Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những giấc mơ của Einstein

4 trả lời, 2.048 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-02 10:26:13sanDrop>
Những giấc mơ của Einstein
Tác giả : Alan Lightman 

Dịch giả : Lê Chu Cầu

Nguồn : f2 (mình đó)

Đánh máy : sanDrop
 
VÀO TRUYỆN
Tiếng tháp chuông đồng hồ trên 1 con đường có mái vòm (1) xa xa điểm 6 lần rồi im bặt. Người đàn ông trẻ tuổi ngồi gục đầu trên bàn giấy. Tờ mờ sáng nay anh đã tới Viện, sau khi đã xới kĩ vấn đề thêm lần nữa. Tóc không chải, quần rộng thùng thình. Tay anh cầm 20 trang giấy - lý thuyết mới của anh về thời gian - mà hôm nay anh sẽ gửi cho tạp chí Vật lý Đức.
Những âm thanh yếu ớt của thành phố ùa vào căn phòng. Tiếng 1 chai sữa cọ vào đá. Tiếng mái bạt che mưa nắng được quay thả xuống ở 1 cửa hàng trên Marktgasse (2). Tiếng 1 chiếc xe chở rau chậm chạp đẩy qua đường. Trong 1 căn hộ gần đó có 1 người đàn ông và 1 người đàn bà đang thầm thì với nhau.
Ánh sáng tờ mờ lọt vào căn phòng khiến những cái bàn giấy trông mờ ảo và hiền lành như những con vật to kềnh đang nằm ngủ. Trừ cái bàn của người đàn ông trẻ tuổi nọ là đầy những cuốn sách được mở ra, còn trên 12 cái bàn gỗ sồi kia gọn gàng ngăn nắp những hồ sơ của ngày hôm qua. Hai giờ nữa, viên chức nào tới đây làm việc đều biết rõ mình phải bắt đầu với việc gì. CÒn lúc này, trong ánh sáng mờ mờ kia, thật không dễ nhận ra đám hồ sơ trên các bàn nọ cũng như cái đồng hồ trong góc tường và chiếc ghế của cô thư kí bên cạnh cửa ra vào. Thứ duy nhất mà ta thấy được lúc này là đường nét mờ ảo của những chiếc bàn và cái dáng khòm khòm của người đàn ông trẻ tuổi.
Cái đồng hồ không nhìn rõ trên tường kia chỉ sáu giờ mười. Cứ sau mỗi phút thì những đồ vật khác rõ nét dần thêm. Đây là sọt giấy bằng đồng thau, kia là quyển lịch treo tường. Đây là tấm ảnh gia đình, hộp kẹp giấy, lọ mực và cây bút. Kia là máy đánh chữ và 1 cái áo vest vắt trên thành ghế. THeo thời gian, những cái kệ sách gắn đầy tường cũng ló dần ra khỏi màn đêm. Trên kệ là những ghi chú về các bằng phát minh. Bằng phát minh về 1 cái máy khoan mới có những bánh răng cong sao cho ít ma sát nhất. Bằng khác về 1 máy ổn áp bất chấp sự dao động của dòng điện. Bằng về 1 máy đánh chữ với cần gõ từ từ, loại bỏ đựoc tiếng keu lạch cạch. Đây là 1 căn phòng đầy những sáng kiến thực dụng.
Ngoài kia, mỏm núi Alps bắt đầu rực lên trong nắngLúc ấy đang là cuối tháng Sáu. Bên sng6 Aare, 1 người tháo dây buộc thuyền, đẩy thuyền ra và thả trôi theo dòng nước tới Gerbernegasse để chuyển món táo và dâu mùa hè lên bờ. Người chủ lò bánh mì bước vào lò bánh trên Marktgasse, đốt lò than rồi bắt đầu trộn bột mì với bột nở. Trên cây cầu Nydegg, 1 đôi tình nhân ôm nhau, mơ màng nhìn dòng nước. Ở đường Schifflaube, 1 người đán ông đứng trên ban công ngước mắt thăm dò bầu trời màu hồng nhạt. 1 người đàn bà không ngủ được chậm chạp đi dọc Kramgasse, ngó vào từng khung mái vòm còn tối thui và đọc trong ánh sáng lờ mờ những tấm áp phích treo ở đó.
Trong văn phòng dài mà hẹp trên Speichergasse - cái căn phòng đầy những sáng kiến thực dụng nọ - anh chàng nhân viên trẻ tuổi của Cơ quan cấp bằng phát minh vẫn còn ườn người trên ghế, đầu tựa trên bàn giấy. Suốt mấy tháng qua, từ giữa tháng Tư, anh đã nhiều lần mơ về thời gian. Những giấc mơ này đã tác động lên việc nghiên cứu của anh. Chúng đã làm anh mệt mỏi, khiến anh kiệt sức đến nỗi đôi khi anh không biết mình thức hay ngủ. Nhưng bây giờ thì chẳng cần mơ nữa. Trong bao nhiêu tưởng tượng về thời gian anh mơ thấy suốt bao nhiêu đêm, theo anh có 1 cái là rất hấp dẫn. Không phải những tưởng tượng khác là bất khả. Biết đâu chúng lại chẳng tồn tại trong những thế giới khác.
Người đàn ông trẻ tuổi cựa mình trên ghế, đợi cô thư ký tới và khẽ ngân nga 1 đoạn trong bản Sonata Ánh trăng của Beethoven





Chú thích:
1.lối đi 2 bên cho bộ hành, mái che giữa 2 cột uốn hình vòm rất thơ mộng, hiện còn thấy tại nhiều thành phố cổ ở Ý, Tây Ban Nha,... ảnh hưởng của kiến trúc A-rập
2.tiếng Đức có nhiều từ để gọi 1 con đường, chẳng hạn: gasse là đường hẹp trong phố, 2 bên có nhà cửa; strasse là đường bình thưòng hoặc đại lộ, ở trong hoặc ngoài thành phố. Trong bản tiếng Đức, những từ này được lặp đi lặp lại rất thường nên người dịch thấy nên giữ nguyên.
 
Đăng nhập để trả lời
0
14 THÁNG TƯ 1905
Giả sử thời gian là 1 đường tròn, tự xoay tròn trên chính nó, thì thế giới sẽ lặp lại y hệt như trước và lặp lại không ngừng.
Phần lớn người ta không biết rằng mình sẽ lại sống cuộc đời như trước. Các thương nhân không biết họ sẽ lại bán buôn hoài hoài cũng những thứ ấy, các nhà chính trị không biết rằng số lần phát biểu của họ trên cùng cái diễn đàn ấy là vô tận. Các bậc cha mẹ nâng niu gìn giữ kỉ niệm về nụ cười đầu tiên của đứa con như thể họ sẽ không xòn bao giờ được nghe lại nữa. Những kẻ yêu nhau lần đầu ân ái, ngượng ngùng cởi bỏ áo quần, ngạc nhiên về cặp đùi và núm vú mềm mại. Làm sao họ biết được mỗi cái nhìn e ấp, mỗi cái vuốt ve đều sẽ lặp lại mãi, y như trước?
Ở Marktgasse cũng y như thế. Làm sao chủ các hiệu buôn biết được rằng mỗi cái áo len đan tay, mỗi chiếc khăn thêu, mỗi phong sôcôla Praline, mỗi cái la bàn và mỗi chiếc đồng hồ tinh xảo lại sẽ quay trở về cửa hàng của họ? Chiều đến, họ về nhà với gia đình hay vào quán uống bia, vui vẻ chào hỏi bạn bè trong những con đường hẹp mái vòm, họ nâng niu từng giây phút như nâng niu viên ngọc lục bảo được người ta nhờ tạm thời giữ hộ. Làm sao họ biết được rằng không có gì trôi qua cả, rằng tất cả sẽ lại xảy ra? Họ không thể biết được điều đó, như 1 con kiến đang bò trên vành ngọn đèn pha lê không biết rằng nó sẽ lại quay về khởi điểm.
Trong nhà thương trên Gerberngasse, có 1 người vợ đang vĩnh biệt người chồng. Ông chồng nằm trên giường và nhìn vợ trân trân với đôi mắt trống rỗng. Trong 2 thàng cuối, bệnh ung thư đã lan từ thanh quản tới gan, tuyến tuỵ và óc. 2 đứa con nhỏ ngồi trên chiếc ghế trong góc phòng sợ hãi không dám nhìn ông bố má hóp, da dẻ héo khô như 1 người già. Người vợ lại giường, âu yếm hôn trán chồng, thì thầm chào rồi bước vội ra về với mấy đứa con. Bà tin chắc rằng mình vừa hôn chồng lần cuối cùng. Làm sao bà biết được thời gian sẽ lại bắt đầu, rằng bà sẽ lại tái sinh, sẽ lại đến trường trung học. Làm sao bà biết được rằng mình sẽ lại trưng bày tranh ở phòng tranh ở Zurich, rằng sẽ quen ông chồng tại 1 thư viện nhỏ ở Fribourg. Làm sao bà biết được rằng vào 1 ngày tháng Bảy ấm áp mình sẽ lại đi thuyền buồm với ông trên hồ Thun, rằng bà sẽ lại sinh con đẻ cái, rằng ông chồng sẽ lại làm việc 8 năm trong 1 hãng bào chế dược phẩm và rồi 1 buổi chiều ông về nhà với khối u noi thanh quản, sẽ lại ói mửa, yếu đi và giây phút này sẽ vào nằm trong nhà thương này, trong căn phòng này, trên cái giường này? Làm sao bà biết được những điều ấy?
Trong 1 thế giới mà thời gian là 1 đường tròn thì mỗi cái siết tay, mỗi nụ hôn, mỗi lần sinh nở, mỗi lời nói sẽ lặp lại như cũ. Và cũng như thế, mỗi khoảnh khắc 2 người bạn không còn là bè bạn của nhau, mỗi lúc 1 gia đình tan vỡ vì túng bấn, mỗi lời nhức tai xóc óc khi đôi vợ chồng cãi vã, mỗi cơ hội thăng tiến bị cấp trên ghen ghét cản trở, mỗi một lần thất hứa.
Hệt như mọi việc sẽ lặp lại trong tương lai, mọi việc đang xảy ra đều đã xảy ra cả triệu lần. Trong mỗi thành phố, đều có những người lờ mờ nhận ra, trong giấc mơ của họ, rằng mọi chuyện đã từng xảy ra rồi. Đó là những người không có cuộc đời may mắn, và họ cảm thấy những phán đoán và hành động sai lầm của mình, thảy đều xảy ra trong vòng thời gian trước. Trong màn đêm tĩnh lặng, những kẻ phải gánh chịu lời nguyền này cứ trằn trọc trên giường, không yên, họ giày vò bởi biết rằng không thay đổi được chút gì trong hành động và cử chỉ của mình. Những lỗi lầm của họ sẽ lặp lại trong đời này y hệt như trong đời trước. Chính sự bất hạnh gấp đôi này mang đến cho ta dấu hiệu duy nhất về việc thời gian là 1 vòng tròn. Bởi vì canh khuya, các phố xá và ban công trống trải của thành phố lúc nào cũng đầy những tiến thở than rên rì của họ
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-03 03:41:39sanDrop>
16 THÁNG TƯ 1905
Trong thế giới này, thời gian như 1 dòng nước, đôi khi bị 1 mảnh vụn hay làn gió nhẹ làm cho chuyển dòng. Thỉnh thoảng 1 nhiễu động trong vũ trụ lại khiến cho 1 nhánh nhỏ thời gian tách khỏi dòng chính để trôi ngược trở lại. Lúc đó, chim muông, con người và vùng đất ở trên cái nhánh tách ra này thình lình sẽ bị cuốn về quá khứ.
Rất dễ nhận ra những kẻ bị đẩy ngược dòng thời gian này. Họ mặc đồ sẫm và kín đáo, họ đi rón rén, cố không gây tiếng động hay làm gãy ngọn cỏ nào. Bởi vì họ lo rằng 1 thay đổi mình tạo ra trong quá khứ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới tương lai.
Chẳng hạn ngay chính lúc này đây 1 người như thế, 1 người đàn bà, đang ngồi trong bóng râm của hàng cây trước ngôi nhà số 19 Kramgasse. Với 1 người đến từ tương lai thì đây là 1 địa điểm lạ lùng, nhưng bà ngồi đó thật. Người qua lại đăm đăm nhìn bà rồi đi tiếp. Bà ngồi thu lu trong 1 góc, bò nhanh qua đường rồi thu người trong 1 góc tối khác trước ngôi nhà số 22. Bà rất sợ, cố không làm bốc lên tí bụi nào, hệt như 1 ông Peter Klausen nào đó đang trên đường tới tiệm thuốc vào xế trưa ngày 16.4.1905 này. Ông Klausen này hơi làm đỏm, không ưa quần áo dính bẩn. Chỉ cần vướng 1 chút bụi là ông sẽ đứng ngay lại, phủi thật kĩ, bất chấp giờ giấc đã hẹn. Khi Klausen vì thế mà tới trễ thì ông sẽ không mua được thuốc bôi cho bà vợ cả tuần nay bị đau chân. Thế là bà vợ sẽ bực mình và có thể sẽ không chịu đi chơi hồ Genève nữa. Nếu ngày 23.6.1905 bà không đi chơi hồ Genève thì sẽ không gặp 1 cô Cathérine d'Épinay nào đó đi dạo trên con đê bờ hồ phía Đông và bà sẽ không giới thiệu được cô d'Épinay với cậu con trai tên Richard. Richard và Cathérine sẽ không lấy nhau vào ngày 17.12.1908 và con trai họ - Friedrich Klausen - sẽ không ra đời ngày 8.7.1912. Và ngày 22.8.1938 ông Friedrich này sẽ không là bố của Hans Klausen, mà không có ông Hans Klausen thì Liên minh châu Âu sẽ không hình thành vào năm 1979.
Từ tương lai, người đàn bà nọ bị thả về thời gian và nơi chốn này mà không được báo trước, bà cố ẩn mình trong góc tối trước căn nhà số 22 Kramgasse để không ai nhìn thấy; bà biết câu chuyện về dòng họ Klausen và hàng nghìn chuyện khác sẽ xảy ra, tuỳ thuộc vào những đứa trẻ sinh ra, cung cách người ta đi đứng trên đường phố, tiếng chim hót vào 1 thời điểm nào đó, vị trí chính xác của những cái ghế và tuỳ thuộc vào gió. Bà ngồi thu mình trong bóng tối, phớt lờ những cặp mắt của người qua lại. Bà ngồi đó chờ dòng thời gian đưa bà trở lại với thời gian thật sự của mình.
Khi 1 người đến từ tương lai muốn nói điều gì thì hắn không nói thành tiếng mà khóc ư ử. Hắn thì thào, hắt ra thứ âm thanh thống khổ. Hắn phải chịu sự giày vò của địa ngục. Vì chỉ cần hắn thay đổi chút xíu thôi, là hắn có thể tàn phá tương lai. Đồng thời hắn phải chứng kiến những chuyện này khác mà không được tham dự, không được can thiệp vào. Hắn ganh với những người được sống trong thời gian của họ, được làm điều họ muốn mà không cần nghĩ tới tương lai, không cần biết hậu quả việc mình làm. Còn hắn lại không thể làm được. Hắn là 1 thứ khí hiếm, 1 bóng ma, 1 cái khăn trải giường vô hồn. Hắn đã bị mất đi cá tính. Hắn là kẻ bị lưu đày trong thời gian.
Làng mạc nào, thành phố nào cũng có những con người khốn khổ như thế đến từ tương lai: họ náu mình dưới mái hiên nhà, dưới hầm, dưới gầm cầu, trong những chốn bỏ hoang. Người ta không hỏi họ về những chuyện sắp xảy ra, về những cuộc hôn nhân và sinh đẻ trong tương lai, về những chuyện tiền bạc, những phát minh và những mối lợi thu được của các phát minh này. Người ta thấy tội nghiệp và để họ yên thân.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-07 12:43:56sanDrop>
24 THÁNG TƯ 1905
Trong thế giới này có 2 thứ thời gian: thời gian cơ học và thời gian của cơ thể. Cái thứ nhất thì cứng ngắc như kim loại, giống như 1 con lắc to tướng bằng thép lắc qua lắc lại, lắc qua lắc lại. Cái thứ hai uốn éo, quẫy tới quẫy lui như 1 con cá thu trong vịnh. Cái đầu đã được định trước và không uốn nổi. Cái sau thay đổi tuỳ trường hợp.
Nhiều người tin chắc rằng không có thứ thời gian cơ học. Khi đi ngang qua chiếc đồng hồ khổng lồ ở Kramgasse họ không nhìn nó, cũng không nghe tiếng chuông khi gửi bưu kiện ở Postgasse hay lượn qua lượn lại giữa những bụi hoa ở Vườn Hồng. Cổ tay họ đeo đồng hồ đấy nhưng chỉ là thứ trang sức hoặc để làm vui lòng kẻ đã tặng họ. Còn ở nhà họ không có đồng hồ. Thay vào đó họ nghe nhịp đập của trái tim mình. Họ cảm nhận được nhịp độ vui buồn và thèm muốn của mình. Những người như vậy ăn khi họ đói, đi làm ở tiệm bán quần áo hay hiệu thuốc khi họ thức dậy, giờ nào cũng lên giường với người tình được. Những người như thế cười nhạo cái ý tưởng có thời gian cơ học. Họ biết rằng thời gian tiến tới theo lối giật cục. Họ biết rằng phải chiến đấu để tiến lên phía trước với gánh nặng trên lưng, khi phải hối hả đưa đứa con bị thương vào bệnh viện hay phải chịu đựng cái nhìn chòng chọc của người hàng xóm đang bực bội, vì mình đã không nên không phải. Họ cũng biết rằng thời gian vẫn lặng lẽ trôi khi ta ngồi ăn 1 món ngon với bạn bè, khi được tán dương hay khi kín đáo nằm trong vòng tay người ta yêu.
Lại có những người cho rằng cơ thể mình không hiện hữu. Họ sống theo thời gian cơ học. Sáng sáng họ dậy lúc 7 giờ. 12 giờ họ ăn trưa, 6 giờ chiều ăn tối. Khi có hẹn, họ tới đúng từng phút. Khoảng thời gian giữa 8 và 10 giờ tối dành cho ái ân. Họ làm việc 40 giờ mỗi tuần, Chủ nhật đọc báo ra ngày Chủ nhật, tối thứ Ba chơi cờ vua. Khi bao tử nhắc thì họ nhìn đồng hồ xem đã tới giờ ăn chưa. Khi thấy chán buổi hoà nhạc họ nhìn đồng hồ phía trên sân khấu xem lúc nào về nhà được. Họ biết rằng cơ thể chẳng phải là cái gì tuyệt vời mà chỉ là sự kết tụ của những hoá chất, những mô và xung thần kinh. Tư tưởng không là gì khác hơn những làn sóng điện trong não bộ. Dục tình không là gì khác hơn 1 luồng hoá chất chạy tời 1 đầu thần kinh nhất định. Buồn rầu chẳng qua là 1 chút acid lắng ở tiểu não. Nói gọn, cơ thể con người là 1 bộ máy bị chi phối bởi cùng những định luật về điện và cơ học, như 1 điện tử hay 1 chiếc đồng hồ. Thành thử người ta phải nói về cơ thể con người bằng thứ ngôn ngữ vật lý. Và khi cơ thể lên tiếng thì chỉ có nghĩa là những đòn bẩy và những lực nhất định nào đó lên tiếng. Người ta ra lệnh cho cơ thể chứ không nghe theo nó.
Ai đi dạo dọc sông Aare vào buổi tối sẽ tìm thấy bằng chứng về 2 thế giới trong 1 thế giới. 1 người chèo thuyền định vị trí của mình trong đêm tối bằng cách đếm số giây thuyền trôi trên nước. "1 giây, 3 mét. 2, 6 mét. 3, 9 mét." Tiếng anh ta rõ ràng từng âm một cắt qua màn đêm. Dưới chân một cột đèn trên cây cầu Nydegg có 2 anh em nhà nọ đã không gặp nhau 1 năm nay, đang đứng uống rượu cười đùa. Tiếng chuông trên tháp nhà thờ lớn điểm 10 lần. Trong vòng vài giây, ánh đèn trong những căn hộ trên đường Schifflaubetắt ngấm theo 1 phản ứng cơ học hoàn hảo, như các suy diễn trong hình học Euclide (4). Đôi tình nhân nằm trên bờ sông bị tiếng chuông nhà thờ xa xa lôi dậy từ giấc ngủ phi thời gian, chậm chạp ngước nhìn lên và sửng sốt thấy rằng trời đã tối.
Tuyệt vọng ngự trị nơi 2 thứ thời gian đụng phải nhau, hài lòng nơi mỗi thứ rẽ đi 1 ngả. Vì 1 vị luật sư, 1 cô y tá, 1 ông thợ bánh mì có thể khám phá thế giới 1 cách tuyệt diệu trong 1 thứ thời gian nhưng không thể nào trong 2. Mỗi thời gian đều có thật nhưng những chân lý là chẳng giống nhau.





4. Euclide: nhà toán học Hi Lạp thời cổ đại
Đăng nhập để trả lời
0
26 THÁNG TƯ 1905
Trong thế giới này, người ta nhận ra ngay rằng có điều gì đó không ổn. Dưới thung lũng và trên đồng bằng, tuyệt không thất 1 ngôi nhà nào. Mọi người sống trên núi cả.
Đâu đó trong quá khứ, các nhà khoa học phát hiện ra rằng càng xa trung tâm trái đất thì thời gian càng trôi chậm hơn. Hiện tượng này nhỏ lắm nhưng đo được bằng những dụng cụ cực nhạy. Khi điều này được công bố thì 1 số người muốn được trẻ lâu dọn lên núi ở. Từ đó tới nay nhà chỉ còn được xây trên đỉnh Dom, Matterhorn, Monte Rosa (5) và những chỗ cao khác. Nhà xây nơi nào khác không bán cho ai được.
Nhiều người còn chưa chịu hài lòng với căn hộ trên núi của mình. Để đạt hiệu quả cao nhất họ xây trên cọc nữa. Các đỉnh núi trên khắp thế giới này toàn nhà là nhà, trông từ xa cứ như 1 đàn chim béo mập đậu trên 2 cái cẳng dài, tong teo. Những kẻ coi trọng chuyện sống lâu hơn cả cư ngụ trong các ngôi nhà dựng trên những cái cọc cao nhất. Có những căn nhà cọc gỗ nhô lên tới 800 mét. Độ cao trở thành biểu tượng cho địa vị. Ai phải ngước lên từ cửa sổ bếp nhà mình mới thấy được láng giềng ắt cho rằng các khớp xương của láng giềng không cứng sớm như mình, hắn cũng lâu rụng tóc, lâu nhăn da hơn và không sớm mất đi hứng thú ái ân. Ngược lai, Nếu nhìn xuống mà thấy nhà khác thì liền cho rắng người trong ngôi nhà nọ kiệt sức, yếu đuối và cận thị. Lắm kẻ khoe khoang, cả đời ở tuốt trên cao, sinh ra trong ngôi nhà cao nhất dựng trên ngọn núi cao nhất và chưa hề xuống phía dưới bao giờ. Họ tản bộ giữa những tấm gương, say mê chiêm ngưỡng vẻ thanh xuân của mình và trần truồng đi dạo trên ban công.
Tuy nhiên đôi khi có việc gấp buộc họ phải rời nhà đi xuống dưới. Lúc ấy họ hộc tốc tuột xuống cái cầu thang cao nghệu, tới chân cầu thang họ chạy vội tới 1 cầu thang khác hay xuống 1 thung lũngdưới thấp nữa, giải quyết công chuyện rồi hối hả trở lên nhà hay 1 chỗ nào khác trên cao. Họ biết rằng cùng với mỗi bước xuống phía dưới, thời gian sẽ trôi đi nhanh hơn 1 ít và bản thân họ sẽ chóng già hơn đôi chút. Dưới mặt đất chẳng bao giờ thấy ai ngồi cả: dưới đó ta chỉ gặp người người đang tất tả chạy, tay ôm cặp hồ sơ hay giỏ đi chợ mà thôi. Ở mỗi thành phố đều có 1 nhúm nhỏ dân cư chẳng quan tâm gì đến chuyện già hơn hàng xóm của họ mất vài giây. Những kẻ liều lĩnh này phất phơ cả ngày ở thế giới bên dưới, đi lòng vòng quanh những gốc cây mọc trong thung lũng, thong dong bơi lội trong các ao hồ ở các vùng ấm áp và nằm lăn lộn trên đất bằng. Họ chẳng hề ngó đồng hồ và không biết được ngày hôm ấy là thứ Hai hay thứ Năm. Nếu những kẻ hối hả kia chạy qua buông 1 lời giễu cợt thì họ chỉ mỉm cười.
Theo thời gian , con người ta quên mất lý do tại sao ở cao hơn lại tốt hơn. Tuy nhiên họ vẫn tiếp tục sống trên núi, tiếp tục tránh miền dưới, tiếp tục đe lũ con phải tránh xa đám trẻ phía dưới. Họ quen chịu đựng cái lạnh miền núi và coi những điều không mấy dễ chịu do giá rét gây ra như 1 phần của sự giáo dục hay ho họ được hấp thụ. Thậm chí họ còn tự huyễn hoặc rằng không khí loãng tốt cho cơ thể. Theo logic này, họ ăn uống kiêng khem và chỉ chụi dùng những thứ thực phẩm thanh đạm nhất. Cuối cùng họ gầy trơ xương như que củi và già đi trước tuổi.



5. tên những mỏm núi cao của rặng Alps ở Thuỵ Sĩ
Đăng nhập để trả lời
0