Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tôtem sói - Khương Nhung 🔒

33 trả lời, 6.975 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-20 21:23:46Ct.Ly>
Canary hoàn tất
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
 
Chương 2

Thuyền Vu (Hung Nô) sinh hai con gái nhan sắc tuyệt trần, người trong nước gọi là thần nữ.  Thuyền Vu nói, con gái ta không thể gả cho người thường, mà phải hiến cho trời.  Bèn sai dựng chòi cao phía bắc đất nước, nơi không có người, rồi đưa hai con gái đến ở để trời tự đón lên.  Một năm qua đi, chỉ thấy mỗi con sói lớn ngày đêm canh gác căn chòi, đào hang mà ở không đi.  Cô em nói, cha bố trí chị em mình ở đây là để trời đón, giờ thì lại là sói, hay sói là thần vật trời sai đến lấy chị em mình.  Cô chị cả sợ nói, lấy đồ súc sinh này thì nhục cho cha mẹ.  Người em không nghe, xuống chòi làm vợ sói, sinh con.  Sau sinh sôi nảy nở thành một nước.  Vậy nên, người nước này tiếng hát dài như tiếng sói tru.
- Chu thư, Nhu nhu Hung Nô đồ hướng Cao Xa liệt truyện.


Lại thêm sáu bảy con sói lớn lặng lẽ nhập bọn, tạo thành vòng vây ba mặt hình cánh cung.  Trần Trận kéo ống tay áo da cừu che kín mũi miệng, khẽ hỏi: Bố, đàn sói bắt đầu bủa vây rồi phải không?
Ông già cũng trả lời khẽ: Phải lúc nữa, con sói đầu đàn đang đợi.  Sói bao vây chặt chẽ hơn người.  Trước tiên, phải phân tích sói chúa đang đợi gì?  Ông già chớp chớp hàng mi cho những bông tuyết rơi xuống.  Chiếc mũ lông cáo dùng để che trán, che mặt, che vai bán đầy tuyết xốp phủ kín người ông già, chỉ chừa lại đôi mắt đồng tử màu hổ phách.
Hai người phục trong hố đã hơn nửa ngày.  Lúc này, họ theo dõi chặt chẽ đàn dê trên dốc núi trước mặt, gần một nghìn con.  Mấy con đực trên đầu có cặp sừng rất dài, miệng nhai cỏ, mắt nhìn ra xa, mũi khịt khịt đánh hơi trong không khí.  Những con khác ăn như rồng cuốn.
Đây là bãi chăn dự bị khi có thiên tai của đội Hai, dọc ngang hai ba mươi dặm, vắt ngang sườn núi, thoáng gió, cỏ thân cao, mọc dày, chất lượng tốt, bão không đổ, tuyết lớn không phủ kín.
Ông già nói nhỏ: Cậu nhìn kỹ là biết ngay bãi cỏ có vị trí đặc biệt tốt, đúng hướng gió tây bắc, tuyết càng lớn càng không đọng lại được.  Năm tôi lên tám, thảo nguyên Ơlon gặp họa lớn.  Tuyết ngập lút lều Mông Cổ.  May mà phần lớn đàn gia súc được mấy ông già dồn đi từ lúc tuyết mới đến đầu gối.  Các cụ tập trung ngựa lại, dùng sức của hàng nghìn con ngựa mở đường, tiếp theo là mấy chục đàn bò dẫm cho tuyết rắn lại, hình thành một con mương cạn.  Đàn cừu và bò di chuyển ròng rã ba ngày ba đêm mới tới bãi cỏ này.  Tuyết ở đây chỉ dày chừng một hai thước, ngọn cỏ nhô lên ba đốt ngón tay.  Đàn bò và cừu vừa đói vừa rét, trông thấy cỏ liền be rầm lên, chạy tới.  Mọi người phục xuống đất mà khóc, đập đầu lạy đến nỗi mặt mũi đầy tuyết.  Đến đây, cừu và ngựa có thể bới tuyết ăn cỏ, những con chưa biết bới thì đi phía sau mót cỏ mà ăn.  Quá nửa sống sót đến khi tuyết tan.  Những gia đình không kịp di chuyển thì thảm quá, tuy người thoát, nhưng gia súc thì hầu  như bị vùi trong tuyết, chết sạch.  Nếu không có bãi cõ này thì người và gia súc ở thảo nguyên Ơlon không còn một mống.  Từ đó, thảo nguyên Ơlon không còn sợ tuyết lớn nữa.  Hễ có tuyết lớn, chuyển về đây là thoát nạn.
Ông già thở dài nhẹ: Đây là bãi chăn cứu mạng trời ban cho người và gia súc chúng ta.  Trước kia, người dân năm nào cũng tế trời và sơn thần trên núi.  Hai năm nay do có phong trào (cách mạng văn hóa), không ai dám cúng bái công khai, nhưng trong bụng vẫn khấn thầm.  Núi này là núi thiêng, người dân Ơlon dù khô hạn đến mấy, thiếu cỏ đến mấy cũng không dám đụng vào bãi cỏ này, dù chỉ một cọng.  Dân chăn ngựa mất bao tâm huyết mới giữ được đồng cỏ này.  Bầy sói ngày đêm bảo vệ những quả núi.  Cứ khoảng năm sáu năm chúng lại giết một lô dê vàng tế thần núi, tế trời.  Những quả núi ở đây không những cứu người và gia súc, mà cứu cả sói.  Sói tinh hơn người, người chưa kịp đến, sói đã đến trước.  Ban ngày sói nấp sau những đống đá trên đỉnh núi hoặc chỗ tuyết rắn phía sau núi.  Ban đêm bới tuyết ăn bò cừu chết vì lạnh.  Chỉ cần có cái ăn là sói không quấy rầy con người.
Vài đám mây trắng như bông vét quang bầu trời.  Ông già ngẩn nhìn da trời xanh trong với ánh mắt thành kính.  Trần Trận cảm thấy ánh mắt ấy chỉ thấy trong những tranh tôn giáo phương tây.
Năm nay thảo nguyên có tuyết sớm nên nửa thân cỏ chưa kịp vàng đã lút trong tuyết.  Cỏ trong tuyết chẳng khác rau xanh đông lạnh, mùi thơm ngọt bay lên từ những cọng cỏ rỗng ruột hoặc từ những vết tuyết nứt.  Đàn dê từ bên nước láng giềng bị tuyết lớn và cái đói truy đuổi, vượt biên về đây, gặp đồng cỏ Ơlon như gặp ốc đảo giữa mùa đông.  Mê mẫn vì mùi cỏ thơm, chúng ở lại, không đi đâu nữa.  Bụng no tròn như cái trống, chúng gần như chạy không nổi.
Chỉ sói chúa và ông già Pilich mới nhìn ra đàn dê đã phạm sai lầm lớn.
Đàn dê này chưa phải đông nhất.  Trần Trận còn nhớ năm đầu tiên khi về Ơlon, thi thoảng lại trông thấy một đàn đông hàng vạn con.  Nghe cán bộ mục trường nói lại, thời kỳ khó khăn những năm sáu mươi, bộ đội các đại quân khu phương bắc dùng xe nhà binh và súng máy bắn chết rất nhiều dê lấy thịt cho các cơ quan quân khu.  Hậu quả là đuổi sạch dê ra khỏi biên giới.  Những năm gần đây biên giới căng thẳng, những cuộc săn bắt dê quy mộ lớn đã chấm dứt.  Thảo nguyên Ơlon xinh tươi lại được trông thấy những đàn dê đông đúc.  Trần Trận khi chăn cừu vẫn gặp những đàn dê lớn lướt qua như cơn lốc màu vàng ngay bên sườn, khiến đàn cừu của cậu giật mình dồn thành đống, nhìn những con dê tự do bay nhảy bằng ánh mắt thèm thuồng.
Đàn dê vàng trên thảo nguyên Ơlon hoàn toàn coi khinh những người trong tay không súng.  Một bận, Trần Trận thúc ngựa tạt sườn, xông vào một đàn, hi vọng nhân lúc nhốn nháo tóm được một con, thưởng thức món thịt vào loại cao lương mỹ vị.  Nhưng chúng chạy quá nhanh, dê vàng chạy nhanh nhất trong số loài vật bốn chân, chó săn hoặc sói không bao giờ đuổi kịp.  Trần Trận mấy bận thúc ngựa xông vào giữa đàn nhưng không thể đụng tới sợi lông của chúng.  Chúng tẻ sang hai bên, cậu lọt vào giữa, cách mỗi bên chừng hai mươi mét.  Chúng tiếp tục phi như gió, bỏ cậu lại phía sau.  Chạy xa rồi, chúng mới nhập đàn làm một, cậu chỉ còn cách giương mắt ếch mà ngó.
Đàn dê vàng trước mặt cỡ trung bình, nhưng Trần Trận thấy đàn sói chỉ mấy chục con - dù là sói gộc, thì đàn dê vẫn là quá lớn.  Người ta thường nói, lòng tham của sói là lớn nhất.  Trần Trận muốn biết tham vọng ấy lớn chừng nào.  Cậu cũng rất muốn biết đàn sói vây ráp giỏi đến mức nào.
Đàn sói rất thận trọng khi bủa vây, động tác nhẹ nhàng, chậm rãi.  Chỉ cần một vài con dê ngẩng đầu lên, là cả đàn nằm rạp xuống cỏ bất động, ngay cả hơi nước thở ra từ mũi cũng từ từ.
Đàn dê tiếp tục gặm cỏ như điên.  Hai người im lặng chờ đợi.  Ông già nói nhỏ: Dê vàng mới là đại họa của thảo nguyên.  Chung chạy nhanh, ăn khoẻ.  Cậu thấy đấy, chúng đã ăn không biết bao nhiêu là cỏ ngon.  Người và gia súc gian nan vất vả mới để dành được bãi chăn này, vậy mà chỉ mấy hôm  chúng đã xực mất non nửa.  Nếu về vài đàn lớn nữa là đồng cỏ đi đứt.  Tuyết năm nay lớn, không khéo gặp đại họa.  Không giữ được bãi chăn này là cực kỳ gay go.  May mà có đàn sói, chỉ trong vài hôm là đà dê toi mạng hoặc bỏ chạy, chắc chắn là thế.
Trần Trận giật mình nhìn ông già: Thảo nào bác không giết sói!
Ông già nói: Bác cũng giết sói, nhưng không giết nhiều.  Sói chết sạch thì thảo nguyên cũng hết sống.  Thảo nguyên mà chết, người và gia súc sống nổi không?  Người Hán các cậu luôn luôn không hiểu điều này.
Trần Trận nói:  Đúng thế thật.  Bây giờ cháu mới hiểu đôi chút.  Cậu thấy trong lòng rạo rực, hình như đã mường tượng ra cái bóng của tôtem sói.  Cách đây hai năm, trước khi rời Bắc Kinh, cậu đọc và thu thập rất nhiều sách báo viết về dân tộc thảo nguyên, khi ấy cậu chỉ biết tôtem của họ là sói, nhưng hình như lúc này cậu mới bắt đầu hiểu vì sao dân thảo nguyên thờ phụng sói - con vật mà người Hán với nền văn minh nông canh, thù ghét nhất.
Ông già cười mỉm liếc Trần Trận: Căn lều của đám thanh niên trí thức Bắc Kinh các cậu thảm tường quá mỏng.  Dịp này ta lấy phần nhiều hơn một chút, chở dê lên trậm thu mua Hợp Cung tiêu đổi lấy thảm, bốn cậu sẽ ấm hơn trong mùa đông này.  Trần Trận nói: Vậy thì hay quá!  Lều chúng cháu, thảm tường chỉ hai lớp mỏng, mực viết đóng băng vỡ cả lọ.  Ông già cười: Xem này, đàn sói trước mặt sắp sửa tặng quà cho chúng ta!
Ở thảo nguyên Ơlon, một con dê nguyên vẹn giá hai mươi tệ gần bằng nửa tháng công điểm cố định của người chăn ngựa.  Da dê là nguyên liệu thượng hạng may áo jacket.  Người ở trạm thu mua còn nói, áo bay của phi công cũng bằng da dê, nhung phi công Trung Quốc không được mặc.  Hàng năm Nội Mông xuất khẩu toàn bộ da dê sang Liên Xô, Đông Âu, đổi lấy sắc thép, xe hơi và súng đạn.  Thịt dê philee đóng hộp đứng đầu bảng, cũng xuất khẩu tất.  Người trong nước chỉ được ăn chỗ thịt loại ra, mua bằng phiếu ở các quầy cung cấp trên huyện, kỳ (huyện tự trị), vì là mặt hàng quý hiếm.
Mùa đông năm nay đàn dê vượt biên từng đàn lớn, khiến các công xã chăn nuôi vùng biên và lãnh đạo các huyện, kỳ rất mừng.  Trạm thu mua các cấp đã bố trí nhà kho, chuẩn bị thu mua.  Cán bộ, thợ săn và mục dân vui mừng như dân chài gặp đàn cá lớn. Thợ săn và dân chăn ngựa là chân chạy, hầu hết đã lên yên, ngựa khoẻ, đem theo chó săn, súng trường, chuẩn bị cho cuộc truy sát.  Trần Trận bị đàn cừu níu chân, lại không có súng.  Với lại, dân chăn cừu chỉ có bốn con ngựa thường, không như dân chăn ngựa có tới bảy tám con, mười mấy con ngựa chuyên dùng.  Đám thanh niên trí thức đành giương mắt nhìn các thợ săn xuất quân.  Đêm hôm kia Trần Trận dến lều anh thợ săn Lanmutrac.  Đàn dê mới về có mấy hôm mà anh ta đã bắn được mười một con, trong đó có một phá xâu táo, hạ hai con.  Thu nhập của vài ngày săn bắn bằng cả ba tháng lương của người chăn ngựa.  Anh ta giọng hể hả, nói ràng đã kiếm đủ tiền thuốc lá trong một năm, chỉ vài hôm nữa, anh sẽ mua một đài bán dẫn Hồng Đăng và để nó ở nhà, còn cái đài cũ thì đem ra lều dã chiến.  Lần đầu tiên Trần Trận được ăn thịt dê vàng tươi, ngon lạ lùng, thế mới gọi là thịt.  Trên mình con dê vàng không có chỗ nào bỏ đi.  Vì là loài chạy khoẻ, nên mỗi đường gân thớ thịt của nó đều là tinh hoa của cả một quá trình rèn luyện trong cuộc thi chạy với sói.  Thịt dê vàng ngon không kém thịt nai.
Từ khi đàn dê vàng về thảo nguyên Ơlon, đám thanh niên trí thức Bắc Kinh bị rớt xuống công dân loại hai.  Hai năm qua, đám này đã có thể chăn cừu một mình, nhưng kiến thức săn bắc thì hãy còn mít đặc.  Vậy mà săn bắn chiếm vị trí rất quan trọng trong phương thức sản xuất của vùng biên Nội Mông.  Tổ tiên người Mông Cổ là dân tộc săn bắn cư trú tại thượng lưu Hắc Long Giang, sau tiến dần về thảo nguyên Mông Cổ sống cuộc sống nửa săn bắc nửa chăn thả.  Săn bắn là nguồn thu nhập quan trọng của mỗi gia đình, thậm chí là nguồn thu chính.  Ở thảo nguyên Ơlon, dân chăn ngựa có địa vị cao hơn cả.  Những thợ săn giỏi thường xuất thân từ dân chăn ngựa.  Đám thanh niên trí thức rất ít người có thể trở thành dân chăn ngựa, mà nếu có thì cũng chỉ là người học việc, thân phận học trò.  Vì vậy khi cái tin sắp có cuộc săn lớn lan ra, những thanh niên trí thức Bắc Kinh những tưởng mình đã là dân du mục kiểu mới, mới biết mình nhầm to.
Trần Trận ăn no thịt dê vàng, nhận thêm một đùi - quà biếu của Lanmutrac, rồi đến luôn lều ông già Pilich.
Đám thanh niên trí thức tuy đã có lều riêng, nhưng Trần Trận vẫn thích đến lều ông già.  Căn lều của ông rộng và đẹp, chắc chắn và rất ấm.  Trên tường trêo đầy thảm tranh đề tài tôn giáo, dưới đất trải thảm tranh cso hình hươu trắng.  Trên chiếc bàn vuông, bát bạc, chậu đồng, bình thiếc bày trên giá, đều được lau chùi bóng lộn.  Nơi đây vùng sâu vùng xa, phong trào "phá bốn cũ" của Hồng Vệ binh chưa kịp đến để rạch nát những tấm thảm treo tường của ông già.  Lều Mông Cổ của bọn Trần Trận có bốn thanh niên trí thức là bạn học cùng lớp của một trường phổ thông trung học Bắc Kinh, trong đó có ba là con em của bọn "xã hội đen đi theo con đường tư bản chủ nghĩa", bọn "độc quyền học thuật phản động".  Do cảnh ngộ tương tự, nên tư tưởng hòa đồng, rất ác cảm với bọn hồng vệ binh ngu si dốt nát, nên đầu mùa đông năm 1967 cùng nhau từ biệt Bắc Kinh ồn ào, đi tìm cuộc sống yên bình trên thảo nguyên Nội Mông.  Họ đối xử tốt với nhau, căn lều Mông Cổ của ông già y như đại bản doanh của một đại tù trưởng trên thảo nguyên, bọn Trần Trận được bảo ban chăm sóc, khiến các cậu cảm thấy thân thiết và yên ổn.
Hai năm nay, gia đình ông già coi Trần Trận như người trong  nhà.  Hai hòm sách đầy ắp đem từ Bắc Kinh về, nhất là những sách liên quan tới lịch sử Mông Cổ viết bằng  tiếng Trung Quốc hay bằng tiếng nước ngoài, càng thắt chặt mối quan hệ giữa ông già và cậu thanh niên người Hán.  Ông già cực kỳ hiếu khách, từng có bạn là những nghệ nhân người Mông, họ biết nhiều lịch sử và truyền thuyết Mông Cổ.  Trông thấy sách, nhất là được xem tranh minh họa và bản đồ, ông già rất thích những quyển sử Mông Cổ do những nhà văn, nhà sử học người Trung Quốc, người Nga, người Ba Tư và người các nước khác viết.  Biết chút ít chữ Hán, ông già tranh thủ dạy tiếng Mông Cổ cho Trần Trận, ông muốn càng sớm càng tốt giải mã những gì viết trong sách.  Ông kể cho Trần Trận nghe chuyện kể Mông Cổ.  Sau hai năm, cuộc đối thoại bằng hai ngữ Mông - Hán giữa một già một trẻ đã diễn ra khá trôi chảy.
Nhưng Trần Trận chúa dám kể cho ông già nghe người Trung Quốc xưa và một số nhà sư học phương tây đã nhìn Mông Cổ bằng con mắt thù địch, đầy ác ý.  Về thảo nguyên, Trần Trận không bao giờ dám ngâm bài thơ "Mãn giang hồng" của Nhạc Phi, không dám nhắc đến "Tiếu đàm", "Khát ẩm".  Cậu rất muốn tìm hiểu nguyên nhân vì sao trong lịch sử, dân tộc nông canh và dân tộc du mục lại thù ghét nhau và vì sao dân tộc Mông Cổ với số dân ít ỏi lại bùng nổ như phản ứng nhiệt hạch đáng sợ đến thế trong lịch sử  nhân loại.
Trần Trận vốn không muốn rời căn lều của ông già Pilich, nhưng thảo nguyên Ơlon màu mỡ, đàn gia súc ngày càng đông có đàn sau kỳ sinh nở lên tới ba ngàn con, quá tầm một người chăn, do đó phải chia đàn.  Trần Trận cực chẳng đã phải rời căn lều Mông Cổ, cùng ba thanh niên trí thức dựng lều ở riêng.  Có cái tốt là không xa nơi ở cũ bao nhiêu, cừu kêu chó sủa vẫn nghe thấy, sớm tối đi về vẫn gặp nhau, lều nọ sang lều kia ngồi chưa nóng yên ngựa đã tới, tiếp tục câu chuyện bà dở.  Có điều lần này là chuyện dê vàng, không phải chuyện sói.
Trần Trận vén rèm cửa - tấm thảm len dệt đồ án cát tường, bước vào trong lều, ngồi uống trà sữa trên tấm thảm dày.  Ông già nói: Đừng thấy người ta bắn được nhiều mà đỏ mắt lên, ngày mai tôi sẽ đưa cậu đi lấy đầy một xe dê vàng đem về.  Ba bốn hôm nay, tôi đã tăm cả vùng này, đã thấy chỗ nào có thể bắt dê vàng.  Thật đúng dịp, tôi cũng muốn cho cậu hiểu thêm về sói.  Cậu luôn ca cẩm sói phải không?  Người Hán là con cừu ăn cỏ nên dát như thỏ đế, người Mông Cổ ăn thịt nên bạo gan như sói.  Mình nên có cái gan của sói.
Tinh mơ hôm sau, Trần Trận cùng ông già mai phục trên một cái dốc phía tây nam dãy Đại Sơn.  Ông già không đem theo súng và chó, chỉ đem theo chiếc ống nhòm.  Trần Trận mấy bận theo ông già đi săn cáo, nhưng đi tay không thế này là lần đầu.  Cậu hỏi đi hỏi lại ông già, phải chăng ông bắt dê bằng ống nhòm?  Ông già chỉ cười không trả lời.  Ông thích để cho học trò của ông chất đầy câu hỏi trong đầu khi học ông.
Chỉ khi phát hiện đàn sói lặng lẽ bao vây đàn dê vàng, Trần Trận mới đoán ra cách săn của ông già Philich.  Cậu khoái quá ông già cũng nhìn cậu mỉm cười láu lỉnh.  Trần Trận thấy mình như ông lão đánh cá trong chuyện trai cò tranh ăn, nhưng cậu chỉ là ngư ông dởm, ngư ông đích thực phải là ông Pilich.  Ông già túc trí đa mưu của thảo nguyên dẫn cậu đến đây để ngồi không ăn sẵn.  Từ lúc trông thấy đàn sói, Trần Trận quên cả rét, máu chảy nhanh gấp đôi trong huyết quản, nỗi sợ của lần đầu gặp sói cũng tan biến.

                                 0o0

Không một gợn gió trên bãi cỏ trong núi sâu, trời hanh khô, lạnh buốt.  Hai chân gần như cứng đờ, phía dưới bụng khí lạnh ngày càng đậm, giá có tấm đệm bằng da sói thì tốt.  Một câu hỏi loé lên bất chợt trong đầu, Trần Trận hỏi ông già: Bác bảo đệm da sói là ấm nhất, thợ săn và người dân ở đây săn được rất nhiều sói, mà sao cháu chẳng thấy nhà nào dùng đệm da sói?  Ngay cả dân chăn ngựa ngày đêm nằm trên tuyết cũng không dùng?  Cháu chỉ trông thấy ở nhà Đansai có đệm da sói, còn thấy bố Đansai có đôi bao chân bằng da sói bên ngoài chiếc quần da dê, mặt có lông bên ngoài.  Ông nói ông quần da sói rất tốt cho những người bị thấp khớp.  Mặc được mấy tháng, cái chân ông trước đây luôn lạnh ngắt, bây giờ đã ra mồ hôi.  Bác ơi, bác gái cũng bị thấp khớp phải không, sao bác không may cho bác gái đôi bao chân như thế?
Ông già nói: Nhà Đansai thuộc dòng Mông Cổ đông bắc, quê cũ làm ruộng, có chăn nuôi tí chút.  Vùng đó người Hán đông nên theo phong tục Hán.  Đám dân ngụ cư này đã quên thần linh của người Mông Cổ, mất gốc rồi.  Họ cho người chét vào quan tài gỗ đem chôn, không để sói ăn, dĩ nhiên là họ dám ngủ đệm da sói, mặc quần da sói.  Trên thảo nguyên chỉ da sói lông sói là dày nhất, rậm nhất, chống rét tốt nhất, hai tầm da cừu chồng lên nhau không ấm bằng một tấm da sói.  Ông trời ưu ái loài sói, ban cho bộ lông chống rét.  Nhưng người Mông Cổ xưa nay không dùng da sói làm đệm vì kính trọng sói, không kính trọng sói không phải người Mông Cổ đích thực.  Người Mông Cổ thà chịu rét chứ không nằm đệm lông sói.  Nằm đệm lông sói là miệt thị thần linh Mông Cổ, mà như vậy thì linh hồn họ làm sao lên trời?  Cháu thử đoán xem, vì sao ông trời bảo vệ loài sói? 
Trần Trận đáp: Bác có nói sói là hộ thần của đồng cỏ mà!
Ông già nheo mắt cười: Đúng!  Trời là cha, đồng cỏ là mẹ.  Sói ăn thịt những sinh vật làm hại đồng cỏ, trời không bảo vệ sói sao được?
Đàn sói lại có những động thái mới.  Hai người vội chĩa ống nhòm về phía những con sói ngẩng cao đầu, nhưng chúng đã lại cúi xuống, nằm yên.  Trần Trận quan sát thật kỹ những co sói trong đá cỏ cao, nhưng không nhìn rõ chúng đang làm gì.
Ông già đưa chiếc ông nhòm đơn cho Trần Trận để cậu ghép chúng lại, quan sát nguyên chiếc.  Chiếc ông nhòm quân dụng này là của Liên Xô, bội số cao, ông già nhặt được nơi xảy ra cuộc chiến Xô - Nhật cách đây hơn hai mươi năm.  Thảo nguyên Ơlon nằm ở vị trí phía tây nam dãy Đại Hưng Yên, chính bắc Bắc Kinh, tiếp giáp với Mông Cổ, là chiến trường cũ giữa các dân tộc, các bộ tộc du mục, và cũng là nơi tranh chấp giữa các dân tộc du mục với dân tộc nông canh.  Trong thế chiến thứ hai, cách biên giới không xa, nơi đây từng xảy ra trận kịch chiến trên quy mô lớn giữa hồng quân Liên Xô và quân đội Nhật.  Cuối thế chiế thứ hai, nơi đây cũng là con đường tiến quân của quân đội Xô - Mông đi đông bắc.  Đến nay, ở Ơlon vẫn còn vết xe tăng như một con mương cạn, và những xác xe tăng, xe bọc thép Liên Xô.  Người dân ở đây hầu như đều có một vài thứ của Liên Xô như lưỡi lê, bi đông, xẻ quân dụng, mũ sắt, ống nhòm.  Chiếc xích dài Caxumai dùng để xích bê con là xích chống lầy của xe com măng ca Liên Xông.  Trong các đồ quân dụng đó, người Mông Cổ yêu thích nhất là ống nhòm, nay đã trở thành công cụ sản xuất chủ yếu trên thảo nguyên.
Dân du mục Ơlon thích tách ống nhòm đôi thành hai ống đơn, vừa thu gọn thể tích, vừa tiện mang xách và sử dụng bền gấp đôi.  Họ rất quý những gì họ chưa làm được.  Dân du mục Mông Cổ mắt tinh lắm, nhưng không tinh bằng sói.  Chỉ cần ống nhòm đơn cũng nhìn xa hơn sói rồi.  Ông già Pilich nói, từ khi có ống nhòm, người ta săn được nhiều hơn, ngựa lạc tìm thấy cũng dễ.  Nhưng ông già lại nói, ông cảm thấy ánh mắt sói cũng sắc sảo hơn trước kia.  Nếu mình dùng ống nhòm quan sát sói từ xa, có khi nhìn thấy con sói cũng đang nhìn mình không chớp.
Trần Trận ở với ông già được nửa năm, một hôm ông lấy từ đáy hòm một chiếc ống nhòm đơn cho cậu.  Chuyện này khiến con trai ông hơi bực, vì chiếc ống nhòm của Batu là hàng nội.  Cái ông nhòm Liên Xô này tuy rất cũ nhưng độ phóng đại lớn, ống kính vẫn tốt nguyên tuy vỏ ngoài đã rỗ lấm tấm.  Trần Trận thích mê, dùng vải điều bọc cẩn thận, cất kỹ, chỉ khi đi tìm bò lạc giúp bạn, cậu mới đem theo.
Trần Trận dùng ống nhòm sục sạo bãi sân.  Được vũ trang bằng cặp mắt người đi săn này, máu săn tiềm ẩn trong người cậu được dịp trỗi dậy.  Tổ tiên của tất cả mọi người là thợ săn.  Đó là vai diễn đầu tiên của nhân loại trên thế giới, và cũng là vai diễn lâu đời nhất. Trần Trận nghĩ, mình từ cái nơi phát triển nhất là Bắc Kinh về nơi thảo nguyên hoang dã nhất này, sao mình không tiếp tục sống cuộc sống hoang dã để nếm lại cái thi vị được sắm vai diễn nguyên thuỷ của nhân loại.  cậu thấy đến bây giờ thuộc tính săn bắn của cậu mới được đánh thức thì quá muộn.  Cậu rất buồn khi thấy mình là hậu duệ của bộ tộc nông canh.  Các tộc nông danh trong khoảng thời gian mấy chục đời, thậm chí hàng trăm đời ăn rau ăn cỏ, trở nên nhát như cừu, mất đi từ lâu dòng máu du mục Viêm Hoàng, không những máu săn không còn, trái lại, trở thành đối tượng săn đuổi của các cường quốc.
Đàn sói chưa có dấu hiệu hành động.  Trần Trận gần như hết kiên nhẫn trước tính nhẫn nại của đàn sói.  Câu hỏi ông già:  Đàn sói hôm nay có ý định bủa vây hay thôi hả bác?  Phải chăng chúng đợi đến tối mới hành động?
Ông già nói khẽ: Đánh trận mà không kiên nhẫn thì làm sao thắng?  Thành Cát Tư Hãn chỉ một dúm kỵ binh làm sao đánh bại trăm vạn quân Kim, chiếm mấy chục nước?  Con sói không chỉ dựa vào sức mạnh, mà còn phải biết kiên nhẫn.  Kẻ thủ đông đến mấy, mạnh đến mấy cũng có lúc hớ hênh.  Con ngựa to đùng mà hớ hênh thì cũng bị con sói con ăn thịt.  Không kiên nhẫn thì không phải sói, muốn hiểu Thành Cát Tư Hãn thì trước hết phải kiên trì mai phục ở đây.
Thấy ông già có vẻ không bằng lòng, Trần Trận không dám hỏi gì thêm, cố rèn cho mình tính kiên nhẫn.  Cậu chĩa ống nhòm vào một con sói mà cậu đã quan sát nhiều lần.  Nó nằm im một chỗ, rất lâu không đổi tư thế.
Giọng ông già đã dịu đi: Cậu đã đoán ra sói đang đợi cái gì chưa?  Trần Trận lắc đầu.  Ông già nói: Sói đang đợi dê vàng ngủ gật sau khi ăn no.
Trần Trận sững người, vội hỏi: Sói thông minh đến thế hở bác?  Nó biết đợi dê vàng không chạy được mới ra tay?
Ông già nói: Người Hán các cậu không hiểu gì về sói, sói tinh vi hơn con người.  Tôi hỏi cậu: Một mình con sói gộc có bắt được một con dê gộc không?
Trần Trận nghĩ một thoáng, trả lời: Phải ba con.  Hai con đuổi, một con đón đầu thì mới bắt được.  Một chọi một thì bắt không nổi.
Ông già lắc đầu: Cậu tin không, một con sói lợi hại, có thể một mình bắt dê vàng ngon ơ.
Trần Trận ngạc nhiên nhìn ông già: Bắt kiểu nào hở bác, cháu nghĩ không ra.
Ông già nói: Sói có một tuyệt chiêu để bắt dê vàng.  Ban ngày, con sói chỉ canh chừng một con dê vàng, chưa đụng vội.  Đêm đến, con dê tìm một chỗ khuất gió có cỏ dày nằm ngủ.  Lúc này sói chưa bắt nổi dê vì khi ngủ, mũi và tai dê không ngủ, hễ có động là dê chạy liền, sói đuổi không kịp. Cả đêm sói không động thủ, phục một quãng xa mà đợi.  Sáng ra, sau một đêm bàng quang dê đầy căng nước tiểu, đúng khi ấy, sói xông lên.  khi chạy dê không đái được, chỉ một quãng là bọng đái bị vỡ, chân sau lập tức bị chuột rút, không chạy được nữa.  Cậu xem, dê vàng chạy nhanh là thế mà cũng có lúc chạy không được.  Những con sói dày kinh nghiệm biết đó là lúc có thể vồ được dê.  Chỉ những con dê tinh khôn nửa đêm rời chỗ nằm rất ấm đái bớt đi một nửa thì lúc này mới chạy kịp.  Dân Ơlon thường dậy rất sớm cướp lấy con dê từ miệng sói.  Mổ ra, bụng dê đầy nước đái.
Trần Trận nói: Trời ạ, có đánh chết cháu cũng không nghĩ ra lại có chuyện ấy.  Quả là kiên trì!  Mà người Mông Cổ quả ranh ma!
Ông già cười khà: Thì đã hẳn, học trò của sói mà lại!
Phần lớn những con dê vàng đã ngẩng đầu lên, cái bụng lại càng to vì cả đêm không đái.  Có con no quá phải choãi chân mà đứng.  Ông già dùng ống nhòm quan sát hồi lâu, nói: Dê không hoạt động nữa.  Sói sắp ra tay rồi!
Trần Trận cuống lên.  Đàn sói đã lặng lẽ khép vòng vây.  Ba mặt đông, bắc, tây là sói, còn mặt nam thì là một cái dốc.  Trần Trận đoán phỏng bên kia dốc hẳn có một số sói đợi sẵn.  Khi đàn sói tổng công kích, đám sói này đón lõng, cùng với những con trên tuyến bao vây hạ sát đàn dê.  Cậu thường nghe mục dân nói những con sói thường vây bắt dê bằng cách này.  Cậu hỏi: Đàn sói đón lõng phía sau có bao nhiêu con, hả bác?  Nếu ít quá chẳng bắt được mấy con.
Ông già cười hóm: Phía sau dốc không có con sói nào hết.  Sói chúa không sai một con nào ra phía ấy.
Trần Trận vô cùng băn khoăn: Vậy thì chúng bao vây kiểu gì?
Ông già cười khẽ: Thời tiết này, địa hình này, vây ba mặt bắt được nhiều hơn bốn mặt.
Trần Trận nói: Cháu vẫn chưa hiểu sói còn mánh khoé gì nữa.
Ông già nói: Phía sau dốc là một hồ tuyết khổng lồ.  Cái đèo chênh chếch trước mặt kia rất hút gió.  Khi bạch mao phong thổi tới, tuyết trên đèo bị thổi bay xuống chỗ đất trũng đó, trwof thành cái hồ, không phải hồ nước, mà là hồ tuyết, rất kín gió, tuyết rất sâu, ven bờ cũng đã ngang thắt lưng, vào giữa lút con sào.  Lát nữa, sói từ ba phía dồn dê vàng qua dốc, cậu sẽ biết sói bao vây kiểu gì.
Trần Trận mắt tối sầm như rớt xuống một cái hang sâu đầy tuyết.  Cậu nghĩ, giả sử mình là kỵ binh Hán xâm nhập thảo nguyên, mười mươi là không nhìn ra âm mưu và cái bẫy này.  Cậu lờ mờ hiểu ra nguyên nhân vì sao đại tướng Từ Đạt triều Minh bên này cửa quan thì đánh đâu thắng đó, nhưng khi đánh sang thảo nguyên thì quân sĩ không còn một mống.  Còn một vị đại tướng triều Minh nữa, họ Khưu tên Phúc dẫn mười vạn đại quân đánh sang thảo nguyên Mông Cổ, đến tận sông Khơluluan, nhưng cuối cùng thân cô thế cô, trúng kế mà chết, quân sĩ của ông ta rối loạn, bị kỵ binh Mông Cổ bắt sống.
Ông già nói, đánh trận thì sói thông minh hơn người.  Người Mông Cổ săn bắt, bủa vây, đánh trận đều học từ sói.  Bên đất người Hán không có những đàn sói lớn, nên người Hán không giỏi trận mạc.  Đánh giặc mà chỉ dựa vào đất rộng người đông thì không ăn thua.  Thắng hay bại còn phải xem anh là sói hay là cừu...
Đột nhiên, đàn sói bắt đầu tổng công kích.  Hai con sói gộc phục mãi tận cùng phía tây dưới sự chỉ huy của con sói chúa ức trắng, nhanh như chớp chạy lên chiếm lĩnh mỏm đồi gần đàn dê vàng nhất, rõ ràng đây là khoảng đất trống cuối cùng, chiếm được mỏm đồi, vòng vây hình thành.  Hành động của nhóm sói này như phát súng lệnh cho cả ba mặt xuất kích, những con sói nấp sau những bụi cỏ vọt lên, tấn công đàn dê từ ba phía đông, tây, bắc.  Trần Trần chưa bao giờ trông thấy một cuộc tiến công hãi hùng đến thế.  Đội quân của người khi tiến công thì hò hét trợ oai, đàn chó khi xung phong thì sủa ăng ẳng để tăng thanh thế.  Nhưng đso chẳng qua là sủa, không một tiếng gầm gừ, và nỗi kinh hoàng hiện lên trong mắt, trong tim, trong gan người và động vật do sự xuất hiện của sói vì nó đi đôi với những gì tàn nhẫn nhất.
Mấy chục con sói chạy băng băng trên đồng cỏ như những quả ngư lôi có hàm răng sói nhọn hoắt, rẽ nước xông tới đàn dê.
Những con dê bụng lặc lè, đứng không vững.  Tốc độ là thứ vũ khí mà dê dùng để đối phó với sói.  Một khi không còn tốc độ, dê chẳng khác con cừu hoặc một súc thịt cừu.  Trần Trận nghĩ, đàn dê sợ sói hơn cậu lần đầu gặp sói.  Phần lớn đàn dê đã sợ vỡ mật, hồn vía lên mây.  Một số đứng đực ra, run lẩy bẩy.  Một số ngã lăn, thè lưỡi, cái đuôi ngắn tũi giật giật.
Trần Trận quả được một bài học thế nào là trí tuệ, sự kiên triwf, tính tổ chức kỷ luật của sói thảo nguyên.  Nhịn đói nhịn khát, kiên nhẫn đợi một trận chiến dễ gì đã gặp, đàn sói đã nhẹ nhàng tước vũ khí của lũ dê.
Một ý nghĩ loé trong đầu Trần Trận: Nhà quân sư vĩ đại Thành Cát Tư Hãn một chữ bẻ làm đôi không biết, và những tướng lĩnh Khuyển Nhung, Hung Nô, Khiết Đan, Đột Quyết, Mông Cổ mù chữ hoặc mù chữ một nửa, mà lại giỏi hơn cả cường quốc Hoa Hạ có trong tay "binh pháp Tôn Tử" lừng danh thế giới, đánh cho cường quốc này điên đảo càn khôn.  Thì ra họ có người thầy vĩ đại, một huấn luyện viên tài ba  về quân sự là sói.  Họ được kiến tập những trận chiến đấu trên thực tế, họ có thực tiễn chiến đấu lâu đời với đàn sói.  Trần Trận cảm thấy chỉ vài giờ quan sát mà thu lượm được nhiều hơn mấy năm học binh pháp Tôn Tử và Clausowist.  Nó tác động rất nhiều đến tính cách và linh hồn người đọc.  Từ nhỏ, cậu đã mê lịch sử, những muốn làm rõ một trong những vấn đề tồn nghi của lịch sử: Một dân tộc Mông Cổ bé nhỏ nhưng đã dựng nên một đế quốc vĩ đại trải dài từ Á sang Âu trong lịch sử nhân loại.  Vậy tài năng quân sự của họ từ đâu mà có?  Cậu không chỉ một lần hỏi ông già Pilich.  Ông già tuy không bằng cấp, nhưng hiểu nhiều biết rộng, ông dùng phương thức giảng dạy rất nguyên thủy mà cũng rất hiện đại, giải đáp cho cậu.  Trần Trận đâm ra kính nể sói thảo nguyên và các dân tộc thảo nguyên sùng bái tôtem sói.
Cuộc chiến và kiến tập vẫn tiếp tục.

                        0O0

Cuối cùng, đàn dê buộc phải khởi động.  Chỉ những con dê già nhiều kinh nghiệm trận mạc và con dê đầu đàn là cưỡng lại được mùi thơm hấp dẫn của cỏ tươi mùa đông mà chỉ ăn lửng dạ, giờ đây theo bả năng chạy về phía con dốc không có sói, cuốn theo gần như cả đàn.  Bụng lặc lè, chân đạp tuyết, lại leo dốc, số phận những con dê thật thê thảm.  Đúng là một cuộc tàn sát, và cũng là sự trừng phạt của trí tuệ đối với ngu xuẩn.  Theo quan điểm của ông già Pilich, sói đang thay trời hành đạo, đang làm một việc thiện cho thảo nguyên.
Đàn sói không thèm để ý những con dê no vỡ bụng, không đánh mà tự thương.  Sói xông thẳng vào những con to nhất cắn đứt họng, máu tươi vọt lên trời, tung toé trên mặt cỏ.  Không khí lạnh ngắt đẫm mùi máu.  Đàn dê thị giác, khứu giác cự kỳ mẫn cảm, trông thấy cái trò giết gà dọa khỉ sợ quá cố sống cố chết chạy lên dốc.  Vài con đực dẫn đầu một số con lên đến đỉnh dốc đột nhiên dừng lại, xoay tròn như đèn kéo quân, không con nào dám nhảy xuống.  Rõ ràng là chúng đã cảm thấy mối nguy hiểm đang chờ đợi trên mặt tuyết phẳng lì, không một ngọn cỏ nhô lên.  Cũng vậy, những con dê già lập tức nhận ra quỉ kế của đàn sói.
Đột nhiên, đàn dê dày đặc trên đỉnh dốc bỗng chạy ngược trở lại, ầm ầm như đá chạy cát bay.  Mười mấy con đực linh cảm thấy mối nguy rình rập cả hai phía, chúng chọn phía ít nguy hiểm hơn để phá vây.  Chúng nổi khùng bất kể sống chết, quyết đối đầu với lũ sói.  Tốp năm tốp ba, vai ken vai bụng ken bụng, cắm đầu chĩa những cặp sừng nhọn hoắt như mũi xà mâu, nhằm đàn sói xông tới.  Những con dê còn khả năng chạy vội vàng theo sau.  Trần Trận biết cặp sừng của dê vàng rất lợi hại.  Mục dân dùng nó làm dùi khâu đồ da, đột lỗ, dày như da bò cũng xuyên thủng chứ nói gì da sói.  Những cặp sừng nhọn hoắt của dê vàng lập tức tỏ ra công hiệu, vòng vây của đàn sói bị vỡ, một làn sóng màu vàng ùa ra chỗ đó như vỡ đê.  Trần Trận cuống lên, chỉ sợ đàn sói mất công toi.  Nhưng cậu nhìn thấy con sói chúa đã đứng ngay bên cửa khẩu, tư thế đĩnh đạc y hệt người gác đập mở cửa xả bớt nước khi thấy cơn lũ quá lớn, con đập chứa không hết.  Khi những con dê có sừng và còn có sức chạy ra ngoài vòng vây, sói chúa cùng lũ sói lập tức bị chặt cửa khẩu.  Lúc này, trong vòng vây chỉ còn lại một lũ đần độn không còn khả năng chạy, không vũ khí, không đầu óc.  Trước sự tấn công của đàn sói, đám dê ô hợp đã mất con đầu đàn, hoảng sợ chạy trở lại đầu dốc và tất cả nhào xuống hồ tuyết.  Trần Trận hoàn toàn có thể hình dung những con dê chân mảnh bụng lặc lè, kết cục sẽ như thế nào.
Đàn dê vàng và đàn sói đều mất hút tại đường chân trời, nơi tiếp giáp giữa trời và núi.  Chiến trường rầm rập hàng ngàn tiếng chân chạy và máu me vung vãi, bỗng lặng ngắt.  Trên bãi cỏ bảy tám xác chết, mấy con bị thương đang giãy giụa.  Trận đánh từ lúc phát lệnh tổng công kích đến khi kết thúc, chỉ diễn ra trong vòng mươi phút đồng hồ.  Trần Trận nín thở theo dõi, nhiều lúc thót tim.
Ông già đứng dậy vươn vai rồi ngồi xếp bằng tròn sau đám cỏ rậm, lấy trong túi Mông Cổ chiếc tẩu chạm ngọc lục, nhồi thuốc, châm lửa, nén tàn thuốc bằng cái nắp làm từ đồng bạc trắng, rồi rít một hơi dài.  Trần Trận biết bộ đồ hút này ông già đã đổi bằng hai mươi tấm da cáo cho một thương lái người Hán chuyên đánh hàng sang Mông Cổ.  Các thanh niên trí thức kêu đổi vậy quá đắt, nhưng ông già mê chiếc tẩu, không kể đắt rẻ.  Ông còn bảo, người đi buôn cũng lắm gian nan, đường xa dặm thẳm, lỡ gặp cướp thì ngay cả tính mạng chưa chắc đã còn, kì kèo với người ta làm gì.
Rít liền mấy hơi, ông già nói: Hút xong tẩu  thuốc này ta về.
Trần Trận đang cao hứng, vội nài: Sao không sang bên kia dốc xem sói đã dồn được bao nhiêu con mồi xuống đó?
Chỉ có hai người mà cậu dám sang đó?  Ông già nói: Hỏi vậy thôi, không sang cũng biết.  Tối thiểu vài trăm con.  Ngoài những con còn nhỏ, gầy gò, những con may mắn chạy thoát, số còn lại đều chầu trời.  Cậu đừng sốt ruột, đàn sói ăn không hết bao nhiêu, cả tổ mình đến lấy vẫn không hết.
Vì sao những con nhỏ hoặc gầy lại thoát hả bác?  Trần Trận hỏi.
Ông già hấp háy mắt: Nhỏ và gầy thì nhẹ, mặt băng không vỡ nên chạy thoát.  Sói cũng không dám đuổi theo.  Ông lại cười: Bây giờ cậu đã thấy sói lợi hại chưa?  Sói không những canh gác đồng cỏ, mà còn tặng quà Tết cho ta.  Năm nay thì ta có cái Tết tươm rồi.  Trước đây, moi lên được bao nhiêu dê vàng đều phải nộp cho mục chủ.  Sau ngày giải phóng, dân  được hưởng tất.  Ơlon có quy định, ai trông thấy thì người ấy được lấy.  Ngày mai các cậu nên lấy nhiều nhiều một tí, bọn mình trông thấy đầu tiên mà!  Người Mông Cổ rất coi trọng tình nghĩa, từ nay các cậu và những người Hán khác chớ có nằng nặc đòi giết hết sói nữa nhé.
Trần Trận sướng quá, những muốn chắt đầy ngay một xe dê vàng kéo về.  Cậu nói: Về thảo nguyên đã hai năm khổ vì sói, không ngờ bây giờ lại có lộc do sói đem lại.
Ông già Pilich nói: Người Mông Cổ kiếm được từ sói nhiều thứ.  Cầm roi chỉ ngọn núi xa xa, ông nói tiếp: Dãy núi đó vẫn thuộc địa phận mục trường ta, rất nổi tiếng.  Nghe người già kể lại, một tướng của Thành Cát Tư Hãn là Muhoali đã lừ được mấy nghìn quân kỵ của Đại Kim sa xuống trũng tuyết ở đó.  Mùa xuân năm sau, Khan cho người đi thu nhặt chiến lợi phẩm, đao thương cung kiếm, giáp trụ yên cương chất cao như núi.  Chẳng phải học từ sói đó sao?  Cậu đếm thử mấy chục trận đại thắng của người Mông Cổ mà xem, trong đó quá nửa là học cách đánh của sói.
Trần Trận gật đầu lia lịa: Quả vậy. Con trai út Thành Cát Tư Hãn là Thác Lôi chỉ huy chiến dịch Tam Đảo ở Hà Nam, chỉ dùng hơn ba vạn kỵ binh mà tiêu diệt hai mươi vạn kỵ binh Đại Kim.  Sau trận đó, nhà Kim diệt vong.  Thác Lôi lúc đầu thấy quân Kim mạnh, không ra ứng chiến.  Cũng như sói, ông ta đợi khi tuyết xuống liền dẫn quân đi ẩn nơi ấm áp, đợi miết cho đến khi quân Kim người ngựa ốm đau quá nửa mới kéo quân tới bao vây.  Thác Lôi cũng như đàn sói này, không dùng gươm đao, mà dùng bão tuyết diệt địch.  Mưu mẹo ấy, đức kiên trì ấy, đởm lược ấy y như sói.  Thực ra, kỵ binh Nữ Chân của Đại Kim đâu phải đồ bị thịt, họ đã tiêu diệt Đại Liêu và Bắc Tống, chiếm được một nửa Trung Quốc, bắt sống hai Hoàng Đế Trung Quốc!  Thác Lôi chỉ vài vạn kỵ binh mà dám đánh một trận bao vây lớn như thế.  Binh thư Trung Quốc có nói, vây đánh thì quân số phải đông gấp mười.  Kỵ binh Mông Cổ lợi hại như sói, một chọi trăm.  Cháu quả thực phục sát đất.  Đương thời cả thế giới cũng rất khâm phục...
Ông già gõ gõ cái tẩu, cười: Cậu cũng biết trận ấy hả?  Nhưng đoán chắc là cậu không biết chuyện trận ấy tuyết rơi ba ngày ba đêm là vì sao?  Đó là trời ủng hộ.  Pháp sư Bồ Man của quân Mông Cổ cầu trời cho tuyết rơi xuống.  Kim là kẻ thù lớn của Thành Cát Tư Hãn, vua nhà Kim cùng với kẻ đồng lõa là Tháp Tháp giết Éucai, bố đẻ Thành Cát Tư Hãn, giết cả chú ruột Thành Cát Tư Hãn Anbacai.  Họ chết rất thảm.  Đánh thắng trận này, người Mông Cổ mới hả dạ.  Cậu xem, chẳng phải ông trời luôn luôn đứng về phía sói đấy ư.  Ông già cười khà, như nếp nhăn hằn rõ trên mặt nhưng dính nhưng sợi lông cừu.
Hai người đi về khe núi phía sau, con ngựa ô trông thấy chủ gục gặc đầu mừng rỡ.  Mỗi lần gặp con ngựa đã cứu sống mình, Trần Trận lại xoa đầu nó tỏ ý cảm ơn.  Nhưng chính lúc đó Trần Trận lại nảy ra một ý muốn khó cưỡng là xoa đầu con sói.
Hai người cởi thừng buộc chân ngựa, lên yên, chạy nước kiệu về nhà.
Ông  già ngẩng đầu nhìn trời, nói: Đúng là trời phù hộ chúng ta, ngày mai không có bão tuyết.  Nếu đêm nay bạch mao phong tràn về thì một con cũng không còn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-24 09:51:19Ct.Ly>
Đánh máy: Canary
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Chương 3

Y Tôn, vương hiệu Cônmo.  Cha Cônmo, trị vì một nước ở phía tây Hung Nô.  Hung Nô giết cha Cônmo khi Cônmo mới sinh vứt ngoài đồng, được sói cho bú sữa.  Thuyền Vu lấy làm lạ, cho là thần, bèn đem về nuôi, lớn lên cho cầm quân, lập nhiều chiến công...
Tư Mã Thiên, Đại Uyển liệt truyện.


Sớm hôm sau quả nhiên lặng gió, tuyết cũng ngừng rơi.  Khói bếp trên nóc lều thẳng tắp như cây bạch hoa chĩa thẳng lên trời.  Bò, cừu còn đang nhai lại.  Ánh nắng xua tan khí lạnh ban đêm, lớp sương đọng trên mình chúng biến thành hơi nước rồi nhanh chóng thành lớp băng mỏng.
Trần Trận nhờ anh hàng xóm Quanbu chăn cừu hộ một hôm.   Quanbu thành phần mục chủ, đang bị quản chế, đã bị tước quyền chăn dắt, nhưng bốn thanh niên trí thức khi cần vẫn nhờ chăn hộ gia súc, Caxumai tính đầy đủ công điểm cho anh ta.  Trần Trận và một thanh niên chăn cừu tên Dương Khắc, lên cỗ xe bò trục sắt gọn nhẹn, đến nhà ông già Pilich.
Dương Khắc ở chung lều với Trần Trận là con trai một giáo sư nổi tiếng của một trường đại học nổi tiếng Bắc Kinh.  Tủ sách nhà cậu ta tương đương một thư viện nhỏ.  Hồi học cao trung (cấp 3), Trần Trận và Dương Khắc thường trao đổi sách, giao lưu cảm tưởng, thường là ý hợp tâm đầu.  Hồi còn ở Bắc Kinh, Dương Khắc tính khí điềm đạm, gặp người lạ còn đỏ mặt.  Chẳng ngờ lên thảo nguyên Mông Cổ mới hai năm ăn thịt cừu, uống sữa bò, ăn đậu phụ, bốn mùa đội tia tử ngoại trong cái nắng trên thảo nguyên, cậu đã trở thành một thanh niên cường tráng, mặt và chây tay đỏ au như dân du mục, tính cách cũng không còn vẻ thư sinh.  Lúc này, Dương Khắc còn hăng hơn Trần Trận.  Cậu ngồi trên xe dùng gậy gỗ gõ sống lưng con bò, miệng nói: Đêm qua mình ngủ không ngon giấc.  Từ nay bố Pilich có đi săn thì cậu nhớ gọi mình đi với, dù nằm phục hai ngày hai đêm mình cũng chịu được.  Mình chưa từng nghe sói làm điều tốt đến như thế cho người.  Hôm nay phải chính tay tớ đào lên một con dê vàng thì tớ mới tin... Có thật là chúng mình được lấy đầy một xe không?
Sao lại không thật?  Trần Trận cười: Bố Pilich đã nói, dù khó bới đến mấy cũng bảo đảm chúng mình lấy đầy xe để đổi lấy các thứ cần dùng, sắm một ít thảm dày...
Dương Khắc thích quá, giơ gậy vụt lia lịa.  Trần Trận nói: Xem ra hai năm nay cậu mê sói không uổng công.  Từ rày tới phải học bính thư của sói, biết đâu sau này chẳng có lúc dùng.  Hình như điều cậu nói là một quy luật, dân tộc nào sống cuộc sống du mục nguyên thủy trên thảo nguyên, cuối cùng cũng sùng bái sói, tôn sói làm thầy như các dân tộc Hung Nô, U Xôn, Đột Quyết, Mông Cổ vẫn làm.  Sách chép như thế.  Nhưng tộc Hán thì ngoại lệ.  Tớ dám khẳng định là người Hán chúng ta có ở đến vài thế kỷ trên thảo nguyên cũng không sùng bái tôtem sói.
Chưa chắc - Trần Trận nói - Như tới chẳng hạn, tớ đã bị sói thuyết phục.  Vậy mà tớ mới ở có hơn hai năm.
Dương Khắc hỏi vặn: Nhưng mà Trung Quốc đại đa số là nông dân, hoặc xuất thân nông dân, ý thức tiểu nông của người Hán chai lì như thép không gỉ.  Họ đến thảo nguyên mà không bắt hết sói để lột da thì chớ kể.  Tộc Hán ở Trung Quốc là tộc nông canh, ăn rau cỏ, sợ sói từ trong máu, làm sao có chuyện sùng bái sói?  Người Hán ở Trung Quốc sùng bái Rồng chủ quản công nghiệp.  Trông thấy tôtem Rồng chỉ dập đầu lạy, bảo gì nghe nấy.  Đâu dám như người Mông Cổ học tập sói, bảo vệ sói, sùng bái sói nhưng vẫn giết sói.  Tôtem của họ trực tiếp tác động đến tinh thần, tính cách của họ.  Có sự khác biệt rất lớn giữa dân tộc nông canh và dân tộc du mục.  Khi xưa tính cách nông canh tệ hại ẩn trong cái biển mênh mông của tính cách Hán nên chưa thấy, nhưng lên thảo nguyên lập tức bị bóc trần.  Cậu chỉ thấy bố tớ là một giáo sư nổi tiếng, chứ cậu chưa biết ông nội tớ, bà ngoại tớ đều là nông dân...
Trần Trận tiếp lời: Đặc biệt là thời kỳ cổ đại, dân tộc Mông Cổ chỉ bằng 1% dân số người Hán mà ảnh hưởng đối với thế giới vượt xa người Hán.  Đến bây giờ, phương tây vẫn coi Trung Quốc thuộc giống Mông Cổ, bản thân người Hán cũng tiếp nhận cách gọi đó.  Vậy mà khi Tần Hán thống nhất Trung Quốc, tổ tiên người Mông Cổ còn chưa có tên, thế mới sầu đời!
Người Trung Quốc thích xây trường thành tự nhốt mình lại mà huênh hoang khoe mẽ là trung tâm thế giới, là đế quốc trung tâm.  Nhưng trong con mắt người phương tây cổ đại, Trung Quốc chẳng qua là "nước tơ lụa", "nước gốm sứ", "nước trà", thậm chí nước Nga còn gjoi cáci nước Khiết Đan bé tí là Trung Quốc, đến nay vẫn không sửa, vẫn gọi Trung Quốc là "Kitai"!
Xem ra, sói rất đáng hâm mộ.  Dương Khắc nói, tớ cũng bị lây cậu rồi, thành thử mở sách sử ra là tới cứ dò theo hướng Tây Nhung, Đông Di, Bắc Địch, Nam Man.  Tớ ngày càng muốn giao lưu với sói, học hỏi cái hay của sói. 
Trần Trận nói: Xem kìa, cậu sắp biến thành người Mông Cổ rồi.  Tiếp ít máu sói vào, giống lai mới ưu việt!
Dương Khắc nói: Tớ phải cảm ơn cậu về chuyện rủ tớ về thảo nguyên.  Cậu có biết, tớ bị câu gì của cậu điểm trúng huyệt không?  Quên rồi hả?  Đó là câu: Thảo nguyên tha hồ tự do.
Trần Trận thả lỏng dây cương, nói: Tớ nói như thế bao giờ?  Cậu lại xuyên tạc rồi.
Hai người cười thoải mái, cỗ xe tiếp tục lăn, để lại hai vệt bánh xe trên tuyết.

                             0O0

Người, chó và xe cộ nhộn nhịp, như lễ hộ của người Chiphuchai trên thảo nguyên.
Người và xe của các tổ viên tổ sản xuất Caxumai, của bốn Haotho (một cặp gồm hai lều Mông Cổ là một "Haotho"), và của tám lều Mông Cổ đều được huy động.  Tám chín cổ xe lớn chở thảm dày, dây thừng, xẻng gỗ, củi và câu liêm.  Mọi người đều mặc áo da cũ, bẩn và đen mốc, khuy đồng màu vàng xỉn.  Nhưng người và chó thì rất vui, như bộ lạc Mông Cổ thời xưa đi theo các chiến binh thu dọn chiến lợi phẩm, dọc đường vừa uống rượu vừa ca hát, bình rượu hình mật lợn bên ngoài bọc nỉ được chuyển từ đầu hàng đến cuối hàng, từ tay phụ nữ chuyển sang tay đàn ông.  Đã hát là hát dân ca, tán ca, tình ca Mông Cổ, đã hát là ào ạt tuôn ra như vỡ đập nước.  Bốn năm con chó Mông Cổ lông dày được tham dự cuộc hành trình hi hữu, sướng như điên, nô dỡn lăn lộn trên tuyết trắng.
Trần Trận cùng hai mã quan (người chăn ngựa) Batu, Lanmutrac, và năm sáu tay chăn bò, chăn cừu, xúm quanh ông già Pilich như dân thiểu số xúm quanh tù trưởng.  Lanmutrac mặt vuông mũi thẳng mắt to - đặc điểm người Đột Quyết, nói: Cháu có bắn giỏi đến mấy cũng không kiếm được bằng ông.  Ông không tốn một viên đạn mà cả tổ sống sung túc.  Ông đã có đồ đệ người Hán, nhưng xin đừng quên học trò cũ người Mông này, ông nhá.  Làm sao cháu không nghĩ ra hôm qua đàn sói có thể vây bắt bọn dê vàng kia chứ?
Ông già liếc xéo anh ta, nói: Từ rày cậu đi săn về hãy nhớ đến người già và mấy cậu thanh niên trí thức trong tổ, đừng để họ ngửi suông, không cho họ được miếng thịt nào.  Trần Trận đến nhà, cậu mới cho cậu ta một đùi dê, người Mông Cổ đãi khách như thế đấy hả?  Hồi trẻ chúng tôi biếu người già và khách khứa hẳn một con dê vàng đầu tiên của mùa săn.  Các bạn trẻ đã quên hết nếp sống của người Mông rồi!  Tôi hỏi cậu, thiếu mấy con nữa thì cậu bằng Buho, dũng sĩ săn sói của công xã Bayincaoti?  Cậu định lên báo lên đài lĩnh thưởng chăng?  Cậu bắn hết sói thì sau khi chết cậu về đâu?  Chẳng lẽ cậu làm như người Hán, khi chết bứng cỏ đào huyệt chôn dưới đất cho giòi bọ ăn?  Linh hồn cậu không lên trời được rồi - Ông già thở dài - Hôm tôi họp trên Kỳ (huyện), người già của mấy công xã mạn Nam đều rất buồn.  Họ bảo, đã nửa năm nay chưa trông thấy sói.  Họ định chuyển về Ơlon ở.
Lanmutrac hất vành mũ phía sau gáy, nói: Batu là con trai ông, ông không tin cháu thì thôi, nhưng ông có tin Batu không?  Ông hỏi cậu ấy xem cháu có định trở thành dũng sĩ không?  Hôm ông nhà báo phỏng vấn cháu ở chỗ đàn ngựa, Batu cũng có mặt ở đấy.  Cháu giấu bớt một nửa số sói không kể, ông hỏi Batu xem có đúng không.
Ông già quay lại hỏi Batu: Có chuyện ấy hả?
Batu nói: Đúng thế ạ.  Nhưng mà người ta không tin.  Họ lấy số liệu từ Hợp Cung tiêu, biết Lanmatrac bán bao nhiêu bộ da sói.  Bố cũng biết, mỗi bộ da sau khi phân loại định giá trả tiền, trạm thu mua còn thưởng 20 viên đạn.  Người ta tra sổ là biết.  Nhà báo đưa tin trên đài phát thanh, nói Lanmutrac đã đuổi kịp Buho.  Lanmutrac hoảng quá, phải nhờ người khác bán hộ.
Ông già nhíu mày: Các cậu bắn dữ quá, hai cậu bắn nhiều nhất mục trường đấy!
Batu phân trần: Bãi chăn của chúng cháu liền kề Ngoại Mông, phải coi là nơi nhiều sói nhất, không bắn thì chúng sang càng nhiều, đến nỗi ngựa choai chẳng còn được mấy con.
Ông già lại hỏi: Đi cả hai, chỉ còn mỗi Trương Kế Nguyên ở lại trông nom đàn ngựa?
Batu nói: Đêm mới nhiều sói.  Chúng con sẽ gác đêm.  Cậu ấy chưa quen bắt dê bằng chúng con.
Mặt trời mùa đông trên cao nguyên không lên cao, trái lại, đi ngang đường chân trời.  Trời xanh chuyển sang trắng, cỏ vàng cũng chuyển màu trắng.  Tuyết tan lớp trên mặt, long lanh như kính phản quang.  Dưới nắng gắt, người, chó và xe cộ biến thành ảo ảnh.  Mấy người chăn ngựa bị bệnh mù dở do tuyết, vội nhắm tịt mắt nhưng nước mắt vẫn ứa ra.  Cánh đàn ông vội đeo kính râm.  Phụ nữ và trẻ em lấy ống tay áo che mặt.  Vậy mà những con chó gộc mắt vẫn mở trừng trừng, quan sát đà thỏ nhảy nhót phía xa, hoặc cúi xuống đánh hơi hàng dãy dấu chân cáo còn mới trên tuyết.
Đến gần bãi vây, đàn chó nhanh chóng phát hiện ra mùi lạ liền xông tới, sủa ẳng ẳng.  Một vài con chó bụng còn đói, tranh nhau ăn chỗ thịt thừa đàn sói bỏ lại.  Con Balua và mấy con chó săn của tổ lông gáy dựng đứng, sục sạo dấu vết của đàn sói trên tuyết, mắt đảo tròng, thận trọng dò tìm số lượng và thực lực đàn sói và con sói chúa.  Ông già nói: Balua biết hầu hết những con sói vùng Ơlon.  Quá nửa số sói cũng biết Balua.  Lông gáy Balua dựng đứng, chứng tỏ đàn sói này đáng gờm.
Mọi người cưỡi ngựa tiến vào bãi vây theo hàng dọc, cúi xuống quan sát kỹ mặt đất.  Trên dốc, con dê chỉ còn lại cái sọ và những khúc xương dóng.  Ông già Pilich chỉ vào những dấu chân sói trên tuyết, nói: Đêm qua có mấy đàn sói khác về đây.  Ông còn chỉ những sợi lông màu xám rụng trên tuyết, nói tiếp: Chúng cắn nhau.  Có thể là đàn sói bên kia biên giới lần theo dấu vết đàn dê đến đây.  Bên ấy thiếu cái ăn, sói rất dữ.
Rồi thì tốp ngựa lên dốc.  Như tìm ra kho báu, mọi người hò reo ầm ĩ, khua mũ báo cho đoàn xe phía sau.  Caxumai là người đầu tiên xuống xe, dắt bò chạy gằn.  Đám phụ nữ làm theo Caxumai, nhất loạt xuống xe, thúc bò chạy.  Bò khoẻ xe nhẹ, đoàn xe chạy nhanh.
Lanmutrac nhìn xuống chân núi, con ngươi như muốn bật ra: Eo ơi, dồn được bấy nhiêu dê xuống trũng, lũ sói quả không vừa.  Năm xưa, hơn hai chục thợ săn giục ngựa chạy đứt hơi mà chỉ dồn được hơn ba chục con.
Ông già Pilich dừng ngựa, dùng ống nhòm quan sát dưới trũng và các mỏm núi xung quanh.  Mọi người gò cương nhìn bốn phía, đợi lệnh.
Trần Trận cũng nâng ông nhòm lên.  Dưới trũng là mồ chôn rất nhiều dê, có thể đây cũng là nơi chôn vùi biết bao dũng sĩ thời cổ đại.  Giữa lòng trũng, mặt đất bằng phẳng, như một cái hồ tuyết lớn trên núi cao.  Bên mép hồ, mấy chục bộ xương dê vàng vung vãi trên đầu dốc.  Hãi nhất là giữa lòng hồ có đến mấy chục chấm vàng đang cựa quậy.  Trần Trận nhận ra đó là những con dê rớt xuống chỗ nông, chưa bị chìm nghỉm trong tuyết.  Mặt hồ những chỗ gần có mấy chục hố tuyết to nhỏ, càng gần bờ càng nhiều.  Đó là dấu vết lưu lại của lũ dê xấu số.  Khác với hồ nước, tất cả những vật thể rớt xuống lòng hồ tuyết đều để lại dấu vết trên mặt.
Ông già Pilich bảo Batu: Các cậu ở lại xúc tuyết mở đường cho xe áp sát mép hồ.  Nói rồi, ông, Trần Trận và Lanmutrac đi rất chậm vào trong hồ.  Ông bảo Trần Trận: Phải nhìn cho rõ rồi đặt chân lên dấu chân dê hoặc dấu chân sói, tuyệt đối không được dẫn lên chỗ không, có cỏ ló lên.
Ba người thận trọng cho ngựa xuống dốc, tuyết ngày càng dày, cỏ ngày càng ít.  Đi thêm khoảng chục bước.  Mặt tuyết dày đặc những lỗ nhỏ bằng đầu đũa.  Những ngọn cỏ màu vàng cứng đơ từ những lỗ nhỏ ló lên, gió lay mà thành cái lỗ.  Ông già nói: Những cái lỗ đó là do trời tạo nên để ban cho sói, nếu không thì tuyết sâu như thế, sói làm sao ngửi thấy mùi gia súc bị vùi sâu phía dưới.  Trần Trận mỉm cười tán thưởng.
Lỗ nhỏ và ngọn cỏ là dấu hiệu an toàn.  Đi thêm hơn chục bước nữa, mặt tuyết phẳng lì, không còn lỗ và cỏ nhô lên nữa, nhưng dấu chân dê vàng và sói thì vẫn rất rõ.  Những con ngựa Mông Cổ khoẻ mạnh dùng vó đập vỡ tuyết cứng, rồi chân lún sâu trong tuyết, từng bước lần ra giữa hồ, nơi có những xác dê vàng.  Cuối cùng, ngựa không bước nổi nữa.  Ba người xuống ngựa, lập tức lún sâu trong tuyết.  Họ ra sức dò dẫm tìm một chỗ đứng chân.  Ngay bên cạnh Trần Trận là một con dê bị ăn dở, thịt xương vung vãi trong tuyết, có cả cỏ văng ra từ bao tử.  Khoảng ba bốn chục con dê trưởng thành bị sói bắt đi hoặc ăn thịt, còn đàn sói cùng dừng lại ở đây.
Nhìn ra, Trần Trận chưa bao giờ trông thấy một cảnh kỳ lạ và bi thảm đến thế: Cách khoảng trăm mét, bảy tám con dê vàng cả lớn lẫn bé đứng run lẩy bẩy trên dốc và giữa hồ tuyết.  Xung quanh chúng là những hố tuyết, phía dưới là mồ chôn những con dê.  Những con còn sống sợ đến nỗi không dám nhúc nhích vì mảng tuyết dưới chân chúng có thể vỡ vụn bất cứ lúc nào.  Có mấy con bụng mắc lại trên tuyết cứng, còn bốn chân thì chơi vơi phía dưới.  Những con mắc kẹt trên mặt tuyết tuy còn sống nhưng không cựa quậy được.  Những sinh linh tự do chạy như gió trên đồng cỏ, giờ  đây vừa đói vừa rét, không nhích nổi nửa bước, bị thần chết gày vò tàn nhẫn.  Kinh khủng nhất là mấy cái đầu vẫn ló trên mặt tuyết, còn từ cổ trở xuống thì đã vùi rất sâu.  Trần Trận nhìn qua ống nhòm, vẫn thấy chúng đang há miệng kêu nhưng không có tiếng.  Có thể những con dê đó đã chết cóng, thân thể bất động như những pho tượng.
Tuyết trên dốc và trong hồ ánh lên những tia trắng tuyệt đẹp nhưng nham hiểm.  Đó cũng là ám khí và vũ khí lạnh đầy uy lực, sức sát thương lớn mà trời ban cho sói và người thảo nguyên để bảo vệ đồng cỏ.  Váng tuyết mùa đông trên thảo nguyên Ơlon, là kiệt tác của bạch mao phong và ánh nắng.  Từng đợt bạch mao phong thổi bay lớp tuyết xốp, để lại tuyết hòn như những viên bi dày đặc.  Tuyết hòn rơi xuống phủ một lớp rắn trên mặt tuyết.  Những buổi sáng hoặc giữa trưa nắng gắt và lặng gió, lớp tuyết mặt tan thành nước, quá trưa có gió lạnh, chúng đóng lại thành băng.  Sau vài trận bạch mao phong thì hình thành lớp váng tuyết dày ba đốt ngón tay, trong váng tuyết có băng, trong băng có tuyết, chúng cứng hơn tuyết, phẳng lì trơn tuột, dày mỏng không đều, chỗ rắn nhất người khoẻ mạnh dẫm không vỡ, còn hầu hết là đỡ không nổi sức nặng của bầy dê.
Chỗ gần nhất lại càng kinh hoàng: Những con dê vàng mà sói có thể với tới đều bị lôi lên khỏi hố, kéo đi, vết tích còn lại là mặt tuyết hằn sâu từng rãnh.  Cuối các rãnh là bàn tiệc dã ngoại của lũ sát sinh.  Chúng cực kỳ lãng phí, chỉ ăn tim gan và thịt bắp.  Hiển nhiên là lũ sói thấy động, vừa mới bỏ đi, tuyết hòn vướng chân sói vẫn đang lăn, đám tuyết dưới bãi phân sói chưa kịp đóng băng.
Sói Mông Cổ là bậc thầy về nghệ thuật đánh cơ động trên tuyết.  Chúng biết lui biết tới trong cuộc chiến.  Với những con dê càng sâu bên trong thì dù ló đầu lên hay chìm nghỉm trong tuyết, chúng cũngk hông màng, ngay cả thă dò cũng không.  Chúng chỉ lấy đủ ăn.  Số dê còn lại như để trong tủ lạnh, mùa xuân sang năm sẽ là món ăn khoái khẩu, khi tuyết tan.  Một vùng hồ mênh mông trở thành kho đông lạnh của lũ sói.  Ông già Pilich nói: Ở Ơlon, chỗ nào cũng có hầm lạnh của sói, hồ tuyết chẳng qua là cái kho lớn nhất mà thôi.  Lũ sói thi thoảng lại bổ sung một ít thịt vào những cái kho này, đề phòng sang xuân thiếu ăn.  Đàn dê vàng béo mẫn này là thực phẩm cứu sinh của đàn sói gầy khi sang xuân.  Chúng nhiều mỡ hơn những con dê sống đến mùa xuân.  Ông già chỉ cái hầm lạnh, cười: Sói thảo nguyên rất giỏi thu xếp cuộc sống.  Đầu đông hàng năm, mục dân giết thịt những gia súc béo rồi đem đông lạnh để dự trữ.  Cách này cũng học từ sói.
Balua và lũ chó gộc  đánh hơi thấy mùi dê sống, máu săn nổi lên.  Chúng sủa ầm ĩ, lội ào ra, nhưng đến chỗ sói dừng thì chúng cũng dừng lại, không dám tiến nửa bước, chỉ vươn cổ ra mà sủa.  Vài con dê sợ quá lội bừa vào bên trong, nhưng chỉ được mấy bước, mặt tuyết vỡ, chúng chìm xuống như bị lún trong cát, cố sức giãy giụa mà không thoát.  Hố tuyết chuyển mình, tuyết chảy xuống phía dưới như cát lún, càng chảy càng sâu, cuối cùng thành hình cái phễu.  Một con dê lúc tuyết vỡ, hai chân trước còn móc được vào một chỗ chắc chắn còn thân thì rơi xuống, coi như mới được cứu sống một nửa.
Cái rãnh để cho xe vào đã hình thành.  Đoàn xe xuống dốc.  Khi không thể nhích thêm tí nào nữa, các xe dàn ngang thành hình chữ nhất, dọn tuyết xung quanh lấy chỗ chất hàng.
Cánh đàn ông đi lại chỗ ông Pilich.  Ông già nói: Trông này, mạn tây tuyết rắn, hố tuyết chẳng được mấy cái, dấu chân cũng rất ít, chứng tỏ đàn dê chạy thoát khá nhiều.
Tay chăn cừu Tang Kiệt nói: Cháu thấy lũ sói cũng có chỗ tính chưa hết.  Giá như sói chúa điều thêm quân bịt con đường này lại, thì đàn dê không con nào chạy thoát.
Ông già hừ một tiếng, nói giọng mũi: Cậu mà là sói chúa chắc chết đói.  Bắt một lần hết sạch thì sang năm kiếm đâu ra dê?  Sói không tham như người, sói biết tính toán, sói tính giỏi hơn người.
Tang Kiệt cười: Năm nay dê nhiều, bắt thêm vài nghìn con cũng không ăn nhằm gì.  Cháu muốn kiếm thêm ít tiền sắm căn lều, cưới vợ.
Ông già trợn mắt quát: Vậy khi con cháu cậu lớn lên thì đà dê đã bị giết không còn một con.  Thanh niên các cậu lạ thật, ngày càng như dân ngụ cư ấy!
Ông già thấy đám phụ nữ đã dỡ các thứ trên xe xuống và cho xe xuống rãnh, liền bước lên một mô tuyết, ngửa mặt lên trời, miệng lầm rầm khấn.  Trần Trận đoán ông đang cầu trời cho phép kéo dê vàng lên.  Ông nhắm cả hai mắt, lát sau mở ra, bảo mọi người: Dê chìm dưới đáy nhiều lắm, đừng tham quá, hãy thả hết những con còn sống rồi  thu hoạch những con đã chết.  Trời đã không bắt chúng chết thì ta nên để chúng sống.  Ông già cúi bảo Trần Trận và Dương Khắc: Thành Cát Tư Hãn mỗi lần vây bắt dề đều thả bớt non nửa.  Người Mông Cổ đánh vây đã mấy trăm năm, vậy mà năm nào cũng có dê để bắt, chính là học từ sói, không bắt hết.
Ông già Pilich phân chia địa bàn hoạt động cho các gia đình.  Theo quy ước mọi người nhường đoạn gần và có nhiều hố cho ông già Pilich và thanh niên trí thức Trần Trận.
Ông già dẫn Trần Trận và Dương Khắc đến bên xe nhà, dỡ xuống hai tấm thảm dày, mỗi tấm rộng hai mét, dài bốn mét.  Hình như trước đó thảm được phu nước, cứng queo.  Trần Trận và Dương Khắc mỗi người lôi một tấm, tiến lên.  Ông già vác chiếc sào gỗ dài, đầu sào lồng móc sắt.  Vợ chồng Batu cũng mỗi người xách một tấm thảm dày đi tới chỗ tuyết sâu. Bé Bayan vác chiếc câu liêm, đứng sau lưng bố mẹ.
Đến bên một hố sâu, ông già bảo hai cậu thanh niên trước hết trải một tấm thảm xuống tuyết rồi bảo Dương Khắc vốn nặng cân, nhảy lên nhún thử.  Tấm thảm vừa dày vừa cứng như một ván trượt, tuyết phía dưới chỉ lạo xạo chứ không bị lún.  Dương Khắc phát huy sáng kiến, nhảy lên mấy cái, thảm chỉ lõm xuống một chút.  Ông già vội ngăn lại, nói: Vào sâu bên trong thì không được làm thế nữa, thảm rách là người bị chìm luôn, không phải chuyện đùa.  Thế này nhé, Trần Trận nhẹ người hơn, tôi dẫn Trận vào lấy hay con.  Lần sau thì hai cậu vào lấy.  Dương Khắc đành nhảy ra, đỡ ông già trèo lên tấm thảm lớn.  Trần Trận cũng lên theo.  Tấm thảm dư sức chở hai người, chất thêm hai con dê lên cũng không hề hấn gì.
Đứng vững chân, hai người kéo tấm thảm thứ hai lên phía trước tấm thảm thứ nhất, cắn mép ở chỗ tiếp giáp của hai tấm, rồi sải chân bước sang tấm thảm thứ hai, lần này đem theo câu liêm.  Tiếp theo, lặp lại động tác cũ, kéo tấm thảm phía sau lên phía trước, hai tấm luân phiên đổi chỗ cho nhau.  Hai người như lái xe trượt tuyết, nhích dần đến chỗ một con dê phía xa.
Vậy là Trần Trận đã được ngồi  lên con thuyền kỳ lạ của thảo nguyên Mông Cổ.  Nó là loại công cụ giao thông do người Mông Cổ tạo ra để đối phó với tuyết lớn.  Hàng nghìn năm nay, nhờ có loại thuyền này mà biết bao người đã thoát chết trong gang tấc, nhờ có loại thuyền này mà cứu được bao nhiêu là cừu và chó.  Và cũng nhờ loại thuyền này mà vớt từ đáy hồ lên bao nhiêu là chiến lợi phẩm bị sói, người đi săn và kỵ binh dồn xuống.  Ông già Pilich không hề giấu giếm người đồ đệ ngoại tộc những bí mật của người Mông Cổ, trái lại, còn giúp Trần Trận nắm vững thứ vũ khí này.  Trần Trận là học sinh người Hán đầu tiên học được cách thao tác con thuyền Mông Cổ nguyên thủy.
Thảm thuyền càng trôi càng nhanh, có thể nghe thấy tuyết lạo xạo phía dưới.  Trần Trận có cảm giác như ngồi trên tấm thảm thần kỳ, nhẹ nhàng, phấn kích, lâng lâng như đi vào cõi tiên.  Cậu vô cùng cảm ơn sói và người thảo nguyên đã đem đến cho cậu một cuộc sống nguyên thủy như trong thần thoại.  Trên mặt hồ, tám con thuyền, mười sáu tấm thảm bay vuông vức hè nhau cùng tiến làm bắn lên từng đám bụi tuyết.  Chó sủa, người reo, ông trời cười mỉm.  Một đám mấy dày bay tới phả khí lạnh xuống, tuyết trên mặt vừa tan lại đóng băng ngay lập tức, tăng hệ số rắn chắc trên bề mặt lên gấp ba lần, đảm bảo an toàn khi lôi dê lên.  Mọi người nhất loạt bỏ kính râm, ngửa mặt nhìn trời mà gọi tên vị chúa tể, động tác đẩy thuyền càng nhanh càng chững chạc.  Trong một thoáng Trần Trận cảm nhận được sự tồn tại của đấng Cao Xanh của người Mông Cổ, và linh hồn cậu, một lần nữa, được Người che chở.
Bỗng từ đầu dốc vọng lại tiếng hoan hô của Dương Khắc và Bayan.  Trần Trận ngoảnh lại nhìn, Dương Khắc và Bayan la to: Được một con rồi!  Được một con rồi!  Trần Trận giơ ống nhòm lên nhìn, thấy Bayan bày cácy gì mà Dương Khắc đã bới được một co dê gộc. Hai người nắm chân dê lôi lên bờ.  Những người còn  ở trên bwfo cầm lấy xẻng, tranh nhau lôi ra chỗ tuyết sâu.
Chiếc thảm - thuyền rời xa khu vực an toàn, tiếp cận một con dê gộc.  Đây là một con cái, ánh mắt thất thần cầu cứu.  Xung quanh toàn những hố sâu, mảnh đất dưới chân nó chỉ bằng mặt bàn, sụt lở bất cứ lúc nào.  Ông già bảo: Cho thảm - thuyền lướt bên cạnh, đừng chậm quá khiến nó hoảng sợ.  Có thể nó đang chửa, mở cho nó con đường sống.
Trần Trận gật đầu, cúi xuống khẽ đẩy thảm trước qua miệng hố đến chân con dê mà tuyết rắn trên mặt không bị vỡ.  Con dê có thể đã từng được cứu hoặc biết chớp thời cơ cho đứa con trong bụng, nó nhảy luôn lên tấm thảm rồi nằm phục xuống run như cầy sấy, mắt đờ đẫn vì sợ.  Trần Trận thở phào, cùng ông già bước sang tấm thảm, thận trọng kéo tấm sau vòng qua miệng hố lên chỗ tuyết cứng phía tây, đổi chỗ hơn chục bận mới đến một chỗ không có hố nhưng đầy dấu chân và phân dê.
Trần Trận chậm rãi đến bên co dê.  Trong con mắt cậu, nó đâu phải con dê, mà như một con nai cái, mắt nó đúng là mắt nai, rất đáng yêu.  Trần Trận xoa đầu nó.  Nó gương cặp mắt sợ hãi xin cậu tha mạng.  Trần Trận vuốt ve con dê yếu đuối không nơi nương tựa, mà cảm thấy trong lòng bất nhẫn: Sao mình không bảo vệ loài động vật ăn cỏ hiền lành xinh đẹp này, mà lại đứng về phía bọn sói hiếu sát?  Xưa nay chỉ nghe kể "Cô bé quàng khăn đỏ", "Đông Quách tiên sinh và con sói", toàn những chuyện căm thù sói, Trần Trận buột miệng: Thương lũ dê quá.  Bọn sói thật đáng ghét, giết hại kẻ vô tội, coi sinh mạng như cỏ rác, đáng đem ra tùng xẻo...
Ông già giận đỏ mặt.  Trần Trận căm bặt, biết là mình đã xúc phạm tới điều thiêng liêng nhất trong lòng ông già, xúc phạm linh vật của các dân tộc thảo nguyên.  Nhưng đã lỡ miệng mất rồi.
Ông già trừng mắt, nói như quát: Thế cỏ có phải sinh mạng không?  Thảo nguyên có phải sinh mạng không?  Cỏ và thảo nguyên là sinh mạng lớn, tất cả những thứ khác là sinh mạng nhỏ.  Sinh mạng nhỏ sống nhờ sinh mạng lớn.  Sói và người đều là sinh mạng nhỏ.  Những con ăn cỏ đáng ghét hơn những con ăn thịt.  Cậu thương lũ dê vàng, thế cậu có thương cỏ không?  Dê có bốn chân, chạy rất nhanh.  Nó mà chạy, sói rượt đứt hơi cũng không kịp.  Dê khát thì ra sông uống nước, rét thì lên đầu dốc mà sưởi nắng.  Còn cỏ thì sao?  Cỏ tuy mạng lớn nhưng phận quá mỏng, quá khổ!  Rễ thì nông, đất thì mỏng, sống trong đất, có chạy cũng không quá nửa thước, có bò cũng không quá ba phân, ai cũng có thể giẫm, có thể đạp, có thể ăn, có thể gặm, có thể hành hạ, một bãi nước đái ngựa cũng đủ chết cả một mảng!  Cỏ mọc trên cát hoặc trong kẽ đá mới đáng thương làm sao, không nở được hoa, không gieo được hạt.  Trên thảo nguyên đáng thương nhất là cỏ.  Người Mông Cổ thương yêu nhất, đắm đuối nhất là cỏ thảo nguyên.  Nếu bảo là sát sinh, dê tàn sát cỏ còn dữ hơn máy cắt cỏ.  Dê ăn trụi cỏ thì là gì nếu không phải là sát sinh, là sát hại sinh mạng lớn thảo nguyên? Trên thảo nguyên, sinh mạng lớn bị giết thì các sinh mạng nhỏ cũng chết sạch.  Khi đã thành cái họa thì dê vàng đáng sợ hơn sói. Thảo nguyên có hoạ trắng, họa đen, còn có hoạ vàng.  Xảy ra họa dê vàng có khác gì dê ăn thịt người!
Chòm râu lơ thơ của ông già run lên, run hơn con dê trước mắt.
Trần Trận xúc động sâu sắc, mỗi lời ông già như tiếng trống xung trận, khiến cậu choáng váng, tim đập thình thịch.  Cậu cảm thấy dân tộc thảo nguyên không những hơn hẳn dân tộc nông canh về tri thức quân sự, về tính cách kiên cường dũng cảm, mà về một số quan điểm cũng hơn hẳn.  Cái lô gíc cổ xưa của thảo nguyên đã bó chặt tộc ăn thịt và tộc ăn cỏ, là nguyên nhân sâu xa của những trận chém giết khốc liệt hàng ngàng năm nay.  Lời ông già chính xác và sâu sắc đến nỗi giỏi biện luận như Trần Trận cũng cứng lưỡi, không cãi lại được câu nào.  Ông như thảo nguyên Mông Cổ so với đồng bằng Hoa Bắc, trình độ chêch lệch rõ rệt.  Trần Trận với những quan điểm về sinh mạng, sinh tồn, về cuộc đời của loại văn hóa nông canh, bỗng chốc tiêu tan quá nửa khi đụng phải lôgic của thảo nguyên.  Cậu phải thừa nhận rằng, đạo trời nên đứng về phía dân du mục.  Dân tộc thảo nguyên bảo vệ "sinh mạng lớn" - sinh mạng của thảo nguyên và của thiên nhiên, quý hơn sinh mạng con người.  Còn tộc nông canh thì bảo vệ "sinh mạng nhỏ" - sinh mạng con người và cuộc đời, coi là quý giá nhất.  Nhưng "sinh mạng lớn không còn, thì các sinh mạng nhỏ cũng mất tiêu".  Trần Trận lẩm bẩm nhắc lại câu trên với ý nghĩ chua xót.  Cậu càng cảm thấy nghi ngờ nhận thức của mình về những cuộc tàn sát của tộc thảo nguyên đối với tộc nông canh trong lịch sử, và những hành động san ủi ruộng động khôi phục lại thảo nguyên của họ.  Trước kia cậu cho rằng hành động đó là kéo lùi lịch sử, là dã man.  Nhưng qua lý lẽ ông già, đặt nó trong mối quan hệ giữa sinh mạng lớn và sinh mạng nhỏ mà đánh giá sự việc, cậu thấy không thể gọi hành động đó là dã man, vì rằng trong cái dã man đó lại bao hàm ý nghĩa bảo vệ nền văn minh của nhân loại.  Nếu như đứng trên lập trường sinh mạng lớn mà xét, tộc nông canh ra sức đốt rẫy khẩy hoang vùng biên, phá hoại thảo nguyên và thiên nhiên - sinh mạng lớn khiến sinh mạng nhỏ là con người bị vạ lây, dã man hơn cả dã man ấy chứ?  Phương Đông và phương Tây đều nói trái đất là bà mẹ của nhân loại, chẳng lẽ giết mẹ lại được coi là văn minh?
Trần Trận rụt rè hỏi: Vậy sao bác lại thả những con dê còn sống?  Ông già nói: Để chúng phân tán bớt đàn sói.  Sói bắt dê, bò cừu của chúng ta cũng đỡ thiệt hại.  Săn dê là nghề phụ có thu nhập đáng kể của chúng ta.  Rất nhiều người Mông Cổ nhờ săn bắt dê mà mua được lều, cưới vợ, nuôi con.  Một nửa dân Mông Cổ là thợ săn.  Không đi săn thì khác gì ăn thịt không muối, cơ bắp sẽ nhão ra, đầu óc sẽ ngu đi.  Người Mông Cổ săn bắn cũng là để bảo vệ sinh mạng lớn thảo nguyên.  Họ săn bắt con vật ăn cỏ gần gấp đôi con vật ăn thịt.
Ông già thở dài: Người Hán các cậu còn rất nhiều điều chưa biết.  Cậu đọc nhiều sách, nhưng trong những sách ấy có bao nhiêu điều không đúng.  Người Hán viết sách toàn nói hay cho người Hán, cái thiệt của người Mông Cổ là không biết viết sách.  Nếu như cậu trở thành người Mông Cổ để viết sách cho người Mông Cổ thì hay biết mấy.
Trần Trận gật đầu.  Cậu bỗng nhớ lại rất nhiều  chuyện đồng thoại mà cậu đọc hồi nhỏ, con "sói xám" trong truyện hầu hết là ngu xuẩn, tham lam và tàn nhẫn, còn con cáo thì thông minh, nhanh nhẹn đáng yêu.  Về thảo nguyên, Trần Trận mới phát hiện ra rằng, trong thiên nhiên không có con vật nào hoàn hảo hơn sói, thế mới biết sách vở cũng có nhiều chỗ sai, đồng thoại lại càng sai
Ông già dựng con dê cho nó đứng dậy rồi khẽ đẩy nó ra ngoài thảm.  Trên mặt tuyết ló lên mấy ngọn cỏ lau.  Con dê đang đói liền bước tới đớp luôn.  Trần Trận nhanh nhẹn rút tấm thảm vuông.  Con dê lẩy bẩy đi vài bước, chợt trông thấy hàng dãy dấu chân đồng loại, nó phóng một mạch lên dốc rồi mất hút sau triền núi.
Batu và Caxumai cũng kéo một con dê choai lên bờ, chỗ đất cứng.  Caxumai vừa kéo vừa lầm bẩm: Đáng thương quá!  Miệng nói tay vỗ lưng con vật, thúc nó chạy lên dốc.  Trần Trận giơ ngón cái về phía Caxumai tỏ ý khen.  Caxumai cười, bảo cậu: Mẹ nó sa xuống hố tuyết, nó cứ chạy quanh không chịu bỏ đi, bọn tôi phải dùng thòng lọng mới bắt được đấy.
Những thảm - thuyền lần lượt cập bờ.  Những con dê được cứu sống tập hợp thành một đàn nhỏ, trèo sang bên kia dốc.  Ông già nói: Lũ dê này khôn ra rồi đấy.  Từ nay sói đừng hòng bắt được chúng.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                          
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:37:42Ct.Ly>
Đánh máy: sweet
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
 
 
Chương 4

Đột Quyết là một tộc khác Hung Nô, họ Asưna thị, có bộ lạc riêng. Sau bọ nước láng giềng giết sạch. Tộc này có người con trai mười tuổi, quân lính thấy còn bé, không nỡ giết, bèn chặt hai chân vứt trong đầm cỏ, được sói cái cho ăn thịt. Lớn lên lấy sói cái và có chửa. Vua nước đối địch nghe tin người con trai còn sống bèn cho quân truy sát. Sứ giả thấy con sói đứng bên người con trai, định giết cả sói cái. Sói cái bỏ chạy lên núi Bắc nước Xương, trên núi có hang… Sói cái ẩn trong hang, sau đó sinh 10 con trai. 10 con trai lấy vợ ra ở riêng, sau đó mỗi người một họ, tức là nước Asưna…
“Chu thư. Đột quyết”
 

Cuối cùng mọi người có thể nhận phần quà mà mình được hưởng. mặt hồ mỗi lúc một lạnh. Ông già bào đám thợ săn: Trời đang giục chúng mình đấy, nhanh tay lên! Mọi người lướt như tên về địa bàn mình, một cảnh tượng ồn ào, phấn chấn trùm lên bãi săn.
Ông già dẫn Trần Trận đến bên một cái hố vừa phải, không to không nhỏ thì dừng lại. Ông bào: Đừng chọn những hố to. Hố to thì có qua nhiều dê ở dưới đáy. Bảy tám con dê gộc chất đống lên nhau, hơi nóng toả ra khiến tuyết trong hố không đủ độ để đông lạnh. Những con dê ủ trong hơi nóng gần một ngày một đêm, bụng chướng lên, chân cẳnng sưng to, da tím ngắt, thịt ôi đến non nửa. Lúc này thì chúng đã đông lạnh nhưng đông lạnh của thịt ôi. Những con như vậy bán cho Trạm thu mua, may lắm được nữa tiền. người ta chỉ cần xem bụng con vật là đánh tụt hạng, chỉ trả tìền da, còn thịt thì một xu cũng không trả. Nhưng sói thì rất mê thịt ôi. Chắc chắn đàn sói Ơlôn không quên đàn dê bị vùi ở đây. Mình hãy để lại cho chúng những con chúng thích nhất.
Ông già thọc câu liêm xuống, hố sâu vừa đúng hai mét. Ông dò từng tấc một, chỉ lát sau là ghìm chặt cán câu liêm, bảo Trần Trận: Móc được một con rồi, nào cùng lôi lên! Hai người vừa lôi vừa dùng chân lùa tuyết hòng lấp đầy khoảng trống dưới chân con dê, cho đến khi đầu nó ló lên. Lưỡi câu liêm móc đúng yết hầu, không làm rách da trên người. Trần Trận cúi xuống ôm đầu con dê, dùng sức lôi nó lên tấm thảm. con dê đã đông cứng nhưng bụng không chướng, da không tím chứng tỏ nó bị chết tức thì do nghẹt thở. Ông già bảo: Con này bán được loại Một, giá cao nhất.
Ông già thở ra một hơi, nói: Dưới hố vẫn còn, cậu móc đi! Cứ làm như móc thùng dưới giếng ấy, móc đúng chỗ hãy kéo lên, đừng để rách da. Da rách là bị cấn giá, chẳng được maấy đồng. Trần Trận vâng dạ luôn miệng, đón lấy câu liềm lùa xuống hố, thấy hình như còn hai con. Thăm dò hồi lâu mới lần ra hình thù con dê, sau đó mới dò thấy yết hầu để móc câu liềm vào. Thế là lần đầu toên Trần Trận câu được một con “cá kình”, con mồi nặng năm sáu mươi cân, dù có cưỡi ngựa xích thố cũng không đuổi kịp. Cậu vui vẻ gọi Dương Khắc: Xem này, mình cũng câu được mmột con đực. Khoái quá! Dương Khắc sốt ruột: Cậu quay lại mau, để mình thế chân bố Pilich!
Mặt hồ đây đó vang tiếng hò reo, từng con dê nguyên vẹn, béo mẫm được lôi lên. Từng chiếc bè trượt băng băng vào bờ. những người tháo vát đã được chuyến thứ hai, Batu, Caxưmai và Lanmutrăc móc giỏi nhất, vừa chính xác, vừa nhanh, lại toàn là dê lớn dê béo. Nếu móc phải những con to hoặc nhỏ nhưng bụng trương phềnh hoặc tím tái, có nghĩa là không bán được tiền, liền quăng trả xuống hố. Thảo nguyên tĩnh mịch rộn lên cảnh tượng ngày mùa. Lũ sói đứng trên đỉnh núi xa xa nhìn về, chắc tức lắm. Kẻ cướp trên thảo nguyên lại bị kẻ khác trấn lột! Nghĩ vậy, Trần Trận không nhịn được cười.
Ông già và Trần Trận chở hai con dê vào bờ. Dương Khắc và Banyan đỡ oông già bước ra. Trần Trận vần hai con dê ra ngoài thảm, bốn người lôi chúng đến bên xe bò. Trần Trận thấy trên xe đã có mấy con dê lớn, liền hỏi đầu đuôi. Dương Khắc nói: Mình và Bayan chỉ móc được mỗi con, mấy con kia người ta biếu. Họ bào lệ là như thế. Dương Khắc cười: Chúng mình thoe châm bác Pilich đúng là vớ bở. Ông già cũng cười: Các cậu cũng là người của tháo nguyên, từ rày phải nhớ luật lệ của thảo nguyên!
Ông già đã thấm mệt, ngồi xếp bằng tròn trên xe bò, hút thuốc. Ông bảo: Hai cậu xuống đi. Phải hết sức cẩn thận, nếu thấy lún thì phải lập tức giang rộng chân tay, nín hơi thì có lún cũng không sâu. Người trên thảm phải thò ngay câu liêm cho người kia nắm lấy. Nhớ là không được móc vào mặt kẻo sau này khó lấy vợ. Ông bị sặc, vừa ho vừa sai Bayan chụm củi đốt bếp, chuẩn bị bữa trưa.
Trần Trận cùng Dương Khắc hăng hái bước lên thảm – thuyền. Ở chỗ tuyết sâu Trần Trận phát hiện ra một đường hầm trong tuyết dẫn đến một nơi sâu hơn. Dương Khắc cười, nói: Hồi nãy có mặt ông già mình không dám kể. Đây là cái hốc do mình và Bayan đào. Chính chỗ này đào được con dê gộc. Bayan quả là gan cóc tía. Thấy cậu và bác Pilich đi rồi, nó cậy nhẹ cân, trải áo khoác làm bàn trượt, trườn ra hồ. Tuyềt chịu được, không lún. Nó phát hiện ra cách năm mét có một cái hốc, liền quay lại cùng mình đào một đường hầm, chỉ một lúc là xong. Nó chui vào, lấy thừng xích chân con dê rồi quay trở lại, cùng mình ra sức kéo con dê vào bờ. Bayan đúng là to gan, mình cứ sợ tuyết sẽ vùi nó dưới hố.
Trần Trận nói: Chuyện to gan thì mình đã chứng kiến. Dám tay không túm cẳng sói thì cái hang này nhằm gì! Trẻ con Mông Cổ còn bé mà đã gan cóc tía, lớn lên chắc dũng mãnh phải biết! Dương Khắc nói: Mình bảo Bayan đừng chui vào. Nó bảo: Đã dám chui vào hang sói thì sợ gì hang tuyết? Thằng nhỏ kể hồi lên bảy, nó chui vào hang bắt cả một ổ sói con. Con chẳng phải rất thích đi bắt sói con đó sao? Khi nào đi, cho nó đi cùng. Trần Trận vội thoái thác: Mình thích thì có thích nhưng không dám. Còn cuyện tính cách của người Mông Cổ thì mình xin bái phục!
Dương Khắc và Trần Trận trèo lên bè. Dương Khắc cười vui, mặt hằn những nếo nhăn. Cậu bảo: Đi săn trên đồng cỏ quả thật thú vị. Ban ngày chăn cừu, tối đến trực đêm, đơn điệu dễ chán. Mình thấy đánh bạn với muông thú thì cuộc sống sẽ phong phú hơn.
Trần Trận nói: Thào nguyên đất rộng người thưa, mươi dặm mới thấy một chiếc lều, không đánh bạn với sói, không săn bắn thì buồn chết. Cách đây ít lâu, mình có đọc một cuốn sách viết về Mông Cỗ, thì ra họ sùng bái tôtem sái hàng ngàn năm nay.
Bữa sáng hai người ăn thịt bò nướng, lúc này sức lực đang sung mãn, hai người luôn chân luôn tay đổi chỗ cho nhau, chiếc bè chạy băng băng trên tuyết như xe gắn máy. Rồi thì Dương Khắc cũng móc được một con dê bự. Cậu nhảy cẫng suýt lật bè, may mà Trần Trận vội ấn xuống. Dương Khắc vỗ vỗ đầu con dê, gào lên: vừa nãy xem người ta móc dê lên tưởng mình nằm mơ. Giờ thì như đang mơ chợt tỉnh. Quả thật có chuyện mê li đến thế này sao? Cảm ơn, cảm ơn sói nhiều lắm!
Dương Khắc giữ chặt câu liềm không nhường cho Trần Trận. Trần Trận sợ lật bè, không dám giằng lấy câu liềm, đành phải gò lưng mà kéo. Dương Khắc móc một hồi được ba con dê bự, thoả thuê rồi, cậu ta mới bàn: Móc hết lên rồi hãy chuyển vào bờ thì năng suất cao hơn. Nói rồi, cậu ta xếp những con dê ngay ngắn trên mặt tuyết rắn.
Trên bờ, hút xong tẩu thuốc, ông già Pilich bảo mọi người dọn quang một chỗ bên đoàn xe. Đám phụ nữ nhặt nhạnh vàn gãy, trục xe hỏng chất thành hai đống giữa bãi trống; trải đệm cũ ra, xếp lên những bình trà sữa đầy, những hồ rượu, bát gỗ và lọ nước. Tang Kiệt và một chú chó làm thịt hai con dê bị lạnh cóng nhưng chưa chết, dùng cho bữa trưa. Lũ chó đã no nê sau khi thừa hưởng chỗ thịt thừa của đàn sói bỏ lại, không thèm ngó hai con dê đã lột da, móc ruột, đang bốc hơi. Một đống lửa được đốt lên, ông già Pilich cùng lũ trẻ caầm xiên sắt hoặc xiên gỗ xâu thịt, rắc muối lên rồi vừa nướng vừa ăn bên bếp lửa. Mùi trà sữa, mùi thịt nướng thơm lừng bay xuống hồ như mời gọi cánh thợ săn lên ăn trưa.
Gần trưa, các thảm- thuyền đã chở được hai ba chuyến. Trên mỗi cỗ xe đã có bảy tám con dê vàng. Lúc này đám đàn ông được đổi phiên để ăn trưa. Phụ nữ vả lũ trẻ thay họ xuống hồ tuyết, tiếp tục đưa dê lên bờ.
Thịt dê vàng là món ăn khoái khẩu trên thảo nguyên Mông Cổ, nhất là khi cuộc đi săn kết thúc, một đống lửa được dốt lên, tay nướng miệng ăn tại bãi săn. Đó là niềm đam mê của các Khan và tầng lớp vương công quý tộc Mông Cổ, và cũng là niềm vui của người dân thường khi có dịp. Vậy là Trần Trận và Dương Khắc đã dự một bữa ăn thình soạn với tư cách là thợ săn. Hai cậu quên luôn món thịt quay Bắc Kinh. Sự hưng phấn và lao động chân tay khiến cho mọi người ăn rất ngon miệng. Trần Trận cảm thấy mình vui hơn các Khan Mông Cổ, vì được ăn ngay bên cạnh những mẫu xương dê của lũ sói bỏ lại. Các cậu ăn như rồng cuốn, như sói tranh mồi, ăn với một khoái cảm đặc biệt.
Trần Trận và Dương Khắc bỗng lây tính cách hào phóng của người Mông Cổ không hẹn mà cùng giơ tay giằng lấy hồ rượu của người ngồi bên, tu ừng ực.
Ông già Pilich cười khà: Chỉ môt năm nữa là ta không dám đi Bắc Kinh gặp phụ huynh của các cậu đâu. Các cậu đã thành dân du mục thực thụ rồi. Dương Khắc miệng sặc hơi rượu, nói: Người Hán cần cái khí phách của người Mông Cổ, lái đại xa vượt Cư Dung Quan hộp nhập cùng thế giới.
Trần Trận gọi liền ba tiếng: Bố, bố, bố! Rồi nâng hồ rượu lên ngang mày mời “đại tù trưởng”. Ông già Pilich uống liền ba ngụm, cũng vui vẻ gọi to ba lần: Milihu (con ta), milihu (con ta), milsaihu (con trai của ta)!
Batu rượu ngà ngà, xéo bàn tay gấu vỗ mạnh lưng Trần Trận, lắp bắp: Cậu… cậu mới Mông Cổ một nửa. Khi nào lấy vợ Mông Cổ, đẻ một đứa con trong lều Mông Cổ, thì mới được coi là người Mông Cổ thực thụ. Cậu ẻo lả quá, không ổn. Gái Mông Cổ trong chăn dữ hơn sói cái! Trai Mông Cổ sợ vợ như cừu sợ sói.
Tang Kiệt cười: Ban đêm đàn ông như cừu, đàn bà như sói. Caxưmai lợi hại số một!
Đám thợ săn cười rú.
Lanmutrăc hào hứng bốc Dương Khắc quẳng xuống một hố tuyết dày. Anh nói: Khi nào cậu quật ngã được tôi, khi đó cậu mới được gọi là người Mông Cổ. Dương Khắc cố sứ quật lại, nhưng chính cậu lại bị ngã lộn ba vòng. Lanmutrắc cười: Người hán ăn cỏ yếu như cừu. Người Mông ăn thịt khoẻ như sói.
Dương Khắc rũ tuyết trên người, nói: Hãy đợi đấy! Sang năm tôi sẽ mua hẳn một con bê, ăn bằng hết, và tôi sẽ cao hơn anh một cái đầu, khi ấy anh sẽ yếu như cừu cho mà xem!
Đám thợ săn vỗ tay tán thưởng: Hay lắm!
Người thảo nguyên Mông Cổ uống nhiều hơn ăn. Bảy tám hồ rượu lớn thoắt cái cạn tới đáy. Thấy rượu đã hết, Dương Khắc tưởng bở, thách Lanmutrắc: Đấu vật không thắng, giờ xin đấu rược với anh. Lanmutrắc cười hóm: Cậu ranh như cáo ấy! Nhưng trên thảo nguyên cáo không khôn bằng sói. Đợi tí, tớ vẫn còn rượu. Nói rồi, anh đến bên con ngựa của mình, lôi từ đây vài hồ rượu trắng to tướng và hai chiếc cốc. Mọi người la: Phạt rượu, đáng phạt rượu!
Dương Khắc cười gượng: Đúng là cáo không bằng sói, tôi xin chịu phạt.
Lanmutrắc nói: Cậu… cậu nghe đây! Theo quy định, phạt bao nhiêu phải uống bấy nhiêu. Có lần tôi nói sai một câu, bị ông phóng viên người Han thông thạo cả tiếng Trung Quốc lẫn Mông Cổ, đổ rượu say bí tỉ. Giờ thì cho cậu nếm mùi… Nói rồi, anh ta rót đầy một cốc giơ lên, nói bằng thứ tiếng Hán bập bõm: Bách linh bay từng đôi, mỗi cánh đèo hai cốc!
Dương Khắc tái mặt: Bốn cánh, mỗi cánh hai cốc, vị chi tám cốc. Nhiều quá, xin bớt cho một chén mỗi cánh. Lanmutrắc nói: Nếu cậu không giữ lời, tôi tăng mỗi cánh thêm một cốc bây giờ.
Mọi người, kể cả Trần Trận la to: Uống, phải uống thôi!
Dương Khắc đành phải uống một mạch tám cốc rượu. Ông già Pilich cười: Ở thảo nguyên này mà láu cá thì thiệt đấy!
Trần Trận và Dương Khắc đón xiên thịt đã nướng chín từ tay ông già, ăn luôn, nước thịt hồng hồng ứa ra hai bên mép. Hai cậu đã ăn được thịt lòng đào.
Trần Trận nói: Bố, đây là lần đầu tiên con ăn thức ăn của sói. Từ bé đến giờ mới có món thịt ngon đến thế. Giờ con đã hiểu vì sao các vua chúa và con cái của họ lại thích săn bắn đến thế.
Đường Thái Tôn là ông vua kiệt xuất đời Đường. Ông ta mê săn bắn. Thái tử, là người sẽ ối ngôi vua cũng thường dẫn vệ binh Đột Quyết săn bắn trên thảo nguyên. Thái tử còn dựng lều giữa sân điện, rồi cũng như chúng ta ở đây, làm thịt cừu, quay chín, dùng dao xẻo thịt ăn. Ông ta mê thảo nguyên đến nỗi không muốn làm vua, chỉ thích giương ngọn cờ đầu sói của Đột Quyết rong ruổi trên đồng cỏ, sống cuộc sống du mục. Về sau, quả nhiên ông không được làm vua, Đường Thái Tôn không truyền ngôi cho ông ta. Cuộc sống trên thảo nguyên quả thực hấp dẫn, đến nỗi có người bỏ cả ngôi vua.
Ông già trố mắt ngạc nhiên: Chuyện này chưa nghe cậu kể. Hay lắm, rất có ý nghĩa. Nếu như người Hán ai cũng yêu thích thảo nguyên như ông vua kia thì hay biết mấy. Và nếu ông ta không mất ngôi lại càng hay. Các vua nhà Thanh đều thích thảo nguyên Mông Cổ, thích lấy phụ nữ Mông Cổ, lại cấm người Hán đến Mông Cổ khai hoang. Thời ấy, người Hán, người Mông không đánh nhau, thảo nguyên sống trong hoà bình.
Ông già Pilich rất mê Trần Trận kể chuyện lịch sử. Mỗi lần nghe, ông đều tặng lại Trần Trận một vài chuyện kể Mông Cổ. Ông bảo, ở thảo nguyên mà chưa ăn thức ăn của sói, thì chưa phải là người Mông Cổ. Không có thức ăn của sói, có lẽ không có người Mông Cổ. Xưa kia, người Mông Cổ bị dồn đến bước đường cùng, phải sống nhờ vào sói. Ông tổ của Thành Cát Tư Hãn bị dạt vào rừng sâu với hai bàn tay trắng, suýt chết đói. Không còn cách nào khác, ông bí mật theo dõi con sói. Sói bắt được mồi, ông đợi. Sói bỏ đi, ông ăn thức ăn thừa của sói bỏ lại. Vậy mà cầm cự được mấy năm, cho đến khi anh trai tìm thấy, đón ông về. Sói là ân nhân cứu mạng của người Mông Cổ, không có sói thì không có Thành Cát Tư Hãn, không có người Mông Cổ. Thức ăn của sói ngon tuyệt! Cậu xem, sói đem đến cho chúng ta là quà tặng theo mùa. Có điều thức ăn của sói không phải lúc nào cũng dễ kiếm, sau này cậu sẽ rõ.
Ăn sạch hai con dê, không còn một mẩu. Bếp lửa lụi dần, nhưng ông già Pilich vẫn cẩn thận sai người xúc đất lấp kín đống tro.
Mây đen tích tụ ngày càng dày. Trên đỉnh núi, tuyết bị gió hất lên như những dãi lụa trắng. Đám trai tráng lại leo lên bè, tiến ra hồ, tranh thủ lấy đầy xe trước khi tuyết lấp đầy các hố. thêm một con dê vàng là thêm bảy bánh trà gối Tứ Xuyên, hoặc hơn chục tút thuốc lá thơm Hải Hà (Thiên Tân), hoặc mười lăm mười sáu bình rượu trắng Nội Mông. Dưới sự chỉ đạo của ông già Pilich, đám thợ săn cuyển hết bè từ chỗ sâu đến chỗ nông, tranh thủ lấy hết số dê vàng ở những chỗ dễ móc lên. Ông gài còn chia nhóm, những ai giỏi móc thì chuyên móc, những ai giỏi chuyên chở thì vận chuyển. Bè khá gần bờ, những sợi thừng dài bắt đầu phát huy tác dụng. Vài người khoẻ mành đứng trên bờ ném thừng lên bè, người trên bè buộc một đầu thừng vào bè rồi ném trả vào bờ. Trên bờ kéo chiếc bè vào rồi ném trả rồi ném trả người dưới hồ để họ kéo chiếc bè ra. Hiệp đồng kiểu này, tiến độ nhanh trông thấy.
Rồi thì những người trên hồ bị bóng núi nuốt chửng, các xe đều đầy ắp. Vậy mà một số thợ săn vẫn muốn đốt lửa làm thêm vào ban đêm. Xếp đống những con phải để lại, cử người mang súng canh gác, hôm sau chở nốt. Nhưng ông già Pilich lớn tiếng bào thôi. Trời đã cho ta một ngày lộc thì chỉ nên thu hoạch một ngày. Ông Trời đã rất công bằng. Sói ăn thịt cừu và ngựa của ta thì Trời bắt sói phải trả nợ cho ta. Giờ gió đã nổi, nghĩa là Trời muốn dành cho sói số dê còn lại, không nên cưỡng lại ý Trời. Ai dám ở lại vùng gió xoáy này? Nếu đêm nay bạch mao phong cùng đàn sói tràn về, thì sự thể sẽ ra sao?
Không ai nói một câu. Ông già lệnh cho cả tổ rút. Đoàn người mệt mỏi nhưng hân hoan đẩy những cổ xe nặng lên dốc, rồi người lên xe, kẻ lên ngựa trở về nhà.
Trần Trận đàm địa mồ hôi, cậu phát sốt, run cầm cập. Trong hồ ngoài hồ, trên dốc dưới dốc, chỗ nào cũng lưu lại dấu vết của con người: bếp tro, cuống thuốc là, vỏ chai rượu và vết bánh xe. Gay nhất là vết bánh xe dẫn đến khu lều trại. Trần Trận thúc ngựa chạy tới bên ông già, hỏi: Bố, bị vố đau thế này, liệu sói có trả thù không? Bố vẫn nói rằng sói nhớ dai mà!
Ông già nói: Ta lấy không nhiều, quá nửa vẫn để lại cho sói, ta không tham. Muốn lấy nữa chỉ việc neo sào trên những hố, bạch mao phong có thể lấp bằng các hố tuyết, nhưng không vứt được sào đi, ta có thể lấy nốt số dê còn lại. Nhưng mà làm như vậy thì Trời không nhận linh hồn ta. Ta phải vì mục trường. Sang xuân, sói có thịt đông lạnh ăn, sẽ không bắt gia súc. Sói làm nhiều việc tốt cho con người, ta không nên uống nước cả cặn! Yên tâm đi. Sói chúa biết suy xét đâu ra đấy.
Chiều tối, bạch mao phong lồng lộn trên thảo nguyên. Trong căn lều của đán thanh niên trí thức, bếp lò cháy rực. Trần Trận gấp cuốn “Mông Cổ bí sử”, bảo Dương Khắc: Cái ông ăn thức ăn thừa của sói ấy là ông tổ tám đời của Thành Cát Tư Hãn, tên là Hao Đan Sa Nhi. Dòng họ Thành Cát Tư Hãn có tên Hao Nhi Chi Cân, bước lên vũ đài lịch sử từ đời Hao Đan Sa Nhi. Đương nhiên mấy đời sau đó cũng có nhiều thăng trầm.
Dương Khắc nói: Nói vậy là, nếu  không có sói tức không có vị quân sư và vị huấn luyện viên sói ấy thì hẳn là không có Thành Cát Tư Hãn và dòng họ của ông ta, không có kỵ binh Mông Cổ trí dũng song toàn. Sói thảo nguyên quả thật thiêng liêng với dân tộc Mông Cổ.
Trần Trận nói: Phải nói rằng, với Trung Quốc ảnh hhương càng lớn hơn. Từ khi có Thành Cát Tư Hãn và kỵ binh Mông Cổ, lịch sử Trung Quốc từ nhà Kim đến nam Tống về sau phải viết lại hoàn toàn. Lịch sử châu Á, Ba Tư, Nga La Tư, Ấn Độ… phải viết lại tất. Thuốc súng của Trung Quốc được đưa sang phương tây theo con đường Á – Âu àm kỵ binh Mông Cổ mở ra, phá huỷ thành luỹ phong kiến phương Tây, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Rồi sau đó, hoả pháo ấy của phương Tây công phá cổ ngõ Trung Quốc, bắn nát kỵ binh Mông Cổ, thế giới chao đảo… Vậy mà vai trò của sói trong lịch sử bị lờ đi trong những bộ sử do con người ghi chép. Nếu ông Trời chép sử, chắc chắn sói có vai trò xứng đáng.
Anh chàng chăn ngựa Cao Kiên Trung còn đang phấn khích vì được một xe Trời cho, vội nói: Các cậu toàn nói những chuyện viễn vông ở đâu ấy. Công việc cấp bách bây giờ là tìm cách lấy hết số dê còn lại. Phát tài to! Trần Trận nói: Ông Trời ưu ái sói mà cho ta một  xe đầy thế này là tốt rồi. Bạch mao phong ngắn nhất cũng ba ngỳa ba đêm, hố tuyết sẽ dầy thêm nửa thước, không còn trông thấy một hố nào nửa. Khi ấy mò dê chẳng  khác nào đáy biển mò kim! Cao Kiện Trung bước ra bên ngoài nhìn trời, quay vào bảo: Đúng là phải ba ngày ba đem mới tạnh. Giá hôm nay mình đi thì hay quá, mình sẽ cắm nêu ở những hố to nhất. Dương Khắc nói: nếu vậy, cậu đừng hòng ăn phù chúc của Caxưmai. Cao Kiện Trung thở dài: Đành để sang xuân vậy. Khi ấy mình sẽ lấy đầy một xe đem lêm Trạm thu mua Bayancaobi. Nếu hai cậu không nói, chắc không ai biết chuyện này.
Nửa cuối mùa đông, quả nhiên đàn gia sức không xảy ra chuyện gì đáng kể. Đàn sói Ơlôn rược theo đàn dê vàng ở đâu không rõ. Cuộc khủng bố trắng đã không diễn ra.
Mùa đông im ắng, Trần Trận ban ngày chăn cừu hoặc ban tối trực đêm, hễ rảnh rỗi cậu lại sưu tầm nhựng mẩu chuyện về sói. Mất nhiều thì giờ nhất là chuyện “sói bay”. Truyền thuyết “sói bay” lưu hành khắp vùng Ơlôn, chuyện xảy ra chưa lâu, địa điểm thì hình như ở ngay đại đội của cậu. Trần Trận quyết tâm làm rõ chuyện, giải mã cho bằng được vì sao sói có thể bay trên thảo nguyên Ơlôn.
Đám thanh niên trí thức vừa về Ơlôn đã nghe rằng, sói Ơlôn do trời sai xuống, nên biết bay. Hàng ngàn năm nay, mục dân Ơlôn khi chết, thi thể được đưa tới bãi thiên táng cho sói xử lý. Nếu sói ăn hết thì coi như ”thiên táng” thuận lợi. Căn cứ để nói “thiên táng” là sói biết bay. Sói bay lên trời, đem theo linh hồn cùa người đã chết, như kiểu thần ưng của phương Tây. Đám thanh nieên trí thức coi đó là mê tín dị đoan thì dân Mông Cổ khẳng định như đinh đóng cột là có thật. Xa xôi ở đâu không biết, chuyện gần đây thôi, trước cách mạng văn hoá ba năm, một số sói bay vào chuồng cừu của đại đội Hai, ăn thịt hơn chục con, cắn chết hơn hai trăm con. Ăn no rồi, kũ sói bay ra khỏi chuồng. Cổng đóng, tường cao sáu bảy thước, người không thể trèo qua, lũ sói vào bằng cách nào? Bức tường nay vẫn còn, không tin, các cậu đi  mà xem. Hôm ấy, trường bãi Ulichi dân chức sắc đến tận nơi, đồn trưởng Công an Halapala cũng có mặt. Nào chụp ảnh, nào đo đạc tính toán. Tường vây rất cao, không lỗ thủng, sói vào ra bằng cách nào. Điều tra mấy ngày liền nhưng không ai biết được. Mục dân biết, nhưng để bụng không nói ra.
Câu chuyện trên ám ảnh Trần Trận một thời gian. Khi sưu tầm truyền thuyết đã thành niềm đam mê, cậu liền nhớ lại. Thế là cậu lập tức lên ngựa, phi một mạch trên mười dăm đến căn chuồng xây bằng đá xem xét rất kỹ mà vẫn không hiểu sói vào bằng cách nào. Cậu đã tìm gặp ông già Xưlangđaochi. Ông già nói: Không hiểu thằng con trời đánh thánh vật của tôi đã làm cái gì đắc tội với trời, mà cho đến bây giờ gia đình tôi vẫn bị người ta nguyền rủa. Nhưng người con đã học xong Trung học của ông hì lại bào chuyện này là lỗi tại Ban Quản Lỳ bãi chăn. HỒi ấy, vùng Ơlôn chưa có tường vây bằng đá, Ban Quản Lý muốn giảm bớt công điểm trực đêm, lại nghĩ có thể bảo đảm an toàn cho đàn cừu, bèn xây mấy căn chuồng đá cho cừu đẻ. Họ bảo, chuồng đà sói không vào được, do đó không cần trực đêm. Đêm hôm ấy tôi nghe chó sủa rất lạ, hình như sói về nhiều, nhưng vì Ban Quản Lý nói không cần trực đêm nên tôi cũng cho qua, không ra xem có chuyện gì. Ai dè sáng ra mở cửa chuồng bước vào, đã thấy cừu chết la liệt, cả nhà chết sững. Nền chuồng máu chảy thành vũng, dầy đến hai đốt ngón tay, trên tường cũng vấy đầy máu. Những con cừu đều chết bởi bốn vết thương trên cổ. Máu tràn ra ngoài chuồng. Có cả bãi phân sói… Ban Quản Lý quy định lại, những gia đình gần chuồng lại phải cử người trực đêm, được tính công. Những năm đó, loại chuồng đá cho cừu đẻ ngày càng nhiều, có trực đêm, không còn chuyện sói bay vào trong ăn thịt cừu.
Trần Trận vẫn không chịu tin, lại hỏi rất nhiều người, ai cũng bào sói biết bay. Họ còn bảo sói chết nhưng hồn sói thì bay lên trời.
Về sau, đồn trường Ha được “giải phóng”(1), trả về từ Uỷ Ban Kiểm Tra cán bộ cũ, phục nguyên chức. Trần Trận đem theo vài bao thuốc lá ngon Bắc Kinh đến thăm ông, mới hiểu sói “bay” kiểu gì vào chuồng cừu? Đồn trường tốt nghiệp trường ngiệp vụ Công an, nói tiếng Hán trôi chảy. Ông nói, vụ này đã kết luận, tiếc rằng những lý lẽ rất khoa học của ông đã không được chấp thuận, phần đông mục dân không tin, họ vẫn cho rằng sói biết bay. Chỉ một số thợ săn có văn hoá, có kinh nghiệm là bị ông thuyết phục. Đồn trưởng ha cười, nói: Nếu có ý tôn trọng tín ngưỡng và tập quán dân tộc, thì bảo sói bay vào trong chuồng cũng không hoàn toàn sai, vì rằng tối thiểu một đoạn sói bay trong không trung..
Ông nói tiếp: Hôm ấy mọi người sợ lắm, nghĩ rằng trời giáng hoạ xuống đầu dân Ơlôn. Đám chăn ngựa bỏ cả ngựa trên núi chạy về. Người già và phụ nữ phủ phục dưới đất vái lia lịa. Trẻ con sợ đến nỗi bị đánh không dám khóc. Trưởng bãi Ulichi sợ ảnh hưởng đến sản xuất, lệnh cho nội ttrong hai ngày phải phá án. Tôi tập trung cán bộ mục trường lại, phân công bảo vệ hiện trường. nhưng hiện trường đã bị xoá. Tất cả những dấu vết bên ngoài chuồng đều bị gia súc hoặc dấu chân người xoá sạch. Tôi đành dùng kích lúp soi từng xăngtimét trên tường, cuối cùng tìm ra hai vết chân sói dính máu mờ mờ trên mặt tường góc đông bắc, mới kết thúc vụ án. Cậu thử đoán xem, sói vào chuồng bằng cách nào?
Trần Trận lắc đầu.
Đồn trưởng Ha nói: Tôi đoán chắc rằng đã có một con sói cực lớn chồm hai chân trước lên mặt tường, hai chân sau trụ đất, dùng thân làm cầu cho đàn sói trèo qua. Những con sói từ khoảng cách vài chục mét chạy lên lưng con sói bắc cầu, dùng nó làm bàn đạp nhảy vào trong. Nếu từ bên trong nhìn ra, chẳng phải đàn sói bay vào là gì?
Trần Trận ngẩn người hồi lâu, nói: Sói Ơlôn thông minh đến thế là cùng. Chuồng đá vừa ra đời, chúng đã có cách đối phó. Chúng quả đã thành tinh! Người dân nói sói bay cũng không sai. Đoạn đường di chuyển từ mặt tường vào bên trong đúng là bay. Thấy sói từ trên cao rớt xuống giữa đàn, gì mà cừu chẳng chết khiếp! Đàn sói vờ bẫm, ăn no, giết thả giàn. Chỉ mỗi con sói bên ngoài là thiệt, chẳng được miếng nào. Chắc hẳn nó là con đầu đàn, phong cách cao thượng, tất cả vì bầy đàn.
Đồn trưởng Ha cười: Không hẳn! Theo tôi thì con sói này cũng bay vào ăn đủ. Cậu không biết, sói thảo nguyên ý thức bầy đàn rất cao, không bao giờ bỏ rơi đồng loại. Những con bên trong sau khi ăn no, liền bắc cầu cho một con nhảy ra ngoài. Sau đó, con này làm cầu cho con thứ nhất nhảy vào. Máu trên tường chính là con sói từ trong nhảy ra. Nếu không, nó từ đâu ra? Vì rằng, con thứ nhất khi làm cầu, chân nó chưa dính máu, đúng không? Cậu thử tưởng tượng tình hình khi ấy, đúng là đàn sói trêu ngươi con người, đồng loạt nhảy vào tàn sát. Con người xây chuồng đá để ngăn sói, giờ thì ngược lại, tường đá chặn đứng lũ chó ở bên ngoài. Ông Xưlengđaonhichi chắc tức điên! Chó săn không dám bắt chước sói bay và trong chuồng quần nhau với sói. Chó nhà không khôn bằng sói.
Trần Trận nói: Cháu cũng không bằng sói. Nhưng còn vấn đề này nữa: Sói làm thế nòa ra hết bên ngoài? Ý cháu là, con sói cuối cùng ra bằng cách nào?
Đồn trưởng Ha vui hẳn lên, nói: Đúng là người không khôn bằng sói. Khi ấy ai cũng thắc mắc. Cuối cùng, Trưởng bãi lội vào quan sát, mới vỡ lẽ. Tại góc đông bắc có một đống xác cừu, chí ít bảy tám con. Mọi người cho rằng, con sói cuối cùng chắc rất có bản lĩnh và sức khỏe. Nó tha những con cừu chết chất thành đống sát tường rồi trèo lên, nhảy ra. Có người lại bảo, chất đống xác cừu là công việc tốn sức, không chỉ một con mà mấy con cùng làm, rồi lần lượt nhảy ra. Sau đó, Trưởng bãi triệu tập các đội trưởng, tổ trưởng đến hiện trường phân tích cặn kẽ, diễn tập các thao tác của lũ sói, mục trưởng mới thôi xôn xao. Ban Quản lý cũng không phê bình hoặc trách phạt Xưlengđaonhichi. Trưởng bản làm bản tự kiểm điểm, tự nhận chủ quan khinh địch, có thái độ lơ là đối với sói.
Trần Trận nghe mà sởn gai ốc. Cậu tuy rất tin những kết luận khoa hoc của đồn trưởng Ha, nhưng từ đó hình ảnh những con sói bay luôn xuất hiện trong giấc mơ của cậu. Cậu thường tỉnh dậy mồ hôi đầm đìa. Cậu không dám nhìn nhận những truyền thuyết trên thảo nguyên bằng con mắt của thợ săn thuần túy. Cậu bắt đầu hiểu vì sao một só nhà khoa học phương Tây lại chăm đi lễ nhà thờ.
Sau một thời gia, Trần Trận bắt đầu khảo sát hai bãi “thiên táng” của đại đội, một ở phía bắc núi Đaolơcai, một ở đông bắc Đá Đen. Nhìn bên ngoài, hai bãi này không khác mấy so với bãi cỏ thông thường. Nhưng quan sát kỹ, có sự khác biệt. Hai bãi này cách rất xa con đường di chuyển truyền thống của mục trường, nằm ở vị trí phía bắc – một góc chết vắng vẻ, gần đàn sói, gần Trời, tiện cho linh hồn lên Trời. Hơn nữa, địa hình gồ ghề, rất thích hợp cho phương thức “thiên táng” bằng xe bò.
Hàng ngàn năm nay ở Ơlôn khi có người chết, người ta cởi bỏ quần áo người quá cố rồi dùgn thảm cuộn lại, buột chặt, cũng có người để nguyên quần áo đang mặc rồi dựng đứng trên xe bò, buộc ngang hai đầu càng xe một thanh gỗ. Vào giờ Dần, hai bậc đàn anh của người chết mỗi người cầm một thanh gỗ rồi lên ngựa phi tới bãi thiên táng, cái xác rớt xuống chỗ nào thì chỗ ấy là địa điểm thiên táng, kết thúc cuộc đời gian truân của một thành viên bộ tộc trên lưng ngựa. Nếu thi thể cuộn trong tấm thảm, thì hai vi huynh trưởng xuống ngựa mở tấm thảm ra, đặt người chết trên bãi cỏ, tênh hênh như lọt lòng mẹ. Từ lúc này trở đi, người chết thuộc về sói, về Thần linh. Còn như người chết có về Trời được không, còn phải xem sinh thời người ấy thiện hay ác. Nói chung, chỉ sau ba ngày là biết. Nếu sau ba ngày, cái xác chỉ còn lại ít xương thì có nghĩa là người chết đã lên trời; nếu sau ba ngày người chết vẫn còn nguyên thì đúng là thảm họa. Nói vậy thôi, Ơlôn nhiều sói, Trần Trận nghe nói, chưa có người nào chết không được lên Trời.
Trần Trận có biết tục thiên táng của Tây Tạng, còn của Mông Cổ thì trước khi đến thảo nguyên Ơlôn cậu chưa nghe nói do sói đảm nhiệm, mà vẫn tưởng do chim kền kền. Do vậy cậu càng tò mò. Từ miệng ông già chở vật tư cho đội, cậu biết ang áng địa điểm thiên tán và đã bí mật đến đó hai lần, nhưng vì tuyết quá dày, cậu không xem được những gì muốn xem.
Cho đến một hôm mùa đông sắp kết thúc, cậu nhìn thấy những vệt bánh xe và những dấu chân người chân ngựa trên đường dẫn vào bãi thiên táng. Cậu trông thấy xác một người chết vì bệnh tật hình như vừa đưa đến. Vết chân người ngựa và bánh xe còn rất mới, chưa bị tuyết xóa. Người ấy nằm ngửa trên tuyết trắng, nét mặt thanh thản, lớp tuyết phủ trên người như một tấm khăn mỏng.
Trần Trận ngạc nhiên sững sờ. Tâm trạng thấp thỏm dọc đường dần được thay thế bằng một tình cảm chân thành thiêng liêng. Đâu phải người chết này “rơi vào cõi chết”, mà như lên Trời dự yến tiệc, rồi nhận một kiếp sống mới cho mình. Thêm một lần Trần Trận tin rằng tôtem sói của người Mông Cổ là có thực. Một con người đế phút cuối cùng của cuộc đời dùng hình thức lõa thể làm cống phẩm để đi đến tận cùng của sự giải thoát cho bản thân, thì không ai còn có thể hoài nghi vào đức tin của người Mông Cổ với Trời và thảo nguyên.
Trần Trận không dám dừng lại lâu ở nơi thiêng liêng này. Cậu chỉ sợ quấy quả linh hồn người quá cố, sợ bị coi là không tôn trọng tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc thảo nguyên, bèn cung kính lạy từ biệt người chết, dắt ngựa rút khỏi nơi thiên táng. Nhìn những vết xe ngoằn nghoèo trên đoạn đường cuối cùng, trước mắt cậu như hiện ra cỗ xe bò lắc lư. Cậu dùng chân đo đoạn đường, khoảng bốn mươi mét. Cả một cuộc đời thăng trầm rút gọn lại trong quãng đường có bấy nhiêu! Đời người sao mà ngăn ngủi, còn ông Trời thì vĩnh hằng! Từ Thành Cát Tư Hãn đến người dân thường cũng chỉ một câu: Trời ơi, ông Trời bất tử! Còn sói là chiếc thang cho linh hồn của dân thảo nguyên lên Trời.
Sau ba hôm không thấy gia đình người chết có hiện tượng bất thường, Trần Trận mới yên tâm. Vì rằng qua thời gian đó, gia đình người chết phải đến bãi thiên táng kiểm tra, có thể họ đã nhìn thấy dấu chân của cậu và ngựa, nhưng họ không trách cứ cậu. Nhưng nếu như linh hồn người chết không được lên Trời thì sự thể sẽ khác. Và vậy là sự hiếu kỳ của cậu bắt đầu vấp phải những điều cấm kỵ của thảo nguyên. Cậu càng phải chăm nom đàn cừu tốt hơn, gần gũi hơn với những người mà cậu cảm thấy lạ lùng, bí ẩn và rất đáng kính nể.
Mùa xuân năm nay đến rất sớm, trước một tháng. Sau vài cơn gió ấm, thảo nguyên đã phủ một màu vàng rạng rỡ. Cỏ thu bị tuyết phủ kín, giờ ló ra tua tủa, thậm chí đã nảy mầm trên những sườn núi ngoảnh về phía mặt trời. Tiếp thao là trời ấm nắng hanh. Đến với các đội đang chuẩn bị cho mùa sinh sản, chỗ nào cũng thấy mọi người bận rộn với công việc phòng cháy, chống hạn và bảo vệ cừu non.
Cao Kiện Trung đã chậm một bước. Một số hộ ngụ cư đến cùng đội xây dựng cơ bản đã chứng kiến cảnh tấp nập của đội sản xuất Caxưmai tại Trạm thu mua mùa đông vừa rồi. Họ bám dính cánh thợ săn dò hỏi về bãi săn, cánh thợ săn nói dê lấy hết rồi. Họ lại dùng kẹo Quan Đông dụ dỗ Bayan, thằng nhỏ chỉ cho họ một thung lũng chẳng có gì hết. Cuối cùng, những người Mông Cổ mà đa số thuộc vùng nông nghiệp này đã tìm ra điểm yếu chết người của dân Mông Cổ thảo nguyên: Rượu. Họ đem rượu mạnh nấy bằng cao lương đổ cho Tang Kiệt say bí tỉ, do đó biết chính xác địa điểm đông lạnh dê vàng. Thế là họ ra tay trước, ngay trước mũi bầy sói và Cao Kiện Trung. Khi những con dê vừa mới lộ ra, họ đã cắm lều kín xung quanh, vét sạch dê trong một ngày bất kể tốt xấu to nhỏ, và ngay đêm hôm đó chất lên xe tải hạng nặng chở lên Trạm thu mua của công xã Bayincaoti.
Cánh chăn ngựa của đội Hai mấy đêm kiền nghe tiếng gào thét phẫn nộ của bầy sói đói phía sau núi. Họ hoảng hốt thật sự, ngày đêm không rời đàn ngựa nử bước, khiến các cô bồ rải rác ở các túp lều Mông Cổ tha hồ mà than vãn trách móc.
Ít hôm sau, Ban Quản Lý chính thức thông báo về việc phục hồi hoạt động đào bắt sói con mỗi năm một đợt. Theo đề nghị của đại diện quân đội BaoThiện Quý, tiền thưởng nhiều hơn năm trước. Nghe nói giá thu mua da sói con đặc biết cao. Da sói con mềm mại, là nguyên liệu cao cấp may áo khoác nữ, giờ đây đang là mốt của các phu nhân hàng tỉnh. Nó cũng là cống phẩm cao giá trong giao dịch “đi cửa sau”.
Ông già Pilich không nói gì, liên tục rít tẩu. Trận Trận chỉ nghe một lần ông lẩm bẩm: Đàn sói nổi giận rồi!
 
Chú thích:
(1) Những cán bộ cũ sau khi bị đấu tố, được ra làm việc lại trong Cách mạng văn hoá (ND)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-25 10:01:06Ct.Ly>
 
Canary đã đánh
 
Chương 6

Vũ khí của Đột Quyết có cung tên, minh đích tiên bắn đi phát ra tiếng kêu gặp thương đao kiếm.  Chốp cán có gắn đầu sói bằng vàng.  Lính thị vệ gọi là Phụ Ly, tiếng Đột Quyết nghĩa là sói.  Do sói sinh ra nên không quên gốc.
"Chu Thư. Đột Quyết"


Batu được Saxuleng tìm thấy trong một cái chuồng cừu cũ ở phía nam đầm lầy sau khi bão về một đêm và sáng hôm sau.  Khi ấy anh đã bị thương đi không nổi, sắp chết vì lạnh.  Saxuleng vực Batu lên con ngựa bị thương của cậu, đưa Batu về nhà.  Để tổ điều tra nắm được đầu đuôi sự việc, Batu gượng đau cùng đến hiện trường.  Hai mã quan kia tuy thương tích đầy mình, vẫn bị tạm giam để điều tra.
Trần Trận đi sau ông Pilich, cuối đoàn.  Cậu hỏi nhỏ: Bố, trên sẽ xử lý thế nào về anh Batu?
Ông già dùng bao tay gạt sương trên bộ râu dê lưa thưa, cặp mắt đồng tử màu hổ phách ẩn chứa một tình cảm phức tạp.  Ông không ngoảnh lại, mắt vẫn nhìn ra dãy núi xa xa, nói: Thanh niên trí thức các cậu thấy cần kỷ luật nó hay sao? - Quay lại, ông bổ sung một câu - ban quản lý mục trường và đại diện quân đội rất coi trọng ý kiến của các cậu.  Mời các cậu đi cùng là để các cậu cho ý kiến.
Trần Trận nói: Batu là một hảo hán, anh ấy vì đàn ngựa mà suýt mất mạng, tiếc rằng anh không gặp may.  Con thấy cứu được đàn ngựa hay không thì anh Batu vẫn là anh hùng thảo nguyên.  Con ở với bố một năm, Batu là anh cả của con.  Con hiểu thái độ của Bao Thuận Quý, ý kiến của con chẳng có ý nghĩa gì, sẽ không được coi trọng.  Với lại các thanh niên trí thức cũng không thống nhất ý kiến.  Con nghĩ, bố là đại biểu mục dân nghèo, lại là Ủy Viên Ủy ban cách mạng, mọi người đều nghe bố, bố nói thế nào, chúng con sẽ nói như thế.
- Những thanh niên trí thức khác nói gì? - Ông già hỏi.
- Các thanh niên trí thức đội con đều nhận xét tốt về anh Batu.  Đợt bão tuyết sói này khủng khiếp quá, ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng thế thôi.  Không thể kỷ luật anh Batu!  Vậy mà có người bảo, có kẻ lợi dụng thiê tai để phá hoại, chống quân đội, chống cách mạng, nhất định phải điều tra thành phần xuất thân bốn mã quan!
Sắc mặt ông già càng u ám, ông không hỏi nữa.
Đoàn người vòng qua phía đông đầm lấy tới địa điểm Batu nổ súng lần cuối.  Trần Trận cố trấn tĩnh, cậu chuẩn bị tinh thần mục kích cảnh tàn sát đẫm máu.
Vậy mà không trông thấy giọt máu nào.  Tuyết dày hơn thước đã phủ kín tất cả những gì đêm trước đã diễn ra, chí ít là đầu những con ngựa mà cũng không thấy.  Mặt đầm lổn nhổn những mô tuyết, giữa các mô là tuyết dày, sau mỗi mô là một đuôi tuyết dài do gió tạo nên, giấu đi những xác ngựa lẽ ra rất nổi bật.  Mọi người lặng nhìn, không ai xuống ngựa, không người nào muốn vén tấm chăn tuyết, chỉ đứng đó tưởng tượng sự việc đã diễn ra.
Tiếc quá - Ông Pilich mở miệng đầu tiên.  Ông giơ roi chỉ bờ đầm phía đông - Các vị xem, chỉ chạy thêm một quãng ngắn nửa là không việc gì.  Batu dẫn được đàn ngựa từ Bãi Bắc về đây quả không dễ.  Bão to sói đông cứ cho là người không sợ, nhưng con ngựa có sợ không? Batu từ đầu chí cuối bám đàn ngựa quyết tử với lũ sói.  Nó đã làm tròn trách nhiệm.
Ông già không câu nệ, thanh mình cho con trai.
Trần Trận lại gần Bao Thuận Quý, nói: Vì tài sản của tập thể mà Batu đã chiến đấu suốt đêm với sói.  Nên báo cáo lên trên sự tích anh hùng này.
Bao Thuận Quý trừng mắt quát: Gì mà anh hùng!  Anh ta bảo vệ được đàn ngựa thì mới là anh hùng - Quay lại, ông ta giận dữ bảo Batu - Tại sao hôm ấy cho ngựa ăn cỏ ở Bãi Bắc?  Chăn ngựa bấy nhiêu năm, chẳng lẽ anh không biết hể nổi gió bắc là đàn ngựa chạy xuống đầm lầy?  Trách nhiệm lớn nhất của anh là ở điểm này.
Saxuleng dập đầu vào bụng ngựa, ngẩng lên cãi: Đó là bãi chăn do bản quản lý chỉ định, còn nói rằng ở đó còn nhiều cỏ thu và cỏ xuân thì đã mọc mầm.  Những con ngựa chiến đi xa, cần được ăn uống tốt, béo lên một chút để các kỵ binh dân quân vui vẻ tiếp nhận.  Tôi còn nhớ anh Batu hôm ấy nói tại hội nghị "Năm khâu cách mạng, đẩy mạnh sản xuất", rằng chăn ở Bãi Bắc không an toàn.  Nhưng ban quản lý bảo, mùa xuân phần lớn là gió tây bắc.  Ai ngờ lại có gió bắc?  Ông cũng đồng ý với ban quản lý, vậy sao khi sinh chuyện ông lại đổ hết cho Batu?
Mấy ông trong ban quản lý không nói gì.  Trưởng bãi Ulichi đằngg hắng một tiếng, nói: Saxuleng nói đúng, quả là có chuyện ấy.  Mọi người ai cũng có tâm, muốn đàn ngựa béo khoẻ, góp chút công sức cho cuộc chiến.  Ai ngờ lại xảy ra cơn bão, lại là bạch mao phong, lại thêm đàn sói, trăm năm mới gặp một lần.  Tôi là người nắm sản xuất, tôi xin chịu trách nhiệm trong chuyện này.
Bao Thuận Quý giơ roi chỉ vào mũi Saxuleng, nói: Trách nhiệm của anh cũng không nhỏ.  Ông Pilich nói đúng, chỉ chạy một quãng nữa là thoát nạn, nếu ba anh không bỏ chạy mà cùng Batu dồn đàn ngựa thì không đến nỗi sinh chuyện.
Ông Pilich dùng cây gậy dằn cây roi của Bao Thuận Quý xuống thấp, nghiêm mặt nói: Thưa ông đại diện quân đội, ông tuy là người Mông nông nghiệp, nhưng cũng nên hiểu phong tục của người Mông du mục.  Trên thảo nguyên chúng tôi, không cho phép chỉ roi vào mũi người khác khi nói.  Chỉ có bọn vua chúa, bọn Đaichi, bọn chủ bãi chăn thả mới làm như thế.  Không tin, ông đi hỏi thủ trưởng phân khu.  Đợt kiểm tra sắp tới ông ấy về đây, tôi và ông sẽ hỏi.
Bao Thuận Quý chuyển roi ngựa sang tay trái, chỉ ngón trỏ vào mặt Saxuleng, quát: Còn anh nữa, sao không xuống ngựa xúc tuyết?  Xúc đi chứ!  Tôi cần kiểm tra từng cái xác, để xem sói lợi hại đến mức nào mà tất cả đều đổ lên đầu chúng?  Mao Chủ Tịch đã dạy: Nhân tố con người quyết định tất cả!
Mọi người xuống ngựa, cầm lấy xẻng gỗ, xẻng sắt và chổi tre, bắt đầu dọn tuyết.  Bao Thuận Quý vẫn ngồi trên yên, lấy máy ảnh Hai Âu ra chụp làm tư liệu, miệng sa sả: Dọn sạch, dọn hết!  Vài hôm nữa, tổ điều tra quân sự Minh và Kỳ (cấp huyện) cũng về điều tra tiếp.
Trần Trận cùng các ông Ulichi, Pilich và Batu lội sâu vào tận trong cùng, băng phía dưới chưa tan, tuyết phía trên kêu lạo xạo dưới chân.  Ông già Pilich nói, chỉ cần xem con ngựa trong cùng có bị sói ăn thịt không, sẽ biết đàn sói lợi hại đến mức nào!
Trần Trận vội hỏi vì sao.
Ông Ulichi nói: Cậu thử nghĩ mà xem, vì rằng càng vào sâu bên trong càng nguy hiểm, sói cũng biết thế.  Vậy nếu con ngựa này cũng bị cắn chết, thì đúng là đàn sói vô cùng nguy hiểm.
Ông già ngoảnh lại bảo Batu: Có bắn cũng chẳng ăn thua!
Batu nhăn nhó khổ sở: Con đem theo có mười viên đạn, chỉ một lúc là hết nhẵn.  Bạch mao phong át hết tiếng sút.  Sói sợ bỏ chạy, nhưng khi thấy hết đạn, chúng liền quay lại.  Trời tối, đèn lại sắp hết pin, con nâng tầm bắn cao lên một thước.
- Khi ấy đâu có nghĩ dài dòng - Batu dùng ngón tay ấn nhệ vết thương trên mặt, nói - Trời tối mà tuyết thì lớn, chỉ sợ bắn phải ngựa.  Con cầu trời tạnh gió, đầm không đóng băng, sói không ra được, ngựa sẽ sống sót một số.  Con nhớ là đã nâng đầu nòng lên một thước.
Ông già Pilich và Ulichi thở dài nhẹ nhõm.
Đến bên mô tuyết trong cùng, Batu do dự một thoáng, rồi nhanh nhẹn xúc sạch tuyết ở chỗ đầu con ngựa.  Mội người lập tức bị sốc.  Con ngựa bạch to lớn bị cắn đứt một nửa cổ, đầu ngật ra phía lưng, mắt lồi hẳn ra ngoài như quả trứng muối bóc vỏ, trong suốt.  Sự sợ hãi tột độ còn hằn trên khuôn mặt ngựa.  Thật kinh khủng!  Tuyết dưới đầu ngựa  đã đóng băng, thấm máu tươi, xẻng xúc không vỡ.  Mọi người hì hục xúc và quyét, hai thân ngựa  lộ ra.  Trần Trận có cảm giác đây không phải là những vết cắn, mà như một quả tạc đạn nổ trong bụng, hai bên sườn vỡ toạc, ruột gan văng ra ngoài xa vài mét, một nửa mông không còn, xương lộ ra trắng hếu.  Rải rác trên tuyết những đoạn xương, những mảnh da và lông.  Sói chỉ ăn tim gan và một ít thịt bắp.  Con ngựa chỉ là đối tác cho sót trút cơn giận.  Trần Trận nghĩ, hình phạt phanh thây đối với  con người phải chăng học từ sói?  Hay là phần thú tính của nhân tính cùng một nguồn gốc với chất sói trong thú tính?  Trong các cuộc đấu tranh trong lịch sử nhân loại, quả thật người ta đã áp dụng luật sói đối với nhau.  Mục kích cuộc tàn sát quy mô lớn của sói, thú tính trong con người Trần Trận cũng nổi dậy, cậu tiếc không chộp ngay được một con sói để lột da, cắt gân cho hả giận!  Chẳng lẽ người đánh bạn với sói lâu ngày sẽ biến thành sói?  Hoặc con người ngày càng nhiễm chất thú!
Mọi người lặng nhìn.  Trần Trận cảm thấy chân tay lạnh thấy xương!
Ông già Pilich hai tay tì lên cán xẻng, vẻ đăm chiêu, nói: Có lẽ đây là đàn sói nếu không đông nhất nhì thì cũng đông thứ ba tôi thấy trong đời.  Con đầu đàn mà bị cắn xé đến như thế này, thì những con khác tôi không cần xem nữa, đảm bảo không còn con nào nguyên vẹn.
Ulichi mặt sa sầm, thở dài: Con ngựa này tôi cưỡi hai năm, bắt được ba con sói.  Nó chạy nhanh nhất nhì trong đàn.  Năm xưa tôi là đại đội trưởng kỵ binh đem quân đi tiễu phi, chưa khi nào được cưỡi con ngựa nào hay như nó.  Chiến lược chiến thuật của đàn sói này còn hay hơn cả bọn phỉ họ Mã năm xưa.  Chúng triệt để lợi dụng bạch mao phong và đầm lầy khiến ta cảm thấy con ngựa lười suy nghĩ.  Nếu tôi thông minh hơn sói một chút thì con ngựa này không chết.  Để xảy ra chuyện này, tôi xin chịu trách nhiệm, giá khi ấy tôi khuyên lão Bao một câu thì đâu đến nỗi!
Trần Trận vừa nghe chuyện hai ông già, vừa nghĩ chuyện của mình ở Trung Quốc, người ta thường coi hổ bảo sài lang là mãnh thú.  Nhưng hổ báo là loại thú hiếm, không sống theo bầy đàn, chuyện về chúng không nhiều.  Còn sài lang (sói) thì tương đối phổ biến, đâu cũng có.  Chúng sống thành đàn, có nhiều chuyện động trời.  Sói là loại thú dữ uy hiếp con người lớn nhất, nhiều nhất, lập lại nhiều lần nhất.  Trên thảo nguyên, sói là thiên đích lớn nhất của người, ngựa, bò, cừu. Vậy vì lẽ gì các tộc trên thảo nguyên lại sùng bái sói?  Trần Trận rút lại lập trường mà gần đây cậu mới xác lập.
Bãi tha ma đã dọn được quá nửa, mặt đầm thây ngựa ngổn ngang, máu loang tuyết trắng đỏ ngầu, chẳng khác mặt trăn bị bom đạn cày đi xới lại.  Những sinh mệnh đầy sức sống chuẩn bị ra trận bị phạt ngang, biến thành mồi cho pháo đạn.  Cảnh tượng thê thảm của từng con, cùng một đạng với con ngựa bạch.  Xác ngựa dầy đặc, xương cốt chân cẳng lẫn lộn, chỉ căn cứ vào cái đầu và màu lông để đếm.  Hai mã quan ngồi xổm trên băng, dùng bao tay và cả vạt áo khoác lau mặt ngựa, vừa lau vừa khóc.  Mọi người thẩn thờ vì thảm cảnh trước mặt.  Trần Trận và mấy thanh niên trí thức Bắc Kinh chưa bao giờ mục kích cảnh tàn sát tập thể dã man kiểu này, nên cứ đứng nhìn nhau, không thốt được lời nào.  Phản ứng đầu tiên của đám thanh niên trí thức là, người nào trong chúng ta gặp đàn sói này, thì có bị phanh thây như đàn ngựa không?
Trước mắt Trần Trận hiện ra cảnh thảm sát Nam Kinh, qua tính cách của sói, cậu nhìn thấy tính chất phát xít của bọn giặt Nhật.  Cơ thể cậu phản ứng dữ dội: Kinh tởm, phẫn nộ, buồn nôn, muốn nguyền rủa, muốn giết hết lũ sói.  Một lần nữa, cậu buột miệng nói trước mặt ông già Pilich: Loài sói dã man quá!  Dã man hơn cả bọn phát xít Nhật!  Phải xé xác chúng mới hả giận!
Ông già nhìn Trần Trận, mặt như chằm đổ nhưng giọng nói thì chắc nịch: Tính phát xít của Nhật Bản là có từ trong máu, không phải học từ sói. Tôi đã đánh Nhật tôi biết, Nhật không có thảo nguyên lớn, không có đàn sói lớn.  Người Nhật thấy sói bao giờ chưa?  Vậy mà chúng giết người như ngoé?  Tôi dẫn đường cho Hồng quân Liên Xô, đã từng thấy những việc lầm của người Nhật.  Đường Thạch Tử là con đường từ mục trường ta đi Cát Lâm, Đông Bắc, riêng sửa đường đã chết bao nhiêu người?  Xương trắng đầy hai bên đường, mỗi hố to chất đống mười mấy sinh mạng, một nửa là người Hán, một nửa là người Mông.
Ulichi nói: Chuyện này cũng không nên chỉ quy tội cho sói.  Con người cướp hết lương thực cứu đói của sói, bắt đi bao nhiêu sói con, làm sao nó không trả thủ?  Có trách là trách chúng ta không trông nom đàn ngựa cẩn thận.  Sói rất ham sống, nếu không cùng đường, sói không cắn người.  Người có chó, có súng, có thòng lọng.  Trên thảo nguyên sói sợ người, đa phần sói bị người giết.  Còn giặc Nhật thì sao?  Trung Quốc chúng ta chưa bao giờ xâm lược họ, còn giúp họ nhiều chuyện, vậy mà họ giết người Trung Quốc như ngoé!
Ông già Pilich rõ ràng là không bằng lòng, lườm Trần Trận, nói: Người Hán ngồi không vững trên yên ngựa, ngồi đã không vững thì khi bị vấp dễ lộn cổ xuống đất.
Trần Trận rất ít khi bị ông già mắng.  Lời ông khiến đầu óc cậu sáng ra.  Cậu hiểu ý tứ trong câu nói của ông.  Cậu nhận thấy tôtem sói ngự trong ông già vững vàng hơn kỵ sĩ Mông Cổ ngồi trên lưng ngựa.  Các dân tộc thảo nguyên qua ngàn năm vật đổi sao dời, nhưng tôtem sói thì nghiễm nhiên tồn tại cho đến bây giờ, không dao động mảy may vì cái chết của bảy tám chục con ngựa chiến.  Trần Trận chợt nhớ lại những câu: Hoàng Hà trăm hai, không lai một giầu", "Hoàng Hà vỡ đê, người biến thành cá", "Hoàng Hà sông Mẹ", "Hoàng Hà - cái nôi của dân tộc Trung Hoa".  Dân tộc Trung Hoa không vì Hoàng Hà gây trăm hại mà không gọi bằng "Mẹ".  Thì ra, trăm họa có thể song hành với Mẹ.  Tôtem sói của dân Mông Cổ cũng được coi trọng như "sông Mẹ" của dân tộc Trung Hoa.
Bao Thuận Quý cũng không nhăn nhó nữa.  Ông ta vẫn ngồi trên mình ngựa để quan sát hiện trường rõ ràng hơn.  Ông ta không hề nghĩ rằng sói Mông Cổ lại tàn bạo đến như vậy, cũng không nghĩ rằng đàn ngựa đông như thế mà vẫn bị sói xơi tái.  Ông ta ngạc nhiên từ đầu đến cuối.  Trần Trận trông thấy ông  ta run run khi cầm máy ảnh, ông ta liên tục đổi cách cầm mới không bị rơi.
Ông già Pilich và ông Ulichi xúc tuyết bên một lô xác ngựa ở giữa đầm, hai ông đào bới như đang tìm cái gì ở đó.  Trần Trận vội đến đào giúp.  Cậu hỏi ông già Pilich: Bố tìm cái gì thế?  Ông già trả lời: Tìm đường đi của sói.  Kìa cậu, xúc nhẹ thôi!  Trần Trận cẩn thận lựa chỗ đặt chân rồi cúi xuống quan sát.  Lát sau ba người đã tìm ra con đường của sói - con đường tuyết dày bốn lóng tay, rất rắn, được hình thành trên mặt bùn nhão.  Quét sạch lớp tuyết xốp mới phủ bên trên thì thấy dấu chân sói, to thì như chân bê, nhỏ như chân chó gộc.  Mỗi dấu để lại vết lỏm, có vết còn vương máu ngựa.
Ông Ulichi và ông già Pilich gọi mọi người lại, tập trung quét sạch con đường sói.  Ông bảo, quét sạch tuyết sẽ đoán được đàn sói lớn hay nhỏ.  Quét được một lúc, mọi người nhận thấy đường sói không thẳng mà cong, quét tiếp lại thấy đó là đường cánh cung, quét hơn một giờ, thì ra nó là một đường tròn, một đường tròn bằng tuyết rắn, trong tuyết có máu, mặt đường cao hơn mặt bùn một cạnh bàn tay, băng thấm máu tươi khiến người kinh hãi, y như con đường dẫn xuống âm phủ, như một đồ thị đầy những ký hiệu quái quỉ.  Đường rộng hơn mét, chu vi năm sáu chục mét, bên trong tập trung rất nhiều xác ngựa.  Mặt đường dày đặc những dấu chân sói vấy máu.  Mọi người sợ run, bàn tán sôi nổi:
- Tôi ngần này tuổi đầu chưa bao giờ thấy dấu chân sói to như thế?
- Đâu phải sói, yêu quái thì có!
- Đông khiếp!
- Ít nhất cũng bốn năm chục con.  Batu bợm thật!  Một mình mà dám chơi đàn sói này.  Phải tôi thì đã ngã ngựa, làm mồi cho sói rồi!
- Đêm ấy tối trời mà tuyết thì lớn, cháu chẳng nhìn thấy gì, đâu biết đàn sói đông như thế.
- Rồi ta sẽ gặp nhiều rắc rối đây!
- Đám con gái còn dám đi đêm nữa không?
- Các ông trên mục trường bộ thiển cận quá, cướp sạch thức ăn dự trữ cứu đói của sói, khiến chúng nổi khùng.  Tôi mà là sói, tôi chén sạch gà lợ của các vị ấy.
- Ông nào dở thế không biết.  Đào bắt bao nhiêu là sói con, hèn gì chúng chẳng nổi điên?  Những năm trước bắt ít, đàn ngựa có sao đâu!
- Ban quản lý cũng nên làm vài việc nghiêm chỉnh. Phải tố chức diệt sói. Cứ đà này, sói sẽ ăn thịt người!
- Bớt họp đi, tập trung vào những việc thiết thực.
- Tình hình này thì đàn gia súc không đủ cho sói tráng miệng.
- Lãnh đạo mục trường có một số xuất thân nông nghiệp, làm toàn những chuyện thất đức nên Trời sai sói xuống cho một bài học.
- Đừng có phát ngôn bừa bãi!  Có muốn đấu tố không?
.......
Bao Thuận Quý cùng Ulichi và ông già Pilich quan sát, chụp ảnh con đường của sói, chốc chốc lại trao đổi ý kiến.  Nét mặt cau cau của ông, Bao Thuận Quý bắt đầu giãn ra.  Trần Trận đoán ông già đã tác động được vào "nhân tố con người quan trọng nhất" của ông ta.  Tai họa cỡ này, con người làm sao chống lại?  Tổ nào về điều tra cũng vậy thôi, nhìn hiện trường là thấy sức người khó mà đối phó, nhất là với bầy sói ranh ma quỷ quyệt lợi dụng bạch mao phong tấn công về đêm.
Trần Trận thấy đỡ lo cho ông già Pilich và ông Ulichi.
Trần Trận bắt đầu suy nghĩ về con đường của sói, một đường tròn ma quái khiến người rợn tóc gáy.  Nó như xiết từng vòng quanh ngực cậu, vòng sau chặt hơn vòng trước, khiến cậu tức thở.  Vì sao lũ sói chạy một đường tròn như vậy?  Động cơ nào?  Mục đích gì? Hành vi của sói thảo nguyên người ta không hiểu.  Mỗi dấu vết của sói để lại thường là câu hỏi hóc búa.
Chống lạnh ư? Để cho nóng người lên?  Có thể như thế.  Bởi vì đêm ấy có bạch mao phong, lạnh ghê gớm.  Đàn sói đang chạy đường dài mà đột ngột dừng lại, chắc không chịu nổi rét, nên sau khi ăn no, chúng chạy cho nóng người lên.
Giúp tiêu hóa chăng?  Tiêu hao năng lượng để có thể ăn thêm.  Cũng có thể.  Bởi vì sói không phải loài chuột.  Chuột biết tích trử lương thực trong hang.  Sói không biết để dành, muốn sử dụng thức ăn được nhiều hơn, sói chỉ mỗi cách nhồi nhét, sau đó chạy để tiêu hóa nhanh thức ăn, tăng nội dưỡng, tạo ra chỗ trống trong dạ dày để rồi nhồi tiếp.  Nhưng đó phải là loại dạ dày sắt thép, đàn hồi, cao su, hoặc là không có manh tràng (ruột thừa) nên không sợ viêm.  Nếu vậy thì đáng sợ.
Hay là chúng duyệt binh, chuẩn bị cho trận đánh tiếp?  Hay là chúng điểm quân?  Cũng có thể.  Xem dấu chân ta thấy sói rất có ý thức tổ chức kỷ luật.  Con đường chỗ nào cũng rộng hơn mét, rất ít bước ra ngoài.  Không phải là duyệt binh thì làm sao đội ngũ chỉnh tề như thế?  Nói chung, sói độc lập tác chiến, hoặc hành động theo nhóm, một nhóm bốn năm con, tổ chức vây ráp thì chỉ một gia đình bảy tám con, còn tác chiến với quy mộ binh đoàn thì rất hiếm.  Trần Trận không thể hiểu, sói vốn quen độc lập tác chiến, vì sao bỗng dưng chuyển sang vận động chiến với quy mô binh đoàn?  Năm xưa Bát lộ quân và Tân tứ quân tốn bao công sức mới nâng cấp được như thế.  Chẳng lẽ sói có tài năng quân sự bẩm sinh?  Hay tổ tiên nhà sói rút kinh nghiệm từ những cuộc tàn sát đẫm máu, truyền lại cho sói con cháu?  Nhưng sói không biết nói thì truyền bằng cách nào? Quả là khó hiểu.
Vậy thì, hay là sói ăn mừng chiến thắng?  Hay là một nghi thức trước hay sau khi ăn?  Khả năng này cực lớn.  Cuộc truy kích thắng đậm, đàn ngựa không sót một con, sói đã bảo thủ tuyết hận, có thể coi là toàn thắng.  Đàn sói đói hạ gục một đàn ngựa béo, ai bảo không sướng?  Hẳn là khi đó sói sướng như điên, diễu hành rất lâu xung quanh những xác ngựa đến nỗi thành con đường.
Trần Trận lấy cái bụng của con người để hiểu sói, cắt nghĩa một số hành động của sói.  Chó hiểu tính người, người hiểu tính sói hoặc sói hiểu tính người.  Thiên địa nhân là một.  Sói, người, chó không thể không liên quan với nhau. Có lẽ nghiên cứu về người nên bắt đầu nghiên cứu từ sói, hoặc nghiên cứu sói nên bắt đầu nghiên cứu từ người, khoa sói học liên quan mật thiết với nhân học - một bộ môn khoa học vĩ đại.
Một đoàn người theo sau Batu, lần ngược con đường dẫn đến sự cố, lên phía bắc.  Trần Trận lại gần ông Pilich, hỏi: Bố, vì sao sói chạy thành một con đường như thế?  Ông già nhìn quanh, cố ý buông lỏng dây cương cho ngựa đi chậm lại, nói khẽ: Tôi sống ở Ơlon đã 60 năm, chưa bao giờ thấy đàn sói lớn như thế!  Hồi nhỏ tôi cũng từ hỏi ông thân sinh ra tôi.  Ông bảo, sói là do Trời sai xuống bảo vệ quả núi thiêng Bayinoloa và thảo nguyên Ơlon.  Kẻ nào phá hoại, Trời nổi giận, sai sói xuống cắn chết rồi thưởng luôn cho sói ăn thịt.  Mỗi khi được thưởng, sói vui sướng chạy quanh phần thưởng nhiều vòng, tròn như mặt trời mặt trăng.  Vòng tròn này là hồi âm của sói, giống như thư cảm ơn bây giờ.  Sau khi trời nhận được hồi âm, sói ăn thoải mái.  Sói thích ngửa mặt nhìn trăng, hếch mũi lên trời mà hú dài, nếu như trăng có quầng, chắc chắn đêm ấy nổi gió, sói không đi săn mồi.  Sói dự đoán thời tiết giỏi hơn người, sói biết khi nào trăng tròn, biết vẽ hình tròn, chính là sói có khả năng thông thiên.
Trần Trận như mê đi, cậu vốn thích thần thoại.  Giải thích về đường tròn của sói, bản thân nó đã đầy đủ xét từ góc độ vă học.  Vả lại, không thể nói thuyết này không khoa học.  Trong quá trình săn bắt lâu dài, người ta đã biết đá đổ mồ hôi thì mưa, trăng có quầng thì gió.  Trần Trận tấm tắc: Hay thật!  Những quy luật của tự nhiên trên thảo nguyên, mặt trời có quầng, mặt trăng cũng có quầng.  Mục dân ra hiệu cho người khác đi tới thì giơ tay vẽ một vòng tròn.  Cái vòng tròn đúng là một tín hiệu ma quái!  Chuyện của bố làm con tỉnh người, sói thảo nguyên quá giỏi, biết vẽ vòng tròn, biết phát tín hiệu, sợ thật!  Ông già Pilich nói: Sói thảo nguyên rất tinh quái!  Tôi cả đời đối mặt với chúng mà không khi nào thắng.  Tôi không lường trước được sự cố tai hại này. Sói luôn hành đọng đúng lúc, đúng chỗ mà ta không ngờ, đã đến thì cả bầy.  Cậu bảo nếu không có Trời giúp thì làm sao sói lợi hại đến như thế!
Đoàn người ngựa phía trước dừng lại, có người xuống ngựa, bới tuyết.  Trần Trận thúc ngựa chạy theo ông già lên chỗ đó.  Đã phát hiện những xác ngựa, nhưng không tập trung, mà bốn năm con rải thành một vệt.  Ở một chỗ xa hơn, có người kêu: Có xác sói!  Trần Trận nghĩ, chắc đây là nơi sói tấn công tự sát như Batu đã kể.  Và cũng là bước ngoặt dẫn đàn ngựa đến tử vong.  Cậu thót tim, trống ngực đập thình thịch.
Bao Thuận Quý vẫn ngồi trên yên, vung cây roi quá đầu quát: Không được lộn xộn!  Tất cả quay lại, trước hết bới hai con ngựa, sau đó mới đến sói. Mọi người chú ý kỷ luật chiến trường.  Tất cả xung công!  Ai vi phạm sẽ bị đưa đi học tập cải tạo.
Mọi người nhanh nhẹn tập họp xung quanh hai con ngựa, bắt đầu gạt tuyết.
Hai con ngựa đã lộ ra.  Ruột gan tim phổi của từng con đều bị chính nó giẫm nát, vương vãi đến mấy chục mét.  Hai con này không bị sói xé xác sau khi chết.  Có lẽ chúng đã ăn no ở chỗ đầm lầy nên bỏ qua.  Tuy vậy, Trần Trận vừa bới vừa nghĩ, con ngựa này tuy không bị xé xác, nhưng cái chết của chúng thê thảm hơn, đáng sợ hơn cái chết của đồng loại ở đầm lầy, cặp mắt thất thần khi chết gây một ấn tượng hãi hùng.
Bao Thuận Quý giận giữ gầm lên.  Lũ sói này tàn bạo như giặc Nhật!  Làm sao chúng nghĩ ra cái cách cắn rách bụng để ngựa tự lôi ruột ra mà chết cơ chứ!  Độc ác quá đi mất!  Bọn này đúng là tinh thần võ vĩ đạo của bọn Nhật, dám tấn công tự sát.  Sói Mông Cổ thật đáng sợ.  Tôi mà không giết sạch chúng thì chớ kể.
Trần Trận không nhịn được, xen vào: Không nên coi tự sát là tinh thần võ sĩ đạo của bọn Nhật.  Đổng Tồn Thụy, Hoàng Kế Quang, Dương Văn Tư dám cùng chết với kẻ thù, nhưng đó không phải võ sĩ đạo.  Một con người, một dân tộc nếu không có tinh thần thà chết chứ không chịu khuất phục, không dám chết cùng kẻ thù thì chỉ có làm nô lệ, bị người khác thống trị. Tinh thần tự sát của sói vận dụng đúng chỗ thì là anh hùng, đáng ca ngợi, không đúng chỗ thì là võ sĩ đạo của chủ nghĩa phát xít.  Nhưng nếu không tinh thần quyết tử thì cầm chắc không thể thắng tinh thần võ sĩ đạo.
Bao Thuận Quý im lặng hồi lâu, hừm một tiếng: Cái đó thì đã hẳn.
Ulichi nét mặt đăm chiêu, nói với Thuận Quý: Kiểu tấn công tàn bạo này thì Batu và đàn ngựa làm sao chống lại?  Batu quần nhau với sói từ Bãi Bắc về đến đây quả không đơn giản.  Không chết người là may rồi.  Cứ để tổ điều tra về đây, tôi tin là họ sẽ có kết luận chính xác.
Bao Thuận Quý gật đầu, ông ta bắt đầu dịu giọng, hỏi Batu: Khi ấy cậu có sợ lũ sói ăn thịt con ngựa cậu đang cưỡi không?
Batu ngượng nghịu trả lời: Cháu căng thẳng đến mức chẳng còn nghĩ gì khác.  Tiếc quá, chỉ chút nữa là thoát đầm lầy!
Bao Thuận Quý lại hỏi: Thế sói không vồ cậu à?
Batu chìa cây gậy thép ra trước mặt Bao Thuận Quý: Cháu đập gãy răng cửa một con, đánh giập mũi một con khác bằng chiếc gậy này, nếu không, chắc là bị chúng xé xác.  Các cậu Saxuleng không được trang bị súng, gậy, nên không có phương tiện phòng thân.  Đừng kết tội họ đào ngũ.
Bao Thuận Quý cầm cây gậy nắn thử, khen: Gậy này thì hay rồi.  Cậu cũng tàn bạo đấy chứ!  Tốt, với sói thì càng tàn bạo càng tốt.  Cậu can đảm, có bản lĩnh, khi cấp trên về điều tra, nhớ kể tường tận chuyện đánh nhau với sói.
Nói xong, Bao Thuận Quý trả lại cây gậy cho Batu rồi ngoảnh lại nói với Ulichi: Tôi thấy sói Mông Cổ khủng khiếp quá, đầu óc hơn con người.  Tôi đã hiểu cách đánh của chúng.  Chúng có mục tiêu cụ thể, đó là bằng mọi giá dồn đàn ngựa xuống đầm lầy.  Anh xem này - Ông ta xoè bàn tay - Sói biết thời tiết, biết đánh gần, biết chọn thời cơ, biết địch biết ta, biết chiến lược chiến thuật, biết đánh đêm, biết đánh du kích, biết đánh cơ động, biết đánh lén, biết tập trung ưu thế binh lực đánh tiêu diệt, lại còn xây dựng kế hoạch tác chiến, từng bước tiêu diệt đàn ngựa. Binh pháp này có thể đưa vào sách giáo khoa quân sự!  Hai ta xuất thân bộ đội, tôi thấy trừ trận địa chiến, đánh lấn bằng giao thông hào là sói chưa biết, còn thì toàn bộ chiến lược chiến thuật của du kích, của Bát lộ quân, sói biết hết.  Không ngờ sói thảo nguyên tài tình đến thế, cứ tưởng chúng hữu dũng vô mưu, chỉ biết trộm gà bắt chó...
Ulichi nói: Kể từ khi tôi chuyển ngành về đây, chưa thấy mình đã xa chiến trường.  Quanh năm chiến đấu với sói, súng bất li thân, giờ đây tôi bắn còn chuẩn hơn lúc ở bộ đội.  Đúng như anh nói, sói rất giỏi binh pháp, chí ít biết vận dụng hữu hiệu những nguyên tắc quan trọng trong binh pháp.  Đối mặt với sói mấy chục năm, tôi đã học được nhiều điều.  Giờ mà cho tôi đi tiễu phỉ, bảo đảm là tôi làm tốt.
Trần Trận càng nghe chuyện càng mê, vội hỏi: Vậy binh pháp của người là học từ sói?
Ulich mắt sáng lên, nói với Trần Trận: Đúng, rất nhiều điều trong binh pháp con người học từ sói.  Trước kia dân thảo nguyên vận dụng binh pháp của sói đánh nhau với dân tộc nông nghiệp bên quan nội.  Người Hán không chỉ học dân du mục mặc áo ngắn, quần đi ngựa, cưỡi ngựa bắn cung mà dân sách vở gọi là "Hồ phục kị xạ", còn học binh pháp của sói từ dân du mục.  Năm học bổ túc chuyên ngành chăn nuôi ở Hồi Hột, tôi đọc khá nhiều binh thư, thấy binh pháp Tôn Tử không khá mấy binh pháp của sói.  Thí dụ: "Biết mình biết người, binh quý ở thần tốc, ra quân khi địch không ngờ, tiến đánh khi địch chưa kịp chuẩn bị"... sói thuộc lòng từng khoản.
Trần Trận nói: Vậy mà binh thư Trung Quốc không hề nhắc đến dân tộc và sói thảo nguyên, quả không công bằng chút nào!
Ulichi nói: Sự thua thiệt của người Mông Cổ là lạc hậu về văn hóa, ngoại trừ cuốn "Mông Cổ bí sử" là có giá trị, còn những sách khác chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể.
Bao Thuận Quý bảo Ulichi: Xem ra, ngành chăn nuôi trên thảo nguyên phải nghiên cứu kỹ về sói, phải nghiên cứu binh pháp, nếu không sẽ thiệt.  Muộn rồi, ta đi xem mấy con sói chết, tôi cần chụp mấy phô ảnh.
Hai ông đầu ngành đi rồi, Trần Trận đứng thần người.  Chuyến khảo sát thực địa này khiến cậu càng mê những kỳ tích của mục dân thảo nguyên và Thành Cát Tư Hãn.  Chỉ vẻn vẹn hơn một vạn quân kỵ mà Thành Cát Tư Hãn và các con cháu ông ta tung hoành từ Á sang Âu, tiêu diệt mấy chục vạn thiết kỵ Tây Hạ, một triệu quana của nhà Đại Kim, hơn một triệu thủy quân và kỵ binh Nam Tống.  Làm thế nào chiếm được Trung Á, Hungari, Ba Lan, toàn bộ nước Nga, Iran, Ấn Độ, lại còn bắt Hoàng Đế Đông La Mã thực hiện chính sách hòa thân của Trung Quốc, gả công chú Mali cho chắt của Thành Cát Tư Hãn, dựng nên một đế quốc lớn nhất trong lịch sử thế giới?  Một dân tộc bé nhỏ khi khởi nghiệp ngay cả chữ viết và mũi tên bằng sắt chưa có, vẫn phải dùng xương thú làm mũi tên, lấy đâu ra sức mạnh và tri thức quân sự lớn lao đến thế?  Đây là một câu đố chưa có lời giải.  Hơn nữa, kỳ tích của Thành Cát Tư Hãn và các con cháu không phải ở chỗ lấy thịt đè người, lấy mạnh thắng yếu, mà ngược lại, lấy ít thắng nhiều, thắng bằng mưu trí.  Phải chăng họ dựa vào trí tuệ của sói và tốc độ của ngựa?  Dựa vào tố chất và tính cách của sói?  Và tinh thần dân tộc được nuôi dưỡng bằng Tôtem sói?
Hai năm nay Trần Trận đối mặt với sói, kinh nghiệm và những câu chuyện thu thập cùng với những điều mắt thấy trong khi đi thực địa sói bắt dê vàng, tính kinh điển trong trận sói tận diệt đàn ngựa, khiến Trần Trận càng tin rằng những kỳ tích của Thành Cát Tư Hãn có khả năng từ sói.
Chiến tranh là hành vi vũ lực giữa quần thể này với quần thể khác.  Chiến tranh khác về bản chất với săn bắn.  Chiến tranh có tiến công, có phòng ngự, hai bên tham chiến đều vũ trang đến trận răng.  Còn săn bắn thì con người chủ động hoàn toàn, hầu hết con mồi ở vào thế bị động, bị săn đuổi.  Săn thỏ, rái cá trên cạn, dê vàng đều là săn bắn, nhưng là lấy thịt đè người, quyết không phải chiến tranh.  Tuy rằng săn bắn có thể học được một số kỹ năng quân sự, nhưng chỉ có chiến tranh thật sự mới cung cấp cho người ta kiến thức toàn diện về quân sự.
Trần Trận lật lại vấn đề: Trên thảo nguyên không có những đàn hổ, đàn báo, đàn gấu, đàn sư tử, đàn voi.  Chúng không thể tồn tại trên thảo nguyên Mông Cổ khắc nghiệt.  Cho dù chúng thích ứng với điều kiện tự nhiên, cũng không thể thích ứng với những cuộc chiến tranh sinh tồn tàn khốc trên thảo nguyên, không thể chống lại những cuộc vây ráp của sói và người trên thảo nguyên.  Chỉ người và sói là cặp đối thủ hạt giống trong cuộc quyết đấu trên thảo nguyên Mông Cổ.  Các sách giáo khoa quân sự trước kia cho rằng, kỹ năng quân sự trác việt của dân du mục có nguồn gốc từ săn bắn.  Ta không phủ nhận ý kiến này.  Nhưng kết luận chính xác phải là, tài năng trác việt của dân du mục bắt nguồn từ cuộc đấu tranh sinh tồn dai dẳng và tàn khốc giữa dân du mục và đàn sói.  Đó là một cuộc chiến cân sức, kéo dài hàng vạn năm.  Qua thực tiễn lâu dài đó, con người và sói đã rút ra những kinh nghiệm mà sau này các binh thư coi là những nguyên tắc và tín điều cơ bản, tỉ như biết mình biết người, binh quý ở thần tốc, binh không ngại trí trá, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, chuẩn bị sẵn sàng, tránh đụng tinh nhuệ, ra quân bất ngờ, đánh địch lúc chúng chưa kịp chuẩn bị, chắc thắng mới đánh, không chắc không đánh, đả thương mười ngón không bằng chặt đứt một ngón, địch đến ta rút, địch ở ta quấy, địch mệt ta đánh, địch chạy ta đuổi... Sói tuy phân bố khắp địa cầu, tuy thảo nguyên Mông Cổ không có tường cao hào sâu như những vùng văn minh nông nghiệp, nhưng đây vẫn là chiến trường chính trong những cuộc quyết đấu - đấu trí và đấu lực, giữa người và sói.
Theo dòng suy nghĩ đó, Trần Trận cảm thấy mình như đang đứng trước cửa đường hầm năm nghìn năm lịch sử văn minh Hoa Hạ.  Trên cao nguyên Mông Cổ, cuộc chiến giữa người và sói lúc ban ngày, lúc ban đêm, chạm trán như cơm bữa, đôi khi lại một trận lớn, xảy ra nhiều hơn tất cả những cuộc chiến tranh giữa sói và người, giữa người và người ở khu vực nông nghiệp cộng lại.  Thậm chí về tần suất còn cao hơn các cuộc chiến giữa các bộ tộc du mục phương Tây ngoài chiến trường chính là chiến trường giữa sói và người.  Thêm vào đó cuộc chiến dai dẳng, tàn khốc giữa các bộ tộc du mục, những cuộc chiến tranh dân tộc, chiến tranh xâm lược, khiến tài năng quân sự được rèn luyện không ngừng.
Do đó, dân tộc thảo nguyên Mông Cổ thiện chiến hơn, hiểu chiến trận hơn, kiến thức quân sự bẩm sinh ưu việt hơn tất cả các dân tộc nông nghiệp và du mục khác.  Từ nhà Chu, Xuân Thu Chiến Quốc, Tần Hán Đường Tống toàn là những nước văn minh nông nghiệp, có ưu thế tuyệt đối, đất rộng người đông, vậy mà luôn bị một dân tộc du mục bé nhỏ trên thảo nguyên Mông Cổ đánh cho thất điên bát đảo, nhục nhã ê chề.  Đến cuối đời Tống thì bị Thành Cát Tư Hãn của Mông Cổ làm chủ trung nguyên trong một thế kỷ.  Vương triều cuối cùng của Trung Quốc - triều Thanh, cũng do một bộ tộc du mục sáng lập.  Tộc Hán - nông canh không có huấn luyện viên tài giỏi về quân sự, không được thường xuyên rèn luyện trong cuộc chiến đấu với sói.  Người Hán cổ có binh pháp Tôn Tử, nhưng chỉ là đánh giặc trên giấy, vả lại, Tôn Tử Binh Pháp có nguồn gốc từ binh pháp của sói.
Trần Trận hình như đã tìm ra cái vực thẳm chôn vùi hàng triệu sinh linh dân tộc Hoa Hạ trong mối họa phương bắc.  Và hình như cũng tìm ra thủ phạm gây nên hao tài tốn của trong công cuộc xây dựng trường thành, vét sạch quốc khố Trung Quốc qua các triều đại.  Cậu cảm thấy như tỉnh ra, đồng thời lại thấy đầu óc mụ đi vì đau xót. Quan hệ nhân quả giữa muôn vật quyết định lịch sử và số phận con người.  Tài năng  quân sự giữ nước giữ nhà là cái vốn để lập thân, là cội nguồn của sự tồn vong của một dân tộc.
Mọi  người ồ lên rồi chạy ra một chỗ xa.  Trần Trận đang mơ màng chợt tỉnh, cũng lên ngựa đuổi theo.
Hai con sói đã được bới lên.  Đây là một phần cái giá phải trả của đàn sói cho việc dồn đàn ngựa xuống đầm lầy.  Trần Trận bước lại gần con sói.  Batu và Saxuleng vừa quét sạch tuyết trên mình nó vừa kể cho mọi người nghe lối đánh phanh bụng ngựa của đàn sói.  Con sói trước mặt tương đối nhỏ, đó là một con cái, nửa thân sau bị ngựa giẫm nát nhưng vẫn thấy những bầu vú vồng lên, sữa trộn với máu tươi ướt đẫm.
Ông già Pilich nói: Thương quá!  Con sói này chắc là bị người ta bắt mất con, nó gọi cả đàn đến trả thù, bản thân nó cũng không thiết sống.  Trên thảo nguyên, làm bất cứ việc gì không nên cạn tàu ráo máng.  Chó cùng rứt giậu, mẹ bị dồn vào ngõ cụt là cắn trả.
Trần Trận nói với các thanh niên trí thức: Sử chép rằng, sói mẹ trên thảo nguyên mang thiên chức của tình mẫu tử, chúng nuôi trẻ con.  Tổ tiên của dân tộc Hung Nô, Cao Xa là con của sói, được sói mẹ nuôi dưỡng.
Bao Thuận Quý nói xen vào: Nuôi với nấng!  Sói ăn thịt người mà lại nuôi trẻ con?  Chỉ nói bậy!  Người và sói không đội trời chung, phải giết chúng không còn một mống.   Chính tôi ra lệnh bắt sói con.  Trước kia ta bắt mỗi năm một đợt, tác hại quả có giảm nhưng vẫn chưa đủ, phải giết sạch.  Phải bắt bằng hết các ổ sói.  Sợ chúng báo thủ hả?  Chết sạch rồi còn sống đâu mà báo thù?  Tôi chưa rút lệnh, xử lý xong vụ này lại tiếp tục bắt.  Hai hộ phải nộp một bộ da, không có sói con thì cho phép nộp sói lớn.  Không nộp, trừ công điểm.
Bao Thuận Quý chụp ảnh những con sói chết, rồi hạ lệnh khiêng ra xe. 
Mọi người lại tới bên con sói thứ hai.  Trần Trận ở cao nguyên đã hơn hai năm, thấy rất nhiều sói, sống có, chết có, nhưng cậu không thấy con nào lớn như con này.  Đầu nó to gần bằng đầu con báo, vòng ngực thì lớn hơn, tuyết trên người đã phủi sạch, lớp lông màu vàng rợm, những sợi lông cứng như dây thép thò ra từ đám lông mềm mại.  Nửa thân dưới bị xéo nát, máu me vung vãi.
Batu thử đùn cái xác đã đông cứng, không chuyển.  Anh lau mồ hôi: Con này hơi chậm, ngoạm không chuẩn.  Ngoạm đúng chỗ thì khi ngựa rách bụng, sói rơi ra liền, ngoạn chệch, răng mắc xương, kẹt cứng.  Rủi cho nó!
Ông già Pilich nhìn con sói hồi lâu ngồi xuống vạch đám lông đẫm máu ở cổ: Hai lỗ thủng đầy máu.  Đám thanh niên trí thức ngạc nhiên.  Những lỗ thủng này trông rất quen, thường thấy ở cổ những con cừu bị sói cắn chết.  Tất cả bốn lỗ, mỗi bên hai lỗ.  Đó là vết răng sói cắn thủng động mạch cảnh.  Ông già nói: Con sói này bị ngựa đá trọng thương nhưng chưa chết.  Nó bị một con khác sau khi ăn no thịt ngựa, cắn chết.
Bọn sói này ác như thổ phỉ, giết cả thương binh.
Ông già Pilich nhìn Bao, nói: Thổ phỉ chết không được lên trời, còn sói thì lên.  Con sói này chết không chết được, sống không sống nổi, thà chết còn hơn.  Những con còn sống đành cắn chết nó, thân đỡ khổ mà hồn thì lên trời. Con sói đầu đàn không ác, mà chính là có thiện tâm.  Nó sợ đồng loại bị hạ nhục khi rơi vào tay con người.  Sói là loại thà chết chứ không chịu nhục.  Con đầu đàn không muốn người anh em của nó bị lâm nhục.  Anh Bao này, anh xuất thân nghề nông, nơi anh có mấy người thà chết không hàng giặc?  Tính cách này của sói thảo nguyên khiến cánh già chúng tôi mỗi khi nghĩ đến lại ứa nước mắt.
Ulichi thấy Bao Thuận Quý có vẻ không vui, vội nói: Anh có biết vì sao sói thảo nguyên chiến đấu hăng như vậy không?  Là vì sói luôn khử thương binh nặng, giảm nhẹ gánh năng cho đàn, bảo đảm đội ngũ nòng cốt chiến đấu hiệu quả.  Điều này khiến ta phải cẩn thận hơn khi chiến đấu với sói.
Bao Thuận Quý như hiểu ra, gật đầu: Quả vậy, trong chiến đấu, bộ đội thường mất khá nhiều nhân lực: Cáng thương, y tá, bảo vệ, hộ lý, bác sĩ, lại còn xe cộ, bệnh viện... Tôi có làm hậu cần mấy năm, tính ra có đến mười mấy người phục vụ cho một thương binh, quả là một gánh nặng, ảnh hưởng rất nhiều đến sức chiến đấu của bộ đội.  Vậy là tính cơ động của sói cao hơn bộ đội, nhưng mà thương binh đa phần chiến đấu hăng, sau khi lành thương, vẫn là nòng cốt của quân đội. Vì sao sói giết thương binh mà lại không ảnh hưởng đến sức chiến đấu của đàn sói?
Ulichi thở dài, nói: Sói dám giết thương binh là có lý do.  Sói mắn đẻ, mỗi lứa bảy tám mười, mười mấy con, tỉ lệ sống rất cao.  Có lần vào mùa thu, tôi trông thấy con sói mẹ dẫn một đàn mười một con đẻ trong năm, con lớn nhất chỉ ngắn hơn con mẹ nửa cái đầu, chạy nhanh không kém mẹ. Hai năm sau, con cái trong đàn đã sinh con.  Bò mẹ đẻ bò cái, ba năm thành năm con.  Sói mẹ đẻ sói cái, ba năm bao nhiêu con? Tôi cho rằng, ít nhất một trung đội.  Sói bổ sung quân số nhanh hơn người.  Sói chỉ hai năm là trưởng thành.  Mùa xuân đẻ, mùa xuân năm sau đã là con sói trưởng thành, biết đủ mọi thứ.  Chó một tuổi biết bắt thỏ, sói một  tuổi biết bắt cừu, trẻ con một tuổi còn mặc quần thủng đít.  Người không trưởng thành nhanh bằng sói.  Nguồn bổ sung binh lực của sói phong phú, cho nên sói dám giết thương binh.  Tôi cho rằng, sói giết sói bởi vì sói đông quá, ngay chúng cũng cảm thấy nhiều.  Sói giết sói là thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.  Cưỡng bức giảm quân số, chỉ để lại quân hùng tướng mạnh, sói thảo nguyên ngàn năm nay nhuệ khí không suy giảm vì lẽ đó.
Bao Thuận Quý mặt giãn ra: Chuyến đi này giúp tôi hiểu hơn về sói.  Chống thiên tai có sự hỗ trợ của dự báo thời tiết, còn chống sói thì ai hỗ trợ?  Dân nông nghiệp chúng tôi hiểu rất sai về sói thảo nguyên.  Đúng là con người không thể chống lại sự cố vừa rồi , trên có về điều tra cũng phải thấy như thế.
Ulichi nói: Phải là con người minh bạch thì mới làm rõ được sự việc.
Bao Thuận Quý nói: Bất kể trên có xuống hay không thì chúng ta vẫn phải tổ chức vài chiến dịch diệt sói.  Nếu không, mục trường của ta sẽ trở thành nhà ăn tập thể của đàn sói.  Tôi sẽ xin trên ít đạn nữa.
Nhóm thanh niên trí thức chụm lại một chỗ, bàn tán sôi nổi.  Hồng vệ binh Lý vốn là học sinh cấp II, cầm đầu đội "thi hành án" hồng vệ binh Bắc Kinh, tỏ ra bức xúc: Sói đúng là kẻ thù giai cấp.  Bọn phản động trên thế giới đều là sói dữ.  Sói độc ác quá, đã tàn sát đàn ngựa, tài sản của nhân dân, lại giết cả đồng loại.  Ta phải tổ chức diệt sói, phải chuyên chính vô sản với sói, kiên quyết và triệt để tiêu diệt sói.  Kiên quyết phê phán những quan điểm, phong tục, tập quán cổ hủ đồng tình thương cảm sói, thậm chí khi chết còn đem thân cho sói ăn thịt.
Trần Trận thấy Lý Hồng Vệ chĩa mũi nhọn vào ông già Pilich, liền cắt lời cậu ta: Cậu ăn nói quá đáng!  Chỉ vạch thành phần giai cấp đối với động vật đứng trên hai chân thôi.  Nếu xếp sói vào đội ngũ giai cấp thì cậu là sói hay người?  Cậu không sợ bỏ cùng một rọ lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản với sói?  Với lại, người giết người có phải là tàn sát đồng loại không?  Người giết người nhiều hơn sói giết sói.  Thế chiến I chết vài triệu, Thế chiến II chết vài chục triệu.  Sau người vượn Bắc Kinh, con người đã nhiễm tập tính giết đồng loại.  Bản chất người tàn nhẫn hơn sói.  Cậu cần phải học nhiều!
Lý Hồng Vệ nổi đóa, trỏ roi ngựa vào mũi Trần Trận: Cậu là theo đóm ăn tàn, đọc toàn những sách độc hại của tư bản, phong kiến, xét lại.  Cậu chịu ảnh hưởng rất sâu cái lão đẻ ra cậu, ở trường thì cậu ngậm miệng ăn tiền, về cái nơi bần cùng lạc hậu này cậu như cá gặp nước, chơi với toàn kẻ xấu.
Trần Trận nóng mặt, chỉ muốn nện cho hắn một cú ngã ngựa, nhưng chợt nhớ tính kiên nhẫn của sói, cậu chỉ trừng mắt nhìn hắn rồi vụt hai roi thật mạnh vào ủng dưới chân, bỏ đi.
Trời chạng vạng tối, những thanh niên trí thức đã quen với nếp sinh hoạt trà sáng cơm chiều, nên lúc này đói meo.  Các vị cán bộ mục trường cùng một số mục dân, thanh niên trí thức trở về cùng cỗ xe ngựa chở hai con sói.  Trần Trận ở lại cùng Batu, Saxuleng đi tìm hai chiếc thòng lọng, và cũng hy vọng phát hiện thêm một hai con sói.  Riêng Trần Trận rấth thèm nghe chuyện quần nhau với bầy sói của hai mã quan.
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:16:13Ct.Ly>
Đánh máy: Canary
 

Tôtem sói - Khương Nhung
 
Chương 7

"Sói xám là khẩu lệnh của quân ta!"
Ánh nắng ban mai dọi vào trường Uhu Khan, một sói đực lông xanh bờm xanh hiện ra trong nắng, dùng tiếng sói tâu lên Uhu Khan:... Thần xin dẫn đường cho Khan...
Uhu Khan nhổ trại, con sói đực lông xanh bờm xanh đi trước dãn đường, đại quân theo sau.
Sau đó, Uhu Khan gặp lại con sói lông xanh bờm xanh, sói dùng tiếng sói bảo Khan: "Lập tức lên ngựa cùng quân sĩ!" Uhu Khan lập tức lên ngựa.  Sói bảo: "Dẫn theo tất cả A Khun và dân chúng, thần xin đi trước dẫn đường."
Từ đó Khan luông cùng sói xanh xuất chinh...
"Sử thi Uhu Khan".
Hàn Nho Lâm trích dẫn từ "Cùng Lô tập"


Trên thảo nguyên Mông Cổ, cuộc vây ráp quy mô lớn được tổ chức vào đầu mùa đông, khi những con rái cá cạn đã ngủ đông, trong hang.  Rái cá lớn hơn thỏ, béo núc ních, món ăn khoái khẩu của sói, là nguồn thực phẩm quan trọng của sói trên thảo nguyên.  Khi rái cá ngủ trong hang, sói đói bắt đầu tấn công đàn gia súc, mục trường phải tập trung thợ săn đối phó.  Đầu mùa đông là lúc sói có bộ lông dài chống rét, da mềm, lông sáng màu, tuyết lông mịn, những bộ lông thượng hạng như vậy chỉ có ở mùa này và được trạm thu mua định giá cao nhất.  Săn bắn mùa đông là nghề phụ quan trọng của mục dân. Săn bắn là dịp để các mã quan rèn luyện và khoe tài cưỡi ngựa, tung thòng lọng và sự gan dạ; cũng là dịp thi thố tài chỉ huy, trinh sát, chọn địa điểm, định giờ giấc, tổ chức, điều phối, hiệu lệnh; cũng là một dịp để các tù trưởng, các Khan, Đại Khan, Đại Đinh huy động bộ tộc diễn tập quân sư trên thực địa, một truyền thống từ ngàn xưa để lại cho đến tận bây giờ.  Trận tuyết đầu mùa vừa dứt, công việc chuẩn bị cũng đã hoàn tất.  Lúc này, dấu chân sói trên tuyết rất rõ, đàn sói dễ bị lần ra tung tích.  Sói tuy chân dài, nhưngk hông thể chạy nhanh trên tuyết mới, dễ dàng bị ngựa đuổi kịp vì chân ngựa dài hơn.
Tuyết đầu mùa và thời điểm đầu đông rất bất lợi cho sói, mục dân trên thảo nguyên lợi dụng thời tiết này rửa hận cho người và gia súc một năm khổ vì sói.
Thế nhưng, con người nắm được quy luật của thảo nguyên thì sói cũng không lại gì quy luật của thảo nguyên.  Những năm gần đây sói ngày càng tinh quái, sói biết mỗi năm một lần săn, nên khi tuyết đầu mùa vừa ngưng rơi là chạy hết sang bên kia biên giới, hoặc chui vào thâm sơn cùng cốc bắt dê bắt thỏ cầm hơi, hoặc nằm co nhịn đói, gặm xương khô hoặc xác súc vật thối, đợi khi tuyết rắn lại, chạy trên tuyết đã quen và người thì đã nản, chúng mới kéo về phá phách.
Tại cuộc họp trên mục trường, Ulchi nói: Mấy năm nay, đầu vụ đông chỉ săn được vài con, mà toàn là những con sói  choai.  Từ nay ta cũng phải làm như sói, hạn chế đến mức thấp nhất cách đánh đúng bài bản, mà phải làm cho rối tinh rối mù, đánh rồi ngừng, ngừng rồi đánh, tuy không đúng binh pháp, nhưng sói không mò ra quy luật.  Thường thì không săn vào mùa xuân, nhưng nay ta làm một cuộc tập kích lớn vào mùa xuân xem sao?  Lúc này, bộ da không tốt bằng bộ da mùa đông nhưng vẫn còn được, một tháng nữa sói mới rụng lông, tuy không được giá, nhưng được thưởng đạn.
Hội nghị quyết định, quán triệt tinh thần chỉ thị của trên về việc diệt sói trên cao nguyên Ơlon, xóa bỏ ảnh hưởng rất xấu do sự cố đàn ngựa, huy động toàn thể mục dân triển khai phong trào diệt sói trên quy mô lớn.  Ban quản lý nói: Bây giờ là mùa bắt sói con, huy động nhân lực không dễ, nhưng phải kiên quyết tổ chức cuộc săn, nếu không, ăn nói làm sao với thiên hạ!
Ulichi nói: Kinh nghiệm cho thấy, sau một trận đánh lớn, sói chủ lực chắc chắn rút xa, chúng biết con người sẽ trả thù.  Lúc này chúng đang quanh quẩn vùng biên, hễ có động là vọt sang bên kia.  Vì vậy những ngày sắp tới không nên đánh, phải đợi cho thịt ngựa trong bụng sói tiêu hoá hết, chúng sẽ nhớ đến đàn ngựa đông lạnh.  Rái cá cạn và chuột đồng chưa ra khỏi hang, sói đói ăn, chắc chắn phải tìm về ăn thịt ngựa.
Ông già Pilich gật đầu tán thành: Tôi sẽ cùng một số anh em đi đặt bẫy quanh hồ tuyết để đánh lừa.  Sói chúa thấy ta đặt bẫy cho rằng ta chỉ nghĩ đến phòng thủ.  Trước kia ta thường thu hết bẫy về trước khi tấn công để chó nhà khỏi nguy hiểm.  Lần này ta để bẫy đấy không thu về, sói chúa tinh ranh đến mấy cũng bị lừa.  Nếu một vài con mắt bẫy, đàn sói sợ chỉ đứng xa mà nhìn, ăn không dám ăn, bỏ đi thì tiếc.  Khi ấy ta lập tức bủa vây, chắc chắn bắt được không ít, biết đâu vớ được con đầu đàn cũng nên.
Bao Thuận Quý gọi ông Pilich: Nghe nói sói ở đây rất khôn, đặt bẫy không mắc.  Sói già và sói đầu đàn còn cắn bỏ hoặc đánh dấu chỗ thịt tẩm độc để sói cái và sói con ăn chỗ không độc.  Có con lôi bẫy lên để trêu ngươi, có thật không?
Ông già Pilich trả lời: Cũng không đúng hẳn.  Bả sói của Hợp Cung tiêu rắt nặng mùi, chó nhà còn nhận ra huống hồ  sói?  Xưa nay bọn tôi không đánh bả, sợ chết chó nhà.  Tôi ưa đánh bẫy.  Tôi mà đặt bẫy là không thể ngửi thấy, trừ sói thần.
Bao Thuận Quý cảm thấy ban quản lý mục trường giống hệt một bộ tư lệnh, hội nghị sản xuất giống hệt hội nghị quân sự.  Xem ra năm xưa trên điều đại đội trưởng kỵ binh Ulichi về đây là đúng chỗ.  Với ông ta cũng vậy, làm đại diện quân đội cũng hợp.  Ông ta gõ bút vào cốc trà, tuyên bố: Quyết định như vậy nhé!
Ban quản lý ra lệnh: Nếu chưa được sự đồng ý của ban quản lý, cấm các đội và cá nhân tự ý đi săn ở mạn bắc mục trường, đặc biệt không được nổ súng làm kinh động đàn sói.  Mục trường sẽ tổ chức cuộc săn sói quy mô lớn, các đội chuẩn bị sẵn sàng, đợi thông báo.
Các đội bắt đầu chọn ngựa, vỗ béo chó, sửa thòng lọng, mài dao, lau súng, tất cả chuẩn bị theo trình tự như khi đi bắt sói  con vào tiết thanh minh, xén lông cừu vào mùa hạ, cắt cỏ vào mùa thu, giết thịt cừu vào đầu đông, bận rộn nhưng không lúng túng.

                          0o0

Sáng sớm, mây đen đầy trời sà thấp cắt ngang các đỉnh núi.  Thảo nguyên Ơlon phẳng lì như bị nén.  Tuyết lất phất, gió hiu hiu, ống khói trên nóc lều thở khò khè nặng nhọc như người lên cơn hen.  Khói sà xuống mặt tuyết đầy phân cừu, phân bò và cỏ vụn.  Đợt rét muộn hình như còn dài, chưa có dấu hiệu chấm dứt.  May mà gia súc vẫn còn mỡ dự trữ, dày khoảng đốt ngón tay, đủ cầm cự đến khi trời ấm lên, tuyết tan, cỏ bắt đầu mọc.  Phía dưới tuyết vẫn còn cỏ, cừu có thể bới tuyết mà gặm.
Đàn cừu nằm ườn trong chuồng nhai lại thức ăn, không muốn ra.  Ba con chó sủa suốt đêm, giờ vừa rét vừa đói, nằm run rẩy trước cửa lều.  Trần Trận vừa đẩy cửa, con Vàng đã vùng dậy chồm hai chân trước lên vai cậu mà liếm mặt, đuôi vẫy rối rít đòi ăn.  Trần Trận bê từ trong lều ra một lô xương chưa lọc hết thịt cho lũ chó.  Chúng tranh nhau mỗi con tha một khúc ra một chỗ nằm xuống, hai chân trước ôm khúc xương mà gặm sồn sột, rồi chén tuốt cả xương lẫn tủy.
Trần Trận lại vào trong lều lấy ra mấy miếng thịt mỡ cho con chó cái Ilo.  Ilo lông đen mượt, đầu dài, thân dài, chân dài, eo thon, lông mỏng.  Hai con này thuộc giống chơ Hưng An, chạy nhanh, ngoặt gấp nhanh, biết giữ và xẻ con mồi, trông thấy sói là lao lên như động đực.  Cả hai là cao thủ bắt cáo, nhất là con Vàng học được tuyệt kỹ săn mồi từ bố mẹ.  Nó không bao giờ bị con cáo mê hoặc, đớp rất trung đuôi rồi ghìm chặt để con cáo cố trườn lên rồi bất thình lình nhả ra, khiến con cáo chổng bốn vó, con Vàng xông tới cắn một phát đứt họng.  Cắn vào họng thì bộ da lành lặn, bán được giá.  Những con chó lười nhác thì bị vướng đuôi cáo gãy chân, hoặc cắn con cái nát bét, thường ăn đòn của chủ.  Con Vàng và con Ilo không sợ sói.  Chúng nhanh nhẹn tránh né cầm chân sói, tạo điều kiện thuận tiện cho người đi săn và chó hạ thủ.
Con Vàng là của ông già Pilich và Caxumai cho Trần Trận.  Ilo là của chủ nhà Dương Khắc cho.  Dân thảo nguyên Ơlon luôn tặng học sinh Bắc Kinh những thứ tốt nhất.  Vì thế, con Vàng và con Ilo lớn lên đẹp hơn những con khác.  Về sau Batu thường rủ Trần Trận và Dương Khắc đi săn cáo, lý do chính là vì Batu rất thích hai con chó.  Mùa đông vừa rồi, con Vàng và con Ilo bắt được năm con cáo lớn.  Hai chiếc mũ lông cáo Trần Trận và Dương Khắc đội trên đầu là tặng phẩm của hai con chó cưng.  Sau tết, con Ilo đẻ một lứa sáu con; ba con đã bị ông Pilich, anh Lanmutrac và một thanh niên trí thức bế đi; còn lại ba con thì một cái hai đực, hai vàng một mực, béo mũm mĩm trông chẳng khác lợn bột, rất đáng yêu.
Dương Khắc chăm sóc con chó hơi quá đáng.  Cậu ngày nào cũng nấu cho Ilo một nồi cháo đặc gồm thịt vụn và kê.  Đã dùng hết quá nửa kê tiêu chuẩn của trạm lương thực cấp cho thanh niên trí thức.  Khi đó thanh niên trí thức vẫn hưởng tiêu chuẩn lương thực của Bắc Kinh: 30 cân (15 kilogam) một tháng, nhưng chủng loại thì không như ở Bắc Kinh, 3 cân gạo rang, 10 cân bột mì, còn lại 17 cân là kê.  Kê dùng để nuôi chó, đám thanh niên trí thức ăn thịt như dân du mục.  Tiêu chuẩn lương thực của dân du mục chỉ 19 cân một tháng.  Cháo kê nuôi chó rất tốt, cách nấu do Caxumai dạy cho. Ilo nhiều sữa, đàn chó con của bọn Trần Trận bụ bẫm hơn chó của mục dân.
Một con chó mực giống Mông Cổ to lớn khác thường chừng năm sáu tuổi, đầu vuông miệng rộng, ngực nở chân dài, trường thân, tiếng sủa như hổ gầm.  Nó thương tích đầy mình, đầu và lưng nhiều chỗ trụi lông, da đen nhẻm.  Nó vốn có hai con mắt giả ở phía trên mắt thật, nhưng nay chỉ còn một, cùng với hai con mắt thật hợp thành ba mắt như Nhị Lang Thần, mặc dù con mắt giả không cân đối trên mặt.
Con Mực hung thần ác quỉ này, Trần Trận nhặt được khi đi mua hàng trên cung tiêu.  Hôm ấy trên đường về, Trần Trận luôn cảm thấy có luồng khí lạnh phía sau, con bò cũng có vẻ sợ sệt.  Cậu ngoảnh lại trông thấy một con chó to như sói, lưỡi thè ra rất dài lẳng lặng theo sau.  Cậu suýt ngã xuống xe vì sợ.  Cậu giơ roi dọa đánh, nó không đi, cứ theo về nhà.  Đám mã quan biết con chó.  Nó có tật cắn chết cừu, bị chủ đuổi ra khỏi nhà, lang thang đã hai năm, tuyết xuống thì nằm dưới chân tường, ban ngày tự đi kiếm ăn: bắt thỏ đồng, rái cá cạn, ăn thịt súc vật chết, nhặt lương thực rơi vãi, và đôi khi tranh ăn với sói độc.  Nó cũng đã từng tự đến ở một vài nhà, nhưng vì cái tật cắn chết cừu, lại bị đuổi ra khỏi cửa.  Nếu người ta không thương vì nó từng hạ thủ mấy con sói thì họ đã đánh chết nó rồi.  Theo quy định, chó nhà cắn chết cừu là phải giết đi, để phòng nó liên kết với sói nổi loạn, và cũng là để răn đe những con chó vẫn còn thú tính.  Mọi người khuyên nên đuổi con Mực đi, nhưng Trần Trận thấy nó rất đáng thương.  Cậu cũng rất tò mò về nó.  Nó đã từng sống chung với sói, từng tồn tại qua những mùa đông khắc nghiệt, rõ ràng là nó rất có bản lĩnh.  Với lại, từ sau khi dọn nhà xa con Balua oai phong lẫm liệt, Trần Trận cảm thấy thiếu người đỡ đần bên cạnh.  Cậu nói với các mục dân, chỗ các cậu chỉ có chó săn tuổi còn non, thiếu một con chó dữ để trông nhà, nên tạm thời giữ con Mực lại.  Nếu nó cắn chết cừu, cậu sẽ bồi thường.
Vài tháng trôi qua, "Nhị Lang Thần" không cắn chết con cừu nào, nhưng Trần Trận vẫn nhận ra nó cố gắng kiềm chế, chủ động lánh xa đàn cừu.  Cậu nghe ông già Pilich nói, vài năm trở lại đây có một số lưu manh đến làm thuê ở Ơlon, đã giết thịt hầu hết những con chó hoang.  Họ dụ chúng vào trong lều, đóng cửa lại rồi giết thịt.  Hình như con Mực đã có lần bị bắt nhưng chạy thoát.  Nó không dám lang thang, không dám trở thành chó hoang.  Chó hoang không sợ sói, nhưng sợ người giết.  Con Mực rất dữ, gác đêm sủa tới sáng, tấn công sói quyết liệt, lúc nào cũng có máu sói dính trên mép.  Một mùa đông đã qua, đàn cừu của Trần Trận và Dương Khắc không con nào bị sói vồ hoặc bị cắn chết.  Nhiệm vụ chính của chó thảo nguyên là gác đêm, giữ nhà và đi săn.  Ban ngày chó không đi theo đàn cừu và cũng không ở cùng đám cừu non vì cách bức tường xây.  Có lẽ vì thế mà con Mực dần cải tà quy chính.
Mấy cậu thanh niên trí thức ở cùng Trần Trận cũng đối xử rất tốt với con Mực, thường cho nó ăn.  Nhưng con mực chưa khia nào tỏ ra gần gũi với người, chưa bao giờ biểu thị tình cảm đối với những người đã bao dung nó.  Nó không chơi đùa với con Vàng và con Ilo, ngay cả khi gặp chủ, phải tinh mắt mới thấy nó vẫy đuôi.  Buổi sáng rảnh rỗi, nó thường đi dạo một mình trên đồng cỏ hoặc nằm một nơi rất xa căn lều ngắm trời ngắm đất, trầm tư mặc tưởng, cặp mắt lim dim, biểu lộ một tình cảm lưu luyến đặc biệt với thảo nguyên.
Một lúc nào đó, Trần Trận chợt thấy con Mực không giống chó mà có phần giống sói.  Tổ tiên của chó là sói.  Khuyển Nhung là bộ tộc có mặt sớm nhất trên thảo nguyên tây bắc Trung Quốc, tự nhận tổ tiên của họ là hai con chó trắng.  Tôtem của Khuyển Nhung là chó.  Trần Trận thường tự hỏi: Vì sao một bộ tộc mạnh trên thảo nguyên lại thờ một con vật đã bị nhân loại thuần hóa làm vật tổ?  Có lẽ cách đây vài ngàn năm, sói thảo nguyên cực kỳ dũng mãnh, đầy thú tính, hoặc giả là chó nhưng chưa mất hết thú tính.  Hai con chó trắng mà tộc Khuyển Nhung sùng bái có thể là sói trắng.  Trần Trận nghĩ, phải chăng con Mực hung dữ mà cậu đem về là một con chó nhưng mang đầy đủ tính sói?  Hay là một con sói nhưng một trăm phần trăm tính chó?  Hay là nó có những dấu hiệu trở lại sói?
Trần Trận thường ngồi xuống bên cạnh vuốt  ve, gãi ngứa cho con Mực, nhưng nó ít khi hưởng ứng, ánh mắt không rõ u tối hay thâm trầm, đuôi phe phẩy rất nhẹ, chỉ cậu mới cảm thấy.  Trần Trận không hiểu nó cần gì để giúp nó trở lại tập tính thông thường của loài chó như con Vàng chẳng hạn, có công ăn việc làm, có người thương, sống bằng sức lực của mình, một cuộc sống vô lo.  Nhưng đôi khi Trần Trận cũng nghĩ lan man: Chẳng lẽ nó không muốn cuộc sống bình thường của chó, trở về với thế giới của loài sói?  Thế thì vì sao hễ trông thấy sói là nó nổi hung, coi như kẻ thù không đội trời chung? Đó là nhìn vẻ bên ngoài.  Nó là một con chó một trăm phần trăm, lông đen tuyền đã đủ vạch rang giới giữa nó với loài sói.  Nhưng sói Ấn Độ, Liên Xô, Mỹ, cổ La Mã và sói Mông Cổ ngày xưa từng nuôi dưỡng trẻ con.  Chẳng lẽ nó không thích nuôi chó con?  Nhưng nếu nó gia nhập đàn sói thì là tai họa cho những đàn ngựa, đàn bò, đàn cừu.  Có thể nỗi đau của nó là cả chó và sói đều không nhận nó, hoặc giả nó không muốn ngả về bên nào.  Trần Trận nhiều lúc nghĩ, nó quyết không phải chó - sói, chó - sói tuy dữ nhưng tính chó trăm phần trăm.  Có thể nó là loài sói - chó rất ít gặp, hoặc tính nết mỗi thứ một nửa, hoặc tính sói trội hơn tính chó.  Trần Trận  chưa hiểu sâu con Mực.  Cậu thấy nên đối xử tốt với nó, dần dà sẽ hiểu nó.  Cậu rất muốn trở thành người bạn của nó.  Cậu định bụng sẽ không gọi nó là "Nhị Lang Thần" mà gọi "Nhị Lang", gọi đúng tên, không thần thánh gì hết.
Trần Tận cho lũ chó ăn để đợi Dương Khắc và Cao Kiên Trung ngủ dậy.  Cậu cũng vuốt ve con Nhị Lang luôn luôn tỏ ra vô cảm.

                     0O0

Bốn học sinh cùng lớp ở cùng lều đã hơn một năm.  Bốn người: Một mã quan (chăn ngựa), một ngưu quan (chăn bò), hai dương quan (chăn cừu).
Mã quan Trương Kế Nguyên năng nổ, cẩn thận, cùng Batu và Lanmatrac chăn đàn ngựa chừng năm trăm con.  Ngựa ăn nhiều tốn cỏ, nên phải đi xa để không tranh ăn với bò, cừu.  Vào những nơi thâm sơn cùng cốc xa xôi cách trở, sói đàn lảng vảng, chen chúc trong lều dã chiến chỉ vừa đủ cho hai người nằm, đun nấu trên cái lò bằng sắt tây, nhiên liệu là phân ngựa khô, cuộc sống còn hoang dã hơn sống trong lều Mông Cổ.  Công việc của mã quan nguy hiểm và gian khổ, trách nhiệm thì nặng nề, nhưng mã quan có địa vị cao nhất trong cộng đồng.  Đây là cái nghề đáng tự hào nhất của bộ tộc sống trên lưng ngựa.
Tung thòng lọng bắt ngựa là một nghệ thuật, đẹp và hấp dẫn.  Cũng có thể dùng thòng lọng bắt sói.  Mã quan gần như ngày nào cũng dùng đến thòng lọng để đổi ngựa cưỡi, sửa bờm ngựa, cho ngựa uống thuốc hoặc tiêm chích, kiểm tra ngựa, luyện ngựa... Mã quan nào cũng rèn luyện kỹ thuật bắt ngựa bằng thòng lọng.  Sử dụng cây sào dài, trên mình con ngựa phi như bay, nhắm chuẩn, rướn người tung cuộn dây thòng lọng trúng cổ ngựa.  Mã quan giỏi hễ tung là trúng, rất ít khi hụt.  Với kỹ năng này mà bắt sói, chỉ cần ngựa chạy nhanh, cự li gần, có chó săn giúp sức, là có thể tròng trúng cổ sói rồi phóng ngựa trở về, sói sẽ bị xiết cổ chết, hoặc cho chó cắn chết.  Ban ngày, sói rất sợ mã quan, hễ thấy mã quan cầm thòng lọng là chạy trối chết hoặc nấp trong cỏ rậm.  Trần Trận nghĩ sói sợ ban ngày mà không sợ đêm, có lẽ liên quan tới chiếc thòng lọng.  Chiếc thòng lọng bắt ngựa của mục dân Mông Cổ đã có lịch sử mấy ngàn năm, thời gian ấy đủ để thay đổi tập tính của sói.
Cây thòng lọng trên thảo nguyên Ơlon là cây thòng lọng đẹp nhất, đắc dụng nhất và hoàn mỹ nhất mà Trần Trận từng thấy.  Nó dài hơn, tinh vi hơn, thực dụng hơn những cây thòng lọng mà cậu đã thấy trên sách báo phim ảnh của mục dân nơi khác.  Mã quan Ơlon thường tự hào mà khoe caya thòng lọng của họ là loại cao cấp nhất, lợi hại nhất và đẹp nhất so với toàn Mông Cổ.  Thảo nguyên Ơlon nằm ở phía bắc lưu vực sông Mã Câu nổi tiếng của Mông Cổ, nơi sản sinh chủ yếu giống ngựa Uchumuxin nổi tiếng (xưa gọi là ngựa Đột Quyết).  Ngựa là bạn, là chiến hữu thân thiết của người Mông Cổ.  Cây thòng lọng bắt ngựa cũng không thể tùy tiện, xấu tốt cũng năm sáu mét đến bảy mét.  Nó thường được ghép bởi hai mảnh bằng gỗ bạch hoa.  Trần Trận có lần trông thấy cây thòng lọng dài tới chín mét.  Sào càng dài càng dễ tròng trúng cổ sói.  Thẳng thì như cây trúc không đốt.  Muốn thẳng, mã quan bào phẳng các mắt gỗ, chỗ nào cong thì dùng phân ngựa tươi để hun cho mềm ra, sau đó nắn thẳng bằng cách ép khít vào một vật phẳng.  Đầu cây sào còn cột omoojt đoạn roi nhỏ dài chừng nửa mét, thô bằng ngón tay, đầu roi nhỏ tết một cái khuyết bằng lông bờm ngựa, dây thòng lọng luồn qua khuyết đó sẽ không bị trơn.  Dây thòng lọng bắt ngựa là loại dây bền nhất, chịu lực tốt nhất, không làm bằng những sợi da bò, mà bằng ruột cừu bện như thừng.  Đây là một công nghệ phức tạp, mã quan không tự làm được mà phải mua trên Cung tiêu.  Công đoạn cuối cùng là trộn phân cừu tươi với lông cừu, miết trên cây sào từ màu trắng chuyển sang màu phân cừu, đợi phân khô, lấy khăn lau sạch.  Lúc này cây sào có màu đồng điếu, giống như một loại vũ khí bằng kim thuộc thời xưa.
Khi mã quan ngồi trên ngựa nách kẹp cây sào, ngọn sào chúc xuống tự nhiên theo sức nặng, thòng lọng đung đưa theo nhịp chân ngựa, linh hoạt như con rắn dài.  Lũ sói đều đã từng trông thấy cảnh tượng hãi hùng khi thòng lọng xiết cổ.  Có lẽ trong con mắt sói, chiếc thòng lọng đáng sợ như long thần.  Ban ngày trên thảo nguyên, bất kể lớn bé già trẻ, dù chỉ đi một mình trên đồng cỏ vắng vẻ hoặc trong thung lũng heo hút, chỉ cần trong  tay có cây thòng lọng là bình yên vô sự. cây thòng lọng coi như một đạo bùa.
Trương Kế Nguyên làm mã quan đã được một năm.  Cậu tay nghề kém, thường tung thòng lọng không trúng.  Cậu không thể tự thay ngựa, mà phải nhờ Batu giúp.  Có khi cậu thòng trúng, nhưng trong khoảng khắc khi chiếc thòng chưa tròng vào cổ con ngựa, cậu không kịp ngồi lùi lại phía mông, để dùng yên làm vật cản giữ người lại, cây sào liền bị con ngựa giật khỏi tay, chỉ lát sau cái vật mà cậu mất mấy ngày mới làm ra đó, bị ngựa xéo gãy làm ba khúc.  Cậu thường đến chỗ đàn cừu để luyện khiến đàn cừu chạy tán loạn, có con suýt trụy thai, ông già Pilich phải có ý kiến mới thôi.  Về sau ông già bày cho cậu tập tung thòng lọng vào chiếc cọc phía sau xe bò, cậu tiến bộ trông thấy, đã có thể đổi ngựa cho cả ba người, một vấn đề không dễ dàng thực hiện.  Trương Kế Nguyên rất ít khi về nhà, một tháng về tổng cộng một tuần là nhiều.  Về đén nhà là lăn ra ngủ, thức dậy lại kể cho cánh Trần Trận nghe những chuyện về người, ngựa và sói.
Mã quan có nhiều ngựa tốt, được đi nhiều biết nhiều.  Mục trường cấp cho mã quan bảy tám con ngựa chuyên dụng, còn được sử dụng những con ngựa mới nhập đàn, ngựa vô chủ.  Mã quan gần như thay ngựa mỗi ngày, có khi ngày hai lần.  Mã quan không nương nhẹ con ngựa, hễ lên yên là phóng như điên bất kể đường ngắn đường dài.  Mã quan đến các lều đổi ngựa theo yêu cầu, đưa thư hoặc chở giúp đồ đạc, mời thầy thuốc, báo tin.  Mã quan nhận được nhiều nhất những nụ cười duyên của các cô gái, khiến các cậu dương quan (chăn dê) rất hâm mộ, vì các cậu này chỉ được cấp bốn năm con ngựa, còn thông tin thì mù tịt.  Nhưng chăn ngựa là công việc nặng nhọc và nguy hiểm trên thảo nguyên.  Nếu không có những tố chất của loài sói: kiên trì, dũng cảm, khoẻ mạnh, mưu trí, nhạy cảm, cảnh giác, chịu đói chịu khát, dãi dầu mưa nắng... thì mục trường không tuyển.  Cứ bốn người mà chọn được một mã quan thì đã là may rồi.  Những chuyện về sói Trần Trận thu thập được phần lớn do Trương Kế Nguyên kể.  Mỗi khi về nhà, Trương Kế Nguyên thường được Trần Trận chăm sóc chu đáo từ cái ăn cái uống.  Hai người rất hợp gu trong những chuyện về sói.  Mã quan là những người đứng trên tuyến đầu chiến đấu sinh tử với sói, nhưng thái độ đối với sói thì rất mâu thuẫn.  Trần Trận, Dương Khắc, Trương Kế Nguyên thường trò chuyện tới khuya, đôi khi tranh luận không dứt.  Trương Kế Nguyên bao giờ cũng trở về với đàn ngựa hơi muộn.  Cậu mượn của Trần Trận vài quyển sách đọc cho đỡ buồn.
Cao Kiện Trung chăn hơn một trăm bốn mươi con bò. Chăn bò là công việc thoải mái nhất trên thảo nguyên.  Người Mông Cổ có câu: ngưu quan sướng hơn huyện quan.  Đàn bò đi sớm về muộn, thuộc đường ra bãi, nhớ đường về nhà.  Bê con buộc thành hàng vào sợi thừng tết bằng lông bờm ngựa trước lều, bò mẹ về cho con bú rất đúng giờ.  Chỉ lũ bê choai là đáng phàn nàn đôi chút.  Đâu có cỏ non là chúng chạy đến và sau đó không thích trở về.  Vất vả nhất là đi tìm bò lạc và đuổi bò về.  Một con bò khi đã nổi khùng thì gân cổ lên, mắt trợn trừng, ỳ ra không chịu bước, những muốn đập cho một trận.  Ngưu quan có nhiều giờ rỗi, cần giúp việc gì có thể nhờ họ.  Mông Cổ mà không có bò thì rất vất vả.  Kéo xe, dời nhà, cho sữa, các món ăn bằng sữa bò, thịt, da, phân, tất cả trông vào con bò.  Dân tộc trên lưng ngựa, tất yếu gia đình trên lưng bò.  Ngưu quan, mã quan, dương quan ba loại công việc gắn với nhau như một chuỗi xích, không thiếu được khâu nào.
Trần Trận và Dương Khắc cùng chăn đàn cừu hơn một ngàn bảy trăm con, hầu hết là giống cừu đuôi to nổi tiếng của vùng Ơlon, khu đuôi to như cái đĩa cỡ trung bình, mỡ màu trắng đục, ròn mà không ngấy, thịt thơm mà không có mùi hôi.  Ông Ulichi nói: Cỏ ở Ơlon tốt nhất so với cỏ các nơi trong khu vực, mà cừu Ơlon cũng là giống cừu tốt nhất, xưa kia là cừu tiến vua, là món thịt cừu mà Hốt Tất Liệt sau khi tiến vào Bắc Kinh đích thân tuyển chọn.  Ngày nay khi lãnh đạo nhà nước tiếp nguyên thủ các nước A Rập theo đạo Islam đều chọn cừu Ơlon.  Nghe nói nguyên thủ các quốc gia đó thường bỏ bê việc nước để đến thăm xứ sở của loại cừu này.  Trần Trận nghĩ, sói Ơlon cao lớn lạ thường, đầu óc tính toán nhanh hơn người, có thể là do ăn thịt cừu Ơlon.  Trong đàn cừu có những con lai giống Tân Cương với giống bản địa, lông mịn, cho len tốt, sản lượng cao gấp ba bốn lần cừu nội, nhưng thịt nhão, không thơm, dân du mục không thích ăn.  Rồi đến sơn dương, số lượng rất ít, chiếm khoảng 1/30 đàn cừu.  Tuy sơn dương ăn cỏ cả rễ phá hoại đồng cỏ, nhưng bộ lông rất được giá, hơn nữa, những con sơn dương thiến sừng nhọn rất dũng cảm, dám quần nhau với sói.  Đàn cừu nào mà có sơn dương là có thể chống lại sói độc.  Do vậy, đàn cừu Mông Cổ thường là do vài chục con sơn dương làm nhiệm vụ đầu đàn.  Sơn dương nhớ bãi chăn, nhớ đường về, lại dám tự quyết, gặp cỏ ngon là cho đàn dừng lại ăn, cỏ không ngon thì dẫn đàn đi nơi khác.  Sơn dương còn một ưu điểm nữa so với cừu.  Đó là khi bị sói công kích, chúng be rầm lên và chạy lung tung, mục đích là báo động cho cả đàn.  Còn cừu thì bị cắn thủng bụng mà vẫn im như thóc không dám be một tiếng, mặc cho sói xé xác.  Trần Trận nhận thấy dân du mục Mông Cổ rất giỏi lợi dụng sở trường các các loài vật trên đồng cỏ, nhằm mục tiêu hại ít lợi nhiều.
Hai cậu dương quan, một chăn ban ngày, một gác đêm.  Ngày công, ban ngày mười điểm, ban đêm tám điểm, hai người luân phiên hoặc đổi phiên cho nhau, người này đi vắng thì người kia làm thay.  Nếu chó tốt thì gác đêm vụ xuân có thể ngủ đẫy giấc.  Nhưng ba vụ sau là du mục, không có chuồng xây để chăm sóc cừu con như vụ xuân, chỉ dùng xe bò, hàng rào tạm và thảm quây thành hình bán nguyệt, hoàn toàn không ngăn nổi sói, nếu nạn sói nghiêm trọng thì đúng là khổ sai, suốt đêm đừng hòng chợp mắt, cầm đèn pin lượn quanh chuồng, quát tháo khản cổ lũ chó.  Ông Ulichi nói: Trực đêm chủ yếu là phòng sói, hàng năm công điểm trực đêm bằng 1/3 tổng số công điểm của mục trường.  Đó chính là khoản chi rất lớn về sói.  Trực đêm là công việc chính của phụ nữ Mông Cổ.  Phụ nữ ban đêm trực, ban ngày làm việc nhà, rất ít khi ngủ đẫy giấc.  Người ban ngày làm lụng, sói ban đêm quậy phá; người khốn đốn, sói hung hăng.  Sói thảo nguyên quậy phá đến nỗi con người ăn không ngon ngủ không yên.  Sói đánh gục từng gia đình, từng thế hệ phụ nữ.  Do vậy, các nữ chủ nhân thường ốm đau, chết yểu.  Nhưng cũng có nhiều người có sức khoẻ, trụ vững.  Sói thảo nguyên sinh sản quá nhanh, còn người thì không thể tăng trưởng nhanh trên quy mô lớn.  Do đó xưa nay chưa hề xảy ra nạn nhân mãn mà chỉ có chuyện khai khẩn đất hoang để có cai ăn.  Chính là sói đã khống chế sự phát triển dân số trên thảo nguyên.
Đàn cừu là nền tẳng của nghề chăn nuôi trên thảo nguyên.  Nuôi cừu để có thịt ăn, có áo mặc, có phân khô để đun nấu, thu nhập hai công điểm một con, bảo đảm cuộc sống nguyên thủy của người thảo nguyên.  Vậy mà cuộc sống của người chăn cừu tẻ nhạt, mòn mỏi và tù túng, từ sáng tới đêm một mình với đàn cừu trên đồng cỏ ngút mắt hoặc tuyết trắng.  Từ trên cao nhìn ra, vài chục dăm vuông không một bóng người.  Không có người để chuyện trò, có sách không dám đọc chăm chú, vì phải coi chừng sói tập kích.  Ngày nào cũng cảm thấy mình như Tô Vũ chăn dê, cô đơn thui thủi, con người khác gì cỏ dại.  Cảm giác này đuổi không đi, vì nó đã thấm sâu vào xương tủy.  Trần Trận thường cảm thấy mình đã già, rất già, già hơn cả Tô Vũ.  Ngàn năm nay thảo nguyên không hề thay đổi, con người vẫn sống cuộc sống du mục nguyên sơ, vẫn đang tranh giành miếng ăn với sói, quyết liệt và bất phân thắng bại.  Trần Trận cảm thấy mình như người vượn Bắc Kinh, kẻ thù là sói.  Nếu như một ngày nào đó Tô Vũ tay cầm gậy trúc, hoặc người vượn quấn tấm da thú xuất hiện trước mặt, thì cậu cũng không lấy làm lạ.  Có thể trong câu chuyện giữa họ với nhau, đầu đề vẫn là sói.  Thời gian trên thảo nguyên Ơlon đọng lại như hóa thạch.  Cái gì đã giữ nguyên bộ mặt của thảo nguyên từ thời viễn cổ, không mảy may thay đổi?  Phải chăng là sói?

                      0O0

Với Trần Trận, chăn cừu là công việc rất có lợi.  Cậu có thì giờ một mình nghiền ngẫm, cho đôi cánh của tư tưởng tự do bay lượn.  Hai hòm sách to tướng đem từ Bắc Kinh về, lại thêm một hòm sách lịch sử và sách cấm có chọn lọc của Dương Khắc, cậu có thể tiêu hóa tất cả số sách bằng cách nhai lại của con cừu.  Ban đêm, cậu ngốn sách kinh điển như cừu ngốn cỏ; ban ngày cậu ngốn tinh hoa văn hóa Trung Quốc và nước ngoài.  Cậu nghiền ngẫm, suy từ, coi sách voẻ khô khan như cỏ non đầy nhựa.  Ban ngày chăn cừu, cậu thường dành nhiều thời gian cho suy nghĩ, cậu chỉ đọc lướt, chỉ khi chắc chắn không có sói, cậu mới đọc thật sự.  Chẳng lẽ như lời ông già Pilich: Phải hiểu thảo nguyên, hiểu người Mông Cổ thì mới hiểu được sói!  chẳng lẽ thảo nguyên ngàn vạn năm vẫn giữ nguyên bộ mặt, dân tộc thảo nguyên không thể phát triển thành dân tộc lớn, liên quan tới sói?  Cậu cho là có thể như thế.  Chỉ ít sự tấn công của sói đã gây ra những tổn thất có thể tính đếm cũng như không thể tính đếm cho mục trường, khiến sự nghiệp chăn nuôi và sự nghiệp con người không thể tích luỹ nguyên thủy, khiến người và gia súc dừng lại ở trình độ tái sản xuất giản đơn, duy trì nguyên trạng trình độ nguyên thủy, không thể dôi ra nhân lực và tài lực để phát triển mậu dịch, thương nghiệp, nông nghiệp, càng không thể phát triển công nghiệp.  Những vấn đề mà sói can dự rất rộng và rất sâu.  Vậy mà hiểu được sói thì khó quá.  Người ở chỗ sáng, sói trong bóng tối.  Tiếng tru của sói có thể nghe thấy từ xa mà không thể lại gần.  Trần Trận rất muốn nuôi một con sói nhỏ ngay bên lều để cậu ngày đêm quan sát từ lúc còn nhỏ tới lúc lớn.
Cậu lại nghĩ tới con sói cái tha con cừu non đi đâu, và ổ sói con ở chỗ nào?
Hôm ấy sau khi quan sát đàn cừu một lượt thấy không có gì, cậu bèn nằm ngửa trên bãi cỏ ngắm con chim ưng đang bay lượn trên trời xanh.  Thấy đàn cừu có vẻ xôn xao, cậu bật dậy trông thát một con sói lớn xông vào giữa đàn cừu ngoạm lấy gáy một con cừu non hất lên vai, chạy dọc theo khe về phía Núi Đen, thoáng cái đã mất hút.  Cừu non thường hay kêu, tiếng kêu lảnh lói.  Chỉ cần nghe tiếng kêu của con cừu non là xảy ra phản ứng dây chuyền, hàng trăm con cừu non và cừu mẹ kêu đinh tai nhức óc.  Nhưng con sói ngoạm vào gáy, khiến họng con cừu không phát ra thành tiếng, rồi sói mẹ lẳng lặng rút lui, khiến hầu hết những con cừu không biết đã xảy ra chuyện gì, có thể cừu mẹ cũng không biết đã mất con.  Nếu Trần Trận không tinh mắt và cảnh giác cao thì chiều về điểm lại số cừu mới biết.  Trần Trận kinh hoàng như đụng phải một phi tặc vào loại cao thủ, thó túi tiền ngay trước mũi cậu.
Khi đã bình tĩnh, Trần Trận cưỡi ngựa đến chỗ con sói bắt cừu non.  Cậu nhìn thấy trong bụi cỏ rậm có một cái hố, cỏ trong hố bẹp đi.  Rõ ràng là con sói nằm phục tại đây từ lâu chứ không phải chạy từ đâu tới, nếu chạy đến thì cậu đã nhìn thấy.  Trần Trận nhìn mặt trời, nhẩm tính con sói đã phục ở đây hơn ba tiếng đồng hồ.  Chỉ sói mẹ mới bắt cừu non trong mùa này, nó dùng con mồi còn sống để dạy con.  Và cũng là để cho các con ăn vì chúng đang cai sữa.  Thịt cừu non dễ tiêu.
Trần Trận rất căm con sói, nhưng cậu thấy vãn còn may.  Gần đây cậu và Dương Khắc cứ hai ba hôm lại mất một cừu non, các cậu nghi cho chim ưng hoặc đại bàng bắt.  Loại giặc nhà trời này nhanh như chớp lao xuống quắp lấy một con cừu non rồi bay vút lên cao.  Nhưng khi chúng bổ nhào thì đàn cừu kinh hãi chạy tán loạn, các cậu không thể không biết.  Vì vậy, các cậu không hiểu cừu non vì sao mà mất?  Cho đến khi mục kích con sói dùng kỹ xảo bắt cừu và trông thấy cái hố, Trần Trận mới vỡ nhẽ.  Nếu không, con sói cái còn tiếp tục bắt trộm.
Mặc cho mọi người nhắc nhở, Trần Trận vẫn để xảy ra sai sót.  Binh vô thường pháp, sói thảo nguyên rất giỏi tùy cơ ứng biến, sử dụng rất nhiều đấu pháp.  Sói không có cánh nhưng cứ như từ trên trời rơi xuống, khiến anh trơ mắt ếch, không khôn cũng phải khôn ra.
Trần Trận vuốt ve con Mực, nó không tỏ vẻ hàm ơn.
Tuyết rơi, Trần Trận chui vào trong lều cùng Dương Khắc, Cao Kiện Trung uống trà, ăn thịt hun, ăn đậu phụ của Caxumai cho, bên bếp lò đun bằng phân ngựa.  Trần Trận lại thuyết phục Dương Khắc và Cao Kiện Trung cùng cậu đi bắt sói con.  Phải nuôi một con để có sự hiểu biết về sói, biết địch biết ta.
Cao Kiện Trung nướng thịt bên bếp lò, mặt ỉu xìu, nói: Bắt sói con đâu phải chuyện đùa.  Cách đây mấy hôm, các anh Lanmutrac hun khói một hang sói.  Sói mẹ liều chết chống lại, suýt cắn đứt cánh tay Lanmutrac, ba bốn mã quan, ngưu quan cùng bảy tám con chó xúm lại mới tóm được con sói.  Cái hang sâu quá, họ thay phiên nhau đào hai ngày mới thấy sói con.  Cừu mẹ bênh con dám húc người, sói mẹ bảo vệ con dám chết bỏ.  Chúng mình không có súng, chỉ dùng xẻng và roi ngựa thì làm sao đánh lại?  Đào hang sói đâu phải việc nhẹ, lần trước tôi đi cùng Tang Kiệt, đào hai ngày mà vẫn chưa tới ổ, cuối cùng đành hun khói rồi lấp hang, không hiểu sói con có chết không?  Tang Kiệt bảo, sói mẹ biết bị khói, trong hang có lỗ thông hơi ngầm.  Sói thường xuyên di chuyển chỗ ở.  Mục dân bắt sói con mà khó như thế, không hiểu chúng mình có làm nên trò trống gì không?
Dương Khắc trái lại rất vui.  Cậu bảo Trần Trận: Tớ sẽ đi với cậu.  Tớ có một cây gậy sắt, đầu vát nhọn như mũi giáo, đảm bảo gặp sói mẹ chiến đấu được.  Lại có cả dao quầm, giá gỗ có chân.  Giờ mà đánh bắt được một con sói gộc thì chúng ta tha hồ mà vênh váo!
Cao Kiện Trung trêu: Lại một tấc đến trời rồi!  Cẩn thận kẻo sói biến cậu thành "nhắm lại anh hùng có một người" - anh chột, thành chó dại, à mà không, thành sói điên thì rầy rà to!
Dương Khắc lắc đầu: Không sao, tớ cao số, hồi vũ đấu ở trường, tổ tớ có năm người thì bốn thằng bị thương, chỉ mỗi mình tớ là không việc gì.  Vì sao người ta cứ lo sợ vẩn vơ thế nhỉ?  Người Hán như cậu mới để cho dân du mục vào chiếm trung nguyên!  Lanmutrac bảo tớ là cừu ăn cỏ, anh ta là sói ăn thịt.  Ta mà bắt được sói con thì Lanmutrac không gọi ta là "đồ con cừu" nữa!  Tớ dám lấy một mắt để đánh cuộc!
Trần Trận nói: Được rồi, nói lời thì phải giữ lời, không được bỏ cuộc đấy nhé!
Dương Khắc dằn chén trà lên mặt bàn, hỏi: Khi nào đi?  Đi càng sớm càng tốt.  Để muộn thì có khi mục trường điều chúng mình đi vây ráp đàn sói.  Với lại, mình cũng thích công việc này lắm.
Trần Trận đứng lên nói: Vậy thì ăn xong đi luôn, phải trinh sát trước.
Cao Kiện Trung quệt mép, nói: Được, lại phải nhờ Quanbu chăn cừu hộ, vậy là bọn mình mất một ngày công.
Dương Khắc nói khảy: Lần kéo về một xe đầy ắp dê thì được bao nhiêu công điểm. Cậu keo kiệt thế?
Cao Kiện Trung và Dương Khắc đang chuẩn bị yên cương chợt thấy Bayan cưỡi con ngựa lông vàng chạy tới nói ông Pilich muốn gặp Trần Trận.  Trần Trận nói: Bố già chắc có chuyện quan trọng.  Dương Khắc nói: Chưa chắc đã phải chuyện vây ráp, cậu đi ngay đi, nhân tiện hỏi cách nào bắt sói con.
Trần Trận lập tức lên yên, Bayan thấp bé không lên ngựa được ở chỗ đất bằng.  Dương Khắc định bế Bayan lên yên nhưng cậu bé không chịu. Cậu dắt ngựa tới bên cỗ xe bò, trèo lên xe, lồng chân vào bàn đạp rồi nhảy lên ngựa.  Hai người ra roi cho ngựa phi nước đại.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:19:29Ct.Ly>
 
 
Đánh máy: Canary
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
Chương 8

Đời Minh Đế nhà Đông Hán, các bộ Bạch Lang, Bàn Mộc phía tây quận Văn Sơn gồm một triệu ba mươi vạn hộ, sáu triệu nhân khẩu, tình nguyện quy thuộc nhà Hán.  Họ dâng tặng nhà vua ba chương thơ có tên "Bạch Lang ca", tỏ ý "Sói chúa trắng vì ái một (nhà Hán) mà về với chính nghĩa"...
Trương Truyền Tỷ
"Trung Quốc đại sử cương" Quyển thượng.



Trần Trận chưa xuống ngựa đã ngửi thấy mùi thịt mà không phải là mùi thịt cừu, bay ra từ trong lều ông già Pilich. Cậu lấy làm lạ, liền xuống ngựa bước vào.  Ông già Pilich bảo cậu đừng vào vội.  Trần Trận dừng chân, thấy các góc đông, tây, bắc của căn lều, các tấm thảm trải dưới đất đã được cuộn lên. Trên những tấm da ngựa chưa thuộc bầy la liệt những chiếc bẫy sói bằng thép, chí ít bảy tám cái.  Một nồi to trên bếp lò giữa căn lều sôi sùng sục, mùi thịt bay ra từ đấy.  Caxumai mồ hôi nhễ nhại, đang lúi húi thêm phân vào lò.  Đứa con gái năm tuổi của chị - Xixico đang chơi với một đống mạt chược, có đến sáu bảy mươi quân.  Batu ngồi bên lau bẫy, những vết thương trên mặt đang mọc da non.  Bà vợ ông Pilich tên Ơchi cũng đang lau chùi bẫy.  Trần Trận không biết ông già đang nấu thịt gì trong nồi.  Ông Pilich dẹp một chỗ cho Trần Trận ngồi.
Trần Trận pha trò: Bố ninh bẫy để ăn hả bố?  Răng cụ còn khoẻ gớm.
Ông Pilich cười tít, nói: Cậu mới đoán trúng một nửa.  Tôi đang luộc bẫy.  Răng của tôi thì không ổn rồi, chỉ có răng của bẫy là tốt.  Cậu xem đây, bẫy đầy răng.
Trần Trận ngạc nhiên hỏi: Bố luộc bẫy để làm gì?
Bẫy sói - Ông già Pilich chỉ vào nồi - Tôi kiểm tra cậu nhé, thịt gì trong nồi?
Trần Trận lắc đầu.  Ông già chỉ vào khay thịt để bên lò, nói: Đây là thịt ngựa tôi lấy từ hồ tuyết về.  Luộc một nồi thịt ngựa, lấy nước luộc bẫy sói.  Cậu biết vì sao lại phải làm thế không?  Là để bẫy khỏi gỉ.  Trần Trận hiểu ra, tỏ vẻ thích thú: Thế này thì sói dính bãy rồi, sói làm sao địch nổi người?
Ông già vê vê bộ ria bạc: Cậu nghĩ thế là không trị nổi sói.  Sói thính mũi hơn chó, hơi có mùi gì sắt là biết liền.  Có lần tôi chùi thật sạch, hơi sắt hơi người đều không có nhưng sói không dính bẫy.  Nghĩ mãi mới nhớ ra là hôm ấy đặt bẫy xong tôi vô ý nhổ đờm, nếu như có đờm trên tuyết thì cũng không sao, đằng này tôi lại dùng gót chân di đi rồi gạt tuyết lên, tưởng thế là ổn, ai ngờ sói đánh hơi thấy.
Trần Trận ngạc nhiên quá đỗi, than: Cái mũi của sói kinh khủng quá!
Ông già nói: Sói có linh tính, có thần bảo hộ, có  ma trợ giúp, rất khó chơi!
Trần Trận định hỏi tiếp về quỉ thần, nhưng ông gài đã quì xuống để vớt bẫy.  Bẫy sói khá cồng kềnh, mõi nồi chỉ luộc được một chiếc.  Trần Trận dùng thanh gỗ khều cái bẫy đặt xuống tấm vải đầu, rồi thả chiếc khác vào nồi.  Ông già nói: Hôm qua huy động cả nhà chùi cả ngày.  Luộc một lần rồi, lần này là lần thứ hai.  Chưa xong đâu, lát nữa còn phải trộn mỡ ngựa với lông bờm ngựa rồi chà kỹ lên bẫy.  Khi đặt bẫy phải đeo găng tay, rồi rắc phân ngựa khô lên trên.  Bắt sói như bắt giặc, không tỉ mỉ không thắng.  Tỉ mỉ hơn phụ nữ, hơn Caxumai ấy chứ!  Ông già vừa nói vừa cười.
Caxumai ngó Trần Trận bảo: Tôi biết chú đang muốn uống trà.  Tôi dở tay, chú tự lấy mà uống.  Trần Trận không thích uống nước gạo rang, chỉ thích ăn óc đậu do Caxumai làm.  Cậu xúc bốn năm miếng óc đậu rồi rót một bát đầy sữa.  Caxumai bảo, Batu định đi nhưng những vết thương trên mặt không cho phép ra khỏi nhà, đành để chàng  trai người Hán này đi.  Trần Trận cười: Hễ có chuyện liên quan tới sói là bố lại nhớ tới con, phải không bố?
Ông già nhìn Trần Trận, nói: Xem ra cậu đã mê sói rồi đấy.  Ta già rồi, muốn truyền nghề cho cậu.  Chỉ cần say mê là học được.  Nhưng cậu phải nhớ rằng sói là do trời sai xuống bảo vệ đồng cỏ, sói không còn thì thảo nguyên cũng không còn, người Mông Cổ không còn thì thảo nguyên cũng không còn.
Trần Trận sửng sốt: Bố bảo sói và người đều là vệ binh của thảo nguyên?
Ánh mắt ông già trở nên xa lạ.  Ông nhìn Trần Trận đăm đăm: Đúng vậy, nhưng cái lý này người Hán không hiểu đâu.
Trần Trận giật mình, vội nói: Bố ơi, bố cũng rõ là con phản đối kịch liệt chủ nghĩa Đại Hán.  Con cũng không tán thành đưa người lên thảo nguyên khai hoang.
Nét mặt giãn dần, ông già vừa chùi bẫy vừa nói: Mông Cổ người ít, bảo vệ đồng cỏ không dễ.  Không diệt sói, người Mông Cổ còn ít hơn nữa, mà diệt nhiều sói quá, dân số Mông Cổ cũng lại giảm.
Lời ông già có điều gì đó khó hiểu, Trần Trận đành bỏ dở câu chuyện.
Các bẫy đã xử lý xong, ông già bảo Trần Trận: Đi cùng tôi, cậu sẽ thấy phải làm như thế nào.
Ông xỏ đôi găng tay bằng vải bạt, đưa cho Trần Trận một đôi, rồi xách bẫy chui ra ngoài lều, đặt lên cỗ xe bánh sắt.  Sàn xe lót thảm đẫm mỡ ngựa.  Trần Trận cùng Batu khuân hết các bẫy ra xe, mỡ ngựa gặp lạnh đông lại thành một lớp phủ bên ngoài.  Khi các bẫy đã đưa lên hết, ông già trở lại lều lấy một túi phân ngựa khô đưa lên xe.  Mọi việc xong xuôi, ba người lên ngựa.  Caxumai gọi với: Trần Trận đừng để bẫy kẹp phải tay!  Cô dặn Trần Trận mà như dặn Bayan không bằng.
Trông thấy những chiếc bẫy, Balua và mấy con chó liền nổi máu săn, nhao ra định chạy theo.  Batu vội túm gáy con Balua, Caxumai cũng giữ rịt cổ một con khác.  Ông già Pilich nạt lũ chó ở nhà, rồi dắt con ngựa kéo cỗ xe bò, ba người ba ngựa chạy nước kiệu tiến về phía đầm lầy.
Tầng mây dày vẫn áp sát đỉnh núi, tuyết lại rơi nhẹ, bông tuyết khô và xốp.  Ông già Pilich ngửa mặt lên trời, chỉ lát sau mặt ông loáng nước.  Ông tháo găng xoè bàn tay hứng tuyết rồi chà lên mặt, nói: Mấy hôm nay bận quá quên cả rửa mặt.  Rửa mặt bằng tuyết thích thật.  Quanh quẩn suốt ngày bên bếp, mặt ám khói, phải rửa sạch mùi khói, công việc mới đảm bảo.
Bắt chước ông già, Trần Trận cũng rửa mặt.  Ngửi ống tay áo thấy có mùi khói của phân cừu, rất có thể vì chi tiết này mà tất cả biến thành công cốc.  Cậu hỏi ông già: Mùi khói trên người có sao không hở bố?
Ông già nói: Không sao, đi đường sẽ bay hết.  Nhớ là lúc đặt bẫy không được để vạt áo chạm vào thịt ngựa.
Trần Trận nói: Chơi nhau với sói quá mệt!  Đêm qua sói tru, chó sủa tới sáng, con chẳng ngủ được mấy tí.
Ông già nói: Thảo nguyên không như dưới xuôi.  Dưới xuôi người Hán có thể ngủ một giấc tới sáng.  Còn thảo nguyên là chiến trường, người Mông Cổ là những chiến binh, ông trời bắt phải thế.  Chỉ muốn ăn no ngủ kỹ thì không phải là chiến binh chân chính.  Phải học được cách nằm xuống là ngủ, có tiếng có sủa là mở mắt.  Sói ngủ nhưng hai tai vẫn dựng đứng, có động là bỏ chạy.  Muốn bắt sói phải có bản lĩnh hơn sói.  Ta cũng là một con sói già: ăn được, ngủ được, săn bắt được, tàn một tẩu thuốc đã được một giấc.  Sói Ơlon căm ta lắm, chắc chắn khi ta chết chúng sẽ ăn sạch không còn một mẩu.  Vậy là ta chầu trời rất nhanh.
Trần Trận vừa ngáp vừa nói: Bọn thanh niên trí thức chúng con ốm nhiều lắm, đã phải gửi về Bắc Kinh một cô.  Cứ đà này thì phải gửi về đến một nửa.  Con nhất định không cho sói ăn thịt.  Phải hỏa táng mới sướng!
Ông già cười hề hề: Người Hán lãng phí quá.  Chết mà cần quan tài làm gì.  Gỗ ấy đóng được bao nhiêu là xe bò.
Trần Trận nói: Con không cần quan tài, hoả thiêu trực tiếp là xong.
Ông già cười: Nhưng vẫn phải dùng rất nhiều củi đun, lãng phí quá.  Người Mông Cổ tiết kiệm làm cách mang, khi chết đặt lên xe bò chạy về hướng đông, rớt xuống chỗ nào đợi sói ăn ở chỗ ấy.
Trần Trận cũng cười: Nhưng mà thảo nguyên làm gì có gỗ  hả bố? Ngoài lý do lên chầu trời, phải chăng còn vì tiết kiệm củi, thảo nguyên không thấy có cây cối.
Ông già nói: Ngoài chuyện tiết kiệm củi, còn vì "ăn thịt thì phải trả bằng thịt"!
Ăn thịt phải trả bằng thịt, Trần Trận lần đầu tiên nghe câu này nên chưa hiểu.  Cậu vội hỏi: Ăn thịt trả bằng thịt là thế nào hả bố?
Ông già nói: Người thảo nguyên suốt đời ăn thịt, sát hại không biết bao nhiêu là sinh mạng, tội to đấy!  Vì vậy khi chết con người trả lại thịt cho thảo nguyên mới công bằng, linh  hồn không đau khổ trên thiên đường.
Trần Trận cười: Như vậy quả công bằng.  Nếu con không bị sói trả về Bắc Kinh thì con cho sói ăn thịt lại hóa hay.  Đàn sói chỉ một loáng là xong, nhanh hơn thiêu bằng củi.
Ông già rất vui, nhưng rồi ông lại lo: Trước kia thảo nguyên không nhiều người Hán.  Cả mục trường có trăm ba trăm tư gia đình, khoảng bảy tám trăm người Mông Cổ.  Trong cách mạng văn hóa, thanh niên trí thức Bắc Kinh lên đây trên một trăn, lại còn bộ đội, tài xế xe lớn xe nhỏ, thợ xây dựng... Họ đều ghét sói.  Rồi đây hết sói, cậu muốn cho sói ăn thịt cũng chịu.
Trần Trận cũng rất vui.  Cậu nói: Bố đừng lo, sau này có đánh nhau thì đánh bằng bom nguyên tử, người và sói chết sạch, chẳng còn ai ăn ai nữa.
Ông già khoát tay vẽ một vòng tròn, hỏi: Nguyên... nguyên tử là bom gì?
Trần Trận giải thích một hồi mà ông già vẫn không hiểu, đành thôi.
Sắp đến chỗ những con ngựa chết ở mạn bắc của đầm lầy.  Ông già để Bayan ở lại cùng với con ngựa kéo và cỗ xe.  Ông xách hai cái bẫy, một chiếc xẻng nhỏ, một túi phân ngựa khô, rồi cùng Trần Trận đi về phía những con ngựa đông cứng, lúc lúc dừng ljai, nghiêng ngó.  Mấy con ngựa đã bị đụng tới, những vết răng hằn rõ dưới lớp tuyết mỏng và những dấu chân sói xung quanh.  Trần Trận không nhịn được, lại hỏi: Sói đã đến hả bố?
Ông già không trả lời, tiếp tục quan sát, sau đó ông bảo sói lớn chưa tới.  Ulichi đoán đúng, đàn sói lớn vẫn còn ở phía bắc đường biên phòng, chúng quả thật kiên trì.
Những dấu chân sói này là thế nào hở bố? - Trần Trận chỉ những dấu chân trên tuyết, hỏi.
Ông già nói: Những dấu chân này phần lớn là của cáo, chỉ có một vết của sói mẹ.  Đây, phía này là một cặp sói mẹ sói con đi ăn lẻ - Ông già có vẻ suy nghĩ - Mình định bẫy sói đầu đàn hoặc sói gộc  trong đàn, nhưng đây toàn là dấu chân cáo, không có sói lớn.
Vậy là công cốc hả bố?
Không hẳn vậy, nhiệm vụ của mình là đánh lạc hướng đàn sói.  Thấy mình đánh bẫy, chúng tưởng rằng mình không tổ chức vây bắt, nên kéo về ăn thịt ngựa.  Khi chúng về ta mới bủa vây.
Trần Trận hỏi: Có cách nào bắt được một con sói lớn không bố?
Có thể - Ông già nói - Giăng tất cả số bẫy đem theo, chốt sâu một tí, cỡ cho sói và cáo không mắc.
Ông già cho ngựa dạo hai vòng quanh con ngựa chết, chọn điểm đặt bẫy.  Trần Trận vội xuống ngựa, xúc tuyết trên mặt rồi dùng cuốc chim đào một hố tròn đường kính bốn mươi phân, sâu chừng mười lăm phân, giữa hố còn đào một hố nhỏ.  Ông già đeo găng tay tẩm mỡ ngựa cầm bẫy đặt xuống hố, dùng chân lèn chặt hai bên lưỡi kẹp hình bán nguyệt rồi dùng sức banh lưỡi kẹp đầy răng cưa sang hai bên cho tới khi chạm đất.  Sau đó đặt miếng đệm vải hình tròn vào giữa lỗ tròn nhỏ, luồn chiếc tăm sắt dưới tấm đệm rồi luồn vào hố khẩu cái bẫy.
Trần Trận thấp thỏm theo dõi một loạt thao tác vô cùng nguy hiểm của ông già, chỉ cần sơ ý là gãy tay lập tức.  Ông già co chân ngồi xổm trên tuyết, mồ hôi rỏ giọt, thở phì phò.  Ông lấy ống tay áo lau mồ hôi trên mặt, không cho rớt xuống miếng thịt ngựa.  Lần đầu tiên theo ông già đi đặt bẫy, Trần Trận mới hình dung được con sói sập bẫy như thế nào.  Chỉ cần đặt chân lên miếng đệm vải rớt xuống, chiếc tăm bật khỏi hố khẩu, bộ lò xo thép với sức bật vải trăm cân đẩy hai hàm răng thép bập vào chân con mồi, gãy xương luôn.  Thảo nào sói rất sợ bẫy kẹp.  Cái hôm gặp đàn sói, nếu chúng không sợ tiếng va đập của sắt thép thì Trần Trận đã mất mạng.
Việc còn lại là nguỵ trang.  Cũng hết sức tỉ mỉ, không được sai sót.  Ông già bảo: Không phủ tuyết lên bãy, sức nặng của tueyest có thể làm rớt miếng đệ, hoặc nắng nóng làm tuyết tan ra nước, khiến bẫy bị kẹt vì đóng băng.  Cậu đưa cho ta túi phân ngựa.
Ông già đón lấy túi phân, bốc một nắm, vừa vê vừa rắc lên miếng đệm, phân mịn lấp kín các kẽ răng cưa và miệng bẫy.  Lúc này miếng đệm vẫn lửng lơ, không sợ phía trong đóng băng.  Rồi thì chiếc xích sắt của cái bẫy được móc vào bộ xương con ngựa chết, phủ tuyết mới lên trên.  Ông già bảo Trần Trận gạt tuyết lên bẫy, phủ kín bè và lò xo, lấy tuyết xốp rắc lên trên phân ngựa.  Cuối cùng dùng mảnh da cừu san nhẹ mặt tuyết phẳng như xung quanh.
Tuyết hoa vẫn nhẹ nhàng rơi.  Lát sau, tất cả các dấu vết trên mặt tuyết đều không nhìn thấy nữa.  Trần Trận hỏi: Cái bẫy này chỉ sói mới mắc, còn cáo thì không hả bố?  Ông già bảo: Đẩy cái then sắt sâu thêm một chút, cáo nhẹ đạp không tụt, sói nặng mới bật then ra.
Ông già nhìn quanh rồi tính cự li bằng bước chân, chọn một địa điểm cách chỗ cũ hai bước, đặt cái bẫy thứ hai.  Ông bảo: Cậu đặt đi!
Trần Trận hỏi: Sao hai bẫy đặt gần nhau?  Ông già nói: Cậu không biết, có con rất hung, nó cắn đứt cái chân mắc bẫy rồi bỏ chạy bằng ba chân còn lại.  Ta đặt thêm một bẫy để khi con sói giằng cái xích, chạy tới chạy lui để rút chân thì chân thì chân sau dẫm phải cái bẫy thứ hai.  Chỗ này vừa vặn chiều dài của cái xích.  Nếu  con sói bị kẹp hai chân thì dù nó cắn đứt cả hai, nó vẫn không chạy thoát.  Thử hỏi, chỉ còn hai chân thì chạy sao được?
Trần Trận rùng mình.  Cuộc chiến giữa người và sói trên thảo nguyên quả thực tàn khốc.  Cả sói và người đều dùng tàn bạo chống lại tàn bạo, tàn nhẫn chống tàn nhẫn, quỉ quyệt đối phó quỉ quyệt.  Nếu cứ tiếp tục lấy oán báo oán, gần mực thì đen, con người rồi sẽ biến thành sói, mặt sứa gan lim, không còn tình người.  Tuy rất căm thù sói, vậy mà khi đặt bẫy, tay cậu run lên.  Cái bẫy này rất hiểm.  Nó ở ngay phía trước con ngựa chết béo mập, rất hấp dẫn, chỉ ngửi thấy mùi thịt và phân ngựa, không thấy hơi người và mùi gỉ sắt.  Trần Trận tin rằng, con sói ranh mãnh nhất cũng bị đứt gân lòi xương, bị người ta lột lấy da, còn xác thì vứt trên đồng cỏ.  Đây mới chỉ bẫy một con, nếu trên quy mô lớn thì đâu chỉ vài con sa bẫy!  Cậu nghĩ tới biết bao nhiêu quân sĩ các triều Chu, Tần, Hán, Đường, Tống, Minh... bị dụ vào nơi thảo nguyên heo hút này rồi rơi vào cái bẫy sắp đặt tinh vinh mà toàn quân bị diệt.  Xưa kia kỵ binh thảo nguyên không chỉ dựa vào tính hung hãn mà đập tan quân đội của các nước tiên tiến.  Họ là những người bảo vệ thảo nguyên, họ học tài năng quân sự và trí tuệ của sói để giữ gìn thảo nguyên, đập tan các cuộc tấn công của sắt và lửa, cày và cuốc của người Hán vào thảo nguyên.  Ông già Pilich nói đúng.  Trần Trận nghĩ mà sợ.
Ông già cười khà: Sợ rồi phải không?  Đừng quên thảo nguyên là chiến trường, kẻ nào sợ máu, kẻ ấy không phải chiến sĩ.  Sói dùng quỉ kế sát hại của ta cả một đàn ngựa, cậu có xót xa không?  Con người không giở độc chiêu thì không thể thắng sói.
Trần Trận bình tâm lại, cẩn thận gạt tuyết đào hố.  Khi đặt bẫy, tay cậu lại run, lần này thì sợ kẹp tay, vì đây là lần đầu.  Ông già vừa hướng dẫn, vừa nhét đầu gậy vào hố khẩu để bảo vệ cái tay Trần Trận phòng khi bẫy sập.  Cảm kích vì được bảo vệ, Trần Trận cố gắng đặt chính xác.  Lúc đứng lên lau mồ hôi, cậu trông thấy ông già mồ hôi nhiều hơn cậu.  Ông thở ra một hơi khoan khoái: Này con trai, ta hướng dẫn con đặt một cái nữa, đến cai thứ ba thì con tự làm lấy.  Ta thấy con đã thạo rồi đấy.  Trần Trận thưa vâng.  Cậu theo ông già trở lại chiếc xe lấy hai cái bẫy rồi chọn một con ngựa chết, xác định chỗ đặt bẫy.  Bốn chiếc bẫy còn lại, chia nhau mỗi người hai cái, đặt xong.  Ông già bảo bé Bayan phụ việc cho cậu.
Trời gần tối mà tuyết vẫn không tạnh.  Ông già cẩn thận kiểm tra từng chiếc bẫy của Trần Trận, cười vui: Không thể phát hiện ra.  Ta mà là sói thì cũng bị lừa.  Ông nhìn cậu đăm đăm, hỏi: Giờ thì làm gì?  Trần Trận nghĩ một thoáng, nói: Phải xoá sách dấu chân của ta, đếm lại dụng cụ, không được bỏ quên.  Ông già rất thỏa mãn: Cậu thành tinh rồi đấy!
Ba người bắt đầu từ phía bắc quét xuống, vừa quét vừa kiểm tra cho đến chỗ để xe thì dừng.  Trần Trận thu nhặt đồ dùng, hỏi ông già: Ngần ấy cái bẫy thì được mấy con hả bố?  Ông gài nói: Đi săn thì không được hỏi săn được mấy con, nếu kể số lượng ra thì không bắt được con nào hết.  Mưu sự tại người, thành sự tại trời!
Ba người lên ngựa ra về.
Ông già nói: Cho dù sói mắc bẫy, ta cũng không được đến lấy, phải để cho lũ sói nhìn thấy.  Không thấy người đến, chúng càng nghi tợn, và sẽ bám riết đàn ngựa chết.  Nhiệm vụ của ta là dụ được cả đàn sói về đây, chứ không phải chỉ bẫy vài con, mục trường yêu cầu như thế.  Phải đợi thôi, ngày mai cậu không cần đến, mình ta theo dõi từ xa là đủ.
Ba người ung dung ra về.  Trần Trận nghĩ tới đàn sói con, định bụng hỏi ông già cách đào bắt.  Bắt sói con là công việc nguy hiểm, nặng nhọc, kỹ thuật cao trong nghề săn.  Nó được coi như biện pháp chủ yếu ngăn chặn sự  phát triển vô độ của sói thảo nguyên.  Một ổ sói con có bảy tám con, có khi mười mấy con.  Thức ăn của sói vùng Ơlon rất phong phú, tỉ lệ trưởng thành cao.  Đầu xuân triệt một ổ, coi như trong năm diệt một đàn.  Để bảo vệ sói con, đàn sói rất lắm mưu và cả sự liều mạng.  Trần Trận đã được nghe không ít chuyện may rủi trong khi đào bắt, nên cũng đã chuẩn bị về tư tưởng.  Đã hai mùa xuân qua đi, hơn một trăm thanh niên trí thức wor mục trường chưa một ai bắt được một ổ nào.  Trần Trận cũng không mong tóm được cả ổ, mà chỉ mong được đi theo ông già vài chuyến để học nghề.  Nhưng sau sự cố đàn ngựa, ông già không còn thì giờ cho việc bắt sói con, Trần Trận đành hỏi kinh nghiệm ở ông.
Trần Trận hỏi ông già: Cách đây mấy hôm, một con sói mẹ đã cắp con cừu non chạy về phía núi Đen.  Con nghĩ ở đó có sói con nên định sáng mai đi tìm.  Con muốn được bố dẫn đi.
Ông già nói: Ngày mai thì không được rồi.  Chuyện ở nhà rất quan trọng, ban quản lý đang đợi tin ta.  Ông ngoảnh lại hỏi: Nó chạy về phía núi Đen hả? Vâng.  Ông già vê vê chòm râu hỏi: Thế lúc ấy cậu có đuổi theo không?  Trần Trận nói: Nó chạy nhanh quá, con không kịp lấy ngựa đuổi.  Ông già bảo: Như vậy còn được.  Nếu cậu đuổi theo, con sói sẽ đánh lừa cậu.  Nó không chạy về ổ, mà chạy đi hướng khác.
Ngẫm nghĩ một lát, ông già bảo: Con sói này khôn thật.  Mùa xuân năm trước, tôi đào bắt một ổ sói ở đó.  Năm nay không ai đến nữa, không ngờ con sói bất ngờ đẻ ở đấy.  Ngày mai cậu cứ đi, nhớ rủ thêm vài người, đem theo nhiều chó.  Phải chọn những người dũng cảm, có kinh nghiệm.  Không được đi một mình, rất nguy hiểm!
Đào bắt sói thì nguy hiểm ở chỗ nào hả bố?
Ông già nói: Đào bắt đã khó, nhưng tìm ổ còn khó hơn.  Ta mách cậu một cách: Sáng sớm mai.  Lúc còn tối đất, cậu trèo lên đỉnh đồi dưới chân núi Đen mà phục, đợi sáng ra, sau một đêm hoạt động kiếm mồi, sói mẹ trở về cho con bú, nó về chỗ nào, chỗ ấy có sói con.  Có điều khi thấy rồi đào bắt mới khó, sợ nhất là trong hang có sói mẹ.  Các cậu phải hết sức cẩn thận!
Mắt tối sầm, ông già có vẻ buồn: Nếu không vì chuyện đàn ngựa đã bị giết sạch, ta không muốn các cậu đi bắt sói con.  Người già Ơlon không bao giờ thích làm chuyện này.
Trần Trận không dám hỏi tiếp.  Ông già vốn đã khó chịu về chuyện phát động phong trào diệt sói con với quy mô lớn, hỏi nữa có khi ông không cho cậu đi.  Nhưng muốn trị sói thì phải có kiến thức, phải hiểu tập tính của sói, nên cậu định nuôi một con.  Nếu bây giờ không tranh thủ bắt ngay thì khi chúng mở mắt sẽ rất khó nuôi.  Dứt khoát phải nuôi từ lúc nó chưa mở mắt, chưa phân biệt bạn thù, chuyển nó từ thế giới của sói sang thế giới của người.  Cậu e tính cách hoang dã của sói khiến nó khó nuôi hơn chim sẻ.  Chim sẻ rất khó tính.  Bị giam trong lồng, nó nhắm tịt mắt, không ăn không uống chỉ chờ chết.  Sói con không dễ bắt như chim sẻ.  Nếu như tốn bao công sức mà chỉ vài ngày nó chết thì uổng công quá.  Trần Trận định bụng hỏi Batu.  Anh nổi tiếng khắp mục trường về tài săn bắt sói.  Mấy hôm trước bị sói cho một vố, anh đang tức, chắc chắn sẽ phổ biến kinh nghiệm cho cậu.
Về đến lều trời tối hẳn.  Căn lều đã được thu dọn, những tấm thảm đẹp đã được trả lại chỗ cũ, ba cây đèn mỡ cừu sáng rực, hai đĩa lớn thịt cừu, lòng cừu bốc hơi thơm phức.  Miệt mài cả ngày trời, ai nấy bụng đói meo.  Trần Trận cởi phăng áo ngoài, ngồi xuống bên bàn ăn.  Caxumai bê đĩa tràng - món cậu thích nhất, đặt trước mặt cậu; bê đĩa sườn cừu, món ăn ông già ưa nhất, đặt trước mặt ông già.  Sau đó, cô trộn xì dầu với tương nấm, món hỗn hợp Bắc Kinh - Mông Cổ mà Trần Trận ưa thích nhất, và đã trở thành món nước chấm thường xuyên của cả nhà.  Trần Trận gặp miếng tràng chấm nước chấm rồi đưa lên miệng, thơm ngon đến nỗi cậu nhất thời quên cả chuyện bắt sói con.  Tràng là phần ngon nhất trong nội tạng con cừu, chỉ dài một thước, gọi là "béo" nhưng chẳng béo chút nào, gần như toàn bộ phế thải tích tụ về đây, nhưng lại là món ngon nhất trong bữa ăn của người Mông Cổ, giòn và thơm, có mỡ nhưng không béo.
Trần Trận nói: Người Mông Cổ rất tiết kiệm, ngay cả hoành cách mô cũng không bỏ, mà cũng rất ngon.
Ông già gật đầu: Con sói khi đói ăn cừu cả lông, lẫn móng guốc.  Khi trời ra tai, người và sói đều kiếm ăn không dễ, phải ăn bằng hết những gì trên thân con cừu.
Trần Trận cười: Vậy là người Mông Cổ bắt chước sói, ăn cừu cả con!
Ông già cười, luôn miệng bảo đúng.  Trần Trận gắp miếng tràng thứ ba. 
Caxumai rất vui.  Trần Trận nhớ có lần chị nói, chị thích những ông khách ăn hùng hục như sói.  Cậu hơi ngượng, thấy mình lúc này có vẻ giống sói.  Cậu biết cả nhà ông Pilich thích ăn tràng.  Vậy mà loáng cái, cậu đã ăn hết quá nửa.  Caxumai nhổm dậy, dùng dao rạch khoang bụng dưới con cừu, lấy ra một cái tràng nữa, cười bảo: Biết cậu đến là không định đi đâu nữa, nên luộc hai cái, một cái phần cậu.  Cậu nên học tập sói, ăn bằng hết.  Cả nhà cười, Bayan vội gặp miếng tràng vào đĩa thịt trước mặt.  Đã hai năm mà Trần Trận vẫn chưa phân định được vai vế của Caxumai đối với cậu.  Caxumai đáng tuổi chị dâu, nhưng có lúc cậu có cảm tưởng chị gái, có lúc lại như em gái, như bà dì, như bà trẻ.  Caxumai vui vẻ hồn nhiên và phóng khoáng như thảo nguyên.
Trần Trận ăn hết cái tràng, bê bát trà sữa uống hết một nửa, hỏi Caxumai: Bayan dám tóm đuôi sói, dám vào hang bắt sói con, dám cưỡi ngựa chưa thuần, liệu còn chuyện gì đáng ngại không?
Caxumai cười: Người Mông Cổ ai cũng thế từ bé.  Batu hồi nhỏ còn bạo gan hơn Bayan.  Cái hang mà Bayan chui vào không có sói mẹ, sói con thì chưa biết cắn, nên chẳng có gì ghê gớm.  Còn Batu thì trong hang có sói mẹ, anh ấy tóm lấy sói mẹ lôi ra khỏi hang nữa kìa.
Trần Trận ngạc nhiên.  Cậu vội hỏi: Chuyện này sao anh chưa nói.  Kể đi anh.
Batu cười, tợp một ngụm rượu, kể: Năm ấy mình mười ba tuổi.  Bố và mọi người tìm suốt mấy ngày mới tháy một hang sói con.  Hang to và sâu, không đào được.  Bố sợ có sói mẹ nên cho hun  khói.  Khi hết khói mà vẫn không thấy sói mẹ chạy ra, mình cầm đuốc và bao tải chui vào hang.  Nào ngờ vừa chui được một khoảng thân người rưỡi thì mình trông thấy cặp mắt con sói chỉ cách hai thước, mình sợ suýt bĩnh ra quần, vội huơ cây đuốc, thấy con sói cũng đang run cầm cập.  Khi sợ, chó và sói có điệu bộ giống nhau: cụp đuôi giữa hai chân sau.  Mình không dám động đậy.  Lửa đuốc vừa tắt, con sói liền xông ra, mình không kịp rút, bụng nghĩ phen này chắc chết.  Không ngờ con sói không định cắn, mà định nhảy qua đầu mình vọt ra ngoài.  Khi ấy mình sợ bên ngoài không kịp đối phó, sợ sói cắn phải bố, và không hiểu vì sao mình bạo gan đến thế, mình nhổm dậy đội đúng chỗ họng con sói, ép đầu nó lên nóc hang.  con sói bị kẹt, cào cấu lung tung, quần áo mình rách tơi tả.  Mình cũng đánh liều, ngồi thẳng lên cho đầu tìn giữa hàm dưới con sói, ép chặt hơn nữa đầu nó vào nóc hang, rồi ngồi thở, mệt đứt hơi.  Batu kể lại một cách bình thản, y như chuyện của người khác:  Bên ngoài đợi rất lâu không hiểu vì sao không thấy ra.  Bố vội chui vào giơ đuốc soi thấy mình và con sói thì sợ toát mồ hôi, vội bảo mình ngồi yên rồi ông ôm eo mình lôi dần ra.  Mình vừa tì chắc cái đầu con sói lên nóc hang, vừa lôi hai chân trước của nó, lôi nó ra từng tí.  Khi ra đến mép hang, mọi người mới rõ chuyện, liền đâm một nhát xuyên từ miệng ra phía sau đóng đinh lên nóc hang, sau đó lôi hẳn nó ra ngoài, đập chết.  Sau khi nghỉ cho lại sức, mình lại chui vào hang.  Càng vào trong càng hẹp, chỉ trẻ con mới vào được.  Bên trong cùng hóa ra rất rộng, mặt đất trải đầy da và lông cừu, một đàn sói con đang nằm thu lu, tất cả chín con, đều còn sống.  Để bảo vệ lũ con, sói mẹ lấp quá nửa chiều cao của hang, con mẹ ở phía ngoài.  Khi hun khói, nhờ mấy lỗ thông hơi nên khói tản đi nơi khác.  Mình phá cái đập chắn, lôi từng con ra nhét vào bao tải rồi lôi ra ngoài hang...
Trần Trận nín thở nghe Batu kể.  Mọi người hình như không muốn nhớ lại chuyện này nên nghe có vẻ thờ ơ.  Trần Trận thấy câu chuyện không giống chút nào với những chuyện bắt sói mà cậu được nghe, liền hỏi: Em nghe nói sói mẹ rất dữ khi bảo vệ con, dám cắn người, vậy sao con này lại không dám?
Ông già nói: Thực ra sói thảo nguyên sợ người.  Chỉ có người mới đánh chết sói.  Con sói mẹ đã bị choáng váng vì khói, lại thấy người cầm đuốc chui vào, sao nó không sợ?  Con này tuy to xác nhưng xem ra nó mới hai tuổi, đẻ lứa đầu.  Rất đáng thương, hôm nay cậu không hỏi thì chẳng ai muốn nhắc đến nó.  Caxumai không còn tươi cười như lúc thường, mắt cô có ngấn nước.
Bayan nói với Caxumai: Ngày mai chú Trận lên núi đào sói, con định giúp các chú một tay.  Các chú to con chui không lọt hang sói.  Đêm nay con ngủ cùng các chú để mai đi sớm.  Caxumai nói: Được cho con đi nhưng phải cẩn thận đấy.  Trần Trận vội xua tay: Đừng, đừng đi, em sợ có chuyện gì xảy ra.  Chị chỉ có mỗi cục cưng này.  Caxumai nói: Xuân này tổ mình mới đào bắt được một ổ, còn thiếu ba ổ nữa.  Không đào cho đủ, ông Bao Thuận Quý lại tế cho.  Trần Trận nói: Thôi chị ạ, thiếu thì thiếu, em vẫn không thấy nên cho cháu đi.  Thà không đi còn hơn.  Ông già ôm Bayan vào lòng nói: Bayan không cần đi, chắc chắn ta sẽ có một hai con sói lớn.  Không nộp da sói con thì thay bằng da sói lớn vẫn hoàn thành định mức.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:21:12Ct.Ly>
Đánh máy: Canary
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
 
Chương 9

Xưa, ông tổ người triều Nguyên là con trai của một cặp mà chồng là sói xám, vợ là hươu trắng, sau khi phối giống vượt sông Tăngchiso, rồi lại vượt nguồn Cannan đến trước dãy Bunhan thì ở lại, mà sinh ra, tên Bataxihan.
Trích dẫn Dư Đại Quân dịch chú "Mông Cổ bí sử"



Ba rưỡi sáng, Trần Trận và Dương Khắc đem theo hai chó săn, lặng lẽ trèo lên đỉnh đồi kề bên dãy núi Đen.  Hai con ngựa đã được cột  chân ở một chỗ khuất phía sau.  Con Nhị Lang và con Vàng rất nhạy cảm, thấy ra đi từ đêm, chúng biết là đi săn, giờ đây chúng nằm im trên tuyết, cảnh giác nhìn tứ phía.  Mây dày che khuất trăng sao.  Thảo nguyên tối đen, giá lạnh và đáng sợ.  Trong khuôn viên mấy chục dặm vuông mà chỉ có hai người, mà lại là lúc sói thường xuất hiện, thấy người là tấn công.  Dãy Đen như những con thú khổng lồ đè nặng phía sau, khiến Trần Trận sống lưng lạnh toát.  Cậu lo cho hai con ngựa, và bắt đầu sợ cho hành động phiêu lưu của mình.
Bỗng có tiếng tru của sói từ phía đông bắc vọng tới, trầm như tiếng tiêu, dài lê thê, dư âm ba bốn phút sau mới tắt.  Rồi lại có tiếng chó đàn cùng sủa từ xa vọng lại.  Hai con chó nằm bên Trần Trận vẫn im lặng.  Chúng biết quy tắc: Nếu là canh đêm thì phải sủa như điên, nhưng nếu là mai phục chờ lệnh tấn công thì phải im như thóc.  Trần Trận luồn tay dưới nách con Nhị Lang, tay kia ôm lấy cổ nó.  Trước khi lên đường, Dương Khắc  đã cho hai con chó ăn lửng dạ, vì ăn no khiến chúng lười nhác, mất ý chí chiến đầu, ăn đói khiến chúng đuối sức.  Thức ăn đã phát huy tác dụng trong cơ thể con Nhị Lang: Tay Trần Trận ấm sực, cậu úp lòng bàn tay lên cái mũi lạnh ngắt của con chó.  Nó vẫy đuôi khẽ.  Có con chó săn bên mình, Trần Trận thấy đỡ lo.
Sau mấy ngày đêm bận tối mắt tối mũi, Trần Trận rất mệt.  Tối hôm kia, Dương Khắc rủ mấy thanh niên người Mông đi bắt sói con, nhưng họ không tin ở núi Đen có ổ sói nên không ai chịu đi cùng, lại còn khuyên hai người đừng đi mà phí công.  Hai người không chịu, quyết đi bằng được.  Vậy nên lúc này chỉ có hai con chó nhà làm bạn, hơi đơn độc, thiếu khí thế.
Dương Khắc ôm chặt con Vàng, bảo nhỏ Trần Trận: Đừng sợ.  Sắp sáng rồi.  Ban ngày sói sợ người, ta còn đem theo cả thòng lọng.
Trần Trận cũng run như con Vàng, cậu cố trấn tĩnh, nói: Chúng mình như bộ đội đặc công hoạt động sau lưng địch, hết cả ngái ngủ.
Dương Khắc cũng cố tỏ ra cứng cỏi: Đánh sói như đánh giặc, cả đấu trí lẫn đấu lực, trong 36 chước chỉ trừ mỹ nhân kế, những kế còn lại đều có thể thi thố.  Bố Pilich quả thật đa mưu, phải cho chúng một trận mới hả.
Trần Trận nói: Nhưng mà đừng có chủ quan, mình thấy 36 chước vẫn chưa đủ để đối phó với sói.
Dương Khắc nói: Đúng vậy.  Chúng mình đang dùng kế lợi dụng sói mẹ về cho con bú để tìm hang sói đấy thôi.
Trần Trận nói: Lũ sói sát hại nhiều ngựa quá, bố Pilich quá bức xúc mà phải ra tay đấy thôi.  Hôm nọ mình đi đặt bẫy mới biết nhiều năm nay ông già không bẫy sói.  Ông không có ý tuyệt diệt họ nhà sói.
Trời rạng dần, dãy núi Đen không còn giống những con thú khổng lồ nữa, hiện nguyên hình núi đá.  Từ phương đông, những tia sáng xuyên qua màn mây mỏng, ngày càng loang rộng trên thảo nguyên.  Người và chó phủ phục trên tuyết, Trần Trận chĩa ống nhòm quan sát tứ phía, mù quá dày, mọi vật không nhìn rõ.  Cậu chỉ lo sói mẹ được sương mù che chở lúc này trở về hang, thì cả một đêm thức trắng trở thành công cốc.  May mà mù tản nhanh, biến thành màn sương mỏng, lượn lờ trên mặt cỏ.  Nếu có thú đi qua, màn sương lay động là biết liền.
Bỗng con Vàng ngoảnh nhìn phía tây, lông gáy dựng lên, toàn thân căng thẳng.  Con Nhị Lang cũng ngoảnh nhìn về hướng con Vàng.  Trần Trận biết có chuyện, vội chĩa ống nhòm nhìn theo, nơi có vạt đất lau lách mọc đầy, nối liền chân núi với đồng cỏ, chạy dài theo hướng đông bắc.  Đây là nơi vắng vẻ, khuất gió, là bức màn ngụy trang mỗi khi sói xuất kích trên thảo nguyên.  Ông già Pilich nói, mùa đông và mùa xuân, đây là nơi sói ẩn nấp, di chuyển và ngủ; đồng thời cũng là bãi săn của dân du mục.  Con Vàng và con Nhị Lang rất có thể đã nghe thấy tiếng chân của sói trong bãi lau.  Thời gian đúng, phương hướng đúng, Trần Trận tin chắc con sói mẹ sắp về ổ.  Cậu quan sát cẩn thận bên rìa vạt lau, đợi sói mẹ xuất hiện.  Người già nói không sai, bãi sậy trũng, mùa xuân ngập nước, sói không làm ổ ở đấy.  Ổ sói thường ở chỗ cao, tránh lũ.  Trần Trận cho rằng, dù con sói xuất hiện ở hướng nào thì ổ sói vẫn ở sườn núi gần đó.
Hai con chó săn nhìn không chớp vào một bụi cây sậy.  Trần Trận nhìn theo. Cậu giật thót: Một con sói lớn ló nửa người ra ngoài, nhìn tứ phía.  Hai con chó săn lập tức nằm thấp hơn nữa, cằm sát đất.  Cậu và Dương Khắc cũng nằm xuống.  Con sói quan sát tứ phía trong  một thoáng rồi ra khỏi bụi cây, chạy một mạch về cái khe phía đông bắc.  Trần Trận vẫn dùng ống nhòm theo dõi con sói.  Cậu thấy con này hao hao giống con sói đã bắt con cừu của cậu.  Con sói chạy nhanh nhưng dáng kềnh càng, hẳn là đêm qua nó đã bắt trộm cừu, no cành hông.  Cậu nghĩ, nếu hôm nay chỉ mỗi con sói này thì chẳng có gì đáng sợ.  Hai người hai chó, nhất là có ocn Nhị Lang, chắc chắn đối phó tốt.
Con sói mẹ trèo lên một cái dốc nhỏ.  Chỉ cần xem nó rẻ hướng nào là có thể đoán ra vị trí cái hang.  Nhưng đúng lúc ấy, con sói quay lại  nhìn tứ phía, và nhìn rất lâu về phía hai người và hai con chó đang mai phục.  Trần Trận căng thẳng đến nghẹt thở, chỗ đứng của con sói cao hơn dưới vạt sậy.  Dưới vạt sậy, nó không nhìn thấy người, nhưng trên đỉnh dốc này, rất có thể nó nhìn thấy.  Con sói tỏ vẻ sốt ruột, nó chjay quanh tại chỗ hai vòng trù trừ một thoáng rồi bất chợt men theo con dốc thoai thoải chạy một mạch về phía đông, dừng lại ở một cửa hang rồi chui tọt vào trong.
Ngon rồi, ta có thể vớ cả ổ rồi! - Dương Khắc vỗ tay reo lên.
Trần Trận cũng phấn khởi vùng dậy: Lên ngựa mau!
Hai con chó cuống quýt chạy quanh, hắt hơi liên tục đợi lệnh chủ.  Trần Trận bối rối quên cả khẩu lệnh, vội chỉ tay về phía hang, miệng quát: Bắt lấy nó!  Hai con chó lập tức chạy bay xuống dốc, phóng thẳng về phía cái hang.  Hai người cũng chạy xuống chân đồi cởi dây buộc chân ngựa, lên yên, ra roi phóng tới.  Hai con chó đã tới, chõ vào miệng hang mà sủa dữ dội.  Trần Trận trông thấy con Nhị Lang chồm tới rồi lại lui ra nhưng không dám chui vào sâu trong hang.  Con Vàng thì đứng bên sủa gay gắt trợ oai,  hai chân cào đất tung toé.  Hai người nhào xuống ngựa, chạy tới miệng hang chợt giật thót: Hang hình bầu dục, rộng khoảng tám mươi phân, con sói cái đang án ngữ đường vào hang, điên cuồng cắn trả con Nhị Lang.  Nó còn nhô hẳn nửa người ra ngoài miệng hang, sau khi con Nhị Lang buộc phải rút lui.
Trần Trận quãng cây thòng lọng, vớ lấy chiếc cuốc chim nhằm đầu con sói bổ xuống.  Con sói phản ứng rất nhanh, lưỡi cuốc mới giáng xuống nửa chừng, nó đã rụt đầu vào bên trong rồi lại nhe răng xông ra.  Dương Khắc bổ một nhát nhưng cũng bị hụt.  Mấy bận như thế, cuối cùng Trần Trận cũng đập trúng đầu con sói.  Dương Khắc cũng đập trúng một nhát.  Nhưng con sói vẫn rất hung hãn.  Nói lùi sâu khoảng một mét, đợi con Nhị Lang xuống theo liền đợp một phát giữa ngực.  Con Nhị Lang máu me đầy mình rút ra ngoài, mắt long sòng sọc, sủa lên mấy tiếng rồi lại chui vào, bên ngoài chỉ còn trông thấy cái đuôi phe phẩy.
Trần Trận chợt nhớ tới cây thòng lọng, liền nhặt lên.  Dương Khắc hiểu ý, giục: Phải đấy, tròng lấy cổ nó.  Trần Trận tròng dây thòng lọng vào miệng hang, con sói chui ra sẽ mắc cổ, khi ấy có thể dùng cuốc chim cùng với hai con chó để hạ gục con sói.  Trần Trận căng thẳng tới mức thở không ra hơi.  Nhưng cậu chưa kịp đặt ngay ngắn cái thòng hình bán nguyệt vào miệng hai thì con Nhị Lang đã vướng vào chân sau, tiếp theo, con sói máu me đầm đìa nhảy vọt ra, chân sau dẫm lên cây thòng.  Con sói trông thấy cây thòng, run lên như bị điện giật, lập tức chui trở vào, không dám ló đầu ra nữa.  Trần Trận ngó vào, cái hang dốc khoảng 35 độ, sâu hai mét thì rẽ, không hiểu bên trong còn sâu bao nhiêu.  Dương Khắc nổi cáu  quát liền ba tiếng vào trong hang.  Tiếng quát chui vào đất, không một tiếng vọng.  Trần Trận ngồi phệt bên miệng hang than thở: Mình ngốc quá, đặt thòng lọng ngay từ đầu thì con sói này toi rồi.  Đúng là phải linh hoạt, không được sơ sểnh một li.
Dương Khắc còn buồn hơn, cậu bổ một nhát cắm cuốc chim xuống đất, chửi: Mẹ kiếp, con sói này khinh mình quá.  Mình mà có súng, phải bắn bể sọ nó ra!
Trần Trận nói: Đã có lệnh cấm nổ súng, vì đây là tuyến một.  Cậu có súng cũng bằng thừa.
Dương Khắc nói: Thế này thì lôi thôi rồi.  Hay là ta đánh bằng pháo nhị thanh?
Thì cũng khác gì nổ súng - Trần Trận trấn tĩnh lại, hạ giọng nói: Nếu làm kinh động đàn sói trên đường biên, kế hoạch vây bắt sói phá sản, chúng mình sẽ bị chửi mất mặt.  Với lại pháo nhị thanh, sói không chết.
Dương Khắc không chịu, nói: Không chết thì cũng sợ mất mặt.  Đây cách đường biên bảy tám mươi dặm, sói không nghe thấy tiếng nổ.  Nếu cậu còn ngại thì ta lấy áo khoác bịt kín miệng hang.  Bên ngoài không nghe thấy gì đâu.
Trần Trận hỏi: Nếu nó không ra thì sao?
Dương Khắc vừa cởi thắt lưng vừa nói: Ra là cái chắc.  Tớ nghe mã quan nói, sói rất sợ tiếng nổ và mùi thuốc súng.  Chỉ cần thả vào trong hang ba quả pháo nhị thanh là có sáu tiếng nổ.  Hang kín, tiếng nổ to gấp ba bốn lần ngoài trời, sói dứt khoát bị choáng.  Hang hẹp khói đậm, sói sẽ bị sặc.  Tớ đánh cuộc là chỉ ba quả nhị thanh này là nó phải trườn ra cho cậu chộp.  Cậu cứ đợi. Tớ cho là sẽ có cả sói con cùng chạy ra, ta vớ cả mẹ lẫn con.
Trần Trận nói: Vậy thì làm theo ý cậu, nhưng phải chuẩn bị kỹ một tí.  Đế tớ xem còn lối thoát nào nữa không?  Thỏ khôn có tới ba cái hang.  Sói lại càng ranh ma, chắc không chỉ có một hang.  Người khôn đến mấy cũng vẫn thua sói.
Trần Trận lên ngựa dẫn theo hai con chó đi vòng tròn lấy miệng hang làm trung tâm, rà soát kỹ xung quanh. Tuyết trắng, hang màu đen, nếu có rất dễ phát hiện.  Nhưng trên một diện tích hàng trăm mét vuông không thấy cái hang nào.  Trần Trận xuống ngựa, dẫn hai con ngựa ra một chỗ xa, cột chân lại rồi cậu qauy về chỗ miệng hang, đặt thòng lọng, bày búa chim và gậy.  Cậu thấy con Nhị Lang cắm cúi liếm vết thương.  Nó lại bị con sói cắn một miếng nữa giữa ức, vết rách to bằng hai ngón tay, thịt đang co giật.  Nó rất đau nhưng không hề rên la.  Hai người không đem theo bông băng, đành giương mắt mà nhìn con Nhị Lang tự chữa chạy bằng phương pháp cổ truyền của họ nhà chó: giảm đau bằng cách liếm và khử trùng bằng nước bọt.  Đành để về nhà băng bó vậy.  Xem ra tất cả những vết sẹo trên mình nó đều do sói cắn, thảo nào trông thấy sói là nó nổi hung.  Trần Trận thấy mình trước đây đã hiểu sai con chó.  Nó đúng là giống chó Mông Cổ, dữ hơn sói.
Dương Khắc đã chuẩn bị xong.  Cậu khoác áo da, tay cầm ba quả pháo nhị thanh cỡ lớn, miệng ngậm điếu thuốc lá thơm Hải Hà đã châm lửa.  Trần Trận vừa cười vừa nói: Làm như dưới dang là giặc Nhật không bằng.  Dương Khắc cười hì hì: Mình nhập gia thì phải tùy tục, bài bản y chang dân địa phương.  Trong anhg không có thiết bị ngăn sóng âm đâu mà lo.  Trần Trận bảo: Được rồi, ném vào đi!  Xem có ăn thua gì không?
Dương Khắc dùng điếu thuốc đang cháy châm ngòi pháo rồi ném vào trong hang.  Cậu châm ngòi rất nhanh hai quả pháo còn lại.  Ba quả pháo lăn theo độ nghiêng vào sâu trong hang.  Dương Khắc lập tức lấy áo khoác da bịt kín miệng hang.  Chỉ lát sau, những tiếng nổ trầm đục từ dưới vọng lên, sáu tiếng tất cả.  Quả núi rùng mình, mùi lưu huỳnh sặc sụa.  Chưa khi nào có tiếng nổ lớn như thế trong những hay sói Mông Cổ.  Tiếc rằng hai cậu không nghe thấy tiếng gào thét của sói mẹ sói con dưới hang sâu.  Hai người còn ngửi thấy mùi hôi xộc lên mũi.
Dương Khắc hai tay ôm chéo bờ vai cho đỡ lạnh, hỏi Trần Trận khi nào thì bỏ áo ra.  Trần Trận nói: Lát nữa.  Trước tiên phải mở hé, khi thấy khói bay ra thì hãy mở hẳn.  Trần Trận vén một góc lên, có khói nhưng không đáng kể nên đậy lại.  Thấy Dương Khắc bị lạnh, Trần Trận cởi dây lưng, định bụng hai người khoác chung một áo.  Dương Khắc xua tay: Cẩn thận, nó sắp lên đấy. Cậu mà bỏ dây lưng thì áo xoè ra, rất vướng.  Kệ mình, không lạnh lắm đâu.
Hai người đang nói chuyện chợt thấy con Vàng và con Nhị Lang đứng vụt dậy nhìn ra hướng tây bắc, miệng gừ gừ ra vẻ bồn chuột.  Hai người nhìn theo, chợt thấy mặt đất cách chỗ cậu đứng hai chục mét bay lên sợi khói màu xanh nhạt.  Trần Trận bật lên tiếng kêu: Hỏng rồi, ở đấy có hang.  Cậu canh chừng ở đây để tớ đi xem sao.  Trần Trận vừa nói vừa cầm lấy cuốc chim chạy đi, hai con chó chạy theo.  Đúng lúc ấy, một con sói lớn ý hệt quả tên lửa đất đối đất, đội đất vọt lên ở chỗ có khói, chạy thục mạng vào bãi sậy và mất hút trong đó.  Con  Nhị Lang bám riếtphisa sau, nhìn xa thấy ngọn lau rẽ thành một vệt lên phía bắc.  Trần Trận sợ có chuyện bất trắc liền quát con Nhị Lang quay về.  Có thể con Nhị Lang đã nghe thấy  tiếng gọi nhưng ham mồi vẫn cứ đuổi.  Con Vàng chạy tới bãi sậy nhưng không dám vào, sủa vài tiếng lấy lệ rồi rút.
Dương Khắc vừa mặc áo ngoài vừa chạy tới chỗ rỉ khói.  Trần Trận cũng chạy theo.  Cả hai giật mình khi trông tháy một cái hang đất đá đều mới, rõ ràng là con sói vừa đào trong lúc nguy cấp.  Chỗ này vốn là đất bằng, nhưng khi xảy ra cuộc chiến, liền biến thành đường hầm.
Dương Khắc tức đỏ mắt, chửi: Con sói chết tiệt!  Nó giỡn mặt chúng mình.
Trần Trận thở dài, nói: Thỏ có ba hang nhưng đều trông thấy được.  Còn sói thì không biết có bao nhiêu hang?  Cái hang này có tính toán hẳn hói, cậu xem, miệng hang liền kề cái dốc chạy thẳng xuống bãi sậy, con sói chui ra chỉ vài bước là an toàn.  Con này chỉ số thông minh rất cao, tính toán giỏi hơn thỏ.  Sói quả là nhà quân sự bậc nhất trong thiên hạ.  Bao Thuận Quý có nói sói biết đánh gần, đánh đêm, đánh tập kích, đánh du kích, đánh vận động chiến.  Khi gặp, cậu nói với ông ta: Sói còn biết đánh địa đạo chiến, ú tim chiến, lại biết kết hợp cả hai phương thức tác chiến địa đạo và ú tim.
Dương Khắc vẫn chưa hết bực: Phim ảnh về đánh du kích ở đồng bằng Hoa Bắc phét lác một tấc đến trời, khoe đó là phát minh lớn trong thiên hạ, thực ra sói đã nghĩ ra cách đây hàng ngàn năm.
Chịu thua rồi chứ?  - Trần Trận sợ Dương Khắc bỏ cuộc - Bắt sói đâu có dễ, một người làm không nổi.
Không thua. Chăn cừu vốn là công việc buồn tẻ, giờ có dịp đấu trí đấu dũng với sói, thích lắm.  Tớ là dương quan, chăn cừu đuổi sói là nhiệm vụ của tớ.
Hai người tới bên miệng hố.  Khói đã nhạt nhưng mùi thuốc súng thì vẫn nồng nặc.  Dương Khắc ngó vào trong hang, nói: Lẽ ra lũ sói con đã phải ra rồi.  Nổ to như thế, mùi cay như thế, chúng chịu sao nổi.  Hay là chết cả rồi?
Trần Trận nói: MÌnh cũng nghĩ vậy.  Đợi nửa tiếng nữa mà không thấy ra là gay rồi.  Hang sâu thế này thì đào làm sao, tốn công hơn đào giếng.  Chỉ hai chúng mình phải ba ngày ba đêm chưa chắc đã tới nơi.  Bộ móng của sói mới khiếp chứ, đất đá này mà đào hẳn một đường hầm to đùng.  Nhưng mà này, nếu sói con chết cả rồi thì đào làm gì?
Dương Khắc thở dài: Giá có thằng nhỏ Bayan ở đây thì hay quá, nó mới chui vào được.
Trần Trận thở dài, nói: Có thằng Bayan ở đây tớ cũng không dám bảo nó chui vào.  Cậu dám đảm bảo bên trong không có sói lớn?  Người Mông cũng có nhiều chuyện gay cấn lắm.  Caxumai chỉ mỗi thằng nhỏ mà đành để nó kéo đuôi con sói, rồi thì chui xuống hang bắt sói con.  Xưa kia Trung Quốc có câu "Tiếc con thì không bắt được sói", xem ra câu này hẳn là của người Mông Cổ trên thảo nguyên.  Mông Cổ thống trị Trung Quốc gần một trăm năm.  Trước kia mình không hiểu ý nghĩa của câu này, không đành lòng cho trẻ đánh nhau với sói, chẳng lẽ dùng trẻ nhỏ làm mồi nhử sói?  Về sau mình mới hiểu, vì sao phải cho trẻ con mạo hiểm vào  hang sói, một là, hang sói chật, trẻ con mới chui lọt, hai là rèn luyện lòng can đảm.  Nếu người Mông o bế trẻ con như người Hán thì dân tộc Mông lụn bại từ lâu.  Vậy nên trẻ con Mông Cổ lớn lên đứa nào cũng dũng mãnh.
Dương Khắc vẫn cay cú: Mẹ kiếp, sói thảo nguyên quả lợi hại.  Khả năng sinh sản đã lớn hơn người Hán, đã vậy lại còn đào những cái hang vững chắc như thế này để bảo vệ con.  Mình e công sức bỏ ra là công cốc.  Ta ăn chút gì đi, mình đói bụng rồi.
Trần Trận đến chỗ con ngựa lấy túi vải bạt đem về cửa hang.  Con Vàng trông thấy cái túi màu vàng dính đầy mỡ thì mừng quýnh, vẫy đuôi chạy tới ư ử đòi ăn.  Đây là cái túi đựng thức ăn chuẩn bị cho hai con chó.  Trần Trận mở miệng túi bốc ra non nửa số thịt vụn cho con Vàng, chỗ còn lại dành cho Nhị Lang.  Giờ này mà con Nhị Lang chưa quay lại, Trần Trận lo thay cho nó.  Vào mùa đông và mùa xuân, bãi sậy là địa bàn hoạt động của bầy sói.  Nhị Lang bị con sói mẹ dụ vào đấy, chắc dữ nhiều lành ít.  Nhị Lang là quân chủ lực bảo vệ đàn cừu, bây giờ mà mất nó thì thiệt to.
Con Vàng vừa ăn vừa vẫy đuôi.  Nó rất nhanh nhẹn và rất dũng cảm khi gặp thỏ, cáo, dê vàng.  Nhưng khi gặp sói nó biết cân nhắc tình thế, nếu sói ít chó nhiều là nó lập tức lao lên đánh vỗ mặt; nhưng nếu chó ít sói nhiều, nó không đơn thương độc mã xông lên.  Vừa rồi nó rút lui vì nó sợ trong bãi sậy có đàn sói mai phục.  Do bản năng sinh tồn, con Vàng rất biết giữ mình.  Biết vậy, nên Trần Trận không trách con Vàng thiếu nghĩa khí.  Có điều, từ sang xuân đến giờ, cậu ngày càng thích con Nhị Lang.  Hình như thú tính của nó ngày càng nổi trội, nó gần như không còn tính người.  Trong thế giới cạnh tranh quyết liệt để sinh tồn, một dân tộc nếu không có dũng khí và tính cách của loài thú dữ thì không có điểm tựa cho trí tuệ và văn hóa.  Tính cách dân tộc một khi đã bạc nhược thì chỉ có cầu thân, đắp thành luỹ, đầu hàng chịu thân phận bề tôi và đẻ nhiều như thỏ thì mới mong sống còn.  Trần Trận đứng lên chĩa ống nhòm về phía bãi sậy để xem con Nhị Lang đang ở đâu.
Nhưng con Nhị Lang đã mất dạng.  Trần Trận lôi trong bọc ra cái túi bằng da cừu chưa thuộc chống được ẩm, không thấm mỡ, nhét trước bụng không bẩn quần áo, do Caxumai tặng.  Cậu lấy ra bánh nướng, thịt vụn và sữa bánh, chia cho Dương Khắc, rồi cả hai cùng ăn.  Cả hai không biết sau đó sẽ làm gì, vừa ăn vừa nghĩ.
Dương Khắc bẻ một mẩu bánh to đút vào miệng, nói: Cái hang sói thật đấy mà giả đấy, tưởng rằng phải hóa ra không phải.  Chúng mình tìm ra được một ổ đâu có dễ, cho nên đừng bỏ cuộc.  Hun khói không chết thì ta đổ nước cho chết sặc.  Chở vài chục xe nước dưới đập lên, chắc bắt được chúng.
Trần Trận nói: Thảo nguyên đất cát pha, cậu có chuyển cả đập nước lên đây cũng vô ích, chỉ một lát là cạn sạch.
Dương Khắc suy nghĩ hồi lâu: Đúng rồi, trong hang không còn sói lớn thì ta cho con Vàng vào lôi bọn sói con ra.
Trần Trận không nhịn được cười: Chó đã nhiễm tính người thì bỏ tính sói.  Mũi chó hễ ngửi là ngửi thấy mùi sói, không phân biệt mùi sói mẹ hay sói con.  Nếu nó phân biệt được như thế thì khi sói mẹ đi vắng, nó chui vào hang bắt hết sói con.  Cậu là dân du mục mà ngố thế!
Dương Khắc vẫn không chịu, nói: Thì mình hãy thử xem, không mất nhiều công sức lắm đâu.  Nói rồi, cậu gọi con Vàng đến bên miệng hang.  Mùi thuốc súng đã tan đi phần lớn.  Dương Khắc chỉ vào hang "súy" một tiếng.  Con Vàng hiểu ý cậu, sợ hãi lùi lại.  Dương Khắc kẹp con Vàng giữa hai chân, hai tay cầm hai chân trước của nó đùn vào trong hang.  Con Vàng cụp đuôi rên ư ử gồng người lên nhìn cậu cầu cứu.  Trần Trận nói: Thấy chưa?  Tiến hoá đã khó, thoái hóa lại càng khó.  Chó không thoái hóa thành sói.  Chó chỉ có thể biến thành chó tồi, chó lười, chó ngu.  Con người cũng thế.  Dương Khắc thả con Vàng ra, nói: Tiếc là con Nhị Lang không ở đây, tính sói của nó mạnh, dám chui vào hang.
Trần Trận nói: Nhị Lang chui vào sẽ cắn chết hết sói con, mà mình thì muốn chúng còn sống để nuôi.
Dương Khắc gật đầu: Quả vậy, sói mà gặp Nhị Lang thì chỉ có chết.
Con Vàng ăn xong linh đi chơi.  Nó đánh hơi, chốc chốc lại ghếch chân sau đái vài giọt để đánh dấu.  Nó đã  đi rất xa mà con Nhị Lang vẫn chưa quay lại.  Trần Trận và Dương Khắc ngẩn ngơ không biết nên làm gì bây giờ.  Trong hang không một tiếng động.  Một đàn sáu bảy con sói con, hun khói hoặc đánh pháo nhị thanh cũng không thể chết hết, thế nào cũng có con còn sống sót chạy ra theo bản năng.  Lại nửa giờ nữa trôi qua vẫn không thấy con nào chui ra.  Hai người đoán: Một là chúng chết hết, hai là không có con nào trong đó.

                      0O0

Giữa lúc hai người đang thu xếp đồ đạc để quay về, chợt nghe tiếng con Vàng sủa ran phía sau đồi, có vẻ như phát hiện con mồi.  Hai người lập tức lên ngựa phi về phía đó.  Lên đến đỉnh đồi vẫn không nhìn thấy con Vàng, hai người giục ngựa chạy theo tiếng sủa, nhưng được một quãng vó ngựa đã vấp đá củ đậu, phải cho ngựa dừng lại. Mặt tuyết đầy dầu chân thỏ, cáo, chuột cát, thỏ tuyết, và cả dấu chân sói.  Phía dưới toàn là đá, có mao mọc giữa các kẽ, cao ngang thắt lưng, đã chết khô, trông như những nầm mồ trên biên ải heo hút.  Trần Trận và Dương Khắc thận trọng cho ngựa đi từng bước để khỏi trượt ngã.  Chỗ này không có cỏ gia súc, bò cừu không đến, Trần Trận và Dương Khắc cũng chưa đến lần nào.
Tiếng sủa của con Vàng nghe càng gần, nhưng hai người vẫn chưa nhìn thấy nó.  Trần Trận nói: Hình như con Vàng thấy con gì đó, mình phải đến nhanh.  Dương Khắc nói: Vậy là không đến nỗi công cốc.  Hai người vòng qua bụi gai, men theo một cái rãnh, qua một lằn rẽ, liền trông thấy con Vàng.  Lần này thì Trần Trận và Dương Khắc ngạc nhiên hơn: Con Vàng đang chõ mõm vào một cái hang mà sủa.  Cái hang này to hơn nhiều, đen ngòm, mùi sói theo gió lạnh ùa tới, khiến Trần Trận rợn tóc gáy, cảm thấy mình sa vào trận địa mai phục của bầy sói, vô vàn những cặp mắt đang nhìn cậu.
Hai người cột ngựa vào một chỗ, cầm đồ nghề đến bên miệng hang.  Cái hang quay mặt về hướng nam, miệng rộng chừng sáu mươi phân.  Trần Trận chưa bao giờ thấy một cái hang to như thế, to hơn miệng địa đạo Bình Sơn - Hà Bắc thời chống Nhật mà hồi là học sinh trung học cậu đã từng về đấy để học làm ruộng, đã nhìn thấy.  Cái hang khuất sau một nếp gãy nhỏ trong khe, phía trên là những bụi gai rậm, phía dưới lởm chởm đá tai mèo, không đến gần khó mà nhận ra.  Con Vàng thấy hai chủ đến thì rất mừng, chạy quanh Trần Trận như kể công.  Trần Trận bảo Dương Khắc: Dứt khoát trong hang có chuyện.  Chắc là con Vàng đã nhìn thấy sói con.  Cậu xem, nó đang khoe đây này.  Dương Khắc nói: Mình cũng thấy thế.  Đây mới đích thực là hang sói, âm u dễ sợ.  Trần Trận nói: Toàn mùi sói, chắc chắn ổ sói ở đây.
Trần Trận quan sát vội những dấu vết trên gò đất trước cửa hang.  Đây là đất đá được đùn ra khi con sói đào hang.  Hang càng to, gò càng lớn.  Cái gò này to bằng hai mặt bàn, không có tuyết mà có nhiều dấu chân, một ít xương vụn.  Trần Trận rất hồi hộp, đây là cái mà cậu muốn nhìn thấy.  Cậu bảo con Vàng ra chỗ khác, đứng canh chừng cho cả bọn rồi cùng Dương Khắc quan sát kỹ các dấu vết đã bị con Vàng làm biến dạng, nhưng vẫn nhận ra dấu chân của hai con sói lớn và bảy tám con sói nhỏ.  Dấu chân sói con hình hoa mai, lớn bằng đồng hai xu, rất xinh.  Tất cả các dấu chân đều mới, chúng đang chơi đùa ở đây, thấy con Vàng mới chui vào hang.  Mặt gò không có tuyết, có lẽ sói mẹ chọn nơi đây làm sân chơi cho lũ con, có một ít lông và da cừu non còn lưu vết răng của sói con.  Mép gờ có những cục phân tươi bằng đầu đũa, dài khoảng hai phân, đen nhánh như viên thuốc tễ.
Trần Trận vỗ đánh bộp một phát vào đầu gối, reo lên: Lũ sói con mà mình cần đây rồi.  Thì ra hai thằng mình đã bị con sói mẹ đánh  lừa.
Dương Khắc cũng như chợt tỉnh, vỗ lên mặt gờ, nói: Đúng rồi, con sói mẹ lẽ ra chạy về hang này, nhưng thấy bóng người nên nó chuyển hướng, dụ chúng ta đến một cái hang không có gì.  Nó làm như thật, cắn nhau với chó của ta để bảo vệ đàn con.  Mẹ cha con sói, tao phục mày sát đất!  Trần Trận nhớ lại lúc con sói đổi hướng, cậu đã nghi, nhưng nó giả bộ giống quá, nên hết cả nghi ngờ.  Ai ngờ con sói giỏi tùy cơ ứng biến đến thế.  Nếu không choáng vì pháo nhị thanh, nó có thể chơi ú tim với cậu đến tối.
Dương Khắc nói: May mà chúng mình có hai con chó săn, nếu không thua chỏng gọng.
Trần Trận có vẻ bức xức: Giờ thì gay đây.  Con sói lại gây cho ta nhiều khó khăn, thời gian thì đã mất toi nửa ngày, pháo nhị thanh mất toi ba quả.  Chẳng hiểu cái hang này liệu có sâu hơn, phức tạp hơn cái hang đầu tiên?
Dương Khắc cúi nhìn hồi lâu vào trong hang.  Thời gian không còn mấy, pháo nhị thanh thì đã hết, chẳng còn cách nào khác.  Công việc cấp bách bây giờ là phải xem còn cửa hang nào nữa thì lấp hết lại, ngày mai rủ thêm một số mục dân cùng đào.  Cậu cũng cần tranh thủ ý kiến bố Pilich.
Trần Trận vẫn chưa chịu về không, cậu bảo Dương Khắc: Mình có chiêu này, ta thử xem.  Địa đạo ở Bình Sơn có thể xuống, vậy sao mình không chui thử vào trong hang.  Chắc là con Nhị Lang đã đuổi hai con sói bố mẹ đi nơi khác, ở đây không còn sói lớn nữa.  Cậu hãy lấy dây lưng buộc cổ chân mình, cầm chịch cho mình trườn xuống từ từ, biết đau tóm được sói con, mà nếu không có sói con thì mình cũng muốn biết chúng cấu trúc cái hang như thế nào.
Dương Khắc lắc đầu quầy quậy, nói: Cậu không sợ chết hay sao?  Giả dụ trong hang còn sói lớn thì sao? Chúng mình đã bị lừa một lần, cậu có dám chắc cái hang này là của con sói mẹ hồi nãy? Nếu là của con khác thì sao?
Nguyện vọng ấp ủ hai năm nay chợt bùng lên át cả nỗi sợ.  Trần Trận nghiến răng: Trẻ con Mông Cổ còn dám chui vào hang bắt sói mà ta không thì xấu hổ chết.  Tớ phải xuống, cậu giúp một tay.  Tớ có đèn pin và chòng, nếu có sói lớn, đối phó được.
Dương Khắc nói: Nếu nhất định phải xuống thì để tớ.  Cậu gầy hơn tớ, nhưng tớ khoẻ hơn cậu.
Trần Trận nói: Hang hẹp, đến lúc nào đó cậu bị kẹt.  Thôi đừng tranh luận nữa, ai béo người ấy ở lại.
Trần Trận cởi phăng áo ngoài, Dương Khắc bất đắc dĩ phải đưa cho Trần Trận đèn pin, chòng và bao tải, buộc hai chân Trần Trận bằng dây lưng Mông Cổ dài hai trượng, lại cởi dây lưng của cậu buộc một đầu vào thắt lưng Trần Trận.  Trước khi chui xuống hang, Trần Trận nói: Không vào hang sói, làm sao bắt được sói con!  Dương Khắc dặn đi dặn lại: Nếu gặp sói lớn thì hét to lên, co chân làm hiệu kéo lên.  Trần Trận bật đèn pin, trượt dốc 40 độ chui xuống.  Trong hang sặc mùi sói, đến nỗi cậu không dám thở mạnh.  Cậu nhích từng tí. Cái hang tương đỗi nhẵn, một ít lông sói mắc lại trên đất đá.  Mặt đất đầy dấu chân sói con.  Trần Trận mừng quá, tưởng chỉ vài mét là tóm được sói con.  Cậu đã chui hẳn vào trong hang.  Dương Khắc nhả dây lưng từng tí một, luôn miệng hỏi đã muốn lên chưa.  Trần Trận lớn tiếng giục nhả dây, rồi dùng cùi chỏ thay cho tay, cậu nhích xuống từng tấc một.
Cách miệng chừng hai mét, cái hang rẽ ngang, bò thêm chút nữa, ánh sáng bên trên bị che khuất, Trần Trận phải chĩa đèn ra phía trước, tất cả nhờ ánh sáng đèn pin.
Qua khúc rẽ, lòng hang không dốc nữa nhưng thót hẳn lại, phải chui đầu so vai mới chui lọt.  Trần Trận vừa bò vừa quan sát mặt và vách hang, ở đây bóng hơn nhiều so với miệng hang, nhẵn nhụi tưởng như đẽo bằng rìu.  Vách hang rất ít đất đá vụn, chọc bằng chòng cũng chỉ rơi vài mẩu, Trần Trận yên tâm, không sợ lở hang.  Cậu  không thể tưởng tượng chỉ với hai chân trần mà con sói đào được cái hang sâu như thế.  Những tảng đá hai bên sườn cạnh nhẵn thín, có tảng hình trứng, căn cứ vào độ mài tròn, cái hang có tuổi hàng trăm năm, không biết bao nhiêu con sói, đực và cái, đã ra vào hang này.  Trần Trận cảm thấy cậu đã lạc vào thế giới của sói, mùi hôi kinh người.
Trần Trận tiếp tục bò, ngày càng sợ.  Ngay trước mũi cậu là mấy dấu chân sói lớn bị lũ sói con dẫm chồng chéo.  Giả dụ có sói lớn thì đèn pin và cái chòng này có đánh lại được không?  Hang hẹp, sói không cắn tới, nhưng chân trước của sói rất dài, thừa sức cào tới người.  Sao mình không nghĩ tới nanh vuốt của sói nhỉ, Trần Trận toát mồ hôi lạnh.  Cậu chững lại, chỉ cần co chân một cái là được kéo lên.  Nhưng cậu lại nghĩ lũ sói con đã rất gần, tám chín con, mươi mười mấy con chứ ít đâu.  Cậu nghiến răng liều mạng chui tiếp.  Cậu nghĩ, mình không phải một thợ săn, mà y như một tên đào mả trộm.  Không khí càng ít, mùi sói càng đậ, cậu chỉ sợ chết ngạt như đã từng xảy ra với những tên đào mả trộm.
Đến đoạn thắt cổ chai khiến cái hang càng hẹp hơn.  Chỗ này chỉ chui lọt sói mẹ, còn người lớn thì không lọt, rõ ràng là sói thiết kết cái hang như thế này là để chống lại thiên địch duy nhất của loài sói trên thảo nguyên - con người.  Trần Trận cho rằng, sói đã phòng ngừa bằng cách bít chặt không cho nước hoặc khói vào bên trong.  Chỗ thắt cổ chai, thực tế là công cụ phòng ngự, chặn con người lại.  Trần Trận không chịu bỏ cuộc.  Cậu dùng chòng tông mạnh chỗ thắt cổ chai để mở rộng cửa.  Nhưng con sói đã có lý khi chọn chỗ này làm công sự.  Trần Trận chỉ tông được mấy nhát là phải dừng vì gặp toàn đá tảng, chọc không vỡ.  Cậu hít thở khó khăn không còn hơi sức để đào, mà đủ còn sức cũng không dám, lỡ hang sập làm mồi cho sói.
Trần Trận buộc phải hít mạnh, dù rất hôi nhưng trong đó còn có ít nhiều oxy.  Cậu đâm nản vì không bắt được sói con.  Nhưng cậu cũng không chịu rút ngay, vẫn nấn ná mong nhìn thấy một con.  Dồn hết sức còn lại cho mục đích cuối cùng, cậu ló đầu và cánh tay phải vào bên trong.  Cảnh tượng dưới ánh đèn pin làm cậu nản hoàn toàn: Cái hang đi ngược lên và chẳng nhìn thấy gì nữa.  Chỗ trên ấy chắc dễ chịu cho cả sói mẹ lẫn sói con, khô ráo và thoát nước.  Trần Trận đã chuẩn bị  cho những tình huống phức tạp, nhưng thực dụng kiểu này khiến cậu kinh ngạc.
Trần Trận ghé tai nghe.  Trong hang không một tiếng động, có lẽ đàn sói con đã ngủ say.  Cũng có thể chúng đang nấp một chỗ theo bản năng, im thin thít khi có tiếng động lạ.  Nếu không quá mệt, Trần Trận rất muốn hát tặng bầy sói mấy câu đồng dao: Sói con ngoan nào, mở cửa ra, mở cửa ra!  Rất tiếc ông ngoại người Hán chưa tóm được cháu ngoại sói Mông Cổ!  Trần Trận khó thở tới mức mặt mày xây xẩm, cậu co chân giật mạnh.  Dương Khắc vừa sốt ruột vừa mừng kéo mạnh Trần Trận lên cửa hang.  Trần Trận mặt mũi phờ phạc, ngồi thở dốc, bảo Dương Khắc: Chẳng thấy gì hết, như hang quỉ, không biết đâu là tận cùng.  Dương Khắc thất vọng, trùm áo lên người Trần Trận không nói gì.
Nghĩ đã đỡ mệt, hai người liền sục sạo trong phạm vi hai trăm mét vuông, chỉ thấy một cái hang thông với hang chính, bèn bịt lại bằng đá tảng, những hòn đá tảng rất to, sói không thể đẩy ra, lại còn lấy đất trét kín các kẽ.  Trước khi ra về, Trần Trận vẫn chưa hết bực, cậu bổ một nhát cuốc chim lên miệng hang, nhắn sói mẹ: Hãy đợi đấy, ngày mai bọn tao còn đến.
Trời gần tối, Nhị Lang vẫn không thấy quay lại.  Con sói mẹ ranh ma quỉ quyệt, Nhị Lang chỉ dùng sức chưa chắc đã là địch thủ của nó.  Hai người lo thay cho Nhị Lang.  Trần Trận cùng con Vàng về gần tới nhà thì trời đã tối mịt, cậu bảo Dương Khắc mang dụng cụ về trước, bảo Cao Kiện Trung là không xảy ra chuyện gì, còn cậu thì phi một mạch đến lều ông già Pilich.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:23:32Ct.Ly>
Đánh máy: Canary
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
 
 
Chương 10

Biên niên sử (bản chép tay) của người Mông Cổ chép rằng:... Người Thaiuxiuthi bắt nguồn từ Saliho Linhcon, con trai Haido Khan thực tổ Thành Cát Tư Hãn - người dẫn chú).  Haido Khan có ba người con trai.  Con cả tên Baxanghonhi (Ngũ tổ Thành Cát Tư Hãn), một chi của tổ tiên Thành Cát Tư Hãn bắt đầu tự ông này.  Chi ấy đứng đầu là Saliho Linhcon.  Anh trai là Batanghonhi chết, Salitho Linhcon lấy chị dâu làm vợ, bà này là mẹ Đonnhinai Khan (Tư tổ Thành Cát Tư Hãn), sinh hai con trai, một người tên Jiando Xichna, người kia tên Uthosan Xichna.  Hai tên nêu trên có nghĩa là "sói đực" và "sói cái".. Những người thuộc chi này đều gọi là Xichnaxu (Xicha, tiếng Mông Cổ nghĩa là sói, "xu" chỉ số nhiều, tức "đàn sói".
(Ba Tư) Laxit "Sử tập. Quyển Một"



Ông già im lặng ngồi hút thuốc nghe Trần Trận kể.  Nghe xong, không khách sáo gì hết, ông xạc cho Trần Trận một mẻ: Đáng giận nhất là hai cậu học sinh người Hán này đánh thuốc nổ hang sói.  Ông không phải không biết uy lực và hiệu quả của thuốc nổ khi phá  hang.  Ông bóp mạnh cái tẩu, bộ ria rung rung vì giận.  Ông nói với cậu: Hỏng bét!  Rách chuyện rồi!  Mấy quả pháo của các cậu đuổi đàn sói đi rồi.  Các cậu làm vậy còn nguy hiểm hơn người Mông hun khói, con sói không kịp đào đất lấp hang.  Sói Mông Cổ sợ nhất mùi thuốc súng.  Nếu các cậu đánh thuốc nổ thì sói trong hang sẽ chạy hết ra cho các cậu bắt.  Bằng cách này thì chẳng bao lâu sói thảo nguyên sẽ không còn một con.  Đồng ý là phải diệt sói, nhưng không được diệt như thế.  Diệt kiểu ấy ông trời sẽ giận, thảo nguyên sẽ không còn.  Từ nay trở đi không được đánh bắt sói bằng thuốc nổ, không bao giờ được bày cho đám mã quan và những người khác dùng thuốc nổ.  Các cậu làm hư đám mã quan rồi...
Trần Trận không ngờ ông già giận đến như thế.  Qua lời ông già, cậu đã nhận ra hậu quả tai hại của chuyện đánh thuốc nổ.  Cách này mà phổ biến rộng rãi thì dù phòng ngự nghiêm ngặt đến mấy cũng không chặn được tiếng nổ và mùi thuốc súng.  Thảo nguyên không có tục đốt pháo trong ngày Tết, những thứ này do đám lưu dân và thanh niên trí thức đem đến.  Súng đạn trên thảo nguyên bị quản lý chặt chẽ, nhưng với bộc phá thì chưa kịp ngăn chặn, con đường từ nội địa lên cao nguyên không kiểm tra, rất dễ đem theo.  Nếu như pháo nổ đem lên thảo nguyên với khối lượng lớn cùng với bom cay, thuốc xịt chảy nước mắt thì là tai họa cho họ hàng nhà sói vố thống trị thảo nguyên hàng vạn năm nay, chúng sẽ bị tuyệt diệt.  Thuốc súng đối với thảo nguyên trong giai đoạn du mục nguyên thủy, có sức sát thương khủng khiếp.  Một dân tộc mà để cho tôtem bị hủy diệt thì dân tộc ấy cũng có khả năng bị tàn sát, hơn nữa, thảo nguyên mà dân tộc đó dựa vào để sinh tồn cũng tàn lụi theo.
Trần Trận có vẻ sợ.  Cậu lau mồ hôi trán: Bố đừng sợ, con xin hứa từ nay trở đi không dùng thuốc nổ phá hang sói, cũng xin hứa không bày cách này cho bất cứ ai.  Người thảo nguyên lấy chữ tin làm gốc, là một trong những huấn lệnh của các Khan để lại.  Giữ lời là vô cùng  quan trọng, các bộ lạc trên thảo nguyên đều giữ lời hứa.  Trong cuộc rượu, có khi vì một lời hứa mà mất con chó quý, mất con ngựa hay, mất con dao sắc, mất cây thòng lọng, thậm chí mất người yêu.
Nét mặt giãn ra, ông già nhìn Trần Trận nói: Tôi biết cậu diệt sói để bảo vệ cừu và ngựa, nhưng bảo vệ thảo nguyên còn quan trọng hơn.  Hiện nay các mã quan trẻ thi nhau diệt sói.  Người khu vực nông canh đến quản lý khu vực du mục cứ nhắm mắt làm bừa.  Bao nhiêu tội vạ đều đổ lên đầu người thảo nguyên.
Caxumai bê cho Trần Trận một bát xáo thịt cừu, còn đặc cách cho cậu một lon rau phỉ.  Chị quỳ bên bếp, múc cho bố chồng một bát xáo thịt rồi bảo Trần Trận: Bây giờ ít người nghe lời bố, muốn người khác không giết sói mà mình cứ giết thì mình nói ai nghe.
Ông già cười buồn tiếp lời con dâu: Cậu có tin lời ta nói không?
Trần Trận nói: Con tin.  Không có sói, thảo nguyên rất dễ bị phá hoại.  Có một nước ở mãi tận phương nam xa xôi là nước Úc, đồng cỏ thì rất rộng nhưng không có sói, cũng không có thỏ.  Sau có người nhập thỏ về nuôi, một số con chạy ra đồng cỏ.  Khôg có sói, nên thỏ sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều, đến nỗi đồng cỏ đầy những hang hốc, cỏ chăn nuôi bị thỏ ăn hết quả nửa, nông nghiệp bị tổn thất nặng nề.  Chính phủ Úc đã áp dụng tất cả các biện pháp nhưng đều vô hiệu.  Họ mua lưới thép về căng trên đồng, cỏ chui lên, nhưng thỏ thì không thể chui lên, bị kẹt dưới lưới.  Nhưng đất đai rộng lớn, lấy đâu ra lưới thép nhiều như thế, thành thử kế hoạch thất bại.  Con nghĩ, thảo nguyên Mông Cổ tươi tốt chắc rất nhiều thỏ, nhưng khi đến Ơlon lại thấy không nhiều, chắc đây là công của sói. Khi chăn cừu, con từng thấy sói bắt thỏ, hai sói bắt một, thỏ khó mà chạy thoát.
Ông già nghe say sưa, nét mặt dịu dần, miệng lẩm bẩm: Nước Úc, nước Úc!  Rồi bảo Trần Trận: Mai đem bản đồ lại đây cho tôi xem cái nước Úc đó.  Để xem còn ai đòi giết hết sói thì kể chuyện nước Úc cho họ nghe.  Thỏ phá hoại đồng cỏ mới khiếp, một con thỏ cái một năm đẻ mấy lứa, mỗi lứa đông hơn sói.  Mùa đông, rái cá cạn và chuột đồng ngủ vùi trong hang, chỉ thỏ là vẫn đi kiếm ăn.  Thỏ là thực phẩm mùa đông của sói.  Sói bắt thỏ thì đỡ bắt cừu, vậy mà không thể bắt hết thỏ.  Nếu không có sói thì cứ ba bước chân lại có một hang thỏ trên thảo nguyên.
Trần Trận nói: Mai con đem bản đồ đến, bản đồ thế giới rất to, bố tha hồ mà xem.
Bấy giờ thì cậu về nghỉ, vất vả cả ngày rồi còn gì - Thấy Trần Trận nấn ná chưa muốn về, ông hỏi - có phải cậu muốn hỏi làm thế nào để bắt được ổ sói con, phải không?
Trần Trận gật đầu, nói: Đây là lần đầu con đi đào bắt sói, bố cố giúp con thành công.
Ông già nói: Bày cho cậu thì được, nhưng phải hứa là từ nay không được bắt nhiều.
Vâng - Trần Trận hứa lần nữa.
Ông già cười mỉm: Cậu mà không hỏi ta thì đừng hòng bắt được ổ sói này.  Theo ta thì cậu nên tha cho con sói mẹ, đừng dồn nó đến bước đường cùng.
Trần Trận vội hỏi: Vậy con phải làm thế nào để bắt lũ sói con?
Ông già không cười nữa: Cái hang đầu tiên cậu đã đánh thuốc nổ, cái hang thứ hai có hơi người vì cậu đã chui vào, cửa hang đã bị lấp.  Vì vậy, chắc chắn đêm nay con sói sẽ dọn nhà.  Nó sẽ đào một cái hang mới, chuyển đàn con tới trạm trú, nó còn đào tiếp một cái hang nữa rồi một cái nữa, ở một nơi không ai tìm ra.
Trần Trận vô cùng hồi hộp, hỏi: Cái hang tạm ấy tìm có dễ không hở bố?
Ông già nói: Người không tìm ra, nhưng chó tìm ra.  Con Vàng, con Mực đều được.  Xem ra cậu quyết ra tay với con sói mẹ.
Trần Trận đề nghị: Hay là mai bố dẫn con đi.  Dương Khắc bảo, cậu ấy sợ mưu của sói lắm rồi.
Ông già cười: Ngày mai ta bận đặt bẫy.  Đêm qua một con sói lớn mắt bẫy của ta đặt hôm nọ.  Nhưng ta chưa đụng đến nó.  Đàn sói phía bắc đã đói, chúng sẽ trở lại đây.  Mai phải đem tất cả các bẫy đi đặt.  Chuyện ổ sói con thì sau khi đánh bắt đàn sói hãy bàn.
Trần Trận sốt ruột, mặt đỏ gay.  Ông già nhìn cậu, nói nhỏ: Đã vậy thì ngày mai hai anh em đi xem thử, hang sói mùi rất đậm, dắt chó đi vài tua là phát hiện ra.  Hang mới không sâu, nhưng nếu sói mẹ tha con đến một hang cũ thì rất gay vì khó đào.  Đào bắt sói cũng có may có rủi.  Nếu không đào được thì tôi đi.  Tôi mới dám cho Bayan chui vào hang.
Bayan tỏ vẻ thành thạo: Cái hang thắt cổ chai mà chú nói ấy, cháu chui vào được.  Phải thật nhanh, nếu không, bị  nghẹt thở.  Chú cho cháu đi với, cháu sẽ bắt cả ổ.
Trần Trận trở về lều, Dương Khắc vẫn đợi cậu.  Trần Trận nói lại những nhận xét của ông già, Dương Khắc vẫn không yên tâm.
Nửa đêm, Trần trận bị tiếng chó sủa dữ dội đánh thức.  Con Nhị Lang đã trở về, nó không bị đàn sói bao vây.  Trần Trận nghe tiếng chân chắc nịch bên ngoài, định trở dậy cho nó ít thịt vụn và băng bó vết thương cho nó, nhưng cậu buồn ngủ đến nổi không sao dậy được.  Bên ngoài con Nhị Lang sủa dóng một, còn Trần Trận ngủ say như chết.
Sáng ra, lúc Trần Trận ngủ dậy đã thấy Dương Khắc, Cao Kiện Trung và Đan Chi đang uống trà bên bếp, bàn cách bắt sói con.  Đan Chi là ngưu quan tổ 3, hai bốn hai lăm tuổi, già dặn, xốc vác, học hết cấp 2 thì nghỉ học đi chăn bò kiêm chức kế toán của tổ, và là thợ săn nổi tiếng toàn mục trường.  Bố cậu là dân Mông - nửa làm ruộng nửa chăn thả vùng Đông Bắc.  Sau khi thành lập mục trường, ông chuyển cả gia đình về đây sinh sống, là một trong những hộ ngụ cư ở Ơlon.  Phong tục tập quán của người Mông Đông Bắc và người Mông bản địa khác nhau khá xa, rất ít khi gả bán cho nhau.  Tộc Mông - nửa làm ruộng nửa chăn thả, nói tiếng Hán trôi chảy bằng giọng Đông Bắc.  Họ là người phiên dịch và thầy dạy tiếng Mông đầu tiên cho các học sinh Trung Quốc.  Ông Pilich hầu như không tiếp xúc với số người Mông này.  Đám thanh niên trí thức thì không muốn giữa họ có mâu thuẫn.  Dương Khắc mời Đanchi đến lều từ sáng sớm, khẳng định nỗi lo của cậu là lại sợ bị sói lừa hoặc gặp nguy hiểm, nên mời Đanchi làm cố vấn.  Đanchi là con người đã nói là làm, sự có mặt của cậu ta là một đảm bảo cho công việc tốt đẹp.
Trần Trận vội dậy mặc quần áo, chào Đanchi.  Cậu ta nhìn Trần Trận cười: Cậu dám chui vào hang bắt sói con?  Cẩn thận đấy, sói mẹ ngửi hơi cậu, cậu đi đâu nó theo đó.
Trần Trận giật mình, xỏ nhầm tay áo: Vậy ta phải diệt con sói mẹ, không thì mình chết mất.
Đanchi cười: Mình dọa cậu thế thôi.  Sói sợ người.  Nó có nhận ra cũng không dám làm gì cậu.  Sói ghê gớm đến thế thì mình tiêu từ lâu rồi.  Mình chui vào hang sói từ năm 13 tuổi, vậy mà đến giờ vẫn sống nhăn.
Trần Trận như trút được gánh nặng, hỏi: Cậu là lao động tiên tiến về diệt sói, đã hạ tất cả bao nhiêu con?
Không kể sói nhỏ, khoảng sáu bảy chục con sáo lớn, sói con thì bảy tám ổ.
Bảy tám ổ thì chí ít cũng năm sáu chục con.  Vậy là cậu đã diệt hơn một trăm hai mươi con.  Sói có trả thù cậu không?
Sao lại không?  Mười năm qua, sói đã cắn chết của nhà mình bảy con chó, cừu thì nhiều hơn, không nhớ cụ thể là bao nhiêu.
Cậu giết quá nhiều sói, nếu không còn sói thì người Mông khi chết làm thế nào?
Phong tục người Mông vùng Đoanmen chúng tôi như người Hán, khi chết không cho sói ăn thịt, mà cho vào quan tài đem chôn dưới đất.  Người Mông ở đây lạc hậu lắm.
Phong tục ở đây là cho sói ăn, còn ở Tây Tạng thì cho chim kền kền ăn.  Cậu bắn chết nhiều sói như thế, người dân ở đây có ghét cậu không?
Sói Ơlon nhiều vô kể, làm sao diệt hết?  Chính phủ kêu gọi diệt sói.  Diệt một con sói bảo đảm cho một trăm con cừu; diệt một ổ sói con, bảo đảm cho mười đàn cừu.  Mình diệt đã thấm gì.  Cong xã Bayincaoti có nhiều dân ngụ cư, nhiều dân Mông Đông Bắc, nhiều thợ săn nên sói rất ít.
Trần Trận hỏi: Chăn nuôi ở đấy thế nào?
Đanchi trả lời: Chẳng ra sao cả, thua xa ở đây.  Các bãi chăn ở đó không tốt, thỏ và chuột nhiều vô kể.
Trần Trận mặc vội áo ngoài, ra cửa ngó con Nhị Lang.  Nó đang chén một con cừu non đã lột da.  Về mùa xuân, cứ cách hai ba hôm lại có cừu non chết cóng hoặc ốm chết, là thức ăn mà chó rất thích.  Chó chăn cừu trên thảo nguyên chỉ ăn những con cừu đã lột da, không ăn cừu còn sống.  Nhưng Trần Trận phát hiện con Nhị Lang khi ăn con cừu chết, mắt vẫn nhìn đau đáu những con cừu sống trong chuồng.  Trần Trận cất tiếng gọi, nhưng con Nhị Lang vẫn không ngửng lên, chỉ mỗi cái đuôi là khẽ phe phẩy.  Còn con Vàng và con Ilua thì nhào tới chồm hai chân trước lên vai Trần Trận.  Dương Khắc đã băng bó cho con Nhị Lang, nhưng nó tỏ ra không thích, chỉ muốn gỡ bỏ băng để liếm vết thương.  Nhìn vẻ phấn kích của nó, Trần Trận tháy có thể cho nó đi theo.
Ăn sáng xong, Trần Trận đến nhà Quanbu nhờ anh ta chăn cừu hộ.  Cao Kiện Trung thấy Trần Trận và Dương Khắc đi đào bắt sói con, một công việc mà cậu rất mê, liền đi nhờ con trai Quanbu chăn giúp một ngày.  Ở thảo nguyên Ơlon rất vinh dự khi đào bắt được một ổ sói con.
Bốn người đi theo hàng dọc, đem theo đồ lề, vũ khí và hai con chó, nhắm núi Đen chạy tới.  Mùa xuân năm nay lạnh buốt, đến ầm ầm như băng vỡ, đi chậm chạp như nhả tơ.  Ba bốn ngày trôi qua mà cái nắng vẫn không chọc thủng nổi tầng mây, thảo nguyên u ám, khiến sắc mặt mục dân đen sạm, mất đi vẻ tươi tắn.  Những mầm cỏ dưới tuyết chuyển dần thành màu vàng như giá đậu ủ dưới chăn, hoàn toàn không có màu xanh lục điệp, ngay cừu cũng chê, không thích ăn.  Đanchi nhìn những đám mây tơi tả như giẻ rách, vui mừng ta mặt: Trời lạnh nhiều ngày nay sói không có gì cho vào bụng.  Đêm qua chó canh cừu sủa dữ dội, chắc là đàn sói đã về.
Bốn người lần theo những vết chân ngựa hôm qua, đi hơn hai tiếng đồng hồ tới một cái khe rậm rạp.  Cái mai vẫn cắm trên miệng hang đã bị lấp, nhưng chúng không đụng đến đất đá lấp cửa hang, hình như sói mẹ trông thấy cái mai, sợ quá bỏ chạy.  Hai con chó săn trông thấy cái hang liền quýnh lên, cắm đầu đánh hơi.  Con Nhị Lang lại càng hăng, mắt vằn những tia lửa phục thù.  Trần Trận giơ tay chỉ sườn núi gần đó, chụm miệng suỵt một tiếng, hai con chó lập tức chia hai hướng, vừa đánh hơi vừa lần theo vết chân sói.  Bốn người lại đi tới một lối ra khác, xung quanh miệng hang có rất nhiều dấu chân sói còn mới, đất đá lấp miệng hang vẫn không suy suyển.  Đanchi phân công từng người đi tìm các cửa hang xung quanh.  Cả bọn đi chưa được hai vòng, chợt nghe tiếng sủa ầm ĩ của con Nhị Lạng và con Vàng từ phía bắc vọng lại.  Trần Trận cầm lấy cây mai, cùng ba người kia chạy về sườn núi phía bắc.
Qua đỉnh dốc mọi người trông thấy hai con chó đang sủa như điên.  Con Nhị Lang vừa sủa vừa cào bới, con Vàng cũng chổng mông mà cào.  Đất vụn bắn tung toé.  Đanchi reo to: Thấy hang sói rồi!  Bốn người phấn khởi tới mức bất chấp đá sỏi dưới chân, thúc ngựa chạy một mạch tới chỗ hai con chó liền xuống ngựa.  Hai con chó không nhường chỗ cho chủ, vẫn tiếp tục cào bới.  Con Nhị Lang đã rúc mõm vào trong hang, quyết lôi bằng được con mồi ra.  Trần Trận bước tới ôm eo con Nhị Lang lôi nó ra, nhưng những gì trông thấy trước mặt khiến cậu hơi thất vọng: Trên mặt đất bằng phẳng, cái hang nhỏ xíu, chỉ rộng chừng ba mươi phân, so với những cái hang mà cậu đã từng trông thấy, thì cái này không thể gọi là hang.  Miệng hang lại không có gờ, chỉ một ít đất vung vãi trên tuyết đã bị hai con chó giẫm nát.
Cao Kiện Trung bĩu môi: Thế này mà là hang sói?  Hang thỏ thì có.  Không thỏ thì rái cá.
Đanchi từ tốn: Cậu xem này, đây là hang mới đào, chắc chắn sói mẹ tha con tới đây.
Trần Trận tỏ vẻ không tin: Dù mới đào nhưng hang sói đâu có nhỏ như thế này.  Sói mẹ chui vào bằng cách nào?
Đanchi nói: Đây là hang tạm.  Sói mẹ mình thon, chui vào được.  Nó giấu tạm ở đây, vài hôm nữa, khi đào xong hang lớn ở nơi khác, nó sẽ chuyển đi.
Dương Khắc giơ cao cây mai: Bất kể là sói hay thỏ cũng phải bắt bằng được, khỏi uổng công.  Các cậu tránh ra!
Đanchi vội ngăn: Để mình xem nó sâu bao nhiêu, có gì trong đó không đã.  Nói xong, cậu cầm ngược cán thòng lọng, luồn vào trong hang sâu khoảng một mét.  Chợt cậu mừng rỡ: Đụng rồi, có cái gì mềm mềm.  Cậu thử đi.  Trần Trận cầm cây thòng lòng luồn vào, quả nhiên đụng một vật đàn hồi.  Khoái quá, Trần Trận cười toe toét: Đúng là có con gì rồi, phải sói con thì hay quá.  Dương Khắc và Cao Kiện Trung cũng thử, đều khẳng định là bên trong có cái gì đó, nhưng chưa dám chắc là sói con.
Đanchi luồn cây thòng tới đáy hang, giữ nguyên chỗ tay cầm làm cữ, cậu rút cây thòng ra, chiếu theo lòng hang để xách định hướng rồi dùng mũi giày đánh dấu vị trí, nói: Đào chỗ này, cẩn thận kẻo làm chúng bị thương.
Trần Trận cầm lấy cây mai trong tay Dương Khắc, hỏi: Sâu bao nhiêu?
Đanchi nói: Khoảng hai thước.  Thân nhiệt của lũ sói con khiến đất mềm ra, nên đừng mạnh tay quá.
Trần Trận dùng lưỡi mai gạt tuyết trên mặt rồi dùng chân ấn lưỡi mai từ từ ăn sâu vào lòng đất.  Mặt đất đột nhiên bị sụt, hai con chó chồm tới sủa ầm ĩ.  Trần Trận đỏ bừng mặt, xúc động như đào thấy mộ Tây Hán.  Trong đám đất vụn là những con sói con lông xám, lông gáy màu đen.  Ba cậu thanh niên trí thức Bắc Kinh ngớ ra một lúc rồi mới reo ầm lên.  Trần Trận và Dương Khắc đừng như bụt mọc.  Công trình mà các cậu lao tâm khổ từ suốt mấy ngày đêm, cứ tưởng phải một trận ác chiến hoặc tốn công tốn sức một thời gian dài mới gặt hái, nào ngờ chỉ một  nhát mai đã kết thúc.  Hai người không dám tin những con vật bé tí trước mặt lại là sói, những con sói Mông Cổ xuất quỉ nhập thần, tinh thông binh pháp, xưng hùng xưng bá trên thảo nguyên mà lại bị đám thanh niên trí thức mò đến tóm tận ổ?  Dương Khắc nói: Mình cứ tưởng nằm mơ!  Không  nghĩ rằng ổ sói này lại rơi vào tay chúng ta!  Cao Kiện Trung cười diễu; Không ngờ mèo mù Bắc Kinh vớ cá rán Mông Cổ.
Trần Trận ngồi xổm nhặt những viên sỏi trên mình những con sói, cẩn thận đếm: Bảy con tất cả.  Mỗi con to bằng nắm tay, đầu đen nhánh, nằm cuộn tròn không động cựa nhưng mắt mở, con ngươi phủ một tấm màng màu xám trong suốt, mọng nước.  Con ngươi đã có màu đen.  Cậu bảo lũ sói con: Tao tìm chúng mày đã lâu, cuối cùng ta đã gặp nhau.
Đanchi nói: ổ này được khoảng hai mươi hôm, sắp mở mắt rồi.
Trần Trận hỏi: Chúng ngủ say hay sao, chẳng động cựa gì hết.
Đanchi nói: Bọn sói tinh ra từ bé.  Vừa rồi tiếng người tiếng chó đánh thức chúng dậy nên chúng đang giả vờ chết.  Không tin, cậu thử xách một con lên xem.
Lần đầu đụng tay vào con sói, Trần Trận hơi do dự.  Cậu không dám đụng vào mình nó, mà chỉ dùng ngón trỏ và ngón giữa cầm tai nó nhấc lên.  Nó vẫn không cử động, bốn chân thõng thượt như đã chết.  Con sói được đưa đến trước mắt mọi người.  Trần Trận đã nhiều lần nhìn thấy chó con, nay thấy sói con, cậu thấy chúng khác nhau khá xa.  Chó con lông bóng mượt, rất xinh.  Còn sói con thì không thế.  Sói là loài thú hoang dã, lông dày màu xám, nhưng giữa đám lông mềm mại đâm ra tua tủa những chiếc lông dài và cứng, còn lông đầu thì đen như phết hắc ín.  Mắt chưa mở nhưng răng đã mọc, hàm răng trắng nhởn trông phát khiếp.  Sói con hôi rình, không dễ thương như chó con.  Tuy vậy trong con mắt Trần Trận, sói con là con vật cao quý nhất, hiếm gặp nhất, đẹp đẽ nhất trên thảo nguyên.
Trần Trận vẫn xách tai con sói con.  Nó vẫn giả vờ chết, không chống trả, không kêu rên.  Vậy mà khi sờ vào ngực, tim nó nhảy thình thịch, không nghĩ là tim đập nhanh đến thế.  Đanchi bảo: Cậu thử đặt nó xuống đất mà xem.  Trần Trận vừa đặt xuống, con sói liền cựa quậy, trườn rất nhanh về phía không có người và chó, nhanh như đồ chơi bằng dây cót.  Con Vàng chỉ ba bước đã đuổi kịp, định cắn thì bị cả ba người quát nạt.  Trần Trận vội nhặt con sói cho vào túi xách.  Con Vàng nhìn Trần Trận tỏ vẻ bất mãn, nó chỉ muốn cắn chết tươi mấy con sói cho hả giận.  Trần Trận nhận thấy con Nhị Lang đứng ngẩn nhìn mấy con sói, đuôi khẽ vẫy.
Trần Trận mở miệng túi vải bạt, ba thanh niên trí thức Bắc Kinh vui như trẻ nhỏ ra ngoại thành bắt được ổ trứng chim, tranh nhau xách tai từng con sói con bỏ vào trong túi.  Trần Trận buộc chặt miệng túi, đeo bên hông ngựa, chuẩn bị ra về.  Đanchi nhìn bốn phía, nói: Chắc sói mẹ quanh quẩn đâu đây, ta nên đi vòng xa một tí, nếu không, nó theo ta về tận nhà.  Nghe nói vậy, ba người chợt nhận ra mối nguy, mới hiểu trong túi xách không phải trứng chim mà là những con sói mà mỗi khi nhắt đến, người Hán nào cũng tái mặt.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:25:09Ct.Ly>
Đánh máy: Canary
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
 
Chương 11

Anh trai chết, Saxwhailinhhu lấy chị dâu sinh hai con trai, một người tên Càndo Xichna, một người tên Uydochinh Xichna, tiếng Mông Cổ "xichna" là sói.  Sử tập còn giải thích cặn kẻ là sói đực và sói cái.
Xíchnaxu chỉ số nhiều, tức đàn sói.
Hàn Nho Lâm "Thành Cát Tư Hãn thập tam dực khảo"



Ba người vội vàng lên ngựa theo Đanchi nhằm hướng tây xuyên qua bãi sậy, rồi rẽ hướng nam, vòng qua bãi đất phèn - toàn những nơi ít để lại dấu chân ngựa.  Trên đường về, ba cậu thanh niên Bắc Kinh không những không cảm thấy vui, mà còn thấp thỏm như những tên trộm vặt, chỉ sợ chủ nhà đuổi theo.
Nhưng khi nhớ lại con sói mẹ cướp đi con cừu non thì Trần Trận lại thấy đỡ dằn vặt, cậu đã trả thù cho con cừu non vô tội.  Diệt được một ổ sói con là bảo vệ được một đàn cừu.  Nếu như các cậu không bắt được ổ sói này, thì đàn cừu chắc chắn gặp đại họa.  Đào bắt sói con là biện pháp hữu hiệu trong cuộc chiến một mất một còn giữa người và sói trên thảo nguyên Mông Cổ.  Bắt một ổ sói con tương đương tiêu diệt một đàn sói nhỏ.  Đào bắt bảy con sói con tuy vất vả, nhưng không khó bằng diệt bảy con sói lớn.  Biện pháp này đã thực thi từ lâu, vậy vì sao vẫn không giảm được tai họa do sói gây ra?  Trần Trận bèn hỏi Đanchi.  Đanchi nói: Sói rất khôn khi chọn thời điểm đẻ con.  Cách đây hàng vạn năm, sói và chó nhà là một, nhưng thực tế sói khôn hơn chó nhà.  Chó nhà sau Tết khoảng nửa tháng thì đẻ.  Nhưng sói lại chọn lập xuân, là lúc tuyết vừa tan, cừu vừa đẻ.
Chăm sóc cừu đẻ là thời gian bận bịu nhất, vất vả mệt nhọc nhất trong năm.  Một đàn xẻ thành hai dàn, toàn bộ sức lực đầu tư vào đấy.  Mệt đến nỗi cơm không buồn ăn, nói gì đến đi đào bắt sói con.  Công việc chăm sóc cừu non bắt đầu rảnh, thì khi ấy sói đã lớn, không ở trong hang nữa.  Ngày thường sói không ở hang, khi đẻ mới ở.  Sói con khoảng một tháng thì mở mắt, một tháng nữa là lăng xăng theo mẹ. Khi ấy mới đi đào, thì chỉ còn hang không.  Nếu sói đẻ vào mùa hè, mùa thu hoặc mùa đông thì chắc chúng tuyệt diệt từ lâu, vì khi ấy con người nhàn rỗi.  Sói chọn mùa xuân còn một cái lợi nữa: Bắt cừu non về cho con tập vồ mồi và ăn thịt.  Thịt cừu non là món ăn khoái khẩu của sói con.  Chỉ cần có cừu non là sói mẹ không sợ thiếu sữa, đẻ một lứa mười mấy con cũng sống tất.
Dương Khắc ngồi trên yên chép miệng than: Sói ơi là sói, tao phục mày sát đất.  Quả có thế thật, chăm cừu đẻ rất mệt.  Đựng cừu non vào tải, mỗi tải bốn năm con, mỗi ngày một người vận chuyển mươi mấy chuyến, mệt đứt hơi.  Nếu đây không phải là lần đầu thì mình hơi đâu mà đi với các cậu.  Từ nay mình không đi nữa.  Còn bây giờ thì phải ngủ cho lại sức.
Dương Khắc ngáp dài.  Trần Trận cũng cảm thấy buồn ngủ ríu mắt, nhưng cậu vẫn bám sát đề tài, hỏi Đanchi: Người dân bản địa theo Lạt Ma giáo, mỗi gia đình đều có người đi làm Lạt Ma.  Lạt Ma làm việc thiện, không sát sinh, giết sói con sẽ tổn thọ.  Mình không theo Lạt Ma, không sợ tổn thọ.  Người Mông Đông Bắc chúng mình khi chết không hiến cho sói, nên mình không sợ hết sói.  Người Mông Đông Bắc khi đã biết làm ruộng thì tín ngưỡng như người Hán, địa táng.
Đoàn người rời cái hang mỗi lúc một xa, nhưng Trần Trận vẫn cảm thấy như có làn gió lạnh từ cõi u linh bám sau lưng, khiến cậu tâm thần bất định, lo sợ vẩn vơ.  Lớn lên ở thành phố, chưa từng có quan hệ với loài sói, vậy mà giờ đây cậu quyết định số phận của bảy con sói Mông Cổ.  Con sói mẹ quả tinh khôn, đàn sói này chắc là hậu duệ của sói chúa, chí ít cũng là sói Mông Cổ thuần chủng.  Nếu như cậu không mê sói, thì những con sói này sẽ thoát nạn, sẽ sống khoẻ, trở thành những dũng sĩ trên thảo nguyên khốc liệt.  Vậy mà sự có mặt của cậu đã làm thay đổi tận gốc số phận những con sói con.  Và bằng hành động này, cậu gắn kết với sói, đồng thời trở thành kẻ thù của sói thảo nguyên.  Họ hàng nhà sói Ơlon dưới sự chỉ huy của con sói cái thông minh đêm đêm truy kích cậu, uy hiếp linh hồn cậu.  Trần Trận nhận ra cậu đã phạm sai lầm.
Về đến nhà, đã quá trưa.  Trần Trận treo túi đựng sói lên vách lều.
Bốn người ngồi quanh bếp uống trà, ăn thịt nướng, vừa ăn vừa bàn cách xử lý lũ sói con.  Đanchi nói: Xử lý như thế nào thì không cần bàn, ăn xong mình sẽ cho các cậu xem, khoảng hai phút là xong.
Trần Trận biết sẽ gặp một vấn đề hóc búa: Nuôi sói.  Khi trong đầu nảy ra ý này, Trần Trận đoán có thể bị tất cả mục dân, cán bộ và thanh niên trí thức phản đối.  Bất kể từ góc độ nào, chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, hoặc từ phương diện sản xuất và an toàn, nuôi sói đều bị hiểu là có dụng ý xấu, đáng phỉ nhổ.  Thời kỳ cách mạng văn hóa, một nhân viên vườn thú nhốt chung con hổ mất mẹ với con chó cái cho sữa, lập tức trở thành vấn đề chính trị nghiêm trọng, bị coi là tuyên truyền hco thuyết điều  hòa giai cấp, anh nhân viên đó bị đấu lên đấu xuống.  Vậy thì nuôi một con sói bên cạnh đàn cừu, đàn chó, hóa ra không phân biệt địch ta, coi thù là bạn đó sao!  Sói thảo nguyên là kẻ thù, đồng thời là thần linh, là tôtem của dân du mục, là con tàu chở linh hồn họ lên trời.  Mà đã là thần linh, là tôtem, thì chỉ có thể thờ phụng, không được nuôi trong nhà như nô lệ để sai khiến.  Nuôi sói, nuôi hổ như nuôi ong tay áo, tai họa xảy ra không biết lúc nào.  Lại còn chuyện này nữa: Ông già Pilich còn nhận cậu làm con nuôi nữa không?
Nhưng Trần Trận không hề có ý coi thường thần linh, coi thường tình cảm tôn giáo của dân tộc Mông Cổ.  Trái lại, cậu coi trọng tôtem sói của người Mông, một đề tài sâu sắc huyền ảo.  Vì vậy ước nguyện nuôi sói của cậu càng bức xúc.
Hành tung của sói xuất quỷ nhập thần, nếu như cậu không có một con sói bằng xương bằng thịt, sờ mó được, thì nhậtn thức của cậu về sói chỉ dừng lại trong những chuyện dân gian hoặc ở trình độ phổ thông như những người khác, thậm chí rơi vào thiên kiến của người Hán: Căm ghét sói.  Kể từ năm 1967 lớp thanh niên trí thức đầu tiên rời Bắc Kinh, và rất đông những người từ dưới xuôi cùng với bao nhiêu là súng đạn ồ ạt đưa lên thảo nguyên Mông Cổ, sói Mông Cổ đang giảm dần, có lẽ chỉ ít năm nữa, khó mà bắt gặp một ổ bảy tám con, muốn xin mục dân một con về nuôi lại càng khó, muốn nuôi thì đi mà bắt về.  Vậy thì cậu cứ nuôi một con, nhưng phải tìm lý do để tình cảm mục dân, nhất là tình cảm của những người già không bị tổn thương.
Trước ngày đi bắt sói con, cậu suy nghĩ mãi mới kiếm được một lý do có vẻ hợp lý: Nuôi sói để thực nghiệm khoa học: sẽ cho chó sói phối giống với chó bécgie.  Chó bécgie rất nổi tiếng trên thảo nguyên Ơlon.  Bộ đội biên phòng có bảy tám con bécgie cao to lừng lửng, chạy cực nhanh.  Chó bécgie mà săn cáo thì mười con không sai một.  Có lần đồn trưởng biên phòng dẫn hai chiến sĩ cùng hai con bécgie về Ơlon kiểm tra công tác dân quân.  Dọc đường, hai con bécgie săn được bốn con cáo to tướng khiến mọi người trố  mắt.  Mục dân muốn xin một con bécgie để nuôi, nhưng thời bấy giờ chó bécgie được coi là loại vật tư quý hiếm, quan hệ quân dân có tốt đến mấy cũng không có mà cho.  Trần Trận nghĩ, bécgie chẳng qua là con lai giữa bố sói với mẹ chó nhà.  Nếu như nuôi một con sói đực rồi cho nó giao phối với chó nhà, chắc chắn sẽ đẻ ra bécgie.  Nói rằng sẽ tặng những con bécgie đó cho mục dân, vậy là có lý do nuôi sói.  Với lại, sói Mông Cổ là loại sói tốt nhất thế giới, nếu như thí nghiệm thành công, sẽ lai tạo ra những con bécgie tốt hơn cả becgie Đức, bécgie Liê Xô.  Hơn thế nữa, biết đầu từ đó mở ra một nghề mới: sản xuất chó giống.
Trần Trận đặt bát xuống, bảo Đanchi: Cậu xử lý sáu con, để lại con đực khoẻ mạnh nhất cho mình nuôi.
Đanchi ngẩn người, nhìn Trần Trận không chớp có đến mười giây đồng hồ, hỏi: Cậu định nuôi sói?
Trần Trận nói: Ừ lớn lên cho nó phối giống với chó nhà, chắc chắn sẽ đẻ ra béc giê như chó biên phòng.  Chó béc giê thì ai mà chẳng thích.
Đanchi chớp mắt, trong một thoáng ánh mắt cậu loé lên như con thú trông thấy con mồi.  Cậu ta thở gấp: Ý tưởng này quả không tồi!  Biết đâu lại thành công.  Mình có béc giê thì săn cáo, săn sói ngon lành hơn nhiều.  Ta còn có thể xuất chó giống nữa chứ, tha hồ mà phát tài.
Trần Trận nói: Mình sợ đội không cho nuôi.
Đanchi nói: Nuôi sói là để trị sói, bảo vệ tài sản tập thể.  Người nào phản đối, ta sẽ không cho chó giống.
Dương Khắc cười, nói: Thế ra cậu cũng định nuôi?
Đanchi tỏ ra kiên quyết: Các cậu nuôi thì mình cũng nuôi một con.
Trần Trận nắm tay nọ đập vào lòng bàn tay kia đánh bốp một tiếng: Tốt rồi, hai nhà cùng nuôi, càng chắc thắng.
Trần Trận cso vẻ đăm chiêu: Còn một chuyện mình chưa rõ.  Tức là sói đực có chịu giao phố với chó cái không?
Đanchi nói: Chuyện ấy khỏi lo.  Mình đã có cách.  Năm kia mình đem về một con chó cái định cho giao phố với chó đực nhà mình.  Nhà mình có mười con chó thì tám con là đực, tốt xấu lẫn lộn.  Nếu để tự do, lỡ phối với con đức xấu thì hỏng bét.  Thế là mình đào một cái giếng sâu hai tầm với, rộng bằng căn lều Mông Cổ, rồi thả con cái và một con đực đã chọn lọc xuống cùng với một con cừu đã lột da.  Sau đó, cứ vài ngày mình lại tiếp tế thức ăn thức uống.  Hai mươi ngày sau, mình cho hai con lên, thấy con cái đã có chửa, sắp lập xuân đẻ một lứa tám con.  Mình quật chết bốn con cái, để lại nuôi bốn con đực.  Hiện giờ nhà mình có hơn chục con chó, nhưng bốn con kia là tốt nhất: nhanh nhẹn, khoẻ mạnh, hung dữ.  Chúng săn được quá nửa số sói và cáo săn được trong cả năm.  Nếu ta áp dụng biện pháp này, chắc chắn sẽ có béc giê con.  Nhớ là phải cho sói con và chó con sống với nhau từ bé.
Trần Trận và Dương Khắc tán thành.
Bao tải khẽ động, lũ sói con chen chúc trong đó đã bị mỏi hoặc đói.  Chúng không giả vờ chết nữa, bắt đầu cựa quậy, định chui ra ngoài.  Chỉ riêng chuyện này đã khiến Trần Trận phục sát đất.  Nhưng hễ nghĩ tới năm con trong đó sẽ bị quật chết, cậu lại thấy trong lòng nặng nề.  Cậu nhớ tấm panmo bên cổng vườn thú Bắc Kinh, nếu đưa được năm con sói này về đấy thì hay biết mấy.  Chúng thuần giống Mông Cổ.  Lúc này, cậu càng thấy lòng tham vô đáy và thói chuộng hư vinh của con người thật đáng sợ.  Cậu đi đào hang sói là để bắt sói về nuôi.  Mà nuôi thì chỉ cần bắt một con sói đực về là xong, cho dù chọn lấy con đầu đàn to đẹp nhất cũng không có gì quá  quắt.  Vậy thì vì lý do gì cậu ôm cả đàn sói về?  Đúng là không nên cho Đanchi và Cao Kiện Trung đi cùng.  Nhưng nếu không có hai người này, phải chăng cậu cũng chỉ bắt một con?  Chắc là không.  Bắt cả đàn đồng nghĩa với thắng lợi của lòng dũng cảm, của lợi ích vật chất, là vinh dự cùng với sự ngưỡng mộ của mọi người.  Đặt những thứ ây lên bàn cân, thì những con sói chỉ là hạt cát!
Trần Trận thấy bụng đau quặn vì thương lũ sói.  Cậu thích chúng đã hai năm nay, thích đến mê mẩn.  Cậu muốn giữ lại tất cả nhưng chắc là không được.  Phải tốn nhiều thức ăn mới nuôi được cả đàn. Cậu chợt nghĩ, hay là đem năm con về trả cho sói mẹ.  Sẽ không ai đi cùng cậu, trừ Dương Khắc.  Đi một mình thì cậu không dám, bốn tiếng đồng hồ cả đi lẫn về, người ngựa đều không chịu nỗi.  Chắc là con sói mẹ đang kêu gào bên miệng hang.  Giờ mà một mình đến đó, chết là cái chắc.
Trần Trận xách cái túi đựng sói, bước ra ngoài, nói: Để mấy hôm hãy xử lý, mình muốn quan sát chúng kỹ một chút.  Đanchi hỏi: Cậu lấy gì nuôi chúng?  Trời lạnh thế này, chỉ một ngày không ăn là chúng chết hết.  Trần Trận nói: Mình vắt sửa bò cho chúng uống.  Cao Kiện Trung sa sầm mặt.  Không được!  Sữa bò là để cho người.  Sói ăn thịt bò, giờ lại lấy sữa bò nuôi sói, trên đời làm gì có cái lý ấy!  Mà làm thế, đội sẽ không cho mình chăn bò nữa.
Dương Khắc tính chuyện được cả chì lẫn chài, nói: Phải cho Đanchi xử lý thồi.  Caxumai đang lo cuống lên vì chưa hoàn thành chỉ tiêu.  Nếu ta nộp năm bộ da sói con thì có thể nuôi vụng được hai con.  Nếu không nộp con nào thì nuôi vụng một con cũng không xuôi.  Để Đanchi hạ thủ mới nhanh, mình không hạ thủ được, cậu cũng chịu.  Đã mấy khi mời được Đanchi tham gia.
Trần Trận ứa nước mắt, thờ dài.  Cậu chẳng còn cách nào khác, đành quay vào trong lều bê ra chiếc thùng gỗ đựng phân bò khô.  Cậu dốc hết phân trong thùng rồi trút ổ sói trong bao tải vào thùng.  Lũ sói bò lổm ngổm ra các phía, nhưng khi đụng cạnh thùng, chúng liền nằm im giả vờ chết.  Những sinh mệnh bé bỏng gắng chống chọi lần cuối với may rủi.  Chúng run như giẽ, những sợi lông dài rung bần bật như có dòng điện chạy qua.  Đanchi lấy ngón tay lẩy từng con sói như người ta đếm thỏ, bảo Trần Trận: Bốn đực, ba cái.  Con khoẻ nhất phần cậu.  Con này thì cho mình.  Nói xong, Đanchi bỏ năm con còn lại vào bao tải rồi xách ra chỗ đất trống trước lều, lôi một con ra nhìn bụng và bảo: Cho con cái này lên chầu trời trước tiên.  Nói xong, cậu đưa tay về phía sau, nhún thấp chân phải rồi tung con sói lên cao - y như xử lý đối với chó con thiếu sữa - hồn lên trời, thân xác thì xuống đất.  Trước đây, Trần Trận và Dương Khắc nghe nói có nghi thức này, nhưng chính mắt trông thấy thì đây là lần đầu.  Hai người mặt như chàm đổ, sắc mặt như bãi tuyết bẩn dưới chân lều.
Con sói trước đó vẫn giả vờ chết.  Nhưng khi bị ném lên cao, theo bản năng, nó biết là đi đâu, liền quẫy đạp lung tung mong sói bố hoặc sói mẹ đến cứu.  Trần Trận như nhìn thấy màng mắt con sói nứt ra vì sợ, để lộ cặp mắt đỏ ngầu.  Nó mở mắt sớm trong không trung, nhưng không nhìn thấy  trời xanh, vì trời bị mây đen che kín, và mắt nó thì nước mắt pha máu che phủ.  Nó há hốc miệng rơi theo đường cầu vồng xuống mắt tuyết rắn.
Con sói rơi đánh bộp xuống đất như một quả dừa non, cái thân bé bỏng không kịp giẫy giụa đã bất động, máu rỉ ra từ tai, mũi, mắt, miệng, đỏ nhờ như pha sữa.  Trái tim Trần Trận chạy từ ngực lên họng rồi lại từ họng xuống ngực, đau đến nỗi mất hết cảm giác.  Ba con chó lập tức xông tới nhưng bị Đanchi quát lui.  Cậu sợ lũ chó xé rách bộ da quý hiếm.  Điều bất ngờ là con Nhị Lang hộc lên một tiếng vọt lên trước chặn con Vàng và con Ilua, không cho cắn con sói.  Nó thích con sói, nó không nhiễm thói xấu hành hạ kẻ đã chết, đúng phong độ của bậc đại tướng.
Đanchi lại lôi một con ra.  Con này hình như đã đánh hơi thấy mùi chết chóc, nên không giả vờ chết mà cựa rất dữ, những cái móng bé tí cào trắng mu bàn tay cậu.  Đanchi định ném lên nhưng cậu bất chợt dừng lại, bảo Trần Trận: Lại đây, cậu cũng phải tập dần cho quen.  Giết một co để can đảm lên.  Trên thảo nguyên, người chăn cừu nào cũng phải giết sói.
Trần Trận lùi lại, bảo: Cậu làm nốt đi!
Đanchi cười, bảo: Dân Hán nhát như thỏ, ghét sói là thế mà một con sói nhép cũng không dám giết, vậy ra mặt trận thì đánh đấm gì!  Chẳng trách các vị xây vạn lý trường thành!  Hãy xem đây!  Lời chưa dứt, con sói đã bị tung lên, chưa rớt xuống đất, con khác đã bị tung tiếp.  Đanchi càng tung càng hào hứng, luôn miệng la: Lên trên đó đi, lên đó mà hưởng phúc!
Trần Trận không sao bình tĩnh được, tim cậu như bị nén chặt.  Cậu cảm nhận sự khác nhau rõ rệt về mặt tâm lý giữa dân tộc nông canh và dân tộc du mục, sự thích ứng với sắt thép và máu lửa giữa dân tộc cầm đao sát sinh và dân tộc cầm liềm hái.  Người Hán sao không giữ lại một quần thể du mục mang nét văn hóa Hán trong nội bộ dân tộc Hán?  Trong phạm vi quốc thổ, nếu như có thảo nguyên thích hợp với du mục, hoàn toàn có thể bồi dưỡng nên một kiểu Ca Dắc của dân tộc Hoa Hạ.  Nói cho cùng, để bảo vệ biên cương, việc xây thành đắp lũy, xây đồn lập ấp, không bằng sử dụng dân du mục.  Dân du mục trong hoàn cảnh khốc liệt, càng tỏ ra kiên cường dũng cảm.
Năm con sói đáng thương đã lên trời, năm cái xác đẫm máu đã rơi xuống đất.  Trần Trận nhặt tất cả bỏ vào sọt rồi ngửa mặt nhìn trời hồi lâu, cầu trời thu nhận linh hồn chúng.
Đanchi hình như rất thỏa mãn.  Cậu lau tay vào ủng, nói: Hiếm có dịp một ngày giết năm sói.  Con người không lợi hại bằng sói.  Một con sói dữ một lần hạ sát một hai trăm con cừu.  Mình giết có năm con mùi mẽ gì.  Muộn rồi, mình về đây.  Nói xong, cậu đem con sói của cậu đi.  Trần Trận bảo: Cậu lột da giúp bọn mình.  Đanchi nói: Được, đã thương thì thương cho trót, một loáng là xong!
Nhị Lang nằm phục bên cạnh cái sọt, nhìn Đanchi gầm gừ, Trần Trận vội ôm cổ giữ nó lại.  Đanchi lột da sói như người ta lột da cừu, vừa lột vừa nói: Sói con da mỏng mịn, cực tốt, có bốn mươi tấm là đủ may một áo chẽn, nghìn vàng cũng không có mà mua.  Lát sau, cậu đã lột da cả năm con.
Đanchi bốc tuyết rửa tay.  Cậu vào trong lều lấy xẻng ra, nói: Các cậu để mình làm hộ việc này nữa.  Chó nhà không bao giờ ăn thịt sói, nên phải chôn năm con này.  Mà phải chôn thật sâu, để sói mẹ đánh hơi thấy thì đàn cừu của ta rắc rối ngay lập tức.  Cả bọn ra chỗ cách lều vài chục mét, đào một hố tròn sâu khoảng một mét, bỏ năm con sói con xuống lấy đầy, nện kỹ, rồi rắc lên ít bột DDT để cho mất hẳn mùi.  Trần Trận hỏi: Có cần làm cho con sói một cái ổ?  Đanchi nói: Đào cho nó một cái hang.  Trần Trận và Dương Khắc đào một cái hang sâu sáu mươi phân, rộng chừng một mét, bỏ xuống vài mảnh da cừu rách, một ít đất bùn khô, rồi thả con sói đực xuống.
Con sói vừa chạm đất đã khác hẳn, linh hoạt hẳn lên.  Nó hít hít ngửi ngửi, bò quanh hố mấy vòng, tưởng như đã trở về hang cũ.  Nó yên trí nằm cuộn tròn nhưng mũi vẫn đánh hơi xem các em nó có đấy không.  Trần Trận định lấy lại con sói của Đanchi cho con sói của cậu có bạn.  Nhưng Đanchi bỏ luôn con sói vào túi, lên ngựa phóng như bay. Cao Kiện Trung cũng nhìn con sói bằng cặp mắt dửng dưng, rồi lên ngựa trở về chuồng bò.

                                0O0

Trần Trận và Dương Khắc ngồi bên hố nhìn con sói mà tâm trạng rối bời.  Trần Trận nói: Mình quả thực không biết nuôi nó bằng gì bây giờ!  Rồi sẽ rất phiền đây.  Dương Khắc nói: Chúng mình nuôi sói, chuyện hay thì chưa thấy, chuyện dở thì đồn đại gần xa.  Hiện cả nước đang triển khai chiến dịch "chưa diệt hết sói, quyết chưa rời chiến trường", còn chúng mình thì nuôi sói, coi sói là bạn.  Trần Trận nói: Nơi này khỉ ho cò gáy, không ai biết đâu.  Mình chỉ sợ bố Pilich không cho nuôi thôi.
Dương Khắc nói: Bò mẹ đã về chuồng, để mình đi vắt ít sữa, con sói chắc đói lắm rồi.  Trần Trận xua tay: Không nên, phải cho nó ăn sữa chó, sữa của con Ilua ấy.  Chó có thể cho hổ con bú sữa.  Trần Trận cầm con sói lên, ôm trước ngực.  Một ngày không ăn, con sói bụng lép kẹp, có vẻ yếu hơn khi mới đem về.  Trần Trận ủ con sói trong bọc, truyền hơi ấm cho nó. 
Trời chạng vạng tối.  Đã đến giờ Ilua cho con bú.  Trần Trận và Dương Khắc đi về phía ổ chó con.  Cái ổ dưới đống tuyết lớn đã tan ra nước dưới nắng, giờ phải chuyển về đống phân bò khô trước lều.  Người ta đào một cái hốc nhỏ, dưới đáy trải những miếng da cừu rách, miệng hố đậy bằng tấm da ngựa chưa thuộc.  Đây chính là nhà của con Ilua và đan con của nó.
Dương Khắc cho con Ilua ăn cháo thịt.  Ăn xong, con Ilua dùng mõm gạt tấm da ngựa chui vào ổ rồi thận trọng nằm dài ra.  Ba con chó con lập tức tìm thấy đầu vú, mút chùn chụt.
Trần Trận nhẹ nhàng đi tới bên con Ilua, cúi xuống dùng tay xoa đầu để che khuất tầm nhìn của nó.  Ilua được cưng, sung sướng liếm tay chủ.  Dương Khắc gạt một con cún ra, rồi một tay vắt, tay kia khum lại để hứng sữa.  Hứng được lưng bàn tay, Trần Trận lén lôi con sói ra khỏi bọc để Dương Khắc bôi sữa lên đầu lên lưng và bốn chân nó.  Đây là biện pháp hữu hiệu để con Ilua cho sói con nhập đàn.  Cừu mẹ nhận nuôi cừu mồ côi cũng bằng cách này.  Nhưng chó thông minh hơn cừu, khứu giác cũng nhạy hơn cừu.  Giá như các con nó bị chết hết, hoặc bị người ta bắt đi hết, có lẽ nó nhận nuôi con sói.  Nhưng hiện giờ nó có ba đứa con, chắc chắn nó không nhận con sói làm con nuôi.  Con sói vừa nhập đàn, Ilua lập tức phản ứng.  Nó ra sức ngẩng lên để nhìn đàn con, nhưng Trần Trận và Dương Khắc cứ vít đầu nó xuống, vừa dỗ dành vừa nạt nộ, không cho nó ngẩng lên.
Con sói con vừa rét vừa đói được đặt giữa đàn chó.  Ngửi thấy mùi sữa, bộ dạng vờ vịt lập tức biến mất, nó giương nanh múa vuốt, thái độ cực kỳ hung hãn như loài sói ngửi thấy mùi máu.  Con sói sinh sau những con chó nửa tháng, nhỏ hơn một chẹt tay, ngắn hơn một cái đầu, nhưng về sức khoẻ thì nó hơn hẳn, kỹ năng giành vú cũng không con chó con nào theo kịp.  Chó mẹ có hai dãy vú lớn nhỏ không đều, tất nhiên lượng sữa cũng không đều.  Điều khiến Trần Trận và Dương Khắc ngạc nhiên là sói con không ti vội, mà nó thử một lượt các núm vú, gạt bắn những con chó con sang một bên, ổ chó nhốn nháo như bị đánh cướp.  Cuối cùng nó dừng lại ở bầu vú bự nhất ở khoảng giữa bụng con chó mẹ, ti một bầu, chân chụp một bầu bên cạnh cũng to như bầu đang ti.  Nó không chế đàn chó, không chi xẻ bầu vú bất cứ con nào.
Trần Trận và Dương Khắc ngạc nhiên thật sự. Dương Khắc nói: Thú tính của sói khiếp thật!  Chưa mở mắt mà đã thực hành bá đạo.  Chả trách con này lớn nhất đàn, nó không coi sáu con kia là anh em trong nhà.
Trần Trận tuy rất thích nhưng có điều khiến cậu suy nghĩ.  Cậu thấy cần quan sát kỹ vì quả có nhiều điều đáng suy ngẫm.  Cậu bảo Dương Khắc: Cậu xem, ổ chó này là hình ảnh thu nhỏ lịch sử thế giới.  Mình vừa nhớ lại câu nói của cụ Lỗ Tấn "người phương Tây nhiều thú tính hơn, còn người Trung Quốc gia súc tính nhiều hơn".
Trần Trận chỉ con sói, nói: Thú tính đây - Lại chỉ lũ chó con - gia súc tính đây.  Người phương Tây ngày nay phần lớn là hậu duệ của giống người Nhật Nhĩ Man, người Ăng Giô Xắc Xông man rợ.  Khi nền văn minh cổ Hi Lạp và cổ La Mã phát triển khoảng hai nghìn năm, họ từ trong rừng rậm xông ra ăn thịt cổ La Mã.  Đồ dùng để ăn của họ toàn là dao với dĩa, thức ăn toàn là bít tết, phó mát và bơ.  Do đó người phương Tây thú tính đậm hơn, man rợ hơn những dân tộc nông canh.  Hơn trăm năm nay, người Trung Quốc gia súc tính bị người phương Tây thú tính khinh rẻ.  Chả trách hàng ngàn năm dân tộc Hoa Hạ đông đảo là thế mà cứ bị các dân tộc du mục nhỏ bé đánh cho khốn đốn.
Trần Trận xoa đầu con sói, nói: Tính cách không những quyết định số phận mỗi con người, mà còn quyết định số phận của cả dân tộc.  Các dân tộc nông canh mang đậm tính gia súc, chính nhược điểm đó quyết định số phận của họ.  Bốn nền văn minh lớn trên thế giới đều là những nước nông canh.  Ba nền văn mình đã bị xoá sổ từ lâu.  Nền văn minh Hoa Hạ sở dĩ không bị tiêu diệt là nhờ cư trú trên lưu vực hai con sông lớn - Hoàng Hà và Trường Giang - dân số đông nhất thế giới nên các nền văn minh khác không dễ ăn sống nuốt tươi.  Ngoài ra, có lẽ còn do công sức to lớn của dân du mục đóng góp cho văn mình Hoa Hạ... Về mối quan hệ này mình nghĩ chưa chín.  Lên thảo nguyên đã hơn hai năm, mình ngày càng thấy chỗ này có vấn đề...
Dương Khắc gật đầu, nói: Thì ra ngoài việc nuôi để nghiên cứu về sói, còn có thể nghiên cứu về nhân tính, thú tính, sói tính, gia súc tính.  Thành phố và nông thôn không có những điều kiện này, nhiều lắm cũng chỉ nghiên cứu quan hệ giữa người và gia súc...
Trần Trận nói: Nhưng nếu không có sự so sánh giữa nhân tính, gia súc tính với sói tính, thú tình, thì chẳng thấy được điều gì.
Dương Khắc cười: Đúng thế, xem ra ngày đầu tiên nuôi sói đã cho thu hoạch.  Vậy là quyết định nuôi nhé.
Lũ chó con nhốn nháo, cất tiếng rên rỉ vì bị con sói con xua đuổi khiến con Ilua càng nghi tợn.  Nó định vùng dậy để xem phía sau xảy ra chuyện gì.  Trần Trận sợ Ilua cắn chết con sói con nên ghim đầu nó xuống, vừa vỗ về vừa gọi tên nó, để sói con có thì giờ bú no.  Con Ilua ngoảnh lại, lập tức phát hiện trong ổ thừa một con.  Nó hồi hộp ngửi hít từng con, nhưng có lẽ trên người sói con có hơi sữa của nó, nên con Ilua lưỡng lự.  Nó dùng mũi đủn con sói con ra chỗ sáng hơn để xem cho rõ.
Trần Trận vội ấn con Ilua nằm xuống.  Cậu phải làm cho nó hiểu ý cậu, để chấp nhận một thực tế.  Rên lên ư ử, hình như nó biết con thừa ra đó chính là con sói chủ nó bắt từ trên núi về, nó phải nuôi kẻ thù không đội trời chung này.  Chó thảo nguyên khác chó dưới xuôi.  Chó dưới xuôi tầm nhìn hạn hẹp, chưa hề nhìn thấy sói và hổ, nên giao cho nuôi hổ con, chó cứ thế mà cho bú.  Còn thảo nguyên là chiến trường quyết liệt giữa sói và chó, chó cái không bao giờ coi thù là bạn.  Ilua mấy bận định vùng dậy không cho con sói bú tí, nhưng đều bị Trần trận giữ chặt.  Nó rên rỉ, phẫn uất, vô cùng khó chịu nhưng không dám phật ý ông chủ, đành nằm im.
Trên thảo nguyên, con người nắm quyền sinh sát đối với chó.  Con người dùng bạo lực và miếng ăn để thuần hóa chó hoang thành gia súc.  Những con chó chống lại chru đều bị đuổi ra khỏi nhà, bị chết đói, chết rét hoặc bị sói ăn thịt, hoặc bị chủ giết chết.  Từ lâu, chó đã mất ý thức độc lập của thú tính, mang nặng tính gai súc, lệ thuộc hoàn toàn vào con người.  Trần Trận buồn thay cho Ilua.  Trong xã hội loài người, nếu như thế lực chuyên chế trấn áp quá mạnh, thời gian trấn áp lại quá lâu, con người sẽ mất dần thú tính trong nhân tính, dễ bảo như gia súc, hoàn toàn mất khả năng chống đối, cúi đầu chịu làm bề tôi cho kẻ khác, hoặc bị tiêu diệt, trở thành dichir khảo cổ, nền văn mình xán lạn một thời của họ chỉ còn thấy trong bảo tàng.
Ổ chó trở lại yên tĩnh.  Ilua do Trần Trận và Dương Khắc trực tiếp nuôi, chăm sóc chu đáo từ khi nó mang thai, đẻ con và cho con bú.  Nó rất tốt sữa.  Sau khi người ta lấy đi mấy con, sữa con Ilu càng thưa, giờ thêm sói con chẳng có gì đáng kể.  Ba con chó con tuy bị con sói gạt ra, phải ti những vú nhỏ hơn, nhưng vẫn no.  Chúng bắt đầu trèo lên lưng lên cổ mẹ, căn đuôi cắn tai nhau.  Riêng con sói con vẫn ti như điên.  Trần Trận nghĩ, một ổ bảy con mà con nào cũng ngổ ngáo như những tên cướp, nếu không giành được vú, chắc chắn chết đói.  Con này dù lớn nhất nhưng chưa chắc đã được bú no.  Giờ đây, tại ổ chó này, con sói mới có đất dụng võ.  Nó vừa bú vừa rên lên khoan khoái, ra sức ti, bất kể sức chứa được bao nhiêu.
Trần Trận nhìn con sói, cảm thấy có gì không ổn.  Nó đã phình ra bằng con chó con.  Cậu sờ bụng nó mà giật mình: Mỏng như tờ giấy.  Cậu sợ nó vỡ bụng, vội túm gáy nhấc nó ra.  Nhưng con sói con vẫn ngậm chặt, núm vú bị kéo dài đến tai tấc khiến Ilua đau quá kêu thành tiếng.  Dương Khắc vội lấy tay bóp miệng cho con sói há miệng ra.  Cậu thở ra một hơi: Mục dân nói bụng sói là bụng cao su, giờ thì mình tin.  Trần Trận không giấu được niềm vui: Cậu xem nó háu ăn như thế, chắc là lớn rất nhanh.  Nó không khó nuôi, chỉ cần ăn uống no đủ.
Quan sát con sói vừa rời ổ, tận mắt trông thấy khả năng cạnh tranh và tính cách ngoan cường của nó, Trần Trận đã có phần hiểu được tính cách của họ hàng nhà sói.
Trời đã tối.  Trần Trận đem con sói vào hang của nó, đồng thời thả một con chó cái vào để chúng quen hơi bén tiếng trước khi mở mắt, cho chúng làm bạn với nhau.  Hai con ngửi lẫn nhau, cùng một mùi sữa nên không cảm thấy khác biệt, gối đầu lên nhau mà ngủ.  Con Nhị Lang đứng bên từ đầu đến cuối quan sát động tác của chủ.  Nó vẫy đuôi - lần này vẫy mạnh hơn - tỏ y hoan hô chủ đã nuôi con sói.  Để bảo vệ con sói, Trần Trận bê chiếc thớt gỗ đậy lên miệng hang, còn chèn lên trên một tảng đá rất nặng.
Anh chàng Quanbu hiền lành lùa cừu về chuồng, nghe tin cánh Trần Trận bắt được sói con liền cầm đèn pin chạy tới xem rõ thực hư.  Khi trông thấy những tấm da sói con phơi trên nóc lều, cậu ngạc nhiên đến sững sờ: Xưa nay chưa có người Hán nào ở Ơlon bắt được sói con, chưa có ai!  Giờ thì không tin cũng phải tin.
Ba người đang ăn mì thịt cừu bên cái bếp lò làm bằng thùng sắt tây, chợt nghe tiếng chó sủa và tiếng chân ngựa dồn dập bên ngoài.  Trương Kế Nguyên vén rèm, đẩy cánh cửa gỗ, một tay nắm hai dây cương, hai con ngựa đang sốt ruột gõ móng xuống đất.  Cậu ngồi xuống cửa lều, nói vọng vào: Ban quản lý cho hay, đàn sói trên đường biên đã chia nhau kéo về đây.  Lệnh cho ba đại đội sản xuất của mục trường tập trjng ở ba địa điểm đã ấn định để vây bắt.  Đại đội ta phụ trách đoạn tây bắc, ban quản lý sẽ điều một số tay súng chi viện, do ông Pilich chỉ huy.  Đại  đội thông báo: một giờ sáng mai tập kết ở lều ông Pilich.  Ban quản lý yêu cầu các hộ gia đình trừ người già và trẻ con ở lại chăn cừu và bò, tất cả những người khác đều tham gia bủa vây.  Các mã quan phải chuẩn bị đủ ngựa cho những người không có ngựa.  Chúng ta phải đi vòng, mai phục tại một địa điểm.  Các cậu tranh thủ ngủ đôi chút.  Tôi đi đây.  Nhớ đừng ngủ quên.
Trương Kế Nguyên sập cửa, nhảy lên ngựa phóng đi.
Cao Kiện Trung đặt bát cơm, nhăn nhó: Hết sói nhỏ đến sói lớn, chúng mình mệt chết thôi.  Dương Khắc nói: Cứ đà này ở thêm vài năm, đảm bảo chúng mình biến hết thành sói.
Ba người phân công chuẩn bị cho cuộc vây ráp.  Cao Kiện Trung chạy ra bãi cỏa dắt ngựa của ba người về kho chứa cỏ, quẳng cho mỗi con một ôm cỏ tươi.  Dương Khắc bốc trong sọt một ít xương, một ít thịt cừu cho lũ chó.  Sau đó, cậu kiểm tra kỹ dây thắng, yên cương, thòng lọng, lại cùng Trần Trận kiếm đaua ra hai chiếc đai cổ bằng da cho hai con chó.  Hai cậu đã từng tham gia vài cuộc vây nhỏ nên hiểu rằng không được coi thường đai cổ chó và dây thừng.  Trần Trận đeo cho Nhị Lang chiếc đai da, rồi như luồn chỉ trôn kim, cậu luồn đầu sợi thừng qua vòng đồng trên đai, so hai đầu thừng cho bằng rồi chập làm một nắm chặt.  Dắt Nhị lang đi vài bước, cậu trỏ về phía chuồng cừu "xuỳ" một tiếng, đồng thời buông một đầu sợi thừng, con Nhị Lang vọt lên, sợi thừng tụt khỏi vòng đồng, một đầu vẫn trong tay Trần Trận.  Loại xích chó này khi cần, có thể khống chế hoàn toàn, không cho con chó tự do hành động ảnh hưởng bố trí toàn cục; khi chó tấn công, không bị vướng dây thừng, ảnh hưởng đến tốc độ.
Dương Khắc cũng đeo đai cổ cho con Vàng, luồn thừng và diễn tập một lượt.  Hai con chó chấp hành tốt mệnh lệnh của chủ, còn chủ thì thao tác đúng cách, không để chó vướng thừng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-05 21:47:11huytran>
Tomato đã đánh xong
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:07:10Ct.Ly>

Tôtem sói - Khương Nhung
Đánh máy: Ct.Ly

 
 
Chương 13
 

Tiết Độ sứ  Lô Long Lưu Nhân Cung thừa biết Khiết Đan  không thực lòng. thường đem quân sĩ vào tận Trai tinh linh tập kích vào cuối thu, Khiết Đan rất sợ. Mỗi khi sương xuống. Nhân Cung sai quân đốt sạch cỏ khô, ngựa Khiết Đan chết nhiều vì đói.
Tư Mã Quang. "Tự trị  thông giám. ĐườngChiêu Tôn Thánh Mục Cảnh Văn Hiếu Hoàng Đế hạ chỉ thượng"
Mông Cổ tập quán pháp: "Kẻ nào khai khẩn đất mà dùng lửa đốt đồng cỏ thì bị giết cả nhà."
(Tổng) Bành Đại Nhã "Hắc đạt sự lộ".


Bao Thuận Quý và Ulichi sau khi dẫn các cán bộ mục thường thị sát một vòng bãi săn, liền đến bên ông Pilich. Bao Thuận Quý xuống ngựa, vui vẻ bảo công già: Thắng lớn! Thắng lớn! Lập công lớn rồi! Tôi phải báo công cho ông với cấp trên! Nói rồi ông ta chìa cả hai tay về phía ông già. Ông Pilich chìa hai ban tay đầy máu sói: Bẩn quá, xin ông cho qua! Bao Thuận Quý vẫn túm chặt tay ông già, nói: Dây chút máu sói, cũng là được lây cái phúc của ông, cái vinh quang của ông!
Ông Pilich mặt sa sầm, nói: Đừng báo công báo kiếc làm gì, công càng to tội càng lớn. Từ nay không được diệt sói kiểu này nữa. Cứ đà này thì khi sói không còn, dê vàng, hoàng thử, thỏ, rái cá cạn sẻ nổi loạn, thảo nguyên biến mất, ông trời sẻ nổi giận, bò, cừu, ngựa và cả chúng ta sẻ đi tong. Ông già giơ hai bàn tay đầy máu nhìn trời, nét mặt kinh hoảng.
Bao Thuận Quý cười gượng, quay lại nhìn Nhị Lang máu me đầy đầu, vẻ cảm khoái: Chẳng phải con chó hoang đây sao? Bộ dạng đến khiếp! Đứng trên dỉnh dốc, tôi đã thấy nó rất giỏi đánh hội đồng, đúng là một viên mãnh tướng. Nó là con đầu tiên xông vào đàn sói, cắn chết con đầu đàn, khiến đàn sói nhụt nhuệ khí. Nó cắn chết bao nhiêu sói cả thảy? Trần Trân trả lời: Bốn con. Bao Thuận Quý luôn miệng khen: Giỏi thật! Giỏi thật! Người ta nói với tôi, các cậu có nuôi một con chó hoang thường cắn chết cừu, rằng các cậu đã phá vỡ quy củ của thảo nguyên, bảo tôi nên bắn chết con chó đó. Tôi nói vậy thôi, các cậu cứ nuôi, và nuôi cho tốt. Sau này nếu còn cắn cừu thì cũng miễn cho tội chết. Có điều, da cừu là phải sung công, còn thịt thì cho bán lấy tiền Trần Trận va Dươg Khắc vâng dạ cho qua.
Trần Trận nói: Trận nay, thanh niên trí thức chúng cháu chẳng bắt được con sói nào, thanh niên trí thức không bằng chó, không bằng con Nhị Lang. Mọi người cười ầm, đám thanh niên trí thức cũng cười.
Ulichi vừa cười vừa nói: Cậu ăn nói chẳng còn ra vẻ người Hán. Ông Pilich cũng rấtt vui, nói: Anh chàng này quan tâm mọi chuyện trên thảo nguyên, rồi sẽ trở thành một tay cự phách cho mà xem. Ulichi hỏi: Nghe nói các cậu bắt một ổ sói con phải không? Dương Khắc thật thà trả lời: Vâng, hôm qua, bảy con tất cả. Không có ông Pilich chỉ vẽ, chúng cháu làm sao bắt nổi? Bao Thuận Quý nói: Bảy sói con, đến mùa thu thì là một đàn, không đơn giản! Vài hôm nữa, các cậu nộp da cho tôi. Tôi trả giá cao nhất, còn thêm cho các cậu ít đạn. Nói rồi, ông ta nhặt hai bộ da sói dưới đất lên, nói: Tôi đã xem khắp lượt, chỉ hai bộ này lông đẹp nhất, nên tôi cũng đặt hàng với các cậu, cũng trả giá cao nhất. Thủ trưởng cũ của tôi xưa kia nằm sương gối tuyết, bị chứng thấp khớp, vẫn muốn có cái quần bằng da sói, tôi phải tặng ông ấy một chiếc. Trần Trận nói: Cháu còn phải hong khô mấy ngày nữa, va cũng còn phải thanh minh cho con chó hoang. Bao Thuận Quý cười gượng: Năm ngày nữa tôi sẽ đến lấy da.
Bãi săn đây đó toàn là máu và những xác sói trần trụi, chỉ còn dính một it da ở cẳng chân. Bao Thuận Quý bảo các thợ săn tập trung tất cả xác soi lại. Chỉ lát sau, hơn ba mươi cái xác soi đã được chất đóng cao gần bằng đầu người, xếp chồng lên nhau kiểu cũi lợn. Bao Thuận Quý chĩa máy ảnh chụp một lèo bốn năm kiểu từ những góc độ khác nhau. Sau đó, ông ta bảo hơn ba chục thợ săn có thành tích diệt sói xếp thành hai hàng ngang, tay giơ cao những tấm da sói đuôi gần như quét đất. Hàng trên cũng là những  con chó săn sói máu me thương tích đầy mình, ngồi xổm mà thở. Bao Thuận Quý bao Trần Trận bấm máy, ông ta đứng giữa hàng, tay giơ cao bộ da sói to và dài nhất, cao hơn tất cả mọi người. Còn ông già Pilich thì kẹp một bộ da ở nách, đầu hơi cúi, cười đau khổ. Trần Trận chụp liền hai kiểu.
Bao Thuận Quý tiến lên sáu bảy bước, quay lại nói với đám thợ săn; Tôi thay mặt Ủy ban cách mạng Kỳ (huyện) và lãnh đạo quân sự phản khu, cảm ơn mọi người! Các bạn đều là dũng sĩ diệt sói, vài hôm nữa sẽ có ảnh đăng báo. Tôi muốn mọi người biết nạn sói ở Olôn nguy hại như thế nào, một trận vây mà đã diệt bấy nhiêu con! Chúng phần lớn từ Ngoại Mông tới. Chính chúng đã tàn sát đàn ngựa chiến. Tôi cũng cần tuyên bố vớii thiên hạ, rằng cán bộ và mục dân Ơlôn, và cả thanh niên trí thức nữa, không một ai chịu cúi đầu trước tai họa do sói gây ra. Vì có quyết tâm và tổ chức tốt, đã giáng trả bầy sói nhữmg đòn đích đáng Cuộc chiến với sói mới bắt đầu, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, bầy sói Ơlôn sẻ bị tiêu diệt!
Cuối cùng, Bao Thuận Quý hô to: "Chưa diệt hết sói chưa rời trận địa"
Những người trong gia đình Đanchi và vài thanh niên trí thức vỗ tay lẹt đẹt. Bao Thuận Quý ra lệnh giải tán, nghỉ ngơi tại chỗ đợi Batu.
Bao Thuận Quý ngồi xếp bằng trên mặt đất, bảo Ulichi: Giờ đây công tác biên phòng cực kỳ khẩn trương, cấp trên giục ta tranh thủ thời gian huấn luyện quan sự. Không ngờ cuộc săn này biến trận giả thành trận thật ngon lành. Ulichi noi: Người Mông - Cổ - thảo - nguyên đều là lính chiến bẩm sinh. Nếu xảy ra chiến tranh, chỉ cần phát súng là họ có thể ra ngay mặt trận. Hôm nay đồng chí được cả chì lẫn chài, vừa diệt được sói, vừa luyện được quân. Hãy viết hai bản báo cáo tổng kết, chắc chắn cấp trên sẽ rất thích.
Đám thanh niên trí thức tập trung tại lều Trần Trận va Dương Khắc để xem bộ da sói. Người nào cũng sờ một cái tỏ vẽ hâm mộ. Vương Quan Lập nói: Nếu không có con chó hoang của các cậu, đám thanh niên trí thức xấu hổ chết vì chỉ là chân điếu đóm cho kỵ binh Mông Cổ. Trần Trận nói: Xưa nay, sức mạnh và dũng khí người Hán không bằng người Mông Cổ, chi bằng ta học họ. Nếu như được đi theo họ để học tập trên thực địa thì còn gì bằng. Vương Quân Lập không chịu, nói: Dân du mục tuy nhiều lần xâm phạm trung nguyên, hai lần thống trị toàn Trung Quốc, nhưng cuối cùng đã bị văn hóa Hán chinh phục. Dân thảo nguyên dũng mãnh thật đấy, nhưng chẳng qua chỉ là  đám vũ phu, chỉ biết giương cung bắn ó diều!
Trần Trận phản đối: Chưa hẳn, cậu đừng khinh võ trọng văn. Triều đại nào cũng vậy, không có võ công, làm sao có văn trị? Không có võ công thì văn hóa dù rực rỡ cũng thành phế tịch. Văn trị của Hán, Dường được xây dựng trên sức mạnh. Trong lịch sử thế giới, rất nhiều nước lớn văn minh đã bị nước nhỏ lạc hậu tiêu diệt, biến mất toàn bộ, từ ngôn ngữ văn tự đến chủng tộc. Cậu nói văn hóa Hán đã chinh phục các dân tộc lạc hậu trên thảo nguyên. Nói vậy cũng chưa đúng hẳn. Dân tộc Mông Cổ đã kiên trì gìn giữ ngôn ngữ văn tự, tín ngưỡng thần linh, tập tục dân tộc, đến nay vẫn bảo vệ vững chắc thảo nguyên. Nếu như Mông Cỏ tiếp thu văn hóa nông canh của Hán tộc, biến thảo nguyên thành đồng ruộng, rất có thể văn minh Hoa Hạ Trung nguyên đã bị cát vàng vùi lấp Khơrutxốp đã dùng văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp Nga La Tư chinh phục văn minh du mục Cadactan, kết quả ra sao? Biến một thảo nguyên vào loại đẹp nhất thế giới thành sa mạc...
Nữ thanh niên Tôn Văn Quyên thấy Các bạn nam thích gây gổ sắp sửa có cuộc khẩu chiến, vội gạt đi: Thôi nào, ngày nào cũng chăn thả mỗi người một nơi, xa nhau mấy chục dặm, đã mấy khi gặp mặt. Vậy mà gặp nhau là cà khịa. Các bạn hình như đã biến thành sói thảo nguyên rồi. Có thôi hay không thì bảo!
Nhị  Lang thấy có nhiều người sờ mó bộ da sói, tỏ vẻ khó chịu. Nó chậm rãi đi tới. Văn Quyền cho rằng chó của thanh niên không bao giờ cắn thanh niên, nên lấy ra hai miếng đậu phụ thưởng cho Nhị Lang. Cô gọi: Nhị Lang! Nhị Lang giỏi lắm!...
Nhị Lang lặng im, đuôi không vẫy, giương cặp mắt dữ dằn đi tới chỗ mọi người. Văn Quyên sợ, lùi lại liền mấy bước. Trần Trận quát: Quay lại! Nhưng đã muộn, con Nhị Lang hộc lên một tiếng nhảy xổ vào đám thanh nien, khiến Văn Quyên ngã ngồi xuống đát. Dương Khắc giận quá, mắng: Đồ khốn! Rồi nhặt cây gậy lên định dánh, nhưng con Nhị Lang vươn cổ ra, có ý bảo, đánh thì đánh chết không bỏ chạy. Con chó này đã cắn chết bốn con sói, Dương Khắc đụng vào thú tính của nó nên không dám đánh, đành bỏ cây gậy xuống.
Vương Quân Lập giận tím mặt: Từ nay ai còn dám đến căn lều của các cậu? Nếu không vì có công diệt sói, mình dứt khoát lột da, ăn thịt nó. Trần Trận vội vàng xin lỗi: Con chó này hơi dữ, tính sói còn nhiều nên chưa hiểu người. Các cậu đến chơi luôn nó sẽ quen.
Phần lớn thanh niên trí thức đã ra về. Trần Trận vỗ đầu con Nhị Lang, bảo: Thấy chưa, mày làm mất lòng các bạn tao rồi! Dương Khắc giằn giọng nói khẽ: Nuôi con chó dữ mà mọi người đã sợ chết khiếp, nếu như... neu như sói con lớn lên, còn ai dám đến lều chúng mình? Trần Trận nói: Không đến thì thôi, con vật co khi tốt hơn một số người. Chúng mình đánh bạn với sói với chó vậy.
Trương Kế Nguyên bước tới xoa đầu con Nhị Lang, nói: Con người phải có đôi chút sói tính mới ổn. Mình không tròng được con sói ấy, không phải do kỹ thuật, mà vì mình nhát, run tay.
Nhị Lang đi mấy bước về phía đống xác sói trắng nhởn, mắt đờ đẫn. Mấy chục con chó gộc đứng xa, tỏ vẻ nể sợ con Nhị Lang, chỉ mỗi con Balưa đàng hoàng bước tới trước mặt con Nhị Lang cũng đàng hoàng chào hỏi bằng càch đụng mũi. Con Nhị Lang sau khi đượcc lãnh đạo mục trường tuyên dương thì cũng được đàn chó của đại đội Hai chấp thuận nhập đàn, nhưng Trần Trận nhận ra vẽ chán chưòng trong đôi mắt nó. Cậu ôm cổ con Nhị Lang, không biết nên an ủi nó như thế nào.
                                    * * *
Ông Pilich bị Bao Thuận Quý mời vào tận vòng vây trong cùng có rất nhiều thợ săn, dùng phân khô ngựa và cừu giải thích chiến thuật bao vây. Mọi người nghe chăm chú. Bao Thuận Quý vừa nghe vừa hỏi, thỉnh thoảng lại khen. Ông ta bảo: Trận này của ông đáng được đưa vào sách giáo khoa quân sự, tinh vi hơn cái cách đàn sói diệt đàn ngựa. Ông bảo đúng là nhà quân sự thực thụ. Trận này giả dụ điều rnột trung đòan trưởng về chỉ huy, chưa chắc đã đánh thắng. Trần Trận nói xen vào: Ông mà ở vào thời Thành Cát Tư Hãn  thì dứt khoát là đại tướng, chẳng thua kém Hoamuli, Zhibiêt và Xuputhai chút nào...
Ông già luống cuống khoát tay, nói: Đừng so sánh như thế, nói về tôi như thế Trời sẽ giận. Các vị ấy đều là bậc thánh của người Mông Cổ, đã đánh là đánh bại bảy tám nước, vài chục thành trì, vài chục vạn quân đội. Không có các vị ấy, thảo nguyên Mông Cổ đã bị người ta khai khẩn thành ruộng từ đời nào, một lão nô như tôi đâu dám so với các vị ấy
Gần trưa Batu vẫn không trở lại. Đại đội nhân mã chuẩn bị trở về. Lúc này, một ngựa lưu tinh phi tới như gió. Tới gần, mã quan Puxich thở hổn hển nói với Ulichi và Bao Thuận Quý: Batu mời các ông sang bên kia. Sáng nay các vị mới vây được rnột nửa đàn sói, một nửa nữa đã chạy vè bãi lau chân núi mạn tây bắc từ khi trời chưa sáng. Ông già Pilich trợn mắt: Có lẻ không nhiều đến thế? Puxich nói: Cháu va Batu đã chui vào bãi sậy, trên tuyết toàn là dấu chân sói, mới nguyên. Batu bảo chí ít hai mươi con. Con sói trắng già hình như có trong đàn, chính là con đã giết đàn ngựa. Batu bảo phải tóm cổ nó bằng được!
Ulichi bảo Bao Thuận Quý: Người ngựa không có gì vào bụng dã một đêm và nửa ngày rồi, chó cũng bị thương không ít. Bãi sậy ấy tôi biết, lớn lắm, mấy nghìn mẫu, ta không vây nổi dâu, bỏ thôi.
Bao Thuận Quý nhìn ông Pilich, vẻ ngờ vực: Những người ngụ cư và đám thanh niên trí thức nói rằng ông luôn bênh lũ sói Có phải ông định nương tay với chúng? Với số người và chó đem theo, có thể bủa vây 20 con sói, vậy được, bọn tôi sẽ xử lý hết.
Ulichi vội nói: Ông nói vậy chưa đúng lắm. Lũ sói vây được sáng nay vừa xoẳn so với vòng vây, ví như người ta làm bánh nhân thịt ấy, nhân vừa phải thì còn được, nhân nhiều quá vỏ bánh bị vỡ.
Bao Thuận Quý bảo ông Pilich: Tôi cho rằng ông cố ý cho thoát bấy nhiêu con.
Ông Pilich trừng mắt: Vây bắt sói không như các ông khoắng miền trong bắt. Trời thì tối, khoảng cách giữa người ngựa rộng như thế, làm gì chẳng có một số con chạy thoát. Nếu để ông chỉ huy, e rằng không tóm nổi một con!
Bao Thuận Quý đỏ mặt, rồi chuyền sang tím tái. Ông ta đập roi ngựa vào lòng bàn tay, gầm lên: Người ngựa chó tuy không đủ, nhưng súng vẫn chưa dùng đến. Bất kể ra sao, đã phát hiện ra lũ sói đang trong bãi sậy là tôi không bỏ qua. Tôi đích thân chỉ huy cuộc vây này.
Bao Thuận Quý cưỡi ngựa lên cho cao, bảo mọi người: Các đồng chí, bãi lau phía tây bắc phát hiện đàn sói. Trong chúng ta co nhiều người chưa được bộ da nào, đúng không? Nhất là các thanh niên trí thức, các cậu vẫn trách lãnh đạo không cho lên tuyến đầu, đúng không? Lần này cho các cậu lên tuyến đầu! Chúng ta phát huy tinh thần chiến đấu, không sợ mệt mỏi, liên tục tác chiến, kiên quyết tiêu diệt đàn sói này!
Trong đám người, có máy thanh niên trí thức và thợ săn cũng muốn thử vận may.
Bao Thuận Quý hô to: Giờ tôi công bố kế hoạch của tôi. Kế hoạch này các anh không mất tí công sức nào. Toàn đội bao vây bãi lau rồi đánh bằng hảa công, đốt lửa đuổi sói chạy ra rồi hạ thủ bằng súng. Mọi người đừng sợ lãng phí đạn.
Mục dân và thợ săn nghe nói đánh hỏa công thì sững người. Đốt đồng là chuyện tối kỵ trên thảo nguyên, thợ săn chỉ được đốt lửa nhỏ, chưa bao giờ dám đôt trên diện rộng. Mọi người bàn tán sôi nổi.
Ông Pilich nói: Đốt đồng cỏ là phạm vào điều cấm kỵ hun đen khuôn mặt của trời, vậy trời có còn cho con người bộ mặt đẹp nữa không? Nhuộm đen nước sông, vậy sông có còn tích nước cho người và gia súc uống nữa không? Saman va Lạtma đều không cho phép đốt lửa trên thảo nguyên. Xưa kia, người nào đốt thảo nguyên, Khan Mông Cổ giết cả nhà người ấy. Nhà nước bây giờ cũng cấm đốt đồng cỏ.
Caxưmai giận đỏ mặt: Lửa là đại họa trên thảo nguyên. Lúc thường trẻ con nghịch lửa còn bị đánh sưng đít. Hay nhỉ, lần này thì lửa rợp trời. Từ nay trẻ con nghịch lửa tức là chúng bắt chước đại biểu Bao, ông chịu trách nhiệm chứ?
Lanmutrăc tức bạnh cổ gầm lên: Ngày xưa quan quân nhà Hán sử dụng một chiêu độc là đốt đồng cỏ. Giờ đây người Hán không dám đốt, vậy thì vì sao người Mông Cổ lại đốt đồng cỏ của mình? Ông Bao, ông có còn là người Mông Cổ hay không?
Tang Kiệt nói: Hiện giờ mặt đất có tuyết, chưa phải mùa phòng hỏa. Nhưng đã đốt một lần thì sau này khó mà ngăn ngừa. Với lại, đốt thì lông sói bị sém, bán không được tiền.
Saxưleng nói: Dùng lửa đốt sói, chiêu này tốn kém quá. sói chết hết thì gặp năm đại dịch gia súc chết dầy đồng, không con sói lấy ai xử lý? Đồng cỏ đầy uế khi, dịch tể xảy ra, người cũng không sống nổi. Sói chết hết rồi, chuột, thỏ đồng đào hang dùn cát lên như trên sa mạc Gôbi!
Trương Kế Nguyên nói: Ba mã quan chúng cháu đi cả, bỏ lại đàn ngựa một ngày một đêm rồi. Giờ mà khoông về thì bọn sói ná làm loạn. Phải cho đàn ngựa về ngay, xảy ra chuyện gì thì chết.
Lanmuttrăc giương cặp mắt tròn xoe như mắt  sói, gào toáng lên: Ông thích thì cứ việc! Tôi là tôi không đi! Tôi phải cho ngựa về chuồng. Vài mã quan vội vã quay đầu ngựa: Về thôi! Về thôi! Bao Tlhuận Quý quất một roi trên không, quát: Các cậu bỏ việc là tôi cách chức mã quan! Cách chức luôn những kẻ giật dây!
Ông Pilich liếc Ulichi, khoát tay tỏ vẻ bất lực: Đừng có làm ồn. Tôi cầm đầu cuộc vây bắt hôm nay, chuyện này để tôi giải quyết. Mỗi đàn ngựa một mã quan, về ngay lập tức. Những người còn lại đi cùng đại biểu Bao. Quyết định như vậy đấy.
Lanmutrăc nói với Trương Kế Nguyên: Vậy tôi về với đàn ngựa. Xong việc, cậu nên về nhà nghỉ hai ngày. Nói xong, anh ta dẫn bảy tám mã quan của đội mình và của đội khác, phóng đi.
Đoàn người ngựa theo Bao Thuận Quý vượt ba con dốc, dưới chân núi là bãi lau khô mênh mông, cờ lau trắng toát. Bốn bề tuyết chưa tan hết. Vương Quân Lập cùng năm sáu thanh niên trí thức xúm xít quanh Bao Thuận Quý, đều nói đây là chiến ttường lý tưởng cho hỏa công. Vương Quan Lập hồn thơ lai láng, cất tiếng ngâm sang sảng:
Muốn diệt sói lang .
Tất dùng hỏa công.
Chuẩn bị chu đáo.
Có thừa tây phong.

Batu từ trong bãi sậy phóng ngựa chạy tới trước mặt Bao Thuận Quý và Ulichi, nói: Cháu chưa đánh động đàn sói. đông lắm, tất cả trong bãi lau. Bao Thuận Quý trỏ roi ngựa, phân công: Các tổ trưởng nghe đây! Tổ Một phía đông, tổ Hai phía tây, tổ Ba phía bắc. Bao vây bãi lau từ ba phía. Tổ Bốn đi vòng xuống phía nam. trước tiên phóng hỏa phía đông nam cắt đường rút chạy của sói, nổi lửa xong phải tránh xa đầu gió. Các tổ Một, Hai, Ba khi thấy phía nam có khói, liền phát hỏa từ ba phía. Toàn bộ người, ngựa, chó đều đứng đợi ngoài vòng lửa, thấy sói chạy ra liền thả chó đuổi theo và dùng súng hạ sát. Chấp hành đi!
Đám thanh niên trí thức tổ Bốn xông lên trước tiên, các mục dân chạy theo sau. Các tổ khác lần lượt chiếm lĩnh địa điểm quy định.
Trần Trận cùng ông Pilich đi vào bãi lau xem kỹ. đây là bãi lau lưu niên chưa hề bị đốt, cao hơn hai tầm với, lau già chết khô trên mặt đất dày hơn nửa thước, lau củ lau mới đều khô khốc, rất dể bén lửa.
Ông già nói: Lúc này chắc hẳn bọn sói đã nghe thấy động tĩnh bên ngoài, nhưng chúng không sợ đâu. Lau mọc dày đặc, chó không thể chạy nhanh, người cũng khó sử dụng thòng lọng, bên trong bãi vừa tối vừa nhòe, ngựa dẫm trên lau xào xạc, đi đến đâu biết đến đó. Trong bãi có rất nhiều lối đi, người ngựa chó vào phía trước, lũ sói chạy về phía sau. Mùa đông, mùa xuân, bãi lau là giang sơn của sói, vào đây bắt sói không dể. Sói thảo nguyên Ơlôn từng bị đốt đồng, nhưng chúng chưa hề nghĩ tới con người lại đốt bãi lau, xưa nay chưa hề có chuyện này trên thảo nguyên. Các hộ ngụ cư  chú ý nhiều đến chuyện này. Phen này thì lũ sói đi đời rồi.
Đột nhiên có người gọi to: Đốt! Đốt! Trần Trận cầm rọ mõm lôi con ngựa của ông già ra khỏi bãi lau. Phía đông nam đã thấy khói đen cuồn cuộn bốc lên, loáng cái, các phía tây, nam, bắc đồng thời phát hỏa mấy chục điểm. Bao Thuận Quý còn sai người đốt thành một vành đai lửa, rồi ông ta chui sâu vào bên trong bải lau. Lau mọc dày đặc, những cây lau võ ngoài có dầu, gặp gió bùng lên như cháy kho thuốc súng, ngọn lửa cao hàng mấy trượng, khói đen cao vài chục trượng cuồn cuộn bay lên. Mấy nghìn mẫu cỏ lau biến thành biển lửa, lá thân lau theo khói lửa bay tới tấp về hướng đông nam, đen đặc như bầy dơi che khuất cả bầu trời. Bao Thuận Quý đứng trên dốc cao như đại tướng Đông Ngô chỉ huy đốt thuyền liên kết dài bảy trăm dậm trên sông Xích Bích.
Phía tây, trong khói lửa cuồn cuộn miên man, ông già Pilich bỗng quỳ xuống, ngoảnh mặt về phía đông mà lạy, nước mắt ràn rụa, miệng cầu khẩn. Trần Trận nghe không rõ nhưng cậu biết ông già nói những gì.
Gió đột nhiên đổi hướng, khói lửa cuồn cuộn bay về phía ông già. Trần Trận nhìn ông, trong lòng nảy sinh niềm kinh sợ của người tôn sùng vật tổ, khói lửa bay lên, đem theo linh hồn ngoan cường bất khuất của người dân Mông Cổ, còn đám anh em con cháu còn lại thì mặc sức hoành hành trên thảo nguyên, đem lại niềm tự hào vẻ vang cho dân tộ này.
Gió to lửa lớn đốt sạch bãi lau, tung tàn tro dầy đặc lên trời, phủ đầy lên đồng cỏ phía nam. Lửa cháy hơn nửa buổi chiều. Những nơi lửa tràn qua, lau lách không còn một cọng. Rồi thì lửa cũng tắt, hàng nghìn mẫu lau vàng óng đã biến thành dất đen. Nhưng các phía đông, nam, tây, bắc không hề nghe thấy tiếng chó sủa và tiếng súng.
Gió cuốn hết khói bay đi, biển lửa dần lạnh ngắt. Bao Thuận Quý ra lệnh cho người ngựa chó triển khai hình chữ nhất càn lên như người ta chải lược bí để tìm xác sói, thông kê chiến quả. Có người đoán ít nhất trên hai mươi con sói chết cháy. Người thì bảo thu hoạch sẽ nhiều hơn buổi sáng. Bao Thuận Quý nói, bất kể nhiều ít, cháy xém cháy đen đều tìm hết ra cho tôi, đánh mã số hẳn hoi, báo cáo chiến lợi phẩm là không được phịa. Tôi muốn cả Huyện cả Kỳ đều biết đây mới thật sự là diệt sói trừ hại chứ không phải đi săn lấy da.
Ở  tận cuối đoàn người ngựa, Trần Trận bám sát ông già, khẽ hỏi: Bố, theo bố thì sói chết bao nhiêu con? Ông già nói; Đốt đồng cỏ là cách làm của người Hán, người Mông Cổ rất sợ lửa, làm sao biết có bao nhiêu con sói chết cháy? Tôi e rằng Bao Thuận Quý có ý định khai hoang,..
Hai người thủng thẳng tiến lên cùng với đoàn người vừa đi vừa xem xét mặt đất, chỗ nào có tro dày là lại dùng cán thòng lọng xâm kỹ, khi không thấy có gì, ông già lại thở phào nhẹ nhỏm.
Gió đã yếu, nhưng tàn tro dưới vó ngựa bay lên, khiến người ngựa chó chảy nước mắt, chốc chốc trong đội hình lại nổi lên tiếng ho của người và chó. Có khi chó dẫm phải tàn lửa kêu ẳng ẳng. Đội hình đã càn qua trên nửa diện tích mà vẫn không thu được gì. Bao Thuận Quý không bình tĩnh được nữa, hét to: Chậm thôi, đừng bỏ sót đống tro nào!
Nét mặt rầu rầu của ông già Pilich dần giãn ra. Trần Trận không kìm được, hỏi: Có phải sói đã chạy thoát từ trước? Sao chẳng thấy con nào? Ông già cũng mong như thế, nói: Trời ủng hộ sói! Bỗng xa xa có người la to: Ở đây có xác một con! Ông già mặt sa sầm, hai người thúc ngựa chạy tới chỗ có người la. Đoàn người cũng chạy về hướng đó. Bao Thuận Quý đã có mặt, Ông ta bảo ông già Pilich nhận diện con mồi.
Một cái xác đã thành than nằm co quắp, mùi thịt cháy khét lẹt xốc vào mũi. Mọi người bàn tán, mỗi người một câu. Vương Quan Lập phấn khởi nói: Hỏa công thắng lợi rồi! Thấy một con nhất định thấy cả đàn. Saxưleng nói: Hình như không phải sói, sói sao nhỏ thế? Bao Thuận Quý nói: Cháy co lại thì phải nhỏ đi chứ. Vương Quan Lập gật đầu. nói: Chắc là con sói con.
Ông Pilich xuống ngựa, dùng cán thòng lọng lật cái xác nhưng phía bên kia cũng cháy rụi, không còn một sợi lông. Rõ ràng là nó bị gác lên đám lau dầy nên mới cháy như thế. Ông già nói: Không phải sói, đây là một con chó già. Bao Thuận Quý hỏi: Sao ông biết.  Ông Pilich nói: Không sai đâu, nhìn hàm răng là biết. Răng sói dài hơn  mà lại nhọn hơn răng chó. Không tin ông chụp ảnh gởi lên trên mà báo công. Cẩn thận gặp người trong nghề sẽ bảo ông phịa chó thành sói. Bao Thuận Quý sốt ruột. nói: Đánh dấu chỗ này, tìm ra vài con sẽ phân biệt được đâu là chó đâu là sói.
Ông già buồn rầu nhìn cái xác cháy đen của con chó, nói: Con chó già này biết mình không còn sống được mấy nổi nên tìm đến đây xử lý. Chỗ này khuất gió, sói nhiều. thương quá, làm sao sói không phát hiện ra nó?
Bao Thuận Quý hét to: Dàn hàng ngang, theo tôi! đòan ngựa lại đi theo đội hình chữ nhất, tiếp tục tìm kiếm. Mọi người gạt hết đống tro này đến đống tro khác, vẫn không tìm được gì. Mấy cậu thanh niên trí thức cảm thấy có gì không ổn, sợ thợ săn từng xông pha trăm trận cũng cảm thấy lạ, chẳng le Batu báo sai?
Bị hỏi, Batu cuống lên, trả lời: Xin thề với Mao Chủ tịch, xin thề với Trời, chính mắt tôi và Phuxich nhìn thấy mà lại. Các bạn cũng đã thấy bao nhiêu là dấu chân mới đây thôi! Bao Thuận Quý nói: Thế thì lạ thật!Chẳng lẻ sói mọc cánh bay đi? Ông già Pilich cười mỉm: Thấy sói biết bay rồi chứ? Sói tinh quái lắm, không cánh mà bay! Bao Thuận Quý nổi dóa: Vậy hồi sáng làm sao bắt được nhiều thế? Ông già nói: Đập chết bấy nhiêu sói vừa đủ trả thù cho đàn ngựa. Nhiều hơn nữa Trời không cho vì không công bằng. Bao Thuận Quý ngắt lời: Giời với đất! Đồ lạc hậu! Còn khoảnh đất cuối cùng. tìm cho tôi!
Bỗng có tiếng kêu giật giọng của hai mã quan phía trước: Hỏng rồi! Hai con bò mộng chết cháy đây này!
Đám người rùng rùng chạy về phía hai mã quan. Mục dân và thợ săn nhìn nhau bối rối.
Bò mộng là con vật sống tự do thanh thản nhất, được mọi người tôn trọng nhất trên thảo nguyên Mông Cổ, được những ngưu quan có kinh nghiệm chọn lựa từ số bê đực để truyền giống. Bò mộng khi đã trưởng thành, trừ mùa hạ là mùa giao phối, bò mộng đến với các đàn bò để phối giống, thời gian còn lại, nó không đi với đàn nào, choi nhảy tung tang, tự do tự  tại, không cần người chăm nom săn sóc. Bò mộng thân hình đồ sộ, cổ ngắn àa khỏe, từng búp lông xoăn tít rất đẹp mọc đầy mặt, cặp sừng nhọn chĩa thẳng - vũ khí sát thương lợi hại hơn cả đoản kiếm của dũng sĩ La Ma thời xưa.Đàn sói dù đói vẫn không dám tính chuyện cà khịa vì cắn không thủng bộ giáp dầy, đấu không lại sức mạnh của bò mộng.
Do vậy trên thảo nguyên, bò mộng không có thiên dịch. Bò mộng thường hai con một cặp, ban ngày chọn bãi cỏ ngon nhất ăn no, tối đến nằm tráo đầu đuôi mà ngủ. Bò mộng là bò thiêng, tượng trưng cho sức mạnh, tinh đàn ông, sinh sôi nảy nở, dũng cảm, tự do tự tại của thảo nguyên. Các đồ vật Mông Cổ đều gọi là Phuxich tức bò mộng. Đàn ông Mông Cổ cực kỳ hâm mộ bò mộng, vì bò mộng thê thiếp từng đàn, sống như một anh độc thân chẳng chịu trách nhiệm gì với gia đình.Sau mùa giao phối, bỏ lại vợ con cháu chắt cho đồng cỏ nuôi dưỡng. Vì vậy đàn ông Mông Cổ rất thích lấy tên là Phuxich. Bò mộng được người dân thảo nguyên coi là thần vật, bò mộng khỏe mạnh thì là điềm dê cừu sinh sôi nảy nở, bò mộng gầy yếu coi như tai họa sắp giáng xuống đỉnh đầu. Bò mộng rất ít, mỗi đàn bò chỉ một con. Các mục dân khi nghe tin hai bò mộng chết cháy đều kinh hoảng như trời sập, mọi người ùa tới như cảnh chạy tang.
Tất cả xuống ngựa, lặng lẽ đứng quanh hai con vật to lớn. Chúng đã chết, bốn chân duổi thẳng trên đất đen, bộ 1ông rậm đã vón cục thành than, bộ da dày một tấc nứt nẻ như mai rùa, mỡ vàng hươm trông thấy qua kẻ nứt, cặp mắt lòi ra như hai bóng đèn, lưỡi thè dài nửa thước, nước màu đen gỉ ra từ lỗ mũi. Đám phụ nữ và cánh ngưu quan nhận ra hai con bò này qua cặp sừng. Mọi người phẫn nộ.
Caxưmai nói: Đây là hai con bò tốt nhất của đội tôi. Quá nửa đàn bò đội tôi là con cháu của hai con này. Ai lại đốt đồng cỏ? Đồng cỏ sớm muộn sẽ bị hủy diệt trong tay cac ông!
Ông Pilich nói: Hai con bò này thuộc giống bò tía, giống tốt nhất trên thảo nguyên. Con của chúng nếu là cái thì sữa nhiều, nếu là đực thì cho thịt nhiều và ngon. Chuyện này tôi phải báo cáo lên Kỳ. Đội điều tra về, tôi lại phải dẫn họ đến đây. Tổn thất do con người gây ra lớn hơn sói nhiều.
Ulichi nói: Năm trước, Cục chăn nuôi định lấy hai con này, mọi người tiếc không cho, sau chỉ cho hai con của nó. Tổn thất này quá lớn!
Saxưleng nói: Bãi lau kín gió, là chỗ tốt cho bò nghỉ, việc gì phải cho một mồi lửa. Bò chạy chậm, làm sao vượt được tường lửa. Khói cay, sặc khói mà chết. Xưa nay chưa bao giờ có chuyện thiêu chết bò mộng trên thảo nguyên! Không tin Trời thì báo ứng nhãn tiền!
Da bị cháy đen vẫn tiếp tục nứt. Những vết nứt chằng chịt trên mặt da đáng sợ như những câu phù chú trong sách cổ. Đám phụ nữ sợ quá, lấy tay áo che mặt chạy ra ngoài. Mọi người tránh xa Bao Thuận Quý như tránh ôn dịch. Ông ta đứng một mình bên xác hai con bò, người lấm lem, mặt tím tái. Bỗng ông ta gào lên. Chết bò là do lũ sói. Các vĩ muốn nói gì thì nói, tôi quyết diệt bằng được bầy sói Ơlôn!
Ráng chiều đã xỉn màu. màn sương buông xuống trong khi trời se lạnh. Đoàn người ngựa vừa đói vừa khát ủ rũ ra về như đám tàn quân. Không ai biết đàn sói do sói chúa trắng dẫn đầu bằng cách nào chạy thoát bức tường lửa? Mọi người bàn tán rầm ran, phấp phỏng lo so, cho rằng sói đã bay đi. Ulichi nói: Cuộc vây này có một điểm sơ suất. Đó là người và chó đánh động nhiều quá trước khi bủa vây, lão sói trắng dẫn quân chuồn trước.
Các mã quan vội vã trở về với đàn ngựa. Trần Trận và Dương Khắc nhớ con sói con ở nhà. Hai người rũ Trương Kế- Nguyên và Cao Kiên Trung rời đại đội chạy theo đường tắt về nhà.
Dương Khắc vừa chạy vừa băn khoăn về chuyện trước khi đi lúc nửa đêm, chỉ cho con sói con một miếng thịt cừu chín, không hiểu nó đã biết ăn thịt chưa? Nghe Đanchi nói, sói con một tháng mới cai sữa. Trần Trận nói: Không sao, hôm qua nó tì căng bụng, không ăn miếng thịt ấy cũng không chết đói. Mình lo là đi vắng cả ngày, sói mẹ sục vào hậu phương của chúng mình thì rắc rối đấy.
Ngoài con nựa của Trương Kế Nguyên, ba con kia đều chạy không đạt tốc độ, mãi gần nửa đêm mới về đế nhà. Nhị Lang và con Vàng đang đứng trước hai cái khay đợi ăn. Trần Trân vội xuống ngựa, trước tiên cho hai con chó mấy miếng thịt và xương lẫn thịt. Trường Kế Nguyên chui vào trong lều rửa mặt, pha trà, chuẩn bị ăn uống xong la ngủ. Trần Trận và Dương Khắc chạy vội ra chỗ hang con sói, bê cái thớt ra chỗ khác, soi đèn xuống, con sói con nằm trên miếng da cừu, ngủ rất say. Còn con chó cún thì đói, sủa nhanh nhách, ra sức trèo lên miệng hang tí sữa mẹ. Con Hưa loanh quanh miệng hố, vẻ cáu kỉnh. Tran Trận vội lấy con cún lên giao cho Ilưa. Nó ngoạm con đem về ổ.
Trần Trận và Dương Khắc xem xét kỹ đáy hang. Hai miếng thịt chín không còn. Hai bên sườn con sói căng phồng, khoé miệng còn dính mỡ. Mắt nhắm, mép hơi nhếch lên, hình như nó đang mơ một giấc mơ đẹp. Dương Khắc ca mừng: Thằng nhỏ này nuốt chừng miếng thịt. Trần Trận thở ra một hơi khoan khoái, nói: Xem ra mẹ nó không còn thì giờ để nghĩ đến nó nữa!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 20:27:16Ct.Ly>
Đánh máy: Canary
 
Tôtem sói - Khương Nhung
 
Nguồn: ThuyNguyen
 
 
Chương 14

Một người Mông Cổ tên Minhuli có một đàn cừu.  Một đêm sói lọt vào cắn chết quá nửa.  Hôm sau, Minhuli đến vương đình kiện con sói.  Khan (Nguyên Thái Tôn Uokhothai - người dẫn chú) hỏi con sói từ chỗ nào xông vào cắn đàn cừu?  Đúng khi ấy đô vật Musolin bắt sống được một con sói ở ngay chỗ người kia nói, trói lại đem đến.  Vương mua con sói với giá 100 soli, bảo người Mông Cổ: "Giờ giết con sói này cũng chẳng lợi gì cho nhà ngươi".  Bèn cho Minhuli 1000 con cừu, nói: "Ta sẽ thả con sói này để nó kể lại câu chuyện với bạn bè và chúng sẽ đi nơi khác".  Con sói được tha, dọc đường gặp lũ chó, bị xé xác, Vương cả giận, lệnh giết hết lũ chó.  Khan nói với quần thần: "Ta cơ thể suy nhược, muốn cứu con vật để được trường sinh (trời) giáng phúc mà thoát nạn.  Con sói không thoát khỏi lũ chó, ta cũng khó thoát khỏi hiểm nguy."
(Ba Tư) Thixu Dodinh "Sử Tập. Uokhothai ký, phần ba"
(Chu Lương Tiêu dịch chú)


Cảm thấy ánh nắng xa lạ lọt qua khe hở cây cột chính, từ nóc lều chiếu xuống, Trần Trận mở mắt, nhìn thấy mảng trời xanh lạnh lẽo trên thảo nguyên.  Cậu vùng dậy, khoác vội áo ngoài chui ra ngoài, đến chỗ con sói con.  Vừa ra khỏi lều, cái nắng thảo nguyên khiến cậu lóa mắt.
Quanbu cho đàn cừu mẹ cùng con ra khỏi chuồng.  Không đợi dương quan hướng dẫn, đàn cừu bước chậm rãi, tự trèo lên sườn đồi trước mắt.  Một đàn cừu khác cũng dẫn đàn con đến bãi cỏ phía tây gần đấy.  Cừu chưa đẻ con rất ít, ì ạch bước đi.  Trần Trận thấy Dương Khắc vẫn chưa đi, Quanbu đang bày cho Trương Kế Nguyên cách nhét cỏ khô vào bộ da sói hình ống.  Hai bộ da đã được đặt trên chiếc xe bò bỏ không.  Trần Trận lập tức đi về phía họ.  Ông bố Quanbu ôm từ trong lều ra một ôm cỏ khô. Ông già cuộn cỏ khô thành từng nắm rồi thận trọng nhét vào bên trong bộ da cho đến khi căng phồng, to bằng con sói lúc sống.  Ông già bảo, phải nhét căng để da không bị nhăn, ảnh hưởng tới chất lượng.  Sau khi đã nhét đầy cỏ, Quanbu luồn sợi dây da nhỏ qua lỗ mũi con sói, hỏi Trương Kế Nguyên đã chuẩn bị cây thòng lọng bắt ngựa chưa?  Trương Kế Nguyên nói đã chuẩn bị rồi.  Ông bố Quanbu bước tới bên cỗ xe bò, chọn trong bốn năm cây sào gỗ lấy ra một cây thẳng nhất, dài khoảng sáu bảy mét rồi cột sợi dây da ở mũi bộ da sói lên đầu sào, sau đó đào một lỗ cách lều ba bốn mét, dựng cây sào có bộ da sói lên.  Hai bộ da sói được phơi theo kiểu như thế, bay trước gió như cờ lệnh.
Ông già nói: Phơi kiểu này vừa hong khô bộ da, vừa có ý khoe thành tích săn bắn của thợ săn Mông Cổ.  Trước đây, khi nhìn thấy loại cờ hiệu này, bọn trộm ngựa, bọn thổ phỉ không dám đến gần.  Hai ngọn cờ sói lạ lùng hấp dẫn tới mức Trần Trận , Dương Khắc và Trương Kế Nguyên không muốn đi nữa.
Hai lá cờ sói bị gió xuân nâng lên theo phương nằm ngang trên không trung, những sợi lông rối bù được vuốt thẳng ép xuôi chiều trên mặt da, trông như một cặp sói sống đang phi trên thảo nguyên với tốc độ chóng mặt.
Trần Trận hít hà: Sói chết, nhưng hình ảnh sói, linh hồn sói không chết.  Hai con này vẫn như đang xung phong, khí thế hừng hực khiến mình sợ quá.
Trần Trận giọng cảm khái, nói với Dương Khắc và Trương Kế Nguyên: Nhìn hai lá cờ sói này, mình lại nghĩ đến lá quân kỳ gắn hình đầu sói bằng vàng của tộc Độc Quyết ngày xưa.  Xung phong hãm trận dưới lá quân kỳ này, các kỵ binh của thảo nguyên với dòng máu sói trong người, học từ sói ý chí kiên cường và sự gan dạ đi chinh phục thế giới.  Trong lịch sử thế giới, kỵ binh Đột Quyết khôn ngoan dũng mãnh.  Tây Đột Quyết sau khi bị nhà Đường đánh bật khỏi Trung Quốc, đã rất nhanh tìm được địa bàn mới và dần trụ vững, vài trăm năm sau đột nhiên quật khởi, thế như chẻ tre, đánh chiếm những nơi mà ngay cả Mông Cổ cũng chưa bao giờ chiếm được như thủ đô La Mã và Ai Cập cổ, thống nhất Trung và Tây Á, dựng nên một đại đế quốc Oxman trải dài từ Á sang Âu, chặt đứt con đường thông thương Âu - Á, dùng sức mạnh của quốc gia và sức mạnh quân sự đè đầu cưỡi cổ phương Tây trong khoảng một trăm năm không ngóc đầu lên nổi. Tất cả những nền văn minh tiên tiến bị xua đuổi.  Sói rừng phương Tây bị sói đồng cỏ phương Đông đuổi ra biển Đen, ra khơi, ra đại dương, trở thành sói biển càng hung dữ.  Họ đi trên những con thuyền già cỗi của châu Âu hoặc thuyền của bọn hải tặc vượt đại dương, tìm đường sang phương Đông.  Kết quả, trong cái rủi có cái may, họ phát hiện ra đại lục mới - châu Mỹ, cướp được đất đai giàu có gấp mấy lần châu Âu, những con tàu chở vàng bạc của người Inca và người Indian tích lũy nguyên thủy cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây.  Kết quả, sói biển phương Tây trở thành sói tư bản, sói công nghiệp, sói kỹ thuật, sói văn hóa lớn nhất thế giới, phản công trở lại phương Đông, đập tan đế quốc Oxman, cuối cùng đánh bại sói thảo nguyên già cỗi, còn con cừu nông danh phương Đông thì chẳng cói gì đáng bàn...
Trương Kế Nguyên nói: Giờ đây tôi cũng cảm thấy khoa học về sói là một bộ môn lớn, đụng chạm đến nhiều vấn đề, chả trách cậu mê sói đến thế.  Dương Khắc nói: Ba chúng mình đừng tự học chương trình đại học, đi sâu vào đề tài này cũng hay đấy.
Quanbu nhìn ngọn cờ sói hồi lâu không chịu đi, nét mặt kính cẩn.  Người già bảo: Dùng gió chải sạch bụi bặm trên lông sói nên lông không bị rụng.  Gió thổi vài hôm là rất mượt, màu rất sáng, có thể chạy được rồi... Các cậu xem, hai con sói như đã sống lại, cùng nhau bay lên trời... thuận buồm xuôi gió nhé!  Quanbu nhìn lần nữa hai ngọn cờ sói bằng ánh mắt thành kính, rồi mới đi thu dọn chuồng cừu.  Trần Trận, Dương Khắc, Trương Kế Nguyên rối rít cảm ơn.
Gió xuân trên thảo nguyên thổi mạnh, rít ù ù bên tai như tiếng gào khóc của đàn sói xa xa, lại như tiếng rên rỉ trầm lắng của chiếc đại phong cầm trong giáo đường Kito ở Bắc Kinh, khiến Trần Trận thấy lòng tê tái.  Hai bộ da sói đón gió bay ngang trời, sắc lông vàng rộm, mượt như nhung, rực rỡ dưới nắng, đẹp như trang phục lễ hội.  Hai con sói đùa rỡn ben nhau dưới bầu trời xanh, chốc chốc lại ôm nhau mà nhào lộn, thanh thản vì được giải thoát.  Trần Trận không hề có cảm giác bên trong con sói toàn cỏ khô, trái lại, cậu chỉ thấy chúng có hồn và đầy sức sống.  Khói bếp thoát ra từ nóc lều cuồn cuộn bay qua, hai con sói như đang rẻ mây bay lên trời, lên chòm sao Thiên Lang, lên thiên đường tự do mà chúng hằng ngưỡng mộ, đem theo linh hồn người thảo nguyên.
Trần Trận ngước nhìn hai con thiên lang đến nỗi không còn nhìn thấy gì xung quanh, núi đồi, lều trại, xe bò và cừu đều không thấy, trong mắt cậu chỉ có cột cờ và cặp sói đang bay.  Dòng suy nghĩ của cậu bị ngọn cờ cao vút dẫn dụ rời đồng cỏ, bay lên trời xanh.  Cậu nghĩ, chẳng lẽ người ta trồng cây cờ sói chỉ để khoe thành tích chiến đấu?  Phải chăng đó là một phương thức Saman theo một truyền thống xa xưa, nhằm siêu độ cho linh hồn sói, phải chăng đây là một nghi thức thiêng liêng mà dân tộc này biểu thị sự tôn sùng với tôtem.  Trần Trận nhận ra cái cách cậu đứng nghiêm ngửa mặt lên trời cũng là một nghi thức, cậu đặt mình dưới bóng tôtem mà ngước nhìn lên.  Tinh thần thảo nguyên và tín ngưỡng như không khí bao vây xung quanh cậu, chỉ cần linh hồn đang khát vọng là lập tức cảm thấy.
Dương Khắc và Trương Kế Nguyên cũng ngước nhìn đến mỏi cổ.  Trương Kế Nguyên nói: Chúng mình ăn mặc, sinh hoạt không khác dân du mục là mấy, ngay cả sắc mặt cũng giống.  Nhưng tôi vẫn cảm thấy chúng mình chưa thật giống người thảo nguyên, căn lều của chúng mình có cái gì đấy chưa phải Mông Cổ.  Bây giờ có cây cờ này, nhìn từ xa ai chẳng bảo căn lều chúng mình không phải lều Mông Cổ...
Trần Trận xoa xoa cái cổ mỏi dừ, nói: Trước khi rời Bắc Kinh, mình vẫn thường hình dung Mông Cổ  "trời cao ghê, đất rộng ghê, gió đè ngọn cỏ thấy cừu dê", cực kỳ thanh bình yên ổn... Sau đó mới biết "xalaca" là một bài ca của tộc Tiên Ty, thảo nguyên đích thực khắc nghiệt lắm, tinh thần thảo nguyên thực ra tập trung hết ở sói.
Dương Khắc gật đầu: Tôi nghĩ rằng những bài ca phản ánh thật sự về tinh thần thảo nguyên không được lưu truyền, chỉ những bài hợp gu người Hán mới được sao chép truyền lại đến bây giờ.  Tôi có hỏi một số mục dân, không ai nghe nói có bài ca đó.
Trương Kế Nguyên mắt vẫn nhìn lá cờ sói, chân dạo quanh cột cờ mấy vòng, vẻ bức xúc: Ai cũng biết hai con sói này bị chó cắn chết.  Mình là một mã quan Ơlon, nhất quyết phải tự tay giết một con sói, nếu không làm sao được mã quan?
Nhị Lang thấy hai con sói bị nó cắn chết giờ đang bay trên trời thì nổi cáu, đứng trên hai chân sau mà sủa, nhưng hai con sói không sợ, tiếp tục bay.  Con Nhị Lang đành chào thua, gương mắt mà nhìn hai con sói, nhưng ánh mắt đã dịu, hình như nó bắt đầu thích tấm chiến bào trên mình con sói.
Đàn cừu đang đẻ đi xa dần.  Dương Khắc khoác cái đẫy đựng cừu lên vai, lên ngựa đuổi theo.  Đàn cừu có con nhỏ đang tản khai nhưng vẫn trong tầm nhìn của người và chó.  Trần Trận bảo Trương Kế Nguyên: Cậu chỉ nhớ mỗi truyện diệt sói!  Diệt sói!  Đi, đi xem con sói con!
Hai người đi về phía cái hố nhốt con sói.  Trần Trận bê tảng đá chặn miệng hố ra chỗ khác, gỡ miếng ván.  Con chó dưới hố vẫn ngủ ngon lành trên tấm da cừu, không hề nhớ giờ ti sữa mẹ.  Nhưng con sói con thì đã ngồi xổm ngước nhìn trời, sốt ruột đợi ăn.  Ánh sáng lọt xuống đáy hố khiến con sói rất phấn chấn.  Nó đứng trên hai chân sau, dùng hai chân trước bám thành hố trèo lên, được vài tấc, rồi ngã lộn nhào xuống đáy.  Nó nhổm ngay dậu, dốc sức trèo tiếp, những cặp vuốt còn non ghim chặt thành hố như con thạch sùng bò trên tường.  Thành hố đất mủn, con sói lại rớt xuống, nó cáu tiết, ngước nhìn cái bóng đen trên miệng hố, giận dữ tru thành tiếng, trách bóng đen sao không đưa nó lên.
Trương Kế Nguyên cũng là lần đầu trông thấy sói con sống, định đem nó lên xem cho đã.  Trần Trận nói: Gượm hẵng, để xem nó trèo lên được không, nếu lên được phải đào sâu hơn chút nữa.
Con sói sau hai lần ngã không dám trèo nữa.  Nó bò quanh đáy hố, vừa bò vừa nghe ngóng như đang nghĩ cách.  Bò mấy vòng, chợt phát hiện ra con chó, nó lập tức trèo lên lưng rồi lên mặt lên đầu con chó để lấy đà lên mặt đất. Đất vụn rơi đầy mặt đầy người con chó cún.  Nó sực tỉnh, rên rỉ, rùng mình rũ bụi đất khiến con sói đứng trên mình nó ngã lăn.  Con sói nổi cáu, quay lại nhe răng nhe lợi gầm gừ với con chó.  Trương Kế Nguyên cười, nói: Con sói này tuy nhỏ nhưng chất sói không nhỏ. Xem ra nó rất thông minh.
Trần Trận thấy mới có hai ngày mà màng mắt con sói đã mỏng đi nhiều tuy vẫn còn nước, nó đã lờ mờ nhìn thấy những gì trước mắt, huơ tay trước mặt, nó đã có phản ứng.  Trần Trận xoè bàn tay chuyển sang đông, đầu con sói cũng ngoảnh sang đông; bàn tay chuyển sang tây, đầu con sói cũng ngoảnh sang tây.  Để tập cho nó phản xạ có điều kiện, Trần Trận gọi nhỏ: Sói... con... ăn... cơm... nào!  Con sói nghiêng đầu có vẻ sợ nhưng rất háo hức.
Trương Kế Nguyên nói: Để mình xem nó còn ấn tượng gì về họ hàng nhà sói không?  Nói rồi cậu khum lòng bàn tay che miệng, bắt chước tiếng tru của sói: U...u...u...!  Con sói rúm người lại như bị động kinh, rồi sau đó điên cuồng dẫm đạp lên mình chó để trèo lên.  Ngã xuống mấy bận, con sói đành cuộn mình nép sát vách hố như định rúc vào nách mẹ.  Hai người cảm thấy bất nhẫn, lẽ ra không nên cho nó nghe thấy tiếng gọi của thế giới sói.  Trương Kế Nguyên nói: Mình thấy nuôi con này không dễ.  Sói ở vườn thú Bắc Kinh cách ly hoàn toàn với thế giớ nhà sói, có thể giảm dần  sói tính.  Còn trong điều kiện du mục nguyên thủy như ở đây, đêm nào cũng nghe sói hú sói gào, làm sao sửa được tính sói?  Con này lớn lên không cắn người thì chớ kể!  Cậu phải cẩn thận với nó.
Trần Trận nói: Mình không chủ trương làm mất sói tính của con sói, nếu vậy chả còn ý nghĩa gì nữa.  Mình chỉ muốn gần gũi con sói, có thể sờ mó nó, hàng ngày quan sát nó từ cự li gần, tìm hiểu đến nơi đến chốn chất sói của nó.  Không vào hang sói làm sao bắt được sói con? Bắt được sói con rồi, càng không sợ sói cắn.  Mình sợ nhất dân du mục không cho nuôi.
Con sói vẫn cố trèo.  Trần Trận nắm gáy xách nó lên.  Trương Kế Nguyên nâng con sói trên lòng bàn tay, ghé mắt quan sát kỹ, lại còn dùng một tay vuốt ve.  Lông con sói không thể chải mượt, vừa buông tay ra, chúng lại dựng đứng như cũ.
Trương Kế Nguyên nói: Hay thật!  Một mã quan như mình mà lại được vuốt ve con sói ở chỗ một dương quan như cậu.  Mình đã hai lần cùng Lanmutrac đi đào bắt sói, nhưng đều về tay không.  Ở Trung Quốc mà một người Hán có thể sờ mó một con sói sống tại thảo nguyên Mông Cổ thì thật hi hữu, chục vạn người chưa chắc đã có một.  Người Hán ghét sói, ghét luôn cả tài năng của sói.  Học được bản lĩnh của sói chỉ có dân du mục.
Trần Trận tiếp lời: Trong lịch sử thế giới, người phương Đông mà đánh sang tận phương Tây, chỉ có ba tộc: Hung Nô, Đột Quyết, Mông Cổ.  Còn người phương Tây đánh sang tận phương Đông đều là con cháu của các tộc du mục.  Xây dựng thành La Mã cổ đại là hai anh em trai được sói mẹ nuôi, đến nay hình ảnh sói mẹ và sói con vẫn được gắn trên thành La Mã.  Sau đó, các tộc Điều Đốn, Nhật Nhĩ Man, Anglo Xacxong càng hung tợn hơn, dòng máu sói chảy trong huyết quản các dân tộc lớn.  Vậy nên tính cách nhu nhược của người  Hoa Hạ chúng ta cần phải bổ sung dòng máu tiến thủ mạnh mẽ của sói.  Không có sói, không thể có lịch sử thế giới như ngày nay.  Không hiểu sói thì không hiểu được tinh thần và tính cách dân du mục, càng không thể phân biệt sự khác nhau và mặt yếu mặt mạnh của tộc du mục và tộc nông canh.
Trương Kế Nguyên nói: Mình quả thực muốn biết vì sao cậu nuôi sói?  Mình sẽ làm hộ mọi công việc đội giao cho cậu.
Trần Trận ôm con sói đi về phía ổ chó.  Khi con Ilua phát hiện con sói đang ti sữa của nó, nhân lúc Trần Trận không phòng bị, nó lập tức đứng dậy, quay đầu định cắn.  Nhưng con sói ngậm chặt vú không nhả, bám dai như đỉa, rất giống cái bình đeo dưới vú, con Ilu xoay mấy vòng, con sói lủng lẳng xoay theo, Ilua mất bao công sức mà không sao ngoạm trúng.  Trần Trận và Trương Kế Nguyên đứng bên vừa tức cười vừa bực.  Trần Trận bóp nhẹ miệng con sói cho nó nhả vú ra.  Trương Kế Nguyên cười, nói: Đúng là con quỉ hút máu!
Trần Trận giữ con Ilua cho con sói bú no rồi đứng lên, bảo: Giờ là lúc cho chúng chơi với nhau.  Hai người ôm bốn con béo mũm mĩm ra chỗ cỏ khô.  Trần Trận thả con sói vào giữa đàn chó.  Vừa tiếp đất, con sói bò rất nhanh về phia không có chó và người.  Lũ chó con còn chưa đứng vững, bụng sát đất, bốn chân như bơi chèo, y hệt những con rùa có lông.  Một con cún đực bò theo con sói, nó quay lại nhe răng gầm gừ đe dọa.
Trần Trận giật mình: Khi đói thì ai có sữa nó nhận là mẹ, no rồi thì phớt tỉnh, không nhận nữa.  Tuy chưa mở mắt nhưng mũi đã biết phân biệt, mình biết mũi sói cực thính.
Trương Kế Nguyên nói: Mình nhận thấy con sói không coi đây là nhà của nó, chó cái không là mẹ của nó, lũ chó con cũng khôg phải là anh chị em nhà nó.  Trần Trận nói: Lúc mới đào lên, nó còn giả chết nữa kìa!
Hai người đi theo con sói một khoảng cách chừng bốn năm mét, tiếp tục quan sát hành vi của nó.  Con sói bò càng nhanh trên tuyết vụn và cỏ khô được vài chục mết thì dừng lại, bắt đầu ngửi mọi vật xung quanh: phân ngựa, phân bò, khúc xương, tất cả những thứ nổi cộm trên cỏ khô.  Có thể nó chỉ ngửi thấy mùi phân và nước tiểu của chó nên bỏ qua, tiếp tục ngửi.  Trần Trận và Trương Kế Nguyên đi theo con sói hơn trăm mét, nhận thấy con sói không bò vu vơ, nó có mục tiêu rõ rệt: Tránh xa các lều trại, chuồng cừu, hơi người, hơi chó, hơi súc vật.
Trần Trận cảm thấy con sói chưa mở mắt mà đã có đầy đủ bản năng và thiên tính đáng sợ và đáng nể trọng.  Trong giới sinh vật, Trần Trận khâm phục loài chim sẻ, nổi tiếng vì không thuần dưỡng được.  Hồi nhỏ, cậu đã từng bắt chim sẻ về nuôi, lớn nhỏ có đến mười mấy con, nhưng chúng đều nhắm mắt tuyệt thực kể cả nhịn uống nước, không còn tự do thì chúng thà chết chứ không chịu nhục.  Trần Trận chưa nuôi sống đuọ chim sẻ dù chỉ một con.  Nhưng sói thì lại khác.  Sói coi trọng tự do và cũng coi trọng mạng sống.  Bị bắt, sói vẫn ăn ngủ như thường, không những không nhịn, trái lại ăn càng khoẻ, ngủ càng đẫy, và chỉ rình thời cơ để chạy trốn, giành lấy cuộc sống mới và tự do.  Trần Trận thấy chỉ các đấu sĩ bị giam trong các hang động bẩn thỉu mới có tính cách và phẩm chất ấy.  Nhưng họ so với cả tộc người thì chỉ là những hạt vàng trong cát, còn tính cácn này ở sói thì rất phổ biến, thấm từ trong máu, đời trước truyền cho đời sau, không một ngoại lệ.  Mà những con sói có đầy đủ tính cách ấy lại là thần linh, tôtem, thần chiến tranh và tôn sư, thì khó có thể tưởng tượng ảnh hưởng của chúng đối với dân tộc đến mức nào.  Thường nói sức mạnh của tấm gương là vô cùng vô tận, nhưng sức mạnh tinh thần của tôtem còn cao hơn tấm gương nhiều, nó được đặt ở vị trí thần linh.
Trần Trận nhìn con sói mà sinh lòng cảm kích.  Tấm thân tuy bé nhỏ nhưng nó đã dẫn đường cho cậu vén lên bức màn che khuất nghìn đời, đi thẳng vào những bí mật lớn của thảo nguyên.

                                  0O0

Quanbu phóng ngựa tới gọi Trần Trận đối chiếu số cừu non.  Đa số những con cừu non đang ngủ giữa đàn cừu, cừu mẹ thì đang tha thẩn gặm cỏ.  Trần Trận đem con sói về chỗ ở của nó, rồi lên ngựa tới chỗ đàn cừu.  Hai người gom đàn cừu lại.  Gần hai nghìn con cừu lớn nhỏ, cừu mẹ gọi cừu con, cừu con gọi cừu mẹ, tiếng be động trời như có sói xông vào đàn.  Hai người dùng thòng lọng cản hướng đàn cừu định đi, sau đó thu nhỏ lại thành một cửa khẩu, gần một ngàn con cừu non, cừu mẹ nào nhận đúng con rồi thì cho qua, cừu mẹ nào nhận sai thì bắt quay lại tiếp tục tìm.  Trần Trận đã nhận biết chính xác con cừu mẹ nào nhận sai con.  Chỉ cần nhìn con nào be rầm lên mà không ngó ngàng đến con cừu non bên cạnh, thì dứt khoát không cho qua.  Từng cặp mẹ con sau khi qua cửa khẩu, cừu non liền quỵ hai chân trước ngẩng lên ti sữa mẹ, cự mẹ nhìn con bằng ánh mắt hiền từ.  Hai người chỉ cần bỏ ra một tiếng đồng hồ là khớp xong mẹ con đàn cừu, ngày hai lần, mỗi lần khớp một lần cho bú.  Nếu không khớp thì những con cừu không mẹ sẽ chết đói.  Khớp đàn cũng là lúc đếm cừu, tìm ra những con sợ nắng, rúc vào hang chuột để ngủ.  Không đếm thì mất cừu lúc nào không biết.  Có lần Trần Trận thấy thiếu, liền đi tìm quanh, cuối cùng lôi ra ba con ngủ trong hang chuột.
Quanbu rất bằng lòng về đàn cừu.  Anh nói: Ơlon cỏ nước đầy đủ, cừu mẹ nhiều sữa đều nhận con, đỡ tốn sức cho một lần khớp đàn.  Nếu như cỏ xấu, cừu mẹ không sữa, không nhận con để cho bú, thì dù có huy động tất cả lao động hát bài khuyến mãi ca, giỏi lắm một ngày chưa bú được một lần.  Một trận bạch mao phong tràn về, mấy chục nghìn con cừu chỉ vài ngày là chết đói chết rét, họa sói có lớn đến mấy cũng không bằng tai họa do con người và thiên tai gây ra.  Ban lãnh đạo cũ của Ơlon giỏi, hiểu thảo nguyên, hiểu sói, mối quan tâm lớn nhất là cỏ, là đồng cỏ, chứ không phải đàn cừu.  Vấn đề then chốt mà tốt thì những chuyện như khớp đàn sẽ tốt theo.  Các dương quan ở Ơlon đừng lo, vài ngày nữa một mình tôi có thể khớp đàn...
Trần Trận hiểu ra, Quanbu không cần đến từng nhà mà vẫn nắm vững tình hình của cả mục trường.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 18:22:19huytran>
Canary đã đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 18:23:17huytran>
Canary đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 18:24:43huytran>
Canary đã đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-29 19:32:20huytran>
Canary đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-29 19:33:03huytran>
Canary đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 02:55:57huytran>
Canary đã đánh xong
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 02:56:49huytran>
Cunhoi đã đánh xong
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-01 07:15:59huytran>
Cunhoi đã đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-05 21:41:45huytran>
Cunhoi đã đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-05 21:43:29huytran>
Cunhoi đã đánh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-07 01:06:04huytran>
Cunhoi đã đánh xong
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-07 01:07:00huytran>
cunhoi đã đánh xong
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-07 19:09:39huytran>
Cunhoi đã đánh xong
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-05 21:45:13huytran>
 Canary đã đánh
0
0




0
0
0
«« « 1 2 » »»