Diễn Đàn » Nhạc Việt

Tim hiểu âm nhạc.

8 trả lời, 386 lượt xem — Trang 1 / 1
Nơi đây sẽ post các bài viết tìm hiểu về âm nhạc của các bạn.
Các bạn dùng chức năng post repply để post bài nhé.

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>thanhtung_p</b> -- <b>6.9.2004 0:16:53 </b> &gt;>
Biên khảo - Luật hát nói


I ). SỰ XUẤT HIỆN CỦA THỂ HÁT NÓI :
Hát nói xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 18 nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ thứ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát... Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Việt Nam được giải thích bằng những nguyên nhân và các sự việc sau đây :

  • Hát nói là sự phàm tục hoá những thể thánh ca. Trước khi có Hát nói, nói rộng ra là trước khi có những bài hát ả đào hay ca trù, ở nước ta đã có những bài hát cửa đền, cửa chùa, những bài thét nhạc (bài hát có âm nhạc phụ hoạ). Những thể ca trong các dịp tế lễ đó chuyển dần công dụng và được các tao nhân, mặc khách tổ chức ngay trong những cuộc giải trí riêng của họ. Các bài hát ả đào bắt đầu từ đó.
  • Hát nói là sự cụ thể hoá ảnh hưởng của học thuyết Lão - Trang. Xưa kia văn chương Việt Nam về nội dung phải gò bó trong những tư tưởng Khổng Mạnh, về hình thức phải đem theo những qui luật khắt khe, những lối diễn tả nhất định. Cuối thế kỷ thứ 18, do hoàn cảnh rối ren trong xã hội, học thuyết Lão - Trang có cơ hội bành trướng và Hát nói chính là sáng tạo của các nhà nho phóng khoáng, thích tự do, ở đấy họ có thể gửi gấm những tư tưởng, cảm xúc vượt ra ngoài khuôn phép với cách diễn đạt cởi mở, rộng rãi hơn
  • Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi của thể ngâm Song thất lục bát : Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận. Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm : thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối...

Trong lối Hát ả đào có nhiều loại như : Dâng hương, Giáo trống, Gủi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.
II ). QUY TẮC CỦA MỘT BÀI HÁT NÓI :

  • Đủ khổ gồm 3 khổ, mỗi khổ gồm 4 câu, riêng khổ cuối gồm 3 câu. Đây là thể chính thức của Hát nói. (Xem thí dụ bài Vịnh Thuý Kiều ở sau).
    Bài Hát nói thiếu khổ dưới 11 câu, thường là chỉ có 7 câu
    Bài Hát nói dôi khổ thì có khổ dôi ra thường chen vào giữa, số câu nhiều hơn 11.

Trong bài Hát nói đủ khổ 11 câu được đặt tên như sau :

  • Khổ đầu: Câu 1, 2 gọi là Lá đầu; câu 3,4 - Xuyên thưa
    Khổ giữa: Câu 5, 6 gọi là Thơ; câu 7,8 - Xuyên mau.
    Khổ cuối: Câu 9 là Dồn, câu 10 là Xếp, câu 11 là Keo.

b) Số chữ trong một câu :
Số chữ trong các câu của bài Hát nói là không nhất định, thường một câu có 7, 8 chữ, câu ngắn có 4, 5 chữ, câu dài 12 tới 18 chữ.

Ví dụ:

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Làm chi cho mệt cuộc đời.

Nhưng 2 câu 5, 6 gọi là Thơ thì phải theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn.

c) Vần :

Trong bài Hát nói dùng cả 2 vần, vần bằng và vần trắc. Nếu một câu Hát nói đổi từ vần bằng sang vần trắc hoặc ngược lại thì có yêu vận và cước vận, những câu mang yêu vận là những câu chẵn, trừ câu thứ sáu chỉ có cước vận mà thôi.
Theo luật thì trong mỗi khổ, cước vận của câu đầu và câu cuối phải dùng tiếng trắc, cước vận 2 câu giữa phải dùng tiếng bằng. Yêu vận câu thứ nhì dùng tiếng trắc, yêu vận câu thứ tư thì dùng tiếng bằng. Yêu vận gieo vào chữ cuối đoạn thứ nhì.

d) Luật bằng trắc :

Theo luật hiệp vận, cước vận của câu đầu trong mỗi khổ hợp với yêu vận của câu thứ hai, yêu vận của câu thứ hai hợp với yêu vận của câu thứ ba, cước vận của câu thứ ba hợp với yêu vận của câu thứ tư. Hợp đây xin được hiểu là cùng tiếng bằng hay trắc chứ không phải hợp là cùng vần. Những chữ thứ nhất, ba, năm trong mỗi câu Hát nói không cần theo đúng luật bằng trắc ( gọi là nhất tam ngũ bất luận). Ta có:

  • Câu 1. t T b B t T
    Câu 2. b B t T b B
    Câu 3. b B t T b B
    Câu 4. t T b B t T

Trong đó không kể những chữ gác ra ngoài luật vì số chữ trong mỗi câu hát là không nhất định. Câu 6 chữ phải theo đúng luật kể trên. Còn những câu dài hơn 6 chữ thì muốn ứng dụng luật này phải chia làm 3 đoạn con, trong mỗi đoạn con, chữ cuối phải theo đúng luật bằng trắc. Những chữ gác ra ngoài không kể, được tuỳ ý sử dụng. Những câu ít hơn 6 chữ thì chia làm 2 đoạn mà đoạn thiếu là đoạn đầu không kể còn 2 đoạn sau thì phải theo đúng luật.

Thí dụ 1. (Chia câu làm 3 đoạn con bằng dấu / )

Đài tước / mở toang / cơn tạo hoá ----------------------- t T b B 0 t T
Phím loan xe / trải mối / cương thường ---------------------0 b B t T b B
Ngán cho Kiều / khi lỡ bước / Sâm Thương ----------0 b B 0 t T b B
Cung đàn nguyệt / dây loan / còn mắc mãi ----------------0 t T b B 0 t T

Thí dụ 2.

Tài tình / chi với -------------------------------------------------------- b B t T
Đau đớn thay / chút phận / hồng nhan ------------------- 0 b B t T b B
Mười lăm năm / đầy đoạ / cõi trần hoàn ----------- 0 b B t T 0 b B
Khôn trọn vẹn / chũ tình / chữ hiếu ----------------------- 0 t T b B t T

Thí dụ 3.

Ta xét thêm bài Hát nói Vịnh Thuý Kiều (tác giả khuyết danh thế kỷ 19) sau đây là bài đủ khổ với 11 câu :

VỊNH THUÝ KIỀU


Khổ đầu :

1- Cơ Trời dâu bể ------------------------------------------------ Lá đầu.
2- Khách hồng nhan xiết kể nỗi gian truân ------------ B
3- Mang tấm son đeo đuổi khách hồng quần ------- B - Xuyên thưa.
4- Lời vàng đá dám lỗi cùng non nước --------------- T

Khổ giữa :

5- Ngọc diện khởi ưng mai thuý quốc -------------------- T - Thơ.
6- Băng tâm tự khả đối Kim lang --------------------------- B
7- Mười lăm năm thương xót kẻ đôi phương --- B - Xuyên mau.
8- Ruột tằm bực đã đành nơi chín suối ----------- T

Khổ xếp :

9- Duyên tái ngộ bởi Trời đâu đem lại ------------- T - Câu dồn.
10- Lứa ba thu một mối rõ ràng ---------------------------- B - Câu xếp.
11- Mới hay con Tạo khôn lường ------------------------- B - Câu keo.

Ta thấy câu đầu không tính vần, các câu sau cứ 2 vần bằng lọt vào giữa khổ ( mỗi khổ 4 câu, khổ cuối 3 câu ), lại 2 câu trắc bắc cầu từ khổ này qua khổ kia và bài Hát nói tận cùng là 1 câu 6 chữ vần bằng. Toàn bài Hát nói trên đều dùng cước vận.

YÊU VẬN: Còn yêu vận thì không bó buộc ( NHẮC LẠI, KHÔNG BÓ BUỘC), có thể là bằng hoặc trắc, đặt ở vị trí không nhất định trong câu.

Thí dụ 4.

CÔ ĐẦU TỰ THÁN

Mưỡu (đầu, kép) :

1- Cùng chung một tiếng tơ đồng
2- Nào ai tích lục tham hồng là ai ?
3- Nghĩ đời mà ngán cho đời
4- Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa ?

Nói :

1- Yêu đào một đoá ----------------------------------------------- Lá đầu.
2- Bấy lâu nay nấn ná chốn Bình Khang -------------------- B.
3- Nghĩ tài tình nên trọng cũng nên thương ------------ B - Xuyên thưa.
4- Ngờ chi nữa mà khách qua đường hờ hững -- T.

5- Lầu bậc ngũ âm êm tưởng những ----------------- T - Thơ.
6- Chọn người tri kỷ khách hay chăng ------------------------ B.
7- Ấy những ai hẹn ngọc thề vàng -------------------------- B - Xuyên mau.
8- Duyên đằm thắm hoá bẽ bàng sao thế nhỉ ? -------- T.

9- Hàng thưa mối phải chăng xấu vía ? ---------------------- T - Dồn.
10- Ngụ tính tình ta kể một đôi câu ------------------------ B - Xếp.
11- Người buồn cảnh có vui đâu ! ------------------------- B - Keo.

Khuyết Danh.


Bài này có thêm 4 câu Mưỡu đầu (kép). Hai câu lá đầu yêu vận ( vần lưng là trắc : đoá, ná ), 2 câu xuyên thưa yêu vận ( vần lưng là bằng : vàng, bàng). Ngoài ra các câu khác vần có cước vận 2 câu bằng lại 2 câu trắc xen kẽ.
III ). THƠ VÀ MƯỠU TRONG BÀI HÁT NÓI :
a) THƠ :
Trong bài Hát nói bao giờ cũng có 2 câu thơ hoặc bằng chữ Hán mượn của người xưa hoặc do chính tác giả làm ra viết theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Trong bài Vịnh Thuý Kiều ở trên, 2 câu Thơ chữ Hán lấy ở bài Đề Từ của Phạm Quý Thích. Bài Cô đầu tự thán, 2 câu Thơ 5, 6 do tác giả (khuyết danh) tự làm ra. Vị trí thông thường của 2 câu Thơ là câu 5 và 6, tuy nhiên khi phá cách 2 câu Thơ này có thể đưa lên đầu bài hay đến 1 vị trí khác như trong bài Thuý Kiều lưu lạc ( xin xem PHẦN ĐỌC THÊM) thì 2 câu thơ ở vị trí câu 9 và 10 :
Đoạn tràng mông lý căn duyên liễu.
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
( Xin xem toàn bài Thuý Kiều lưu lạc ở cuối bài ).
b) MƯỠU :
Mưỡu (hay mão có nghĩa dạo đầu, introduction) là những câu thơ lục bát mượn trong ca dao hay thơ của người xưa hoặc do chính tác giả làm ra đặt ở đầu bài (gọi là Mưỡu đầu) hay cuối bài nhưng trước câu keo (gọi là Mưỡu hậu). Mưỡu có thể gồm 2 câu ( Mưỡu đơn) hay 4 câu (Mưỡu kép). bài Vịnh Kiều của Nguyễn Công Trứ dưới đây dôi khổ (dài hơn 11 câu) và có Mưỡu hậu đơn :
VỊNH KIỀU
1- Đài tước mở toang cơn Tạo hoá
2- Phím loan xe trái mối cương thường
3- Ngán cho Kiều khi lỡ bước Sâm Thương
4- Cung đàn nguyệt dây loan còn mắc mãi

(4 câu dôi khổ):
Đêm thanh vắng gọi Vân ngồi dậy
Bức khăn là phong mở ngồn cơn
Đem lời thệ hải minh sơn
Non nước ấy cậy em gánh vác

5-Thơ rằng : Vì hiếu để tình nên chếch mác
6- Chưa duyên mà nợ khéo đa mang
7- Mảnh gương thề soi với khách văn chương
8- Mùi hương ngát cũng nhờ em rơi đến chị

9- Này con tạo ghét ghen chi lắm bấy ?
10- Cái hồng nhan gẫm lại cũng buồn cười (câu xếp)

(2 câu Mưỡu hậu đơn):
Ấy ai trâm quạt thề bồi
Thấu tình hay chẳng hỡi người Liêu Tây ?

11- Trăng già khéo quấy chi ai ? (câu keo)

Nguyễn Công Trứ

CHÚ Ý : Những câu Mưỡu có thể làm sai lạc qui tắc về cước vận đã trình bày ở trên, tuy nhiên, có điều bắt buộc phải theo là : Mưỡu hậu phải tiếp tục vần của câu xếp để chuyển vần sang câu keo ( cười, bồi, người, Tây, ai ở cuối bài).
Như vậy, về hình thức, phần thi pháp cho biết những qui tắc rất rộng rãi của Hát nói: số câu, số chữ không hạn định... Thí dụ bài Kỷ niệm cụ Tiên Điền của nguyễn Đôn Phục ở PHẦN ĐỌC THÊM gồm 59 câu.
IV). PHẦN ĐỌC THÊM :
THUÝ KIỀU LƯU LẠC

So tài tình Thuý Kiều đệ nhất
Tiết Thanh Minh đi tảo mộ Hoàng tuyền
Bóng tà dương viếng mả Đạm Tiên
Theo vó Ký gặp chàng Kim Trọng

Nằm thoắt thấy thần nhân báo mộng
Số cô còn nhiều nợ phong ba
Sực tỉnh cơn tưởng nỗi niềm xa
Năm canh nguyệt ủ ê chiều liễu yếu

Đoạn tràng mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Mối tơ vương xẩy cuộc tang thương
Người má phấn bên trời lưu lạc

Gẫm duyên cô mười lăm năm chếch mác
Phận hồng nhan nhiều nỗi gian truân
Trêu ngươi thay mấy tạo nhân ?

Chu Mạnh Trinh


BÀI HÁT KỶ NIỆM CỤ TIÊN ĐIỀN

Hát mưỡu :
Mấy hàng cẩm tú văn chương
Yêu hoa dở khúc đoạn trường ngâm hoa
Chúng ta nay nguyện với trăng già
Còn non còn nước quốc hoa còn dài

Hát nói:
Bắc phương nhất đại giai nhân lục
Nam hải thiên thu quốc sĩ văn
Đau đeớn thay là cuộc phong trần
Mà bạch diện với hồng nhan sao khéo khéo

Ngẫm kim cổ trong vòng thế đạo
Trai thờ vua chi khác gái thờ chồng
Tiếc cho ai nền băng tuyết chất phỉ phong
Cơn gia biến lạ lùng trêu cợt

Chàng với thiếp để mối tình thưa thớt
Mười lăm năm khôn xiết nỗi ba đào
Gớm thay cái số hoa đào
Nghề mụ Tú học sao cho được

Chùa chị Hoạn ngỡ phúc duyên chăng tội ác
Kiệu anh Từ thôi phú quí cũng phù vân
Thôi thôi đừng ngậm ngụi mãi cho thân
Đành chữ hiếu muôn phần trọn vẹn

Cuộc nhân thế vì bể dâu nên chuyện
Ai ơi xem lịch sử cụ Tiên Điền
Phấn vua Lê trang điểm đó là duyên
Tay chúa Trịnh cầm quyền thì cũng nợ

Quân Bắc viện, Đông đô khi vỡ lỡ
Lửa Tây Sơn, Nam luỹ lúc kinh hoàng
Mây Tràng thành xa cách mặt quân vương
Nghìn dặm những đoái thương chiều tuyệt tái

Chém kẻ gian tà gươm thụt lưỡi
Đền ơn quân phụ khối mang tình
Chốn lâm toàn lạc lối kẻ thư sinh
Âu cũng lấy đôi chữ trung trinh làm bổn phận

Khi trong nguyệt cung cầm ngơ ngẩn
Khi dưới hoa vơ vẩn nước cờ
Cảnh hoàng hôn khi thỏ ác lần lừa
Hồn cố quốc khi đỗ quyên thúc giục

Dở đến tập phong tình cổ lục
Khóc cho ai mà lại khóc cho ai
Thương ôi sắc nước hương trời
Thân trinh bạch cũng mai mà cũng tuyết

Cũng một lối tài tình oan nghiệt
Bút tài hoa nên điểm xuyết chuyện trăng hoa
Thác ra lời bạc mệnh xót xa
Mắng những thói buồn đơi xỏ lá

Nhắm mắt đánh nhau cùng tạo hoá
Nặng lời trao lại với non sông
Cuộc bể dâu trông thấy đã đau lòng
Tài thế nhỉ mà tai là thế nhỉ

Cho mới biết chữ hiếu, chữ trung là chữ quý
Kiếp phù sinh chi kể giấc chiêm bao
Ta khen người thục nữ chí cao
Mà tâm sự đấng văn hào ta phải nhớ

Điểm giọt máu chuốt nên vần quốc ngữ
Lúc canh khuya nghe gõ tiếng chuông vàng
So oán ân trong kiếp đoạn tràng
Bảo cho biết thiện ca9n là lạc quốc

Âm cực dương hồi, cơ duyên sau trước
Đem văn chương mà cảnh giác cho ta
Niệm nam mô ông Phật chùa nhà !

Nguyễn Đôn Phục



Duyên nợ


Mưỡu:
Cái duyên hay cái nợ nần,
Khi xa xa lắc, khi gần gần ghê.
Dấu hồng còn gửi tuyết nê,
Khi bay nào biết đông tê bóng hồng. (1)

Nói:
Giai nhân nan tắi đắc (2)
Mười ba năm một giấc bâng khuâng,
Động hơi thu chợt nhớ đến vầng trăng,
Chén non nước tưởng chừng đâu bữa nọ.

Quá nhãn quan âm quân dĩ ngộ
Thiếu thời phong độ ngã do liện (3)
Lại may mà gió mát đưa duyên
Mượn thơ thánh, đàn tiên khuây truyện cũ.

Đối tửu mạc đề ly biệt cú, (4)
Chốn non Vu vân vũ (5) hãy đi về,
Cánh hồng nào biết đông tê ?


Nguyễn Khuyến



Lấy ý từ cổ thi:
Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
Ưng thị phi hồng đạp tuyết nê
Nê thượng ngẫu nhiên lưu trảo tích
Hồng phi na phục kế đông tê
Người ta đi đến đâu phải như thế nào; Nên như chim hồng bay dẫm lên đám tuyết trên bùn; Ở trên bùn ngẫu nhiên để lại dấu móng; chim hồng bay đi nào để gì bên đông bên tây (nhưng vết móng vẫn còn lưu lại).


Từ bài hát của Lý Diên Niên đời nhà Hán:
Khởi bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc
Há không biết (người đẹp) nghiêng thành nghiêng nước đâu, (chỉ thấy) người đẹp khó mà gặp lại được


Thì giờ qua mắt vùn vụt ngươi đã lầm rồi; phong độ lúc thiếu niên ta còn tiếc đọ


Trước chén rượu chớ nên nhắc đến chuyện ly biệt


Non Vu vân vũ: điển tích vua Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, mơ thấy cùng một người con gái giao hoạn Khi từ biệt vua, nàng nói: "Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn, buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa." Người đời sau từ đó dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc trai gái giao hợp



Hỏi Phỗng Đá


Ông đứng làm chi đó hỡi ông ?
Trơ trơ như đá, vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó ?
Non nước đầy vơi có biết không ?

Mưỡu:
Người đâu tên họ là chi ?
Hỏi ra trích trích tri tri (1) nực cười.
Vắt tay ngoảnh mặt trông đời,
Cũng toan lo tính sự đời chi đây ?

Nói :
Thấy lão đá lạ lùng muốn hỏi,
Cớ sao mà len lỏi đến chi đây ?
Hay mảng vui hoa cỏ nước non này,
Chừng cũng muốn dang tay vào hội Lạc (2)

Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
Thương hải thuỳ tri ngã diệc âu. (3)
Thôi thôi đừng nghĩ chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác

Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu !(4)


Nguyễn Khuyến


Trích trích tri tri: trơ trơ không chuyện


Hội Lạc: đời nhà Tống, Tiến sĩ Văn Ngạn Bác, làm quan đến Thái sư, khi về hưu trí nhà ở Lạc Dương, cùng với Tư Mã Quang, Phú Bật và nhiều học giả cao niên khác lập ra Lạc Dương Kỳ Anh Hội để đàm đạo văn chương.


Núi xanh tự cười đầu sắp trắng như chim hạc; Biển xanh ai biết ta cũng như chim âu (ý ví người ẩn dật). Ý lấy từ hai câu thơ của Trương Dưỡng Hạo đời nhà Nguyên:
Vân sơn tự tiếu đầu tương hạc
Doanh hải thuỳ tri ngã diệc âu


Tương truyền Nguyễn Khuyến làm bài ca trù Hỏi Phỗng Đá này trong buổi lễ mừng thọ năm mươi của quan Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải.


Chí nam nhi


Thông minh nhất nam tử
Yêu vi thiên hạ kỳ (1)
Trót sinh ra thì phải có chi chi,
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu

Đố kỵ sá chi con tạo,
Nợ tang bồng quyết trả cho xong
Đã xông pha bút trận, thì gắng gỏi kiếm cung,
Cho rõ mặt tu mi nam tử.

Trong vũ trụ đã đành phận sự,
Phải có danh mà đối với núi sông.
Đi không, chẳng lẽ về không ?

Nguyễn Công Trứ


(1) Một người con trai thông minh; nên làm người khác thường trong thiên hạ Lấy từ câu thơ Đường Giới tiễn bạn đi Trường An: Nam tử yếu vi thiên hạ kỵ


Ngất Ngưởng

Vũ trụ nội mạc phi phận sự (1)
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lòng,
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, (2)
Gồm thao lược (3) đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc Bình tây cầm cờ đại tướng (4)
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên (5)
Đạc (6) ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

(Dôi khổ) Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi,
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng (7)

Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Hàn, Nhạc, cũng phường Mai Phúc (8)
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Đời ai ngất ngưởng như ông


Trong vũ trụ đâu chẳng là phận sự


Đông: tức tỉnh Hải Dượng


thao lược: Lã Thái Công đời nhà Chu làm ra sách Lục Thao để dạy việc bịnh Tiên ông Hoàng Thạch trao Trương Lương sách Binh Thư Tam Lược để giúp Hán Cao Tổ, ý chỉ giỏi điều binh khiển tượng


Khi đem quân đánh thành Trấn Tây ở Cao Miên, ông được vua phong làm Bình Tây Đại tướng quận


Năm ở kinh đô cởi dây thao đeo ấn từ quạn


Đạc: cái mõ người ta thường treo vào cổ trâu bò để dễ tìm khi chúng đi lạc


Lúc này ông đã về hưu trí, nhưng trong nhà vẫn dập dìu các cô đầu, ngày ngày hát xượng Có hôm ông đem các cô lên cả sân chùa mà hát ở đấy !


Hàn, Nhạc: tức Hàn Kỳ và Nhạc Phi, hai danh tướng đời Tộng Mai Phúc: danh nho đời Đông Hán.


Gánh Gạo Đưa Chồng


Mưỡu:
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non (1)

Nói:
Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất (2)
Thương cái cò lặn lội bờ sông
Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng
Ngoài nghìn dặm, một trời, một nước

Trông bóng nhạn, bâng khuâng từng bước,
Nghe tiếng quyên, khắc khoải năm canh
Nghĩa tép tôm ai nỡ dứt tình,
Ơn thuỷ thổ phải đền cho vẹn sóng,

Trường tên đạn, xin chàng bảo trọng
Thiếp lui về nuôi cái cùng cọn
Cao Bằng cách trở nước non,
Mình trong trắng có quỉ thần a hộ

Sức bay nhảy một phen năng nỏ
Đá Yên Nhiên (3) còn đó chẳng mòn,
Đồng hưu rạng chép thẻ son, (4)
Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung
Yêu nhau khăng khít giải đồng



Tương truyền Nguyễn Công Trứ làm bài này cho các cô đầu hát để khích lệ quân sĩ khi ông đi đánh Nùng Văn Vân ở Cao Bặng Hai câu mưỡu lấy từ ca dao:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ nọn
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng


Con cò cũng là một loài có lông có cánh


Yên Nhiên: tên núi nay ở Mông Cộ Tướng Hán là Đậu Hiến sau khi phá xong quân Hung Nô, đi ngang qua Yên Nhiên lên núi bạt đá đục bia, kể uy đức vua Hán và ghi công thắng trận.


Đồng hưu: cùng vui với nược Thẻ son: thẻ ghi công các công thần thường để ở Tôn miếu. 2 câu Mưỡu hậu đơn bằng thể lục bát: " Đồng hưu rạng chép thẻ son, Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung" không được tính vào trong khổ xếp.



Chí Làm Trai

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng (1) vay trả, trả vay
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thạnh (2)
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu



Tang bồng: từ "tang bồng hồ thỉ" -- cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bộng Theo Lễ Kinh: cha mẹ mới sinh con trai, lấy cung tên bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo ở ngoài cửa, có ý mong cho con mình sau này lấy cung tên làm nên sự nghiệp vang thiên hạ


Hai câu thơ trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tộng Người ở đời chẳng ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh.



Cuối cùng là phần lý thú nhất của bài biên khảo. Nắm vững quy luật Hát nói rồi, chúng ta hãy ứng dụng vào trong thơ hiện đại. Đây là bài thơ của Tử Ngôn :

Trăng Giữa Tháng

Mảnh trăng nhỏ nằm nghiêng bên mành trúc
Giống giận hờn, như khúc nhạc thở than
Ngồi bên nhau cùng tơ tưởng mơ màng
Anh em đó, nửa vầng trăng giữa tháng.
Mảnh tình hờ em gác nặng vai anh
Kề môi hôn cho ấm đượm ân tình
Để nhung nhớ giết dần trăng giữa tháng
Và cô độc làm úa cánh môi xinh.
Chiều bên em nắng đang liếc mắt nhìn
Hoa hồng nở chẳng ai thèm, muốn hái
Chỉ có anh một vì sao xa mãi
Muốn ươm đầy nhuỵ ngọt của hoa em...

Hoán chuyển sang Hát nói :

Trăng Giữa Tháng

Mảnh trăng nhỏ nằm nghiêng bên mành trúc
Giống giận hờn, như khúc nhạc thở than
Ngồi bên nhau cùng tơ tưởng mơ màng
Anh em đó, nửa vầng trăng giữa tháng.

Vân lâu bán khai bích tà bạch (1)
Ngọc luân trát lộ thấp đoàn quang
Mảnh tình hờ em gác nặng vai chàng
Để nhung nhớ giết dần trăng giữa tháng.

Và cô độc làm cánh môi xinh khô hạn
Xót đời hoa chờ tay hái chẳng ai thèm
Chỉ tình anh ngọt nhuỵ em

Metamorph

(1) Tường bạc hững hờ cung mây hé Vành ngọc ngộp sương bóng ướt đầm - Hai câu này không đòi hỏi phải là Hán Văn, Việt văn cũng được nhưng phải là thơ 7 chữ.

Ngày xuân muôn hoa khoe sắc màu, gió xuân hây hây, tình xuân phơi phới, ý xuân bàng bạc nơi nơi. Nắm vững quy luật về thể thơ Hát nói, ngần ngại gì bạn cùng Meta không lấy giấy bút, chẳng giấy hồng tiên, mực tàu lỉnh kỉnh, giấy trắng bút Bic cũng được, thảo vài câu Hát nói gọi là đầu xuân khai bút. Chẳng những lấy hên không thôi mà chơi xuân như thế kẻo tủi lòng xuân.

ST: thanhtung_p
Source: Vietnet.

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>thanhtung_p</b> -- <b>6.9.2004 0:20:54 </b> &gt;>
Bi Kịch Trịnh Công Sơn


Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.

Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "œớt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "œớt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng củaÐặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.

Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.

Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.

Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "œớt Mi", "Nhìn Những Mùa ThuÐi".

Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản,

Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.

Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."

Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn raÐà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài nhưÐàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc.Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ởÐà Lạt.

Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."

Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ởÐà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.

Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từÐà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩÐinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.

Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trườngÐại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi màÐỗ Ngọc Yến, TrầnÐại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.

Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.

Phong trào du ca, của anh NguyễnÐức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.

Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.

Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .

Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.

Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vàoÐại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.

Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ...Ðể làm gì ?Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .

Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi ThủÐức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.

Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.

‡ến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó,Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhàbáo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng màÐỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.

Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.

Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?

Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.

Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.

Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đãvề đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.

Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!

Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "‡ường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.

Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."

Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?

Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.

Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én ... RồiÐi Về.

Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.

ST: thanhtung_p
TG: Trịnh Cung

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
Buổi Nói Chuyện Về Âm Nhạc
Của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa Tại Melbourne


Vào ngày 28 tháng 9 năm 2003, tại Hội Quán The Sun ở East Brunswick, cộng đồng người Việt tự do tại tiểu bang Victoria đã hân hạnh đón tiếp Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân, chị Ngọc Hà, từ Hoa Kỳ đến viếng thăm Úc Châu. Chương trình này đã được nhóm thân hữu nhạc sĩ Lê Văn Khoa đứng ra tổ chức, với sự bảo trợ của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria, Tuần Báo Nhân Quyền, Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Sang, Hội Cựu Sinh Viên Victoria, Hội Thơ Nhân Quyền, Hội Cao Niên Tị Nạn Đông Dương Victoria, Hội Giáo Chức Victoria, Hội Thân Hữu Miền Tây Melbourne, và Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn. Trong buổi họp mặt thân tình này, nhạc sĩ đã có dịp trình bày ba đề tài về âm nhạc: âm nhạc và đời sống, những suy nghĩ thầm kín của người nghệ sĩ sáng tác, và sự gặp gỡ giữa nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam vào thế giới âm nhạc tây phương.



Nhạc sĩ Lê Văn Khoa



Anh Hoàng Cao đã giới thiệu chương trình và mời ông Châu Xuân Hùng, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại tiểu bang Victoria lên có đôi lời với quan khách và khán thính giả. Ông Châu Xuân Hùng đã thay mặt cộng đồng xin được vinh hạnh chào đón nhạc sĩ và phu nhân đến Úc Châu. Theo ông, nhạc sĩ Lê Văn Khoa không những là một nhà soạn nhạc, một nhiếp ảnh gia Việt Nam nổi tiếng tại hải ngoại, ông còn được biết đến như một chiến sĩ văn hoá. Nhạc sĩ đã hoạt động không ngừng nghỉ trong suốt gần 30 năm sống lưu vong tại Hoa Kỳ, trong một nỗ lực nhằm bảo tồn nền văn hoá Việt Nam, đặc biệt là ở lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh. Người nhạc sĩ đa tài này đã là một trong những sáng lập viên của Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi tại Hoa Kỳ. Đây là một hội đoàn bất vụ lợi, được thành lập để phổ biến và phát huy nghệ thuật hợp xướng trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi đã thực hiện những chương trình nhạc với những bài hòa tấu hợp xướng mang đầy tính dân tộc và nhân bản. Ông Hùng hy vọng trong tương lai, cộng đồng người Việt tại hải ngoại không những có cơ hội bảo tồn nền văn hoá Việt Nam tại hải ngoại, mà còn có thể phát huy nền văn hóa này, đặc biệt là trong lãnh vực âm nhạc, mà cụ thể nhất là âm nhạc Việt Nam sẽ có dịp hoà nhập vào giòng âm nhạc tây phương. Ông Hùng sau đó đã nhường lời cho thượng nghị sĩ Nguyễn Sang, người đã mời nhạc sĩ Lê Văn Khoa qua Úc lần này.

Thượng nghị sĩ Nguyễn Sang cho biết ông đã có may mắn gặp gỡ nhạc sĩ Lê Văn Khoa tại California nhân chuyến đi thăm Hoa Kỳ của ông Sang cách đây hơn một năm. Nhân dịp này, ông Sang đã là một vị khách danh dự được dịp thưởng thức chương trình nhạc do nhạc sĩ Lê Văn Khoa thực hiện tại California. Ông Sang cho biết tuy không phải là người thuộc giới làm văn nghệ, nhưng với tư cách là một người thưởng thức nghệ thuật, ông đã rất ngạc nhiên và khâm phục về tính cách vĩ đại cũng như về giá trị nghệ thuật của buổi hoà nhạc này. Theo ông Sang, những người làm văn hoá Việt Nam đã rất cô đơn vì người Việt chúng ta thường có khuynh hướng đón nhận giòng nhạc tây phương đã có sẵn một cách dễ dàng, nhưng lại khá thờ ơ trước nền âm nhạc của chính dân tộc mình.

Ông Đinh Thế Dũng sau đó đã điều khiển chương trình. Ông cho biết cộng đồng người Việt tại Úc đã được một vinh dự lớn lao là đón tiếp nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân đến Úc. Ông Dũng trình bày sơ lược về tiểu sử của nhạc sĩ. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã biểu lộ một lòng đam mê và một khả năng thiên phú về âm nhạc khi còn rất bé tại Việt Nam. Ông đã được trao tặng một giải thưởng về nhiếp ảnh và một giải thưởng về âm nhạc của Hội Nghị Văn Chương Toàn Quốc năm 1967 và 1969. Biến cố tháng Tư đã khiến ông đã phải rời bỏ quê hương. Từ khi di chuyển về California sinh sống vào năm 1978, ông đã hoạt động không ngừng, và Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi đã được hình thành nhằm phát triển ngành hợp xướng và thực hiện những chương trình hoà nhạc hợp xướng. Những chương trình hoà nhạc có tầm vóc quy mô này đã quy tụ những nhạc sĩ và ca sĩ Việt Nam nổi tiếng tại hải ngoại, và đặc biệt là có sự đồng trình diễn của cả giới nghệ sĩ Hoa Kỳ nữa. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã sáng tác một tấu khúc giao hưởng có tựa đề "Việt Nam 1975" với tâm hồn của một người Việt tha hương, để ghi lại biến cố lịch sử đau thương này của đất nước.

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, với một giọng miền Nam đầy lôi cuốn, đã trình bày về đề tài thứ nhất: Âm Nhạc Trong Đời Sống. Âm Nhạc Trong Đời Sống cũng là tên của một chương trình phát thanh do ông phụ trách trên Đài Little Sài Gòn. Theo ông, ba yếu tố trong âm nhạc là sáng tác, trình diễn, và thưởng thức, là ba yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời nhau được. Chúng ta sẽ không có âm nhạc nếu thiếu một trong ba yếu tố này, và vì thế cả ba yếu tố này đều quan trọng như nhau. Theo ông, âm nhạc là một thứ ngôn ngữ quốc tế, nhưng âm nhạc không đến với mọi người một cách tự nhiên, mà như mọi thứ ngôn ngữ khác, để có thể hiểu và cảm thông với âm nhạc, ta cần học hỏi và trau dồi về thứ ngôn ngữ này. Chương trình phát thanh này đã được ông hướng dẫn để dần dà mọi người có thể hiểu được âm nhạc mà không cần phải dựa vào lời ca, để có thể đi xa hơn trong cái thế giới âm thanh tuyệt vời xẩy ra chung quanh ta hằng giờ hằng phút mà ta không ý thức được. Vì thời gian có hạn, ông chỉ nói sơ lược qua về lịch sử âm nhạc, dù theo truyền thuyết Hy Lạp, theo lịch sử Trung Hoa, hay nhìn dưới góc cạnh của tôn giáo, âm nhạc đã trở thành một phần trong đời sống chúng ta. Việc này đã dần dà được chứng minh một cách khoa học. Thí dụ điển hình nhất là một thai nhi, nếu được cho nghe một bài nhạc liên tục trong một thời gian ròng rã trước khi chào đời, thì khi chào đời được hai ngày, đứa trẻ này nhúc nhích như hưởng ứng bài nhạc này, khi bài nhạc được phát lại bằng cái loa cho bé nghe, nhưng đứa bé này lại không tỏ ra có phản ứng nào khi một dòng nhạc lạ cũng được phát qua loa cho bé nghe. Ở đất nước ta khi xưa, những nhà nông khi cầy cấy đã hò hát với nhau để quên đi những nỗi mệt nhọc khi làm việc, những người chèo thuyền cũng hát những bài hát chèo thuyền. Những bài hát trữ tình trên sông Venice cũng khiến những đôi tình nhân cảm thấy khung cảnh trở nên thơ mộng hơn. Thời gian sau này âm nhạc còn được dùng như một phương pháp để chữa trị bịnh. Nói chung âm nhạc đã ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta về nhiều lãnh vực khác nhau, ở những mức độ khác nhau.

Đề tài thứ nhì nhạc sĩ bàn về Những Ý Nghĩ Thầm Kín Của Người Nghệ Sĩ Sáng Tác. Theo nhạc sĩ, âm nhạc thuộc lãnh vực khoa học vì nó cần sự chính xác tinh vi đến mức tối đa. Thí dụ như bao nhiêu sự rung động của âm thanh trong một giây sẽ tạo ra loại âm thanh nào. Âm thanh này khi chạm vào tai người nghe, xuyên vào não, não phân tích để cho biết cảm xúc của ta khi nghe âm thanh đó. Âm nhạc cũng là một bộ môn nghệ thuật vì nó liên quan đến sự rung động của tâm hồn. Như những bộ môn nghệ thuật khác, mức độ cảm nhận hay thưởng thức của ta về âm nhạc thay đổi tuỳ theo từng người, và một phần tuỳ vào mức độ ta tiếp xúc với âm nhạc. Điều quan trọng là người nghệ sĩ, dù ở lãnh vực sáng tác nào, đôi khi cần phải có cái can đảm vượt thoát ra ngoài những tiêu chuẩn thường lệ, để tác phẩm của mình có thể chấp cánh bay cao theo sự rung động của con tim, đó là lúc tác phẩm nghệ thuật mang nét sáng tạo mới. Ông đưa ra một thí dụ khi ông viết hoà âm cho dàn nhạc giao hưởng bản nhạc Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, trong một chương trình hoà nhạc vừa được trình diễn tại California, theo nhạc sĩ, ý nghĩ hiện ra trong đầu ông là trời phải tối trước khi sáng, vì thế để tạo sự tương phản rõ nét, ông đã cho những âm thanh từ âm u, đi lần đến những âm thanh dường như có tiếng giun dế kêu, những âm thanh này lần lần bừng lên, lớn dần ra, khi âm thanh rộ lên thì ta có thể cảm nhận ngay là cả bầu trời đang sáng rực lên, đó là lúc ban hợp ca bắt đầu hát "Đoàn người đi …" Nhạc sĩ tâm sự, ông đam mê cả âm nhạc lẫn nhiếp ảnh vì trong âm thanh có hình ảnh, và trong hình ảnh có âm thanh. Đôi khi ông phải dùng âm thanh để diễn tả một hình ảnh, như trong bài Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, những âm thanh được sử dụng có chủ đích khiến người nghe có thể liên tưởng đến hình ảnh cả một bầu trời đang tối, rồi từ từ sáng dần để cuối cùng vầng bình minh rạng chiếu khắp nơi.

Đề tài thứ ba nhạc sĩ bàn về Âm Nhạc Cổ Truyền Dân Tộc và Sự Hội Nhập Vào Nền Âm Nhạc Thế Giới. Trong đề tài này, ông nhắc đến ba tấu khúc giao hưởng có liên quan đến những biến cố lịch sử cận đại. Tấu khúc Tchaikovsky đã diễn tả lại cuộc chiến giữa quân Pháp và Nga, khi Napoléon đem quân sang xâm chiếm nước Nga, khiến Nga phải kêu gọi tiêu thổ, cuối cùng Pháp thua cuộc. Nhà nước Nga, nhân dịp muốn dựng lại ngôi nhà thờ tại Petersburg để đánh dấu việc ngôi nhà thờ đã bị quân Napoléon phá hủy trong cuộc chiến, đã giao phó Tchaikovsky sáng tác một tấu khúc về sự kiện lịch sử này. Việc Anh Quốc trả Hong Kong lại cho Trung Quốc cũng được ủy ban tổ chức buổi lễ ủy thác một nhạc sĩ người Hoa sáng tác một tấu khúc giao hưởng hầu diễn tả lại nỗi vui mừng của người dân, trong buổi lễ trao trả lại Hong Kong cho Trung Quốc. Một CD sau đó đã được thực hiện, và có dùng âm thanh của cặp trống đồng mới vừa được khai quật lên ở Trung Quốc. Biến cố tháng Tư năm 1975 cũng là một biến cố lịch sử thế giới cận đại, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã sáng tác ra tấu khúc giao hưởng "Việt Nam 1975" khi nỗi hận và niềm xúc động chợt đến với ông. Đoạn kết của tấu khúc này diễn tả một ngày mai tràn đầy hy vọng cho một nước Việt Nam. Đó cũng là giấc mơ chung của người Việt chúng ta. Ông đã từng có ý định thực hiện một CD để ghi lại một giai đoạn lịch sử đen tối của đất nước, hầu nhắc nhở các em đừng bao giờ quên lý do tại sao thế hệ ông cha các em đã phải bỏ nước ra đi. CD này, nếu thực hiện được, sẽ nhắc nhở các cháu rằng vẫn có một quê hương đang chờ các em đó. Dù đã nhận được những đóng góp nhiệt tình của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, nhưng những công sức và tấm lòng không vẫn chưa đủ, việc thực hiện CD này vẫn còn đang dở dang vì chi phí thực hiện CD quá cao tại Hoa Kỳ.

Sau chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, ông Nguyễn Sang, với tư cách là một thượng nghị sĩ đại diện cho cộng đồng người Việt tại Victoria, phối hợp cùng với Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria, đã vận động để nhạc sĩ Lê Văn Khoa có dịp tiếp xúc với Ban Quản Trị Dàn Nhạc Giao Hưởng Melbourne (Melbourne Symphony Orchestra), hầu nhạc sĩ có dịp giới thiệu những tác phẩm âm nhạc của mình. Cuộc vận động này đã thành công, nhạc sĩ đã đến Melbourne và đã có dịp tiếp xúc với Ban Quản Trị Dàn Nhạc Giao Hưởng Melbourne. Tấu khúc "Việt Nam 1975" đã được nhiều dàn nhạc lớn tại Hoa Kỳ trích diễn. Sau khi ông giám đốc Ban Quản Trị đọc nhạc bản những tác phẩm của nhạc sĩ, và xem những bài báo, hình ảnh mà giới truyền thông đã tường trình lại sau những buổi hoà nhạc, Ban Quản Trị Dàn Nhạc Giao Hưởng Melbourne đã đồng ý trên nguyên tắc là sẽ giúp nhạc sĩ Lê Văn Khoa thực hiện CD này, và đồng thời sẽ cho trình diễn một trích đoạn của tấu khúc này trong một chương trình hoà nhạc vĩ đại chào mừng Thế Vận Hội của Khối Thịnh Vượng Chung (Commonthwealth Games), sẽ được tổ chức vào Tháng Ba năm 2006. Nếu mọi việc xẩy ra như dự định, đây là lần đầu tiên tấu khúc này được trình diễn ngoài quốc gia Hoa Kỳ. Đây cũng là lần đầu tiên cộng đồng người Việt tại Melbourne sẽ được thưởng thức một dàn đại hoà tấu nổi tiếng của Úc trình diễn giòng nhạc giao hưởng của một nhạc sĩ Việt Nam.

Trong phần giải đáp thắc mắc, một người bạn trẻ bày tỏ mối quan tâm của cô ta về tính ủy mị trong âm nhạc, đã nêu lên câu hỏi làm thế nào để có thể bảo tồn nền văn hoá Việt Nam trong bối cảnh âm nhạc như vậy. Câu trả lời của nhạc sĩ là giới trẻ nên đi tiên phong trong việc sáng tác những bài hát trong sáng, và hy vọng sẽ tạo nên một phong trào nhạc mới lành mạnh. Bầu không khí trở nên sôi động hơn khi một bác cao niên đặt câu hỏi liên quan đến vấn đề tìm một con đường giải cứu quê hương, mà theo bác đề nghị, chúng ta hãy dấy động lên một chiến dịch "Quê Hương Yêu Dấy Hãy Vùng lên" qua âm nhạc.

Buổi nói chuyện của nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã diễn ra trong một bầu không khí thân mật và ấm cúng. Những anh chị trong Ban Tổ Chức đã lồng vào chương trình những tiết mục phụ diễn văn nghệ đặc sắc, ngay phần mở đầu là màn trình diễn nhạc tây phương của một ban nhạc địa phương Úc The Western Region, mà theo anh Hoàng Cao, để khi nghe giòng nhạc Việt Nam sau đó, ta có thể dễ so sánh giữa hai giòng nhạc hơn. Các ca sĩ tài tử như cô Phượng Oanh, một giáo chức, chị Vy Linh, đã lên giúp vui văn nghệ, với những chất giọng độc đáo không thua kém những ca sĩ nổi tiếng nào. Ca sĩ Vân Trung, một thời nổi tiếng với những bản nhạc trẻ trước năm 1975, cũng đã đóng góp tiếng hát của anh trong chương trình. Chương trình phụ diễn trở nên sống động hơn khi chị Ngọc Hà vô vài câu vọng cổ bằng tiếng Anh, và hát một bản nhạc Việt Nam bằng tiếng Pháp, và sau đó chị cùng cô Phượng Oanh bước lên sân khấu đồng ca bài Khúc Hát Thanh Xuân. Chị Ngọc Hà đã từng là học trò của cô Phượng Oanh dưới mái trường nữ trung học Lê Văn Duyệt trước 1975, và thầy trò đã có dịp gặp lại và cùng hát chung với nhau sau gần 30 năm xa cách, với những xúc động … Cuối chương trình chị Ngọc Hà, ông Nguyễn Xuân Định, và bác sĩ Lê Kim Thư đã cùng nhau trình bày bản Lý Qụa Kêu, khiến bầu không khí trở nên hào hứng hơn nữa. Người tham dự cũng được thưởng thức tài hoà âm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa qua bài Se Chỉ Luồn Kim và Hòn Vọng Phu (nghe từ máy CD), dù chất lượng âm thanh không được trung thực cho lắm, nhưng với những âm thanh khi hùng tráng, lúc êm dịu, đã để lại những ấn tượng sâu đậm nơi người nghe.

Âm nhạc cổ truyền Việt Nam chúng ta có một chỗ đứng khá khiêm nhường trong nền âm nhạc thế giới, dù trong cộng đồng chúng ta không thiếu những nhạc sĩ có khả năng trong lãnh vực sáng tác lẫn trong lãnh vực trình diễn, với một tiêu chuẩn có thể sánh với nhạc tây phương. Riêng tại Úc châu phải kể đến nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng, nghệ sĩ Đặng Kim Hiền, nhạc sĩ trẻ tuổi Nguyễn Anh Dũng (Melbourne), nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn (Sydney). Những nhạc cụ cổ truyền Việt Nam có khả năng diễn đạt và biểu hiện tư tưởng, tâm hồn người Việt ta một cách tuyệt vời. Một tác phẩm nghệ thuật về âm nhạc của đất nước ta cần mang tính chất dân tộc, và vì thế, việc sử dụng những nhạc khí dân tộc trong những tác phẩm này rất cần thiết. Ước mơ của nhạc sĩ không chỉ dừng lại ở đó, ông còn ấp ủ một hoài bão lớn lao hơn nữa về buổi trình diễn nhạc giao hưởng tại Thế Vận Hội này. Ông hy vọng sẽ mời một số nghệ sĩ Việt Nam hiện đang sống tại khắp nơi trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp, Hoà Lan, Đức… cùng về Melbourne ở vùng Nam bán cầu thuộc lục địa Úc châu, để cùng trình diễn, cùng hát bài ca nối vòng tay lớn, với hy vọng một ngày mai tươi sáng cho quê hương. Đó cũng là ước mơ của những người Việt Nam. Trong tương lai, nhóm thân hữu Lê Văn Khoa dự định sẽ tổ chức những buổi hoà nhạc vào năm 2004, 2005, do nhạc sĩ Lê Văn Khoa điều khiển, để chuẩn bị cho buổi trình diễn trong dịp Thế Vận Hội. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria dự định tổ chức một tuần lễ văn hoá Việt Nam, gồm chương trình hoà nhạc, và triễn lãm những tác phẩm nhiếp ảnh của nhạc sĩ Lê Văn Khoa và những nhiếp ảnh gia Việt Nam nổi tiếng khác, hiện đang cư ngụ tại Hoa Kỳ và Úc châu. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria rất mong chúng ta hưởng ứng tích cực những chương trình này.

Chúng ta may mắn được hít thở bầu không khí tự do tại Úc châu, được có cơ hội làm quen với một nền văn hoá mới lạ. Chúng ta đã sống trong một xứ sở mà những giá trị dân chủ vẫn còn được khá tôn trọng. Đã đến lúc chúng ta cần đền đáp lại phần nào cho nước Úc, một món quà mang đầy tính văn hoá, nếu có thể được. Thử tưởng tượng sự kiện một nhạc sĩ Việt Nam điều khiển một dàn đại hoà tấu nổi tiếng của Úc, với sự đồng trình diễn của những nhạc sĩ Việt Nam, sử dụng những nhạc khí cổ truyền của chúng ta, trong một chương trình hoà nhạc có tầm vóc quốc tế… (theo nhạc sĩ, giới truyền thông ở Hoa Kỳ đã dùng câu: "Nụ Hôn Văn Hoá Đã Nở" khi diễn tả lại sự kiện một dàn nhạc giao hưởng toàn những nhạc sĩ Hoa Kỳ trích diễn tấu khúc "Việt Nam 1975" của ông). Đây là một niềm hãnh diện lớn lao cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại nói riêng, và cho cả nền văn hoá Việt Nam nói chung.

Chúng ta đã đạt được những bước đầu tiên đầy thuận lợi. Chúng ta vẫn rất cần sự ủng hộ mạnh mẽ và thiết thực hơn nữa từ phía cộng đồng chúng ta, để Ban Quản Trị Dàn Nhạc Giao Hưởng Melbourne hiểu được rằng, ngoài giá trị về giáo dục và nghệ thuật, CD "Việt Nam 1975" này rất quan trọng và cần thiết cho cộng đồng người Việt tị nạn tại Úc Châu, một cộng đồng rất trẻ đang trong quá trình hội nhập vào xã hội Úc. CD này, nếu thực hiện được, sẽ là một chứng minh hùng hồ rằng cộng đồng người Việt chúng ta đã thực sự trưởng thành, và có khả năng hội nhập vào xã hội tây phương trong cả lãnh vực văn hoá nữa, qua một tác phẩm âm nhạc có giá trị lại mang đầy tính dân tộc Việt Nam, góp một phần vào nền văn hoá chính mạch tại Úc, một đất nước yêu chuộng chính sách đa văn. CD này, nếu thực hiện được, ngoài giá trị về nghệ thuật, sẽ còn mang một ý nghĩa sâu xa về phương diện lịch sử. Hy vọng trong tương lai, cộng đồng chúng ta sẽ có dịp chính thức đón nhận một "chứng nhân" lịch sử cho cuộc di tản của hàng triệu người Việt Nam hiện đang sống rải rác tại khắp các nơi trên thế giới. Nhạc cổ truyền Việt Nam hy vọng sẽ vượt biên giới cố hữu của mình để thực sự giao du hoà nhập vào nền âm nhạc tây phương trên thế giới.


ST: thanhtung_p
TG: Quách Nam Dung

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
ÐỒNG THÀNH: BƯỚC ÐẦU TÌM HIỂU VỀ
ÂM NHẠC PHẬT GIÁO


Âm-nhạc, một loại hình nghệ thuật gắn liền với đời sống con người. Với tôn giáo âm nhạc là một phương tiện thực nghiệm tâm linh, một hình thức biểu hiện niềm tin thiêng liêng. Mang tinh thần giáo lý từ bi và giải thoát, lễ nhạc Phật giáo (PG) là phương tiện đem đến người Phật tử một đời sống thanh thản và hướng thượng. Trong bài này. chúng tôi bước đầu tìm hiểu những bước hình thành của âm nhạc trong PG qua các nền văn hóa.




Vốn là một phương tiện biểu hiện cảm xúc và tư tưởng, xưa nay âm nhạc vẫn luôn là một hình thức sinh hoạt tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người, suốt cả chiều dài lịch sử. Khi đề cập đến vai trò của âm nhạc trong cuộc sống, dù rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau, nhưng không một ai có thể phủ nhận một sự thật là âm nhạc luôn gắn liền với cuộc đời của mỗi người. Từ khi còn nằm trong nôi, con thơ đã nghe được lời ru ngọt ngào tha thiết của me hiền. Rồi khi một ai đó đi về cõi vô biên, những âm thanh thống thiết, xót xa của nhạc tang lại trầm bổng ngân vang nơi nấm mồ hoang liêu, cô quạnh.

Thuở Ðức Phật còn tại thế, các vị Tỳ Kheo tu tập rất tinh cần. Ngoài việc khất thực, nghe pháp hay giáo hóa quần chúng, họ dành toàn bộ thời gian còn lại cho việc tu tập thiền quán. Lúc ấy, âm nhạc chỉ phù hợp với người cư sĩ tại gia, còn đối với Tăng đoàn thì âm nhạc được xem là không phù hợp lắm vì nó thường gợi lên những tình cảm bi lụy, quyến luyến, làm xáo động tâm thức và gây ra nhiều trở ngại cho sự thăng hoa của tâm linh. Mỗi khi tụ hội và ôn lại những lời dạy của Ðức Phật, chư vị Tỳ kheo chỉ tụng theo ngữ điệu thông thường, không có nhạc cụ, và dĩ nhiên cũng không tán tụng du dương như thời nay. Kinh Tỳ Ni Mẫu có kể chuyện một Tỳ kheo nọ rất đam mê âm nhạc. Vị ấy thường hay tấu lên những khúc nhạc véo von khi tụng lời Phật dạy. Khi hay tin này, Ðức Thế Tôn liền quở trách và cấm không cho vị ấy sử dụng âm nhạc nữa. Aâm nhạc không những làm nhiễu loạn tâm tư của kẻ phàm phu mà ngay cả tôn giả Ðại Ca Diếp cũng bất giác rung chân nhịp theo từng âm điệu trong lúc 500 vị tiên nhân đang vui đùa ca múa. Ðối với hàng Phật tử tại gia, Ðức Thế Tôn cho phép họ được ca muá, đánh đàn, thổi sáo, tấu nhạc để tỏ lòng thành kính của mình, tán thán và cúng dường lên Tam bảo. Người Phật tử Ấn Ðộ thời bấy giờ thường dùng điệu Raga, một làn điệu âm nhạc nhịp nhàng, êm ái cổ xưa để baỳ tỏ niềm tri ân với Ðức Phật. Aâm nhạc PG được hình thành từ thời điểm này.

Ðức Phật luôn nhắc nhở các đệ tử của Ngài rằng sự tham đắm, luyến ái, chính là cội gốc của sinh tử luân hồi, người nào chưa đoạn trừ được tham ái thì vẫn cứ mãi chìm đắm trong dòng đời khổ đau chập chùng. Do vậy, Ngài khuyên những người xuất gia cần phải nhiếp tâm tu trì, không rong ruổi theo thế gian; thay vì tìm kiếm niềm vui trong âm nhạc như người thế tục thì hàng xuất gia nên tìm đến niềm an lạc chân thật kỳ diệu trong thể tánh thanh tịnh của mình. Hầu hết giới luật dành cho người xuất gia cũng như giới Bát quan trai của người Phật tử đều răn cấm các giới tử không được biểu diễn hoặc xem nghe âm nhạc. Kinh Phạm Võng Bồ tát giới có nói : "chẳng được đi xem hát, nghe nhạc, chơi cờ, đánh bạc….". Như vậy ngay cả hàng Bồ tát mới phát tâm cũng còn phải giữ cấm giới về âm nhạc. Còn đối với các bậc Bồ tát thượng thừa trở lên, âm nhạc là một trong những phương tiện hữu hiệu cho việc hóa độ chúng sinh. Tuy các Ngài đàn hát, ca muá… hay làm các việc thế tục để tùy thuận chúng sinh, nhưng không một mảy bụi trần nào có thể bám vào tâm thể thanh tịnh chói ngời, không một âm thanh sắc tướng nào có thể lay chuyển tâm kim cang bất hoại của các Ngài. Khi xưa, cũng vì phương tiện độ sinh mà Ðức Phật phải dùng đến âm nhạc. Căn bản Tạp sự, quyển 38, có nói : "Ðức Phật vì muốn độ nhạc thần Càn thát bà vương Thiện Aùi, đã lên trời tấu đàn không hầu lưu ly ngàn dây".

Sau khi Ðức Phật nhập Niết bàn, PG Ðại thừa được hình thành và phát triển mạnh mẽ tại Ấn Ðộ, tạo nên một sinh khí mới, một sự thay đổi lớn lao trong tư tưởng triết học và hệ thống nhận thức luận PG. PG Ðại thừa với tinh thần nhập thế tích cực, với một thaí độ phóng khoáng, cởi mở đã đưa ra nhiều hình thức hoằng pháp khác nhay, trong đó âm nhạc PG có một vai trò quan trọng. Quan niệm về việc cấm đoán sử dụng âm nhạc trong hàng xuất gia cũng có nhiều thay đổi, nhất là sau khi Bồ tát Mã Minh (TK 2 TL) tự mình thỉnh chuông đánh trống, điều hoà cung bậc đàn sáo, dùng âm nhac để diễn thuyết yếu nghĩa của Phật pháp, khiến cho 500 vị vương tử hồi tâm, cùng xin xuất gia.

Khi PG được truyền sang Trung Quốc, một trong những mảnh đất văn hóa và thi ca của phương Ðông, thì quan điểm về âm nhạc trong PG thay đổi rất nhiều. Từ xa xưa, người Trung Quốc rất say mê âm nhạc. Rất nhiều bài ca, câu hát thâm tình của họ được ghi lại đầy đủ trong Kinh Thi. Aâm nhạc dân gian Trung Quốc phát triển mạnh đến nỗi các vị hoàng đế phải xây dựng các nhạc cung để nghiên cứu chúng. Người Trung Quốc rất coi trọng lễ nhạc. Ðối với họ, "lễ là dưỡng", nghĩa là nuôi dưỡng tính trung chính, hoà ái, tôi luyện nhân cách của mỗi người; còn "nhạc là vui, vui thì an, an ắt lâu dài" tức là nhạc tôi luyện tính hoà ái, nhường nhịn, tạo sự hoàn thuận cho làng xóm, thanh bình cho quốc gia. Với một quốc gia mà âm nhạc được đề cao như thế, thì việc đưa PG vào chủ đề chính của nền thi ca, âm nhạc dân gian là một việc làm rất có ý nghĩa trong việc hoằng pháp lợi sinh. Chính vì lẽ đó, chư vị Tổ sư đã nhanh chóng phát triển loại hình âm nhạc PG dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo ông Tế Văn Ðình, một chuyên gia về âm nhạc dân gian Trung Quốc, âm nhạc PG đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây hàng ngàn năm. "Ðiệp luyến hoa" là một trong nhiều ca khúc dân gian nổi tiếng được mô phỏng theo các ca khúc PG được sáng tác dưới triều Tống. Kinh điển Ðại thừa thường diễn tả hình ảnh chư Thiên trỗi nhạc, rải hoa cúng dường Ðức Phật và các vị Thánh tăng. Kinh A Di Ðà cũng mô tả những âm thanh siêu thoát trong cảnh giới Tịnh độ. Các công trình kiến trúc PG cũng nổi bật với hình ảnh các thiên thần đang đàn ca, tấu nhạc, thổi sáo trong lúc Ðức Phật thuyết pháp. Trong Ðại Trí Ðộ Luận, Bồ tát Long Thọ có viết : "Bồ tát muốn thanh tịnh cõi Phật thì phải dùng âm nhạc hay, muốn cho chúng sinh trong quốc độ nghe được nhac hay thì tâm họ phải nhu nhuyến. Tâm nhu nhuyến thì việc hoá độ được dễ dàng. Vậy nên hãy dùng âm nhạc để cúng dường chư Phật". Tiến sĩ Cao Nhã Lợi, một nhà nghiên cứu âm nhạc PG Trung Quốc, cho rằng PG Ðại thừa có một quan niệm rất phóng khoáng về âm nhạc : "thay vì lẩn tránh âm nhạc một cách tiêu cực, hãy sử dụng chúng với một tinh thần cởi mở, tích cực". Chính quan điểm tiến bộ này đã làm cho âm nhạc ngày càng được thịnh hành trong các vùng PG Ðại thừa và rồi nó trở thành một nét văn hóa đặc trưng của truyền thống này. Hiện nay các nhà nghiên cứu âm nhạc Trung Quốc đã sưu tầm các tác phẩm âm nhạc PG cổ và hiện đại vào một bộ sưu tập gồm 50 quyển. Hầu hết, các chuyên gia âm nhạc PG tại Trung Quốc và Ðài Loan đều phân loại âm nhạc PG là hai loại chính đó là : lễ nhạc PG và âm nhạc PG thông thường.

Lễ nhạc PG là một loại âm nhạc thuần túy mang tính tôn giáo, bao gồm các nghi lễ thường nhật trong các tự viện do các vị xuất gia thực hiện. Ðối với các vị Tỳ kheo, lễ nhạc PG là một phương tiện để biểu lộ niềm tin, một trong những phương tiện tu tập, vì thế nó không bị ràng buộc vào một hình thức nghệ thuật cố định nào cả.Từng lời kinh sâu lắng, thanh tao hòa vào trong hương trầm quyện bay và nhịp điệu, âm vang thanh thoát của các pháp khí như chuông mõ, khánh, đẩu… để rồi ngân vang trong khung cảnh trầm tịch của chốn thiền môn đã tạo nên một thế giới tâm linh siêu phàm thoát tục. Trong cảnh giới ấy, chân lý và tinh túy PG được thể hiện qua những giai âm, thanh điệu một cách kỳ diệu. Khi chứng kiến được cảnh giới ấy, ngay cả những người bình thường cũng cảm thấy lòng mình bỗng trào dâng một niềm hỷ lạc. Tác phẩm "Văn hóa khổ lữ" của Thừa Thu Vũ có kể một câu chuyện nói lên sự vi diệu của lễ nhạc PG: Khi còn trả, ông Vũ là một cậu bé kháu khỉnh, dễ mến. Một hôm có một toán người lạ mặt đến dụ dỗ rồi bắt ông và mang về làng của họ. Trời tối đến, cả đoàn người ghé vào một ngôi nhà để nghỉ qua đêm rồi sáng mai đi tiếp. Trong đêm thanh vắng, tiếng tụng kinh của các vị Tăng trong chùa ngân xa vang vọng, làm cho đoàn người ai nấy đều hồi tâm hướng thiện. Họ cảm thấy hối hận đối với việc làm của mình. Sáng hôm sau, họ liền mang ông Vũ trả lại nơi cũ. Lễ nhạc PG với những âm điệu u huyền luôn diễn tả những tư tưởng triết lý thâm sâu, luôn khơi nguồn cho dòng suối từ bi tuôn trào bất tận, và đôi khi nó cũng trở thành một thứ lương dược xoa dịu bao nỗi đau sâu kín trong mỗi người. Huệ Quán là một sinh viên tại một trường đại học ở Ðài Loan. Lúc tốt nghiệp đại học cũng chính là lúc cô rơi vào thảm cảnh oan nghiệt của gia đình. Cô cảm thấy đau xót, tuyệt vọng và không còn tha thiết với cuộc sống nữa. Theo lời khuyên của một người bạn, cô đã tham dự một khóa tu tại một ngôi chùa hẻo lánh trên núi cao. Một đêm nọ, khi đang trầm ngâm về cuộc đời bất hạnh của mình, cô bỗng nghe tiếng tụng kinh cùng âm điệu nhịp nhàng của chuông, mõ từ xa vọng lại, rồi một sự ấm áp lạ lùng tỏa khắp cõi lòng giá buốt và trống vắng của cô, bao nhiêu phiền lụy, bao nỗi thất vọng chán chường đều tan biến và thay vào đó là một niềm thanh thản an lạc vô biên. Ngay ngày hôm sau, cô liền xin quy y và xuất gia đầu Phật.

Loại âm nhạc PG thông thường là những bài hát., những ca khúc, các điệu hợp xướng…. mang chủ đề PG. Aâm nhạc PG mang âm điệu thâm trầm, sâu lắng, phát xuất từ quan niệm cuộc đời như một giấc mơ, một huyễn cảnh. Các ca khúc PG đều có khuynh hướng thức tỉnh những ai còn mãi đắm say trong cõi vô thường, thôi thúc người nghe hãy chọn cho mình một lý tưởng sống cao đẹp. Ngày nay nhân loại đang hướng về cội nguồn dân tộc, tìm lại những giá trị luân lý đạo đức mà tổ tiên đã hun đúc qua bao thế hệ, vì thế việc bảo tồn và phát triển các hình thức nghệ thuật, trong đó có âm nhạc tôn giáo, là vô cùng cần thiết. Vấn đề đặt ra cho các nhà sáng tác âm nhạc PG hiện nay là phải làm sao cho các bài hát PG không bị ảnh hưởng theo xu hướng thế tục, và làm cách nào để mỗi ca khúc PG hội đủ hai yếu tố chân lý và nghệ thuật, trên cả hai phương diện nội dung và hình thức. Hoà thượng Tâm Ðịnh, viện chủ Phật Quang Sơn tại Ðài Loan nói rằng âm nhạc là một hình thức hữu hiệu nhất để chiếm được tình cảm của quần chúng. Nếu âm nhạc PG đổi mới quá nhiều theo khuynh hướng thế tục thì nó sẽ không gợi lên những tình cảm tôn giáo sâu sắc. Nhưng vì là một phương tiện đưa đến giác ngộ nên âm nhạc PG có thể làm cho người đời gần gũi với PG hơn, và đó cũng là phương tiện cần thiết để thức tỉnh mọi người hướng về chân trời giải thoát.

Hiện nay, Ðài Loan là nơi mà âm nhạc PG đang phát triển nhanh nhất. Từ năm 1979, Ðại sư Tinh Vân, vị khai sáng Phật Quang Sơn, đã nghiên cứu kết hợp những yếu tố của âm nhạc phương Tây và lễ nhạc PG để sáng tác một thể loại âm nhạc PG sinh động mới mẻ, phù hợp với trào lưu và thị hiếu âm nhạc hiện đại. Phật Quang Sơn đã tổ chức rất nhiều buổi biểu diễn âm nhạc trong nước và đã cử các đoàn âm nhạc biểu diễn tại Nhật Bản, Hồng Kông và Châu Aâu. Vào tháng 11/2000, đoàn âm nhạc Phật Quang Sơn sẽ biểu diễn tại Ðông Nam Á. Ðiều đáng chú ý là các buổi biểu diễn âm nhạc PG của Phật Quang Sơn và các tổ chức PG khác tại Ðài Loan luôn thu hút đông đảo khán giả tham dự. Trong một buổi trình diễn nhạc giao hưởng PG được tổ chức vào đầu năm naytại Phật Quang Sơn, một số học giả bày tỏ mối lo ngại về xu hướng thế tục hóa âm nhạc PG. Song, cũng có nhiều ý kiến cho rằng âm nhạc PG hiện đại phải mang một tinh thần phóng khoáng, không nên quá thiên về tình cảm tôn giáo, miễn sao cho thính giả cảm thấy thanh thản, an lạc khi nghe một bản nhạc PG. Giới trẻ tại Ðài Loan rất thích các đĩa nhạc PG mang phong cách hiện đại. Ngoài các phim truyện PG, có nhiều album âm nhạc PG đã phát hành được hàng trăm ngàn bản và có cả album được chọn cho các giải thưởng nghệ thuật như album : Chú Ðại Bi và Lục Ðộ Mẫu Tâm chú.

Trong thời đại mới, khi âm nhạc PG đang trở thành một nhu cầu mới của quần chúng đặc biệt là các Phật tử, các nhà soạn nhạc cần phải có một cách nhìn mới về việc sáng tác nhạc PG. Họ cần phải thấy rõ sự nguy hiểm của những loại âm nhạc thiếu văn hoá đưa người nghe đến chỗ bi lụy, tuyệt vọng, chán chường hay mất đi chí cầu tiến của mình. Bản thân các nhà sáng tác nhạc PG cần phải ý thức được sứ mạng cao cả của mình là cho ra đời những ca khúc PG mang tính luân lý, giáo dục, giúp cho người nghe thâm nhập diệu lý nhân quả, vô thường, từ bi, vô ngã, để từ đó họ có thể thực hiện một nếp sống lành mạnh, hướng thượng, vị tha để rồi tự mình tận hưởng niềm hạnh phúc chân thật ngay trong đời sống hiện tại của mỗi người.


ST: thanhtung_p
Source: Phật Tử Việt Nam

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0


Ca Nhạc Phòng


Giới nho sĩ Việt Nam khi xưa, tuy rất gần gũi với nông dân nhưng ở mỗi vùng đều có riêng một loại nhạc cho giới mình, bắt nguồn từ dân ca, dân nhạc. Vì loại ca nhạc này không còn là nhạc ở ngoài đồng ruộng hay giữa sân làng mà thường sinh hoạt ở trong phòng (hay trong nhà hát) cho nên ta nên gọi nó là ca nhạc phòng (music for entertainment, chamber music). Ở Bắc Việt có Hát Ả Ðào, ở Trung Việt có Ca Huế và ở Nam Việt có Nhạc Tài Tử. Các loại ca nhạc phòng này đều giống như Hát Quan Họ, có trình độ nghệ thuật rất cao, cao hơn các loại dân ca, dân nhạc bình thường. Hơn nữa, vì đã trở thành nghề hát với những ca sĩ, nhạc công chuyên nghiệp cho nên càng ngày Hát Ả Ðào, Ca Huế và Nhạc Tài Tử càng phát triển. Cho tới khi nước Việt lâm vào cảnh bị Pháp xâm chiếm và cai trị thì cả ba bắt đầu suy vi. Rồi tới khi người Việt được tiếp súc với văn hóa Âu Tây và giới trẻ đòi hỏi những món ăn âm nhạc mới thì các hình thức ca nhạc phòng này bị gần như bỏ rơi, trước khi sẽ được phục hồi bằng cách này hay cách khác.

Hát Ả Ðào (Ca Trù)


Khởi sự là loại hát thờ, hát khao, hát đám ra đời từ thế kỷ XV và dưới quyền chỉ huy của các ông trùm trong nghề hát, Hát Ả Ðào được thuê diễn trong những cuộc lễ thần (hát cửa đình), hay tiệc nhà quan (hát cửa quyền). Vào lúc thịnh hành nhất, Hát Ả Ðào gồm đủ mọi hình thức ca nhạc và ca vũ :
* Ca Nhạc có tính chất lễ giáo với những bài như Giáo Trống, Giáo Hương, Dâng Hương, Thiết Nhạc...
* Ca Vũ dùng trong buổi lễ và giúp vui thì có Múa Bỏ Bộ, Múa Bài Bông, Múa Tứ Linh... Cùng có luôn cả những trò xiếc như đội mâm mà múa hay đi trên dây.
Rồi về sau, khi bị các hình thức sân khấu điêu luyện hơn là Tuồng, Chèo thay thế thì vào cuối thế kỷ XIX, Hát Ả Ðào thoát ra khỏi trò vui trong các đám lễ hay khao vọng, trở thành thú chơi tao nhã của nho sĩ. Các thi nhân thường gặp nhau ở nhà hát ả đào để nhờ đào nương ngâm lên (hát lên) những bài thơ mà thi nhân vừa soạn ra để tặng nhau. Ðào nương miệng hát, tay đánh phách với tiếng đệm của chiếc đàn đáy. Quan viên nghe hát và khen hay chê qua những tiếng trống đế... Tất cả mọi việc sáng tác, biểu diễn và thưởng ngoạn như vậy cho ta thấy Hát Ả Ðào là một nghệ thuật rất công phu.



Dường như tất cả thi nhân thời Nguyễn đều dùng Hát Ả Ðào để nói lên tâm trạng của mình qua một số điệu hát như Hát Nói, Gửi Thư, Ngâm Vọng, Thét Nhạc (do cái tên của điệu cổ xưa Thiết Nhạc mà ra), Bắc Phản v.v... Hát Ả Ðào hiện nay đang được phục hồi và được gọi là Ca Trù

Ca Huế


Nếu người bình dân ở miền Trung có khá nhiều các điệu dân ca như Hò Mái Nhì, Hò Mái Ðẩy, Hò Thai, Hò Giã Gạo... để hát thì, ngoài loại Nhạc Triều có tính chất nhạc lễ nghi của vua chúa, giới quyền quý ở chốn kinh đô nhà Nguyễn có Ca Huế là thú chơi tao nhã của các hoàng thân và quan chức trong triều


từ trái qua phải :
Ưng Dung, Tôn Thất Văn, Ưng Biều, Ngô Phò, Trần Quang Soạn, Hoàng Yến


Mang tính chất ca nhạc phòng (chamber music), dưới thời Tự Ðức (1847-1883) Ca Huế có ít nhất là 25 bản đờn trong số đó có 10 bản có lời ca (9 bằng chữ Hán, 1 bằng chữ Nôm). Ðó là những bản : Lưu Thủy, Hồ Quảng, Kim Tiên (Tiên = không có dấu huyền), Xuân Phong, Xuân Tình, Ðiểu Ngữ, Nam Xuân, Tư Mã Tương Như, Tiên Nữ Tống Lưu Nguyễn, Bá Nha Khấp Tử Kỳ, Tự Trào, Tự Thán, Trường Thán... Cùng như Hát Ả Ðào ở miền Bắc, Ca Huế có trình độ nghệ thuật rất cao vì đã có nhiều bàn tay nghệ sĩ góp công xây dựng mà trong thế kỷ trước ta biết đích danh là ai, chẳng hạn Vua Tự Ðức, Tuy Lý Vương, Ông Cả Soạn, Nguyễn Quang Tồn v.v...



Ca Huế vào đầu thế kỷ 20 còn giữ lại một số bài cổ như Lưu Thuỷ, Kim Tiền (Tiền = với dấu huyền), Nam Xuân... và có thêm một số điệu khác như Nam Ai, Nam Bình, Bình Bán, Cổ Bản, Tứ Ðại Cảnh v.v...


Danh cầm thường là người trong hoàng tộc như Vĩnh Trân (con vua Thành Thái), Vĩnh Phan và Bửu Lộc... Những bài ca Huế thường do các bực văn nhân nổi tiếng soạn như Ông Hoàng Nam Sách, Thúc Giạ Thị Ưng Bình... Cụ Phan Bội Châu cũng là tác giả của nhiều bài ca Huế có giá trị...


Thúc Giạ Thị Ưng Bình, người soạn nhiềễu lời ca cho CA HUẾ
Cô Nhơn, ngôi sao chói lọi của Ca Huế hồi 1934


Nhạc Tài Tử Miền Nam


Ca nhạc phòng Huế phát triển về phía Nam và ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, vì những bài như Lưu Thủy, Phú Lục ở Thừa Thiên bây giờ mang thêm hơi điệu mới cho nên được gọi là Lưu Thủy Quảng, Phú Lục Quảng



Vào tới miền Tiền Giang, Hậu Giang Nam Việt, ca nhạc phòng với bài bản của Ca Huế nay mang tên Nhạc Tài Tử Miền Nam, với ít nhiều thay đổi như Bình Bán miền ngoài nay thành ra Bình Bán Chấn(tức là chấn hưng) và được bổ sung bằng những bài bản mới như Tứ Ðại Oán, Bình Xa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Ðề Quyền...

Trong những bài bản mới của Nhạc Tài Tử Miền Nam có bài Dạ Cổ Hoài Lang soạn ra năm 1917 bởi ông Sáu Lầu, nhờ ở sự thành lập và phát triển của sân khấu Cải Lương Nam Kỳ mà trở thành bài Vọng Cổ


ST: thanhtung_p
Source: Phạm Duy

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
Ca Trù


Giáo sư Trần Văn Khê: "Tôi đã rơi nước mắt khi nghe một nữ SV Pháp hát ca trù..."

Cô sinh viên Pháp Aliénor
Trong bài viết sau đây gửi từ Paris, GS-TS Trần Văn Khê xúc động kể về một nữ sinh viên Pháp tại trường Đại học Nanterre đã bền bỉ và say mê nghiên cứu, học hỏi về nghệ thuật hát ca trù ở VN...

Cô Aliénor Anisensel, một nữ sinh Pháp, 23 tuổi, chuẩn bị soạn tiểu luận án cao học tại Đại học Nanterre, đã đến gặp tôi xin ý kiến về việc cô chọn ca trù VN làm đề tài nghiên cứu.

Sau khi biết rằng cô không nói được tiếng Việt mà chỉ biết đàn piano theo truyền thống cổ điển; cô chưa biết chi về nhạc VN, cô chỉ nghe ca trù qua mấy đĩa hát, cô đang đi học bằng học bổng, gia đình không khá giả nên không thể cho cô tiền đi VN nghiên cứu thực địa, tôi khuyên cô nên lựa một đề tài khác. Vì không thể nào trong hai năm mà cô hiểu thấu được một truyền thống âm nhạc rất lạ, rất mới và rất khó chẳng những đối với cô. Cả người Việt cũng không dễ gì lãnh hội được những điểm tế nhị trong nghệ thuật ca trù.

Cô thất vọng, từ giã tôi ra về và hỏi thêm một câu: "Nếu tôi chỉ nghiên cứu ca trù về mặt xã hội, tìm hiểu vị trí của ca trù ngày xưa trong xã hội VN và xem ngày nay ca trù có còn được người Việt học tập và biểu diễn, hay là đã chìm trong quên lãng, giáo sư nghĩ rằng tôi có thể chọn ca trù làm đề tài soạn tiểu luận án cao học hay chăng?".

Tôi trả lời: "Nếu cô nghiên cứu ca trù về mặt xã hội hay dân tộc học, thì có thể được. Nhưng cô phải học tiếng Việt để có thể trực tiếp điều tra, phỏng vấn nghệ nhân, nghệ sĩ ca trù tại VN và đọc những tư liệu về ca trù viết bằng tiếng Việt. Và lẽ tất nhiên cô phải đi VN, lưu lại VN trong một thời gian. Cô liệu có thể học tiếng Việt và đi VN không?".

- "Thưa giáo sư, tôi đã bắt đầu học tiếng VN và tôi sẽ tìm cách đi VN. Khi nào tôi thấy có thể thực hiện được chuyến đi VN, tôi sẽ đến tìm giáo sư và nhờ giáo sư khuyên tôi phải gặp ai và làm gì trong đôi ba tháng".

Tôi bằng lòng, nhưng không tin rằng cô sẽ có đủ điều kiện đi điền dã và thâu thập những tư liệu cho luận văn của cô về mặt dân tộc học.

Năm tháng sau, cô đến gặp tôi và nói: "Thưa giáo sư, em học tiếng Việt đã tiến bộ, chưa nói được trôi chảy, nhưng khá hơn lúc trước. Em được một cái học bổng giúp em có thể đi VN và ở bên ấy hai tháng. Em đến đây để xin giáo sư giúp em".

Trước sự quyết tâm của một nữ sinh tuy còn trẻ tuổi, nhưng tỏ ra có ý chí, tôi rất cảm động và nói với cô: "Tôi viết cho cô bốn bức thư giới thiệu cô với một số người ở VN. Đó là gia đình cụ Nguyễn Văn Mùi là người hiểu biết rất sâu sắc về nghệ thuật ca trù. Cụ có hai người con trai: Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Mạnh Tiến là hai người đàn đáy giỏi nhất trong giới trẻ ngày nay. Và cô Thúy Hòa - con gái cụ Mùi, học trò của nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ, là một nghệ sĩ trẻ tuổi ca hay, có tay phách vững. Đó là Giáo sư Vũ Nhật Thăng, giáo sư Nhạc viện Hà Nội, nói được tiếng Pháp, rất thân với gia đình cụ Mùi. Phó viện trưởng Viện âm nhạc Đặng Hoành Loan có thể giúp cô tìm tư liệu về ca trù trong các thư viện, hay cho cô nghe ca trù do nhiều nghệ nhân đã được Viện ghi âm, ghi hình. Một người nữa, GS-TS Tô Ngọc Thanh, nói được tiếng Anh, tiếng Pháp, một nhà dân tộc nhạc học nổi tiếng trong và ngoài nước. Giáo sư rất bận nên khi nào cần lắm hãy làm rộn giáo sư. Ngoài ra, còn nghệ nhân Phó Kim Đức là người biết rành về ca trù ngày trước; cô Bạch Vân - Tổng thư ký CLB Ca trù, từ 10 năm nay tổ chức một tháng hai lần những buổi sinh hoạt ca trù. Cô cẫn phải gặp những người ấy.

Nếu được, cô đi Lỗ Khê, là nơi có đền thờ các vị tổ nghệ thuật ca trù. Cô nên đi hành hương một lần để biết thêm về tổ chức giáo phường. Những bức thư này có thể mở cửa nhà các vị ấy để cô tiếp xúc với những người cô cần gặp. Nhưng cô phải cố gắng "mở cửa lòng" các nghệ nhân, cô mới tìm được tư liệu cô muốn tìm. Chúc cô thành công, và tôi sẽ gặp cô lại khi cô trở lại Pháp.

Sau đó, cô Anisensel đi Hà Nội và tôi thỉnh thoảng nhận được điện thư của cô cho biết mọi việc tiến hành tốt hơn dự định.

Vừa rồi tôi có dịp về Hà Nội giảng tại Viện Âm nhạc. Cô có đến nghe tôi giảng bằng tiếng Việt. Và cô rất vui, cho tôi biết rằng cô được gia đình cụ Nguyễn Văn Mùi mến thương và giảng dạy cho cô tận tình. Cô nói khi mọi người nhận được thư giới thiệu của tôi, ai cũng tiếp cô rất nồng hậu.

Bốn tháng sau, cô Anisensel xin gặp lại tôi. Cô đã nói tiếng Việt khá hơn và đã làm cho tôi ngạc nhiên đến thích thú nghe câu cô nói bằng tiếng Việt: "Thưa thầy. Em xin cảm ơn thầy". Rồi cô xin phép được trả bài.

Cô lấy trong cặp ra một cổ phách, hai dùi và nói: "Thầy em, cô Thúy Hòa tận tâm dạy em từ tiếng phách, từ câu hát từ cách ém hơi, nhân chữ, đổ hột, cách hát khuôn và 5 khổ phách căn bản. Em xin hát cho thầy nghe bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết".

Tôi hết sức ngạc nhiên, không tưởng tượng được rằng chỉ trong vòng hai tháng mà cô học được bao nhiêu việc. Cô ngồi dưới sàn nhà vừa cất tiếng hát vừa gõ phách. Tôi lau nước mắt.

Hôm cô bảo vệ tiểu luận án của cô tại ĐH Nanterre, tôi có nhắc lại buổi ấy và nói rằng: "Giọt nước mắt đó là giọt lệ vui mừng thấy người sinh viên sau mấy tháng khổ luyện đã thành công quá sự chờ đợi. Mà đó cũng là giọt lệ buồn, tiếc rằng trong nước VN có bao nhiêu thiếu nữ cùng tuổi với cô Anisensel, sống rất gần truyền thống ca trù trong không gian, mà lại rất xa truyền thống trong tâm khảm, và có ai đủ nghị lực, bền chí học được cái hay của ca trù để cho truyền thống tuyệt vời đó không bị mai một?".

Cô Anisensel đã gặp bao nhiêu người, đã học được bao nhiêu câu hát, bao nhiêu khổ phách, nghe rõ tiếng trống chầu để biết đâu là trống chấm câu, khi nào là tiếng trống thưởng tiếng hát hay, tiếng phách giòn.

Cô chứng minh cho chúng ta thấy rằng, thường học đến biết hát và gõ phách phải năm này tháng nọ. Siêng năng khổ luyện, chăm chỉ nghe thầy, trong hai tháng trời chỉ học và tập, không mất thì giờ trong chuyện giải trí vui chơi, cô đã thực hiện được ý nguyện của cô và đã làm cho cha mẹ, thầy bạn cô vui lòng đẹp dạ, cho người VN suy nghĩ lại việc giữ gìn vốn cổ quý báu chẳng những cho nước VN mà cho cả nhân loại.

Hoan nghênh cô Anisensel. Chúc cô thêm tiến bộ trên con đường học tập và nghiên cứu của cô.

(Theo Phu nu - ND)
St. Easyman

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Vốn tiếng việt của HA không có đươc tốt cho lắm, nên HA chỉ mạn phép share cùng các bạn một trang web về nhạc dân tộc, các sư tỷ, sư muội, sư huynh, sư đệ có thời gian xem qua rồi, viết lại cho mọi người đọc cùng với nhe
http://www.vietnamtourism.com/v_pages/vietnam/culture/theatre/vct_catru.htm
http://vn-style.com/myhomeland/arts_style/traditionaltheatres/catru.html



thân ái, [:)]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-14 06:35:27Easyman>
Vốn tiếng việt của HA không có đươc tốt cho lắm, nên HA chỉ mạn phép share cùng các bạn một trang web về nhạc dân tộc, các sư tỷ, sư muội, sư huynh, sư đệ có thời gian xem qua rồi, viết lại cho mọi người đọc cùng với nhe

Ca Trù
[image]local://upfiles/867/E7D1484903E74F569AC3FB6CC0D7B0BF.gif[/image]
Hát ả đào (ca trù): Hát ả đào được định hình với tư cách là một thể loại ca nhạc có đặc trưng, phong cách riêng vào khoảng thế kỷ 15. Ban đầu nó là lối Hát cửa đình. Dần dần thể loại này tách ra để trở thành lối hát thính phòng rất được ưa thích của người Việt ở phía Bắc.

Từ một thể loại có nguồn gốc dân gian, do được giới quan lại, nho sĩ và cả các vua chúa ưa thích, lại có những mối quan hệ mật thiết với dòng ca nhạc cung đình, Hát ả đào dần được bác học hoá. Kỹ thuật hát rất tinh tế, công phu như thể ca sĩ nắn nót, chau chuốt từng chữ. Nhạc cụ được tinh giản với sự tương phản âm sắc đã làm tôn vẻ đẹp của từng thành phần tham gia hoà tấu.

Hát ả đào là nghệ thuật hát thơ. Nó đã từng có một hệ bài bản phong phú quy định cho từng lối hát thờ, hát chơi và hát thi.

Có hiểu thấu nội dung và nghệ thuật ngôn từ trong các bài ca cùng sự biểu hiện tinh tế của các ca nữ trong sự phối hợp nhịp nhàng với ngón đàn, khổ phách... mới thấy hết vẻ đẹp và giá trị của loại hình nghệ thuật này.

st. Vietnamtourism.com

📎 vct_catru1

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0