Diễn Đàn » Tác giả người ngoại quốc

Rudyard Kipling

0 trả lời, 441 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-20 22:10:37Ct.Ly>

Joseph Rudyard Kipling
sinh ngày 30 tháng 12 năm 1865 tại Bombay (Ấn Độ); bố ông là giáo sư hiệu trưởng trường Nghệ thuật Bombay, một chuyên gia lớn về lịch sử nghệ thuật Ấn Độ; mẹ xuất thân từ gia đình danh giá nổi tiếng ở London, 6 tuổi được gửi sang Anh sống với một gia đình theo đạo Tin Lành. Trong thời gian ở Anh, R. Kipling đã học tại các trường United Service College, Westward Ho, Bideford. Năm 1882 ông trở về Ấn Độ, viết một số truyện ngắn và làm trợ lý Tổng biên tập cho tờ báo Dân thường và lính (Civil and Military Gazette) ở Lahor. Chàng thanh niên đã khiến xã hội sở tại kinh ngạc bởi những ý kiến sắc sảo trước các vấn đề xã hội và kiến thức về đất nước Ấn Độ. Những chuyến đi hàng năm tới thành phố Shimla trong vùng Hymalaya là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời nhiều tác phẩm của nhà văn. Năm 1886 R. Kipling in tập thơ đầu tiên Những bài ca ở bộ với số lượng hạn chế, nhưng sách bán hết ngay nên phải in lại. Năm 1887 ông chuyển sang làm việc cho báo Người tiên phong (Pioneer) ở Allahabad. Truyện ngắn của ông in ở Ấn Độ được tập hợp thành 6 tập sách trong Tủ sách Đường sắt Ấn Độ khá nổi tiếng.
 
Năm 1889 ông du lịch khắp thế giới, viết du ký cho báo. Tháng 10 năm này ông đến London và gần như lập tức trở nên nổi tiếng. Ông bắt đầu chuyển sang phong cách thơ mới của Anh. Năm 1892 ông sang Mỹ và kết hôn với em gái chủ xuất bản người Mỹ U. Balestier, người viết chung cùng R. Kipling cuốn tiểu thuyết Naulahka (1892) nhưng không thành công lắm. Trong 4 năm sống ở Mỹ, R. Kipling đã viết những tác phẩm hay nhất của mình, như Sách rừng (1894) Sách rừng thứ hai (1895). Năm 1896 họ trở về Anh. Theo lời khuyên của bác sĩ, mùa đông nhà văn sang Nam Phi. Trong chiến tranh Anh - Nam Phi (thường gọi là Chiến tranh Boer, 1899-1902) ông làm phóng viên mặt trận.
 
Trên đỉnh cao vinh quang và tiền bạc, R. Kipling tránh công chúng, bỏ qua những phê bình thù nghịch, từ chối nhiều danh hiệu. Năm 1901 ông xuất bản tiểu thuyết Kim - như một lời chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902 ông lui về sống tại một làng quê hẻo lánh ở tỉnh Sussex (Anh) cho đến cuối đời.

Năm 1907 R. Kipling được trao giải Nobel khi đã có trong tay 20 tập sách (trong đó có 4 tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, nhiều tập kí, bài báo...). Ông đến Stockholm nhưng không đọc diễn văn nhận giải. R. Kipling còn được nhận bằng danh dự và phần thưởng của nhiều trường đại học danh tiếng như Oxford, Cambridge, Edinburg, Paris, Athens, Toronto... Đến nửa đời, phong cách của nhà văn có sự thay đổi. Ông bắt đầu viết từ tốn, chín chắn và cẩn thận kiểm tra lại những gì đã viết. Trong Thế chiến I, con trai ông hy sinh, ông cùng vợ làm việc ở tổ chức Hồng Thập tự. Sau chiến tranh ông đi du lịch nhiều, làm quen và kết bạn với nhà vua Anh George V.
Năm 1926, R. Kipling nhận Huy chương Vàng Văn học Hoàng gia Anh quốc. Cho đến cuối đời R. Kipling vẫn tiếp tục sáng tác thơ và truyện ngắn, tuy cường độ sáng tác đã giảm sút. R. Kipling mất vì chảy máu đại tràng vào ngày 18 tháng 1 năm 1936 tại London. Hai ngày sau, bạn của ông - vua George V - cũng băng hà. Tác phẩm tự truyện Vài điều về bản thân được xuất bản sau khi ông qua đời.
 
 
Một số tác phẩm:


BỤI
 

(Những cuộc hành quân bộ)
 

Một - hai - một - hai – ta đi khắp châu Phi
Ngày - đêm - ngày - đêm – khắp châu Phi đường dài
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Chiến trường không miễn thứ cho ai!(1)
 
Bảy - sáu - năm - mười một – hai chín dặm hôm nay
Bốn - mười một - mười bảy – ba hai dặm ngày mai
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
Không- không- không- không – phía trước nhìn thấy ai
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Người - người - người - người – vì bụi điên, mất trí
Chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
Xem- xem- xem- xem – nghĩ điều khác cho rồi
Ô - lạy - Chúa - tôi – như cuồng điên mất trí
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
Đếm - đếm - đếm - đếm – đếm đạn trong dây cài
Nếu - mắt - buồn - ngủ – người trong hàng thức nhé
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
Ta - không - sợ - gì -- đói, khát, đường dài
Nhưng - không - không - không – chỉ một điều tồi tệ
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Và chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
Không - đến - nỗi - nào – với đồng đội ban ngày
Nhưng - khổ - nỗi - đêm – trên bước đường thiên lý
Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
Tôi - đi - qua - địa ngục – sáu tuần và xin thề
ở - đó - không - có – lò thiêu, bóng đêm và quỉ
Nhưng bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
Và chiến trường không miễn thứ cho ai!
 
___________________


(1) Chiến trường không miễn thứ cho ai! (There’s no discharge in the war!) – Câu kết ở mỗi khổ thơ trích từ quyển Ecclesiastes (Truyền đạo) của Kinh Cựu ước: “There is no man that hath power over the spirit to retain the spirit; neither hath he power in the day of death; and there is no discharge in the war…" (Chẳng có ai cai trị được sinh khí để cầm sinh khí lại; lại chẳng có ai có quyền về ngày chết; trong khi tranh chiến chẳng có sự miễn thứ… Ecclesiastes 8:8). Câu này trong Kinh Thánh đã đi vào những khúc quân hành và Kipling nhắc lại theo nghĩa đen trần trụi: “Chiến trường không miễn thứ cho ai”.




BÀI THƠ ĐÔNG – TÂY
 

Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử
Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi
Khi hai người đàn ông lực lưỡng trên đường biên mặt đối mặt không thôi.
 
Kamal cùng với hai mươi người chạy ra vùng đường biên nổi loạn
Trộm con ngựa cái của ngài đại tá - con ngựa của ngài là niềm kiêu hãnh.
Kamal bắt con ngựa từ trong chuồng giữa buổi hoàng hôn
Quay những móng sắt dưới chân, nhảy lên ngựa phóng ra đường.
Khi đó con trai ngài đại tá kêu lên – chàng là đội trưởng(1):
"Chẳng lẽ mọi người không có ai biết ở đâu tên kẻ trộm?"
Thì Mohammed Khan, con trai của Ressaldar(2) nói rằng:
"Nếu có ai biết con đường trong sương thì biết nơi hắn dừng chân.
Hắn phóng về Abazai(3) buổi hoàng hôn rồi về Bonair đó
Phải đi qua Fort Bukloh, đường khác không hề có.
Và nếu ông đi qua Fort Bukloh thì ngựa phóng còn nhanh hơn cả chim bay
Chúa phù hộ cho ông thì đuổi kịp nó ở khe núi Jagai.
Nhưng nếu như nó đã đi qua khe núi Jagai thì hãy quay về ngay lập tức
Ở đó nguy hiểm vô cùng, người của Kamal đông nghịt.
Bên phải là vách đá, bên trái cũng là vách đá và những bụi gai
Nghe sột soạt tiếng vũ khí nhưng chẳng nhìn thấy người".
Thế là vội vàng lấy con ngựa ô của mình – con trai ngài đại tá
Như cái miệng của chuông, địa ngục trong tim và cái đầu như giá treo cổ.
Con trai ngài đại tá phóng về Fort và người ta gọi chàng dừng chân
Nhưng ai đuổi theo kẻ trộm, người ấy nghỉ không cần.
Chàng phóng về Fort Bukloh, như chim bay, ngựa lướt
Một khi chưa thấy con ngựa của cha ở hẻm núi Jagai lòng chưa yên được
Một khi chưa thấy con ngựa của cha và Kamal cưỡi trên lưng
Và khi nhìn thấy tròng mắt của nó chàng rút súng, bật khoá nòng
Chàng bắn một phát, bắn hai phát, và đạn réo lên trong bụi
"Bắn như lính xem nào, ta xem mày đi ra sao” – Kamal nói.
Từ hẻm núi Jagai một bầy quỉ bụi bay ra
Con ngựa ô bay như hươu nhưng ngựa cái như con sa-moa
Con ngựa ô cắn vào cái hàm thiếc và ngựa ô thở dốc
Nhưng ngựa cái lướt nhẹ nhàng như cô gái khoe đôi tất
Bên phải là vách đá, bên trái cũng lại là vách đá và những bụi gai
Ba lần rút súng lên khoá nòng nhưng chẳng nhìn thấy ai người
Mảnh trăng non bị xua khỏi bầu trời và bình minh đánh vào móng guốc
Ngựa ô như con bò bị thương, còn ngựa cái như con đama nhẹ nhàng bay lướt
Ngựa ô vấp vào đống đá bên đường và rơi tõm xuống sông
Kamal dừng ngựa của mình, quay lại kéo người cưỡi ngựa lên
Và lấy khẩu súng từ tay chàng trai - đây không phải là lúc tranh đấu
"Tao quá tốt với mày – Kamal kêu lên – mày đuổi theo tao chậm quá.
Ở đây hai mươi dặm không tìm ra vách đá và chẳng có bụi cây nào
Nhưng nếu quì gối đầu hàng thì người của ta chẳng giết mày đâu.
Nếu tay ta nâng dây cương lên rồi đột nhiên ta hạ
Thì bầy chó rừng sẽ tiệc tùng đêm nay rất vui vẻ
Và nếu ta cúi đầu trên ngực rồi ta lại ngẩng cao đầu
Thì bầy diều hâu sẽ ăn no, không nhấc nổi cánh bay đi đâu”
Con trai ngài đại tá trả lời nhẹ nhàng: "Sẽ làm mồi cho chim và thú
Nhưng ngươi hãy tính xem, cái giá cho bữa tiệc kia ngươi phải trả
Nếu cả một nghìn tay kiếm sẽ đến đây để lấy xương ta về
Thì không chừng kẻ ăn trộm ngựa sẽ phải trả nhiều hơn kia.
Ngựa của họ sẽ giẫm nát mùa màng, họ sẽ thu hết thóc
Họ đốt hết những mái nhà tranh, sẽ giết cho không còn gia súc
Hãy nghĩ xem, với ngươi chẳng đáng gì, nhưng anh em sẽ không còn lại gì đâu
Chó và chim cũng một loài – cứ gọi chó với diều hâu
Nhưng nếu cái giá quá cao, anh em, mùa màng, gia súc
Thì trả lại con ngựa cái cho ta, đường quay lại ta tìm được”.
Kamal nắm bàn tay chàng trai và bốn mắt nhìn vào
"Đừng nói gì về chó, khi chó sói và chó sói gặp nhau
Dù đồ ăn thú vật cho ta, nếu ta làm cho mày điều ác
Ta không ngăn, nếu mày thích đùa cợt cùng cái chết".
Con trai ngài đại tá trả lời: “Ta giữ danh dự của ta
Tặng con ngựa cái cho mày để đi cùng với ngựa ô".
Con ngựa cái chạy đến bên người chủ, chúi mũi vào trong ngực
"Ta là hai thằng đàn ông lực lưỡng- Kamal nói – mà nó yêu người trẻ nhất
Thì cứ để nó mang đi món quà tên trộm – dây cương có ngọc lam
Đôi bàn xỏ chân bằng bạc và cả chắn ngựa, yên cương".
Con trai ngài đại tá rút súng và trao cho Kamal khẩu súng:
"Ông lấy một của kẻ thù – còn cái này là trao cho ông người bạn".
Kamal nói chân thành: "Máu trả bằng máu, quà sẽ trả bằng quà
Bố anh phái con trai đuổi theo ta, bây giờ ta gửi con trai của mình về với ông ta".
Nói rồi Kamal huýt gió gọi con trai của mình từ vách núi đá
Và cậu con trai chạy như con nai rừng, có mặt ngay tại chỗ
"Bây giờ, đây là người chủ của con – anh ta là lính Hoàng gia
Con sẽ là tấm lá chắn chở che, là cánh tay trái của anh ta
Cho đến một ngày cha còn hoặc là cái chết kia chưa đến
Thì cuộc đời của con hãy gắn bó với người đội trưởng
Và con sẽ ăn cơm của Nữ Hoàng,(4) kẻ thù của Người là kẻ thù của con.
Và sẽ dẹp ổ loạn của cha để giữ gìn yên ổn đường biên
Và con sẽ là người lính trung thành, vinh quang con có được
Có thể người ta thăng chức tước cho con, còn cho cha roi vọt".
Họ cùng nhìn vào mắt nhau và cảm thấy run run
Rồi họ mang muối với bánh mì để cùng hẹn ước, thề nguyền
Họ thề với nhau kết nghĩa anh em rồi cùng khắc lên trên vạt đất
Họ khắc trên cán gươm tên Chúa Trời của những điều kì diệu nhất.
Rồi con trai ngài đại tá cưỡi ngựa cái, con trai Kamal cưỡi ngựa ô
Cùng phóng về nơi trước đây đến chỉ một người – Fort Bukloh.
Và khi đến gần trại lính thì họ gặp một rừng lửa gươm sáng chói
Ai cũng muốn con dao của mình nhuốm đầy máu người dân miền núi.
"Dừng lại – con trai ngài đại tá kêu lên – dừng lại, bỏ vũ khí xuống ngay!
Đêm qua ta đuổi theo thằng kẻ trộm đường biên và ta dẫn về một chiến hữu đêm này!"
 


Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử
Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi
Khi hai người đàn ông lực lưỡng trên đường biên mặt đối mặt không thôi.
 

__________________


(1) Đây là bài thơ rất nổi tiếng của Kipling. In lần đầu ở tạp chí MacMillan’s Magazine, tháng 12-1889, sau đó in trong tập thơ Barrack – Room Ballads, 1892. Câu chuyện trong bài thơ dựa trên thực tế ở vùng biên giới tây-bắc Ấn Độ thuộc Anh (khi đó còn bao gồm cả Pakistan và Băng-la-đét). Ấn Độ là một trong những nền văn văn minh đầu tiên của loài người. Ở đây có một sự va chạm và tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Đông – Tây. Đây cũng là một vấn đề lớn của thế giới hiện đại. Cho đến bây giờ chưa có ai có thể nói chính xác rằng Đông – Tây đã hội nhập đến mức nào, đã gặp gỡ đến đâu nhưng hễ có vấn đề gì là người ta lại thích trích dẫn Kipling: "Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ…" Cũng cần nói một điều rằng Kipling chưa bao giờ có ý hạ thấp hay phủ nhận những giá trị của văn hóa phương Đông. Ông cố gắng tìm hiểu những qui luật bên trong của văn hóa phương Đông và tìm cách giải mã nó. Tiểu thuyết hay nhất của Kipling: Kim, 1901 là một tác phẩm về điều này. Nhân vật chính do dự giữa những giá trị văn hóa Đông – Tây và cuối cùng đã chọn phương Tây nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn nhớ phương Đông. Bài thơ Đông – Tây cũng là một minh chứng cho điều đó.

(2)Guides: đội kị binh tuần tiễu của người Anh ở biên giới Ấn Độ - Afghanistan xưa (ngày nay là Pakistan và Afghanistan).
(3)Ressaldar: sĩ quan chỉ huy trong những đơn vị tuần tiễu là người bản xứ.
(4)The Abazai… Bonair… Fort Bukloh… Tongue of Jagai – những địa danh ở vùng biên giới Ấn Độ – Afghanistan.

(5)White Queen: Nữ hoàng Anh Victoria.



NẾU(1)
 
Nếu con có thể bình tâm khi mà tất cả
Hết thảy kinh hoàng và đổ lỗi cho con
Nếu con vẫn vững tin khi mọi người nghi kỵ
Mặc ai đó không tin nhưng con vẫn vững lòng
Nếu con biết đợi chờ và kiên nhẫn chờ trông
Không lấy điều dối gian đáp lại điều gian dối
Hoặc bị căm ghét mà không căm ghét lại
Không nói những lời khôn, không ra vẻ thánh thần.
 
Nếu con mơ ước mà không để ước mơ làm chủ đời con
Nếu con có thể suy tư mà không lấy nó làm mục đích
Nếu cả Thành công, Thất bại trên đường đời con gặp
Mà vẫn như nhau - đối xử một tấm lòng
Nếu con biết nghe sự thật những lời của con
Bị kẻ bất lương làm bẫy lừa kẻ dại
Hoặc nhìn đời con đổ vỡ, đành làm lại
Và con cúi xuống dựng nên với công cụ đã mòn.
 
Nếu con dám đem những đồng vốn của mình
Đổ hết vào một trận ăn thua úp ngửa
Đành làm lại từ đầu vì đã mất tất cả
Mất mát của mình không một chút thở than
Nếu con ép được con tim, thớ thịt đường gân
Phục vụ cho mình để giành mục đích
Và cố níu giữ, dù chẳng còn sức lực
Nhưng ý chí vẫn đòi: "Hãy giữ vững lòng tin!".
 
Nếu con giữ tư cách khi nói chuyện với mọi người
Hay khi ngồi với Vua – thường dân không gián đoạn
Nếu không để thiệt cho mình – dù với thù hay bạn
Không còn để ai nợ nần hay còn nợ gì ai
Nếu mỗi phút giây con có được trong đời
Không để phí hoài mà luôn luôn đặt trên đường chạy
Thì thế giới này sẽ là của con, cùng tất cả những gì trong đấy
Và – quan trọng hơn – con trai, con là một Con Người!
 
____________


 
(1)Bài thơ này in lần đầu ở tạp chí The American Magazine, tháng 10- 1910, sau đó in trong truyện ngắn Brother Square – Toes của tập truyện Rewards and Fairies, 1910.Cuối thế kỷ XX, nghĩa là chỉ mới đây, Đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh. Có hàng nghìn người tham gia và kết quả là bài thơ này được chọn nhiều nhất, mở đầu cho tập Những bài thơ hay nhất của nước Anh. Nội dung và ý nghĩa của bài thơ có vẻ đã rõ ràng, tưởng không có gì phải giải thích thêm nhưng sự đời cái gì đã hay, đã nổi tiếng thì người ta càng hay trích dẫn, mô phỏng mà trích dẫn cũng theo nhiều vẻ khác nhau. Nhà văn Anh, Richard Aldington (1892-1962) trong tiểu thuyết nổi tiếng Cái chết của một anh hùng (Death of a Hero, 1929) viết về "thế hệ mất mát" trong chiến tranh Thế giới I đã trích dẫn Kipling để ca ngợi tính cứng rắn của người lính ngoài mặt trận, ca ngợi những ai biết chém giết mà không hề run sợ, và chỉ khi đó “… con trai, con là một Con Người!" Nhà đạo diễn người Anh Lindsay Anderson (1932-1994) cũng đã dùng tên bài thơ để đặt tên cho một bộ phim nổi tiếng Nếu (If, 1968), giải thưởng Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes, chứng minh rằng sự giáo dục theo những chuẩn mực của Kipling đôi khi cho kết quả ngược lại… Đấy chỉ là hai ví dụ tiêu biểu nhất trong văn chương và điện ảnh thế giới cho thấy bài thơ mới đọc qua có vẻ tất cả đều rõ ràng, thực ra vẫn ẩn giấu bên trong những ý nghĩa sâu xa mà một vài bản dịch chưa thể nào lột tả hết được…

Dù sao, dù người đời có trích dẫn theo nhiều vẻ khác nhau càng cho thấy một điều là bài thơ này có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội phương Tây và đã trở thành bất tử. Cuối cùng xin dành một đôi dòng về đối tượng của bài thơ này – con trai của Kipling chết năm 1915 ở mặt trận nước Pháp. Cú sốc này Kipling đã không thể hồi phục cho đến hết đời.
 


MẸ CỦA CON

Nếu con bị chết treo trên vách núi
Mẹ của con, ôi mẹ của con!
Con biết rằng tình ai theo con mãi
Mẹ của con, ôi mẹ của con!
 
Nếu con bị đắm chìm trong biển cả
Mẹ của con, ôi mẹ của con!
Con biết rằng ai sẽ tuôn dòng lệ
Mẹ của con, ôi mẹ của con!
 
Nếu con bị đày đọa cả thể xác, tâm hồn
Con biết ai cầu cho con bình an vô sự
Mẹ của con, ôi mẹ của con!

BÀI CA GỬI NGÀI MITHRAS(1)
 
(Quân đoàn 30, năm 350)
 

Mithras, thần buổi sớm và chúng tôi thổi kèn
Rôma cao hơn mọi quốc gia còn Ngài trên tất cả!
Chúng tôi lại lên đường khi đã điểm danh xong

Mithras cũng là lính, hãy cho chúng tôi sức khỏe!
 
Mithras, thần buổi trưa, cây cỏ bơi trong cái nóng
Mũ sắt đội trên đầu, xăng-đan rát bàn chân
Trong giờ giải lao – những đôi mắt mơ màng
Mithras cũng là lính, hãy giữ chúng tôi theo lời thề nguyện!
 
Mithras – vị thần của buổi chiều tà xế bóng
Ngài bất tử đi xuống từ trời rồi lại đi lên
Giờ phiên gác đã xong, bên chén rượu u buồn
Mithras cũng là lính, hãy giữ chúng tôi trong lành đến sáng!
 

Mithras, thần nửa đêm, ở đây con bò đã chết
Những đứa con của ngài trong bóng đêm. Những vật hy sinh
Ngài tạo ra nhiều con đường. Tất cả dẫn về ánh sáng quang vinh

Mithras cũng là lính, hãy dạy cho chúng tôi biết chết!

______________


(1)Mithras (Mithra) – thần mặt trời, thần của sự hoà thuận trong kinh Avesta. Mithra bảo vệ những quốc gia trung thành với hiệp ước và trừng phạt những ai vi phạm. Sự sùng bái Mithra rất phổ biến ở Đế chế La Mã những thế kỷ đầu sau CN, đặc biệt là trong quân đội.




BẢN TÌNH CA CỦA NÀNG HAR DYAL

Một mình em trên mái nhà nhìn về phương bắc
Trông những vì sao lấp lánh giữa trời xanh
Trời phương bắc phản chiếu bước chân anh
Người yêu hãy quay về hoặc là em sẽ chết.
 
Khu chợ nhỏ dưới chân em tĩnh mịch
Đang ngủ say sưa những chú lạc đà
Những chú lạc đà, những kẻ bị bắt tù
Người yêu hãy quay về hoặc là em sẽ chết.
 
Vợ của cha càng ngày càng cay nghiệt
Em còng lưng làm việc suốt ngày đêm
Nước mắt trào ra, em đau khổ, em buồn

Người yêu hãy quay về hoặc là em sẽ chết.
 

LỜI THỈNH CẦU
 

Nếu như bạn yêu mến
Những câu chuyện của tôi
Cho tôi yên đêm này
Nơi sau này bạn đến.
 

Ý nghĩ về người chết
Chỉ trong phút giây thôi
Bạn hãy tìm trong sách
Tôi gửi lại cho đời.
Đăng nhập để trả lời
0