Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Trạng Quỳnh

2 trả lời, 2.917 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; Edited by: <b>TLT4ever</b> -- <b>8/4/2003 12:20:13 AM </b> &gt;>
Ở nhà TLT có cuốn truyện Trạng Quỳnh, nhưng TLT không biết tác giả là ai? Gửi tặng các bạn đọc cho đỡ buồn .

Trạng Quỳnh


Dưới triều đại Lê Trung Hưng, một ngày đầu mùa hạ, Chúa Trịnh Cương có nhận tờ “khải” của quan đầu tỉnh Thanh Hóa, báo tin tại khu vực Hàm Rồng, nước sông Mã đang trong xanh bỗng đỏ lòm như nhuộm máu suốt mười ngày. Đồng thời, một hũ nước sông nhuộm đỏ được dâng lên làm bằng chứng. E ngại điềm tai họa, Chúa hội họp quần thần, các quan đều tâu là triệu chứng chẳng lành, xin chúa sớm gia ân bố đức hầu tránh tai trời ách nước, hoặc đại họa can qua. Chúa càng lo âu, bởi tình thế nước nhà đang nguy ngập: phía bắc nhà Mạc vẫn mưu toan rửa hận, phía nam Chúa Nguyễn bành trướng thế lực, phía đông giặc bể hoành hành, phía tây mất an ninh vì đám loạn quân vùng Trấn Ninh.
Trong cơn bối rối, quan Lễ Bộ Thượng Thư họ Phan vừa từ Hải Dương trở lại kinh đô, Chúa hội ý, vị đường quan lại ngỏ ý mừng rỡ:
- Tâu Chúa Thượng, dân gian còn truyền tụng câu sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Bao giờ nước đỏ Hàm Rồng,
Là điềm báo trước Trạng Ngông ra đời.”

Như thế, điềm nước đỏ Hàm Rồng báo hiệu quốc gia sẽ có nhân tài giúp Chúa giữ vững bờ cõi. Vả chăng, thần xem thiên văn thấy các vì sao đế tinh đều rực rỡ, lại có vượng khí nổi lên cả vùng Thanh Nghê. Xin Chúa tuần du vào trong ấy, biết đâu sẽ tìm được hiền thần.
Chúa lấy làm đẹp ý. Sau đó, các quan trấn ở Thanh Hóa, Nghệ An được lệnh huy động dân chúng chuẩn bị nghênh đón Chúa Thượng. Chúa còn hạ lệnh mỗi làng phải dâng một con dê đực có chửa, bằng không, già trẻ lớn bé đều tử hình. Lệnh ban hành, trăm họ kinh hoàng bởi làm sao tìm được dê đực có chửa? Dân gian chi xiết ta thán, những ánh mắt tuyệt vọng ngước nhìn vị chúa để như đón đợi một lưỡi gươm đưa.
Thế rồi Chúa Trịnh cùng các quan chánh tòng văn võ tuần du Thanh Nghệ, cờ lọng uy nghiêm, ngang qua một làng, dân chúng bày hương án dọc đường vái lạy. Các quan sở tại cũng như chức sắc trong làng đều run rẩy bởi không thi hành nổi nghiêm lệnh. Khi Chúa Trịnh và quần thần đến đầu huyện Hoằng Hóa ngựa bỗng dừng lại ngửa cổ hí vang. Cùng lúc ấy, có tiếng khóc thảm thiết. Chúa dừng kiệu, sai thị vệ lục soát, tìm ra một đứa bé mặt mũi thật khôi ngô. Chúa hỏi vì sao lại khóc, đứa bé kính cẩn đáp:
- Tâu Chúa Thượng, mẹ con qua đời từ lâu, cha con không đẻ em cho con bồng ẵm, buồn vì lẻ loi nên con khóc. Chúa nghe xong bật cười ha hả:
- Thằng bé ngộ nghĩnh thật! Cha là đàn ông, làm sao đẻ con mà đòi hỏi?
- Tâu Chúa Thượng, dê đực có chửa, tại sao đàn ông lại không đẻ con?
- Đâu, dê đực có chửa ở đâu?
- Dạ, nếu không có, sao lệnh trên lại lên án tử hình trăm họ?
Quan Lễ Bộ Thượng Thư bấy giờ hân hoan đến bên kiệu, tâu với Chúa rằng đứa bé thông minh này có thể là quan Trạng mai sau. Hóa ra lệnh đòi dâng dê đực có chửa chỉ là mưu mẹo của quan Thượng, không ngoài chủ đích tìm người hiền biết bênh vực nỗi oan khiên của bá tính. Cố nhiên lệnh chúa được bãi bỏ, và đứa bé dùng tiếng khóc cứu dân cũng được ân thưởng trọng hậu. Riêng dân gian miền Thanh Nghệ thoát khỏi cơn ác mộng, mừng rỡ suy tôn đứa bé như vị cứu tinh. Nhiều người từ những xóm làng heo hút không ngại đường sá xa xôi, kéo về làng Yên Vực xem rõ tướng mạo một thần đồng...

* * *
Thân,
Hắc Bạch Song Hiệp
(PT & QV)

Life is a flower of which love is the honey.
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếp theo

Đứa bé tuấn tú, thông minh vượt bực ấy vốn họ Nguyễn, tên Quỳnh. Song thân định cư tại làng Yên Vực đã nhiều năm, cũng vào hàng khá giả. Ngoài việc ruộng nương, gia đình Quỳnh còn nghề phất quạt. Mới sáu tuổi, Quỳnh đã chứng tỏ tài trí khác thường, khiến thầy đồ trong làng rất yêu mến. Nhiều lần ỷ mình sáng dạ, Quỳnh lười học tập lại còn phá phách, thầy vẫn bỏ qua. Riêng bạn hữu phần đông lớn tuổi, lớn xác hơn Quỳnh, vẫn thường xuyên bị cậu bẹ t rêu ghẹo. Một hoàng hôn, nhà nhà vừa vừa đỏ đèn, Quỳnh bảo các bạn đang nô đùa ngoài sân:
- Nhà tớ vừa có khách quý, đó là mấy ông to đầu, ở xứ “Khổng Lồ” đến. Các cậu muốn xem không?
Lũ trẻ nhao nhao tán thưởng:
- Muốn lắm chứ... Ông to đầu ra sao? Cho xem thử...
- Được, nhưng tớ mỏi chân rồi... Từ đây về nhà, mỗi đứa phải làm ngựa cho tớ cõi một đoạn đường, bằng lòng chưa?
Bởi nô nức xem điều lạ mắt, lũ trẻ đành thay phiên cõng Quỳnh từ sân t rường về nhà, đứa nào đứa ấy mệt toát mồ hôi. Quỳnh được thảnh thơi ngồi trên lưng bạn, còn cao hứng quất roi thúc ngựa chạy, lũ trẻ tức lắm song trót nhận làm ngựa biết nói sao? Vào nhà, lũ trẻ ngơ ngác trong lúc Quỳnh bình thản thắp đèn lên. Và Quỳnh trỏ ngay vào bóng của mình và các bạn in đậm trên vách:
- Này, một ông to đầu, hai ông to đầu, ba ông to đầu, mười ông to đầu... Thấy chưa, rõ ràng to đầu mà dại!
Lũ trẻ phẫn uất la ó, hè nhau toan đè Quỳnh xuống đánh đòn. Cậu bé tinh khôn đã đề phòng trước, lập tức tắt đèn cho bóng tối tràn ngập, kêu thất thanh là nhà có ma. Trong bóng tối, lũ trẻ sợ hãi bỏ chạy, quên cả rửa nhục vì thay phiên làm ngựa cho oắt con mua vui!
Một sớm mai, song thân Quỳnh bận công việc, Quỳnh phải coi nhà, ngồi co ra chả biết trêu chọc ai. Bỗng dưng có hai ông khác mày râu nhẵn nhụi, quần áo bảnh bao, hách dịch tiến vào. Quỳnh gạn hỏi:
- Các ông là ai, vào nhà chả thèm lên tiếng, hách thế?
Ông khách lớn tuổi gằn giọng:
- Hừ, ta là quan Nghè đây, bé con đừng láo! Cha mày đi đâu? Mẹ mày đi đâu? Mày làm gì đó?
Quỳnh chậm rãi đáp:
- Cha tôi đi bán gió mua trăng. Mẹ tôi đi bứng cây sống chồng cây chết. Tôi đang ăn cơm chốn gió...
Quan Nghè bóp trán suy nghĩ một hồi lâu, chả hiểu đứa bé muốn nói gì? Quỳnh hả hê vỗ tay đôm đốp, trêu ghẹo:
- Dễ quá mà... quan không hiểu thật sao? Nếu vậy phải gọi tôi bằng ông Nghè, tôi giải nghĩa cho...
Quan Nghè giận méo mặt, song thật tình muốn hiểu đứa bé nói năng bóng bẩy những gì, đành gượng gạo xưng hô theo ý nó. Bấy giờ Quỳnh mới ngạo nghễ giải thích:
- Nghe này: cha tôi đi bán gió mua trăng nghĩa là bán cây quạt, mua cây đèn, hiểu chưa? Mẹ tôi bứng cây sống trồng cây chết, nghĩa là nhỏ mạ rồi cấy xuống ruộng, hiểu chưa? Tôi ăn cơm trốn gió nghĩa là ăn cám, phải tìm nơi khuất gió, hiểu chưa? Lên mặt ông Nghè ông Cống, vậy mà u mê quá đỗi!
Bị trẻ con tặng một bài học về tài khôn từ hôm ấy, ông Nghè và cậu cả mặc nhiên chừa thói ba hoa. Cũng từ hôm ấy, những người ít học trong thôn xóm bớt khó chịu vì bố con ông hàng xóm ỷ thế văn hay chữ tốt, quen thói khinh người.
Quỳnh càng lớn càng lười đến trường học, vốn nuông chiều con, song thân phải trân trọng rước một ông tú tài trong huyện về nhà dạy trẻ. Ông tú Cát nổi tiếng phun châu nhả ngọc, tài ứng đối không ai sánh kịp. Hôm ấy Quỳnh phạm lỗi nhẹ, ông tú ra câu đối, hăm he không đối được phải lãnh đủ hai mươi roi. Câu đối như sau?
- Lợn cấn ăn tốn.
Quỳnh đáp nhanh:
- Chó khôn cắn càn.
“Cấn” và “tốn” là tên quẻ trong bát quái, đối với “khôn” và “càn” cũng do tám quẻ: cán, khảm, cấn, chấm, tốn, ly, khôn, đoài, quả thật tài tình! Riêng bị ám chỉ “lợn ăn tốn”, Quỳnh lại gọi “chó cắn càn” để trả đũa, tưởng không cò ý nào xỏ xiên hơn. Ông tú Cát há hốc vì ngạc nhiên và uất ức. Ông lại ra thêm một vế nữa, lần này vẫn không quên hăm he hai chục roi. Quỳnh ưng thuận. Ông chỉ tay vào ngực, lớn giọng:
- Trời sinh ông tú Cát.
Cậu bé mỉm cười chỉ tay... xuống đất, đối rất chỉnh:
- Đất nứt con bọ hung.
Đem “con bọ hung” đối lại “ông tú Cát”, tuy xấc xược nhưng cũng khít khao, chả chê vào đâu được. Chẳng qua Quỳnh không chịu nổi ông thầy bản tính nghiêm khắc quá đáng, lại chả hiểu tâm lý trẻ con, nhất là đứa trẻ “thông minh vốn sẵn tính trời”. Để “trả thù” những lần bị đòn oan ức, ngoài tài ứng đối, Quỳnh còn trổ tài bắt... đỉa trâu bỏ vào người ông Tú khi ngáy ngủ, khiến ông chịu hết nổi, chỉ ba tháng sau là rút lui.
Dường như thú tiêu khiển của Quỳnh là... chọc tức mọi người nên vắng ông Tú, cậu bé tiu nghỉu, chả biết trêu ai. Cậu lén cha mẹ dạo quanh khắp làng, tìm những ông Tú, ông Cử hợm hỉnh để trêu ghẹo. Trong làng có ông Huyện tên Thạch, từ khi hoạn lộ hanh thông, trở nên hống hách, ai cũng ghét. Tình cờ, Quỳnh gặp quan huyện Thạch ngồi xơi trầu trong quán tại bến đò (bến này có tên là bến đò Thạch) Quỳnh muốn trêu, ngồi một mình xem quan dở trò gì? Quả nhiên, vừa nhai chầu nhóm nhép, quan vừa rung đùi ra câu đối, nói lớn với mọi người trong quán, hễ ai đối được sẽ trọng thưởng. Câu đối như sau:
- Ông huyện Thạch qua bến đò Thạch.
Trong quán cũng có nhiều thư sinh, song chả ai ứng đối nhanh nhẹn như Quỳnh. Và cậu bé đọc lớn:
- Con chó vàng ăn bãi phân vàng.
Dù sợ quan Huyện, mọi người trong quán cũng không thể nín cười. Quan Huyện giận quá, trỏ ngay vào Quỳnh quát:
- Oắt con láo thật! Lần này đối không xong mày phải ngồi tù đến... già.
Ai nấy đều giật mình, bởi nhìn lại Quỳnh tí tẹo phải ngồi tù đến già, thử hỏi còn chi đời son trẻ. Chỉ riêng Quỳnh sắc diện không thay đổi, bởi tự tin tài bộ của mình. Quan Huyện ung dung công ra một vế đối thật khó khăn:
- Quan là mũ, để thời mới, đội thời cũ, đội rồi bước lên phủ.
Ai nghe qua cũng lắc đầu, bởi câu đối vừa kênh kiệu vừa phức tạp, chả hiểu Quỳnh đáp lễ ra sao? Không ngần ngại cậu bé đối lại dễ dàng, và vế đối như gáo nước lạnh xối lên đầu ông quan hống hách. Bị mọi người cười ồ, qua giận quá, đành sử dụng quyền thế. Buộc tội Quỳnh ứng đối vô lễ, quan sai lính giải Quỳnh lên tỉnh, ý muốn nhờ bề trên trị tội cậu bé. Quan Tổng Đốc gạn hỏi, Quỳnh một mực kêu oan, cho là quan Huyện vì tư thù, phịa ra để hại mình, Quan Tổng Đốt nạt:
- Mày chối à? Nếu vậy mày đối ra sao?
Quỳnh đáp nhanh:
- Bẩm thượng quan, con đối thật lễ độ, như sau: Đới là đai, thắt thời ngắn, để thời dài, thắt rồi bước lên ngai.
Quan Thượng gật gù khen hay, bởi câu đối chả có gì hỗn láo. Quan sai gọi ông huyện Thạch vào công đường quở mắng vì tội thua tài kém trí con nít nên đặt điều vu khống. Huyện Thạch giận sùi bọt mép khi thấy Quỳnh chẳng những khỏi bị đòn, còn được quan Thượng thưởng tiền, đãi rượu thịt no nê. Trẻ con không quen rượu, Quỳnh say sưa ngả nghiêng trời đất. Quan Thượng cũng chếch choáng, trỏ và cậu bé, ra đối:
- Tiểu Quỳnh, tiểu quỳnh, rượu thịt linh đình, tiểu Quỳnh say.
Quỳnh bị gọi là “tiểu” ức lắm, tìm cách “trả đũa”:
- Thượng quan, Thượng quan, ăn nói huênh hoang, quan Thượng tỉnh.
Câu đối thật lỗi lạc về nghệ thuật, song ý tứ xách mé cũng rõ ràng. Dù vậy, trót mắng thuộc cấp là nhỏ nhen với con nít, vị quan đầu tỉnh đành vui vẻ nâng ly uống cạn, để chứng tỏ ta rộng lượng, biết mến chuộng tài hoa. Từ đấy, danh tiếng cậu bé thêm lẫy lừng, những ông Nghè ông Cống ỷ tài, những ông Huyện ông Phủ ỷ thế, hễ gặp Quỳnh đều tìm cách tránh né, sợ bị nhục. Dân nghèo và ít học trong vùng nếu bị khinh quá đáng, cũng nương tựa vào Quỳnh, cậu học trò trẻ người nhưng không non dạ, kể như “ông kẹ” khả dĩ dọa nạt bao ông tai to mặt lớn, chức trọng quyền cao. Theo thời gian, Quỳnh càng khôn ngoan vượt bực, học một biết mười. Điều đáng nói là Quỳnh chỉ xấc láo, trêu thức hạng người ăn trên ngồi trước, hợm hĩnh khoe chữ, còn đối với xóm diềng chấc phác, Quỳnh lễ phép, ngoan ngoãn, ai cũng mến yêu.

* * *
Thân,
Hắc Bạch Song Hiệp
(PT & QV)

Life is a flower of which love is the honey.
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếp theo

Cho đến năm 18 tuổi, tiếng tăm Quỳnh vang dội, suốt vùng Thanh Hóa, Nghệ An chả ai sánh kịp. Quỳnh gõ cửa xin làm môn sinh ở đâu, các thầy đồ đều từ chối, viện lẽ đã... hết chữ. Ngay những nhà khoa bảng đại danh, Quỳnh ngỏ ý học hỏi, tất cả đều le lưỡi, lắc đầu. Tại quê nhà đã học hết chữ của thầy, Quỳnh đành khăn gói ra kinh đô, bởi đất Thăng Long nghìn năm văn vật, lẽ nào không tìm được ân sư uyên bác. Trải qua thời gian sống nơi đô hội, Quỳnh thêm chán nản bộ mặt trái kinh thành, óc châm biếm, tài hài hước có cơ hội phát triển tinh vi. Dò la mãi, Quỳnh mới tìm ra nhà quan Bảng Nhãn họ Đoàn, nức tiếng văn hay chữ tốt. Quỳnh chọn ngày lành tháng tốt, dâng lễ vật xin ra mắt. Quan Bảng Nhãn muốn thử trình độ môn sinh, bấy giờ đứng trước thềm nhớn nhác dòm vào nhà. Quan ra đối:
- Con mộc đậu cành cây bàng, dòm nhà Bảng Nhãn.
Chàng tuổi trẻ trổ tài tức khắc:
- Thằng quỷ ôm cái đầu, đứng cửa Khôi Nguyên
Thật cân xứng, thật tài tình. Quan những tưởng lối “chơi chữ” khó khăn: “mộc” cùng chữ “bàng” ghép thành chữ “bảng”, ít nhất kẻ đối đáp cũng nghĩ ngợi toát mồ hôi, ai ngờ... Chữ “khôi” do chữ “quỷ” và “đầu” hợp lại, bậc thi tiên, thi thánh cũng sử dụng ngôn từ điêu liện đến thế thôi... Chẳng những thế, nội dung vế đối của Quỳnh còn hàm xúc, tiềm ẩn một tâm trạng hào hùng, hứa hẹn nhiều cao vọng trong tương lai.
Mừng rỡ vì gặp kẻ chân tài, quan hối hả sai bày rượu thịt, cùng thư sinh chén tạc chén thù, chuyện thế thái nhân tình giòn tan như pháo nổ. Nhân hỏi tham gia cảnh, được biết Quỳnh còn độc thân, quan Bảng Nhãn thân mật khuyên nhủ:
- Cháu cứ an tâm trau giồi chữ nghĩa, mai kia đại khoa đã đặng, tiểu khoa lo gì... Đất Kinh kỳ há không có yểu điệu thục nữ, sẵn sàng sửa túi nâng khăn cho chú rể tương lai ư?
Quỳnh chân ướt chân ráo, chưa hiểu quan Bảng ngụ ý gì trong lời hứa hẹn, vẫn liến thoắng yêu cầu:
- Dạ... kẻ hàn sĩ bơ vơ xứ lạ quê người, trăm sự đều nhờ ân sư chu toàn cho. Nếu được ân sư chiếu cố giúp đỡ. Quỳnh này xin kết cỏ ngậm vành đền ơn tri ngộ.
- Đã bảo cháu cứ an tâm, ta quyết định rồi... Cháu cũng đừng buồn vì tình trạng bơ vơ đất khách nữa. Ngày mai, ta bảo gia nhân dọn lại thư phòng ở phía đông, cho cháu dọn đến ở luôn đấy. Một già, một trẻ sớm hôm đàm đạo, khi rượu sáng, khi trà trưa, việc học hành của cháu càng thuận tiện. Ta sẽ dành cho cháu mọi tiện nghi, mọi ưu đãi, như một khách đông sàng... Ha ha!
Tiệc rượu đã tàn, nhưng dư vang giọng cười thân ái, lời gọi đùa là khách đông sàng, là chú rể hãy còn văng vẳng. Suốt đêm, Quỳnh trằn trọc, chưa đoán ra ẩn ý của bậc thầy. Thế nào Quỳnh cũng phải tìm gia nhân dò la xem tư thất này có bóng hồng nào thấp thoáng, hoa viên này có hoa khôi nào e lệ bên tường đông ong bướm đi về... Khó khăn thật... Đã đành Quỳnh nổi tiếng láu cá, những thôn nữ trong làng thường phát khóc khi gặp Quỳnh chọc ghẹo dai dẳng, song mới tạm trú nhà thầy, lí lắc là đổ vỡ hết...
Cũng may, nỗi băng khoăn của Quỳnh không hề bận rộn chàng lâu quá. Hai hôm sau, bên khóm hoa tường vi, Quỳnh được chuyệnt trò với một tiểu thơ, nhan sắc còn diễm ảo hơn cả bông hoa hàm tiếu. Tiểu thư không phải người lạ, vốn là người thân, là người nhà, là con gái cưng của thầy học. Tiểu thư năm ấy xuân vừa đôi tám, kém Quỳnh hai tuổi, trai tài gái sắc, cân xứng biết chừng nào... Hỏi thăm danh tánh, hóa ra nàng là Đoàn Thị Điểm, trang quốc sắc nổi tiếng hay chữ nhất trong giới nữ lưu cành vàng lá ngọc. Buổi sơ giao bỡ ngỡ trôi qua, kể từ đấy, Quỳnh và Thị Điểm càng khắng khít, bởi mắt xanh đã nhìn rõ tài bộ phi thường của chàng tuổi trẻ. Cuộc hôn nhân lại được quan Bảng rất đẹp ý, nên dù chưa giạm hỏi, đôi bên vẫn tự do gần gũi. Bấy giờ Quỳnh mới dẹp mọi khách sáo thường lệ, trở về bản chất láu cá, ưa trêu tức thiên hạ của chàng. Nhiều lần thử tài chồng chưa cưới, Thị Điểm ra đối, bị Quỳnh đáp lại tài tình và... nham nhở, khiến nàng phải đỏ mặt chạy trốn. Một sớm thu, Thị Điểm thẫn thờ dạo mát ở vườn sau, Quỳnh đang học, lén chạy theo tán tỉnh. Điểm vừa thẹn vừa giận, ra câu đối để... dằn mặt:
- Cây xương rồng rồng (trồng) đất rắn, long loi hoàn long.
Quỳnh ngẩn ngơ nhìn lại, quả có bụi xương rồng bên khoanh đất trồng dưa. Câu này ngoài những rắc rối về lối dùng chữ, còn rắn rỏi dặn Quỳnh không được lộn xộn, vì nàng nào phải hạng mây mưa. Quỳnh ỡm ờ trỏ vồng dưa:
- Quả dưa chuột chuột (truột) thẳng gang, thử chơi t hì thử.
Ở câu này, ngoài tài dùng chữ “thử” là con chuột đối lại “long” là con rồng. Quỳnh còn liếm thoắng ghẹo Thị Điểm muốn thử cứ việc, hà tất phải e lệ quanh quẩn?
Thị Điểm tuy không phủ nhận tài hoa của Quỳnh, song lần ấy, nàng bất mãn rõ rệt, bởi ông chồng tương lai lúc nào cũng xỏ xiên, chả đứng đắn uy nghi như người trong mộng của các cô con nhà quí phái. Vậy mà Quỳnh vẫn thói nào tật ấy, hễ gặp dịp là cợt nhã, trêu tức. Một chiều Thị Điểm bí mật ra tắm mát ngoài ao sau vườn, và cẩn thận mang theo bầy tớ gái canh chừng người lạ mặt. Nào ngờ Quỳnh hay được, leo lên cành ổi cạnh bờ ao t ự lúc nào, chả ai hay biết. Khi phát giác, Thị Điểm nổi giận sai thị nữ kéo Quỳnh xuống, dọa sẽ mách thân phụ. Quỳnh năn nỉ, Thị Điểm gằn giọng:
- Tôi ghét anh lắm, tôi không nhận anh làm chồng nữa. Tuy nhiên tôi cũng tử tế cho phép anh trổ tài ứng đối lần cuối cùng. Nếu đối được việc hôn nhân sẽ bàn lại, bằng không, kể như dứt khoát, đừng nhìn mặt nhau nữa.
Quỳnh hồi hộp chờ đợi, Thị Điểm đọc lớn:
“Da trắng vỗ bì bạch”. Nào, đối đi...
Quỳnh cau mày suy nghĩ. “Bì bạch” nghĩa là da trắng, lại còn là tiếng tượng thanh. Khó khăn đến cùng cực! Hết bóp trán lại ôm đầu, lại méo mặt, Quỳnh vô tình làm trò cười cho Thị Điểm và bầy tớ gái. Tức giận, sùi bọt mép vì bị cười nhạo, Quỳnh càng cố gắng, song rốt cuộc đành... le lưỡi, lắc đầu... Đây có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, thông minh và tài ba của Quỳnh không mang đến cho chàng vinh dự, ngược lại... xấu hổ và buồn bã, Quỳnh quay gót bỏ đi, bên tai còn vang tiếng cười đắc thắng của đám con gái. Tức ơi là tức!

* * *
Thân,
Hắc Bạch Song Hiệp
(PT & QV)

Life is a flower of which love is the honey.
Đăng nhập để trả lời
0