Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chùm truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến 🔒

7 trả lời, 1.179 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-11 16:39:50nguyen.bamboo>
HUYỀN THOẠI NÚI MẶT QUỶ
Vũ Ngọc Tiến
1- Đêm tháng tư oi nồng và lặng gió. Mùi cá khô và nước mắm bốc lên, đậm đặc không gian. Vầng trăng lưỡi liềm lúc ẩn, lúc hiện sau vạt mây xám trôi lang thang trên bầu trời như tà áo rách của người hành khất. Sóng biển ì oạp vỗ đều vào bãi đá cuội bám đầy rêu mốc và những xác hà, xác hến sắc lạnh như dao, sẵn sàng cứa đứt da thịt mọi sinh vật nào đụng chạm vào nó. Ngọn núi Linh Mẫu phía Tây thị xã sừng sững nổi lên cô độc giữa bao la đồng ruộng như cái nhà mồ khổng lồ. Xóm làng chìm trong giấc ngủ, chỉ nghe tiếng đàn chuột “chít chít” gọi nhau đi ăn từng đàn, từng lũ, hằng hà sa số là chuột. Suốt mấy tháng liền, đội quân chuột từ đâu kéo đến vùng này tàn phá ruộng nương, gây bệnh dịch hạch, gieo cái chết kinh hoàng cho dân chúng. Quan phủ đã gửi trát về khắp các tổng, huyện ra lệnh cho các binh sĩ và toàn dân diệt chuột mà không xuể. Hình như càng diệt, lũ chuột càng sinh sôi nảy nở, đàn đàn lũ lũ, nhung nhúc khắp làng trên xóm dưới, trong vườn ngoài ruộng.
  Trong nhà ông Bá hộ Tùng mọi người vẫn khêu to bấc đèn, hồi hộp thức đợi bà Bá hộ đang nằm trở dạ. Tiếng rên la đau đớn, quằn quại của bà Bá hộ lẫn trong tiếng chuột kêu “chít chít” ở ngách tường, trên sàn nhà, dưới gầm giường và cả ngoài sân cây kiểng. Ông Bá hộ Tùng ngồi thừ người trên chiếc tràng kỷ, ngước nhìn lên bàn thờ tổ đăm chiêu suy nghĩ. Hạn hán, mất mùa, lại thêm dịch chuột từ trên trời rơi xuống khiến vùng quê điêu tàn, xơ xác. Vợ ông lại chuyển dạ nhằm vào giờ Hợi, tháng Tỵ, năm Tý là điềm gì vậy? Là người có chút Nho học, hiểu kinh dịch, ông gọi người nhà lấy chiếc bát sứ Giang Tây và ba đồng trinh lên cho ông lầm rầm khấn trời đất, gieo quẻ…
Một ngôi sao từ phía biển lóe sáng lên to bằng cái đấu, rơi về phía núi  Linh Mẫu rồi tan biến vào trong đêm tối. Đàn dơi trong hang núi Linh Mẫu rít lên những tiếng thất thanh, rào rào bay vào vườn cây nhà Bá hộ Tùng. Những cánh dơi núi xoè to như chiếc quạt nan, chờn vờn, chấp chới trên ngọn cây xoài, cây mít. Đàn chó ngao thấy động chạy ra ngoài vườn ngửa cổ lên trời sủa vang, làm náo động cả xóm làng. Vừa lúc đó trong buồng cất lên tiếng khóc chào đời của cậu con trai ông Bá hộ Tùng...
2- Đó là năm Tý hai mươi bốn của thế kỷ XX. Chuyện xảy ra cách đây hơn bảy mươi năm. Cậu con trai ông Bá hộ Tùng nay đã thành chính khách lưu vong, sống trong một toà biệt thự lộng lẫy ở đảo quốc xa quê hàng vạn dặm. Tướng quân Huỳnh Bá Vương ngồi bệ vệ trên chiếc ghế cổ đời Minh, hai bên tay ngai chiếc ghế đều khảm rồng ở đầu. Râu tóc ông bạc trắng. Khuôn mặt vuông vức, tai to, trán rộng, da đỏ hồng... Nom ông đường vệ uy nghiêm, chỉ tiếc đôi mắt một mí, cái miệng quả quýt làm giảm bớt những nét quý tướng và vệt tối trên ấn đường như phảng phất bóng mây tội lỗi của quá khứ. Cô hầu gái người bản địa xúng xính trong bộ áo sường sám bằng tuyết nhung mầu nâu đen, bưng tách trà sâm, nhẹ nhàng đặt lên bàn mời ông rồi khép nép đứng ra sau ghế chờ lệnh. Tướng quân họ Huỳnh nhấp một ngụm trà, đưa tay khoát nhẹ cho cô hầu gái không cần phải đấm lưng, xoa bóp. Ông đang đắm chìm trong dòng hoài niệm về thủa ấu thơ ở quê nhà xa tít bên bờ biển Đông. Làm người lúc về già ai chẳng có giây phút nhớ về mảnh đất chôn nhau, cắt rốn và năm tháng tuổi thơ bay bổng theo cánh diều hay ngụp lặn dưới dòng sông, eo biển. Câu chuyện tâm tình giữa ông Bá hộ Tùng với bà vợ sau đêm sinh nở, theo lời kể của mẹ ông lại hiện về rõ nét như đoạn phim trên màn hình của chiếc ti vi màu kê ở góc phòng.
  Ông Bá hộ Tùng đẩy cửa buồng, rón rén đi từng bước, vén màn ngồi bên mép giường âu yếm hỏi vợ:
- Mình có khoẻ không? đã ăn uống gì chưa?
- Tôi khoẻ rồi. Ơn Trời, nhờ Phật cho chúng mình một thằng con trai bụ bẫm. Mình xem này, tóc cu cậu dài và đen nhánh.
- Bà khoẻ là tôi mừng. Thằng bé này vận số có nhiều điều lạ lắm!
- Sao thế hả mình?
- Đêm qua, lúc mình vừa sinh thì trời đổ mưa như trút nước, kéo dài đến sáng. Tôi nghe dân làng kháo nhau mưa làm trôi lở đất cát trên sườn núi Linh Mẫu, lộ ra hòn đá có hình mặt quỷ dữ trông ra bờ biển. Đàn chuột quỷ sứ lâu nay phá phách bỗng nhiên biến đi đâu sạch. Hình như tinh tướng của lũ chuột nhập hết vào mỏm đá quỷ trên núi, ám hại dân sứ này còn dài dài.
- Nó mọc lên ở chỗ nào, hở mình?
- Ở ngay phiến đá nhẵn lỳ mà tôi với mình thường hay ngồi lúc mới quen nhau ấy. Chỗ mình ngồi bây giờ thành đỉnh đầu của mỏm đá mặt quỷ.
- Mình nom thấy nó có dữ tợn không?
- Ghê lắm mình ạ! Hai hốc mắt sâu hoắm. Mặt sần sùi trốc lở. Cái hàm đười ươi nhe răng nhọn hoắt như muốn nhai tươi nuốt sống mọi sinh linh trên mặt dất.    
 Bà bá hộ thở dài ngước nhìn lên đỉnh màn. Đôi dòng lệ chảy tràn xuống gối. Đứa bé bên cạnh ọ oẹ đòi ăn. Bà xoay nghiêng người, vạch vú cho con bú. Miệng bà bất giác bật lên câu  hát ru của những người dân xa xứ lang thang. Lời hát nghe ai oán, não lòng:
Ầu ơ… một kiếp con người
Nợ nần kiếp trước, luân hồi trả vay
Biết thân lăn lóc đọa đầy
Thà làm hạt bụi chân mây cuối trời…
Ông Bá hộ Tùng nhìn đứa trẻ háu ăn, bú tòm tọp vào núm vú mẹ, lòng bồi hồi nhớ lại quẻ bói dịch hồi đêm ông đã xem. Thằng bé này mai sau sẽ làm nên những chuyện động trời. Trai thời loạn, gái thời bình. Vận số dân nước mình sẽ trải qua một thời tao loạn, núi xương sông máu. Theo cách tính của Chu dịch thì khoảng chẵn ba con giáp nữa, vào năm Tý sáu mươi, lúc thằng bé 36 tuổi sẽ bắt đầu đại loạn. Cung nô bộc của nó có một vì sao lạ không rõ hình tích, lúc sáng lúc mờ. Cái điềm đàn dơi núi bay từ hang đá trong núi Linh Mẫu vào vườn soài là ứng với thằng bạn đồng tuổi Tý sẽ cùng nó phất lên vào năm Canh Tý sáu mươi. Một đứa làm tướng dưới đất, một đứa làm tướng trên trời. Hai đứa cùng học một lớp ở trường võ bị vào năm Mậu Tý bốn mười tám và thân thiết với nhau từ đó. Chúng sẽ thành cặp bài trùng dựa vào nhau để thăng tiến, nhưng luôn gầm ghè muốn làm thịt lẫn nhau. Trời sinh ra một đứa thâm trầm, nhiều mưu mẹo kín đáo, còn một đứa ngông nghênh bốc đồng. Thằng bạn kia có lúc hớ hênh làm cái bung sung cho thằng bé nhà mình giật dây phát ngôn với bàn dân thiên hạ, song không dễ gì kiềm chế nó. Một con chuột đồng, một con dơi núi đua nhau tranh bá đồ vương giữa thời tao loạn...
   3- Người quản gia bước vào, nhắc tướng quân Huỳnh Bá Vương đã đến giờ đi tản bộ và tập khí công ngoài hoa viên biệt thự. Ông ta cầm chiếc ba toong khảm đầu rồng, có hai viên đá hồng ngọc ở mắt, kính cẩn đưa cho chủ nhân. Tướng quân họ Huỳnh gật đầu mỉm cười nhìn viên quản gia trung thành. Ông ta là người gốc quê ở chân núi Linh Mẫu. Năm Tý sáu mươi sảy ra chính biến, lúc đó tướng quân họ Huỳnh mới đeo lon Trung tá, nhờ có công phò giúp Tổng thống dẹp loạn nên được vượt cấp vinh thăng Thiếu tướng. Ba năm sau đó cũng chính tướng quân họ Huỳnh lại ngả theo phe đảo chính bao vây dinh Tổng thống để người bạn thân là tướng không quân Nguyễn Đại Long ném bom sát hại anh em Tổng thống. Người được ông và Đại Long sai giết Tổng thống chính là viên quản gia bây giờ. Vốn tính đa nghi nên tướng quân họ Huỳnh từ ngày chuyển sang làm chính khách chỉ dùng toàn người cùng quê, biên chế họ vào đội cận vệ của mình. Ông ta chỉ huy đội cận vệ rất mẫn cán, đến ngày tàn cuộc chiến, phải theo chủ chạy ra đảo quốc thì trở thành người quản gia cho tướng quân họ Huỳnh.
  Tướng quân Huỳnh Bá Vương lững thững chống ba toong dạo quanh hoa viên biệt thự. Cơ ngơi này ông mua của con trai ngài Tổng thống đương nhiệm trên đảo quốc với giá hai triệu đô la. Nó nằm trên quả đồi nhìn ra biển, tứ bề lộng gió. Hoa viên rộng chừng một trăm mẫu, với những hàng thông cao to chạy dọc lối đi bằng bê tông và cả một rừng hoa các loại, bốn mùa nở rộ. Nó còn là một vườn thú nuôi đủ các loài gậm nhấm quý hiếm mua từ khắp các châu lục: Chồn bay, chuột túi căng gu ru, sóc đuôi cờ, cày xạ hương, chồn lông đỏ, nhím khoang tứ đốm... Cái tuổi Giáp Tý và câu chuyện mẹ kể ngày xưa như vẫn ám ảnh tướng quân họ Huỳnh. Những năm tháng tuổi già, sống tha hương nơi đất khách quê người, ông chỉ thích nuôi thật nhiều loài thú gậm nhấm. Ở đảo quốc châu Á toàn người mũi tẹt da vàng này, ông vẫn còn được trọng vọng, vì nể. Nhiều lúc nghĩ đến tướng Nguyễn Đại Long, kẻ kình địch trên chính trường, ông lại mỉm cười thương hại cho anh chàng phổi bò. Mang thân là chính khách lưu vong mà đi cư ngụ ở mẫu quốc thì đâu dễ được đàng hoàng thanh thản như Huỳnh Bá Vương ở đảo quốc đồng minh. Càng ngẫm, ông càng phục tài bói dịch của bố và những lời tiên đoán năm xưa về quan hệ giữa ông và tướng Nguyễn Đại Long.
Vương và Long cùng học một khoá sĩ quan trường võ bị quốc gia ở Đà Lạt. Ngày ấy, Vương có dáng thư sinh, nho nhã, biết kiệm lời và chọn câu chữ tế nhị mỗi lần giao tiếp. Long cùng tuổi Tý, nhưng tính tình sôi nổi, thuộc nhiều chuyện tiếu lâm, sống ngang tàng và tán gái nhanh như chảo chớp. Họ thân nhau như hình với bóng. Vũ trường hay quán bar nào có cô gái nhà lành xinh đẹp mới vào làm, Vương đều rủ Long đến mở đầu màn tán tỉnh. Trong khi Long nốc rượu, khoa chân múa tay, huyên thuyên tán tỉnh thì Vương ngồi nhấp nháp ly rượu vang Pháp lắng nghe, thỉnh thoảng đưa mắt sang người đẹp nói đôi lời lấp lửng đầy ý tứ. Quả nhiên về sau các nàng tuy lấy cớ hẹn Long, nhưng mục đích là gặp Vương. Cuộc đời binh nghiệp gắn bó hai người thành cặp bài trùng để Long xông xáo hò hét cho Vương thực hiện mọi ý đồ. Cuộc chính biến năm Tý sáu mươi cũng nhờ Vương phân tích cho Long thế lực của Tổng thống còn đang mạnh, rồi qua Long vận động thêm các sĩ quan cấp tá ủng hộ Tổng thống chống lại phe đảo chính, nên hai người cùng được vinh thăng cấp tướng. Ba năm sau, lại chính Vương lôi kéo Long mang lực lượng không quân phối hợp với mình bao vây và giết hại Tổng thống. Chỉ khi hai người đã ngồi ngất ngưởng trên ngôi cao quyền lực họ mới nảy sinh lòng thù ghét, ra mặt đả kích, chống phá nhau kịch liệt. Tuy vậy bản tính bông lông khiến nhà chính khách Long càng lăng mạ, chửi bới, càng củng cố thêm uy tín, quyền lực cho ông bạn vàng túc trí đa mưu. Lời tiên đoán của ông Bá hộ Tùng dưới chân núi có hòn đá mặt quỷ khiến Vương suốt một thời dấn sâu vào chính trường càng thấy linh nghiệm...
  4- Nhưng có một điều tiên đoán trong quẻ dịch, ông Bá hộ Tùng không nói với vợ, âm thầm mạng theo sự bí mật sang bên kia  thế giới. Ông chỉ làm một bài sấm để dân chúng quanh vùng truyền tụng và chiêm nghiệm về sau:
Sông máu núi xương
Đắp thành nghiệp vương 
Chỉ qua một giáp
Oan hồn tứ phương
Phá tan mặt quỷ
Sắc sắc không không
Ba năm sau đó.      
Năm Tý sáu mươi, đô thành đẫm máu trong cuộc đảo chính không thành, bị Tổng thống ra lệnh đàn áp. Nghe tin con trai nhờ trận tắm máu này được vinh thăng cấp tướng, bà Bá hộ buồn rầu ăn chay, thắp hương lễ tạ linh hồn chồng rồi lập chùa, đi tu ở núi Linh Mẫu. Hàng ngày bà gõ mõ, tụng kinh sám hối cho con trai, nhất quyết không chịu về nhà. Tướng quân Huỳnh Bá Vương về quê thăm mẹ, nghe dân gian truyền tụng bài sấm lòng thấy nửa tin nửa ngờ. Giờ ông nhớ lại buổi hai mẹ con gặp nhau trong chùa ngày đó.
- Lạy mẹ, con đã về.
- A di đà phật! Ta đã chút bỏ bản ngã, mang tâm đến nương nhờ Phật tổ. Kẻ vô ngã không có mình làm sao có gia đình, con cái.
- Lạy mẹ, xin mẹ đừng làm con sợ.
- Mô phật! Thí chủ từ đâu đến sao quanh mình âm khí nặng nề, tanh mùi máu?
- Mẹ ơi! Con là người lính. Con phải bắn giết những kẻ chống đối theo lệnh Tổng thống mà thôi.  
- Mô phật! Nhân sinh là kiếp luân hồi. Việc đời nhân nào quả nấy. Thí chủ hãy nghe ta:
Của cải là phù du
Lợi danh hư ảo tất
Sẽ biến thành  bụi cát
Quỷ dữ và hiền nhân
Oán cừu trả bằng ân
Cây đời sai quả phúc
Lưu truyền là  âm đức
Ác tâm theo xuống mồ...   
Bà mẹ nói xong, nhắm mắt ngồi tĩnh tâm trước phật đài. Tướng quân Huỳnh Bá Vương quỳ đợi hồi lâu bất lực, đành lủi thủi xuống núi. Ông bùi ngùi thương mẹ, nhưng lại tự nhủ lòng: Chí làm trai phải nuôi việc lớn. Phận nam nhi phải thành danh trong thiên hạ. Chính trường là cuộc tàn sát khi công khai, khi ngấm ngầm. Muốn thành danh con người phải có máu lạnh, khi cần phải tàn nhẫn và giả trá... Mang nặng trong lòng ý nghĩ ấy, Huỳnh Bá Vương quay lại đô thành, lao vào chém giết, bày mưu, gài bẫy trên đường thăng tiến của quyền lực. Mười hai năm sau, đúng vào năm Tý bảy hai, ngôi chùa của bà Bá hộ bỗng nhiên bốc cháy trong đêm. Sau cái chết của bà, một trận mưa khủng khiếp kéo dài suốt bảy ngày đêm. Trời đất tối tăm mù mịt, sấm chớp đùng đùng. Tan cơn mưa, người ta thấy mỏm đá mặt quỷ trên núi Linh Mẫu bị sét đánh vỡ toác làm đôi. Tướng quân Huỳnh Bá Vương nghe tin bủn rủn tay chân, tâm thần hoảng loạn. Ông nhớ lại mấy câu cuối trong bài sấm:
Oan hồn tứ phương
Phá tan mặt quỷ
Sắc sắc không không
Ba năm sau đó.
Lời sấm mách bảo ông, thời vận trên chính trường sắp hết, nhiều lắm là ba năm, phải mau chuẩn bị phòng thân. Nhìn lại các chiến hữu tâm phúc, ông hoang mang thấy mình đã gạt bỏ, rơi rụng gần hết, chỉ còn kẻ khắc tinh Đại Long đang mưu toan lật đổ mình. Ngoài chiến trường thua quân mất đất. Trong đô thành âm ỉ ngòi nổ bạo lực của Nguyễn Đại Long. Đồng minh ở xa bên kia Thái Bình Dương hờ hững bỏ rơi. Tướng quân họ Huỳnh chỉ còn biết ngấm ngầm ra lệnh cho tay chân vơ vét vàng bạc của công quỹ, giục vợ nhanh chóng thu hồi tiền vốn các băng nhóm, đường dây ma tuý. Trong vòng ba năm ông thu về gần chục tấn vàng rồi tháo chạy sang đảo quốc, trước ngày đối phương tấn công vũ bão vào đô thành.
5- Mặt trời đã lên cao, đỏ như chậu máu trên biển. Đàn thú gậm nhấm “chít chít” kêu trong các chuồng đòi ăn, làm huyên náo cả hoa viên biệt thự. Người quản gia giương ô che nắng, dục Tướng quân Huỳnh Bá Vương quay về phòng. Trong ông bỗng nhiên thấy cô quạnh, trống trải. Tận trong sâu thẳm, ông nhói lên niềm nhớ quê, thương mẹ, thương cha. Vàng bạc, kim cương, đô la và tất cả mọi của cải chẳng còn chút ý nghĩa gì đối với tướng quân họ Huỳnh. Vợ ông giờ này chắc đã ngồi xoa mạt chược với mấy phu nhân quyền quý người bản địa. Các con ông thảy đều lấy chồng Tây hay vợ Tàu và đã dắt díu nhau đi ở bên Tây, bên Mỹ. Chúng chẳng thiết về với đôi vợ chồng già lẩm cẩm, nếu có viết thư, đọc lên chỉ thấy đòi phân chia tài sản trước khi ông chết. Ông thèm được về quê leo núi Linh Mẫu hay tắm mình trong biển ngập nắng, nhưng lại sợ dân chúng căm thù hành quyết. Bên tai ông văng vẳng tiếng những oan hồn đòi mạng. Quanh ông nhìn đâu cũng hoá xác người cụt chân, gãy tay hay lòi ruột. Người quản gia thấy chủ nhân chóng mặt, lảo đảo sắp ngã. Ông ta đỡ tướng quân Huỳnh Bá Vương vào buồng nằm nghỉ. Từ sáng hôm đó, tướng quân ốm liệt giường, luôn mê sảng. Bác sĩ giải thích đó là bệnh của người già cả nghĩ. 
Phan Rang 1995
Nguồn: www.vannghesongcuulong.org
tồn tại hay không tồn tại
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-11 16:39:29nguyen.bamboo>
LỤC HÒA
Vũ Ngọc Tiến
Biển dập dềnh, gió phập phềnh, đêm bồng bềnh mùi hương của nhựa thông và cỏ hương bài. Trời đêm cuối tháng loang loãng một màu mực Tàu, không sao, không trăng. Sau một chuyến đi dài, cứ ngỡ sẽ ngủ ngon mà sao tôi thấy trằn trọc không sao nhắm nổi mắt. Tôi mặc quần áo, lững thững ra bến phà rồi ngược con đường dốc đi Hoành Bồ, thơ thẩn ngắm cảnh vụng Đâng. Từ trên đồi thông vọng lại một giọng nam cao âm bài “Trở về Prô-văng-xơ” của Ju-jep-vec-di. Tiếng hát diết da bay bổng khiến trời vịnh Hạ Long cũng rung lên bần bật như một dây đàn. Nó tan loãng vào sương đêm, thấm vào tim tôi, khơi gợi cả một niềm hoài ức xa xăm. Càng về cuối bài, tiếng hát càng vang xa dồn dập, khi nghẹn ngào tha thiết, lúc trào dâng ngập ứ cả không gian: “Còn nhớ tới giấc mơ xa xôi – Con hãy nghe cha quên đi rồi – Đồng quê phơi phới – Tiếng sáo lưng đồi – Trở về đi thôi!...”
Tôi như đóng đinh bên mép nước vụng Đâng, bồi hồi xao xuyến. Ở cái thành phố mở cửa, nhộn nhạo mọi thứ lai căng cả Tây lẫn Tàu, cuối những năm 90 này, thật không ngờ tôi được gặp lại giai điệu trữ tình trong vở nhạc kịch cổ điển của Ju-jep-vec-di qua giọng hát đầy chất Opera. Hơn nữa nó được cất lên từ đốm lửa trên ngọn đồi thông non giữa đêm cuối tháng huyền bí. Tôi tha thẩn tìm  kiếm một lối mòn rồi hăm hở leo dốc, hương về phía tiếng hát. Tới nơi, trước mặt tôi là người đàn ông trạc ngoài 40 tuổi, vẻ người phong lưu đĩnh đạc, nhưng nét từng trải hằn rõ trên vầng trán và cặp mắt sâu đen đang ánh lên niềm hoài vọng bên đống lửa bập bùng. Anh ngước nhìn tôi khẽ gật đầu, chìa tay mời ngồi rồi ôm đàn say sưa hát tiếp. Có đến gần nhìn và nghe anh hát tôi mới cảm thấy trời sinh ra anh để hát những bản tình ca buồn. Mỗi chỗ luyến láy chùm sáu, chùm tám được anh miết hơi, nhả lời êm mượt và sâu lắng. Nó lan tỏa khắp đồi thông non bát ngát, là là chấp chới trên từng ngọn cỏ ướt đẫm sương đêm, khiến từng gốc thông như rưng rưng tứa nhựa ra khỏi vỏ…
- Anh có giọng hát tuyệt vời, nhưng hơi buồn – Tôi nói.
Người đàn ông khẽ mỉm cười, quay sang tôi đáp:
- Có ai vui hết cả cuộc đời đâu anh ?.
- Vâng, có lẽ là như vậy.
- Tôi có cảm nghĩ cái vui dễ làm người ta hư đốn, còn cái buồn thường cho ta thêm nghị lực, giúp ta sống tốt lên, sống đẹp hơn.
- Anh nói chuyện cứ như một triết gia. Anh ra đây nghỉ hay đi công tác?
- Nếu đi nghỉ tôi đã ở bên Bãi Cháy ăn nhậu, gái gú như bao “thượng đế” thừa mứa tiền và quyền thời mở cửa. Các khách sạn bên Hòn Gai dành cho người đi buôn và đi làm việc. Nhưng công tác!... A ha!...Từ lúc 18 tuổi đời, tôi chưa hề có khái niệm về cơ quan, công chức làm sao có khái niệm đi công tác. Tôi đi buôn ông anh ạ!
- Thời mở cửa bây giờ có lẽ làm ông chủ như anh lại sướng gấp nhiều lần công chức ăn lương như tụi tôi.
- Số phận cả thôi. Nói cho nó nhanh! Tôi nom anh có dáng công chức. Suốt thời trai trẻ các anh được Nhà nước bao cấp, người đời trọng vọng. Còn tôi thời ấy là một thằng tù, một thằng khốn khổ khốn nạn, bị người đời ghê tởm, khinh ghét…
- Vậy giờ anh làm gì?
- Tôi làm chủ một công ty xây dựng và kinh doanh bất động sản, kiêm cả buôn bán vật liệu xây dựng nhập từ Trung Quốc. Số phận cả thôi. Sao đổi ngôi ấy mà. Tôi ghé nghỉ lại biệt thự riêng của mình ở đồi thông này rồi mai đi tiếp lên Móng Cái lấy hàng.
- Nghe nói buôn mặt hàng này trúng to lắm?
- Cũng tùy người. Ối anh năm vừa rồi chết sặc máu vì tồn hàng. Làm nghề nào buôn thêm vật liệu của nghề ấy như tôi mới ăn chắc. May mắn trúng quả thì lãi to, còn nếu tồn hàng coi như mình mua dự trữ vật liệu cho công trình. Bí quyết này là của ông cụ có tên Phúc Bụt, Phúc Phật dạy tôi.
- Mới nghe anh nói đã thấy anh là người kinh doanh lão luyện.
Người đàn ông mỉm cười nhìn tôi thân thiện. Anh với chai rượu ở gốc cây thông rót mời tôi một chén và nói:
- Tôi đã nói với anh rồi. Tôi vốn là thằng tù. Nghề xây dựng là nghề của tù. Đã vào đến trại nếu là người thôn quê thì cuốc đất cày ruộng, nếu là dân thành phố thì trai làm nề hay làm mộc, gái học nghề may hoặc mây tre. Nhà tù cho tôi nghề mộc nhưng để tôi làm người và bây giờ thành ông chủ là nhờ một vị phật sống. Ông ấy là quản giáo ở trại giam nhưng không giống nhiều người coi tù kác. Giờ ông đã thành phật, mãi mãi thành phật trong lòng tôi và các bạn tù của tôi.
- Có lẽ nghề coi tù làm ông ấy cuối đời cảm thấy áy náy nên đã đi tu chăng?
- Không, anh nhầm rồi. Lên chùa đi tu hóa lại dễ, tu giữa đời thường mới khó. Các cụ ta chẳng có câu: “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Ở xứ sở mình có một thời nhiều người ngoài đời cũng khốn khổ và chỉ biết phục tùng mệnh lệnh thì trong trại giam các ông quản giáo nhiều kẻ là “bố tù”, hành hạ chúng tôi cả linh hồn lẫn thể xác. Nhưng ông cụ quản giáo ấy thì khác, tất tật đám tù nhân trong trại đều gọi là Bụt, là Phật. Tôi mang ơn ông cụ như ơn cha, ơn mẹ. Ông cụ vừa quy tiên, hóa Phật. Tôi lo liệu cho cụ, đứng chủ tế như con trai rồi đi ra đây. Đêm nay nhớ cụ, nhớ quãng đời cay dắng đã qua, tôi hát lại bài hát mà ngày xưa cụ rất thích nghe tôi hát vào những đêm tối trăng giữa núi rừng hoang lạnh.
 
Tôi nắm tay anh bóp nhẹ, xin được nghe lại bài “Trở về Prô-văng-xơ”. Đêm đó chúng tôi ngồi uống rượu, lầm rầm tâm sự đến sáng. Anh đã kể cho tôi nghe về cuộc đời mình gắn bó ra sao với vị phật sống của anh.
Tôi sinh ra và lớn lên ở phố cổ giữa lòng Hà Nội. Từ nhỏ, ngày rằm, mồng một tôi thường bám theo mẹ lên chùa Bà Đá lễ Phật. Sư cụ trên chùa dạy mẹ: “Thân xác con đã gửi nơi trần thế thì tâm tính phải theo phép Lục hòa của Phật tổ răn dạy”. Chẳng biết mẹ tôi nhớ là làm theo lời dạy của sư cụ ra sao, nhưng suốt đời người không bao giờ cáu giận, thù ghét ai. Ai cũng bảo người khôn buôn bán lắm tài nhiều lộc bởi người không bao giờ thất tín và chẳng ai nỡ lừa hay hại người. Mẹ tôi có cửa hàng buôn bán chỉ thêu nằm giữa phố, bố tôi làm công chức ở nha tài chính của người Pháp, giỏi nghề và hiền như cục đất. Ngôi nhà mặt tiền bé, chỉ có chiều sâu nên chia làm hai khối, có sân ở giữa, lối đi lên tầng hai bằng cầu thang gỗ tỏa về hai nhánh. Sau này khu nhà chính phía ngoài của bố mẹ tôi được chia cho một ông cán bộ hành chính tiểu khu, quê Nghệ Tĩnh. Gia đình tôi ở phía trong, trên thờ ông bà tổ tiên, dưới ăn nghỉ sinh hoạt. May tôi là con một, gia đình chỉ có 3 người nên cũng tạm ổn. Chỉ phiền phức một chút là lối đi chung với hộ bên ngoài, còn họ lại chung nhà vệ sinh với chúng tôi. Dẫu sao lâu dần thành quen. Sau này khi tôi lớn mỗi lần có chuyện xích mích với hộ nhà ngoài, mẹ thường nhắc tôi nghe điều răn của Phật trong phép lục hòa. Mẹ dạy: “Người ta sống ở đời cốt nhất phải thân hòa. Một khi thân ta đã hòa vào mọi người sẽ có khẩu hòa, ý hòa, kiến hòa, giới hòa, lợi hòa. Nếu có lần nào người nhà ngoài khó chịu gây chuyện với nhà ta về việc dắt xe qua nơi họ ở, con hãy tự kiềm chế và nghĩ lại mình có lúc bực dọc cằn nhằn họ đi nhà vệ sinh không dội nước. Ấy chính là thân con đã hòa một chút, lập tức khẩu sẽ hòa… Giới hòa, lợi hòa Phật xếp sau cùng nhưng xét kỹ đã có bốn điều hòa ở trên, ắt có hai điều hòa ở dưới, con ạ!…”.
Có lẽ khi được sống gần mẹ, tôi còn bé, chưa kịp hiểu và chiêm nghiệm những điều mẹ nói, những việc mẹ làm. Thay vì được ở bên mẹ, số phận lại đun đẩy tôi gặp ông  Phúc, gắn bó với ông gần hết cả cuộc đời. Câu chuyện bắt đầu từ một tai họa hay lỗi lầm của tôi đã vi phạm phép lục hòa. Oái oăm là ở chỗ tôi không giữ được “thân hòa” như lời mẹ dạy bởi cả nhà tôi đang yên đang lành bỗng dưng phải sống “xác hòa” với những người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình! Con người ta theo triết lý đạo Phật gồm có thể xác, thể phách và thể hồn. Nói thân hòa là hòa ở thể hồn, chứ đâu phải như mẹ con tôi bị nhốt thân xác ở chung với một lão già vô liêm sỉ cho hòa đồng giai cấp. “Xác hòa” kiểu ấy chỉ làm duyên cớ cho thù hận mà thôi. Và thế là năm 1973 ta ký kết hiệp định đình chiến. Trước đó cả thành phố đều sơ tán tránh B52. Khi gia đình tôi trở về thấy ông chủ nhà ngoài đã nghiễm nhiên cho cả gia đình vào ở hết nhà trong. Bàn thờ trên gác, đồ đạc dưới nhà của bố mẹ tôi bị chất đống trong gian nhà bếp lợp mái tôn vẻn vẹn chỉ có 8m2, lại sát kề nhà xí. Ông ta thản nhiên chìa tờ quyết định phân thêm diện tích của phòng nhà đất và nói:
- Muốn thắc mắc xin mời các vị lên khu.
Mẹ tôi lên khu nhận được câu trả lợi lạnh tanh:
- Nghe đồn bác và gia đình gặp tai nạn chiến tranh nên ngôi nhà đã phân cho người khác.
- Vậy các vị vất chúng tôi ra đường à?
- Về làm đơn chờ giải quyết phân chỗ khác. Bà nên nhớ mình có tên trong danh sách vợ ngụy quân, ngụy quyền.
- Nhưng trước mắt chúng tôi ở đâu? – Mẹ tôi phẫn nộ hỏi.
- Nghe nói còn gian bếp các vị ở tạm, chờ chúng tôi tìm cho căn hộ khác. Các vị thông cảm. Chiến tranh mà! Tôi đang bận…
Từ hôm đó cả nhà tôi phải chui rúc trong gian bếp lợp tôn 8m2, khai nồng mùi nước đái của hộ ngoài cố tình không dội nước. Tôi khi đó vừa tốt nghiệp cấp III, đẹp trai, đàn hay hát giỏi nhưng lại lành như đất, không gây sự với ai bao giờ. Trò đời đã lành thường hay cục. Tôi chờ mẹ đi làm vắng, thủ sẵn một gói phân, bất ngờ xông ra chặn đường lão chủ hộ nhà ngoài, nhét cả gói vào mồm, trước mắt rất đông bà con dân phố. Bị các con ông ta vây đánh túi bụi, tôi không kiềm chế được rút dao đâm liều mấy nhát, làm chết thằng con cả và bị thương thằng con thứ hai. Tòa xử tôi 18 năm tù đưa về trại giam Tân Lạc. Tôi ôm hận đi tù nhưng bù lại bố mẹ tôi đòi lại được ngôi nhà như cũ và may mắn cho tôi đã gặp ông Phúc giữa những ngày đau khổ, bị dày vò thể xác bởi đám tù lưu manh, đói ăn, tàn bạo.
Anh bạn ngừng kể thở dài, mắt đăm đăm nhìn vào đống lửa. Lúc này tôi mới có dịp quan sát kỹ hơn. Gương mặt vuông chữ điền, cằm chẻ, sống mũi cao và thẳng. Đuôi mắt anh dài ẩn dưới hàng mi cong, sách tướng gọi là người đa sầu đa cảm. Nhìn anh tôi liên tưởng đến một cậu học trò xinh trai đang ôm đàn hát cho bạn bè nghe trong đêm chia tay, giã biệt đời học sinh, tung cánh bay đi bốn phương trời. Vậy mà…? Anh bạn nhoài người với con mực khô, nướng và mời tôi uống rượu. Vừa uống anh vừa kể tiếp trong khi tôi đang mải mê ngắm nhìn những thanh củi bọt xèo xèo tứa ra ở đầu như lệ ứa:
- Anh biết đấy, năm tôi vào tù ngoài đời còn phải ăn độn bột mỳ, độn ngô, độn bo bo. Về khoản ăn con người cũng chỉ là một động vật không hơn, không kém. Đói ăn con người đối xử với nhau tàn bạo còn hơn cầm thú, nhất là trong trại giam. Bọn tôi được xếp vào hạng tù rận rệp nên mỗi người nhập trại đều được lĩnh 20 gót chân. Đó là cách tra tấn khủng khiếp nhưng rất kín đáo. Một tên tù trật tự kê sẵn chiếc chăn bông từ ngực đến mặt tôi. Một tên khác giã gót chân dọc theo xương sống khiến tôi đau đớn quằn quại nhưng không thể kêu thành tiếng. Kẻ bị tra tấn không có một dấu vết bầm tím nào. Người bị đánh đương nhiên không dám khai và thế là mọi việc rơi vào im lặng. Sau trận đòn tôi được “bạn tù” nằm bên gợi ý nhắn người nhà tiếp tế. Mẹ tôi là xã viên tổ hợp tác đan len, lương tháng 45 đồng làm sao có thể thăm nuôi thường xuyên theo yêu cầu của bọn “đầu gấu”? Tôi bị liệt vào đẳng cấp tù loại ba, bất cứ ai trong phòng giam đều có thể đánh đập, xỉ nhục. Nhiều khi ngứa tay, ngứa chân họ chỉ cần ghép cho tôi cái tội nhìn đểu cũng đủ om xương. Một lần họ cân cơm thẩy quả cân chưa thăng bằng tôi vô tình nhắc người cầm cân, lập tức sau bữa ăn bị trận đòn “thông tai”. Tôi bị buồng trưởng gọi ra ngoài xếp bằng tròn, chống tay lên đùi. Tên tù trật tự hai tay cầm chiếc dép tông Thái Lan vỗ liên tiếp vào mang tai. Tôi thấy nhói đau, đầu óc như bị đóng đinh dài xuyên qua hai bên thái dương. Chỉ một lúc sau máu mồm, máu mũi tôi ộc ra và ngất xỉu. Hôm đó buồng giam có ông Phúc mới về phụ trách thay cho quản giáo cũ chuyển đi phân trại khác. Ông phát hiện ra tôi nằm ngất, mặt xanh như tàu lá, tay chân mềm nhũn liền ra lệnh khiêng tôi lên trạm xá. Ông chỉ nhìn thẳng vào tên Quân lé buồng trưởng bằng tia mắt sắc lạnh, nhưng không hề nói một lời nào. Đến trạm xá nhìn thằng bé trẻ măng, sớm trở nên thân tàn ma dại ông ôm chầm lấy tôi nghẹn ngào, mắt đỏ hoe:
- Tội nợ từ kiếp nào mà khổ thế hở con?
- Con… con… Dạ thưa… thưa cán bộ!
- Nằm yên, đừng cựa quậy hoặc nói gì. Ta sẽ gọi y tá tiêm thuốc trợ tim và lấy dầu xoa bóp cho con.
Chỉ cần ngần ấy lời đơn giản mộc mạc đã đủ thoa nhẹ nỗi đau âm ỉ trong lòng tôi. Cảm giác ban đầu như một nhân điện sinh học truyền từ bàn tay thô ráp sang người và mách bảo tôi rằng ông sẽ là người cha thứ hai trong đời. Ông Phúc cho tôi ở lại trạm xá mấy ngày tĩnh dưỡng và dúi vào tay tôi mẩu sâm Cát Lâm bằng đầu ngón tay cái. Trở về buồng giam ông không hề quát mắng, chỉ ôn tồn căn dặn mọi người chấp hành kỷ luật, đã xa nhà phải biết thương yêu đùm bọc nhau. Riêng với Quân lé buồng trưởng ông ra lệnh biệt giam. Ai cũng nghĩ Quân lé sẽ bị cùm, phạt đòn. Nhưng ông Phúc chỉ cho giam y vào một buồng giam rộng 100m2 mới xây dựng thêm, chưa có một bóng phạm nhân nào. 15 ngày sống giữa buồng giam mênh mông, hai bên là bệ xi măng đen bóng, lạnh toát, Quân lé cảm thấy mình rơi thỏm xuống cung Diêm Vương âm u. Y thèm khát một bóng người, một lời nói. Có lúc y gào rống lên như một thằng điên. Y năn nỉ tù tự giác vào đưa cơm, nhờ xin gặp ông Phúc. Vừa nhìn thấy ông Phúc, y lao tới quỳ mọp dưới chân lạy như tế sao:
- Con lạy ông, cắn cỏ lạy ông. Xin ông cho con về với anh em. Sống thế này con phát điên lên mất.
- Sao? Anh sợ sự cô đơn thế kia à?
- Vâng. Chẳng thà ông cùm chân hay đánh con, giam con vào xà lim toen hoẻn 6m2 lại đỡ sợ hơn cái buồng rộng rênh, im lặng và hoang vắng thế này. Kinh khủng quá, bố ơi!
- Nghĩa là anh thèm sống gần đồng loại của mình?
- Dạ thưa ông, vâng ạ!
- Vậy sao khi gần họ anh giở hết thú tính ra với người ta?
- Con biết tội rồi, lạy ông tha cho con. Từ nay con sẽ chừa ạ!
Từ cái đận đó, Quân lé sợ ông Phúc một phép. Trật tự buồng giam cũng đi vào quy củ. Năng suất các tổ nề, tổ mộc, tổ đóng gạch cũng ngày một cao. Ông Phúc chưa một lần mắng mỏ hay nặng lời với tù nhân. Vậy mà ông nói gì họ nghe nấy, làm gì họ cũng làm theo. Mỗi lần có sự lộn xộn ở buồng giam hay trong lúc lao động chúng tôi thấy nét mặt hơi đượm buồn. Ông gọi mọi người lại cho hút thuốc lào rồi nói:
- Các anh đều là những kẻ phạm tội phải lưu đầy xa nhà. Cái thân tôi cũng khốn khổ, khốn nạn như các anh thôi. Các anh không thương lấy nhau thì ai thương thay cho? Lúc nào cơn ác nổi lên toan hành hạ bạn mình hãy cứ tưởng tượng ở nhà con em các anh bị người khác đánh đập, hạ nhục thì cơn ác sẽ nguội tan dần. Sau này ra đời định lừa ai hãy nghĩ bố mẹ hay người thân mình cũng có thể bị lừa. Các anh định hiếp ai hãy nhớ mẹ, vợ và em gái mình cũng là đàn bà. Đấy, phương châm triết lý sống thiện của tôi chỉ đơn giản như vậy. Ngày nghỉ, sống độc thân chẳng biết đi đâu, làm gì nên tôi hay lên chùa. Tôi nghe các sư nói trong đạo Phật có phép Lục hòa và cái hòa lớn nhất, cái quan trọng nhất là thân hòa. Muốn có thân hòa trước hết cái tâm phải thiện.
Tôi nghe ông Phúc nói mà ứa nước mắt vì nhớ mẹ. Người cũng từng dạy tôi như ông Phúc đang dạy. Khi sắp mãn hạn tù được tin bố mẹ đều qua đời, tôi thật sự coi ông Phúc như cha ruột của mình. Đám tù nhân chúng tôi truyền tụng nhau nhiều câu chuyện về ông Phúc Bụt sau này còn gọi là ông Phúc Phật. Ông quê ở Gia Viễn – Ninh Bình, đi bộ đội đánh Pháp từ năm 16 tuổi, tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh rồi sau đó tham gia đoàn tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Hòa bình về thăm quê ông mới biết cả nhà bị Tây giết trong một trận càn, cửa nhà bị đốt cháy rụi. Ông bảo, mình không biết chữ nên được chiếu cố chuyển ngành sang công an làm quản giáo ở những trại tù heo hút vì một lý do không vướng bận gia đình hóa ra thành anh tù chung thân. Thế nhưng ông đến nơi nào tù nhân rất sợ vì sự im lặng, sau quen dần kính phục gọi ông là bụt, là phật. Người ta kể rằng ngày đầu làm nghề quản giáo ở trại giam Phú Lương rất đông tù nữ mà quản giáo nữ lại thiếu. Thấy ông cứng tuổi, hiền lành, mát tính nên Bam giám thị giao cho phụ trách buồng giam rất nhiều “nữ quái” làm nghề tú bà hay buôn thuốc phiện. Giữa trưa hè, họ bắt chị em hết lượt cởi quần áo, trần truồng khiêu khích ông. Một lần ông nhắm mắt cầm gậy đi dọc buồng giam chỉ vào hai bệ xi măng yêu cầu mọi người mặc quần áo. “Nữ quái” buồng trưởng túm lấy đầu gậy lắc qua lắc lại kêu to:
- Đau em quá, anh cán bộ ơi!... Nhưng mà sướng…sướng lắm, giời ơi là giời! Suối nguồn tươi mát của em ào cả ra đầu gậy rồi, cán bộ ơi… ời…
 
Ông Phúc luống cuống choàng mở mắt làm tất cả cười ré lên. Sau vụ đó giám thị cho biệt giam “nữ quái” buồng trưởng dưới hầm có nước ngập đến mắt cá chân. Chỉ sau một ngày bàn chân chị ta ngứa ngáy, bệt bợt, nhăn nheo. Hễ nhác thấy bóng người chị ta tru lên như con sói hú, đòi được ra ngoài. Chính ông Phúc đã thương hại xin tha cho chị ta. Thế rồi không hiểu bằng cách gì ông đã biến cải buồng giam đầy “nữ quái” ấy trở thành đơn vị lao động giỏi nhất trại. Chị em thương quý nhau như ruột thịt…
Đống lửa đã tắt rụi. Trên đống tro tàn loáng thoáng mấy vụn than hồng đang lịm tắt dưới sương đêm. Quanh tôi phảng phất hương vị thơm nồng của cỏ hương bài. Thứ cỏ này có rất nhiều ở vùng đồi Đông Bắc, dân làm nhang gọi rễ của nó là “mỏ quạ”, một loại hương liệu tạo nên chất “thơm say” chuyển tải những chất liệu “thơm sâu” của trầm và thuốc bắc cho những nén nhang thắp nơi cửa Phật. Tôi nghĩ đến người quản giáo già và thấy ông như rễ cỏ hương bài. Lòng tôi cứ miên man suy nghĩ về hai chữ “thân hòa” của bà mẹ anh bạn, của người coi tù vô danh. Họ là chất liệu nguyên sơ của những nén nhang thơm, lan bay giữa cõi đời trần tục. Anh bạn tôi bỗng nhiên mỉm cười, đôi mắt sáng lên và tôi nhìn thấy ở trong đó như có lửa. Anh kể:
- Kỷ niệm sâu sắc nhất sau này ảnh hưởng to lớn đến bước ngoặt trong đời kinh doanh của tôi là lần đi đẵn tre, chẻ hom, đánh gianh làm lán cho lò gạch. Ông Phúc dạy tôi làm việc gì dù là nề, mộc hay đốt lò gạch đều rất thạo và rất chỉn chu.
Lần ấy ông dạy tôi chẻ hom, đánh gianh. Ông bảo:
- Ở rừng sẵn tre nứa, con có thể lãng phí một chút cũng không sao. Sau này ra tù con làm nghề gì cũng phải biết tiết kiệm. Phương ngôn có câu: “Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè tiết kiệm”. Ví như cây tre này, trước khi chẻ hom con chặt 80 phân gốc làm chổi tre, chặt 1,2 mét làm cán quốc, cán xẻng thế là không mất một tí gì ở cây tre. Lãi là ở đấy, lợi là ở đấy, con ạ! Đừng bao giờ cầu lợi bằng sự lừa lọc, trí trá.
Ngày ra tù tôi đến từ biệt ông và tỏ ý chán đời vì cha mẹ chết hết, nhà cửa chắc gì còn… Tôi ngỏ lời muốn sống thiện bằng cách đi tu ở chùa nào đó quanh trại giam. Lần đầu tiên tôi thấy ông Phúc giận dữ chỉ vào tôi đỏ gay mặt và mắng:
- Sao mày ngu thế hở con? Đi tu là ép xác trốn tránh cuộc đời, đạo Phật đâu có khuyến khích. Chỉ những người mới sinh ra chưa vẩn bụi đời mà cung số đã định sẵn làm người tu đồng tử mới nên khuyến khích để duy trì, chấn hưng đạo Phật. Con còn trẻ phải lao vào cuộc đời mà làm việc thiện, điều nghĩa. Chỉ cần trong phần đời còn lại con luôn tâm niệm, hành sự theo phép lục hòa mà mẹ con đã dạy thì trong tim con đã có Phật ngự rồi. Phúc lộc tất sẽ đến.
- Con xin nghe theo lời ông, nhưng ông bảo con ra tù nên làm nghề gì để sống trong sạch?
- Sự thành đạt của con người ta ở đời là vô cùng con ạ! Hãy bắt đầu lập nghiệp bằng nghề mình biết, mình yêu hay có nhiều kỷ niệm sâu nặng về nó. Quãng đời đi tù của con là sự trả giá cay đắng cho một lỗi lầm không đáng có. Ta thấy con ở tù nghề mộc, nghề nề đều khéo. Sao con không lập nghiệp bằng nghề xây dựng? Nếu có buôn bán gì thêm cũng chỉ nên quanh quẩn trong hai cái nghề nề, mộc thôi con ạ! Sau này tỉ dụ trời phật cho con được khá giả phải nhớ câu “phúc bất tận hưởng? và nên chia đều cái lợi, cái phúc cho người khác. Ở đời bây giờ nhiều kẻ có học vị, chức quyền mà vẫn ngu. Họ đem chia nhau cái lợi do tham ô, ăn cướp, buôn lậu mà cứ tưởng rằng sẽ bền. Thân chúng chưa hòa làm sao có khẩu hòa, ý hòa. Tự chúng sẽ vẫn nghi kỵ, thù oán và lúc họan nạn sẽ phản bội tố giác lẫn nhau để chết cùng một rọ.
Tôi nghe ông Phúc căn dặn, suy đi ngẫm lại càng tâm đắc. Tôi xin phép đi tìm cây đàn ghi ta hát tặng ông bài “Trở về Prô-văng-xơ” mà ông vẫn thích nghe mình hát vào đêm tối trời. Chia tay ông, tôi về Hà Nội ở nhờ trong gầm cầu giữa phố Phùng Hưng. Những ngày đầu tôi đi làm thuê cả nề lẫn mộc. Ai gọi gì tôi làm nấy. Dần dần tích cóp được ít tiền tôi nhận bao thầu những công trình nhỏ một hoặc hai tầng. Thợ của tôi đều là các bạn tù được tuyển chọn kỹ về tay nghề và lương tâm nghề nghiệp. Nguyên tắc dùng người của tôi vắn tắt, đã là bạn không bỏ nhau, có thể giúp nhau tiền hoặc cho nhau ăn chứ quyết không dùng người thiếu tài, mỏng đức. Lẽ đời nghèo thì lâu giàu mấy chốc. Gặp lúc Hà Nội bùng lan cơn sốt nhà đất, tôi mở rộng kinh doanh bao thầu các công trình lớn, kiêm thêm buôn bán bất động sản, vật liệu xây dựng. Nghe tin ông Phúc đã nghỉ hưu, mở quán nước ở ngã ba tỉnh lộ rẽ vào trại giam dể chỉ đường cho thân nhân tù phạm và giúp đỡ họ lúc cơ nhỡ. Tôi cùng hai người bạn tù đánh xe lên thăm ông cụ. Chúng tôi tìm mọi cách năn nỉ gần như ép ông cụ theo về Hà Nội để tôi phụng dưỡng tuổi già. Ở nhà lầu được nửa năm ông Phúc bảo tôi:
- Lão quen sống đời dân dã, mộc mạc. Ở đây suốt ngày lên lầu xuống lầu, ồn ào mà lão vẫn chỉ thấy buồn. Nếu anh có lòng thì tìm cho lão một miếng đất nhỏ ngoại ô rồi dựng gian lều tranh tre, nứa lá nhỏ để lão ăn chay, giúp người cơ nhỡ, lang thang.
- Ông giận con sao mà đòi đi?
- Lão sống cả đời không biết giận ai. Lão nói thật lòng. Nếu anh có tình thì cho lão được toại nguyện.
Tôi hiểu tâm tính và biết không thể giữ ông Phúc lại nhà mình, nhưng xa ông tôi không nỡ. Chúng tôi bàn nhau trong đám bạn tù, rồi mua miếng đất hơn trăm mét vuông ở Cầu Diễn. Tôi cho thiết kế một ngôi nhà gỗ 3 gian 2 chái và một sân cảnh chỉ để trồng hoa ngâu, hoa sói, hoa trà… Tôi còn thuê hẳn một nhóm họa sĩ đến đắp tượng Phật giữa sân nhà. Ngày ông qua đời tôi đứng chủ tế bồi hồi xúc động vì lễ tang ông có hàng trăm kẻ tù tội đã hoàn lương và bà con khắp làng trên xóm dưới quanh nơi ông ở. Đám tang ông kéo dài hàng cây số toàn những thằng tù như tôi cả. Từ nay mỗi tháng vào ngày rằm, mồng một tôi sẽ đến ngôi nhà ông ở để ăn chay và niệm Phật…
Hai chúng tôi ngồi uống rượu, đàn hát tâm sự đến lúc trời sáng bạch lúc nào không hay biết. Rừng thông non lao xao trong gió nhẹ, đung đưa những “chiếc ô” màu xanh, cái cao, cái thấp. Trời vụng Đâng như chiếc lồng pha lê trong suốt màu hồng nhạt đang dần dần ửng đỏ, pha lẫn những tia vàng, tím. Sóng nước lăn tăn. Không khí trong lành, tinh khiết, thơm tho mùi cỏ hương bài. Tôi cảm thấy như trời đất, cây cỏ, sóng nước, bông mây này đang tẩy gội sạch bong hết mọi bụi trần trong lòng. Tim tôi ấp ủ hình ảnh ông lão Phúc Bụt, chưa một lần ngồi thiền, thong dong tự tại đi giữa cõi đời nhiều khổ - đau – đắng – chát. Mặt biển chao nghiêng. Rừng thông non ngả bóng xuống lòng tôi, ngân rung lời hát của người bạn đường chưa hề quen biết…

 Nguồn: www.vannghesongcuulong.org
 
tồn tại hay không tồn tại
0
MA MÈO
Vũ Ngọc Tiến
Hoàng hôn lịm tắt trên biển Trà Cổ. Rừng phi lao chuyển sang mầu đen thẫm reo vi vu như tiếng sáo trúc ngân dài trên bãi cát. Gió từ phía vịnh Bái Tử Long theo các triền núi đá vôi ào ạt về biên ải. Từng đợt sóng xô đẩy nhau vào bờ, liếm lên cát mịn. Hiếm thấy ở đâu trên đất nước có bãi cát rộng dài, thoai thoải và mịn như ở Trà Cổ. Cả dáng hoàng hôn dần dần tắt cũng chầm chậm, sắc màu biến đổi kỳ ảo hơn những bãi biển phía Nam, mang vẻ rất riêng của vùng than Đông Bắc bởi màu tím thẫm có những vệt đỏ, vàng đan cài trên bầu trời.
Quán cà phê nhạc Kinh Hoa đã thưa khách, chỉ còn lác đác mấy bàn ngồi ngoài sân hóng gió. Tôi  và Chiến ngồi nhâm nhi ly rượu Quế Châu – Trung Quốc với con mực khô, ngắm nhìn những đốm sáng trên các bè mảng đánh cá lung linh di động trên mặt biển. Đêm cuối tháng làm tôi chạnh nhớ tới câu thơ tài hoa của Nguyễn Bính:  “Suốt giời không một vì sao - Suốt giời mực ở nơi nào loãng ra - Lửa chài chăng cái giăng hoa...” Thời mở cửa không còn ánh sáng lửa đò như trong thơ Nguyễn Bính. Người dân chài  vùng Đông Bắc bây giờ đi mảng trong đêm bằng đèn nê ông chạy ắc quy nhập của Trung Quốc. Nhưng trời, đất, mặt biển đêm nay vẫn thấm đậm hồn thơ thi nhân. Cái đẹp tự nó của mỹ học Nuel Kant quả là đang chắp cánh vượt lên phơi phới trên biên giới của không gian, thời gian...
Chợt từ rặng phi lao bước ra bãi biển một bóng trắng mờ ảo. Người đàn bà mặc váy ngủ mỏng tanh màu trắng. Nàng xuất hiện như một bóng ma vừa đi vừa hát: “Meo, meo, meo... chúng cháu yêu cô lắm!... Ngao, ngao, ngao... em nhớ anh làm sao. Chúng ta yêu nhau xem nào...” Chiến bảo tôi, đó là bà chủ khách sạn Bồng Lai ở Hà Nội lên Trà Cổ an dưỡng, lấy thuốc chữa bệnh của một thầy lang bên kia biên giới. Người ta đồn nàng bị ma mèo ám. Chuyện của nàng, Chiến biết khá tường tận vì anh là bạn học cũ của nàng ở trường cấp hai phố huyện.
Chiến xoay xoay ly rượu trên bàn, nét mặt đăm chiêu, môi ngậm chặt điếu thuốc rít liền hơi mấy lần rồi quẳng mẩu thuốc cháy dở xuống sàn. Anh hỏi tôi bằng giọng trầm buồn:
- Anh có tin rằng loài vật cũng có linh hồn không? Liệu trong cõi giới vô hình có những hồn ma động vật lẩn khuất, oán giận con người không?
- Mình chưa tin có hồn ma tồn tại dù là người hay động vật. Nhưng có những nỗi ám ảnh hằn sâu trong tâm linh người đang sống sẽ tạo nên ảo giác về những hồn ma.
- Có thể anh nói đúng, nhưng có nhiều việc xảy ra khiến tôi phải hoang mang ngỡ ngàng, nửa tin nửa ngờ.
- Hình như điều anh nói có liên quan đến bà chủ khách sạn Bồng Lai bị ma mèo ám?- Tôi hỏi.
- Cũng không hẳn thế... Hồi nhỏ, ở quê tôi có ông Tư yêu, gọi là Tư yêu vì ông ấy như yêu tinh với loài chó vậy. Có lẽ ông giết quá nhiều chó nên bao giờ  quanh người ông toàn những hồn ma, linh cẩu. Mỗi lần ông vào xóm, lũ chó sủa vang rồi cúp đuôi chạy rạp. Con chó lài nhà tôi to lớn, khét tiếng là chó dữ mà hễ nhìn thấy ông bốn chân cứ run lên, chạy vào gầm giường vẫn còn lùi sâu tận góc tường và chỉ dám ư ử sủa lên vài tiếng yếu ớt. Nói đúng hơn là nó rên chứ không dám sủa.
- Cái đó có thể lý giải vì ông ta quanh năm suốt tháng mổ chó, nấu và bán thịt chó nên người ngợm, áo quần bám đầy mùi thịt chó. Giống chó trời ban cho mũi rất thính, đánh hơi thấy và khiếp, thế thôi.
-Tôi lại xin kể một chuyện khác. Sát giậu cúc tần nhà tôi là nhà cô Mão. Ngày ấy tôi và cô Mão cùng học lớp năm trường làng. Tính cô rất nanh ác. Ở sân nhà hay đi trên đường, hễ gặp con vật nào làm vướng chân là cô đá thẳng cánh. Mấy đứa bạn gái cùng lớp bảo thế nào cũng không chừa. Một lần, con mèo nhà tôi có chửa, sang ăn vụng khúc cá nhà cô Mão. Cô chủ bé tí thế mà dám cả ngan bắt mèo nhà tôi ném xuống giếng. Năm ấy mẹ cô Mão đẻ ra quái thai, có một cái đuôi và sau đó chết cả mẹ lẫn con.
- Cái chuyện “oan oan tương oán” của Chiến vừa kể, mình đã nghe nhiều, nhưng cảm thấy nó huyền hoặc thế nào ấy. Ta nói sang chuyện khác đi...
Tôi cố lái Chiến bàn sang chuyện thời sự, chuyện nhân tình thế thái, chuyện văn thơ để giết thời gian trong lúc đợi mấy người cùng đoàn công tác đi chơi ngoài Móng Cái trở về. Những câu hát lẫn tiếng meo meo, ngao ngao và cái bóng trắng vật vờ ngoài bãi biển hình như đang ám ảnh Chiến. Mắt anh rõi theo bóng trắng của bà chủ khách sạn  Bồng Lai, miệng lầm rầm kể chuyện, bất cần tôi có chịu ngồi nghe hay không.
Cô Mão hàng xóm của tôi ngày xưa chính là bà chủ khách sạn Bồng Lai đang meo meo, ngao ngao ngoài bãi cát vắng tanh. Bẵng đi mười mấy năm, đi lao động ở nước ngoài về, tôi gặp Mão đang làm nghề phe tem phiếu quanh chợ Bắc Qua, Đồng Xuân. Nàng đã đổi tên thành Lệ Hằng và rất xinh đẹp, đài các. Chồng nàng là người cùng quê, học trước tôi ba lớp. Tính anh ta hiền lành, cần mẫn, yên phận với công việc giữ thư viện trong một cơ quan nghiên cứu khoa học. Cơ quan thấy anh sống kham khổ, dành dụm từng mét phiếu vải, mua từng cân đường hay bánh xà phòng mang về quê nên ưu tiên nhận Mão vào làm tạp vụ, lại còn giải quyết cho vợ chồng anh gian nhà cấp bốn và nhập hộ khẩu cho các con. Hồi ấy, người nhà quê ra Hà Nội có việc làm, nhập được hộ khẩu là một đặc ân lớn của cơ quan với gia đình Mão. Cái tính đành hanh, nanh nọc hồi bé hình như đã nhiễm vào máu của cô Mão quê mùa, mỏng học. Được một thời gian quen hơi, ấm chỗ, Mão bắt đầu tọc mạch, xoi mói vào đời tư của hết thẩy mọi người trong cơ quan. Đã thế cô còn kiện cáo, đòi tăng lương, đòi chuyển công tác sang phòng vật tư. Nhân có đợt giảm biên chế, anh chồng thấy xấu hổ với bạn bè đã gặp riêng lãnh đạo, xin cho vợ nghỉ việc. Lúc đầu, Mão lồng lên xỉa xói, đay nghiến chồng. Sau nhờ có bạn bè dẫn dắt đi phe tem phiếu, kiếm được bộn tiền, có của ăn của để, Mão may sắm ăn diện nhất khu tập thể cho thiên hạ biết tay. Cái tên Mão do cha mẹ đặt cho cô cũng tự nhiên biến mất, thay bằng Lệ Hằng. Cô coi chồng như cỏ rác. Bố mẹ chồng từ quê lên chơi, cô chửi đổng là lũ nhà quê ăn bám, thậm chí còn vu cho mẹ chồng ăn cắp tiền để đuổi khéo họ về. Nhiều lần anh chồng đang giữa giờ làm việc bất chợt chạy về lấy tài liệu, bắt gặp vợ đang làm tình với người đàn ông lạ, nhưng cô ả vẫn nằm tênh hênh khiêu khích. Người ta ở đời ai hiền lành lại thường hay cục tính và cả nghĩ. Một đêm anh chồng cãi cọ, xô sát với vợ không lại, ức quá uống thuốc sâu tự tử...
Những chuyện vừa kể, mãi sau này tôi mới biết. Hôm ở nước ngoài về, vô tình gặp Lệ Hằng trên đường phố, tôi bị choáng ngợp bởi sắc đẹp đầy vẻ ma quái, quyến rũ của nàng. Trong hết thảy mọi thứ ngộ nhận ở đời, ngộ nhận về tình yêu là dễ mắc nhất. Tôi mê mẩn xách va li, đồ đạc đến nhà Lệ Hằng chung sống như vợ chồng. Bao nhiêu tiền, hàng dành dụm những năm lao động ở nước ngoài tôi nghe Hằng dồn vào mua khu đất ở Quảng Bá. Vì mới về nước, chưa nhập hộ khẩu  nên giấy tờ mua đất nghiễm nhiên đứng tên nàng. Đêm nằm, Lệ Hằng tỉ tê khuyên tôi quay trở lại nước ngoài vài năm, kiếm thêm vốn xây biệt thự, sống sung sướng suốt đời. Nàng lo chạy hộ chiếu , mua vé máy bay, sắm sanh một ít hàng... Tôi như kẻ bị bùa mê thuốc lú, răm rắp nghe theo sự sắp đặt của nàng, một lần nữa, mang sức trâu đi làm công xứ người. Gặp dịp mấy nước Đông Âu kinh tế hỗn loạn, đám công nhân người Việt chúng tôi thả sức tung hoành đi buôn lậu. Đô la, hàng hoá tôi gửi về cho Lệ Hằng và hai đứa con riêng của nàng ngày một nhiều.
Tin tức trong nước tới tấp báo sang rằng, Mão lừa đảo chiếm đoạt hết tài sản, tôi chỉ là anh chồng hờ ngoài hôn thú, còn chồng thực sự của nàng là Dũng quỷ nổi tiếng trong giới giang hồ... Tôi vẫn mê muội không tin, ngỡ thiên hạ ghen ăn tức ở, phá ngang hạnh phúc của mình. Chỉ khi bạn bè quay phim, chụp ảnh đầy đủ bằng cứ về sự phản bội, lừa đảo tôi mới tỉnh ngộ thì đã muộn. Khu đất ở làng Quảng Bá đươc xây thành khách sạn Bồng Lai đứng tên Dũng quỷ. Khi tôi về nước hai đứa con riêng của nàng còn mang dao doạ giết tôi vì đã quyến rũ mẹ nó. Trong cơn tuyệt vọng, tôi đã theo gót anh chồng cũ của nàng ngày xưa uống bốn mươi viên thuốc ngủ, may được cứu thoát.
 Chiến ngừng kể, mắt đăm đăm nhìn ra bãi cát, nơi cái bóng trắng vật vờ, thất thểu đi men theo mép sóng. Tôi gọi người nướng mực và lấy thêm chai rượu Quế Châu. Hai đứa ngồi uống rượu, lắng nghe tiếng sóng reo, gió thổi. Đêm cuối tháng trên biển Trà Cổ tối thẫm và huyền bí. Xa xa trong đất liền, phía bờ sông Ka Long có con chim bắt cô trói cột bay lượn, cất lên tiếng kêu thảng thốt. Hàng phi lao reo vi vút như tiếng hú gọi bầy của loài vượn trên trườn núi đá. Lẫn trong những âm thanh ấy là câu hát rợn người vọng lại từ cái bóng trắng vật vờ: “Meo, meo, meo...Chúng cháu yêu cô lắm... Ngao, ngao, ngao... em nhớ anh làm sao. Chúng ta yêu nhau xem nào...”. Đến lúc này, câu chuyện tình của Chiến làm tôi không thể dửng dưng được nữa. Nó thật sự hút hồn tôi bởi cái bóng trắng và những tiếng meo meo, ngao ngao rờn rợn kia.
-Vì sao Lệ Hằng mắc bệnh, bị ma mèo ám? Vì sao Chiến gặp lại nàng ở biển Trà Cổ? – Tôi hỏi.
- Quả đất này xem ra vẫn còn bé. Việc đời quay tròn theo số mệnh. Tôi bây giờ thành ông lang băm. Nói vui vậy thôi chứ tôi làm đại lý cho một hãng thuốc Đông y của Quảng Tây. Hãng này có loại thuốc chữa lão hoá tuổi già lấy tên nhãn là “Bách niên lạc” rất nổi tiếng.
- Nhưng anh hiểu biết gì về nghề thuốc?
- Số là sau lần được đem đi bệnh viện cấp cứu, tẩy ruột vì uống bốn mươi viên thuốc ngủ, tôi mắc bệnh đau dạ dày, lại thêm chứng suy nhược thần kinh. Nghe bạn bè khuyên nhủ, tôi vét nốt ít tiền còn lại sang Nam Ninh – Trung Quốc chữa bệnh và du lịch cho khuây khoả. Ở bên đó lâu, quen biết nhiều thầy thuốc Đông y giỏi, tôi được họ bổ túc cho một ít kiến thức để làm đại lý phân phối thuốc “Bách niên lạc”cho họ ở Móng Cái. Cửa hàng của tôi do họ đầu tư toàn bộ. Nhiệm vụ của tôi là tuyên truyền, phân phối thuốc “Bách niên lạc” nghĩa là trăm năm khoái lạc. Nếu có ai bên Việt Nam mắc bệnh nan y muốn chữa, tôi liên lạc với công ty bên Nam ninh, đón thày lang giỏi sang chữa trị. Hoa hồng tôi được hưởng cả từ hai phía cũng kha khá.
- Nhờ thế anh gặp lại Lệ Hằng? – Tôi sốt ruột hỏi.
- Chuyện còn dài, anh cứ nhẩn nha uống rượu, tôi sẽ kể tiếp…
Một chiều cách đây vài tháng, có chiếc xe Nhật đầu cá mập xịch đỗ trước cửa hàng. Người ta khiêng vào một thiếu phụ ngoài bốn mươi tuổi, nhưng còn nhiều nét đẹp. Mắt nàng trợn trừng, trắng dã. Miệng luôn kêu meo meo, ngao ngao. Móng tay để dài nhọn hoắt, gặp vật gì cũng cào nát. Người ta phải lồng vào hai chiếc bít tất quân dụng loại dày rồi buộc chặt. Lúc đầu, Chiến chưa nhận ra Lệ Hằng vì tóc nàng xoã xuống che kín nửa mặt. Nhưng anh nhận ra bộ râu quai nón của Dũng quỷ. Hắn tảng lờ như không quen biết Chiến. Nghề thuốc Đông y có nguyên tắc “Vấn - Vọng - Thiết” nghĩa là hỏi chuyện về người bệnh, xem mạch và quan sát sắc mặt, thần khí. Nhờ vậy, Chiến biết rõ căn bệnh của nàng qua lời kể của Dũng quỷ.
Khách sạn Bồng Lai đang hồi phát đạt, khách nước ngoài đặt phòng kín chỗ. Nghề khách sạn khi đã kín phòng sẽ lại có thêm nhiều khoản thu phụ như: điện thoại, đồ uống, dịch vụ taxi, tươi mát... Trong số khách thuê có cặp vợ chồng trẻ người Bắc Âu. Họ mang theo chú mèo cái giống Nam Mỹ rất đẹp. Nó to cỡ bằng con chó Bắc Kinh. Lông dài, óng mượt, màu trắng tuyết. Móng và gót chân nó được chăm sóc kỹ, đỏ hồng như bôi son nhạt. Cặp mắt nó to tròn, sáng trong như viên ngọc lưu ly. Tập tục phương Đông kiêng nuôi mèo trong phòng ngủ khách sạn sẽ bị xui xẻo. Nhưng vì giá phòng của cặp vợ chồng người Bắc Âu này, qua mối lái của du lịch hàng không được ngã giá rất cao, gấp đôi người khác nên Lệ Hằng vui vẻ đồng ý. Thường ngày thì chú mèo Liu Ba chỉ quanh quẩn chơi trong phòng. Nó sử dụng toa lét thành thạo như người nên cũng rất sạch sẽ. Một lần “cô nàng” Liu Ba theo chủ lên sân thượng ngắm cảnh Hồ Tây, gặp “chàng” mèo đực vàng đi hoang trên mái nhà hàng xóm. Giống vật đực – cái gặp nhau trong cơn hứng tình sẽ rất quyến luyến. Từ đó, chú mèo vàng kia đêm đêm chạy sùng sục trên mái nhà, ngao ngao gọi bạn. Có lần nó nhảy sang ban công khách sạn, cào cửa từng phòng gào lên ngao ngao nghe da diết và hậm hực. Khách thuê phòng không ngủ được, lần lượt bỏ đi. Lệ Hằng muốn tống khứ cặp vợ chồng người Bắc Âu, nhưng hợp đồng thuê ba tháng chưa hết, tiền họ đã trả trước. Nàng lừa lúc khách đi vắng, cho mèo Liu Ba ăn bả chuột liều lượng đậm đặc. Mèo Liu Ba chết, khách nghi ngờ nó bị trúng độc, kiện ra chính quyền đòi khám nghiệm, phát hiện Liu Ba đang có chửa. Theo luật quốc tế, Lệ Hằng phải bồi thường cho khách với giá thoả thuận là năm ngàn đô la. Tai tiếng vụ mưu sát mèo Liu Ba lan truyền, gây bất bình cho các hãng du lịch trong và ngoài nước. Họ đồng loạt tẩy chay khách sạn Bồng Lai. Phòng ốc trống không, nhân viên bỏ việc, khách sạn Bồng Lai trở nên hoang lạnh. Đêm đêm chú mèo vàng hàng xóm chạy lồng trên sân thượng tìm bạn, kêu gào những tiếng ngao ngao nghe ai oán, thê thảm. Có đêm nó tìm đúng phòng Lệ Hằng cào cửa, ngao ngao như nguyền rủa quân sát nhân tàn ác. Nàng đổ bệnh sinh ốm lửng và suy sụp rất nhanh. Những tiếng ngao ngao gào thét của con mèo đực biến thành cơn ác mộng kéo dài. Lệ Hằng luôn tưởng tượng thấy hồn ma mèo Liu Ba về đòi mạng...
Đêm đã chìm vào sâu. Gió biển thổi mạnh, huýt dài trên các ngọn phi lao. Sóng ào ạt xô bờ. Xa xa, phía bờ sông Ka Long lại vọng về tiếng chim bắt cô trói cột. Tôi ái ngại nhìn Chiến dốc ngược chai rượu Quý Châu uống tràn. Tóc anh xoã bay trong gió, cặp mắt ngơ dại như người điên. “Có ma, nhất định trong cõi người cũng có ma.”- Anh làu bàu nói. Tôi nhìn ra mép sông lần tìm cái bóng trắng vật vờ như hồn ma trong đêm tối trăng bên bãi biển Trà Cổ. Lòng tôi nôn nao, dâng lên những đợt sóng.

Nguồn: www.vannghesongcuulong.org
 

tồn tại hay không tồn tại
0
TAM NGƯU TƯƠNG MỆNH
Vũ Ngọc Tiến
 
Sửu  với bao thuốc lá “Ba số” lấy một điếu châm lửa hút. Anh ngả người ra thành ghế, ngửa mặt lên trần nhà, khoan khoái nhả những mành tơ khói thuốc màu xanh. Khu làm việc của Uỷ ban huyện đã cải tạo xong, oai nghi đường bệ giữa thị trấn. Lâu nay các vị tiền nhiệm quen tác phong du kích, nơi làm việc của Uỷ ban huyện mà lem nhem, úi xùi còn ra thể thống gì nữa. Mang danh là “quan chi phụ mẫu” thì dân hoặc cấp dưới đến nơi làm việc của mình phải thấy uy nghi, bước đi rón rén, nhìn vào đâu cũng thấy oai, thấy sợ. Cái quan trọng là người lãnh đạo phải biết khéo léo thu xếp, xoay sở cho ra nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung từ cấp trung ương, qua tỉnh, xuống huyện. Vỏ nhà đã xây xong, phần trang trí nội thất cứ gợi ý rồi khoán trắng cho mỗi doanh nghiệp đóng ở địa bàn góp một thứ sẽ đỡ tốn kém lại rất sang trọng. Có làm mới vỡ nhẽ, doanh nghiệp nào được huyện gợi ý đóng góp đều cảm thấy hãnh diện và đương nhiên mọi thứ đều phải thật “xịn”, sao cho đẹp lòng các ông Chánh, Phó Chủ tịch. Uy tín của Sửu với tỉnh và các ban ngành trong huyện qua việc này sẽ lên như diều. Cái quan điểm Nhà nước và nhân dân cùng làm là từ đây mà ra chứ còn đâu nữa!...
- Có tiếng gõ cửa. Sửu sửa lại tư thế ngồi và nói sẵng:
- Cứ vào!
- Thưa anh! Em đến báo cáo về chiếc ô tô – Chánh văn phòng Khiêm xoa hai tay nói.
- Cậu ngồi xuống đi. Công việc đến đâu rồi?
- Dạ thưa anh! Xe Nhật, hiệu TOYOTA COROLLA đời mới nhất.
- Giá cả thế nào?
- Dạ, sáu trăm ba tư triệu. Mọi thủ tục thanh toán, sang tên trước bạ và treo biển có bên bán giúp đỡ nên rất nhanh gọn, chỉ trong một ngày đã đâu vào đấy.
- Nhiều tiền thế, cậu xoay ở đâu ra?
- Dạ thưa anh, vẫn miếng võ cũ. Em cũng không ngờ mọi việc xuôn xẻ, nhanh gọn đến như vậy.
- Cậu nói rõ hơn xem nào.
Khiêm nhấp ngụm chè, rít xong hơi thuốc, tủm tỉm nhìn Sửu cười và nói tiếp:
- Chiếc xe Uwat của anh, em gợi ý cho Giám đốc lâm trường mua lại với giá bẩy mươi  triệu. Sòng phẳng ra nó chỉ đáng hai mươi triệu nhưng để hợp thức hoá sự đóng góp của lâm trường cho huyện nhà là năm mươi triệu. Đối với các doanh nghiệp trung ương và địa phương thuộc khối quốc doanh đóng trên địa bàn, em gợi ý mỗi nơi góp từ ba mươi đến năm mươi triệu, nhưng phải hợp thức hoá các khoản chi: đại hội thể thao, hội diễn văn nghệ, hội thi tay nghề giỏi hoặc chi phí đón tiếp khách nước ngoài đến tham quan, đàm phán hợp tác đầu tư...
- Thế còn khối ngoài quốc doanh? - Sửu ngắt lời hỏi.
- Dạ, báo cáo anh, với khối ngoài quốc doanh thì quá đơn giản. Tiền mua xe của huyện xem như bằng giá năm trăm con trâu, mỗi doanh nghiệp có phải góp một hai con thì ăn nhằm gì. Tuy vậy em phải nắm khả năng từng đứa. Bọn cai bưởng đào vàng, khai thác gỗ ăn dày thì nộp nhiều mà mặt cứ tươi hơn hớn. Đám buôn bán, sản xuất nhỏ, em chỉ chọn một số có máu mặt và họ đều dơ tay tình nguyện nộp kẻ ba triệu, người năm triệu cứ là vui như tết.
- Vậy hoá đơn chứng từ mua xe mới cậu làm cách nào hợp thức hoá? Lưu ý trên chỉ duyệt cho ta mua xe có một trăm hai mươi triệu.
- Dạ, báo cáo anh chuyện này dễ ợt. Chủ xe là tư nhân nên giá trị ghi trong hợp đồng thế nào chẳng được, miễn sao họ thu về đủ tiền “năm trăm con trâu”, thưa anh!
- Tốt lắm! Cậu báo với anh chị em khối văn phòng huyện, chiều nay ta liên hoan “rửa xe”, nhớ mời cho được anh Dần Bí thư.
 - Dạ, thưa anh nhất định chiều nay phải có mặt anh Dần mới vui vẻ chứ ạ! Em có đề nghị nhỏ là “năm trăm con trâu” mua xe sẽ được rửa bằng năm trăm lon bia Tiger…
Khiêm đi rồi, còn lại mình Sửu trong phòng. Anh mở tập công văn, giấy tờ xem qua và ghi ý kiến chuyển sang các phòng chức năng của huyện. Lòng Sửu xốn xang niềm vui. Từ nay mỗi lần lên họp trên tỉnh hay xuống Hà Nội, anh có thể hãnh diện với bạn bè về chiếc xe TOYOTA COROLLA đời mới nhất của Nhật. Nghĩ lại những lần trước nhìn xe của họ mà ngán ngẩm cho chiếc xe Uwat của mình. Nó thô thiển quê mùa và suốt dọc đường anh phải chịu tra tấn bằng những tiếng lạch cạch, lọc cọc đến đinh tai, nhức óc. Sửu thầm khen Khiêm có tài, lanh lẹn và biến hoá, uyển chuyển bắt kịp xu thế đổi mới toàn diện. Cơ chế thị trường đòi hỏi phải sử dụng các cán bộ năng động. Sửu cảm thấy Dần quá ư thận trọng, khi anh nhắc phải cảnh giác với loại cán bộ dưới quyền như Khiêm. Sửu có quan điểm khác với Dần. Cái tài của người lãnh đạo không phải là hùng hục xông vào từng công việc cụ thể mà phải biết lựa chọn người giúp việc, giao cho họ đảm nhận những công tác đúng với năng lực, sở trường. Thế hệ của Dần đã lỗi thời. Nếp nghĩ, cách làm bảo thủ như vậy thì bao giờ huyện này mới khấm khá lên được.
Cái anh chàng Khiêm này vừa thạo việc mà cũng thật hóm. Chiếc xe mua mất già nửa tỷ bạc, ai nghe cũng vãi linh hồn. Hắn đưa ra khái niệm giá mới là năm trăm con trâu nghe bỗng thấy mềm oặt và rất nôm na, dân dã. Sửu nghĩ vậy và chợt nhớ đến hai người bạn thân là Bê và A Mộc. Bê quê Thái Bình, còn A Mộc người huyện bên cạnh, thuộc dân tộc Tày trên núi Mẫu Sơn, nhiều đào và những đàn trâu trắng. Ba đứa cùng tuổi Kỷ Sửu, cùng nhập ngũ một ngày và chiến đấu trong cùng đại đội dặc công của sư đoàn. Trận đánh thị xã Phước Long cuối năm bảy tư, Sửu bị thương nặng vào bụng tưởng chết. Bê và A Mộc đã thay nhau cõng Sửu về tuyến sau, kịp thời cấp cứu. Ngày xuất ngũ ba đứa ngồi trong quán bê thui ở cầu Khánh Hội – Sài Gòn nhậu lai rai, thề đến chót đời vẫn đi lại, động viên giúp đỡ nhau làm việc, nuôi dạy con cái trong thời bình. Mấy năm trước, Sửu đang làm cán bộ Trưởng ban Tài chính của huyện, bất ngờ Bê lên thăm. Luyên thuyên mọi chuyện trên giời dưới bể một hồi, Bê bảo:
- Quê tao bây giờ khôi phục lại truyền thống lễ hội. Hàng năm ở quê có lệ chọi trâu. Tao lên thăm mày với thằng A Mộc, nhờ nó tìm mua giúp con trâu đực thật khoẻ.
- Mày làm Chủ tịch xã chỉ cần đứng ra tổ chức, việc gì phải lặn lội lên tận đây mua  trâu - Sửu hỏi.
- Đất lề quê thói, bố trẻ ơi! Tục ở quê tao, đến hội chọi trâu mỗi làng chọn ra con trâu khoẻ nhất để dự thi. Trâu làng nào bị thua quanh năm phải cắt cử người đến rửa đền, quét sân đình cho làng có trâu thắng trận. Việc tưởng nhỏ mà thấy nhục và ấm ức quanh năm, mày ạ!
- Đành rằng thế, nhưng mày có thể cử người đi mua và chăm sóc trâu. Làm anh lãnh đạo việc gì cũng ôm vào, vừa nhọc xác lại không có kết quả đâu.
- Ở làng tao nuôi trâu chọi cũng phải chọn người “lão nông chi điền”, gia đình phải siêng năng , thuận hoà. Ai được các cụ bô lão trong làng lựa chọn cắt cử việc này là một vinh dự. Năm nay ông cụ thân sinh ra tao được đắc cử. Nuôi trâu đòi hỏi rất công phu, tỷ mỉ. Hội chọi trâu đến cuối tháng mười âm lịch mới khai cuộc, nhưng từ tháng giêng, làng đã bắt đầu rục rịch phân công chuẩn bị. Giống vật cũng như con người, phải âu yếm, vỗ về chăm sóc nó, truyền cho nó cái dũng khí và âm đức của mình. Ngày xưa cụ cố nội tao nuôi trâu chọi, luyện cho nó ăn, nghỉ, tập luyện, tắm rửa đều đúng giờ. Chiều chiều, cụ dắt nó lên đê gặm cỏ, hóng gió hoặc cùng nó phi nước kiệu dọc bờ đê ngắm nhìn dáng sông, thế đất của làng quê. Những đêm sát ngày thi đấu, cụ kê chõng ra gần chuồng, ngồi hút thuốc lào, tâm sự với nó như với người bạn... Năm nay theo bốc thăm, trâu làng tao sẽ đấu với trâu làng Hạ. Xưa nay dân làng Hạ ỷ thế giàu có, con cháu nhiều người thoát ly làm việc ở trung ương nên vẫn coi thường dân làng tao. Nhưng ông cụ nhà tao quả quyết trận đấu năm nay trâu làng tao sẽ thắng. Ông bảo, giống vật, nhất là con trâu có đời sống tâm linh riêng. Chủ càng nghèo nó càng yêu quý, trung thành và quyết không làm nhục chủ, đặc biệt là những con trâu có nhiều xoáy lông ở hông và trán...
 
Lần ấy Sửu cùng Bê lên Mẫu Sơn thăm A Mộc. Họ uống rượu, tâm sự cùng nhau thâu đêm suốt sáng . Nhà A Mộc có đàn trâu trắng hơn ba chục con thảy đều to khoẻ, lực lưỡng. Con trâu đầu đàn được A Mộc rất quý, thương nó như con. Những ngày đi ăn trong rừng, nó chỉ huy đàn trâu chống lại thú dữ. Khi nhà có việc nó kéo gỗ, thồ hàng hay cày ruộng khoẻ gấp hai, ba lần các con trâu khác. A Mộc dẫn nó về nhà ra mắt chủ mới, làm Bê sướng rơn. Da nó đỏ hồng bóng nhẫy. Lông dài và thưa, sờ tay vào sợi lông cứng như dây thép. Mông nở, ức dày, bốn chân to và chắc lẳn như chân voi. Cặp sừng cong dài, đen nhánh như bôi mỡ lẫn bồ hóng. Đặc biệt cặp mắt biết nói của nó sáng một cách kỳ lạ như có thần khi bên trong. A Mộc nhất quyết biếu bạn không chịu nhận tiền. Khi Bê cầm dây định dắt con trâu đi, nó cứ dậm chân, lắc đầu, nước mũi, nước mắt cứ chảy ròng, không chịu bước. A Mộc phải dỗ dành, khuyên nhủ hồi lâu con vật mới chịu nghiêng đầu cọ má vào tay chủ từ biệt, theo Bê về xuôi…
Sửu muốn đi thăm gia đình A Mộc. Anh thấy nhớ bạn, hơn nữa cũng muốn đi thử xe và khoe chiếc xe TOYOTA COROLLA đời mới với thằng bạn một thời chinh chiến gian khổ, đói quay đói quắt. Chiếc xe là niềm kiêu hãnh để anh chứng minh với bạn rằng, người miền núi đang đổi mới, tiến kịp miền xuôi.
Xe đưa Sửu rời thị trấn huyện lên thị xã rồi thẳng con đường trải nhựa chạy về phía núi Mẫu Sơn. Anh thả hồn đê mê trong khúc nhạc du dương vọng từ máy ra-đi-ô caset. Tiếng máy điều hoà chạy xè xè, êm ru, mát rượi. Chiếc xe có bộ giảm sóc tự động khiến Sửu có cảm giác mình đang nằm bồng bềnh trên giường đệm của một khách sạn sang trọng. Nếu đi xe này về Hà Nội, thậm trí vào Đà Nẵng, hay Sài Gòn, Sửu chỉ cần ấn nút là hàng ghế phía sau tự động ngả ra thành chiếc giường nằm thoải mái, tha hồ đọc sách hay nhấm nháp lon bia, vừa nằm vừa ngẫm sự đời. Nhưng bắt đầu từ lúc rẽ vào con đường khai thác gỗ của lâm trường ở chân núi Mẫu Sơn, chiếc xe hiện đại của anh trở nên không thích hợp. Mỗi lần qua ngầm, vượt dốc nó leo ì ạch, thậm chí nhiều lần chú lái xe còn phải nhờ đến xe tải của lâm trường kéo giúp. Cuối cùng, Sửu cũng đến được bản Pò Linh của A Mộc. Hai người bạn lính lâu ngày gặp lại, ôm nhau thân thiết. A Mộc đầu quấn khăn, quần xắn quá gối, mồ hôi chua loét cứ thản nhiên khoác tay ông Chủ tịch huyện về nhà, giọng nói choang choang như hô khẩu lệnh quân sự. Người ở vùng cao thịt vịt quý hơn thịt gà nên chị vợ A Mộc vội vàng chạy ra suối, lừa bắt con vịt béo nhất đàn về làm thịt. Bạn lính gặp nhau ngồi uống rượu, kể toàn chuyện chiến trường và những thằng bạn cùng quân ngũ. Chợt A Mộc ngửa cổ tợp hết chén rượu hỏi bạn:
- Thằng Bê ốm nặng mày biết chưa?
- Không thấy ai đưa tin cho tao. Nó thế nào, nặng không?
- Nó hạn nặng!... Nhưng theo tao, nó tâm bệnh là chính. Ốm vì cái tâm thì trầm uất khó chữa lắm
- Mày là chúa hay vòng vo tam quốc, chuyện thằng Bê thế nào? Nói đi!
- Nó bị mất chức Chủ tịch xã. Cái đó với tụi lính chúng mình là nhỏ thôi. Không làm quan thì làm dân, cần chó gì!
- Vậy nó ốm vì cái gì? - Sửu lo lắng hỏi.
- Vì tội bán đất công vô tội vạ, sắp ra tòa đến nơi rồi. Tao đã nhờ bạn bè cựu chiến binh trong ngành kiểm sát ở tỉnh Thái Bình điều tra, tìm hiểu kỹ thì hoá ra nó bị con mẹ Thư ký Uỷ ban xã lừa vào tròng. Nhờ thế, tội đáng phải truy tố, nhưng xét công lao thời chống Mỹ và tình tiết vụ việc nên nó chỉ phải bán nhà, bán trâu bồi thường và chịu kỷ luật nội bộ. Mày nhớ con trâu trắng đầu đàn tao biếu nó chứ? Sau trận thắng oanh liệt, húc lòi ruột con trâu đen của làng Hạ, ông bố nó quý con trâu như cục vàng. Hôm nọ tao nhận thư vợ thằng Bê nói, đã bán cho dân làng Hạ để kéo mía làm đường rồi. Tao định mang tiền xuống chuộc lại con trâu cho ông cụ đỡ buồn. Mày làm quan, xa dân chưa hiểu hết nỗi lòng người nông dân dưới xuôi yêu quý con trâu đến mức nào đâu...
- Đại để tình tiết vụ việc sảy ra thế nào?
- Bắt đầu là do nó thiếu cảnh giác. Cái tuổi Kỷ Sửu chúng mình, đứa nào cũng lành như đất, thật thà và cả tin. Thằng nào vô phúc léng phéng với đàn bà tuổi Ất Mùi, lại đẹp và huyền biến, gian manh là hạn nặng, tong đời như bỡn. Năm ngoái, nhà nó bị cơn bão kéo sập phải dựng lại. Con mẹ Thư ký Uỷ ban xã tuổi Ất Mùi xăng xái đi vận động mấy ông chủ xay sát và xưởng gỗ, mỗi người đóng góp ít tiền cho Chủ tịch xã khắc phục cơn bão. Họ làm kín đáo, chỉ góp bằng gạch, xi măng, sắt thép, gạo thịt. Tất nhiên là mọi thứ đều dư thừa, có thể bán bớt, lấy tiền trả công thợ và làm việc khác nên thằng Bê mắc lỡm, cảm động rưng rưng, luôn miệng cám ơn bà con. Ai ngờ con mẹ Mùi đã sớm thì thụt đi đêm với họ, thỏa thuận giá bán mấy miếng đất ven con đường tỉnh lộ sắp mở qua xã. Tiền chênh lệch hàng trăm triệu nó hưởng. Thi thoảng nó thí cho ông Chủ tịch xấu giai, tuổi trâu ngờ nghệch vài cái liếc tình hay bóp ngực nhì nhằng là cùng, thế thôi. Tao đoán vậy… Hồi còn ở lính, tụi mình lạ gì tính cách thằng Bê, nhát gái đến mức chị em người dân tộc ở địa bàn đóng quân thì thầm với nhau, bảo nó không có “chim’ cơ mà. Về chuyện tiền nong, kết quả điều tra xác minh rõ,con mẹ Thư ký Mùi ăn ốc, còn thằng Bê đổ vỏ. Vạ chữ ký, thằng Bê hạn nặng vì mắc vạ chữ ký! Chỉ những thằng làm quan lớn, quan bé như chúng mày mới có thứ vạ ấy chứ tao thì nhõn một thứ vạ mồm thôi…
Sửu nghe A Mộc kể chuyện Bê chợt cảm thấy gai gai trong lòng. Hình như Khiêm cũng tuổi Ất Mùi. Anh nhớ lời nhắc nhở của Dần, hình dung lại thái độ xum xoe khúm núm và đôi mắt giảo hoạt của Khiêm. Ruột gan Sửu rối bời. Anh linh cảm thấy có điều gì không ổn trong việc mua chiếc xe ô tô Nhật đời mới. Biết A Mộc giỏi tử vi, tướng số, anh lựa lời bộc lộ dần với bạn về mấy việc vừa xảy ra ở Ủy ban huyện. A Mộc nghe xong, ngửa cổ tợp liền ba chén rượi. Hồi lâu, hắn nhìn sâu vào mắt Sửu, cất giọng trầm buồn nói:
- Sửu! Mày có tin thằng bạn cõng mày thoát chết ở trận Phước Long không?
- Sao mày lại hỏi tao câu ấy?
- Năm nay là năm hạn của tụi mình. Người dân tộc chúng tao kém văn minh, tin vào tướng số. Riêng tao tin vào sự linh cảm bắt nguồn từ tình bạn thời lửa đạn, hy vọng mày mới chỉ háo danh, hãnh tiến chứ chưa đến mức mọt dân, hại nước. Nó mách bảo tao chuyện mày xây dựng trụ sở Ủy ban, mua ô tô đời mới có gì không ổn, giống hệt chuyện thằng Bê, gặp hạn là cái chắc. Mày là Chủ tịch một huyện miền núi, thường xuyên phải đi các xã nên ngồi xe Uwat có lẽ tiện hơn ngồi xe Nhật đời mới, gầm xe thấp tè, làm sao qua ngầm, vượt dốc. Tao sống ở vùng sơn cước, ít tiếp xúc với văn minh thị thành, nhưng tao hiểu giá một chiếc xe mày đang ngồi cỡ bằng cả đàn trâu trong cái bản Pò Linh. Ngồi trên con trâu trắng đầu đàn của tao, bố con thằng Bê thấy kiêu hãnh, thanh thản trong lòng. Mày ngồi lên chiếc xe là ngồi lên hàng trăm con trâu, mỗi con chạy một hướng, liệu mày có yên ổn? Tao chưa xem mặt đoán tướng hay lấy số tử vi cho cái thằng Khiêm, Chánh văn phòng láu cá của mày. Song tao nghĩ, nó đã biết đẽo tiền dân để lấy lòng sếp thì đẽo thêm vào túi riêng của nó chắc không ít đâu. Ăn quen bén mùi, qua mấy vụ này sẽ có lúc nó mượn tên mày mà đẽo tiếp tiền dân dài dài nữa cơ. Cứ đà này, nó còn đẽo dần từng cái chân ghế Chủ tịch huyện mày đang ngồi cho mà xem. Đời là thế, mày tin tao hay không thì tùy…Bạn bè thời lửa máu đáng quý ở chỗ nói thật, Sửu ơi!...
Sửu nghe bạn nói, đầu có cứ ong ong, sôi lên ùng ục. Từ ngày lên chức Chủ tịch huyện chưa có ai dám nói với anh những lời bỗ bã, chân tình như vậy. Anh thầm cảm ơn A Mộc, cảm ơn tình bạn đồng niên, đồng ngũ. Sửu sực nhớ trong túi anh còn nguyên chiếc phong bì do Khiêm kín đáo nhét vào túi anh, sau bữa tiệc “rửa xe”. Luật chơi của kinh tế thị trường thời mở cửa đã thành nếp. Chiếc phong bì có lẽ chứa đủ số tiền năm phần trăm giá xe vừa mua. Nó có giá trị bằng mười con trâu của A Mộc, của Bê cũng nên. Anh móc túi lấy ra phong bì đưa cho A Mộc và nói:
- Tao bận việc, thế nào cũng sẽ xuống thăm thằng Bê. Mày xuống trước, cho tao gửi ít tiền đỡ nó chuộc lại con trâu cho ông cụ.
- Không. Tiền của các quan, lại được gói kín vào phong bì, chưa rõ lai lịch tao không cầm. Tao vừa sai thằng cu nhớn đem xuống chợ tỉnh bán mười con trâu đẹp nhất đàn. Tam ngưu tương mệnh, nhưng năm nay hạn của tao bé hơn chúng mày, chỉ phải bán trâu cứu bạn thôi. Mai tao sẽ đi Thái Bình. Mày nên sắp xếp công việc đi thăm thằng Bê một chuyến. Trên đời này có nhiều mối quan hệ giằng rịt con người, nhưng tình bạn kết bằng xương máu thời lửa đạn như chúng mình hiếm lắm. Dù đời có thế nào cũng đừng để mất nó!        
 
Rời bản Pò Linh, Sửu thấy lòng buồn rượi. Mỗi lời A Mộc nói như vết dao cứa vào tim anh. Sửu bật nút cho băng ghế phía sau ngả thành chiếc giường để anh bồng bềnh trên đó hút thuốc và suy ngẫm. Mai anh sẽ mượn chiếc xe Uwat của Bí thư Dần về Thái Bình thăm Bê…
Hà Nội 1991 (Tân Mùi)

Nguồn: www.vannghesongcuulong.org
 
 

tồn tại hay không tồn tại
0
HÀ CHÍNH
Vũ Ngọc Tiến
 
Sử cũ chép rằng Khổng Tử tuổi Canh Dần. Tuổi này đàn bà cô quả, còn đàn ông cô đơn, chẳng ai hiểu mình. Xét cho cùng, Ngài cô đơn bởi cái đạo của Ngài cao quá! Suốt một thời trai trẻ đến tận 50 tuổi, Ngài chỉ chuyên tâm đọc sách, nghiên cứu Chu Dịch, san định kinh thi, kinh lễ, kinh thư... Số Ngài long đong bởi Ngài cho rằng thiên hạ đại loạn chỉ tại người đời chạy theo những ham muốn, chữ Nhân suy vi nên tâm đã mờ tối thì thiên hạ tắc loạn. Ngài hết sức tuyên truyền thuyết Chính Danh để vua ra vua, cha ra cha, vợ chồng thuận hòa, con cái hiếu đễ. Học trò theo ngài mỗi lúc một đông, nhưng Ngài chỉ chọn ra 72 người, đời sau gọi là “Thất thập nhị hiền” để hết lòng truyền dạy đạo Nhân mà Ngài đã dày công gây dựng trong già nửa cuộc đời. Bước vào chính trường khá muộn mằn, nhưng chỉ qua sáu năm, Ngài và học trò đã giúp nước Lỗ chỉnh đốn triều cương, chăn dân, khuyến nông, nước nhà ngày một hưng thịnh. Ra chợ người bán thịt không nói thách. Trên đường đàn ông đi một bên, đàn bà đi một bên. Của rơi ngoài đường không ai nhặt. Nhà nhà trên thuận dưới hoà. Xóm thôn đầm ấm tỏa khói lam chiều. Vua Tề thấy Lỗ thịnh trị đâm lo ngại. Đại phu Án Anh bày cho Tề vương chọn lựa 80 gái đẹp, dạy cho múa hát rồi đem biếu vua nước Lỗ. Lỗ công say đắm sắc dục, ngày thêm lạnh nhạt, coi thường Khổng Tử, đạo Nhân vì thế lại suy vi. Ngài buồn mà than rằng: “Người đời ai cũng háo sắc hơn háo đức” Tử Lộ thấy vậy can:  “Chữ Nhân ở đây đã mòn cùn rồi. Ta nên sớm đi thôi, thưa thầy!”.
Đó là năm 496 trước công lịch. Khổng Tử đã 56 tuổi, vẫn tin rằng Trời giao cho Ngài sứ mạng phục hồi đạo của Chu công, lập lai trật tự trong thiên hạ bằng chữ Nhân, không cần đến hai chữ Hà Chính có nghĩa là chính trị hà khắc. Than ôi! Cái tâm của Ngài mới sáng làm sao. Cái chí của Ngài mới cao đẹp không biết nhường nào. Ngài quyết tâm dắt học trò rời bỏ nước Lỗ, mở phong trào đi đi du thuyết khắp các nước Tề - Triệu - Tống - Trần – Thái. Suốt 4 năm ròng, Ngài cùng đám “thất thập nhị hiền” gối đất nằm sương, long đong lưu lạc nơi đất khách quê người. Ở đâu Ngài cũng khuyên vua và các quan đại phu: “Lấy Pháp mà trị dân, lấy Hình mà xử thì dân không dám phạm tội, nhưng không biết hổ thẹn. Lấy Hà Chính mà sai khiến ép buộc dân thì dân chỉ biết sợ, ngoài mặt phục tùng chứ không tâm phục, còn trong lòng thì oán hận”...
Người đời vì nể, kính trọng khổng Tử, nhưng ai cũng lạnh nhạt, hờ hững không chịu nghe theo đạo Nhân của Ngài. Họ đang mải mê tranh bá, đồ vương. Thiên hạ ngút trời biển lửa, rừng gươm. Mặt đất ngập ngụa núi xương sông máu. Ở chốn cung đình cha con, anh em ăn thịt lẫn nhau vì ngai vàng. Nơi kinh thành các quan đại phu ngấm ngầm triệt hại lẫn nhau vì chút danh, miếng lợi.
 
Khổng Tử sang nước Vệ, vua Vệ Linh Công vì say mê nàng Nam Tử nổi tiếng dâm đãng mà cố ý làm hại thanh danh của Ngài. Ở nước Tống, tướng quân tư mã Hoàn Khôi khét tiếng gian manh, tàn bạo nên sợ đức của Ngài, ghen với uy tín của Ngài chỉ hằm hè trực giết. Biết Ngài thường họp môn sinh dưới gốc cây bồ đề cổ thụ để dạy cho họ tập lễ, Hoàn Khôi tuy không dám giết Ngài, nhưng sai người đốn ngã cây bồ đề ấy.
Đôi lúc trong số học trò của Khổng Tử có người ngã lòng, hoang mang. Tử Lộ nói:
- Theo ý con, có lẽ vì chúng ta chưa Nhân chăng, nên người đời chưa tin chúng ta? Có lẽ vì chúng ta chưa Trí chăng, nên người đời không theo đạo chúng ta?
Tử Cống nói:
- Đạo của thầy cao quá, cho nên thiên hạ không ai dung nạp được. Thầy nên hạ thấp một chút.
Nghe các trò góp ý, Khổng Tử chỉ cười và im lặng. Có lẽ trong 4 năm lưu lạc, thầy trò Khổng Tử ở nước Trần lâu nhất. Ngài và học trò khổ công thuyết giáo, nhưng vua Trần và các đại phu chỉ đam mê hai chữ Hà Chính, không ai tin và nghe theo đạo Nhân của Khổng Tử. Vua Sở hâm mộ tiếng tăm của Ngài, muốn mời Khổng Tử sang nước Sở. Vua tôi nước Trần bàn nhau: “Khổng Tử ở Trần đã lâu, hiểu biết những cái sở đoản của nước Trần do Hà Chính gây nên. Nếu vua Sở dùng Ngài hay học trò của Ngài thì nước Trần sẽ nguy mất”. Họ đem quân vây chặt thầy trò Khổng Tử giữa một khe núi. Bị vây và tuyệt lương, các môn sinh đau ốm liệt giường mà ngài vẫn thản nhiên đọc sách, gảy đàn. Có môn sinh đã tỏ thái độ bất bình, oán hận thầy.
Môt buổi chiều, ánh hoàng hôn mờ dần sau đỉnh núi đá tai mèo nhọn hoắt. Tiếng chim cú rúc dài trên vách đá cheo leo. Lác đác trên bầu trời vài cánh dơi bay chạng vạng. Dòng suối oằn mình lượn qua rừng cay Pơ mu hối hả đổ nước ra sông Hoàng Hà ầm ào cuộn sóng, xô nhanh về phía chân trời xa thẳm. Đất trời hầm hập, oi nóng như muốn nổi bão giông. Thầy trò Khổng Tử sau giờ học lễ, chia nhau từng mẩu củ mài và những cọng rau rừng đắng chát. Tử Lộ lầm bầm nói vào tai Nhan Hồi:
- Đến nước này mà thầy vẫn chưa chịu dung hoà Nhân một tí, Hà Chính một tí có phải hay hơn không?
Nhan Hồi điềm nhiên bẻ một mẩu củ mài nhường cho Tử Lộ và nói:
- Chính vì người ta không dung nạp nổi thầy nên thầy mới là bậc thánh. Đạo không được trau dồi đó là điều chúng ta lấy làm xấu hổ. Đạo đã trau dồi mà người ta vẫn không dung nạp đó là điều xấu hổ của kẻ làm vua.
Chợt từ trong rừng Pơ mu vẳng lại tiếng khóc ai oán, thê thảm của một người đàn bà. Khổng Tử đang lim dim mắt tâm niệm cái lẽ tuần hoàn vô bờ của đạo dịch Chu Công, cái huyền biến, vi diệu của chữ Nhân. Ngài choàng tỉnh dậy, gọi bảo học trò dắt Ngài đi tìm người đàn bà, hỏi xem cơn cớ gì mà tiếng khóc não nùng thê thảm làm vậy. Tới một tảng đá phủ đầy rêu mốc bên khe nước, Ngài thấy người đàn bà mặc đồ sơn cước đã bạc thếch, rách tã. Tóc nàng rũ rượi phủ lên khuôn mặt lem luốc, rám nắng. Mặc dầu vậy, ở nàng vẫn toát lên vẻ kiều diễm, cao sang với vóc người mảnh mai, cặp mắt đen láy dưới hàng mi thanh tú. Bộ đùi thon thả, gót sen đỏ và nhỏ xíu kia chỉ có thể tìm thấy nơi lầu son, gác tía. Nàng đang ôm ngực, cúi đầu vật vã khóc than.
Nhan Hồi tiến lại gần, vòng tay trang nghiêm hỏi:
- Thưa quý nương! Bà từ đâu lại đây? Vì sao đã sắp tắt mặt trời, bà còn ngồi một mình khóc than giữa rừng vắng?
- Con trai tôi bị cọp dữ vồ tha đi mất xác.
- Chồng bà đâu?
- Ông ấy cũng bị cọp vồ năm ngoái. Ở đây hoang vắng nên nhiều cọp dữ lắm. Các ông nên mau chạy ra khỏi thung lũng đi, còn kịp.
- Nhà bà ở đâu? Có còn ai thân thích không?
- Xa lắm, trong vách núi đằng kia kìa! Tôi chẳng còn ai thân thích cả. Năm năm trước bố chồng tôi bị cọp vồ, năm ngoái đến lượt chồng tôi, nay lại đến con trai tôi. Trời ơi là Trời ! Sao tôi phải chịu khổ thế này, hỡi Trời !...      
Thầy trò Khổng Tử nghe nàng khóc than, vừa thương cảm ngậm ngùi, lại vừa kinh ngạc. Họ không thể hiểu nổi vì sao đến cơ sự này mà gia đình người đàn bà vẫn bám trụ ở nơi rừng hoang vách dựng để thay nhau làm mồi cho cọp dữ. Đợi cho người đàn bà than khóc hồi lâu, nghe chừng đã nguôi vợi đôi phần, Tử Du xin phép ngồi xuống cạnh nàng an ủi và gạn hỏi. Chỉ có Tăng Sâm và Nhan Hồi đưa mắt cho nhau rồi gật đầu ra ý ngầm hiểu lý do vì sao lại thế. Hai ông đứng nép sau thầy, nín thở nghe người đàn bà kể tiếp:
- Bố chồng tôi là bậc danh Nho nước Trần. Ông làu thông kinh sử và có thư pháp tuyệt đỉnh linh diệu. Mỗi chữ ông viết ra giống như bức hoạ khiến cả kinh thành phải trầm trồ tán tụng. Dưới ngòi bút của ông chữ Nhân như giang rộng đôi tay ôm lấy cả sơn hà, trời mây, hoa lá. Chữ Ái ông viết xong khiến người ta liên tưởng tới giàn hoa leo kín mái nhà tranh đơn sơ, rắc hương thơm xuống vai người thiếu nữ, rót mật ngọt tình yêu vào tuổi thanh xuân trong trắng thơ ngây. Còn chữ Dũng của ông viết như con đại bàng kiêu hãnh đập cánh vượt trùng dương, bất chấp mọi phong ba, bão táp... Một ngày kia, ông cảm thấy tâm hồn bị tù hãm, giam trói giữa kinh thành sặc mùi Hà Chính, làm u ám cả đất trời. Nét chữ của ông không còn linh diệu như xưa nữa. Lúc nó rối rắm như nắm tơ vò, khi lại cứng đờ như những cây nứa khô cắm quanh vườn cải. Ông buồn bã dắt díu mẹ con tôi từ bỏ lầu son, xa lánh kinh thành hoa lệ vào ở trong khe núi này. Bây giờ bố chết, chồng chết, rồi con cũng chết nốt, tôi biết đi đâu, sống bằng gì? Trời ơi là Trời!..
Tử Hạ đứng bên Tử Du nghe đến đây cau mày nhăn nhó hỏi:
- Bố chồng chết, sao vợ chồng bà không đưa con đi nơi khác? Chồng chết, sao hai mẹ con bà không rời đi? Bây giờ con chết, bà cũng không chịu đi là cớ làm sao?
- Vì chỉ có ở đây là không có Hà Chính, thưa ông!...
Nàng nghẹn ngào đáp lời Tử Hạ. Khổng Tử nghe nàng nói cảm thấy tức thở, dọc sống lưng như có ròi đục trong xương tuỷ, tay chân rã rời, hai thái dương ướt đẫm mồ hôi... Ngài nắm tay Tăng Sâm, Nhan Hồi, dắt đến trước mặt người đàn bà bảo họ thi lễ năm vái ba lạy. Rồi Ngài quay sang nhìn Tử Lộ và nói với tất cả học trò:
- Các con nhớ lấy! Người đời sợ Hà Chính hơn cả cọp dữ. Hà Chính là mất dân, mất dân thì không có nước, không có nước làm sao có vua.
Tử Lộ quỳ xuống dưới chân thầy rơm rớm nước mắt, hứa ghi tạc lời thầy. Ông chợt nhớ lại lời Nhan Hồi nói khi ăn củ mài. Miệng ông lẩm bẩm không ngớt: “Hà Chính đáng sợ hơn cọp dữ. Hà chính đáng sợ hơn cọp dữ”…
Sau này trở về nước Lỗ, Khổng Tử qua đời, học trò kiên trì truyền bá đạo Nhân của Ngài. Tử Lộ khi làm quan đại phu, giúp vua Lỗ trị quốc an dân kiên quyết không dùng đến Hà Chính. Nước Lỗ được lòng dân, nhờ đó tuy là nước nhỏ, nhưng các nước lớn như Tần, Sở cũng phải nể sợ. Song đã không dùng đến Hà Chính thì các quan lớn, quan bé mất đi bao mồi ngon, miếng lợi nên họ bàn nhau phế vua, giết Tử Lộ. Từ đó về sau, phàm là nhà chính trị, tiếng là tôn sùng đạo Nhân, phong Khổng Tử làm bậc thánh, nhưng tay họ vẫn cầm chắc cái bảo bối Hà Chính. Đạo nhân của Khổng Tử vì thế vẫn cô đơn, thiên hạ vẫn là thiên hạ loạn…
Hà Nội 5/1996

Nguồn: www.vannghesongcuulong.org

tồn tại hay không tồn tại
0
QUÁN THIÊNG
Vũ Ngọc Tiến
 

Sơn Dương quán nằm trên đường Đào Hoa khá nổi tiếng về món tái dê thái mỏng tang, bản to và đặc biệt tương gừng ở đây rất thơm và ngọt. Các món dê nướng, sào lăn hay chân dê hầm thuốc Bắc cũng làng nhàng như nhiều quán khác, nhưng món tái dê uống với rượu “Ngọc dương” của quán này thì dân nhậu chỉ ghé qua một lần là nhớ mãi. Rượu nếp cái hoa vàng được đặt ở tận quê Giao Thủy với nồng độ cao, một cân gạo nếp chỉ được phép chưng cất già nửa lít rượu và phải ủ men vào ngày mát trời, có mưa giông càng tốt. Mở nút chai đã thấy mùi rượu thơm lừng, uống vào mềm môi, không xốc mà lúc say chân cứ nhẹ tênh như đi trên mây. Một lít rượu nếp cái hoa vàng được ông chủ quán bán kèm theo bình nhựa nửa lít đựng hai quả “cà dê” ngâm trong rượu Vodka của nhà máy. Chủ quán giải thích rằng, rượu Vodka nhà máy bốc mạnh, nhanh ngấm kiệt “cà dê”, còn bình nhựa là để khách dùng xong vứt bỏ hoặc mang về, chứng tỏ nhà hàng không dùng lại “cà dê” đã ngâm qua. Khi uống, rót một phần ngâm “cà dê” pha với hai phần rượu nếp cái hoa vàng. Phải là khách quen thân hay khách “xịn” mới được chủ quán đãi món rượu “Ngọc dương” với giá cắt cổ, cỡ mười lần rượu thông thường vì một đôi “cà dê” phải ngâm đủ bách nhật với cam thảo và câu kỷ tử. Chủ quán tên Mùi vì có lẽ ông sinh năm bốn ba. Cái tuổi Quý Mùi quảng giao, đa mưu túc kế, nhiều tài lẻ. Đa tài thì lắm tật nên ông cũng là một cây bợm rượu, nổi tiếng trăng hoa. Ông đã từng là họa sĩ có vài bức tranh gửi đi dự triển lãm tận bên Tây, bên Tàu. Thời mở cửa, ông có thể vẽ tranh bán, làm biển quảng cáo hay trình bày sách cũng bộn tiền, đâu đến nỗi phải đổi sang nghề chủ quán? Có lần nghe tôi hỏi vậy, ông cười khà khà, chỉ vào bà chủ quán, giả lả nói: “Bà xã mình cũng là ca sĩ có hạng chứ bỡn. Hai vợ chồng mấy mươi năm nay đam mê sáng tạo, nhưng càng mơ hão càng hao mỡ. Một tay bà ấy nuôi bốn cái tàu há mồm với lão chồng bợm rượu nên mới úa tã như thế này. Nhìn ra bạn bè, anh em, họ mạc bà ấy đều thấy thua kém. Lệnh ông không bằng cồng bà, nữ chủ đã quyết định mở quán thịt dê thì sức mấy cái thằng tôi dám cãi là không.” Ông nói lỡm vậy cho vui chứ bà chủ quán vẫn còn giữ được nhiều nét quyến rũ của ca sĩ Thuỳ Dương năm nào. Nhiều khách nhậu đến quán vì món tái dê với rượu “Ngọc dương”, nhưng không ít chàng tóc muối tiêu đến còn vì người đẹp Thuỳ Dương, có đôi mắt như đức mẹ Maria và nụ cười quyến rũ đến mê hồn.
Bẵng đi một thời gian công tác biệt phái ở các tỉnh phía Nam, ngày quay lại Hà Nội, quen hơi bén mùi, tôi mò đến phố Đào Hoa không còn thấy Sơn Dương quán đâu nữa. Ngôi hàng quán nằm trên thửa đất hơn ba trăm mét vuông đã được phá dỡ lạnh tanh bành để xây dựng lại. Ông Mùi nhận ra khách quen, chạy tới vồ vập kéo tôi sang quán giải khát gần đó uống nước tâm sự.
- Đợi ba tháng nữa, tớ sẽ khai trương nhà hàng độc đáo nhất Hà thành cho mà xem – Ông nói, vẻ hân hoan tự mãn hiện rõ trên nét mặt.
- Vẫn là Sơn Dương quán chứ, ông bác?
- Không, lạc hậu rồi chú em ạ!
- Vậy hai bác chuyển sang kinh doanh gì?
- Bí mật! Huyền cơ không thể tiết lộ. Tớ chỉ cần cho chú em biết tên gọi sẽ là Quán Thiêng.
- Quán Thiêng! Thiêng vì lý do gì, ông bác? ...
- Thiêng vì có thần chứ còn sao nữa. Thần dê, chú hiểu chưa? Thần de…ờ… dê!
 
Biết tính ông Mùi hay bông phèng, tôi cứ nghĩ ông nói đùa trong cơn phấn khích của men bia. Căn vặn thêm, ông vẫn không chịu bật mí. Lúc chia tay, Ông Mùi nắm vai tôi lắc mạnh, hẹn ngày khánh thành Quán Thiêng nhất định tôi phải có mặt. Nghe trong giọng nói và nhìn vào mắt ông, tôi ngờ ngợ rằng chuyện đùa có lẽ hoá thật. Đi được một quãng thì gặp bà chủ quán cafe quen thuộc, bà gọi giật tôi lại.
-  Bác nhà văn ơi! Đến quán Sơn Dương phải không?
- Vâng, nhưng quán bị dỡ rồi, tiếc quá!
- Vậy ra bác chưa biết chuyện gì xảy ra à?
- Không. Tôi mới đi xa về, chưa biết gì hết.
- Thiêng lắm, bác nhà văn ạ! Hoá ra lâu nay ông Mùi , bà Dương mở quán thịt dê đông khách là có thần phù, thánh trợ. Sao mà khéo thế, hai vợ chồng cách nhau một giáp, cùng tuổi Mùi, lại được thần dê phù trợ, ắt phen này sướng như tiên, giàu nứt đố đổ vách.
- Bà nói rõ thêm nào.
- Bà Dương mấy năm bỏ nghề ca sĩ mở quán, chăm đi lễ chùa, vái thánh nhất phố. Ngày rằm tháng trước, sau cơn ốm nặng, bà ấy thấy mình nằm trên đám mây ngũ sắc bay lên trời gặp Cửu chân huyền nữ ở một hang núi ngoài vịnh Bái Tử Long. Ngài bảo với bà Dương rằng con dê vừa hoá kiếp ở Sơn Dương quán vốn là tiên đồng mắc tội dan díu với thị nữ nên bị đầy xuống hạ giới làm kiếp kê, nay được giải thoát về cõi tiên. Ngài tặng cho bà Dương một bức tượng Cửu chân huyền nữ đang cưỡi dê bay về tiên giới. Bà Dương tỉnh mộng, như có thần thánh xui khiến, vội thắp hương lạy tám phương Trời, mười phương Phật rồi ra gốc cây hoa đại giữa sân ngồi thiền suốt ba ngày, ba đêm. Vào đúng giờ Mùi (13 giờ), tháng Mùi (tháng sáu), từ dười gốc cây đại đùn lên một bức tượng đúng như trong mộng mà bà Dương đã mô tả. Hôm đó rất đông người đến xem, tôi cũng có mặt, ai cũng trầm trồ kinh ngạc…
Câu chuyện bà chủ quán cafe kể trên đường Đào Hoa cứ ám ảnh tôi suốt mấy tháng, cho đến ngày nhận được thiếp mời dự lễ khai trương Quán Thiêng của ông Mùi và Thuỳ Dương. Quả như lời ông Mùi đã nói, Quán Thiêng được các tài năng trong làng kiến trúc thiết kế độc nhất vô nhị ở đất thành Nam. Khu đất được chia làm ba đơn nguyên kiến trúc. Phía ngoài là ngôi nhà hai tầng. Dưới tầng một sử dụng các vật liệu xỉ gang, thạch cao, vôi vữa, xi măng đắp vẽ tạo dáng thành một hang động có nhiều khối hình như các nhũ đá vôi rất kỳ thú, lạ mắt. Nhìn vào các nhũ đá trên trần hoặc vách tường, người ta có thể liên tưởng đến những điển xưa, tích cũ trong sách cổ của Tàu. Tầng hai có dáng dấp như ngôi chùa mái cong, lợp ngói hoàng lưu ly.
Trong nội thất là điện thờ Cửu chân huyền nữ và đủ loại các thánh mẫu, đức ông mà ta thường gặp trong các ngôi đền ở miền Đông Bắc. Phía trên điện thờ treo bức hoành phi dát vàng bốn chữ “Đăng sơn viễn vọng” tức là lên núi sẽ nhìn được xa, thành tâm thờ thánh sẽ hiểu hết mọi việc xảy ra trong vũ trụ, thần cơ diệu toán, thông tỏ quá khứ, tương lai của mọi kiếp người. Bà Thuỳ Dương đã thành con của thánh nên không ra tiếp khách với chồng. Bà ăn mặc như diễn viên tuồng, ngồi xếp bằng tròn giữa sập bách điểu, hai bên có hai tiểu đồng búi tóc nhú lên như hai cái sừng dê đứng hầu. Quan khách đến dự lễ thánh cứ vái lạy bà Dương như lạy Phật sống. Ở giữa khu đất là mảnh sân bày nhiều chậu hoa cây cảnh.
Dưới gốc cây đại, nơi bà Dương đã từng ngồi thiền ba ngày ba đêm có một miếu nhỏ. Bệ thờ ốp đá mái cong lợp ngói thanh lưu ly. Trên bệ thờ có bức tượng bà Cửu chân huyền nữ cưỡi dê bay về tiên giới mà bàn dân thiên hạ đã từng chứng kiến nó đùn lên dưới gốc cây đại này vào giờ Mùi, tháng Mùi. Đơn nguyên kiến trúc thứ ba là khu quầy bar, giải khát chỉ xây một tầng, mái lợp tôn nhiều nấc mái, gấp khúc nhiều dạng khác nhau gây cảm giác khi nhìn từ sân cảnh lên mái nhà giống như một trái núi. Từ sân cảnh vào khu này phải qua một chiếc cầu gỗ cong, bắc qua lạch nước rộng chừng hơn một mét. Đáy lạch đắp gồ ghề, tạo một độ dốc từ Đông sang Tây. Nước chảy róc rách giống như một con suối nhỏ giữa rừng. Đôi bờ là mấy khóm trúc nhỏ. Nội thất khu quầy bar, giải khát là một hang động lặp lại không gian của động Hương Tích. Cửa động có đắp nổi hàng chữ Nho của chúa Trịnh Sâm “Nam thiên đệ nhất động”. Tường phía Đông treo ba bức tranh nổi có lắp đèn điện tử viền quanh, mô tả sự tích trong truyện Chiêu Quân cống Hồ: Bức thứ nhất, Tô Vũ cầm gậy, đội nón lá chăn thả đàn dê bên sườn núi đá. Bức thứ hai, Tô Vũ chung sống với con đười ươi rất đầm ấm, âu yếm như cặp vợ chồng trong hang đá. Bức thứ ba, Tô  Vũ trở về nước Hán, đang cùng vợ uống rưọu ngắm trăng giữa tết Nguyên tiêu thì con đười ươi tu luyện thành tiên, cưỡi mây bay đến, trao trả tiên đồng, ngọc nữ là hai con đười ươi con tu luyện thành chính quả. Trên tường phía Tây treo bức tranh màu nước do chính tay ông Mùi vẽ và ký tên ghi rõ giờ Mùi, ngày rằm tháng Mùi, năm Đinh Sửu là thời gian sáng tác bức tranh. Nó được đóng khung kính có đèn mờ phản chiếu, gắn chìm vào tường, bao quanh là các nhũ đá mang hình hai hàng núm vú con dê cái.
Bức tranh mô tả Thuỳ Dương đang ngồi thiền dưới gốc cây hao đại giữa một vầng hào quang sáng lóa, xung quanh có những mảng màu tối sáng, gợi ta liên tưởng đến những áng mây ngũ sắc và các thiên thần bay lượn phò trợ cho bà Thuỳ Dương. Theo thiết kế, quán Thiêng được ông Mùi giới thiệu với quan khách đến khai trương: Hang động dưới tầng một khu nhà ngoài sẽ là nơi để xe đạp, xe máy  có bảo vệ mặc đồ đen, đội mũ đầu dê trông coi. Khách gửi xe lên điện thờ ở tầng hai lễ thánh rồi mới được đăng ký gặp bà Thuỳ Dương để bà gieo quỷ bói tiền vận, hậu vận. Đăng ký xong khách xuống Quán Thiêng chính là khu quầy bar, giải khát nghe nhạc chờ đợi đến lượt mình được hầu chuyện thánh sống, đệ tử chân truyền của Cửu trân huyền nữ giáng trần...
Vì tò mò, sau khai trương, hễ có thời gian rảnh rỗi tôi lại tìm đến Quán Thiêng uống ly café sữa nóng, ngắm cảnh và quan sát. Phải thừa nhận không gian kiến trúc và cách bài trí ở Quán Thiêng luôn gây cho tôi cảm giác linh thiêng, thoát tục và có vẻ huyền bí. Tài năng hội họa của ông Mùi, óc tưởng tượng nghệ sĩ của bà Thuỳ Dương được thần thánh phù trợ, phát tiết hết tinh hoa vào cuộc làm ăn kinh tế thời đổi mới. Khách đến Quán Thiêng ngày một đông, không lúc nào trống ghế. Nhiều khi tôi phải chầu chực ngoài cửa hàng giờ mới hòng mong có được ghế ngồi ưng ý. Người ngồi trong Quán Thiêng đều là khách sang trọng, thanh toán bằng đô la hoặc giấy bạc trăm ngàn trở lên mới cứng, không mấy ai chịu lấy lại tiền thừa. Đàn ông ngồi uống rượu Tây, hút thuốc ba số năm. Đàn bà ngồi uống café , nước ngọt và ăn bánh kem, hoa quả đắt tiền như mận Mỹ, nho Mỹ. Họ ngồi chờ đến lượt mình lên điện với ánh mắt thành kính, niềm tin mãnh liệt, khao khát cháy lòng. Khi gặp thánh sống trên điện, từ gác hai đi xuống, ai cũng xuýt xoa lời thánh phán sao mà linh thế, chính xác tuyệt vời.
Trước khi ra về họ không quên lễ tạ Cửu chân huyền nữ ở miếu cây đại và thưởng rất hậu cho người trông giữ xe. Càng về sau, tôi phát hiện rõ ra một quy luật, mấy đức ông chồng thường chỉ đến Quán Thiêng cùng vợ lần đầu. Khách đông nhất, thường xuyên có mặt là các mệnh phụ phu nhân giàu sang, quyền quý trạc tuổi hồi xuân trên dưới bốn mươi hoặc các cô gái thất tình được bố mẹ nuông chiều. Họ đều nhanh chóng trở nên thân thiết với ông Mùi, thích ngồi cùng ông tâm sự chuyện làm ăn, chuyện gia đình hoặc nghe ông kể những câu chuyện khôi hài, dí dỏm. Cái máu dê già của ông Mùi mà tôi được nghe nhiều chuyện ly kỳ, lắm pha gây cấn khi ông còn là hoạ sĩ thiết kế thời trang cho một viện “mốt” được dịp trỗi dậy. Không biết các bà, các cô có hẹn hò hoặc chơi trò mèo chuột gì với ông Mùi ở đâu, tôi chưa rõ. Ngay tại Quán Thiêng, nhiều lần tôi bắt gặp dưới ánh sáng mờ ảo, huyền bí của hang động nhân tạo, đôi bàn tay ông Mùi tha hồ dạo chơi vào những khu cấm kỵ trên thân thể mấy bà mệnh phụ hồi xuân. Điều thú vị là những ngày ông Mùi có việc đi vắng, tôi hay thấy bà Thuỳ Dương ra lệnh đóng cửa điện trên gác hai và gọi anh chàng trông giữ xe to con, trẻ tuổi lên đấm bóp. Đám nhân viên quầy bar ở Quán Thiêng lúc đó nhấm nhoáy với nhau đầy ý tứ và tôi có linh cảm chuyện gì đang xảy ra trên chiếc sập bách điểu, trước điện thờ và bức hoàng phi “Đăng sơn viễn vọng”.
Khách nam giới đến quán thường xuyên còn có chàng trai khoảng 30 tuổi, sang trọng và lịch lãm. Anh cũng giống tôi, ưa ngồi chỗ khuất, không tham gia vào trò lễ thánh, chỉ nhâm nhi café hay ly rượu Tây. Một lần, anh rủ tôi sang quán bên cạnh ăn tối, bật mí cho tôi biết sự thật bằng cuộn băng ghi âm do anh bí mật thuê cô nhân viên trẻ cài đặt trong phòng ngủ của ông Mùi, bà Dương:
- Ông cặp bồ với con vợ lão Tổng giám đốc công ty xuất nhập khẩu của Bộ Thương mại là đứa thứ mấy rồi? Đừng tưởng gái già này mù nhé - Tiếng bà Thuỳ Dương rít qua kẽ răng.
- Tự do muôn năm! Tôi vẫn thu về cho bà bộn cả đống tiền là được rồi – Ông Mùi đáp, giọng tỉnh queo.
- Vậy ông còn tra khảo tôi chuyện thằng Khoa sẹo lên đấm lưng xoa bóp làm gì?
- Hỏi cho biết thế thôi.
- Ông lén đi ăn vụng dốc lọ cạn kiệt hết, về nhà đêm nằm ngay như khúc gỗ ai mà chịu được.
- Ai bảo bà bày vẽ cái chuyện thần, chuyện thánh để mấy con mẹ dửng mỡ lắm tiền cứ đến phô ngực, ngoáy mông với tôi mà khiêu khích lão già tuổi Mùi?... Hí hí...hí...
- Không bày trò này dễ ai cho không mình có nửa năm trời vài trăm cây vàng.
- Thánh thật! Không hiểu từ đâu bà lại nghĩ ra cái trò nằm mộng gặp Cửu chân huyền nữ.
- Ông cũng giàu óc tưởng tượng thiết kế Quán Thiêng hết ý. Riêng cái mưu đổ mười ca đỗ xanh xuống hố đào dưới gốc cây đại để ngâm giá đỗ đủ ba ngày cho nó mọc mầm và đội tượng lên khỏi mặt đất tôi phải bái phục ông cao kiến, dân chúng tin sái cổ.
- Chuyện ấy có gì lạ. Trong tiếu lâm nhà phật bên Ấn Độ có kẻ làm từ mấy thế kỷ trước...
Chàng trai cất cuốn băng ghi âm vào túi, nhìn tôi cười bí hiểm. Anh là đệ tử thân tín của ông Tổng giám đốc bị vợ cắm sừng. Ông ta thuê anh điều tra vụ này. Tôi hỏi: “Vì sao cậu lại tin tưởng, cho tôi biết sự thật?” Chàng trai đáp: “Em đã dò hỏi và biết bác là nhà văn, nhà báo. Vụ này không đơn giản đâu. Sếp của em gần đây mất cả tình lẫn tiền. Hàng chục ngàn đô không có cánh mà bay, ông căm lắm. Em sợ có án mạng xảy ra nên mượn bác làm nhân chứng.” Một thời gian sau, Quán Thiêng đóng cửa. Nghe đồn ông Mùi bị thiến mất hai quả cà, hóa điên, suốt ngày kêu be be như con dê đực. Bà Dương từ hôm nhận được bưu phẩm có chiếc can nhựa ngâm hai quả cà của chồng trong rượu Vodka cũng thành người ngớ ngẩn. Đứa con trai duy nhất của ông bà, đương là sinh viên, mắc vào vòng nghiện hút, phải đi trại cai nghiện. Thì ra mọi sự trong cõi người đều nhân nào quả ấy. Các cụ nói rồi. Ai dám cả gan đùa với thánh sẽ bị thánh vật…
Nguồn: www.vangnghesongcuulong.org
tồn tại hay không tồn tại
0
THẾ LÀ... CHỊ ƠI!
Vũ Ngọc Tiến
 
Thế là…ông Trời có mắt. Đời chị khổ nhiều rồi, khổ từ năm lên sáu, giờ ngoài bảy mươi xuân ông Trời mới cho chị thư nhàn an hưởng tuổi già. Con cái thảy đều thành đạt, bầy cháu nội ngoại xum vầy, đúng là “một cây cù mộc một sân quế hòe”… Cái căn hộ tồi tàn, ẩm mốc ở phố nhỏ gần nhà ga giờ bán đi nhờ cơn sốt nhà đất cộng với tiền thằng út bán tranh gửi từ Paris về đủ để chị mua căn biệt thự trên đại lộ vừa mở, rộng thênh và đẹp nhất khu đô thị mới. Nghe tin chị chuyển nhà, tôi mừng cho chị sao mẹ tôi lại khóc? Từng giọt cặn lệ ứa ra từ khóe mắt khô kiệt của mẹ mách bảo tôi rằng, mẹ xót thương đứa cháu ruột mồ côi bao nhiêu, càng nhớ người chị hồng nhan đoản mệnh. Thân gái dặm trường, mẹ chị phải theo chồng rời bỏ đô thành đi lánh nạn, ở lẫn với người Thái Đen tận bến Tà Chan, trên khúc sông Đà heo hút. Ngày ấy, các chí sĩ từng theo cụ Nguyễn Thái Học làm cuộc bạo động Yên Bái bất thành nếu không bị rơi đầu dưới máy chém tàn bạo thì cũng bị tù đày hoặc tan tác phiêu bạt sang Ai Lao, sang Xiêm. Chỉ riêng cha chị và người bạn chí cốt là ông Phán Hậu nảy ra sáng kiến đưa vợ con đi lánh nạn trên sông Đà. Thuyền ngược dòng đi được hai ngày bị khám xét dữ nên phải chia đôi, ông Phán Hậu neo lại bến Chợ Bờ, còn cha chị neo lại bến Tà Chan sinh sống qua ngày và thăm nuôi, tiếp tế cho bạn bè ở nhà tù Sơn La. Cái bến Tà Chan nhờ thế trở nên sầm uất, dân quanh vùng quen gọi là Bản Phố. Mẹ chị buôn muối, dầu hỏa, vải vóc, kim chỉ… từ dưới xuôi lên và mua hàng lâm sản gửi thuyền về Hà Nội giao cho các chợ. Nó còn là nơi ẩn cư an toàn của gia đình chị bởi từ thị trấn Hát Lót đi xe ngựa vào Kiên Lao còn phải đi bộ một ngày đường qua hai quả núi cao chất ngất mới ra được bến Tà Chan. Song nếu cha chị muốn gửi quà tiếp tế cho bạn bè ở nhà tù Sơn La lại rất gần và thuận tiện. Có người lính khố xanh canh gác trại giam nhà ở Hát Lót sẵn lòng giúp ông làm việc nghĩa cử. Hễ có ai vượt ngục, bất kể thân sơ, không phân biệt tù Quốc Dân Đảng hay tù Cộng Sản đều được ông hết lòng che chở. Và chị, cô gái dòng dõi trâm anh đất Hà Thành hoa lệ lại được sinh ra giữa nơi thâm sơn cùng cốc. Tuổi thơ chị gắn với rừng già, bến sông và những đứa trẻ lấm lem người Thái, người Mường. Thi thoảng chị mới được theo cha xuôi thuyền về bến Chợ Bờ thăm ông Phán Hậu, được chơi đùa thỏa thích với anh, hồi đó lớn hơn chị dăm tuổi. Nhưng anh cũng sớm phải xa chị về quê Nam Định ở với ông nội để theo học tiếp bậc Thành Chung rồi Tú Tài. Mối nhân duyên giữa chị và anh khởi nguồn từ đó chứ phải đâu như sau này người ta kết tội anh là nhà thơ sa đọa, gian díu với con phản động đội lốt công giáo, chống phá cách mạng.
Thế là… chị ơi! Ông Trời có mắt. Cuối cùng thì thơ anh cũng được tôn vinh. Sau ngày anh mất, tập trường ca cuối cùng của anh được trao giải và hôm nay tôi lại nhìn thấy chị trên màn ảnh nhỏ, trong lễ trao giải thưởng Nhà nước cho anh và những người bạn của anh. Song cái án oan kết tội ông Phán Hậu, nhà chí sĩ yêu nước giầu có, danh giá bậc nhất tỉnh Nam Định bị bôi nhọ là tên phản động Quốc Dân Đảng, tay sai đế quốc Pháp ai rửa cho ông? Đêm trước ngày bị các Ông Đội sai cán bộ chuỗi, rễ đến nhà bắt trói ông đem đi đấu tố, ông lập bàn thờ giữa sân nhà, có bài vị Nguyễn Thái Học bằng chữ Nho, rồi ông đội khăn xếp, mặc áo the đen, lầm rầm khấn vái: “Tiên sinh năm nào lên máy chém vẫn để lại lời bất hủ rằng “không thành công cũng thành nhân”. Giờ độc lập thành công rồi, mai tôi lên đọan đầu đài sẽ thành gì đây? Tiên sinh hỡi, tiên sinh!...” Cái án oan ấy khiến anh đang đi công tác cải cách ruộng đất ở Thái Bình bị triệu hồi về giam lỏng ở đơn vị. Ngày ấy, nếu lần anh tự tử bằng dao lam trót lọt thì còn đâu những tác phẩm sau này anh viết cho người đời chiêm ngưỡng, hậu thế tôn vinh? Mà anh đâu chỉ có thơ. Anh là nghệ sĩ đa tài. Hôm tôi đến mừng chị dọn sang nhà mới, chị mở cho xem cuốn “Các danh họa Việt Nam hiện đại” do Viện hàn lâm hội họa Pháp xuất bản tại Paris, có cả tác phẩm tranh của anh và tranh của thằng út nhà chị trong đó, được giới thiệu rất trang trọng. Mẹ tôi nhìn vào bức tự họa của anh, nghẹn ngào hồi nhớ những lần gặp đứa cháu rể như cái xác vô hồn, nửa điên nửa tỉnh trong gian gác xép tối tăm của căn hộ xập xệ, ẩm mốc thủa nào. Giờ chị có cả tòa biệt thự sang trọng thì anh đã thành người thiên cổ. Đãi bôi anh chút danh hão làm gì khi cả đời anh đói ăn và đói viết. Chị đã cố tần tảo cắp thúng bán xôi, bê mẹt bán thuốc lá ngoài hè phố để nuôi anh và ba đứa con thơ ăn học, nhưng còn cái đói viết của anh, chị làm sao lo được. Là nhà thơ tiên phong cách tân, anh mắc phải vạ bút đã đành một nhẽ. Song khi “giậu đổ bìm leo”, người ta- những bạn viết của anh có người còn nỡ đổ lên đầu anh thêm cái vạ gian díu với con phản động đội lốt tôn giáo là chị. Giấy trắng mực đen, họ kết tội chị là tác nhân khiến anh sa đọa. Có lần chị bảo tôi: “Đời chị suốt bao nhiêu năm sống âm thầm như bóng ma, chỉ có hai lần được thiên hạ nô nức đi xem mặt. Lần thứ nhất, người ta bu kín hội trường làm lễ cưới để xem con phản động sánh đôi cùng nhà thơ phản động. Lần thứ hai, người ta lại kéo đến vây kín phố nhỏ gần nhà ga để xem mặt vợ ông nhà thơ nổi tiếng nay đã lên bà, khi chị mặc áo xô đi sau chiếc quan tài của anh.” Tôi nắm tay chị, ngước nhìn lên bức tự họa bằng mực Tàu của anh treo trên tường, the thắt buồn.
Thế là… chị ơi! Nhắc đến nỗi oan của chị, mẹ tôi lại khóc và bảo: “Chung quy chỉ tại mẹ. Dì ruột vì thương cháu mà vô tình làm nó rơi vào cảnh ngang trái, chịu nỗi oan tày đình.”  Lời mẹ kể cứ ám ảnh tôi nhớ về tuổi thơ và thời thanh xuân của chị. Ngày ấy Tà Chan nổi tiếng là nơi ma thiêng nước độc. Mẹ chị ngược xuôi trên sông buôn bán, sống kham khổ, tằn tiện dành tiền cho chồng tiếp tế, thăm nuôi các bạn trong tù nên kiệt sức ngã bệnh qua đời năm Bính Tý (1936). Cha chị gà trống nuôi con lận đận trên bến sông hiu hắt, nhớ vợ đã khuất, thương bạn trong tù, lại thêm nỗi đau vì cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành, khổ lụy đến bao người nên hai năm sau cũng qua đời sau cơn bạo bệnh. Chị sinh năm Nhâm Thân (1932) nên khi ấy (1938) mới 6 tuổi đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ. Ông Phán Hậu ngược thuyền từ Chợ Bờ lên Tà Chan chôn cất bạn rồi đưa chị về xuôi. Lúc này, anh Lâm, người anh lớn của chị thi đậu xong Tú Tài đã thoát ly đi hoạt động bí mật ngoài vùng mỏ, bà nội cũng đã già yếu. Ông Phán Hậu từ khi còn ở Chợ Bờ đã có ý nhắm chị làm dâu sau này nên muốn đưa chị về về quê Nam Định. Song một người bạn khác của cha chị là ông đốc tờ Chu khuyên ông gửi chị  cho bà đốc chăm sóc, nuôi cho ăn học và dậy nghề. Ông Đốc Chu nổi tiếng vì có bằng bác sĩ ở Pháp về nên bà Đốc Chu mở nhà hộ sinh lớn nhất Hà Thành. Gửi chị vào nhà ấy ông Phán Hậu cũng thấy an lòng, không phải ân hận với người bạn đã khuất. Mẹ tôi bảo, cái duyên số anh chị cứ bén dần nhờ ông Phán Hậu vài tháng lại lấy cớ gửi tiền và ít quà quê, sai anh mang lên Hà Nội gặp chị. Cách mạng thành công, anh nổi tiếng là nhà thơ hực lửa chiến đấu, cổ súy mọi người xả thân vì nền cộng hòa non trẻ. Chị đã sang tuổi 13, cái tuổi chớm thành thiếu nữ, mơn mởn xuân thì, lộng lẫy kiêu sa của cô gái Hà Nội. Nhưng vẫn còn quá sớm để… Thế rồi kháng chiến bùng nổ, anh vào bộ đội, cha mẹ tôi và nhiều gia đình trí thức như ông Đốc Chu đều hăm hở lên chiến khu theo Chính phủ kháng chiến. Bà Đốc Chu nhận nhiệm vụ ở lại Hà Nội bám giữ nhà hộ sinh làm cơ sở tiếp tế thuốc men, nhu yếu phẩm ra vùng kháng chiến. Chị trở thành con thoi liên lạc tin cẩn và rất được việc của bà Đốc Chu. Ở chiến khu Việt Bắc, mẹ tôi cũng được giao nhiệm vụ liên hệ với chị nhận hàng tiếp tế, chuyển thư từ cho các gia đình trí thức gửi về Hà Nội. Mỗi lần dì cháu gặp nhau xiết bao mừng tủi. Bà sững sờ nhận ra chị càng lớn càng đẹp, đẹp từ vóc dáng đến nước da, xinh từ điệu cười đến lời nói, nhất là đôi mắt như phảng phất nét đẹp nguyên sơ của núi rừng Tây Bắc trên bến Tà Chan. Chiến tranh là tàn khốc, sống chết khôn lường. Mẹ tôi muốn anh được gặp chị, dù chỉ một lần kẻo lỡ không may chết trận khỏi phí đời trai. Vì thế, một lần nhận hàng tiếp tế, bà đã liều vi phạm kỷ luật, dắt chị vào sâu trong An Toàn Khu chờ gặp dịp anh. Chị ở lại nhà tôi trên chiến khu mấy ngày, nhưng lúc nào cũng đông như nhà có đám cưới. Lũ nhóc chúng tôi suốt ngày quẩn quanh bên người lớn để chờ túi kẹo từ Hà Nội gửi ra mà người nhận luôn hào phóng sẻ ra chia phần. Các anh lính trẻ tranh nhau thập thò ngoài cửa nhìn chị tán thưởng và ao ước một nụ cười duyên, một khóe nhìn thân thiện. Người từ khắp nơi băng rừng hàng chục, có khi hàng trăm cây số chỉ để nhờ chị chuyển một lá thư vào nội thành cho gia đình. Gã thủ trưởng Thịnh híp, cấp trên trực tiếp của anh ở An Toàn Khu vừa đến nhà gặp chị đã mê mẩn như kẻ mất hồn, lẵng nhẵng bám lấy mẹ tôi nhờ làm mối. Ngay đêm đó, hắn điều anh đi công tác gấp ngoài mặt trận. Ngày ngày hắn xum xoe tán tỉnh chị dai như đỉa đói, lại còn làm cả xấp thơ tình tặng chị, nhưng chị nào có thèm đọc. Chị bảo tôi: “Em đem nắm giấy lộn này đi mà chùi đít. Thơ hắn bốc mùi như lỗ mồm hắn bốc mùi vì bệnh viêm xoang, sao thuộc cấp của hắn cũng là nhà thơ có danh có giá lại hạ mình tâng bốc thơ hắn lên tận mây xanh?...” Tôi trẻ con nào có hiểu gì, chỉ thấy khoái chí, bô bô khoe với chúng bạn được chùi đít bằng thơ của thủ trưởng anh, thế thôi. Mẹ tôi đâu ngờ sau chuyến đi ấy, chị về Hà Nội được nửa ngày thì bị mật thám Pháp xông vào nhà hộ sinh, xích tay chị giải vào nhà giam Hỏa Lò. Chị bị tra tấn dã man với đủ thứ cực hình thời trung cổ vẫn không khai nửa lời về đường dây tiếp tế thuốc men cho kháng chiến liên quan đến bà Đốc Chu và mẹ tôi. Ông Phán Hậu nghe tin dữ tất tưởi lên Hà Nội tìm cách cứu chị ra khỏi nhà giam. Ông tung tiền, vàng lo chạy khắp các cửa đều vô vọng. Tình cờ ông gặp một bạn văn chương  người Pháp đang làm cha xứ nhà thờ Cửa Bắc. Nghe chuyện rồi gặp chị, dù thân thể bầm dập vẫn sáng lên vẻ đẹp rực rỡ giữa nhà tù nặng nề âm khí, cha chạnh lòng thương xót, hứa sẽ giải cứu cho chị. Để nhà thờ dễ bề can thiệp, cha khuyên chị nhận tên thánh do ngài đặt. Chị theo đạo từ đó, dù chưa hề đi lễ nhà thờ, nhưng chị là con nuôi cha xứ. Bí mật này chị muốn đào sâu chôn chặt. Tôi nói ra cũng chẳng để làm gì. Nói cho hả rồi quên. Người đời cũng sẽ quên như cái Bản Phố trên bến Tà Chan ấy, giờ có ai biết đâu. Nó đã chìm xuống lòng sông từ sau ngày xây đập thủy điện. Chỉ có thơ và tranh của anh sẽ còn mãi mãi.
Thế là… chị ơi! Anh đã thành người thiên cổ. Đêm nay đêm cuối tháng. Trời tối đen như vạt áo choàng của các bà xơ. Tôi nhìn ra ô cửa sổ của chung cư tầng 11 chợt thấy anh bước ra từ bức chân dung tự họa bằng mực Tàu thẫm đen. Tôi nhận ra anh vẫn như ngày nào đờ đẫn tản bộ từ phố gần nhà ga sang Kim Liên xem cha tôi nuôi ong, hay mượn cha tôi cuốn sách tiếng Pháp. Cả đời anh khát đọc, đói viết mới là điều uẩn ức, chứ đói cơm nào có đáng kể gì. Vả chăng anh ăn cơm có được là bao. Có bận nể lời mẹ tôi, anh nán lại ngồi vào mâm, nhẩn nha nhai từng hạt cơm. Ăn kiểu ấy thì tiêu chuẩn phiếu gao của công dân hạng bét anh ăn cũng đâu có hết. Còn thịt cá ư? Anh ăn chay lâu rồi. Từ ngày bị treo bút, anh ngồi thiền quy y tại gia. Thiếu rau đã có cỏ mà cỏ thì vô thiên lủng. Vả chăng rau mậu dịch thời đó có hơn gì cỏ, thua xa mấy nắm lá cỏ lành anh vặt trên đường vào những chiều lang thang dọc đê sông Hồng ngắm cảnh. Bây giờ các đại gia vào nhà hàng đặc sản ăn gỏi cá, tái dê cũng thấy trên bàn la liệt các thứ cỏ nhậu với rượu Chivas 21 năm cơ mà. 
Tôi đã thấy gương mặt đần độn, thớ lợ của gã nhà văn đàn em của anh, xưa từng viết bài kết tội anh sa đọa gian díu với con phản động đội lốt công giáo, nay ngồi trên bàn nhậu ấy với dăm ông chủ vũ trường tàng trữ thuốc lắc. Mẹ tôi thường bảo, nhờ có chị đảm đang tháo vát nuôi ba đứa con thơ không bị thiếu ăn, đói mặc nên anh không như mấy bạn văn bị treo bút khác, phải đi kéo xe bò than quả bàng, đi làm thợ mộc hay đi đóng gạch xỉ than kiếm ăn. Nhưng anh cũng thương chị lắm! Có lần anh bỏ nhà lên Xuân Mai, vào rừng kiếm củi, vác từng bó ra ngã ba quốc lộ 6, nhờ anh lái xe tốt bụng chở về chất đống trước cửa nhà làm chị phát hoảng. Chị phải gọi người bán tống bán tháo trước khi trời sáng để khỏi bị công an phạt vi cảnh vì tội lấn chiếm hè phố. Lại có bận chẳng hiểu vì nghe tiếng chị vét đáy thùng gạo sồn sột hay vì nhịn viết không nổi, anh bỏ nhà lên hang đá ở Bắc Cạn nhịn ăn, uống nước lã ngồi thiền hàng tháng trời. Ở nhà, chị bấn lọan, bổ đi gõ cửa khắp các nhà quen dò hỏi, tìm kiếm. Hôm anh về, chị chết lặng nhìn anh như nắm xương khô, râu tóc bù xù, áo quần mọc rêu, muốn òa khóc mà đôi tròng mắt chị chỉ đủ ứa ra vài giọt cặn lệ. Gặp tôi chị bảo: “Khổ mấy chị cũng thay anh gánh chịu tất cả. Nhưng là người viết như anh mà phải nhịn viết thì nỗi khổ ấy chị đành bất lực.”  Nghe vậy, tôi mới hiểu vì sao anh Lâm ngày xưa đám từ bỏ mọi vinh quang, quyền chức đứng ra tổ chức lễ cưới cho anh chị.
Thế là…chị ơi! Anh Lâm bây giờ cũng đã thành người thiên cổ. Ngày anh Lâm hấp hối, vợ chồng tôi ra Hải Phòng thăm anh. Căn hộ cấp bốn, bề ngang ba mét, mái lợp thấp tè trong khu tập thể lâm nghiệp ở quận Lê Chân là nơi anh Lâm hưu trí tuổi già. Nó làm tôi nhớ tới khu nhà xưa của ông bà nội anh rộng hàng mẫu đất ở làng Mọc Đáy trong tổng Mọc Quan Nhân, được thiết kế như dinh thự của một hưu quan, có nhà chính, nhà ngang, vườn sau sân trước, bao quanh là dãy hàng rào bằng cây dâm bụt trổ đầy hoa đỏ. Khu nhà ấy hồi cải cách ruộng đất bị chia năm xẻ bẩy cho các bần cố nông, giờ họ lại bán sạch cho người trong phố cổ ra xây biệt thự. Tôi biết, trong số ấy có biệt thự của con gái Thịnh híp, kẻ được cha anh Lâm và ông Phán Hậu cưu mang những ngày vượt ngục Sơn La thủa nào. Anh Lâm bị lão Thịnh híp trù dập, đẩy đi làm cán bộ công đoàn vùng than Quảng Ninh, cuối đời về Hải Phòng tá túc trong căn hộ này theo tiêu chuẩn của vợ. Cái tội của anh Lâm là đã phớt lờ lời cầu xin làm em rể của Thịnh híp khi còn ở trên chiến khu Việt Bắc. Đã thế, sau ngày giải phóng Thủ đô, bất chấp sự ngăn cản của hắn và cơ quan, đơn vị hai bên, anh Lâm lại ngang nhiên đứng ra tổ chức hôn lễ cho em gái với thằng nhà thơ phản động. Mấy chục năm công tác ngoài vùng than, anh Lâm không vượt nổi cái ngưỡng của thang lương cán sự để lên chuyên viên hạng bét. Tôi bùi ngùi cúi đầu qua dây thép ngoài sân phơi đầy bao tải gai lẫn quần áo đủ mầu, đủ cỡ, bước vào căn hộ tồi tàn, mắt cứ hoa lên vì ánh sáng thay đổi đột ngột. Khó nhọc lắm, tôi mới leo nổi cái thang gỗ dựng đứng dẫn lên gian gác xép áp mái. Một ông lão ngót tám mươi, không phải, một bó củi khô có cái đầu biết nhìn tôi và biết nói thều thào. Vợ tôi cứ lo anh Lâm nằm đó, lỡ khi anh đi thì biết khiêng áo quan xuống bằng cách nào! Nhưng bên dưới nhỏ hẹp, toen hoen hơn chục mét vuông ấy còn chiếc bàn con uống nước với mấy chiếc giường của bà vợ bẳn tính suốt đời không hợp với anh, của vợ chồng thằng con trai và hai đứa cháu nội, gia đình biết để anh nằm chỗ nào? Còn đâu hình ảnh oai phong của người chiến sĩ cách mạng nổi tiếng với bí danh Trần Quốc Bình ở vùng mỏ và chiến khu Đông Triều thời tiền khởi nghĩa! Nhắc tới bí danh của anh, tôi lại nhớ con đường rất đẹp ở quận Ba, thành phố Hồ Chí Minh mang tên Trần Quốc Thảo, có trụ sở Hội nhà văn thành phố. Anh Lâm là bạn chí cốt với Trần Quốc Thảo nên mới đặt cho mình bí danh ấy. Hai người đều yêu văn thơ, cùng họat động nhiều năm ở vùng mỏ và chiến khu Đông Triều. Sau ngày Nam Bộ kháng chiến, ông Thảo được điều động theo tướng Nguyễn Bình vào Nam, còn anh Lâm bí mật lên Việt Bắc chuẩn bị cơ sở cho Chính phủ kháng chiến. Giờ họ danh phận khác nhau cũng đều thành người thiên cổ. Và cả lão Thịnh híp thâm hiểm, độc ác giờ cũng đã về với cát bụi cả thôi. Đời người là kiếp phù du mà chị…
Thế là…chị ơi! Ông Trời có mắt. Nghe đồn, ngôi mộ xây bằng đá cẩm thạch của Thịnh híp ở nghĩa trang quốc gia không hiểu vì sao thiên hạ cứ bí mật đến đổ rác, thậm chí có người còn ỉa đái lên đó hay chát cứt vào bia mộ. Con cháu ông ta đã mang hài cốt về quê xây mộ khác. Mộ cũ bây giờ bên trong chỉ toàn là cát. Chị xây mộ cho anh không cầu kỳ, chỉ vỉa vài hàng gạch còn lại để nguyên nấm đất xanh mướt thảm cỏ, giống cỏ đặc biệt xanh quanh năm ở hoa viên Bảo tàng Mỹ thuật Paris mà thằng út nhà chị mang về nước gây giống nhân cuộc triển lãm tranh của nó. Chị muốn anh nằm xuống vẫn giao hòa với trời mây, trăng sao, cây cỏ. Giá hồi anh còn sống, người yêu thiên nhiên như anh mà theo gương bác Nguyên Hồng đưa vợ con lên Tà Chan có lẽ tốt hơn chăng? Một lần, trong chuyến đi theo đoàn làm phim lên Sơn La, mẹ tôi dặn: “Nếu có điều kiện con nhớ ghé thăm bến Tà Chan”. Xe lên tới Hát Lót, tôi tách đoàn, hỏi thăm đường vào Tà Chan. Dân địa phương khuyên tôi nên đi xe ôm ra cảng Tà Hộc rồi ngược thuyền lên Tà chan sẽ đỡ vất vả. Đi hướng Kiên Lao qua Chiềng Chăn vào Tà Chan họ bảo leo núi cực lắm, sức tôi không chắc kham nổi. Song nếu đi đường sông, tôi không thể lần theo dấu chân xưa, cha chị hàng tháng mang đồ tiếp tế ra Hát Lót gửi vào nhà tù Sơn La qua tay người lính khố xanh. Trời đã quá trưa sang chiều. Gió từ cao nguyên Tà  Khoa hiu hiu thổi vào lòng tôi nỗi buồn man mác. Tôi vào quán, nhân nha ly café toan tìm nhà trọ ngủ qua đêm, mai sẽ đi tiếp. Chị chủ quán mau chuyện, khoe với tôi rằng thị trấn này có ông già người Thái sống trên trăm tuổi vẫn minh mẫn khác thường, biết rõ nhiều chuyện ở đời. Tôi mua ít hoa quả, bánh kẹo vào thăm cụ. Thật lạ! Đã gần 120 tuổi mà cụ rất minh mẫn, chỉ đôi mắt hơi mờ và tai nghe hơi kém. Hỏi chuyện, tôi thêm bàng hoàng xúc động bởi cụ chính là người lính khố xanh coi tù năm xưa. Cụ tả rất rõ dáng người phong lưu, đĩnh đạc, cử chỉ nho nhã của cha chị. Cụ còn kể vanh vách Thịnh híp chỉ là thằng lưu manh móc túi ở nhà ga, bến xe dưới Hà nội. Hắn được một cơ sở cách mạng thuê ăn cắp bộ chữ và mấy bản kẽm của nhà in Minh Sang cho họ in truyền đơn. Việc bị bại lộ, hắn bị bắt và nghiễm nhiên thành tù chính trị. Trong nhà giam, anh em tù Quốc Dân Đảng rất khinh bỉ, tẩy chay Thịnh híp. Song không hiểu sao, nhóm anh em tù Cộng Sản lại bị hắn mê hoặc, kết nạp vào chi bộ nhà tù, được vài năm thì leo lên cấp lãnh đạo. Ngày hắn vượt ngục với mấy đồng chí nữa, chính cụ đã chỉ đường cho họ vào Tà Chan ẩn náu…Đêm ở nhà trọ, tôi không sao ngủ được, mong trời mau sáng. Đường từ Kiên Lao vào Chiềng Chăn quanh co uốn lượn, vắt qua hai ngọn núi cao sừng sững. Có lúc tôi đi men mép vực chênh vênh, nhìn xuống dưới mà thấy chóng mặt. Xa thế, khó thế mà cha chị vẫn kiên trì hết năm này tháng nọ đi tiếp tế cho bạn trong tù. Thịnh híp vào Tà Chan, được cha chị cưu mang tha hồ ăn no ngủ kỹ, chẳng lo bị bắt lại. Hồi anh Lâm còn sống kể rằng, Thịnh híp nấn ná ở Tà Chan hàng tháng. Hắn sai các bạn tù người xuôi thuyền xuống bến Chợ Bờ, người leo tắt đường núi đi Tà Khoa liên hệ, bắt mối với cơ sở, còn mình nằm khểnh uống rượu, tuyên truyền cách mạng cho cả nhà, nói như thánh tướng nên cha chị chỉ khinh khỉnh ngồi nghe, cười mát. Hôm ông Phán Hậu từ Chợ Bờ lên đón hắn về cơ sở cách mạng dưới Hòa Bình, cha anh ghé tai thì thầm: “Thằng này có tướng phản phúc. Mình cứu nó thoát nạn, chẳng biết sau này có gặp họa vì nó hay không?”  Câu chuyện của cụ già trăm tuổi người Thái, lời kể của anh Lâm văng vẳng bên tôi suốt dọc hành trình leo núi. Lên đỉnh núi thứ hai, tôi đã nhìn thấy thấp thoáng xa xa dòng sông Đà và hai bản Chiềng Chăn, Tà Chan nằm men bờ nước như bức tranh thủy mạc. Chị ơi! Nếu anh còn sống, đi cùng tôi lên đỉnh núi này hẳn sẽ không thể rời chân, quên mọi khổ đau, uẩn ức, ngồi lỳ trên mỏm đá làm thơ và vẽ tranh. Còn tôi đứng trên đỉnh núi nhìn về Tà Chan lòng cứ miên man ngẫm ngợi. Ở cõi nhân sinh muôn thủa những kiếp người thì mọi thứ vinh- nhục, sướng- khổ, thiện- ác… vốn đều có cả. Chẳng cầu mà đến. Muốn tránh cũng phải gặp. Song tất cả rồi sẽ biến mất trên cõi đời, như Bản Phố chìm xuống lòng sông. Thế là… chị ơi! Tôi đã đến được Tà Chan, lội nước dò tìm dấu tích Bản Phố ngày xưa, cũng là nơi khởi nguồn một mối tình và những oan trái đời chị....
Lời cuối: Câu chuyện này tôi viết có thực có hư. Nửa thực tôi dành kính tặng chi K và hương hồn anh D. Còn nửa hư kia, nó là hư cũng là sự thật, tôi gom nhặt từ những mảnh vụn của lịch sử bồi đắp thêm…Chuyện thường của nghề văn, chị ơi, tha lỗi cho cho em!
  Hà Nội tháng 6/2007
Nguồn: www.vannghesongcuulong.org
 
tồn tại hay không tồn tại
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-13 20:43:58Ct.Ly>
LÃO HỢI
Vũ Ngọc Tiến
 
1- Người đàn ông ấy trạc 60 tuổi. Tay chân ngắn cũn, ngón tay như những quả chuối mắn, trán ngắn, mắt híp, mũi tin hin như mũi lợn ỉn. Thoạt nhìn, ngỡ lão không có cổ vì nó ngắn, gáy và vai nung núc những tảng thịt. Đôi má chảy xệ, che lấp một phần chiếc cằm lẹm. Mái tóc đốm bạc vốn đã thưa lại rụng gần hết trên đỉnh đầu. Nom lão già hơn so với tuổi. Người tuổi Hợi thường hiền lành, dễ ăn, dễ ngủ. Riêng lão Hợi, ngoài nết phàm ăn tục uống, còn rất khôn ngoan đầu c
***************

Tất cả truyện ngắn của tác giả: Vũ Ngọc Tiến
Đã mang vào thư viện

Cảm ơn Nguyên.bamboo đã góp sức cho thư viện

Thân
 
tồn tại hay không tồn tại
0