Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Gabriel- Ernest

6 trả lời, 756 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-30 21:39:22ct.ly>
Gabriel-Ernest

Saki
bản dịch của Nguyễn Thị Chân Quỳnh

SAKI (1870-1916), gốc Tô Cách Lan, viết truyện ngắn nổi tiếng hồi đầu thế kỷ XX. Văn phong cô đọng, dí dỏm, châm biếm pha chút quái dị, kết cấu thường rất đột ngột.

Này, trong khu rừng của ông có một con thú hoang đấy" họa sĩ Cunningham lên tiếng khi ngồi trong chiếc xe hơi của bạn đưa ra ga. Suốt dọc đường họa sĩ không mở miệng ngoài câu nhận xét trên, và vì Van Cheele huyên thuyên không ngừng nên không chú ý đến sự yên lặng của người bạn đồng hành.
"Chắc lại một vài con cáo lạc với mấy con chồn trú ngụ ở đây chứ gì. Chắc cũng chẳng có gì ghê hơn" Van Cheele nói trong khi họa sĩ vẫn lẳng lặng.
"Lúc nẫy ông bảo có một con thú hoang là ông định nói cái gì đấy?" Van Cheele hỏi khi họ đứng trên sân ga.
"Chẳng định nói cái gì cả. Tôi tưởng tượng đấy mà. Kìa tầu đã đến rồi kìa."

Trưa hôm ấy, Van Cheele đi dạo như thường lệ, xuyên qua khu rừng của mình. Hắn có một con vạc nhồi trấu trong văn phòng và biết tên khá nhiều loại hoa dại, cho nên bà cô hắn có lý phần nào khi gọi hắn là một "đại-học-giả môn thiên-nhiên học". Ít ra thì hắn cũng là một "đại tản-bộ-gia". Hắn có thói quen ghi nhớ tất cả những gì nhận xét ở dọc đường, không phải với mục đích giúp cho khoa-học tự-nhiên hiện-đại mà là để có chuyện mà ba hoa sau đó. Khi thấy những cây huệ dại bắt đầu trổ hoa là gập ai hắn cũng kể, mùa nào thức nấy người ta cũng đoán ra được, nhưng ít nhất họ nhìn nhận tính hắn hoàn toàn bộc trực.

Tuy nhiên, cái mà hắn trông thấy trưa hôm ấy khác xa những điều hắn đã thấy mọi khi. Trên một tảng đá nhẵn nhụi nhô ra mé trên mặt nước hồ sâu, dưới vòm cây sồi, một thiếu niên khoảng 16 tuổi đang thảnh thơi nằm sấp phơi tứ chi rám nắng còn ướt nước dưới ánh mặt trời. YÙ chừng anh chàng vừa mới lặn đâu đây, tóc ướt sũng dán vào đầu, tẽ ra hai bên, đôi mắt nâu nhạt - nhạt đến nỗi y như ánh mắt long lanh của một con cọp - đang hướng về phía Van Cheele, lười biếng quan sát hắn. Vì quá bất ngờ, lần đầu tiên Van Cheele bắt gập mình suy nghĩ trước khi lên tiếng. Thằng bé trông có vẻ hoang dại này ở đâu đến đây nhỉ? Bà vợ ông chủ nhà máy xay bột vừa mất tích một đứa con cách đây độ hai tháng, người ta cho là đứa trẻ đã bị dòng nước dùng để quay cối xay cuốn đi, nhưng nó chỉ là một đứa trẻ con, không phải một chàng thiếu niên đã gần trưởng thành.
"Cháu đang làm gì thế?" hắn cất tiếng hỏi.
"Dĩ nhiên là cháu đang sưởi nắng" thiếu niên đáp.
"Cháu ở đâu nhỉ?"
"Cháu ở đây, trong cánh rừng này."
"Cháu không thể sống mãi trong rừng được" Van Cheele nói.
"Kể ra thì khu rừng này tạm cho là đẹp được" thiếu niên nói với giọng kẻ cả.
Van Cheele bắt đầu cảm thấy khó chịu như người đang muốn nắm bắt một vấn đề mà nó cứ tuột khỏi tầm tay.
"Thế cháu ăn gì để mà sống?"
"Cháu ăn th...ị...t" thiếu niên thong thả kéo dài chữ "thịt" ra như thể đang thực sự nhấm nháp.
"Thật thế à? Cháu ăn thịt gì?"
"Nếu ông muốn biết rõ thì đây: thịt thỏ, thịt chim rừng, thịt gà, thịt cừu, mùa nào thức nấy, cả thịt trẻ con nữa nếu cháu bắt được, nhưng thường thường trẻ con được canh giữ cẩn thận ở trong phòng, khóa trái cửa ban đêm, mà đêm đến cháu mới đi săn. Đã hai tháng nay rồi, cháu chưa được thưởng thức món thịt trẻ con."

Không lưu ý đến giọng bỡn cợt trong câu nói vừa rồi, Van Cheele tìm cách lôi kéo thiếu niên trở về vấn đề đi săn trộm.
"Chắc cháu khoác lác khi khoe là được ăn thịt thỏ rừng? Những con thỏ rừng ở đây dễ gì mà săn được?"
"Ban đêm cháu đi săn bằng bốn chân" là câu trả lời kỳ bí.
"Có phải cháu định nói cháu đi săn với một con chó không?"

Thiếu niên từ từ xoay ra nằm ngửa, cất tiếng cười một cách kỳ dị, cho là "dễ nghe" thì như tiếng khúc khích, "khó chịu" thì như tiếng gầm gừ.
"Cháu không tin có một con chó nào lại muốn đánh bạn với cháu, nhất là vào ban đêm." Van Cheele bắt đầu cảm thấy quả thật có cái gì bất thường ở thiếu niên có cặp mắt và miệng lưỡi là lạ này.
"Ta không thể để cho cháu sống trong rừng rú như thế này được." Van Cheele dõng dạc tuyên bố.
"Cháu nghĩ chắc ông thích để cháu ở trong rừng hơn là ở trong nhà của ông" thiếu niên đáp.
"Nếu cháu mà không chịu nghe lời ta, ta sẽ bắt cháu phải theo."

Thiếu niên bỗng lăn một vòng nhanh như chớp, nhẩy tọt xuống hồ lặn ngụp, một lúc sau nhoài nửa thân mình loang loáng nước lên bờ, chỗ Van Cheele đang đứng. Nếu là một con rái-cá thì hành động này chẳng có gì đặc biệt nhưng ở một thiếu niên thì khiến Van Cheele giật mình và hắn trượt chân ngã sóng soài trên bờ hồ đầy cỏ dại, với cặp mắt vàng như mắt cọp sát ngay mặt mình. Thiếu niên lại cất tiếng cười, lần này giọng gầm gừ xem ra lấn át giọng khúc khích, rồi lại nhanh như chớp, chui tọt vào bụi rậm mất hút.
"Rõ là mọt con thú hoang kỳ dị" Van Cheele tự nhủ và đứng dậy. Bây giờ hắn mới sực nhớ đến lời nhận xét của Cunningham:" "Có một con thú hoang trong khu rừng của ông".
Trên đường nhẩn nha về, Van Cheele cố nhớ lại những chuyện đã xẩy ra gần đây có thể có liên hệ tới sự hiện diện của thằng bé hoang dại, dị kỳ này.
Có cái gì đã khiến khu rừng gần đây thưa vắng bóng muông thú, gà nuôi trong trại thì biến mất, thỏ rừng cũng ít hẳn đi một cách lạ thường, hắn còn nghe thấy có người phàn nàn cả cừu non cũng bị khiêng đi. Phải chăng thiếu niên đã thực sự cùng với một con chó tinh quái đi săn trộm ở vùng này? Thiếu niên nói đêm đêm đi săn bằng "bốn chân" nhưng sao lại ỡm ờ bảo không có con chó nào dám tới gần mình "đặc biệt là ban đêm"? Thật kỳ lạ. Thế rồi, nghĩ đến những sự phá phách trong vài tháng gần đây, hắn đột nhiên dừng lại - dừng cả đi tản bộ lẫn dừng suy nghĩ. Đứa trẻ mất tích cách đây hai tháng ở nhà máy xay bột, người ta cho là nó ngã rồi bị dòng nước cuốn đi, nhưng mẹ nó nhất định bảo đã nghe thấy một tiếng kêu thét ở sườn đồi phía bên kia dòng nước. Chuyện không thể xẩy ra được, dĩ nhiên, nhưng hắn muốn giá thiếu niên đừng nói đến cái chuyện kỳ quái ăn thịt trẻ con cách đây hai tháng thì hơn. Những chuyện như thế không nên nói, dù chỉ là để đùa.

Lần này, trái với mọi khi, Van Cheele không thích kể lại những điều hắn vừa thấy trong rừng. Còn đâu là thanh danh của một ông Hội đồng hàng xã kiêm Thẩm phán nếu ông chứa chấp trong địa phận mình một kẻ có thành tích khả nghi. Có khi ông còn phải bồi thường nặng những con gà, những con cừu đã bị mất tích.

Bữa ăn tối hôm ấy, hắn yên lặng một cách bất thường. Bà cô hắn hỏi: "Mồm miệng anh tối nay để đâu? Cứ y như là anh vừa gập một con chó sói ấy."

Van Cheele không mấy hiểu tục ngữ, nên thấy câu nói hơi buồn cười. Nếu quả hắn trông thấy một con chó sói, nhất định là hắn đã thao thao bất tuyệt rồi.

Bữa điểm tâm sáng hôm sau, Van Cheele nhận thấy cảm giác bất an, về chuyện gập gỡ ngày hôm trước, vẫn chưa tan, thế là hắn quyết định đón tầu đi đến tỉnh lân cận tìm Cunningham để hỏi cho ra Cunningham đã trông thấy những gì mà lại nói rằng có một con thú hoang trong rừng của hắn. Quyết định xong, hắn vui vẻ trở lại, vừa ư ử hát một điệu ca tươi sáng vừa thơ thẩn vào phòng kiếm thuốc lá hút như thường lệ. Nhưng khi bước chân vào phòng thì điệu hát vụt ngừng bặt nhường chỗ cho một lời cầu nguyện thành khẩn. Gọn gàng nằm dài trên tấm thảm nhung với điệu bộ nhàn nhã một cách quá mức là thiếu niên trong rừng. Lần này anh chàng khô ráo hơn lần trước nhưng "bộ cánh" vẫn y nguyên như cũ.
Van Cheele giận dữ hỏi: "Sao cháu dám vào đây nằm hử?"
"Thì ông bảo cháu là không được ở trong rừng nữa mà" thiếu niên bình thản đáp.

Để che giấu bớt "tai họa", Van Cheele vội vàng mở tờ báo Morning Post ra đắp lên thân thể tồng ngồng của vị khách bất-đắc-dĩ. Ngay lúc ấy bà cô của hắn bước vào.
"Đây là một cháu bé đáng thương đã lạc đường lại mất trí nhớ, không biết mình là ai và ở đâu." Van Cheele giải thích một cách tuyệt vọng, lo ngại liếc nhìn khuôn mặt đứa trẻ bơ vơ xem nó có định bồi thêm những câu nói bộc trực rất bất tiện vào cái vẻ hoang dại của nó không. Bà Van Cheele hết sức quan tâm, nói: "Có khi áo lót mình của nó có thêu tên nó."
"Hình như nó cũng đánh mất cả hầu hết quần áo rồi" hắn vừa nói vừa chặn giữ cho tờ báo nằm nguyên một chỗ.

Một đứa trẻ trần truồng, vô gia cư khiến bà Van Cheele đem lòng thương như thương một con mèo con bị lạc hay một con chó con vô chủ.
"Chúng ta phải cố giúp đỡ nó" bà quyết định và chỉ thoáng một cái là đã có một người được phái đến nhà viên mục sư và đem về một cái va-li quần áo cũ kèm theo những món phụ như giầy, sơ-mi, cổ cồn v.v... Sau khi diện bảnh choẹ, sạch sẽ, chải chuốt, Van Cheele thấy thiếu niên vẫn chưa hết vẻ dị kỳ, nhưng bà cô hắn thì thấy chú bé thật đáng yêu.
"Mình phải tạm đặt cho nó một cái tên trong khi chờ xem tên thật của nó".
Bà đề nghị: "Ta cứ gọi nó là Gabriel-Ernest, cái tên này nghe hay hay và thích hợp đấy."

Van Cheele vâng nhưng trong thâm tâm ngần ngại không biết đã gán nó cho một thiếu niên đáng yêu và thích hợp thật không? Nỗi nghi ngại của hắn không giảm đi chút nào trước sự kiện là con chó tai cụp, già nua, trầm tĩnh, của hắn đã chạy vọt ra khỏi nhà ngay khi thiếu niên bước chân vào, và cứ nhất định run rẩy sủa ầm lên từ cuối khu vườn ăn quả, trong khi con chim bạch yến, mọi khi cũng huyên thuyên không kém ông chủ thì nay tự hạn chế với những tiếng chiêm chiếp kinh hãi.

Hơn bao giờ hết, hắn quyết định đi gập ngay Cunningham để hỏi.

Trong khi hắn lái xe ra ga thì bà cô hắn sắp đặt cho Gabriel-Ernest phụ bà giúp vui lớp thiếu nhi vào buổi trà trưa hôm chủ nhật ấy.

Thoạt đầu Cunningham nhất định không muốn bàn luận gì cả.
"Mẹ tôi mất vì bệnh tâm thần nên ông cũng thông cảm hộ, tôi không thích bàn đến những chuyện có tính cách quái dị mà tôi có thể đã trông thấy hay tưởng mình đã thấy."
"Nhưng mà ông đã thấy cái gì?" Van Cheele nhất định tra hỏi.
"Cái mà tôi đã thấy nó quái đản đến nỗi không một người bình thường nào có thể nghiêm trang tin nó đã thực sự xẩy ra. Cái buổi chiều hôm cuối cùng ở nhà ông, tôi đang đứng khuất lấp sau hàng dậu, bên cái vườn quả, ngắm cảnh mặt trời lặn, đột nhiên tôi thấy có một thiếu niên trần truồng, hình như vừa tắm trong một cái hồ nào gần đấy, cũng đang đứng trên sườn đồi trơ trụi, ngắm cảnh hoàng hôn. Cái dáng đứng của thiếu niên gợi cho tôi nghĩ đến một con chó sói hay một con dã thú trong huyền thoại của tà giáo làm tôi lập tức muốn thuê nó làm người mẫu và chỉ tị nữa là tôi cất tiếng gọi. Nhưng ngay lúc ấy mặt trời lặn chìm xuống và tất cả các mầu hồng, mầu cam vụt tắt khiến quang cảnh trở nên lạnh lẽo và xám ngắt, đồng thời, một chuyện cực kỳ quái dị đã xẩy ra - đứa bé ấy cũng biến mất!
"Cái gì? Biến mất không còn dấu tích gì cả à?" Van Cheele hấp tấp hỏi.
"Không, và đây mới là chỗ khủng khiếp của câu chuyện này. Trên sườn đồi, chỗ thằng bé vừa đứng cách đây một giây, bây giờ có một con chó sói to lớn, mầu đen đen, răng bóng loáng, với cặp mắt mầu vàng và hung ác. Người ta tưởng ..."

Van Cheele không thèm dừng lại ở những cái phù phiếm như "tưởng". Hắn sấp ngửa chạy vội ra ga. Hắn bỏ ý định đánh giây thép: "Gabriel-Ernest là một con lang-nhân, nửa người nửa sói." Đó là cố gắng tuyệt vọng, không lấy gì làm ổn, của hắn để thông báo tình hình. Bà cô hắn chắc sẽ tưởng là một bức thư có mật mã mà hắn quên không cho biết giải mã. Hi vọng độc nhất của hắn là có thể về nhà trước khi mặt trời lặn. Cái xe hơi thuê ở ga chạy về chậm rì rì, sốt cả ruột, trên những con đường quê dưới ánh hồng tía rực rỡ của cảnh trời chiều. Bà cô hắn đang thu dọn những đĩa bánh mứt thừa khi hắn về đến nhà.
"Thằng Gabriel-Ernest đâu rồi hả cô?" hắn gần như gào lên.
"Nó vừa dẫn thằng bé Toop về nhà rồi. Cô thấy trời cũng muộn, sợ để thằng bé đi về một mình nguy hiểm. Mặt trời lặn đẹp quá nhỉ?"

Tuy Van Cheele không quên vẻ đẹp huy hoàng của mặt trời lặn ở phương tây nhưng không đứng lại bàn tán. Hắn phóng một mạch qua con đường quê nhỏ dẫn đến nhà thằng Toop, một bên là dòng nước chẩy xiết của nhà máy xay bột, bên kia là sườn đồi trơ trụi nằm phơi mình. Một thoáng hồng phai của mặt trời lặn còn lờ mờ ửng ở chân trời và đến khúc ngoặt này chắc hắn sẽ thấy đôi trẻ, cao thấp chênh lệch, đang dìu giắt nhau đi. Thế rồi mầu hồng vụt tắt và mầu xám xâm chiếm thiên nhiên trong một thoáng rùng mình. Van Cheele chợt nghe thấy một tiếng kêu khiếp hãi và dừng chân.

Không ai còn thấy thằng bé Toop và Gabriel-Ernest đâu nữa, nhưng người ta thấy quần áo Gabriel-Ernest trút bỏ trên đường đi nên đồ chừng thằng Toop ngã xuống nước và Gabriel-Ernest đã cởi quần áo nhẩy xuống định cứu nhưng không cứu nổi. Van Cheele và một vài người thợ làm việc cạnh đấy chứng nhận lúc ấy có nghe thấy tiếng một đứa trẻ kêu thét gần chỗ tìm thấy quần áo của Gabriel-Ernest. Bà Toop còn tới 11 đứa con khác nên tiếp nhận cái tang này một cách trầm tĩnh nhưng bà Van Cheele thì thành thật thương chàng thiếu niên bơ vơ, lạc lõng. Chính bà đã đứng ra khởi xướng gắn một tấm bảng bằng đồng ở nhà thờ với hàng chữ: "Để kỷ niệm Gabriel-Ernest, một thiếu niên không rõ tên họ thật, đã can đảm hi sinh đời sống để cứu một người khác."

Xưa nay Van Cheele có thói quen chiều bà cô đủ mọi chuyện nhưng lần này hắn nhất định từ chối, không chịu đóng góp phần mình vào công cuộc thiết lập tấm bảng truy điệu Gabriel-Ernest.


SAKI, "Gabriel-Ernest", The Penguin Complete Saki, 1982
Nguyễn Thị Chân Quỳnh dịch
Châtenay-Malabry, tháng 9, 1997.




Đăng nhập để trả lời
0
Đứa bé

Alberto Moravia
bản dịch của Miêng

Con trai của một kiến trúc sư người Y, Alberto Moravia sinh ngày 28-11-1907 tại Rome. Mặc dầu quyển tiểu thuyết đầu tay ông viết vào năm mới 19 tuổi, "Les Indifférents", đã đánh dấu tài năng của một văn sĩ già dặn. Nhà văn hiện thực và mạnh bạo của thế giới hiện đại, Moravia là một văn sĩ nổi danh nhất trong các văn sĩ Y đương thời. Các tác phẩm sau đây đã được đưa lên màn ảnh La Belle Romaine, Le Mépris, La Ciociara, Le Conformiste.


Khi người đàn bà trong ban cứu tế thành phố Rome mang tiền tới cho chúng tôi, cả bà ta, cũng hỏi là tại sao chúng tôi sinh chi nhiều con đến thế. Vợ tôi hôm ấy bãn tính, dấm dẳn nói toạc sự thật ra : "Nếu có tiền, chiều chiều chúng tôi cũng sẽ đi ci-nê... bởi vì không có nên đi ngủ sớm. Vậy là có con".
Nghe những lời đó thì bà ta kiểu cách bỏ đi, cắn chặt môi. Tôi trách nhà tôi, bởi sự thật không phải lúc nào nói ra cũng tốt, và còn phải biết mình đang nói chuyện với ai chứ.

Khi còn trẻ và chưa lập gia đình, tôi thường giải trí bằng cách đọc mục tin tức của Rome trong báo, kể đủ loại bất hạnh có thể xảy tới cho người ta : trộm cắp, giết người, tự tử, tai nạn giao thông, vân vân. Và giữa những tai ương này, điều duy nhất mà tôi cho là không thể nào chịu để xảy đến cho mình, là trở thành cái mà nhà báo gọi là "trường hợp đáng thương", tức là một người gợi lên lòng thương hại của kẻ khác không vì một bất hạnh gì đặc biệt, mà chỉ vì sự hiện hữu của mình thôi !. Tôi vừa nói là hồi đó còn trẻ, và chưa hiểu thế nào là nuôi nấng một gia đình đông đúc. Nhưng bây giờ, tôi nhận thấy một cách hãi hùng rằng từ từ, tôi biến thành một trong những "trường hợp đáng thương" đó. Ví dụ tôi đọc thấy : "Họ sống trong sự khốn cùng đen tối nhất..." Vậy mà hiện tại tôi đang sống trong cảnh khốn cùng đen tối nhất. Hay là : "Họ ở trong cái nhà chỉ có tên gọi là nhà". Thế mà tôi sống ở Tormarancio, với vợ và sáu con, trong một căn phòng chỉ rộng bằng tấm nệm, và khi trời mưa thì nước chảy trên đó như trên bến Ripetto. Tôi còn đọc thấy : "Khi người đàn bà bất hạnh biết là mình có bầu, bà ta vội lấy một quyết định tội lỗi là hủy diệt cái trái của cây tình yêu đó đi..." . Vậy mà cái quyết định này, vợ chồng tôi cùng đồng lòng, khi khám phá ra rằng vợ tôi có bầu lần thứ bảy. Tóm lại, chúng tôi định là khi thời
tiết cho phép, chúng tôi sẽ mang đứa bé bỏ trong một nhà thờ, trông nhờ vào lòng hảo tâm của người nào bắt gặp nó đầu tiên.

Luôn luôn nhờ các bà trong ban cứu tế ấy, vợ tôi đi sinh ở bịnh viện và khi lấy lại sức thì trở về Tormarancio với đứa bé. Bước vào căn phòng của chúng tôi, vợ tôi nói : "Nhà biết không, mặc dầu bịnh viện luôn luôn là bịnh viện, tui sẵn lòng ở lại đó hơn là về đây". Với những lời đó, đứa bé làm như hiểu được, bèn tấn công bằng những tiếng ré thủng màn nhĩ. Một cái phổi tốt, mạnh khỏe, và nó tốt giọng đến nỗi ban đêm khi nó thức giấc và bắt đầu mè nheo thì không ai trong chúng tôi ngủ lại được.

Khi tháng năm tới, thời tiết bắt đầu ấm áp có thể ở ngoài mà không cần măng tô, chúng tôi đi Rome. Vợ tôi ôm chặt đứa bé vào ngực, ních cho nó đầy giẻ rách như thể sắp bỏ nó giữa đống tuyết. Và khi tới thành phố, chắc là để che giấu nỗi đau lòng, vợ tôi bắt đầu thao thao bất tuyệt, hổn hển đứt hơi, tóc tai bay trong gió, mắt lộn tròng. Khi thì bả nói về các nhà thờ khác nhau mà chúng tôi có thể bỏ đứa bé lại đó, giải thích rằng phải là một nhà thờ thường có nhiều người giàu có tới lui - bởi vì nếu đứa bé rơi vào tay người nghèo như chúng tôi thì tốt nhất là cứ giữ nó lại. Khi thì bả nói rằng phải là nhà thờ cống hiến cho bà Thánh Madone, bởi vì Thánh Madone cũng từng có một đứa con trai nên có thể hiểu được một số chuyện và sẽ nhậm lời cầu xin của bả...

Sự liến thoắng này làm tôi mệt và bị khích động dữ dội. Hơn nữa là tôi không hãnh diện gì và không thích việc mình đang bắt buộc làm. Nhưng tôi không nói gì, tự nhủ thầm là phải giữ cái đầu thật lạnh, chứng tỏ mình trầm tĩnh và giúp vợ can đảm.

Tôi đưa ra vài nhận xét, với mục đích chính là cắt đứt cái trò tràng giang đại hải ấy, nói : "Tôi có ý này... nếu mình bỏ nó ở nhà thờ Thánh Pierre ?". Nhà tôi hơi lưỡng lự một chút rồi nói : "Cái nhà thờ đó cứ như là một nơi bí mật quân sự... mình có thể sẽ không bao giờ thấy lại thằng bé... không, tui muốn thử ở cái nhà thờ nhỏ ở Condotti. Ơ đó toàn là tiệm hàng đẹp đẽ... biết bao nhiêu người giàu có tới lui... chỗ đó tốt đấy..."

Chúng tôi đi xe buýt, và giữa các hành khách khác, nhà tôi im. Thỉnh thoảng bả còn quấn đứa bé trong chăn chặt hơn, hay cẩn trọng giở hé ra để nhìn mặt nó. Thằng bé ngủ, khuôn mặt xinh xắn trắng hồng vùi trong đống tã lót. Quần áo nó tồi tàn như chúng tôi, và chỉ có vẻ đàng hoàng ở đôi găng tay len xanh nhạt thò ra ngoài nên cứ thể như nó muốn khoe.

Chúng tôi xuống đại lộ Goldoni và tức thì vợ tôi bắt đầu cà kê dê ngỗng. Bả dừng lại trước một tiệm kim hoàn, chỉ cho tôi xem những món bày trong tủ trên tấm nhung đỏ và nói :

"Nhìn mấy món đẹp quá nè ... người ta đến khu này chỉ để mua nữ trang và bao nhiêu thứ đẹp đẽ khác... người nghèo như tụi mình thì đừng có mạo hiểm vào đấy... họ thì giữa cửa tiệm này và cửa tiệm khác lại vào nhà thờ cầu nguyện một lát... họ có đầy lòng tốt... một trong bọn họ sẽ trông thấy thằng bé và đem nó đi". Nhà tôi vừa nói vừa nhìn đồ nữ trang, ép chặt thằng bé vào ngực, mày nhíu lại như thể nói với chính mình, và tôi không dám hó hé gì. Chúng tôi vào nhà thờ : nó nhỏ xíu, tường dát đá hoa giả màu vàng, ngoài bàn thờ lớn ra còn có rất nhiều nhà nguyện. Nhà tôi tức thì tuyên bố là nó hoàn toàn khác với hình ảnh nhà tôi nghĩ, và rằng bả không hài lòng về nó chút nào. Vậy mà bả cũng chấm tay vào nươc phép và làm dấu thánh giá. Rồi, với đứa bé trong tay, nhà tôi đi chầm chậm một vòng quanh nhà thờ với vẻ bất mãn và nghi ngờ. Từ vòm nóc đổ xuống một luồng ánh sáng lạnh nhưng sống động, xuyên qua lớp kính màu. Vợ tôi đi từ nhà nguyện này đến nhà nguyện khác, thám thính hết mọi cái, ghế, bàn thờ, tranh ảnh, coi thử có tiện bỏ đứa bé lại đây không - và tôi thì lẽo đẽo theo sau cách một quãng, vừa nhìn chừng cửa ra vào. Một cô gái cao lớn ăn vận toàn đỏ, tóc vàng óng bước vô. Hơi vướng vì cái rốp chật bó, cô ta quỳ gối và sau vài giây cầu nguyện, cô làm dấu rồi bỏ đi ra, không thèm nhìn chúng tôi lấy một cái. Theo dõi mọi cử chỉ đó, vợ tôi thình lình nói : "Không, nhất quyết là không... những người tới đây đều như cái cô đó hết, ai cũng vội vã đi vui chơi và tha thẩn trong các cửa hàng... mình đi thôi". Và vừa nói, vợ tôi bước ra khỏi nhà thờ.

Chúng tôi ngược lên gần hết Corso, bước rất nhanh, vợ đi trước, tôi theo sau, và ngang tới quãng trường Venise, chúng tôi vào một nhà thờ khác. Nhà thờ này lớn hơn cái trước nhiều, một phần chìm trong bóng râm, đầy màn trướng xếp nếp, đồ mạ vàng và hòm thánh tích đựng những quả tim bằng bạc sáng lấp lánh trong bóng tối. Có rất đông người và chỉ một cái nhìn thoáng qua cũng đủ biết là họ thuộc thành phần khá giả. Các bà đội mũ, các ông ăn bận chỉnh tề. Một ông linh mục đang giảng đạo, vung vẩy hai tay trên giảng đài. Thiên hạ đứng, dán mắt vào ông ta và tôi nghĩ là rất thuận tiện bởi không ai để ý chúng tôi. Tôi nói nhỏ với vợ : "Mình thử bỏ nó ở đây ?". Nhà tôi ra dấu đồng ý. Chúng tôi đi tới nhà nguyện bên cạnh, rất tối. Không có ai và có thể nói là không thể trông thấy gì ở đó hết. Vợ tôi che mặt đứa bé bằng một vạt chăn và đặt nó trên ghế như thể đặt một cái gói cồng kềnh cho tay được rảnh rang. Rồi bả quỳ xuống và cầu nguyện rất lâu, úp mặt vào lòng bàn tay. Tôi thì không biết làm gì, nhìn vớ vẩn vào hàng trăm con tim bạc đủ cỡ phủ kín tường. Cuối cùng vợ tôi đứng lên với vẻ căng thẳng, làm dấu và từ từ rời nhà nguyện. Tôi theo sau cách một quãng. Lúc đó ông cha đạo kêu to lên : "Và Chúa hỏi Pierre, con đi đâu đấy?". Tôi rùng mình với cảm tưởng ông đang hỏi mình. Nhưng khi vợ tôi sắp vén tấm trướng cửa, một giọng nói làm cả hai chúng tôi giật nẩy người : "Này bà, bà bỏ quên cái gói trên ghế". Đó là một bà vận toàn đen, một trong những kẻ mê đạo suốt ngày tiêu thì giờ trong các nhà thờ và kho đồ lễ. Vợ tôi nói : "A vâng đúng rồi, cám ơn... tôi quên mất". Chúng tôi lấy lại cục nợ và ra khỏi thánh địa, dở sống dở chết.

Ra tới ngoài, bằng một giọng của người bán hàng muốn tống bôi lôi khứ món hàng đi mà không tìm ra người mua, vợ tôi nói :

"Không ai muốn nó cả, thằng bé tội nghiệp của tôi !". Tuy nhiên bả bắt đầu chạy lon ton với những bước chân giật giật từng cơn như không bén đất.

Chúng tôi đổ ra quãng trường Saints-Apôtres. Nhà thờ mở cửa, và khi vào thấy nó rộng mênh mông và tối, vợ tôi thầm thì : "- đây tốt đấy". Bằng một bước cả quyết, vợ tôi tiến tới nhà nguyện ở bên, đặt đứa bé xuống băng, rồi làm như bị đất nung hai chân, bả không làm dấu, không cầu nguyện, không đặt ngay cả một cái hôn lên trán thằng bé, bước vội ra cửa . Nhưng vừa đi được vài bước thì trong nhà thờ dội lên tiếng khóc tuyệt vọng : đã tới giờ thằng bé đòi bú, nó đói. Với tiếng ré chát chúa đó, vợ tôi mất bình tĩnh. Trước tiên nhà tôi chạy ra cửa, rồi chạy ngược trở lại, và không cần biết mình đang ở đâu, bả ngồi xuống ghế bồng đứa bé lên và mở cúc áo ra để cho nó bú. Vợ tôi vừa mới móc vú ra là thằng bé bám riết với cả hai tay như một con sói con, ư hử im lặng. Đúng lúc ấy một giọng giận dữ la to lên : "Những việc đó không bao giờ được làm trong nhà của Chúa... ra ngay... ra ngay... đi ra đường mà làm !". Đó là ông giữ nhà thờ, một ông già nhỏ bé với chòm râu cằm trắng và giọng nói to hơn ông ta. Vợ tôi vừa đứng lên vừa nói, hai tay khép vội ngực áo và đầu thằng bé : "Vậy mà bà Thánh Madone trong những bức tranh luôn luôn là cho con bú". Ông ta la lên : "Mày dám so sánh với bà Madone hả ? Đồ tự phụ !". Chán quá, chúng tôi ra ngồi trong cái vườn nhỏ quãng trường Venise, vợ tôi cho con bú tiếp cho tới khi nó no nê ngủ lại.

Bây giờ đêm xuống rồi, các nhà thờ đều đóng cửa, chúng tôi mệt lữ và đầu óc mê muội không nảy sinh được một điều gì nữa. Với ý nghĩ đã phiền phức nhiều để làm một cái việc đáng lẽ không nên làm, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi bảo : "Này, khuya rồi và tui không chịu nổi nữa... mình phải quyết định đi thôi !". Vợ tôi trả lời với giọng chua chát : "Nhưng là giọt máu của ông !... và ông muốn bỏ nó như vậy đó, trong một góc, như thể để một chéo giấy đựng đồ lòng cho mèo vậy !" - "Dĩ nhiên là không, nhưng có những việc người ta có thể làm tức khắc không đắn đo hay là không bao giờ làm cả ". - "Thực tình là ông sợ tui đổi ý và đem nó vế nhà trở lại... đàn ông các ông, các ông toàn là những thằng hèn !". Tôi hiểu không phải là lúc nói ngược lại nên trả lời một cách khá ung dung : "Tui hiểu bà. Nhưng nên biết là dù có việc gì không hay xảy ra cho nó đi nữa thì cũng tốt hơn là lớn lên ở Tormarancio, trong một căn phòng không cầu tiêu không nhà bếp, giữa bao vi khuẩn muà đông và ruồi muỗi mùa hè". Và lần này thì vợ tôi không trả lời.

Không biêt đi đâu, chúng tôi lấy đường quốc lộ ngược lên hướng tháp Néron. Tôi để ý thấy xa hơn một chút là con đường dốc nhỏ, hoàn toàn vắng vẻ, trừ một chiếc xe hơi xám cửa đóng, đậu trước cổng nhà. Tôi nảy ra một ý, tới thẳng chiếc xe vặn cái nắm tay : cửa mở. Tôi bảo nhà tôi : "Nhanh lên, lúc này được rồi. Đặt nó lên ghế sau". Nhà tôi vâng lời đặt đứa bé lên ghế và tôi đóng cửa lại. Mọi việc xảy ra chớp nhoáng trong vòng vài giây đồng hồ và không ai trông thấy. Rồi tôi nắm cánh tay vợ và chúng tôi chạy tránh xuống quãng trường Quirinal.

Quãng trường vắng teo tối om với thưa thớt vài ngọn đèn đường chiếu sáng ở cung điện, và vượt khỏi phần trên các lan can là ánh sáng của Rome lấp lánh trong đêm. Vợ tôi bước tới vòi nước, đến gần cột tháp và ngồi xuống băng ghế rồi thốt nhiên bật khóc, lưng quay lại tôi như thể bả đang chỉ một mình. Tôi hỏi : "Chuyện gì vậy ?" Nhà tôi trả lời : "Bây giờ bỏ nó rồi thì tui nhớ nó quá... tui thấy thiêu thiếu cái gì ở đây, chỗ ngực mà nó bấu vào đây này". Tôi nói không chủ định : " Ô, thì cũng dễ hiểu thôi... nhưng rồi sẽ qua đi".

Vợ tôi nhún vai và cứ khóc. Rồi thình lình mắt nhà tôi ráo hoảnh như gió trời thổi khô nước mưa. Bả đứng lên giận dữ chỉ cho tôi một trong những lâu đài : "Bây giờ tui biết phải đi đâu rồi, tui đi gặp ông vua và sẽ kể hết".
Tôi nắm tay nhà tôi và la lên : "Đứng yên ! bà điên sao chớ... bà biết thừa là không còn vua nữa mà !" - "Tui cóc cần, tui sẽ nói với người thay thế ổng... chắc chắn là phải có ai chớ !" Nhà tôi sắp chạy tới cổng ra vào và chỉ có trời mới biết chuyện khủng khiếp gì sẽ xảy ra, thì đùng một cái, tôi nói ngoài dự định : "Này bà, tui suy nghĩ lại rồi... mình quay tới chiếc xe lấy lại thằng nhỏ... chớ còn gì nữa, mình sẽ giữ nó... thêm bớt một miệng thì nhằm nhò gì..." Cái ý đó đương nhiên là ý muốn chính của vợ tôi, nó xoá liền ý nghĩ muốn nói chuyện với vua. "Nhưng liệu nó còn đó không ?" Vừa nói vợ tôi vừa chạy tới con đường có chiếc xe hơi xám. Tôi trả lời : "Dĩ nhiên là còn. Nãy giờ chưa tới năm phút mà".

Chiếc xe còn đó thật. Nhưng đúng lúc vợ tôi mở cửa xe thì một ông cỡ trung niên béo lùn với vẻ mặt rất hách dịch, xuất hiện ở cổng và la lên : "Dừng lại... dừng lại... bà muốn lấy gì trong xe tôi đấy ?" Nhà tôi đang nhoài người vào xe ôm đứa bé, trả lời mà không quay đầu lại : "Tui muốn lấy cái gì thuộc của tui !" Ông kia nhấn mạnh :"Mà bà lấy cái gì ?... cái xe này là của tôi... bà hiểu không ? nó là của tôi..." Phải nhìn thấy vợ tôi lúc đó : bả đứng thẳng lên và tấn công như vầy : "Coi kià, ai lấy cái gì của ông ? Đừng sợ, không ai lấy gì của ông đâu... còn xe của ông đấy hả, coi nè, tui nhổ lên nó đấy, ông thấy chưa ?" Và bả nhổ thật lên cánh cửa. Ông kia ngẩn ra : "Nhưng mà kià, cái gói gì đấy... ?" -" Không phải là gói gì cả, đây là con trai tui, ông nhìn nè..."

Vừa nói nhà tôi vừa dở lòi mặt thằng bé ra chìa tới trước mặt ông ta và tiếp : "Một thằng con trai xinh xắn như thế này, nếu ông tin là ông có khả năng tạo ra một đứa như vậy với vợ ông... và tui báo trước là không được đụng tới tui, nếu không tui sẽ la lên gọi cảnh sát và nói là ông muốn bắt cóc con tui..." Tóm lại, nhà tôi nói đủ điều, tới nỗi mà tội nghiệp ông ta, ông ta trở nên đỏ tía và há hốc mồm ra như thể đang bị xuất huyết não.

Cuối cùng nhà tôi bỏ đi không vội vã gì, con trong tay, trở lại chỗ tôi đang chờ ở cuối con đường.

Miêng chuyển ngữ
theo bản Pháp văn "Le Bébé"
của bà Claude PONCET
Paris, Aout 1995




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-30 21:47:36ct.ly>
Trong Đêm Khuya

Nguyên tác : Varlam Shalamov
Người dịch : Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Varlam Shalamov sinh vào khoảng năm 1907 và mất ngày 17 tháng 1 năm 1982. Tác giả thường viết những truyện ngắn mô tả về cuộc sống trong các trại tù.
Truyện sau đây được chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh của John Glad với nhan đề "In The Night"

Bữa ăn tối vừa xong. Glebov chậm rãi liếm sạch cái chén rồi vét những mẩu bánh vụn trên bàn vào trong lòng bàn tay trái một cách lành nghề. Hắn không nuốt ngay. Hắn ngậm những mẩu bánh nhỏ xíu đó trong miệng lẫn với bao nhiêu nước miếng để rồi cảm nhận vị bánh một cách thèm thuồng. Glebov cũng chẳng có thể nói là bánh ngon hay không nữa. Vị giác là cái quái gì, đâu đáng được mang ra để mà so sánh với cái khoái cảm của hắn lúc này. Glebov không vội vã nuốt bánh xuống làm chi, để yên đấy, bánh sẽ chầm chậm tan dần trong miệng và lẹ làng biến mất đi mà!
Cặp mắt sâu hoắm của Bagretsov sáng lên và nhìn trừng trừng mãi vào miệng Glebov. Chẳng anh chàng nào có đủ nghị lực quay đầu đi mà không ngó chằm chằm vào miệng bạn mình khi cái miệng đó đang ăn. Glebov nuốt nước miếng xuống và Bagretsov lúc đó mới chịu lập tức quay nhìn ra phía khác, ra phía chân trời nơi mặt trăng vàng lớn đang lừng lững mọc lên.
"Tới giờ rồi!", Bagretsov nói. Họ chậm rãi đi dọc theo lối mòn dẫn tới một tảng đá lớn và trèo lên khoảng đất trống nhỏ ven đồi. Mặc dù mặt trời vừa mới lặn đây thế mà mấy tảng đá đã lạnh ngắt rồi, chính mấy cái tảng đá này ban ngày nóng bỏng đến cháy cả gót chân trơ trụi của họ đi trong đôi dép cao su. Glebov cài nút áo khoác dày. Đi như vậy mà người cũng chẳng ấm lên được. Hắn hỏi khẽ: "Còn xa nữa không?"
"Chút nữa thôi!", Bagretsov thì thào trả lời. Họ ngồi xuống nghỉ. Họ chẳng có chuyện quái gì để nói hay để suy nghĩ cả. Mọi việc đều đã rõ ràng và đơn giản. Trong một chỗ đất phẳng phiu ở cuối cái bãi trống này là những đống đá mà người ta đã đào từ dưới đất lên để lẫn với rêu đã tróc ra khô queo.
"Tớ làm chuyện này một mình cũng dư sức mà!", Bagretsov nở một nụ cười nhăn nhúm. "Nhưng hai đứa mình cùng làm thì vui hơn. Hơn nữa tớ lúc nào cũng coi cậu là bồ tèo...". Cả hai anh chàng đồng hội đồng thuyền này cùng được chuyển vào nơi đây mới năm ngoái thôi.
Bagretsov ngừng lại: "Cúi xuống không tụi nó trông thấy chúng mình đấy!". Họ nằm xuống và bắt đầu liệng những cục đá sang một bên. Chẳng có cục đá nào quá to để đến nỗi phải cần hai người xúm lại khiêng vì những kẻ chất đá sáng nay cũng không khỏe gì hơn Glebov.
Bagretsov khẽ chửi thề. Hắn bị đứt tay và chảy máu. Hắn đắp chút cát vào vết thương, xé một miếng giẻ trên áo khoác và buộc vào chỗ bị thương nhưng máu vẫn cứ rỉ ra. "Máu loãng, khó đông!", Glebov nói tỉnh khô. "Này! Bồ là bác sỹ đấy à?", Bagretsov hỏi, miệng mút vết thương.

Glebov lặng thinh. Cái thời mà hắn còn làm bác sỹ có vẻ như xa xôi lắm rồi, dường như không phải là chuyện có thực nữa? Luôn cả cái thế giới ở phía bên kia núi đồi, bên kia biển cả hầu như cũng không có thực nữa, nó mờ mờ mịt mịt như trong giấc mộng vậy. Chỉ còn những ngày giờ, những giây phút từ lúc ngóc đầu dậy bởi tiếng kẻng báo thức buổi sáng cho tới khi hùng hục "lao động" xong công việc hàng ngày mới là có thực mà thôi. Hắn chẳng muốn nghĩ ngợi gì thêm, chẳng còn hơi sức đâu để nghĩ. Mà cũng chẳng còn ma nào muốn nghĩ ngợi gì thêm nữa.

Hắn không biết được quá khứ của những người xung quanh, mà cũng chẳng muốn biết làm gì! Bởi thế nếu ngày mai đây cái anh chàng Bagretsov này mà có tự tiết lộ rằng y là một ông tiến sỹ hay một ông tướng tàu bay gì đi nữa thì Glebov cũng tin ngay, chẳng cần suy nghĩ gì thêm. Chính Glebov có thực sự từng là thày thuốc không nhỉ? Chẳng phải hắn chỉ mất tiêu đi cái thói quen suy xét sự việc mà còn mất luôn ngay cả cái thói quen quan sát sự việc nữa.
Glebov nhìn Bagretsov mút máu ở đầu ngón tay nhưng không nói gì. Mọi việc thoáng qua, hắn nhận thức thấy nhưng không thể tìm ra và cũng chẳng muốn tìm ra lời giải đáp. Cái ý thức còn sót lại trong hắn -có lẽ không còn là cái ý thức của con người nữa- nó rất phiến diện và giờ đây chỉ nhắm vào một mục tiêu mà thôi, đó là làm sao khuân những tảng đá ra càng nhanh càng tốt.
"Có sâu không?", Glebov hỏi khi họ tạm nghỉ tay. "Sâu thế quái nào được?", Bagretsov trả lời. Và Glebov nhận thấy câu hỏi của mình thật là vớ vẩn, cái hố này tất nhiên chẳng thể sâu được.
"Nó đây rồi!", Bagretsov nói. Y vươn tới và đụng vào một ngón chân người. Một ngón chân cái thòi ra từ phía dưới những tảng đá, nhìn rõ mồn một dưới ánh trăng. Cái ngón chân khác hẳn các ngón chân của Glebov và Bagretsov, không phải chỉ khác vì nó cứng ngắc và hết sinh khí; về cái khoản này thì ngón chân người chết cũng chẳng khác ngón chân người sống bao nhiêu. Nó khác vì móng chân của cái ngón chân người chết đó đã được cắt gọn ghẽ, và ngay chính cái ngón chân đó thì đầy đặn và mềm mại hơn ngón chân Glebov. Họ vội vã vứt những tảng đá còn chất đống ở trên xác chết qua một bên.
"Tên này còn trẻ mà!", Bagretsov nói. Cả hai kéo lê cái xác chết ra khỏi huyệt. "Tên này to con và phốp pháp quá à!", Glebov vừa nói vừa thở hổn hển. "Nếu tên này không mập ú như vậy thì tụi nó đã chôn hắn theo cái kiểu tụi nó thường chôn anh em mình rồi và chúng mình đâu còn lý do gì mà tới đây hôm nay nữa", Bagretsov nói.

Họ kéo cho cái xác chết nằm dài dưới đất rồi lột chiếc áo ra. "Bồ thấy không, cái quần đùi này gần như mới tinh đấy!", Bagretsov nói một cách mãn nguyện. Glebov dấu cái quần lót vào trong áo khoác.
"Tớ nghĩ bồ mặc nó vào thì hơn!", Bagretsov nói. "Không! Tớ không thích mặc đâu!", Glebov lầm bầm. Họ khiêng cái xác chết đặt lại vào trong mộ huyệt và khuân đá chất kín lên trên.

Mặt trăng đang mọc. Ánh trăng xanh tỏa sáng phủ lên những tảng đá và lên cả khu rừng thưa khiến đá và cây cối có một vẻ đặc biệt nhìn không giống lúc ban ngày. Mọi vật đều tỏ ra hiện hữu, có thật, nhưng khác hẳn lúc ban ngày. Dường như vũ trụ đeo vào một bộ mặt thứ hai, một bộ mặt về đêm. Glebov cảm thấy cái quần lót của người chết nhét trong áo khoác của hắn giờ đây ấm áp, không còn lạ lẫm nữa.
"Tớ thèm rít tí khói quá!", Glebov mơ màng nói. "Ngày mai sẽ hút!". Bagretsov mỉm cười. Ngày mai họ sẽ bán cái quần lót đi, đổi lấy bánh, và có lẽ ngay cả kiếm được chút thuốc lá nữa không chừng...






Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-30 21:52:58ct.ly>
Chuyện hóa thân của Bích Thảo

( Piktors Verwandlungen )

Hermann Hesse
(Bản dịch của Thái Kim Lan)

H. Hesse sinh ngày 2.7.1887 tại Calw/Wuerttemberg. Sau khi theo học nhiều năm ở trường Cổ ngữ ở Goeppingen ông tham gia khóa giảng về thần học tin lành vào năm 1891 ở tu viện MAULBRONN và muốn trở thành nhà thần học. Nhưng đến năm 1892 ông rời bỏ tu viện và làm nhiều nghề khác nhau. Trong lúc hành nghề bán sách và sưu tầm Cổ thư ông đã tìm kiếm rất nhiều tài liệu căn bản cho công cuộc sáng tác văn chương của ông. Từ năm 1912, ông dừng lại Thụy Sĩ. năm 1919, cư ngụ thực thụ ở MONTAGOLA cạnh hồ LUGAN và mất năm 1962.
Tác phẩm của ông: Peter Camenzind (1904), Steppenwolf (1927), NarziB und Goldmund (1930, nhà xuất bản Fisher 450), Shiddharta (1922), Das Glasperlenspiel (1943, nhà xuất bản Fischer 842). Năm 1946, Hesse được giải thưởng Nobel về văn học và giải thưởng Goethe của Thành phố Frankfurt. Năm 1955, Ông được hội các nhà sách tại Đức trao tặng giải thưởng hòa bình.

------------------------------------------------------------------------
Thuở ấy khi vừa bước vào Thiên Đường, Bích Thảo đến đứng trước một cây kỳ lạ, cây vừa là đàn ông vừa là đàn bà. Bích Thảo cúi chào cây một cách kính cẩn và hỏi : "Chào cây, cây có phải là cây của sự sống không?" Nhưng khi có con rắn muốn thay cây trả lời cho chàng thì Bích Thảo quay lưng bỏ đi.
Chàng tập trung thị giác để nhìn, mọi thứ ở trên Thiên Đường đều làm cho chàng thích thú. Chàng cảm thấy rõ mình đang ở chốn quê hương, đang ở nơi cội nguồn cuộc sống.
Chàng tiếp tục đi và lại gặp một cây kỳ dị khác, cây này vừa là mặt trời vừa là mặt trăng. Bích Thảo hỏi : "Này cây ơi, cây có phải là cây của sự sống không ?"
Bên phía cây mặt trời gật gật cái đầu và cười toét miệng còn bên phía mặt trăng thì gật nhẹ đầu và nhoẻn miệng cười mủm mỉm.
Những bông hoa tuyệt diệu nhất chớp mắt nhìn chàng với nhiều màu sắc và ánh sáng khác nhau, với nhiều đôi mắt long lanh và nhiều vẻ mặt khác nhau. Có những khóm cây gật đầu và cười toe toét. Vài cây khác chỉ gật đầu và cười chúm chím. Có những cây khác thì chẳng gật đầu mà cũng chẳng mỉm cười. Chúng đứng yên mê mẩn, chúng đắm mình suy ngẫm như say như đuối đẩn trong suối hương nồng, hoa hương quyện lẫn.
Một đóa hoa cất tiếng ca bài Tím nhạt, đóa khác hát bài ru con Xanh thẫm. Một đóa hoa trong đám hoa có đôi mắt to màu xanh da trời, còn một đóa hoa khác có khuôn mặt làm cho Bích Thảo nhớ đến mối tình đầu tiên của chàng. Có đóa hoa thơm mùi hương của khu vườn thời thơ ấu, hương thơm ngọt ngào của hoa thoảng nhẹ như giọng nói của mẹ chàng. Còn đóa hoa khác tươi cười chào chàng và thè cái lưỡi đỏ uốn cong đến gần chàng. Chàng đưa lưỡi chạm vào hoa, cảm nghe hương vị nồng nàn man dại như nhựa cây, như mật ong và như nụ hôn của một người đàn bà. Bích Thảo đứng giữa ngàn hoa, lòng tràn ngập những ước ao và những niềm vui mong manh. Ngân nga như tiếng chuông reo, tim chàng đập liên thanh trái tim nóng bỏng, trái tim cuồng vọng những ham muốn vô tri và linh cảm huyền hoặc.
Bích Thảo tiếp tục nhìn ngắm Thiên Đường chàng bỗng thấy một con chim đang đậu trong vùng cỏ dại, con chim lấp lánh muôn màu muôn sắc, hầu như tất cả các màu sắc ở trên thế gian chim đều chiếm hết. Chàng hỏi con chim mỹ miều muôn sắc : "Này chim, vậy hạnh phúc ở đâu vậy hỡi chim ?"
"Hạnh phúc hả ?", con chim mỹ miều nói và cười bằng cái mỏ vàng của nó, "này bạn ơi, hạnh phúc ở khắp mọi nơi, ở núi rừng, ở đồng bằng thung lũng, ở hoa bướm, ở trong pha-lê".
Vừa mới buông lời con chim hớn hở rũ lông, rụt cổ nhịp đuôi, há mỏ cười một lần nữa rồi lại đứng bất động lặng yên trong đám cỏ. Và này hãy xem ! Thoáng chốc con chim đã hóa ra một đóa hoa sặc sỡ, lông chim là những ngọn lá, móng chim là rễ cây. Trong vẻ lóng lánh muôn màu, giữa lúc nhảy nhót múa may con chim lại biến mình thành một cái cây. Bích Thảo trố mắt kinh ngạc trong lúc chứng kiến trò ảo thuật kỳ diệu này.
Ngay sau đó "đóa hoa chim" rung động những ngọn lá và những giây bụi phấn của hoa thế là lại thấy chim biến thành đóa hoa, không còn rễ cây, đóa hoa chuyển mình nhẹ nhàng từ từ cất bổng mình lên cao, rồi bỗng hóa ra một con bươm bướm sáng ngời, lượn mình trên khôn nhẹ bổng nhẹ bông như không có trọng lượng, hoa bấy giờ toàn thân là ánh sáng, vẻ hoa là hào quang. Bích Thảo ngây người càng mở lớn đôi mắt kinh ngạc.
Con bươm bướm mới, con bướm-hoa-chim sặc sỡ, hớn hở, quang diệu như gương, nhởn nhơ lượn quanh chàng Bích Thảo sững sờ, lấp la lấp lánh trong ánh mặt trời, bướm bay bay lượn lượn rồi từ từ hạ mình xuống đất nhẹ nhàng như một nắm tơ, đậu sát vào chân Bích Thảo, bướm thở nhẹ nhàng, rung nhẹ thân mình với đôi cánh lóng lánh - và khoảnh khắc - bướm lại hóa thành một viên pha-lê muôn màu, ở một góc pha-lê lóe ra một tia sáng đỏ hồng.
Viên pha-lê đỏ chiếu lấp lánh tuyệt vời trong đám cỏ và bụi cây, sáng rõ dòn dã như tiếng chuông ngân ngày hội. Nhưng rồi hình như có tiếng gọi về của quê hương viên ngọc-đó là lòng trái đất-cho nên viên ngọc từ từ thu bé lại và sắp sửa lịm dần vào lòng đất...
Trong lúc chứng kiến cảnh này trong lòng Bích Thảo bỗng nổi lên một ham muốn dữ dội, chàng vội vàng nhặt nhanh viên ngọc lên trước khi ngọc sắp tan biến vào lòng đất.
Bích Thảo ngây người ngắm nhìn ánh sáng huyền hoặc của viên ngọc trong tay.
Ánh hào quang như tỏa ra cho Bích Thảo một linh cảm về niềm hạnh phúc toàn diện trong tâm khảm.
Trong lúc ấy bỗng nhiên con rắn trườn đến quấn mình vào một nhánh cây khô, rắn ghé đầu rít vào tai chàng : "Viên ngọc này có thể biến mày thành điều gì mà mày muốn Bích Thảo ạ. Hãy nói nhanh cho viên ngọc biết điều ước của mày trước khi ngọc thu lại, kẻo chậm mất !"
Bích Thảo giật mình, chàng sợ đánh lỡ mất hạnh phúc vội vàng nói nhanh ước muốn của mình, lập tức chàng liền biến thành một cái cây. Bởi vì đã từ lâu chàng mơ ước mình được làm một cái cây, bởi lẽ cây đối với chàng là sự bình an, là nhựa sống, là niềm vinh dự.
Như vậy Bích Thảo hóa thân thành một cây xanh.
Chàng đâm rễ vào lòng đất, lớn nhanh và vươn mình lên cao. Lá và cành mọc ra từ tứ chi của chàng. Chàng rất tự mãn về sức lớn của mình, với những rễ cây khát nhựa chàng đâm mình hút sâu vào lòng đất, chàng phất cao thân trong tầng xanh với cành lá của mình. Những con bọ rầy bắt đầu tìm đến cư ngụ nơi thân cây. Thỏ và nhím đến tá túc ở gốc cây, còn chim thì đến làm tổ ở cành cây.
Cây "Bích Thảo" rất đỗi hạnh phúc và không màng đến năm tháng trôi qua. Đã có nhiều năm qua đi trước khi chàng nhận ra rằng thật sự hạnh phúc của chàng không được hoàn toàn. Phải tốn một khoảng thời gian chàng mới học được cách nhìn với "con mắt cây". Cho đến khi chàng đạt được cách nhìn này thì chàng đâm ra buồn rầu.
Chàng nhìn thấy được rằng ở trên Thiên Đường quanh chàng mọi vật thường đổi
kiếp thay thân, rằng mọi vật đều nằm trong giòng luân lưu ảo thuật của sự
hóa thân vĩnh cửu. Chàng thấy những bông hoa biến thành châu ngọc hay hóa thành những con chim líu lo đầy ánh sáng bay vụt đi. Chàng thấy bên cạnh mình có nhiều cây bỗng biến mất, có cây tan ra thành nguồn suối, có cây thành cá sấu, có cây lại bơi lội như loại cá nhởn nhơ mát mẻ, đầy khoái lạc và cảm quan vui thú, với những hình dạng mới mẻ, chúng bắt đầu những trò chơi khác lạ. Những chú voi đổi áo của mình với các tảng đá núi, những chàng hươu cao cổ đổi hình dạng của mình với các bông hoa. Chỉ riêng chàng -cây Bích Thảo- thì vẫn giữ nguyên là cái cây, chàng không thể biến đổi ra cái gì khác nữa.
Từ khi nhận biết được điều này, hạnh phúc của Bích Thảo biến mất đi ; chàng bắt đầu trở nên già cỗi, chàng bắt đầu có dáng điệu mệt mỏi nghiêm nghị và lo âu. Điều này người ta thường thấy được hằng ngày ở các loài ngựa, loài chim, loài người. Những sinh vật thường trở nên già nua nếu chúng không có được năng khiếu hóa thân thì với thời gian chúng sẽ rơi vào sự buồn nản và lo âu xao xuyến và cứ thế mà mọi vẻ đẹp dần dần biến mất.
Cái cây Bích Thảo cứ đứng yên như thế ở Thiên Đường...
Cho đến một ngày nọ có một người con gái trẻ đi đâu lạc vào chốn Thiên Đường, cô gái có một mái tóc vàng óng ả, cô mặc một chiếc áo xanh màu thiên thanh. Cô bước đi thảnh thơi trong chốn bồng lai, nhởn nhơ dưới các cây xanh, cô vừa hát vừa nhảy múa và trong đầu cô chưa bao giờ nghĩ đến việc ước mong có biệt tài hóa thân.
Nhiều chú khỉ khôn ngoan mỉm cười nhìn theo cô, các khóm cây vuốt ve cô bằng cành cây, các cây khác ném tặng cô một búp hoa, một hạt dẻ, một trái táo nhưng cô không để ý đến, cứ thảnh thơi đi, hát và nhảy múa.
Khi cây Bích Thảo thấy được cô gái, chàng liền cảm nghe trong tim một nỗi nhớ nhung mông mênh chảy dội về, một thứ nhớ như một lời kêu gọi hạnh phúc chưa bao giờ có được. Đồng thời một ý nghĩ thầm kín choáng ngập tâm hồn chàng, chàng cảm nghe như chính giòng máu của mình lên tiếng gọi : Bích Thảo, hãy suy nghĩ kỹ đi. Trong giờ phút này hãy nhớ lại cả cuộc đời mình, nếu không sẽ muộn mất thôi, và không bao giờ, không bao giờ nữa mày sẽ gặp được hạnh phúc.
Bích Thảo tuân theo tiếng gọi của con tim, chàng đứng nhớ về tất cả nguồn cội của mình, nhớ những năm làm người, nhớ lúc nhập vào Thiên Đường và nhất là nhớ đến giây phút xa kia, trước khi chàng biến thành cái cây, giây phút chàng cầm trong tay viên ngọc nhiệm màu ấy. Nhớ đến thuở ấy, khi mà mọi sự hóa thân đối với chàng còn mở ngỏ, cái thuở mà cuộc sống như chưa bao giờ nóng bỏng đến như thế. Chàng nhớ lại con chim ngày ấy đã cười vang, nhớ cái cây kỳ lạ vừa là mặt trời vừa là mặt trăng. Trong thoáng chốc linh tính cho chàng biết rằng thuở ấy chàng đã bỏ ( mất ) một điều gì đó, rằng lời khuyên của con rắn đã không là lời khuyên tốt lành.
Giữa lúc đang đi, cô gái tóc vàng chợt nghe trong đám lá của cây Bích Thảo có tiếng rì rào như một lời kêu nho nhỏ cô ta ngẩng đầu nhìn lên, tim cô bỗng nhói lên một niềm cảm xúc, từ đáy lòng cô nghe rạo rực những tưởng tượng mới mẻ, một ước muốn khác thường, những mộng mơ chưa bao giờ có ở trong tâm. Như bị cuốn hút bởi một sức mạnh lạ lùng cô đi đến ngồi dưới cây, cô nhìn cây Bích Thảo và thấy cây có vẻ cô đơn, lẻ loi và buồn bã, nhưng lại có một vẻ gì đẹp đẽ dễ rung cảm và cao quý trong nỗi buồn câm lặng của cây. Tiếng ca thỏ thẻ dịu dàng của cây vẳng lên làm cho cô ngây ngất tâm hồn. Cô gái tựa mình vào thân cây xù xì cảm nghe cây rùng mình thâm sâu và nghe trái tim mình như đang cảm nhận nỗi giao động của cây. Tim cô nhói đau một nỗi lạ lùng, trên bầu trời linh hồn cô những đám mây như vụt bay cao và không khóc mà nước mắt trĩu nặng bờ mi. Có chuyện gì thế này ? Có thể đau đớn đến thế này sao ? Tại sao con tim chỉ chờ phá tan lồng ngực để chảy tràn ra, tan biến đến Người, vào tận trong người, con Người cô đơn đẹp đẽ kia ?
Cây người Bích Thảo run lên như cảm thông được nỗi lòng người con gái, thân cây rung động đến tận gốc rễ rồi dồn hết tất cả sức sống của mình cây hướng về phía người con gái trẻ với tất cả ước muốn nóng bỏng được tan hòa với nàng. Cây nghĩ : Chà, ta đã bị con rắn độc đánh lừa để tự đưa mình vĩnh viễn thành một cây cô đơn. Ôi ta đã mù quáng biết bao ! Ôi ta đã điên rồ biết bao ! Ta đã không có một tri thức nào cả sao ? Tại sao sự bí mật của cuộc sống đối với ta lại xa lạ đến thế kia ư ? Không, không, thuở ấy ta đã linh cảm đến điều ấy rồi -Chà- bây giờ chàng nhớ đến cái cây vừa là đàn bà vừa là đàn ông (mà con rắn không cho cây trả lời) với nỗi buồn rầu và nỗi giác ngộ sâu xa.
Giữa lúc ấy có một con chim bay đến, con chim xanh lục đỏ điều, con chim mỹ miều, con chim anh điểu, con chim vàng anh bay lượn thanh thanh. Cô gái nhìn chim bay quanh, nhìn thấy từ mỏ chim nhả ra một vật gì rơi xuống cỏ, vật ấy long lanh màu đỏ như máu đỏ, như lửa hồng, nó rơi xuống đám cỏ dại
màu xanh chiếu sáng để cho cỏ ngời ánh hào quang, rất quen thuộc như thuở ấy ánh xuân xanh. Màu đỏ của nó chiếu sáng rộn rã tưng bừng đến nỗi cô gái phải cúi mình xuống nhặt cái màu đỏ ấy lên. Thì thấy đó là một viên ngọc pha-lê, một viên ngọc muôn màu muôn vẻ, ở đâu có ngọc ở đấy không bao giờ có bóng tối.
Lúc cô gái cầm viên ngọc kỳ diệu trong bàn tay trắng nõn nà của cô thì lập tức điều ước của Bích Thảo liền thành sự thực, điều ước mà tim chàng bấy lâu nay đang ấp ủ. Liền ngay cô gái đẹp bỗng nhiên thấy người lảo đảo, cô ngã xuống hóa thân dính liền với cây Bích Thảo làm một, từ thân cây một cành cây non chồi lên non trẻ, vươn lên cao vút và đầy sức lực.
Đến giờ phút này, mọi sự việc đều trở thành toàn thiện. Bấy giờ thế giới mới được an bài và chỉ trong khoảnh khắc này, Thiên Đường mới thực sự được tìm thấy, bây giờ Thiên Đường mới thực sự là Thiên Đường. Bích Thảo không còn là cái cây ưu tư già cỗi nữa, bây giờ chàng cất cao tiếng hát : "Bích Thảo vui ! Thành Thảo vui !"
Chàng đã hóa kiếp. Lần này chàng đã đạt được sự hóa thân đúng đắn và trường cửu, bởi vì chàng đã từ cái một nửa chuyển sang cái toàn thể cho nên chàng có biệt tài (biến) đổi (thân) xác từng giờ từng phút thành bất cứ cái gì chàng muốn. Giòng luân lưu (hồi) huyền diệu của sự trở thành (vô thường) tuôn chảy không ngừng trong huyết mạch của chàng vĩnh viễn chàng có thể tham dự vào sự sáng tạo chớm nở trong từng phút từng giây.
Chàng thở thành nai, trở thành cá, trở thành người và trở thành rắn, thành mây bay, thành chim. Nhưng trong mỗi hình hài chàng vẫn là toàn thể, vẫn là "một đôi", vẫn mang trong mình Mặt trời và Mặt trăng, Đàn ông và Đàn bà.
Như một con sông "sinh đôi" chàng chảy mê mải qua các núi rừng đồng ruộng.
Và lấp lánh trên nền trời chàng sáng ánh sáng của "ngôi sao đôi".


Hermann Hesse
Bản dịch của Thái Kim Lan




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-29 22:36:20ct.ly>
Một chùm nho

Tác giả : Arishima Takeo
Người dịch : Đinh văn Phước

Tác giả :
Arishima Takeo sinh năm 1878 ở Tokyo. Gia đình giòng dỏi Samurai (Satsuma Han, Kyusyu). Cha là quan chức cao cấp. Ông học trung học ở trường Gakushuin, lúc bấy giờ chỉ dành riêng cho giai cấp quý tộc. Tiếp tục học ngành Nông nghiệp ở Sapporo, rồi đi Mỹ du học. Sau khi về nước, Ông cùng với Mushanokoji Saneatsu, Shiga Naoya...sáng lập ra Tạp chí (Trường phái) Shirakaba. Năm 1916 thì cha mất, tiếp đến là vợ mất, một mình vừa nuôi ba đứa con vừa cặm cụi sáng tác. Vãn niên, Ông yêu Hatano Akiko một người phụ nữ đã có chồng với một kết thúc bi thương, hai người cùng nhau tự vẫn vào năm 1923.
Một chùm nho được đăng trong Tạp chí Văn nghệ Nhi đồng Akai Tori (Con Chim đỏ) số tháng 5 năm 1920. Akai Tori có sự cộng tác của nhiều cây viết nổi tiếng như Kikuchi Kan, Akutagawa Ryunosuke v.v...

Sinh viên du học ở Nhật trong thập niên 1960 ai cũng biết đến chuyện ngắn này vì nó nằm trong tập 3, tập sách cuối cùng của bộ sách giáo khoa dạy tiếng Nhật lúc bấy giờ.

Người dịch :
Đinh văn Phước, sinh ở Phan Rang, hết tiểu học ở trường làng thì được cha mẹ cho vào Saigon học tiếp. Cựu học sinh trường Pétrus Ký ban B. Đang học nữa chừng Chứng chỉ MG.P ở Đại Học Khoa Học thì được học bổng của chính phủ Nhật. Ở Nhật từ năm 1961, tốt nghiệp Kỷ sư Cơ Khí của Tokyo Kogyo Daigaku (Tokyo Institute of Technology) rồi đi làm. Nhập quốc tịch Nhật với tên Kato Fukukazu.


Hồi nhỏ tôi rất thích vẽ. Trường tôi theo học nằm ở khu Yamanote một vùng cao của tỉnh Yokohama. Vùng ấy có rất nhiều người ngoại quốc ở. Các Thầy và Cô của chúng tôi cũng toàn là người ngoại quốc. Mỗi ngày đến trường hay từ trường về, tôi đều phải qua con đường dọc theo bờ biển san sát những khách sạn và những hãng buôn của người ngoại quốc. Đứng bên đường ven biển mà nhìn, mặt nước xanh ngắt, nào là tàu chiến, nào là tàu buôn nằm san sát nhau, khói ứa ra từ những ống khói trên tàu, những sắc cờ các nước giăng khắp đây đó trên những cột buồm phấp phới trong gió. Cảnh tượng trông đẹp đến nhức mắt. Tôi thường đứng lặng ngắm những cảnh sắc đó và khi về, ngày nào cũng cố vẽ lại cho thật đẹp tất cả những gì tôi còn nhớ. Nhưng hộp phấn màu của tôi không có cái màu nước biển xanh biếc như trong suốt kia, cái màu đỏ sẫm sơn trên phần thân thuyền giáp với mặt biển của những chiếc thuyền buồm trắng. Nên dù cố gắng vẽ không biết đến bao nhiêu lần rồi, tôi cũng không tài nào tô nổi cái màu của phong cảnh mà tôi đã nhìn thấy.
Chợt tôi nhớ đến hộp phấn màu đồ ngoại hóa của đứa bạn cùng lớp. Hắn cũng lại là người tây phương. Hắn hơn tôi hai tuổi, cao đến nỗi tôi phải ngước lên mới thấy được mặt hắn. Hắn tên Jim. Hộp phấn của hắn là loại hàng ngoại quốc hảo hạng. Trong chiếc hộp làm bằng một loại gỗ thật nhẹ, mười hai cây phấn màu hình khối chữ nhật như những cây mực tàu nhỏ, được xếp thành hai hàng nằm sóng đôi. Màu nào cũng thật đẹp. Riêng hai cây xanh đậm và đỏ sẫm thì đẹp một cách lạ lùng khó tả. Jim to lớn hơn tôi nhưng vẽ thì thua tôi xa. Nhưng mà sao tranh của hắn tuy xấu, thế mà hắn cứ tô phấn màu của hắn lên thì trông thành ra một bức tranh thật đẹp. Tôi thấy ganh trong lòng về điều đó. Nếu tôi có hộp phấn màu ấy thì tôi sẽ vẽ được ngay cái màu thật của phong cảnh như đã trông thấy kia cho mà xem. Tôi nghĩ thế và thấy ghét hộp phấn màu của mình. Từ ấy tôi bỗng đâm ra thèm muốn khôn nguôi cái hộp phấn màu của Jim. Tính tôi lại nhát chỉ mơ ước trong lòng, chứ không dám hỏi xin ba má mua cho. Và cứ thế ngày lại theo ngày trôi qua.

Nay tôi không còn nhớ rõ lúc ấy là vào khoảng nào, nhưng có lẽ bấy giờ trời đã vào thu, vì tôi nhớ đã thấy có những chùm nho chín. Những ngày cuối thu sắp vào đông, trời trong thăm thẳm như có thể nhìn tít mãi vào khoảng không vô tận. Một buổi trưa trong trời, mọi người đang vui vẻ ngồi ăn bento chung với Cô giáo, riêng tôi ngay trong giờ cơm ngon lành ấy, lòng lại thấy bứt rứt, u tối không như bầu trời hôm ấy. Tôi ngồi thừ người ra. Nếu có ai chú ý thì chắc có lẽ sẽ nhận ra sắc mặt tái nhợt của tôi. Tôi thấy tôi thèm muốn vô hạn hộp phấn của thằng Jim. Lòng thèm muốn dâng lên đến nghẹn cả tim. Và tôi nghĩ thầm, chắc thằng Jim cũng đoán biết được điều thèm muốn của tôi. Tôi ngước nhìn Jim, nhưng Jim trông không có vẻ gì khác. Hắn đang cười nói với đứa bạn ngồi bên cạnh. Nhưng mà sao cái cười của hắn trông như là cái cười của kẻ biết hết những điều tôi đang suy nghĩ. Những lời hắn nói với đứa bạn ngồi bên cạnh nghe như là: "Để mày coi, thằng Nhật ấy thế nào cũng lấy cắp hộp phấn màu của tao". Càng nghĩ thằng Jim nghi tôi chừng nào, tôi càng không dằn được lòng thèm muốn ấy.

Gương mặt tôi có thể trông dễ thương, nhưng tôi là một đứa yếu đuối cả thể xác lẫn tâm hồn. Hơn thế tôi là đứa nhát gan, có điều muốn nói lại không dám nói, cứ để cho qua đi, nên ít được ai ưa và là đứa ít có bạn bè. Cơm trưa xong, trong khi những đứa khác vui vẻ ra chạy nhảy đùa giỡn ngoài sân trường, thì tôi một mình ở lại lớp. Ngoài sân trời sáng lòa càng làm nổi lên cái tối lờ mờ của lớp học như chính cái tăm tối của lòng tôi. Tôi về chỗ ngồi. Nhưng sao mắt tôi, lúc lúc lại cứ liếc qua chỗ thằng Jim. Nếu mình đến mà dở cái nắp bàn đầy những lằn dao cắt khoét nham nhở và những vết tay dơ đen ấy lên, thì thế nào cũng thấy nào sách, nào vở, nào bảng đá và hộp phấn màu, trong đó sẽ có cây xanh đậm và cây đỏ sẫm... Tôi cảm thấy mặt tôi như đỏ gất lên, vội quay mặt đi, nhưng rồi ngay sau đó tôi lại không thể dằn nổi lòng thèm muốn, mắt lại liếc sang bàn thằng Jim. Trống ngực tôi đập thình thịch. Ngồi yên một chỗ nhưng trong lòng cứ rối lên như nằm mơ bị ma đuổi.

Tiếng chuông ken ken gọi vào lớp. Tôi giật mình đứng dậy. Nhìn qua khung cửa sổ tôi thấy bọn học trò đang cười giỡn chạy vội về chỗ phòng tiêu, rửa tay. Đầu tôi bỗng lạnh như nước đá, tôi loạn choạng đến bàn của thằng Jim, như người trong mơ tôi mở nắp bàn. Và như tôi tưởng tượng cuốn sổ tay nằm lẫn lộn với hộp đựng bút. Có cả hộp phấn màu mà tôi mơ ước. Tôi không biết lúc ấy tại sao tôi lại phải nhìn quanh quất để làm gì, nhưng liền sau đó tôi nhanh tay mở nắp hộp lấy hai cây xanh đậm và đỏ sẫm bỏ ngay vào túi quần, rồi chạy vội về chỗ sắp hàng để đợi Cô giáo.

Bọn chúng tôi được Cô giáo trẻ đưa vào lớp, mỗi đứa về chỗ của mình. Tôi muốn nhìn vẻ mặt của thằng Jim nhưng không làm sao có thể liếc sang bên hướng ấy được. Nhưng hình như không có ai ngờ đến việc tôi đã làm cả. Tôi vừa như yên tâm, vừa như thấy khó chịu. Tiếng giảng bài của Cô giáo, người Cô mà tôi kính yêu nhất, vẫn vang mồn một trong tai, nhưng tôi không hiểu được gì cả. Và tôi lại có cảm tưởng là Cô giáo lúc lúc lại nhìn tôi với con mắt là lạ.

Ngày hôm ấy sao tôi thấy tôi ngượng không dám nhìn thẳng vào mắt Cô giáo. Cứ trong trạng huống như thế, một giờ học trôi qua. Tôi cứ ngỡ trong suốt cả giờ học ấy mọi đứa như cứ thì thầm với nhau điều gì.

Chuông ra chơi lại đổ. Tôi yên tâm mừng rỡ, thở phào. Nhưng, khi Cô giáo vừa mới ra khỏi lớp thì một đứa cùng lớp, cũng là đứa to lớn nhất và giỏi nhất lớp, gọi tôi:
- Ê, mày lại đây.
Hắn kéo cùi chỏ tôi. Tôi giật mình, run như những lúc lười biếng không chịu làm bài tập ở nhà mà bị Cô gọi trúng tên. Nhưng tôi nghĩ là tôi phải gắng giữ vẻ bình thường như không biết gì hết, cứ để mặc cho hắn lôi tôi ra gốc sân.
- Mày lấy mấy cây phấn của thằng Jim có phải không? Đưa đây.

Vừa nói hắn ta vừa chìa bàn tay to lớn của hắn ra trước mặt tôi. Bị tra hỏi như vậy, tự nhiên tôi đâm ra bình tỉnh và nói đại.
- Đồ phấn màu đó, tao đâu có có.
Cùng với ba bốn đứa bạn Jim sán lại bên cạnh tôi, nó giận run lên:
- Hồi trước giờ chơi tao đã kiểm kỹ hộp phấn, không có mất cây nào hết trọi. Mà sao xong giờ chơi lại mất hết hai cây. Giờ chơi không phải chỉ có một mình mày ở trong lớp đó sao?

Thôi không xong rồi. Máu dồn lên đầu, mặt tôi dường như đỏ gấc lên. Bỗng một đứa nào đó đứng bên cạnh cố thọc tay cho được vào túi quần tôi. Tôi cố hết sức chống cự không cho nó thọc tay vào, nhưng cưỡng không lại đám bạn. Và từ trong túi quần tôi, hai cây phấn màu lòi ra cùng với mấy hòn bi chai và đồng chọi bằng chì.
- Nè, coi nè.
Bọn chúng trừng mắt nhìn tôi một cách khinh ghét. Người tôi run bắn lên, trước mặt tôi trời bỗng như xụp tối. Trời nắng tốt, các đứa khác đùa giỡn trong giờ chơi vui vẻ là chừng ấy, thế mà chỉ mình tôi đang chết điếng trong lòng.

Tại sao tôi lại làm như vậy. Thôi tôi không thể nào chuộc lại được lỗi lầm ấy. Tôi hư hỏng mất rồi. Tôi là một đứa nhát gan, càng nghĩ như thế tôi càng khổ sở, buồn tủi rồi bật khóc. Anh lớn nhất và giỏi nhất lớp nói với giọng vừa giận vừa ghét bỏ.
- Ê, mày đừng có hòng khóc dọa tụi tao.

Mấy đứa xúm lại lôi tôi đi. Tôi cố không nhúc nhích nhưng chống cự không lại. Rốt cuộc tôi để mặc tụi nó lôi xễnh lên cầu thang tầng hai, lên phòng Cô giáo mà tôi kính mến nhất.

Rồi thằng Jim gõ cửa xin vào. Từ trong phòng tiếng Cô giáo vọng ra dịu dàng: "Vào đi". Từ trước đến nay chưa bao giờ tôi lại thấy ngại như lần này, không muốn bước vào căn phòng này.
Cô giáo đang ngồi viết gì đó, thấy bọn chúng tôi xòng xọc vào, tỏ vẻ hơi ngạc nhiên. Nhưng sắc mặt Cô vẫn dịu dàng như mọi khi, đưa tay phải nhẹ đỡ bờ tóc cắt ngắn như con trai, xõa ngang cổ, nghiêng đầu nhìn chúng tôi hỏi có chuyện gì thế. Anh lớn nhất và giỏi nhất lớp bước tới phía trước thuật lại đầu đuôi câu chuyện tôi lấy hai cây phấn màu của thằng Jim. Cô giáo hơi biến sắc nghiêm nghị nhìn mọi đứa, nhìn gương mặt tôi đang dở khóc rồi hỏi tôi: "Có thiệt không". Câu chuyện quả thật là như vậy, nhưng trước mặt người Cô kính mến tôi xấu hổ, không làm sao nhận tội được. Tôi chỉ biết khóc to hơn để thay thế câu trả lời.

Cô giáo chăm chú nhìn tôi một hồi rồi quay sang nhỏ nhẹ bảo các đứa khác: "Thôi được, các em ra ngoài đi". Mấy đứa bạn có vẻ bất mãn đi ra, thình thịch xuống cầu thang.

Khoảng một lúc, Cô giáo chẳng nhìn tôi mà cũng chẳng nói rằng, chỉ im lặng ngồi nhìn những móng tay của mình. Rồi Cô lặng lẽ đứng lên đến bên tôi, ôm chặt lấy vai tôi và nho nhỏ hỏi: "Thế em đã trả lại cho người ta chưa". Tôi gật đầu và ậm ự thật dài như để trả lời cho Cô biết là tôi đã trả lại rồi. Cô giáo lại bảo:
- Em có biết việc em làm là điều đáng xấu hổ lắm không?
Tôi chịu không nổi nữa, cả người run lên mà tôi không sao giữ nỗi. Tôi cắn môi, cố cắn lấy môi để nén, nhưng tiếng khóc vẫn bật ra, nước mắt cứ tràn trụa, chỉ muốn chết phức đi trong vòng tay của Cô giáo.
- Thôi em đừng khóc nữa, biết lỗi thì thôi. Hãy nín đi. Giờ tới, thôi em khỏi cần về lớp cũng được, cứ ở trong phòng Cô đi. Ngồi yên ở đây đấy nhé. Hết giờ học Cô sẽ trở lại nhé.

Cô vừa nói vừa kéo tôi về ngồi ở chiếc ghế trường kỷ. Ngay lúc ấy chuông gọi vào lớp lại rộn lên. Cô vói lấy tập sách trên bàn, nhìn tôi, rồi vội đến bên giàn nho bắt lên tầng hai, ngang ngoài cửa sổ hái một chùm nho tây, đặt lên đùi tôi trong khi tôi vẫn còn thút thít, rồi lặng lẽ đi ra.

Học trò vào lớp. Không khí huyên náo ồn ào mới đó, bỗng rơi vào yên lặng. Tôi thấy lòng buồn vô hạn, khi không tôi làm Cô giáo buồn. Tôi không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc ăn chùm nho kia mà chỉ biết ngồi khóc.

Tôi ngủ quên lúc nào không hay trong căn phòng của Cô . Bỗng có ai lay vai tôi, tôi giật mình mở mắt. Tôi thấy dáng người cao và hơi gầy của Cô giáo đang mỉm cười cúi xuống nhìn tôi. Sau giấc ngủ, lòng tôi dễ chịu lại, tôi như quên đi câu chuyện vừa xãy ra, thèn thẹn cười đáp lại. Trong lúc bối rối ấy chùm nho như sắp rớt khỏi đùi, tôi vội chụp lấy, sực nhớ lại câu chuyện thấy xấu hổ, chẳng dám cười nữa.
- Thôi em, chẳng có gì mà phải buồn mãi như thế. Các bạn em đều về cả rồi, thôi em cũng về đi. Nhưng dù có chuyện gì đi chăng nữa, ngày mai thế nào cũng phải đến trường nhé. Không thấy mặt em, Cô sẽ buồn lắm đấy. Nhớ đi học nghe em.

Đoạn Cô lấy chùm nho lại, bỏ vào trong cặp cho tôi. Tôi ra về như mọi khi, đi qua con đường ven biển, nhìn phố xá, ngắm những chiếc tàu mà lòng không thấy vui. Về nhà tôi ăn hết chùm nho một cách ngon lành.

Ngày hôm sau, tôi không làm sao muốn đi học. Tôi nghĩ nếu hôm nay được đau bụng thì hay biết mấy, được nhức đầu thì hay biết mấy, nhưng lạ thật chỉ mỗi ngày hôm ấy không có cơn bệnh nào hành tôi cả. Không biết làm sao hơn, tôi đành gượng gạo ra khỏi nhà, vừa đi vừa nghĩ chuyện đâu đâu. Tôi nghĩ chắc tôi không thể nào bước vào cổng trường nỗi. Nhưng tôi lại nhớ đến lời Cô giáo ân cần dặn dò lúc tôi về, tôi bỗng muốn được gặp Cô tôi. Nếu tôi không đếïn lớp, chắc Cô giáo sẽ buồn lắm. Tôi chỉ muốn được nhìn lại ánh mắt thật hiền và dịu dàng ấy của Cô giáo. Và miên man trong những ý nghĩ đó, tôi bước qua cổng trường.

Tôi bỗng thấy thằng Jim như nóng lòng đợi ai ở đó. Thấy tôi, nó chay a lại nắm lấy tay tôi, làm như là đã quên bẵng chuyện ngày hôm qua, thân mật kéo tôi lên phòng Cô giáo, trong khi tôi hãy còn bối rối ngơ ngác lo lắng không biết còn chuyện gì sẽ xãy ra nữa. Tôi cứ ngỡ là lúc vào trường tôi sẽ bị chúng bạn xa cách, nhục mạ: "Nè, nè tụi bay, cái thằng Nhật ăn cắp, cái thằng nói láo nó đến kia kìa". Nhưng nay được đối đãi thế này, tôi thấy xốn xang. Khi nghe thấy tiếng chân của hai đứa chúng tôi, không đợi Jim gõ cửa, Cô giáo đã ra mở cửa đưa hai chúng tôi vào trong phòng.
- Jim này, em ngoan lắm biết nghe lời Cô dặn. Jim bảo em không cần phải xin lỗi em ấy nữa. Từ nay hai em hãy trở thành bạn tốt của nhau đi nhé. Hãy bắt tay nhau đi.

Cô tôi vừa mỉm cười vừa nói, bắt hai đứa chúng tôi đứng đối diện nhau. Trong lúc tôi còn đang lưỡng lự không biết làm sao, thì Jim đã đến bên tôi, vui vẻ kéo tay tôi đang buông thõng và siết thật chặt. Tôi không biết làm gì để diễn tả nỗi sung sướng, chỉ biết đứng cười một cách e lệ. Nhưng Jim cười đáp lại một cách thân mật. Cô giáo mỉm cười hỏi:
- Thế nào, chùm nho hôm qua em ăn có ngon không?

Tôi đỏ mặt không biết phải trả lời làm sao hơn là thưa: "Dạ ngon".
- Thế thì để Cô cho thêm một chùm nữa nhé.

Đoạn, Cô giáo trong chiếc áo hàng lin trắng, rướn mình ra ngoài cửa sổ vói tay hái lấy một chùm. Cô giáo, tay trái trắng muốt đỡ lấy chùm nho màu tím phủ đầy phấn trắng, tay phải cầm chiếc kéo bạc thon dài, cắt chùm nho làm đôi, nữa chia cho Jim và nữa chia cho tôi. Vẻ đẹp của những trái nho màu tím nằm xếp lớp lên nhau trên lòng bàn tay trắng muốt của Cô tôi, mãi đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ.
Từ dạo đó, tôi dường như ngoan hơn và bớt nhút nhát.

Nay người Cô mà tôi yêu quý ấy không biết đang ở phương nào. Tôi vẫn biết là tôi không thể nào gặp lại được người, nhưng vẫn hằng ao ước có người ở bên cạnh. Và hàng năm cứ mỗi độ thu về, những chùm nho lại chín, màu tím lại phủ đầy phấn trông thật là đẹp. Nhưng tôi thì không tìm lại được lòng bàn tay xinh xắn trắng muốt như cẩm thạch kia khi đỡ lấy chùm nho của người Cô mà tôi kính yêu ấy nữa.


Tokyo, Hino 11-2002
* Dịch từ nguyên tác trong Iwanami Bunko do Iwanami Shoten xuất bản.
Bản dịch này sửa lại từ bản dịch (năm 1967) đăng trong tạp chí Quê Hương số 20 của Hội Sinh Viên tại Nhật Bản.





Đăng nhập để trả lời
0
Tu tiên

Tác giả : Akutagawa Ryunosuke
Người dịch : Đinh văn Phước


Thưa quý bạn
Hiện nay tôi đang ở Osaka, xin để tôi kể hầu quý bạn một câu chuyện truyền tụng ở đây .
Ngày xưa, có một gã ra tỉnh Osaka làm việc. Không ai biết tên thật của gã là gì, chỉ biết gã đến đây làm bếp, nên người ta chỉ gọi gã là Gonsuke (1).
Thiên hạ kể rằng khi Gonsuke vén bức rèm bước vào trong cửa tiệm chuyên môi giới công ăn việc làm, thì gã nhờ ngay người coi tiệm, đang ngồi ngậm ống điếu, tìm giúp công việc bằng một câu như thế này:
- Dạ thưa bác, tui muốn tu cho thành tiên, xin bác làm ơn giới thiệu giùm chỗ nào để tui vô làm rồi ở tu luôn trong đó.
Người coi tiệm chưng hửng, không biết trả lời sao cho phải, đành nín thinh.
- Bác ơi, tui nói bác không nghe sao bác? Tui muốn thành tiên, bác làm ơn giới thiệu giùm cho chỗ nào để tui vô làm rồi ở đó tu luôn.
- Thật tội nghiệp cho cậu, nhưng...
Người coi tiệm lại bập bập hút ống điếu, rồi nói tiếp.
- Tiệm tui xưa nay chưa nhận giới thiệu cho ai đi tu tiên, cậu cảm phiền đi kiếm chỗ khác.
Nghe bảo vậy, Gonsuke tỏ ngay vẻ bất bình, hắn lết hai đầu gối quần lót nhuộm xanh sặc sỡ, xích lại gần chỗ người coi tiệm, nói lý sự:
- Nè, nè bác nói vậy đâu được. Rèm trước tiệm, bác quảng cáo gì ngoài đó... hở? Rõ ràng là trên đó có đề mấy chữ: Tiệm môi giới VẠN, có đúng không nào? Đã là VẠN thì có nghĩa là vạn sự, việc gì cũng giới thiệu. Hay là, bác tính viết điều dối trá trên bức rèm hay sao?
Lời gã nói, nghe như đinh đóng cột. Gonsuke nổi giận có cái lý của gã.
- Không không, bức rèm tiệm tôi không có đề điều gì dối trá đâu, nếu cậu muốn tìm chỗ đi tu cho được, thì ngày mai cứ trở lại, để hôm nay tôi đi hỏi dợm trước mấy chỗ, xem có được không đã.

Người coi tiệm nhận lời Gonsuke như vậy, vì muốn tránh chuyện lôi thôi ngay lúc ấy. Tình thật chàng ta làm gì biết cách nào tìm ra chỗ tu tiên. Cho nên, sau khi xua được Gonsuke ra khỏi tiệm, chàng ta liền lật đật sang nhà ông thầy thuốc gần đấy, thuật lại đầu đuôi câu chuyện của Gonsuke, rồi lo lắng hỏi:
- Thưa thầy câu chuyện đầu đuôi như thế, thầy có biết muốn thành tiên, thì đi đâu tu mau thành nhất thầy?
Cớ sự thế này thì ngay cả ông thầy thuốc cũng bí. Ông ta chỉ biết lơ đãng khoanh tay, xoay mặt ngó ra ngoài vườn, ngắm cây tùng. Nhưng mụ vợ của ông thầy thuốc nghe xong câu chuyện thì xía miệng vô ngay. Mụ vợ xảo quyệt này, thiên hạ giễu cợt gán cho cái tên, mụ cáo già.
- Chuyện ấy à, cứ dắt nó lại đây cho tui. Ở với tui hai ba năm thì tui dạy thành tiên liền hà.
- Thiệt hả bà? Thế này thì tôi hỏi đúng chỗ quá. Vậy xin nhờ hai ông bà đấy nhá. Xưa nay tôi vẫn ngờ ngợ cái nghề bốc thuốc nó có dính líu với các ông tiên.
Người coi tiệm chẳng hiểu ất giáp gì, nhưng cũng kính cẩn gập mình chào đi chào lại mấy lần, rồi ra về, bụng mừng khôn xiết
Ông thầy thuốc mặt mày ngượng nghịu, tiễn khách xong thì xoay sang mụ vợ, càu nhàu:
- Nè bà, sao bà nói năng gì tầm bậy như thế? Lỡ cái tên nhà quê kia, đến đây ở cả mấy năm liền mà không được dạy thuật tiên, thế nào nó cũng bất bình, lúc ấy bà tính sao đây?
Nhưng mụ vợ không những không chịu lỗi, ngược lại còn hếch mũi cười, bô bô nói lấn át chồng:
- Này, im cái mồm ông đi, chớ cái tướng của ông, thẳng như ruột ngựa, thì kiếm đâu cho ra miếng cơm trong cái thời buổi cực khổ này.

Ngày hôm sau, đúng như đã hẹn, người coi tiệm dắt tên nhà quê Gonsuke đến nhà ông thầy thuốc. Gonsuke cũng khôn, gã nghĩ được hôm nay là ngày ra mắt, nên gã đóng cả bộ áo khoác có in hoa văn dòng họ của gã. Nhưng rốt cuộc trông gã cũng không khác gì hơn một tên nhà quê quèn. Ăn mặc trịnh trọng như thế chỉ làm ông thầy thuốc cứ chòng chọc nhìn mặt gã, như ngắm nghía một con xạ hương mới đem từ bên Thiên trúc sang, rồi ông ta thắc mắc hỏi:
- Người ta bảo mi muốn thành tiên, mi nói thử xem, từ đâu mà mi nẩy ra cái ước vọng đó?
Gonsuke trả lời:
- Thiệt ra cũng không có lý do gì đặc biệt, nhưng khi thấy cái thành quách Osaka thì tui lại nghĩ, ngay cả như cái ngài Taikosama (2). người đạt quyền cao tước trọng đến như thế, tới lúc cũng chết, thế thì trên cái thế gian này, dù có đạt được vinh hoa phú quý cho đến mấy, tui nghĩ chẳng qua đó cũng chỉ là chuyện bèo bọt.
Mụ vợ xảo quyệt của ông thầy thuốc không do dự nói xen vào ngay:
- Thế thì miễn là được thành tiên, chuyện gì mi cũng chịu làm phải không?
- Dạ vâng, miễn là thành tiên được, thì chuyện gì tôi cũng xin làm.
- Thôi được, từ ngày hôm nay trở đi, mi vô đây ở, giúp việc cho ta trong vòng hai mươi năm. Mãn hạn hai mươi năm, ta sẽ truyền phép tiên cho.
- Dạ thiệt không? nếu được như vậy thì tui muôn vàn đội ơn Bà.
- Bù lại trong hai mươi năm đó, ta không trả cho mi một xu nào đâu đấy.
- Dạ vâng, dạ vâng, tui xin chịu.

Từ đấy, Gonsuke vào ở hầu hạ hai vợ chồng ông thầy thuốc ròng rã hai mươi năm trường. Nào là gánh nước, bửa củi, nấu cơm, lau chùi quét dọn nhà cửa. Thêm vào đó, khi nào ông thầy thuốc ra phố đi chẩn bệnh, Gonsuke phải vác cả hòm thuốc theo hầu ông ta. - Thế mà gã không hề hé môi xin lấy một xu. Một kẻ hầu hạ quý giá như gã, tìm khắp nước Nhật này chắc cũng không kiếm đâu cho ra được.
Nhưng rồi cũng tròn hai mươi năm. Cũng như hôm mới đến đây, Gonsuke lại thắng bộ áo khoác có in hoa văn dòng họ gã, cung kính đến trước mặt Ông Bà chủ, lạy tạ ơn chủ nhân đã cho phép gã hầu hạ chu đáo suốt hai mươi năm trời.
- Như Ông Bả chủ đã có hứa rành rành, vậy hôm nay xin Ông Bà chủ truyền cho tiên thuật, trường sinh bất tử.
Bị Gonsuke thúc hối, ông thầy thuốc cứng miệng. Bắt người ta hầu hạ đủ điều, hai chục năm trời không trả một xu, bây giờ không lẽ lại mở miệng nói không biết phép tiên; ông thầy thuốc buộc lòng nói:
- Tiên thuật thì chỉ có vợ ta mới biết, mi cứ xin vợ ta dạy đi.
Ông thầy thuốc nói thế rồi quay mặt làm ngơ.
Nhưng mụ vợ thì vẫn điềm nhiên, mụ nói một mạch:
- Ờ thì để ta dạy phép tiên cho. Nhưng dù có thấy khó đến đâu, mi cũng phải làm y như lời ta bảo đấy nhé. Nếu không thì không những mi chẳng thành tiên được, mà mi còn phải làm không công cho ta thêm hai mươi năm nữa đấy nhé, bằng không ta sẽ phạt tội chết, mi có chịu không?
- Dạ vâng, chuyện dù khó đến đâu, tôi cũng xin làm.
Gonsuke khấp khởi mừng rỡ, thấp thỏm đợi mụ vợ dạy phép tiên.
- Được rồi, đây này mi hãy ra trèo lên cây tùng ở ngoài vườn kia.
Mụ vợ liền ra lệnh như vậy. Số là chuyện phép tiên thì mụ có biết quái gì, mụ chỉ cốt bày chuyện thật khó để Gonsuke không cách nào làm được, rồi nhân đó bắt gã làm công không thêm hai mươi năm nữa. Nhưng Gonsuke sau khi nghe điều mụ dạy, liền ra ngoài vườn, trèo ngay lên cây tùng.
- Leo lên cao hơn nữa, cao hơn nữa.
Mụ vợ ra ngoài hiên đứng, ngước nhìn Gonsuke đang trèo cây tùng. Gonsuke bây giờ đang ở tít trên ngọn đại thụ, chiếc áo khoác của gã căng gió.
- Bây giờ mi hãy thả tay mặt ra.
Gonsuke tay trái vịn chặt vào một cành to của cây tùng, chẩm rãi thả tay mặt ra.
- Mi thả luôn tay trái cho ta xem nào.
- Ối, ối, thả luôn tay trái thì tên nhà quê sẽ té ngay đó bà. Dưới này toàn là đá, té xuống đây thì chết toi mạng nó.
Ông thầy thuốc cầm lòng không nổi, vội ra ngoài đầu nhà, mặt mày lo lắng.
- Này chưa tới phiên ông phải ra tay đâu, ông để mặc tui. -- Nào hãy bỏ tay trái ra, nào.
Không đợi mụ vợ nói hết câu, Gonsuke thả phắt luôn tay trái. Gã đang leo cây mà thả hết hai tay, tất nhiên phải té. Trong khoảnh khắc, Gonsuke, cả thân người lẫn chiếc áo khoác, lìa khỏi ngọn cây tùng. Lìa khỏi ngọn cây, nhưng không rớt. Một điều kỳ diệu đang xảy ra giữa ban ngày, thân người ấy đứng nguyên giữa không trung như một con hình nhân tuồng múa rối.
- Cho ta tạ ơn, nhờ bà mà nay ta đã thành tiên .
Gonsuke trịnh trọng nghiêng mình chào, rồi thong thả đạp trời xanh, lên tầng mây cao, biến mất.
Còn hai vợ chồng ông thầy thuốc sau này ra thế nào? Không ai biết. Chỉ biết cây tùng thân to bốn người ôm không xuể ấy, nghe người ta nói, vẫn còn sống rất lâu về sau. Người ta đồn rằng hình như có một người tên là Yodoya Tatsugoro đã cho người đem bứng cây đại thụ ấy về trồng trong vườn của mình, để vào tiết đông ngồi ngắm cảnh tuyết phủ cành tùng.

Tokyo, Hino 10-3-2004
Dịch từ nguyên tác trong Shincho Bunko
Chú Thích
1. Gonsuke: Tên gọi chung những người giúp việc làm bếp dưới thời đại Edo (Mạc phủ Tokugawa). Nhật bản có thành ngữ “thật thà như Gonsuke”
2. Taikosama: Một cách gọi tôn kính Tướng Quân Toyotomi Hideyoshi (thế kỷ 16), lãnh chúa thống nhất Nhật Bản, chấm dứt thời đại tranh hùng giữa các sứ quân.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-30 22:10:40ct.ly>
Xâm mình

Nguyên tác : Shisei (1910)
Tác giả: Tanizaki Jun-ichirô (1886-1965)
Người dịch: Nguyễn Nam Trân

Lời Người Dịch :

Tanizaki Jun-ichirô, nhà văn, kịch tác gia, sinh ở Nihonbashi, trung tâm Tôkyô, năm 1886. Đang học Đại Học Đế Quốc Đông Kinh thì bỏ ngang. Năm 1910, tham gia tạp chí Shinshichô (Tân Tư Trào ) và bắt đầu văn nghiệp. Xâm Mình (Shisei) là một trong những đoản thiên đầu tay có tính cách tuyên ngôn văn nghệ vì nó ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết toàn bộ tác phẩm về sau của ông từ Cái Khóa (Kagi) đến Truyện nàng Xuân Cầm (Shunkinsho), Chữ Vạn (Manji), Mối tình thầm của ngài Musashi ( Bushu-Kô Hiwa) , Truyện lão mù (Mômoku Monogatari), Tình Của Người Ngây (Chịjn no ai) ...

Kiện tướng trên văn đàn Nhật Bản thời Taishô (1912-1926), ông đã để lại một sự nghiệp đồ sộ . Đừng nói chi đến những giải thưởng và vinh dự quốc nội và quốc tế nhận được, nếu có xem ông như nhà văn Nhật Bản hàng đầu chắc cũng không ngoa. Là người kể chuyện có duyên nhất trong số những cây viết tiền chiến, nội dung các tác phẩm của ông phần nhiều khai thác cảnh sống đồi trụy của xã hội cũ đang suy tàn và địa ngục của đời sống nội tâm. Sở trường về tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết phong tục, văn chương Tanizaki vừa thâm trầm, cổ kính, vừa bóng bẩy, diễm tình, vừa đồi phế, bệnh hoạn nhưng không kém phần tinh tế. Làm như ta qui tụ được tài hoa của cả Marquis de Sade, Paolo Pasolini, Marcel Proust, Guy de Maupassant, Nguyễn Tuân, Edgar Allan Poe... trong cùng một con người.

Xâm Mình dường như đóng khung được hai chủ đề lớn trong văn học. Trước hết là vai trò của cái huông "cuốn sổ đoạn trường". Con nhện xâm trên lưng chỉ phù-điêu-hoá lời tiên tri về tương lai người con gái trong truyện như dự ngôn của nhà viết kịch Euripidès về Aphrodite (theo ý kiến Mishima Yukio), của Nguyễn Du (qua Đạm Tiên) về Kiều : cái đẹp đã hoài thai của độc, sự sống vốn nẩy mầm cái chết. Chủ đề thứ hai là mối quan hệ giữa nghệ sĩ và tác phẩm. Người nghệ sĩ dù thực hiện tác phẩm để giải thoát một ám ảnh, vẫn còn có thể thành nạn nhân của nó một khi tác phẩm thoát khỏi tay mình.

Bản dịch thô vụng này đã đăng tải trên một nội san sinh viên ở Paris hơn 30 năm về trước dưới bút hiệu Uyên Minh, được bạn bè ưu ái gìn giữ , cho lên mạng trong vài năm gần đây. Để nhuận sắc, dịch giả sử dụng văn bản Shisei trong Jun-ichirô Rabirinsu I - Shoki tanpenshu (Mê cung của Jun-ichirô - Tập I - Những đoản thiên đầu tay) do Chiba Junji biên tập, nhà Chuôkôron xuất bản năm 1998 ở Tôkyô.



Chuyện xảy ra hồi thiên hạ còn giữ được cái đức " Ngu " đáng quí, thuở mọi người chưa nghĩ đến tranh danh đoạt lợi như bây giờ. Cuộc đời lúc đó mới nhàn tản làm sao ! Để khuôn mặt các nhà quyền quí và đám vương tôn công tử không vương lấy một bóng mây tư lự, để những trận cười của các nàng hầu trong phủ đệ và đám gái buôn hương không bao giờ biết dứt, chỉ cần biết uốn ba tấc lưỡi giúp vui như các chú hầu trà và kép diễu cũng thành một thứ nghề được đời trọng vọng. Bản tuồng hát và tiểu thuyết kiếm hiệp có phụ bản bằng tranh đương thời như Nữ-Sadakurô, Nữ-Jiraiya và Nữ-Narukami (1) đều cho ta thấy người đẹp là kẻ mạnh, người xấu xí là kẻ yếu. Không ai là không ra sức làm đẹp, thậm chí họ đã đem xâm những bức họa lên cái thân thể trời cho. Vào thời đó, trên da thịt người ta là cả một cuộc khiêu vũ của những tập hợp màu sắc và đường nét, hoặc đậm đà hoặc rực rỡ.
Khách lui tới những chốn ăn chơi chỉ chịu lên kiệu mấy tên phu có hình xâm đẹp. Chị em ta dưới xóm Yoshihara hay Tatsumi mê mẩn mấy cậu trai có bức họa nổi thật khéo trên người. Đừng nói chi bọn máu mê hay lính chữa lửa, từ đám thương nhân đến hàng vũ sĩ, ai ai cũng khoái thích chàm lên người. Đôi khi, trong các kỳ họp của Hội Xâm Mình tổ chức ở Ryôgoku (2), người dự hội thường lấy tay vỗ vỗ lên chỗ xâm, khi thì để khoe một mẫu hình đẹp, khi thì để phẩm bình qua lại với nhau.

Dạo đó có một gã thợ xâm mình có hoa tay tên gọi Seikichi. Tài của y vốn không thua gì những bậc sư trong nghề kể cả Charibun miệt Asakusa, Yakkohei xóm Matsushima hay bọn Konkonjirô. Dưới mũi bút họa của Seikichi, chỉ cần một thoáng là da thịt của hàng chục khách đã trải ra như tấm vóc. Nhiều hình xâm mà anh chàng là tác giả từng được trầm trồ ở Hội Xâm Mình. Trong khi Darumakin sở trường về lối chấm phá đậm nhạt, Karakusa Gonta được đời xưng tụng là bậc kỳ tài về lối xâm son, Seikichi ta nổi danh vì những mẫu hình kỳ quái và những nét xâm kiều diễm của y.

Seikichi trước kia chuộng họa phái Toyokuni-Kunisada (3) và đã sinh sống bằng nghề vẽ tranh Ukiyo-e(4)nên ngày nay tuy rơi xuống hàng thợ xâm mình, y vẫn giữ được chút lương tâm và cái nhạy cảm của người họa sĩ. Y không bao giờ chịu đặt cây kim xâm trên một làn da, một thân hình không có sức thu hút mình. Nhiều lúc, khách tuy đã được y thuận xâm cho, ngoài việc vâng theo một mẫu họa và món tiền lễ nào đó mà y tùy hứng phán ra, còn phải chịu thêm sự đau đớn của đầu mũi kim xâm, một cực hình kéo dài hàng một hai tháng.

Trong lòng người thợ xâm hình trẻ tuổi này, từ lâu chôn giấu một khoái cảm và một khát vọng thầm kín. Khi đường kim của y gây ra những vết phồng tấy trên da và làm ứa những giọt máu đỏ tươi, hầu hết khách hàng, cho dầu là đàn ông chăng nữa, đều rên rỉ vì không chịu nổi sự đau đớn. Hễ khách hàng càng rên siết bao nhiêu, độ khoái cảm khó tả của y lại tăng bấy nhiêu. Seikichi đặc biệt thích lối xâm chấm phá và xâm son vì đó là hai lối xâm gây đau đớn nhiều nhất. Khách, sau khi mỗi ngày đã chịu trung bình hàng năm, sáu trăm mũi kim, còn phải tắm nước nóng cho ăn màu, ra khỏi bồn đều ngã quị dở sống dở chết dưới chân Seikichi, hồi lâu vẫn không lê mình nổi nửa bước. Ngay trước cảnh tượng thảm thương như vậy, mắt y lúc nào cũng chỉ ném một tia nhìn lạnh lùng :
- Cha chả, coi bộ đau đấy chứ nhỉ ?
Y vừa hỏi vừa cười thích thú.Gặp mấy người khách yếu chịu đau, trẹo miệng nghiến răng, rên siết như chết đến nơi, y lại bảo :
- Anh là Edokko (5) dân gan góc kia mà ! Ai cho rên mà rên?. Đường kim Seikichi nầy đau số một đó !

Nói xong, y liếc xéo nét mặt đầm đìa nước mắt của khách, rồi tiếp tục xâm bất kể. Còn gặp người can đảm, cố sức chịu đựng không nhíu cả lông mày thì y trêu :
- Hưừm, tướng anh thế mà cũng chịu đựng giỏi nhỉ ! Nhưng xem nào, bắt đầu từ giờ mới thấm đau, tài thánh cũng không đương nổi đây.

Rồi y cười, nhe hàm răng trắng nhởn.
Khát vọng bình sinh của y là tìm cho được một người con gái có làn da óng mượt để đem hết tâm hồn và tài hoa của mình mà khắc ghi vào đó. Một người con gái như vậy phải hội đủ điều kiện về tư chất cũng như về dung mạo. Nếu nàng ta chỉ có một khuôn mặt đẹp hay một làn da mượt thì vẫn chưa thỏa mãn những đòi hỏi của y. Seikichi đi dò la trong các xóm bình khang, tìm ngay cả các cô gọi là đẹp nức Edo, nhưng vẫn không đào ra một ai như y mong đợi. Ba bốn năm đằng đẵng nuôi trong lòng hình ảnh người-chưa-bao-giờ-gặp đó một cách hoài công, y vẫn kiên trì không từ bỏ ước mơ của mình.

Đúng vào một chiều mùa hạ của năm thứ tư tìm kiếm, lúc đi qua tửu quán Hirasei trong khu phố Fukagawa, Seikichi chợt bắt gặp một bàn chân đàn bà trắng nuột để trần buông thõng sau bức mành mành của chiếc kiệu đợi ngoài sân. Với cái nhìn bén nhạy của Seikichi, một bàn chân người vẫn có năng lực diễn tả những động thái phức tạp chẳng thua gì khuôn mặt. Và bàn chân người con gái hôm ấy đối với y là một thứ ngọc quí bằng da bằng thịt, vì nó đẹp từ hàng ngón chân xếp rất gọn ghẻ từ ngón cái tới ngón út, từ mầu sắc của mấy chiếc móng chẳng thua gì vỏ ốc hồng nhạt mà người ta bắt được trên bờ biển của những hòn đảo trong tranh, từ gót chân đầy đặn như thỏi ngọc, từ làn da gan chân mầu mỡ tưởng chừng được xối mát không ngừng bằng mạch nước trong đổ ra từ ghềnh đá. Bàn chân này phải no tròn bằng huyết tươi của lũ đàn ông và giày xéo lên bao xác tình si. Người đàn bà có bàn chân này là kẻ đến nay Seikichi bỏ bao công chờ đợi. Có lẽ đó là người đàn bà nổi bật nhất trong đám đàn bà. Y cố nén nhịp tim đang hồi hộp như muốn bật tung ra khỏi lồng ngực, đuổi theo chiếc kiệu để cố thấy mặt nàng, nhưng được vài khu phố thì mất dấu.

Lòng khát khao của người thợ xâm mình biến thành một thứ tình yêu mãnh liệt. Năm đó rồi tàn, và một buổi sáng khi mùa xuân thứ năm đã già nửa, trong lúc Seikichi, miệng nhay một cây tăm, ngắm mấy chậu vạn niên thanh đặt bên hàng hiên tết bằng những lóng trúc ngã màu teng đồng trong sân ngôi nhà trọ ở xóm Saga trong khu Fukagawa, thì cánh cửa gỗ sau sân chợt động như có ai tới thăm. Qua hàng dậu thấp, y thấy một cô gái lạ mặt.

Đó là cô gái đưa tin cho một nàng ca kỹ ở xóm Tatsumi, vốn là chỗ quen biết với Seikichi.
- Cô em sai đưa cái áo Haori này đến cho thầy, kính nhờ thầy vẽ mẫu hình nền trong hộ cho...

Nói xong, nàng tháo cái tay nải vàng nghệ, lấy ra chiếc áo Haori đàn bà bọc trong tấm giấy có họa hình kép hát Iwai Tokaju (6) , và một phong thư. Nội dung bức thư ngoài khẩn khoản chuyện cái áo, nàng ta còn bảo cô nhỏ đưa thư này nay mai cũng trở thành đàn em của mình, sẽ bắt đầu nghiệp cầm ca ở các trà đình kinh đô, mình thì đừng quên đã đành nhưng xin cũng tìm cách nâng đỡ cô em đó.
- Ta chịu không tài nào nhớ mặt cô. Chắc cô mới đến đằng Tatsumi dạo sau này thôi, phải không ?

Vừa hỏi, Seikichi vừa chăm chắm nhìn cô gái. Cô ta mới mười sáu mười bẩy là cùng mà đã có cái vẻ đĩnh đạc già dặn thật lạ lùng của một kẻ đã sống lâu năm trong làng hương phấn, một tay từng bóp nát bao nhiêu trái tim đàn ông. Dáng dấp của nàng như được chung đúc từ vô số giấc mộng của bao đời trai thanh gái lịch đã đi qua từ hàng chục năm nay trong cái kinh thành tụ tập tất cả tiền tài và tội lỗi của cái nước này.
- Hồi tháng sáu năm ngoái, dường như cô em có lên kiệu ở trước quán Hirasei ấy nhỉ ?

Seikichi bảo cô gái ngồi xuống bên hiên và hỏi để có thể ngắm kỹ càng đôi chân trần của cô đặt trên chiếc bệ kê chân giát chiếu Bingo.
- Thưa vâng, dạo ấy thầy em hãy còn sinh tiền nên đôi lúc em cũng có dịp đến đằng đó...

Nàng cười chúm chím vì câu hỏi kỳ quái, vừa đáp như thế.
- Ta đợi cô em năm nay nữa là tròn năm năm trời. Tuy mới biết mặt cô hôm nay là lần đầu nhưng ta nhớ đã từng trông thấy bàn chân cô rồi. Ta có một vật này muốn cô em xem. Cô bước lên trên chơi chút đã.

Vừa lúc cô gái định cáo từ ra về, y nắm tay nàng mời lưu lại và dẫn lên phòng khách, một căn gác nhìn xuống giòng sông Sumida (7). Y lấy ra hai cuộn tranh, trải bức thứ nhất trước mặt cô gái.

Đó là bức tranh vẽ Mạt Hỉ (8), nàng cung phi sủng ái của hôn quân Trụ Vương. Bức tranh diễn tả xuất thần vẻ yêu kiều và tàn bạo ; vẻ yêu kiều của bà phi tình tứ mà thân hình quá mảnh mai như không chịu nổi sức nặng của chiếc mão miện dát đầy lưu ly, san hô, để mặc vạt áo lụa phất phơ trên bậc thang lên điện, tay phải cầm nghiêng một chén rượu lớn, ẻo lả tựa vào lan can ngắm nghía người đàn ông đang đợi hành hình ; vẻ tàn bạo qua hình ảnh người tử tù tay chân đều bị cột chặt bằng xích sắt vào trụ đồng, mắt nhắm nghiền, đầu lả về phía bà phi, trong tư thế đợi giây phút cuối của cuộc đời.

Người con gái nhìn chăm chú bức tranh một lúc rồi không hiểu vì sao, ánh mắt nàng chợt sáng lên, đôi môi run rẩy. Kỳ dị thay, gương mặt nàng dần dần bỗng giống y khuôn mặt bà phi. Nàng như đã tìm ra được cái tôi của mình ẩn nấp nơi đây.
- Bức tranh này phản ánh cái Tâm của cô em đấy !

Seikichi nói xong, cười khoái trá, nhìn xoi mói vào mắt cô gái. Người con gái ngẩng vầng trán tái xanh, thưa :
- Tại sao thầy lại đem cái đồ dễ sợ này cho em xem ?
- Người đàn bà trong tranh này là cô em đó. Nhất định là máu của nàng ta đang giao hòa với máu cô em.

Y lại trải bức họa thứ hai : bức họa này nhan đề là "Phân bón". Chính giữa bức tranh là một cô gái trẻ đang dựa mình vào một thân cây anh đào, mắt dán vào vô số thây đàn ông nằm lớp lớp dưới chân nàng. Bầy chim lượn chung quanh nàng như đang ríu rít khúc ca chiến thắng và đôi mắt ướt át của nàng không dấu nổi vẻ sung sướng tự hào. Không biết đó là cảnh một bãi chiến trường sau cuộc giao tranh hay cảnh của một hoa viên giữa độ xuân về. Nàng con gái được cho xem cảnh tượng trong tranh bổng mang tâm trạng như đang tìm kiếm một cái gì tiềm ẩn trong hồn nàng.
- Đây là bức tranh minh họa tương lai của cô em đấy. Những xác nằm la liệt là hình ảnh của mấy chú si tình bỏ mạng vì cô đó !

Y vừa nói, tay chỉ vào cô gái trong tranh mà nét mặt không khác chi người đang ngồi đối diện.
- Xin lỗi thầy, thầy làm ơn cất bức tranh này đi.

Người con gái như muốn đẩy lui sức cám dỗ, quay lưng không nhìn bức họa rồi phủ phục trên mặt chiếu, mãi lúc sau mới run run :
- Thầy ơi, em xin thưa thật nhé : đúng như thầy đoán không sai, tính hạnh em chẳng khác cô gái trong tranh đâu. Nhưng thôi, thầy tha cho em, dẹp giùm bức tranh đó đi.
- Đừng giở cái giọng nhát nhúa như vậy, ráng nhìn cho thật kỹ nó đi, cô có sợ chăng là sợ lúc nầy thôi !

Y nói mà trên mặt vẫn giữ một nụ cười châm chọc khó chịu. Tuy thế, cô gái vẫn không dám ngẩng đầu lên, cứ nằm im tay lấy vạt áo che kín mặt.
- Thôi cho em về đi thầy. Ở gần bên thầy sao mà hãi quá " Nàng con gái van lơn mãi.
- Đợi ở đây đi. Rồi ta sẽ biến cô em thành mỹ nhân tuyệt thế cho xem.

Vừa nói, Seikichi đường hoàng ngồi sát lại cô gái. Trong lưng của y đã lận sẵn một bình thuốc mê nài lại từ một tay y-sư Hòa Lan.

***
MMặt trời lay láy trên giòng sông, rọi vào căn phòng tám chiếu như muốn đốt cháy. Những tia nắng hắt từ mặt nước rún rẩy vẽ những đường nét uốn éo vàng diệp lên lớp giấy hồ phết cửa, lên gương mặt thiêm thiếp giấc nồng của cô gái. Cửa phòng đóng chặt, Seikichi tay cầm bộ đồ xâm, ngồi thừ như mất hồn một lúc lâu. Đây là lần đầu tiên y được nhẩn nha nhìn tường tận một vẻ đẹp kỳ dị và nghĩ cho dầu ngồi mười năm, trăm năm trong căn phòng mà ngắm khuôn mặt kia, y cũng sẽ không bao giờ biết chán. Như dân Memphis ngày xưa đã trang điểm cõi trời đất cao rộng của xứ Ai Cập bằng những kim tự tháp và tượng Sphinx, y đem cả tấm tình yêu của mình bắt đầu chạm trổ lên trên da thịt băng thanh của một con người.
Thế rồi tay trái y kẹp giữa ngón trỏ, ngón giữa và ngón út những mũi bút họa, tỳ lên lưng người con gái, tay phải cầm kim bắt đầu xâm. Linh hồn của người thợ xâm trẻ tuổi hòa trong mỗi giọt mực, ngấm vào da. Mỗi giọt son Lưu Cầu tan trong rượu mạnh đi vào thân thể cô gái là những giọt máu của tính mệnh y. Qua bức họa Seikichi thấy cả mầu sắc của tâm hồn mình.

Không biết trời quá ngọ vào lúc nào, rồi ngày xuân êm đềm cũng ngả chiều mà tay của Seikichi vẫn không dừng một khắc và người con gái cũng chưa tỉnh giấc. Độ chừng sợ nàng về chậm, một gã vác đàn được gửi tới nhưng liền bị y đuổi khéo :
- Ai chớ cái cô nhỏ đó thì đã về mất đất rồi !

Rồi trăng bắt đầu treo ngang trên dãy dinh cơ của phiên trấn Tosa cất bên kia sông, để ánh sáng mờ ảo len vào nhà nhà dọc theo bờ; Seikichi vẫn chưa xâm xong được một nửa, quyết ý khêu tim bạch lạp làm việc tiếp.

Xâm mỗi giọt mực, đối với y bổng thành ra một chuyện không đơn giản chút nào. Mỗi lần châm một mũi, rút một mũi, người nghệ sĩ không nén được tiếng thở dài như cảm thấy đang chạm khắc lên chính trái tim mình. Dưới đường kim, dần dần hiện trên làn da hình một con nhện cái thật lớn, và khi trời bắt đầu rựng sáng thì con vật tám chân yêu ma này đã bắt đầu bò lên khắp chiếc lưng.

Đêm mùa xuân rạng cùng với tiếng mái chèo thương hồ ngược xuôi khuấy nước. Khi đợt sương trên đỉnh những chiếc buồm trắng no gió sớm bắt đầu tan dần để những mái ngói ở các xóm cồn trên sông như Nakasu, Hakozaki, Yoshikishijima lấp lánh ánh nắng, người thợ xâm mới tạm ngừng đường kim, ngắm hình thù con vật mà y đã trổ lên lưng thiếu nữ. Chính hình xâm này là cả mạng sống của y. Nhìn việc làm hoàn tất, người nghệ sĩ cảm thấy trong lòng một nổi trống không to lớn.

Hai bóng người cứ thế không mảy may động đậy. Thế rồi giọng khàn khàn, trầm trầm của Seikichi dội vào bốn bên bức vách :
- Ta vì muốn cho cô em thành một người con gái đẹp thật sự nên đã trút hết tâm lực vào vào bức hình xâm. Từ nay, khắp nước Nhật này không còn ai có thể trội hơn cô em được đâu. Em sẽ hết e thẹn, rồi mà xem, trăm thứ đàn ông đều trở thành phân bón lót đường em cả.

Như hiểu được lời của người thợ xâm, từ đôi môi nàng con gái bắt đầu có tiếng rên khe khẽ thoát ra như sợi tơ mỏng. Dần dần tỉnh lại, mỗi lần nàng nặng nhọc thở ra hít vào thì con nhện trên lưng cũng cựa quậy ngo ngoe như vật sống.
- Chắc đau lắm phải không ? Tại con nhện đương quặp siết thân hình cô em mà!

Nghe nói, người con gái mở mắt ngơ ngác nhìn, đôi đồng tử tiếp nhận thêm những tia sáng của trăng tàn, lấp lánh hẳn ra, chiếu vào mắt Seikichi :
- Xin thầy làm ơn cho xem con nhện trên lưng em đi. Nếu như thầy đã dồn hết tinh thần vào đấy thì chắc chắn em phải đẹp ra chứ hở ?

Tiếng nói của nàng như ngườI đang còn trong giấc mộng. Nhưng không hiểu từ đâu đó đã toát ra một cái gì sắc nhọn.
- Ừ thôi, bây giờ vào bồn mà tắm nước nóng đi cho màu nó ăn. Ráng chịu một chút, đau lắm đó.
Seikichi ghé sát vào tai nàng, nhỏ nhẹ như an ủi.
Cô gái cố nén cái đau đang lan khắp châu thân, gượng cười :
- Nếu mà được đẹp ra thì dầu có đau đớn cách mấy em cũng chịu được cho thầy xem.


***
- Ối trời ơi, có nước nóng thấm vào rát quá... Xin lỗi, thầy để mặc em, làm ơn lên trên gác đợi đi, em không muốn cho đàn ông thấy sự đau đớn của em đâu, bực lắm !
Nàng không đủ sức lau nổi cái thân thể của mình vừa ngoi ra từ nước nóng, gạt bàn tay đưa ra che chở của Seikichi, đau đớn gieo người xuống tấm ván cọ, vật vã rên siết như đang ở giữa cơn ác mộng. Mái tóc điên loạn xổ tung xuống gò má ; sau lưng nàng có treo một tấm kính lớn, hai gan chân trắng ngần chiếu lên mặt kính.

Thái độ của cô gái đã thay đổi hoàn toàn so với chiều hôm qua. Người thợ xâm khôn xiết kinh ngạc nhưng vẫn nghe lời leo lên gác ngồi đợi một mình. Khoảng nửa giờ sau, nàng đã để mái tóc vừa gội chảy xuống đôi vai, áo xống tề chỉnh bước lên. Bây giờ thấy nàng hoàn toàn không còn mảy may đau đớn gì cả, tựa lan can tỉnh táo ngước mi nhìn khung trời mờ sương.
- Ta biếu không cô em hai bức tranh này lẫn bức xâm trên người đó. Thôi, sửa soạn về đi là vừa.
Seikichi vừa nói, vừa đặt hai bức họa trước mặt cô gái. Nhưng nàng ta , đôi mắt long lanh ánh kiếm, tiếng nói vang như khúc khải hoàn :
- Thầy ơi, bây giờ em không còn nhút nhát chút nào đâu. Chính thầy sẽ là nạn nhân để làm phân bón đầu tiên cho em đó... !
- Trước khi về, cho ta xem lại bức xâm lần nữa thử coi.
Seikichi bảo. Người con gái lặng im, gật đầu, từ từ tuột áo. Những phiến nắng ban mai chiếu dội lên mặt bức xâm, làm con nhện trên lưng như muốn hực lửa.

Tanizaki Jun-ichirô
Tạp chí Shinshichô tháng 11 năm Meiji 43 (1910)


Chú thích

(1) Nữ -Sadakurô ...:Tên những bản tuồng Kabuki và tiểu thuyết bằng tranh lấy cảm hứng từ đề tài Trung Quốc hay Nhật Bản mà trong đó, phụ nữ thủ những vai chính mạnh bạo như Jiraiya, đạo tặc có yêu thuật đời Tống, Narukami, thần sấm chớp.
(2) Ryôgoku (Lưỡng Quốc) : xóm bình dân thời Edo (1603 - 1866) nằm giữa hai lãnh địa (quốc) , nay thuộc ngoại ô Tôkyô.

(3) Toyokuni (1769-1825) và cao đệ của ông là Kunisada(1786-1864).

(4) Ukiyo-e : tranh Nhật Bản vẽ về những đề tài xã hội và nhất là tình tiết cuộc sống phong lưu dưới thời Edo thái bình.

(5) Edokko : dân bản quán ở Edo. Edo là tên cũ của Tôkyô dưới thời mạc phủ Tokugawa, lúc ấy là thủ phủ miền Đông Nhật Bản, nổi tiếng vì những vũ sĩ thiện chiến và can đảm.Thành ngữ Nhật Bản có câu " Trai miền Đông, gái Kinh Đô " (Azuma otoko, kyô onna).

(6) Iwai Tojaku (1776-1847), gọi tắt Tojaku, kép nam chuyên thủ vai đào trong các tuồng Kabuki.

(7) Nguyên tác Ogawa tức giòng sông lớn, để chỉ Sumidagawa, phần chảy qua vùng Tokyo.

(8) Mạt Hỉ: có lẽ Tanizaki muốn nói đến Đắt Kỷ sủng cơ đã làm vua Trụ mất nước về tay Vũ Vương nhà Chu thì đúng hơn. Mạt Hỹ hay Muội Hỷ là ái thiếp của vua Kiệt nhà Hạ, một người đẹp làm vong quốc khác. Xin tồn nghi.



Những truyện : Gabriel Ernest + Đứa bé + Trong đêm khuya + Chuyện hóa thân của BíchTthảo + Một chùm nho + Tu tiên + Xâm mình
Đã được mang vào thư viện. Ct.Ly






Đăng nhập để trả lời
0