
Giosue Carducci (1835-1907) – nhà thơ, nhà văn Italia đoạt giải Nobel Văn học năm 1906. Giosue Carducci sinh ngày 27-7-1835 ở vùng tây - bắc tỉnh Toscana, Italia. Là con trai một bác sĩ, thành viên của một tổ chức bí mật đấu tranh thành lập chính thể lập hiến nên gia đình thường xuyên phải chuyển nơi ở. Từ năm 1848, gia đình chuyển đến Firenze, Carducci mới được đến trường. Cậu bé say mê văn học cổ điển, đọc nhiều, bắt đầu viết về đề tài lịch sử, làm thơ trào phúng, dịch khúc thứ 9 trong trường ca Iliad của Homer. Năm 1853 G. Carducci được học bổng vào trường Đại học Pisa, học triết và văn học, kết bạn với những người đồng chí hướng thuộc nhóm Văn Đàn.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Pisa, ông làm giảng viên tại trường trung học thành phố Man-Miniato-al-Tedesco. Năm 1857 ông in tập thơ đầu tiên Thi vận, gồm những bài sonneto và ballata mang một tình cảm ái quốc sâu nặng, thiếu vắng hẳn những tình cảm ủy mị của chủ nghĩa lãng mạn. G. Carducci là một trong những người đứng đầu đã tập hợp quanh mình nhóm tác giả của tạp chí Phụ bản do Pietro Tuar ấn hành, coi nhiệm vụ của mình là bảo vệ nền thơ ca Italia thoát khỏi cái mà họ gọi là "ảnh hưởng nguy hại của chủ nghĩa lãng mạn". Những năm 1857-1858 G. Carducci gặp nhiều khó khăn: tài chính eo hẹp, anh trai tự tử, cha mất sau đó một năm. Sang năm 1859, ông lấy vợ, năm sau nhận được chức giảng viên khoa tiếng Hi Lạp tại trường Đại học Pistoja. Còn sau vài tháng, ông trở thành giáo sư Văn học Italia tại Đại học Bologna, giữ chức trưởng khoa đến khi về hưu vào năm 1904.
Di sản thơ của G. Carducci không nhiều, trong bộ tuyển 30 tập chỉ có 4 tập thơ, phần còn lại là khảo luận, chuyên luận khoa học và các bài tranh luận. Các tác phẩm thơ tiêu biểu của ông là Nhẹ nhàng và nghiêm trọng (1861-1868), Thơ mới (1861-1887), Những đoản thi man dại (ba tập, 1878-1889)... Những năm cuối đời G. Carducci, vốn nổi tiếng là một nhà hùng biện, được coi là nhà thơ dân tộc Italia, trở thành thượng nghị sĩ, ủng hộ chính sách bành trướng của Italia ở châu Phi.
Ngoài sáng tác thơ, G. Carducci còn nổi tiếng là một nhà phê bình và nhà ngôn ngữ học. Ông là tác giả của nhiều bài viết quan trọng và Dante, Petrarca, Boccaccio… Năm 1906 ông được trao giải Nobel Văn học vì “phong cách mới mẻ và sức mạnh trữ tình trong thơ”. Ông mất ngày 16-2-1907 tại Bologna, một năm sau khi nhận giải Nobel Văn học.
Tác phẩm:
*Thi vận (Rime, 1857), thơ
*Nhẹ nhàng và nghiêm trọng (Levia gravia, 1861-1868), thơ
*Thánh ca cho quỉ Satan (Inno a Satana, 1865), thơ
*Thơ Iambơ và epodes (Giambi ed epodi, 1882), thơ
*Thơ mới (Rime nuove, 1861-1887), thơ
*Những đoản thi man dại (Delle di barbare, 1878-1882, 1889), thơ
*Nghiên cứu về những thế kỉ đầu tiên của quá trình phát triển văn học Italia (Studii su la letteratura italianna dei primi secoli), khảo luận
*Về sự phát triển nền văn học dân tộc (Dello svolgimento della letteratura nazionale, 1868-1871), phê bình
*Nghiên cứu văn học (Studi letterati, 1874), khảo luận
*Phác thảo phê bình và tranh luận văn học (Bozetti critici e discorsi letterari, 1876), phê bình
*Thi vận và tiết điệu (Rime e ritmi, 1901), thơ

Ở VÙNG TERME DI CARACALLA
Những đám mây đen bay qua Aventino, Celio
ngọn gió buồn từ đồng bằng mang hơi ẩm
đằng xa – những ngọn đồi Anbani
đứng trong tuyết trắng.
Dưới màu tro của tấm khăn voan
dâng lên màu xanh, cô gái người Anh tìm trong sách
những cuộc tranh luận của thời xa lắc
và bầu trời với những viên đá thành Rôm.
Bầy quạ đen không ngừng tiếng kêu vang
quạ bay giữa trời như có vẻ
tiếng gọi của ai nghe rất dữ
và to lớn vô cùng.
Người khổng lồ cổ đại mơ tưởng, than phiền
bầy yêu tinh – với trời xanh tranh luận
từ Laterano nghiêm trang đổ xuống
một hồi chuông.
Kẻ lười biếng quấn vào chiếc áo choàng
miệng huýt gió, không nhìn ai hết
bây giờ ta gọi ngươi, bệnh sốt rét
ở đây, ngươi là thiên thần.
Nếu động đến ngươi giọt nước mắt tuyệt trần
và lời van xin của nhiều bà mẹ
chùi nước mắt cho bầy con trẻ
cúi mình xuống nhọc nhằn.
Động chạm đến Palazio vinh quang
cái bàn thờ xưa (ngọn đồi evandrio
Tebro trong buổi chiều vật vờ
khắp Campidoglio
hoặc Aventino, rồi trở về
ngắm mưa đá đang đổ xuống
và hát trong im lặng
bài ca Saturino).
Bệnh sốt rét, ngươi hãy xua đi
những kẻ xa lạ với điều bận rộn
điều khủng khiếp này, xin hãy kính trọng
thiên thần của thành Rôm
ở Palatino – kiêu hãnh ngẩng đầu lên
ở Aventino, Celio buông tay xuống
từ Capena đến Appia con đường lớn
giũ sạch bờ vai.
TIẾNG KHÓC
Cây lựu lại cúi mình
Trong im lặng của khu vườn hoang vắng
Và những chiếc lá lại vui mừng
Đón ánh nắng của mùa hè nóng bỏng.
Như bàn tay con trẻ, thường xuyên
Tiếng khóc đã từng giăng ra một thuở
Lên màu của những chiếc lá xanh
Và lên màu lá đỏ bừng như lửa.
Màu của cô đơn, màu cuối cùng
Màu của lá cành không đến nỗi
Màu của cuộc đời tôi không cần
Với ngươi, ta không còn gặp lại.
Ngươi ở trong đất đen lạnh lẽo
Mặt trời tháng sáu như ánh mắt nhìn
Niềm vui cho ngươi – không mang tới
Tình yêu cho ngươi – chẳng thức lên.