'Đông Âu Tại Việt-Nam' của Lý Thái Hùng
Nguyễn Quốc Khải
Hoa-Thịnh-Đốn, 04-11-2007
(Bài nói chuyện tại buổi ra mắt sách “Đông Âu Tại Việt-Nam” của ô. Lý Thái Hùng tại Virginia, ngày 04-11-2007).
“Chủ nghĩa Cộng Sản là giấc mơ của một vài người
[nhưng] là cơn ác mộng cùa mọi người.”
Victor Hugo
[07/11/2007 - Tác giả:
admin1 - Vietnam Review]
Kính chào quý vi:
Khi tác giả Lý Thái Hùng gọi và yêu cầu tôi nhận xét về cuốn sách của ông, tôi rất ngạc nhiên vì tôi chỉ là một người nghiên cứu về kinh tế và hiểu biết về chính trị rất hạn hẹp. Tuy nhiên không thể phụ lòng quý mến của tác giả, nên tôi nhận lời nhận xét về cuốn “Đông Âu Tại Việt-Nam” dưới con mắt của một chuyên viên kinh tế. Và đó là chủ đề của bài nói chuyện hôm nay.
Hình thức
Cuốn sách gồm 10 chương. Trong đó 8 chương đầu viết về cuộc Cách Mạng Dân Chủ ở Đông Ấu vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Đây là một tập tài liệu quý giá để cho ai muốn tìm hiểu về sự xụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản ở một vùng mà đối với phần đông người Việt ở hải ngoại vẫn còn xa lạ. Một phần vì vùng này trước đây hoàn toàn nằm trong gọng kìm của Đệ Tam Quốc Tế. Mặt khác, sách sử của Việt-Nam viết rất ít về các quốc gia Đông Âu theo sử gia Trần Gia Phụng.
Hai chương cuối quan trọng hơn cả, nói về Việt-Nam trước cơn bão Dân Chủ Đông Âu và Đông Âu tại Việt-Nam. Nhận xét của tôi nhắm vào hai chương này. Tác giả đáng được ca ngợi về công trình thu thập tài liệu, trình bầy trung thực như một sử gia về những gì đã xẩy ra tại Đông Ấu từ Đệ Nhất Thế Chiến cho đến khi chiến tranh lạnh chấm dứt. Lối viết của tác giả rất giản dị, rành mạch, giúp cho người đọc dễ hiểu, không mất thì giờ để phân tách câu cú phức tạp, cũng như vẫn phải đoán xem tác giả muốn ám chỉ cái gì.
Lâu lắm người ta mới thấy một cuốn sách in ấn lịch sự và trình bầy sáng sủa. Danh mục là một đặc điểm của cuốn sách. Tuy nhiên để nâng cao phẩm chất của một cuốn sách lên hàng quốc tế, tác giả cần chú thích ở cuối mỗi trang hoặc mỗi chương nguồn gốc của những phần trích dẫn để độc giả có thể tra cứu thêm. Ngoài ra tác giả cũng nên chú trọng hơn về phẩm chất và xuất sứ của những hình ảnh trình bầy trong cuốn sách này. Nếu không biết, cũng cần phải ghi là “nguồn gốc không rõ”.
Cái nhìn lạc quan
Tôi có dịp đến Đông Đức, Ba Lan, Hung Gia Lợi, và Tiệp vào cuối năm 2005 và 2006. Lần đầu tiên tôi thấy được một phần bức tường Bá Linh được giữ lại để làm di tích lịch sử. Giống như tác giả tôi cũng mong một ngày không xa bức tường nhà tù Việt-nam sẽ xụp đổ. Trước khi đến Đông Âu, tôi có dịp xem phim “The Pianist” về cuộc xâm chiến Ba Lan của Đức Quốc Xã và rất thán phục cuộc đấu tranh hào hùng của dân tộc Ba Lan mà tôi mới khám phá.
Trong phần dẫn nhập của cuốn sách, tác giả có một nhận định mạnh mẽ như sau:
"Chúng tôi chọn tựa đề ‘Đông Âu Tại Việt Nam’ vì nghĩ rằng những yếu tố đã từng xảy ra tại các quốc gia Đông Âu, đưa đến sự tan rã của khối cộng sản quốc tế vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, chắc chắn sẽ được lập lại ở Trung Quốc và Việt Nam. Đương nhiên sự lập lại này không giống nhau hoàn toàn; nhưng bản chất của các hiện tượng xảy ra sẽ gần giống nhau, tùy theo phản ứng đối phó của ban lãnh đạo đảng CSVN và Trung Quốc, cũng như tùy theo sự chủ động nhiều hay ít của các lực lượng dân chủ trong việc điều hướng các phong trào quần chúng tạo áp lực chính trị lên chế độ…Những gì đã từng làm cho Đông Âu sụp đổ, thì đã và đang xảy ra tại Việt-Nam.”
Tôi không có được một suy nghĩ lạc quan như thế. Theo thiển ý của tôi Đông Âu và Việt-Nam có một số điểm tương đồng, nhưng cũng có những khác biệt quan trọng.
Những điểm tương đồng
Một điểm tương đồng là Cộng Sản Đông Âu cũng giống như Cộng Sản ở Á châu. Họ áp dụng cùng một thứ lý thuyết sai lầm, đưa đến một xã hội nô lệ, nghèo đói, giả dối, và tàn bạo. Tôi đồng ý với GS Đỗ Mạnh Tri rằng căn nguyên sâu sa của sự xụp đổ nằm trong bản chất của chủ nghĩa Cộng Sản.
Hệ quả đương nhiên của chủ nghĩa này là những yếu tố trực tiếp đưa đến sự xụp đổ của Cộng Sản:
(1) Bất đồng quan điểm trong hàng ngũ lãnh đạo đều biết về những biện pháp cải tổ cần thiết.
(2) Sự bất mãn cùng cực của dân chúng.
(3) Phát triển trì trệ, xã hội và chính trị bất ổn.
(4) Áp lực quốc tế về nhân quyền, tự do, dân chủ trong tiến trình mở rộng giao thương.
Một điểm tương đồng khác là Đông Âu ở ngay sát Nga Xô. Trong khi đó Việt-Nam giáp ranh với Trung Quốc. Cả hai vùng đều chịu ảnh hưởng của nước lãnh đạo Xã Hội Chủ Nghĩa.
Vào giai đoạn cách mạng bùng lên tại Đông Âu, có khoảng 1 triệu người Việt đã di tản ra hải ngoại. Đa số chưa có đời sống ổn định, ngoại trừ thành phần ra đi từ năm 1975. Trong khi đó, số người gốc Ba Lan ở hải ngoại khoảng 16 triệu, trong đó 10 triệu sinh sống tại Hoa-Kỳ theo thống kê 2002. Con số vào năm 1989-1991 nhỏ hơn. Một số người gốc Ba Lan trở nên giầu có ở quê hương mới vào giai đoạn này. Đa số đã có đời sống khá vửng vàng. Ba Lan được sự ủng hộ mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng John Paul II và Giáo Hội Công Giáo Ba Lan. Việt-Nam không có được lợi điểm quan trọng này. Theo tác giả điều bất hạnh là vào thời gian này, những nhân vật đấu tranh tiêu biểu ở trong nước như Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Trần Đình Thủ,.... lại ở trong vòng lao lý hay dưới sự quản thúc của chế độ. Cách đây gần 20 năm, Đức Cha Philipphê Nguyễn Kim Điền, Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế đột ngột qua đời vào ngày 08-06-1988. “Sau năm 1975, Ngài được nhiều người nghe danh biết tiếng với thái độ cứng rắn chống đối kịch liệt chính quyền CSVN. Ngài là Giám Mục duy nhất tại Việt Nam đã phạt "treo chén" một linh mục trong giáo phận vì đã hoạt động tích cực cho chế độ Cộng Sản.”
Cả hai nhóm Ba Lan và Việt-Nam hải ngoại đã góp phần vào việc yểm trợ phong trào dân chủ tại quê hương cũ của họ. Tại Ba Lan cũng như các nước Đông Âu khác, ngoại trừ Romania, đã tranh đấu theo đường lối ôn hòa và đã thành công trong việc giải phóng Đông Ấu khỏi chế độ Cộng Sản. Trong trường hợp Việt-Nam, phong trào đấu tranh dân chủ bắt đầu bằng võ lực vào thập niên 80 nhưng không thành công. It lâu sau cuộc đấu tranh đã chuyển hướng qua bất bạo động.
Khúc quanh lịch sử của Đông Ấu và Nga Xô xẩy ra vào khoảng 1981-1991. Có hai câu hỏi then chốt cần được trả lời:
(1) Câu hỏi thứ nhất là tại sao một loạt các nước Cộng Sản ở Đông Âu xụp đổ vào thời điểm này mà tại Á châu vẫn tồn tại mặc dù có một số xáo trộn đáng kể xẩy ra ?
(2) Câu hỏi thứ hai là liệu rút tỉa kinh nghiệm của Đông Ấu lúc đó để áp dụng vào Việt-Nam bây giờ có thích hợp hay không?
Liên Xô áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản ở Đông Âu
Để trả lời câu hỏi (1), tác giả và chúng ta đồng ý rằng chế độ Cộng Sản ở Đông Âu do Nga Xô áp đặt. Trong khi đó ở Á châu, những người làm cách mạng tự du nhập chủ nghĩa này vào quốc gia của họ và buộc dân phải tuân theo.
Chính vì thế mà các nước Đông Âu dễ dàng từ bỏ chế độ Cộng Sản. Khi Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan thắng trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 6, 1989, Nga Xô định xua quân đàn áp dân Ba Lan, nhưng chính phủ Cộng Sản Ba Lan đã yêu cầu Nga Xô không can thiệp và để tự họ giảI quyết. Vào ngày 19-08-1989 Tổng Thống Ba Lan là tướng Wojciech Jaruzelski yêu cầu nhà báo và nhà hoạt động cho Solidarity tên là Tadeusz Mazowiecki thành lập chính phủ và chấm dứt gần 45 năm cai trị của Đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa Ba Lan (Đảng Cộng Sản). Chỉ năm ngày sau, Đảng Công Nhân Xã Hội Hung tổ chức đại hội bất thường, chính thức từ bỏ chế độ Cộng Sản
Những cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên Tiệp bắt đầu vào tháng giữa 11, 1989. Chỉ vài ngày sau đã lôi cuốn hàng trăm ngàn người tham gia, làm tê liệt chính phủ và buộc Đảng Cộng Sản Tiệp phải từ bỏ quyền hành và chấm dứt chế độ độc đảng. Biến cố quan trọng này được cả thế giới biết và được gọi là cuộc Cách Mạng Nhung (Velvet Revolution) đã lật đổ chế độ Cộng Sản mà không tốn một giọt máu.
Trước những biến cố xẩy ra ở nhiều nơi ở Đông Âu, vào tháng 2, 1990 Đảng Cộng Sản Bulgaria tự nguyện từ bỏ độc quyền chính trị và tổ chức tuyển cử tự do vào giữa năm. Ngay khi có cuộc nổi dậy của dân ở những nước Đông Âu khác, tại Albania khoảng 6,000 ngườI đã bị thủ tiêu. Nhưng vào cuối năm 1990, sau khi sinh viên và công nhân biểu tình rầm rộ, chế độ độc tài Cộng Sản tại đây chấp nhận hệ thống đa đảng. Chỉ riêng cuộc cách mạng tại Romania là có đổ máu và kết thúc với việc xử bắn vợ chồng cựu Tổng Thống Cộng Sản Nicolae Ceausescu vào ngày 25-12-1989.
Cấu trúc kinh tế khác biệt
Một yếu tố thứ hai không kém quan trọng là sự khác biệt về cấu trúc kinh tế. Phần lớn những nước Đông Âu là những quốc gia kỹ nghệ. Ngay cả ở Ba Lan và Hung Gia Lợi, nông nghiệp phát triển hơn các nước Đông Âu khác, nhưng hai khu vực dịch vụ và kỹ nghệ vẫn là chính. Trong giai đoạn cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản 1989-1991, nói chung công nhân và thành phần sinh viên và trí thức đã đóng một vai trò tiên phong quan trọng. Trong khi đó ở Á châu, Việt-Nam và Trung Quốc là hai quốc gia nông nghiệp với một nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Khổng giáo và Phật Giáo. Người dân có khuynh hướng hiền lành, thụ động và thần phục những kẻ có quyền chức. Mặc dù trong giai đoạn này cũng có những xáo trộn như vụ Thiền An Môn, hiện tượng Trần Xuân Bách nhưng dễ dàng bị dẹp tắt vì bản chất chậm chạp và chịu đựng của quần chúng.
Sau cuộc cách mạng dân chủ nhanh chóng và bất ngờ tại Đông Ấu, nền kinh tế của các quốc gia này xuống dốc vì thiếu một kế hoach hiệu quả để chuyển đổi từ một nền kinh tế chỉ huy sang một nền kinh tế thị trường. Máy móc tại các xưởng bị tháo gỡ để đem bán khiến mức sản xuất của những quồc gia này đã không tăng lại còn suy giảm. Vật giá leo thang quá sức tưởng tượng. Mức thất nghiệp gia tăng. Phép lạ của tư bản không xuất hiện nhanh chóng như dân chúng Đông Âu mong đợi. Tình trạng này giúp một số cựu lãnh tụ Cộng Sản trở lại nắm chính quyền chỉ vài năm sau.
Trái lại ở Á châu, Trung Quốc bắt đầu cải tổ kinh tế từ năm 1978. Tám năm sau Việt-Nam theo chân đàn anh, công bố chương trình Đổi Mới vài tháng sau khi Lê Duẩn qua đời vào tháng 7, 1986 và vài năm sau mới thực sự thi hành. Tuy nhiên dưới áp lực của dân và nạn đói đe dọa, nhà cầm quyến Việt-Nam đã cho hợp thức hóa chính sách khoán hộ (khoán sản phẩm) ngay từ đầu năm 1981 sau vài năm cấm đoán việc dân xé rào làm lén (khoán hộ chui) . Quyết định hủy bỏ hệ thống nông trường tập thể được thực hiện vào năm 1988 và tiếp theo là chương trình hợp tác xã nông nghiệp. Việc trả lại đất đai cho dân tự canh tác trong kế hoạch khoán hộ đã làm cho sản ngạch tăng vọt trái với tình trạng tại Đông Âu.
CảI tổ kinh tế sớm sủa vào đầu thập niên 80 đã hồI sinh được khu vực nông nghiệp nơi đa số dân sinh sống đã cứu vãn hai chế độ Xã HộI Chủ Nghĩa Việt-Nam và Trung Quốc (xem phụ bản). Đang bị nạn đói đe dọa trầm trọng vào cuối thập niên 80, chỉ vài năm sau, Việt-nam trở thành nước xuất cảng gạo. Chính một phần vì vậy mà Đảng CSVN còn duy trì được quyền lực một cách an toàn cho đến năm 2000.
Trong bốn yếu tố làm Đông Âu xụp đổ, Việt-Nam đã cải thiện được hai vào thời điểm từ 1986 – 2000 mà tôi gọi là giai đoạn Cởi Trói chứ không có gì đổ mới cả:
(1) Sự bất mãn của dân chúng giảm.
(2) Kinh tế phát triển, xã hội và chính trị tạm ổn định.
Cộng Sản Việt-Nam và Trung Quốc thật là cực kỳ may mắn vì đã sống sót qua giai đoạn cáo chung của Chủ Nghĩa Marx – Lenin và đã chứng kiến sự tan vỡ của hầu hết những nước anh em trên toàn thế giới. Đông Đức kỷ niệm 40 năm thành lập vào ngày 07-10-1989. Một tháng sau, hàng trăm ngàn người biểu tình đòi tự do dân chủ, dẩn đến sự sụp đổ bức tường Bá Linh, dưới sự chứng kiến và hoảng sợ của Nguyễn Văn Linh và phái đoàn CSVN. Ô. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, sau khi được tin Nicolae Ceausescu, Tổng Thống Romania, và vợ bị xử bắn vào cuối năm1989, đã lánh mặt cho đến đầu năm 1990.
Chiến tranh lạnh chấm dứt
Với sự xụp đổ của Liên Bang Xô Viết, Khối Warsaw và Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế (the Council for Mutual Economic Assistance - Comecon), một tổ chức kinh tế của các nước theo Xã Hội chủ nghĩa, giảI tán (hình bích chương của Comecon) , chiến tranh lạnh chấm dứt. Chính sách ngoại giao của Hoa-Kỳ thay đổi.
Trong giai đoạn Cách Mạng Dân Chủ, Hoa-Kỳ và các nước Tây Âu tận tình giúp đỡ kẻ thù của kẻ thù của đồng minh. Ngày nay tình trạng đã thay đổi. CSVN không còn là kẻ thù của Hoa-Ky nữa mà là một đối tác về thương mại và an ninh quốc phòng. Hoa-Kỳ cổ võ dân chủ nhưng nói nhiều làm ít vì quyền lợi kinh tế vẫn trên hết. Cuộc tranh đấu cho dân chủ của chúng ta trong hoàn cảnh tế nhị này trở nên gay go hơn, cần phải vận dụng trí óc nhiều. Muốn có hiệu quả cần phải có chiến lược chiến thuật hẳn hoi. Phải tương kế tựu kế. Chẳng hạn chúng ta không thể chống Việt-Nam vào WTO. Thứ nhất chúng ta không đủ lực. Thứ hai chính chúng ta sẽ bị thiệt hại. Không chống, không ủng hộ vô tội vạ, nhưng ủng hộ có điều kiện như về sách báo, nhân quyền, v.v.
Chúng ta cần tìm những nguồn hỗ trợ mới như các tổ chức phi chính phủ của Hoa-Kỳ, các nước dân chủ Tây phương, Úc, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, các nước Đông Âu trước đây từng là nạn nhân của Cộng Sản đặc biệt là Ba Lan và Tiệp, và những nước Trung Đông.
Chiến tranh lạnh chấm dứt tạo cơ may cho CSVN. Vì mất dần những nguồn yểm trợ từ những nước anh em, kể cả Liên Xô và Trung Quốc, bị cô lập hoàn toàn về ngoạI giao và nạn đói đe dọa, CSVN đã phải rút quân ra khỏi Campuchia vào năm 1989. Các nước Bắc Âu, Liên Hiệp Âu Châu (LHAC), Úc, Nhật Bản hài lòng và quyết định tái viện trợ cho Việt-Nam. Sáu năm sau, Hoa-Kỳ bãi bỏ cấm vận chống Việt-Nam. Vào năm 1995, Việt-Nam và Hoa-Kỳ tái lập bang giao. Cùng năm Việt-Nam Việt-Nam chính thức gia nhập Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Countries - ASEAN).
Sau khi Đông Âu xụp đổ và Việt Nam rút ra khỏI Campuchia, Việt-Nam được một các nước Tây và Bắc Âu nhẩy vào giúp đỡ. LHAC và Nhật Bản là một trong những tổ chức và quốc gia đầu tư vào Việt-Nam đầu tiên sau chiến tranh. Việt-Nam thực hiện chính sách mở cửa cho phép ngườI Việt hải ngoạI về thăm quê hương tiêu tiền và gửI tiền về giúp gia đình. Một phần vì thế mà chế độ Cộng Sản Á châu không xụp đổ theo các nước Đông Âu.
Văn hóa khác biệt
Nhìn vào bản đồ Á châu, chúng ta nhận thấy yếu tố văn hóa tiềm tàng ảnh hưởng thị hiếu chính trị của các dân tộc mà những nhà xã hội học sẽ cần phảI nghiên cứu thêm. Trong 16 nước Á châu trên đây, tại sao lại chỉ có bốn nước trở thành Cộng Sản ? Giả thuyết cho rằng Khổng giáo đã tạo ra một thứ văn hóa dễ làm cho chủ nghĩa Cộng Sản xâm nhập, sinh sôi, nẩy nở và bám trụ. Ấy thế mà khi đoạt được chính quyền, CSVN cũng như Trung Cộng tìm cách tiêu diệt các tôn giáo kể cả Khổng giáo.
Những chuyện gì xẩy ra trong năm 2001 và những năm kế tiếp?
(1) Luật Đầu Tư, 1987, tu chính: 1990, 1992, 1996, 2000, 2005
(2) Luật Kinh Doanh công bố vào năm 2000 bắt đầu có hiệu lực vào tháng 1, 2001, tu chính 2005.
(3) Thỏa Hiệp Thương Mại Việt-Mỹ ký vào tháng 7, 2000 bắt đầu có hiệu lực vào cuối năm 2001.
(4) Bộ Chính Trị của Đảng CSVN tuyên bố quyết định hội nhập Việt-nam vào nền kinh tế thế giới, 2001.
(5) Việt-Nam gia nhập WTO vào ngày 11-01-2007.
Năm sự kiện này thay đổi cơ cấu kinh tế của Việt-Nam. Kinh tế chỉ huy được chuyển tiếp qua kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng cái đuôi ngày càng phải ngắn lại vì khu vực tư ngày càng phát triển, dân chúng dần dần được buôn bán tự do hơn. Dù Đảng CSVN không muốn, khu vực công ngày càng thu hẹp lại dưới sức ép của thị trường cạnh tranh và luật lệ của WTO và BTA. Đình công ngày càng xẩy ra nhiều hơn.
Vào đầu năm 2007, Việt-Nam đã chính thức được gia nhập WTO. Những điều kiện Việt-Nam đã chấp thuận để trở thành hội viên sẽ buộc Việt-Nam phải cải tổ sâu rộng nền kinh tế quốc gia hơn nữa. Những cải tổ này sẽ giúp tạo một môi trường thuận lợi cho phong trào dân chủ phát triển. Tuy nhiên không có gì bảo đảm rằng những cải tổ này đương nhiên sẽ đem lại tư do dân chủ cho Việt-Nam. Vì vậy sự vận động dân chủ vẫn cần thiết.
Kinh nghiệm về Đông Âu và tiến trình dân chủ hóa ở Việt-Nam trong tình trạng hiện nay
Liệu những kinh nghiệm về Đông Âu vào giai đoạn Cách Mạng Dân Chủ có thể giúp ích gì cho tiến trình dân chủ hóa ở Việt-Nam trong tình trạng hiện nay hay không?
Tình hình ở Đông Âu và Á châu đã được phân tích ở trên cho thấy rõ sự khác biệt sâu sa giữa Đông Âu và Á châu cùng vào giai đoạn cách mạng dân chủ.
Tình hình ở Việt-Nam hiện nay khác hẳn với thời gian cách mạng dân chủ. Việt-Nam nay là một nước tư bản. Dân tương đối được tự do làm ăn buôn bán hơn thời kỳ bao cấp, đời sống dễ thở hơn. Những yếu tố này có lợi cho giới cầm quyền. Tuy nhiên sự chênh lệch giầu nghèo, tham nhũng, bất công xã hội, đạo đức suy đối sẽ ngày càng làm dân chúng bất mãn.
Trong hai thập niên 80-90, kỹ thuật tin học và viễn thông phát triển rất nhanh khiến nhà cầm quyền không thể bưng bít dân chúng hoàn toàn như trước.
Tuy tình trạng Việt-Nam đã thay đổi nhiều trong 20 năm qua, tôi đồng ý rằng một số những nguyên tắc căn bản của Đông Âu vẫn có thể áp dụng được. Theo tác giả bốn áp lực vẫn là (1) phân hóa trong nội bộ của Đảng CS; (2) Đòi hỏi của quần chúng; (3) lực lượng đối kháng; và (4) áp lực quốc tế.
Kinh nghiệm của Đông Âu về tổ chức hạ tầng quần chúng vẫn có giá trị. Đó là những thành phần công nhân (Ba Lan), nông dân (Hung Gia Lợi), sinh viên, và trí thức (Tiệp Khắc).
Trước đây CSVN mang nhiều tính chất giáo điều, cứng ngắc. Ngày nay CSVN biết uyển chuyển để đáp ứng với tình thế mới. Từ rác rưởi, người Việt hải ngoại được tôn lên làm khúc ruột ngàn dậm. Trong khi những lực lượng đối kháng nhất là ở hảI ngoại xem ra không thay đổi bao nhiêu về lập trường, chiến lược và chiến thuật trong hơn 30 năm.
Tôi cũng đồng ý với nhận xét của tác giả là dù uyển chuyền đến đâu, nhưng vì tham quyền cố vi CSVN sẽ không bao giờ sáng suốt để chịu tự nguyện bỏ quyền hành họ đang nắm trong tay như ở các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bulgaria, và Albania.
Vây cuộc tranh đấu đòi dân chủ cần phải tiếp tục. Tác giả kỳ vọng vào bốn thành phần (1) quần chúng ở quốc nội; (2) đảng viên CS phản tỉnh; (3) các lực lượng đảng phái dân chủ; và (4) cộng đồng hải ngoại.
Tác giả nhận định rằng cần kết hợp bốn thành phần này để tạo ra một lực mạnh mẽ. Làm thế nào thực hiện điều này mới là khó trong khi CSVN dùng mọi thủ đoạn gây chia rẽ những người tranh đấu cho dân chủ.
Tôi bi quan hơn tác giả có lẽ vì với tư cách chuyên viên tôi được tự do ăn nói hơn. Tiềm năng của cộng đồng hải ngoại có nhưng chưa được khai triển. Sau hơn ba chục năm đã có một vài tiến bộ, hoạt động hiệu quả hơn. Nhưng khuyết điểm của chúng ta là ô hợp. Khuynh hướng chung vẫn là thích làm những chuyện hình thức, thiếu nghiêm chỉnh, và tự mãn. Một số tổ chức chỉ có tên. Nói chung là lực bên ngoài còn yếu, và lại phân tán.
Mặt khác, tôi lạc quan về đồng bào của chúng ta và những người đấu tranh ở trong nước. Từ Bắc chí Nam, chúng ta đi đâu cũng thấy đồng bào ruột thịt của chúng ta ta thán, kể cả các viên chức trong guồng máy chính quyền, nhất là giới trẻ. Từ vài năm nay người dân khiếu kiện ngày càng đông hơn, công nhân biểu tình ngày càng mạnh dạn. Những người tranh đấu cho dân chủ tự do ngày càng nhiều hơn.
Cuốn “Đông Âu tại Việt-Nam” làm cho chúng ta phấn khởi hơn. May mắn thay, trong chúng ta vẫn có những người dấn thân, làm việc nghiêm chỉnh như tác giả Lý Thái Hùng đã dành ra 10 năm để biên soạn và cho chúng ta cuốn sách này để suy ngẫm.
Cám ơn quý vị và Ban Tổ Chức.
Phụ Bản (xem bảng ở đầu bài)
So sánh kế hoạch chuyển đổI từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường của một số nước Xã HộI Chủ Nghĩa ở Đông Âu và Á châu.
Nguồn: Khai Q. Nguyen, School of Advanced Studies of International Affairs, Johns Hopkins University, Washington-DC, 2003.
http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=7084