” hai phần ba số tiền kiếm được. Một phần ba em giao lại cho Sếnh Tàu giữ, cho vào két sắt giấu biệt để phòng thân. Hàng ngày em gửi Ái Vinh vào trường bán trú tốt nhất thành phố rồi phóng xe máy đi các chợ kiểm tra và giao việc cho từng nhóm trưởng. Sau một thời gian, lực lượng đủ mạnh, em mở thêm một đội nữ binh giỏi võ thuật chuyên đi đòi nợ thuê, giao cho Sếnh Tàu phụ trách. Đội này hoạt động tích cực và thu về những món lợi kếch sù tới mức nằm mơ cũng chưa nghĩ đến. Phong trào đánh đề, chơi họ càng phát triển, số khách thuê đòi nợ càng đông. Tùy theo mức độ phức tạp của vụ việc và thế lực của con nợ, chúng em sẽ thu của khổ chủ từ hai mươi phần trăm đến một nửa. Đội nữ binh đòi nợ nhờ thế phát triển rất nhanh. Sếnh Tàu phải chia ra năm tiểu đội, bốn hoạt động ở bốn quận nội thành một ở vùng ven đô. Khi Nhà nước bắt đầu cải cách, mở cửa, sản xuất kinh doanh tương đối tự do hơn, em nhớ lại nghề cũ, bàn với Sếnh Tàu mở thêm hai xưởng nước mắm, xin giấy phép và đăng ký kinh doanh đàng hoàng. Phụ trách kỹ thuật mỗi xưởng đều là kỹ sư thực phẩm công nghệ có tài ở trường đại học hay viện nghiên cứu. Giá chất xám ở ta rẻ lắm. Anh là nhà văn hẳn biết câu “văn chương hạ giới rẻ như bèo” của cụ Tản Đà. Em ra nước ngoài lại càng thấm thía cái chất xám ở xứ mình rẻ nhất hành tinh này. Bọn em thuê họ, trả lương tháng chỉ bằng tiền cho một thằng đệ tử uống bia một tuần mà họ mắt cứ sáng ra như nằm mơ. Hăng máu làm ăn, em còn mở bốn lò gạch ở quê ngoại Thường Tín. Đó vừa là nơi sản xuất kiếm tiền vừa là nơi trú quân tạm thời cho bọn đàn em mỗi khi có chiến dịch càn chợ của công an. Đội quân ngầm của em vì thế lên tới con số hàng nghìn, nó phát triển lan về chợ lớn các tỉnh Hải Phòng, Nam Định, Sơn Tây, Hà Đông, Hải Dương, Thái Bình. Người ta tôn xưng em là bà chúa chợ thay cho tên gọi Linh trọc hay Linh bít cũ. Em say sưa trong việc kiếm tiền và hành hạ, sỉ nhục bọn đàn ông dưới quyền mỗi khi chúng phạm tội, dù là rất nhỏ. Mặc dù vậy, vết thương lòng vẫn ngày ngày gặm nhấm trái tim cô đơn. Em đã thay ba lần “vợ”, toàn là con gái nhà lành, xinh đẹp. Nhưng không đứa nào chịu ở với em quá một năm. Duy chỉ có Loan, cô bé thứ tư là em ưng ý nhất. Nghe kể tới đây chắc anh nghĩ em là con đàn bà bệnh họan, đồng tính luyến ái phải không?...Chưa hẳn là thế đâu, anh ạ! Ai đã trải qua kiếp tù ở xứ ta những năm ấy mới hiểu hết sự quái dị của cõi người. Mấy năm em ngồi tù ngoài đời còn đói nhăn nữa là những kẻ mang áo số. Với kiếp đi tù thời đó chỉ trừ có bọ hung và nước điếu là không ăn, không uống mà thôi. Thói đời càng đói ăn thì sự cướp đọat, hành hạ lẫn nhau càng khủng khiếp. Để có miếng ăn ngon, đám tù “đại ca” trong trại tù nữ chúng em ban ngày rất hung dữ, còn ban đêm lại mềm yếu đến kỳ lạ, thèm được chiều chuộng vuốt ve như một nhu cầu tất yếu để xả hơi, để được làm đàn bà tự do như ngoài xã hội. Vậy nên mỗi nữ tù ”đại ca” đều chọn cho mình một “anh chồng” thường là tù nhân trẻ đẹp nhất buồng giam. Ra khỏi tù là họ quên ngay cảm giác ấy, đi tìm người đàn ông thực sự. Em cũng từng là nữ tù “đại ca”, nhưng em gọi khác là “cô vợ’ bởi em thù hận bọn đàn ông. Hễ nhìn thấy đàn ông là em liên tưởng đến thằng hiệu trưởng mõ làng hay Tâm hoặc Thùy râu mà buồn nôn, đâu còn muốn động chạm da thịt khác giới nữa, hở anh! Ra tù, thói quen của nữ tù “đại ca” em không sao bỏ được là vì như thế. Loan chỉ hơn Ái Vinh, con gái em sáu tuổi. Nó là con búp bê để em cưng chiều, là người tình cùng giới để an ủi em lúc mềm yếu, cô đơn sau mỗi ngày tung hoành độc ác trả thù đời, phải đóng vai cứng rắn như một tướng cướp đàn ông chính hiệu. Em cũng nhồi nhét vào trong đầu Loan sự thù hận đàn ông. Em luôn canh chừng nó và nổi cơn ghen với bất cứ thằng đàn ông nào đứng gần Loan. Nhưng đàn bà mãi vẫn cứ là đàn bà và Loan cũng đâu phải là em. Sau hai năm đằm thắm với em, Loan bắt đầu xiêu lòng trước những lời tán tỉnh của Nhật béo Hải Phòng. Hai đứa bỏ trốn em, chạy vào Sài Gòn. Vắng Loan có mấy ngày mà em như điên như dại. Em tung người đi khắp nơi lùng kiếm, treo thưởng rất hậu cho đứa nào tìm thấy hai đứa. Được tin báo Loan đang ở đường Võ Di Nguy, quận Phú Nhuận, Sài Gòn, em lập tức bay vào, đến tận giường ngủ dựng hai đứa dậy. Nhật béo nhác thấy em van lạy như tế sao, trông rất hèn hạ. Em túm tóc Loan, chỉ vào Nhật béo đang quỳ mọp dưới đất rít lên: “Mày thấy chưa, bọn đàn ông đều hèn hạ, đốn mạt như nhau cả thôi. Không đứa nào yêu mày thủy chung đến chết, sẵn sàng xả thân vì mày như Linh trọc này đâu. Về đi thôi, về… về… Tao lạy mày. Tao van mày. Trời ơi là trời!...” Loan buồn bã ủ rũ chia tay với Nhật béo, theo em ra Hà Nội. Nhìn vào mắt nó, em hiểu mùi khoái lạc của đàn ông thật sự đã ngấm vào từng làn da thớ thịt nó, em sớm muộn gì cũng sẽ mất nó. Dẫu sao còn nước còn tát, em lôi nó ra Hà Nội cưng chiều nó đủ thứ để nó nguôi lòng. Có lần một con nợ bị “lính” của em bốc hết cả tài sản trong nhà, hắn thuê người trả thù bằng cách đánh vào chỗ mềm yếu của em, tạt a xít vào Loan. Sau vụ đó, em phải đã bỏ ra mấy ngàn đô, sai người đưa nó sang tận Băng-cốc sửa lại sắc đẹp. Nhưng kể từ cái đêm đầu tiên ở Sài gòn ra, nó nằm bên em chỉ thở dài thườn thượt, vuốt ve hời hợt, chuyện trò nhạt thếch. Em ứa nước mắt vì thất vọng, buồn chán. Nỗi đau vì sợ có thể mất Loan khiến em càng thêm thù hận đàn ông. Anh là người chân chỉ hạt bột, không thể hiểu nổi cái ngông của bậc hảo hán trong giới giang hồ như em đâu. Ngông đấy, nhưng lại vừa tàn ác vừa nghĩa hiệp và cái điều cốt lõi là làm “đại ca’ phải có thực tài, hết lòng vì kẻ dưới. Nó khác với lũ quan chức ngu dốt, lừa lọc, nịnh bợ, đểu cáng vừa leo lên ghế quyền chức, có tiền rồi chơi ngông như lũ trọc phú, rởm đời nhiều lắm, anh ạ!... Trở lại chuyện tình cảm giữa em và Loan, một hôm đi chợ về em thấy trên bàn có lá thư tuyệt mệnh, không thấy Loan đâu. Em hoảng hốt, xộc ngay vào nhà tắm phát hiện thấy nó nằm sõng sượt trên sàn, máu chảy lênh láng, nhiều chỗ khô đen bám vào gạch men. Em ôm chầm lấy Loan lay gọi. Không một tiếng trả lời. Áp tai vào ngực em thấy tim nó gần như ngừng đập. Lấy một sợi tóc giơ trước hai lỗ mũi nó, em chỉ thấy hơi động đậy. Còn nước còn tát, em vội hô hoán mọi người đưa nó đi cấp cứu. Loan đi rồi, em ngồi đọc lá thư, nước mắt giàn dụa ướt nhòe hết cả mặt chữ. Đêm nay ngồi giữa khách sạn em vẫn thuộc lòng lá thư của nó.
Chị Linh thân yêu!
Hãy tha thứ cho em, đừng bắt em gọi chị bằng anh như thường ngày. Chị cũng như em, không thể cầm dao cắt bỏ “đôi gò bồng đảo” trên ngực. Vì nó là thứ trời chỉ giành riêng cho cánh đàn bà chúng ta để làm chức năng thiêng liêng – chức năng làm mẹ. Em nói vậy có đúng không hở chị?
Mấy năm bỏ nhà ra đi theo chị, em như đứa em gái bé bỏng hay gọi là “vợ” của chị cũng được. Chúng mình chẳng đã từng ôm ấp, chuyện trò, vuốt ve nhau cơ mà. Lúc đầu, nó đã giúp em quên đi bất hạnh của mình, nỗi đau mất bố. Như chị đã biết sơ sơ, bố em là một nhà vật lý chất rắn nổi tiếng. Các công trình của ông đăng tải ở nhiều tạp chí hàn lâm Âu- Mỹ. Chỉ ngậm đắng nuốt cay một điều là công trình đích thực của ông, nhưng phải ký dưới tên một thằng ngu dốt, có chức quyền trong Viện. Bao nhiêu năm nay, vốn bản tính bộc trực, không chịu luồn cúi, lại quá thật thà say mê khoa học, ông đã bị người ta bóc chất xám như vắt kiệt quả chanh. Năm năm một lần ì ạch lên một bậc lương còm. Học hàm, học vị, ghế cao, ghế thấp đều không đến lượt bố em. Quốc tế mời đi họp ư? Xin mời ông ngồi viết báo cáo để thằng khác đi đọc. Viện hàn lâm nước ngoài mời đi cộng tác ư? Xin hãy chờ xét duyệt lý lịch. Suốt một đời đam mê nghiên cứu khoa học của ông không đủ hút ngày ba bao thuốc Du Lịch. Từ quần áo, miếng ăn đến nhà ở đều phải bám nhờ bố mẹ vợ giàu có ở phố Hàng Khay. Mọi người bên ngoại nhìn ông với con mắt khinh rẻ. Trí thức có cỡ hạng mà suốt ngày bị coi là thằng nhà quê, đồ sâu bọ ăn bám. Mẹ em rất yêu thương chồng, nhưng bà chịu quá nhiều thiệt thòi lại bị sức ép tâm lý nặng nề của những lời mỉa mai, xúc xiểm xung quanh nên lâu dần cũng sinh ra cáu gắt, hắt hủi, coi thường bố em.
Một lần trong khi tiếp xúc với người bạn giáo sư nước ngoài, bố em đã gửi bản tóm tắt công trình nghiên cứu của mình cho Viện Hàn lâm Châu Âu. Thằng bạn thân nhưng dốt nát, đểu cáng đã vu cáo ông tuồn tài liệu mật ra nước ngoài. Thật ra những số liệu mà bố em sử dụng có đầy trong các cặp của chuyên gia Nga được mang về nước nghiễm nhiên, hợp pháp. Bố em đã bị đình chỉ công tác, bị truy tố nên ông đã tự tử giống hệt như em sẽ làm sau khi viết xong lá thư này cho chị. Bố chết không lâu, thằng bạn thân của bố trở thành dượng của em. Thì ra họ âm mưu hại bố em để dễ bề chung sống với nhau. Giữa lúc chán đời, hận mẹ, em đã gặp và đi theo chị.
Chị Linh ơi! Chị có hiểu không, từ ngày nếm trải được vị ngọt ngào kỳ diệu của sự hòa nhập thể xác thật sự giữa đàn ông- đàn bà, trong từng tia huyết quản của em sôi lên một niềm khát vọng làm mẹ. Nhưng đời em đã lệ thuộc cả tâm hồn lẫn thể xác vào uy quyền, tiền bạc của chị. Mỗi ngày qua đi em lại thêm một lần tuyệt vọng. Em mang ơn chị quá nhiều, không thể phụ bạc lại chị. Nhưng chị giữ em như giữ gìn một thứ đồ chơi, đồ trang sức quý giá. Như vậy có ích kỷ không hả chị Linh? Vả chăng hành động lâu nay của chị xét cho cùng là trái quy luật, trái với lẽ tự nhiên của trời đất. Em đã quyết định vĩnh biệt chị bằng một lưỡi dao lam cứa trên cổ tay như ông bố tội nghiệp của mình. Vì vậy em mạnh dạn nói thẳng sự thật.
Chị Linh ơi! Liệu có ngày chị cũng như em hay không? Vì một nguyên cớ gì đó bất ngờ, chị gặp và chung đụng với một người đàn ông đích thực, yêu chị tha thiết. Chị sẽ thấy lại vị ngọt ngào kỳ diệu của nó mà thân xác đàn bà của em không thể cho chị được. Cầu mong cái giây phút ấy nhanh đến với chị trước lúc tuổi già chưa kịp đến. Bố em bảo rằng đối với cuộc đời không gì ghê sợ hơn là sự cô đơn lúc về già. Sống gần chị, em biết rằng với tuổi 40 chị còn rất đàn bà chị ạ! Em tin rằng trên đời còn có những người đàn ông tốt mà chị chưa gặp được đó thôi. Đừng quá tàn nhẫn với chính mình như thế, chị Linh ơi! Hãy tin và sống gấp với thời gian bằng người đàn bà thật sau cái vỏ đàn ông ngang tàng, nghĩa hiệp của chị.
Em yêu chị vô vàn. Hãy cho em hôn chị lên từng câu chữ trên mặt giấy để rồi biệt nhau mãi mãi.
Cầu chúc cho chị hạnh phúc!
Anh là nhà văn, một trí thức em tạm yên tâm gọi là có lương tri, anh hãy cho em biết cảm nghĩ khi đọc thư của Loan! Còn em, đọc đi đọc lại lá thư của Loan em gào khóc rống lên như một đứa trẻ. Nỗi đau quá bất ngờ và quá lớn. Em đã giết chết Loan bé bỏng đáng yêu và tội nghiệp của mình. Em đã quá ích kỷ. Cả đêm em không sao chợp mắt. Rất may, hôm sau bọn lâu la đến báo Loan đã được cứu sống, nhưng còn rất yếu vì mất nhiều máu. Em vùng ngay dậy, bổ nhào vào bệnh viện, ở lỳ trong đó với Loan, không thiết làm bất cứ việc gì khác. Đứa nào mò vào bệnh viện tìm em trao đổi công việc chỉ tổ nghe em chửi và ăn tát. Em tìm mọi cách an ủi động viên Loan. Em hứa sẽ giải phóng cho Loan và tìm cho nó một tấm chồng tử tế, chu cấp cho hai đứa đủ sống đến hết đời. Loan nhìn em mỉm cười gượng gạo. Nụ cười và ánh mắt nó mách bảo em rằng nó vẫn rất tin những lời em hứa, chỉ trừ có việc tìm bạn đời nó sẽ phải tìm lấy. Một tuần sống trong bệnh viện với Loan là quãng thời gian ngắn ngủi, hiếm hoi để em trở lại sự dịu dàng thiên bẩm của người mẹ, người chị. Em nâng niu giấc ngủ của nó, dỗ dành nó ăn uống, tắm rửa và thay đồ cho nó… Ngày Loan ra viện cũng là ngày em bị bắt giam. Anh đừng giận, khi em nói thẳng là cái họa ấy cũng bởi bọn đàn ông đểu cáng các anh gây ra cho đàn bà chúng em. Thật là họa vô đơn chí. Đám thuộc hạ đàn ông của em những lúc có tiền thường hay xí xởn kéo nhau đi mua hoa ở xóm liều Thanh Nhàn. Một lần em vô tình thấy chúng kháo nhau về một cô gái Kim Oanh nào đó, tên cúng cơm ở quê là Nguyễn Thị Bơ. Nó còn rất trẻ, khoảng 16 tuổi, quê ở huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Vùng này xuất hiện một thằng “Mã Giám Sinh” hiện đại đi xe Dream, quần zin, áo phông, đeo kính râm gọng vàng. Mồm hắn hót dẻo như nhai kẹo cao su Mỹ. Hắn ta dỗ dành lừa gạt phá trinh của Kim Oanh rồi bán cho mụ chủ chứa ở làng Thanh Nhàn, quận Bà Trưng lấy một triệu đồng. Em thấy động lòng trắc ẩn, sai thộc hạ đón đường nện cho thằng cha “họ Mã” một trận nhừ tử rồi mang tiền đến thương lượng với mụ chủ chứa, đưa nó về lúc chỉ còn cái xác ve sầu, mặc dù khuôn mặt nó đẹp như đức mẹ đồng trinh. Chúng nó kể rằng, ở Thanh Nhàn có đêm con bé phải tiếp đến hai, ba  tốp khách đánh hiệp đồng. Nhìn nó gầy yếu, suốt ngày khóc lóc nỉ non, em rất thương, xót xa cho kiếp đàn bà bạc phận. Bọn thuộc hạ được lệnh của em phải chăm sóc thuốc men, bồi bổ chu đáo cho Oanh. Em cấm đứa nào được táy máy, xí xởn, nếu vi phạm sẽ phạt nặng. Sau mấy tuần Oanh hồi sức, béo đẹp hẳn lên. Em cho mời bác sỹ đến khám, thấy nó không có bệnh tật gì ở đường sinh dục, mới an tâm gọi nó lên hỏi chuyện. Biết nó có nghề may thêu, em mới cho nó mười triệu đồng, bảo nó về quê mở hiệu may ở thị trấn huyện. Đích thân em và Sếnh Tàu mang hoa, thịt quay, giò chả từ Hà Nội về khai trương cửa hàng may đo của nó, trước sự xúc động của gia đình, hàng xóm. Vậy mà không may cho em, thằng cha “họ Mã” kia bị bắt. Nó khai đã phá đời của hàng chục cô gái nhà quê, trong đó có Nguyễn Thị Bơ. Từ Kim Oanh người ta lần ra ổ chứa Thanh Nhàn và sau đó vạ lây sang em. Giữa cảnh đời nhố nhăng, thiện ác khó phân, người có tiền án như em dễ gì minh oan nên mặc dù Oanh và gia đình lên tận nơi thanh minh và bảo lãnh để em tại ngoại, nhưng vẫn không được giải quyết. Họ đành bàn với Sếnh Tàu đưa Ái Vinh về quê Phú Xuyên nuôi đỡ một thời gian vì ở ngoài phố bạn học xa lánh, nó dễ sinh hư. Đời em thế là hai lần đi tù. Lần thứ hai này khiến em hận đời, càng thù ghét bọn đàn ông nên mới có những hình xăm cổ quái trên người mà cô nhân viên mát-xa của khách sạn Hoàng Long chứng kiến… Cám ơn anh đã chịu ngồi nghe em tâm sự về quãng đời ô nhục, tội lỗi. Liệu còn đủ thời gian và cơ hội cho người đàn bà sắp đầy bốn con giáp, làm lại cuộc đời, tìm lại tình yêu không hở anh? Liệu còn có ai trên đời này tin và yêu em thật sự, không phải vì bây giờ em có đô, có vàng, làm bà chủ lớn, một tỷ phú cô đơn giữa cõi đời trần trụi? Em thèm khát một tình yêu đích thực mà cũng ghê sợ, tởm lợm những thằng đàn ông hau háu ngóng đợi két bạc của mình mở khóa. Lúc này đây, trong tim em ngập ứ nỗi xót xa, tủi hận vì đợi chờ hạnh phúc muộn mằn, lại có cả niềm hạnh phúc lâng lâng xao xuyến của chính sự đợi chờ! Liệu như thế có mâu thuẫn không, có trái khoáy và vô vọng không, hở anh?...
10- Đêm đã chìm sâu, tĩnh mịch và chợn rợn khiến con người càng thấy bé bỏng, đơn côi giữa vũ trụ không cùng, bí hiểm. Tôi nghe mỗi lời nàng nói ruột gan thắt lại để rồi trào lên ánh mắt niềm thương cảm. Cho đến hết đời tôi cũng không thể cắt nghĩa nổi trạng thái tâm hồn mình lúc ấy. Một thứ tình cảm lạ lùng cứ sôi lên trong mạch máu, chạy giần giật khắp thớ thịt, làn da. Nó ngây ngất một thứ men ngọt đắng mà nồng nàn đến từng hơi thở. Thây kệ cho bà chủ khách sạn mấy hôn nay dở chứng, phát ghen vì tình cảm quyến luyến giữa tôi với nàng. Bà ta có là gì với tôi đâu mà ngại. Tôi không chỉ thương nàng. Tận thẳm sâu con tim mách bảo rằng tôi đã yêu nàng. Tôi ôm chặt Mỹ Linh vào lòng, lau nước mắt cho nàng, vuốt ve lên mái tóc. Người tôi nóng ran, rưng rưng mi mắt... Nàng day nhẹ cằm vào ngực áo tôi, đôi bờ vai nàng rung lên. Tôi luồn tay qua lưng đỡ nàng nằm xuống đi văng, gối đầu lên đùi mình. Nàng ngoan ngoãn khép hờ đôi mắt để tôi lấy khăn thấm nhẹ vào hai bên tóc mai ướt đẫm mồ hôi và nước mắt. Môi nàng run run, mấp máy không nói thành lời, nhưng tôi hiểu nỗi đau trong nàng đang dịu lại. Cặp mắt đen từ từ mở to, đau đáu nhìn vào mắt tôi. Đôi bầu vú dưới lớp váy ngủ mỏng tang, không coóc xê che đậy phập phồng khiến cả bầu trời đen thẫm ngoài hiên cũng phập phềnh như muốn rách vỡ. Tôi bảo Mỹ Linh ngủ đi một lát, nhưng nàng khẽ lắc đầu. Nàng bảo:
- Em muốn tận hưởng sự vuốt ve của anh. Đã hơn hai chục năm rồi em chưa nhận được sự vuốt ve êm dịu từ bàn tay đàn ông đích thực. Kiếp người sao lại có đận cay đắng đến vậy. Đến con mèo, con chó cũng thèm khát sự vuốt ve, vậy mà…
- Tại em cứ tự làm khổ mình. Em nuôi mãi mối thù hận giới đàn ông làm gì. Ở đời không thiếu những người đàn ông thủy chung, nhân hậu và cũng chẳng thiếu những người đàn bà lẳng lơ hay nanh nọc, tàn nhẫn. Cuộc sống nó vốn vậy mà em.
- Cái thời mà đời cho em cơ hội kiếm tìm đã qua lâu rồi. Em đã nhận được quá nhiều sự bội bạc, lọc lừa, đểu cáng.
- Mỗi kiếp người là chuỗi dài những bi kịch. Lạ thay, thế mà ta cứ phải dấn thân,  phải yêu và sống đến tận cùng số phận, em ạ!.
- Hãy cứ lấy đời em ra mà bóc tách, luận giải. Em đã dẫm qua mọi ngang trái, lao vào cuộc đời này bằng tất cả lòng đam mê, sự dâng hiến. Nhưng sao cuộc đời cứ tàn nhẫn gạt phứt em ra ngoài nên em phải trả thù. Sau mỗi lần trả thù đời, em lại thấy trống hoác, cô đơn, buồn tủi để rồi lại sục sôi lên ý muốn trả thù. Em muốn yêu cuộc đời lắm chứ, nhưng nó có gì để em yêu đâu. Em là đàn bà, mà với đàn bà em hiểu rằng cho nhiều còn nhận chẳng bao nhiêu. Dẫu sao nhận ít cũng là được nhận, riêng em đến tận bây giờ vẫn chỉ là con số không. Em đang có nhiều tiền, rất nhiều tiền, nhưng càng có nhiều tiền em càng rùng mình ghê sợ đám đàn ông bu quanh mình chỉ vì két bạc. Lúc còn trinh tiết họ lừa mình để cướp lấy tiết trinh; khi son trẻ và sung sức họ dẫm lên sự cần cù, cúc cung tận tụy của mình để phè phỡn và thăng tiến; nay sắp tàn tạ họ lại vẫn thề thốt yêu đương để được mở két hơn là mở khóa quần… Lần này về nước, em đã nhận khối cuộc điện thoại của những thằng đang có chức có quyền gọi đến gợi ý xa gần, tán tỉnh, nịnh bợ em. Cả cái thằng chồng khốn nạn ngày xưa, nay là chồng hờ của bà chủ khách sạn Hoàng Long kia cũng cứ trơ cái mặt thớt, gọi điện săn đón làm em tởm lợm. Đám đông đàn ông đê tiện ấy, họ có cách mạng hay đổi mới đầu óc gì đâu ngoài sự đê tiện và lòng ích kỷ. Miệng lưỡi đứa nào cũng toàn lời hay ý đẹp, nào hoài bão và lý tưởng, nào đổi mới tư duy, còn ruột thì thối nát… Những ngày cùng em đi đàm phán hợp đồng đầu tư mỏ vàng, anh thấy đó, họ xum xoe ca ngợi sắc đẹp, nhiệt tình với quê hương của em, có kẻ còn trơ trẽn nhận đồng hương hay đồng học từ thời tám hoánh. Chỉ cần em ngoắc tay, đánh mắt đưa tình là ối thằng bỏ vợ con, chạy theo tắp lự…
 Nàng nói say sưa không dứt, muốn trút hết nỗi lòng vào tôi để giãi bày, để khuây khỏa. Tôi lặng nghe nàng, cảm thông và chia sẻ.
- Em ghét đời, hận đời nhưng em đâu có trốn được nợ đời - Tôi nói.
- Không, em không trốn chạy mà luôn giàn mặt với đời để giành giật. Lúc này đây đối diện với anh, chút đàn bà còn lại trong em đang nổi loạn, đòi giành giật tình yêu…
Tôi cúi xuống âu yếm nâng cằm Mỹ Linh, ấn ngón tay cái mình lên vành môi, ngăn nàng đừng nói nữa. Cả hai cùng im lặng nhìn sâu vào mắt nhau. Gương mặt đẹp như ngọc của nàng phảng phấp bóng mây quá khứ buồn đau, thù hận và tội lỗi. Đôi bầu vú nàng cuộn lên từng đợt sóng khát khao, chờ đợi tình yêu bấy lâu dằn lòng, ghìm nén trong uất lặng, cô đơn. Nó làm tôi chóng mặt, hai tai ù điếc, mắt cay xè, khắp người run lên như gặp cơn sốt rét ác tính. Nàng vươn tay choàng lấy cổ tôi ưỡn cong người, chờ đợi một nụ hôn, còn tôi thì luống cuống, đần độn đến thảm hại. Trong tôi lúc này có hai thằng người tranh cãi, giành giật. Cái thằng người bằng xương thịt cứ muốn đè nàng xuống, hôn như mưa lên mắt, lên môi và rồi xé toang tất cả những gì che đậy của hai đứa để thân xác hòa quyện vào trong nhau, đi đến tận cùng của sự yêu. Cái bóng của tôi, cái thằng người vô hình mà quyền pháp vô biên đã làm môi tôi cứng đơ như khúc gỗ. Cái miệng to như hàm cá mập đầy râu quai nón của bóng người vô hình kia không ngớt lải nhải, nói cho tôi nghe những điều răn dạy và đạo lý gia đình, về nghĩa vụ làm chồng, làm cha và kết tội tôi là kẻ ngoại tình đểu cáng… Mỹ Linh vẫn chờ đợi, mệt mỏi, chán chường. Nàng buông tay ngã xuống lòng tôi, đuôi mắt nhòe ướt và thở dài. Tôi cũng thở dài, tay run run vuốt má và lau đuôi mắt cho nàng. Lát sau nàng chủ động và quyết liết nắm lấy tay tôi đưa dần xuống vùng ngực, vùng bụng, bắp đùi… Mắt nàng nhắm nghiền lại, miệng lí nhí van vỉ:
- Anh hãy vuốt ve khắp người em một thoáng thôi, như Diệu Loan ngày xưa ve vuốt cho em ấy. Anh coi em như con mèo, con chó, thèm khát bàn tay âu yếm cũng được, nhưng xin đừng chối bỏ!…
Chao ôi! Mỹ Linh của tôi nói chi những lời chua chát. Tôi không sao đành lòng, bàn tay như có ma ám lúc đầu chỉ lướt nhẹ bên ngoài rồi sau luồn vào sâu dưới váy ngủ, mơn man xoa bóp từng vùng da thịt nóng hổi của nàng đang căng mọng bởi sự va chạm âm - dương, đực - cái… Thế rồi tôi bỗng giật mình rút vội bàn tay ra ngoài, ngồi đờ đẫn hồi lâu và cầm tay nàng hỏi:
- Em vẫn nói mình thù hận hết thảy giới đàn ông, sao lúc này chính em lại mâu thuẫn với mình?
- Điều này chỉ có trời biết, anh ạ!
- Anh có gì hơn so với những gã đàn ông tầm thường khác đâu. Cái giống đực thú tính và tham lam chẳng phải vừa tự bộc lộ với em đó sao?
- Anh ít kể cho em nghe chuyên gia đình, hãy nói thật em nghe, anh với chị ấy ở nhà thế nào? Có cái gì đó trong anh như mách bảo em rằng anh là con người không hạnh phúc.
- Em có đa nghi quá không, hở Mỹ Linh? – Tôi gượng gạo hỏi lại, muốn bộc bạch hết với nàng mà sao cứ nghèn nghẹn.
- Ông bạn Robert người Mỹ của anh hình như cũng có cảm giác như em. Con người anh là cả một mớ rối rắm, mâu thuẫn. Những cái thật của đời anh đang bị giấu nhẹm, còn cái phô ra bên ngoài là do anh cố gồng mình lên để thiên hạ nhìn vào bảo đó là hạnh phúc.
- Lại có chuyện như thế nữa ư? Anh với Robert làm bạn với nhau suốt ba năm, chưa hề bao giờ anh được nghe Robert nói những điều như vậy. Có lẽ em đã nghe nhầm hoặc hiểu sai những lời của Robert, hoặc em quá giàu trí tưởng tượng.
- Hình như Robert sống gần anh mấy năm đã lây nhiễm cái bệnh trí thức phương Đông, hay nói vòng vo, không như em vuông nói luôn là vuông, tròn bảo ngay là tròn. Anh biết không, Robert đưa cho em xem tấm ảnh chị ấy chụp chung với anh và hai cháu. Ảnh do Robert bấm máy chụp cảnh vợ chồng, con cái quây quần bên chậu mai ngũ phúc mùa xuân năm ngoái. Anh ta nói lửng lơ: “Vợ đẹp, con khôn, đố ai dám bảo bạn tôi không hạnh phúc”. Tiếng Mỹ ít dùng thán từ mà dùng ngữ điệu để biểu đạt. Em nghe Robert phát âm mấy từ cuối cùng, linh cảm thấy đời anh không đủ đầy hạnh phúc, vô số sự phức tạp nên từ hôm đầu đến khách sạn em vẫn để tâm quan sát, dò đoán.
- Em đã quan sát được những gì, nói đi, Mỹ Linh – Tôi nôn nóng hỏi.
Nàng choàng dậy hôn thật nhanh vào má tôi, mỉm cười ý nhị rồi từ từ nằm xuống. Tôi như bị điện giật, choáng người và lặng đi. Bốn mắt chúng tôi nhìn nhau bồn chồn cảm giác muốn cùng được sẻ chia. Lại vẫn tiếng thạch sùng chạy trên tường nhà, ném lưỡi vào đêm đơn côi và lạnh lẽo. Không gian bốn bề tĩnh lặng, gió ngừng thổi và màn đêm căng ra, đặc quánh một màu mực. Tôi sực nhớ tình cảnh vợ chồng lâu nay chung một mái nhà mà gặp nhau lạnh như hai tảng băng. Điều này với tôi chẳng còn quan trọng, tôi đã chai lì. Cô ấy muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm, miễn là kín đáo, đừng để bên ngoài thấy tôi là kẻ đang bị cắm sừng, gia đình vẫn êm ấm. Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng phải thòi ra, đến người bạn nước ngoài như Robert còn cảm nhận được thì sao qua nổi cặp mắt Mỹ Linh. Hôm trước, nàng chỉ cần đưa tôi hộp son đắt tiền và mấy thứ dùng cho đàn bà trang điểm, nhờ gửi tặng cô ấy, thấy tôi lúng túng, ngập ngừng, nàng đã nhìn xoáy vào tôi xét đoán. Mà quả thực, mấy thứ đó vẫn đang nằm trơ trong ngăn kéo bàn viết của tôi ở nhà. Phụ nữ có những nhạy cảm riêng về hạnh phúc gia đình. Cái khó xử là nàng đang nói toạc ra vào lúc tôi bị hút hồn vào mê cung tình ái bên người đẹp và đau khổ đến tận cùng số phận, cần sự sẻ chia của tôi. Nàng làm tôi hoang mang do dự… Thế rồi bàn tay vô hồn, đờ đẫn của tôi lại như có ma lực xui khiến lần tìm những vùng da thịt để vuốt ve, mơn trớn.
- Đấy, anh cứ chiều em một chút như thế có lẽ sẽ tốt hơn cho cả hai đứa mình. Em đã nói rồi. Anh chỉ cần coi em như con chó, con mèo thèm một bàn tay ve vuốt cũng được – Lời nàng thầm thĩ theo nhịp sóng phập phồng của đôi bầu vú.
- Nào, em nói tiếp đi, đã cảm nhận được gì về cái tổ ấm của anh? – Tôi gạn hỏi dù tai ù đặc, lòng chẳng muốn nghe.
- Có lẽ đã từng một thời anh chị thật sự có hạnh phúc. Cái thời ấy qua rồi, nhưng cả hai, nhất là anh đang tự làm khổ mình bằng sự đóng kịch trước mặt con cái và thiên hạ.
- Chưa chắc sự việc đã đến nông nỗi ấy đâu, em ạ!
- Anh vẫn tự dối mình, gạt em, bảo thủ lắm! Em cầu xin anh sự ve vuốt bởi em thèm khát nó, cũng bởi xót thương anh.
- Vậy ra em chỉ coi anh như những kẻ đáng thương trong đám giang hồ mà những ngày qua em ban phát tiền như người làm phúc!
- Không… Em với anh là hai kẻ cùng cảnh ngộ, không khát tiền, chỉ khát tình yêu. Cái đáng thương của anh ở chỗ em khát thì em cầu xin anh và sẵn sàng dâng hiến phần đàn bà còn lại trong em, dù chỉ một lần rồi xa nhau cũng được; còn anh thì sao, anh khát, nhưng anh lại cố dằn lòng, chối bỏ cái sự muốn của mình. Thật kỳ lạ, thế hệ của anh, cả ngàn người đều như đúc cùng một khuôn, chẳng ai dám sống thật, chỉ làm nô lệ cho một mớ thuyết giáo mơ hồ, lởm khởm. Trong cái thế giới kim tiền hỗn mang, phức tạp đầy rẫy sự bất nhân, lọc lừa, giả trá thì gia đình là nơi trú ẩn cuối cùng. Cái tổ ấm gia đình phải lành lặn, nồng ấm tình yêu để ta chống chọi với đời. Nó hoang lạnh rồi thì  châm lửa đốt quách, chớ sao lại phải gào rống lên cho thiên hạ biết vẫn còn hơi ấm? Nó rách vỡ rồi thì tung hê, xé bỏ, chứ sao lại cố dằn lòng vá víu rồi quét sơn lên cho người đời nhìn thấy và bảo nó còn lành nguyên? Có thể cả anh và chị ấy đều nuôi ý nghĩ rằng sự nén chịu, đóng kịch của mình là vì con cái. Như vậy đã chắc gì, mà có khi còn hại chúng.
- Trời ơi! Sao chỉ có ít ngày bên nhau mà em rành rõ vậy. Đừng nói nữa, Mỹ Linh, anh xin em đừng nói nữa.
- Không… Chẳng thà em chưa nói ra, cứ để mặc cho anh tự phán xét nó đi một nhẽ. Nhưng em đã nói tuột ra hết cả rồi thì sẽ không chịu buông tha, đồng lõa với thói cam chịu của anh. Đừng… đừng mơn man lên người em nữa. Em muốn được hơn thế. Hãy lột bỏ mọi thứ ra, cùng em đi đến tận cùng của sự yêu. Một lần và chỉ một lần thôi!...
Nàng vùng dậy vít chặt vai tôi đè xuống giường. Tôi, một thằng đàn ông lúc đó thảng thốt như bị “cưỡng dâm”. Nàng ép chặt bộ ngực nóng hổi vào người tôi, lần tìm làn môi của tôi để trút lên nụ hôn sâu đằm đến nghẹt thở. Tôi khuất phục, mê lịm đi vì sung sướng. Hai lưỡi đá vào nhau ngọt ngào vị ngọt của tình yêu đã mất trong cả hai thân xác đơn côi giữa cõi đời bạc bẽo. Chúng tôi điên dại, lăn lộn trên giường, hôn mà như cắn vào bất cứ chỗ nào của nhau. Những bàn tay cuồng nhiệt lần tìm vùng da thịt nhậy cảm của nhau để ve vuốt, gợi tình… Khi tôi và nàng cùng ngồi dậy, toan cởi quần áo thì tôi chợt thấy có ánh mắt nào đang nhòm qua khe cửa khép hờ chưa kịp đóng từ lúc tôi vào phòng. Còn ai nữa ngoài bà chủ khách sạn khát tình như khát nước, khi chiều tối cứ xoắn lấy tôi gợi gần gợi xa, đánh mắt đưa tình. Bà làm việc này chỉ theo thói quen rình mò của một thời đã xa, cả xã hội rình mò lẫn nhau mà thôi. Về chuyện này, bà chẳng có gì giằng buộc hay bắt tội được một nhân viên bảo vệ trong thời mở cửa, nhưng sự xuất hiện của bà lúc này làm tôi khựng lại mọi khao khát đam mê. Tôi không sợ cái nhìn của bà, chỉ chợt nghĩ đến các con, đến những bài vị, hoành phi, câu đối của nhà thờ tổ, trong đại gia tộc nề nếp gia phong xưa nay của mình. Bà chủ đã lảng đi như một bóng ma sao tôi thấy nguội lạnh trong lòng, chỉ kịp mấp máy đôi môi nói lời xin lỗi nàng rồi lao ra cửa phòng như bị ma đuổi… 
Sáng dậy, tôi ôm chặt từng đứa con trước giờ đi học rồi lai nằm vật xuống giường, cố quên đi những gì vừa xảy ra trong đêm, cố chợp mắt thêm vài giờ nữa. Nhưng tôi càng cố bao nhiêu thì hình ảnh Mỹ Linh càng ám ảnh, dằn vặt tôi bấy nhiêu. Mỹ Linh ơi! Em bạo liệt đòi hỏi được dâng hiến, còn tôi thì hèn nhát chạy trốn sự ham muốn khát khao tình yêu của em hay đang chạy trốn chính mình? Không… Tôi cũng muốn ở lại cùng em, không phải vì bản năng của giống đực, mà thật lòng yêu em bởi cảnh ngộ tôi lúc này nào có hơn gì em ngày xưa. Tôi thèm khát được cùng em một lần dù chỉ một lần thôi, nhưng tôi không thể. Dớ dẩn, thật dớ dẩn! Tôi đã liều lĩnh thò tay mơn trớn vào da thịt em, đùa rỡn với thằng đàn ông trong tôi rồi tôi lại hoảng sợ thằng đàn ông ấy sẽ vượt rào ngoại tình, làm khổ các con mình, vi phạm giáo lý và truyền thống gia tộc… Có tiếng chuông điện thoại reo, nhưng tôi chẳng buồn nhấc máy. Nó vẫn reo, reo mãi kiên trì và bướng bỉnh làm tôi chợt nghĩ đến nàng, lòng thêm bối rối. Tay tôi run run cầm máy, giọng ngập ngừng đứt hơi từng tiếng:
- A lô!... Tôi nghe… nghe… đây… đây…
- Em… Mỹ Linh đây mà. Anh mệt lắm phải không? Em cũng vậy. Ta tạm quên chuyện đêm qua, ngủ nữa đi anh nhé!
- Anh muốn ngủ mà không được.
- Cứ đếm đến 100 là sẽ ngủ ngon, đừng uống thuốc hại người lắm, anh ạ!
- Em có buồn, có giận anh không?
- Ngủ đi, nghe em ngủ đi sẽ nguôi ngoai mọi chuyện.
- Em vẫn chưa trả lời.
- Buồn thì có, nhưng giận thì không, chỉ thương anh, thương cho số phận của hai đứa mình.
- Em cũng ngủ đi cho lại sức, còn nhiều việc phải làm trước ngày em về Pháp.
- Vâng... Hôn anh… Cám ơn anh vì tất cả!
Tôi chưa buông máy bởi nghe rõ tiếng nàng bật khóc. Tôi tần ngần, muốn nói lời an ủi, nhưng đầu dây bên kia đã chủ động dập máy. Mỹ Linh của tôi, sao em lại bật khóc, tiếng nghe não nề và oán hận?... Tôi gieo mình xuống giường, vùi mặt vào gối để ngăn dòng lệ. Hồi lâu tôi thiếp đi, mơ thấy mình bồng bềnh giữa khoang thuyền trôi theo dòng xoáy của con sông cái. Có hai bóng người nhập nhòa trên bờ, chạy theo con thuyền; Mỹ Linh như nàng tiên trong bộ váy áo trắng tinh, mắt nhòa lệ; còn bà chủ thì khỏa thân trắng lốp, vỗ bành bạch vào chỗ ấy mà chửi với theo…
11- Những ngày sau đó, chúng tôi vẫn gượng gao bình thản, cùng nhau đi làm việc trên Ủy ban thành phố và đối tác đầu tư khu du lịch sinh thái. Ác thay, theo thỏa thuận ban đầu thì lúc này mới thật sự cần đến vai kịch tôi phải đóng làm tình nhân của Mỹ Linh. Trước hôm gặp gỡ lãnh đạo thành phố, nàng bắt tôi đi tiệm làm đầu sang nhất thủ đô để nhuộm tóc và sửa sang “sắc đẹp”, sắm giầy và quần áo sang trọng cho đúng vai tình nhân của bà chủ tập đoàn tài chính, có vị thế khét tiếng trên thị trường chứng khoán Paris. Tôi khoác tay nàng bước vào phòng khánh tiết uy nghiêm, trang trọng của chính quyền giống như các nhân vật đàn ông của Banzac khoác tay nàng quận chúa Paris bước vào lễ hội cung đình của vua chúa phương Tây thế kỷ XVIII. Ông Tâm, người chồng hờ của bà chủ khách sạn Hoàng Long chạy lại xun xoe bắt tay tôi và nàng, dẫn đi giới thiệu chúng tôi với từng vị lãnh đạo cao cấp của mình. Con mắt ông ta đáo điên, thái độ khúm núm trước các bề trên và cả trước núi tiền của Mỹ Linh sẽ bỏ vào hạng mục đầu tư quan trọng nhất nhì thủ đô những năm đầu thiên niên kỷ mới. Nàng ghé tai tôi thì thầm: “Thằng khốn cũng đang đóng kịch, nhưng là vở kịch mạt hạng của quân trộm cướp khoác áo mũ quan tri phụ mẫu”. Nàng tiếp xúc với giới quan chức rất sành điệu, lịch sự theo thông lệ ngoại giao quốc tế. Tôi có cảm giác nàng đủ tầm làm một chính khách cỡ lớn. Nàng được các vị quan chức nồng nhiệt chúc mừng, hoan nghênh tấm thịnh tình của một Việt kiều yêu nước về đầu tư, góp phần hiện đại hóa quê hương, đất nước. Những ngày tiếp theo là liên tục các cuộc hội đàm, thương thuyết giữa nàng với công ty Thế Kỷ Mới của anh chàng Tuấn đen, con trai ông Tâm. Tuấn đen thực ra chỉ là cái bung xung, mọi cuộc thậm thụt đàm phán kín, thỏa thuận ngầm giữa đôi bên chỉ có nàng và ông Tâm, thêm tôi đóng vai nhân tình của nàng làm nhân chứng, kiêm thư ký ghi biên bản. Nom bộ dạng bà chủ khách sạn mấy ngày này thật đáng thương. Bà hậm hực ghen tức, mặt nặng như chì mà không dám nói. Với ông Tâm, bà phải dằn lòng chịu nhẫn nhục đã đi một nhẽ, nhưng còn với tôi - con mồi ái tình, có lẽ bà lo công phu giăng bẫy của mình sẽ thành xôi hỏng bỏng không chăng? Anh bạn nhà báo được bà bắn tin, vội tìm tôi bông phèng nhắc khéo: “Này bố trẻ, đã kịp lẳng cho bà chủ được mấy quả tình rồi hay sao mà để người ta đang lồng lên ghen bóng ghen gió kia kìa?” Tôi ớ người một lúc rồi cười và bảo: “Yên tâm đi, không có chuyện ấy đâu, ông bạn thân mến, tôi vẫn là tôi cơ mà.” Thật lòng lúc này tôi chỉ quan tâm đến nội dung các văn bản thỏa thuận giữa nàng và cha con ông Tâm trong vỏ bọc công ty Thế Kỷ Mới. Hóa ra đôi bên đã từng có nhiều lần tiếp xúc, bàn thảo tại Paris từ hơn một năm nay. Những lần ấy chỉ có Tuấn đen và Ái Vinh ký kết, nhưng ngay từ đầu, nàng đã phái người sang Việt Nam điều tra kỹ về ông chủ thật sự của công ty Thế Kỷ Mới. Đọc đi đọc lại chồng hồ sơ dự án đầu tư, tôi giật mình lo cho nàng, càng ghê sợ con người ông Tâm. Một kế hoạch cướp đất của nông dân ngoại thành, đem lại siêu lợi nhuận cho cả hai phía liên doanh đã được hoạch định từ Paris và đang cụ thể hóa trong mật đàm ở Hà Nội. Giấy trắng mực đen ghi rõ, diện tích thật sự dùng cho dự án khu du lịch sinh thái chỉ có 15 Ha, họ làm thủ tục xin cấp đất 20 Ha. Phía công ty Thế Kỷ Mới có trách nhiệm lo mọi thủ tục cấp đất, còn tập đoàn tài chính Việt Hùng Linh của nàng tạm ứng trước cho ông Tâm 5 triệu USD gọi là tiền lo thủ tục và đền bù cho nông dân để giải phóng mặt bằng. Tiếp đó, nàng lại phải đầu tư thêm 2 triệu USD cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Sau khi hoàn tất đầu tư giai đọan một, hai bên thông qua công ty Thế Kỷ Mới sẽ trích ra 5 Ha chia lô bán đất kiếm lời trước, rồi mới tiếp tục góp vốn đầu tư khu du lịch sinh thái. Tiền đầu tư giai đọan hai dự kiến là 50 triệu USD và theo tỷ lệ góp vốn công ty Thế Kỷ Mới 51%, còn nàng 49%. Những con số biết nói trong văn bản khái toán giai đọan một làm tôi bàng hoàng sởn gai ốc. Tôi xót xa thương những người nông dân khốn khổ và lo sợ cho nàng. Thương vì người ta cướp trắng trợn 20 Ha đất của nông dân ngoại thành, không phải đền bù đất lớn như ở nội thành, chỉ phải đền bù hoa màu trên đất thổ canh với giá rẻ mạt 95 ngàn đồng một mét vuông, cộng lại là 19 tỷ đồng, tương đương với hơn 1 triệu USD. Sẽ có bao nhiêu hộ nông dân mất ruộng và mỗi hộ, khi nghề nghiệp không có, sẽ sống ra sao với khoản tiền ngót nghét một trăm triệu đồng đền bù làm vốn sinh nhai. Thế nhưng kết thúc giai đọan một, nơi ấy sẽ thành khu đô thị và du lịch mới, chỉ cần chia lô bán đứt đi 5 Ha đất dư thừa của dự án, nàng và những kẻ tham gia liên doanh khái toán với nhau có thể thu về 150 triệu USD. Cứ cho rằng, họ thật lòng đầu tư hết 50 triệu USD cho giai đọan hai, vẫn có thể chia nhau bỏ túi 100 triệu USD. Chao ôi! Một nguồn lợi khổng lồ nhầy nhụa máu và nước mắt đồng loại mà nàng cũng đang tâm đặt bút ký ư?... Nhưng cái món lợi này nàng cũng đâu dễ nuốt trôi bởi ông Tâm đang cầm dao đằng chuôi, còn nàng hớ hênh cầm dao đằng lưỡi! Nàng mù quáng tạm ứng cho ông ta 5 triệu USD, vậy còn gần 4 triệu USD kia sẽ vào túi của những ai và ông ta chắc cũng sẽ cấu về phần mình không ít trong số đó. Lại nữa, sau khi đầu tư tiếp 2 triệu USD để kết thúc giai đọan một, nàng phải thông qua công ty Thế Kỷ Mới, chia lô bán đất dư thừa liệu có an toàn? Con người đã từng lừa nàng ngày xưa kia có gì đảm bảo sẽ không lừa tiếp nàng lần thứ hai, khi ông ta cầm dao đằng chuôi, có bọc “vỏ thép quyền lực”?...Tôi vô cùng oán giận và lo cho nàng, nhiều lần thiết tha can gián, nhưng nàng vẫn tỉnh bơ, cười rồi nói nhỏ vào tai tôi: “Anh yêu của em, hãy đợi đấy, vai kịch của anh chưa kết thúc.” Lời nói nhẹ như lông hồng và ánh mắt tình tứ của nàng khiến tôi cứ ngờ ngợ một điều gì hệ trọng sắp xảy ra. Hôm đàm phán cuối cùng, nàng chọn địa điểm rất xa trung tâm thành phố, trong một căn phòng kín đáo và sang trọng tại khách sạn cấp sao của sân “gôn” Chí Linh. Tôi xách theo chiếc va ly đựng 5 triệu USD tiền mặt lên xe, cùng nàng đi đến điểm hẹn, lòng ngập ngừng bối rối, hoang mang cực độ. Đâu phải vì hám tiền công nàng thuê mà tôi tham gia vào cuộc chơi đầy tội lỗi. Tôi muốn đi đến tận cùng của cuộc chơi để khám phá, khi cần sẽ lên tiếng bằng ngòi bút trước công luận vẫn chưa muộn. Nhưng tận thẳm sâu, tôi vẫn tin nàng, hy vọng ở những điều tốt đẹp sẽ xảy ra… Trong phòng mật đàm chỉ có bốn người - tôi, nàng và cha con ông Tâm. Lúc này nàng mới đặt hết những câu hỏi về khả năng rủi ro đầu tư của mình và tính khả thi về việc chia lô bán đất. Cha con ông Tâm hau háu nhìn chiếc va ly, thay nhau say sưa giải trình từng khỏan tiền bồi thường cho nông dân, lo lót cho những ai, cơ quan nào và cả kế hoạch phù phép hoàn hảo đối với 5 Ha chia lô bán đất. Tôi thực sự ù tai, chóng mặt trước những con người đáng sợ và ghê tởm ấy. Khi tôi run run mở va ly đầy tiền, trao cho Tuấn đen, trước sự chứng kiến của nàng và ông Tâm thì bỗng một tốp an ninh mặc thường phục xông vào. Họ ung dung tháo gỡ hệ thống camera, máy ghi âm do nàng thuê người bí mật cài đặt ở bốn góc phòng, xích tay ông Tâm và Tuấn đen giải đi. Nàng bình tĩnh trao thêm cho bên an ninh toàn bộ hồ sơ các cuộc đàm phán làm bằng chứng buộc tội những kẻ tham nhũng, lừa đảo. Tôi sững người kinh ngạc trước màn kịch tuyệt vời của cuộc chơi, hiểu ra tất cả. Họ đi xa rồi, nàng gục đầu vào vai tôi bật khóc. Những gịot lệ mừng vui trả được thù xưa của nàng và của nỗi đau đời trong tôi cùng trào ra, ướt nhòe vai áo của nhau. Mỹ Linh ơi! Tôi đã hết giận và hiểu em hơn. Tôi thầm reo lên trong lòng, hả hê, sung sướng…
12-  Có lẽ tôi đã yêu nàng đến si mê thật rồi, không gỡ ra được. Với bà chủ khách sạn gần đây luôn cập kè, mời gọi, quyến rũ, kể cả hờn mát sao tôi vẫn thấy dửng dưng, nhưng với nàng thì tôi không thể ghìm lòng thêm phút giây nào nữa. Ở tuổi ngoài năm mươi, đầu hai thứ tóc mà cảm giác yêu đương nồng nhiệt thời trai trẻ chợt trỗi dậy trong cõi lòng cô quạnh của tôi. Một ngày không nhìn thấy Mỹ Linh, nghe giọng nói của nàng tôi đã thấy cồn cào, khắc khoải mong đợi, đứng ngồi không yên. Nhân viên tiếp tân đặt chỗ cho chuyến bay cất cánh lúc mười chín giờ hôm nay mà sao suốt đêm qua không thấy nàng về nhận vé, chuẩn bị hành lý. Bà chủ khách sạn cũng bỗng nhiên đi biệt, không nhìn thấy mặt để tôi hỏi cho ra nhẽ. Gọi điện đi các nơi nàng thường giao tiếp đều bặt tin. Tôi đã thức trắng đêm, nín thở chờ nghe một tiếng chuông điện thoại của nàng. Hôm nay là ngày cuối cùng và đêm qua tôi khao khát biết bao một giây phút bên nàng để rồi xa mãi. Chiều qua, nàng dặn tiếp tân sẽ ăn tiệc tối ở nhà thuyền Hồ Tây, chắc về muộn một chút. Nàng nói với tiếp tân, nhưng mắt lại hướng về phía tôi như một lời bắn tin rồi khoác tay Diệu Loan ra xe. Đêm xuống, con tim tôi thấp thỏm chờ đợi và cả thằng đàn ông trong tôi cũng hừng hực lửa yêu như bị thiêu đốt. Tôi lên xuống cầu thang, ra ngóng vào trông nơi đầu phố không biết bao nhiêu lần. Chỉ khi hoắng lên gọi điện, bổ đi tìm kiếm khắp nơi, tôi mới chợt nhận ra mình ngu ngốc, quên hỏi địa chỉ hay điện thoại của Diệu Loan. Nếu nàng ngủ lại chỗ Diệu Loan, chẳng lẽ không gọi điện về khách sạn? Liệu có  xảy ra điều gì bất trắc? Nàng mở tiệc chia tay với đám bạn giang hồ ngày xưa, biết đâu có đứa nổi cơn thú tính làm bậy? Hay nàng đã nghĩ lại, sợ thêm một lần quá đà từ cả hai phía tôi và nàng? Không lẽ khi nàng biết sợ thì cái sự muốn trong tôi lại nổi loạn, bóp vụn mọi nỗi sợ hãi, kiêng dè!…
Cuối cùng, vào quãng quá trưa thì Mỹ Linh xuất hiện. Gương mặt nàng buồn rười rượi. Tôi hớn hở lao ra đón, chẳng cần giữ ý, dìu nàng lên phòng.
- Em đi đâu suốt đêm qua và nửa ngày hôm nay, hở Mỹ Linh? – Tôi hỏi.
- Buồn chán và thất vọng lắm, anh ạ!
- Nhưng vì sao?... Giời ơi, em nói đi!...
- Cái bữa tiệc chết tiệt làm em mất toi gần nghìn đô chỉ để chuốc thêm tủi hổ, nhục nhã và thất vọng. Nhưng như thế cũng may, nhờ nó mà em tỉnh ngộ, thay đổi toàn bộ kế hoạch đầu tư cho mỏ vàng ở Thanh Hóa.
- Anh không đến dự, nhưng nghe em nói đã tập hợp cả mấy trăm người trong đám giang hồ cũ. Họ dù đã hoàn lương, nhưng bản chất vô chính phủ và sự mỏng học cũng đủ làm náo loạn một vùng. Sao em sơ ý thế?
- Em tin và giao việc tổ chức bữa tiệc cho Diệu Loan, còn nó lại ngờ nghệch tin một thằng đội trưởng đòi nợ thuê, “lính” cũ của Sếnh Tàu ngày xưa, nay đang giàu phất lên nhờ làm bảo kê cho các vũ trường nên mới sinh chuyện. Chúng nó bao cả nhà hàng từ mười chín giờ đến hai mươi bốn giờ đêm. Một ban nhạc sống, đầu tóc mặt mày gớm ghiếc, như móc ở lỗ cống nào ra không biết. Nhân viên phục vụ cũng bị thằng giời đánh nào yêu cầu nam mặc quần áo bộ đội, nữ mặc bò cả cây, đeo kính râm gọng to, hệt như trang phục đám lính bụi đời của em ngày xưa… Đại loại cách bài trí của bữa tiệc lặp lại những trận quậy phá ngày xưa đổ chùa vỡ quán của tụi em. Lâu rồi, giờ thấy lại cảnh ấy, em buồn muốn khóc mà họ thì nhơn nhơn tự đắc, không chút xấu hổ, kể cho nhau oang oang những chiến tích một thời tội lỗi, để khoe sự tài giỏi hay trung thành đến mù quáng với một con đàn bà tên Linh xa lạ độc ác ngày xưa. Thậm chí có đứa còn ngây thơ nghĩ rằng em sang Pháp làm trùm mafia bên đó. Chúng có biết đâu nhờ một sự ngẫu nhiên và hồng phúc của gia tộc, được anh Hùng, người anh ruột mà em phải xa từ bé, tin tưởng giao cho quản lý sản nghiệp mấy đời gây dựng của ông nội, em đã giã từ quá khứ để làm một con người cho đúng nghĩa con người.
Tôi chợt nhớ có lần Mỹ Linh đã kể về người anh trai, được ông bà nội đưa đi Sài Gòn từ bé để ép bố mẹ nàng di cư vào Nam. Nàng đi Pháp theo sự cầu khẩn của anh ruột là giáo sư - viện sĩ Lê Huy Hùng. Ông là con mọt sách, chỉ thừa hưởng gia tài to lớn bên nội, bên ngoại ở Pháp và Mỹ, đâu biết gì chuyện kinh doanh. Tập đoàn tài chính Việt Hùng do ông làm chủ tịch là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh vàng bạc, đá quý và có chi nhánh ngân hàng ở 15 quốc gia, trong khối nói tiếng Pháp. Từ lâu, khi ông bà nội nàng qua đời, mọi việc kinh doanh đều do bà chị dâu của nàng quán xuyến, nhưng bà đã chết ở Nam Phi vì tai nạn máy bay. Sau ngày thống nhất, ông Hùng đã nhiều lần về nước tìm kiếm em gái. Biết nàng còn đang bị tù ở trại giam Thanh Hóa, ông tìm cách nhờ đại sứ quán can thiệp để mình bảo lãnh cho em gái, thuyết phục nàng qua Pháp, nhưng nàng không chịu. Từ khi vợ chết, ông Hùng thật sự hoang mang, lúng túng, không điều khiển được kinh doanh; các con ông thì đứa mải ăn chơi, đứa đang đi du học Mỹ. Ông bay về Việt Nam, năn nỉ em gái lần nữa rồi làm thủ tục đón mẹ con nàng đi Paris. Ái Vinh bây giờ vừa làm phó tổng giám đốc, vừa học thêm lớp đại học quản trị doanh nghiệp ở trường đại học Sorbon. Mỹ Linh thay anh trai làm chủ tịch kiêm tổng giám đốc, đổi tên doanh nghiệp là Việt Hùng Linh. Đời nàng vẫn còn nhiều vận may và tôi hy vọng nàng sẽ hạnh phúc…
- Anh nghĩ gì mà ngây người ra thế? – Nàng hỏi.
- Nghĩ về em, về ông Huy Hùng và Ái Vinh con em.
- Em cũng đang nghĩ về đống tài sản kếch xù của ông bà và anh Huy Hùng giao cho mình quản lý. Em đã kịp nhận ra sai lầm, không thể đem một khoản tiền lớn đầu tư vào các việc vô tích sự. Đêm qua, em trốn anh ở nhà mẹ con Diệu Loan và đã quyết định thay đổi cơ bản dự án đầu tư vào mỏ vàng.
- Anh sợ em có hấp tấp quá không? Em đã rất công phu điều tra, khảo sát, tốn bao sức lực và tiền của cho mỏ vàng ấy, sao có thể đột ngột thay đổi sau một bữa tiệc?
- Anh còn nhớ không, những ngày đầu về Việt Nam, em đã hỏi chuyện anh rất tỉ mỉ về tình hình các mỏ vàng. Tài liệu mà anh cung cấp đều cho thấy, ở ta chỉ có mỏ nhỏ và chủ yếu la mỏ sa khoáng, rất ít mỏ vàng gốc. Quản lý các mỏ vàng theo kiểu Việt Nam và mấy liên doanh nước ngoài đã đi trước đều thất bại vì yếu tố con người. Em chợt nảy ra ý nghĩ liên tưởng đến mô hình tổ chức của các băng bụi đời. Nó khốc liệt, tàn nhẫn, nhưng lại rất hiệu quả nhờ vào tài năng, uy lực của thủ lĩnh và sự trung thành của thành viên. Nếu em tập hợp được những con người có quá khứ ấy, nay đã hoàn lương, nhưng sống trong nghèo khổ, lợi dụng uy lực của một số đại ca có máu mặt ngày trước, rồi khép họ vào một mô hình tổ chức văn minh thay thế các luật rừng, có thể sẽ thành công mà em cũng làm được việc ơn nghĩa với họ. Theo các văn bản đã ký với nhà nước Việt Nam, vốn pháp định của công ty là 12 triệu đô, so với gia sản nhà em chỉ là cái móng tay. Tiền thuê đất, thuế tài nguyên, thuế môi trường và các khoản riêng cho địa phương là một nửa, nửa còn lại là vốn lưu động do thành viên công ty đóng góp dưới dạng cổ đông, nhưng thực chất là tiền của em cho không họ. Em dự định tặng cho mỗi người 10 cổ phiếu, mỗi cổ phiếu có mệnh giá 50 đô. Bắt đầu vào công ty họ sẽ có một cuốn sổ lương in đẹp, bìa cứng phủ nilon để dùng trong 10 năm. Mức lương trong thời gian học nghề là 50 đô, bước vào sản xuất sẽ là 100 đô. Theo cơ chế khoán, nếu ai làm ra giá trị sản phẩm vượt mức khoán thì số tiền thừa ra sẽ được bổ sung vào vốn góp cổ đông của họ để chia lãi với công ty. Nếu ai chây lười không đạt mức khoán sản phẩm sẽ bị trừ vào vốn góp mà em đã cho không họ ban đầu. Khi vốn góp bị cạn dần do chây lười hoặc gian lận, giấu giếm sản phẩm không nộp thì đến lúc hết vốn, họ sẽ bị đào thải không thương tiếc, cũng không oán trách được em..
- Nếu vậy, với đám đại ca, em định sử dụng thế nào?
- Trước hết phải lựa chọn thử thách, ưng rồi em sẽ cho đi tham quan học tập ở nước ngoài, học xong có sát hạch công minh, chính xác. Một khi đã được em tin dùng, họ sẽ nhận được đãi ngộ đặc biệt. Đám đại ca này vốn có uy lực, sự trung thành, nay có thêm kiến thức nhất định công ty sẽ vào khuôn phép. Lương họ mỗi tháng là hai ngàn đô. Em sẽ cấp cho họ mỗi người một xe ôtô dưới dạng trả dần. Có xe, có tiền, có quyền và có kiến thức, họ sẽ tạo nên sức mạnh đột biến của công ty. Họ sẽ là thần giữ của cho em…
- Vì sao em vứt bỏ cái kế hoạch đã dày công nghiên cứu tỉ mỉ?
- Vì em chợt nhận ra kế hoạch ấy là bốc đồng, không tưởng. Em làm sao thay đổi được cái bản chất ăn mày, ăn cắp, ăn cướp của họ, khi xã hội bây giờ nhan nhản những thằng còn lưu manh gấp bội như cha con lão Tâm? Kế hoạch từ thiện ấy không đến nỗi làm em phải phá sản, nhưng cũng mất toi thời gian, công sức và tiền bạc. Thà rằng thương họ, em có thể cho tiền lúc khó khăn, hoạn nạn, nhưng đầu tư hợp tác thì không thể, tuyệt đối không, anh ạ!...
Tôi ôm Mỹ Linh vào lòng, mơn man lên mái tóc, nghe từng nhịp tim của nàng phập phồng nơi lồng ngực. Chỉ còn mấy giờ nữa là tôi phải xa nàng. Mỹ Linh nũng nịu dụi đầu vào ngực tôi và ngước lên chờ đợi. Bốn mắt nhìn nhau mong ngóng, nhưng lại ghìm nén chờ người kia chủ động. Lúc này không còn gì có thể ngăn tôi được nữa và tôi đã liều đánh đu với số phận, hôn lên vành môi nóng bỏng của nàng. Như chỉ chờ có vậy, nàng vươn đôi tay trần vít cổ tôi hôn đắm đuối lên môi, lên má và tôi cũng đáp lại những trận mưa nụ hôn của nàng bằng đôi bàn tay lang thang trên các vùng da thịt người đẹp. Hai đứa dìu nhau, nhích dần về phía giường. Tôi đã vượt qua mọi rào cản. Cái gì đến nó đã đến với tôi như tất cả những kẻ si mê khác trong các cuộc ngoại tình…
Mỹ Linh đưa tay xem đồng hồ. Đã mười sáu giờ, chỉ còn ba tiếng nữa máy bay cất cánh. Giây phút hạnh phúc của tôi và nàng thật ngắn ngủi, khiến cả hai bồn chồn tiếc nuối. Nàng chợt vắt tay lên trán thở dài. Bỗng nàng trườn lên người tôi, hỏi khẽ:
- Anh còn đủ sức không?
- Tôi khẽ gật đầu.- Mấy năm ly thân với vợ, tôi như cái bình nén khí, trào ra lúc nào và bao nhiêu chẳng được. Nàng nói tiếp:
- Em muốn thật chắc chắn có con với anh. Cách đây mấy ngày em qua bệnh viện quốc tế khám thử. Họ nói em còn khả năng có con….
- Nhưng em muốn vậy thêm khổ, ích gì.
- Anh chưa biết những năm thù hận đàn ông, sau mỗi lần trả thù, em lại thèm khát làm mẹ như điên, như dại. Anh đã chạy trốn khỏi em trong cái đêm ghi nhớ ấy lại khiến em càng khao khát có con với anh. Em đã mua xong khách sạn Hoàng Long để Diệu Loan kinh doanh, còn việc coi sóc văn phòng đại diện cho tập đoàn tài chính của em chắc sẽ phải nhờ cậy anh. Chúng mình phải là của nhau, anh ạ!
- Hình như em mua cái khách sạn ấy không chỉ để trả thù thằng chó đểu kia, còn muốn cứu nguy cho bà chủ cũ ?- Tôi hỏi. 
- Khách sạn trước mắt chuyển giao cho Diệu Loan quản lý. Nó sẽ biết cách làm cho khá hơn bà chủ cũ. Hơn nữa, nếu vụ cha con lão Tâm vừa xảy ra, cơ quan pháp luật họ làm tới cùng thì khách sạn của bà ta cũng khó bề yên ổn. Cuộc đời làm điếm thượng lưu của bà ta hóa ra xôi hỏng bỏng không, nghĩ cũng thương và tội  lắm! Dẫu sao đã cùng chung kiếp đàn bà với nhau, em phải nên giúp đỡ, anh ạ!
- Thế còn hạng mục đầu tư khu du lịch sinh thái ở thành phố này em có định tiếp tục không?
- Vẫn làm chứ anh, nhưng với đối tác khác và phải nghe ngóng xem thế cuộc nước mình ra sao nữa. Em đã chọn xong đối tác mới, tạm ký bản ghi nhớ, chờ thành phố có biến đổi gì tốt đẹp, cháu Ái Vinh sẽ thay em về nước, cùng anh đàm phán cụ thể và triển khai. Em là người Hà Nội, rất muốn làm gì đó cho quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình chứ. Song ngay bây giờ thì chưa thể…
- Ngần ấy việc tày đình, phức tạp sao em có thể làm trong một đêm qua và buổi sáng nay?
- Em quen rồi, vả lại có một số việc đã nằm trong tính toán chuẩn bị của em từ trước. Hiện các khu vui chơi, giải trí kết hợp với cảnh quan thiên nhiên quanh thủ đô còn rất ít, nếu biết đầu tư khai thác phục vụ khách nội địa thôi, cũng có thể vơ tiền hốt bạc không kém gì khách ngoại quốc. Có một công ty cổ phần khá lớn, uy tín cao đã nhiều lần chào mời hợp tác, nhưng em vẫn giữ bề ngoài dửng dưng, lấy cớ bận đầu tư mỏ vàng. Đó chỉ là phép ứng xử mèo vờn chuột của nhà kinh doanh. Thật ra em đã điện cho bộ phận giúp việc ở bên Pháp hoàn tất một kế hoạch chi tiết. Sáng nay, em đã làm việc và đã ký tắt với họ biên bản ghi nhận, báo cho họ sẽ mở văn phòng liên lạc ở khách sạn do Diệu Loan thay em quản lý.
- Sắp đến giờ máy bay cất cánh rồi.  – Tôi thở dài, lòng thoáng buồn.
- Ôi! Em không thể chờ được nữa… Hoàng hôn đang buông xuống. Yêu em đi anh, yêu đến tận cùng khoái lạc, cho em được trở lại làm đàn bà, sau ngần ấy năm thù hận đàn ông mà vẫn khát thèm…
Mặc cho hoàng hôn buông xuống. Mặc cho đất trời nghiêng ngả. Mặc cho thế giới nhộn nhạo, đảo điên. Mặc cho người đời ngoài kia bươn bả mưu sinh hay cắn xé nhau tranh đoạt… Tôi và nàng, chỉ có tôi và nàng quấn chặt vào nhau, dù đời có thế nào, tình yêu vẫn sẽ là mãi mãi.
Ba Vì 10/1996 -Hà Nội 03/2006
 
 
tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-14 17:26:15nguyen.bamboo>
ÂM BẢN CHIẾN TRANH
Vũ Ngọc Tiến
 
Rừng chiều lạt nắng, hầm hập oi nồng. Cơn mưa rào chợt đến, làm dịu bớt cái nóng khủng khiếp của miền tây đất Quảng. Cái thứ nắng nóng như rang khô đám lính của tiểu đoàn suốt nhiều ngày đêm lầm lũi đưa pháo lên tận ngọn núi Chảo Lớn triển khai trận địa, chờ lệnh phát hỏa, tiêu diệt cứ điểm Cà Tang, mở đường cho đại quân tiến vào giải phóng huyện lỵ Quế Sơn. Đói, khát và sức nặng của những khẩu pháo 105 ly tháo rời đã vắt kiệt sức lực từng người. Trong mưa, từ quan đến lính, tất thảy trần truồng như nhộng, thỏa thê tắm mát và uống thứ nước ngọt trời cho để quên đi những cái bụng lép kẹp đang thèm cơm, thèm sắn. Người ta khi đã cởi truồng ra rồi thì ai cũng hiền khô, hồn nhiên đến kỳ lạ. Vậy nên khi D trưởng An chạy đến bên Luận, dáng người lòng khòng, của nợ kia thì lõng thõng bên đùi, khác hẳn với D trưởng An oai nghiêm, thét ra lửa thường ngày, anh không sao nhịn được, cười đến gập người, thắt ruột. Ông vẫn thản nhiên ra lệnh, còn Luận thì cứ ngỡ ông đùa:
- Tiểu đội trinh sát của cậu mau tập hợp, có nhiệm vụ gấp.
- Lệnh gì lúc này hở thủ trưởng?
- Đài quan sát vừa báo có một tốp dân địa phương đi làm rẫy, đang trú mưa ở gốc cây, gần trận địa pháo của ta.
- Thì sao ạ!- Luận ngúng nguẩy đùa dai, còn thủ trưởng thì quắc mắt.
- Lại còn sao với giăng gì nữa. Lộ mẹ nó hết cả bây giờ chứ bỡn à. Họ có 10 người: 5 ông già, 2 thiếu nữ và 3 thanh niên. Các cậu khẩn trương bao vây, tiếp cận, một kèm một, khống chế và trói họ lại, canh giữ cho hết đêm nay, đợi ta nổ súng đánh xong cứ điểm Cà Tang thì thả cho họ về. Nhớ ôn tồn giải thích thật khéo, mình là quân giải phóng, không được làm gì vi phạm chính sách dân vận…
- Rõ!...
Luận chợt hiểu ra tính chất nghiêm trọng của sự việc. Anh nhao đi tập hợp đám lính trinh sát đang tỏa ra đùa nghịch như quỷ sứ, tán dóc với lính pháo thủ ở từng khẩu đội. Có 2 chiến sĩ bị cảm nhẹ, còn lại vừa khéo 10 người đi làm nhiệm vụ. Ai nấy chỉ mặc độc chiến quần xà lỏn, mang theo dây thừng, dao găm và súng ngắn, nom hung dữ chẳng khác gì thám báo ngụy. Tất cả khép thành vòng cung, tiến dần về phía mục tiêu. Cách chừng vài trăm mét, Luận đưa ống nhòm quan sát, quả có đúng 10 người như lời D trưởng. Họ đều ăn mặc theo lối dân tộc Cơ rông, một tộc người rất thiểu số ở miền tây Quảng Nam. Chẳng hiểu vì sao, đôi tay anh cứ run run rê ống kính nhìn ngắm kỹ 2 cô gái. Một cô cao to, vai bè, tướng đàn ông. Cô kia, anh nuốt nước bọt đánh ực, mắt đờ ra ngây ngất vì vẻ đẹp hoang dại. Dáng người thon, đôi vai để trần, ngực tròn căng, mắt nai ngơ ngác… Chợt cô gái phát hiện ra anh đang cầm ống nhòm, vội thét to:
- Thám báo  Mẽo đấy, chạy mau!
Cả tốp người nháo nhác tản ra tứ phía, chạy thục mạng. Luận ra lệnh:
- Đuổi theo. Mỗi người nhằm một đối tượng, đừng chồng chéo nhau, làm thật gọn như kế hoạch đã bàn ở nhà.
Dứt lời, Luận chồm lên lao theo hướng cô gái. Số phận xui khiến 2 cô gái tách riêng, chạy về phia bờ suối. Anh cũng kịp nhận ra người chạy cùng hướng với mình là A phó Phát. Bất giác Luận mỉm cười hiểu ra lý do, chỉ A trưởng và A phó mới có ống nhòm, thảo nào... Anh cố hết sức chạy vượt lên để giành phần chộp lấy cô gái mắt nai. Cuộc rượt đuổi trong cơn mưa rừng quyết liệt và hung bạo như con sói đói hồng hộc chồm theo chú thỏ non ướt nhoét. Nhưng khi vồ được nàng rồi thì Luận xuống sức thở gấp. Có lẽ cả tháng trời anh đói triền miên, mỗi bữa chỉ có muôi cháo loãng và hai mẩu sắn bé như ngón chân cái làm sao vật nổi cô gái sơn cước săn chắc, lại được ăn no, ngủ kỹ. Sự thèm muốn đụng chạm với da thịt đàn bà làm anh lú lẫn, quên bẵng mình còn có dao găm, súng ngắn khống chế con mồi. Lăn lộn, cào xé nhau hồi lâu thì cô gái đọat được dao găm, ngồi chồm hỗm lên bụng anh, quắc mắt, dí lưỡi thép vào cổ họng. Thế là tong đời một cách nhục nhã! Anh nghĩ vậy và thở dài chờ chết, nước mắt ứa ra, gọi khẽ hai tiếng mẹ ơi!... Hình như cô gái nhận ra giọng Bắc, thoáng ngạc nhiên,  nhưng vẫn gằn giọng hỏi:
-  “Giải phóng” à?
- Ừ, giải phóng quân, quê miền Bắc.
- Sao “giải phóng” lại đi cướp hiếp đàn bà?
- Không phải đâu. Giải phóng quân đưa pháo lên núi, sắp bắn vào cứ điểm Cà Tang để giải phóng Quế Sơn.
- Thế thì sao nữa?
- Cán bộ thấy em và mấy người kia đi làm rẫy về, đứng trú mưa sát gần trận địa, sợ bị lộ bí mật quân sự nên lệnh cho bọn anh bao vây, tạm giữ đồng bào hết đêm nay, chờ đánh trận xong sẽ thả về nhà thôi.
- Thật vậy không?
- Thật mà, thám báo Mẽo hay quốc gia làm sao biết nói giọng Bắc, tin anh đi…
- Hèn gì đàn ông mà ốm nhom, vật đàn bà cũng không nổi, sức đâu mà cướp hiếp. Rõ tội nghiệp!
- Tại tụi anh đói quá, với lại đã quen ôm đàn bà vật lộn thế này bao giờ đâu.
- Hí hí… hí…, quân mình đánh lẫn quân ta, em cũng là du kích chứ bộ…
Cô gái quăng con dao găm, cười khúc khích. Tiếng cười làm nàng rung lên, mông của nàng vì thế cứ nhay đi nhay lại trên bụng chàng trai chưa từng biết đến mồ hôi đàn bà chua mặn thế nào trong đời. Thoát cơn hiểm nghèo, giờ Luận lại được đê mê vì sung sướng. Anh nhắm nghiền con mắt, tận hưởng một thứ khoái cảm kỳ diệu. Đôi bờ mông của nàng hình như cứ trôi dần, trôi dần xuống dưới. Luận mở to mắt, bàng hoàng không tin được đó là sự thật. Lúc vật lộn, anh đâu ngờ miếng vải gai quấn trên ngực nàng đã bị bung ra, rơi mất, để lộ đôi bầu vú trắng nõn, cao vồng, núm vú đỏ hồng như một chấm son, phập phồng lên xuống theo nhịp thở. Chiếc váy người dân tộc thực ra cũng chỉ là tấm vải quấn quanh người che phần dưới, khép chờm hai mép vải ở đằng trước. Giờ nàng đang ngồi dạng chân trên bụng anh nên nó như được mở toang và người dân tộc đâu có biết dùng đồ lót. Luận nhìn thấy rõ cả một vùng cấm tam giác đang mời gọi. Bản năng giống đực làm cái của nợ trong quần xà lỏn tự do nổi lọan, bất chấp kỷ luật dân vận của D trưởng dặn dò lúc giao nhiệm vụ. Cái đầu Luận bảo đừng mà bên dưới thì … cương lên. Cô gái cũng cảm nhận được sự cương nở ấy, thoáng đỏ mặt, nhưng… thích… Nàng cười rất hồn nhiên, chống hai tay lên cỏ, từ từ cúi xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối, buông thả cho mọi sự cuồng nhiệt, đê mê diễn ra sau đó. Suốt một đêm, giữa rừng xanh kỳ bí, họ thành Êva và Adam, quấn vào nhau lăn lộn nhiều lần, quên đói, quên mệt, quên cả tiếng pháo 105 ly rầm trời bắn vào cứ điểm Cà Tang, chỉ thấy tràn trề lạc thú nơi hoang dã…                                                                   
Cái đêm vụng về, bị động tập làm đàn ông trước giờ tiểu đoàn nổ súng là những khoảnh khắc thần tiên nhất trong đời, nhưng vì hai chữ lập trường ám ảnh, buộc Luận phải cố quên nó. 33 năm thoắt qua đi, mỗi lần nhớ đến D trưởng An, nhớ đến Phát, anh phải cảm ơn số phận cho mình cái cơ hội nếu có chết như Phát cũng đã biết mùi đời. Dù đói, mệt, nhưng sức trai tuổi 20 vẫn đủ cho anh hưng phấn quá tam ba bận. Sáng dậy, biết tên cô gái là Hơ Miêng, tên một loài hoa dại của núi rừng, anh sung sướng cắn vào đùi non của nàng, đòi thêm một lần cuối, trước lúc chia tay. Chỉ cách một bờ ruộng, anh chứng kiến thằng Phát A phó không được như vậy. Nó còn mất lập trường hơn anh, úp mặt vào chỗ ấy gào lên vì sung sướng, gọi tên các thủ trưởng xem ai sướng hơn nó. Nhưng nó vừa qua trận sốt rét còn đâu sức lực, chỉ sau một lần đã nhọc phờ, trên bảo dưới không nghe, đành bất lực làm tình bằng tay, bằng lưỡi. Khổ nỗi cô gái của nó tên Hơ Ngoan mà chẳng hiền, mỗi lần bị Phát kích động nàng lại cong người rú lên những âm thanh điên dại, rồi chồm dậy đè lên người nó, dùng cái của mình nhay đi nhay lại mãi cái của Phát đang héo rũ, không sao ngóc lên được. Chuyện mất lập trường này chỉ hai thằng biết, sống để bụng, chết mang theo, hở ra là tong đời. Phát chết vì một mảnh bom B52, khi đơn vị rút khỏi huyện lỵ Quế Sơn, chuyển quân về Sơn Bình, gần ngã ba sông Thu Bồn và sông Trường. Tội nghiệp cho nó chết vào lúc 3 giờ sáng, chắc là đói lắm. Hồi chiều, đơn vị hết gạo, mỗi thằng chỉ được ăn nửa bát ngô bung vàng khè, hạt to và cứng như răng ngựa. May mà nó còn kịp được biết tý chút mùi đời. Phát chết rủi cho nó, nhưng cũng có phần may cho Luận vì cái tội mất lập trường kia chỉ còn là bí mật của riêng anh. Nói vậy thì đểu và bất nhẫn lắm lắm! Song “một miệng thì kín…”, cổ nhân đã dạy rồi. Phát là thằng bạn tốt nhất trần đời của Luận. Nó cùng học khoa lý, trường đại học Tổng Hợp Hà Nội với anh, cùng nhập ngũ một ngày. Trong tiểu đội trinh sát, nó luôn giành phần việc nặng, việc nguy hiểm thay cho Luận. Đi dã ngọai, kiếm được miếng ăn tươi nó luôn mang về dúi vào màn của anh. Ăn vụng lúc ngủ cũng nhục lắm, song ở đời khi người ta đói cũng có lúc đành chấp nhận. “Đồ ăn thì ít, chia ra tất cả cùng đói, chi bằng để một thằng no.”- Phát thường động viên bạn như vậy. Chỉ có điều tính Phát hay lô bô ba la, hứng lên nếu nó lỡ mồm khoe với thằng nào chuyện Luận với Hơ Miêng thì còn đâu cái thành tích lập trường vững vàng bấy lâu anh khôn khéo ẩn mình, được các thủ trưởng biểu dương nhiều lần. Nói như Bảo, cái thằng lính trinh sát nổi tiếng gan dạ, đa tài nhất tiểu đòan: “Hai tiếng lập trường nghe mơ hồ, trìu tượng và thối khắm nhất mày ạ! Nó là cái con C gì cơ chứ ? Ấy thế mà suốt cả một thời gian khổ, oanh liệt, nó bỗng thành thứ vũ khí hiểm độc để người ta vùi dập hay tâng bốc một con người cụ thể.”  Nạn nhân của hai chữ lập trường đau nhất cũng là Bảo. Chuyện xảy ra chẳng đáng gì phải kết tội, phê bình, kỷ luật, nhưng Luận ngày ấy đã không dám can đảm đứng ra bênh vực cho chiến sĩ trinh sát ưu tú của tiểu đội mình. Tháng 3 năm 1975, các khẩu đội pháo 105 ly của tiểu đoàn được lệnh  bao vây, khống chế sân bay Đà Nẵng và bến cảng Tiên Sa, không cho địch rút chạy an toàn. Bảo đã gan dạ chỉ huy một nhóm bám sát mục tiêu, tính toán chính xác tọa độ, giúp các khẩu đội trưởng kết toán góc độ và hướng bắn. Lẽ ra Bảo được tuyên dương anh hùng, thưởng Huân chương chiến công, không may giữa lúc ta ăn mừng chiến thắng, anh vớ được bộ quân phục thủy quân lục chiến ngụy còn mới cứng, sẵn có máy ảnh chiến lợi phẩm, anh mặc đồ của ngụy, chụp vài pô ảnh làm kỷ niệm nên bị quy tội mất lập trường, chịu án kỷ luật khá nặng. Vì thế, sau ngày thống nhất, Luận được giải ngũ tiếp tục vào đại học rồi đi làm nghiên cứu sinh ở Nga; còn Bảo vẫn ở lại đơn vị, tiếp tục đánh trận ở biên giới Tây- Nam. Điều làm cho Luận khổ tâm, thương bạn nhất là khi gặp lại Bảo ở chiến trường về, thấy anh bị thương đúng vào chỗ hiểm, mất khả năng làm thằng đàn ông. “Lính ta ra khỏi cuộc chống Mỹ, vấp phải lũ lính nhãi ranh 14- 15 tuổi của Khơ Me đỏ mà phải gọi chúng là bậc “Cụ” về chiến tranh du kích, mày ạ !”-  Bảo ôm chầm lấy bạn chua chát nói. Anh đi trinh sát bị vướng mìn, các chuyên gia y học lão luyện ở Viện 103 cũng chỉ có thể tạo hình bằng cách nối thêm vào cái ấy của anh một mẩu nhựa, không đủ thỏa mãn đàn bà nên 3 lần cưới vợ rồi, 3 lần phải ly dị. Từ lính pháo tầm xa đầy uy lực thời chiến, nay anh thành “lính pháo phòng không” thời bình.
Đêm nay sao dài gấp nghìn lần cái đêm Luận cùng Hơ Miêng ân ái bên bờ suối. Có biết bao sự việc, gương mặt của thời máu lửa cứ ẩn hiện trong đầu anh. Cuộc gặp mặt các cựu chiến binh của trung đòan tăng - pháo kết hợp ở quân khu V thời chống Mỹ có thể sẽ đảo lộn cuộc sống của Luận những năm tháng sau này. Bảo gặp anh không còn vồ vập, suồng sã như mọi lần. Cái nhìn của Bảo hướng vào anh như thôi miên, nhiều ẩn ý khó đoán ra được. Thường thì trong các cuộc gặp mặt, lúc họp chung, Bảo ngồi im re, chỉ hào hứng tán bậy, chửi tục văng mạng khi vào tiệc rượu. Lần này Bảo đến trễ, nồng nặc hơi men, mắt đỏ vằn, dắt theo một bé gái chừng 13- 14 tuổi. Hội trường khi ấy đang nghiêm trang phát kỷ niệm chương và cuốn lịch sử pháo binh khu V. Trên hàng ghế danh dự, Luận được ngồi chung với mấy vị tướng và các thủ trưởng cũ nay đã về hưu, vinh danh lão thành cách mạng. Bảo bước vào, nhìn xóay vào Luận vài giây rồi quay sang cháu bé giới thiệu:
- Xin các thủ trưởng cũ, mới và anh em chiến hữu nhìn cho rõ, đây vừa là cháu nội vừa là cháu ngọai của trung đòan ta, chính xác hơn là của tiểu đòan pháo 105 ly anh hùng.
- Nói rõ và cụ thể xen nào, Bảo ơi!- Cả hội trường nhao lên.
- Thế là đủ, cần  gì phải nói rõ. Thằng nào có con có cháu thì tự biết. Đau xót là ở chỗ tôi vừa cứu cháu Hơ Linh thóat khỏi ổ mại dâm tại thị trấn Hà Lam, thủ phủ huyện Thăng Bình. Cả bố lẫn mẹ cháu đều là giọt máu thuần chủng cách mạng của lính ta gửi lại trong trận đánh Quế Sơn năm 1972. Từ Hà Lam vào khu căn cứ của trung đòan ta chỉ có hơn 40 cây số theo quốc lộ 16E mà vợ chồng chúng nó sau 30 năm thống nhất, sống khổ như chó lợn nên cháu Hơ Linh mới ra nông nỗi này.
- Cậu lại phát biểu mất lập trường rồi, Bảo ơi ! Về chỗ ngồi đi cho hội nghị tiếp tục- Một thủ trưởng cũ ôn tồn nói.
- Ơ hay!...Thế nào là lập trường hở thủ trưởng? Nó là cái Đ gì mà làm khổ tôi đến mức bây giờ cái C cũng chẳng còn để lưu truyền nòi giống tổ tiên dòng họ? Sống thật với bản năng tính người, nói ra những sự khốn nạn là mất lập trường ư ? Này Luận! Cậu đang ngồi hàng ghế danh dự vì cậu đã lên quan, làm thứ trưởng một bộ quan trọng, hãy trả lời đi.
 Luận cố tránh ánh mắt nhìn như moi tim, móc óc của Bảo. Anh xúc động rưng rưng, đứng dậy, bước khỏi hàng ghế danh dự, lại gần bạn, dìu Bảo về chỗ ngồi ở cuối hội trường. Thật lòng anh không muốn về lại chỗ cũ, nhưng ngồi gần Bảo và Hơ Linh lúc này thì anh không dám. Khỏi cần Bảo giới thiệu, chỉ mới thoáng nhìn cô bé bước vào hội trường, anh đã nhận ra nét quen quen. Chẳng lẽ anh đã có con gái với Hơ Miêng. Chẳng lẽ Phát và Hơ Ngoan  đêm ấy chỉ đủ sức một lần hoan lạc mà lại kịp có con trai với nhau. Chẳng lẽ mới 33 năm mà số phận đã ghép con anh, con Phát thành vợ chồng, sinh ra bé Hơ Linh. Trời ơi! Thật kỳ diệu và cũng thật khủng khiếp. Liệu Bảo có nhầm lẫn không và nếu đúng thì sẽ phải xử sự ra sao đây? Luận biết, từ ngày xuất ngũ, Bảo về quê Bát Tràng theo nghề ông cha, mở lò gốm mỹ nghệ. Mười năm lại đây, doanh nghiệp của anh phát đạt, nổi tiếng về nhiều sản phẩm xuất khẩu. Năm nào, đến dịp 30 tháng 4, anh đều về thăm lại chiến trường xưa, tặng địa phương vài chục triệu đồng. Sao Bảo không hề kể gì với Luận về Hơ Miêng và Hơ Ngoan…
 
Luận tìm về Bát Tràng không làm Bảo ngạc nhiên. Anh nắm tay bạn, giọng lanh tanh:
- Về rồi hả? Tao biết sớm muộn gì mày cũng về tìm tao hỏi chuyện. Về sớm thế này là tốt. Nhưng sao lại đi xe máy, không dùng ô tô Thứ trưởng đưa vợ con mày đi cùng ? Sợ hả ?
- Không, sợ thì không, hoang mang tí chút thì có.
- Sợ vợ nổi tam bành còn có lý, chứ hoang mang vì danh dự Thứ trưởng làm cái Đ gì cho tổn thọ.
- Không… Tao chỉ hoang mang vì liệu mày có nhầm không và cái chuyện tao với Phát làm đêm ấy mày biết từ bao giờ?
Bảo đấm nhẹ vào lưng Luận cười xả láng:
- Có thể mày không tin, nhưng tao biết tỏng mọi chuyện ngay từ đầu.
- Và mày im lặng giữ kín suốt những năm ở chiến trường ?
- Tố giác chúng mày ư, tao sẽ không bằng con chó ghẻ, bởi tao cũng thèm được như thế. Tao thấy hai thằng có ống nhòm chạy về một phía là  đoán ra lý do, lính trinh sát rất nhậy cảm. Song phải làm nhiệm vụ trước đã. Tao đuổi theo một thằng thanh niên loáng cái là chộp được. Ngỡ tao là lính công hòa, tay dao, tay súng như sắp làm thịt mình, nó lạy như tế sao, thú nhận mình là du kích, khai ông ổng từng trận địa pháo để được tha mạng. Điên tiết, tao tống vào mõm nó mấy quả đấm thôi sơn, trói ghì vào gốc cây, chẳng thèm giải thích nữa. Xong xuôi, tao lộn trở lại hướng bờ suối. Giời ơi là giời ! Nhìn chúng mày làm tình với hai em giữa nơi hoang dã tao thèm rỏ nước dãi. Người tao như phát cuồng lên. Trong đêm tối, tao tưởng tượng ra từng động tác của chúng mày và khao khát. Nhưng nếu tao xông vào sẽ làm chúng mày mất hứng, đòi mần chung thì tao hóa thành đồ xúc vật…
- Vậy mà bấy lâu tao cứ ngỡ Phát chết rồi thì chuyện này của tao cũng chôn theo nó. Mày là ân nhân của tao, không biết lấy gì báo đáp.
- Không hẳn thế. Nếu tao tố giác, mày bị kỷ luật, có thể sẽ biên chế sang địa phương quân thì Hơ Miêng sẽ được có chồng, đâu đến nỗi khổ nhục về sau.
- Tại mày không cho tao biết sớm- Luận thở dài, mắt rớm lệ.
- Đừng quá buồn, tao cũng mới biết chuyện đời của Hơ Miêng, Hơ Ngoan thôi.
- Mày về thăm khu căn cứ thường xuyên đã 10 năm cơ mà?
- Nhưng chưa từng gặp hai nàng.
- Sao thế?
- Họ sống biệt lập trong rừng, bị tách biệt khỏi cộng đồng. Cái thằng du kích chết dấp, lạy tao như tế sao ấy từ lâu đã mê Hơ Miêng. Sau năm 1972, Quế Sơn giải phóng, nó được làm Chủ tịch xã. Biết Hơ Miêng có thai nó vẫn lẵng nhẵng chạy theo đòi cưới, bị nàng từ chối. Ăn không được thì đạp đổ, nó kết tội Hơ Miêng và Hơ Ngoan mất lập trường, ngủ với lính cộng hòa nên khai trừ khỏi Đảng và du kích, đầy họ vào sống trong rừng. Hai đứa trẻ lớn lên trong chiếc lán nhỏ bé giữa rừng, bên hai bà mẹ cô độc nên chúng thành vợ chồng rất sớm cũng là lẽ tự nhiên. Hơ Linh, cháu ngọai của mày ra đời trong hoàn cảnh trớ trêu đó. Một gia đình ba đời tủi khổ vì ma ám lập trường, thì mình tao mất cái con C vì nó có là gì giữa cuộc đời này..
- Thằng Chủ tịch xã chó đểu, tao muốn băm vằm nó - Luận nghiến răng rít lên phẫn nộ.
- Thằng ấy đi tù vì tham ô đồ cứu tế đồng bào bị lũ lụt từ lâu rồi, không đợi mày phải ra tay. Giá như trước lúc ra Bắc, mày không sợ thứ ma ám lập trường, đi tìm Hơ Miêng!
- Mày bảo tao bây giờ phải làm gì?
- Cuối năm ngoái, tao vào khánh thành trường tiểu học do mình bỏ tiền toàn bộ ra giúp xã xây dựng, nghe nói có một cháu học sinh lớp 5 bỏ học, đi hoang, gia đình và nhà trường tìm kiếm gần một năm chưa thấy. Nghe chuyện về hòan cảnh Hơ Linh tao xúc động, đánh xe vào rừng tìm gặp bố mẹ nó, hóa ra số trời run rủi lại gặp cả Hơ Miêng và Hơ Ngoan. Giờ thì họ ổn rồi. Tao đã nhờ bạn bè tìm được Hơ Linh, xây  một ngôi nhà 2 tầng ở thị trấn huyện làm cửa hàng cho họ kiếm sống. Mày chỉ cần đưa vợ con vào gặp họ nhận mặt con gái, con rể với cháu Hơ Linh là đủ.
- Nhưng tao muốn làm hơn thế.
- Cái đó tùy mày, nhưng đừng miễn cưỡng mà đắc tội mất “lập trường” với vợ con không biết chừng… Mày biết không, khi thằng Chủ tịch xã tuyên bố kỷ luật, hai nàng Hơ Miêng, Hơ Ngoan cùng nói: “Chúng tao theo cách mạng là thật cái bụng, đâu có lươn lẹo như mày. Chỉ có cái L của chúng tao là không biết lập trường của tổ chức tròn méo thế nào thôi. Ra tổ chức thì ra, vào rừng thì vào, chúng tao Đ sợ, chúng tao đi làm một kiếp người”. Tao nghe họ kể như nghe lời một triết gia vĩ đại. Cái sự thần thánh của cuộc chiến tranh giành độc lập, sách báo viết đã nhiều, đọc lên cũng sướng cái lỗ tai. Nhưng đó là dương bản của chiến tranh, lũ nhà văn, nhà báo mặc sức tô vẽ muôn hồng nghìn tía, tao Đ cần cái dương bản ấy. Cái phầm âm bản của chiến tranh chỉ có hai màu tối sáng, những thằng lính như tao với mày gậm nhấm đến hết đời. Chuyện của mày với Hơ miêng chỉ là mảnh vụn rất nhỏ của âm bản khổng lồ mà mấy mươi năm gậm đã hết đâu…                  .
Chia tay Bảo ra về, lòng Luận rối bời, the thắt. Anh phóng xe máy như điên, mặc cho số phận may rủi có thể sẽ ném thân xác anh vào gầm ô tô, càng hay, cho quên đi tất cả. Bảo nói, đã thắp nhang khấn vái, xin với Phát rồi, còn Luận. Liệu anh có thể nghe theo lời bạn, chấp nhận với số phận an bài, đừng phá vỡ tổ ấm gia đình đang hạnh phúc. Bảo muốn anh chỉ đưa vợ con vào Quế Sơn gặp mặt, nhận người rồi nhường hai bà Hơ Miêng và Hơ Ngoan làm vợ nghĩa tình để Bảo có con, có cháu như bao người bình thường khác. Đến con C của Bảo cũng bị chiến tranh tiện đứt mất thì lời đề nghị ấy là chân thành, hợp lý chứ đâu phải vì thương hại cho hoàn cảnh éo le của Luận. Nhưng anh vẫn thấy không thể… Anh muốn làm một thằng người cho đáng mặt người, sao đời lại xui khiến anh phải hành xử không hơn gì một con vật?... Luận không về nhà. Anh lang thang khắp Hà Nội, rồi tìm một khách sạn yên tĩnh ở ngoại ô trăn trở với điều thỉnh cầu của bạn…
Hà Nội 05/2005
(KẾT THÚC TOPIC)
tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0