Diễn Đàn » Tác giả người Việt

(url) Lý Chánh Trung

49 trả lời, 6.214 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-07 20:33:57Viet duong nhan>
Đang tìm tác phẩm:

Tìm Về Dân Tộc

của

Lý Chánh Trung


Cám ơn Quý Diễn Đàn
Đăng nhập để trả lời
0
20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam
 




Topics - Ký sự

Written by Nguyễn Văn Lục   

Monday, 01 January 2007
 
Nguyễn Văn Lục

Tôi đã viết bài: 20 năm văn học dịch miền Nam Việt Nam. 20 năm triết lý Tây Phương miền Nam Việt Nam. 20 năm trí thức miễn Nam nhập cuộc. Và cũng trong cái tinh thần ấy với bài này: 20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam.

Tuổi trẻ miền Nam với những con người trẻ, trai có, gái có, với nếp sống, nếp nghĩ, phản ứng vui buồn, ứng xử trước thời cuộc, trước cuộc đời mà trong đó tôi là thành phần. Viết lại cho mình, cho bạn bè mà cho các thế hệ sắp tới nhìn lại cha anh mình.

Miền Nam vào thủa ấy có khoảng ngót nghét 11 triệu dân sống rải rác từ Cà Mâu đến Bến Hải. Các cậu thanh niên có cái mốt ăn mặc rất là lạ: Họ mặc quần tây mà áo bỏ ngoài quần. Cậu nào cũng vậy. Còn các cô thì đi guốc mộc to bản như guốc Nhật, nổi bật bàn chân nhỏ bé, được kỳ cọ trắng phau. Xinh quá. Hai ống quần rộng đến chui vào được. Kỳ quá. Chiếc áo Bà ba rộng thùng thình, có hai túi. Hình như sự ăn mặc ấy hoang phí quá, không ăn khớp với thân hình. Bao nhiêu đường cong, đường eo, vùng đồi ngực nở ùn lên, vùng thung lũng hoa vàng bị khỏa lấp và san bằng hết.

Trong khi đó, gái Bắc thì gọn gàng trong chiếc áo cánh vải phin nõn khít khao hằn lên tuổi con gái bên trong cái yếm. Sức sống vươn lên, lồ lộ hẳn ra.

Hai tuổi trẻ, hai cách biểu hiện, hai vẻ đẹp. Hai miền hồi những năm 1955. Họ gặp nhau như một định mệnh lịch sử vào cái ngày đất nước bị cắt làm đôi.

Hiệp định Genève vào ngày 21/7/1954 đã đưa họ lại gần nhau với những cú sốc văn hóa để rồi tìm ra những hòa giải và đồng thuận.

Dân số miền Nam vọt lên thêm một triệu người. Tức là tăng dân số miền Nam lên 8%. Con số 8% quả là không nhỏ. Phải lo chỗ ăn, chỗ ở, chỗ học, chỗ làm ăn sinh sống, chỗ an cư lập nghiệp. Cứ tưởng tượng, mỗi ngày có vài ngàn người đến trong suốt mấy tháng trời. Công việc không hẳn là dễ. Nhưng rồi mọi chuyện cũng đâu vào đấy. Và chỉ trong một thời gian rất ngắn, những người trẻ chân ướt chân ráo ấy làm nên nhiều chuyện, nhiều kỳ tích trổi bật trong chính trị, xã hội, nhất là trong lãnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Số phận của họ nay là số phận của toàn dân miền Nam, chia xẻ những vinh quang cũng như những mất mát, thua thiệt.

Ở Sàigòn, ngay khi Hiệp định Genève vừa được ký kết, thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ. Để tang cuộc chia đôi đất nước.[1] Ông Diệm đã ra tuyên cáo cực lực chống đối việc chia đôi Việt Nam. Chỉ sau một ngày, có nghĩa là vào ngày thứ năm 22/7/1954:

Toàn miền Nam treo cờ rủ. Không chấp nhận cuộc chia đôi đất nước.

Cả một cuộc đổi đời cho người từ hai phía. Cách biệt và chia lìa. Phía bên kia, Hồ Chí Minh tuyên bố:” Về ngọai giao, ta đã thắng lợi to: chính phủ Pháp đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta” [2]

Phía miền Nam vĩ tuyến 17. Lúng túng. Trước đó, ngày 16/6/1954.Tại Cannes Bảo Đại chính thức cử ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ Tướng toàn quyền để đối phó với tình hình chính trị nguy ngập. Khi làm Thủ tướng, ông Diệm muốn đưa số người di cư lên tổng số 2 triệu người, trong khi đó tướng Ély ước đoán chỉ vào khoảng 200.000 người là cùng. Ông Diệm hẳn là có lý nếu quân đội Pháp tích cực hơn trong việc cứu vớt người tỵ nạn.

Dù sao, con số gần một triệu người di cư vào miền Nam, tiềm năng và hứa hẹn của đám mgười trẻ từ 45 tuổi trở xuống thật không nhỏ. Ông Diệm có cái lý để kỳ vọng như vậy. Và người di cư đã không quên cái ơn ấy. Và đó phải được coi là chuyện bình thường như trăm chuyện bình thường khác.

Trong khi đó, số người xin di cư hay hồi cư từ Nam ra Bắc chỉ có 4358 người. Ở đây không kể khoảng 60000 cán bộ Việt Minh ở lại miền Nam, rút vào bí mật.[3]

Nay ai đó có về quê thăm, ghé dùm xem Cái Sắn, Hố Nai, Bảo Lộc, vùng ven Bà Rịa để thấy cuộc sống người dân ở đó như thế nào?

Cuộc di cư ấy mở ra cái dấu mốc lịch sử đánh dấu phân chia lằn ranh Quốc-Cộng. Bên này là Quốc Gia, bên kia là Cộng Sản Tự Do và Độc tài. Cho nên, khi bước lên tàu há mồm, người di cư nhận được một message rất rõ ràng: Passage to Freedom. Chính vì hai chữ đó mà bỏ quê hương miền Bắc ra đi. Chết sống ra đi. Liều thân mà đi không cần biết tương lai sẽ ra sao? Ý nghĩa đó cần được ghi khắc cho thế hệ mai sau để sau này không cho phép bất cứ ai xuyên tạc, phỉ báng cuộc di cư đó. H. Amouroux trong số báo Aurore, ra ngày 4/4/1955 diễn tả đúng cái tinh thần ấy: ”Trong suốt cuộc chiến vừa qua, chúng ta đã nói rằng, mình bảo vệ sự tự do và một số giá trị tinh thần…. thì hôm nay, họ cho biết rằng, họ hiểu được thế nào là tự do, dân chủ. Chúng ta, thế giới tự do và không chỉ có nước Pháp, chúng ta có thể nào bỏ rơi những con người đó mặc cho sự trả thù, đem quẳng họ lại vào bàn tay Cộng Sản và làm cho cuộc bỏ trốn kỳ diệu của họ năm 1954 hóa ra vô ích sao?[4]

Đó là cuộc đi tìm Tự Do đến miền Nam như miền đất hứa mà nhà văn Sơn Nam gọi là miền đất Lạc Thổ. Phải gọi là đất lành hay đất hứa mới thật là đúng. Đó là cuộc Nam tiến vì lý do chính trị lớn nhất trong lịch sử người Việt, dân Việt. Đó cũng là bằng chứng không chối cãi được cuộc bỏ phiếu chống lại Cộng Sản bằng đôi chân của 865.000 người di cư từ Bắc vào Nam và chấm dứt vào ngày 12-10-1954 ở Hà nội.

Và trong số gần triệu người di cư đó, theo ông Từ Uyên, [5] cho biết rằng Bộ Tư lệnh Pháp đã dành 12 chuyến bay DC4 vào các ngày 12 và 13/8/1954 để chuyên chở giới sinh viên vào Sàigòn. Cũng theo ông Từ Uyên, ông Ngô Đình Diệm đã từ trong Nam ra Hà nội qua trung gian của bác sĩ Phạm Hữu Chương để tiếp xúc với giới sinh viên Hà nội cho việc tổ chức cuộc di cư này. Một cuộc họp ở một biệt thự tại phố Hàm Long gồm có bác sĩ Phạm Hữu Chương, các sinh viên Lương Trọng Cửu, Tôn Thất Cần và Từ Uyên.

Chính từ buổi họp này đã đưa đến quyết định đưa khoảng 1200 sinh viên từ Bắc vào Sàigòn.

Trong số những thanh niên, thiếu nữ từ miền Bắc di cư vào, họ là ai?

Họ là những thanh niên thuộc giới trí thức trẻ như Vũ Khắc Khoan, Trần Thanh Hiệp, Vương Văn Bắc, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Quách Đàm, Hoàng Cơ Long, Tạ Tỵ, Lưu Trung Khảo, Lý Quốc Sỉnh, Nguyễn Khắc Ngữ, Lữ Hồ, Họa sĩ Ngym Cao Uyên, Bùi Đình Nam, Tô Đồng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Trần Kim Tuyến, Phạm Việt Tuyền, Nhật Tiến, Mặc Đỗ, Hiếu Chân, Như Phong và những người trẻ còn ngối ghế Trung Học như Đỗ Quý Toàn, Lê Đình Điểu, Duyên Anh…Và hàng vạn thanh niên thiếu nữ khác nữa …

Phía quân đội có các sĩ quan trẻ, cấp úy như Lê Nguyên Khang, Nguyễn Cao Kỳ, Phó Quốc Trụ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Bảo Trị, Hoàng Cơ Minh.

Phần đông bọn họ, không ai quá 30 tuổi. Họa hoằn trong số ấy như Vũ Hoàng Chương lúc ấy 38 tuổi. Họ đều thành danh, có tên có tuổi ở Sài gòn sau này. Hầu hết bọn họ trở thành nhà văn, nhà báo, giáo sư đại học, đại sứ, nhà tư bản vv… Và nếu là sĩ quan thì đều làm đến tướng cả, trừ có Phó Quốc Trụ.

Có nghĩa là cuộc đời họ, sau đó đã nên ông nên bà.

Tất cả những giới trẻ đó sau này phần đông trở thành những tài năng, những tên tuổi trên chính trường miền Nam Việt Nam.

Đó vẻ đẹp, là niềm hãnh diện chung của mọi người.

Tâm trạng lúc bấy giờ ở Hà nội là đi hay ở. Ai đi, ai ở ? Người ta gặp nhau là để bàn chuyện đi hay ở. Và cũng từ đó bày ra cảnh chợ trời bán buôn giữa kẻ đi, người ở.

Nói cho đúng ra, thủ tướng Diệm ra Hà nội ngày 30/6/1954 là để quan sát tình hình và để xem xét tổng quát kế hoạch rút quân đội Quốc gia ra khỏi Bắc Việt đồng thời giải quyết vấn đề người di cư. Người Pháp thì đã có chương trình triệt thoái binh lính Pháp ngay từ đầu tháng 6 rồi. Vì thế, lần lượt quân đội Quốc Gia được rút khỏi Phát Diệm, Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình và đầu tháng bảy, sau đó rút khỏi Nam Định rồi Phủ Lý.[6]

Trong công cuộc di cư này, ông Diệm đã phản đối quân đội Pháp đã bỏ bom giết chết hàng ngàn người ở Bùi Chu và rằng đôi khi người di cư phải trả giá 100 đồng cho mỗi người được chở đi. Sách Thập giá và lưỡi gươm, không phải, phải nói là cuốn Dieu et César chỉ viết theo lời thuật lại của dân chúng đã thổi phồng số tiền lên đến 5000 quan Pháp cho một chỗ trên thuyền bè? Người dân quê lấy đâu ra tiền cho một chồ ngôi trên thuyền như vậy?

Kể từ ngày này, miền Nam tuổi trẻ thêm đa dạng, chẳng những thêm chất xám từ Bắc vô Nam. Chẳng những có cuộc di cư người mà còn có cuộc Di cư chữ nghĩa. Chữ nghĩa miền Bắc cũng lếch thếch đi theo người di cư xuống tầu há mồm vào miền Nam mà nay có thể có chữ còn chữ mất.

Vào đến miền Nam, Mai Thảo viết Đêm giã từ Hà nội. Để nhớ hay để quên? Và dưới mắt nhìn của Trần Văn Nam thì Đêm giã từ Hà nội là tiêu biểu cho văn nghệ thời kỳ này, vì nó manh nha một lối hành văn mới, một nghệ thuật mới. Trần Mộng Tú sau này xót xa Hà nội:

Lâu lắm em mới về Hà nội
Đi trên viên gạch tuổi thơ ngây
Gió mùa đông bắc làm em khóc
Hà nội, anh ơi phố rất gầy
[7]

Và ta hãy làm thinh lắng nghe:

Tôi xa Hà Nội năm em 16 khi vừa biết yêu….
Hôm nay Sài gòn bao nnhiêu tà áo khoe màu sắc vui, nhưng riêng một người.. Hà nội ơi …


Và mỗi một người trẻ dời Hà nội đều mang theo một mảnh Hà nội qua hội họa, thi ca, tiểu thuyết hay âm nhạc.

Thêm vào đó, còn có một số không nhỏ giới thanh niên trẻ đã học thành tài tại các nướcTây phương trở về với chính phủ miền Nam. Đây đã hẳn không phải một cuộc di cư mà là một sự chọn lựa chính trị, chọn lựa giữa Cộng Sản và Quốc Gia. Chọn lựa đứng về phía độc tài này hay phía tự do.Theo Nguyên Sa Trần Bích Lan kể lại chỉ có một nữ sinh viên dược tên Thẩm Hoàng Thư trong số các bạn bè của ông chọn về Hà nội. Mà lý do chọn lựa hiểu được, vì bố mẹ cô ở lại Hà nội. Đó là gia đình ông Thẩm Hoàng Tín, gia đình khá nổi tiếng mà đã có một thời ông Thẩm Hoàng Tín làm thị trưởng Hà nội.

Trong hồi ký của Võ Long Triều cũng có nhắc lại giai đoạn ấy, nhiều giới trẻ do dự trong quyết định giữa ở lại Pháp hay về miền Nam. Phần những người trẻ đã chọn miền Nam, kẻ trước người sau lần lượt rủ nhau về. Tên đứng hàng đầu của họ là Nguyên Sa Trần Bích Lan, Cung Trầm Tưởng, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Nguyễn Khắc Dương (em của Nguyễn Khắc Viện), Lê Thành Trị, Trần Văn Toàn, Lê Tôn Nghiêm, Đỗ Long Vân, Nguyễn Khắc Hoạch hay Trần Hồng Châu, Nguyễn Bình An, Nguyễn Huy Lịch, Hải Linh, Ngô Duy Linh, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Quang Lãm, Nguyễn Đình Đầu, Trần Thái Đỉnh, Trương Bá Cần, Bùi Xuân Bào, Võ Long Triều, Huỳnh Văn Lang ( Ở Mỹ về do lời kêu gọi của ông Diệm), Nguyễn Văn Trường, Bùi Xuân Bào, Trương Công Cừu, Nguyễn Văn Hanh vv Kể sao cho vừa.
.....
 
http://www.viet.no/content/view/864/88/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-09 05:15:09Như Ý>
20 năm triết lý Tây phương ở miền Nam Việt Nam 1955–1975

Nguyễn Văn Lục
 
.....
 
 
Theo Lý Chánh Trung, các nước Á Phi, Châu Mỹ La Tinh chỉ có thể thoát khỏi tình trạng tủi nhục của sự lệ thuộc, đói rách, thối nát, bất ổn khi nào có can đảm thay đổi toàn diện những cơ cấu mục nát do chế độ thực dân để lại, dám thắt lưng buộc bụng dể tạo dựng những cơ sở vững chắc hầu có thể tự mình giải quyết những vấn đề của mình. Nghĩa là phải phá bỏ cơ cấu bạo động bóc lột do thực dân để lại. Trong lời mở đầu của cuốn Cách Mạng và Đạo Đức, Lý Chánh Trung viết: “Tại các nước chậm tiến, cách mạng xã hội là một vấn đề sanh tử, một vấn đề danh dự”

Tại miền Nam, thay vì làm cách mạng xã hội, người ta chống Cộng. Nhưng thật ra chỉ có một cách chống Cộng hữu hiệu là làm cách mạng xã hội. Các đảng phái, nhà cầm quyền chỉ biết chống Cộng, nhưng lại duy trì cơ cấu thối nát thay vì làm cách mạng cơ cấu đó.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=print&sid=1509
Đăng nhập để trả lời
0
Tác giả:  Lý Chánh Trung
 
 
 
 
 
Kính Tặng Má
L.C.T
 
 
 
 
 
 
1.  CÁCH  MẠNG VÀ ĐẠO ĐỨC
     Nam Sơn, Saigon 1966
  
2.  BA NĂM XÁO TRỘN
     Nam Sơn, Saigon 1966
 
3.  TÌM VỀ DÂN TỘC
      Trình Bày, Saigon 1967
       Lửa Thiêng, Saigon 1972
 
4.  TÌM HIỂU NƯỚC MỸ
      Nguyễn Du, Saigon 1969
 
5.  BỌT BIỂN VÀ SÓNG NGẦM
      Đối Diện, Saigon 1972
 
 
 
Sẽ in:
 
TÔN GIÁO VÀ DÂN TỘC
 
 
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
Mục Lục
 
Lời nói đầu
 
Phần I:  Hồi ký cuả một cưụ học sinh truờng Tây
              1.  Truờng ta
              2.  Truờng Tây
              3.  Kế luận
 
Phần II: Suy nghĩ về hai chữ dân tộc
 
Phần III:  Suy nghĩ về hai chữ mất nuớc
 
 
Phụ lục 1: Vài hình ảnh mâu thuẩn trong lòng dân tộc
               * Thân phận tôi đòi
               * Ông chủ xe hơi và cô thư ký
               * Hai giới thanh niên
               * Những gót chân non
 
Phụ lục 2: Bức tâm thư kính gởi quí vị phụ huynh học sinh có con em học trường Pháp
Đăng nhập để trả lời
0
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
Mục Lục
 
Lời nói đầu
 
Trong những năm 1965-1967, ý thức dân tộc đã bộc phát mãnh liệt tại miền Nam, song  song với những biến chuyển lớn của thời cuộc.
 
Trong bối cảnh ầy, Hiệp Ước Văn Hoá Pháp Việt mãn hạn và sinh viên hoc sinh Saigon đã tổ chức một phong trào đòi đóng cửa các "truờng Tây" vào cuối năm 1966.  Lúc đó tôi có nhận một chức vụ tại Bộ Giáo Dục và chủ trương chánh thức cuả Bộ cũng là chấm dứt sự hiện diện của các truờng ngọai quốc tại miền Nam.
 
Chủ truơng này đuợc tán thành nhiều và bị chống đối cũng không ít, từ phiá những thế lực không có lợi lộc gì trong việc "đóng cửa truờng Tây".
 
Phần lớn những bài tôi viết trong giai đoạn đó, lúc còn làm ở Bộ Giáo Dục cũng như sau khi từ chức, đều nhằm biện hộ trực tiếp hay gián tiếp cho chủ trương nói trên. Đồng thời, tôi cũng muốn tìm xem hai chữ "dân tộc" có ý nghiã gì đối với riêng tôi, trên bình diện đời sống và trên bình diện tư tuởng.
 
Năm 1967, nhà xuất bản TRÌNH BÀY đã gom góp các bài ấy, thêm vào một số bài viết từ thời Ngô Đình Diệm, để làm thành cuốn sách nầy.
 
Cuốn sách có vẻ hỗn tạp vì gồm nhiều loại văn: hồi ký, diễn thuyết, bút ký, tâm thư.  Nhưng nó cũng có tính cách thống nhứt vì chỉ có một chủ đề là dân tộc.
 
Thật sự, đối với tôi cũng như đối với một số anh em khác, những năm sôi động nói trên là năm: "tìm về dân tộc" và cuốn sách nầy là một chứng tích nhỏ nhoi của sự "tìm về" đó.
 
Nay nhà xuất bản LỬA THIÊNG tái bản cuốn sách, tôi viết những dòng nầy để soi sáng thêm nội dung của nó, hy vọng sẽ giúp ích phần nào những người trẻ tuổi trên con đường tìm lại quê hương.
 
Tháng 8, 1972
L.C.T.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-11 18:37:16Như Ý>
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
Phần I
Hồi Ký cuả một
cựu học sinh trường Tây
 
I
TRƯỜNG TA
 
Ngày nay, mấy chú mấy cô học trò sư phạm, ra truờng mà rủi ro cầm đèn lái trong kỳ thi tốt nghiệp, thì có nhiều may mắn phải lựa chọn những nhiệm sở mang những cái tên "nho nhã" như An Xuyên, An Giang, Kiến Phong, Kiến Tuờng, và Vĩnh Bình  v..v...
 
Vĩnh Bình là quê tôi, cách Saigon đúng 204 cây số.  Muốn đi Vĩnh Bình, phải về miền Tây, qua Bắc Mỹ Thuận, tới Vĩnh Long rồi rẽ xuống bờ biển.  Đi Vĩnh Bình như chui vào một cái rọ: tới nưã là lọt xuống biển, sang hai bên thì đụng cửa sông Cửu Long.  Có lẽ vì cái vị trí "đuờng cùng" đó mà ít người dám tới tỉnh tôi và mặc dầu không xa Saigon lắm, nó vẫn bị xem là một nơi khỉ ho cò gáy.
 
Nhưng ai chê thì chê, chớ đối với dân Vĩnh Bình thì tự nhiên là tỉnh Vĩnh Bình đẹp vô song.
 
Tỉnh tôi có ao Bà Om, có chùa Ông Mẹc, có những con đuờng rợp mát ngoằn ngoèo chạy qua những "sóc" Miên trầm lặng, những mái chùa nhọn lễu vàng tươi ẩn hiện giữa những rặng sao cao vút.  Mùa khô gió lộng thổi, hoa sao bay rợp trời, như hai cánh quạt vù vù và mây bay lên thẳng, những con "thững' đủ màu lượn trên nền trời xanh trong....
 
Lúc trước nó có cái tên là Trà Vinh.  Trà Vinh từ chữ Prabang mà ra.  Prabang biến thành Trà Vang rồi Trà Vang thành Trà Vinh.  Đó là bài ngữ nguyên học đầu tiên cuả tôi ở truờng tiểu học, chẳng biết có đúng hay không nhưng dù sao thì chữ Trà Vinh độc đáo và đuợm nhiều hương vị địa phương , nó phát xuất từ lòng đất xứ nầy, nó êm êm và nằng nặng như tiếng nhạc ngũ âm của người Miên.
 
Nước mặn đồng chua, nhưng lòng người chơn thật.  Tôi đã sống nơi đây một thời thơ ấu yên lành và trong sáng.  Cho nên bài thơ con cóc  đầu tiên mà tôi đã rị mọ là để ca tụng cái tỉnh "hóc bò tó" cuả tôi:
 
"Ở tình Trà Vinh, đất Phật vàng
Đuờng thêu bóng mát, rộng thênh thang
Chiều chuiều sương xuống, đèn lên đỏ
Rộn rã tưng bừng tiếng guốc vang..."
 
.....
Đăng nhập để trả lời
0
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
.....
 
Có lẻ vì cái tánh thơ thẩn lang bang mà năm 1940, tôi thi rớt tiểu học.
 
Chiến tranh bùng nổ bên Âu Châu, mà ở Việt Nam thì chưa có gì cả.  Tỉnh tôi vẫn tiếp tục cuộc sống bình thản của hầu hết các tỉnh miền Tây.  Nghe nói có quân đội Nhựt Bổn sang và có chuyện lộn xộn gì đó ở ngoài Bắc, nhưng chưa ai đuợc hân hạnh thấy mấy ông "cộng sản" rục rịch miệt Vũng Liêm, Cai Lậy, nhưng chưa ai rõ "Cộng sản" là gì?  Chế độ thuộc địa có vẻ vững như bàn thạch: trọn một tỉnh Trà Vinh chỉ có ba ông Tây chánh cống: một ông Chánh, một ông Phó, và một ông Cò chỉ huy vài chục chú lính chưa hề biết trận mạc và đuợc võ trang bằng những cây súng mút cơ tông thời Đệ nhứt thế chiến, nôm na là thời "giặc cách to".  mấy cây súng tiền bối này khi giao cho Thanh niên Tiền phong năm 45, phải lau chùi cả tuần vì một số đã rỉ sét!
 
Ông Nguyễn Văn Khuê, vừa đậu Cử nhơn Văn Chuơng bên Pháp về, mở ngay một truờng trung học tư thực lấy tên là "Lycéum Nguyễn Văn Khuê" và cho đi quảng cáo khắp miền lục tỉnh.  Một số con em gia đình khá giả gởi lên học trong đó có tác giả bài nầy để khỏi ở lại một năm lớp Nhứt.
 
Lúc ấy, ở tỉnh mà "đi học truờng trên" là cả một vinh dự và một phiêu lưu: rương tráp quần áo được cụ bị cả tháng truớc và buổi tiển đưa diễn hành đúng theo bài tập đọc trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư: "Cơm nuớc xong, trời vưà tối....".  Khác một điều là đi lên xe đò chứ không phải đi xuống thuyền, nhưng vẫn "cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!".
 
Năm 1940, nếu tôi không lầm, Saigon mới có sáu truờng trung học tư thục: Taberd, Saint-Paul, Lycéum Paul Doumer là cuả người Pháp.  Người Việt chỉ có ba truờng là Lê Bá Cang, Huỳnh Khương Ninh, và Nguyễn Văn Khuê.  Truờng Nguyễn Văn Khuê chưa phải là caí buynh-đinh đồ sộ của truờng Bồ Đề bây giờ, mà chỉ gồm một dãy phố lầu cũ kỹ khác hẳn dãy trường nguy nga đuợc vẽ trong giấy quảng cáo!  Từng trên làm phòng ngủ cho học sinh nội trú, từng dưới làm lớp học.
 
Bên cạnh truờng, ngôi nhà bây giờ là tu viện Phan-Xi-Cô, lúc ấy là nội trú của vài chục cô đầm lai, hình như là con rơi của nhà binh Pháp, tối tối mấy cô đi chơi với bạn trai về, hun hít chùn chụt hoặc cãi nhau chí chóe.  Phía bên trái, đi mút đại lộ  Kít-sơ-ne, là chợ Cầu Ông Lãnh với một đám "anh chị" danh tiếng cả một thời.  Phía sau truờng, cách vài trăm thước, lại có con đường Lơ-Pheo với những dãy nhà chứa điếm công khai, chiều chiều mấy cô ả em cháu Tú Bà, phấn son lòe loẹt, nhởn nhơ níu kéo khách hàng, nói cười tíu tít.  Một khu xóm "lành mạnh" như vậy mà ông Khuê dám mở truờng, kể cũng là gan.
 
.....
Đăng nhập để trả lời
0
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
.....
 
Anh hùng tứ chiếng miền Đông, miền Tây, con cháu địa chủ, thương gia, công chức, từ những thằng oắt con 12, 13 tuổi cho tới những "anh lớn" tròm trèm 20, tụ họp trong 10 căn phố nhỏ (mỗi phòng ngủ chứa 20 giuờng sấp lớp như cá mòi hộp) giữa một bối cảnh như đã nói ở trên làm sao cho khỏi cảnh giặc!
 
Hai tháng đầu, còn một chút kỷ luật.  Sau đó cho tới cuối niên học, là chơi thả cửa: lớn theo điệu lờn, nhỏ theo điệu nhỏ.  Oắt con như chúng tôi thì có những cái thú đi tiệm nước uống xịt xủi và phá mấy chú Ba Tàu, xuống chợ Cầu Ông Lãnh ăn lôm chôm, măng cụt, la cà ở Sở thú và Đại Thế Giới, hoặc nấu chè khuya những đêm trăng, vừa ăn vừa tán dóc.  Những cái thú cuả mấy "anh lớn" thì khác xa, và không tiện kể ra đây.
 
Chỉ nên nói rằng câu: "vô lậu bất thành nhơn" là câu châm ngôn cuả một số lớn mấy ảnh và ai mà hiền lành không chịu đi chơi thì bị coi như....con gái!  Mấy "anh lớn" chơi bời một cây đó bây giờ đã thành những "bậc đàn anh" chững chạc khệnh khạng, cháu ngoại , cháu nội cả bầy, nên lâu lâu chắc cũng bắt chước Ông Bà, ngửa mặt trời khóc ba tiếng mà than rằng: "Ô hô, phong hóa suy đồi, thanh niên hư hỏng!".  Nhưng néu so sánh thanh niên bây giờ với cái thời mà mấy ảnh còn mơn mởn 20 cái xuân xanh, thì chắc gì ai đã hơn ai!
 
Chơi riết cũng nhàm nên mấy "anh lớn" bày cái chuyện 'làm reo" lấy cớ nhà trường cho ăn quá khổ.  Ngày đó, vừa nhập bữa cơm trưa, một "anh lớn" đứng lên, quăng chén cơm xuống đất.  Thế là 200 học sinh nhứt tề lật đổ các bàn ăn: chén điã bể rổn rảng, canh cá văng tứ tung.  Tôi lảnh đủ hai điã nước mắm và thịt kho, tắm gội hai ngày chưa hết mùi.
 
Đaị khái những cái bê bối (kể ra đuợc) là như vậy.  Nhưng bây giờ nói lại năm học đó, tôi vẫn giữ một mối cảm tình sâu đậm với truờng Nguyễn Văn Khuê.  Chắc không phải vì đuợc rong chơi thả cưả, mà đúng hơn, vì đó là một trường hoàn toàn Việt Nam với một sự ấm cúng đặc biệt của quê hương tôi, dầu là một quê hương bê bối, dơ dáy, và hỗn loạn.  Không bao giờ tôi tìm lại đuợc sự ấm cúng đó trong những ngôi trường tốt đẹp, sạch sẻ, ngăn nắp mà tôi đuợc học sau nầy.
Đăng nhập để trả lời
0
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
.....
Cũng trong niên học ấy, tôi bắt đầu yêu văn chương Việt Nam, mê Tự Lực Văn Đoàn, say thơ Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, bắt đầu làm thơ con cóc  và viết những giòng 'lưu bút" lâm ly cho mấy thằng bạn quỷ sứ ma gà.
 
Tôi đuợc may mắn học Việt văn với cụ Diệp Văn Kỳ -mà chúng tôi gọi là Papa- một nhà báo nổi tiếng thời đó.  Papa Kỳ làm biếng không ai bằng, trọn một năm chỉ cho một bài luận mà cuối năm, khi chúng tôi dâng hoa và đọc đít-cua từ biệt, có đứa cắc cớ nhắc lại bài luận đó thì Papa cười hề hề mà nói: "Văn của tụi bây ai mà sửa cho nổi!".  Nhưng Papa có cái tài đặc biệt đưa tâm hồn chúng tôi vào không khí một áng văn, một bài thơ,  Papa cũng tùy hứng mà dạy, không theo một chương trình nào, nên năm đó, chúng tôi đuợc thưởng thức đến cả thơ Lý Bạch: "Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thuợng lai...".  Viết lại những giòng này, tôi có cảm tuởng còn nghe nước sông Hoàng Hà từ lưng trời ào ào đổ xuống theo giọng nói sang sảng của Papa Kỳ.  Đó là cái vốn "văn hoá dân tộc" tối thiểu mà sau nầy tôi mới thấy rõ tầm quan trọng.
 
Cuối niên học, mặc dầu tôi đã giựt đuợc mảnh bằng tiểu học một cách oai hùng, mẹ tôi có lẽ muốn noi gương bà Mạnh Mẫu, quyết định gởi thằng con hoang đàng vào " Truờng mấy ông Thầy Dòng".  Thế là ba tháng hè năm đó, tôi phải bù đầu học tiếng La-tinh để có thể vào lớp Đệ ngũ ( classe de Cinqième) ban cổ điển A, chuơng trình Pháp chánh cống, truờng Taberd.  Lần đầu tiên, tôi vào thế giới Công giáo.  Đó cũng là một thế giới Tây.
Đăng nhập để trả lời
0
TÌM VỀ DÂN TỘC
 
Phần I
Hồi Ký cuả một
cựu học sinh trường Tây
 
II
TRƯỜNG TÂY
 
Năm  1942, trường Taberd không quá đồ sộ như bây giờ, nhưng vẫn là một trong những truờng trung học lớn nhứt Đông Dương và có một kỷ luật nghiêm minh nhứt.  Vào " Truờng Thầy Dòng" là quỳ chai gối, tỉnh tôi thiên hạ vẫn đồn như vậy.
 
Qua cánh cổng vĩ đại, ba dãy lầu cổ kính sừng sững nhìn xuống một sân cỏ trang nghiêm.  Những hành lang tun hút chạy dài quanh những lóp học quang đãng, không một chút bụi bậm rác rến.  Hàng ngàn học sinh đồng phục trắng răm rắp tuân theo cặp mắt, bàn tay cuả các vị Sư huynh đồng phục đen, hiền từ nhưng nghiêm khắc.
 
Đối với tôi, đã quen chui lỗ chó đi phá làng phá xóm ở truờng Nguyễn Văn Khuê, cái cảnh 300 học sinh nôi trú nhứt tề ngủ, nhứt tề đọc kinh, nhứt tề rửa mặt v. v...là môt cảm giác mới lạ vừa buồn cười vừa khám phá, như anh nhà quê đuợc xem lần đầu một cuộc diễn binh, tự hỏi làm sao cả ngàn người có thể "ắc-ê" đi đồng nhịp như vậy.
 
Kỷ luật, trật tự, tổ chức: đó là sự khám phá đầu tiên của tôi ở truờng Taberd.  Sau những ngày bực bội, tôi cảm thấy sống ở đây thoải mái, dễ chịu hơn là cái nếp hoang đàng của truờng Nguyễn Văn Khuê.  Nơi đây tất cả đều hợp lý, sạch sẻ, sáng suả.  Giờ học phải học, giờ chơi đuợc chơi, giờ ngủ phải ngủ.  Tôi vào đây để học thì chỉ phải lo có một chuyện là học.  Không lo thì các Sư huynh có nhiều biện pháp hữu hiệu để bắt buộc phải lo.
 
Không có những cảnh vừa tắm vừa phải lấy gáo dội những con dòi trong cầu tiêu lúc nhúc bò ra "tấn công", hoặc đang ngồi "etude" buổi tối lại có vài thằng quỷ sứ trần truồng như nhộng, sà bông đầy mình chơi cút bắt hò hét chạy ngang  qua lớp; hoặc lối một hai giờ khuya, mọi người đang ngủ, một anh lớn đi chơi về, phựt đèn sáng trưng vừa thay đồ vừa chưởi thề rang rảng, rồi bắt mọi người thức dậy để nghe câu chuyện "mần ăn" của ảnh đêm đó!  Nhưng ngược lại, cũng không còn nhũng cảnh năm ba thằng con nít thương nhau tha thiết, chiều chiều xuống bếp xin miếng cơm cháy thoa mỡ hành vừa ăn vừa "tâm sự", hoặc trưa mua năm xu hột xoay đi la cà trong sở thú, vừa chọc khỉ vưà "tâm sự".  Hoặc tối tối trải chiếu ngoài terrasse, nằm gát chân lên nhau vừa ngắm trăng vừa.... "tâm sự", tâm sự đến cuối năm chưa hết!  Đuợc cái này mất cái kia.  Đuợc cái trật tự mất cái ấm cúng.  Cho nên vấn đề là làm sao có đuợc cả hai.
 
.....
 
Đăng nhập để trả lời
0
II
TRƯỜNG TÂY
 
.....
 
Cái khám phá thứ hai cuả tôi là đạo gìáo gia đình tôi cũng như môpt số gia đình Việt Nam thời đó, không có đạo nào rõ rệt.  Ông tôi lúc về già theo đạo Tin Lành, nhưng vì không đồng ý " thờ chúa trong tinh thần và sự thật" như đã bảo trong Tân Ước.  Những kỹ niệm xa nhứt cuả tôi về đạo giáo là tờ: "Thánh Kinh Báo"  (một tờ nguyệt san Tin Lành rất buồn ngủ và nhức đầu) mà bà tôi thường bắt buộc tôi đọc cho bà nghe những buổi trưa hè và một bài hát Nô-ên của người Tin Lành mà ông tôi đã dạy những lần chúng tôi đấm lưng cho ông:
Trời thanh sao sáng
Ngươì lặng nghiêm trang
Bổng đâu trong mục đống
 Chợt thấy hào quang.
Alleluia, hát lên mừng thay.
Jesus con Chuá xuống thế ngày nay!
 
Tôi có một bà dì vô đạo Thiên Chuá vì phải "theo đạo chồng" và một lần, tôi có xem những "chặng đuờng thánh giá" cuả Chúa Giêsu trong cuốn sách lễ cuả dì.  Tôi nhớ đã cảm thấ tôụ nghiệp cái ông Giêsu và oán ghét tuị "quân dữ".  Rồi không để ý tới nữa.
 
Nói chung là cho đến khi "học truờng trên" tôi chẳng có một kinh nghiệm tôn giáo nào  NguơiCông Giáo đầu tiên tôi quen à một "anh lớn" ở truờng Nguyễn Văn Khuê,tên Simon L.  Trong khắp nột trú chỉ biết có mình anh là Công Giáo, vì lúc nào anh cũng đeo lủng lẳng tượng ảnh Đức Bà trước ngực.  Simon cao lớn dềnh dàng, nói tiếng Tây rất giỏi(vì ở truờng Tây chánh cống trôi qua bên này), nói tiếng An-Nam với một giọng rất Tây, tính nết lại hiền lành, thường can gián những vụ cãi lộn đấm đá những lúc các tiểu anh hùng ngứa ngáy tay chân, nên đuợc cảm tình của mọi người.
 
....
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-13 00:15:05Như Ý>
II
TRƯỜNG TÂY
 
....
Nhưng có một cái gì ngăn cách anh với chúng tôi, khiến cho chúng tôi không thể xem anh hoàn toàn như chúng tôi" đuợc. Ngay cái tượng anh cuả anh đã là một ngăn cách; con trai mà đeo "dây chuyền vàng" chúng tôi thấy  kỳ kỳ thế nào!  Tại trường Nguyễn Văn Khuê, không ai bàn tôn giáo.  Tôi chỉ nhớ có một lần, nghe một "anh lớn" cãi nhau với anh Simon về đạo Thiên Chúa, mà anh kia cho là một "entreprisee comerciale": anh Simon giận đỏ mặt rồi quay quả bỏ đi.

Đạo Thiên Chuá là cả một sự bí mật đối với chúng tôi mà lâu lâu có nhắc tới, chúng tôi tìm cách giải thích bằng những chuyện quái đản (như anh lớn vưà nói), có những chuyện bây giờ nhớ lại còn tức cười hoặc ớn xương sống.  Nhưng đó chỉ là tán dóc mà chơi chớ sự bí mật cuả đaọ Thiên Chuá không khêu gợi trí tò mò cuả chúng tôi.  Chúng tôi xem nó như không thuộc về thế giới của chúng tôi, như một cái gì hoàn toàn xa lạ, không phải riêng đạo Thiên Chuá mà tất cả các đạo giáo nói chung.  Đạo Thiên Chúa chỉ xa lạ hơn hết, vì bị chúng tôi coi là "đạo của Tây".  Nhưng các đạo khác cũng không thân mật gì với chúng tôi, kể cả Phât giáo.  Thế hệ chúng tôi quả là một thế hệ "vô đạo" và do đó. phải nói rằng cái "cảm thức tôn giáo (sentiment religieux) đưa đến sự lo âu tìm tòi về cái ý nghiã sau cùng cuả cuộc đời, không phải là cái gì tự nhiên mà phải được tạo nên do môi trường giáo dục
Đăng nhập để trả lời
0
II
TRƯỜNG TÂY
 
Bây giờ, vào truờng Taberd là vào thế giới của đạo giáo.  Đạo giáo bao trùm đời sống và việc học.  Kinh kệ khởi đầu và kết thúc mỗi hoạt động.  Mỗi buổi sáng, nửa giờ đầu luôn luôn dành cho giáo lý.
 
Phương pháp là học và trả thuộc lòng.  Ông thầy chỉ một chú học trò và gõ thước cái cốp, chú này đứng dậy trả câu thứ nhứt: "Hỏi: Đức Chúa Trời là gì? - Thưa: Đức Chúa Trời là đấng tạo nên trời đất và muôn vật. " (bằng tiếng Tây).  Thước lại gõ cái cốp và chú học trò thứ hai đứng dậy...cho đến khi nào hết bài.  Tôi là thằng làm biếng tổ, sáng nào cũng co rúm nguơì, cố làm cho mình nhỏ lại như hột cát để thoát khỏi cái nhìn của Sư huynh.
 
Nhưng cái cực hình kinh khủng nhứt đời tôi là đầu lóp học buổi trưa, học sinh phải lần nguyên một chuỗi tràng hạt.  Trời nóng như thiêu, giọng kinh trầm trầm kéo dài như không bao giờ dứt, đứng yên một chỗ không cục cựa, tôi cảm thấy tứ chi ngứa ngáy rần rần như có trăm ngàn con kiến đang bò lên.
 
Nhưng riết rồi cũng quen và một khi đã thuộc kinh, tôi cũng ê-a hằng giờ với mấy đứa kia, không còn bực bội nữa: Tiên học lễ, hậu học văn là vậy!
Qua buổi sơ giao tôi bắt đầu chóa mắt bởi cái huy hoàng tôn nghiêm của lễ nghi Công giáo.  Những đại lễ, đèn đuốc sáng choang, hương trầm nghi ngút, những bản thánh ca vang lên trầm buồn hoặc phấn khởi theo tiếng đàn Harmoniuca, các vị chủ tế, phụ tế với đàn trẻ "giúp lễ", áo mão rỡ ràng, tiến lui đồng nhịp... tuy chẳng hiểu gì, cũng thấy là đẹp, đẹp lắm.
 
Cái hay của lễ nghi Công giáo là nó vừa thỏa mản lý trí, vừa thỏa mãn tình cảm; nó phù hợp với tâm tình người Việt Nam, vốn giàu tình cảm, hơn lễ nghi Tin lành.  tôi nhớ lúc nhỏ có đi theo bà tôi vài lần đến "nhà nghuyện" Tin lành ngày chúa nhựt.  Những buổi lễ đó không gây cho tôi một xúc động nào cả.
 
.....
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
II
TRƯỜNG TÂY
 
Dần dần từ cái vỏ bề ngoài, tôi khám phá được cái bề trong, khám phá được Đức Kitô, và đó là món qua quý báu nhứ mà tôi đã thọ lãnh của truờng Taberd.  Nhờ món quà nầy, con người của tôi mới bớt đi phần nào cái sư6 bê bối....  Bao nhiêu đó đủ cho tôi nhớ ơn muôn đời các vị Sư huynh.
 
Nhưng phải nói thêm rằng những giờ  "giáo lý" với những cái nhịp cốp cốp rùng rợn của cây thước, hầu như không có một tác dụng nào trong cuộc gặp go84 Đức Kitô, mà đúng hơn là gương mặt trong sáng an hòa của một vài Sư huynh khả kính...
 
Khám phá thứ ba của tôi là thế giới của người Tây.  Ở  tỉnh tôi, chỉ có ba ông Tây.  Trong ba ông nầy có "ông Cò" là gặp thường nhứt vì sáng nào ông cũng xách cây roi gân bò đi rảo chợ, mặt mày đỏ hoét, râu ria xôm xàm, thấy mà phát ớn.  Còn hai ông kia thì rút trong những dinh thự đồ sộ, họ cao xa như trăng sao, mơ hồ như huyền thoại, bí mật như vua chúa.
 
Bây giờ đuợc sống với mấy thằng Tây con, được học với mấy ông thầy Tây (hầu hết các Sư huynh lúc đó là người Pháp), làm sao mà không hãnh diện!  Tôi thân ngay với thằng nhóc cùng tuổi tên là Michel.  Một tháng sau, tôi nói tiếng Tây chẳng thua gì gì nó và chưởi thề thì giỏi hơn nhiều.  Hai đứa thân nhau đến nổi vào cuối niên học, ba nó đồi lên Da lạt, nó từ biệt tôi mà khóc như mưa như gió!
 
Sau nầy gặp lại nó đang học luật bên Pháp hai đứa chẳng còn gì để nói: giữa chúng tôi có cuộc chiến tranh Việt-Pháp mà thằng Michel, vì là dân thuộc địa không thể nào hiểu được.  Tình bạn xưa cũ nhắc lại cho chúng tôi cái thời người Pháp còn làm chúa xứ nầy: Michel thích cái thời đó, tôi thì không.   Chúng tôi ngượng ngịu từ giã nhau, hẹn gặp nhau lần nữa để không bao giờ gặp nhau lại...
 
 Người Tây không còn xa lạ đối với tôi.  Michel gắn liền với ông Cò , ông Phó, ông Chánh tỉnh Trà Vinh.  Tôi tập tểnh bước vào "giai cấp thống trị"!
 
.....
Đăng nhập để trả lời
0
II
TRƯỜNG TÂY
…..
 
Bãi trường Nô-en, về nhà, tôi đi xem lễ tại nhà thờ tỉnh, mặc dầu chưa "vô đạo" (thời đó nói "vô đạo" - "đi đạo" theo tiếng Bắc- có nghĩa là mặc nhiên là vô đạo Thiên Chúa, như thể không theo đạo Thiên Chúa thì không khác gì mấy cái nhà thờ bên Pháp mà sau nầy tôi có dịp đi lễ.  Ở giữa, hai hàng ghế quỳ cá nhân có nệm, dành cho bổn đạo "hạng sang".  Hai bên là những chiếc băng cây dành cho bổn đạo "bình dân".  Nói "dành cho" là không đúng lắm vì không có chỉ thị nào cấm những người bình dân chiếm hai hàng ghế giữa.  Nhưng suốt mấy năm đi lễ ở đó, chưa bao giờ tôi thấy "xóm nhà lá" dám tràn qua "xóm nhà ngói".
 
Ở mút phía trước hai hàng ghế giữa, là những chỗ dành cho các ông quan Tây với những chiếc ghế bành to tướng.  Lúc ấy, ông Chánh là người mộ đạo nên các quan lớn đều đi lễ với quí vị phu nhân và các cậu Tây Đầm con cũng "về quê" như tôi, trong dịp No-en.
 
Tôi quỳ ở hàng ghế giữa ngoài sau, với các gia đình "danh giá".  Nhìn mấy chú Tây con, tôi nhớ thằng Michel và cảm thấy gần chúng hơn là gần mấy thắng con nít An-nam đang chen chút trên những chiếc bằng cây bên cạnh.
 
không bao giờ tôi quên đuợc cảm giác nầy: cái cảm giác khoan khoái dễ chịu đuợc thuộc vào một lớp người sang cả thơm tho đẹp đẽ, đuợc quì trên một chiếc ghế riêng, êm ái, tách rời khỏi cái đám đông hôi hám lúc nhúc chung quanh.
 
…..
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-13 22:59:04Như Ý>
II
TRƯỜNG TÂY
…..
 
Đi từ Nguyễn Văn Khuê qua Taberd cũng là rời bỏ đám đông đề nhập vào nhóm người sang cả.
 
Cái cảm giác “tách rời’ đó rõ rệt nhứt trong một buổi lễ “thanh niên” được tổ chức cho các trường Trung học Saigon.  Lúc ấy đô đốc Đơ-Cu còn ngự trị phây phây trên toàn cõi Đông Dương mặc dầu quân đội Nhựt Hoàng đã chiếm đóng xứ nầy với cái danh nghĩa là giải phóng các dân tộc Đông Nam Á.  Một tiểu tướng có tài, ông đại tá Đu-Cu-Roi, phát động một phong trào "thanh niên" thể thao rần rộ để ru ngủ người Việt Nam.  Những trận tranh hùng (đá banh, xe đạp, điền kinh v.v…) giữa năm “xứ” Miên, Lèo, Nam, Trung , và Bắc, vừa có tác dụng gây chia rẽ, vừa tạo cái huyền thoại có một “nước” Đông Dương trên đó người Pháp-và những kẻ theo Pháp-đương nhiên nắm vai trò lãnh đạo.
 
Ngày lễ bà Thánh Jeanne d’Arc được cử hành cực kỳ trọng thể với sự tham dự của tất cả học sinh đồng hát những bài “ái quốc” theo kiểu nầy:
 

Giờ phút nầy, tất cả nước Pháp
Đứng dậy, với những đứa con yêu
(trong đó chúng tôi dân Anamit)
Để chào mừng ngọn cờ oanh liệt
Của người trinh nữ Orleaans…

 
Sáng nào chúng tôi cũng on-đơ đi hàng tư và hát:
“Thưa Thống chế (pétain) có chúng con đây
trước mặt Ngài vị cứu tinh của Pháp quốc!”
 
Ngày đó một cuộc biểu diễn thể thao được tổ chức tại sân “Cercle Sporttif” bây giờ là sân Tao Dàn.  Tôi đi trong hàng ngũ trắng muốt chỉnh tề của trường Taberd, cạnh thằng Michel.  Trước cửa sân Cercle đụng đầu với đạo quân Nguyễn Văn Khuê: trông tụi nó mới lôi thôi lếch thếch thiểu não làm sao.  Mấy thằng bạn cũ thấy tôi mừng quýnh kêu lên in ỏi.  Thằng Michel thúc cùi chỏ vào hông tôi hỏi nhỏ: “Bạn cũ của mầy phải không?”.  Tôi cảm thấy khó chiụ và xấu hổ về những thằng bạn nầy, như ông nhà giàu khi phải giới thiệu một người bà con rách rưới cho ông khách sang trọng.  Và tôi không trả lời thằng Michel, chỉ nhún vai một cái-như Tây.
…..
Đăng nhập để trả lời
0
II
TRƯỜNG TÂY
 
…..
 
Đi từ Nguyễn Văn Khuê qua Taberd cũng là rời bỏ đám đông để nhập vào nhóm người sang cả.
 
Cái cảm giác “tách rời’ đó rõ rệt nhứt trong một buổi lễ “thanh niên” được tổ chức cho các trường Trung học Saigon.  Lúc ấy đô đốc Đơ-Cu còn ngự trị phây phây trên toàn cõi Đông Dương mặc dầu quân đội Nhựt Hoàng đã chiếm đóng xứ nầy với cái danh nghĩa là giải phóng các dân tộc Đông Nam Á.  Một tiểu tướng có tài, ông đại tá Đu-Cu-Roi, phát động một phong trào thanh niên thể thao rần rộ để ru ngủ người Việt Nam.  Những trận tranh hùng (đá banh, xe đạp, điền kinh v.v…) giữa năm “xứ” Miên, Lèo, Nam, Trung , và Bắc, vừa có tác dụng gây chia rẽ, vừa tạo cái huyền thoại có một “nước” Đông Dương trên đó người Pháp - và những kẻ theo Pháp - đương nhiên nắm vai trò lãnh đạo.
 
Ngày lễ bà Thánh Jeanne d’Arc được cử hành cực kỳ trọng thể với sự tham dự của tất cả học sinh đồng hát những bài “ái quốc” theo kiểu nầy:
 
Giờ phút nầy, tất cả nước Pháp
Đứng dậy, với những đứa con yêu
(trong đó chúng tôi dân Anamit)
Để chào mừng ngọn cờ oanh liệt
Của người trinh nữ Orleaans…
 
Sáng nào chúng tôi cũng on-đơ đi hàng tư và hát:
“Thưa Thống chế (Pétain) có chúng con đây
Trước mặt Ngài vị cứu tinh của Pháp quốc!”
 
Ngày đó một cuộc biểu diễn thể thao được tổ chức tại sân “Cercle Sporttif” bây giờ là sân Tao Dàn.  Tôi đi trong hàng ngũ trắng muốt chỉnh tề của trường Taberd, cạnh thằng Michel.  Trước cửa sân Cercle đụng dđầu với đạo quân Nguyễn Văn Khuê: trông tụi nó mới lôi thôi lếch thếch thiểu não làm sao.  Mấy thằng bạn cũ thấy tôi mừng quýnh kêu lên in ỏi.  Thằng Michel thúc cùi chỏ vào hông tôi hỏi nhỏ: “Bạn cũ của mầy phải không?”.  Tôi cảm thấy khó chiụ và xấu hổ về những thằng bạn nầy, như ông nhà giàu khi phải giới thiệu một người bà con rách rưới cho ông khách sang trọng.  Và tôi không trả lời thằng Michel, chỉ nhún vai một cái - như Tây.
…..
 
Cũng trong năm đó, tôi bắt đầu mê văn chương Pháp, như tôi mê văn chương Việt Nam.  Từ những cuốn sách hồng của bà Comtesse de Ségur cho đến những bài thơ của Lamartine, Musset, Baudeliaire, đụng cái gì là đọc ngấu cái đó.  Các Sư huynh chăm sóc học sinh rất kỹ luỡng nhưng không thể coi chừng học sinh tới trong… cầu tiêu!  Và cầu tiêu là chỗ đọc sách thú vị nhứt, đặc biệt là những sách “cấm”.   Thằng Michel ở ngoại trú, chuyên môn tiếp tế cho tôi những cuốn sách loại nầy, ăn cắp trong tủ sách ba nó.  Vì mãi mê đọc sách mà nó với tôi cầm đèn lái liên miên.  Cầm đàn lái (học hạng bét) ở Taberd là cả một tủi nhục: đầu tuấn, Sư huynh Giám học vào lớp, mang theo hai chồng học bạ và kêu tên từng đứa, những đứa đứng đầu sổ lên lảnh học bạ trước và đứng đầu lớp, gần ánh sáng mặt trời; những đứa cầm đèn lái cũng phải lên lảnh học bạ rồi xuống đứng ở cuối lớp, nơi tối tăm mù mịt “có những tiếng khóc và tiếng nghiến răng” (Thánh Kinh).  Thật là một cực hình.  Nhưng bù lại, có cái thú đọc sách Tây.  Năm đó tôi chưa có can đảm hy sinh cái thú nầy vì nó đưa tôi vào một thế giới xa lạ vô cùng hấp dẫn.
 
Càng đi sâu vào thế giới Tây, tôi càng bực bội cái thế giới An-Nam mà tôi bắt buộc phải tham dự, càng chỉ nhìn thấy những cái xâu xí quê ba cục của dân da vàng mũi xệp mà   tôi cảm thấy liên đới vì cũng mũi xệp da vàng.  Bãi trường về nhà tôi ưa cãi nhau với người bà con lớn tuổi -nhưng “nhà quê”- không coi ai có kí-lô nào cả.
 
Ông bà tôi có cái lệ mời những người tá điền ở lại ăn cơm khi gặp bữa, những lần họ đến thăm.  Lúc trước, tôi không để ý gì, nhưng bây giờ cảm thấy khó chịu phải ăn chung với những nông phu chất phát hiền lành đó.  Những cử chỉ đặc biệt “nhà quê” như uống rượu khề khà, húp canh xọt xoẹt, xỉa răng xong lại súc miệng rột rẹt v. v làm tôi nổi gay nổi góc cùng mình.
 
Những sự phân biệt tế nhị của trường Taberd tăng gia cảm giác bực bội đó.  Thời ấy, trường có hai ban: ban Trung học Pháp chánh cống và ban “Cao đẳng Tiểu học Đông Dương”.  Dân trung học Tây chiếm dãy lầu chánh phía trước, dân Cao Đẳng Đông Dương ở ngoài sau, trong một tòa nhà rất xưa, có lẽ tòa nhà được xây cất đầu tiên, phía đường Gia Long bây giờ.  Một bức tường nhỏ phân chia hai thế giới, có một cánh cửa thông qua, nhưng chỉ có các Sư huynh và những người giúp việc đi lại, còn học sinh thì ai ở nhà nấy nên không bao giờ gặp nhau.  Lâu lâu chúng tôi mới thấy các anh “Đông Dương” ở xa xa - mấy ảnh thường mặc bà ba trắng, ngày lễ thì mặc áo dài - xem cù lần không chịu nổi!
 
……
 
Đăng nhập để trả lời
0
II
TRƯỜNG TÂY 
….
 
 Bên tụi “Tây” thì không có phân biệt gì, trừ cái việc ăn uống: có tụi ăn cơm Tây và có tụi ăn cơm An Nam.  Hầu hết học sinh Việt Nam đều ăn cơm ta nghĩa là ngày ba bữa: cơm, cơm, và …cơm!  Tụi ăn cơm Tây chắc cũng không sang gì hơn, nhưng tụi nó có vẻ suớng hơn.  Thú thiệt, sáng sáng thấy tụi nó uống cà phê sữa mà thèm.  Mỗi bữa chiều, truớc giờ chơi, lại có ông bồi già khệ nê mang vào lớp một giỏ bánh mì và chuối sứ.   Đó là buổi “gôuter” cho học sinh ít để ý đến giỏ bánh mì nầy, vì đứa nào cũng có tiền và ngoài quán chú Xồi bán bánh ngon hơn.  Nhưng khoảng cuối tháng, khi cái bóp lép xẹp thì giỏ bánh mì chuối sứ có vẻ hấp dẫn lạ lùng!  Nhưng đó là của riêng dành cho tụi ăn cơm Tây, dân ăn cơm Anamít không đuợc mó vô.  Thật là cái thế giới Tây nó tôn ti trật tự lắm vậy!
 
Ở trong thế giới Tây nhưng lại không được thành Tây thật sự, vừa cảm thấy mình “hơn” những người Việt Nam khác vì được gần Tây , vừa cảm thấy mình vẫn “thua” Tây ở môt điểm nào đ; cái tâm trạng của người An Nam sồng trong một thế giới Tây thật là rắc rối.  Nói cho đúng, chúng tôi không có “thua” mà trái lại “hơn” tụi nó ở điểm đặc biệt là trong việc học hành.  Suốt mấy năm Trung học, không có thằng Tây con nào được đứng đầu lớp.  Có một lần, tôi nghe hai Sư huynh người Pháp nói chuyện với nhau về cái hiện tượng học sinh Tây thua học sinh An Nam, và một ông đã đổ thừa cho cái khí hậu nực nội của xứ nầy.  Chúng tôi không thua nhưng vẫn cảm thấy thua vì ở trong thế giới Tây là bắt buộc ước muốn những gì mình không thể có: làm sao c ó được cái mũi lỏ tóc quăn như Tây, làm sao được coi như người Tây chính cống trong một chế độ thuộc địa, ngay cả những người đã được “vô dân Tây”, nghĩa là thành Tây thật sự trên phương diện pháp lý!  Để bù trừ cái mặc cảm tư ty, chúng tôi trở lại khinh dể tụi Tây con, cho tụi nó là ngu si ngờ nghệch, dạy tụi nó những chữ An Nam tục tĩu rồi phá lên cười mỗi lần chúng nó lặp lại một cách ngô nghê những chữ đó.
 
Có lẽ vì những tình cảm mâu thuẩn nầy mà bây giờ, nhớ lại những năm học tại trường Taberd, tôi không có được nỗi luyến tiếc đậm đà như đối với trường Nguyễn Văn Khuê.  Nơi đây không có những phân chia tế nhị mà chỉ có rặc ròng một hạng học sinh An Nam, cùng chung một số phận và một nếp sống.  Chúng tôi sống trong cái thế giới An Nam đó như cá trong nước, không tự tôn mà cũng chẳng tự ty; chúng tôi là chúng tôi, thế thôi.
 
......
Đăng nhập để trả lời
0
tr. 35, 36, 37
 
Sang năm 1943, cụ Jacques Lê Văn Đức giới thiệu cho gia đình tôi trường Providence (gây giờ là Thiên Hựu) ở Huế và mẹ tôi, noi gương bà Mạnh Mẫu một lần nữa, gởi tôi ra chốn Thần Kinh thọ giáo các vị linh mục của Hội Thừa Sai Paris.
 
Lúc ấy đường ra Huế còn xa diệu vợi: đi xe lửa phải mất tới 2 đêm và một ngày.  Những người Nam, Trung, Bắc không mấy thủa mà được gặp nhau.  Hồi ở Taberd, tôi nhớ chỉ có một anh học sinh duy nhứt người Bắc, cha mẹ vào làm ăn trong Nam, và ra trường Providence năm ấy, chỉ vỏn vẹn có 9 thằng Nam Kỳ.
 
Nói đến xứ Trung Kỳ, nghe xa lạ làm sao.  Mà thật cái gì ở đây cũng lạ, từ giọng nói đến y phục: ai cũng bận áo dài, và chữ nào cũng bỏ dấu nặng!  Lạ nhứt là cái lá cờ vàng sọc đỏ.
 
Từ nhỏ tới lớn, tôi chỉ biết có cờ tam sắc.  Lật cuốn tự điển Larousse, ở chữ “pavillon”, thấy cờ các nước khác nhưng không có cờ xứ An Nam.  Bây giờ ra Huế, mới hay rằng xứ An Nam cũng có một lá cờ!
 
Nhưng lá cờ vàng phất phơ trên cửa Ngọ Môn, bức thành hùng vĩ soi bóng bên giòng sông xanh biếc, không gây cho tôi một sự hãnh diện no mà trái lại: tất cả những vật đó có vẻ mốc meo, không một chút gì liên hệ với tôi.
 
Tôi còn nhớ rõ buổi lễ chào cờ trọng thể đầu niên học tại trường Providence.  Tòa Khâm Xứ và Chánh Phủ Nam Triều đền cử đại diện đến tham dự.  Bên người Pháp là hai ông sĩ quan trẻ hùng dũng trong bộ quân phục trắng tinh.  Bên người Việt có hai cụ sồn sồn bụng phệ, khăn đóng áo rộng thùng thình, lẹp xẹp đôi giày hàm ếch, lại còn phe phẩy cái quạt đồi mồi ngay trong lúc thượng cờ.  Chúa ơi, trông mới chán đời làm sao!
 
Cũng trong buổi lễ đó, tôi đuợc nghe lần đầu bản Quốc Thiều An Nam:
 
Bên núi sông hùng vĩ trời Nam
Đã bao đời vết anh hùng chưa hề tan.
 
....
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 37, 38
 
Đó là một bản nhạc hay, đượm nhiều “dân tộc tánh”. Trang nghiêm như làn khói lư trầm, trịnh trọng giống người dân xứ Huế.  Nhưng nó buồn quá đỗi, với cái nốt “Sol” đầu kéo dài lê thê như một lời than.  Nghe bản Mạc-xây-de trổi lên sau bản Quốc thiều An Nam, tôi có cảm tưởng nghe một ngọn thác đang ầm ầm đổ xuống dòng sông Hương trầm lặng!  Xứ An Nam thời ấy như cô gái Huế xanh xao, èo lả tựa vào đức lang quân Đại Pháp mày râu rậm rạp.  Tôi là con trai mới lớ,làm sao không khỏi cảm thấy gần cái hùng hổ của gã đàn ông hơn là cái yếu mềm của cô thiếu nữ!
 
Lễ Nô-en năm 1944, Hoàng tử Bảo Long, lúc ấy còn nhỏ lắm, đến chủ tọa đêm liên hoan của học sinh Providence.  Đúng giờ, ông Khâm Sứ Pháp “dắt” Hoàng tử vào trường.  Hoảng tử đẹp trai trong chiếc áo vàng, khăn vàng sáng chói, tuy còn nhỏ xíu nhưng đã nghiêm trang chững chạc, suốt buổi liên hoan ngồi yên trên chiếc ngai nhỏ, không thấy cười bao giờ.  Tôi cảm thấy một thứ thán phục và âu yếm đối với chú bé nầy, như là đối với một món đồ xưa nhỏ nhắn, xinh xinh của ông bà để lại - thật là quý giá, nhưng không biết dùng để làm gì!
 
Ra Huế, tôi lại càng tách xa cái thế giới An Nam, càng thấy mình là Tây.  Năm đó, có tổ chức một Đại hội Hướng đạo sinh Huế.  Chúng tôi là “hướng đạo Pháp’ (scouts de France) hô khầu hiệu bằng tiếng Pháp, hát những bài hát Pháp, và không ngờ rằng có một thứ Hướng đạo khác là Hướng đạo “Đông Dương” (Scouts Indochinois), hô khẩu hiệu bằng tiếng An Nam, hát những bài An Nam.  Ngày nhập trại, được nghe lần đầu tiên những khẩu hiệu An Nam, chúng tôi ngơ ngác và tức cười nôn ruột.  giống như người dân Parisien của Montesquieu, chúng tôi tự hỏi: “Comment peut-on être Ananamite?” 
 
....
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 38, 39, 40
 
Trường Providence tân tiến hơn trường Taberd và có một nền giáo dục hoàn bị, cởi mở hơn: trí, đức, thể dục đuợc chăm sóc đồng đều, kỷ luật mềm de3o, phóng khoáng, các Cha gần gũi thân mật với học sinh hơn các Sư huynh.  Những hội đoàn thanh niên: Hưóng đạo, Thánh sinh công vv… hoạt động hăng say: xứ Huế, với núi đồi bát ngát, lăng tẩm u tịch, là nơi lý tuởng để cắm trại.  Tôi đã sống nơi đây những năm học trong sáng và phong phú nhứt.
 
Nơi đây, tôi đã hấp thụ những kiến thức vững chắc để có thể hiểu biết và thương thức nền văn hoá tây phương là một nền văn hoá quân bình, nhân bản và sâu sắc.  Tôi đã thấm nhuần nền đạo lý Ki-tô- để cảm thấy cái đòi hỏi (ít ra cũng như thế) hướng cuộc đời mình về một cái gì tốt.
 
Quê hương hoàn toàn vắng bóng ngay giữ lòng quê hương.
 
Bốn thế kỷ truớc, ông bà chúng tôi đã từ những núi đồi này, lấy đà tiến lần vào Nam.  Và cũng từ những núi đồi này, đoàn quân Nam đã đổ ngược về nguồn cội đất Bắc, thống nhứt san hà sau ba trăm năm phân cách.  Nhưng không ai đã nhắc lại cho chúng tôi những điều ấy.
 
Thành quách, cung điện, lăng tẩm còn đó, nhưng không ai chỉ cho chúng tôi thấy vết chân của người xưa.
 
Lúc ấy – cũng như bây giờ - để lấy lòng người An Nam, Chánh phủ bảo hộ có dành vài giờ cho văn chương Việt Nam trong chương trình Trung học Pháp.  Không biết những lớp kia thế nào, chớ tại lớp tôi, niên học 1943-44, trọn năm chúng tôi phải nhai đi nhai lại cuốn “ Lục Súc Tranh Công” có thể đương đầu với Le Cid hoặc Horace?  Đã xa lắm rồi, những giờ Việt văn của Papa Kỳ ở trường Nguyễn Văn Khuê.
 
.....
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 16:14:31Như Ý>
Tr. 40, 4, 42
 
Năm 1944, lịch sử chuyển mình bước sang giai đoạn mới, sinh viên Hà Nội bắt đầu sáng tác những bản hùng ca, nhưng trong cái tháp ngà văn hóa thuần túy của truờng Providence, chúng tôi vẫ cặm cụi phiên dịch Ciceron, Tacite sao cho thật đúng nghĩa, cạo gọt những câu Pháp văn sao nghe đúng điệu, phân tách một vở kịch của Corneille, Racine sao cho ý nhị thâm trầm…như thể đó là là nhưng điều quan trọng nhứt của cuộc đời, như thể nhân loại vẫn đứng nguyên một chỗ từ thời Homère, Virgile, như thể người Pháp sẽ mãi mãi làm cha trên đất nước nầy.
 
Trong những trường hợp tốt nhứt của nền giáo dục ấy, chúng tôi có thể trở thành những “con người” tốt, nhưng đó là con người của muôn nơi muôn thuở, con người “nói chung”, không một chỗ đứng nào trên đất mẹ.  Và như Hegel đã viết: “con người nói chung” không có!  Chỉ có tôi có anh sống giữa dân tộc nầy, trong giai đoạn lịch sử nầy. Và có dân tộc, có lịch sử mới có anh có tôi.
 
Trong mấy năm trường, chúng tôi đã sống bên ngoài dân tộc, bên lề lịch sử.  Cho nên, đêm mùng 9 tháng 3 năm 1945, khi tiếng súng của quân đội Nhựt Hoàng đi đúng báo hiệu sự cáo chung của nên đô hộ Phpá, chúng tôi chẳng hiểu mô tê gì, chỉ biết xót thương một anh học sinh Pháp của nhà trường dã bị bắn chết đêm ấy.
 
Vài ngày sau, học sinh các truờng Khải Định, Đồng Khánh, biểu tình mửng độc lập.  Việt Nam độc lập! “Việt Nam”, đã lạ tai rồi, “độc lập” nghe còn quái đản hơn.  Thiệt tình lúc ấy chúng tôi không có một ý niệm nào về chủ quyền quốc gia, kể cả những anh lới sắp sửa thi Tú tài.
 
 
Ngày biểu tình, chúng tôi tò mò đi xem toán năm, toán bảy, nhìn thiên hạ vác biểu ngữ reo hò Việt Nam, Việt Nam mà chẳng thấy vui mừng chi, chỉ nghe bực bội ấm ức và cảm thấy mình  bơ vơ lạc loài giữa đám đông.  Tôi còn nhớ có một đứa trong bọn nói lớn: “Độc lập là cái cóc gì?”.  Câu hỏi xấc ngược ngô nghê nầy diễn đạt tâm trạng chung của chúng tôi lúc ấy.  Quả tình chúng tôi không hiểu….
 
Nhưng 20 năm sau, câu nói trên vẫn còn sáng rực trong tâm trí tôi như một hàng chữ lửa cũng như cái cảm giác cô đơn giá lạnh mà tôi cảm thầy giữa quần chúng, giữa đồng bào ruột thịt của trong một ngày vui chung của dân tộc.

…..
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 43, 44
 
THAY LỜI KẾT LUẬN
 
Mùa thu 45, Nam Bộ Kháng Chiến.  Vài tháng sau, khói lửa ngâp trời ở các tỉnh miền Tây.
 
Nô-en năm đó, không có hưu chiến như bây giờ.  Trong đội “du kích” của chúng tôi về đóng tại một ngôi chùa cách tỉnh lỵ Trà Vinh 20 cây số.
 
Tỉnh lỵ đã mất từ đầu tháng Chạp mà chúng tôi chưa đánh được trận nào, chỉ biết rút lần về phía bờ biển, theo gót các đồng bào tản cư.  Chỉ có mấy anh Cộng hòa Vệ binh là được đánh Tây thật sự với mấy cây súng mút tiền bối, gia tài quí báu của ông cò Tây, cộng với những cây súng hai lòng súng hơi bắn chim của mấy ông địa chủ.  Thật ra, sau gần một thế kỷ làm con dân thuộc địa khỏi phải đi lính, ai mà biết “đánh giặc” là “mần răng”, “chánh quy” cũng như “du kích” đều là tay mơ một lứa.  Tôi còn nhớ bữa Tây chiếm Trà Vinh và cái cảm giác hải hùng của tôi khi nghe tiếng những viên đạn thần công bay vèo vèo lên đầu, tiếng súng liên thanh của hai chiếc máy bay tạch tạch nổ dòn mỗi khi chúng chúi mũi xuống đất.  Mấy chú lính Việt Nam thời Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, chắc cũng hết hồn như vậy khi nghe tiếng súng của Tây lần đầu tiên.  Chưa quen tiếng súng và chỉ có vài chục cây mút-cơ-tông, làm sao mà cự cho lại máy bay và xe tăng!  Cho nên các “mặt trận” lần lượt tan vỡ (nói “mặt trận” nghe cho oai chớ thật ra là mấy cái mô đất đắp dài theo những con đường tỉnh).  Việc chiếm lại Nam Bộ có vẻ dể dàng cho đến nỗi, đầu năm 46, tướng Leclere tuyên bố ngon lành: “Nam Kỳ đã bình định”.
 
Trung đội của chúng tôi là một đoàn Thanh Niên Tiền Phong được cải tiến, tụ họp một số đông “con ông cháu cha” thời đó, nghĩa là dân “học trường trên” mà phần lớn là truờng Tây.  Tháng trước, anh cựu Đoàn trưởng của chúng tôi được tuyển qua CỘn hòa Vệ binh.  Chúng tôi mới được tin anh chết o83 Ba-Se ngay trong trận đầu tiên.  Chúng tôi khóc anh nhưng đứa nào cũng thèm có được cây súng như anh.  Bên “du kích” chỉ có tầm vông, ba nha.  Anh Trung đội trưởng lượm được ở đâu một cây gươm Nhựt Bổn: đó là mối hãnh diện của cả Trung đội.
 
.....
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 45, 46
 
Hôm qua, Tây chiếm quận Tiểu Cần rồi hình như rút về đóng ở Tập Ngãi.  Chúng tôi đã đi suốt ngày và định ngủ trong chùa một đêm để sáng lại qua Trà Cú tìm Bộ chỉ huy.  Sau đây là một doạn “hồi ký” mà tôi đã viết từ năm 1946.
 
“Đêm ấy, trăng sáng và buồn. Hồi 9 giờ, có anh S. (nhân viên UBKC) tới với hai xe Cộng Hòa Vệ Binh.  Anh S. vô chùa, bàn bạc rất lâu với Sư ông.
 
“Mười một giờ.  Sư ông kêu anh trung đội trưởng, biểu gọi chúng tôi  dậy để ăn cháo và chuẩn bị “ra mặt trận”.  Ra mặt trận!  Anh S. thương tụi tui đến thế ư?  Chắc là đi theo ảnh về Trà Cú rồi ảnh phát súng để giữ mặt đó chớ gì.  Nghe thì cũng ngán thiệt, nhưng mà hăng thì hăng lắm.  Dử hôn, học bắn súng mút cả tháng bây giờ mới được cho bắn Tây.
 
“Chúng tôi sửa soạn đồ rụp rụp rồi đi ăn cháo với hột vịt muối.  Cháo nóng ngon lắm nhưng miệng tôi đắng lại và tay tôi lạnh như đồng.  Ra mặt trận!  Cả một tạp-pính-lù tình cảm xâm chiếm lòng tôi, vừa sợ, vừa khoái, vừa tự phụ, vừa nhớ nhà, ôi thôi lộn xộn.
 
“Ăn rồi, Sư ông biểu lựa những người nào đau ốm hay còn nhỏ tuổi quá để cho ở lại.  Tính ra có bốn đứa, ba đứa đau và thằng Th. (học sinh Chasseloup) mới được mười sáu tuổi.  Tôi chỉ hơn có vài tháng mà được đi nên nó giận lắm cải lẩy um sùm.  Vì muốn ra mặt trận cũng có mà vì muốn đi chung với tôi cũng có: từ ngày bỏ tỉnh trà Vinh, hai đứa đã ngoéo tay ký hiệp ước không có rời nhau.  Nhưng lịnh trên đã vậy, biết sao bây giờ.  Tôi gượng cười nhìn nó và giơ tay: “Thôi tao đi nha mậy”.  Nhưng nó ngùng ngoằng ngó chỗ khác và xì tôi một cái thật dài…
 
“Ra sân điểm binh.  Anh S. nói: “Mấy em đi trứớc, đến ngã ba Tập Ngãi thì đợi đó, sẽ có lịnh sau”.  Sư ông chúc chúng tôi lên đướng bằng an.
 
“Chúng tôi im lặng ra khỏi sân chùa, trông như một đoàn hướng đạo.  Tôi nhớ lại những kỳ đi “camp” ngoài Huế, ăn cơm tối xong, chúng tôi cũng xếp hàng trong sân trường và Cha Jacques nói: “Bon camp les gars”.  Cái thời đó xa xăm làm sao….
 
“Ra tới đường cái, chúng tôi vẫn im lặng đi, thằng nào chắc cũng có một ý nghĩ hoặc một hình ảnh trong đầu.  Trăng gần lặn, trời tối om om.  Gió thổi vù vù; trên đồng ruộng mênh mông nước vỗ rì rào như sóng biển.  Bổng thằng T. đi bên tôi nói nhỏ nhưng đủ cho mọi người nghe: “Đú mẹ, chết thì chết chớ sợ gì hén mậy!”.  Cả Trung đội cười một cái ầm và không khí hết căng thẳng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-19 07:07:04Như Ý>

Tr. 47



 
“ Đi gần một giờ mới tới Ngã Ba Tập Ngãi anh Trung đội trưởng cắt người gác hai đầu đuờng rồi cho chúng tôi nằm nghỉ.  Năm bên bờ ruộng thằng nào cũng co quắp cho đỡ lạnh; mệt lắm vì đã đi suốt một ngày nay.  Mấy con cá lên ăn mống vẫy bành bạch làm tôi giựt mình hoài.
 
“Hai giờ khuya, đoàn xe anh S. tới, chỉ ngừng kịp cho ảnh nói một câu:“Mấy em cứ đi tới hoài nghe, tới Tiểu Cần”.  Chúng tôi bàn tán lăng xăng, không biết tới Tiểu Cân làm gì trong lúc Tây đã về ngủ ở Tập Ngãi và tại sao không thấy phát súng ống chi hết.  Thằng T. cằn nhằn: “Ê, hay là tới đó để bắn súng miệng yểm trợ, chơi điệu đó hổng có vô à ta”.
 
“Thây kệ mồ, lịnh biểu tiến thì cứ tiến”.  Đi độ nửa giờ nữa mới tới Quận.  Tứ bề im lặng chỉ nghe tiếng giày của chúng tôi trên nhưạ đường.  Lại thằng T. chắc lưỡi chửi thề: “Đ. m. mình làm gì như là entrée triomphale de l’armée allemande à Paris vậy, giày kêu rột rột nghe khoái quá!”.  Anh Trung đội trưởng nạt nó biểu im và chúng tôi nín cười tắt thở.
 
“Tới cây cầu vô Tiểu Cần, mới hay rằng mấy anh Cộng Hòa Vệ Binh đã chiếm lại quận; chúng tôi chỉ có phận sự đốt rụi châu thành nầy và rút trước khi trời hừng sáng.  Thất vọng…”
Đăng nhập để trả lời
0

Tr. 48, 49, 50
 
Tám tháng đã qua, từ ngày quận đội Nhựt hoàng đảo chánh, các anh chị Khải Định, Đồng Khánh biểu tình, chúng tôi đi xem, ngơ ngác như gà mở cưả mả, bực bội và cô đơn.
 
Mấy thằng công tử trường Tây cũng “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”, ăn mắm sống đi du kích như ai (mặc dầu còn mang giày Tây), cũng mơ ước được ôm cây súng mút “ra mặt trận” như là cái vinh dự lớn nhứt của người thanh niên Việt Nam.  Trong tám tháng đó, lịch sử như ngọn thủy triều cuồn cuộn dâng lên, đưa chúng tôì về bờ dân tộc.
 
Cả một dân tộc đứng lên và chúng tôi chứng kiến được cảnh đó.  Chúng tôi đã thấy làn sóng người tản cư từ Saigon đồ về tỉnh, từ tỉnh đổ về quê, đi tới đâu cũng được đồng bào tự động tiếp đón, kẻ cho ăn người cho ngủ.  Chúng tôi đã thấy hàng ngàn người dầm mưa suốt ba giờ liền để nghe anh Đặng Ngọc Tốt diễn thuyết, đã khóc và cười với anh khi anh kể cảnh quân Pháp tái chiếm dinh Norodom, thượng cờ Tây rồi phải hạ cờ Tây.  Chúng tôi đã hồi họp theo dõi từng bước quân viễn chinh đang aò ạt đổ xuống miền Tây say sưa luyện võ Tàu, tập bắn súng (không có đạn!) để chờ ngày “ra mặt trận”.
 
Chúng tôi đã thấy những cái chết oai hùng giữa những cái chết vô danh.  Chúng tôi đã hiểu thế nào là một dân tộc.  Virgile, Ciceron, racine, Corneille vẫn còn hiện diện nơi chúng tôi.  Nhưng cô đơn không còn nữa:
 
“Làng ấy như bao làng đất Việt,
Cày sâu cuốc bẩm, gái lành,
Chiều chiều tiếng hát vương theo gió,
Quyện bóng dừa cao vạn thuở xanh.
 
Bổng đau tiếng gọi từ xa lại:
Non Nước tan tành, ngủ mãi sao?
Vội vã dân làng thâu dẹp cuốc,
Trong lòng đã rợp bóng gươm đao…
 
(Đây An Phú Đông)
 
Lòng chúng tôi cũng “rợp bóng gươm đao” như lòng dân quê nước Việt.  Và ít nữa là trong lúc ấy, chúng tôi đã tìm lại được một chỗ đứng, trên mảnh đất quê hương.
 
Trong bọn tôi sau nầy có đứa đi luôn theo kháng chiến và hiện giờ không biết ở đâu.  Có đứa vì lý do nầy hay lý do khác, đã về thành học lại với Tây hoặc đi Tây.  Những năm kháng chiến, các gia đình khá giả đều cho con cháu đi Tây để chúng khỏi đi khu, nhiều thằng đi khu lò dò thế nào bị bắt, cha mẹ đến xin thì Tây chịu thả, nhưng với điều kiện là phải tống khứ mấy cu cậu qua….Tây lập tức.  Có đứa về thành chịu không nổi lại bò ra khu, ra khu chịu không nổi lại mò về thành….Nhưng dầu ở đâu và làm gì, chắc không đứa nào quên được mùa thu năm ấy:
 
“Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến,”
Rền lưng trời, lời hoan hô, dân quân Nam nhịp chơn tiến đến trận tiền…”
 
Nhưng mùa kháng Pháp đã qua rồi, các học sinh truờng Pháp bây giờ, làm sao có lại đuợc một mùa Thu kháng chiến?
 
Nô-en 1966
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-24 05:50:13Như Ý>

Tr. 51

 
PHẦN  II
 
 
Suy nghĩ về hai chữ Dân Tộc
 
 

 
                      Bài  nói chuyện tại Truờng 
Đại Học Văn Khoa  Saigon,
Ngày 23 tháng 2 năm 1967
Đăng nhập để trả lời
0
Tr 53
 
Thư Quý Vị
Các Bạn Sinh Viên
 
 
Ngày chủ nhựt 13-12-1807, tại Đại Giảng Đường Hàn Lâm Viện Bá Linh, trong một quê hương đang tủi nhục vì chiến bại, giữa tiếng trống rập rình của quân đội chiếm đóng, triết gia Fichte đã khởi đầu loạt bài “Diễn văn gởi cho dân tộc Đức” (Discours à la nation Allemande).  Theo Fiche, dân tộc Đức phải đương nhiên ở Âu Châu đã không tách rời nguồn cội của mình, đã giữ được một nền văn hóa đại chúng và như vậy, cũng là dân tộc duy nhứt thật sự yêu quê hương mình, xứng đáng được gọi là một dân tộc.
 
Mặc dầu tính cách cực đoan của nó, không ai mà không cảm động khi đọc lại bản tuyên ngôn đầu tiên của Chủ Nghĩa Dân Tộc Đức, và cảm động nhứt có lẽ chính vì cái tính cách cực đoan kia.  Đề cao tột độ dân tộc trong lúc dân tộc đang phủ phục dưới ách xâm lăng, trong khi các thành phần gọi là ưu tú của dân tộc đang xum xoe ve vãn kẻ chiến thắng để bảo tồn hoặc kiếm chác quyền lợi địa vị, đó là một hành động can đảm của một nhà tri thức không có sức mạnh nào ngoài lời nói của mình.  Bản tuyên ngôn của Fichte đã vang lên như một lời thách đố của tinh thần trước bạo lực, và dân tộc Đức đã tìm thấy được mình trong tiếng kêu thống thiết đó.
 
Nhắc lại những bài diễn văn thời danh của Fichte vào đầu buổi nói chuyện hôm nay, tôi không có ý tự ví mình với Fichte để làm trò cuời cho thiên hạ, mà đặc biệt là cho Quý Vị.  Tôi chỉ muốn nói rằng hoàn cảnh của nước ta hiện nay còn đen tối và đau thương gấp trăm lần nước Đức thời Fichte, và trong hoàn cảnh nầy, nếu còn một cái gì đáng nói, thì đó là hai chữ dân tộc.  Và giữa lúc số phận của mỗi con người chúng ta đang trôi nổi dật dờ như con thuyền không bến, chúng ta còn biết bám víu vào cái gì, còn biết nương tựa vào đâu, nếu không phải là Dân Tộc Việt Nam?
 
Tuy nhiên, tôi sẽ không đề cao dân tộc Việt Nam hôm nay vì rất may là có nhiều người Việt Nam đã làm như  Fichte rồi.  Tôi cũng sẽ không nói về dân tộc Việt Nam cách riêng, vì đó là vượt khỏi khả năng chuyên môn của tôi.  Tôi chỉ xin phép được cùng với Quý Vị, suy nghĩ về hai chữ dân tộc, tìm xem hai chữ đáng mến nầy có hàm chứa một thực tại nào không và thực tại đó là gì?  Lẽ dĩ nhiên dân tộc Việt Nam sẽ là chân trời của câu chuyện, mặc dầu không phải là đề tài chính yếu.
 
.......
Đăng nhập để trả lời
0
Tr 55
 

Tôi xin bắt đầu bằng hình ảnh thân mật, hình ảnh những ngày Tết.
 
Năm nào cũng vậy, kể từ những ngày cuối Tháng Chạp Âm lịch cho đến bữa Mùng Một Tháng Giêng, trên khắp các neỏ đường đất nước, dân Việt Nam lũ lượt bồng bế dắt dìu nhau về quê ăn Tết.  Họ đi bằng tất cả những phương tiện chuyển vận, nhiều nhất là bằng xe đò, trong những điều kiện vô cùng khổ cực, may lắm mới được một chỗ ngồi, không thì phải đứng, phải đeo hoặc chồng chất với hành lý trên mui xe, dân miền Tây còn cái nạn “qua bắc” kẹt xe đi bộ hai ba cây số là thường.  Về quê ăn Tết thiêt là cực nhọc.  Mà cũng thiệt là tốn kém: phải mua quà mua bánh, phải ăn phải mặc thế nào “coi cho được” và phải trả giá mọi thứ gấp đôi gấp ba ngày thường.
 
Thế mà năm nào thiên hạ cũng đổ về quê như thác lũ, mà đa số là những người nghèo đã phải làm lụng vất vả quanh năm.  Không có ai bắt buộc họ cả.  Họ có thể ăn một cái Tết sung sướng hơn và có lợi hơn -ở Saigon-.  Nhưng ăn Tết mà không về quê thì không phải là ăn Tết thật sự.
 
Một năm chỉ có ba ngày Tết để trở về với họ hàng thôn xóm, mồ mả ông bà, bàn thờ tổ tiên, nghĩa là trở về nguồn cội.  Không về quê thì ăn Tết làm sao?
 
Cảnh dân Việt Nam ăn Tết làm tôi nhớ lại một loài cá mà tôi có dịp xem trong môt phim của Walt Disney.  Cứ đến mùa sanh nở là phải từ biển cả, vượt thác băng ngàn để trở về nguồn trên núi cao.  Khác một điều là không có một bản năng nào, một định luật nào bắt buộc nguời Việt Nam phải làm như vậy.  Cũng không có cái dư luận nào lên án họ nếu họ không về quê: mấy ông nhà giàu vẫn có thể trốn đi Đà Lạt hay Vũng Tàu mà không thấy ai chê trách gì.  Cũng không có cái tập quán nào đã ăn sâu vào lòng họ để trở thành một “bản tính” thứ hai: ngày nay xã hội không còn tính cách thống nhứt như thuở trước, và tập quán đã mất dần áp lực nặng nề vì trên cương vị người Việt Nam, cái Tết chỉ có ý nghĩa khi nó là sự trở về nguồn cội để hiệp nhứt với tiền nhân, với gia đình thôn xóm và tìm lại sức sống trong sự hiệp nhứt đó.  Ăn Tết và trở về lòng dân tộc.
 
.......
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»