BÀN THÊM VỀ NHÂN VẬT TỪ HẢI CỦA NGUYỄN DU
(Bài gửi Tạp chí Văn học tháng 9-1974).
Từ hơn một thế kỷ nay, người ta đã bàn nhiều, đã luận nhiều về truyện Kiều và nhân vật Từ Hải trong truyện Kiều. Nhưng cho đến nay không phải ý kiến mọi người đều đã hoàn toàn nhất trí. Người thì khen không tiếc lời, người thì chê không hết lẽ; có người thì cũng gọi là có khen, có chê cho hợp với cái đạo trung dung trong nghệ thuật phê bình (hầu như rất phổ biến trong tình hình phê bình của ta hiện nay). Trong cái đám nhân vật đông đảo của truyện Kiều, Từ Hải quả là một nhân vật phức tạp và thật xứng đáng được mọi người đặt thành một vấn đề hẳn hoi: vấn đề Từ Hải.
Trong bài nay tôi muốn bàn thêm về nhân vật Từ Hải xung quanh những nét cơ bản sau đây:
1. Từ Hải là một nhân vật thuộc loại nào: Hiện thực hay lý tưởng?
2. Phẩm chất của Từ Hải nên được đánh giá như thế nào cho đúng?
3. Có thể rút ra những bài học gì qua nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du.
Từ Hải có phải là một nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du không?
Từ trước đến nay có nhiều người vẫn coi Từ Hải là một nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du. Hoài Thanh đã nhận định: “Từ Hải vừa là giấc mơ, vừa là lý tưởng, nhưng trước hết vẫn là một giấc mơ”[1].
Xuân Diệu một mặt cho rằng: “Nguyễn Du muốn viết một tiểu thuyết hiện thực chứ không phải viết một tiểu thuyết lý tưởng”, mặt khác lại vẫn xác nhận: “Từ Hải là giấc mơ tung phá hào hứng của Nguyễn Du. Nguyễn Du quan niệm Từ Hải như một người anh hùng mơ ước”[2].
Còn Lê Đình Kỵ có lẽ là người phân vân, lúng túng nhất. Trong khi ông khẳng định rằng có một “chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du”, ông lại cho rằng có nhiều nhân vật trong truyện Kiều không phải là nhân vật hiện thực: “Trong truyện Kiều có ba nhân vật chính diện: Kim Trọng, Từ Hải và Thúy Kiều. Nhưng Kim và Từ là hai nhân vật lý tưởng, chỉ có Kiều là con người thực”[3].
Nhưng rồi có một chỗ ông lại viết: “ Trong truyện Kiều không có cuộc đối thoại trừu tượng giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và gian tà, giữa trung thần và nịnh tặc. Từ Hải anh hùng nhưng không phải siêu phàm, bọn đầu trâu mặt ngựa đáng nguyền rủa nhưng không biến thành những quái vật”[4].
Như vậy Từ Hải là một “con người thực” hay “con người giả”, một con người được tưởng tượng ra? Nguyễn Du đã dùng nhân vật Từ Hải để phản ánh một mặt hiện thực của đời sống hay chỉ bịa ra nhân vật này nhằm “minh họa” cho một lý tưởng sống, một mơ ước của bản thân mình? Tất nhiên, nếu nhận định như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh và một số nhà nghiên cứu nào đó cho rằng Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải... và toàn bộ truyện Kiều chỉ là nơi Nguyễn Du ký thác tâm sự, ký thác cái mối cô trung với nhà Lê thì khó có thể chấp nhận được. Người xưa làm thơ văn để ký thác tâm sự, điều đó không có gì lạ. Nhưng nếu mang cả một cuốn tiểu thuyết bằng thơ như truyện Kiều để soi vào từng nét tâm trạng hay hành động của tác giả thì tránh sao khỏi khiên cưỡng và võ đoán. Trong một cuốn truyện, nhân vật có biểu hiện phần nào tác giả nhưng không vì thế mà có thể đồng nhất nhân vật với tác giả, cũng không thể đồng nhất tư tưởng chủ quan của tác giả với ý nghĩa khách quan của tác phẩm. Ngay trong các tập tiểu thuyết loại tự truyện thì nhân vật chính cũng dã không phải là bản sao nguyên mẫu bản thân tác giả, huống hồ truyện Kiều lại không phải là một tập tự truyện, cũng không phải một truyện hoàn toàn do tác giả dựng lên. Còn khẳng định như Trương Tửu coi Từ Hải chính là hình ảnh của người anh hùng Nguyễn Huệ thì lại là máy móc.
Bây giờ ta hãy xem lại nguồn gốc nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du. Ai cũng biết Từ Hải của Nguyễn Du bắt nguồn từ nhân vật Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân, mà Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân lại bắt nguồn từ một Từ Hải có thật trong lịch sử trung Quốc dời Minh. Nhưng từ một Từ Hải - con người thực đến Từ Hải - nhân vật tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân (cũng như của Mao Khôn, Dư Hoài) và Nguyễn Du, ta thấy có sự khác nhau nhiều lắm. Nguyễn Du có dựa vào nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng lại “hư cấu” thêm một lần nữa để “sáng tác” ra một Từ Hải theo nhận thức và lý tưởng thẩm mỹ của mình. Nói dựa vào là nói tới xuất xứ gần, dễ nhìn thấy; thật ra phải nói rằng: “Sở dĩ Nguyễn Du tái hiện Từ Hải trong truyện Kiều là vì Nguyễn Du đã nhìn thấy trong đời sống hiện thực có những Từ Hải tương tự như thế. Trong xã hội có đầy rẫy những áp bức, bất công và do đó có những Hoàng Sào, Lý Tự Thành (Trung Quốc); Hoàng Công Chất, Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Huệ v.v... vung gươm lên để san bằng bất công, thì trong truyện Kiều của Nguyễn Du có một Từ Hải “phong trần mài một lưỡi gươm” có gì đáng ngạc nhiên. Trước Nguyễn Du đã từng mắt thấy bao nhiêu Từ Hải và sau Nguyễn Du trên mặt trái đất này nào đã hết Từ Hải. Trong những xã hội có giai cấp, ai không chịu nổi bất công, ai không cam chung sống với bọn “bạc ác tinh ma”, với “lũ bán thịt buôn người” đều có chút ít cái chất Từ Hải trong người. Lẽ dĩ nhiên không phải ai cũng đều có gan vung gươm lên như Từ Hải. Còn ca cẩm, phàn nàn, rên rỉ khóc than chán ra đấy! Vì chỉ đau khổ chưa đủ dể vùng dậy, phải có tâm huyết, khí phách và dũng khí (ấy là chưa kể cần phải có cả đường lối, cương lĩnh đúng đắn nữa). Cho nên có kẻ đau khổ hết mức nhưng chẳng biết mài gươm; có kẻ mài gươm hết ngày này qua tháng khác mà chẳng dám vung gươm; có kẻ vung gươm và đấu tranh quyết liệt đến hơi thở cuối cùng; lại có kẻ vung gươm lên rồi nửa chừng hạ gươm xuống (đó là trường hợp Từ Hải của Nguyễn Du).
Nhưng xã hội dầy bất công rất cần những con người biết: “phong trần mỗi một lưỡi gươm” và có gan:
“Chọc trời quấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
Và mỗi một thời, mỗi một vùng đất có được những con người như thế đáng quý biết nhường nào. Vì chỉ cần có từ một người trở lên dám vung gươm đứng dậy và biết tổ chức quần chúng lại là lập tức hàng vạn hàng triệu người bị áp bức đứng dậy theo ngay và lập tức tạo ra “gió quét mưa sa”, “ngất trời sái khí”, “trúc chẻ ngói tan”... là lập tức những “bọn hại nhân” sẽ bị “nhân hại” ngay. Cuộc đời rất cần có nhiều Từ Hải và may mắn đã có những Từ Hải. Vậy Từ Hải đâu phải chỉ là “giấc mơ”, là “khát vọng” hay “lý tưởng”, nó chính là hiện thực xưa ở các xã hội nô lệ, phong kiến và hiện thực nay ở các xã hội tư bản, thuộc địa. Còn nếu cứ khăng khăng cho rằng Từ Hải là “lý tưởng” hay “giấc mơ” của Nguyễn Du thì hóa ra cái anh Từ Hải nửa chừng hạ gươm đầu hàng kẻ thù lại là cái thứ lý tưởng, giấc mơ tốt đẹp của Nguyễn Du hay sao? Tôi không rõ Nguyễn Du có thể ấp ủ cái “giấc mơ” hay cái “lý tưởng” tồi tệ quá quắt như thế không. Mà giả thử đó có là một “giấc mơ” hay “lý tưởng” thực sự của Nguyễn Du đi chăng nữa thì khi Nguyễn Du phản ánh nó vào nhân vật của mình, nhân vật ấy cũng hết sức chân thật. Vậy Từ Hải là một nhân vật chân thực, chân thực không kém gì nhân vật thúy Kiều hay nhiều nhân vật khác (trừ Đạm Tiên. Đạm Tiên chưa có đủ tư cách là tiêu chuẩn của một nhân vật).
Dĩ nhiên, tính chân thật của các nhân vật trong truyện Kiều không trùng hợp với khái niệm “tính hiện thực” hay “chủ nghĩa hiện thực” của văn học phương Tây. Đây là một trong những nhân vật hiện thực kiểu phương Đông, trong đó có Việt Nam (về đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực phương Đông, tôi xin bàn sâu trong một dịp khác). Có thể người này còn thấy Nguyễn Du chưa đưa những cái hàng ngày (le quotidien) vào tác phẩm của mình; người khác lại thấy Nguyễn Du chưa cá thể hóa các nhân vật đến mức “con người này”... Xét cho kỹ, Từ Hải của Nguyễn Du được miêu tả không phải chỉ qua những việc mà Từ Hải đã làm, mà còn bằng cách mà Từ Hải đã làm những việc đó nữa. Đặc tính của Từ Hải “được phân biệt và đối lập một cách rõ rệt” (Enghel) với Kim Trọng, Thúc Sinh, Mã Giám Sinh, Sở Khanh. Chỉ nói riêng về cái cách Từ đến lầu xanh rồi gặp Kiều, trò chuyện với Kiều và lấy Kiều cũng khác xa và đối lập một cách sâu sắc với cái cách của Thúc Sinh. Cũng có thể đơn cử thêm cái cách khác nhau của ba nhân vật hứa hẹn với Kiều; từ cái lối nghiến răng, vỗ ngực huênh hoang, bịp bợm của Sở Khanh:
... Tức gan riêng giận trời già.
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng.
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi
...
Nàng đà biết đến ta chăng?
Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi
Và thái độ khoác lác anh hùng rơm của anh chàng Thúc Sinh râu quặp:
Đường xa chớ ngại Ngô, Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta
Đã gần chi có điều xa
Đá vàng cũng cũng quyết, phong ba cũng liều
Đến cái gật đầu kèm theo nụ cười cởi mở và thái độ chân thành, hơi pha chút kẻ cả của người anh hùng họ Từ:
Nghe lời vừa ý gật đầu
Cười rằng: “Tri kỷ trước sau mấy người.
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
Một lời dã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.”
chúng ta thấy có một khoảng cách khá xa và không thể nào lầm lẫn được các tính cách ngồn ngộn đặc biệt này. Tính cách của Từ Hải cũng đối lập sâu sắc với tính cách Hồ Tôn Hiến.
Có ý kiến cho rằng[5] Nguyễn Du chỉ mới miêu tả một người anh hùng chứ chưa phải người anh hùng này. Nhưng cứ xét kỹ ngôn ngữ, cử chỉ và hành động của Từ, nhất là cái phong thái ra đi và cái nết nhẹ dạ nghe vợ rồi ra hàng giặc của Từ Hải thì cái chất “anh hùng này” cũng khá rõ đấy chứ. Còn như muốn đòi hỏi Nguyễn Du tả kỹ cả cái cách ăn, cách ngủ hoặc tả các trận đánh một cách chi tiết, tỉ mỉ kiểu Balzac thì e rằng vô tình đã đưa Nguyễn Du vĩ đại của chúng ta đặt lên một cái giường procut mất rồi. Nguyễn Du không phải là một Shakespeare, Balzac hay Tolstoi, càng không phải là Gorki. Cũng là phản ánh hiện thực, nhưng cái bút pháp thuỷ mặc phương Đông không hề cùng khuôn với bút pháp sơn dầu phương Tây. Có điều rất thú vị là một số nét trong cá tính các nhân vật của Nguyễn Du tuy có bị lý tưởng hóa nhưng bản sắc những nhân vật đó không hề bị tan biến vào nguyên tắc và Từ Hải của Nguyễn Du không trở thành “cái loa phát ngôn cho tinh thần của thời đại” (Enghel). Tuy lối mô tả có tính chất ước lệ, tượng trưng và cách điệu làm hạn chế không nhỏ tính chân thực của nhân vật nhưng không vì thế mà Từ Hải (hay Kim Trọng) lại không phải là những con người thực. Vấn đề tìm hiểu đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực trong văn học phương Đông nói chung và trong văn học Việt Nam nói riêng còn là một vấn đề hết sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu. Chúng ta sẽ còn nhiều dịp để trở lại vấn đề này. Nhưng không vì chưa hiểu rõ mà ta có những kết luận vội vàng. Không nên cứ thấy con gà ta không giống hệt con gà tây mà vội hảo con gà ta dang ở cái “phạm trù quá độ”. (Lê Đình Kỵ).
Khi nhận xét và đánh giá nhân vật Từ Hải, người ta thường phân vân về cái lý tưởng đấu tranh của Từ và đánh giá không đúng cái thái độ đầu hàng đột ngột của Từ.
Hoài Thanh gần như cho rằng Từ không có lý tưởng rõ ràng: “Lúc Từ Hải ra đi chính là vì muốn tung hoành hay là vì cam phận trước những nỗi bất bình trong thiên hạ? Dẫu sao sau này trong khi suy nghĩ định từ chối không hàng và khi nghe lời Kiều mà đổi chí, tuyệt nhiên không thấy Từ Hải có băn khoăn nào vì đại nghĩa”, và ông cho nguyên nhân là vì: “trong quan niệm của Nguyễn Du chưa rõ lắm”[6].
Nếu Nguyễn Du tả tỉ mỉ thì người đọc hay người nghiên cứu đỡ băn khoăn. Nhưng tôi cho rằng đây là vấn đề thuộc về bút pháp nhiều hơn là thuộc về quan niệm. Nếu cần miêu tả kỹ thì rất nhiều chỗ Nguyễn Du phải dừng lại, ví dụ như tâm lý Thúy Vân khi nhận lời Kiều để nối duyên với Kim Trọng hay trong đoạn Kim Kiều tái hợp. Tuy nhiên, nếu cứ đọc kỹ tác phẩm, ta vẫn tìm ra những điều cần tìm vì trong nhiều tác phẩm văn học cổ, người xưa thường có lối nói rất cô đọng và kín đáo.
Mới đọc qua, người ta có thể tưởng hình như Từ Hải vung gươm lên chỉ để phỉ chí tung hoành hay cùng lắm chỉ là nhằm rửa sạch nỗi oan khiên cho riêng Thúy Kiều. Sự thật là khi Từ Hải dã khởi nghĩa thắng lợi trở về mới được nghe Kiều kể khổ:
Ttrong quân có lúc vui vầy
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi.
Rõ ràng Từ Hải vung gươm không phải chỉ để dẹp tan nỗi “bất bằng” riêng của vợ mình. Vả lại, chẳng lẽ cái số “mười vạn tinh binh” đi theo Từ Hải cũng chỉ nhằm mục đích vẫy vùng ngang dọc hoặc giúp cho Từ có điều kiện “dọc ngang trời đất” hay sao?
Lê Đình Kỵ cũng cho rằng cái sự nghiệp anh hùng của Từ “rất trừu tượng” và hình như Từ Hải nổi dậy cũng chẳng có mục đích gì: “Triều đình có dủ lý do để tiêu diệt Từ Hải cho kỳ được, nhưng Từ Hải thì hình như không rõ lý do vì sao mình phải chống lại triều đình. Chẳng qua Từ Hải sinh ra là để vẫy vùng ngang dọc và vì tất cả trời cao đất rộng lúc bấy giờ là của triều đình, Từ Hải bị vướng, cho nên phải đập phá”[7].
Nhận định như thế là phải chăng muốn xếp Từ Hải vào loại “vô chính phủ” đi tìm một thứ “tự do tuyệt đối”“ nào đó? Nhưng có thật Từ Hải chỉ sinh ra để đập phá và đập phá để mà đập phá không? Riêng chỗ này Lê Đình Kỵ cũng tự mâu thuẫn với mình, vì vừa ở một đoạn khác ông tỏ ý không tán thành ý kiến cho rằng “cái triều đình” của Từ Hải nó là cái gì cũng khó mà nói ra được, nhưng Từ Hải không chỉ anh hùng để mà anh hùng như có người nghĩ. Lưỡi gươm Từ Hải vung lên chính là để dẹp nỗi bất bình cho Kiều”[8]. Ngoài ra còn có rất nhiều người có ý kiến tương tự như Hoài Thanh và Lê Đình Kỵ. Không rõ căn cứ vào đâu mà các vị đánh giá quá thấp người anh hùng này đến thế. Thì ra, trong đời lại có cái loại anh hùng vô ý thức, vô mục đích đến như thế hay sao?
Ta hãy thử xét xem Từ Hải nổi dậy có mục đích, lý tưởng gì không? Và mục đích ấy cụ thể nó như thế nào? Có lẽ chính Kiều hiểu rõ cái tính chất nổi dậy của Từ hơn cả các nhà nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên mà Kiều so sánh Từ với Hoàng Sào:
Làm chi để tiếng về sau
Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Cũng không phải vô tình mà Nguyễn Du đã mượn thơ Hoàng Sào, để tả cái phong thái của Từ Hải:
Giang hồ quen thú vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Còn “mười vạn tinh binh” dưới trướng của Từ Hải chẳng lẽ là mười vạn nho sĩ chăng? Hay là mười vạn lái buôn? Hiển nhiên nó chỉ có thể hoặc là mười vạn nô lệ hoặc là mười vạn nông dân bị áp bức. Mười vạn nông dân bị áp bức đói khổ thì đúng hơn. Vậy một cuộc khởi nghĩa của mười vạn nông dân lại không thể gọi tên là một cuộc khởi nghĩa của nông dân? Và lãnh lụ của cuộc khởi nghĩa đó lại không phải là một lãnh lụ nông dân? Nếu không phải là suy diễn quá đáng thì có thể căn cứ vào ngôn ngữ của Từ Hải để đoán ràng Từ là một người có học, hiện thân của một nho sĩ bất đắc chí. (Từ rất thuộc điển cố: “Từ rằng lời nói hữu tình, khiến ta lại nhớ câu Bình Nguyên Quân” và hễ mở miệng ra là ông ta nói chữ: “Từ rằng: Tâm phúc tương cờ”, “Từ rằng: Tâm phúc tương tri”).
Tiếc rằng Nguyễn Du không mô tả tỉ mỉ hơn xem cờ nghĩa của Từ Hải đề những chữ gì, nhưng cứ xem cái cung cách đám mười vạn quân sĩ của Từ tán thành trừng trị lũ “bạc ác tinh ma” thì đủ hiểu rằng họ cũng chẳng theo Từ Hải một cách vô ý thức, vô mục đích:
Thệ sư kể hết mọi lời
Lòng lòng cùng giận, người người chấp uy.
Nhất là sau khi báo ân báo oán, Kiều ngỏ lời tạ ơn thì Từ lại càng nói rõ hơn:
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
Giữa dường thấy việc bất bằng mà tha.
Huống chi việc cũng việc nhà...
Cứ theo lời Từ, rõ ràng “bất bằng” là “bất bằng” chung, trong đó có “bất bằng” riêng. Và cái “việc nhà” này là nằm trong cái “việc người”, “việc chung” mà cả cái việc khởi nghĩa kia có trách nhiệm giải quyết. Nếu không gọi đó là lý tưởng vì đại nghĩa của Từ Hải thì còn gọi là cái chi nữa? Theo tôi hiểu cuộc khởi nghĩa của Từ Hải mà Nguyễn Du đã mô tả chính là hình ảnh một cuộc khởi nghĩa nông dân. Từ Hải xuất thân nho sĩ và là một lãnh tụ nông dân có mục đích, có lý tưởng rõ ràng.
Có người dường như muốn chứng minh “đàn” trong “gươm đàn nửa gánh...” là một thứ vũ khí nhằm xóa bớt cái cốt cách anh hùng của Từ Hải. Nhưng phải công bằng mà nói rằng Từ đã mang một cây đàn lớn trong tâm hồn mình và tiếng đàn này vang lên hết sức hòa diệu với tiếng tơ lòng của quần chúng nông dân đau khổ dưới thời phong kiến. Từ có một tâm hồn khoáng đạt vô cùng, vì nếu không có tâm hồn, không có tinh thần vì đại nghĩa thì làm sao có gan làm việc lớn và dám rời bỏ hạnh phúc riêng để lên đường một cách ung dung, quả cảm đến thế:
Nửa năm hương lửa đang nồng
Trượng phu thoắt đã dộng lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong.
Người anh hùng ra đi với cả một niềm tin tất thắng, đầy khí phách hào hùng, nguyện thắng lợi trở về sum họp với gia đình:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Bằng nay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận biết là đi đâu
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau, vội gì.
Có thể nói Nguyễn Du đã viết nên những câu thơ sảng khoái nhất khi miêu tả hình ảnh người anh hùng lên đường tranh đấu:
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió đưa bằng tiện, đã lìa dặm khơi
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời...
Đặt hình ảnh người anh hùng Từ Hải ra di bên cạnh hình ảnh “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt” bịn rịn, quyến luyến khi từ biệt vợ “bước di một bước giây giây lại dừng”, ta càng thấy có một sự cách biệt lớn về tâm hồn giữa hai con người. Ngay cái ánh hào quang rực rỡ mà tác giả Chinh phụ ngâm phủ lên người chinh phụ phong kiến:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
vẫn không nâng thêm được tầm vóc thấp bé của chàng bên cạnh hình ảnh hào hùng của người lãnh tụ nghĩa quân nông dân. Hai cách nhìn, hai mẫu người và hai tính chất của cuộc ra đi đã tạo ra hai hình ảnh nhân vật khác biệt nhau đến thành đối lập.
Và khung cảnh độc đáo nhất trong kiệt tác của Nguyễn Du có lẽ là khung cảnh tòa án mà Từ Hải đã hạ lệnh lập ra để cho Kiều “báo ân báo oán”. Đúng là hình ảnh một tòa án hết sức đặc biệt chưa từng thấy trong đời sống cũng như trong lịch sử văn học cổ điển nước nhà và lịch sử văn học cổ thế giới. Nó đặc biệt ở chỗ tòa án này không phải chỉ là nơi xử tội mà còn là nơi để đền ơn. Nó khác thường ở chỗ lũ chuyên làm việc “hại nhân” bị “nhân hại” ngay giữa “thanh thiên bạch nhật” ngay trên cõi trần thế này. Trang Vương trong Phạm Tải Ngọc Hoa phải xuống âm phủ mới bị xử tội. Các thứ vua chúa, giáo hoàng... trong Thần khúc của Dante cũng đợi xuống địa ngục mới nhận các hình phạt. Còn Lý Thông trong Thạch Sanh tuy có bị trừng phạt ở cõi đời nhưng lại do Thiên lôi đả. Riêng ở đây, bọn đi áp bức người đã bị xét xử ngay giữa cõi người, ngay kiếp hiện tại và chính do tay người bị áp bức:
Lệnh quân truyền xuống nội dao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!
Cho hay muôn sự tại trời
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta.
Mấy người bạc ác tinh ma
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
Ba quân đông mặt pháp trường
Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi.
Đáng tiếc là mỗi sự, mỗi việc đã “rõ ràng” đến thế mà trên cái vòm trời công lý sáng đẹp và hào hùng vẫn còn vương một vẩn mây “định mệnh” đáng ghét:
Cho hay muôn sự tại trời...
Dù đây là một quan điểm của tác giả hay của một bộ phận quần chúng chăng nữa thì nó cũng vẫn là một sự lạc lõng giả tạo đến kinh khủng. Nó chỉ có thể chấp nhận được khi cái ông trời kia được hiểu là những người dân bị áp bức “ý dân là ý trời”. Dù sao nó vẫn cứ như một cái bướu thừa giống như đoạn mở đầu và đoạn kết tác phẩm, giống như lời lẽ khó nghe của Tam Hợp đạo cô, của cái bóng ma Đạm Tiên hiện lờ mờ trong tác phẩm, bám hờ vào tác phẩm. Chúng chẳng làm vinh dự gì thêm cho tác phẩm và tác giả, thậm chí chúng còn là những độc tố có khả năng làm tê liệt sức đấu tranh quật khởi của những người bị áp bức đau khổ. Cũng đáng tự hào về một dân tộc đã đọc truyện Kiều hàng trăm năm và đã từng tụng niệm mọi thứ kinh Phật, kinh Thánh mà chưa hề bị nhiễm độc tố này. Ôi cái kháng thể chảy trong dòng máu quật cường của dân tộc Việt ta sao mà mãnh liệt! Mọi quân xâm lược từ phương Bắc xuống hay từ phương Tây đến đều bị đánh ngã quỹ và mọi cái ác đều bị trừng trị một cách đích đán. Đáng chú ý hơn nữa là người đứng ra xử án cái lũ ác ở đây không phải ai khác mà là một người phụ nữ. Người anh hùng họ Từ đã thu xếp cho nàng Kiều một địa vị xứng đáng chưa từng thấy trong lịch sử các xã hội có giai cấp bóc lột, nhất là các xã hội phong kiến phương Đông:
Trướng hùm mở giữa trung quân.
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Thật là một hiện tượng hết sức kỳ lạ trong một xã hội đặc sệt lễ giáo Khổng Mạnh mà mọi thứ tôn ti trật tự đã được quy định chặt chẽ đến khắc nghiệt với các tín điều vô cùng quái gở: nào là nam tôn nữ ti, nào là tứ đức tam tòng, nam nữ hữu biệt, nam nữ thụ thụ bất thân v.v... thì nhà thơ Nguyễn Du chỉ cần hạ:
Phu nhân sánh với Từ công cùng ngồi.
cũng đã là vô cùng táo bạo, vô cùng nhân bản. Thế nhưng nhà thơ Nguyễn Du của chúng ta còn đi xa hơn thế:
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
thật là vượt ra ngoài khuôn phép một cách không tưởng tượng nổi, thật là muôn lần nhân bản và cách mạng. Trước đây chúng ta từng trân trọng và biết ơn tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du khi nghe Nguyễn Du kêu lên tới hai lần:
Đau đớn thay! Phận đàn bà.
trong truyện Kiều và trong Văn chiêu hồn. Và chúng ta từng thích thú về những từ “lẻn”, “ngây”, “tót”... mà Nguyễn Du đã vạch trần cái xấu xa, cái lố bịch, cái chất “hề” trong người chúng. Nhưng bên cạnh những từ “kêu than”, “tố cáo”, cái cụm từ “sánh với” nằm trong cái câu thơ kỳ lạ này sao mà nó ánh lên, sáng lên một tư thế người đẹp đẽ, xứng đáng với con người đến thế. Không còn là đàn ông thì cao quý, đàn bà thì thì hèn nữa! Không phải là Từ-công-đàn-ông; ngồi sẵn đây rồi rủ ơn phước gọi Thúy-Kiều-đàn-bà đến cho ngồi sánh bên mà là ngược lại. Phu nhân Thúy Kiều ở tòa án, ở cuộc đời là xứng đáng ngồi ở địa vị ấy, còn ta, ta chỉ ngồi sánh bên để xem phu nhân phán quyết xét xử mà thôi. Ta tin rằng phu nhân dư khả năng và trí sáng suốt để làm việc đó. Có thể nói không quá đáng thì đó là hai câu thơ đặc sắc nhất, tuyệt vời nhất giữa hơn 3000 câu thơ vốn đã tuyệt vời của Nguyễn Du; chắc chắn nó cũng là những câu thơ đặc sắc nhất trong nền văn học cổ Việt Nam. Nó tuyệt vời không phải cách dùng từ đẹp hay âm điệu lạ tai hay điển cố sâu xa mà chính ở tầm cỡ tư tưởng mà nhà thơ đã gởi gắm đó. Nó giáng một đòn khá mạnh vào cái ý thức hệ phong kiến đồi bại đã được sùng bái hàng ngàn đời. Phải đến hơn 100 năm sau đó, loài người mới được nghe thêm những lời đầy sảng khoái ca ngợi người đàn bà từ trái tim Gorki, đại văn hào Nga:
“Vinh quang thay người đàn bà, người Mẹ! Lòng yêu của người thật không bờ bến. Bộ ngực của người đã nuôi sống nhân loại! Tất cả những gì tươi đẹp trong con người đều do ánh sáng mặt trời và sữa mẹ tạo nên. Đó là hai nguồn yêu đời tràn trề của chúng ta”.
Rồi sau cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, vào những ngày đầu dân tộc ta kiên cường kháng chiến chống thực dân Pháp, ta lại được nghe những lời thơ tuyệt diệu tương tự của Tố Hữu:
“Con ra tiền tuyến xa xôi.
Yêu bầm, yêu nước cả đôi mẹ hiền”
(Bầm ơi)
Một bà mẹ được đặt ngang hàng với tại Mặt trời, còn một bà mẹ được đặt ngang hàng với Tổ quốc, có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những con người bị khinh rẻ miệt thị được các trí tuệ lớn của loài người mang sánh ngang với những gì vẫn được coi là cao quí, đẹp đẽ, thiêng liêng nhất trên cõi đời này. Nếu như “trong một xã hội nhất định, trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo tự nhiên để đo trình độ giải phóng chung”[9] thì thái độ đối với phụ nữ trong một tác phẩm văn học nghệ thuật chính là một loại thước đo lý tưởng thẩm mỹ của tác giả và giá trị của tác phẩm.
Điều mà Nguyễn Du xưa mơ ước về dịa vị bình dẳng của người phụ nữ phải đợi đến khi cuộc cách mạng do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thắng lợi mới trở thành hiện thực và nó được cụ thể hóa trong Hiến pháp của đất nước. Chúng ta càng trân trọng tâm tình của Nguyễn Du, người đã vẽ ra những mơ ước tươi sáng, đẹp đẽ giữa những “đêm trường dạ tối tăm trời đất”, rặt những “đày dọa”, “oan khốc”. Nguyễn Du không chỉ than khóc, tố cáo mọi nỗi oan khổ của con người bị áp bức, người còn can đảm, bằng hình tượng văn học, khẳng định cái chỗ đứng, chỗ ngồi xứng đáng với CON NGƯỜI. Nguyễn Du của chúng ta kín đáo và tinh tế lắm! Trên cái sân khấu truyện Kiều, người đạo diễn các lớp lang để cho các nhân vật của mình diễn xuất rất thoải mái đúng với tính cách của mình chứ không hề bị gò bó. Thúy Kiều gặp Từ Hải cũng cứ tự nhiên như là bất chợt gặp một khách làng chơi nào đó. Nhưng chỉ qua cái dáng, cái vẻ, cái cung cách và nghe lời ăn tiếng nói của Từ, nàng đã linh cảm nhận thấy rằng đây là một con người khác thường, một người anh hùng sẽ giải phóng cho đời mình. Nhưng trong cái quan hệ Thúy Kiều - Từ Hải từ đầu đến cuối không thấy tiếng đàn kỳ diệu của Kiều vang lên dù chỉ một lần khiến cho nhiều người băn khoăn thắc mắc.
Có lẽ người thắc mắc đầu tiên viết lên thành giấy trắng mực đen là Nguyễn Tuân. Trong bài tản mạn xung quanh một áng Kiều của ông viết nhân dịp cả nước ta và cả thế giới kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du có đoạn:
“... Nhưng tại sao Kiều lại không đàn cho Từ Hải một câu nào? Không cho Từ một câu nào, mặc dù đó là một đấng đường đường “gươm dàn nửa gánh. non sông một chèo”? Từ Hải ăn ở ăn nằm với Kiều như vậy, lại còn để nàng “... cùng dự quân trung luận hàn”, tại sao không có một tý đàn nào? Nếu đây không phải là một sự sơ xuất lớn thì lại là một cao kiến gì của Nguyễn Du. Tôi vẫn chưa tìm ra cái lẽ cái lý của những cái đó”. (Văn nghệ số 135 - 26/11/1965)
Nguyễn Tuân đã phát hiện một vấn đề thú vị và thái độ thì hết sức đúng đắn, khoa học. Cần phải biết suy nghĩ, biết phát hiện, khám phá; nếu mình chưa giải quyết được vấn đề thì cứ bảo lưu lại đó thế hệ sau đến giải quyết cũng chưa muộn. Nó khác hẳn cái thái độ chưa tìm hiểu cách lý giải đã vội đem xén bớt đi một cây đàn, xén bớt tầm vóc nhân vật của người ta đi. Vấn đề này, trong bài “Gươm đàn hay “gươm cung”? tôi đã hứa sẽ trao đổi với hạn đọc của tạp chí. Nay xin mạo muội trình bày vài kiến giải có phần nông cạn của mình, mong các bậc thức giả chỉ giáo thêm. Tôi nghĩ rằng nếu Nguyễn Du muốn tả thêm một lần hay hay nhiều lần Kiều đàn cho Từ Hải nghe thì với tài năng của ông, ông dư sức làm việc đó. Nhưng ông đã không làm thế. Có thể ông tôn trọng nguyên tác chăng? Cũng có thể ông đã không làm thế vì ông cho là thừa và có hại cho tính cách nhân vật mà ông yêu mến, trân trọng. Vì cứ lấy cái logic của tác phẩm cũng như cái logic của đời sống mà suy ngẫm thì Từ không quan tâm đến tiếng đàn của Kiều là phải và Kiều không đánh đàn cho Từ nghe cũng là hợp với tính cách của mình. Từ Hải đến với Kiều không giống với những khách làng chơi tầm thường, Từ đến với Kiều chẳng phải để tìm những thú vui vật chất, chẳng phải vì cái sắc đẹp hình hài hay tài hoa “cầm, kỳ, thi, họa” của nàng mặc dầu Từ đã biết tiếng tăm của Kiều từ lâu:
Bấy lâu nghe giống má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Qua câu hỏi này ta biết Từ hiểu Kiều sâu sắc lắm, cho nên không ngạc nhiên khi thấy Từ nói rất thẳng:
Từ rằng: “tâm phúc tương cờ
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi.
Thật là chân thành và khẳng khái! Ta muốn tìm người kết làm tri kỷ chớ đâu phải đi tìm một cái tình trăng gió tạm bợ. Có phải bấy lâu nay nàng chưa hề coi trọng ai phải không? Ừ! Trong đời này có mấy kẻ đáng mặt anh hùng; còn cái lũ tầm thường hèn kém kia thì bõ bèn gì mà chơi bời, giao du. Thế là rõ rồi! Từ Hải cần một thứ cao hơn hẳn: một tấm lòng tri kỷ. Chỉ khao khát có thế thôi, còn chẳng cần mọi thứ khác kể cả tài đàn của Kiều. Thế nhưng còn Kiều? Nguyễn Du đã miêu tả nàng đánh đàn tất cả tới tám lần - bốn lần tả sơ, bốn lần tả kỹ - có điều đáng chú ý là cả tám lần nàng đều đàn không tự nguyện. Ngay hai lần đàn cho người tình Kim Trọng nghe thì chẳng qua cũng là thể theo “yêu cầu của thính giả”, nàng chiều ý người yêu đó thôi. Còn những lần khác thì đều là bị cưỡng bức, ép buộc mà phải đàn. Lũ tầm thường có, hung ác có, tụm lại mà nghe, xúm lại mà sỉ nhục tài hoa của nàng. Tay đàn mà lòng nàng rỏ máu. (Nếu ta đòi Nguyễn Du tả Từ Hải giục Kiều đàn cho mình nghe thì có khác gì bảo tác giả dồn Từ Hải vào chung một bị với lũ người kia mà xóc lên). Lẽ ra, khi gặp Từ Hải, người tri kỷ đồng thời cũng là người giải phóng cho đời mình thì chẳng đợi phải giục giã hay nài ép, Kiều cũng nên đàn một khúc mới phải. Song, ta cũng phải thông cảm với cái khổ của Kiều. Giả thử muốn đàn cho tri kỷ nghe thì nàng sẽ đàn khúc nào đây? Chẳng lẽ đời đang phơi phới lên hương, lên sắc như thế mà lại đàn cái khúc bạc mệnh chăng? Mà khúc mới thì đã kịp phổ đâu. Cái cũ thì đã lỗi thời không dùng được nữa, cái mới thì chưa kịp tạo tác. Nếu là loại người tầm thường, bảo thủ, trì trệ nào đó thì Kiều cũng cứ đánh liều tận dụng cái cũ vậy. Nhưng Kiều lại không phải loại tầm thường như thế. (Tin chắc rằng nếu Từ không đầu hàng, không chết đứng, thì thế nào Kiều cũng đủ thời gian để sáng tác xong khúc đàn mới và tất nhiên nàng sẽ đàn cho Từ Hải và chúng ta nghe “khúc vui” ấy). Kiều cũng là một con người phi thường. Trước đây, đối với mọi người, Kiều chẳng qua chỉ là một cô gái - tệ hơn nữa, một con đĩ - tài sắc vẹn toàn đã chịu nhiều nỗi gian truân, chìm nổi luân lạc. Như vậy là người ta chưa hiểu Kiều và đánh giá nàng đúng bằng Từ Hải. Từ Hải đánh giá Kiều cao hơn nhiều, nghĩa là ngang tầm với mình. Từ đã nói một cách không chút khách khí (và tất nhiên, tâng bốc hay xu nịnh là điều rất xa lạ với bản chất của Từ):
Anh hùng mới biết anh hùng '
Rày xem phỏng đã cam lòng hay chưa?
Cũng có người thắc mắc: “Thúy Kiều mà có quan hệ vợ chồng với Thúc Sinh, điều dó kể cũng lạ. Nhưng Thúy Kiều được Từ Hải coi là tri kỷ thì còn lạ hơn nữa bởi vì Kiều chưa hề tỏ ra có cái chí hướng của Từ Hải”[10]. (ở chỗ này, Lê Đình Kỵ cũng tự mâu thuẫn, lúc thì bảo Từ Hải không có chí hướng gì, lúc lại bảo là có chí hướng).
Ngẫm cho kỹ, cũng phải cùng tầm cỡ và cùng có “con mắt tinh đời” như nhau mới xét đoán nổi nhau và đánh giá nhau một cách đúng đắn. Xưa nay người ta chỉ cho rằng nàng Kiều có “con mắt tinh đời” và đã phát hiện ra Từ Hải anh hùng “đoán giữa trần ai mới già”. Nhưng chính Từ Hải cũng là người phát hiện ra Kiều và thấu hiểu Kiều hơn ai hết, (hơn cả Kim Trọng). Họ mới chỉ gặp nhau lần đầu, chỉ mới “hai bên cùng liếc” mà đã hiểu nhau, nhận ra nhau và tin tưởng vào sự nghiệp tương lai của nhau; thế thì xứng đáng là tri kỷ của nhau quá đi rồi còn gì? Trong đời, còn gì may mắn và hạnh phúc bằng gặp được người hiểu mình. Và hiểu mình là đủ thành tri kỷ chứ còn cần gì hơn nữa. Đã là tri kỷ thì thường có chung chí hướng và chung nhiều thứ khác. Nhưng chỉ cần cùng chí hướng mà không hiểu nổi nhau thì vị tất đã kết thành tri âm, tri kỷ được. (Trong giới quan lại có biết bao kẻ cùng có chí hướng như Du Bá Nha nhưng ai hiểu được tiếng đàn và nỗi lòng của Bá Nha bằng anh tiều phu Chung Tử Kỳ). Vậy cái điều tưởng là lạ ấy thật ra chẳng có gì lạ cả. Có thể nói do cuộc đời “bẩy nổi ba chìm” mà Kiều có những mối quan hệ rất phong phú: một tình nhân chung thủy Kim Trọng, một anh chồng tầm thường Thúc Sinh và một người tri kỷ anh hùng Từ Hải. Còn nếu cứ nhìn qua khuôn lễ giáo Khổng Mạnh thì cả ba đều là “đức anh chường” cả thôi (còn không bõ kể tới cả một lũ tầm thường khác, chẳng qua cũng chỉ là những thứ vẩn rác, bụi bặm từng bám vào, vướng vào chân, vào mình cái con người chìm cạn kiêm chìm sông ấy). Đúng là Từ Hải và Kiều đã cùng phát hiện ra nhau và nhất là cùng tầm cỡ như nhau. Ngay việc Kiều nhẹ dạ tin Hồ Tôn Hiến và Từ nhẹ dạ tin nghe theo Kiều cũng là một chứng cứ họ có chung tầm cỡ. Cả hai đều có mặt anh hùng và cũng đều có mặt phi anh hùng.
Cái mặt anh hùng, mặt khí phách của Từ thì thấy rõ rồi nhưng còn cái mặt phi anh hùng tức cái chuyện bẻ giáo, hạ gươm lai hàng của Từ thì thật là hết sức rắc rối. Chính ở mặt này, ý kiến mọi người hết sức giống nhau và cũng hết sức khác nhau. Ngay trong ý kiến của một người cũng nảy ra mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Hầu hết khi xét đến thái độ đầu hàng của Từ Hải, người ta thường bỏ rơi cái logic của nhân vật logic của tác phẩm và thường chỉ tìm nguyên nhân ở tác giả và hoàn cảnh lịch sử. Nghĩa là người ta lý giải tính cách nhân vật bằng những nhân tố ngoài tác phẩm là chủ yếu; do đó, có người đề cao Từ Hải hết mức kể cả khi Từ Hải đã đầu hàng; có người cũng thấy cần phải phê phán thái độ đầu hàng của Từ nhưng loanh quanh luẩn quẩn lại là những lời hết sức tốt đẹp để ca tụng Từ; có người thấy cần phải dứt khoát phê phán nhưng phê phán ở mức độ nào và cụ thể như thế nào thì lại là hết sức đại khái. Hình như trong chuyện đầu hàng này, lỗi hoàn toàn ở tác giả chứ nhân vật thì không chịu trách nhiệm gì. Nực cười thay, chính những người có loại ý kiến đó vẫn khẳng định truyện Kiều là một tiểu thuyết hiện thực, bút pháp Nguyễn Du là bút pháp hiện thực; Nguyễn Du có một chủ nghĩa hiện thực hẳn hoi (!!!).
Dứt khoát trong khi xét tới các nhân tố ngoài tác phẩm văn học, ta cứ phải bắt đầu từ tác phẩm đã. Lê Đình Kỵ có ý đúng khi ông cho rằng: “... phải tìm hiểu thế giới quan của nhà văn thông qua cảm hứng chủ đạo của tác phẩm và đánh giá nhà văn quá khứ trước hết phải xuất phát từ tác phẩm của họ”. Tôi cho rằng chẳng riêng gì đối với tác giả quá khứ, mà đối với tất cả mọi tác giả xưa cũng như nay đều phải được đối xử như thế. Nếu ta không xuất phát từ tác phẩm mà tìm hiểu thế giới quan của tác giả rồi cứ đem đồng nhất tác phẩm hoặc nhân vật của tác phẩm với tác giả thì khó mà tìm ra được những điều cần tìm. Có người nhằm chứng minh một tư tưởng nào đó của Nguyễn Du, thế là hễ cứ thấy bất cứ lời lẽ của nhân vật nào phù hợp với tư tưởng đó liền gán ngay cho tác giả. Thành ra, hết Kiều đến Từ Hải, rồi Đạm Tiên, rồi Tam Hợp đạo cô và cả Hồ Tôn Hiến nữa, hầu như đều là những cái loa phát ngôn cho tư tưởng của tác giả. Cứ cái đà này chỉ còn thiếu nước người ta sẽ cho cả Tú bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, v.v... trở thành những kẻ phát ngôn chính thức suốt loạt. Lẽ dĩ nhiên vẫn phải tham khảo nhiều thứ khác ở ngoài tác phẩm như hoàn cảnh lịch sử, tiểu sử tác giả v.v... nhưng trước hết vẫn là phải chú ý đến văn bản, đến tính logic khách quan của nhân vật.
Bây giờ tôi xin điểm lần lượt một số vấn dề xung quanh cái thái độ đầu hàng và cái chết của Từ Hải. Do nguyên nhân nào mà Từ Hải đầu hàng? Từ trước đến nay, người ta chỉ để ý đến chuyện Kiều khuyên Từ Hải hoặc cho rằng, đó là chủ ý của Nguyễn Du, Nguyễn Du đã uốn nắn và lái nhân vật theo ý mình. Vậy chẳng lẽ chủ quan Từ Hải không chịu trách nhiệm gì? Từ Hải chỉ thụ động trước những nhân tố khách quan? Phải nói rằng, động cơ ra hàng của Từ Hải hết sức phức tạp nhưng không phải không lần tìm ra được. Điều thấy rõ nhất là do Kiều khuyên Từ mà Từ ra hàng. Nhưng vì sao Kiều đã khuyên Từ ra hàng? Căn cứ vào tác phẩm, ta sẽ thấy mấy nguyên nhân sau đây:
Một là, do Kiều nhẹ dạ tin người: “Nàng thời thật dạ tin người”
Hai là, nàng đã tối mắt lại trước món của cải hối lộ quá lớn của bọn thuết hàng Hồ Tôn Hiến:
“Lại riêng một lễ với nàng.
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân”.
Ta nhớ lại, trước đây, chỉ vì thiếu có ba trăm lạng vàng mà gia đình Kiều khốn đốn và đời Kiều phải chìm nổi luân lạc thì số “ngọc vàng nghìn cân” này quả là một tài sản quá lớn đối với người con gái đã hai phận khổ vì tiền. Trong hoàn cảnh dó, Kiều có bốc máu tham lên mà mê cái hơi đồng, hơi vàng này cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
Ba là, nàng lo nghĩ đến thân phận mình:
“Nghĩ mình mặt nước cánh bèo
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân
Bằng nay chịu tiếng vương thần.
Thênh thang đường cái thanh vân hẹp gì.
Công tư vẹn cả đôi bề.
Dần dà thì sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà à
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng
E dè sóng gió, hãi hùng cỏ hoa.
Trong mười hai câu thơ độc thoại, chỉ có 13 chữ, tức là chưa đầy hai câu lục bát nói đến việc “công tư vẹn cả đôi bề”, “trên vì nước...”, “... hai là đắc trung”. Nói một cách gượng gạo chiếu lệ và có lẽ chính người nói cũng chẳng hiểu đầy đủ thế nào là việc “công”, thế nào là “vì nước”, thế nào là “đắc trung”. Chẳng qua là những thứ mà bọn thuyết hàng Hồ Tôn Hiến vừa mớm cho chưa kịp tiêu đã vội moi ra, ói ra. Nhất là khi nghe Kiều bầy tỏ lý lẽ xui chồng ra hàng nó mới mỉa mai làm sao:
Rằng: Trong thánh trạch dồi dào
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu
Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao.
Những lời ca tụng bọn lang sói thốt ra từ miệng cừu nghe mới thấy tức cười, đáng ghét và thảm hại làm sao. Qua những lời lẽ gớm ghiếc đó, còn tìm đâu ra cái “thông minh vốn sẵn tính trời” của Kiều. Sao Kiều lại quên quá nhanh những cái “công đức” từng “tưới” lên gia đình Kiều, “tưới” lên đầu Kiều, và “thấm” vào đời Kiều, cái cuộc đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” đầy cực nhục của nàng? Thế mới biết cái ánh rực rỡ của vàng có thể làm đen lòng người. Cái món vàng ngọc hối lộ của bọn Hồ Tôn Hiến đã làm lóa mắt Kiều, làm đen lòng Kiều khiến cho Kiều không còn đủ cái thông minh sáng láng để phân biệt nổi thế nào là đúng sai, phải trái nữa. Đúng như Lỗ Tấn đã nhận xét, bọn thống trị có đủ các thủ đoạn vật chất và tinh thần trói chặt người dân bị áp bức, làm cho họ mê muội đi để dễ bề sai khiến, bóc lột. Con ong eo lưng thống trị chích một mũi nọc độc vào huyệt của con sâu xanh bị trị khiến nó tê liệt đi, ở vào tình trạng dở sống dở chết:
“Muốn phục tùng sự tác uy thì phải không sống, muốn cống thứ ngon vật lạ thì phải không chết; muốn bị trị thì phải không sống, muốn cung dưỡng kẻ trị người thì phải không chết”.
Thúy Kiều quả đã bị chích một mũi nọc độc tư tưởng đúng vào huyệt thần kinh vận dộng và nàng hết ca tụng bọn thống trị lại quay ra phỉ báng ngay cả cuộc khởi nghĩa, cái sự nghiệp hiển hách của Từ mà chính nhờ đó nàng đã được giải phóng:
Ngẫm từ gây việc binh đao
Đống xương vô định dã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Sao bằng lộc trọng quyền cao
Công danh ai dứt lối nào cho qua.
Như thế là cứ cắn răng chịu đựng mãi áp bức là tốt, nổi dậy để chống lại vua chúa là bất trung, là xấu, là mãi mãi đeo tiếng xấu làm “giặc”. (Thôi hãy tạm gạt ra bọn cái nọc độc lý sự này, ta thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà qua lời Kiều, cũng do bọn Hồ Tôn Hiến mớm cho, bọn Hồ Tôn Hiến đã đánh giá rất cao Từ Hải và cuộc khởi nghĩa của Từ). Thật đáng ngạc nhiên khi thấy một con người “thông minh” đầy dũng khí và nghị lực như Kiều mà thoái hóa nhanh đến thế, nhưng càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy Lê Đình Kỵ không tiếc lời ca tụng Kiều: “... Kiều là một mẫu người phụ nữ (...) trong hoàn cảnh của mình đã hành động một cách xứng dáng không chê trách vào đâu được”[11]. Công bằng mà nói thì Kiều có nhiều mặt tốt, đáng khen ngợi nhưng cũng có nhiều điều đáng chê trách, mà điều đáng chê trách nhất là nàng đã ngu xuẩn xui Từ Hải đầu hàng kẻ thù. Mà Từ Hải thì cũng ngu xuẩn không kém khi nghe vợ mà bó giáo lai hàng. Ấy thế mà cái thái độ đầu hàng và cả cái chết thảm hại của Từ Hải vẫn được nhiều nhà nghiên cứu truyện Kiều ca tụng không tiếc lời.
Hoài Thanh có lẽ là một trong những người mê Từ Hải nhất. Ông đã nhiều lần đề cao Từ Hải quá cái mức cần thiết:
“Từ Hải chết không nhắm mắt. Từ Hải chết đứng, cái chết của Từ Hải là một lời nguyền rủa cái hèn nhát, cái gian dối của bọn cầm quyền. Kẻ thù của Từ Hải đã thắng, nhưng trước công luận muôn đời, người thắng lại là Từ Hải. Lòng người vẫn đứng về phía Từ Hải, không tán thành cuộc đời ấy, tán thành giấc mơ ấy”[12].
Lê Đình Kỵ đánh giá Từ Hải có khác Hoài Thanh ít nhiều nhưng khi ca tụng cái chết của Từ Hải thì ông cũng viết những lời đẹp đẽ tương tự:
“Từ Hải nhanh chóng nhận thấy sự sai lầm của mình, và tất cả khí phách bình sinh đã trở lại với Từ “tử sinh liều giữa trận tiền”, dù phải chết, Từ Hải sẽ chết đứng như một người anh hùng (tôi nhấn mạnh - T.K). Cái chết đứng của Từ Hải là một bài học lịch sử lớn, một lời tố cáo uất ức nghẹn ngào căm giận. Nguyễn Du đã gửi gắm mơ ước phản kháng của mình vào nhân vật Từ Hải. Nguyễn Du dã chắp cánh cho Từ Hải đôi cánh của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. Từ Hải vút lên trên xã hội cũ như con chim đại bàng kiêu hãnh:
“Gió đưa bằng tiện dã lìa dặm khơi”
Con chim ấy đã bị cung tên của Hồ Tôn Hiến lén lút bắn rơi, nền trời trớ lại u ám nặng nề, nhưng mơ ước mà Từ Hải đã dấy lên ở lòng người thì không có cung lên nào bẻ gẫy được”[13].
Xuân Diệu cũng khuyên cho Từ Hải những nét son chói lọi:
“Từ Hải chết mà không nhục (tôi nhấn mạnh – T.K), còn đánh lại quân thù cho đến hơi thở cuối cùng rồi ngang nhiên đứng sững đó (...). Từ Hải mà đứng giữa trời “trơ trơ” thì là một trái núi rồi (tôi nhấn mạnh – T.K)”.[14]
Còn Nihculin, trong cuốn “Nguyễn Du, nhà thơ vĩ đại của Việt Nam”, ông cũng dành cho Từ Hải những lởi hết sức ưu ái:
“Từ đầu đến cuối, Từ Hải vẫn là một người vĩ đại, khảng khái, mặc dầu đã bị sa vào lưới Hồ Tôn Hiến “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Và Từ Hải đã chết và chàng chết đứng”[15].
Ít khi người ta gặp hiện tượng đánh giá một nhân vật lại có sự nhất trí cao đến như thế. (còn những ý kiến tương tự của một số nhà nghiên cứu khác nhưng ở đây tôi chỉ trích dẫn mấy ý kiến tiêu biểu). Có lẽ các nhà nghiên cứu kể trên đều đứng chung một bình diện, một góc dộ và dưới cùng một ánh sáng chăng?
Bây giờ chúng ta thử bình tâm xét xem trận chiến đấu cuối cùng trong đời Từ Hải và cái tư thế chết đứng của Từ Hải có xứng với những lời ca tụng và đề cao quá mức như thế không? Trước hết ta nên duyệt lại cái chuyện Từ Hải đầu hàng. Từ đã ra hàng trong hoàn cảnh nào? Rõ ràng chẳng phải vì Từ Hải đã lâm vào cảnh thế cùng lực tận. Lực thì trong tay còn mười vạn tinh binh, thế thì đang mạnh như chẻ tre, tâm trí thì vẫn sáng suốt và lời lẽ thì hết sức khảng khái:
Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành.
Bó thân về với triều đình.
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau.
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi.
Sao bằng riêng một biên thùy
Sức này đã dễ làm gì được nhau.
Chọc trời quấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Thế mà dùng một cái: “thế công Từ mới trở ra thế hàng”. Và giương ngay lên một lá cờ trắng bạc nhược, nhơ nhuốc rồi chết đứng một cách thảm hại.
Đánh giá cái chết của Từ có lẽ Hoài Thanh là người thận trọng nhất. Ông cân nhắc từng chữ qua nhiều năm tháng: “Như thế là từ chỗ nói “Từ Hải chết vì ngay thẳng, vì thật dạ tin người” đến nói “Vì dại dột tin người”, qua đúng hai mươi năm tham gia cách mạng , tôi mới bắt đầu nhìn thấy cái chết này cần phải phê phán. Rõ ràng là quá chậm. Nhưng tôi vẫn chưa nhìn ra cái chính cần phê phán”[16].
Đúng! Cái chính cần phê phán là tư tưởng đầu hàng của Từ Hải thì nhà nghiên cứu vẫn chưa lưu tâm đến. Tôi hoàn toàn tán thành quan điểm đánh giá của Từ Sơn: “Từ Hải chết vì phạm sai lầm của chủ nghĩa đầu hàng”[17]. Chứ nói “Từ chết vì dại đột tin người” thì vẫn còn nương nhẹ quá. Không thể để Từ trốn tránh trách nhiệm và tội lỗi trong việc này. Trên kia tôi dã nói Kiều xui chồng ra hàng là một hành động ngu xuẩn và Từ Hải thì cũng ngu xuẩn không kém khi nghe vợ mà đầu hàng giặc. Có anh bạn bảo tôi nói như thế e nặng lời quá. Nhưng đâu có phải chuyện nặng lời hay nhẹ lời. Vấn đề là phải gọi sự vật cho đúng tên của nó.
Từ Hải thản nhiên từ bỏ lý tưởng cao đẹp của mình, bỏ rơi cả mười vạn tinh binh cho kẻ thừ tha hồ sát hại. Vì lý tưởng muốn san bằng bất công trong đời mà anh đã có gan vung gươm lên chống lại triều đình, và quần chúng đã tin anh mà đứng dậy theo anh. Đùng một cái, anh nghe vợ anh, anh phản bội lý tưởng chiến đấu của anh, anh phản hội quần chúng, anh đầu hàng kẻ thù. Chà! Nếu không gọi anh là một tên phản bội thì còn đáng gọi anh là cái thứ gì nữa?
Kể cũng là điều hết sức kỳ quặc khi đến bây giờ, ngay ở thời đại ta, vẫn có người dặt câu hỏi:
“Có mất mát nào lớn bằng cái chết?”
(Vòng trắng - Phạm Tiến Duật)
Vấn đề này không có gì mới và hỏi như thế là quá ư lẩm cẩm. Ngay xưa kia, những người mang nhân sinh quan phong kiến cũng còn coi lòng trung với vua, hiếu với cha mẹ và hết lòng vì tri kỷ... cao hơn cái chết; huống chi chúng ta! Đối với chúng ta mất lý tưởng “độc lập, tự do” nguy hơn nhiều chứ! Chính vì vậy mà ba chục năm qua, toàn thể dân tộc đả nguyện đổ máu để bảo vệ đến cùng lý tưởng cao đẹp đó.
Khi một con người không còn có lý tưởng tốt đẹp mà bảo vệ và phục vụ hoặc đã từ bỏ lý tưởng tốt đẹp hằng ấp ủ thì đời người đó còn có nghĩa lý gì nữa? Còn kẻ thù xâm lược, dù có chụp lên mảnh đất ta bao nhiêu “vòng đen” chăng nữa và trên đầu ta có phải mang bao nhiều “vòng trắng” tang tóc chăng nữa, chúng ta có sá chi điều đó. Tất nhiên, chúng ta không hề phiêu lưu nhưng cuộc chiến đấu của chúng ta kết quả không phải chỉ là “số không”. Cuộc chiến đấu ấy mang những ý nghĩa to lớn lắm vì nó không chỉ mang tầm cỡ dân tộc, mà có tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa thời đại:
“Ta vì ta ba chục triệu người
Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”.
(Tố Hữu)
Từ ngàn đời nay, ông bà ta đã từng bất chấp mọi quân thù xâm lược và ngày nay nhân dân ta vẫn tiếp tục bất chấp! “Thà chết không chịu làm nô lệ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Thế hệ này hy sinh là để cho thế hệ sau hưởng thụ.
Trong cuộc dấu tranh, tư tưởng đầu hàng, phản bội là không thể tha thứ. Tất nhiên, tư tưởng đầu hàng của Từ không phải chỉ nằm trong “cái logic khái quát của lịch sử”[18], nó có cái logic nội tại của nó.
Nếu là con người thật sự có bản anh ngoan cường. có ý chí dấu tranh kiên định, sẽ chẳng bao giờ bỏ dở cuộc đấu tranh của mình. Nhưng cái gì đã thúc đẩy Từ di vào con dường đầu hàng tội lỗi dó. Mới xem qua thì hình như động cơ đầu hàng của Từ chẳng qua chỉ là do nhẹ dạ nghe lời vợ và thật dạ tin người một cách dại dột. Ta cần nhớ rằng khi bước chân lên đường đấu tranh, Từ rất kiên quyết và chủ động. Những lời Kiều nói không ảnh hưởng gì đến Từ. Vậy có một nguyên nhân sâu xa mà ít người để ý tới dó là cái mục đích nổi dậy của Từ. Từ quả là muốn phất cờ khởi nghĩa để san bằng bất công. Đó là mục đích lớn. Từ cũng muốn san bằng cả triều đình để lập ra một triều đình mới, để vinh thân phì gia. Đó là mục đích nhỏ. Hãy nhớ lại lời Từ hứa với Kiều, tin rằng Từ có thể lên ngự ngai vàng, dựng nghiệp dế vương:
Một lời đã biếy đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
Chí thì lớn đấy nhưng mục đích cũng nhỏ bé thôi. Dĩ nhiên, trong một xã hội mà mầm mống tư bản chủ nghĩa vừa nhú ra đã bị bọn vua chúa quan liêu của triều đình Lê - Trịnh Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng trong hùa nhau vào bóp nghẹt, (họ ra sức đánh thuế rất nặng và cướp phá các cửa hàng của thương nhân; họ thi hành rất triệt để chính sách “trọng nông ức thương”. Chính sách kinh tế của họ trước sau vẫn là lấy nghề nông làm gốc (Dĩ nông vi bản). Như thế thì làm gì có nổi một lực lượng sản xuất mới, một giai cấp đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến) thì Từ Hải có khởi nghĩa thắng lợi cũng chỉ để làm một ông vua mới ở một triều đình mới mà thôi (cũng như tất cả mọi cuộc khởi nghĩa nông dân trong chế độ phong kiến nếu có thắng lợi cũng là để dựng lên một triều đình mới). Từ Hải hay bất cứ lãnh tụ nông dân nào khác trong chế độ phong kiến cũng không thoát nổi cái quy luật của thời đại phong kiến. Cho nên cái khát vọng “muôn chung nghìn tứ” là một trong những dộng lực thúc đẩy Từ nổi dậy. Nhưng khi đã “rạch đôi sơn hà” rồi, lập được một “triều đình riêng một góc trời”, đáng lẽ Từ Hải vẫn phải tiếp tục dấn tới. Nhưng Từ Hải không thể dấn tới vì Nguyễn Du không thể dấn tới xa hơn nữa so với thế giới quan của mình. Vì thế khi nghe Kiều khuyên ra hàng, chắc Từ Hải đã tính toán (đáng lẽ Nguyễn Du phải miêu lả kỹ cái sự tính toán nội tâm của Từ, nhưng rất tiếc Nguyễn Du đã bỏ qua). Cái câu nói tai ác nhất của Kiều không phải là câu “ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào” (vì đã làm một Hoàng Sào chắc Từ chẳng sợ gì những tiếng thị phi loại này), mà cái câu tai ác nhất chính là câu:
“Sao bằng lộc trọng quyền cao;
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”
Tai ác thì tai ác thật nhưng cũng mặn mà làm sao! Trúng tim Từ quá đi rồi còn gì. Công danh lớn thì lên làm vua, còn công danh ít lớn hơn tức là làm quan. Cũng công danh lợi lộc cả thôi. Nhưng theo đuổi cái công danh lớn kia xem chừng cũng còn khá gian nan vất vả, lại chưa biết rồi sau sẽ ra sao. Trong khi đó cái công danh ít lớn hơn thì đã ở trong tầm tay rồi. Vừa được làm quan có quyền cao lộc trọng, vừa có vợ đẹp, cửa cao nhà rộng, lại vừa không phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn nữa (xông pha trăm trận như Từ kể cũng đã khá mệt rồi); lại làm đẹp được cả lòng người tri kỷ (người anh hùng phong kiến có thể chết vì tri kỷ cơ mà). Tri kỷ sẽ được về gặp song thân:
“Xót nàng còn chút song thân
Bấy lâu kẻ Việt, người Tần cách xa”
Sao cho muôn dặm một nhà;
Cho người thấy mặt là ta cam lòng”
Cứ cái kiểu suy nghĩ như thế, thì về mặt nào đó người anh hùng quả có giàu tình cảm nhân đạo thật đấy, nhưng cũng chính vì thế mà sớm muộn người anh hùng cũng quỵ thôi. Lê Đình Kỵ đã có một nhận xét khá tinh tế:
“Từ Hải là con người của những nơi trời bể mênh mông, của những vẫy vùng ngang dọc, nhưng khi Từ Hải buông lời thân mật bất ngờ: “huống chi việc cũng việc nhà” thì cũng không vì thế mà nhỏ bé hay tầm thường đi”[19].
Đúng như thế đấy, anh chưa hề “bé nhỏ” hay “tầm thường” khi anh còn kết hợp thỏa đáng việc nhà với người. Còn khi anh tách việc nhà ra khỏi việc người hay nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là anh đã tách cái riêng ra khỏi cái chung thì anh tránh sao khỏi bé nhỏ tầm thường. Anh đặt việc nhà lên trên cả lý tưởng, đại nghĩa và thậm chí anh hy sinh cả lý tưởng và đại nghĩa để mưu lợi ích riêng cho bản thân anh và gia đình anh, hiển nhiên cái chết đã chờ anh rồi. Trận chiến đấu cuối cùng của Từ “tử sinh liều giữa trận tiền” kể cũng khá quyết liệt đấy nhưng lại chẳng oanh liệt chút nào, chẳng có gì đáng ca tụng. Cả cái tư thế chết đứng của Từ cũng chẳng đẹp đẽ gì. Anh đã đầu hàng rồi thì anh có cựa quậy, rẫy rụa hay có chết ở bất cứ tư thế nào thì cũng là chết nhục mà thôi. Lê Đình Kỵ còn cho rằng Hồ Tôn Hiến giết Từ Hải là làm nhiệm vụ tiêu diệt tư tưởng “chống đối” của Từ. Cần gì phải như thế! Hồ Tôn Hiến hèn mạt đã đành nhưng cũng là một loại ngu xuẩn. Hắn không giết Từ mới là cao tay. Hắn không nhớ rằng hắn còn phải đánh dẹp hàng trăm cuộc khởi nghĩa tương tự. Chính Từ đã thủ tiêu lý tưởng, tự chôn vùi khí phách ngang tàng của mình, nghĩa là đã tự giết mình rồi. Giá Từ có sống thì cũng như chết. Nói tóm lại Hồ Tôn Hiến dã làm một việc thừa: giết một xác-chết-sống. Khi cờ hàng đã được kéo lên thì Từ Hải-anh hùng không còn tồn tại nữa, chỉ còn tồn lại một Từ Hải-phản hội. Ngay trong phạm trù của chủ nghĩa anh hùng phong kiến xưa kia, người ta cũng chỉ dám hạ bút ca tụng những cái chết vì vua, vì nước, vì tri kỷ chứ chưa mấy ai dám ca tụng cái chết của một kẻ đầu hàng.
- Đại bàng Từ Hải bị tên bắn lén lút ư?
- Không! Khi dại bàng Từ Hải quyết rời bỏ bầu trời bao la của nó và thôi rồi mọi chí khí vẫy vùng ngang dọc để sà xuống chung sống với lũ công, lũ quạ, lũ gà què ở một góc vườn thượng uyển nào đó thì dù có bị bắn rơi hay không nó cũng còn đâu cái chất đại bàng. Nó thôi không còn là nó nữa. Nó đã thoái hóa, biến chất rồi.
- Từ Hải chết mà không nhục ư? Đứng giữa trời trơ trơ như một trá i núi ư?
- Không! Xuân Diệu quá yêu nó mà tô vẽ cho nó đấy thôi. Chết như thế là nhục lắm chứ! Và cũng chẳng núi non, chẳng vững chãi gì cái thứ người nộm ấy đâu. Chưa đầy một khắc sau là nó “liền ngã ra” đấy thôi. Tiếc rằng Nguyễn Du không tả nó ngã ra theo chiều nào. Nhưng tin chắc rằng nó không ngã nghiêng hay ngã sấp đâu, nó ngã ngữa người ra đấy.
- Chết đứng như thế là anh hùng ư? Vĩ đại ư? Khẳng khái ư?
- Không, hoàn toàn ngược lại mới chính xác. Trong thơ ca, ta cũng từng gặp một vài kiểu chết “đứng”:
“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất
Nhưng anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn,
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân).
So với cái chết của Từ Hải, cái chết của người chiến sĩ Giải phóng quân chỉ giống về hình còn khác xa về chất. Người chiến sĩ Giải phóng quân chết trong tư thế đang đứng bắn, nghĩa là chết sau khi đã dốc toàn lực để tiêu diệt kẻ thù, nhưng bảo vệ lý tưởng chết rồi mà vẫn tiếp tục tiến công kẻ thù, anh không thể tiến công kẻ thù bằng súng nữa thì tiến công bằng dòng máu anh hùng của mình. Anh chết rồi mà kẻ thù chưa hết kinh hoàng:
“Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn
Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.”
(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân).
Đây là một trong những “cái chết hóa thành bất tử” (Tố Hữu). Vì cái tư thế hào hùng của người chiến sỹ không chỉ “tạc” vào không gian mà còn mãi mãi “tạc” vào thời gian:
Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.
(Dáng đứng Việt Nam- Lê Anh Xuân).
Cho nên người xưa đã từng nói có cái chết nặng như núi Thái Sơn và có cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cái chết của Từ Hải không phải là cái chết bất tử của người anh hùng đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ lý tưởng:
“Chết như sống, anh hùng vĩ đại”
(Tố Hữu).
Đó chính là: “Sống như chết, chính ngữ bay phản bội!”
Ca tụng những cái thứ Từ Hải gà què, những cái ngữ Từ Hải phản bội có khác chi “ca tụng lá vàng rơi” (Nguyễn Chí Thanh). Vô ích! Thật vô ích! Mà còn có hại! Vì ca tụng tức là muốn treo gương. Chỉ có thể treo gương những con người dám chiến đấu vì lý tưởng và dám xả thân vì đại nghĩa.
Tuy nhiên, không nên chỉ trách cứ các nhà nghiên cứu, vì Nguyễn Du vĩ đại của chúng ta cũng phạm sai lầm khi Người đã đành quá nhiều lời thơ đẹp đẽ cho cái chết thảm hại nhục nhã của Từ Hải. Có lẽ vì thế mà gây ra sự ngộ nhận chăng? Tất nhiên không thể đòi hỏi nhiều hơn ở người xưa. Thời đại Nguyễn Du, thế giới quan Nguyễn Du chưa cho phép ông tạo ra những gì cao hơn nữa. Chỉ tiếc rằng Nguyễn Du mới chỉ dựng nên một Từ Hải bỏ dở sự nghiệp chứ không phải một Từ Hải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Mà trong giai đoạn lịch sử cuối Lê và đầu Nguyễn bấy giờ, trong số hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân có biết bao vị lãnh tụ nghĩa quân đã chiến đấu đến cùng. Đời sống đã cung cấp đầy đủ những nguyên mẫu cho nhà thơ nhưng nhà thơ đã thiên kiến giai cấp của mình, đã không tận dụng hết những chất liệu quý dó. Điểm này chính là điểm thiên tài Nguyễn Du đã thụt lùi so với đời sống hiện thực. Nhân dân yêu cầu mỗi nhà văn dựng lên những nhân vật tích cực, nhân vật anh hùng bắt nguồn từ đời sống hiện thực nhưng lại vươn cao hơn hiện thực và có tác dụng hướng dẫn hiện thực. Điều đó phải trông đợi ở các nhà văn có một thế giới quan mới. Còn dù là thiên tài cũng chẳng vượt khỏi nóc thời đại, chẳng thể túm tóc mình để tự nhấc lên khỏi mặt đất được.
Nhưng dù sao Nguyễn Du cũng rất chân thực. Ông đã không hề bịa ra thái độ đầu hàng và cái chết của Từ Hải. Đời sống có những Từ Hải vung gươm lên rồi nửa chừng lại hạ gươm đầu hàng như thế. Xưa đã có và nay cũng chưa phải là dã hết. Cứ nhìn vào đời sống xung quanh và trông ra thế giới khắc rõ. Khi anh đã rời bỏ lý tưởng rồi hèn nhát hạ súng, hạ tư tưởng của anh xuống trước kẻ thù; cho dù anh tha hồ ngụy biện, liệu anh thoát khỏi cái chết đứng nhục nhã như Từ Hải chăng?
Cũng may là Nguyễn Du không thu xếp cho Từ Hải một cái ghế, một chỗ đứng trong triều đình rồi cho Từ Hải hưởng vinh hoa phú quý. Vì như thế Từ Hải sẽ được tiếng khen là “thức thời”, “khôn ngoan” (thực ra chỉ là cái lối khôn lỏi, khôn vặt, cơ hội) và vô tình Nguyễn Du đã cổ vũ cho chủ nghĩa đầu hàng. Nguyễn Du đã miêu tả Từ Hải chết đứng và điều này có lẽ ngoài dự kiến của Nguyễn Du, một bài học cảnh giác đã ngời ngời treo trước mắt mỗi người: kẻ nào định phản bội lý tưởng, bỏ dở sự nghiệp đấu tranh, khuất phục đầu hàng kẻ thù; hãy trông cái chết nhục của Từ Hải làm gương. Đó là một bài học phản diện có tác dụng cổ vũ cho chủ nghĩa không đầu hàng, cổ vũ cho sự đấu tranh đến cùng. Qua hình tượng Từ Hải và từ đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chúng ta rút ra được những bài học quý giá: Hãy mang khí phách hào hùng và lên đường đấu tranh quả cảm của Từ Hải: “cánh hồng bay bổng tuyệt vời”, “thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong”, “cầm gươm ôm súng xông tới” tiêu diệt hết kẻ thù của dân tộc. Và trong cuộc dấu tranh cho sự nghiệp thống nhất đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải luôn luôn giữ vững chí khí cách mạng, đấu tranh triệt để, đấu tranh đến hơi thờ cuối cùng, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa; không bao giờ hạ vũ khí trước kẻ thù, không bao giờ khuất phục đầu hàng vì đầu hàng là chết, chết một cách nhục nhã. Mọi tư tưởng nghỉ ngơi, mọi ý chí nửa vời chỉ mang lại những hậu quả xấu xa tai hại và không xứng đáng với một dân tộc đã coi đấu tranh cho lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội là lẽ sống cao đẹp của mình.
Nam Định. Tháng 8-1974.
[1] Phê bình và tiểu luận. Tập 1, tr. 257. Nxb Văn học.
[2] Thi hào Nguyễn Du. Nxb Văn học. tr. 149-155.
[3] Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. tr. 311.
[4] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH. tr. 195.
[5] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 401.
[6] Phê bình và tiểu luận. Tập 1. tr. 257.
[7] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 264, 263, 265.
[8] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 264, 263, 265.
[9] Enghel: Chống Duyrin. Nxb Sự Thật, 1971. tr. 440.
[10] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH. tr. 258.
[11] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH. tr. 258.
[12] Phê bình và tiểu luận. Tập 1. tr. 258.
[13] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 267.
[14] Thi hào dân tộc Nguyễn Du. Nxb Văn học. tr. 28, 29
[15] Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. tr. 3-6.
[16] Phê bình và tiểu luận. Tập III. Nxb Văn học, tr. 246.
[17] Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. Nxb KHXH.
[18] Truyện Kiểu và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du.
[19] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. tr. 339
★
★
★
★
★
0