Trong khi làm những công việc trên, tôi vẫn im lặng không nói với Maria một lời nào. Tôi gần như đã quen với những công việc trong ngày. Buổi sáng sau khi làm những việc lặt vặt trong phòng, tôi đến nhà máy. Tôi ở đó đến giờ ăn trưa thì trở về. Buổi chiều tôi đọc báo hay sách cho nàng nghe, sau đó kể lại những việc xảy ra trong ngày. Mọi công việc tự nó đã được xếp đặt đúng như thế và tôi đã tuân theo một cách tự giác không hề mong muốn gì khác. Tôi chẳng nghĩ về quá khứ, cũng chẳng bận tâm đến tương lai, trong lòng thanh thản như mặt biển lúc trời lặn.
Tôi cạo râu, mặc quần áo và như thường ngày chuẩn bị chia tay với Maria để đến nhà máy. Nhưng hôm nay bỗng nhiên Maria hỏi tôi :
- Anh chuẩn bị đi đâu đấy ?
- Chẳng lẽ em không biết sao ? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại - Đến nhà máy.
- Hôm nay anh có thể ở nhà được không ?
- Tất nhiên là được, nhưng có chuyện gì thế ?
- Em cũng không biết nữa... Hôm nay em muốn có anh bên cạnh.
Tôi nghĩ yêu cầu của Maria có lẽ là do sự khó tính của người bệnh. Nhưng tôi vẫn quyết định ở lại. Tôi nhặt mấy tờ báo người hầu mới đặt trên giường và bắt đầu đọc.
Maria có vẻ là lạ. Chắc nàng đang xúc động. Tôi bỏ tờ báo xuống, bước đến gần và đặt tay lên trán nàng, hỏi khẽ :
- Em thấy trong người thế nào ?
- Rất tốt... Rất tốt anh ạ !...
Mặc dù Maria không biểu hiện gì nhưng tôi cảm thấy cử chỉ của tôi làm cho nàng dễ chịu. Tôi có cảm giác như Maria muốn tôi cứ để yên bàn tay như thế.
- Có đúng là rất tốt không ? Tại sao cả đêm qua em không ngủ ? - Tôi hỏi, cố nói bằng giọng thật tự nhiên.
Câu hỏi của tôi làm cho Maria ngạc nhiên, mặt nàng dần dần đỏ ửng lên. Có thể nhận thấy rất rõ Maria đang đấu tranh với bản thân có nên trả lời tôi hay không. Nàng nhắm mắt lại, ngửa đầu ra sau và cố lắm mới nói ra được từng tiếng rời rạc.
- Ôi, Raip, Raip !...
- Em làm sao thế ? - Tôi lo lắng hỏi.
- Không có gì cả đâu ! - Maria gắng gượng trả lời và sau một lúc im lặng nàng nói tiếp trong hơi thở đứt quãng - Em không muốn hôm nay anh để em ở nhà một mình và anh có biết tại sao không ? Những gì anh kể cho em nghe hôm qua đã làm cho em phải suy nghĩ mãi.
- Nếu biết thế có lẽ anh sẽ không kể.
- Không ! - Maria lắc đầu - Không phải em lo cho mình mà là lo cho anh. Em không muốn anh đi một mình... Vâng, anh nói đúng. Cả đêm qua, em không ngủ và em đã nghĩ mãi về anh. Em có cảm giác như em đã nhìn thấy tất cả những gì đã xảy ra với anh kể từ lúc chúng ta chia tay. Em còn nhìn thấy cả những gì mà anh đã không nói đến. Không, em không để anh đi đâu ! Và không phải chỉ hôm nay...
Trên trán Maria toát ra những giọt mồ hôi li ti. Tôi lấy tay lau đi và bỗng cảm thấy dưới lòng bàn tay những giọt nước mắt âm ấm. Tôi sững sờ nhìn Maria và thấy trên môi nàng một nụ cười - nụ cười cởi mở, trong sáng mà lâu nay tôi không còn được thấy trên mặt nàng. Từ trong khóe mắt của Maria, những hàng lệ cứ trào ra ướt đẫm cả má. Tôi đưa hai tay ra ôm lấy khuôn mặt thân yêu của nàng và áp lên ngực mình. Nụ cười của Maria dần dần trở nên thanh thản nhưng nước mắt thì vẫn như mưa.
Maria khóc lặng lẽ không nghe một tiếng nấc. Cho đến lúc ấy, tôi mới biết được người ta có thể khóc một cách âm thầm lặng lẽ đến như thế. Tôi âu yếm vuốt bàn tay của Maria đang đặt im trên tấm đráp trắng trải giường hệt như chú bạch yến xinh xinh. Tôi nhẹ nhàng khép những ngón tay búp măng của nàng lại thành nắm đấm. Trong lòng bàn tay nàng, nổi lên những mạch máu nhỏ li ti mờ mờ xanh như những đường gân lá.
- Em có mệt không ? - Tôi hỏi và nhẹ nhàng đặt Maria nằm xuống gối.
- Ồ, không ! Không ! - Maria lắc đầu, cặp mắt ánh lên một tia sáng lạ thường.
- Cho đến bây giờ, em mới biết được vì sao tình yêu của chúng ta còn chưa trọn vẹn - Maria nhổm dậy, gục đầu vào vai tôi, nói tiếp - Chỉ mình em có lỗi trong chuyện này thôi. Bởi một lẽ rất đơn giản là em không có lòng tin. Em đã không tin anh có thể yêu em thật sự và em nghi ngờ ngay cả tình yêu của mình đối với anh nữa. Cho đến bây giờ em mới hiểu hết những điều này. Em đã để mất lòng tin đối với con người. Chính anh đã trả lại cho em niềm tin ấy. Em yêu anh ! Em yêu anh với tất cả tấm lòng mình và hoàn toàn nhận thức rõ ràng điều đó... Anh chính là người mà em mong ước nhất trên đời này... Chỉ cần em thay đổi được tính tình quái gở của mình... Anh có biết đến bao giờ em làm được điều ấy không ?
Tôi quay mặt đi, không trả lời Maria và lau dấu những giọt nước mắt bất giác đang lăn trên má mình.
Từ hôm ấy, tôi không bao giờ rời Maria cho đến khi nàng hoàn toàn bình phục. Những lúc phải đi đến cửa hàng mua một thứ gì đó hoặc đến tiệm giặt, tôi có cảm tưởng như phải xa nàng hàng thế kỷ. Mỗi khi đặt Maria ngồi trên đi-văng hoặc khoác áo ấm lên vai nàng, tôi đều cảm thấy đó là niềm hạnh phúc vô bờ. Tôi nghĩ rằng, không có hạnh phúc nào lớn hơn, khi ta hoàn toàn hiến dâng cuộc đời mình cho một người khác. Chúng tôi thường ngồi im lặng bên nhau hàng giờ cạnh cửa sổ, không ai nói gì, thỉnh thoảng nhìn nhau mỉm cười. Bệnh tật có làm cho Maria thay đổi chút ít, còn tôi, niềm hạnh phúc bất ngờ đã làm cho tôi cũng không nhận ra mình nữa. Cả hai chúng tôi như trở thành những đứa trẻ. Thêm mấy tuần nữa trôi qua, sức khỏe của Maria đã khá hơn nhiều. Vào những ngày đẹp trời, chúng tôi cùng nhau đi dạo khoảng nửa tiếng.
Trước khi bước chân ra khỏi nhà, tôi chú ý mặc cho Maria thật ấm, tự tay mình đi tất cho nàng vì mỗi lần phải cúi xuống Maria thường bị tức ngực dễ gây ho rũ rượi. Sau đó, tôi giúp Maria mặc áo choàng và chúng tôi thận trọng bước xuống cầu thang. Đi khoảng một trăm, trăm rưởi bước, cả hai dừng lại ngồi nghỉ trên một chiếc ghế đá. Chúng tôi thường đi đến hồ Tigar ten, ngắm nhìn đàn thiên nga bơi lội ở đó.
Thế rồi vào một ngày bình thường như mọi ngày khác, bỗng tất cả mọi việc sụp đổ hoàn toàn, chuyện đó xảy ra thật bất ngờ và ngay lúc đó chính tôi cũng không lường hết được ý nghĩa của nó. Tôi sửng sốt, bàng hoàng không thể ngờ được cuộc đời mình sẽ thay đổi một cách đột ngột đến thế.
Trong những ngày gần đây tôi không hề ngó ngàng gì đến chỗ trọ của mình. Mặc dù tiền trọ tôi vẫn trả đều đặn nhưng bà chủ nhà đối với tôi có vẻ lạnh nhạt hơn trước.
- Nếu bây giờ anh sống ở chỗ khác, anh cần phải cho tôi biết để báo cho cảnh sát - Một lần Phran Hốpnhe đã nói với tôi như thế - Chúng tôi không muốn có chuyện rắc rối...
- Không lẽ bà lại nghĩ rằng tôi định bỏ bà hay sao ? Tôi vừa nói đùa vừa khép cánh cửa phòng mình lại. Tôi đã sống hơn một năm nay trong căn phòng này nhưng bây giờ tôi cảm thấy hoàn toàn xa lạ với nó. Tất cả những đồ trang trí tôi mang từ Thổ Nhĩ Kỳ sang, cả những cuốn sách yêu thích lăn lóc khắp sàn nhà, không còn gây cho tôi một cảm xúc nào hết. Tôi mở va li, lấy một số đồ đạc cần thiết gói vào trong tờ báo định bước ra thì có tiếng gõ cửa. Người hầu gái bước vào chìa cho tôi một tờ giấy gấp tư.
- Ông có điện tín. Điện đến cách đây đã ba ngày rồi.
Tôi lơ đãng nhìn cô hầu phòng, không định cầm bức điện. Tờ giấy kia có quan hệ gì đến tôi nhỉ ? Cách tốt nhất để tránh mọi nỗi phiền toái có thể mang đến là không đọc nó. Phản ứng ban đầu của tôi là như thế.
Người hầu phòng ngạc nhiên thấy tôi đứng ngây ra như phỗng, cô ta đặt bức điện lên bàn rồi đi ra. Tôi nhảy bổ đến chỗ cái bàn, run rẩy bóc bức điện ra.
Bức điện do ông anh rể đánh vẻn vẹn chỉ có mấy chữ : “ Cha đã mất. Tiền đi đường đã gửi. Về ngay “. Mọi chuyện đều đơn giản và rõ ràng, vậy mà tôi còn nhìn mãi bức điện hồi lâu, đọc đi đọc lại từng chữ. Sau đó, tôi đứng dậy, cặp gói báo vào nách, bước ra đường.
Xung quanh tôi tất cả vẫn không có gì thay đổi. Thế giới vẫn như cách đây vài giờ về trước, Maria có lẽ đang ngồi bên cửa sổ đợi tôi. Nhưng tôi không còn như trước nữa. Ở đâu đó, cách đây hàng ngàn cây số, có một người đã chết. Chuyện đó xảy ra từ mấy hôm trước, có khi hàng tuần rồi cũng nên, nhưng cả tôi lẫn Maria đều không cảm thấy gì hết. Ngày tháng vẫn tuần tự trôi đi, ngày nào cũng giống ngày nào, và bỗng nhiên một tờ giấy nhỏ bằng bàn tay đã đảo lộn toàn bộ cuộc sống, bắt tôi phải từ bỏ mảnh đất này, nhắc lại cho tôi nhớ rằng chỗ của tôi không phải ở đây mà ở đằng kia - nơi bức điện vừa được đánh đi.
Bây giờ tôi mới hiểu một cách rõ ràng, tôi đã nhầm lẫn biết bao khi cho rằng những tháng vừa qua tôi đã sống trong một thế giới thực, đã hy vọng hạnh phúc của mình là không có giới hạn. Song sự thật quá ư tàn nhẫn khó mà có thể chấp nhận được. Cuối cùng tôi tự hỏi cái việc anh sinh ra ở đâu và là con của ai, những điều đó có quan trọng đến như thế không ? Điều quan trọng hơn có lẽ là phải bảo vệ cho được mối liên hệ đã liên kết hai con người, mà họ đã phải vất vả như thế nào mới tìm thấy nhau trong cái thế giới đầy rẫy sự hằn thù này. Tất cả những việc còn lại chỉ là những chuyện vụn vặn, cần phải bắt chúng tuân theo mục đích chính.
Nhưng đồng thời tôi cũng hiểu rằng đó mới chỉ là ý muốn. Thật đáng tiếc vì cuộc sống của chúng ta cũng chỉ là một thứ trò chơi trong tay của sự ngẫu nhiên, được tạo nên bởi những sự kiện mới thoạt nhìn tưởng như chẳng có gì quan trọng. Lôgich của chúng ta không phù hợp với lôgich của thực tế. Một người đàn bà tình cờ thò đầu ra cửa sổ toa tàu bị một hạt bụi nhỏ tí bay vào mắt. Một trường hợp tưởng như hết sức vặt vãnh, nhưng cái hạt bụi nhỏ tí ấy có thể làm cho bà ta bị hỏng con mắt... Một cơn gió lớn tình cờ làm bay một viên ngói từ trên nóc nhà xuống làm vỡ đầu một người nào đó đang đi ở dưới đất. Biết đâu chính con người đó đang đi ở dưới ấy lại có cái đầu uyên bác có tầm cỡ thế giới ! Chúng ta không bao giờ tự hỏi, cái gì quan trọng hơn ? Hạt bụi hay con mắt ? Viên ngói hay cái đầu ? Chúng ta bắt buộc phải cam chịu với những chuyện bất ngờ như thế. Cũng tương tự như vậy, chúng ta đành phải ngoan ngoãn chịu đựng nỗi trớ trêu của số phận.
Có những sự việc xảy ra mà chúng ta không thể nào lường trước được, cũng như không thể nào biết được nguyên nhân của chúng. Nhưng cũng có những quy tắc vô lý có thể bỏ qua được. Điều gì ràng buộc tôi với thành phố Khavran ? Mấy mảnh vườn trồng ô liu, một cái xưởng nấu xà phòng, những người bà con không lấy gì làm thân thiện. Còn ở đây ? Ở đây là toàn bộ ý nghĩa cuộc đời tôi. Nhưng tại sao tôi không thể ở lại. Có thể vì không có tôi, công việc ở Khavran sẽ bị đình trệ hay vì những người bà con sẽ không tiếp tục gửi tiền cho tôi trong khi tôi lại không có khả năng làm được một việc gì kiếm sống. Ngoài ra còn một loạt nguyên nhân khác như hộ chiếu, sứ quán, quyền cư trú... Chính tôi cũng không thể nào hiểu nổi tất cả những chuyện rối rắm và vô bổ ấy có ích gì trong cuộc sống của tôi, nhưng chúng lại đóng những vai trò rất quan trọng.
Sau khi nghe tôi nói, Maria im lặng khá lâu. Nàng nhìn mãi vào một điểm vô hình và mỉm cười khó hiểu. Khuôn mặt Maria như muốn nói : " Tôi biết mà ". Tôi cố kìm mình lại để khỏi trở nên lố bịch trước mặt nàng, làm được điều ấy đối với tôi cũng chẳng phải là chuyện đơn giản.
- Anh phải làm gì bây giờ ? Làm gì bây giờ ? - Tôi nhắc đi nhắc lại.
- Làm gì à ? Đi thôi chứ còn làm gì nữa. Và em cũng sẽ đi. Chắc là còn lâu em mới có thể tiếp tục công việc được vì vậy em sẽ đến với mẹ ở Praha. Em nghĩ rằng cuộc sống ở nông thôn sẽ có lợi cho sức khỏe của em. Em sẽ ở đó qua mùa xuân. Còn mọi việc sau này sẽ rõ.
Tôi hơi ngạc nhiên vì bỗng nhiên Maria lại nói về những dự định của mình.
- Anh định khi nào đi ? - Maria nhìn tôi hỏi.
- Anh không biết... Có lẽ khi nào nhận được tiền.
- Có thể em sẽ đi trước anh.
- Thế à ?
Sự ngạc nhiên của tôi làm cho Maria buồn cười.
- Anh đúng là một đứa trẻ, Raip ạ. Anh ngạc nhiên và lo lắng làm gì bởi lẽ chúng ta không thể thay đổi được một điều gì cả. Chúng ta còn đủ thời gian để cân nhắc mọi chuyện và thảo luận với nhau kỹ lưỡng hơn.
Sau đó, tôi ra về để hoàn tất những thủ tục cần thiết và thanh toán với bà chủ trọ. Chiều hôm ấy, khi quay trở lại, tôi thấy Maria đã sẵn sàng chuẩn bị lên đường.
- Không nên lãng phí thời gian một cách vô ích ! - Maria nói. Em càng ra đi sớm bao nhiêu thì anh sẽ càng nhẹ nhõm bấy nhiêu để lo mọi việc về nước. À mà... anh biết không... Biết nói thế nào để anh hiểu được em ? Em muốn rời khỏi Berlin trước khi anh đi. Để làm gì à ? Chính em cũng không biết...
- Tuỳ em thôi !...
Chúng tôi không nói thêm gì với nhau nữa. Ngay cả những chuyện chúng tôi định bàn cũng không đả động đến nữa.
Maria đi ngay chuyến tàu tối ngày hôm sau. Sau bữa trưa, chúng tôi không ra khỏi nhà. Cả hai ngồi cạnh cửa sổ ngắm nhìn đường phố. Chúng tôi trao đổi địa chỉ cho nhau. Tôi hứa với Maria trong mỗi bức thư gửi cho nàng, tôi sẽ gửi kèm theo một phong bì có đề sẵn địa chỉ của tôi. Bởi vì Maria không biết tiếng Ả Rập (
11) còn những người đưa thư ở Khavran lại không biết chữ cái La Tinh.
Suốt một tiếng đồng hồ, chúng tôi chỉ nói với nhau những chuyện linh tinh, chuyện mùa đông năm nay kéo dài, đã cuối tháng hai mà tuyết vẫn chưa tan hết. Tôi có cảm tưởng Maria muốn thời gian trôi mau hơn cho chóng đến giờ đi, còn tôi lại muốn thời gian dừng lại để chúng tôi được ngồi mãi bên nhau.
Câu chuyện trở nên rời rạc, vô nghĩa và mỗi lần ánh mắt gặp nhau, chúng tôi đều mỉm cười ngượng nghịu. Khi bước ra khỏi nhà, cả hai đều thở phào nhẹ nhõm. Thời gian vẫn trôi vùn vụt. Tôi xách hai chiếc vali nhỏ, đưa Maria ra ga Anhanter. Sau khi đã sắp xếp xong vali trong toa Cupê (
12), Maria rủ tôi cùng xuống sân ga. Hai mươi phút chờ đợi nữa lại nhanh chóng trôi qua trong khi cả hai đều im lặng chỉ thỉnh thoảng mỉm cười lơ đễnh. Trong đầu tôi lộn xộn hàng ngàn ý nghĩ nhưng thời gian còn lại ít quá để có thể nói hết được tất cả những điều ấy, vì vậy tôi cho rằng có lẽ tốt hơn là im lặng. Lẽ ra chúng tôi cần phải nói với nhau rất nhiều. Không lẽ nào lại chia tay nhau như những người xa lạ.
Trong mấy phút cuối cùng còn lại, Maria xúc động, bồn chồn. Tôi sung sướng khi thấy nàng như vậy ! Có nghĩa là sự bình thản của Maria chỉ là một sự giả tạo để cố giấu những xúc động trong lòng. Maria nắm chặt tay tôi nói đi nói lại :
- Mọi chuyện kết thúc một cách thật là vô lý !... Tại sao anh lại ra đi cơ chứ ?...
- Thì chính em đang ra đi, còn anh vẫn ở lại cơ mà ! - Tôi vụng về phản đối.
Maria làm như không nghe thấy những lời tôi nói, hai tay nàng càng bám chắc vào tôi hơn.
- Raip ! Em phải đi mất rồi...
Hồi chuông cuối cùng vang lên báo hiệu đoàn tàu đến giờ rời sân ga. Người phục vụ chuẩn bị đóng cửa toa. Maria nhảy vội lên bậc toa rồi quay lại nói nhỏ, giọng rõ ràng, mạch lạc :
- Chỉ cần anh gọi em một tiếng là em sẽ đến với anh ngay, Raip ạ !...
Ngay lúc ấy tôi chưa hiểu hết những lời Maria vừa nói. Im lặng một lát Maria nói thêm :
- Dù anh có gọi em đi đâu chăng nữa, em cũng sẽ đến ngay !
Chỉ đến lúc ấy tôi mới hiểu Maria muốn nói gì. Tôi nhào về phía cửa toa định ôm hôn nàng một lần cuối trước khi chia tay, nhưng tàu đã từ từ chuyển bánh. Maria đi về cupê của mình và đứng bên cửa sổ. Tôi chạy theo đoàn tàu một đoạn, đưa tay lên vẫy nàng. Rồi tàu chạy nhanh hơn và tôi bị lùi lại. Tôi lớn tiếng thét đuổi theo :
- Anh sẽ g-ọ-i !... Nhất định anh sẽ g-ọ-i !
Maria mỉm cười gật đầu như muốn nói : " Em tin anh ".
Tim tôi như thắt lại. Tại sao hôm qua tôi không bàn bạc với Maria về tất cả những chuyện ấy ? Tại sao chúng tôi toàn nói với nhau những chuyện vu vơ về những việc chuẩn bị hành lý, về chuyện đi du lịch, về mùa đông kéo dài, về chuyến đi đầy hấp dẫn... Còn vấn đề quan trọng nhất thì không người nào đả động tới ? Mà có lẽ như vậy lại tốt hơn chăng ? Biết nói cái gì ? Bởi vì kết quả cũng sẽ như thế mà thôi và cách giải quyết của Maria như vậy là đúng nhất... Chẳng còn nghi ngờ gì nữa... Một lời hứa đã được nói ra và sẽ được ghi nhận không cần phải bàn bạc, tranh cãi. Có gì đẹp hơn cuộc chia tay thế này ? Những ý nghĩ tôi đã sắp sẵn trong đầu và cũng may là chưa nói ra, trở nên nhợt nhạt, vô nghĩa và thật nặng nề so với cuộc chia tay đó.
Bây giờ tôi mới hiểu được vì sao Maria lại quyết định ra đi trước tôi. Bởi lẽ khi tôi đã đi rồi, Maria sẽ cảm thấy còn lại một mình trong thành phố Berlin nặng nề vô cùng. Tôi cảm thấy điều ấy rất rõ ràng trong khi chuẩn bị hộ chiếu, giấy tờ, vé tàu..., tim tôi vẫn đau thắt lại mỗi khi đi ngang qua những nơi mà trước đây chúng tôi đã cùng đi. Tuy nhiên nếu suy nghĩ cho kỹ thì chẳng có gì đáng buồn cả. Tôi về Thổ Nhĩ Kỳ và dự định xong công việc sẽ lập tức gọi Maria đến ngay với tôi. Mọi việc thật đơn giản. Và như mọi khi, trí tưởng tượng của tôi lại được dịp vẽ nên những viễn cảnh đẹp đẽ. Tôi dự tính sẽ chọn một mảnh đất ở ngoại ô Khavran để xây một ngôi nhà nhỏ, xinh xắn và hàng ngày chúng tôi sẽ cùng nhau đi dạo trong những cánh rừng và ven đồi quanh đấy.
Sau bốn ngày trên tàu tốc hành qua Ba Lan và Hunggari, tôi đã về đến Thổ Nhĩ Kỳ. Chuyến đi ấy cũng như những gì đã xảy ra trong những năm sau đó tôi không còn nhớ rõ. Chỉ mãi đến khi ngồi trên tàu thuỷ đi Ronstans tôi mới chợt nhớ đến mục đích của chuyến đi. Tôi cảm thấy xấu hổ vì chỉ đến lúc này tôi mới nhớ đến cái chết của cha tôi. Công bằng mà nói, trong quan hệ cha con, tôi cũng không gắn bó với ông cho lắm và giữa chúng tôi bao giờ cũng có một khoảng cách nào đó. Giả thử có người nào bỗng hỏi : " Cha anh có phải là một người tốt không ? ", có lẽ tôi sẽ không biết trả lời ra sao. Tôi hiểu cha tôi rất ít để có thể đánh giá về ông một cách chính xác. Tôi thường nghĩ về ông một cách trừu tượng, mơ hồ với cái tiếng gọi là " cha ". Thật khó mà kết hợp được hình ảnh một người đàn ông hói trán có bộ râu cằm hình cánh cung màu tro xám thường xuất hiện ở nhà vào buổi tối và không bao giờ hé miệng nói được một câu âu yếm với mẹ hay với chúng tôi, với hình ảnh một người đàn ông khác - khách hàng thường xuyên của những tiệm cà phê, luôn tỏ ra yêu đời, vui vẻ, có tiếng cười sảng khoái lôi cuốn mọi người. Những lúc đó ông thường ngồi hàng giờ uống airan (
13) hoặc say mê trong những cuộc đỏ đen, vừa chơi vừa văng tục văng tĩu. Tôi chỉ có thể nói được rằng tôi luôn luôn mong muốn con người thứ hai ấy là cha tôi. Nhưng mỗi lần thấy tôi láng cháng gần tiệm cà phê, bao giờ ông cũng làm mặt nghiêm và quát tướng lên :
- Mày luẩn quẩn ở đây làm gì thế ? Thôi, vào đây uống cốc sebét (
14) rồi về nhà mà chơi !
Ngay cả khi tôi đã giải ngũ trở về nhà, cách cư xử của ông đối với tôi vẫn không thay đổi. Tệ hơn nữa là khi tôi tỏ ra ngày càng thông minh hơn thì ông lại càng coi thường tôi hơn. Mỗi khi tôi định trình bày quan điểm của mình là ông lại nhìn tôi bằng cặp mắt tỏ ý khinh thường và nếu những năm gần đây ông chiều theo mọi ý muốn của tôi chẳng qua là để tránh những cuộc tranh cãi vô ích.
Mặc dù vậy, trong trí nhớ của tôi, tôi đã không làm điều gì đáng trách có thể xúc phạm đến vong linh của cha. Tôi cảm thấy đau lòng không phải bởi sự tẻ nhạt trong cuộc sống của ông, mà chính là ông đã không còn nữa, và càng đến gần Khavran, tôi lại càng cảm thấy đau lòng. Tôi không thể tưởng tượng nổi : thiếu ông, căn nhà của chúng tôi, thành phố nhỏ tỉnh lẻ của chúng tôi sẽ như thế nào ?
Tôi không định kéo dài câu chuyện này hơn nữa. Đúng ra tôi định bỏ qua không nói đến khoảng thời gian mười năm tiếp theo nhưng vì một vài nguyên nhân tôi thấy cũng phải dành cho nó, dù là một vài trang để ghi lại quãng thời gian có lẽ là vô vị nhất trong cuộc đời của mình. Ở Khavran chẳng có điều gì tốt lành chờ đợi tôi cả. Mấy ông anh rể ra mặt cười nhạo báng tôi, mấy người chị trở nên khó hiểu, còn mẹ tôi vẫn yếu đuối, bất lực như trước. Tòa nhà chính được niêm phong, không ai ở, mẹ sống với người chị cả. Không người nào trong các anh chị mời tôi về nhà mình vì vậy tôi dọn về sống trong ngôi nhà cũ trống trải cùng với người vú già trước kia giúp việc cho gia đình. Khi tôi nói ý định muốn bắt tay vào công việc thì mọi người cho hay rằng trước khi chết cha tôi đã phân chia gia tài. Phần của tôi được những gì thì mấy người anh rể không nói rõ cho tôi biết. Về hai phân xưởng nấu xà phòng cũng không người nào đả động đến. Tôi chỉ được biết một điều duy nhất là một trong hai phân xưởng ấy cha tôi đã bán cho một người anh rể. Theo lời mọi người bàn tán, trước khi chết cha tôi còn rất nhiều tiền mặt và vàng, nhưng hiện nay số của cải ấy biến đi đâu thì không ai biết. Ngay cả mẹ cũng không trả lời được những thắc mắc của tôi.
- Mẹ làm sao mà biết được hả con ! - Mẹ tôi nói - Cha con đâu có nói cho ai biết ông ấy chôn những của ấy ở đâu. Mấy ngày cuối cùng, đám anh rể của con lúc nào cũng bám riết lấy ông ấy. Cha con không tin là mình sẽ chết, vì thế mà không kịp nói với ai chỗ cất giấu tiền bạc... Mẹ biết làm sao được ? Có lẽ con nên gặp mấy mụ thầy bói. Cái gì họ cũng biết đấy...
Thật ra thì mẹ tôi đã đi gặp hết những mụ thầy bói ở Khavran. Bà đã đổ vào đấy số tiền cuối cùng còn lại của mình để thuê người đào bới xung quanh mấy gốc ô liu và mấy cái hầm trong nhà và tất nhiên là chẳng tìm thấy gì hết. Mấy bà chị cũng theo mẹ tôi đi gặp những mụ thầy bói nhưng không tham gia vào chuyện đào bới. Ngoài ra, tôi còn để ý thấy những người anh rể tỏ ý cười nhạo công việc tìm kiếm số của cải ấy.
Tôi cũng không nhận được xu nào trong vụ thu hoạch ô liu vừa rồi, vì vậy tôi đành phải ứng trước một số tiền của vụ tới. Kế hoạch của tôi thật đơn giản : Cố gắng sống tạm cho đến hết hè. Sang thu khi bắt đầu mùa thu hoạch ô liu - lúc đã có tiền, tôi sẽ cố gắng chấn chỉnh lại mọi công việc, sau đó, sẽ gọi Maria tới.
Từ khi tôi về Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi vẫn thường xuyên viết thư cho nhau. Vào những ngày xuân ảm đạm hay những ngày hè ngột ngạt, oi bức, giữa những công việc bề bộn vô nghĩa, niềm an ủi duy nhất đối với tôi là những phút giây tràn đầy hạnh phúc khi đọc những bức thư của Maria hay viết thư trả lời cho nàng. Khoảng một tháng sau khi tôi rời Berlin, thì Maria cùng mẹ trở về thành phố. Tôi gửi thư cho Maria đến hòm thư lưu (
15) ở Pốtxđam. Vào khoảng giữa hè, tôi nhận được một bức thư của Maria làm cho tôi không khỏi tò mò. Maria viết rằng nàng có một tin rất vui dành cho tôi, song sẽ cho tôi biết khi nào chúng tôi gặp nhau. ( Tôi viết cho Maria rằng tôi hy vọng đến mùa thu chúng tôi sẽ đoàn tụ ). Trong những thư sau đó, tôi gặn hỏi Maria về cái tin vui ấy nhưng lần nào Maria cũng trả lời bằng câu : " Hãy kiên nhẫn, gặp nhau anh sẽ biết " !
Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi và không chỉ đến mùa thu mà đằng đẵng suốt mười năm trời. Cho mãi đến chiều hôm qua tôi mới biết được cái " tin vui " ấy. Nhưng có lẽ không nên nói trước. Tôi sẽ trình bày sự việc một cách tuần tự.
Suốt cả hè năm ấy tôi đã lội bộ đi khắp các quả đồi, gò đống thuộc những khoảnh đất trồng ô liu của mình và không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra rằng phần của tôi là những khoảnh vườn đã bỏ hoang lâu ngày không còn thu hoạch được gì nữa. Trong khi đó thì khoảnh đất bằng phẳng, gần nhà, mà trên đó, mỗi gốc ô liu có thể cho hàng bao quả, lại thuộc về các bà chị tôi hay nói cho đúng hơn là thuộc về tay mấy ông anh rể. Kiểm tra kỹ hơn phần đất của mình, tôi phát hiện thấy phần lớn ô liu trên đó đã bị chặt gốc, những cây còn lại thì trong tình trạng bỏ hoang. Có lẽ ngay cả khi cha tôi còn sống, cũng chẳng thu hoạch được gì ở đấy cả.
Rõ ràng những người anh rể đã cướp sạch của tôi một cách tàn nhẫn. Họ đã lợi dụng hoàn cảnh khi cha tôi ốm nặng, mẹ tôi bất lực, còn mấy người chị gái thì chỉ biết ngoan ngoãn phục tùng. Nhưng mặc dù vậy, tôi đã làm việc không biết mệt mỏi với hy vọng rồi sẽ thu xếp công việc của mình đâu vào đấy. Thư của Maria gửi về đã mang lại cho tôi niềm hăng say cùng với sức lực để vượt khó.
Đầu tháng mười, vào đúng mùa thu hoạch ô liu, khi tôi đã định đón Maria về, bỗng nhiên tôi không nhận được thư của nàng nữa. Cho đến lúc ấy, tôi đã kịp sửa chữa xong ngôi nhà của cha tôi để lại. Tôi đã sửa lại phòng ngoài thành một phòng rửa mặt, tường lát gạch men, có bồn tắm đặt mua tận Xtambun. Nhân tiện cũng cần phải nói thêm việc này đã gây ra những lời đàm tiếu độc địa của dân Khavran mà đứng đầu trong số đó lại là những người trong nhà, họ chỉ chờ dịp là tuôn ra những lời lẽ xúc phạm cay độc.
Lẽ dĩ nhiên là tôi chẳng buồn giải thích làm gì cho mệt và vì vậy mà họ gán cho tôi đủ mọi tội : nào là chơi sang, làm mẽ bề ngoài, nào là định học đòi dân châu Âu một cách lố bịch, nào là lập dị, quái gở, nào là kiêu căng... Dưới con mắt họ, một kẻ phải đi mua chịu, hay là mua bằng số tiền vay trước của vụ thu hoạch ô liu, tủ quần áo có gương hay chiếc bồn tắm, là một kẻ điên khùng thật sự. Nhưng tôi chỉ cười trước những lời dị nghị ấy. Họ không bao giờ có thể hiểu tôi được, còn tôi không việc gì phải báo cáo với họ cả.
Sự im lặng kéo dài của Maria làm cho tôi lo lắng. Đã hai mươi ngày qua không có thư của nàng. Và cũng như mọi khi, một người không có lòng tin như tôi lại tưởng tượng ra hàng ngàn giả thuyết khác nhau. Nỗi lo lắng chuyển dần sang sự thất vọng khi mỗi bức thư gửi đi tôi vẫn không nhận được thư trả lời.
Lúc ấy, tôi bỗng nhận ra rằng thời gian gần đây Maria viết cho tôi có thưa hơn và những bức thư ấy mỗi lần một ngắn hơn. Có cảm tưởng như khi viết cho tôi, nàng phải gánh chịu một điều gì đó quá sức... Tôi bày tất cả những bức thư của Maria viết cho tôi ra trước mặt và bắt đầu đọc đi đọc lại một cách chăm chú. Trong những bức thư cuối cùng, tôi thoáng nhận ra có điều gì bối rối cùng những lời bóng gió xa xôi và những ý lấp lửng không nói ra được hết. Tất cả những điều đó hoàn toàn không phù hợp với tính tình thẳng thắn, cởi mở của nàng. Tôi nghi hoặc : Có đúng là Maria đang chờ tôi gọi về không hay là ngược lại, nàng sợ nó và dằn vặt không biết làm cách nào để lấy lại lời hứa mà nàng đã nói với tôi. Tôi cố đoán ra những ẩn ý được che sau từng hàng chữ trên giấy trắng mực đen, sau từng câu nói đùa trong những bức thư của nàng. Tôi có cảm tưởng mình sẽ phát điên lên mất.
Tất cả những bức thư tôi gửi cho Maria đều không có hồi âm và mọi sự lo lắng của tôi ngày càng có cơ sở chắc chắn. Tôi sẽ không bao giờ còn nghe thấy tên Maria Puđer nữa... Và bỗng nhiên hôm qua... Nhưng thôi, đi đâu mà vội... Cần phải trình bày cho có thứ tự... Sau đó một tháng, tất cả những thư của tôi gửi cho Maria đều bị trả lại với hàng chữ : " Thư lưu không có người nhận, trả lại người gửi ". Thế là hy vọng cuối cùng đã tan biến. Ngay cả bây giờ, tôi cũng không sao hiểu được làm sao trong một thời gian ngắn như thế mà con người có thể thay đổi đến vậy. Tôi mất hết khả năng đi lại, nhìn nhận, nghe ngóng, suy nghĩ và xúc cảm, nói gọn lại là mất hết lẽ sống. Tôi chỉ còn là một hình hài thảm hại.
Trạng thái này còn nặng nề hơn so với tâm trạng tôi đã trải qua sau đêm giao thừa. Lúc ấy nỗi thất vọng của tôi hoàn toàn đen tối nhưng tôi hiểu rằng Maria vẫn còn ở đâu đó cạnh tôi. Tôi có thể gặp được nàng, nói với nàng, thuyết phục nàng. Nhưng bây giờ khoảng cách giữa chúng tôi quá lớn, không thể nào vượt qua được. Tôi tự giam mình trong căn nhà hoang vắng, thơ thẩn từ phòng này qua phòng khác, đọc đi, đọc lại những bức thư của Maria cùng những bức thư của mình đã bị gửi trả lại. Với một nỗi lòng cay đắng, tôi cố nắm bắt ý nghĩa những dòng chữ đang nhảy nhót trước mặt.
Tôi hoàn toàn mất hết niềm hứng thú đối với công việc, đối với cuộc sống. Tôi giao công việc thu hoạch ô liu cho những người khác, phó mặc cho họ lựa chọn, chuyên chở đến nhà máy. Nếu thỉnh thoảng có muốn đi dạo ra vùng ngoại ô, tôi thường tìm cách tránh mặt mọi người. Trở về nhà khi trời đã tối, tôi nằm vật ra đi-văng thiếp đi và mấy tiếng sau tỉnh dậy trong đầu cứ vương vất một ý nghĩ : " Tôi còn sống để làm gì nhỉ ? ".
Và thế là những ngày u ám, vô vị, không mục đích lại bắt đầu, giống như những ngày trước khi tôi gặp Maria. Có điều bây giờ chúng nặng nề hơn nhiều bởi lẽ trước kia tôi chấp nhận một cuộc sống như thế và cho đó là điều tự nhiên nhưng bây giờ tôi biết rằng còn có một cuộc sống khác. Chính điều ấy càng khoét sâu thêm nỗi đau của tôi.
Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, Maria đã giúp tôi rũ bỏ được sự uể oải, yếu đuối trong tâm hồn, giúp tôi ý thức được rằng tôi là một người đàn ông. Hay nói cho đúng hơn là Maria đã giúp tôi tìm lại được nhân phẩm của mình, cho tôi thấy rõ tôi có đầy đủ những khả năng cần thiết cho một cuộc sống tốt đẹp, chứ không phải là một kẻ hèn mọn như mọi người vẫn nghĩ. Nhưng chỉ cần mối dây liên hệ giữa chúng tôi bị đứt đoạn, khi tôi không còn nằm trong vòng ảnh hưởng của Maria nữa, lập tức tôi lại rơi về tình trạng cũ. Lúc này tôi mới hiểu được một cách sâu sắc Maria cần cho tôi biết chừng nào ! Một người không có bản lĩnh như tôi cần phải có một chỗ dựa vững chắc. Tôi không thể sống nổi, nếu không có một chỗ dựa như thế. Vậy mà tôi vẫn cứ sống, nếu như có thể gọi cái đó là cuộc sống.
Tôi không bao giờ nghe nói đến Maria nữa. Khi tôi viết thư cho bà chủ trọ ở Berlin hỏi về nàng thì bà cho hay là Phran Tiđeman không còn sống ở chỗ bà nữa vì vậy mà bà không thể cho tôi biết thêm được tin tức gì hơn. Tôi còn biết hỏi ai được nữa ? Maria viết rằng, sau khi từ Praha trở về, mẹ con nàng đã chuyển sang nhà khác. Địa chỉ mới của họ tôi lại không biết. Thật đáng ngạc nhiên vì trong suốt hai năm ở Berlin, tôi chỉ quen có từng ấy người ! Ngoài thành phố Berlin ra, tôi không hề đi đâu. Nói cho đúng thì tôi thuộc thành phố như lòng bàn tay và có lẽ không có viện bảo tàng hay phòng triển lãm nào, không có vườn bách thảo hay bách thú nào mà tôi chưa đến. Tôi biết rõ từng hồ nước nhỏ, từng cánh rừng con con ở ngoại ô. Nhưng trong số hàng triệu người sống trong thành phố ấy tôi chỉ quan hệ với một vài người và thật sự gần gũi với một người phụ nữ duy nhất.
Cũng có thể như thế là đủ. Mỗi người trong chúng ta chỉ cần có một người duy nhất. Nhưng nếu ngay cả người duy nhất ấy cũng không có ? Biết làm sao được nếu như tất cả mọi việc trong thế giới này hóa ra chỉ là một sự kiểm nghiệm những gì mà người ta có thể tưởng tượng ra hoặc của những mong ước hão huyền. Tôi đã mất hết niềm tin và hy vọng. Trong lòng tôi, nỗi hoài nghi và sự cay đắng mỗi ngày một tăng dần đến nỗi tôi trở nên hoảng sợ ngay cả với chính bản thân mình. Đối với mỗi người mà tôi có dịp tiếp xúc, tôi chỉ nhận thấy đó là một kẻ thù hoặc khá hơn đó là một người không có thiện cảm. Càng ngày sự ngờ vực, cảnh giác trong tôi càng tăng chứ không hề giảm đi. Với tính đa nghi như vậy, tôi lẩn tránh tất cả những ai có ý định làm thân với tôi, đặc biệt là đối với những người có nhiều nét giống tôi. " Ngay cả Maria mà cũng đối xử với mình như thế ! ". Ý nghĩ này cứ luôn luôn dày vò, ám ảnh không chịu buông tha tôi. Tôi không thể trả lời được một cách chính xác rằng Maria đã đối xử với tôi ra sao. Nhưng điều đó cũng không hề giảm bớt những xét đoán cay độc của tôi đối với mọi người và tôi luôn luôn chờ đợi ở họ những điều xấu nhất.
" Để thoát khỏi lời hứa mà tôi đã buột miệng nói ra trước lúc chia tay, chỉ còn một cách tốt duy nhất là chấm dứt việc trao đổi thư từ. - Tôi thầm nghĩ. - Không đến nhận thư ở bưu điện nữa và không trả lời những bức thư ấy nữa, thế là xong ! Mọi chuyện đã qua dù có đẹp thật nhưng đó là chuyện đã qua ! Có lẽ bây giờ Maria đã có niềm vui mới, một niềm hạnh phúc khác tươi sáng hơn đang chờ đón nàng. Maria chẳng phải bận tâm về những chuyện đã qua làm gì cho mệt óc. Chẳng có người đàn bà thông minh nào chỉ vì một lời nói vô tình với một đứa bé ngây dại lại dám đi đến những miền hoàn toàn xa lạ, dấn thân vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm ".
Tuy nhiên chẳng có một lý lẽ nào của lý trí có thể giúp tôi thoát khỏi được tình cảnh tuyệt vọng như thế. Chính tôi cũng không thể nào hiểu nổi tại sao tôi lại lo sợ không dám bước chân sang những con đường khác của cuộc đời đang mở ra trước mắt tôi ; tại sao tôi lại phải thường xuyên e ngại mỗi khi có ai đó muốn làm thân với tôi ; tại sao tôi lại không chờ đợi ở mọi người những điều tốt lành mà chỉ rặt những điều ác độc. Một vài lần tôi đã thử đến với những người tỏ ra thông cảm với tôi. Nhưng ngay tức khắc một ý nghĩ khủng khiếp chợt đến bắt tôi phải dừng lại : " Hãy cẩn thận đấy ! Có ai gần gũi với mình hơn Maria vậy mà nàng đã đối xử với mình như thế ! ". Chỉ cần người vừa mới biểu lộ một chút tình cảm với tôi, khơi dậy trong tôi một tia hy vọng nhỏ nhoi nào đó là ngay lập tức tôi đã cảnh giác đề phòng : " Không ! Không ! - Tôi tự nhủ. - Mình với Maria đã từng gắn bó với nhau đến thế, không thể có một tình cảm nào sâu sắc hơn, thế mà cuối cùng mọi việc vẫn kết thúc một cách tàn nhẫn đến thế ! Đừng tin ! Đừng tin ai hết !... ".
Lúc nào tôi cũng cảm thấy một nỗi lo sợ khủng khiếp khi phải sống một cuộc sống như thế. - Sống và không tin vào bất cứ một điều gì hết ! Tôi ra sức xua đuổi ý nghĩ ấy đi, nhưng không có kết quả gì... Tôi đã lấy vợ, và ngay trong ngày đầu tiên của cuộc sống chung, tôi đã lập tức hiểu ngay rằng vợ tôi lại chính là người xa cách tôi nhất... Những đứa con của chúng tôi lần lượt ra đời. Tôi yêu chúng nhưng tôi hiểu rằng không bao giờ chúng có thể bù đắp được những mất mát mà tôi đã trải...
Tôi mất hết mọi hứng thú đối với công việc. Tôi làm như một cái máy, không hề suy nghĩ. Mọi người đều tìm cách lừa dối tôi nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy một sự thoả mãn cay độc nào đấy. Mấy người anh rể cho tôi là một thằng ngốc thật sự nhưng tôi chẳng hề bận tâm về điều ấy. Những món nợ cùng với lãi suất phần trăm và những chi phí cho đám cưới đã ngốn gần hết số tiền tôi còn lại. Những ô đất trồng ô liu hầu như không đem lại một chút lợi tức nào, trong khi những nhà buôn giàu có lại tìm cách bóp chẹt tôi. Họ trả mỗi gốc ô liu chỉ có nửa lia (
16) trong khi mọi năm dù có tệ lắm vẫn có thể thu được từ bảy đến tám lia. Để giúp tôi thoát khỏi tình trạng khó khăn về kinh tế ấy, những người anh rể lấy lý do không muốn tài sản gia đình lọt vào tay người ngoài, đã trả hết món nợ cho tôi và mua lại toàn bộ các khu đất trồng ô liu của tôi bằng giá rẻ mạt. Thế là tôi trắng tay nếu như không tính đến ngôi nhà chính gồm 14 phòng đã bị hư hại trầm trọng và một số đồ lặt vặt khác trong nhà.
Ông bố vợ của tôi lúc đó đang làm việc ở Balukexir đã giúp tôi xin được việc làm trong một hãng buôn ở trung tâm vi-lây-ét (
17). Tôi làm ở đây khá lâu. Gia đình tôi càng ngày càng lớn dần lên, nhưng tôi lại ít quan tâm đến cuộc sống. Sức khỏe của tôi sút đi nhanh chóng. Sau khi ông bố vợ chết, toàn bộ gánh nặng của gia đình lại chuyển sang vai tôi. Tôi phải cáng đáng thêm việc chu cấp cho mấy người em vợ. Số tiền lương bốn mươi lia của tôi không thể nào chu cấp đầy đủ cho tất cả mọi người. Một người họ hàng xa phía vợ đã giúp tôi xin được việc làm tại nhà băng ở Ankara. Tuy còn bỡ ngỡ nhiều trong công việc song tôi vẫn hy vọng mình có thể tiến thân được nhờ vốn ngoại ngữ đã có. Hy vọng đó cũng không thành. Dù có ở đâu, tôi cũng không hề tồn tại trước mắt mọi người. Cũng cần phải nói thêm rằng đôi lúc tôi đã có ý nghĩ thử san sẻ chút tình yêu còn lại cho mọi người hòng bắt tay làm lại cuộc đời. Tuy nhiên tôi vẫn không thể nào từ bỏ được mối nghi hoặc luôn luôn đeo đẳng : " Có nên không ? Để làm gì kia chứ ? Để rồi một lần nữa lại bị lừa dối hay sao ? Để rồi lại một lần nữa phải nếm mùi thất vọng chăng ? ". Maria là người duy nhất mà tôi đã tin. Tôi đã tin một cách tuyệt đối đến mức chỉ cần một sự lừa dối của nàng cũng đủ giết chết trong tôi mọi niềm tin khác. Không, tôi không hề giận Maria một chút nào hết. Tôi không thể giận hoặc căm ghét nàng vì điều đó đối với tôi thật quá sức chịu đựng. Tôi cũng không thể nghĩ một điều gì xấu cho nàng được, nhưng tôi đã bị đánh quỵ hoàn toàn. Tôi nghi ngờ tất cả mọi người vì đối với tôi, Maria là hiện thân của toàn nhân loại. Khi đã tin chắc rằng dù cho nhiều năm trôi qua, nhưng hình ảnh Maria vẫn còn khắc sâu mãi trong tâm trí, tôi lại càng tuyệt vọng hơn nữa. Chắc chắn là Maria đã quên tôi từ lâu. Có lẽ bây giờ Maria đang sống với một người nào đó... Ở nhà tôi, cứ mỗi khi chiều đến thường ồn ào, náo nhiệt. Tiếng trẻ con la hét, tiếng bát đĩa lanh canh trong bếp, tiếng mắng chửi nhau của những người họ hàng trong gia đình, tiếng than phiền của vợ vọng từ bếp ra... Tất cả những âm thanh hỗn tạp ấy tạo thành một giai điệu chối tai, hỗn loạn. Để khỏi phải chú ý đến điều ấy, tôi thường nhắm mắt lại và nghĩ : " Không biết bây giờ Maria ở đâu nhỉ ? Có lẽ nàng đang đi dạo trong vườn bách thảo, giữa những loài cây hoang dại cùng với một người bạn mới nào đó, cũng có thể nàng đang lang thang trong những phòng triển lãm, chiêm ngưỡng những tác phẩm bất hủ của những họa sĩ bậc thầy, trong ráng chiều đỏ ối xuyên qua những tấm kính cửa sổ tòa nhà triển lãm ".
Một hôm, vào buổi chiều sau giờ làm việc, tôi ghé qua cửa hàng thực phẩm. Khi bước ra bỗng tôi nghe thấy một điệu nhạc từ ngôi nhà đối diện vang sang. Tôi nhận ngay ra đó là khúc Ouverture (
18) trong vở nhạc kịch " Ôberôn " của Veber (
19). Thiếu chút nữa tôi đánh rơi gói hàng xuống đất ! Chính vở nhạc kịch này tôi và Maria đã nghe nhiều lần. Maria rất thích Veber và thường hát khúc dạo đầu ấy trên đường về nhà. Một lần nữa tôi lại trải qua một nỗi buồn chua xót. Có cảm giác như là chúng tôi mới chia tay nhau hôm qua thôi. Với thời gian, nỗi buồn của sự mất mát sẽ lui dần đi, nhưng những gì mà ta đã mất thì không bao giờ quên được. Thật là đau lòng khi nhận ra rằng " đáng lý ra mọi chuyện sẽ khác ". Nếu không có ý nghĩ ấy, người ta có thể dễ dàng chịu đựng mọi nỗi bất hạnh mà số phận có thể mang lại.
Trong gia đình, mọi người không hề quan tâm đến tôi và tôi cũng không có quyền hy vọng vào điều ấy. Cái cảm giác mình là một người hoàn toàn không cần cho ai mà tôi đã trải qua sau đêm giao thừa đáng ghi nhớ ở Berlin đã mãi khắc sâu vào trong tâm trí. Họ cần đến tôi làm gì ? Tại sao họ phải chịu đựng một con người kỳ quặc như tôi ? Có lẽ họ buộc phải chịu đựng vì hàng tháng tôi đã chu cấp cho họ một số tiền nhỏ mọn nào đó ? ! Nhưng con người đâu chỉ cần đến tiền bạc mà còn cần cả tình yêu và sự đồng cảm. Nhưng ngay cả những tình cảm cao quý ấy cũng không cần nữa thì trách nhiệm người chủ gia đình của tôi chỉ còn là việc nuôi sống mấy cái mồm. Tôi mong muốn sự lệ thuộc của những người trong gia đình đối với tôi mau chóng được chấm dứt. Cuộc sống của tôi dần dần biến thành sự chờ đợi cái ngày ấy. Giống như một người tù đang ngày đêm chờ đợi thời hạn giam cầm kết thúc, và mỗi ngày trôi qua trong đầu cũng chỉ luẩn quẩn một ý nghĩ : " Cái thời hạn ấy sắp đến chưa nhỉ ? ". Tôi sống vô tri vô giác như cây cỏ, không phàn nàn, không ham muốn, không ước vọng một điều gì... Mỗi ngày một ít, tâm hồn tôi trở nên chai sạn, teo lại, không còn cảm thấy đau khổ hay sung sướng.
Năm tháng cứ đằng đẵng trôi qua. Và bỗng nhiên, hôm qua một sự kiện đã làm xúc động tâm hồn tôi. Đó là một buổi chiều thứ bảy, tôi đã về đến nhà sau ngày làm việc. Đang cởi quần áo thì bà vợ đến gần nói : " Ông ạ, ngày mai các cửa hàng không làm việc vì vậy ông chịu khó chạy ra chợ mua một vài thứ cần thiết ". Tôi miễn cưỡng mặc lại quần áo và ra chợ. Lúc ấy trời vẫn còn oi bức, ngột ngạt. Ngoài phố, người đi lại nhộn nhịp với hy vọng đón được vài luồng gió mát. Sau khi đã mua xong các thứ vợ dặn, tôi cắp gói hàng dưới nách hòa vào dòng người đông đúc chậm chạp trở về. Không muốn đi lại con đường cũ đầy ổ gà nham nhở, tôi chọn con đường vòng tuy có xa nhưng dễ đi hơn. Đồng hồ ngoài đường đã chỉ sáu giờ. Bỗng một người đàn bà nắm lấy tay tôi kêu to :
- Ông Raip !
Tôi giật nảy người vì bất ngờ, chút nữa thì bỏ chạy, nhưng người đàn bà vẫn giữ chặt lấy tay tôi.
- Không, tôi đã không nhầm, chính ông là Raip ! Trời đất ơi ! Ông thay đổi nhiều quá đi mất ! - Người đàn bà kêu toáng lên.
Tôi từ từ ngước mắt lên và tuy chưa nhìn đến khuôn mặt nhưng qua thân hình núng nính tôi nhận ngay ra đó là Phran Tiđeman. Vâng đó chính là chị ta, hơn nữa giọng nói không thể nào nhầm được.
- Ồ ! Có phải Phran Van Tiđeman đây không ? - Tôi ngạc nhiên thốt lên. - Thật không ngờ lại có thể gặp chị ở Ankara.
- Anh nhầm rồi. Bây giờ tôi không còn là Phran Tiđeman nữa mà là Phran Đốpke (
20)... Vì chồng mà tôi phải hy sinh mất chữ Van (
21) ở đầu tên đấy. Nhưng tôi tính là mình không bị thiệt lắm đâu !
- Xin chúc mừng chị ! Như thế có nghĩa là...
- Vâng, vâng, anh đã đoán đúng đấy !... Sau khi anh rời Berlin không lâu, chúng tôi cũng rời khỏi cái nhà trọ ấy luôn... Tất nhiên là cả hai vợ chồng. Chúng tôi đi Praha...
Khi nghe hai tiếng cuối cùng trong câu nói của Phran Đốpke tim tôi bỗng nhói lên. Tôi không thể chống lại với những tình cảm đang bất ngờ ập đến - những tình cảm tưởng đã tắt lụi từ lâu. Nhưng biết hỏi chị ta cái gì bây giờ ! Có lẽ chị ta không biết mối quan hệ giữa tôi với Maria. Mà chị ta có thể cho tôi biết được điều gì nhỉ ? Có lẽ tốt hơn là không nên hỏi gì cả. Đã hơn mười năm trôi qua rồi, trở lại với dĩ vãng làm gì nữa ?
Mải chuyện quá, chúng tôi vẫn đứng ở giữa phố. Tôi mời chị :
- Có lẽ chúng ta tìm một chỗ nào đấy ngồi nói chuyện thì tiện hơn. Còn nhiều chuyện để nói với nhau phải không chị ?
- Vâng, có thì giờ ngồi lâu với nhau chuyện trò cũng thích, nhưng đáng tiếc là tôi chỉ đi ngang qua đây thôi, khoảng một tiếng nữa tàu đã lại khởi hành rồi... Phải làm sao để khỏi bị nhỡ tàu... Nếu biết trước là anh sống ở Ankara thì nhất định tôi đã đi tìm anh rồi. Chúng tôi đến đây từ hôm qua mà.
Cho đến lúc ấy tôi mới nhận thấy một bé gái khoảng tám, chín tuổi đang đứng cạnh Phran Đốpke.
- Con gái chị đây phải không ? - Tôi mỉm cười hỏi.
- Ồ, không !... Đây là con gái một người bà con, còn con trai tôi đang học ở trường luật.
- Chắc là chị vẫn thường xuyên khuyên bảo cậu ta nên đọc những cuốn sách gì phải không ?
Phran Đốpke chưa hiểu ngay câu nói, nhưng sau đó chị ta nhớ lại liền mỉm cười trả lời :
- Vâng, tất nhiên tôi vẫn phải góp ý nhưng bây giờ nó không còn nghe theo nữa... Lúc ấy nó còn bé mà... Thế mà đã hai mươi tuổi rồi đấy... Thời gian trôi nhanh thật !... Nhanh quá đi mất !...
- Thế mà chị vẫn chẳng thay đổi gì cả.
- Thì anh cũng vẫn thế !
Tôi chợt nhớ lại tiếng reo của chị ta lúc chúng tôi vừa gặp nhau, nhưng còn chưa nói gì.
Chúng tôi đi cạnh nhau và tôi vẫn nói những chuyện linh tinh không dám hỏi Maria Puđer.
- Chị vẫn chưa nói cho tôi hay làm sao chị lại có mặt ở Ankara...
- À, tôi sẽ giải thích ngay cho anh rõ. Chúng tôi chỉ đi ngang qua đây thôi...
Vừa lúc ấy chúng tôi đi qua một tiệm cà phê, tôi mời Phran Đốpke vào uống nước chanh. Sau khi đã ngồi xuống ghế chị ta kể tiếp :
- Chồng tôi hiện đang ở Bátđa... Anh cũng biết là ông ấy làm nghề buôn hàng thuộc địa mà.
- Nhưng như tôi biết Bátđa đâu có phải là thuộc địa của Đức.
- Đúng thế, anh bạn thân mến ạ !... Nhưng chồng tôi lại buôn hàng hóa của vùng nhiệt đới. Ông ta đang mua hồng quả ở đấy.
- Và ông ấy cũng mua cả hồng ở Camơrun nữa.
Phran Đốpke nhìn tôi có vẻ trách móc và tôi đã hiểu ngay rằng mình đã đùa một cách thiếu tế nhị.
- Nếu anh quan tâm đến chuyện đó thì viết thư hỏi ông ấy. Chuyện buôn bán, làm ăn không phải của đàn bà.
- Thế bây giờ chị đang đi đâu ?
- Về Berlin... Tôi rất buồn vì nhớ Tổ quốc... Ngoài ra... - chị hất đầu về phía cô bé ngồi bên cạnh. - Phải đưa cháu bé này về nhà. Nó yếu quá vì vậy mà cứ đến mùa đông, chúng tôi lại phải mang nó đi theo sang những vùng nhiệt đới.
- Chị có hay về Berlin không ?
- Mỗi năm hai lần.
- Như vậy nghĩa là công việc buôn bán của ngài Đốpke có vẻ phát đạt.
Phran Đốpke mỉm cười không trả lời.
Tôi vẫn không dám hỏi về Maria và nỗi do dự này không phải vì tính rụt rè mà chính vì nỗi lo sợ sẽ phải nghe những gì mà chị ta sẽ nói. Có lẽ mọi chuyện đâu còn ý nghĩa gì nữa ! Tất cả tình cảm của tôi đã chẳng tắt ngấm rồi hay sao ? Tôi còn e ngại nỗi gì ? Có thể chính Maria cũng đã tìm cho mình một ngài Đốpke nào đó rồi cũng nên. Nhưng cũng có thể nàng vẫn chưa lấy ai, vẫn tiếp tục tìm kiếm " Một người đàn ông có thể hiểu được nàng ". Và có lẽ Maria đã quên hẳn nét mặt của tôi rồi cũng nên.
Nói chung, chính tôi cũng không thể nhớ lại đầy đủ khuôn mặt Maria nữa. Lần đầu tiên trong ngần ấy năm, tôi bỗng hoảng hốt nhớ ra tôi không có một bức ảnh nào của Maria cả. Tại sao chúng tôi không tặng ảnh cho nhau trước khi chia tay ? Có lẽ chúng tôi đã hy vọng sẽ gặp lại trong một thời gian ngắn và cũng có thể vì chúng tôi hoàn toàn tin vào trí nhớ của mình. Nếu như tôi đã cảm thấy ân hận vì mình không có một bức chân dung nào của Maria thì có nghĩa là tôi đã không còn nhớ nỗi khuôn mặt của nàng nữa. Thế mà trong những tháng đầu mới xa nhau, tôi có thể hình dung lại khuôn mặt Maria một cách rõ ràng, kể cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Còn sau đó... Sau đó... Khi hiểu rằng mọi chuyện đã kết thúc, tôi đã cố gạt ra khỏi tâm trí mình hình ảnh của Maria, mặc dù tôi biết đó là điều không thể làm được. Hình ảnh Đức Mẹ trong chiếc áo choàng lông, cho dù chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng, vẫn luôn luôn ngự trị trong tim tôi. Và bây giờ khi tôi đã tin chắc rằng những hồi ức của những ngày xa xưa không còn làm tôi xúc động nữa thì khuôn mặt của Maria vẫn còn thấp thoáng trong trí óc tôi, mặc dù tôi không có một bức ảnh nào của nàng cả.
Mà thôi, có thể làm gì được nữa đâu ?
Phran Đốpke nhìn đồng hồ và đứng lên. Tôi tiễn chị ta ra ga.
Phran Đốpke ca ngợi Ankara và đất nước Thổ Nhĩ Kỳ. Chị nói :
- Thái độ ân cần đối với người nước ngoài như ở đây tôi chưa hề thấy ở đâu cả, ngay cả ở Thụy Sĩ cũng vậy. Thế mà sự phồn vinh của nước này chủ yếu lại nhờ vào những người du lịch. Dân Thụy Sĩ nhìn những người nước ngoài như nhìn những tên cướp đang xông vào nhà họ. Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ thì người nào cũng ra sức làm vừa lòng khách. Tôi rất thích Ankara.
Phran Đốpke nói luôn miệng. Cô bé đi ở đằng trước chúng tôi cách chừng năm sáu bước, vừa đi vừa vung vẩy cành cây nhỏ trong tay và mỗi khi bắt gặp một người đi ngược chiều cô bé lại tinh nghịch chạm khẽ cành cây vào người họ. Cuối cùng khi đã gần tới ga, tôi lấy hết can đảm hỏi bằng một giọng thật tự nhiên :
- Chị có nhiều bà con ở Berlin không ?
- Không ! Không nhiều lắm. Tôi vốn sinh ra ở Praha mà. Chồng trước của tôi là người Hà Lan. Mà tại sao anh lại quan tâm đến chuyện ấy ?
- Có lần tôi làm quen với một phụ nữ. Cô ta nói là có họ hàng với chị.
- Ở đâu ?
- Ở Berlin... Chúng tôi gặp nhau trong một cuộc triển lãm hội họa. Cô ta là họa sĩ.
- Rồi sau đó thế nào ? - Phran Đốpke hỏi tiếp, mặt chị như sáng lên.
- Sau đó... Sau đó... - Tôi lưỡng lự. - Tôi cũng không nhớ. Chúng tôi có nói chuyện với nhau. Cô ta có trưng bày ở đó một bức chân dung tuyệt đẹp.
- Thế anh có nhớ tên cô ta không ?
- Puđer... Maria Puđer !... Tên cô ta có ghi ngay dưới bức chân dung... và trong tập danh mục cũng ghi như vậy.
Phran Đốpke bỗng nhiên im lặng.
- Chị có biết cô ấy không ? - Tôi lại hỏi.
- Vâng, có biết... Tại sao cô ta lại nói với anh là chúng tôi có họ hàng với nhau ?
- Tình cờ một lần tôi có nhắc đến tên nhà trọ nơi tôi sống khi ấy và cô ta nói là có một người bà con cũng ở đó... Có lẽ là như thế, tôi không nhớ chính xác. Bao nhiêu năm qua rồi còn gì nữa.
- Vâng. Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi. Mẹ của Maria có nói với tôi cô ta có kết bạn với một sinh viên người Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc ấy tôi đã nghĩ không biết có phải đấy là anh không ? Trong lúc Maria đang nghỉ ở Praha thì người đó đã đi khỏi Berlin và họ không bao giờ gặp lại nhau nữa.
Chúng tôi ra tới ga từ lúc nào không hay. Phran Đốpke đi ngay đến toa của mình. Tôi sợ chị ta thay đổi chủ đề câu chuyện và thế là tôi sẽ không biết thêm được một chút gì về Maria, vì vậy tôi nhìn thẳng vào mắt Phran Đốpke và bằng ánh mắt ấy tôi như muốn nói với chị ta rằng tôi đang đợi chị trả lời.
Đợi cho người phục vụ ở khách sạn đưa hết hành lý lên toa, Phran Đốpke cho anh ta về, rồi quay lại phía tôi chị ta nói :
- Tại sao anh lại muốn biết về Maria ? Anh nói rằng anh chị chỉ quen nhau sơ sơ thôi mà ?
- Nhưng Maria đã để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc... và ... tôi rất thích bức chân dung của cô ấy.
- Cô ấy đã từng là một họa sĩ...
- Tại sao lại " đã từng " . Thế bây giờ cô ấy không là họa sĩ nữa à ? - Tôi hỏi với một nỗi lo sợ bất ngờ chợt đến.
Phran Đốpke nhìn sang bên và sau khi thấy cháu bé đã lên toa chị ta nói khẽ :
- Đúng thế... vì Maria chết rồi.
- Chết rồi ! Tôi rên rỉ đau đớn. Mọi người đứng trên sân ga đều ngoảnh lại, còn cháu bé thò đầu ra cửa sổ nhìn tôi bằng một cặp mắt ngạc nhiên...
Phran Đốpke nhìn tôi chăm chú.
- Anh làm sao thế ? - Chị ta hỏi. - Tại sao mặt anh tái đi như vậy ? Chính anh nói là anh biết cô ta rất ít cơ mà !
- Chuyện ấy thật là bất ngờ !
- Nhưng đã bao nhiêu năm trôi qua... Maria chết cách đây mười năm rồi còn gì nữa...
- Mười năm ! Không thể thế được...
Phran Đốpke kéo tôi sang một bên và bắt đầu kể :
- Tôi thấy cái chết của Maria đã làm cho anh bị xúc động mạnh vì thế tôi sẽ kể về cô ấy rõ hơn cho anh biết. Hai tuần sau khi anh rời Berlin, tôi cùng với chồng tôi đi Praha đến chỗ những người họ hàng. Ở đấy, chúng tôi có gặp mẹ con Maria. Phải nói thật rằng quan hệ giữa chúng tôi không được thân thiện cho lắm nhưng lần ấy không có gì hục hặc với nhau cả. Maria trông có vẻ hơi ốm. Cô ấy gầy và da dẻ nhợt nhạt hơn trước. Maria có nói là vừa bị một trận ốm nặng. Chẳng bao lâu cô ta đã lại sức và sau đó hai mẹ con về Berlin, còn chúng tôi cũng đi về miền Đông Prussi (22). Quê nhà tôi ở đấy mà. Đến mùa đông khi chúng tôi trở lại Berlin thì được tin Maria đã mất vào đầu tháng mười hai. Khi nghe tin đó, tôi lập tức đi tìm mẹ cô ta. Nỗi bất hạnh đã làm cho mẹ Maria già hẳn đi trông như một bà lão sáu mươi mặc dù lúc ấy bà ta mới bốn mươi sáu tuổi. Theo lời của bà mẹ, tôi được biết sau khi từ Praha trở về, Maria không được khỏe lắm. Sau này mới biết là cô ấy đã có mang. Maria có vẻ rất vui mừng nhưng cô không nói cho mẹ cô ta biết cha của đứa bé là ai. Mặc dù bà tìm cách dò hỏi, nhưng Maria chỉ nói : " Sau này mẹ sẽ biết " . Maria có nói rằng cô ấy sắp phải đi xa và đã chuẩn bị cho chuyến đi ấy. Song tình trạng sức khỏe của Maria ngày càng xấu hơn. Các bác sĩ được mời đến tỏ ý lo ngại cho tính mạng của Maria và khuyên cô nên nạo thai. Nhưng Maria không đồng ý. Khi thấy sức khỏe của cô ấy trở nên nghiêm trọng người ta liền đưa vào bệnh viện và phát hiện ra Maria bị bệnh anbumin. Hình như căn bệnh gọi như thế thì phải... Trước khi sinh, Maria bị ngất đi mấy lần. Người ta buộc phải mổ để cứu lấy cháu bé. Cháu bé được cứu sống nhưng Maria không qua nỗi vì mất quá nhiều máu. Cho đến phút cuối cùng, cô ấy vẫn không tin là mình sẽ chết. Trước khi nhắm mắt, Maria có nói với mẹ : " Khi mẹ biết được anh ấy là ai chắc mẹ sẽ rất ngạc nhiên nhưng rồi mẹ sẽ hài lòng " . Nhưng tên cha cháu bé thì cô ấy không kịp nói. Hồi trước khi đi Praha, cô ấy thường nói với mẹ về một người thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ nào đó. Bà mẹ chưa bao giờ nhìn thấy anh ta. Cho đến bốn tuổi, con gái của Maria được nuôi dưỡng trong bệnh viện và các trạm điều dưỡng, sau đó được bà ngoại đón về nuôi... con bé ốm yếu luôn. Nhưng được cái rất dễ thương. Anh nhìn kìa, con bé thật là dễ thương có phải không ?
Tôi cảm thấy toàn thân rã rời, chân như muốn khuỵu xuống, đầu óc quay cuồng. Nhưng tôi vẫn cố gắng tạo nên một cái gì đó giống như một nụ cười.
- Cháu đấy phải không ? - Tôi nhìn về phía cửa toa tàu hỏi.
- Vâng... Một cô bé tuyệt diệu, vừa ngoan vừa đáng yêu. Thật tội, nó nhớ bà ngoại lắm. - Phran Đốpke vừa nói vừa nhìn tôi bằng cặp mắt đầy vẻ ác ý, gần như là thù địch.
Tiếng chuông báo đến giờ tàu chạy vang lên. Phran Đốpke bước vào toa. Một thoáng sau đã thấy chị ta đứng cạnh cửa sổ bên cháu bé, trong khi nó vẫn giương cặp mắt ngây thơ, dửng dưng ngắm nhìn sân ga và thỉnh thoảng liếc về phía tôi.
Đoàn tàu chuyển bánh. Tôi giơ tay vẫy vẫy. Phran Đốpke trả lời tôi bằng một nụ cười cay độc, còn cháu bé rời khỏi cửa sổ...
Đó là tất cả những gì xảy ra trong buổi chiều hôm qua, mới hơn một ngày đêm trôi qua thôi.
Suốt cả đêm tôi không hề chợp mắt. Tôi nằm trên giường và nghĩ mãi về cháu bé mà đoàn tàu đã mang đi mãi mãi. Trước mắt tôi cứ hiện lên khuôn mặt của nó, khuôn mặt nhỏ nhắn với mái tóc gió thổi tung... Tôi không nhận rõ màu mắt và màu tóc của cháu ra sao, ngay cả tên cháu tôi cũng không biết. Cháu bé chỉ đứng cách tôi có hai bước chân, vậy mà tôi đã không kịp nhìn nó được kỹ càng. Tôi cũng không kịp nắm lấy bàn tay nó trước khi chia tay. Lạy thánh Ala, tôi không hề biết gì về bản thân đứa con gái mình ! Phran Đốpke có lẽ đã đoán ra mọi chuyện ! Tại sao chị ta lại nhìn tôi một cách thù địch như thế ? Tại sao chị ta lại vội vã đưa cháu bé đi ? Thật là khó hiểu... Bây giờ họ đang trên đường... cháu bé chắc là đang ngủ và mái đầu nhỏ bé của nó có lẽ đang lắc lư nhè nhẹ theo tiếng gõ đều đều của bánh xe.
Suốt đêm tôi chỉ nghĩ về họ. Cuối cùng khi sức tôi đã kiệt, trước mắt tôi bỗng hiện lên hình ảnh người thanh nữ mà bấy lâu tôi đã cố tình xóa đi khỏi tâm trí, Maria. Đức Mẹ kỳ diệu như đang nhìn tôi bằng ánh mắt sâu thẳm. Trên khuôn mặt nàng không hề có một chút gì trách móc, hờn giận mà chỉ có một sự dịu dàng, trìu mến cùng với một nỗi buồn sâu sắc và một chút ngạc nhiên thoáng qua. Tôi không sao chịu đựng nổi cái nhìn ấy. Mười năm, suốt mười năm đằng đẵng tôi đã giữ mãi trong lòng nỗi hờn giận với Maria, ngay cả khi nàng không còn nữa. Tôi đã kết tội Maria là một người phụ bạc. Đối với vong linh của nàng còn có sự xúc phạm nào nặng nề hơn thế nữa ?
Trong suốt mười năm ấy, tôi đã nghi ngờ một cách vô lý những gì mà chính Maria đã mang lại cho tôi : Mục đích và ý nghĩa của cuộc đời. Và cũng không có lần nào tôi nghĩ đến những nguyên nhân khác có thể bắt nàng phải im lặng. Mà nguyên nhân thì thật hiển nhiên : Đó là cái chết. Tôi hiểu rõ ràng cho đến cuối đời, tôi sẽ không thể nào chuộc lại được những gì mà tôi đã xúc phạm đến vong linh nàng, dù có quỳ gối cầu xin cũng thế thôi. Bởi vì trong tất cả những tội lỗi mà con người có thể gây ra, có một tội không thể nào tha thứ được đó là sự nghi ngờ lòng chung thủy của một trái tim chân thành.
Mới đây, tôi còn cho rằng, không có ảnh của Maria có lẽ tôi sẽ không nhớ nổi khuôn mặt nàng. Thế mà bỗng nhiên tôi lại nhìn thấy Maria một cách rõ ràng hơn bao giờ hết. Nàng đang đứng trước mặt tôi, vẫn như xưa, khuôn mặt hơi buồn và kiêu hãnh như trong bức chân dung của mình. Khuôn mặt nàng trắng hơn, còn cặp mắt thì sẫm lại, môi dưới hơi động đậy như muốn nói : " Raip, anh làm sao thế ? ". Không lẽ nào Maria đã chết cách đây mười năm rồi sao ? Chết vào đúng khoảng thời gian tôi đang mong nàng đến, khi nhà cửa đã chuẩn bị xong xuôi để đón nàng. Chết và không nói với ai một lời nào cả. Maria đã mang theo xuống nấm mồ tất cả mọi bí mật của mình, và khi đã chết rồi, nàng còn tránh cho tôi mọi nỗi lo âu nặng nề.
Cho đến bây giờ, tôi mới hiểu tại sao khi giận Maria như thế, tôi đã xây nên bức tường ngăn cách với tất cả mọi người xung quanh. Bởi vì trong suốt mười năm ấy, tôi vẫn yêu nàng bằng một tình yêu không hề giảm sút và tôi không muốn bất cứ một hình ảnh nào chiếm chỗ nàng trong trái tim tôi. Tôi còn yêu nàng mãnh liệt hơn trước nữa. Tôi đưa tay về phía Đức Mẹ, muốn nắm lấy bàn tay giá lạnh của nàng, sưởi cho chúng ấm lên. Tôi như sống lại những ngày tháng ngắn ngủi cạnh nàng. Đấy, chúng tôi đang đứng trong phòng triển lãm, đang ngồi nói chuyện với nhau trong tiệm nhảy " Atlantích ", đang cùng nhau đi dạo trong vườn bách thảo, đang ngồi trước mặt nhau bên cạnh cửa sổ nhà nàng. Những kỷ niệm ấy đủ cho cả một đời người nhưng tôi đã nhớ lại tất cả trong một khoảng thời gian rất ngắn, vì vậy mà chúng càng trở nên sống động hơn, xao xuyến hơn. Tôi hiểu một cách rõ ràng, trong suốt mười năm ấy, tôi đã không hề sống. Tất cả mọi tình cảm, suy nghĩ, hành động của tôi như thuộc về một người nào khác, hoàn toàn xa lạ. Tối hôm qua, khi nằm trên giường, tôi đã nhìn thấy Maria trước mặt mình và tôi đã linh cảm rằng từ nay cuộc sống của tôi sẽ trở nên không thể chịu đựng được. Tôi chỉ còn lại một cái xác không hồn - đó chính là cái bóng của " cái tôi " ngày trước. Từ khi Maria mất đi, cuộc sống của tôi đã hoàn toàn mất hết mọi ý nghĩa. Tôi đã chết cùng với nàng mà cũng có thể là tôi đã chết trước nàng rồi cũng nên.
Sáng nay, mọi người trong nhà đều đi chơi cả. Tôi lấy cớ trong người không được khỏe để được ở nhà một mình. Và tôi đã viết suốt cả ngày hôm nay. Đã chiều rồi mà họ vẫn chưa về nhưng chỉ khoảng một, hai tiếng nữa thôi là họ sẽ xuất hiện và mang về sự ồn ào, huyên náo. Có gì chung giữa tôi và những con người ấy ? Giữa chúng tôi không hề có một sự đồng cảm nào trong tâm hồn. Trong suốt nhiều năm sống chung nhưng tôi không hề nói với họ một lời, trong khi tôi rất muốn chia sẻ cùng ai đó những điều bí mật thầm kín của lòng mình. Dấu kín hình ảnh Maria trong lòng thì có khác gì tự mình bị chôn sống ! Ôi Maria, sao chúng ta không thể cùng ngồi với nhau bên cửa sổ để nói hết về tất cả mọi chuyện, về tất cả ? Sao chúng ta không thể cùng nhau dạo chơi trong những buổi chiều thu lộng gió như trước kia, sao chúng ta không thể đứng im nhìn nhau ? Sao em không ở bên anh ?
Trong suốt mười năm ấy, có lẽ anh đã xa lánh mọi người và mất lòng tin vào họ một cách vô ích. Có lẽ anh cũng có thể tìm được một người nào đó cao đẹp như em. Nếu anh biết về cái chết của em cách đây mười năm có thể anh đã cam lòng về nỗi tổn thất đó và biết đâu anh sẽ tìm lại được em trong số những người khác. Khi biết mình đã xúc phạm đến vong linh của em trong suốt từng ấy năm, trong lòng anh không còn một chút mong muốn nào làm lại cuộc đời một lần nữa. Căn cứ vào bản án mà anh đã dám kết tội em, anh đã kết án tất cả những người khác. Hôm nay, sau khi đã nhận rõ sự vô lý của mình, anh tự bắt mình phải chịu sự đọa đày trong nỗi cô đơn. Cuộc sống không khác gì một canh bạc mà mỗi người chỉ được chơi một ván - anh đã thua và anh sẽ không bao giờ cầm đến bài nữa. Từ nay, mỗi buổi chiều, anh sẽ lại tiếp tục đi chợ mua hàng như một người máy, sẽ lại gặp gỡ, tiếp xúc với mọi người mà không chút hứng thú. Anh đã sống và có thể tiếp tục sống như thế không chút bận tâm, suy nghĩ. Chính em đã chỉ cho anh thấy trên đời này, còn có một cuộc sống khác, rằng trong con người anh, còn có một thế giới nội tâm phong phú và nếu như em không có khả năng biến đổi con người anh thì đó cũng không phải lỗi ở em. Cảm ơn em vì những giờ phút đẹp đẽ của một cuộc sống chân thật mà em đã mang lại cho anh. Những ngày tháng ngắn ngủi ấy còn có ý nghĩa hơn cả một thế kỷ - Con gái của chúng ta là một phần máu thịt của em, nhưng số phận đã định đoạt cho con không được sống với cha của nó và không được biết gì về người cha ấy. Con đường của hai cha con chỉ tình cờ gặp nhau có một lần và anh không hề biết một chút gì về con, ngay cả tên và địa chỉ cũng không biết. Nhưng tâm hồn anh sẽ luôn luôn theo con trên mọi nẻo đường. Anh sẽ luôn luôn đi bên cạnh con dù biết đó chỉ là niềm mơ ước, nhưng bằng cách ấy anh sẽ cố lấp bớt những khoảng trống trong lòng mình. Anh sẽ tưởng tượng ra con của chúng ta đã khôn lớn ra sao, vui, buồn như thế nào... Ngoài cửa đã nghe thấy những tiếng ồn ào. Có lẽ những người trong gia đình đã trở về sau cuộc dạo chơi.
Nhưng tôi vẫn còn muốn viết nữa. Để làm gì ? - Chính tôi cũng không biết ! Tôi đã viết được khá nhiều. Không biết như thế đã đủ chưa nhỉ ? Ngày mai phải mua một cuốn vở mới để trả lại cho con gái, còn cuốn này phải giấu ở chỗ nào đó thật kín để không người nào có thể tìm ra, không người nào biết được những gì đang đè nặng trong lòng tôi...
Những ghi chép của Raip-êphenđi đến đây là hết. Ở những trang sau chỉ toàn giấy trắng, không có thêm một chữ hoặc một lời ghi chú.
Có lẽ Raip-êphenđi đã giải bày trên những trang giấy này tất cả những gì chất chứa trong lòng mình để sau đó có thể yên tâm thu mình lại trong suốt từng ấy năm.
Ngoài cửa sổ, bình minh đã rạng. Sực nhớ đến lời hứa của mình, tôi vội vàng bỏ cuốn vở vào túi và đi đến chỗ người bệnh. Vừa bước vào cửa, tôi đã nghe từng tiếng nức nở than khóc. Tôi đứng lại, ngập ngừng. Muốn nhìn lại khuôn mặt Raip-êphenđi một lần cuối trước khi vĩnh biệt ông. Nhưng tôi cảm thấy sẽ không đủ sức chịu đựng khi nhìn tấm thân bất động của con người mà tôi đã từng chia sẻ bao nỗi vui buồn, đắng cay trong cuộc sống. Nghĩ thế, tôi lặng lẽ bước ra đường. Tôi không cảm thấy buồn vì cái chết của Raip-êphenđi, cũng không cảm thấy một sự mất mát nào cả mà ngược lại tôi như vừa tìm thấy ông sau một thời gian dài xa cách.
Chiều hôm qua, Raip-êphenđi có nói với tôi : " Chúng ta thế là cũng chưa nói với nhau được gì cả " ! Không, về điều này tôi không đồng ý với ông. Chẳng phải cuộc nói chuyện của chúng tôi đã kéo dài suốt đêm đó sao.
Bước vào phòng làm việc, tôi đến ngồi vào sau bàn trống của Raip-êphenđi, đặt quyển vở trước mặt và bắt đầu đọc lại nó một lần nữa.
-----------------------------
Chú thích :
(1) Turghênhép (1818-1883) : nhà văn Nga nổi tiếng, tác giả của " Bút ký người đi săn " , " Một tổ quý tộc " , " Cha và con ", " Mối tình đầu " ...
(2) Nikhan : nhân vật nữ trong tiểu thuyết " Mối tình trắc trở " của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Halít Ziya (1868-1945).
(3) Métgiure : nhân vật nữ trong tác phẩm cùng tên của Veđjikhi.
(4) Phran : tiếng đệm dùng trong khi xưng hô với phụ nữ tỏ ý kính trọng.
(5) Anđơrei Đen Xartô (1436-1530) : họa sĩ Italia thời Phục Hưng.
(6) Lễ Ramadan : vào tháng 9 theo lịch của đạo Hồi.
Trong tháng này những người theo đạo phải kiêng cữ nghiêm ngặt.
(7) Theođor Storm (1817-1888) : nhà văn, nhà thơ lãng mạn Đức.
(8) Mác : đơn vị tiền tệ Đức.
(9) Kleistơ Henrich Phôn (1777-1811) : nhà thơ, nhà soạn kịch người Đức đại diện cho trường phái lãng mạn trong văn học.
(10) Iakốp Vacxeman (1873-1934) : nhà văn Đức.
(11) Trước năm 1942, ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn dùng chữ cái Ả Rập.
(12) Toa Cupê : toa có giường nằm được chia thành các buồng riêng.
(13) Airan : một loại nước giải khát làm bằng sữa chua.
(14) Sebét : một loại nước giải khát làm bằng trái cây.
(15) Hòm thư lưu : thư được giữ lại ở bưu điện chờ người nhận đến lĩnh.
(16) Lia : đơn vị tiền tệ Thổ Nhĩ Kỳ.
(17) Vi-lây-ét : đơn vị lãnh thổ hành chính rộng lớn ở một số nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Angiêri, Tuynidi ( tương đương như tỉnh, miền, khu... ).
(18) Ouverture : khúc nhạc dạo đầu.
(19) Veber : nhạc sĩ.
(20) Ở châu Âu khi người phụ nữ lấy chồng thì mang họ của chồng. Ở đây có nghĩa là Phran Tiđeman đã lấy ông Đốpke.
(21) Một số dân tộc Tây Âu, chữ Van ở đầu tiên chỉ dòng dõi quý tộc cũng như " Đôn ", " Phôn "... ở Tây Ban Nha và Đức.
(22) Prussi : một tỉnh lỵ của nước Đức cũ.
HẾT