<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-02 10:26:13sanDrop>
Những giấc mơ của Einstein
Tác giả : Alan Lightman
Dịch giả : Lê Chu Cầu
Nguồn : f2 (mình đó)
Đánh máy : sanDrop
Tác giả : Alan Lightman
Dịch giả : Lê Chu Cầu
Nguồn : f2 (mình đó)
Đánh máy : sanDrop
VÀO TRUYỆN
Tiếng tháp chuông đồng hồ trên 1 con đường có mái vòm (1) xa xa điểm 6 lần rồi im bặt. Người đàn ông trẻ tuổi ngồi gục đầu trên bàn giấy. Tờ mờ sáng nay anh đã tới Viện, sau khi đã xới kĩ vấn đề thêm lần nữa. Tóc không chải, quần rộng thùng thình. Tay anh cầm 20 trang giấy - lý thuyết mới của anh về thời gian - mà hôm nay anh sẽ gửi cho tạp chí Vật lý Đức.
Những âm thanh yếu ớt của thành phố ùa vào căn phòng. Tiếng 1 chai sữa cọ vào đá. Tiếng mái bạt che mưa nắng được quay thả xuống ở 1 cửa hàng trên Marktgasse (2). Tiếng 1 chiếc xe chở rau chậm chạp đẩy qua đường. Trong 1 căn hộ gần đó có 1 người đàn ông và 1 người đàn bà đang thầm thì với nhau.
Ánh sáng tờ mờ lọt vào căn phòng khiến những cái bàn giấy trông mờ ảo và hiền lành như những con vật to kềnh đang nằm ngủ. Trừ cái bàn của người đàn ông trẻ tuổi nọ là đầy những cuốn sách được mở ra, còn trên 12 cái bàn gỗ sồi kia gọn gàng ngăn nắp những hồ sơ của ngày hôm qua. Hai giờ nữa, viên chức nào tới đây làm việc đều biết rõ mình phải bắt đầu với việc gì. CÒn lúc này, trong ánh sáng mờ mờ kia, thật không dễ nhận ra đám hồ sơ trên các bàn nọ cũng như cái đồng hồ trong góc tường và chiếc ghế của cô thư kí bên cạnh cửa ra vào. Thứ duy nhất mà ta thấy được lúc này là đường nét mờ ảo của những chiếc bàn và cái dáng khòm khòm của người đàn ông trẻ tuổi.
Cái đồng hồ không nhìn rõ trên tường kia chỉ sáu giờ mười. Cứ sau mỗi phút thì những đồ vật khác rõ nét dần thêm. Đây là sọt giấy bằng đồng thau, kia là quyển lịch treo tường. Đây là tấm ảnh gia đình, hộp kẹp giấy, lọ mực và cây bút. Kia là máy đánh chữ và 1 cái áo vest vắt trên thành ghế. THeo thời gian, những cái kệ sách gắn đầy tường cũng ló dần ra khỏi màn đêm. Trên kệ là những ghi chú về các bằng phát minh. Bằng phát minh về 1 cái máy khoan mới có những bánh răng cong sao cho ít ma sát nhất. Bằng khác về 1 máy ổn áp bất chấp sự dao động của dòng điện. Bằng về 1 máy đánh chữ với cần gõ từ từ, loại bỏ đựoc tiếng keu lạch cạch. Đây là 1 căn phòng đầy những sáng kiến thực dụng.
Ngoài kia, mỏm núi Alps bắt đầu rực lên trong nắngLúc ấy đang là cuối tháng Sáu. Bên sng6 Aare, 1 người tháo dây buộc thuyền, đẩy thuyền ra và thả trôi theo dòng nước tới Gerbernegasse để chuyển món táo và dâu mùa hè lên bờ. Người chủ lò bánh mì bước vào lò bánh trên Marktgasse, đốt lò than rồi bắt đầu trộn bột mì với bột nở. Trên cây cầu Nydegg, 1 đôi tình nhân ôm nhau, mơ màng nhìn dòng nước. Ở đường Schifflaube, 1 người đán ông đứng trên ban công ngước mắt thăm dò bầu trời màu hồng nhạt. 1 người đàn bà không ngủ được chậm chạp đi dọc Kramgasse, ngó vào từng khung mái vòm còn tối thui và đọc trong ánh sáng lờ mờ những tấm áp phích treo ở đó.
Trong văn phòng dài mà hẹp trên Speichergasse - cái căn phòng đầy những sáng kiến thực dụng nọ - anh chàng nhân viên trẻ tuổi của Cơ quan cấp bằng phát minh vẫn còn ườn người trên ghế, đầu tựa trên bàn giấy. Suốt mấy tháng qua, từ giữa tháng Tư, anh đã nhiều lần mơ về thời gian. Những giấc mơ này đã tác động lên việc nghiên cứu của anh. Chúng đã làm anh mệt mỏi, khiến anh kiệt sức đến nỗi đôi khi anh không biết mình thức hay ngủ. Nhưng bây giờ thì chẳng cần mơ nữa. Trong bao nhiêu tưởng tượng về thời gian anh mơ thấy suốt bao nhiêu đêm, theo anh có 1 cái là rất hấp dẫn. Không phải những tưởng tượng khác là bất khả. Biết đâu chúng lại chẳng tồn tại trong những thế giới khác.
Người đàn ông trẻ tuổi cựa mình trên ghế, đợi cô thư ký tới và khẽ ngân nga 1 đoạn trong bản Sonata Ánh trăng của Beethoven
Chú thích:
1.lối đi 2 bên cho bộ hành, mái che giữa 2 cột uốn hình vòm rất thơ mộng, hiện còn thấy tại nhiều thành phố cổ ở Ý, Tây Ban Nha,... ảnh hưởng của kiến trúc A-rập
2.tiếng Đức có nhiều từ để gọi 1 con đường, chẳng hạn: gasse là đường hẹp trong phố, 2 bên có nhà cửa; strasse là đường bình thưòng hoặc đại lộ, ở trong hoặc ngoài thành phố. Trong bản tiếng Đức, những từ này được lặp đi lặp lại rất thường nên người dịch thấy nên giữ nguyên.