Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đợi Chờ - John Le Carré 🔒

57 trả lời, 6.708 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 23:00:09Ct.Ly>
Chương 15
 
Đánh máy: Only_want_love
 
Chương 15
 
Katia đã mượn chiếc xe Lada của Volodia để dùng trong đêm ấy. Barley phải đợi nàng lúc 21 giờ chiếc Lada đột ngột ngừng lại ngay chỗ Barley đang đứng đợi.
- Đáng lẽ anh không nên đòi đi với em như thế này. – Katia nói.
Cửa sổ của các ngôi nhà hai bên đường có ánh đèn chiếu sang, nhưng đường sá đã vắng người. Thỉnh thoảng bàn tay của ông và nàng chạm nhẹ vào nhau, thỉnh thoảng hai người nắm tay nhau siết chặt. Trong gương chiếu hậu, Barley quan sát những chiếc xe chạy theo ở phía sau, nhưng không vượt qua. Katia rẽ trái, các xe kia vẫn không vượt qua.
Nàng không nói gì nên ông cũng im lặng. Ông tự hỏi, không biết bằng cách nào người đàn bà đã có được các giác quan biết chỗ nào có thể nói chuyện và chỗ nào phải im lặng. Và ông nhủ thầm: “Bây giờ là lúc mình phải biết rằng các chiếc xe và các bức tường cũng có lỗ tai như con người”.
Chiếc Lada chạy đến một bãi đậu xây dựng còn dở dang.
- Anh hãy nghĩ trong đầu rằng anh là y sĩ, - nàng khẽ dặn chàng khi hai người đối mặt nhau ngang qua mui xe. Anh phải làm bộ rất nghiêm trang, nghe không.
- Tôi là y sĩ, - Barley nói rất nghiêm trang.
Cả hai người đều không nói đùa.
Họ tiến bước rất thận trọng giữa những vũng nước phản chiếu ánh trăng lưỡi liềm đến một lối đi có mái che bằng thạch ma không đáy. Lối đi ấy dẫn đến một cái cửa đôi. Barley bắt đầu ngửi thấy mùi của nhà thương: mùi thuốc sát trùng, mùi cồn chín mươi độ. Nàng kéo chàng đi nhanh dọc theo một hành lang và đi ngang qua trước một cái quầy bằng đá cẩm thạch. Trong hành lang tiếp theo, có những bóng người rũ xuống trên những chiếc ghế nhà bếp dọc theo tường.
Phòng đợi làm cho người ta có cảm tưởng ở trong một hầm mộ tối tăm, một đầu là một cái bục và đầu kia là những cánh cửa tự bật đóng lại mà ở phía sau của là phòng vệ sinh. Có ai đó đã treo một bóng đèn tạm bợ để chỉ đường, và với ánh sáng lờ mờ của bóng đêm ấy, Barley chợt thấy một phòng thay áo trống trơn sau một cái quầy bằng gỗ và những cái cáng thương.
Katia ngồi xuống một cái ghế dài, Barley ngồi xuống cạnh nàng.
- Luôn luôn ông ta cố gắng đúng giờ, nhưng đôi khi cũng bị chậm trễ đôi chút, - Katia nói.
- Anh có thể nói chuyện với ông ta không?
- Không, ông ta sẽ tức giận đấy!
- Vì sao?
- Nếu bọn họ nghe nói tiếng Anh trong một đường dậy nội thành, lập tức họ sẽ chú ý ngay. Đó là lẽ tất nhiên.
Một người đàn ông đầu băng bó, đẩy cửa và đi nhầm vào các phòng vệ sinh dành cho nữ. Hai người đàn bà từ trong đó chặn ngay ông ta lại và chỉ chỗ cho ông ta. Katia mở ví lấy ra một quyển sổ tay và một cây bút máy.
- Ông ta sẽ gọi vào lúc 22 giờ 40, - nàng nói. – Ông ta sẽ không nói lâu. Vì như thế là thiếu cảnh giác, ngay cả trên một đường dây bảo đảm.
Nàng đứng lên và đi đến máy điện thoại, cúi xuống để luồn qua dưới cái quầy bằng gỗ.
Ông ta sẽ nói với nàng rằng ông ta yêu nàng hay không? Barley tự hỏi: “Anh yêu em đến nỗi làm cho tính mạng anh lâm nguy?”
Nàng đứng nghiêng nghiêng, mắt đăm đăm nhìn các cánh cửa tự động bật qua bật lại của dãy phòng vệ sinh. Nàng đã thấy một điều gì đáng nghi chăng? Nàng đã nghe một tiếng gì đó chăng? Hay là bây giờ những ý nghĩ của nàng đã dành tất cả cho Yakov rồi?
Đó là thái độ của nàng khi nàng đợi ông ta, Barley nghĩ thầm, thái độ của một người kiên nhẫn chờ đợi cả một ngày.
Tiếng chuông rè rè của cái máy điện thoại đầy bụi bặm vang lên. Một giác quan thứ sáu đã dẫn dắt Katia đến với ông ta ở đầu kia đường dây và tiếng chuông chưa kịp vang lên lần thứ hai, thì nàng đã bắt máy. Một tay cầm ống nghe, một tay áp vào lỗ tai để nghe cho rõ tiếng của người tình. Barley chỉ nghe được Katia lặp đi lặp lại “vâng” “vâng” một cách ngoan ngoãn.
“Ông hãy để cho cô ta được yên!” Barley giận dữ nghĩ thầm. “Tôi đã nói có nói với ông như thế rồi, và tôi sẽ nhắc lại với ông cuối tuần này khi gặp lại ông. Ông hãy để cho cô ấy được yên, ông đừng để cho cô ấy dính dấp vào tất cả các chuyện này. Ông hãy tiếp xúc với người mặc đồ xám hay với tôi!”.
Quyển sổ tay và cây bút máy để trên một cái kệ, nhưng Katia không đụng đến. Vâng, vâng, vâng. Rồi lại: Vâng, vâng, vâng. Barley thấy Katia so vai rụt cổ, duỗi dài lưng như thể để hít thật sâu hay để hưởng một giây lát hạnh phúc thân mật. Nàng áp mạnh ống nghe vào tai hơn nữa. Vâng, vâng. Và vì sao không nói một câu: Không? Không, tôi sẽ không chấp nhận anh đâu!
Barley thấy Katia đưa bàn tay sờ vào cột trụ, cac ngón tay chìa ra, bấu vào cột trụ. Khi nàng xoay người lại, Barley nhìn mặt nàng. Ôi, sao lại thế này? Nét mặt nàng trông rất thảm thương, vẻ nhìn ngây dại.
Thân hình nàng bắt đầu tuột xuống dọc theo cột trụ, như thể nàng không còn có thể đứng thẳng được nữa. Trước tiên hai đầu gối quỵ xuống rồi toàn thân nàng từ từ tuột xuống, nhưng Barley đã kịp nhào tới để ôm choàng lấy nàng. Ông giật lấy ống nghe điện thoại mà nàng còn nắm chặt trong tay, đưa lên tai và kêu: “Goethe!”, nhưng không còn nghe gì nữa. Ông cúp máy.
Đến khi hai người đã bắt đầu đi được, thì Katia lại có một phản ứng dữ dội chống lại Barley. Chẳng nói chẳng rằng, nàng nắm chặt tay lại đấm vào Barley, nện cho ông một cú đích đáng vào mặt, làm cho ông hoa mắt một lát. Ông nắm lấy hai bàn tay nàng, kéo nàng ra bên dưới cái quầy gỗ, và phải dùng vũ lực lôi nàng ra khỏi bệnh viện, đến tận bãi đậu xe. “Đây là một người bệnh có tính cách thất thường, Barley lẩm nhẩm trong miệng, sẵn sang để giải thích nếu cần. Tôi là y sĩ điều trị của bà ta”.
Một tay vẫn ôm Katia, Barley dùng tay còn lại, dốc ngược cái ví tay của nàng trên mui xe, tìm được chìa khóa, mở cửa băng trước, đẩy Katia vào trong xe, rồi vội vã chạy sang phía bên kia và ngồi vào chỗ tài xế.
- Em về nhà, - nàng nói.
- Anh không biết đường.
- Anh hãy đưa em về nhà em, -nàng lặp lại.
- Katia, anh không biết đường. Em phải hướng dẫn cho anh, em có nghe anh nói không?
Ông ôm lấy vai nàng và nói tiếp:
- Em hãy ngồi thẳng dậy nào. Hãy nhìn qua cửa kính. Ôi, chiếc xe chết bằm! Số de của chiếc xe cà tang này ở đâu?
Ông sờ soạng một cách nóng nảy cần số xe, cái cần số mà nàng đã nắm lấy và cài vào số de một cái rẹt.
- Được rồi, bây giờ đến lượt các đèn pha, ông nói.
Barley đã tìm ra cái núm tay, nhưng để Katia bật đèn thay cho mình, làm như thế để buộc nàng phải phản ứng. Khi xe vừa ra khỏi bãi đậu, Barley phải cho xe đâm chệch sang bên để tránh một chiếc xe cứu thương chạy với tốc độ tối đa. Nước bùn bắn tung tóe lên kính chắn gió. Vì không phải là mùa mưa, Katia đã không gắn các que gạt nước. Barley buộc phải cho xe ngừng lại, nhảy xuống lấy khăn tay lau kính, trước khi lên cầm tay lái lại.
- Rẽ trái, - nàng ra lệnh. – Cho xe chạy nhanh hơn nữa.
- Nhưng kịp thôi mà.
- Đường một chiều, nhanh lên.
Nàng im lặng, và nhất định không nói gì them nữa. Ông đưa cho nàng chai rượu uýt-ky, nhưng nàng không cầm. Ông cho xe chạy chầm chậm, tảng lờ những lời thúc giục của nàng. Trong kính chiếu hậu, ông thấy đèn pha của những chiếc xe đuổi theo sau, nhưng vẫn giữ một khoảng cách. Đó là Wicklow, ông nghĩ thầm. Đó là Paddy, Cy, Henziger. Nét mặt thất thần của Katia thỉnh thoảng thấy rõ khi xe chạy qua dưới ánh sáng đèn đường. Nàng có vẻ như nhìn một ảo ảnh nào đó do nàng tưởng tượng ra. Nàng cắn nắm tay của ông.
- Hãy nói cho anh biết rẽ trái hay rẽ phải?
- Phải. Nhanh hơn nữa.
Sau khi rẽ phải, ông cho xe chạy được một lát thì nàng lại kêu to:
- Rẽ.
- Rẽ phải hay rẽ trái?
- Rẽ trái.
Nàng la hét để ra lệnh cho ông. Và sau nhưng tiếng la hét là nước mắt, là những tiếng nấc khóc não nề, chỉ chấm dứt khi xe đã về đến trước căn hộ của nàng. Ông cúi xuống mở cửa cho nàng. Ông muốn đỡ nàng xuống xe, nhưng nhanh hơn ông, nàng đã nhảy ra, lảo đảo chạy đến cửa chung cư. Núp trong bóng tối, một gã trung niên mặc áo bờ lu dông da muốn chặn nàng lại, nhưng Barley đã kịp chạy tới, nên anh chàng kia vội vàng tránh ra để cho hai người đi qua. Không đợi thang máy, hay có thể nàng đã quên không biết bao nhiêu là tầng cấp, đến nỗi Barley bắt đầu sợ Katia đã quên căn hộ của nàng ở tầng nào chăng. Cuối cùng nàng đã dừng lại, lấy chìa khóa trong ví tay ra mở cửa vào trong nhà, nàng chạy ùa vào phòng hai con của nàng, quỳ gối xuống, thở dốc, ôm chặt hai đứa trẻ đang ngủ.
 
*
 
Một lần nữa, chỉ có phòng ngủ của nàng là hiện thực đối với Barley. Barley dẫn nàng vào trong đó, vì ngay cả trong khoảng không gian chật hẹp này, hình như nàng cũng không còn tìm được đường để đi. Nàng ngồi trên giường rất cẩn thận, như thể nàng đã quên không biết giường cao bao nhiêu. Barley ngồi xuống bên nàng, quan sát gương mặt thất thần của nàng, quan sát gương mặt thất thần của nàng, đôi mắt nhắm nghiền của nàng hé mở một chút rồi nhắm lại. Ông không dám đụng đến nàng, vì nàng quá căng thẳng, quá khiếp đảm và quá xa cách đối với ông. Nàng thở dài thườn thượt. Ông gọi tên nàng, nhưng nàng có vẻ như không nghe. Ông liếc nhìn quanh trong phòng. Một tấm ván nhỏ gắn vào tường để dùng làm bàn trang điểm và đồng thời cũng dùng làm bàn viết. Ở giữa những bức thư cũ, có một tấm giấy rời. Barley lấy một khung ảnh lồng kính treo trên đầu giường xuống và đặt nó lên đầu gối mình. Là một điệp viên đã được huấn luyện kỹ càng, Barley tách một tờ ra khỏi tập giấy, đặt nó lên trên cái khung ảnh lồng kính, dùng bút viết mấy chữ:
- Hãy thuật lại đi!
Ông đưa tờ giấy cho nàng xem. Nàng xem một cách thờ ơ. Một cách vô thức, nàng tựa người vào ông. Áo nịt ngực của nàng đã trật ra khỏi vai, và tóc xõa ra rối bù. Ông viết một lần nữa.
- Hãy thuật lại đi!
Rồi hai tay ôm vai nàng, đôi mắt đắm đuối yêu đương một cách tuyệt vọng, ông nhìn nàng với vẻ cầu khẩn thiết tha. Ông đặt khung ảnh lồng kính trên đầu gối Katia và lấy ngón tay gõ gõ tờ giấy, nàng ngắm nhìn mấy chữ trên tờ giấy, nấc lên một tiếng xé ruột xé gan trước khi viết:
- Họ đã bắt Yakov rồi!
Barley viết:
- Ai đã nói với em điều đó?
Katia viết:
- Yakov.
- Ông ta đã nói những gì?
- Thứ sáu ông ta đến Matxcơva. Ông ta đã hẹn gặp anh tại nhà Igor tối thứ sáu lúc 11 giờ. Ông ta đem đến cho anh những thông tin và sẽ trả lời các câu hỏi của anh. Bảo anh phải chuẩn bị một bản kê các câu hỏi thật chi tiết. Đây sẽ là lần cuối cùng ông ta muốn anh cho ông ta biết về quyển sách, thời điểm sẽ xuất bản v.v…
- Chính Yakov nói?
Nàng gật đầu
- Vì sao em lại nói rằng ông ta đã bị bắt rồi?
- Ông ta dùng cái tên xấu.
- Cái tên nào?
- Daiil. Theo mật mã, dùng tên Piotr: nếu mọi sự tốt đẹp, dùng tên Daiil: nếu ông ta bị bọn họ bắt.
Ông và nàng chuyền tay nhau cây bút máy rất nhanh. Bây giờ Barley giữ luôn cây bút và viết không ngừng hết câu hỏi này đến  câu hỏi khác.
- Ông ta đã phạm một sai lầm?
Nàng lắc đầu.
- Ông ta đã bị bệnh. Có thể ông ta đã quên mật mã?
Nàng lắc đầu.
- Trước đây không bao giờ ông ta sai lầm?
Lần này nàng nói “không” và chụp lấy cây bút máy, viết lia lịa:
- Ông ta đã gọi em là Maria. Ông ta đã nói: “Alô, Maria đó hả?” Đó là cái tên mà em phải mang trong trường hợp hiểm nguy. Nếu không, thì tên em là Aléna.
- Em hãy viết những gì ông ta nói đi.
- Alô, Maria đó hả? Daiil đây. Bài thuyết trình đã là sự thành công vẻ vang hơn hết trong sự nghiệp của anh”. Ông ta nói dối đấy.
- Vì sao?
- Vì ông ta đã nói với em rằng hễ khi nào ông ta nói ông ta đã thành công vẻ vang hơn hết trong sự nghiệp của ông ta, thì phải hiểu rằng ông ta đã bị bắt và chúng ta không còn phương kế gì để sống được nữa.
Barley đi đến cửa sổ và nhìn xuống đường. Là bạn gái đồng thời là đồng lõa của Goethe, Katia đã bị kết án tử hình như Goethe. Bây giờ còn chưa chết, nhưng nàng sẽ chết lúc nào người ta quyết định tóm cổ nàng.
Barley đứng bên cửa sổ gần một tiếng đồng hồ để suy nghĩ như thế, trước khi trở lại giường của Katia. Nàng nằm nghiêng co người lại trên giường, hai mắt mở thao láo. Ông choàng một tay xung quanh thân thể nàng và kéo nàng áp sát vào ông. Ông cảm thấy người nàng lạnh như đá cẩm thạch, từ từ chịu để cho ông ôm ấp và ghì chặt, trong lúc nàng khóc nức nở, rồi nín thinh như thể nàng sợ bị nghe lén.
 
*
 
Ở Luân Đôn, các tin tức diễn biến một cách đều đặn trên các màn hình. Barley đã rời khách sạn Mej. Còn tiếp. Họ đã đến trạm tàu điện ngầm. Còn tiếp. Họ đã đi ra khỏi bệnh viện. Barley dìu Katia. Còn tiếp. Con người có thể nhầm, nhưng máy điện toán không thể nhầm được. Còn tiếp.
- Nhưng vì sao lại là Barley lái xe? - Ned hỏi.
Sheriton đang trầm ngâm suy nghĩ nên không trả lời, nhưng Bod, đứng ở phía sau Sheriton, có một ý kiến.
- Này Ned, đàn ông không muốn để cho đàn bà lái xe. Thói quen cho rằng đàn bà là phái yếu vẫn đang còn.
- Cám ơn, - Ned trả lời một cách lịch sự.
Clive mỉm cười tán thưởng ý kiến của Bod.
Nhưng Ned lại hỏi.
- Vì sao Barley lại ôm Katia trong vòng tay từ bệnh viện cho đến tận bãi đậu xe?
- Có thể là cô ta đã bị một hạt bụi bay vào mắt, - Sheriton giải thích.
- Và rồi chính Barley lái xe, - Ned nhấn mạnh. - Ông ta không có quyền lái xe ở bên đó, nhưng ông ta đã lái. Ông ta đã để cho Katia lái xe trong suốt cuộc đi chơi dã ngoại cũng như lúc về và cả trong chuyến đi đến bệnh viện. Và đột ngột khi trở về, ông ta lại giành cầm tay lái. Vì sao?
Sheriton nói:
- Thôi được rồi, Ned, thế thì theo ông, Chim Xanh có gọi điện thoại hay không?
Ned suy nghĩ một lát rồi mới trả lời.
- Chắc chắn là có. Nếu không thì Barley và Katia phải chờ đợi chứ.
- Có thể Katia đã nghe được một điều gì chẳng lành, - Sheriton nói - thí dụ những thông tin xấu.
Ned lại hỏi:
- Barley làm cái trò quỷ quái gì trong nhà Katia mà lâu đến như thế? Tất cả công việc của ông ta là hỏi cô ấy giờ và địa điểm Chim Xanh hẹn gặp Barley. Dù sao đi nữa thì ông ta cũng không cần đến hai giờ để làm việc ấy, phải không nào?
- Có thể chàng và nàng có thong dong một chút cũng được thôi, -  tôi nói.
- Nếu chỉ có thế mà thôi, thì làm gì tôi phải lo âu.
- Chắc là Barley còn đang mua một cái nón, - Johnny nói đùa.
- Bây giờ Barley đã rời căn hộ của Katia! - Sheriton kêu lên.
Trên bản đồ thành phố Matxcơva, một chấm đỏ chỉ căn hộ của Katia. Địa điểm hẹn gặp để Barley báo cáo công tác đã được chỉ định cách đó ba trăm mét về hướng đông, nơi góc đông nam của hai đại lộ, được đánh dấu bằng màu xanh lục. Barley phải đi dọc theo lề đường hướng về phía nam và đi chậm đến chỗ đã quy định, làm như thể đang kiếm một chiếc xe taxi. Xe của chúng tôi sẽ dừng lại gần chỗ ông ta đứng. Barley phải cất cao giọng nói cho tài xế biết khách sạn của ông ta và mặc cả giá của cuốc xe với tài xế bằng cách ra dấu.
Đến ngã tư thứ hai, xe phải đổi hướng để vào trong một công trường xây dựng, nơi xe cam-nhông của chúng tôi đậu, tất cả đèn đều tắt hết và tài xế giả vờ ngủ. Nếu thấy có ăngten rađio kéo cao lên, xe chở Barley phải chạy một vòng về phía tay phải và trở lại nơi xe cam-nhông đậu.
Nếu không thấy ăngten thì coi như cuộc hẹn đã bị bãi bỏ.
 
*
 
Bản tường trình của Paddy xuất hiện trên các màn hình lúc 1 giờ sáng, giờ Luân Đôn. Sau đó bản tường trình ấy được phân tích, xem xét một cách kỹ càng. Theo bản tường trình ấy, trước tiên Paddy lấy làm ngạc nhiên về độ chính xác của các sự kiện khi Barley báo cáo công tác.
Paddy cũng lấy làm cảm kích vì Barley tỏ ra hăng hái và tận tụy với nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, báo cáo của Barley khớp với tất cả những sự kiện mà Paddy đã thu thập được từ các trinh sát theo dõi Barley, kể từ khi ông ta và Katia từ trạm tàu điện ngầm đến bệnh viện, rồi ngồi chờ trên một chiếc ghế dài và tiếng chuông điện thoại reo lên nhưng chấm dứt rất nhanh. Barley giải thích rằng Katia đã đứng ngay trước máy điện thoại khi chuông reo. Chính ông ta cũng hầu như không nghe được gì cả. Do đó Paddy không lấy làm lạ rằng Anastasia, người trinh sát chốt tại bệnh viện, cũng đã không nghe được gì cả. Chuông điện thoại vừa mới reo lên là Katia bắt máy ngay, nhanh như chớp.
Cuộc điện đàm giữa Katia và Chim Xanh rất ngắn. Theo Barley, hai phút là tối đa. Chúng tôi cho thêm một điểm tốt. Chúng ta biết rằng Goethe rất ghét nói dài dòng trong khi điện đàm.
Với báo cáo chính xác và rõ ràng Barley thoải mái như một con cá ở trong nước, làm sao sau đó có thể tán thành ý kiến cho rằng đáng lẽ Paddy nên dẫn Barley thẳng đến đại sứ quán, bịt miệng và trói gô ông ta lại rồi tống cổ về Luân Đôn? Tuy nhiên, đó là ý kiến của Clive, và nhiều người đã tán thành.
Chúng ta hãy trở lại với ba điều bí mật làm cho Ned đau đầu: Barley ôm choàng Katia và dìu nàng đi từ bệnh viện đến bãi đậu xe, Barley cầm lái thay cho Katia, và Barley ở lại hai giờ trong căn hộ của Katia trước khi đến chỗ hẹn để báo cáo công tác. Chúng ta hãy tưởng tượng cái cảnh tượng trong xe cam-nhông: Barley cúi xuống trên bàn, ánh sáng chiếu vào mặt. Hai người cầm ống nghe. Barley thì thầm nói vào ống nói, và nói với Paddy.
Cy ngồi trong bóng tối mờ mờ với một cặp ống nghe thứ ba.
- Và rồi, vì quá xúc động, nàng đã bắt đầu run, đứng không vững, - Barley nói. - Suốt cả một tuần, nàng mừng khấp khởi, đợi chờ cú điện thoại ấy. Và bây giờ Goethe chỉ nói chưa đầy hai phút là hết. Nhưng như thế cũng đã đủ đối với nàng. Nghe được giọng nói của người tình, biết được chàng sẽ có mặt tại Matxcơva trong hai ngày nữa. Quá xúc động, nàng đã khóc sướt mướt.
Kể từ đó, mọi sự tiếp diễn một cách tự nhiên. Các lời lẽ dối trá trở thành lôgíc, Barley nói rằng ông ta đã làm hết sức mình để trấn anh Katia, nhưng cô ta ở trong một trạng thái quá xúc động, đến nỗi ông ta phải choàng vai cô ấy, dìu cô ra xe và lái xe đưa cô về nhà.
Dọc đường, cô ta còn khóc đôi chút, nhưng về đến nhà thì cô đã dịu đi. Barley đã phải đun nước sôi để pha cho cô ta một chén trà nóng và cầm tay cô ta cho đến khi chắc chắn cô ta đã hoàn toàn trấn tĩnh.
- Ông đóng vai trò của ông giỏi lắm, - Paddy khen.
Cuối cùng, còn có câu hỏi của Barley, một câu hỏi đã buộc Cy phải ra mặt.
- Danh sách các câu hỏi đâu? Đến khi nào ông mới đưa cho tôi? - Barley hỏi Paddy lúc sắp rời xe cam-nhông.
- Để làm gì? - Cy bước ra khỏi bóng tối và hỏi Barley.
- Để làm gì à? Để, có lẽ tôi cũng nên nghiên cứu sơ qua một chút, phải không nào?
- Chẳng có gì phải nghiên cứu cả, - Cy đáp. - Đó là những câu hỏi trắc nghiệm mà Chim Xanh phải trả lời có hay không. Và điều cốt yếu là ông không nên biết trước một câu hỏi nào hết. Cám ơn nhiều.
- Thế thì lúc nào tôi mới có được bản kê ấy?
- Luôn luôn thì người ta soạn thảo bản kê các câu hỏi ấy càng chậm càng tốt, - Cy đáp.
Còn ý kiến của Cy về tâm trạng của Barley, người ta có thể nhớ câu nhận xét sai lầm một cách kỳ cục này của ông ta: “Đối với người Anh, dù sao đi nữa thì người ta cũng không thể biết được những gì họ nghĩ trong đầu”.
Ít ra trong lần này, Cy đã không hoàn toàn sai lầm.
 
*
 
- Không có một tin tức xấu nào, - Ned nhấn mạnh, trong lúc Brock chiếu lại cuốn băng ghi âm của xe cam-nhông, lần thứ ba, hay lần thứ ba mươi.
Chúng tôi trở về. Rạng đông ló dạng, nhưng chúng tôi quá bực bội, nên không nghĩ đến việc đi ngủ.
- Không có những tin tức xấu. Chỉ hoàn toàn là những tin tức tốt, - Ned lặp lại. “Anh khỏe mạnh. Anh bình an. Anh đã thuyết trình rất xuất sắc. Anh đi máy bay. Chúng ta sẽ gặp nhau thứ sáu. Anh yêu em” và cô ta khóc.
- Tôi, tôi không biết vì sao. - Tôi nói một cách miễn cưỡng. - Còn ông, ông chưa bao giờ khóc vì sung sướng sao?
- Nhưng cô ta khóc đến nỗi ông ta phải dìu cô ta suốt dọc hành lang. Cô ta khóc đến nỗi không còn lái xe được nữa. Và một khi đã về đến nhà, cô ta nhào vào nhà, như thể không biết có Barley ở đó, vì cô ta quá sung sướng về việc Chim Xanh sẽ đến Matxcơva bằng máy bay theo đúng ngày đã định trước. Và Barley an ủi cô ta. Cần thiết phải an ủi cô ta, với tất cả các tin tức tốt đẹp ấy!
Chúng tôi nghe lại một lần nữa tiếng nói được ghi âm của Barley.
- Và Barley rất bình tĩnh, - Ned bình phẩm. - Bình tĩnh một cách hoàn toàn. Không có một chút lo âu nào. “Tuyệt vời, Paddy. Mọi sự đều tốt đẹp. Vì thế mà Katia khóc”. Tốt thôi!
Ned ngồi chễm chệ trong chiếc ghế bành, nhắm mắt lại. Tiếng nói thật thà và trung thành của Barley vẫn luôn luôn phát ra từ cái máy ghi âm. - Barley không còn là của chúng ta nữa rồi! - Ned khẳng định. - Ông ấy đã từ giã chúng ta rồi.
Ned, theo cách của ông ta, cũng đã từ giã chúng tôi. Ông ta đã tổ chức một chiến dịch tuyệt vời. Và bây giờ, nếu tin lời ông ta nói, ông ta chỉ còn việc nhìn nó tiêu tan thành mây khói một cách nhanh chóng.
 
*
 
Do thám là chờ đợi.
Do thám là lo âu.
Do thám là vượt trội chính mình.
Những công thức phù phép của Walter, người đã chết, và của Ned, người còn sống nhưng coi như đã chết, vang dội trong tai của Barley. Người học trò đã học được các phù phép của thầy, nhưng bây giờ còn tỏ ra cao tay ấn hơn cả thầy dạy cho mình. Tất cả những lời dạy bảo của Walter và của Ned tỏ ra rất hữu hiệu. Bây giờ Barley quay lại lừa dối thầy. Tuy nhiên ông ta không phải là một tên bịp bợm. Barley không phải là một tên phản bội. Nhưng ông ta không phí thời giờ để nghĩ đến những sự thống khổ mà Goethe phải chịu dưới địa ngục, nơi mà chắc chắn chính Barley sẽ sớm đến đó để gặp Goethe. “Ta sẽ khóc Goethe khi nào ta có thì giờ”. Barley tự nhủ. “Còn bây giờ đây, chỉ có một công việc đáng kể, đó là mạng sống của Katia mà Goethe đã đưa vào vòng hiểm nguy một cách vô liêm sỉ, đến phút chót mới cố gắng cứu nàng bằng cách thú nhận tất cả những gì ông đã làm.”
Barley lý luận:
Katia biết. Katia biết là Goethe đã sa lưới, đã bị bọn họ bắt rồi. Nhưng họ không biết rằng Katia biết.
Ngoài Katia và Goethe ra, ta là người duy nhất trên cõi đời này biết rằng Katia biết Goethe đã bị bắt.
Katia vẫn luôn luôn được tự do.
Vì sao?
Người ta đã không bắt con của Katia, không bắt Matvei, không lục soát nhà của Katia. Họ đã không áp dụng một phương pháp tế nhị nào dành cho một phụ nữ Nga tiếp tay cho một nhà vật lý học để tiết lộ những bí mật quốc gia cho một nhà xuất bản phương Tây.
Vì sao?
Bởi vì họ không biết rằng chúng tôi biết họ biết.
Thế có nghĩa là họ muốn cái gì khác.
Họ muốn được chúng ta, và muốn được thêm cái gì khác nữa.
Nhưng cái gì khác ấy là cái gì?
Vì sao họ kiên nhẫn chờ đợi mà không ra tay ngay? Đó là một điều bí mật mà ta phải suy nghĩ cho kỹ.
Cuối cùng rồi mọi người cũng phải khai thôi, Ned đã tuyên bố như thế một cách lạnh lùng. Với các phương pháp hiện đại, tất cả mọi người đều phải khai thôi. Vì thế Ned đã khuyên Barley đừng tỏ ra mình là anh hùng nếu bị bắt. Nhưng Barley không còn nghĩ đến bản thân mình nữa. Barley chỉ nghĩ đến Katia.
Mỗi ngày, mỗi đêm liên tiếp sau đó, Barley tính toán trong đầu các nước cờ mà ông phải đi, và như chúng tôi, ông ta chờ đợi cuộc gặp mặt với Chim Xanh vào ngày thứ sáu.
Ngay sau khi ăn điểm tâm xong, Barley đã sẵn sàng để đi dự tiệc rượu bế mạc hội chợ triển lãm sách. Một nhà xuất bản và một gián điệp mẫu mực. Mỗi ngày từ sáng đến chiều, Barley là linh hồn của hội chợ triển lãm.
Goethe, tôi không thể làm bất cứ điều gì để cứu bạn được nữa rồi. Không có một sức mạnh nào ở cõi đời này có thể cứu bạn ra khỏi nanh vuốt của bọn họ được. Katia và hai con của nàng thì có thể được cứu, nếu tất cả mọi người cuối cùng rồi cũng phải cung khai. Nếu Goethe cũng phải cung khai.
Còn về phần ta: không thể nào cứu được nữa rồi.
Goethe đã cho ta lòng can đảm, và Katia đã cho ta tình yêu, Barley thầm nghĩ, kế hoạch dự tính của ông đã thành hình.
Không. Katia đã cho ta cả lòng can đảm lẫn tình yêu. Và nàng đang tiếp tục cho ta cả hai điều ấy.
Và thứ sáu đến, một ngày như các ngày khác, màn hình của chúng tôi hầu như im lặng. Barley chuẩn bị một cách chu đáo để đi dự tiệc rượu trọng thể do Nhà xuất bản Potomac and Blair tổ chức.
Và một ngày bình thường, với một phong thái ung dung giả vờ, Barley hỏi thăm sức khỏe của Katia. Ông tranh thủ gọi điện thoại cho Katia lúc nào có thể gọi được để nói chuyện. Nàng dùng chữ “thích hợp” có nghĩa là nàng vẫn luôn luôn khỏe mạnh, mọi sự đều tốt đẹp đối với nàng. Còn ông thì dùng chữ “một cách thành thực” để đáp lại. Ông và nàng không trao đổi với nhau những vấn đề quan trọng, không nói với nhau về tình yêu, về chết chóc, hay về các nhà thơ lớn của nước Đức, mà chỉ nói:
Em có mạnh khỏe không?
Hội chợ triển lãm sách không làm cho em quá mệt mỏi chứ? Cho anh biết một cách thành thực đi.
Hai đứa con sinh đôi của em mạnh khỏe không?
Matvei vẫn luôn luôn tỏ ra thích thú với cái ống điếu của bác ấy chứ?
Tất cả những điều ấy có nghĩa là anh yêu em, anh yêu em, anh yêu em và anh yêu em một cách thành thực.
Để biết rõ hơn Katia có được bình an vô sự không, Barley nhờ Wicklow đến thăm dò gian hàng của Nhà xuất bản Tháng Mười.
- Phong độ của cô ta hoàn toàn ung dung, - Wicklow mỉm cười cho Barley biết và ông ta bớt lo âu.
- Cám ơn, cám ơn bạn.
Lần thứ hai, Barley lại nhờ vả Henziger đến thăm dò một lần nữa mới yên tâm. Nàng vẫn luôn luôn còn sống, vẫn luôn luôn còn thở, nàng đã thay áo để sẵn sàng đi dự tiệc.
Nhưng trong tất cả thời gian ấy và ngay cả khi trở về thành phố trước các khách mời để có thể đón tiếp họ, Barley không ngớt kiểm điểm trong đầu óc tất cả những sự kiện một cách khách quan.  
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-04 21:10:26Ct.Ly>
Ct.Ly,đã ai nhận chương 8 chưa vậy. Nếu chưa ai nhận thì mình nhận
chương 8 nhé.
 
 
******
 
Vậy Ct.Ly ghi tên cunhoi vào nhé
 
Cảm ơn Cunhoi nhiều
 
Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-05 23:31:51Ct.Ly>
Chương 6 ( cả phần TT)

      Katia giật mình thức dậy với linh tính biết trước hôm nay là ngày N. Trong người thiếu phụ tân tiến này còn có những khuynh hướng mê tín dị đoan.

[/align]     
[/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align] [/align] [/align]Cảm ơn Ihx28 nhiều nhé[/align]Thân ái[/align]
0
Cho mình xin chương 9 lun nha [X(]
0
Sis ơi, em đánh chương 11,12,13 nhé!
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-05 23:46:03Ct.Ly>
Chương 11
 
Những sự kiện của ba ngày tiếp theo sau đó, được nghiên cứu một cách tỉ mỉ như người ta  nghiên cứu các vật còn lại của một chiếc phi cơ bị nạn, nhưng người ta đã không khám phá ra được những khiếm khuyết kỹ thuật.
Sau xì căng đan ở phi cảng, Barley không những đã nguôi giận mà còn vui vẻ là đàng khác. Ngồi trong xe, ông thường mỉm cười với chính mình.

 
Cảm ơn Only_want_love nhiều nhé
 
Thân ái
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 22:57:26Ct.Ly>
Chương 16

Đánh máy: Cunhoi đã nhận
 
Chương 16

Gyorgy. Rất mừng được gặp lại anh! Vrenka đâu rồi?
- Barley, bạn thân mến, xin Chúa hãy cứu chúng con! Cũng như người Ăng-lê các ông chúng tôi không còn tha thiết với cái thế kỷ hai mươi này nữa rồi. Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau chạy trốn nó! Chúng ta lên ta lên đường tối nay, đồng ý? Ông lấy vé nhé?
- Youri! Đây là bà xã mới của ông? Thưa bà, tốt hơn là bà cho ông ta de đi. Ông ta đích thị là con quỷ bất nghĩa, thay đổi vợ như thay đổi quần áo.
- Barley, hãy nghe tôi nói đây. Tất cả bây giờ đều tốt đẹp rồi. Không còn vấn đề gì nữa. Trước kia phải cho là mọi sự đều không ổn. Bây giờ chỉ cần đọc báo để biết chắc chắn là tất cả mọi sự đều tốt đẹp.
- Micha! Công việc tiến triển tốt chứ? Tuyệt hảo chứ?
- Barley! Ôi lạy Chúa! Chiến tranh. Chiến tranh rồi. Chiến tranh rõ ràng rồi. Trước tiên phải treo cổ bọn cận thần già nua bảo thủ và sau đó thắng một trận Stalingart thứ hai.
- Leo! Rất mừng được gặp lại ông. Sonia có mạnh khoẻ không?
- Này Barley, rốt cuộc rồi, ông cũng nghe những gì tôi nói với ông chứ?
Tiệc rượu được tổ chức trong phòng kính lầu một của một khách sạn cổ ở trung tâm thành phố. Những người bảo vệ mặc thường phục được bố trí trên lề đường, và những người bảo vệ khác canh gác trong tiền sảnh, trong cầu thang, và nơi cửa ra vào phòng tiệc.
Potomac Blair đã phát ra khoảng một trăm giấy mời, và bây giờ có khoảng một trăm năm mươi người đã hiện diện. Barley thích đứng gần cửa để đợi Katia.
Một nhà văn người Siberie tên là Andrei đã ngà ngà say, nhất định gặp Barley cho bằng được để thảo luận một vấn đề quan trọng.
- Này Barley, ông sắp xuất bản quyển tiểu thuyết mới nhất của tôi chứ?
- Andrei, thật sự tôi không thể hứa điều gì trong lúc này, - Barley trả lời một cách khôn khéo, mắt vẫn nhìn ra phía cửa. - Người cố vấn văn học của chúng tôi đánh giá cao quyển sách ấy, nhưng thấy nó chưa thích hợp lắm với thị trường nước Anh.
- Ông Barley này, vì ông đã xuất bản quyển tiểu thuyết đầu tiên của tôi, thì nay cho ra lò quyểt thứ hai cũng là điều hợp lý mà!
- Kìa, ông Wicklow, cố vấn văn học của chúng tôi đang đi tới đây đấy. Ông ta sẽ thảo luận với ông về vấn đề này.
Để Wicklow xoay xở với Andrei, Barley vội vã đi tới phía cửa, tươi cười và dang rộng hai tay ra, Natalie, giám đốc thư viện các tác phẩm văn học nước ngoài, xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Bà giám đốc tuy tuổi đã lục tuần, nhưng sắc đẹp còn rất hấp dẫn. Barley ôm hôn Natalie một cách hữu nghị.
- Barley, tối ngay chúng ta sẽ đàm luận về những tác giả nào? – Natalie hỏi. James Joyce (1) Adrian Mole?
Đột ngột, nhiều người đổ dồn tới phía đầu kia của gian phòng. Các quan khách đã được mời dùng tiệc tự phục vụ.
- Nhưng Katia vẫn chưa tới.
- Bây giờ mọi sự đều đơn giản hơn, nhờ chính sách tái cấu trúc, - Natalie tươi cười nói. – Đi nước ngoài không còn là cả một vấn đề nữa. Ông thấy không, bây giờ, các nhà chức trách của chúng tôi, làm tất cả những gì họ có thể làm được, để thi hành một cách nhanh chóng các chỉ thị mới về chính sách mở cửa, và cho chúng tôi đi nghỉ mát ở nước ngoài với con cái của chúng tôi. Nhưng này Barley, ông có vẻ đang đợi chờ ai, phải không? Phải chăng tôi đã già rồi, không còn vẻ hấp dẫn nữa, hay là tôi nói ba hoa làm cho ông phát chán?
Barley buộc lòng không rời con mắt khỏi Natalie nữa.
- Này Barley, con chó của ông mạnh khoẻ không? – Có tiếng ai đó hỏi Barley.
- Đó là Arkadi, một nhà điêu khấc không chính thức, có vị hôn thê không chinh thức đi theo.
- Có gì đâu mà thắc mắc, bạn bè gặp lại nhau, hỏi đùa thế thôi.
Barley quay nhìn theo hướng Arkadi nhìn, và thấy Alik Zapadny ở phía đầu kia gian phòng, đang nói chuyện với Katia với một bộ điệu rất vui vẻ.
- Ở Matxcơva bây giờ người ta ăn nói quàng xiên lắm, - Arkadi nói tiếp, mắt vẫn luôn luôn nhìn đăm đăm Zapadny. – Trong lúc hân hoan, người ta dễ trở thành thiếu cảnh giác. Mùa thu này, các điểm chỉ viên sẽ được mùa bộ thu hơn các nông dân. Ông hãy hỏi ông ta đi. Chắc ông ta biết tất cả những gì xảy ra trong nghề của ông ta đấy.
- Alik, đồ súc sinh, đến khi nào ông mới thôi quấy rầy người đàn bà tội nghiệp này? – Barley vừa hỏi Zapadny vừa ôm hôn Katia, và sau đó mới quàng tay ôm vai Zapadny để hôn ông ta theo lối hữu nghị. - Từ đầu kia gian phòng, tôi đã thấy bà Katia đỏ mặt. Katia, bà hãy coi chừng ông ta. Ông ta nói tiếng Anh cũng gần giỏi như bà, và ông ta nói nhanh hơn. Bà có khoẻ không?
- Rất khoẻ, cám ơn ông, - Katia trả lời, giọng dịu dàng.
Katia mặc chiếc áo dài mà nàng đã mặc khi đến gặp Barley lần đầu tiên tại khách sạn Odessa. Nàng tỏ ra hơi xa cách, nhưng có vẻ tự chủ. Tuy nhiên nét mặt mệt mỏi của nàng đã không che giấu được nỗi đau khổ của nàng. Dan Zeppelin và Mary Lou có mặt ở đấy.
- Barley, chúng tôi đang thảo luận rất hào hứng về vấn đề nhân quyền, - Zapadny vừa nói vừa cầm ly rượu của mình, vạch một vòng tròn như thể tìm kiếm sự đồng tình của các người đối thoại. - Phải không, thưa ông Zeppenlin? Chúng tôi luôn luôn rất trân trọng các vị khách phương Tây đến đây để thuyết giảng cho chúng tôi nghe về cách đối xử với những kẻ phạm trọng tội tại đất nước chúng tôi. Về phần tôi, tôi tự hỏi, có sự khác biệt nào giữa một nước bỏ tù hơi nhiều một chút, những kẻ có tội, mà một nước cứ để cho bọn găngxtơ chạy long rong ngoài xã hội. Tôi tin chắc tôi vừa tìm ra được một lý lẽ quan trọng cho các nhà lãnh đạo của chúng tôi. Sáng mai, người ta có thể tuyên bố với Hội nghị Helsinki về quyền con người, rằng chúng tôi không muốn nghe họ nói gì nữa, chừng nào họ còng tay bọn mafia và tống cổ chúng vào tù. Ông nghĩ thế nào về vấn đề ấy, thưa ông Zeppenlin? Chúng tôi thả bọn bất lương của chúng tôi, và các ông bỏ tù bọn bất lương của các ông. Sòng phẳng như mua bán, phải không.
- Ông muốn tôi trả lời ông một cách lễ phép hay không? – Dan đáp một cách cộc lốc.
Một nhóm khách mời khác đi ngang qua gần chỗ họ, và tiếp theo sau là ngài Peter Oliphant với đoàn tuỳ tùng của ông ta gồm cả người Nga lẫn người Anh. Có ai đó mở đàn piano ra và chơi một bài. Một giọng nữ rất hay vang lên và có những người khác đồng thanh hát theo.
- Quả thật, tôi không thấy có điều gì ông phải sợ cả, - Katia trả lời với Barley, làm cho ông rất đỗi ngạc nhiên, vì ông không nhớ đã có đặt câu hỏi với nàng. – Tôi biết ông rất can đảm như tất cả những người Anh.
Trong bầu không khí ngột ngạt của đám đông người chuyển động cuồn cuộn ấy, Barley cảm thấy mình ngây ngất một cách kỳ lạ như say rượu, mặc dù từ lúc khởi sự buổi tiếp tân đến giờ ông chỉ uống một ly uýt-ky.
Henziger đã bắt đầu bài diễn thuyết của ông ta. Một kiệt tác đạo đức giả.
- Tôi hy vọng công cuộc kinh doanh táo bạo của Nhà xuất bản Potomac and Blair sẽ đem đến sự đóng góp khiêm tốn của mình cho kỷ nguyên mới của sự hợp tác Đông-Tây, - Henziger tuyên bố.
Ông ta cất cao giọng và đồng thời cũng nâng cao ly rượu của mình lên.
- Chúng ta hãy giúp nhau làm giàu! Chúng ta hãy giúp nhau tháo gỡ những khó khăn! Chúng ta hãy yêu thương nhau, hãy nói chuyện và uống rượu với nhau. Và cùng nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Thưa quý bà và quý ông, tôi xin nâng ly chúc sức khỏe quý vị, chúc Nhà xuất bản Potomac an Blải phát đạt, chúc công cuộc kinh doanh của chúng ta thịnh vượng... và chúc chính sách tái cấu trúc thành công mỹ mãn. Xin hết!
Bây giờ, do Spikey Morgan, Youri và Alik Zapadny xúi giục, tất cả mọi người đòi hỏi Barley phải lên tiếng. Họ hô to và nhấn mạnh từng tâm tiết “Bar-ley! Bar-ley!” mãi cho đến khi Barley nhảy lên bàn đặt thức ăn, cầm một cây kèn Saxophone và chơi bài My Funny Valentine, có Jack Henziger đệm đàn piano, lần này theo kiểu Fats Waller.
Các nhân viên bảo vệ trước cửa, liền chen vào trong phòng để nghe, các nhân viên bảo vệ ở cầu thang đi lên tới ngưỡng cửa, và các nhân viên bảo vệ trong tiền sảnh cũng đi lên nửa chừng cầu thang, khi các âm hiệu đầu tiên bản nhạc của Barley cất lên cao vút, trong sáng và hùng mạnh.
o0o
Khi họ đã ra đến ngoài đường, Henziger nói với Barley:
- Bây giờ chúng ta đến quán ăn của người Ấn Độ! Ông hãy đưa Katia đi cùng, tôi đã đặt trước một bàn rồi.
- Rất tiếc Jack. Chúng tôi đã có một hẹn ước khác. Tôi đưa cô ấy đi ăn tối tại một nơi yên tĩnh.
o0o
Tuy nhiên, Barley không đưa Kati đi ăn tối tại một nơi nào cả. Chính Katia dẫn Barley đến một chỗ mà người ta tìm thấy ở trên nóc nhà, bất cứ một ngôi nhà nào tại thành phố lớn đều có. Đối với phụ nữ Nga thuộc thế hệ Katia, chỗ ấy liên hệ mật thiết với các kỷ niệm của mối tình đầu. Lẽ tất nhiên tại ngôi nhà của Kati cũng có một chỗ như thế, ở bên trên cầu thang, để leo lên nóc nhà. Ở nơi này, về mùa đông người ta thấy dễ chịu hơn về mùa hè, vì ở đó có một bồn chứa nước nóng bốc hơi.
Trước tiên Katia phải kiểm tra xem Matvei và hai con của nàng có được bình an vô sự không, còn Barley thì đứng đợi nàng nơi chân cầu thang. Sau đó, nàng nắm tay ông cùng với nàng đi lên cầu thang, Katia có một chìa khoá để mở cánh cửa sắt. Không ai được leo lên đây. Sau khi khoá cửa lại, Katia kéo Barley đến một góc, tại đây nàg đã đặt tạm một cái giường, từ đây có thể nhìn thấy sao trời mờ ảo qua một cửa sổ trên mái nhà, và trong không khí có mùi khó chịu của quần áo đang bắt đầu khô.
- Bức thư em trao cho Landau đã không đến được tận tay anh, - Barley nói. – Nó đã lọt vào tay các nhà chức trách, và chính họ đã phái anh đến gặp em. Bây giờ anh rất lấy làm đau khỏ về việc ấy...
Nhưng bây giờ khong đủ thời giờ để xin lỗi hay trách móc. Ông chỉ tâm sự với nàng về một phần rất nhỏ trong kế hoạch của ông vì ông mà nàng đã đồng ý thừa nhận rằng nàng đã biết quá nhiều về kế hoạch ấy rồi. Vả lại hai người còn phải nói với nhau những điều nghiêm trọng hơn. Tối hôm ấy Katia đã nói với Barley tát cả những gì về nàng mà sau đó ông không bao giờ quên được. Nàng cũng thú nhận đã yêu ông say đắm, để ông có thể đương đầu với sự chia ly dài ngày đang chờ đợi hai người.
Barley không dám kéo dài mãi cuộc tâm sự ấy, sợ những người có nhiệm vụ theo dõi ông ở đây cũng như ở Luân Đôn sinh nghi. Vào lúc nửa đêm, Barley về tới khách sạn Mej, còn kịp để uống một ly với Henziger và Wicklow.
- Jack, quả thật, Alik Zapadny đã mời tôi đến uống với ông ta chén rượu chia tay chiều mai, - Barley báo cho Henziger biết tại quầy rượu ở lầu một.
- Ông muốn tôi đi theo ông? – Henziger hỏi, vì cũng như chính người Nga, Henziger không nghĩ lầm vè những sự liên lạc khả nghi của Zapadny.
- Ồ, không. Ông còn là một lính mới trong nghề. Việc này dành cho người lính già, những người đã lão luyện.
- Mời ông uống rượu vào lúc mấy giờ? – Wicklow hỏi.
- 16 giờ, nếu tôi nhớ không sai. Một giờ kỳ cục để uống rượu. Vâng, tôi nhớ lại kỹ rồi. 16 giò.
Sau đó, Barley chúc hai bạn ngủ ngon và đi tới phía thang máy khách sạn Mej.
o0o
Lúc ấy là giờ ăn trưa, chúng tôi nhận được một tin đặc biệt. Đó là một bức điện tín vô tuyến của Quân đội Liên Xô phát đi từ Leningrad, mà người Mỹ bắt được sóng điện tại Phần Lan và giải mã ở Virginie.
Leningrad gửi Matxcơva, sao gửi Saratov.
Thứ sáu, giáo sư Yakov Savekeive được phép đi nghỉ cuối tuần ở Matxcơva, sau khi thuyết trình tại Đại học đường Quân sự Saratov. Yêu cầu sắp xếp các chi tiết về phương tiện di chuyển và nơi ăn ở trong thời gian giáo sư có mặt tại Matxcơva.
- Cám ơn ngài Sĩ quan Hành chính ở Leningrad, - Sheriton lẩm bẩm.
Ned đã lấy bức điện tín để đọc lại một lần nữa. Hình như ông ta là người duy nhất trong chúng tôi không bị kích động.
- Đó là tất cả những gì họ đã giải mã được? – Ned hỏi.
- Ned, tôi chẳng biết gì cả, -  Johnny đáp với một vẻ ác cảm mà ông ta không cần che giấu.
- Ở đó có ghi “Một trên một”. Như thế nghĩa là gì? Hãy đi xem có phải đây là tin tức duy nhất nhận được trong ngày không, mà nếu không thì hãy vui lòng kiểm tra lại những gì họ đã bắt sóng điện được.
Ned đợi cho Johnny rời khỏi phòng rồi mới nói với giọng chua cay.
- Đó là điều tốt hơn hết. Họ theo đúng từng chữ trong quyển sách “Người gián điệp tuyệt vời”. Không đúng, người ta có cảm tưởng đang làm việc với người Đức!
Chúng tôi ngồi đó, ăn buổi trưa một cách lơ đễnh. Sheriton mặc một cáo áo ấm dài tay, cổ cao, có khoá kéo ở ngực, hai tay đút túi, quay lưng về phía chúng tôi, và nhìn qua cửa sổ xem khách bộ hành lặng lẽ qua lại ở ngoài đường. Còn chúng tôi thì nhìn Johnny nói trên một trong những đường dây được xem là bảo đảm ông ta cúp máy và vào trở lại trong phòng.
- Số không, -  ông ta tuyên bố.
- Cái gì, số không? -  Ned hỏi.
- “Một trên một” có nghĩa là một. Đó là một bức điện tín đơn độc, trước đó không có gì cả, và sau đó cũng không có gì cả.
- Thế thì đó là một cú gặp may sao? – Ned hỏi.
- Một bức điện tín đơn độc, -  Johnny lặp lại.
Ned quay phắt về phía Sheriton.
- Russed, hãy suy nghĩ hai phút đi! Sóng điện ấy đã bị chặn bắt được một cách hoàn toàn độc lập, trước không có gì và sau cũng không có gì. Đó là một cú đánh giả vờ. Đó là một cái bẫy.
Đến lượt Sheriton đọc lại bức điện tín, và khi ông ta lên tiếng, giọng nói mệt mỏi của ông ta chứng tỏ là ông không còn kiên nhẫn được nữa.
- Ned, các chuyên viên giải mã đã đoan chắc với tôi rằng bức điện tín này xuất phát từ một nguồn quân sự thấp và đã truyền đi từ một cái máy truyền tin có số là 1921. Bây giờ người ta không còn chơi trò giả vờ như thế nữa. Không phải Chim Xanh trở chứng mà chính ông trở chứng đó.
- Nhưng chính vì thế mà bọn họ đã dùng chiến thuật ấy! Ông và tôi, chúng ta sẽ không chơi cái trò ấy nữa không?
- Có thể lắm, - Sheriton công nhận như thể ông ta không muốn tranh luận nữa.
- Ned, dù sao thì chúng ta cũng không thể yêu cầu Sheriton ngừng chiến dịch lại với lý do mọi sự đều tốt đẹp! – Clive xen vào.
- Với lý do rằng khi nào mọi sự đều tốt đẹp cho chúng ta, thì đó là một mưu mô của điện Kremlin để gài bẫy chúng ta, - Sheriton nổi giận nói. -  Đây là chiến dịch của tôi, và đây là sinh mệnh của tôi.
- Và của Barley, - Ned nói. -  Ông ta bị lộ mặt nạ , cả Chim Xanh nữa.
- Đúng như thế! – Sheriton chế giễu với giọng lạnh lùng. Không còn nghi ngờ gì nữa... Ông Phó giám đốc, ông có nhận xét gì không? – Ông ta hỏi Clive, với vẻ không mấy thân thiện.
Clive có tài dàn hoà cả hai bên.
- Russel, xin mạn phép ông, và Ned, tôi tin rằng cả hai ông đều đang ở trong trạng thái tự do cho mình là trung tâm của vũ trụ. Chúng ta là thành phần của một cơ quan. Chúng ta làm việc với tinh thần đồng đội. Chính các cấp trên của chúng ta đã bật đèn xanh cho Chim Xanh, chứ không phải riêng gì chúng ta.
Sheriton quay về phía Ned:
- Ned, ông hãy tưởng tượng một chút những gì sẽ xảy ra ở Washington và ở Langley, nếu bây giờ tôi huỷ bỏ chiến dịch? Ông hãy tưởng tượng những tiếng cười ngạo nghễ của bọn ở Bộ Quốc Phòng, ở Lầu Năm góc? Và bây giờ ông nói với tôi rằng tôi phải liệng Chim Xanh cho thú dữ!
- Tôi chỉ nói với ông đừng đưa cho hắn bảng kê những câu hỏi mà hắn đòi hỏi.
Sheriton nghiêng đầu sang một bên, như thể ông ta điếc.
- Đừng đưa cho ai? Barley hay Chim Xanh? – Ông ta hỏi.
- Đừng đưa cho Barley, cũng đừng đưa cho Chim Xanh. Hãy hủy bỏ tất cả.
- Ned, Chim Xanh nghiêm túc, đúng đắn, trung thực! Đó chính là lời của ông, ông nhớ không? – Sheriton giận dữ nói.
- Russell, ông đừng đưa cho hắn bản liệt kê các câu hỏi nữa. Hắn không còn là người của chúng ta nữa rồi. Nếu ông vẫn muốn cho hắn một cái gì, thì hãy cho hắn một phát súng lục.
- Bắn bỏ sao? Công nhận rằng Chim Xanh là đồ vô giá trị sao? Không, ông nói đùa đấy chứ? Ned, tôi muốn có những bằng chứng, chứ không muốn nghe những sự tiên đoán. Ở Washington, ngay đến những kẻ ngu ngốc nhất cũng khẳng định rằng Chim Xanh là Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa, là Pháp Điển của đạo Do Thái và Hồi giáo hợp lại. Và ông, ông vừa nói với tôi hãy cho hắn một phát súng lục! Ned, chính ông đã lôi cuốn chúng tôi vào công việc này. Ông đừng có tìm cách rút ra nhanh như thế!
o0o
Có thể ở Nhà xuất bản Tháng Mười thật sự không có một căn phòng nhỏ nào, hay vì Alik Zapadny, sau những năm bị giam giữ, bây giờ vẫn còn ghét những căn phòng nhỏ.
Dù sao đi nữa, Barley cũng nhận thấy gian phòng mà Zapadny đã quyết định dùng làm nơi tiếp mình đủ rộng để tổ chức một cuộc khiêu vũ, nhưng ở đó chỉ có một vật trang trí duy nhất, kích thước nhỏ nhoi: đó là bản thân Zapadny, ngồi thu mình ở đầu một cái bàn dài, như một con chuột ẩn mình trong hang. Với đôi mắt sáng quắc, Zapadny nhìn Barley băng qua gian phòng rộng và bước tới phía ông ta.
Ông ta đã bày biện ra trước mặt ông ta một số giấy tờ, một chồng sách và một bình nước với hai cái lu. Rõ ràng là ông ta mong muốn làm cho Barley có ấn tượng là ông ta đang bận làm việc.
- Ông bạn Barley thân mến, xin cám ớn ông đã có nhã ý đến giã biệt tôi, mặc dù ông cũng bận rộn công việc như tôi...- Zapadny nhanh nhảu nói. - Nếu công cuộc kinh doanh xuất bản của chúng ta tiếp tục phát triển như thế này, chắc chắn tôi sẽ phải tuyển thêm ít nhất một trăm nhân viên nữa và làm việc trong những gian phòng rộng rãi hơn.
Zapadny kéo một cái ghế dựa ra để mời Barley ngồi theo phép xã giao. Nhưng theo thói quen, Barley thích đứng hơn.
- Tôi không thể liều lĩnh mời ông một ly rượu trong giờ làm việc, - Zapadny cáo lỗi. – Nhưng xin ông vui lòng ngồi xuống và chúng ta hãy đàm đạo với nhau vài phút.
Ông ta nhìn đồng hồ, nhíu mày rồi nói tiếp:
- Lạy Chúa! Hội chợ triển lãm này đãng lẽ phải kéo dài một tháng chứ không phải năm ngày như thế này!
Nhưng Barley đã cắt ngang. Vẫn đứng chứ không chịu ngồi xuống ghế, ông ta nói:
- Này Alik, máy điện thoại này có hoạt động tốt không?
- Chắc chắn là tốt.
- Vậy thì ông hãy nghe tôi nói đây. Tôi phải phản bộ tổ quốc tôi, và tôi gấp lắm. Vì thế, tôi muốn ông giúp tôi tiếp xúc với các nhà chức trách có thẩm quyền, vì có một số điểm tôi phải trình bày trước. Và tôi không muốn nghe ông nói dối rằng ông không biết phải tiếp xúc với ai. Ông hãy làm việc tôi yêu cầu đi, nếu không, ông sắp bỏ lỡ một dịp tốt để lập công đấy!

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-08 19:41:29Ct.Ly>
Chương 17 ( Chương Kết)
 

Đánh máy: cunhoi
 
Các màn ảnh của chúng tôi cho biết lúc 18 giờ Barley bước ra khỏi văn phòng Nhà xuất bản Tháng Mười. Có một lúc chúng tôi đã kinh hoàng nghĩ rằng, có thể là Barley say, vì Zapadny cũng là một bợm rượu như ông ta, và rất có thể hai người đã cùng nhau làm một chầu Vodka trong cuộc thăm viếng từ giã này. Zapadny tiễn Barley ra tận cửa. Ở đó, hai người ôm hôn nhau thắm thiết, Zapadny có những cử chỉ như bị kích động, còn Barley thì trái lại, cứng đơ như một cái cọc. Vì vậy, các trinh sát sợ rằng Barley say, nên đã quyết định chụp hình ông ta trong lúc ấy, với ý nghĩ kỳ cục rằng như thế sẽ có thể làm cho ông ta bớt say. Tấm hình ấy là tấm hình chót trong hồ sơ, và tôi đã nghiên cứu kỹ tấm hình ấy. Barley ôm lấy Zapadny trong vòng tay mình. Người ta có thể nói Barley nâng đỡ Zapadny để truyền qua cho anh chàng tội nghiệp này lòng can đảm để anh ta giữ lời hữa. Và màu hồng có vẻ lạ lùng. Trụ sở của Nhà xuất bản Tháng Mười nằm tại đường Bolchaia Bronnaia ở trung tâm thành phố Matxcơva, trước kia là một ngôi trường cũ được xây cất từ đầu thế kỷ, với những cửa sổ lớn và một mặt tiền bằng thạch cao, năm nay được sơn lại màu hồng nhạt. Trên tấm ảnh màu này đã chuyển thành màu cam rực rỡ, chắc là vì có những tia mặt trời đỏ chói chiếu vào. Do đó, quanh đầu của Barley và Zapadny có một vòng hào quanh đỏ thắm và sáng lên một cách lạ lùng. Một trong những người trinh sát đi vào tiền sảnh với lý do đến quầy giải khát, để tìm cách chụp hình cảnh tượng ấy dưới một góc độ khác, nhưng không chụp được, vì có một người đàn ông cao lớn đứng che tầm nhìn của anh ta.
Barley trở về khách sạn của mình. Ở đó ông uống một ly rượu với một nhóm bạn bè đều là những nhà xuất bản, trong đó có Henziger. Henziger đã khẳng định rằng Barley không say rượu, trái lại ông ta rất bình tĩnh và có vẻ trầm tư. Điều ấy làm cho êkíp ở Luân Đôn cảm thấy nhẹ nhõm.
Vào lúc bảy giờ tối, Barley kêu đói bụng. Henziger và Wicklow dẫn ông ta đến nhà hàng Nhật Bản cùng với hai thiếu nữ xinh đẹp làm việc cho Nhà xuất bản Simon and Schuster. Trong bữa ăn tối, Barley tỏ ra hấp dẫn đến nỗi hai cô gái này mới ông ta tháp tùng họ đến nhà hàng National, nơi đó một nhóm nhà xuất bản Mỹ có tổ chức một cuộc tiếp tân, Barley trả lời rằng ông ta có một cuộc gặp mặt đã hẹn trước rồi. Đúng 20 giờ theo đồng hồ của Wicklow, có người muốn gặp Barley nơi máy điện thoại của nhà hàng và Barley đến bắt máy chỉ cách bàn ăn chưa đầy năm mét. Wicklow và Henziger dỏng tai nghe, theo phản xạ nghề nghiệp. Bây giờ Wicklow nhớ lúc đó đã nghe: “Đó là tất cả những gì đáng kể”, và Henziger tin rằng lúc đó đã hiểu “đồng ý” hay “không đồng ý”, hay ngay cả “còn chưa đồng ý”.
Barley trở lại bàn ăn với vẻ tức giận, và nói với Henziger rằng bọn khốn nạn ấy luôn luôn đòi quá nhiều tiền. Henziger cho rằng phản ứng của Barley là một dấu hiệu căng thẳng thần kinh của ông ta về dự án cộng tác xuất bản giữa Nhà xuất bản Potomac and Blair và Nhà xuất bản Tháng Mười mà họ gọi là dự án Transiberien.
Mười lăm phút sau, Barley lại được mời đến nghe điện thoại, và lần này ông ta trở lại bàn ăn với vẻ mặt tươi cười. “Xong xuôi rồi, mọi sự đều trôi chảy”- ông ta vo cùng hớn hở nói với Henziger. – “Chúng tôi đã cầm chắc việc này như lấy đồ vật trong túi. Những người này không bao giờ thất hứa” Henziger và Wicklow vỗ cả hai tay. Henziger nói: “Chúng ta cần có thêm những người như thế ở Matxcơva!”
Trong đầu họ không hề thoáng có ý nghĩ rằng trước đây chưa bao giờ Barley tỏ ra hân hoan đến như thế vì một hợp đồng xuất bản. Nhưng cũng phải miễn thứ cho họ, và phải công nhận rằng lúc đó tất cả sự chú ý đều được huy động vào một mục tiêu duy nhất: việc lớn tối hôm ấy.
Những lời nói chuyện của Barley trong bữa ăn tối hôm ấy, sau này được dựng lại một cách tỉ mỉ, và người ta đã không thấy có những dấu hiệu gì khả nghi. Barley đã nói chuyện nhiều, nhưng tỏ ra rất điềm đạm. Ông ta đã nói về nhạc jazz nhiều nhất. Thần tượng của ông ta là  Slim Gaillard.
Đến 21 giờ mười phút chỉ còn chưa đầy hai tiếng đồng hồ để tiêu phí, Barley nói rằng ông ta đi về phòng để nghỉ ngơi đôi chút. Ông ta có vài bức thư phải viết và vài việc phải sắp xếp, Wicklow và Henziger đề nghị để cho họ lên giúp ông ta một tay, vì họ được lệnh, trong chừng mực có thể làm được, thì đừng để Barley một mình. Nhưng Barley từ chối sự giúp đỡ của họ và họ đành phải nhượng bộ.
Thế là Henziger canh chừng ở phòng bên cạnh phòng của Barley, và Wicklow thì canh chừng ngoài hành lang, trong lúc Barley nằm dài trên giường, tư thế mà ông ta chỉ giữ trong một giây, vì những gì mà ông ta phải làm cho xong trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy quả thật là một phép lạ.
Ông ta viết năm bức thư – đó là những gì sau này chúng tôi mới biết – và hai lần gọi điện thoại nói chuyện với các con của ông ở nước Anh. Các cú điện thoại ấy bị nghe lén ở Luân Đôn, nhưng chẳng dính dáng gì đến chiến dịch.
Ned là người duy nhất nhận xét rằng Barley đã không đá động gì đến việc ông ta sẽ trở về nước Anh vào ngày mai, nhưng vào lúc này thì Ned chỉ còn là một tiếng nói trong sa mạc, và Clive đã dự tính một cách nghiêm chỉnh, cho Ned rút hoàn toàn ra khỏi công việc này.
Barley cũng có viết hai bức thư ngắn, một bức thư cho Henziger và một bức cho Wicklow. Rõ ràng là hai bức thư ấy không bị mở ra xem trộm, và - điều còn lạ lùng hơn nữa – văn phòng giám đốc khách sạn cho người đưa thư đến phòng của Henziger và Wicklow ngay vào lúc tám giờ sáng hôm sau. Sau này người ta mới nghĩ ra rằng nội dung các bức thư này cũng đã được bàn bạc giữa Barley và Zapadny trong lúc hai người gặp nhau tại trụ sở Nhà xuất bản Tháng Mười ngày hôm ấy.
Hai bức thư ấy báo cho Henziger và Wicklow biết rằng nếu họ rời Liên Xô để trở về nước ngay trong ngày mà không làm gì sinh chuyện, đem theo cả Mary Lou về nước luôn, thì họ sẽ được ra đi một cách yên ổn. Barley còn viết thêm cho Wicklow: “Wickers, quả thật anh có tài nằng làm nhà xuất bản. Hãy dấn thân vào công việc ấy, anh sẽ tiến bộ rất nhanh”.
Với Henziger, Barley viết: “Jack, tôi hy vọng ông sẽ không về hưu non ở Salt Lake City vì chuyện này. Hãy nói với họ rằng ông không bao giờ tin cậy tôi. Chính tôi đây, tôi cũng không bao giờ tin cậy chính mình, thế thì...”.
22 giờ, Barley rời khách sạn cùng với Henziger và đi đến vùng ngoại ô phía bắc của thành phố, nơi đó Cy và Paddy đã đợi họ trong chiếc xe cam-nhông bảo đảm. Lần này, Paddy cầm lái và Henziger ngồi cạnh bên. Barley lên băng sau cùng với Cy, cởi áo măng tô ra, để cho Cy buộc máy ghi âm vào, và điểm qua tình hình: máy bay của Goêth từ Saratov đã tới Matxcơva đúng giờ đã định, và một người đàn ông mà Cy đã thấy, đúng như người ta đã tả cho Cy biết hình dạng của Goethe – đã đi vào nhà của Igor bốn mươi phút trước đây.
Một lát sau đó, các cửa sổ của căn nhà mục tiêu có ánh đèn.
Lúc ấy Cy mới trao cho Barley một quyển sách, trong đó có bản liệt kê các câu hỏi.
22 giờ 45 phút, Barley rồi xe cam-nhông, ông ta đưa cho Paddy một phong bì và nói: “Thư này tôi gởi cho Ned. Hãy giao tận tay ông ta trong trường hợp có điều gì xảy đến cho tôi”. Paddy đút phong bì vào túi trong áo vét. Ông ta nhận thấy phong bì khá nhiều trang và ngoài bì không ghi tên người nhận. Jack Henziger đi theo Barley đến tận cửa nhà Igor. Barley không nói một tiếng nào, và Henziger cũng thế. Hai người bắt tay từ giã.
Chín mười giây đồng hồ sau, khi họ chuẩn bị ra về, Cy và Paddy thấy có mọt bóng người nơi cửa sổ nhà Igor, mà họ nhận ra đó là Barley. Bàn tay phải đưa lên để kéo màn cửa sổ, đó là dấu hiệu đã quy định để nói rằng mọi sự đều tốt đẹp. Êkíp của Henziger lên trở về, giao cho các điểm chỉ viên thay nhau canh gác suốt đêm bên ngoài căn nhà của Igor. Cửa sổ của căn nhà vẫn luôn luôn có ánh đèn, nhưng Barley không đi ra.
o0o
Sáu giờ rưỡi sáng, giờ Luân Đôn, Henziger và Wicklow nhận được thư của Barley viết cho họ. Wicklow lập tức gọi taxi đi đến Sứ quán Anh ở Matxcơva. Kết quả: một điện tín có quyền ưu tiên của Paddy gửi cho Ned. Cy cũng gửi một điện tín tương tự cho Langley cho, Sheriton.
Sheriton chịu đựng cái tin dữ ấy với tính lạ lùng quen thuộc của ông ta. Đọc xong bức điện tín của Cy, ông ta đảo mắt nhìn quanh và thấy mọi người đang đăm đăm nhìn ông ta: các thiếu nữ xinh đẹp, các thanh niên đeo cà vạt, Bod, Jonny, Ned, Brock và cả tôi nữa. Clive liền lánh mặt với lý do có việc khẩn cấp. Cũng như Henziger, Sheriton có tài đóng kịch và nhân dịp này ông ta thi thố tài năng. Ông ta đứng dậy, kéo nịt thắt lưng lên, đưa bàn tay xoa xoa cằm như thể cảm thấy cần phải cạo râu, rồi dõng dạc tuyên bố:
- Thôi, được rồi, bây giờ các cô các cậu chỉ còn việc xếp các ghế dựa lên trên bàn đi.
Ông ta bước tới phía Ned, vẫn luôn luôn ngồi nơi bàn giấy của mình, mắt đăm đăm nhìn bức điện tín của Paddy. Ông ta đặt một bàn tay lên vai của Ned và nói:
- Ned, tôi phải đãi ông một bữa ê hề mới được.
Nói xong, Sheriton đi đến cửa, lấy chiếc áo khoác mới toanh của mình trên giá, mặc vào, cài nút cẩn thận và đi ra, theo sau có Bod và Jonny.
o0o
Một lần nữa, người ta lại lập một uỷ ban điều tra.
Phó giám đốc Clive là chủ tịch uỷ ban và Palfrey là thư ký.
Vấn đề lớn đầu tiên là xét đến những gì sắp xảy ra. Sẽ có những cuộc trục xuất không? Không. Paddy và Cy đã không bị trục xuất. Không có ai bị trục xuất cả. Cũng không có ai bị bắt hết.
Việc Liên Xô không có những hành động trả đũa, được xem là một điều có ý nghĩa lớn.
Phải chăng đó là một cử chỉ hoà giải của thời kỳ mở cửa?
Hay là một dấu hiệu rõ ràng để làm cho chúng ta hiểu rằng các tài liệu ấy là xác thực, nhưng họ không thích công nhận điều đó?
o0o
Thông cáo báo tin Chim Xanh từ trần đã làm chậm lại các cuộc thảo luận của uỷ ban điều tra. Tờ Pravad đã đăng tin: Giáo sư Yakov Saveleviev, nhà vật lý học danh tiếng ở Leningrad đã qua đời sau khi dự một hội nghị quan trọng tại Đại học đường quân sự ở Saratov. Trước đó, giáo sư đã bị bệnh trong một thời gian dài.
Được tin ấy, Ned xin nghỉ một ngày, rồi ba ngày, vì bệnh cúm. Nhưng các nhà lý luận thì thừa dịp này để đưa ra đủ thứ giả thuyết:
Saveleviev không chết.
Ông ta đã chết ngay từ lúc đầu, và chúng ta đã nói chuyện với một kẻ giả danh Saveleviev.
Ông ta làm những gì ông ta đã luôn luôn làm: chỉ huy bộ phận thông báo tin tức khoa học sai lệch của cơ quan KGB.
Những thông tin của ông ta là xác thực, là không xác thực.
Đó là một thông điệp hoà bình thành thật của phái ôn hoà trong êkíp cầm quyền ở Matxcơva để chứng tỏ với chúng ta rằng lưỡi gươm hạt nhân của Liên Xô đã rỉ sét trong cái vỏ của nó, và một cái khiên hạt nhân của Liên Xô còn thủng lỗ hơn cả một cái rá chà.
Đó là một âm mưu để thuyết phục những người Mỹ nhát gan đừng bấm nút hạt nhân.
Nói tóm lại, đã có được những gì để thoả mãn tất cả mọi khát vọng.
o0o
Trong suốt thời gian ấy, chúng tôi tích cực tìm kiếm Barley, mặc dù có một số người trong chúng tôi mong muốn không tìm được ông ta nữa, vì cho rằng, như thế có lẽ hay hơn. Các đường dây của chúng tôi có lúc đã gần như tiếp cận với ông ta, nhưng sau đó lại mất hút. Nhưng chúng tôi là những người có lương tâm. Chúng tôi không bao giờ bỏ cuộc.
Barley đã ký kết được với Zapadny một thứ hợp đồng nào? Người Nga đã sẵn sàng mua cái gì ở Barley?
Rốt cuộc, Barley đã bị lột mặt nạ. Hoàn toàn bị lột mặt nạ là một tên gián điệp, đội lốt nhà xuất bản để bắt liên lạc với Yakov qua trung gian của Katia. Và Barley biết rõ điều đó trước khi đến tiếp xúc với Zapadny.
Vậy thì Barley có cái gì để cung cấp cho họ, cái mà họ không thể có được một cách dễ dàng bằng các phương pháp của chính họ? Ở đây chúng tôi nói đến các phương pháp như tra tấn, làm cho chết đi sống lại chẳng hạn.
Câu trả lời đầu tiên và hiển nhiên hơn hết là: bản liệt kê các câu hỏi của người Mỹ. Barley có thể nói thẳng thừng với người Nga rằng cấp trên của ông không chịu giao cho ông bản liệt kê nếu không nhận được một số điều kiện đảm bảo. Và ông sẵn sàng chịu bị tra tấn cho đến chết, hơn là trao cho họ bản liệt kê ấy mà không có cái gì đổi lại.
Và người Nga tin Barley nói là làm đúng như lời đã nói! Họ hiểu rằng họ sẽ không có được bản liệt kê các câu hỏi của người Mỹ, nếu họ không nhận các điều kiện của Barley. Và khi các người mặc đồ xám trong cả hai chiến tuyến đều sợ lòng hy sinh quên mình bằng với sợ kế mỹ nhân, lẽ đương nhiên KGB muốn thương lượng với Barley si tình hơn là với một Barley gián điệp.
Họ biết Barley có thể từ chối, có thể nói với họ: “Không, tôi sẽ không đi lấy bản liệt kê các câu hỏi của người Mỹ, và tôi sẽ không đi vào trong căn nhà của Igor, nếu các ông không lấy danh dự mà hứa với tôi rằng các ông sẽ giữ lời hứa”.
Sau khi nghe Barley nói, họ biết ông ta có sức mạnh tinh thần cần thiết.
Barley – ông ta đã tâm sự với Henziger và Wicklow trong bữa ăn tối cuối cùng với nhau – không hề biết một người Nga nào không giữ lời hứa danh dự của mình. Chắc chắn là ông ta không nói về vấn đề chính trị, mà về vấn đề áp-phe.
Và đổi lại? Barley đã mua được gì với cái giá những gì ông ta đã bán?
Katia.
Matvei.
Hai đứa con sinh đôi.
Một hợp đồng mua bán tuyệt vời. Một tờ giấy cứu được bốn mạng người.
Và cho bản thân ông ta? Không gì cả. Không gì cả, rõ ràng để khỏi giảm bớt sức mạnh của những đòi hỏi của ông ta liên quan đến những người mà ông ta che chở.
Lần hồi, rồi chúng tôi nhận thấy rõ ràng là Barley đã ký kết được một hợp đồng bằng vàng. Katia vẫn còn làm việc tại Nhà xuất bản Tháng Mười, người ta thấy nàng thỉnh thoảng có mặt tại các cuộc tiếp tân, nàng đích thân trả lời bằng điện thoại tại nhà riêng và tại cơ quan. Hai đứa con sinh đôi của nàng vẫn luôn luôn đi học và hát những bài hát ngây ngô của chúng.
Bản hợp đồng do Barley đã ký kết với Cơ quan KGB đã được tôn trọng. Katia không mất các ân huệ của nàng, thẻ đỏ, căn hộ, việc làm. Ngay cả nhan sắc của nàng cũng không suy giảm.
o0o
Và Barley thì sao?
Đứng dậy tìm kiếm tung tích Barley lần lượt có được những tin tức sau.
Vài ngày sau hội chợ triển lãm sách ở Matxcơva, các bà cô của Barley nhận được các bức thư chính thức của Barley nói từ chức Giám đốc Nhà xuất bản Arbercobie and Blải ở Luân Đôn. Các bức thư ấy được gửi đi từ Lisbonne. Lời lẽ trong các bức thư ấy mang đặc điểm của con người Barley trước kia: một sự chán nản đối với nghề xuất bản, kỹ nghệ đã bùng nổ quá nhanh, đã đến lúc ông ta phải làm những việc khác trong khi chỉ còn vài năm trước mắt.
Về những dự định tức thời, ông ta nói “biến đi một lúc” và du lịch thám hiểm các vùng xa xôi ở ngoài. Rõ ràng là ông ta không còn ở Liên Xô nữa.
Ít ra là tương đối rõ ràng.
Nói cho cùng, đó là những gì chính ông ta khẳng định, cũng như cô nhan viên xinh đẹp của hãng hàng không Barry martin có chi nhánh tại Meidounarodnaia khẳng định. Cô ta nói: “Ông Scott Blair đã quyết định di Lisbonne thay vì đi Luân Đôn. Một nhân viên của cơ quan VAAP đã đem vé của ông Blair đến, tôi đã đổi cho ông ta một vé trên chuyến bay của Aeroflot rời Matxcơva vào ngày thứ hai lúc 11h20, và đáp xuống Lisbonne lúc 15g30, sau khi dừng lại ở Prague”.
Quả thật, cái vé ấy đã được một người nào đó dùng. Một người cao lớn, không nói chuyện với ai hết, và giống Blair như hai giọt nước, hay gần như thế. Có thể đó là một trong hai người đàn ông mà các trinh sát viên của chúng tôi đã trông thấy trong tiền sảnh của cơ quan VAAP. Dù sao thì đường dây cũng đã được kiểm tra và đi thẳng đến Tina, nữ quản gia của Barley ở Lisbonne. Trả lời các câu hỏi của Merridew, Tina đã nói: “Có, có! Tôi có nhận được tin của ông ta. Một bưu thiếp rất đẹp gửi cho tôi từ Matxcơva nói rằng ông Barley đã gặp một  bà quý phái và đi du lịch với bà ta”.
Trong các tháng tiếp theo sau đó, đường dây của chúng tôi lại có được những tin tức mơ hồ như sau:
Một người Tây Đức buôn lậu ma tuý, trong lúc bị giam tại một nhà lao gần Kiev nói rằng ông ta có biết một người mà theo ông ta tả thì giống như Barley. Người ấy có biệt tài làm cho người ta vui nhộn, rất được lòng các tù nhân khác. Tuy ông ấy cũng bị giam giữ, nhưng rất được tự do. Ngay cả các cai ngục thỉnh thoảng cũng phải mỉm cười với ông ấy.
Một cặp vợ chồng người Pháp sống cuộc đời phiêu bạt, nay trở về nước, đã nhận được sự giúp đỡ của một “người Anh cao lớn, khả ái”. Người Anh ấy đã nói chuyện với họ bằng tiếng Pháp, sau khi xe của họ đụng một chiếc limusin Nga, gần Smolenk. Không có ai bị thương. Người Anh ấy cao một mét tám mươi, tóc nâu bờm xờm, rất nhã nhặn, tiếng cười vang dội. Có những người Nga cao lớn và lực lưỡng bao quanh người Anh ấy.
Và một ngày, gần đến lễ Noel, một ít lâu sau khi Ned chính thức từ chức, một điện tín đánh đi từ La Havane cho biết, theo một nguồn tin từ Cu Ba, một người Anh bị biệt giâm tại một nhà lao chính trị gần Minsk, và người Anh ấy luôn miệng hát nhạc Jazz theo cách của Satchmo.
Barley biệt tăm biệt tích một thời gian dài cho đến khi một bức điện có quyền ưư tiên của người kế nhiệm Paddy báo rằng, một người Anh cao lớn, tóc nâu đã được thấy chơi kèn saxophone tại một câu lạc bộ ở Matxcơva, một năm, tính đúng từng ngày, sau khi Barley mất tích.
Ngày hôm sau, lại có một bức điện thứ hai, lần này của Merridew đánh đi từ Lisbonne. Tina, nữ quản gia của Barley mà Merridew vẫn giữ liên lạc, đã nhận được lệnh phải chuẩn bị nhà cửa để đón chủ nhân của bà ta về.
- Nhận được lệnh bằng cách nào? – Merridew hỏi.
- Bằng điện thoại, - Tina trả lời. – Ông Barley đã điện thoại cho tôi.
- Ông ta đã gọi điện thoại từ đâu? – Meridew lại hỏi.
Nhưng Tina đã không hỏi chi tiết, và Barley cũng không cho biết chi tiết. Vả lại, vì sao bà ta lại hỏi chủ của bà ở đâu, bởi vì ông ta sẽ đến Lisbonne trong nay mai mà thôi.
Merridew kinh hoàng, và ông ta không phải là người duy nhất bị cú sốc ấy làm cho choáng váng. Chúng tôi báo cho người Mỹ biết, nhưng Langley sửng sốt đến nỗi mọi người đều đột ngột mắc bệnh mất trí nhớ. Dường như họ hỏi chúng tôi: “Barley nào?” Thông thường người ta nghĩ rằng những cơ quan như cơ quan của chúng tôi trừng phạt đích đáng những điệp viên phản bôi, tiết lộ những bí mật cơ quan. Đôi khi cũng đúng như vậy. Nhưng trong trường hợp này, rõ ràng là ngay từ lúc đầu, không một ai, nhất là êkíp Langley, muốn đưa ra ánh sáng một người mà họ thiết muốn quên đi. Họ đã đông thanh tuyên bố: Tốt hơn hết là mua sự im lặng của Barley. Và để người Mỹ ra ngoài việc này.
o0o
Tôi bước chân lên cầu thang với sự lo ngại vô cớ. Tôi đã từ chối sự bảo vệ của Brock cũng như của Merridew. Cầu thang tối mờ, dốc đứng, không có vẻ gì là mời mọc và quá lặng lẽ. Lúc ấy đã xế chiều, và chúng tôi biết Barley đang có mặt ở nhà. Tôi bấm chuông nhưng không nghe tiếng chuông reo, tôi gõ cửa gỗ. Tôi nghe có tiếng chân ở bên trong, và lập tức tôi thụt lùi, không có lý do chính đáng, nếu đó không phải là một sự sợ hãi tự nhiên của những con thú dữ. Barley sẽ tấn công, giận dữ hay nồng nhiệt? Ông ta sẽ xô tôi xuống hay sẽ ôm tôi vào vòng tay của ông ta?
Tôi mang theo một cái cặp da, và tôi nhớ lúc đó tôi đã chuyển nó từ tay phải sang tay trái để sẵn sàng chống cự nếu cần. Mặc dù tôi không phải là một người hung dữ. Tôi ngửi thấy một mùi sơn còn mới. Vì không có lỗ để nhìn qua cửa gỗ đóng kín, Barley không biết ai là người đến thăm ông ta. Tôi nghe tiếng then cài cửa chuyển động và cánh cửa mở vào phía bên trong.
- Chào Harry, - Barley nói.
- Chào Barley,  - tôi đáp lại, mong thấy ông ta mỉm cười khi trông thấy tôi mặc bộ comlê màu xanh sẫm thay vì màu xám.
Barley đã gầy nhiều, nhưng đứng thẳng, trông có vẻ cao hơn trước. Barley đã không còn có những cử chỉ vô trật tự, chắc là vì phải làm quen với những chỗ chật hẹp. Ông ta có vẻ nhanh nhẹn trong một cái quần Jean và một cái áo sơmi cũ mà ông đã xắn tay áo lên quá cùi chỏ. Cánh tay và trán ông có những vết sơn trắng. Sau lưng ông, tôi thấy có một cái thang và một bức tường mới sơn lại được một nửa. Ở giữa gian phòng, có những chồng sách và những đĩa hát cũ được che sơ với một tấm vải dầu.
- Harry, ông đến để chơi với tôi một ván cờ, phải không?
- Thay vì đánh cờ, chúng ta nói chuyện với nhau một chút, được không?
- Một cách chính thức à?
- Đúng.
Barley nhìn tôi đăm đăm, tôi tưởng tượng như thể ông ta quan sát những bạn tù bị giam chung một phòng kín với ông ta.
Tôi không thấy trong nét nhìn ấy có gì là ngượng nghịu, xấu hổ, là ngạo mạn, là dễ bị kích động, mà trái lại nét nhìn ấy có vẻ sáng ngời trong ký ức của tôi, nét nhìn ấy hướng mãi tới những chân trời xa xăm, nơi đó ông ta thỉnh thoảng tìm cách giải sầu trong quá khứ.
- Tôi có một ly rượu vang đỏ đây, xin mời ông dùng với tôi một ly.
Mắt vẫn đăm đăm nhìn tôi, Barley đứng tránh ra để tôi bước vào, trước khi đóng cửa và cài then lại.
Ông ta vẫn không mỉm cười. Khó mà biết tâm trạng của ông ta. Tôi cảm thấy tôi không thể hiểu được ông ta, nếu ông ta không chịu bộc lộ với tôi.
Ông ta rút các áo phủ trên ghế salông ra và gấp lại cẩn thận.
- Ông muốn nói gì với tôi? – Ông ta vừa hỏi vừa rót cho chúng tôi mỗi người một ly rượu.
- Người ta giao cho tôi thanh lý hợp đồng với ông. Ông hãy cho chúng tôi những câu trả lời và những sự bảo đảm. Đổi lại, chúng tôi cũng cho ông những điều như thế.
- Tôi đã mất thói quen về việc thương lượng điều đình công việc thuộc loại ấy rồi.
- Chúng tôi có thể giúp đỡ ông. Có lẽ ông cũng cần điều gì đó. Chúng ta cũng có thể thoả thuận với nhau về con đường phải theo, về tương lai v.v...
- Cám ơn, tôi đã có tất cả những sự bảo đẩm mà tôi cần có rồi. – Barley trả lời một cách lễ phép, nhấn mạnh hai chữ “bảo đảm” là mấy chữ duy nhất trong câu nói của tôi mà ông ta đã chú ý. - Họ sẽ làm những công việc theo nhịp độ của họ. Còn tôi, tôi đã hứa không nói gì hết.
Cuối cùng ông ta đã mỉm cười và nói tiếp:
- Harry, tôi đã theo lời khuyên của ông. Cũng như ông, tôi đã trở thành một tình nhân yêu người tình của mình từ xa.
- Tôi đã đi đến Matxcơva. Tôi đã gõ tất cả các cửa có thể gõ được. Tôi đã gặp tất cả những người có thể gặp được. Tôi đã dùng tên thật của tôi.
- Tên gì? Barley hỏi, giọng vẫn luôn luôn nhã nhặn.
- Palfrey, - tôi đáp.
Barley lại mỉm cười với vẻ thân thiện và tán thưởng.
- Cơ quan đã phái tôi sang bên ấy để tìm kiếm ông. Một cách bán chính thức. Tôi đã hỏi người Nga về vấn đề của ông. Dàn xếp công việc đôi chút. Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc khám phá những gì đã xảy ra với ông. Để xem chúng tôi có thể giúp đỡ ông được những gì. Và để xem đối phương có theo đúng nguyên tắc của cuộc chơi không.  Để xem họ có thể áp dụng những biện pháp trả đũa không.
- Tôi đã nói với các ông những gì đã xảy đến cho tôi rồi mà.
- Ông muốn nói những gì ông đã viết trong các bức thư gửi ch o  Wicklow, cho Henziger và cho các người khác, phải không?
- Phải.
- Nếu thế thì lẽ đương nhiên là chúng tôi cho rằng họ bắt buộc ông phải viết các bức thư ấy, hoặc là họ đã nguỵ tạo các bức thư ấy. Tương tự như bức thư của Goethe gởi cho Katia do Igor trao cho bà ta.
- Các bức thư của tôi là do đích thân tôi viết và không có ai ép buộc tôi cả.
Tôi cố đi đến mục đích của mình là thuyết phục Barley ký văn bản mà tôi đã để sẵn trong cặp da của tôi.
- Chúng tôi công nhận ông đã hành động với một tinh thần trọng danh dự cao – tôi vừa nới vừa lấy ra một hồ sơ và mở ra trên đầu gối của tôi. - Cuối cùng rồi tất cả mọi người phải khai khi bị tra tấn, và ông đã không là ngoại lệ. Chúng tôi biết ơn ông về những gì ông đã làm cho chúng tôi. Chúng tôi biết cái giá ông phải trả về phương diện nghề nghiệp và về phương diện cá nhân. Chúng tôi thiết tha mong ông nhận được tối đa những sự đền bù. Lẽ dĩ nhiên là có những điều kiện.
Barley lại nhìn tôi đăm đăm với vẻ thản nhiên, không chút xúc động.
Tôi đọc các điều kiện, giống như các điều kiện đã áp đặt cho Landau, nhưng đảo lại: cư trú ở ngoài nước Anh và chỉ được về nước Anh nếu được chúng tôi chấp thuận trước. Đây là sự dàn xếp tối hậu và dứt khoát, về sau không được khiếu nại gì nữa. Cam kết giữ im lặng vĩnh viễn. Ký vào đây và nhận được rất nhiều tiền.
Barley không ký. Ông ta đã tỏ vẻ bực mình khi nghe tôi đọc các điều kiện. Ông ta gạt cây bút máy đẹp đẽ của tôi ra và nói:
- Sự thật các ông đã làm gì với Walt? Tôi có mua cho ông ta một cái mũ. Nhưng tôi đã không thể trao tận tay cho ông ấy.
- Ông hãy giao cho tôi. Tôi sẽ sắp xếp để chuyển tiếp cho ông ấy.
Nghe giọng tôi nói, Barley mỉm cười một cách buồn bã.
- Tội nghiệp cho già Walt. Họ đã nghiêm trị ông ta, đã thải hồi ông ta, phải không?
- Người ta không bao giờ ở lại lâu trong cái nghề này, - tôi đáp, nhưng không thể chịu đựng nổi ánh mắt của Barley, tôi chuyển nhanh sang đề tài khác.- Này Barley, tôi tin là ông đã được biết tin các bà cô của ông đã bán lại nhà xuất bản cho Lupus Books?
Barley phá lên cười, không phải tiếng cười vang dội như xưa, nhưng dù sao cũng là tiếng cười của một con người tự do.
- Thằng khả ố Jumbo! Thằng quỷ sứ ấy đã chơi khăm bà cô tôi.
Rồi ông ta nói qua chuyện khác.
- Katia sắp đến đây, - ông ta vừa nói vừa nhìn ra hải cảng. - Họ đã hứa với tôi rằng họ sẽ cho cô ấy đến đây. Không phải ngay lập tức. Ngày giờ sẽ do họ định, chứ không phải tôi. Có thể trong năm nay, có thể trong năm sau. Nhưng chắc chắn cô ấy sẽ đến. Vì họ không bao giờ không giữ lời hứa danh dự.
Đứng trước một sự tín cẩn như vậy, tôi im lạng vì nghĩ rằng có nói gì trong lúc này cũng không đúng lúc.
Tôi mời Barley đi ăn tối với tôi, nhưng hình như ông ta không nghe tôi nói. Ông đứng trước cửa kính nhìn các ánh đèn của hải cảng, còn tôi thì nhìn vào lưng ông ta. Đột nhiên tôi tưởng tượng ông ta nói cho tôi biết: Ông ta đã thấy chiếc tàu từ Leningrad tới. Ông đã thấy Katia và hai đứa con của nàng đi xuống cầu thang và chạy tới phía ông ta. Ông ta đã thấy mình ngồi với Matvei dưới gốc cây to bóng mát trong vườn trước nhà ông ta. Ông ta đã nghe Katia dịch chuyện kể của Matvei về các thành tích anh hùng của ông ấy.
Để cho tôi khỏi trở về tay không. Barley cương quyết tặng cho tôi câu chuyện của ông ta. Ông ta đưa tôi về căn nhà của ông, năn nỉ tôi uống với ông một ly rượu cuối cùng, và khẳng định với tôi rằng trong việc này tôi không có lỗi gì hết.
Và Barley kể cho tôi nghe. Cho chính ông ta nghe. Ông ta kể, kể mãi. Ông ta kể như tôi đã cố gắng kể lại đây để hầu quý vị độc giả. Ông ta kể cho đến bình minh, và khi tôi từ giã ông ta vào lúc năm giờ sáng, ông ta còn tự hỏi hay là ông ta nên sơn cho xong bức tường trước khi đi ngủ. Ông ta giải thích với tôi rằng còn biết bao việc phải làm, sửa soạn cho xong để chuẩn bị đón nàng. Nào nệm, nào giường, nào màn, nào tủ, kệ...
- Harry, tất cả sẽ tốt đẹp thôi, - Barley tuyên bố với tôi khi tiễn tôi ra cửa. – Hãy nói với tất cả mọi người.
Hoạt động gián điệp là chờ đợi.

HẾT

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 11:04:51Ct.Ly>
Chương 8

Ở dưới tầng hầm, ngồi sau một cái bàn có bốn chân uốn cong kiểu chân nai, trước vô số máy điện thoại. Ned cầm máy lên nghe lập tức mỗi khi có dấu hiệu báo. Một cái đồng hồ chỉ giờ ở Luân Đôn, và một cái khác chỉ giờ ở Matxcơva treo trên tường, cả hai cái sáng như hai mặt trăng. Lúc đó là nửa đêm ở Matxcơva, 21 giờ ở Luân Đôn. Ned chỉ ngước mặt lên một chút khi người gác cửa để cho tôi bước vào.

 
Cảm ơn cunhoi nhiều nhé
 
Chúc vui
0
Sis ơi, em đánh chương 11,12,13 nhé!
Trích đoạn: only_want_love

Sis ơi, em đánh chương 11,12,13 nhé!

 
 
Chào nữ hiệp only_want_love tái xuất giang hồ [;)]
 
Cảm ơn only_want_love nhiều nhé
 
Chúc vui [sm=40.gif]
0
mình nhận chương 16,17 nữa nhé
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 22:58:42Ct.Ly>
Chương 16

Gyorgy. Rất mừng được gặp lại anh! Vrenka đâu rồi?
- Barley, bạn thân mến, xin Chúa hãy cứu chúng con! Cũng như người
 
 
 
Cảm ơn cunhoi nhiều nhé
 
Tình thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-05 23:39:50Ct.Ly>
Chương 12
 
Chiếc máy bay chở chúng tôi tới đảo, là phi cơ riêng của một nhóm người có thế lực, nhưng không ai biết hòn đảo mà chúng tôi sắp đáp xuống là tài sản của người nào. Đảo hẹp, có nhiều cây cối, dài khoảng ba kilomét, ở
 
Cảm ơn only_want_love nhiều nhé
 
thân ái
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
Em xí phần chương 14, 15 luôn! Vậy là xong mấy chương sau!
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
Trích đoạn: Ct.Ly

Chương 4  (Tiếp theo)

 
TA nhận nốt phần này cho trọn chưong bốn luôn nha! ^.~
0
Trích đoạn: Ct.Ly

Chương 4 ( 1)

 
Thấy chương này chưa có ai nhận đánh, vậy Tùng Anh đánh máy chương 4 nghe! ^.~
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 11:09:58Ct.Ly>
Chương 13
 
Sáng Chủ nhật lúc 10 giờ, Katia đến đón Barley trước cửa khách sạn đồ sộ Mejdounarodnaia, mà người Tây phương gọi là khách sạn “Mej”. Ngồi trong tiền sảnh lộng lẫy, Wicklow và Henziger chứng kiến đôi bạn gặp lại nhau sau một thời gian xa cách.

 
Cảm ơn only_want_love nhiều nhé
 
Chúc vui
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 11:14:25Ct.Ly>
Chương 14
 
- Này Ned, - Clive nói với một giọng nhẹ nhõm. - Chim Xanh đã nhiều lần bị bệnh trong quá khứ.
- Tôi biết, tôi biết, - Ned trả lời một cách lơ đễnh. - Điều làm tôi lo âu,
 
Cảm ơn Only_want_love nhé
 
Chúc vui
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 22:56:09Ct.Ly>
Chương 7(TT)
 
rằng mẹ ông ta nằm bệnh viện ở Novgorod vì leo thang hái táo bị ngã bất tỉnh. Khi tỉnh lại thì hai chân đã bị bó bột.
- Bây giờ bà đã khỏe chưa?

 
Cảm ơn only_want_love nhiều nhé
 
Tình thân
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 23:01:00Ct.Ly>
Chương 15
 
Katia đã mượn chiếc xe Lada của Volodia để dùng trong đêm ấy. Barley phải đợi nàng lúc 21 giờ chiếc Lada đột ngột ngừng lại ngay chỗ Barley đang đứng đợi.
-
 
Cảm ơn Only_want_love nhiều nhé
 
Tình thân
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
Sis ơi, em gõ nốt chương 7(tt) nhé. Và cả chương 10 nữa. Hình như còn hai phần này thôi phải không sis?
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
Đúng rồi only_want_love
 
Còn chưong 2 ( dài như Vạn lý trường thành)  hình như scan sao đó
 
Để sis và Phong Anh tự đã vậy
 
Cảm nữ hiệp nhiều nhé
 
Tình thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-02 00:04:04Ct.Ly>
Chương 17

Các màn ảnh của chúng tôi cho biết lúc 18 giờ Barley bước ra khỏi văn phòng Nhà xuất bản Tháng Mười. Có một lúc chúng tôi đã kinh hoàng nghĩ rằng, có thể là Barley say, vì Zapadny cũng là một bợm rượu như ông ta,
 
HẾT
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-02 00:04:56Ct.Ly>
Truyện Đợi chờ đã hoàn tất và đã được đưa vào thư viện 
 
 Cảm ơn các hiệp sĩ PhongAnh, Tùng Anh, Cun Hoi, lhx28, smallduck và Only_want_love đã góp sức cho thư viện VNTQ
 
Chúc các hiệp sĩ luôn vui
 
Tình thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-08 19:48:34Ct.Ly>
Chương 10
 
Barley đi trong các thành phố Leningrad với vẻ tò mò của bất cứ khách du lịch nào, và với cảm tưởng rằng mình đang ở trong các thành phố khác, khi thì Praha, khi thì Vienne, đôi khi là Paris hay một góc của Regent’s Park.

 
Cảm ơn only_want_love nhiều nhé
 
Tình thân
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-08 19:49:13Ct.Ly>
Chương 2
 
Toàn thể Whitehall đồng thanh nói rằng không bao giờ có một sự việc bắt đầu như thế này. Các vị bộ trưởng liên quan đến sự việc bừng bừng nổi
 
Cảm ơn only_want_love nhiều nhé
 
Tình thân
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-02 00:03:14Ct.Ly>
Chương 2(TT)
 
thiết tưởng tôi phải cám ơn ông, càng sớm càng tốt. Khi nào ông rảnh?
- Khi nào ông muốn cũng được. - Landau đáp.
- Không bao giờ được để đến ngày mai… Bây giờ, ông có bằng lòng không?
- Ned, ý kiến của ông rất hay!
- Tôi cho xe đến đón ông ngay lập tức. Ông hãy ở nhà và đợi tiếng còi. Sẽ là một chiếc Rover màu xanh lục, biển số B. Tài xế tên là Sam. Nếu ông có chút nghi ngờ nào, hãy bảo anh ta xuất trình chứng minh thư. Và nếu như thế vẫn chưa đủ, thì hãy gọi số điện thoại ghê trên chứng minh thư ấy được chưa?
- Người bạn chung của chúng ta mạnh giỏi chứ? - Landau hỏi, nhưng Ned đã cúp máy.


Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-02 00:03:36Ct.Ly>
Chương 2(tt)
 
- Thưa ông, trình độ tú tài, không hơn. Tôi tự học. Tôi không chắc là sẽ thi đậu bằng tú tài, ngay cả bây giờ. Nhưng nhờ đọc sách, tôi đã trau dồi kiến thức của tôi.
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
0
«« « 1 2 » »»