Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Truyện Kiều

14 trả lời, 338 lượt xem — Trang 1 / 1
[color=blueviolet]hiiiiiiiiiiiiii có lẽ tác phẩm này của đại thi hào Nguyễn Du ai cũng biết rôi, vậy chúng ta hãy bang về nó nha. [/color]
[color=blueviolet] Tình như bao ánh ban chiều
Đem cho ta biết bao điều ưu tư
[/color]
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Kiều khó bàn lắm, gần 200 năm biết bao lời bàn rồi, chỉ sưu tập lời đã bàn cũng mướt mồ hôi. Riêng tôi thấy hai câu này:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Nói lên sự hoang mang của họ Nguyễn khi ông viết xong Truyện Kiều nói riêng và hệ thống tác phẩm mang tên ông nói chung. Bây giờ mới 200 năm trôi qua, còm 100 năm đằng trước để trả lời câu hỏi của ông...

Ngoài ra xin hiến các bạn 1 chi tiết nhỏ: Tất cả các trang web văn học bằng tiếng Hoa đều ghi rõ: Gốc tích cốt truyện về nàng Vương Thúy Kiều đầu tiên là một quyển sách mang tên SONG KỲ MỘNG hoặc SONG HỌA HOAN, chỉ ghi do Thanh Tâm Tài Nhân biên soạn. Cốt truyện này khá nổi tiếng thời Nguyễn Du, là điểm tựa cho khá nhiều Tiểu thuyết, Ký sự và các vở Kinh Kịch... Truyện "Đoạn trường tân thanh" mà Nguyễn Du mang từ Tàu về sau chuyến đi sứ có lẽ là một trong những thể loại phóng tác ấy.

Tôi xin nêu chi tiết, mời mọi người tham khảo và tìm hiểu. Xin đừng gán ghép tôi võ đoán kết luận như vậy. Rất cảm ơn.
Đăng nhập để trả lời
0
Nói về chuyện Kiều thì thành tựu lớn nhất của tác phẩm này là cả một kho tàng sáng tạo ngôn ngữ đồ sộ hiếm có mà Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế.
Nhưng thật ra cứ mỗi lần đọc trong một bài phê bình văn học ở chỗ này chỗ kia ca ngợi hết lời truyện Kiều là một đỉnh cao của văn học VN, SH lại thấy ngao ngán thầm cho đất nước ta khi tác phẩm được coi là tiêu biểu nhất cho sự giàu có của ngôn ngữ việt lại chuyển tải một câu chuyện chẳng có chút VN nào, và bói cũng không ra một nhân vật nào là người VN trong đó. Nhân vật TQ, địa điểm TQ, bối cảnh lịch sử, tự nhiên ... thảy đều TQ hết. Theo SH một câu chuyện chẳng có tý chất VN nào như thế cho dù có hay đến đâu cũng không thể mang ra làm đại diện cho đất nước con người VN.
Người Hy Lạp tự hào về Homere vì ông ca ngợi các kỳ công của những người anh hùng Hy Lạp, người Ba Lan tôn vinh Sienkiewicz vì ông đã làm sống lại tinh thần tự hào dân tộc cho đồng bào của ông trong hoàn cảnh khó khăn nghiệt ngã. So với họ, tinh thần dân tộc, lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Du nói thẳng ra là chẳng thấy đâu cả.

Bàn thêm một chút về nhân vật chính của câu chuyện. Có thể xem như đây là cuốn "Trà hoa nữ" của văn học VN. SH nhớ hồi cấp ba một lần kiểm tra văn đã bị bốn điểm vì can tội gọi nàng Kiều của cụ Nguyễn là "gái làng chơi". Thật là bi hài. Một tác phẩm có thể làm một người VN chân chính tự hào, xin lỗi các bạn nếu quan điểm của SH có hơi lập dị, không thể là một câu chuyện lấy một cô gái giang hồ người Trung Quốc và một tay tướng cướp cũng lại người Trung Quốc làm trung tâm được. Một tác phẩm văn học lớn, có giá trị phải hướng con người ta đến việc tôn trọng một xã hội có trật tự, kỷ cương, luật pháp, phải đề cao những con người, nếu không phải là những anh hùng chân chính, thì ít nhất cũng phải là những người biết sống vì dân tộc, tổ quốc họ. Một tác phẩm chỉ đi ca ngợi một đôi "trai trộm cướp gái giang hồ" sống ngoài vòng pháp luật như chuyện Kiều sẽ chẳng thể đem lại những ảnh hưởng tốt đẹp gì đến cho xã hội. Có lẽ cũng đã đến lúc nhìn lại truyện Kiều theo đúng vị trí của nó: một câu chuyện được chuyển tải bằng một ngôn ngữ văn chương tuyệt vời, nhưng không hề có chút dấu ấn VN nào về mặt nội dung, thông điệp chuyển tải qua tác phẩm thì vô vị, sáo mòn.
Nguyễn Du là một nhà ngôn ngữ học, một nhà thơ có tài sáng tạo ngôn ngữ. Nhưng tác phẩm của ông chẳng có chiều sâu tư tưởng gì lớn, vì thế ông cũng không viư đại đến mức như các nhà phê bình vẫn ca ngợi lâu nay.

Giá như ông sáng tác gì đó về Trần Hưng Đạo hay Ngô Quyền thay vì một cô kỹ nữ đời Minh thì SH có lẽ đã cảm phục ông hơn.
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
Đăng nhập để trả lời
0
Nhưng thật ra cứ mỗi lần đọc trong một bài phê bình văn học ở chỗ này chỗ kia ca ngợi hết lời truyện Kiều là một đỉnh cao của văn học VN, SH lại thấy ngao ngán thầm cho đất nước ta khi tác phẩm được coi là tiêu biểu nhất cho sự giàu có của ngôn ngữ việt lại chuyển tải một câu chuyện chẳng có chút VN nào, và bói cũng không ra một nhân vật nào là người VN trong đó. Nhân vật TQ, địa điểm TQ, bối cảnh lịch sử, tự nhiên


Như SH đã nói tác phẩm tiêu biểu bởi giá trị nghệ thật của nó, chứ kho phải giá trị hiện thực.Nd có thể viết về một nhân vật nào đó tận bên Tàu hay phóng tác từ một câu truyện ba xu, nhưng cái giá trị của tác phẩm, chính là cái mà ông đã thổi vào nó: vẻ đẹp của thi từ, của ca phú trong Truyện Kiều đậm chất Việt, đậm hồn tính Việt.Cái này ai đôc TK chắc cũng biết TK viết bằng thể loại gì , cũng ko cần phải nói nữa

So với họ, tinh thần dân tộc, lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Du nói thẳng ra là chẳng thấy đâu cả.


Hellomy cũng đã từng nói trong triết lý cà rem của mình,văn viết từ tim.Nếu ND cần thể hiện lòng yêu nước ông sẽ viết cái gì đại loại như Bình ngô đại cáo, hay Hịch tướng sĩ, nhưng cũng đã nói TK đã thể hiện cái đẹp của ngôn ngữ VN,việc khiên cưỡng bắt nó phải mang theo ý tưởng yêu nước thương loài để làm gì???

Một tác phẩm văn học lớn, có giá trị phải hướng con người ta đến việc tôn trọng một xã hội có trật tự, kỷ cương, luật pháp, phải đề cao những con người, nếu không phải là những anh hùng chân chính, thì ít nhất cũng phải là những người biết sống vì dân tộc, tổ quốc họ


Xuân tóc đỏ có phải là 1 tác phẩm tốt không??, tác phẩm có 2 loại, loại thứ 1 ca ngợi như SH đã nhận xét, loại thứ 2 vạch trần bộ mặt của xã hội, để người đọc tự biện chứng tự nhận xét, có phải là tốt không

một câu chuyện được chuyển tải bằng một ngôn ngữ văn chương tuyệt vời, nhưng không hề có chút dấu ấn VN nào về mặt nội dung, thông điệp chuyển tải qua tác phẩm thì vô vị, sáo mòn.


and

Nguyễn Du là một nhà ngôn ngữ học, một nhà thơ có tài sáng tạo ngôn ngữ


Kev nghĩ chỉ 2 yếu tố này đã đủ đưa TK lên hàng siêu phẩm, cái mà TK hướng tới thì ko phải là giá trị tác giả muốn chuyển tải mà nó đã thể hiện tính Việt, mà thêm nữa, cái giá trị mà tác giả muốn chuyển tải cũng ko nhỏ bé hời hợt quá đâu, ta có thể bàn thêm về cái này sau [:D]

rất vui dc thảo luận với SH [&:]
I could be a wolf in disguise
I could be an angel in your eyes
Never judge a book by its cover
Đăng nhập để trả lời
0
Gửi các bạn một số bài viết về truyện Kiều của nhà nghiên cứu Trần Khuê.

“GƯƠM ĐÀN” HAY “GƯƠM CUNG”?
(Bài đăng tạp chí Văn học tháng 4-1974).
 
TỪ sau bài viết của Quang Đạm (tạp chí Văn học số 4-1966), vấn đề “gươm đàn” đã làm xôn xao giới nghiên cứu truyện Kiều. Gần 8 năm qua, hầu như mọi người đều tán thành phát kiến của Quang Đạm và trong cuốn truyện Kiều xuất bản gần đây cũng chú thích là: “Đàn: một loại cung, bắn đạn tròn đi rất xa”[1]. Trong các nhà trường phổ thông và đại học, người ta cũng giảng như thế, và tất nhiên học trò cũng yên chí hiểu theo như thế. Rồi Hoài Thanh, một người từ lâu vẫn hiểu đàn là cây dàn thì bây giờ cũng tán thành cách hiểu của Quang Đạm. Trong tạp chí Văn học số 6-1973, Hoài Thanh đã nhận sai lầm một cách rất chi là thành khẩn và khiêm tốn:
“Trong truyện Kiều, nói về Từ Hải, Nguyễn Du có câu:
Giang hồ, quen thú vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo
Theo chú thích thì hai câu này rút từ 2 câu thơ của Hoàng Sào: Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng, Nhất trạo giang sơn tận dịa duy. Tôi không thấy nói đến đàn trong câu thơ của Hoàng Sào mà trong câu thơ Nguyễn Du thì lại nói gươm đàn. Tôi bèn nghĩ có lẽ Nguyễn Du đã thêm cho Từ Hải một cây đàn để nói rõ cái cốt cách đa tình của người hiệp khách và tôi đã viết ra như vậy. Nhưng trên tạp chí Văn học số 4-1966, Quang Đạm đã chứng minh rõ đàn ở đây là một tiếng cổ có nghĩa là cây cung và cung kiếm với gươm đàn là một. Tôi rất ngượng vì chưa hiểu đúng đã gán ép lung tung”[2].
Mấy năm trước đọc bài của Quang Đạm, tôi đã thấy ngờ ngợ; đọc đến chú thích của Thạch Giang, tôi rất ngạc nhiên và khi đọc đến ý kiến của Hoài Thanh thì tôi hoàn toàn kinh ngạc!
Như thế là từ nay trở đi chỉ có thể hiểu đàn là cây cung chứ không thể hiểu khác đi được. Nhưng có thật vậy không: đàn là cung hay vẫn chỉ là đàn thôi?
 
ĐÀN VẪN CỨ LÀ ĐÀN?
 
Quang Đạm nhắc chúng ta nên chú ý 3 mặt: “một là điển tích văn học (cố nhiên người ta có thể sửa đổi chút ít trong lúc dùng điển tích, song đây không phải là trường hợp cần thiết sửa đổi)”. Tôi không rõ Quang Đạm đã căn cứ vào đâu để nói rằng trong trường hợp này không, cần thiết sửa đổi và cho rằng Nguyễn Du đã dùng nguyên vẹn điển tích ấy; như thế có nghĩa là Nguyễn Du chỉ dịch thơ Hoàng Sào. Nhưng nếu dịch thì phải dịch là “kiếm cung nửa gánh...” chứ sao lại thành “gươm đàn nửa gánh...” được. Thực tế sáng tác của Nguyễn Du cho ta thấy, Nguyễn Du không làm công việc dịch truyện Kim Vân Kiều, cũng không hề dịch thơ Thôi Hộ, Lý Bạch, Đỗ Phủ hay Hoàng Sào. Ông luôn luôn bớt đi hoặc thêm vào tùy theo nhu cầu sáng tác của mình. Ông là người thoát điệu, thoát sáo chứ không hề nô lệ điển cố hoặc nguyên tác. Ai cũng thấy trong khi Thanh Tâm tài nhân miêu tả tỉ mỉ cái chuyện “bẩy chữ, tám nghề” nhưng Nguyễn Du chỉ lướt qua mọi chi tiết rườm rà, thiếu thanh nhã dó bằng câu:
“Này con thuộc lấy làm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”
Cũng có trường hợp Nguyễn Du dùng điển mà rồi người đời sau truy tầm không ra nữa, ví như câu:
“Đào tiên đã bén tay phàm
Thì vin cành quýt cho cam sự đời”.
Bản Kiều Oánh Mậu thì cho rằng hai câu trên là lấy ý từ hai câu thơ của Lương Giản Văn đế: “Phan chi chiết phiếu cán, cam chỉ nhược quỳnh tương”. Bản Bùi Kỷ thì lại cho là theo thơ của Tô Thi: “Lão nhân du hí như đồng tử hất chiết mai chi, chiết quất chi”. Thực ra, Nguyễn Du có dịch hoàn toàn một câu thư nào đâu. Tản Đà đã xác nhận chữ “quýt” và chữ “cam” trong câu này là “rất có hứng thú”.
Đáng lẽ theo thể văn thì chỉ có đặt “thời vin cành đào” mới xuôi nghĩa. Đưa ra vài ví dụ mà nhiều người đã biết, tôi muốn chứng minh rằng Nguyễn Du đã sửa điển và tôi hoàn toàn tán thành điều phát hiện rất tinh tế của Hoài Thanh.
Quả là Nguyễn Du đã bớt đi một cái cung và đã thêm vào một cây đàn.
Mặt thứ hai Quang Đạm lưu ý mọi người về nghĩa chữ đàn. Theo Quang Đạm: “Đàn (cũng có âm là “đạn”) và cung đều vốn gốc Hán đã được Việt hóa và vốn căn bản cùng chỉ một loại vũ khí dùng để phóng mũi tên hoặc viên đạn bằng cách bật dây”. Ở phần này, Quang Đạm đã đưa ra một số chứng cứ về từ nguyên và ngữ âm, nhưng cái lầm cơ bản của Quang Đạm trong vấn đề này là đã xét nghĩa từ “đàn” với tư cách là từ Hán. Mà đúng lý ra thì phải coi nó là một từ nôm trong hệ thống từ vựng chữ Nôm. Ta đã biết chữ Nôm đời xưa viết theo 4 lối: một là chữ gì vốn là chữ Hán thì viết ngay chữ Hán như “tài”, “mệnh” thì viết 才, 命; hai là chữ gì âm gần một chữ Hán thì mượn chữ Hán ấy, như mượn chữ 沛 (phái) làm “phải”, mượn chữ 強 (cường) làm “càng”; ba là đặt theo phép hội ý như chữ trên; bốn là đặt chữ theo phép chỉ nghĩa hài thanh, một hên chỉ nghĩa, một bên hài thanh, như tre (cây tre) viết: 燶; trê (cá trê): 輫. Chữ “đàn” 弹 là viết theo lối thứ nhất, nhưng hai chữ “đàn cung” cũng như một số chữ Hán khác, khi vào hệ thống từ vựng chữ Nôm thì nó có thêm nghĩa mới. “Đàn” trong tiếng Hán có nghĩa là gẩy, gõ (đàn cầm: gẩy cây đàn cầm) hoặc chỉ trích (đàn hặc: chỉ trích về tội lỗi của quan lại); nó không hề có nghĩa là một nhạc cụ nhưng khi Việt hóa thì nó lại có nghĩa là một loại nhạc cụ.
Rất tiếc là chúng ta chưa có một từ điển chữ Nôm. Nhưng theo một số cụ già sành Nôm và theo sự hiểu biết riêng của tôi thì trong hệ thống từ vựng Nôm không có một chữ “đàn” nào có nghĩa là cái cung. Trong các tác phẩm nôm người xưa để lại cũng như trong ngôn ngữ hằng ngày cũng chẳng hề có một chữ “đàn” nào có nghĩa ấy.
Trong toàn bộ truyện Kiều, tất cả những từ “đàn” trong các trường hợp sau đây đều có chung một nghĩa:
Khi hương sớm, khi trà trưa
Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn
(câu 1298)
Rằng: “ Hoa nô đủ mọi tài
Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe
(câu 1850)
Nàng đà tán hoán tê mê
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn
(câu 1852)
Dắt nàng thị yến dưới màn
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu
(câu 2568)
Tình xưa lai láng khôn hàn
Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa.
v.v...
và kể cả: “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”, cũng chỉ có chung một nghĩa (cây dàn) và các bản Kiều nôm đều viết chung một mặt chữ 弹. Quang Đạm có ca tụng khiếu thẩm âm tuyệt vời của Nguyễn Du trong việc chuyển âm “đạn” thành “đàn” và có đưa thêm chứng cứ các trường hợp: vạn - vàn, nạn - nàn... Nhưng thực ra, nếu như có sự chuyển âm từ “đạn” sang “đàn” thì đây cũng là những trường hợp hoàn toàn khác nhau. “Nạn” chuyển sang “nàn”, hay “vạn” sang “vàn” tuy có biến âm nhưng không biến nghĩa, còn “đạn” chuyển âm thành “đàn” thì biến cả âm lẫn nghĩa – “đạn” là viên đạn (đối tượng được bắn đi) sao lại có thể chuyển thành “đàn” (đối tượng dùng để bắn)! Tôi e trong khi muốn gò cho “đàn” có nghĩa là một thứ binh khí cùng loại với “cung” để cho hợp với câu thơ Hoàng Sào, Quang Đạm đã lý giải một cách khiên cưỡng và cái lý của Quang Đạm không tránh khỏi có phần chông chênh.
Tóm lại, nếu xét “đàn” trong “gươm đàn nửa gánh” với tư cách một từ Nôm có cái nghĩa thuần Việt thì cả về mặt chữ lẫn mặt nghĩa, nó chỉ có thể có cái nghĩa là một nhạc cụ (cây đàn) chứ tuyệt nhiên không thể có nghĩa nào khác.
Còn giả sử có coi nó là một từ Hán đi chăng nữa, Quang Đạm cũng khó đưa ra được một thứ từ nguyên từ điển nào của Trung Quốc có cái định nghĩa: “đàn là một thứ vũ khí cùng loại với cung dùng để phóng mũi tên hoặc viên đạn bằng cách bật dây”. Và nếu lại chú thích hẳn như Nguyễn Thạch Giang: “đàn: một loại cung bắn dạn tròn đi rất xa”, tôi xin hỏi Nguyễn Thạch Giang đã tìm ở đâu ra cái định nghĩa lạ lùng đến thế. Có điều hiển nhiên là trong tiếng Hán không có từ “đàn” nào có nghĩa là một thứ vũ khí cùng loại với cung (tất nhiên khi nó đọc là “đạn” thì nó có nghĩa khác nhưng đó là chuyện không cần bàn ở đây).
Trên đây là xét về mặt dùng điển và mặt chữ nghĩa. Quang Đạm còn đưa thêm cái lý này nữa: đó là vấn đề hình tượng nghệ thuật. Theo Quang Đạm: “Từ Hải là tri kỷ của Kiều, gần gũi Kiều lâu nhất trước khi Kiều cuốn dây xin chừa. Thế mà trong suốt thời gian lúc Từ mới gặp Kiều cũng như trong suốt 5 năm Kiều về với Từ, Nguyễn Du không hề cho thấy Từ quan tâm đến tiếng đàn kỳ diệu của Kiều bao giờ cả”. Qua sự miêu tả của Nguyễn Du, chúng ta thấy Từ Hải hứng thú với “tiếng loa động đất” với “trống chầu đại doanh” với “thì thòm trống trận, rập rình nhạc quân” v.v... Khi báo hiệu bước suy tàn của Từ Hải, Nguyễn Du cũng không nói đến tiếng đàn, tiếng sáo réo rắt bi ai nào mà chỉ nói đến “tiếng trống canh trễ tràng”. Rồi Quang Đạm khẳng định dứt khoát: “Như vậy, hình tượng con người Từ Hải “râu hùm hàm én” khoác cả thanh gươm và cây đàn âm nhạc đi khắp nơi là không thể có dưới ngòi bút Nguyễn Du”.
Cứ theo cái phép suy luận trên thì:
- đã là tri kỷ của Kiều thì Từ phải quan tâm đến tiếng đàn kỳ diệu của nàng.
- đã miêu tả Từ khoác theo cây đàn âm nhạc thì dứt khoát tác giả cũng phải cho nhân vật của mình hứng thú với tiếng đàn, tiếng sáo.
- nếu không quan tâm đến tiếng đàn kỳ diệu của người mình yêu, không hứng thú với tiếng đàn, tiếng sáo thì cái mà anh khoác trên vai phải là cái gì đây - cây đàn vũ khí chẳng hạn - chứ không thể là cây đàn âm nhạc được.
Kể lập luận như thế mới xem qua thật hết sức chặt chẽ và khó mà bác bẻ được. Nhưng tôi lại xin mạn phép hỏi:
- Một là, có phải đã khoác đàn và đã là tri kỷ của nhau thì nhất thiết cứ phải quan tâm đến tiếng đàn của nhau không? (vấn đề này tôi xin bàn kỹ ở bài sau).
- Hai là, có phải đã khoác đàn thì nhất thiết cứ phải hứng thú với “tiếng đàn, tiếng sáo”? Nếu Nguyễn Du miêu tả Từ hứng thú cả với “tiếng đàn, tiếng sáo” thì cái lý của Quang Đạm còn đứng vững không?
Đọc lại truyện Kiều, tôi thấy Nguyễn Du không phải chỉ cho nhân vật Từ Hải của mình “hứng thú” với “tiếng loa, tiếng trống” mà với cả tiếng “trúc”, tiếng “tơ” nữa. Khi Từ trở về đón Kiều, Từ đã tổ chức lễ đón theo một nghi thức khá long trọng:
Dựng cờ nổi trống lên đường,
Trúc tơ nối trước, kiệu vàng theo sau.
Rõ ràng cái ông tướng này cũng chẳng võ biền đến nỗi chỉ biết hứng thú với “cung kiếm” hoặc “loa trống” - ông ta cũng có tâm hồn lắm đấy chứ. Đúng là ta không nghe thấy trong thơ một tiếng đàn, tiếng sáo réo rắt, bi ai nào, nhưng tiếng sáo (trúc), tiếng đàn (tơ) rộn rã, tưng bừng thì quả là có đấy.
Đáng lẽ cũng chẳng cần phải chẻ sợi tóc làm tư làm tám như thế nhưng do Quạng Đạm cứ xét chữ nghĩa một cách quá cụ thể. Có nên hiểu “gươm đàn” một cách cụ thể như thế không? Có lẽ hiểu văn thơ mà cứ hiểu thuần theo nghĩa đen, dừng lại ở nghĩa đen thì không tránh khỏi nhiều khó khăn - nhất là đối với văn thơ cổ, người xưa thường dùng nhiều điển cố và miêu tả theo kiểu ước lệ. Đọc một số thơ xưa, tôi cũng đã gặp một số bài có nói đến “gươm đàn”. Ngay trong “Thượng kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông cũng đã có tới hai bài nói đến “gươm đàn”:
Tạm khước ô cân, lý thảo hài
Mang huề cầm kiếm, cố sơn lai.
(Tạm cởi khăn thâm, xỏ chân vào dép mo
Vội cầm gươm đàn về nơi núi cũ)
(Tr. 99)
Bái biệt long lâu cửu lục hàm
Mang hề cầm kiếm xuất đô quan
(Tr. 140)
(Lên đường từ giã long lâu
Gươm đàn nửa gánh, ra mau đô thành)
(Phan Võ dịch)
Nếu không hiểu đây là lối nói ước lệ rồi thấy trong tác phẩm Hải Thượng Lãn Ông chỉ nói đến chuyện thuốc men, thơ ca, đàn địch mà không hề có chuyện múa gươm, đấu kiếm ắt hẳn lại không tránh khỏi cái kết luận: gươm hoặc kiếm ở đây chỉ là một loại nhạc cụ nào đó chứ không thể là một loại vũ khí được.
Tóm lại, bàn về 3 mặt mà Quang Đạm đã nêu ra, tôi đã đưa những chứng cứ để có thể kết luận hoàn toàn ngược lại:
- Một là, về mặt điển tích văn học, Quang Đạm cho rằng Nguyễn Du không sửa đổi thơ Hoàng Sào, tôi cho rằng Nguyễn Du có sửa đổi, tôi hoàn toàn tán thành điểm phát hiện khá tinh tế của Hoài Thanh: Nguyễn Du đã thêm cho Từ Hải một cây đàn.
- Hai là, về nghĩa chữ “đàn” thì trong từ vựng Nôm cũng như từ vựng Hán chẳng có từ “đàn” nào nghĩa là một thứ vũ khí cùng loại với “cây cung”. “Đàn” trong “gươm đàn” dứt khoát là cây đàn âm nhạc.
- Ba là về mặt hình tượng nghệ thuật: Nguyễn Du không chỉ gắn Từ Hải với tiếng loa, tiếng trống mà còn gắn Từ với cả tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng nhạc quân.
Như thế có nghĩa là: Hình tượng con người Từ Hải “râu hùm hàm én” khoác cả thanh gươm và cây đàn âm nhạc đi khắp nơi là có thể có dưới ngòi hút Nguyễn Du. Hoàn toàn có thể vì sự thật nó đã có rành rành dưới ngòi bút Nguyễn Du.
Kể ra chỉ bàn về có một chữ nghĩa như “gươm đàn” mà phải viết dài dòng như trên thì thật là điều không nên. Nhưng sở dĩ tôi phải bàn cặn kẽ như thế là vì đây không phải chỉ là vấn dề chữ nghĩa. Vì ý kiến của những người có uy tín lớn như anh Quang Đạm, anh Thạch Giang hay các nhà Hán học lão thành thường không phải chỉ có dăm ba người tin theo. Nó ảnh hưởng đến hàng ngàn, hàng vạn thầy giáo và hàng triệu học sinh từ nhà trường phổ thông đến đại học. Rồi cũng từ một chữ, một nghĩa mà người ta có thể hiểu rất khác đi một hình tượng nhân vật, một tác phẩm, một tác giả. Tôi chắc rằng, trong bài viết của mình, anh Quang Đạm chỉ định bàn về từ ngữ mà thôi. Nhưng rồi muốn hay không, nó vẫn lan sang lĩnh vực văn học. Trong khi bàn với anh Quang Đạm về vấn đề chữ nghĩa, tôi lại thấy nảy ra một vấn dề khá lý thú xung quanh tính cách của Từ Hải và Thúy Kiều: Tại sao Từ Hải không yêu cầu Kiều đánh đàn và tại sao Kiều không hề đánh đàn cho người tri kỷ của mình nghe một lần nào? Tôi xin trở lại vấn dề này trong một dịp khác.
Nam Định, 10-8-1966 - 23-3-1974


[1] Truyện Kiều - Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội.
[2] “Một đôi điều tâm sự trên câu chuyện bình thơ” - Hoài Thanh, tạp chí Văn học số 6-1973, tr. 33. dòng 16.
Đăng nhập để trả lời
0
“GƯƠM ĐÀN” KHÔNG BAO GIỜ CÓ NGHĨA LÀ “GƯƠM CUNG”!
(Bài gửi tạp chí Văn học tháng 12-1974).
 
CUỘC trao đổi về từ “gươm đàn” trong thời gian qua khá sôi nổi và mang lại không ít điều bổ ích có ý nghĩa phương pháp luận. Đọc kỹ các bài viết của hai ông Quang Đạm và Đỗ Văn Hỷ, tôi thấy cần góp thêm một số ý kiến để bạn đọc của Tạp chí tham khảo:
 
I. Không hề có từ “đàn” nào có nghĩa là cung:
1. Trong từ vựng Hán cổ cũng như Hán kim, không hề có từ nào đọc là “đàn” lại có nghĩa là cung. Còn từ 弹弓 mà ông Đỗ Văn Hỷ đọc là “đàn cung” thực ra phải đọc là “đạn cung” mới đúng. Những ai đã thạo tra các từ điển Trung Quốc như Từ Nguyên, Từ Hải, Hán ngữ từ điển đều thấy rõ như thế. Về cách tra từ điển thì hai ông Ba Khê và Hồng Kiều đã có những ý kiến xây dựng rất bổ ích; đối với ông Đỗ Văn Hỷ, tôi xin miễn nhắc lại. Chỉ xin lưu ý ông Đỗ Văn Hỷ về cái định nghĩa mà ông đã trích dẫn trong Từ Hải. Khi ông dịch: “Đàn cung = chiếc cung bắn bằng viên đạn”, tiếc rằng ông quên không trích dẫn nguyên văn phần phiên âm. Trong nguyên văn có một ý rất quan trọng: 弹弓: 射弹之弓, phải phiên âm là: “Đạn cung = xạ đạn chi cung...”. Còn nếu đọc âm như ông Hỷ cũng phải đọc là: “đàn cung = xạ đàn chi cung...” mới nhất quán.
Nhưng hãy giả thiết rằng cách đọc của ông Đỗ Văn Hỷ tạm coi là đúng đi chăng nữa thì liệu “đàn cung” có đọc tắt là “đàn” được không? Không được! Vì trong từ ghép này gồm hai thành tố: “cung” là thành tố chính, còn “đàn” chỉ là thành tố phụ dùng hạn định nghĩa cho “cung”. Trong các tổ hợp ghép theo kiểu chính phụ như trường hợp này thì thành tố phụ không đủ khả năng hiểu đạt nghĩa cho cả tổ hợp đó. Cũng như trong các từ “thiết lộ” (=đường sắt), “tiền môn” (=cửa trước), các thành tố “thiết”, “tiền” không thể thay thế cho cả “thiết lộ”, “tiền môn”. Tất nhiên, “đàn” cũng không thể thay cho “đàn cung”. Cho nên, dù “đạn cung” có bị phát âm nhầm thành “đàn cung” thì cũng không vì thế mà cho “đàn” có cái nghĩa là “cung” được.
Còn muốn tìm đúng từ “đàn cung” thì xin mời ông Đỗ Văn Hỷ bớt chút thời giờ mở Từ Nguyên. Từ Nguyên có ghi rõ:
彈弓: 治綿具也
“đàn cung = trì miên cụ dã...” (đàn cung = dụng cụ bật bông...). Mặt chữ thì giống nhau nhưng khi đọc là “đạn” thì nó thuộc loại danh từ và có nghĩa là viên đạn; khi đọc là “đàn” thì nó thuộc loại động từ với nghĩa bật, gõ, gẩy v.v...
Xưa kia, “đạn” (彈) cũng đã từng có nghĩa là cây cung bắn đạn nhưng nghĩa đó dã mất di từ lâu rồi, vì thế mới có từ ghép “đạn cung” (弹弓) thay thế. Chỉ cần suy luận một chút cũng thấy rằng nếu “đạn” vẫn còn nghĩa là “cung” thì hà tất phải có thêm từ ghép “đạn cung” làm chi cho thừa. Cũng như trong từ vựng Hán không cần từ ghép “tiễn cung” (= cung bắn tên) bởi vì chỉ cần từ “cung” đã hàm nghĩa là cung bắn tên rồi. Cho nên sở dĩ có từ ghép “đạn cung” là do người ta muốn dùng thành tố “đạn” thêm vào để khu biệt. (Cần nhớ rằng thành tố “đạn” nay chỉ còn nghĩa là viên đạn chứ không có nghĩa nào khác nữa).
2. Nhưng sau khi cái luận điểm từ “đàn cung” được giản hóa thành “đàn” của ông Đỗ Văn Hỷ đã bị hai ông Ba Khê và Hồng Kiều bác bỏ thì ông Hỷ lại tìm được một chỗ dựa mới. Đó là định nghĩa trong cuốn từ điển Việt-Hán của Jean Bonet. Nghĩa là, nếu “đàn” không thể là từ Hán cổ thì ông phải chuyển nó thành từ Nôm cổ. Quả thật, trong cuốn từ điển xuất bản năm 1887, J. Bonet có ghi một cái định nghĩa như sau:
“Đàn = catapulte ou arc pour lancer des pierres” .
Ông Hỷ đã trích phần đó và dịch là: “đàn - chiếc máy hay cây cung hắn đá”. Phải công bằng mà nhận xét rằng tra từ điển lần này, ông Đỗ Văn Hỷ có ưu điểm là đọc âm chính xác và khi trích dẫn ông đã nghiêm chỉnh theo đúng thủ tục, trích dẫn có cả phần nguyên văn, nhưng đáng tiếc ông lại rơi vào mấy thiếu sót mới: một là, ông đã, không rõ vô tình hay cố ý, không trích trọn vẹn định nghĩa mà xén bớt một phần; hai là, chính điều này mới quan trọng, ông quá tin vào sách của J. Bonet. Tôi xin dẫn lại toàn bộ cái định nghĩa của J. Bonet và đánh bạo kiểm tra lại độ chuẩn xác của nó:
“Đàn 弹 = Catapulte ou arc pour lancer des pierres; instrument de musique à cordes”.
Tạm dịch là: “đàn = cái máy bắn đá hay cái cung để bắn dá; nhạc cụ có dây”.
Sở dĩ tôi phải trích dẫn toàn bộ định nghĩa là do bản thân cái phần nghĩa này xác nhận rằng từ “đàn” mà J. Bonet đưa vào từ điển của mình không phải là một từ Hán, mà là một từ Nôm hẳn hoi, vì nếu là từ Hán thì dù nó là một từ Hán kim hay từ Hán cổ, nó cũng không có cái nghĩa “nhạc cụ có dây”. Nghĩa thứ hai này chắc chắn là đúng rồi, nhưng còn nghĩa thứ nhất? Không hiểu J. Bonet đã dựa vào đâu để gán cho từ “đàn” có cái nghĩa lạ đến thế?
a. dựa vào thực tế chăng? Nhưng thực tế lịch sử cho biết, từ xưa đến nay nhân dân ta không dùng cái gọi là “cung bắn đá”. Ngay từ thời An Dương Vương cách ta hàng mấy nghìn năm, nhân dân ta đã biết dùng cung nỏ bắn các mũi tên đồng rồi. Đây không phải chỉ là truyện thần thoại mà thực tế, ta đã khai quật được hàng vạn mũi tên đồng trong khu Loa thành xưa. “Máy bắn đá” càng không thấy nói đến trong sử sách. Ta không có thứ vũ khí nào tương tự như cái vật mà người pháp gọi là “catapulte” (loại chiến cụ dùng thừng vặn xoắn để hất đi những tảng đá tròn to gần gấp hai đầu người lớn, pháo thủ phải dùng cả hai tay mới bê nổi để nạp vào máy. (xem hình vẽ ở cuốn “Nouveau petit Larousse”).
b. dựa vào sách vở và ngôn ngữ chăng? Có ý kiến cho rằng “đàn” là một từ Nôm cổ có nghĩa là “Máy hoặc cung bắn đá”. Nhưng nếu thế thì nó phải được dùng trong các tác phẩm Nôm hay chí ít nó cũng phải được dùng trong văn học truyền miệng. Theo sự khảo sát chưa đầy dủ của tôi trên các tác phẩm Nôm hiện còn truyền lại đến nay, như Quốc âm thi tập, Thiên nam ngữ lục v.v... thì hầu như từ “đàn” với nghĩa đó không hề xuất hiện, dù chỉ một lần. (Nếu hai ông Quang Đạm và Đỗ Văn Hỷ hoặc bạn nào tìm thấy xin chỉ bảo giùm). Trong các tác phẩm văn chương truyền miệng cũng không thấy dấu vết của từ này. Còn câu ca dao mà ông Đỗ Văn Hỷ dã dẫn ra làm bằng chứng, thật hết sức đáng ngờ về cách hiểu của ông; ông viết: “không riêng gì trong tác phẩm thành văn, nếu đọc theo âm hưởng “đạn” thành “đàn” và hiểu đó là cây cung hay viên đạn, lấy bộ phận để chỉ toàn thể, thì hình ảnh “gươm đàn” đã được nhắc tới trong văn học dân gian.
“Đàn đâu mà gẩy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi”.
Nếu tôi không nhầm, có lẽ ông Đỗ Văn Hỷ là người đầu tiên táo gan tự động thay đổi cách phát âm và biến đổi nghĩa của từ “đạn” trong câu ca dao này. Ông cũng khởi xướng một lối hiểu nước đôi rất kỳ quặc: đọc “đạn” thành “đàn” đã là quá lắm rồi lại còn phải “hiểu nó là cây cung hay viên đạn” nữa thì thật không thể tưởng tượng nổi!
Tại sao từ “đạn” này lại có hai cách đọc và lại có tới hai nghĩa khác xa nhau đến thế? Trong khi từ xưa đến nay mọi người vẫn đọc nó là “đạn” và hiểu nghĩa nó là “viên đạn”. Lại còn chuyện “lấy bộ phận để chỉ toàn thể”? Cái gì là bộ phận? Cái gì là toàn thể? Chẳng lẽ “viên đạn” lại là bộ phận của cây cung và có khả năng thay nghĩa cho “toàn thể” cây cung hay sao? Cứ tư duy và lập luận theo kiểu này thì không khỏi khi nói “tên” cũng phải hiểu ngay là “cung” mà nói “tên lửa” hay rocket thì lập lức phải hiểu ngay là “máy bay” mất thôi (chả là xưa thì có cung bắn tên mà nay thì máy bay phóng tên lửa mà). Cứ theo nghĩa thông thường thì câu ca dao này vốn có ý khuyên người ta đừng đem đàn đến gẩy vào tai trâu, đừng dùng đạn để bắn sẻ, đừng dùng gươm để chém ruồi; nghĩa là bảo ta không nên dùng những phương tiện không thích hợp với đối tượng để tránh lãng phí, vô ích. Đại khái cũng cùng một ý như câu: “giết gà há phải dùng đến dao mổ trâu”. Nếu định dùng “đạn” với nghĩa là cung thì khó gì mà người ta không nói luôn “cung đâu bắn sẻ ...” hoặc “giàng đâu bắn sẻ...” để đỡ được cái chuyện đánh đố bí hiểm. Vả lại, nếu xét kỹ thì việc dùng cung để bắn sẻ, săn chim thì có gì là không thích hợp mà ca dao phải lên tiếng khuyên nhủ. Chính do người xưa dùng cung bắn chim rất phổ biến nên mới có câu: “chim phải tên sợ làn cây cong”, hoặc nói “kinh cung chi điểu”. Dứt khoát không thể đọc âm tùy tiện và hiểu nghĩa từ tùy tiện như vậy. Vì một lẽ đơn giản, nếu tiếp nhận phương pháp đó thì tránh sao có người không đọc “đàn đâu mà gẩy tai trâu” thành “đạn đâu mà gẩy...” rồi bỗng nhiên “nhạc cụ” lại biến hóa thành “vũ khí” và “gẩy” có lẽ lại phải hiểu là “bắn” mới trôi nghĩa.
Không có cơ sở trong thực tế cũng như trên sách vở, ngôn ngữ... Vậy J. Bonet đã căn cứ vào đâu mà kiếm ra cái từ “đàn” với nghĩa lạ lùng như thế?
Cũng cần lưu ý điều này: hầu như tất cả các từ điển Việt Nam, Việt-Pháp, Việt-Latinh, Việt-Nga v.v... từ xưa đến nay không ghi nhận từ “đàn” với nghĩa đó, ngay các từ điển cổ và khá cổ của J.L. Taberd, F.M. Génibrel, Gustave Hue, Paulus Huỳnh Tịnh Của, nhóm Khai trí tiến đức... cũng không có từ đó với nghĩa đó. Mà Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) và từ điển Việt-Pháp của Génibrel (1898) gần như cùng xuất bản trong một thời kỳ có khoảng cách không xa nhau lắm. Đặc biệt, cuốn từ điển Việt-Latinh (Dictionarium anamitico-latinum) của Taberd xuất bản khá sớm: 1838, nghĩa là ra đời trước từ điển của Bonet tới 59 năm - Taberd chỉ ghi nhận từ “đàn” như sau:
“Đàn = turana, instrumentum musicum”
(Đàn = đám đông, nhạc cụ)
Chẳng lẽ tất cả các nhà soạn từ điển khác đều bỏ sót mà chỉ riêng Bonet ghi nghĩa đúng và đầy đủ cho từ “đàn”? Vô lý! Chính Bonet mới là người còn bỏ sót từ, như Bonet đã từng bỏ sót từ “giữ giàng”, một từ Nôm cổ; do đó đã từng gây ra sự nhầm lẫn[1]. Và định nghĩa của Bonet cũng có phần thiếu chuẩn xác. Người sành về từ vựng học (lexicologie) chắc sẽ không đem gộp các khái niệm theo kiểu: “catapulte ou arc pour lancer des pierres” (từ nối “ou” đặt ở đây khiến cho khái niệm thiếu chặt chẽ và ảnh hưởng không nhỏ tới độ chuẩn xác của định nghĩa). Tôi ngờ rằng trong khi tiến hành soạn cuốn từ điển này, J. Bonet đã dựa vào một cụ đồ nho “lão thành” nào đó nên mới xảy ra chuyện đem nghĩa của từ “đạn” (Hán cổ) đọc thành “đàn” rồi ghép chung nghĩa với từ “đàn” (từ Nôm), do dó đã tạo ra một sự lộn xộn về âm và nghĩa. Tất nhiên sự nhầm lẫn của J. Bonet cũng như phương pháp đọc và hiểu hai câu ca đao một cách quá độc đáo, như đã nói trên, không giúp ích gì cho ông Đỗ Văn Hỷ trong việc tiếp cận chân lý.
 
II. “Đạn cung” có phải là vũ khí không?
Ông Đỗ Văn Hỷ đã có nhã ý bỏ nhiều công phu để chứng minh rằng có “cây cung bắn đạn tròn” và cũng như ông Quang Đạm, ông Hỷ xếp nó vào phạm trù vũ khí. Tôi cho rằng không nên, vì thấy tên nó đọc là “đạn cung” hay “đàn cung” mà đã vội coi nó là cùng loại với “cung”. Vì cũng gọi tên là “cung” đấy, nhưng cũng có ba bảy loại cung. Mở tạm “Tân Hoa từ điển” đã có thể gặp nhiều thứ cung có kèm hình vẽ hẳn hoi: hồ cầm cung, đàn miên cung, lượng địa cung, đạn cung...
- Hồ cầm cung = vật có hình dạng giống như cung, dùng kéo đàn hồ cầm (cái mã vĩ).
- Đàn miên cung = vật có hình dạng giống như cung, dùng để bạt bông (cái cung bông).
- Lượng địa cung = vật có hình dạng giống như cung, dùng để đo đất (thước chữ A).
Và “đạn cung” chẳng qua cũng chỉ là vật có hình dạng giống như cung dùng để bắn đạn - gọi là “cung”, đó là phương thức cấu tạo từ nhằm tiết kiệm âm, chứ không nên hiểu “hồ cầm cung” hoặc “lượng địa cung” là “cung”, cũng không nên hiểu “đạn cung” là “cung” vì cung là dụng cụ bắn tên được dùng làm vũ khí chiến đấu, còn “đạn cung” không thuộc phạm trù vũ khí, không ai dùng “đạn cung” làm vũ khí ra trận (cũng như tuy gọi tên là “súng cao su” nhưng đâu có phải là súng, là vũ khí). Trong đời có nhiều vật tuy cùng tên nhưng không hề cùng loại. “Cây cờ” không thuộc loài thực vật, “cá voi” không phải thuộc loài cá (vì cá voi thở bằng phổi và đẻ con).
Chắc hẳn tác giả truyện Kiều không hề có ý trang bị cho Từ Hải một thứ vũ khí kiểu đó để biến nhân vật của mình thành một thứ hề gậy, làm trò cười cho thiên hạ...
 
III. Nguồn gốc của cây cung?
Ông Đỗ Văn Hỷ tin theo lời Trần Âm nói với Việt Vương: “Cây nỏ bắt nguồn từ cây cung, cây cung bắt nguồn từ cây đàn...”. Nhưng có lẽ không phải như thế! Ở Trung Quốc có sách Vật Nguyên Thiên của Lã Lâm chuyên khảo về nguồn gốc các vật đã ghi rõ: “Hồ Tào chế ra áo,Hậu Nghệ chế ra cung, Chúc Oang mở chợ v.v...”. 'Sách Thế Bản chép: “Ông Huy chế ra cung, Di Mâu chế ra tên”. Lại chú thích: “Hai ông đều là bầy tôi của vua Hoàng đế”[2]. Một sách nói người chế tạo cung đầu tiên là một nhân vật thần thoại (Hậu Nghệ). Một sách nói đến nhân vật có thật trong lịch sử. Tuy có sự khác nhau nhưng cả hai đều xác nhận một ý: từ thời thượng cổ, nguyên thủy, người ta dã chế tạo ra cung tên ngay chứ không phải cung bắt nguồn từ cái vật mà ông Hỷ gọi là “đàn”.
Còn ở nước ta thì ngay từ thời An Dương Vương, người ta đã dùng cung nỏ bắn bằng mũi tên đồng. Như vậy chứng tỏ, cũng như nhân dân Trung Quốc, nhân dân ta đã biết chế tạo và sử dụng cung tên rất sớm làm vũ khí. Sử sách nước ta từ xưa ra đến nay cũng chưa hề nói đến có thứ vũ khí nào tên gọi là “đàn” cả. Nhưng mà “cung” thì rõ ràng là có, chỉ có điều là nó có một cái tên rất nôm, rất Việt Nam: “giàng” (杠).
Từ này thì hầu hết các từ điển ở thế kỷ trước kể cả từ điển Việt-Pháp của Jean Bonet đều ghi nhận với nghĩa là “cung”. Lại có từ rất hay là từ “trường giàng” (= trường dùng làm nơi luyện tập bắn cung). Đây là từ thuần Việt vì nếu là từ Hán thì phải là “cung trường”. Nếu là từ Việt-Hán thì phải là “trường cung”. Chỉ có “trường giàng” chứ không hề có từ “trường đạn” hoặc “trường đàn”. Thêm một bằng chứng nữa để chứng minh ràng không phải chỉ từ vựng Hán mới không có từ “đàn” là cung, mà từ vựng Nôm cũng chưa từng có từ “đàn” với nghĩa đó.
Nếu quả là tác giả truyện Kiều muốn dịch từ “cung kiếm” mà không muốn dịch thành “gươm cung” thật khó gì mà ông không dịch luôn thành “gươm giàng”. Dùng “gươm đàn” (với nghĩa là gươm cung) đã vừa sai âm, vừa nhầm nghĩa; lại còn khoác cho nhân vật của mình một thứ vật không hợp với tính cách.
Thiết tưởng cũng chớ quên hiện tượng này: trong từ vựng Hán cổ cũng như kim - chỉ có các từ: cầm sắt, cầm kỳ, cầm thư, cầm kiếm... Chứ không hề có các từ: cầm đạn, kiếm đạn hoặc cầm đàn, kiếm đàn; còn trong từ vựng Nôm từ xưa đến, nay tuyệt nhiên không có các từ: gươm đạn hoặc gươm đàn (với nghĩa là gươm cung).
Đàn trong câu thơ Kiều “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” không hề có cách đọc nào khác, cũng không hề có nghĩa “đàn” nào khác ngoài cái nghĩa là cây đàn (nhạc cụ). Dĩ nhiên, không nên hiểu quá cụ thể và giản đơn đến mức cho rằng Từ Hải cứ phải khư khư trên vai “nửa gánh đựng thanh gươm và cây đàn” rồi sinh ra thắc mắc: nào là lại sao Nguyễn Du đã tả như thế mà có lúc Từ Hải lại không mang theo đàn? Vậy Từ để đàn vào đâu? Hoặc đã không gảy nhưng cũng chẳng chịu bảo Kiều gảy cho vài bài mà nghe? v.v... Hình như có sự quên mất rằng Từ Hải đã mang theo một “cây đàn lớn” trong tâm hồn mình mà mỗi âm thanh ngân lên đều hòa điệu và làm rung động mọi dây tơ lòng của quần chúng trong xã hội phong kiến.
 
IV. Vài điều cần lưu ý khi tham gia tranh luận:
Cũng như những cuộc tranh luận khác, cuộc tranh luận này có nhiều điều bổ ích mang ý nghĩa phương pháp luận. Nhưng đáng tiếc có một số người không nghiêm chỉnh tuân theo các thủ tục cần thiết, do đó có khi đưa ra những dẫn chứng mơ hồ, thiếu căn cứ, thí dụ như ông Nguyễn Văn Hoàn viết rằng có bản Kiều nôm chú thích: “đàn là cây cung”[3], nhưng ông lại không chịu nêu rõ bản kiều nôm nào, do ai chú thích - ông Đỗ Văn Hỷ thường trích dẫn nhiều sách cổ nhưng hay quên giới thiệu nguyên văn khiến cho bạn đọc khó kiểm tra phần dịch nghĩa của ông. Lại có trường hợp ông bảo bản Kiều của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, cũng như bản của Tản Đà đều chú thích “đàn là cung”, nhưng khi tra cứu lại, tôi thấy bản “Truyện Thúy Kiều” của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim không chú thích như thế, còn trong bản “Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện” thì Tản Đà không hề chú thích một chữ nào cho từ “gươm đàn”. Ông Quang Đạm nêu “các nhà Hán học lão thành đều hiểu đàn là cung” nhưng đáng tiếc ông không nêu tên cụ thể một người nào. Kiểm tra lại, tôi thấy có những nhà Hán học lão thành đã quá cố như Bùi Kỷ, Lê Thước, Tản Đà v.v... cũng như các vị còn đang rất minh mẫn sáng suốt như Đào Duy Anh, Cao Huy Du, Ba Khê, Cao Xuân Huy v.v... không thấy cụ nào có ý kiến cho “đàn là cung” cả. Vậy thì không rõ ông Quang Đạm có ý đưa vào tên tuổi và uy tín của các nhà Hán học lão thành nào? Và các vị ấy đã nêu kiến giải của mình về vấn đề này lúc nào? Ở đâu? Ông lại còn có ý kiến cho rằng nhiều người trong các thế hệ ngày nay không đủ khả năng “nắm vững ý nghĩa của danh từ đàn”. Tôi nghĩ rằng kính trọng và kế thừa sự hiểu biết uyên bác của các nhà Hán học lão thành là cần thiết nhưng kiểm nghiệm lại mọi tri thức trước khi tiếp nhận cũng là điều cần thiết không kém. Tôi học tập được nhiều điều có ích qua cuộc tranh luận vì “tranh luận là mẹ đẻ ra chân lý”. Tuy nhiên, chân lý có tính độc lập, khách quan của nó. Chân lý không phụ thuộc vào tuổi tác, học hàm, học vị, uy tín cá nhân hoặc các thứ linh tinh khác. Phải dựa vào chân lý, đem chân lý phục vụ đời sống để tạo ra uy tín chứ không thể dựa vào uy tín để bóp méo chân lý. Tôi chợt nhớ đến một câu nói của Léonard de Vinci: “Kẻ nào chỉ dựa vào uy tín thì kẻ đó đã không vận dụng trí tuệ mà chỉ vận dụng trí nhớ”.
Nam Định, tháng 11-l974.


[1] Xem “Về vài chữ nghĩa truyện Kiều” của Trần Khuê, Tạp chí ngôn ngữ số 3-1975.
[2] Trích Lê Quý Đôn - Vân Đài loại ngữ, quyển 11, tr. 141- 142
[3] Xem: Nguyễn Văn Hoàn - Lần đọc từ điển truyện Kiều của Đào Duy Anh, - Văn Nghệ tháng 6-1976.
Đăng nhập để trả lời
0
TRAO ĐỔI VỚI ÔNG HOÀNG TUỆ VỀ “NGỮ PHÁP TRUYỆN KIỀU”
(Bài đăng tạp chí Ngôn ngữ tháng 5-1975).
 
TỪ trước tới nay, đối với nhiều câu thơ trong truyện Kiều vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau về mặt chữ nghĩa cũng như cấu trúc; do đó có những cách chú thích, cách giảng, cách dịch không giống nhau. Viết bài này, tôi mong góp thêm một số ý kiến để các bạn tham khảo.
 
1. Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Về câu thơ này, có bản tìm xuất xứ ở kinh Thi “bách tuế chi hậu, quy vu kỳ thất (Sau khoảng một trăm năm thì về nhà mình, tức là ai cũng chết ) (bản Lê Văn Hòe - Hà Nội 1953); bản thì trích đẫn sách của Trang tử “Bách niên cảnh, nhi ngã do vi nhân” (Trong cõi một trăm năm mà ta vẫn là người) (bản nôm Kiều Oánh Mậu, bản Bùi Kỷ...). Còn các bản dịch ra Pháp văn cũng có hai cách hiểu “trăm năm” là “khoảng thời gian một đời người” thì thường dịch thành “cent ans” hoặc “cént années” (Nguyễn Văn Vĩnh, M.R., Nguyễn Khắc Viện...); riêng Albert de Michael hiểu “trăm năm” là “xưa nay” nên dịch khác hẳn: “De tout temps, parmi les hommes...” (Ed. Leroux - Paris - 1884).
Trong bài “Ngữ pháp truyện Kiều”[1], Hoàng Tuệ tán thành cách hiểu và cách dịch của Albert de Michael. Ông cho rằng không nên hiểu “trăm năm” là “100 năm” theo điển cố mà nên hiểu là “xưa nay” ngoài điển cố. Theo ông: “Trong truyện Kiều, trong ca dao, tục ngữ, “trăm” vẫn thưởng dùng với nghĩa hoán dụ, hoặc dùng một mình “trăm” như “Một mình cay đắng trăm đường” (Kiều), “Trăm sông đổ về biển” (tục ngữ); hoặc dùng đối với “nghìn”, với “vạn” như “Trăm năm bia đá thì mòn, Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” (ca dao), “trăm kẻ bán, vạn người mua” (tục ngữ) [...]. Có một chữ “trăm” chỉ số lượng chính xác (90 + 1), mà còn có một chữ “trăm” khác chỉ khối lượng vô chừng[2]. Ông cũng căn cứ vào nghĩa của chữ “cõi” để khẳng định cái nghĩa “xưa nay” của “trăm năm”. Ông đã tra cứu các từ điển cũ cũng như mới và các tác phẩm cổ thì thấy rằng “cõi” không có nghĩa về thời gian mà chỉ có nghĩa về không gian. Ông phê phán cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Văn Tân chủ Biên đã chú thích sai nghĩa chữ “cõi” và “cõi thọ”. Theo ông, “cõi thọ” không phải là “khoảng thời gian một đời người” mà có nghĩa là “cõi chết, cõi tiên, cõi vô biên của người không còn ở cõi sống...”. Ông cũng khẳng định thêm: “Vì lý do về nghĩa của chữ “cõi” mà lập luận đảo ngữ không ứng vào đây được. Không thể có “cõi trăm năm” với nghĩa là “khoảng thời gian của đời con người”! Chỉ có thể có “cõi trăm năm” với nghĩa là cõi chết, cõi thọ (theo nghĩa thành ngữ của “trăm năm” hay trăm tuổi) mà như thế thì nghĩa của câu thơ lại hoàn toàn khác hẳn đi, hóa thành vô nghĩa[3]. Ông đặt ra một vấn dề khá thú vị: “tiếng Việt không hiện hình như trong tiếng Pháp (cent/centaine) hay tiếng Anh (hundred/hundreds) cho nên nó dòi hỏi ở ta một thứ cảm quan ngôn ngữ tinh tế, nhưng sự tinh tế ấy đừng tưởng là có thể tùy tiện theo chủ quan mà phải có chỗ đưa khách quan là hệ thống”[4].
Vậy cách hiểu nào là đúng? “Trăm năm” là “khoảng thời gian một đời người” hay là “xưa nay”? “Cõi” có chỉ phạm vi thời gian không? Và “cõi thọ” là cõi sống hay cõi chết?
Hoàng Tuệ có lý khi cho rằng muốn hiểu tiếng Việt phải có “cảm quan ngôn ngữ tinh tế” và sự tinh tế ấy phải có chỗ dựa khách quan là hệ thống. Ở đây tôi dựa vào một “hệ thống” hơi khác với “hệ thống” của Hoàng Tuệ để tìm hiểu ý nghĩa của mấy chữ trên.
Trước hết, xin phép điểm lại ngay cái “hệ thống” Truyện Kiều xem Nguyễn Du đã dùng cụm từ “trăm năm” bao nhiêu lần và dùng theo nghĩa nào? Trong 9 lần tác giả Truyện Kiều dùng “trăm năm” (câu 182, 355, 452, 510, 556, 880, 1331, 1964, 3186) đều dùng với nghĩa “khoảng thời gian chỉ một đời người”. Thứ nữa, xét đến “hệ thống” các tác phẩm văn học từ xưa đến nay, tôi cũng thấy các tác giả cũng chỉ dùng “trăm năm” với cùng một nghĩa tương tự.
Thí dụ:
1. Trăm năm là kiếp ở đời
Vòng trần này đã mấy người trăm năm.
(Nguyễn Huy Hổ)
2. Lòng hiếu dưỡng trăm năm đã lỡ
Lời di danh hai chữ còn mang.
(Cao Bá Nhạ)
3. Chẳng trăm năm cũng một ngày tri kỷ
(Nguyễn Công Trứ)
4. Truyện trăm năm tỉnh giấc nhẫn buồn cười.
(Cao Bá Quát)
5. Trăm năm một cuộc tuần hoàn
Lạ gì trung trực quyền gian trong vòng.
(Nhị Độ Mai tinh tuyển)
6. Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thể có ra gì.
(Tú Xương)
7. Trăm nghìn đổ một trận cười.
Trăm năm hồ dễ mấy người trăm năm.
(Nghè Vinh)
8. Trăm năm ai chẳng bạc đầu
Mười điều ai có hay đâu cả mười.
(Dương Vân Trì)
9. Người đời thử ngẫm mà hay
Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê.
(Tản Đà)
v.v...
Tạm liệt kê mấy dẫn chứng trong hàng trăm dẫn chứng ở các tác phẩm để thấy rằng các tác giả xưa và nay dùng cụm từ này một cách rất phổ biến với một cái nghĩa hết sức ước lệ. (Đặc biệt đến Tản Đà, trong Tản Đà vận văn, “trăm năm” vẫn còn xuất hiện với tần số khá cao so với nhau tác phẩm khác). Và không có một tác giả nào dùng “trăm năm” với nghĩa “xưa nay”. Cững có khi người ta thay cụm từ này bằng cụm từ “ba vạn sáu nghìn ngày” để chỉ chung khái niệm dó.
Xem thế đủ nhận thấy, mới nhìn qua bề ngoài, tưởng như yếu tố “trăm” trong “trăm năm” là cùng trong hệ thống với “trăm” trong “trăm sông - trăm đường - trăm kẻ bán, vạn người mua...” mà hóa ra lại không phải “trăm” trong “trăm năm” theo cách dùng phổ biến và ước lệ từ xưa đến nay không hề chỉ cái gọi là “khối lượng vô chừng” như Hoàng Tuệ quan niệm, mà nó chỉ một số lượng có hạn. Tất nhiên không nên hiểu nó chỉ một số lượng chính xác đến mức “99+1” vì nó đã mang nghĩa tượng trưng. Không phải cứ nói “cuộc dời trăm năm” là bất cứ ai cũng thọ đúng 100 tuổi, cũng như không phải nói “'kết ngãi trăm năm” hay “làm bạn trăm năm” thì cặp vợ chồng nào cũng chung sống với nhau trọn vẹn một trăm năm. Cái lượng này tuy không hoàn toàn chính xác nhưng vẫn rất có giới hạn, nó giới hạn cái khoảng thời gian một đời người. Khó có thể chấp nhận cái nghĩa của nó là “vô chừng” hay “xưa nay”, hay nói khác đi, nó không thể chỉ cái khoảng thời gian từ hai đời người trở lên. Thành thử có sự đối lập trăm sông/100 sông nhưng lại không có sự đối lập tương tự như thế giữa “trăm năm” với “100 năm (“Trăm sông đổ về biển” có thể hiểu là mọi con sông đều đổ ra biển). “Trăm” trong “trăm sông - trăm đường - trăm sự...” hàm cái nghĩa tất cả hết thảy, toàn bộ. Còn “trăm năm bia đá thì mòn, Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” thì lại có nghĩa đen là trong khoảng thời gian một đời người, bia đá đã đủ mòn rồi, nhưng đến nghìn năm lức là 10 lần cái khoảng “trăm năm” (mãi mãi, vĩnh viễn) thì bia miệng vẫn còn trơ trơ không suy suyển. Vậy “trăm năm” là có hạn còn “nghìn năm” hoặc “nghìn thu”, “nghìn xưa” mới hàm cái nghĩa vô hạn:
- Nghìn năm ai có khen câu Hoàng Sào.
(Nguyễn Du)
- Nghìn năm giao ước kết đôi.
(Tản Đà)
- Nghìn năm sau sẽ nhớ lại hôm qua.
(Tố Hữu)
- Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
(Nguyễn Du)
- Nghìn xưa âu cũng thế này.
(Nguyễn Du)
Nói cho hết nhẽ, yếu tố “trăm” trong “trăm năm” cũng có cái sắc thái đối lập ít nhiều với “100 năm” nhưng nó lại nằm trong một hệ thống khác. Có lẽ nó ở trong cùng hệ thống với dăm/5, mươi/10 v.v... Nó chỉ cái số lượng ước chừng nhưng vẫn có hạn, “dăm” chỉ khoảng từ 4 đến 6 đơn vị; “mươi” chỉ khoảng từ 8 đến 11, 12 đơn vị. (“Dăm” không thể chỉ từ 1 đến 8, 9 được; cũng như “mươi” không thể là 5 hoặc 15 được). Điều đáng lưu ý là “dăm”, “mươi”... ước lượng xê xích khoảng hơn kém vài ba đơn vị, còn “trăm năm” thì có thể xê xích trên dưới vài ba chục đơn vị.
“Trăm năm” đã vậy, còn “cõi” thì sao? Hoàng Tuệ tưởng rằng “cõi” chỉ có cái nghĩa không gian vì ông quá tin các từ điển cũ. Còn “cõi thọ” mà định nghĩa là “cõi chết” thì thật đáng ngờ. Phải chăng từ điển tiếng Việt của nhóm Văn Tân chua nghĩa sai? Theo tôi hiểu, các từ điển cũ có thể chưa ghi nhận chữ “cõi” có nghĩa chỉ thời gian. Nhưng các từ điển cũ có thể thiếu sót lắm chứ! Cuốn từ điển do Văn Tân chủ biên thích nghĩa như vậy là khá chính xác. Chỉ tiếc rằng tác giả chưa ghi thí dụ để làm chứng cứ nên Hoàng Tuệ hồ nghi cũng phải. Nhưng mọi người cũng có thể hồ nghi cái định nghĩa của Hoàng Tuệ vì khi ông khẳng định “cõi thọ là cõi chết...”, ông cũng chẳng đưa ra một chứng cứ nào làm bằng.
Dựa vào một số tư liệu chưa được phong phú lắm, tôi nhận thấy thực tế văn học cũng như thực tế đời sống đã xác nhận rằng chữ “cõi” ngoài cái nghĩa chỉ phạm vi không gian (cõi đời, cõi tiên, cõi trần...) còn có cái nghĩa chỉ phạm vi thời gian. Thí dụ:
Trăm năm cho đến cõi già
Còn ta, còn bóng, còn là có nhau.
(Tản Đà)
Người trăm năm ngoảnh lại cõi trăm năm
Tài với sắc tỉnh ra là ngộ cả.
(Nghè Vinh)
Còn chữ cõi thọ thì xưa nay người ta vẫn hiểu và vẫn dùng với nghĩa trái hẳn với cái nghĩa mà Hoàng Tuệ đã tra ra. Nhiều người đứng tuổi hẳn còn nhớ hồi trước Cách mạng tháng Tám, những trẻ em con nhà nghèo đi “xúc xắc xúc xẻ” trong dịp Tết Nguyên đán để xin tiền mừng tuổi vẫn thường hát bài chúc mừng năm mới trong có câu “... Chúc cụ, chúc ông, Bước lên cõi thọ...” (ắt hẳn các em chẳng dám gở miệng mà chúc mọi người bước lên “cõi chết”).
Trong nhiều tác phẩm văn học, người ta cũng gặp “cõi thọ” với cái nghĩa rất tốt lành:
Trong “Ai tư vãn”, Lê Ngọc Hân đã ca ngợi công đức vua Quang Trung và trách trời sao chẳng để nhà vua hưởng thêm tuổi thọ:
Công dường ấy mà nhân dường ấy
Cõi thọ sao hẹp lấy hóa công
Rộng cho chuộc được tuổi rồng.
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
Nguyễn Khuyến làm thơ mừng thọ bạn cũng đã viết:
“Việc đời đã trải tôi cùng bác.
Cõi thọ còn dài bác với tôi”.
(Mừng ông chánh tổng, bạn đồng tuế, làm lễ thọ 55 tuổi – “thơ độc vận”)[5].
Trong “Nhị độ mai”, tác giả cũng dùng “cõi thọ” với nghĩa tương tự:
“Hai nhà phúc lộc vẹn mười
Thung thăng cõi thọ, đứng ngồi đền xuân”.
(câu 2779-2780)
Ngoài ra, một số nơi có tục lệ đầu năm mới thiết yến lão các cụ 60 tuổi và thường chúc các cụ mấy chữ “xuân đài thọ vực”. “Thọ vực” là hàm ý chúc các cụ bước lên cõi thọ, cõi sống lâu.
Tóm lại, với những điều trình bày trên đây tưởng cũng có thể kết luận:
1. “Trăm năm” không hề có cái nghĩa “xưa nay” như Albert de Michel đã dịch và Hoàng Tuệ đã tán thành. Nó chỉ có nghĩa là “khoảng thời gian một đời người”.
2. Chữ “cõi” không phải chỉ có nghĩa là phạm vi không gian mà có cả nghĩa chỉ phạm vi thời gian. Và “cõi thọ” hay “cõi năm năm” không hề có cái nghĩa là “cõi chết”.
Nhưng cũng có thể có người đặt vấn đề: riêng trong câu thơ mở đầu truyện Kiều, Nguyễn Du đã dùng một nghĩa khác và đó là một ngoại lệ thì sao? Chắc chắn cũng không phải như thế! Vì một lẽ rất đơn giản, nếu Nguyễn Du định diễn đạt cái khoảng thời gian vô hạn hoặc “từ xưa tới nay” thì có khó gì mà ông không viết: “xưa nay trong cõi người ta” hoặc “Từ xưa...”, “nghìn xưa...” v.v... Hẳn là tác giả truyện Kiều chẳng có ý định dùng hai chữ vốn mang nghĩa phổ biến chỉ khoảng thời gian có hạn nhằm diễn tả cái nghĩa chỉ khoảng thời gian vô hạn để đánh đố người đọc.
 
2. Gieo thoi trước chẳng giữ giàng
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai.
Về hai câu thơ này, hầu hết các bản Kiều nôm cũng như quốc ngữ đều chua nghĩa “gieo thoi” là “ném thoi”; “giữ giàng” là “giữ gìn” và chú thích điển cố trong Tấn thư “Tạ Côn đời Tấn, trêu người con gái hàng xóm đang ngồi dệt cửi, bị cô ta cầm thoi ném vào mặt gẫy mất hai cái răng”. Hoàng Tuệ không tán thành cách giảng nghĩa và chú thích bằng điển cố như thế.
Ông cho rằng “gieo thoi” có nghĩa là “đưa thoi” và “giữ giàng” không có nghĩa là “giữ gìn”. Theo ông “giữ giàng” không phải là một từ cổ vì các từ điển cũ như từ điển J. Bonet (1898) chỉ ghi “giữ gìn” không thấy ghi “giữ giàng”, ông phỏng đoán “giàng” là tên một dụng cụ đùng trong nghề dệt cửi. Ông viết: Hay “giữ giàng” chính thật là “giữ giường”? theo các từ điển tương đối cũ (Bonet - Génibrel) thì “giường” có nghĩa “sợi chính trong tấm vải dệt”. Nếu không phải là “giường” mà “giàng” thật, thì “giàng” có thể là “giàng ná”. Như vậy thì “giàng” phải chăng là tên một dụng cụ hình như chiếc cung để căng tấm vải dệt? Vần “ương” vốn có thể phát âm cũng như phiên âm (chữ Nôm) thành “-ang” và ngược lại. [... ] Nếu chấp nhận được giả thiết này thì “gieo thoi trước chẳng giữ giàng” quả có điển cố của nó, nhưng không phải trong Hán văn, mà trong tục ngữ - có thể là một câu tục ngữ dựa vào công việc của người dệt cửi và nói về sự thận trọng, sự đắn đo cần thiết trong cuộc sống[6].
Thêm một lần nữa, cũng như một số người nào đó, Hoàng Tuệ tỏ ra quá tin vào các sách cũ hoặc “tương đối cũ”. Sách cũ cũng như người cũ có nhiều cái đáng tin, nhưng có phải cái gì cũng đáng tin cả đâu, bởi một lẽ rất dễ hiểu: mỗi sự, mỗi vật, mỗi người ở từng thời điểm lịch sử đều có những hạn chế nhất định. Không thể quá tin sách, nhất là các sách từ điển tiếng ta do mấy người Tây soạn từ các thế kỷ trước. Từ điển của Bonet bỏ sót không ghi từ “giữ giàng” vì chưa khảo sát kỹ các tác phẩm cổ Việt Nam. Cứ lật tạm một số trang trong Thiên Nam ngữ lục đã có thể gặp hàng loạt từ “giữ giàng”:
- Bị dùng cáo tế ân cần
Lập diện phụng sự khiến dân giữ giàng.
(câu 467 - 468).
- Chúc Phụ hết sức giữ giàng.
Sa cơ thua trận, giữa đường phụ công.
(câu 3033 – 3034)
- Xã có xã trưởng sửa sang
Thôn có thôn trưởng giữ giàng việc quan.
v.v...
Thiên Nam ngữ lục là một tác phẩm cổ và hẳn là cổ hơn Truyện Kiều. Không nghi ngờ gì nữa, “giữ giàng” đích thực là một từ cổ và có nghĩa tương tự như “giữ gìn”. Chính Nguyễn Du cũng dùng 4 lần “giữ giàng” trong truyện Kiều với nghĩa tương tự:
- Nghĩ ra thật cũng nên đường.
Tăm hơi ai kẻ giữ giàng cho ta.
- Lại sai lệnh tiễn truyền qua
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
- Việc binh trước chẳng giữ giàng.
Vương sư dòm tỏ đã tường thực, hư.
Rõ ràng không có nhu cầu hiệp vần nên cũng không có chuyện cần chuyển âm. “Giữ giàng” vốn có âm gốc như thế và nghĩa gốc như thế. Sở dĩ Hoàng Tuệ hồ nghi về nghĩa chữ “giàng” có lẽ vì trong câu thơ có chuyện “gieo thoi”. Nhưng ngay nghĩa của “gieo thoi” mà hiểu là “đưa thoi” e cũng không phải. Vì “gieo thoi” với “đưa thoi” có chỗ khác nhau khá xa về mặt nội hàm. Tin rằng Nguyễn Du không dùng từ một cách tùy tiện, xô bồ đến thế. Khi nào cần diễn đạt cái ý “đưa” thì ông dùng “đưa’:
- Ngày xuân con én đưa thoi
- Đưa người cửa trước, rước người cửa sau
- Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng
v.v...
Còn khi ông đã dùng “gieo” thì không thể hiểu nghĩa là “đưa”:
- Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân
- Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.
- Nàng đà gieo ngọc chìm châu.
Vậy “gieo thoi” có nghĩa là “ném thoi “ chứ không phải là “đưa thoi” (trong khi dệt cửi). Vả lại, giả thử có hiểu “gieo thoi” là “đưa thoi” và “giàng” là “một dụng cụ hình như chiếc cung dùng để căng tấm vải dệt” chăng nữa thì thực tế trong việc dệt cửi cũng không có người thợ dệt nào lại cứ làm cái dộng tác vừa “đưa thoi” vừa giữ cái “giàng” ấy. Vì nếu cứ dùng một tay để giữ cái “giàng” ấy, một tay đưa thoi, rồi lại chuyển tay kia giữ “giàng” và tay này lại đưa thoi thì làm thế nào cho thoi đưa liên tục được. Mà muốn đưa thoi liên tục để tạo ra cái vận tốc thường gọi là “thấm thoắt thoi đưa” thì người thợ dệt không thể nào không dùng cả hai tay cũng một lúc để “đưa thoi - bắt thoi”, nghĩa là người dệt cửi không được phép dùng bất cứ một tay nào vào cái việc gọi là giữ “giàng” trong khi “tra thoi” liên tục trên khung cửi dù người đó có ý “thận trọng, đắn đo” đến mức nào (cái dụng cụ mà Hoàng Tuệ bảo phải chăng là cái “giàng” thực ra ở vùng Nam Hà quê tôi người ta vẫn gọi tên nó là cái “văng”).
Như thế, “giữ giàng” không phải là một cụm động từ. Nó là một từ một từ cổ. Nhưng liệu nó có phải là “hình thức cổ” của “giữ gìn” không? Căn cứ vào các tác phầm Nôm cổ hiện có thì Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi được coi là cổ nhất. Trong tập này chưa có từ đôi “giữ gìn”. Chỉ thấy xuất hiện trong một số bài có từ “giữ” đi riêng (Tự thán XVII, Ngôn chí XII...) hoặc từ “gìn” đi riêng (Đầu xuân đắc ý, Thơ tức cảnh III...) hoặc “giữ” và “gìn” đi sóng đôi trong câu thực hoặc 2 câu luận (Tự giới, Bảo kính cảnh giới XI) chứ chưa có hiện tượng ghép đôi. Từ đôi “giữ giàng” cũng không có mặt trong tập thơ.
Nhưng đến Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ XVII) đã thấy có mặt cả “giữ gìn” và “giữ giàng”. Hiện nay chưa có đủ tư liệu để khẳng định rằng từ nào có trước. Vậy căn cứ vào sự có mặt của chúng trong Thiên Nam ngữ lục, hãy tạm coi là chúng cổ ngang nhau. Đến Truyện Kiều, chúng vẫn có mặt cả hai, nhưng đến các tác phẩm chính của Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiều vấn đáp y thuật...) hầu như không gặp lại từ “giữ giàng” nữa, chỉ có “giữ gìn” vẫn tồn tại. Cho đến nay thì “giữ giàng” vắng bóng hoàn toàn trong ngôn ngữ nói cũng như ngôn ngữ viết.
“Giữ gìn” là một tổ hợp đẳng lập. “Gìn” không được dùng riêng nữa nhưng nó vẫn chưa hư hóa thành một yếu tố láy vô nghĩa. Chứng cứ là có thể đảo các yếu tố một cách khá uyển chuyển “giữ gìn - gìn giữ”. Còn “giữ giàng” không phải là một từ láy, cũng không phải là một cụm động từ. Vậy nó là cái gì? Khi khảo sát mặt chữ Nôm của chữ “giàng” trong một vài bản Kiều nôm như bản Kiều Oánh Mậu (1902) hoặc bản Quan văn đường (1906) tôi cũng gặp một hiện tượng khá lý thú.
Chữ “giàng” lúc thì được viết “thủ手+sàng床” lúc thì “thủ手+giang江”
Nhưng chữ “giang” trong “Chị em thơ thẩn giang tay ra về” (mà các bản Kiều quốc ngữ thường phiên là “dan tay...”) cũng viết “thủ手+giang江”. Và điều đáng chú ý là chữ “ràng” trong “áo xiêm ràng buộc lấy nhau” hay “Nói điều ràng buộc thì tay cũng già” cũng lại viết “thủ手+giang江”
Vậy vấn đề đáng được xem xét là:
1. “Giàng” vốn do “giang” chuyển thành hay ngược lại?
2. “Giàng” trong “giữ giàng” và “ràng” trong “ràng buộc” phải chăng cùng một gốc mà sau này khi phiên âm ra chữ quốc ngữ (latinh) người ta đã ghi âm của nó bằng những con chữ khác nhau?
Nếu quả thật “giàng” trong “giữ giàng” và “ ràng” trong “ràng buộc” vốn cùng một âm gốc thì “giàng” cũng không phải là một yếu tố láy vô nghĩa: “giữ giàng” có lẽ cũng là một tổ hợp đẳng lập - một động từ ghép đẳng lập - như “giữ gìn”. Điều này cần được khảo sát thêm mới có thế đi đến một kết luận dứt khoát. Nhưng dù nó là một từ láy hay một động từ ghép đẳng lập thì nghĩa của nó vẫn là tương tự như “giữ gìn”.
Vậy nếu “gieo thoi” và “giữ giàng” được hiểu theo nghĩa “ném thoi” và “giữ gìn” thì hai câu thơ trên có lẽ không có cái nghĩa như Hoàng Tuệ đã hiểu.
Muốn hiểu đúng ý thơ của hai câu này trước hết phải xác định ý nghĩa của điển cố, sau đó phải đặt hai câu đó vào cả đoạn thơ:
“Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi Trương
Mây mưa đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến oanh
Trong khi chắp cánh liền cành
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên
Mái tây để lạnh hương nguyền
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
Vội chi liễu ép hoa nài
Còn thân ắt lại đền bồi có khi.”
Trong đoạn trên, Nguyễn Du đã cho nhân vật nữ của mình dùng hai điển cố: một ở “Hội chân ký” (Thôi, Trương), một ở Tấn thư (gieo thoi...). Nhưng tác giả “Hội chân ký” trong khi thuật truyện Thôi, Trương cũng dùng điển “gieo thoi” trong Tấn thư. Do dó trong thư của Thôi Oanh Oanh gửi cho Trương Quân Thụy mới có câu “thiếp vô đầu thoa chi cự...” (thiếp đã không ném thoi để cự tuyệt...). Vậy vấn đề đặt ra là Nguyễn Du đã lấy điển “gieo thoi” trực tiếp ở Tấn thư hay lấy gián tiếp qua “Hội chân ký”?
Nhưng điều cần chú ý là toàn bộ đoạn thơ trên là lại của Kiều nói với Kim trọng. Ai “ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay”? - chỉ có thể là Kiều! Ai “gieo thoi trước chẳng giữ giàng”? cũng vẫn là Kiều! Và “chàng” trong câu “để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai” hẳn phải là Kim Trọng (người đang dược nói với) chứ không thể là ai khác. Theo tôi hiểu, Nguyễn Du có thể đã lấy điển “gieo thoi” trực tiệp ở Tấn thư và đã dùng toàn bộ ý nghĩa của điển đó chứ không phải chỉ đùng một phần như nhiều bản Kiều dã chú thích. Vì phần cuối của điển này có một số chi tiết khá quan trọng: “Tạ Côn bị ném thoi gẫy răng sau vẫn quyết lấy cô gái họ Cao. Họ Tạ cố công học, thi đỗ, khi thành đạt đã cưới được cô gái họ Cao làm vợ. Đêm hợp cẩn, cô dâu nhìn lại chỗ răng gẫy của chồng, lấy làm thẹn và hối rằng trước đây mình đã quá tay xử tàn nhẫn với chàng”. Nếu Nguyễn Du dùng nguyên văn tinh thần điển cố này thì đoạn thơ trên sẽ có cái ý như sau: “Chàng xem đấy, ngẫm duyên gặp gỡ xưa nay thì có lứa đôi nào đẹp tày Thôi Trương. Nhưng vì họ đã quá chiều ý nhau nên vội rẻ rúng nhau và sau tan vỡ duyên lành. Thiếp không thể chiều ý chàng như Thôi Oanh Oanh đã chiều ý Trương Quân Thụy; nhưng thiếp cũng không thể bắt chước cô gái họ Cao tàn nhẫn ném thoi để cự tuyệt, vì như thế sau này sum họp thiếp sẽ phải hổ thẹn cùng chàng, nào biết lỗi tại ai?”.
Nếu chấp nhận dược cách hiểu như thế thì “giữ giàng” ở đoạn này không có nghĩa là “thận trọng” giữ gìn “trinh liệt” mà chính là thận trọng giữ gìn mức độ trong cách cư xử, dù là từ chối, can ngăn hay cự tuyệt nhưng vẫn không có thái độ quá đáng. Phải chăng Nguyễn Du muốn dùng hai điển đó để diễn dạt cái ý không “bất cập” cũng chẳng “thái quá”, nghĩa là ông muốn giữ cho nhân vật của mình theo được “thung dung chi đạo”. Như vậy, nhân vật nữ của tác giả Truyện Kiều đã xử sự với người yêu đúng đắn và cao thượng biết bao so với nhân vật nữ của tác giả Hội chân ký. Nàng Thôi đã quá chiều người tình để cho hạnh phúc tan vỡ, sau còn viết thư tỏ ý hối hận rằng mình đã không ném thoi để cự tuyệt. Trước đã dở, sau càng dở hơn, Thúy Kiều đâu có suy nghĩ, hành động nói năng rập khuôn một cách đáng buồn như thế. Trong hoàn cảnh của mình, nàng đã xử sự đúng mực, nói năng mềm mỏng, mẫu mực; thật không hổ là một con người thông minh, “sắc sảo” mà vẫn chẳng hao giờ kém phần “mặn mà”.
Trên đây, tôi đã mạnh dạn trình bày một số ý kiến xung quanh vài chữ nghĩa truyện Kiều để trao đổi với ông Hoàng Tuệ và các bậc thức giả. Mấy ai dám tự nhận rằng mình đã hiểu thấu đáo và chính xác ngôn ngữ của Nguyễn Du. Nhưng nếu cứ gắng sức tìm tòi, trao đổi, chắc chắn dần dần chúng ta sẽ không đến nỗi hiểu chệch quá xa những điều người xưa muốn nói với người sau. Rất mong các bạn chỉ giùm cho những điều tôi chưa nghĩ thấu. Trong bài “Ngữ pháp truyện Kiều” của ông Hoàng Tuệ còn có một số vấn đề khác không kém phần thú vị, tôi xin tiếp tục trao đổi trong một dịp khác.
Nam Định, tháng 4-1975.
 
Ghi thêm:
Gần đây, tôi tra cứu thêm từ “giữ giàng” và gặp nó trong hai tài liệu cổ:
1. Từ điển Annam-Lusitan-Latinh - Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651:
Giữ: giữ gìn - Giữ giàng, gìn giữ. Cùng một nghĩa.
Giàng, giữ giàng: giữ gìn - chăm sóc.
Giàng, cung giàng: cung giương căng.
Giàng: cuộn lại thành lọn.
(Từ điển ANNAM-LUSITAN-LATINH - Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính phiên dịch Nxb KHXH. Hà Nội 1991).
2. Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa:
Tiểu Thiếp vợ mọn hơn lòng
Thị Dắng hầu hạ bề trong giữ giàng.
(CHỈ NAM NGỌC ÂM GIẢI NGHĨA - Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm và chú giải- Nxb. KHXH Hà Nội-1985, tr.93).




[1] Hoàng Tuệ. Ngữ pháp truyện Kiều, Tạp chí Văn học tháng 3-1971 tr. 40 - 52.
[2] Hoàng Tuệ. bài đã dẫn. tr. 42
[3] Hoàng Tuệ. bài đã dẫn. tr. 42
[4] Hoàng Tuệ. bài đã dẫn. tr. 42
[5] Bài thơ này in trong tập “Thơ văn Nguyễn Khuyến” (Nxb Văn học Hà Nội 1971, tr. 125) có ghi nhầm tên là “Mừng anh vợ”, lại chú thích nhầm là: “ông Nguyễn Hữu Chỉnh, anh vợ Nguyễn Khuyến. Bài này tác giả làm vào khoảng hai người 57 tuổi”. Hai câu luận cũng chép nhầm hai chỗ: “việc đời” thành “mùi đời”, “cõi thọ” thành “tuổi thọ”. Thực ra bài thơ phải ghi nhan đề như trên mới đúng và có nghĩa. Toàn bài như sau:
“Ấy năm sinh bác cũng sinh tôi
Số bác xem ra khác số tôi
Cái nết hào hoa tôi kém bác
Con đường khoa hoạn bác thua tôi
Việc đời đã trải tôi cùng bác
Cõi thọ còn dài bác với tôi
Tính tuổi xuân thu trăm lẻ chục!
Nửa phần về bác, nửa phần tôi”.
(Nhân đây xin đa tạ cụ Trọng Văn đã vui lòng cho tôi mượn tư liệu kể trên. T.K.).
[6] Hoàng Tuệ. bài đã dẫn. tr. 51.
Đăng nhập để trả lời
0
CHỦ NGỮ CỦA CÂU THƠ KIỀU ẤY?
(Bài gửi Tạp chí Ngôn ngữ tháng 8-1975. Theo ông Lê Xuân Thại, Thư ký tòa soạn cho biết: bài đã được duyệt đăng nhưng do có sự thay đổi Tổng biên tập nên tạm hoãn lại).
 
TRONG khi chờ đợi ý kiến của ông Hoàng Tuệ, tôi xin phép trao đổi tiếp một vấn đề khác trong bài Ngữ pháp truyện Kiều. Đó là vấn đề tìm chủ ngữ cho câu thơ:
“Chập chờn cơn tỉnh cơn mê
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn”.
Trước đây, một số người dịch Kiều sang tiếng Pháp như Nguyễn Văn Vĩnh, M.R., Nguyễn Khắc Viện v.v... đều cho chủ ngữ của “chập chờn” là Kiều. Nhưng cũng có người như Đoàn Phú Tứ thì lại cho rằng chủ ngữ của “chập chờn” phải là Kim Trọng.
Theo ông Hoàng Tuệ, việc tìm chủ ngữ cho câu thơ này là không cần thiết: “Việc gì cứ thắc mắc ai đích danh đã chập chờn! Về lẽ văn học là không cần thiết, như đã nói. Mà về lẽ ngữ pháp cũng chẳng có sự bó buộc nào như vậy cả, trong thể cú pháp của câu thơ này”. Ông cho rằng không nên coi “chập chờn” là một động từ: “Đòi phải có chủ ngữ (chỉ người) cho “chập chờn” nếu không hiện thì ẩn, là đã xuất phát từ một định kiến rằng “chập chờn” (= flotter) là động từ chỉ hoạt động (= verbe actif) mà là động từ như thế thì phải rõ ràng là: ai chập chờn (= qui flottait = ai chập chờn?) như trong tiếng Pháp”.
Tuy nói thế nhưng ông vẫn cẩn thận xác định từ loại và chức năng cho “chập chờn”, rồi lại còn tìm cho nó một chủ ngữ đàng hoàng: “Chập chờn” hiểu là từ chỉ trạng thái, có thể coi là một thứ trạng ngữ; “cơn tỉnh cơn mê” cũng vậy, là một trạng ngữ thứ hai, và các trạng ngữ này cao giá lắm, bởi vì chúng làm thành một vế trong sự thừa tiếp sáu, làm của câu thơ lục bát, như đã nói ở trên. “Chập chờn” hiểu là từ chỉ trạng thái có giá trị động từ cũng có thể là vị ngữ mà chủ ngữ là “cơn tỉnh cơn mê”.
Trong luận điểm này, hình như ông Hoàng Tuệ có chút nhầm lẫn: ông nhầm trong việc xác định chức năng của một từ. Thế nào là một từ chỉ trạng thái? Từ chỉ trạng thái đó thuộc loại từ gì? Thế nào là trạng ngữ? Thế nào là vị ngữ?
Mỗi một từ thường có thuộc tính nhất định và căn cứ vào một số tiêu chí nào đó đã qui ước mà người ta xếp nó vào loại này hay loại khác. Còn khi một từ nào đó có mặt trong một cấu trúc nhất định thì nó giữ một chức năng. Không thể xác định chức năng của một từ khi chúng giữ vai trò trạng ngữ hoặc giữ vai trò vị ngữ, hoặc phải giữ một vai trò nào khác ngoài hai vai trò ấy chứ làm gì có tình trạng kiêm nhiệm nhập nhằng hay hiểu vai trò của nó một cách mập mờ, lấp lửng như thể được. Tiếc rằng ông Hoàng Tuệ đã nói hiểu “cách nào cũng có cơ sở thực tế” trong tiếng Việt và trong thơ đời trước và đời nay nhưng ông lại không cho bằng chứng cụ thể. Theo cách hiểu của chúng tôi thì thực tế tiếng Việt cũng như thực tế thơ ca xưa nay làm gì có chuyện hiểu tùy tiện, mập mờ nước đôi như thế. Mỗi từ, cũng như mỗi sự vật đều có loại nhất định và trong một hệ thống nhất định nó cũng chỉ giữ một chức năng nhất định nào đó. Thông thường trong một đơn vị cú pháp, mỗi từ không giữ quá một chức năng. Còn mỗi từ lại có khả năng đảm nhận nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau tùy theo chỗ đứng của nó trong từng hệ thống.
Vị ngữ: Mưa chập chờn trước ngõ.
Ngọn lửa chập chờn trước gió.
Bổ ngữ: Khói bay chập chờn.
Định ngữ: Làn khói chập chờn ấy cứ vương mãi trên mái bếp.
Trạng ngữ: Chập chờn, nó cứ ra ra vào vào không dứt khoát
Chủ ngữ: Chập chờn là một trạng thái hoạt động hoặc tâm lý của sự vật.
Có thể giữ nhiều chức vụ khác nhau, đó là cái thế khả năng của động từ cũng như nhiều loại từ khác. Nhưng khi nó đã có mặt trong một đơn vị cú pháp nào đó thì nó chỉ giữ một chức vụ mà thôi chứ thường không có sự kiêm nhiệm, không thể vừa là vị ngữ lại vừa là trạng ngữ hoặc ngược lại; cũng không có thể vừa là trạng ngữ lại vừa là chủ ngữ...
Cho nên thật khó tránh khỏi ngạc nhiên trước lối nói nước đôi như sau: “... hiểu theo cách nào (chập chờn là trạng ngữ hay vị ngữ đặt trước chủ ngữ) đều được cả, bởi vì cách nào cũng có cơ sở thực tế tiếng Việt trạng thực tế thơ đời trước và đời nay...”[1]
Vậy về mặt từ loại thì “chập chờn” thuộc loại nào? Tôi xếp nó vào loại động từ.
Còn chức năng ngữ pháp? Tất nhiên, “chập chờn” có khả năng đảm nhận nhiều chức năng khác nhau như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ v.v... Nhưng trong câu thơ này thì nó giữ chức năng gì? Có thể là trạng ngữ được chăng? Không được! Vì nếu là trạng ngữ thì nó phải bổ nghĩa cho cả câu chứ không riêng một từ nào trong câu. Nhưng hãy giả thiết hiểu trạng ngữ theo ngữ pháp truyền thống thì trạng ngữ (hiện nay gọi là bổ ngữ) cũng thường chỉ bổ nghĩa cho một tính từ, một động từ hoặc một trạng từ khác trong câu giữ chức vụ vị ngữ hoặc tân ngữ chứ không bao giờ lại bổ nghĩa cho chủ ngữ.
Rõ ràng trong trường hợp này dù hiểu theo ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp hiện đại thì “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” cũng không thuộc loại kết cấu trạng ngữ/chủ ngữ. Nhưng liệu nó có phải là kết cấu vị ngữ/chủ ngữ không? Ông Hoàng Tuệ cho rằng kết cấu của câu thơ này cùng một khuôn với nhiều câu thơ Kiều khác, ông viết: “Trong truyện Kiều có rất nhiều câu thuộc thể cú pháp này: Dập dìu tài tử giai nhân; sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh; xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh; Ngổn ngang trăm mối bền lòng”... Đây là trường hợp thực có đảo ngữ, bởi vì có thể nhận thấy một cách đều đặn hai trình tự: “dập dìu tài tử/tài tử dập dìu”; “sè sè nấm đất/nấm đất sè sè”; “rầu rầu ngọn cỏ/ngọn cỏ rầu rầu”; “xôn xao yến anh/yến anh xôn xao”; “ngổn ngang trăm mối/trăm mối ngổn ngang” và “chập chờn cơn tỉnh cơn mê /cơn tỉnh cơn mê chập chờn”.
Mới xem qua thì thấy xếp loại như thế cũng có điều hợp lý. Nhưng nếu xét kỹ một chút thì lại thấy có phần khó chấp nhận. Vì nhiều sự vật, mới nhìn bề ngoài thì chúng có dáng về giống nhau, tưởng như chúng cùng chung một giống, một loại nhưng khảo sát kỹ thì lại thấy chúng khác nhau rất xa, chúng ở những loại hoàn toàn khác nhau. Sở dĩ có khi ta dồn chúng vào chung một loại, một khuôn là do ta chưa thấy hết các thuộc tính bản chất của chúng mà thôi.
Nếu tách riêng câu thơ ra thì thấy “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” là có sự đồng dạng với các câu “Dập dìu tài tử...”, “sè sè nấm đất”... Nhưng nếu nhìn nhận nó trong toàn mạch thơ thì vấn đề lại khác. Tách riêng ra, ta chỉ thấy được mối quan hệ giữa “chập chờn” và “cơn tỉnh cơn mê” nhưng đặt câu thơ này vào trong cả đoạn thơ, tức là đặt cái cấu trúc này trong một hệ thống lớn hơn mới thấy được mối quan hệ của các thành tố đó với các thành tố khác trong cả cái hệ thống lớn ấy (= đoạn thơ).
Thử đặt nó vào trong cả đoạn thơ để khảo sát:
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã (A), mặt ngoài còn e (B).
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê (C)
Rốn ngồi chẳng tiện (D), dứt về chỉn khôn (Đ)
 
Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa (E), người còn nghé theo (G).
Hãy tạm gạt sang bên cạnh cái việc xét đôi trai gái này lần đầu tiên gặp nhau đã ở trong cái trạng thái tình cảm, trạng thái tâm lý như vậy là đứng đắn hay không đứng đắn, thích hợp hay không thích hợp với khuôn phép của Khổng giáo. Bây giờ hãy xem xét các thành tố (từ, cụm từ...) hoạt động trong hệ thống (đoạn thơ) có mối quan hệ với nhau như thể nào, chúng giữ vai trò gì và giá trị của chúng ra sao.
Trong câu 6: “Người quốc sắc, kẻ thiên tài”, ta thấy rõ ràng không phải chỉ có một mà có hẳn một cặp chủ ngữ sóng đôi hoàn toàn bình đẳng. Do đó cái trạng thái “tình trong như đã” và “mặt ngoài còn e” đâu phải chỉ thuộc về “người quốc sắc” hay “kẻ thiên tài”. Nó không phải là trạng thái tâm lý thuộc về một phía mà là thuộc về cả hai. Hai cụm danh từ này đều là chủ ngữ của hai vị ngữ kia.
Và ai “chập chờn cơn tỉnh cơn mê”? Rõ ràng chẳng phải riêng một ai mà vẫn là cả cái cặp chủ ngữ kia ở trong cái trạng thái ấy. Rồi vẫn cái cặp “quốc sắc, thiên tài” ấy rơi vào tình trạng về cũng dở, ở không xong; “rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn”.
Và cuối cùng, “khách đà lên ngựa, người còn nghé theo” thì rõ ràng “khách” là thay cho “kẻ thiên tài” và “người” thì chẳng ai khác ngoài “người quốc sắc”. Cả hai đã có chung trạng thái tình cảm và chỉ có một động tác riêng (lên ngựa - nghé theo) mà thôi. Có thể tạm phác ra bằng sơ đồ sau:
 
(Sơ đồ)
 
Có thể hình dung các mối quan hệ chủ vị (C-V) bằng sơ đồ sau đây:
 
(Sơ đồ)
 
Nếu chấp nhận được cách hiểu như trên thì hiển nhiên “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” là một cụm động từ giữ chức vụ vị ngữ, có chủ ngữ chung với các vị ngữ khác trong đoạn thơ, bộ phận chủ ngữ này do hai cụm danh từ cấu tạo thành. Còn xét riêng các thành tố trong cụm thì “cơn tỉnh cơn mê” đúng là bổ ngữ cho “chập chờn”.
Rốt cuộc, “chập chờn” đích thực là một động từ làm vị ngữ mà chủ ngữ của nó không phải riêng là Kiều, không phải riêng là Kim Trọng và cũng hoàn toàn không phải là “cơn tỉnh cơn mê”. Chủ ngữ của nó đích thực là “người quốc sắc, kẻ thiên tài”.
Xem thế mới biết hiểu cho đúng một câu Kiều không phải là chuyện đơn giản chóng vánh. Vì nhìn chung, từ ngữ thơ thường mang nhiều tầng nghĩa, cú pháp thơ thường là một thứ cú pháp có nhiều điều đặc biệt.
Những điều đặc biệt này phụ thuộc không ít vào phong cách và tài năng sáng tạo của các tác giả lớn. Khi những điều đặc biệt độc đáo của họ được nhân dân và thời gian chấp nhận, hẳn nó sẽ trở thành thông thường, phổ biến rồi đến một lúc nào đó nó lại hóa ra đường mòn cũ kỹ để các thế hệ kế tiếp đến lượt mình lại tạo ra những từ ngữ mới, những cách diễn đạt mới phù hợp với những ý nghĩa mới của thời đại. Nhưng ngữ pháp truyện Kiều cũng như ngữ pháp thơ nói chung dù có nét độc đáo đến đâu cũng vẫn không xa lạ với ngữ pháp của ngôn ngữ toàn dân. Sở dĩ cho đến nay trong việc tìm hiểu các tác phẩm của người xưa vẫn nảy ra nhiều cách hiểu khác nhau có lẽ là do:
1. Trước hết, chưa có sự hiểu đúng và thống nhất về nghĩa đen của từng từ, từng câu thơ - nhất là nghĩa đen, nghĩa đích thực mà nó vẫn có thì phải tra cứu nhiều khi rất công phu. Có những trường hợp không thể tin ở từ điển vì không phải bất cứ từ điển nào cũng đều tuyệt đối đúng và đầy đủ.
2. Sự miêu tả sai nghĩa từ thường kéo theo sự miêu tả sai các khuôn cú pháp và sự hiểu sai các khuôn cú pháp lại dẫn đến sự hiểu sai ý nghĩa nội dung các dòng thơ.
Nếu chấp nhận được cách hiểu như trên thì hiển nhiên “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” là một cụm động từ giữ chức vụ vị ngữ, mà chủ ngữ của nó không phải riêng là Kiều, không phải riêng là Kim Trọng và cũng hoàn toàn không phải là “cơn tỉnh cơn mê”. (“Cơn tỉnh cơn mê” đúng là bổ ngữ cho “chập chờn”).
Chủ ngữ của “chập chờn” - hay đúng hơn là “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” - đích thực là “người quốc sắc, kẻ thiên tài”. (nghĩa là cả cái cặp Kim - Kiều đa tình ấy).
Kỳ thực đây cũng chưa phải là cách hiểu đúng nhất. Tha thiết mong tác giả bài Ngữ pháp truyện Kiều và các bạn bớt chút thời giờ chỉ cho những điều còn thiếu sót.
Nam Định, tháng 5-1975.


[1] Bài đã dẫn.
Đăng nhập để trả lời
0
BÀN THÊM VỀ NHÂN VẬT TỪ HẢI CỦA NGUYỄN DU
(Bài gửi Tạp chí Văn học tháng 9-1974).
 
Từ hơn một thế kỷ nay, người ta đã bàn nhiều, đã luận nhiều về truyện Kiều và nhân vật Từ Hải trong truyện Kiều. Nhưng cho đến nay không phải ý kiến mọi người đều đã hoàn toàn nhất trí. Người thì khen không tiếc lời, người thì chê không hết lẽ; có người thì cũng gọi là có khen, có chê cho hợp với cái đạo trung dung trong nghệ thuật phê bình (hầu như rất phổ biến trong tình hình phê bình của ta hiện nay). Trong cái đám nhân vật đông đảo của truyện Kiều, Từ Hải quả là một nhân vật phức tạp và thật xứng đáng được mọi người đặt thành một vấn đề hẳn hoi: vấn đề Từ Hải.
Trong bài nay tôi muốn bàn thêm về nhân vật Từ Hải xung quanh những nét cơ bản sau đây:
1. Từ Hải là một nhân vật thuộc loại nào: Hiện thực hay lý tưởng?
2. Phẩm chất của Từ Hải nên được đánh giá như thế nào cho đúng?
3. Có thể rút ra những bài học gì qua nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du.
Từ Hải có phải là một nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du không?
Từ trước đến nay có nhiều người vẫn coi Từ Hải là một nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du. Hoài Thanh đã nhận định: “Từ Hải vừa là giấc mơ, vừa là lý tưởng, nhưng trước hết vẫn là một giấc mơ”[1].
Xuân Diệu một mặt cho rằng: “Nguyễn Du muốn viết một tiểu thuyết hiện thực chứ không phải viết một tiểu thuyết lý tưởng”, mặt khác lại vẫn xác nhận: “Từ Hải là giấc mơ tung phá hào hứng của Nguyễn Du. Nguyễn Du quan niệm Từ Hải như một người anh hùng mơ ước”[2].
Còn Lê Đình Kỵ có lẽ là người phân vân, lúng túng nhất. Trong khi ông khẳng định rằng có một “chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du”, ông lại cho rằng có nhiều nhân vật trong truyện Kiều không phải là nhân vật hiện thực: “Trong truyện Kiều có ba nhân vật chính diện: Kim Trọng, Từ Hải và Thúy Kiều. Nhưng Kim và Từ là hai nhân vật lý tưởng, chỉ có Kiều là con người thực”[3].
Nhưng rồi có một chỗ ông lại viết: “ Trong truyện Kiều không có cuộc đối thoại trừu tượng giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và gian tà, giữa trung thần và nịnh tặc. Từ Hải anh hùng nhưng không phải siêu phàm, bọn đầu trâu mặt ngựa đáng nguyền rủa nhưng không biến thành những quái vật”[4].
Như vậy Từ Hải là một “con người thực” hay “con người giả”, một con người được tưởng tượng ra? Nguyễn Du đã dùng nhân vật Từ Hải để phản ánh một mặt hiện thực của đời sống hay chỉ bịa ra nhân vật này nhằm “minh họa” cho một lý tưởng sống, một mơ ước của bản thân mình? Tất nhiên, nếu nhận định như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh và một số nhà nghiên cứu nào đó cho rằng Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải... và toàn bộ truyện Kiều chỉ là nơi Nguyễn Du ký thác tâm sự, ký thác cái mối cô trung với nhà Lê thì khó có thể chấp nhận được. Người xưa làm thơ văn để ký thác tâm sự, điều đó không có gì lạ. Nhưng nếu mang cả một cuốn tiểu thuyết bằng thơ như truyện Kiều để soi vào từng nét tâm trạng hay hành động của tác giả thì tránh sao khỏi khiên cưỡng và võ đoán. Trong một cuốn truyện, nhân vật có biểu hiện phần nào tác giả nhưng không vì thế mà có thể đồng nhất nhân vật với tác giả, cũng không thể đồng nhất tư tưởng chủ quan của tác giả với ý nghĩa khách quan của tác phẩm. Ngay trong các tập tiểu thuyết loại tự truyện thì nhân vật chính cũng dã không phải là bản sao nguyên mẫu bản thân tác giả, huống hồ truyện Kiều lại không phải là một tập tự truyện, cũng không phải một truyện hoàn toàn do tác giả dựng lên. Còn khẳng định như Trương Tửu coi Từ Hải chính là hình ảnh của người anh hùng Nguyễn Huệ thì lại là máy móc.
Bây giờ ta hãy xem lại nguồn gốc nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du. Ai cũng biết Từ Hải của Nguyễn Du bắt nguồn từ nhân vật Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân, mà Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân lại bắt nguồn từ một Từ Hải có thật trong lịch sử trung Quốc dời Minh. Nhưng từ một Từ Hải - con người thực đến Từ Hải - nhân vật tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân (cũng như của Mao Khôn, Dư Hoài) và Nguyễn Du, ta thấy có sự khác nhau nhiều lắm. Nguyễn Du có dựa vào nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng lại “hư cấu” thêm một lần nữa để “sáng tác” ra một Từ Hải theo nhận thức và lý tưởng thẩm mỹ của mình. Nói dựa vào là nói tới xuất xứ gần, dễ nhìn thấy; thật ra phải nói rằng: “Sở dĩ Nguyễn Du tái hiện Từ Hải trong truyện Kiều là vì Nguyễn Du đã nhìn thấy trong đời sống hiện thực có những Từ Hải tương tự như thế. Trong xã hội có đầy rẫy những áp bức, bất công và do đó có những Hoàng Sào, Lý Tự Thành (Trung Quốc); Hoàng Công Chất, Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Huệ v.v... vung gươm lên để san bằng bất công, thì trong truyện Kiều của Nguyễn Du có một Từ Hải “phong trần mài một lưỡi gươm” có gì đáng ngạc nhiên. Trước Nguyễn Du đã từng mắt thấy bao nhiêu Từ Hải và sau Nguyễn Du trên mặt trái đất này nào đã hết Từ Hải. Trong những xã hội có giai cấp, ai không chịu nổi bất công, ai không cam chung sống với bọn “bạc ác tinh ma”, với “lũ bán thịt buôn người” đều có chút ít cái chất Từ Hải trong người. Lẽ dĩ nhiên không phải ai cũng đều có gan vung gươm lên như Từ Hải. Còn ca cẩm, phàn nàn, rên rỉ khóc than chán ra đấy! Vì chỉ đau khổ chưa đủ dể vùng dậy, phải có tâm huyết, khí phách và dũng khí (ấy là chưa kể cần phải có cả đường lối, cương lĩnh đúng đắn nữa). Cho nên có kẻ đau khổ hết mức nhưng chẳng biết mài gươm; có kẻ mài gươm hết ngày này qua tháng khác mà chẳng dám vung gươm; có kẻ vung gươm và đấu tranh quyết liệt đến hơi thở cuối cùng; lại có kẻ vung gươm lên rồi nửa chừng hạ gươm xuống (đó là trường hợp Từ Hải của Nguyễn Du).
Nhưng xã hội dầy bất công rất cần những con người biết: “phong trần mỗi một lưỡi gươm” và có gan:
“Chọc trời quấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
Và mỗi một thời, mỗi một vùng đất có được những con người như thế đáng quý biết nhường nào. Vì chỉ cần có từ một người trở lên dám vung gươm đứng dậy và biết tổ chức quần chúng lại là lập tức hàng vạn hàng triệu người bị áp bức đứng dậy theo ngay và lập tức tạo ra “gió quét mưa sa”, “ngất trời sái khí”, “trúc chẻ ngói tan”... là lập tức những “bọn hại nhân” sẽ bị “nhân hại” ngay. Cuộc đời rất cần có nhiều Từ Hải và may mắn đã có những Từ Hải. Vậy Từ Hải đâu phải chỉ là “giấc mơ”, là “khát vọng” hay “lý tưởng”, nó chính là hiện thực xưa ở các xã hội nô lệ, phong kiến và hiện thực nay ở các xã hội tư bản, thuộc địa. Còn nếu cứ khăng khăng cho rằng Từ Hải là “lý tưởng” hay “giấc mơ” của Nguyễn Du thì hóa ra cái anh Từ Hải nửa chừng hạ gươm đầu hàng kẻ thù lại là cái thứ lý tưởng, giấc mơ tốt đẹp của Nguyễn Du hay sao? Tôi không rõ Nguyễn Du có thể ấp ủ cái “giấc mơ” hay cái “lý tưởng” tồi tệ quá quắt như thế không. Mà giả thử đó có là một “giấc mơ” hay “lý tưởng” thực sự của Nguyễn Du đi chăng nữa thì khi Nguyễn Du phản ánh nó vào nhân vật của mình, nhân vật ấy cũng hết sức chân thật. Vậy Từ Hải là một nhân vật chân thực, chân thực không kém gì nhân vật thúy Kiều hay nhiều nhân vật khác (trừ Đạm Tiên. Đạm Tiên chưa có đủ tư cách là tiêu chuẩn của một nhân vật).
Dĩ nhiên, tính chân thật của các nhân vật trong truyện Kiều không trùng hợp với khái niệm “tính hiện thực” hay “chủ nghĩa hiện thực” của văn học phương Tây. Đây là một trong những nhân vật hiện thực kiểu phương Đông, trong đó có Việt Nam (về đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực phương Đông, tôi xin bàn sâu trong một dịp khác). Có thể người này còn thấy Nguyễn Du chưa đưa những cái hàng ngày (le quotidien) vào tác phẩm của mình; người khác lại thấy Nguyễn Du chưa cá thể hóa các nhân vật đến mức “con người này”... Xét cho kỹ, Từ Hải của Nguyễn Du được miêu tả không phải chỉ qua những việc mà Từ Hải đã làm, mà còn bằng cách mà Từ Hải đã làm những việc đó nữa. Đặc tính của Từ Hải “được phân biệt và đối lập một cách rõ rệt” (Enghel) với Kim Trọng, Thúc Sinh, Mã Giám Sinh, Sở Khanh. Chỉ nói riêng về cái cách Từ đến lầu xanh rồi gặp Kiều, trò chuyện với Kiều và lấy Kiều cũng khác xa và đối lập một cách sâu sắc với cái cách của Thúc Sinh. Cũng có thể đơn cử thêm cái cách khác nhau của ba nhân vật hứa hẹn với Kiều; từ cái lối nghiến răng, vỗ ngực huênh hoang, bịp bợm của Sở Khanh:
... Tức gan riêng giận trời già.
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng.
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi
...
Nàng đà biết đến ta chăng?
Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi
Và thái độ khoác lác anh hùng rơm của anh chàng Thúc Sinh râu quặp:
Đường xa chớ ngại Ngô, Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta
Đã gần chi có điều xa
Đá vàng cũng cũng quyết, phong ba cũng liều
Đến cái gật đầu kèm theo nụ cười cởi mở và thái độ chân thành, hơi pha chút kẻ cả của người anh hùng họ Từ:
Nghe lời vừa ý gật đầu
Cười rằng: “Tri kỷ trước sau mấy người.
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
Một lời dã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.”
chúng ta thấy có một khoảng cách khá xa và không thể nào lầm lẫn được các tính cách ngồn ngộn đặc biệt này. Tính cách của Từ Hải cũng đối lập sâu sắc với tính cách Hồ Tôn Hiến.
Có ý kiến cho rằng[5] Nguyễn Du chỉ mới miêu tả một người anh hùng chứ chưa phải người anh hùng này. Nhưng cứ xét kỹ ngôn ngữ, cử chỉ và hành động của Từ, nhất là cái phong thái ra đi và cái nết nhẹ dạ nghe vợ rồi ra hàng giặc của Từ Hải thì cái chất “anh hùng này” cũng khá rõ đấy chứ. Còn như muốn đòi hỏi Nguyễn Du tả kỹ cả cái cách ăn, cách ngủ hoặc tả các trận đánh một cách chi tiết, tỉ mỉ kiểu Balzac thì e rằng vô tình đã đưa Nguyễn Du vĩ đại của chúng ta đặt lên một cái giường procut mất rồi. Nguyễn Du không phải là một Shakespeare, Balzac hay Tolstoi, càng không phải là Gorki. Cũng là phản ánh hiện thực, nhưng cái bút pháp thuỷ mặc phương Đông không hề cùng khuôn với bút pháp sơn dầu phương Tây. Có điều rất thú vị là một số nét trong cá tính các nhân vật của Nguyễn Du tuy có bị lý tưởng hóa nhưng bản sắc những nhân vật đó không hề bị tan biến vào nguyên tắc và Từ Hải của Nguyễn Du không trở thành “cái loa phát ngôn cho tinh thần của thời đại” (Enghel). Tuy lối mô tả có tính chất ước lệ, tượng trưng và cách điệu làm hạn chế không nhỏ tính chân thực của nhân vật nhưng không vì thế mà Từ Hải (hay Kim Trọng) lại không phải là những con người thực. Vấn đề tìm hiểu đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực trong văn học phương Đông nói chung và trong văn học Việt Nam nói riêng còn là một vấn đề hết sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu. Chúng ta sẽ còn nhiều dịp để trở lại vấn đề này. Nhưng không vì chưa hiểu rõ mà ta có những kết luận vội vàng. Không nên cứ thấy con gà ta không giống hệt con gà tây mà vội hảo con gà ta dang ở cái “phạm trù quá độ”. (Lê Đình Kỵ).
Khi nhận xét và đánh giá nhân vật Từ Hải, người ta thường phân vân về cái lý tưởng đấu tranh của Từ và đánh giá không đúng cái thái độ đầu hàng đột ngột của Từ.
Hoài Thanh gần như cho rằng Từ không có lý tưởng rõ ràng: “Lúc Từ Hải ra đi chính là vì muốn tung hoành hay là vì cam phận trước những nỗi bất bình trong thiên hạ? Dẫu sao sau này trong khi suy nghĩ định từ chối không hàng và khi nghe lời Kiều mà đổi chí, tuyệt nhiên không thấy Từ Hải có băn khoăn nào vì đại nghĩa”, và ông cho nguyên nhân là vì: “trong quan niệm của Nguyễn Du chưa rõ lắm”[6].
Nếu Nguyễn Du tả tỉ mỉ thì người đọc hay người nghiên cứu đỡ băn khoăn. Nhưng tôi cho rằng đây là vấn đề thuộc về bút pháp nhiều hơn là thuộc về quan niệm. Nếu cần miêu tả kỹ thì rất nhiều chỗ Nguyễn Du phải dừng lại, ví dụ như tâm lý Thúy Vân khi nhận lời Kiều để nối duyên với Kim Trọng hay trong đoạn Kim Kiều tái hợp. Tuy nhiên, nếu cứ đọc kỹ tác phẩm, ta vẫn tìm ra những điều cần tìm vì trong nhiều tác phẩm văn học cổ, người xưa thường có lối nói rất cô đọng và kín đáo.
Mới đọc qua, người ta có thể tưởng hình như Từ Hải vung gươm lên chỉ để phỉ chí tung hoành hay cùng lắm chỉ là nhằm rửa sạch nỗi oan khiên cho riêng Thúy Kiều. Sự thật là khi Từ Hải dã khởi nghĩa thắng lợi trở về mới được nghe Kiều kể khổ:
Ttrong quân có lúc vui vầy
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi.
Rõ ràng Từ Hải vung gươm không phải chỉ để dẹp tan nỗi “bất bằng” riêng của vợ mình. Vả lại, chẳng lẽ cái số “mười vạn tinh binh” đi theo Từ Hải cũng chỉ nhằm mục đích vẫy vùng ngang dọc hoặc giúp cho Từ có điều kiện “dọc ngang trời đất” hay sao?
Lê Đình Kỵ cũng cho rằng cái sự nghiệp anh hùng của Từ “rất trừu tượng” và hình như Từ Hải nổi dậy cũng chẳng có mục đích gì: “Triều đình có dủ lý do để tiêu diệt Từ Hải cho kỳ được, nhưng Từ Hải thì hình như không rõ lý do vì sao mình phải chống lại triều đình. Chẳng qua Từ Hải sinh ra là để vẫy vùng ngang dọc và vì tất cả trời cao đất rộng lúc bấy giờ là của triều đình, Từ Hải bị vướng, cho nên phải đập phá”[7].
Nhận định như thế là phải chăng muốn xếp Từ Hải vào loại “vô chính phủ” đi tìm một thứ “tự do tuyệt đối”“ nào đó? Nhưng có thật Từ Hải chỉ sinh ra để đập phá và đập phá để mà đập phá không? Riêng chỗ này Lê Đình Kỵ cũng tự mâu thuẫn với mình, vì vừa ở một đoạn khác ông tỏ ý không tán thành ý kiến cho rằng “cái triều đình” của Từ Hải nó là cái gì cũng khó mà nói ra được, nhưng Từ Hải không chỉ anh hùng để mà anh hùng như có người nghĩ. Lưỡi gươm Từ Hải vung lên chính là để dẹp nỗi bất bình cho Kiều”[8]. Ngoài ra còn có rất nhiều người có ý kiến tương tự như Hoài Thanh và Lê Đình Kỵ. Không rõ căn cứ vào đâu mà các vị đánh giá quá thấp người anh hùng này đến thế. Thì ra, trong đời lại có cái loại anh hùng vô ý thức, vô mục đích đến như thế hay sao?
Ta hãy thử xét xem Từ Hải nổi dậy có mục đích, lý tưởng gì không? Và mục đích ấy cụ thể nó như thế nào? Có lẽ chính Kiều hiểu rõ cái tính chất nổi dậy của Từ hơn cả các nhà nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên mà Kiều so sánh Từ với Hoàng Sào:
Làm chi để tiếng về sau
Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Cũng không phải vô tình mà Nguyễn Du đã mượn thơ Hoàng Sào, để tả cái phong thái của Từ Hải:
Giang hồ quen thú vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Còn “mười vạn tinh binh” dưới trướng của Từ Hải chẳng lẽ là mười vạn nho sĩ chăng? Hay là mười vạn lái buôn? Hiển nhiên nó chỉ có thể hoặc là mười vạn nô lệ hoặc là mười vạn nông dân bị áp bức. Mười vạn nông dân bị áp bức đói khổ thì đúng hơn. Vậy một cuộc khởi nghĩa của mười vạn nông dân lại không thể gọi tên là một cuộc khởi nghĩa của nông dân? Và lãnh lụ của cuộc khởi nghĩa đó lại không phải là một lãnh lụ nông dân? Nếu không phải là suy diễn quá đáng thì có thể căn cứ vào ngôn ngữ của Từ Hải để đoán ràng Từ là một người có học, hiện thân của một nho sĩ bất đắc chí. (Từ rất thuộc điển cố: “Từ rằng lời nói hữu tình, khiến ta lại nhớ câu Bình Nguyên Quân” và hễ mở miệng ra là ông ta nói chữ: “Từ rằng: Tâm phúc tương cờ”, “Từ rằng: Tâm phúc tương tri”).
Tiếc rằng Nguyễn Du không mô tả tỉ mỉ hơn xem cờ nghĩa của Từ Hải đề những chữ gì, nhưng cứ xem cái cung cách đám mười vạn quân sĩ của Từ tán thành trừng trị lũ “bạc ác tinh ma” thì đủ hiểu rằng họ cũng chẳng theo Từ Hải một cách vô ý thức, vô mục đích:
Thệ sư kể hết mọi lời
Lòng lòng cùng giận, người người chấp uy.
Nhất là sau khi báo ân báo oán, Kiều ngỏ lời tạ ơn thì Từ lại càng nói rõ hơn:
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
Giữa dường thấy việc bất bằng mà tha.
Huống chi việc cũng việc nhà...
Cứ theo lời Từ, rõ ràng “bất bằng” là “bất bằng” chung, trong đó có “bất bằng” riêng. Và cái “việc nhà” này là nằm trong cái “việc người”, “việc chung” mà cả cái việc khởi nghĩa kia có trách nhiệm giải quyết. Nếu không gọi đó là lý tưởng vì đại nghĩa của Từ Hải thì còn gọi là cái chi nữa? Theo tôi hiểu cuộc khởi nghĩa của Từ Hải mà Nguyễn Du đã mô tả chính là hình ảnh một cuộc khởi nghĩa nông dân. Từ Hải xuất thân nho sĩ và là một lãnh tụ nông dân có mục đích, có lý tưởng rõ ràng.
Có người dường như muốn chứng minh “đàn” trong “gươm đàn nửa gánh...” là một thứ vũ khí nhằm xóa bớt cái cốt cách anh hùng của Từ Hải. Nhưng phải công bằng mà nói rằng Từ đã mang một cây đàn lớn trong tâm hồn mình và tiếng đàn này vang lên hết sức hòa diệu với tiếng tơ lòng của quần chúng nông dân đau khổ dưới thời phong kiến. Từ có một tâm hồn khoáng đạt vô cùng, vì nếu không có tâm hồn, không có tinh thần vì đại nghĩa thì làm sao có gan làm việc lớn và dám rời bỏ hạnh phúc riêng để lên đường một cách ung dung, quả cảm đến thế:
Nửa năm hương lửa đang nồng
Trượng phu thoắt đã dộng lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong.
Người anh hùng ra đi với cả một niềm tin tất thắng, đầy khí phách hào hùng, nguyện thắng lợi trở về sum họp với gia đình:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Bằng nay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận biết là đi đâu
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau, vội gì.
Có thể nói Nguyễn Du đã viết nên những câu thơ sảng khoái nhất khi miêu tả hình ảnh người anh hùng lên đường tranh đấu:
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió đưa bằng tiện, đã lìa dặm khơi
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời...
Đặt hình ảnh người anh hùng Từ Hải ra di bên cạnh hình ảnh “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt” bịn rịn, quyến luyến khi từ biệt vợ “bước di một bước giây giây lại dừng”, ta càng thấy có một sự cách biệt lớn về tâm hồn giữa hai con người. Ngay cái ánh hào quang rực rỡ mà tác giả Chinh phụ ngâm phủ lên người chinh phụ phong kiến:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
vẫn không nâng thêm được tầm vóc thấp bé của chàng bên cạnh hình ảnh hào hùng của người lãnh tụ nghĩa quân nông dân. Hai cách nhìn, hai mẫu người và hai tính chất của cuộc ra đi đã tạo ra hai hình ảnh nhân vật khác biệt nhau đến thành đối lập.
Và khung cảnh độc đáo nhất trong kiệt tác của Nguyễn Du có lẽ là khung cảnh tòa án mà Từ Hải đã hạ lệnh lập ra để cho Kiều “báo ân báo oán”. Đúng là hình ảnh một tòa án hết sức đặc biệt chưa từng thấy trong đời sống cũng như trong lịch sử văn học cổ điển nước nhà và lịch sử văn học cổ thế giới. Nó đặc biệt ở chỗ tòa án này không phải chỉ là nơi xử tội mà còn là nơi để đền ơn. Nó khác thường ở chỗ lũ chuyên làm việc “hại nhân” bị “nhân hại” ngay giữa “thanh thiên bạch nhật” ngay trên cõi trần thế này. Trang Vương trong Phạm Tải Ngọc Hoa phải xuống âm phủ mới bị xử tội. Các thứ vua chúa, giáo hoàng... trong Thần khúc của Dante cũng đợi xuống địa ngục mới nhận các hình phạt. Còn Lý Thông trong Thạch Sanh tuy có bị trừng phạt ở cõi đời nhưng lại do Thiên lôi đả. Riêng ở đây, bọn đi áp bức người đã bị xét xử ngay giữa cõi người, ngay kiếp hiện tại và chính do tay người bị áp bức:
Lệnh quân truyền xuống nội dao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!
Cho hay muôn sự tại trời
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta.
Mấy người bạc ác tinh ma
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
Ba quân đông mặt pháp trường
Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi.
Đáng tiếc là mỗi sự, mỗi việc đã “rõ ràng” đến thế mà trên cái vòm trời công lý sáng đẹp và hào hùng vẫn còn vương một vẩn mây “định mệnh” đáng ghét:
Cho hay muôn sự tại trời...
Dù đây là một quan điểm của tác giả hay của một bộ phận quần chúng chăng nữa thì nó cũng vẫn là một sự lạc lõng giả tạo đến kinh khủng. Nó chỉ có thể chấp nhận được khi cái ông trời kia được hiểu là những người dân bị áp bức “ý dân là ý trời”. Dù sao nó vẫn cứ như một cái bướu thừa giống như đoạn mở đầu và đoạn kết tác phẩm, giống như lời lẽ khó nghe của Tam Hợp đạo cô, của cái bóng ma Đạm Tiên hiện lờ mờ trong tác phẩm, bám hờ vào tác phẩm. Chúng chẳng làm vinh dự gì thêm cho tác phẩm và tác giả, thậm chí chúng còn là những độc tố có khả năng làm tê liệt sức đấu tranh quật khởi của những người bị áp bức đau khổ. Cũng đáng tự hào về một dân tộc đã đọc truyện Kiều hàng trăm năm và đã từng tụng niệm mọi thứ kinh Phật, kinh Thánh mà chưa hề bị nhiễm độc tố này. Ôi cái kháng thể chảy trong dòng máu quật cường của dân tộc Việt ta sao mà mãnh liệt! Mọi quân xâm lược từ phương Bắc xuống hay từ phương Tây đến đều bị đánh ngã quỹ và mọi cái ác đều bị trừng trị một cách đích đán. Đáng chú ý hơn nữa là người đứng ra xử án cái lũ ác ở đây không phải ai khác mà là một người phụ nữ. Người anh hùng họ Từ đã thu xếp cho nàng Kiều một địa vị xứng đáng chưa từng thấy trong lịch sử các xã hội có giai cấp bóc lột, nhất là các xã hội phong kiến phương Đông:
Trướng hùm mở giữa trung quân.
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Thật là một hiện tượng hết sức kỳ lạ trong một xã hội đặc sệt lễ giáo Khổng Mạnh mà mọi thứ tôn ti trật tự đã được quy định chặt chẽ đến khắc nghiệt với các tín điều vô cùng quái gở: nào là nam tôn nữ ti, nào là tứ đức tam tòng, nam nữ hữu biệt, nam nữ thụ thụ bất thân v.v... thì nhà thơ Nguyễn Du chỉ cần hạ:
Phu nhân sánh với Từ công cùng ngồi.
cũng đã là vô cùng táo bạo, vô cùng nhân bản. Thế nhưng nhà thơ Nguyễn Du của chúng ta còn đi xa hơn thế:
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
thật là vượt ra ngoài khuôn phép một cách không tưởng tượng nổi, thật là muôn lần nhân bản và cách mạng. Trước đây chúng ta từng trân trọng và biết ơn tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du khi nghe Nguyễn Du kêu lên tới hai lần:
Đau đớn thay! Phận đàn bà.
trong truyện Kiều và trong Văn chiêu hồn. Và chúng ta từng thích thú về những từ “lẻn”, “ngây”, “tót”... mà Nguyễn Du đã vạch trần cái xấu xa, cái lố bịch, cái chất “hề” trong người chúng. Nhưng bên cạnh những từ “kêu than”, “tố cáo”, cái cụm từ “sánh với” nằm trong cái câu thơ kỳ lạ này sao mà nó ánh lên, sáng lên một tư thế người đẹp đẽ, xứng đáng với con người đến thế. Không còn là đàn ông thì cao quý, đàn bà thì thì hèn nữa! Không phải là Từ-công-đàn-ông; ngồi sẵn đây rồi rủ ơn phước gọi Thúy-Kiều-đàn-bà đến cho ngồi sánh bên mà là ngược lại. Phu nhân Thúy Kiều ở tòa án, ở cuộc đời là xứng đáng ngồi ở địa vị ấy, còn ta, ta chỉ ngồi sánh bên để xem phu nhân phán quyết xét xử mà thôi. Ta tin rằng phu nhân dư khả năng và trí sáng suốt để làm việc đó. Có thể nói không quá đáng thì đó là hai câu thơ đặc sắc nhất, tuyệt vời nhất giữa hơn 3000 câu thơ vốn đã tuyệt vời của Nguyễn Du; chắc chắn nó cũng là những câu thơ đặc sắc nhất trong nền văn học cổ Việt Nam. Nó tuyệt vời không phải cách dùng từ đẹp hay âm điệu lạ tai hay điển cố sâu xa mà chính ở tầm cỡ tư tưởng mà nhà thơ đã gởi gắm đó. Nó giáng một đòn khá mạnh vào cái ý thức hệ phong kiến đồi bại đã được sùng bái hàng ngàn đời. Phải đến hơn 100 năm sau đó, loài người mới được nghe thêm những lời đầy sảng khoái ca ngợi người đàn bà từ trái tim Gorki, đại văn hào Nga:
“Vinh quang thay người đàn bà, người Mẹ! Lòng yêu của người thật không bờ bến. Bộ ngực của người đã nuôi sống nhân loại! Tất cả những gì tươi đẹp trong con người đều do ánh sáng mặt trời và sữa mẹ tạo nên. Đó là hai nguồn yêu đời tràn trề của chúng ta”.
Rồi sau cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, vào những ngày đầu dân tộc ta kiên cường kháng chiến chống thực dân Pháp, ta lại được nghe những lời thơ tuyệt diệu tương tự của Tố Hữu:
“Con ra tiền tuyến xa xôi.
Yêu bầm, yêu nước cả đôi mẹ hiền”
(Bầm ơi)
Một bà mẹ được đặt ngang hàng với tại Mặt trời, còn một bà mẹ được đặt ngang hàng với Tổ quốc, có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những con người bị khinh rẻ miệt thị được các trí tuệ lớn của loài người mang sánh ngang với những gì vẫn được coi là cao quí, đẹp đẽ, thiêng liêng nhất trên cõi đời này. Nếu như “trong một xã hội nhất định, trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo tự nhiên để đo trình độ giải phóng chung”[9] thì thái độ đối với phụ nữ trong một tác phẩm văn học nghệ thuật chính là một loại thước đo lý tưởng thẩm mỹ của tác giả và giá trị của tác phẩm.
Điều mà Nguyễn Du xưa mơ ước về dịa vị bình dẳng của người phụ nữ phải đợi đến khi cuộc cách mạng do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thắng lợi mới trở thành hiện thực và nó được cụ thể hóa trong Hiến pháp của đất nước. Chúng ta càng trân trọng tâm tình của Nguyễn Du, người đã vẽ ra những mơ ước tươi sáng, đẹp đẽ giữa những “đêm trường dạ tối tăm trời đất”, rặt những “đày dọa”, “oan khốc”. Nguyễn Du không chỉ than khóc, tố cáo mọi nỗi oan khổ của con người bị áp bức, người còn can đảm, bằng hình tượng văn học, khẳng định cái chỗ đứng, chỗ ngồi xứng đáng với CON NGƯỜI. Nguyễn Du của chúng ta kín đáo và tinh tế lắm! Trên cái sân khấu truyện Kiều, người đạo diễn các lớp lang để cho các nhân vật của mình diễn xuất rất thoải mái đúng với tính cách của mình chứ không hề bị gò bó. Thúy Kiều gặp Từ Hải cũng cứ tự nhiên như là bất chợt gặp một khách làng chơi nào đó. Nhưng chỉ qua cái dáng, cái vẻ, cái cung cách và nghe lời ăn tiếng nói của Từ, nàng đã linh cảm nhận thấy rằng đây là một con người khác thường, một người anh hùng sẽ giải phóng cho đời mình. Nhưng trong cái quan hệ Thúy Kiều - Từ Hải từ đầu đến cuối không thấy tiếng đàn kỳ diệu của Kiều vang lên dù chỉ một lần khiến cho nhiều người băn khoăn thắc mắc.
Có lẽ người thắc mắc đầu tiên viết lên thành giấy trắng mực đen là Nguyễn Tuân. Trong bài tản mạn xung quanh một áng Kiều của ông viết nhân dịp cả nước ta và cả thế giới kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du có đoạn:
“... Nhưng tại sao Kiều lại không đàn cho Từ Hải một câu nào? Không cho Từ một câu nào, mặc dù đó là một đấng đường đường “gươm dàn nửa gánh. non sông một chèo”? Từ Hải ăn ở ăn nằm với Kiều như vậy, lại còn để nàng “... cùng dự quân trung luận hàn”, tại sao không có một tý đàn nào? Nếu đây không phải là một sự sơ xuất lớn thì lại là một cao kiến gì của Nguyễn Du. Tôi vẫn chưa tìm ra cái lẽ cái lý của những cái đó”. (Văn nghệ số 135 - 26/11/1965)
Nguyễn Tuân đã phát hiện một vấn đề thú vị và thái độ thì hết sức đúng đắn, khoa học. Cần phải biết suy nghĩ, biết phát hiện, khám phá; nếu mình chưa giải quyết được vấn đề thì cứ bảo lưu lại đó thế hệ sau đến giải quyết cũng chưa muộn. Nó khác hẳn cái thái độ chưa tìm hiểu cách lý giải đã vội đem xén bớt đi một cây đàn, xén bớt tầm vóc nhân vật của người ta đi. Vấn đề này, trong bài “Gươm đàn hay “gươm cung”? tôi đã hứa sẽ trao đổi với hạn đọc của tạp chí. Nay xin mạo muội trình bày vài kiến giải có phần nông cạn của mình, mong các bậc thức giả chỉ giáo thêm. Tôi nghĩ rằng nếu Nguyễn Du muốn tả thêm một lần hay hay nhiều lần Kiều đàn cho Từ Hải nghe thì với tài năng của ông, ông dư sức làm việc đó. Nhưng ông đã không làm thế. Có thể ông tôn trọng nguyên tác chăng? Cũng có thể ông đã không làm thế vì ông cho là thừa và có hại cho tính cách nhân vật mà ông yêu mến, trân trọng. Vì cứ lấy cái logic của tác phẩm cũng như cái logic của đời sống mà suy ngẫm thì Từ không quan tâm đến tiếng đàn của Kiều là phải và Kiều không đánh đàn cho Từ nghe cũng là hợp với tính cách của mình. Từ Hải đến với Kiều không giống với những khách làng chơi tầm thường, Từ đến với Kiều chẳng phải để tìm những thú vui vật chất, chẳng phải vì cái sắc đẹp hình hài hay tài hoa “cầm, kỳ, thi, họa” của nàng mặc dầu Từ đã biết tiếng tăm của Kiều từ lâu:
Bấy lâu nghe giống má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Qua câu hỏi này ta biết Từ hiểu Kiều sâu sắc lắm, cho nên không ngạc nhiên khi thấy Từ nói rất thẳng:
Từ rằng: “tâm phúc tương cờ
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi.
Thật là chân thành và khẳng khái! Ta muốn tìm người kết làm tri kỷ chớ đâu phải đi tìm một cái tình trăng gió tạm bợ. Có phải bấy lâu nay nàng chưa hề coi trọng ai phải không? Ừ! Trong đời này có mấy kẻ đáng mặt anh hùng; còn cái lũ tầm thường hèn kém kia thì bõ bèn gì mà chơi bời, giao du. Thế là rõ rồi! Từ Hải cần một thứ cao hơn hẳn: một tấm lòng tri kỷ. Chỉ khao khát có thế thôi, còn chẳng cần mọi thứ khác kể cả tài đàn của Kiều. Thế nhưng còn Kiều? Nguyễn Du đã miêu tả nàng đánh đàn tất cả tới tám lần - bốn lần tả sơ, bốn lần tả kỹ - có điều đáng chú ý là cả tám lần nàng đều đàn không tự nguyện. Ngay hai lần đàn cho người tình Kim Trọng nghe thì chẳng qua cũng là thể theo “yêu cầu của thính giả”, nàng chiều ý người yêu đó thôi. Còn những lần khác thì đều là bị cưỡng bức, ép buộc mà phải đàn. Lũ tầm thường có, hung ác có, tụm lại mà nghe, xúm lại mà sỉ nhục tài hoa của nàng. Tay đàn mà lòng nàng rỏ máu. (Nếu ta đòi Nguyễn Du tả Từ Hải giục Kiều đàn cho mình nghe thì có khác gì bảo tác giả dồn Từ Hải vào chung một bị với lũ người kia mà xóc lên). Lẽ ra, khi gặp Từ Hải, người tri kỷ đồng thời cũng là người giải phóng cho đời mình thì chẳng đợi phải giục giã hay nài ép, Kiều cũng nên đàn một khúc mới phải. Song, ta cũng phải thông cảm với cái khổ của Kiều. Giả thử muốn đàn cho tri kỷ nghe thì nàng sẽ đàn khúc nào đây? Chẳng lẽ đời đang phơi phới lên hương, lên sắc như thế mà lại đàn cái khúc bạc mệnh chăng? Mà khúc mới thì đã kịp phổ đâu. Cái cũ thì đã lỗi thời không dùng được nữa, cái mới thì chưa kịp tạo tác. Nếu là loại người tầm thường, bảo thủ, trì trệ nào đó thì Kiều cũng cứ đánh liều tận dụng cái cũ vậy. Nhưng Kiều lại không phải loại tầm thường như thế. (Tin chắc rằng nếu Từ không đầu hàng, không chết đứng, thì thế nào Kiều cũng đủ thời gian để sáng tác xong khúc đàn mới và tất nhiên nàng sẽ đàn cho Từ Hải và chúng ta nghe “khúc vui” ấy). Kiều cũng là một con người phi thường. Trước đây, đối với mọi người, Kiều chẳng qua chỉ là một cô gái - tệ hơn nữa, một con đĩ - tài sắc vẹn toàn đã chịu nhiều nỗi gian truân, chìm nổi luân lạc. Như vậy là người ta chưa hiểu Kiều và đánh giá nàng đúng bằng Từ Hải. Từ Hải đánh giá Kiều cao hơn nhiều, nghĩa là ngang tầm với mình. Từ đã nói một cách không chút khách khí (và tất nhiên, tâng bốc hay xu nịnh là điều rất xa lạ với bản chất của Từ):
Anh hùng mới biết anh hùng '
Rày xem phỏng đã cam lòng hay chưa?
Cũng có người thắc mắc: “Thúy Kiều mà có quan hệ vợ chồng với Thúc Sinh, điều dó kể cũng lạ. Nhưng Thúy Kiều được Từ Hải coi là tri kỷ thì còn lạ hơn nữa bởi vì Kiều chưa hề tỏ ra có cái chí hướng của Từ Hải”[10]. (ở chỗ này, Lê Đình Kỵ cũng tự mâu thuẫn, lúc thì bảo Từ Hải không có chí hướng gì, lúc lại bảo là có chí hướng).
Ngẫm cho kỹ, cũng phải cùng tầm cỡ và cùng có “con mắt tinh đời” như nhau mới xét đoán nổi nhau và đánh giá nhau một cách đúng đắn. Xưa nay người ta chỉ cho rằng nàng Kiều có “con mắt tinh đời” và đã phát hiện ra Từ Hải anh hùng “đoán giữa trần ai mới già”. Nhưng chính Từ Hải cũng là người phát hiện ra Kiều và thấu hiểu Kiều hơn ai hết, (hơn cả Kim Trọng). Họ mới chỉ gặp nhau lần đầu, chỉ mới “hai bên cùng liếc” mà đã hiểu nhau, nhận ra nhau và tin tưởng vào sự nghiệp tương lai của nhau; thế thì xứng đáng là tri kỷ của nhau quá đi rồi còn gì? Trong đời, còn gì may mắn và hạnh phúc bằng gặp được người hiểu mình. Và hiểu mình là đủ thành tri kỷ chứ còn cần gì hơn nữa. Đã là tri kỷ thì thường có chung chí hướng và chung nhiều thứ khác. Nhưng chỉ cần cùng chí hướng mà không hiểu nổi nhau thì vị tất đã kết thành tri âm, tri kỷ được. (Trong giới quan lại có biết bao kẻ cùng có chí hướng như Du Bá Nha nhưng ai hiểu được tiếng đàn và nỗi lòng của Bá Nha bằng anh tiều phu Chung Tử Kỳ). Vậy cái điều tưởng là lạ ấy thật ra chẳng có gì lạ cả. Có thể nói do cuộc đời “bẩy nổi ba chìm” mà Kiều có những mối quan hệ rất phong phú: một tình nhân chung thủy Kim Trọng, một anh chồng tầm thường Thúc Sinh và một người tri kỷ anh hùng Từ Hải. Còn nếu cứ nhìn qua khuôn lễ giáo Khổng Mạnh thì cả ba đều là “đức anh chường” cả thôi (còn không bõ kể tới cả một lũ tầm thường khác, chẳng qua cũng chỉ là những thứ vẩn rác, bụi bặm từng bám vào, vướng vào chân, vào mình cái con người chìm cạn kiêm chìm sông ấy). Đúng là Từ Hải và Kiều đã cùng phát hiện ra nhau và nhất là cùng tầm cỡ như nhau. Ngay việc Kiều nhẹ dạ tin Hồ Tôn Hiến và Từ nhẹ dạ tin nghe theo Kiều cũng là một chứng cứ họ có chung tầm cỡ. Cả hai đều có mặt anh hùng và cũng đều có mặt phi anh hùng.
Cái mặt anh hùng, mặt khí phách của Từ thì thấy rõ rồi nhưng còn cái mặt phi anh hùng tức cái chuyện bẻ giáo, hạ gươm lai hàng của Từ thì thật là hết sức rắc rối. Chính ở mặt này, ý kiến mọi người hết sức giống nhau và cũng hết sức khác nhau. Ngay trong ý kiến của một người cũng nảy ra mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Hầu hết khi xét đến thái độ đầu hàng của Từ Hải, người ta thường bỏ rơi cái logic của nhân vật logic của tác phẩm và thường chỉ tìm nguyên nhân ở tác giả và hoàn cảnh lịch sử. Nghĩa là người ta lý giải tính cách nhân vật bằng những nhân tố ngoài tác phẩm là chủ yếu; do đó, có người đề cao Từ Hải hết mức kể cả khi Từ Hải đã đầu hàng; có người cũng thấy cần phải phê phán thái độ đầu hàng của Từ nhưng loanh quanh luẩn quẩn lại là những lời hết sức tốt đẹp để ca tụng Từ; có người thấy cần phải dứt khoát phê phán nhưng phê phán ở mức độ nào và cụ thể như thế nào thì lại là hết sức đại khái. Hình như trong chuyện đầu hàng này, lỗi hoàn toàn ở tác giả chứ nhân vật thì không chịu trách nhiệm gì. Nực cười thay, chính những người có loại ý kiến đó vẫn khẳng định truyện Kiều là một tiểu thuyết hiện thực, bút pháp Nguyễn Du là bút pháp hiện thực; Nguyễn Du có một chủ nghĩa hiện thực hẳn hoi (!!!).
Dứt khoát trong khi xét tới các nhân tố ngoài tác phẩm văn học, ta cứ phải bắt đầu từ tác phẩm đã. Lê Đình Kỵ có ý đúng khi ông cho rằng: “... phải tìm hiểu thế giới quan của nhà văn thông qua cảm hứng chủ đạo của tác phẩm và đánh giá nhà văn quá khứ trước hết phải xuất phát từ tác phẩm của họ”. Tôi cho rằng chẳng riêng gì đối với tác giả quá khứ, mà đối với tất cả mọi tác giả xưa cũng như nay đều phải được đối xử như thế. Nếu ta không xuất phát từ tác phẩm mà tìm hiểu thế giới quan của tác giả rồi cứ đem đồng nhất tác phẩm hoặc nhân vật của tác phẩm với tác giả thì khó mà tìm ra được những điều cần tìm. Có người nhằm chứng minh một tư tưởng nào đó của Nguyễn Du, thế là hễ cứ thấy bất cứ lời lẽ của nhân vật nào phù hợp với tư tưởng đó liền gán ngay cho tác giả. Thành ra, hết Kiều đến Từ Hải, rồi Đạm Tiên, rồi Tam Hợp đạo cô và cả Hồ Tôn Hiến nữa, hầu như đều là những cái loa phát ngôn cho tư tưởng của tác giả. Cứ cái đà này chỉ còn thiếu nước người ta sẽ cho cả Tú bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, v.v... trở thành những kẻ phát ngôn chính thức suốt loạt. Lẽ dĩ nhiên vẫn phải tham khảo nhiều thứ khác ở ngoài tác phẩm như hoàn cảnh lịch sử, tiểu sử tác giả v.v... nhưng trước hết vẫn là phải chú ý đến văn bản, đến tính logic khách quan của nhân vật.
Bây giờ tôi xin điểm lần lượt một số vấn dề xung quanh cái thái độ đầu hàng và cái chết của Từ Hải. Do nguyên nhân nào mà Từ Hải đầu hàng? Từ trước đến nay, người ta chỉ để ý đến chuyện Kiều khuyên Từ Hải hoặc cho rằng, đó là chủ ý của Nguyễn Du, Nguyễn Du đã uốn nắn và lái nhân vật theo ý mình. Vậy chẳng lẽ chủ quan Từ Hải không chịu trách nhiệm gì? Từ Hải chỉ thụ động trước những nhân tố khách quan? Phải nói rằng, động cơ ra hàng của Từ Hải hết sức phức tạp nhưng không phải không lần tìm ra được. Điều thấy rõ nhất là do Kiều khuyên Từ mà Từ ra hàng. Nhưng vì sao Kiều đã khuyên Từ ra hàng? Căn cứ vào tác phẩm, ta sẽ thấy mấy nguyên nhân sau đây:
Một là, do Kiều nhẹ dạ tin người: “Nàng thời thật dạ tin người”
Hai là, nàng đã tối mắt lại trước món của cải hối lộ quá lớn của bọn thuết hàng Hồ Tôn Hiến:
“Lại riêng một lễ với nàng.
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân”.
Ta nhớ lại, trước đây, chỉ vì thiếu có ba trăm lạng vàng mà gia đình Kiều khốn đốn và đời Kiều phải chìm nổi luân lạc thì số “ngọc vàng nghìn cân” này quả là một tài sản quá lớn đối với người con gái đã hai phận khổ vì tiền. Trong hoàn cảnh dó, Kiều có bốc máu tham lên mà mê cái hơi đồng, hơi vàng này cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
Ba là, nàng lo nghĩ đến thân phận mình:
“Nghĩ mình mặt nước cánh bèo
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân
Bằng nay chịu tiếng vương thần.
Thênh thang đường cái thanh vân hẹp gì.
Công tư vẹn cả đôi bề.
Dần dà thì sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà à
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng
E dè sóng gió, hãi hùng cỏ hoa.
Trong mười hai câu thơ độc thoại, chỉ có 13 chữ, tức là chưa đầy hai câu lục bát nói đến việc “công tư vẹn cả đôi bề”, “trên vì nước...”, “... hai là đắc trung”. Nói một cách gượng gạo chiếu lệ và có lẽ chính người nói cũng chẳng hiểu đầy đủ thế nào là việc “công”, thế nào là “vì nước”, thế nào là “đắc trung”. Chẳng qua là những thứ mà bọn thuyết hàng Hồ Tôn Hiến vừa mớm cho chưa kịp tiêu đã vội moi ra, ói ra. Nhất là khi nghe Kiều bầy tỏ lý lẽ xui chồng ra hàng nó mới mỉa mai làm sao:
Rằng: Trong thánh trạch dồi dào
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu
Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao.
Những lời ca tụng bọn lang sói thốt ra từ miệng cừu nghe mới thấy tức cười, đáng ghét và thảm hại làm sao. Qua những lời lẽ gớm ghiếc đó, còn tìm đâu ra cái “thông minh vốn sẵn tính trời” của Kiều. Sao Kiều lại quên quá nhanh những cái “công đức” từng “tưới” lên gia đình Kiều, “tưới” lên đầu Kiều, và “thấm” vào đời Kiều, cái cuộc đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” đầy cực nhục của nàng? Thế mới biết cái ánh rực rỡ của vàng có thể làm đen lòng người. Cái món vàng ngọc hối lộ của bọn Hồ Tôn Hiến đã làm lóa mắt Kiều, làm đen lòng Kiều khiến cho Kiều không còn đủ cái thông minh sáng láng để phân biệt nổi thế nào là đúng sai, phải trái nữa. Đúng như Lỗ Tấn đã nhận xét, bọn thống trị có đủ các thủ đoạn vật chất và tinh thần trói chặt người dân bị áp bức, làm cho họ mê muội đi để dễ bề sai khiến, bóc lột. Con ong eo lưng thống trị chích một mũi nọc độc vào huyệt của con sâu xanh bị trị khiến nó tê liệt đi, ở vào tình trạng dở sống dở chết:
“Muốn phục tùng sự tác uy thì phải không sống, muốn cống thứ ngon vật lạ thì phải không chết; muốn bị trị thì phải không sống, muốn cung dưỡng kẻ trị người thì phải không chết”.
Thúy Kiều quả đã bị chích một mũi nọc độc tư tưởng đúng vào huyệt thần kinh vận dộng và nàng hết ca tụng bọn thống trị lại quay ra phỉ báng ngay cả cuộc khởi nghĩa, cái sự nghiệp hiển hách của Từ mà chính nhờ đó nàng đã được giải phóng:
Ngẫm từ gây việc binh đao
Đống xương vô định dã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Sao bằng lộc trọng quyền cao
Công danh ai dứt lối nào cho qua.
Như thế là cứ cắn răng chịu đựng mãi áp bức là tốt, nổi dậy để chống lại vua chúa là bất trung, là xấu, là mãi mãi đeo tiếng xấu làm “giặc”. (Thôi hãy tạm gạt ra bọn cái nọc độc lý sự này, ta thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà qua lời Kiều, cũng do bọn Hồ Tôn Hiến mớm cho, bọn Hồ Tôn Hiến đã đánh giá rất cao Từ Hải và cuộc khởi nghĩa của Từ). Thật đáng ngạc nhiên khi thấy một con người “thông minh” đầy dũng khí và nghị lực như Kiều mà thoái hóa nhanh đến thế, nhưng càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy Lê Đình Kỵ không tiếc lời ca tụng Kiều: “... Kiều là một mẫu người phụ nữ (...) trong hoàn cảnh của mình đã hành động một cách xứng dáng không chê trách vào đâu được”[11]. Công bằng mà nói thì Kiều có nhiều mặt tốt, đáng khen ngợi nhưng cũng có nhiều điều đáng chê trách, mà điều đáng chê trách nhất là nàng đã ngu xuẩn xui Từ Hải đầu hàng kẻ thù. Mà Từ Hải thì cũng ngu xuẩn không kém khi nghe vợ mà bó giáo lai hàng. Ấy thế mà cái thái độ đầu hàng và cả cái chết thảm hại của Từ Hải vẫn được nhiều nhà nghiên cứu truyện Kiều ca tụng không tiếc lời.
Hoài Thanh có lẽ là một trong những người mê Từ Hải nhất. Ông đã nhiều lần đề cao Từ Hải quá cái mức cần thiết:
“Từ Hải chết không nhắm mắt. Từ Hải chết đứng, cái chết của Từ Hải là một lời nguyền rủa cái hèn nhát, cái gian dối của bọn cầm quyền. Kẻ thù của Từ Hải đã thắng, nhưng trước công luận muôn đời, người thắng lại là Từ Hải. Lòng người vẫn đứng về phía Từ Hải, không tán thành cuộc đời ấy, tán thành giấc mơ ấy”[12].
Lê Đình Kỵ đánh giá Từ Hải có khác Hoài Thanh ít nhiều nhưng khi ca tụng cái chết của Từ Hải thì ông cũng viết những lời đẹp đẽ tương tự:
“Từ Hải nhanh chóng nhận thấy sự sai lầm của mình, và tất cả khí phách bình sinh đã trở lại với Từ “tử sinh liều giữa trận tiền”, dù phải chết, Từ Hải sẽ chết đứng như một người anh hùng (tôi nhấn mạnh - T.K). Cái chết đứng của Từ Hải là một bài học lịch sử lớn, một lời tố cáo uất ức nghẹn ngào căm giận. Nguyễn Du đã gửi gắm mơ ước phản kháng của mình vào nhân vật Từ Hải. Nguyễn Du dã chắp cánh cho Từ Hải đôi cánh của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. Từ Hải vút lên trên xã hội cũ như con chim đại bàng kiêu hãnh:
“Gió đưa bằng tiện dã lìa dặm khơi”
Con chim ấy đã bị cung tên của Hồ Tôn Hiến lén lút bắn rơi, nền trời trớ lại u ám nặng nề, nhưng mơ ước mà Từ Hải đã dấy lên ở lòng người thì không có cung lên nào bẻ gẫy được”[13].
Xuân Diệu cũng khuyên cho Từ Hải những nét son chói lọi:
“Từ Hải chết mà không nhục (tôi nhấn mạnh – T.K), còn đánh lại quân thù cho đến hơi thở cuối cùng rồi ngang nhiên đứng sững đó (...). Từ Hải mà đứng giữa trời “trơ trơ” thì là một trái núi rồi (tôi nhấn mạnh – T.K)”.[14]
Còn Nihculin, trong cuốn “Nguyễn Du, nhà thơ vĩ đại của Việt Nam”, ông cũng dành cho Từ Hải những lởi hết sức ưu ái:
“Từ đầu đến cuối, Từ Hải vẫn là một người vĩ đại, khảng khái, mặc dầu đã bị sa vào lưới Hồ Tôn Hiến “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Và Từ Hải đã chết và chàng chết đứng”[15].
Ít khi người ta gặp hiện tượng đánh giá một nhân vật lại có sự nhất trí cao đến như thế. (còn những ý kiến tương tự của một số nhà nghiên cứu khác nhưng ở đây tôi chỉ trích dẫn mấy ý kiến tiêu biểu). Có lẽ các nhà nghiên cứu kể trên đều đứng chung một bình diện, một góc dộ và dưới cùng một ánh sáng chăng?
Bây giờ chúng ta thử bình tâm xét xem trận chiến đấu cuối cùng trong đời Từ Hải và cái tư thế chết đứng của Từ Hải có xứng với những lời ca tụng và đề cao quá mức như thế không? Trước hết ta nên duyệt lại cái chuyện Từ Hải đầu hàng. Từ đã ra hàng trong hoàn cảnh nào? Rõ ràng chẳng phải vì Từ Hải đã lâm vào cảnh thế cùng lực tận. Lực thì trong tay còn mười vạn tinh binh, thế thì đang mạnh như chẻ tre, tâm trí thì vẫn sáng suốt và lời lẽ thì hết sức khảng khái:
Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành.
Bó thân về với triều đình.
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau.
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi.
Sao bằng riêng một biên thùy
Sức này đã dễ làm gì được nhau.
Chọc trời quấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Thế mà dùng một cái: “thế công Từ mới trở ra thế hàng”. Và giương ngay lên một lá cờ trắng bạc nhược, nhơ nhuốc rồi chết đứng một cách thảm hại.
Đánh giá cái chết của Từ có lẽ Hoài Thanh là người thận trọng nhất. Ông cân nhắc từng chữ qua nhiều năm tháng: “Như thế là từ chỗ nói “Từ Hải chết vì ngay thẳng, vì thật dạ tin người” đến nói “Vì dại dột tin người”, qua đúng hai mươi năm tham gia cách mạng , tôi mới bắt đầu nhìn thấy cái chết này cần phải phê phán. Rõ ràng là quá chậm. Nhưng tôi vẫn chưa nhìn ra cái chính cần phê phán”[16].
Đúng! Cái chính cần phê phán là tư tưởng đầu hàng của Từ Hải thì nhà nghiên cứu vẫn chưa lưu tâm đến. Tôi hoàn toàn tán thành quan điểm đánh giá của Từ Sơn: “Từ Hải chết vì phạm sai lầm của chủ nghĩa đầu hàng”[17]. Chứ nói “Từ chết vì dại đột tin người” thì vẫn còn nương nhẹ quá. Không thể để Từ trốn tránh trách nhiệm và tội lỗi trong việc này. Trên kia tôi dã nói Kiều xui chồng ra hàng là một hành động ngu xuẩn và Từ Hải thì cũng ngu xuẩn không kém khi nghe vợ mà đầu hàng giặc. Có anh bạn bảo tôi nói như thế e nặng lời quá. Nhưng đâu có phải chuyện nặng lời hay nhẹ lời. Vấn đề là phải gọi sự vật cho đúng tên của nó.
Từ Hải thản nhiên từ bỏ lý tưởng cao đẹp của mình, bỏ rơi cả mười vạn tinh binh cho kẻ thừ tha hồ sát hại. Vì lý tưởng muốn san bằng bất công trong đời mà anh đã có gan vung gươm lên chống lại triều đình, và quần chúng đã tin anh mà đứng dậy theo anh. Đùng một cái, anh nghe vợ anh, anh phản bội lý tưởng chiến đấu của anh, anh phản hội quần chúng, anh đầu hàng kẻ thù. Chà! Nếu không gọi anh là một tên phản bội thì còn đáng gọi anh là cái thứ gì nữa?
Kể cũng là điều hết sức kỳ quặc khi đến bây giờ, ngay ở thời đại ta, vẫn có người dặt câu hỏi:
“Có mất mát nào lớn bằng cái chết?”
(Vòng trắng - Phạm Tiến Duật)
Vấn đề này không có gì mới và hỏi như thế là quá ư lẩm cẩm. Ngay xưa kia, những người mang nhân sinh quan phong kiến cũng còn coi lòng trung với vua, hiếu với cha mẹ và hết lòng vì tri kỷ... cao hơn cái chết; huống chi chúng ta! Đối với chúng ta mất lý tưởng “độc lập, tự do” nguy hơn nhiều chứ! Chính vì vậy mà ba chục năm qua, toàn thể dân tộc đả nguyện đổ máu để bảo vệ đến cùng lý tưởng cao đẹp đó.
Khi một con người không còn có lý tưởng tốt đẹp mà bảo vệ và phục vụ hoặc đã từ bỏ lý tưởng tốt đẹp hằng ấp ủ thì đời người đó còn có nghĩa lý gì nữa? Còn kẻ thù xâm lược, dù có chụp lên mảnh đất ta bao nhiêu “vòng đen” chăng nữa và trên đầu ta có phải mang bao nhiều “vòng trắng” tang tóc chăng nữa, chúng ta có sá chi điều đó. Tất nhiên, chúng ta không hề phiêu lưu nhưng cuộc chiến đấu của chúng ta kết quả không phải chỉ là “số không”. Cuộc chiến đấu ấy mang những ý nghĩa to lớn lắm vì nó không chỉ mang tầm cỡ dân tộc, mà có tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa thời đại:
“Ta vì ta ba chục triệu người
Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”.
(Tố Hữu)
Từ ngàn đời nay, ông bà ta đã từng bất chấp mọi quân thù xâm lược và ngày nay nhân dân ta vẫn tiếp tục bất chấp! “Thà chết không chịu làm nô lệ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Thế hệ này hy sinh là để cho thế hệ sau hưởng thụ.
Trong cuộc dấu tranh, tư tưởng đầu hàng, phản bội là không thể tha thứ. Tất nhiên, tư tưởng đầu hàng của Từ không phải chỉ nằm trong “cái logic khái quát của lịch sử”[18], nó có cái logic nội tại của nó.
Nếu là con người thật sự có bản anh ngoan cường. có ý chí dấu tranh kiên định, sẽ chẳng bao giờ bỏ dở cuộc đấu tranh của mình. Nhưng cái gì đã thúc đẩy Từ di vào con dường đầu hàng tội lỗi dó. Mới xem qua thì hình như động cơ đầu hàng của Từ chẳng qua chỉ là do nhẹ dạ nghe lời vợ và thật dạ tin người một cách dại dột. Ta cần nhớ rằng khi bước chân lên đường đấu tranh, Từ rất kiên quyết và chủ động. Những lời Kiều nói không ảnh hưởng gì đến Từ. Vậy có một nguyên nhân sâu xa mà ít người để ý tới dó là cái mục đích nổi dậy của Từ. Từ quả là muốn phất cờ khởi nghĩa để san bằng bất công. Đó là mục đích lớn. Từ cũng muốn san bằng cả triều đình để lập ra một triều đình mới, để vinh thân phì gia. Đó là mục đích nhỏ. Hãy nhớ lại lời Từ hứa với Kiều, tin rằng Từ có thể lên ngự ngai vàng, dựng nghiệp dế vương:
Một lời đã biếy đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
Chí thì lớn đấy nhưng mục đích cũng nhỏ bé thôi. Dĩ nhiên, trong một xã hội mà mầm mống tư bản chủ nghĩa vừa nhú ra đã bị bọn vua chúa quan liêu của triều đình Lê - Trịnh Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng trong hùa nhau vào bóp nghẹt, (họ ra sức đánh thuế rất nặng và cướp phá các cửa hàng của thương nhân; họ thi hành rất triệt để chính sách “trọng nông ức thương”. Chính sách kinh tế của họ trước sau vẫn là lấy nghề nông làm gốc (Dĩ nông vi bản). Như thế thì làm gì có nổi một lực lượng sản xuất mới, một giai cấp đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến) thì Từ Hải có khởi nghĩa thắng lợi cũng chỉ để làm một ông vua mới ở một triều đình mới mà thôi (cũng như tất cả mọi cuộc khởi nghĩa nông dân trong chế độ phong kiến nếu có thắng lợi cũng là để dựng lên một triều đình mới). Từ Hải hay bất cứ lãnh tụ nông dân nào khác trong chế độ phong kiến cũng không thoát nổi cái quy luật của thời đại phong kiến. Cho nên cái khát vọng “muôn chung nghìn tứ” là một trong những dộng lực thúc đẩy Từ nổi dậy. Nhưng khi đã “rạch đôi sơn hà” rồi, lập được một “triều đình riêng một góc trời”, đáng lẽ Từ Hải vẫn phải tiếp tục dấn tới. Nhưng Từ Hải không thể dấn tới vì Nguyễn Du không thể dấn tới xa hơn nữa so với thế giới quan của mình. Vì thế khi nghe Kiều khuyên ra hàng, chắc Từ Hải đã tính toán (đáng lẽ Nguyễn Du phải miêu lả kỹ cái sự tính toán nội tâm của Từ, nhưng rất tiếc Nguyễn Du đã bỏ qua). Cái câu nói tai ác nhất của Kiều không phải là câu “ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào” (vì đã làm một Hoàng Sào chắc Từ chẳng sợ gì những tiếng thị phi loại này), mà cái câu tai ác nhất chính là câu:
“Sao bằng lộc trọng quyền cao;
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”
Tai ác thì tai ác thật nhưng cũng mặn mà làm sao! Trúng tim Từ quá đi rồi còn gì. Công danh lớn thì lên làm vua, còn công danh ít lớn hơn tức là làm quan. Cũng công danh lợi lộc cả thôi. Nhưng theo đuổi cái công danh lớn kia xem chừng cũng còn khá gian nan vất vả, lại chưa biết rồi sau sẽ ra sao. Trong khi đó cái công danh ít lớn hơn thì đã ở trong tầm tay rồi. Vừa được làm quan có quyền cao lộc trọng, vừa có vợ đẹp, cửa cao nhà rộng, lại vừa không phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn nữa (xông pha trăm trận như Từ kể cũng đã khá mệt rồi); lại làm đẹp được cả lòng người tri kỷ (người anh hùng phong kiến có thể chết vì tri kỷ cơ mà). Tri kỷ sẽ được về gặp song thân:
“Xót nàng còn chút song thân
Bấy lâu kẻ Việt, người Tần cách xa”
Sao cho muôn dặm một nhà;
Cho người thấy mặt là ta cam lòng”
Cứ cái kiểu suy nghĩ như thế, thì về mặt nào đó người anh hùng quả có giàu tình cảm nhân đạo thật đấy, nhưng cũng chính vì thế mà sớm muộn người anh hùng cũng quỵ thôi. Lê Đình Kỵ đã có một nhận xét khá tinh tế:
“Từ Hải là con người của những nơi trời bể mênh mông, của những vẫy vùng ngang dọc, nhưng khi Từ Hải buông lời thân mật bất ngờ: “huống chi việc cũng việc nhà” thì cũng không vì thế mà nhỏ bé hay tầm thường đi”[19].
Đúng như thế đấy, anh chưa hề “bé nhỏ” hay “tầm thường” khi anh còn kết hợp thỏa đáng việc nhà với người. Còn khi anh tách việc nhà ra khỏi việc người hay nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là anh đã tách cái riêng ra khỏi cái chung thì anh tránh sao khỏi bé nhỏ tầm thường. Anh đặt việc nhà lên trên cả lý tưởng, đại nghĩa và thậm chí anh hy sinh cả lý tưởng và đại nghĩa để mưu lợi ích riêng cho bản thân anh và gia đình anh, hiển nhiên cái chết đã chờ anh rồi. Trận chiến đấu cuối cùng của Từ “tử sinh liều giữa trận tiền” kể cũng khá quyết liệt đấy nhưng lại chẳng oanh liệt chút nào, chẳng có gì đáng ca tụng. Cả cái tư thế chết đứng của Từ cũng chẳng đẹp đẽ gì. Anh đã đầu hàng rồi thì anh có cựa quậy, rẫy rụa hay có chết ở bất cứ tư thế nào thì cũng là chết nhục mà thôi. Lê Đình Kỵ còn cho rằng Hồ Tôn Hiến giết Từ Hải là làm nhiệm vụ tiêu diệt tư tưởng “chống đối” của Từ. Cần gì phải như thế! Hồ Tôn Hiến hèn mạt đã đành nhưng cũng là một loại ngu xuẩn. Hắn không giết Từ mới là cao tay. Hắn không nhớ rằng hắn còn phải đánh dẹp hàng trăm cuộc khởi nghĩa tương tự. Chính Từ đã thủ tiêu lý tưởng, tự chôn vùi khí phách ngang tàng của mình, nghĩa là đã tự giết mình rồi. Giá Từ có sống thì cũng như chết. Nói tóm lại Hồ Tôn Hiến dã làm một việc thừa: giết một xác-chết-sống. Khi cờ hàng đã được kéo lên thì Từ Hải-anh hùng không còn tồn tại nữa, chỉ còn tồn lại một Từ Hải-phản hội. Ngay trong phạm trù của chủ nghĩa anh hùng phong kiến xưa kia, người ta cũng chỉ dám hạ bút ca tụng những cái chết vì vua, vì nước, vì tri kỷ chứ chưa mấy ai dám ca tụng cái chết của một kẻ đầu hàng.
- Đại bàng Từ Hải bị tên bắn lén lút ư?
- Không! Khi dại bàng Từ Hải quyết rời bỏ bầu trời bao la của nó và thôi rồi mọi chí khí vẫy vùng ngang dọc để sà xuống chung sống với lũ công, lũ quạ, lũ gà què ở một góc vườn thượng uyển nào đó thì dù có bị bắn rơi hay không nó cũng còn đâu cái chất đại bàng. Nó thôi không còn là nó nữa. Nó đã thoái hóa, biến chất rồi.
- Từ Hải chết mà không nhục ư? Đứng giữa trời trơ trơ như một trá i núi ư?
- Không! Xuân Diệu quá yêu nó mà tô vẽ cho nó đấy thôi. Chết như thế là nhục lắm chứ! Và cũng chẳng núi non, chẳng vững chãi gì cái thứ người nộm ấy đâu. Chưa đầy một khắc sau là nó “liền ngã ra” đấy thôi. Tiếc rằng Nguyễn Du không tả nó ngã ra theo chiều nào. Nhưng tin chắc rằng nó không ngã nghiêng hay ngã sấp đâu, nó ngã ngữa người ra đấy.
- Chết đứng như thế là anh hùng ư? Vĩ đại ư? Khẳng khái ư?
- Không, hoàn toàn ngược lại mới chính xác. Trong thơ ca, ta cũng từng gặp một vài kiểu chết “đứng”:
“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất
Nhưng anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn,
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân).
So với cái chết của Từ Hải, cái chết của người chiến sĩ Giải phóng quân chỉ giống về hình còn khác xa về chất. Người chiến sĩ Giải phóng quân chết trong tư thế đang đứng bắn, nghĩa là chết sau khi đã dốc toàn lực để tiêu diệt kẻ thù, nhưng bảo vệ lý tưởng chết rồi mà vẫn tiếp tục tiến công kẻ thù, anh không thể tiến công kẻ thù bằng súng nữa thì tiến công bằng dòng máu anh hùng của mình. Anh chết rồi mà kẻ thù chưa hết kinh hoàng:
“Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn
Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.”
(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân).
Đây là một trong những “cái chết hóa thành bất tử” (Tố Hữu). Vì cái tư thế hào hùng của người chiến sỹ không chỉ “tạc” vào không gian mà còn mãi mãi “tạc” vào thời gian:
Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.
(Dáng đứng Việt Nam- Lê Anh Xuân).
Cho nên người xưa đã từng nói có cái chết nặng như núi Thái Sơn và có cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cái chết của Từ Hải không phải là cái chết bất tử của người anh hùng đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ lý tưởng:
“Chết như sống, anh hùng vĩ đại”
(Tố Hữu).
Đó chính là: “Sống như chết, chính ngữ bay phản bội!”
Ca tụng những cái thứ Từ Hải gà què, những cái ngữ Từ Hải phản bội có khác chi “ca tụng lá vàng rơi” (Nguyễn Chí Thanh). Vô ích! Thật vô ích! Mà còn có hại! Vì ca tụng tức là muốn treo gương. Chỉ có thể treo gương những con người dám chiến đấu vì lý tưởng và dám xả thân vì đại nghĩa.
Tuy nhiên, không nên chỉ trách cứ các nhà nghiên cứu, vì Nguyễn Du vĩ đại của chúng ta cũng phạm sai lầm khi Người đã đành quá nhiều lời thơ đẹp đẽ cho cái chết thảm hại nhục nhã của Từ Hải. Có lẽ vì thế mà gây ra sự ngộ nhận chăng? Tất nhiên không thể đòi hỏi nhiều hơn ở người xưa. Thời đại Nguyễn Du, thế giới quan Nguyễn Du chưa cho phép ông tạo ra những gì cao hơn nữa. Chỉ tiếc rằng Nguyễn Du mới chỉ dựng nên một Từ Hải bỏ dở sự nghiệp chứ không phải một Từ Hải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Mà trong giai đoạn lịch sử cuối Lê và đầu Nguyễn bấy giờ, trong số hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân có biết bao vị lãnh tụ nghĩa quân đã chiến đấu đến cùng. Đời sống đã cung cấp đầy đủ những nguyên mẫu cho nhà thơ nhưng nhà thơ đã thiên kiến giai cấp của mình, đã không tận dụng hết những chất liệu quý dó. Điểm này chính là điểm thiên tài Nguyễn Du đã thụt lùi so với đời sống hiện thực. Nhân dân yêu cầu mỗi nhà văn dựng lên những nhân vật tích cực, nhân vật anh hùng bắt nguồn từ đời sống hiện thực nhưng lại vươn cao hơn hiện thực và có tác dụng hướng dẫn hiện thực. Điều đó phải trông đợi ở các nhà văn có một thế giới quan mới. Còn dù là thiên tài cũng chẳng vượt khỏi nóc thời đại, chẳng thể túm tóc mình để tự nhấc lên khỏi mặt đất được.
Nhưng dù sao Nguyễn Du cũng rất chân thực. Ông đã không hề bịa ra thái độ đầu hàng và cái chết của Từ Hải. Đời sống có những Từ Hải vung gươm lên rồi nửa chừng lại hạ gươm đầu hàng như thế. Xưa đã có và nay cũng chưa phải là dã hết. Cứ nhìn vào đời sống xung quanh và trông ra thế giới khắc rõ. Khi anh đã rời bỏ lý tưởng rồi hèn nhát hạ súng, hạ tư tưởng của anh xuống trước kẻ thù; cho dù anh tha hồ ngụy biện, liệu anh thoát khỏi cái chết đứng nhục nhã như Từ Hải chăng?
Cũng may là Nguyễn Du không thu xếp cho Từ Hải một cái ghế, một chỗ đứng trong triều đình rồi cho Từ Hải hưởng vinh hoa phú quý. Vì như thế Từ Hải sẽ được tiếng khen là “thức thời”, “khôn ngoan” (thực ra chỉ là cái lối khôn lỏi, khôn vặt, cơ hội) và vô tình Nguyễn Du đã cổ vũ cho chủ nghĩa đầu hàng. Nguyễn Du đã miêu tả Từ Hải chết đứng và điều này có lẽ ngoài dự kiến của Nguyễn Du, một bài học cảnh giác đã ngời ngời treo trước mắt mỗi người: kẻ nào định phản bội lý tưởng, bỏ dở sự nghiệp đấu tranh, khuất phục đầu hàng kẻ thù; hãy trông cái chết nhục của Từ Hải làm gương. Đó là một bài học phản diện có tác dụng cổ vũ cho chủ nghĩa không đầu hàng, cổ vũ cho sự đấu tranh đến cùng. Qua hình tượng Từ Hải và từ đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chúng ta rút ra được những bài học quý giá: Hãy mang khí phách hào hùng và lên đường đấu tranh quả cảm của Từ Hải: “cánh hồng bay bổng tuyệt vời”, “thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong”, “cầm gươm ôm súng xông tới” tiêu diệt hết kẻ thù của dân tộc. Và trong cuộc dấu tranh cho sự nghiệp thống nhất đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải luôn luôn giữ vững chí khí cách mạng, đấu tranh triệt để, đấu tranh đến hơi thờ cuối cùng, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa; không bao giờ hạ vũ khí trước kẻ thù, không bao giờ khuất phục đầu hàng vì đầu hàng là chết, chết một cách nhục nhã. Mọi tư tưởng nghỉ ngơi, mọi ý chí nửa vời chỉ mang lại những hậu quả xấu xa tai hại và không xứng đáng với một dân tộc đã coi đấu tranh cho lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội là lẽ sống cao đẹp của mình.
Nam Định. Tháng 8-1974.


[1] Phê bình và tiểu luận. Tập 1, tr. 257. Nxb Văn học.
[2] Thi hào Nguyễn Du. Nxb Văn học. tr. 149-155.
[3] Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. tr. 311.
[4] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH. tr. 195.
[5] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 401.
[6] Phê bình và tiểu luận. Tập 1. tr. 257.
[7] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 264, 263, 265.
[8] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 264, 263, 265.
[9] Enghel: Chống Duyrin. Nxb Sự Thật, 1971. tr. 440.
[10] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH. tr. 258.
[11] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH. tr. 258.
[12] Phê bình và tiểu luận. Tập 1. tr. 258.
[13] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Nxb KHXH, tr. 267.
[14] Thi hào dân tộc Nguyễn Du. Nxb Văn học. tr. 28, 29
[15] Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. tr. 3-6.
[16] Phê bình và tiểu luận. Tập III. Nxb Văn học, tr. 246.
[17] Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du. Nxb KHXH.
[18] Truyện Kiểu và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du.
[19] Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. tr. 339
Đăng nhập để trả lời
0
VỀ THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA NGUYỄN DU ĐỐI VỚI CÁC TRIỀU LÊ, TÂY SƠN & NGUYỄN GIA LONG

Trong khoảng nửa thế kỷ vừa qua, giới nghiên cứu Nguyễn Du và truyện Kiều không ngớt phân vân về thái độ chính trị của Nguyễn Du đối với các triều Lê, Nguyễn - Tây Sơn và Nguyễn - Gia Long. Tùy theo việc sử dụng tư liệu và quan điểm, các nhà nghiên cứu đã ít nhiều có những nhận định khác nhau, có khi dứt khoát khẳng định nhưng cũng có khi ngập ngừng do dự. Khi gặp sự mâu thuẫn giữa các tư liệu (như Gia phả và Đại Nam chính biên liệt truyện, giữa hiện thực và tác phẩm...), người nghiên cứu thường sinh lúng túng không biết nên nhận định kết luận ra sao. Nhiều trường hợp có sự hiểu nhầm, hiểu sai rồi tự tiện sửa chữa hoặc thêm bớt tư liệu cho phù hợp với những suy nghĩ tiên nghiệm của mình.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, dựa trên những sự kiện chân thực (sự thật lịch sử, tác phẩm...), tôi xin mạnh dạn đính chính và giới thiệu một cách nhìn mới đối với những tư liệu về tiểu sử và tác phẩm của Nguyễn Du nhằm lý giải ba vấn đề sau đây:
1. Nguyễn Du có thật sự nặng lòng hoài Lê hay không?
2. Nguyễn Du thật thà hay miễn cưỡng đi theo nhà Nguyễn Gia Long?
3. Nguyễn Du có chống nhà Nguyễn Tây Sơn không? Thái độ và tình cảm của ông đối với Tây Sơn đã biểu lộ qua tác phẩm như thế nào?

I. NGUYỄN DU CÓ THẬT SỰ NẶNG LÒNG HOÀI LÊ HAY KHÔNG?

Từ lâu các ông Phan Sĩ Bàng, Lê Thước, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh v.v... đã chứng minh và nhắc đi nhắc lại tư tưởng hoài Lê của Nguyễn Du. Kế tiếp theo, các ông Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Lê Trí Viễn, Trương Chính, Nguyễn Lộc v.v... có tỏ ra băn khoăn nhưng về cơ bản vẫn nhất trí với các vị trước.
Có lẽ ý kiến của Đào Duy Anh trong cuốn Khảo luận về Kim Vân Kiều (Nxb Quan Hải tùng thư - Huế 1943) đã có ảnh hưởng khá quyết định đối với giới nghiên cứu Nguyễn Du. Khảo về hành trạng của Nguyễn Du, ông viết: “Tuy Nguyễn Du đậu tam trường thi Hương nhưng vì tập chức quan võ của cha nuôi là Hà Mỗ nên bấy giờ là Chính thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu ở Thái Nguyên. Khi vua Chiêu Thống chạy sang Tàu thì ông đương giữ chức ấy, nghe được tin toan theo ngự giá (tôi nhấn mạnh - T.K) nhưng không kịp, bèn về quê vợ ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (bây giờ là tỉnh Thái Bình). Ông cùng với anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn củ hợp hào mục để mưu đồ khôi phục nhà Lê nhưng chúng qui thất bại, ông phải lưu lạc lâu năm ở đất Bắc để trốn tránh và sau cùng ông chán nản về quê nhà ở Tiên Điền”.
“Thấy sức mình mỏng manh không thể làm nổi việc phục quốc, ông muốn bắt chước Trương Tử Phòng mượn tay Lưu Bang diệt nhà Tần để trả thù cho chúa, toan kiếm đường vào Gia Định (tôi nhấn mạnh – T.K) giúp chúa Nguyễn Ánh, nhưng việc tiết lộ, bị trấn tướng của Tây Sơn là Thận quận công bắt giam. May Thận quận công quen biết anh ruột ông là Nguyễn Nễ, lại mến tài ông, nên chỉ giam vài tháng rồi tha” .
Sau này hầu hết các nhà nghiên cứu về Nguyễn Du theo ý kiến của ông Đào Duy Anh, tuy có thêm bớt chút ít và thay đổi một vài từ.
Thí dụ, ông Hoài Thanh bỏ chi tiết “toan theo ngự giá” nhưng lại ghi “toan mưu tính chuyện phù Lê”. Thận trọng hơn, ông để ở đầu đoạn văn hai chữ “tương truyền” khá mơ hồ .
Ông Lê Đình Kỵ lại ghi: “Năm 1789, khi Lê Chiêu Thống đào vong sang Trung Quốc, Nguyễn Du cùng với anh là Nguyễn Nễ và em là Nguyễn Ức định theo nhưng không kịp. Nguyễn Du bèn về náu ở quê vợ xã Quỳnh Côi, Hải An, Thái Bình, và từ đó sống một cuộc đời lưu tán nay ở đầu sông, mai ở cuối biển; lại có khi có mặt ở nhà Nguyễn Nễ ở Thăng Long. Nguyễn Nễ năm 1790 ra giúp Tây Sơn. Anh vợ của Nguyễn Du là Đoàn Nguyễn Tuấn cũng có mặt ở sứ bộ Tây Sơn “sang trung Quốc năm 1789” .
Như thế là đã bớt đi được chi tiết “cùng với anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn củ hợp hào mục để mưu đồ khôi phục nhà Lê”, cũng không có chuyện “trốn tránh” nhưng không rõ ông Lê Đình Kỵ căn cứ vào tư liệu nào mà lại thêm được hai người nữa “định theo” Lê Chiêu Thống. Ông cũng nhầm về thời gian Nguyễn Nễ ra giúp Tây Sơn: 1788 chứ không phải 1790. Trong cuốn Văn học Việt Nam tập 2. trang 15, ông Nguyễn Lộc cũng chép tương tự như ông Lê Đình Kỵ. Và gần đây nhất trong quyển “Nguyễn Du” (thuộc loại truyện danh nhân), sau khi mô tả cảnh quân Thanh đại bại, Tôn Sĩ Nghị rồi Lê Chiêu Thống bỏ chạy, kinh thành hỗn loạn, ông Nguyễn Lộc đã hư cấu một hình ảnh khá sinh động như sau:
“Nguyễn Đề (tức Nguyễn Nễ - T.K) hốt hoảng vội chạy về chỉ kịp dặn dò qua loa người nhà rồi lôi cả Nguyễn Du, Nguyễn Ức cùng nhập vào đám người hỗn độn kia chạy lên phía Bắc... Trưa hôm ấy, Quang Trung kéo quân vào thành” .
Quả là hình ảnh và sự kiện có sinh dộng nhưng rất tiếc không đúng sự thật lịch sử - Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789 (xuân Kỷ Dậu), còn Nguyễn Đề, tức Nguyễn Nễ, đã theo Tây Sơn từ 1788. Rõ ràng chuyện Nguyễn Đề hốt hoảng lôi hai em chạy theo Lê Chiêu Thống là không thể xảy ra.
Nhưng có lẽ đáng lưu ý nhất là những dòng của ông Nguyễn Văn Hoàn trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam của Ủy ban khoa học nhà nước (tập I-1980): “... tên vua bán nước Lê Chiêu Thống theo đám tàn quân Tôn Sĩ Nghị chạy sang Trung Quốc, bị hạn chế trong tư tưởng trung quân chật hẹp, Nguyễn Du bấy giờ đang giữ chức Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên, liền về quê vợ ở Thái Bình với ý đồ mưu tính công việc “cần vương” chống Tây Sơn (tôi gạch dưới - T.K) nhưng không thành. Mười năm lẩn lút trốn tránh ở Thái Bình là mười năm vất vả, đói nghèo, nổi chìm lao khổ (...) Nhưng Nguyễn Du cũng không thay đổi nhanh chóng như người anh ruột cùng mẹ với mình là Nguyễn Đề và người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, năm trước còn mưu đồ chống Tây Sơn, mưu chuyện “phù Lê”, năm sau đã ra làm quan với Tây Sơn...” .
So với ý kiến của Đào Duy Anh thì ông Nguyễn Văn Hoàn đã bớt đi chi tiết “toan theo ngự giá nhưng không kịp” nhưng lại nhấn mạnh rằng Nguyễn liền về quê vợ để mưu tính việc “cần Vương” chống Tây Sơn, và thêm ra chi tiết “mười năm lẩn lút trốn tránh ở Thái Bình”. Đồng thời, không rõ ông đã căn cứ vào tư liệu nào để nói rằng anh ruột và anh vợ Nguyễn Du đã “thay đổi nhanh chóng” thái độ chính trị. “Năm trước” Đoàn Nguyễn Tuấn “còn mưu đồ chống Tây Sơn mưu chuyện phù Lê” là năm nào? Và sự kiện này cụ thể ra sao? “Năm sau đã ra làm quan với Tây Sơn” là năm nào? Và những tiếng “mưu đồ”, mưu chuyện (nghĩa là chưa có hành động cụ thể) nghe cũng hết sức trừu tượng mơ hồ.
Về cái chuyện ông “toan vào Gia Định theo Nguyễn Ánh” cũng là chuyện không đáng tin. Tuy Gia phả có ghi: “Mùa dông năm Bính Thìn, Nguyễn Du toan vào Gia Định (tôi gạch dưới - T.K). Việc tiết lộ, bị tướng Tây Sơn là quận công Thận bắt giam... Quận công Thận là bạn thân với người anh của ông là Nguyễn Nễ, vả lại y cũng tiếc tài ông, nên chỉ giam mấy tháng rồi tha”. Sau này các nhà nghiên cứu cứ dựa vào dó rồi viết theo, cũng vẫn dùng những chữ “ toan”, “định”, “mưu”... Chỉ riêng có ông Nguyễn Lộc, chẳng rõ căn cứ vào tư liệu nào khác, khẳng định rằng: “Nguyễn Du lên đường vào Gia Định theo Nguyễn Ánh. Nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An đã bị bắt giữ”. Nếu chỉ ở mức “toan”, “định”, “mưu”... thì mới có trên ý nghĩ, chưa thành hành động, có khi cũng chưa nói cho người khác biết. Vậy Nguyễn Du đã nói ra dự định này với ai? Ai đã tố cáo? Vì sao quận công Thận biết? Chuyện này cụ thể ra sao, sử sách không thấy ghi chép, thơ văn Nguyễn Du không nói tới. Có gì đáng tin? Một suy luận nhỏ: một người thận trọng và mẫn tiệp như Nguyễn Du (xem thơ tôi hiểu ông như thế) chẳng lẽ không biết vù đi thăm anh ruột hay anh vợ đang làm quan ở Phú Xuân rồi trốn đi từ Phú Xuân, việc gì phải trốn từ Nghệ An? Chuyện “toan trốn vào Gia Định và bị bắt giam” thường làm người ta dễ tin vì có thêm loài thơ “Mi trung mạn hứng” bảo là của Nguyễn Du làm lúc bị ở tù mười tuần (tức ba tháng). Nhưng bài thơ này cũng chẳng nói rõ tù về tội lỗi gì, ý tứ rất mơ hồ, giọng thơ gay gắt quyết liệt không phải giọng thơ thuộc phong cách Nguyễn Du. Về hình thức nghệ thuật, bài này cũng có nhiều điểm kém cỏi. Vì ra vào câu phá đề đã sai luật:
Chung tử viên cầm tháo Nam âm
Câu thừa đề “Trang Tích bệnh trung do Việt ngâm” lại trích từ bài Long thành cầm giả ca, nguyên văn là: “Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm” và có sửa đi vài chữ. Người sành làm thơ Đường luật sao lại có thể thất luật ngay từ câu phá đề và thất niêm ngay từ câu thừa đề. Và hai câu đáng lẽ nên dùng làm câu thực hoặc câu luận lại đưa ngay lên đầu bài thơ?
Căn cứ vào kỹ thuật kém cỏi và giọng thơ gay gắt quyết liệt không phù hợp với phong cách thơ chữ Hán của Nguyễn Du, tôi ngờ rằng bài Mi trung mạn hứng không phải do Nguyễn Du sáng tác. Điều đáng nói là: một cái mơ hồ trong Gia phả cộng thêm một cái mơ hồ trong thơ, hai cái cứ dựa vào nhau để cho người ta nhầm lẫn, rồi lại cứ căn cứ vào những cái mơ hồ như thế mà khẳng định điều này điều khác về tư tưởng và thái độ chính trị của Nguyễn Du, theo tôi, nếu quả thật Nguyễn Du đã có những hành động “tày trời” như thế thì người chép Gia phả có khờ gì mà không biết chép thật cụ thể tỉ mỉ để quảng cáo cho Nguyễn Du và làm lợi thế cho dòng họ mình. Người chép Gia phả đã cố ý cho các sự kiện diễn ra hợp lý nhất quán: Nguyễn Du mộ quân chống Tây Sơn tính việc phục quốc, toan trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn nên khi chúa Nguyễn thắng Tây Sơn rồi thì tự nguyện đi theo v.v... Nhưng sự thật lịch sử hết sức cứng cổ đã bác bỏ thẳng thừng những điều bịa đặt. Và đã bịa đặt là hay tự mâu thuẫn mà không tự biết.
Cho đến nay, muốn khảo về hành trạng của Nguyễn Du, người ta thường chỉ có thể dựa vào ba nguồn tư liệu chính: các bộ lịch sử của sử quán triều Nguyễn (như Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện...), các tác phẩm của Nguyễn Du và của những người cùng thời viết về Nguyễn Du, Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền. Trong ba nguồn này thì Gia phả là nguồn tư liệu có độ tin cậy thấp nhất vì do sự nhầm lẫn của người ghi chép, do hoàn cảnh ghi chép (dưới triều Nguyễn chuyên chế hoặc do dụng ý riêng muốn bảo vệ hoặc làm lợi cho dòng họ) nên sự thật nhiều khi bị thêm bớt hoặc xuyên tạc. Do đó, người nghiên cứu phải rất thận trọng khi dùng nguồn tư liệu này.
Rất tiếc ông Đào Duy Anh đã quá tin vào Gia phả, không những thế ông còn thêm vào những chi tiết mà Gia phả không có. Rồi nhiều nhà nghiên cứu lớp sau tin dựa theo ông nên sự sai nhầm cứ kéo dài.
Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền chép: “Năm Kỷ Dậu, vua Lê chạy sang Bắc quốc. Ông theo không kịp phải về ở nhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn ở xã Hải An, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam. Ông tập hợp hào mục để tính việc phục quốc nhưng chí không thành, ông trở về quê nhà...” (Trương Chính dịch)
Rõ ràng ông Đào Duy Anh đã sửa một số chi tiết như “chí không thành” hóa thành “chung qui thất bại”, “trấn Sơn Nam” hóa thành “tỉnh Sơn Nam”. Nhưng đặc biệt nghiêm trọng là ông đã thêm thắt các chi tiết “cùng với anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn” và “ông phải lưu lạc lâu năm ở đất Bắc để trốn tránh và sau cùng ông chán nản về quê nhà...”.
Nếu giở lại Đại Nam chính biên liệt truyện (sơ tập quyển thủ 30, tờ 28b-29b) người ta thấy rõ từ tháng tư, năm Mậu Thân (1788) khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, giết Vũ Văn Nhậm rồi trao quyền bính ở Bắc lại cho Ngô Văn Sở thì Nguyễn Huệ đi trọng dụng các cựu thần nhà Lê. Do Trần Văn Kỷ tiến cử, Ngô Thì Nhậm được giao trọng trách. Rồi lại do sự tiến cử của Ngô Thì Nhậm mà Nguyễn Huệ đã trao quan chức cho nhiều người trong đó có anh ruột Nguyễn Du là Nguyễn Nễ và anh vợ Nguyễn Du là Đoàn Nguyễn Tuấn. Vậy chuyện Nguyễn Du cùng anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn “củ hợp hào mục” là không thể có được. Nói như Gia phả cũng không đúng. Nếu quả thật Nguyễn Du có làm cái việc “củ hợp hào mục” thì liệu có thể làm ở quê vợ được không? Liệu gia đình và họ hàng của Đoàn Nguyễn Tuấn (một ông quan Tây Sơn) có để cho Nguyễn Du tự tiện làm cái việc phản loạn tày trời như thế không? Nếu có nhà nghiên cứu nào về khảo sát thực địa ở xã Hải An (có tên Nôm là làng Hới) cũng không thể thấy một chứng tích gì của cái việc gọi là “củ hợp hào mục tính việc phục quốc” vì sự thật là việc này chưa hề xảy ra. Những chữ “để tính việc” hoặc “chí không thành” mà người chép Gia phả đã dùng cũng hết sức mơ hồ. Ngay cả chuyện ông Đào Duy Anh ghi lại Nguyễn phải “trốn tránh” (sau này ông Nguyễn Văn Hoàn lại thêm vào là “lẩn lút trốn tránh”) cũng là chuyện bịa đặt vô căn cứ. Ai truy nã bắt bớ mà phải “trốn tránh” hay “lẩn lút trốn tránh”? Có lẽ các nhà nghiên cứu quên mất cái chính sách khoan hồng độ lượng của vua Quang Trung thể hiện trong Chiếu hiểu dụ các quan văn võ triều cũ: “Phàm những kẻ bị giam cầm đều tha ra, những kẻ trốn tránh thì không truy nã để tỏ đức khoan hồng” .
Chứng cứ là những người không chịu ra hợp tác với Tây Sơn như Phạm Đình Hổ... vẫn sống yên ổn ở quê nhà. Có người ngoan cố và nói năng rất xấc xược như Trần Danh Án vẫn không bị bắt bớ, trấn áp. Chứng cứ nữa là: ngay bản thân Nguyễn Du vẫn tự do đi chơi đây đó, có lúc đã đi qua đò sang chơi bên đất Vị Hoàng (nay là thành phố Nam Định); có lần còn lẩn chơi tận Thăng Long để thăm anh ruột là Nguyễn Nễ hoặc tiễn chân anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn vào Phú Xuân nhận chức. Thực tế không có chuyện “trốn tránh”. Và mấy trăm bài thơ chữ Hán cũng như các tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông cũng không có một dòng nào nói về chuyện “chạy theo ngự giá”, “củ hợp hào mục” hoặc “trốn tránh”.
Có thể nói ràng vấn đề trên do Gia phả chép hoặc một số nhà nghiên cứu nêu ra là rất đáng ngờ vực, trừ khi nào có ai đưa ra được chứng cứ mới, nếu không hiện nay vẫn có thể kết luận đó là những điều mơ hồ, vô căn cứ.
Điều đáng lưu ý nữa là trong thơ văn của ông hầu như chẳng có một bài nào, một dòng nào diễn tả tâm trạng nhớ thương hay luyến tiếc Lê Chiêu Thống. Ông Đào Duy Anh thấy trong bài Ký mộng có câu “du tử hành vị quy” thì cho rằng Nguyễn Du nhắc đến vua Lê Chiêu Thống nhưng ông Trương Chính đã bác đi và chứng minh rất có lý rằng đó là bài thơ nói về chuyện nằm mộng thấy vợ tìm mình ở Lam Giang (tức là người vợ trước, em gái Đoàn Nguyễn Tuấn, mất ở Thái Bình). Tiếc rằng sau khi đính chính một cái nhầm của ông Đào Duy Anh thì hai ông Lê Thước và Trương Chính lại rơi vào một cái nhầm khác: đó là trường hợp hiểu nhầm hài thơ “Vị Hoàng doanh” do Nguyễn Du sáng tác khi từ Thái Bình sang chơi đất Vị Hoàng. Hai ông sửa đổi một chữ, chú thích nhầm một tên núi rồi quy cho Nguyễn Du tâm trạng nhớ nhà Lê. Hai câu kết của bài đó là:
Mạc hướng Phù Hoa thôn khẩu vọng
Điệp Sơn, bất cải cựu thời thanh.
(Thôi đừng hướng về thôn xóm Phù Hoa nữa.
(Chỉ có núi Điệp kia không đổi, vẫn xanh như cũ).
Hai ông sửa chữ “Phù Hoa” thành “Thanh Hoa” rồi chú thích “theo ý chúng tôi đó là chữ Thanh Hoa viết nhầm, vì chữ “Thanh” và chữ “Phù” dạng chữ giống nhau. Thanh Hoa thôn khẩu là thôn xóm vùng Thanh Hoa. Như thế mới khớp với chữ Điệp Sơn ở câu dưới (núi Tam Điệp ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa” .
Nếu đúng nguyên tác là “Thanh Hoa thôn khẩu” thì không chỉ khớp với Điệp Sơn (núi Tam Điệp) mà còn khớp với tư tưởng hoài Lê nữa. Vì trấn Thanh Hoa vốn là nguyên quán của vua Lê. Nhưng rất tiếc không phải như thế. Phù Hoa chính là tên một xã ở gần quân doanh Vị Hoàng, thuộc làng Đông Triều, huyện Mỹ Lộc, trấn Sơn Nam (địa danh này có ghi trong sách “Các trấn, tổng, xã danh bị lãm” (đầu thế kỷ XIX) hiện nay là thôn Phù Nghĩa, xã Lộc Hạ, ngoại thành Nam Định - Nam Hà. Còn Điệp Sơn cũng là tên một ngọn núi xưa nhà Lý từng xây hành cung ở đấy. Điệp Sơn (tên nôm là núi Đệp) thuộc dịa phận xã Điệp Sơn, huyện Duy Tiên, trấn Sơn Nam (nay thuộc Nam Hà). Gần núi Điệp còn có núi Đọi (tên chữ là Đội Sơn). Hai tên núi này có ghi trong sách Dư dịa chí của Nguyễn Trãi từ thế kỷ XV. Nhân đây cũng xin đính chính một cái nhầm khác của hai tác giả: núi Tam Điệp không thuộc tỉnh Thanh Hóa mà thuộc huyện Tam Điệp - tỉnh Ninh Bình.
Do đó khi Nguyễn Du viết:
Cổ kim vị kiến thiên niên quốc
Danh thế không lưu bách chiến danh
Mạc hướng Phù Hoa thôn khẩu vọng
Điệp Sơn bất cải cựu thời thanh.
thì Nguyễn Du muốn khẳng định một quy luật tất yếu: Xưa nay chưa thấy triều đại nào vững nghìn năm, chỉ thấy hình thế đất này còn lưu tiếng đã trải qua trăm trận đánh. Thôi đừng hướng về thôn xóm Phù Hoa nữa, chỉ có núi Điệp kia là mãi mãi xanh tươi (vĩnh viễn tồn tại). Nếu chịu khó dọc thật kỹ mấy tập thơ chữ Hán còn lại của Nguyễn Du may ra cũng chỉ tìm được vài ba dòng thơ nói lớt phớt về nhà Lê. Thí dụ: trong bài Vọng thiên hiện nhai tự có hai câu kết:
Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng do quải cựu thời chung
(Nhớ lại năm trước từng đến thăm nơi đây
Còn thấy quả quả chuông ghi niên hiệu thời Cảnh Hưng).
Quả thật, căn cứ vào thực tiễn và các tác phẩm, người ta thấy Nguyễn Du chẳng có gì đáng gọi là nặng lòng hoài Lê. Nỗi nhớ nhà Lê ở ông quá mờ nhạt, không giống những người đã chạy theo vua Lê Chiêu Thống, những người chết theo nhà vua hoặc khi đưa xác vua về nước thì có những người làm thơ khóc thảm thiết. Trong nhiều bài thơ chữ Hán, Nguyễn Du thể hiện lòng hoài cổ hơn là hoài Lê.
Cũng dễ hiểu thôi. Nguyễn Du có chịu ơn vua, lộc nước, cơm nặng áo dầy gì với nhà Lê cho cam. Mười tuổi đã bồ côi bố. 13 tuổi mồ côi mẹ; tiếng là xuất thân từ một “thế gia vọng tộc” nhưng miếng đỉnh chung hưởng được bao lăm. Lúc lớn lên thì gia thế đã sa sút, là con vợ thiếp nên cùng chẳng được ưu đãi gì; từng đi làm con nuôi một ông quan võ họ Hà; từng sống nhờ ở nhà người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản. Nguyễn Khản tuy làm chức vụ lớn nhưng dinh cơ lại bị kiêu binh phá tan tành, bản thân phải trốn tránh mới thoát chết. Học hành, thi cử thì mới đỗ đến tam trường (tương đương tú tài) ra làm quan thì thay bố nuôi giữ một chức quan võ nhỏ ở vùng thượng du. Sống vào một thời đại vua chẳng ra vua, chúa chẳng ra chúa, cương thường đạo lý tùng phèo đảo lộn, “danh phận chẳng định còn lấy gì mà phân rõ thuận nghịch” (Phạm Công Thế), “Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa chẳng bằng yêu thân” (Nguyễn Trang). Rồi vua thì rước voi về giày mả tổ, coi nước, coi dân không trọng bằng cái ngai gỗ mục. Rồi bao nhiêu chuyện đồi bại khác như Quận Huy vào “sờ chính cung”, Đặng Lân buông màn giữa chợ hiếp gái nhà lành...
Chẳng lẽ tất cả những chuyện rối ren thối nát của thời đại lại buột qua tai mắt Nguyễn Du cả sao? Và chẳng lẽ chiến công lừng lẫy, khí phách hào hùng và đức độ lớn lao của người anh hùng Nguyễn Huệ không ảnh hưởng tác động chút nào tới Nguyễn Du hay sao?

II. NGUYỄN DU KHÔNG HỀ CHỐNG TÂY SƠN?

Như phần trên đã nói: không hề có bằng cứ gì chứng thực trạng Nguyễn Du đã mộ quân chống Tây Sơn. Trong toàn bộ các tác phẩm của Nguyễn Du, cũng không thấy có một bài thơ nào đả kích hay mỉa mai những người đã ra cộng tác với Tây Sơn. Ngược lại ông dành nhiều thiện cảm đối với họ. Ông đã bày tỏ tình cảm nhớ thương người anh ruột đang giúp triều Tây Sơn bằng một giọng thơ cảm động:
Nhất biệt bất tri hà xứ trú
Trùng phùng dương tác tái sinh khan
Hải thiên mang diểu thiên sư lý
Thần phách tương cầu mộng diệc nan.
(Ức gia huynh)
(Một phen từ biệt không biết nay (anh) ở nơi nao?
Cuộc trùng phùng có lẽ phải đợi đến kiếp sau.
Trời bể mênh mông, đường xa nghìn dặm
Hồn phách tìm nhau, dù trong giấc mộng cũng khó)
(Nhớ anh).
Trong một bài thơ họa lúc tiễn chân anh vợ vào Phú Xuân, một lần nữa ông lại nhắc đến Nguyễn Nễ:
Thử khứ gia huynh như kiến vấn
Cùng đồ bạch phát chính tinh tinh.
(Lần đi này, nếu ông gặp anh tôi có hỏi (thì nhờ ông nói lại),
Tôi đang ở bước đường cùng và tóc đã bạc lốm đốm).
Ông cũng làm tới hai bài thơ tặng Thực Đình là một người bạn cũ đà ra cộng tác với Tây Sơn.
Trong khi đó, ông không hề giao du xướng họa với những người bất hợp tác hoặc có hành động chống Tây Sơn. Nguyễn Quýnh, người anh cùng cha khác mẹ chống lại Tây Sơn và bị giết, ông không có thơ khóc, cũng chẳng tỏ ra đau xót hay oán giận. Nguyễn Hành, người cháu ruột thù ghét Tây Sơn ra mặt, hay làm thơ ca tụng ông, ông chẳng hề đáp họa... Cứ tạm xem như thế cũng đủ hiểu tình cảm tốt đẹp của ông nghiêng về phía nào.
Đành rằng, ông không có mặt trong hàng ngũ những người ra giúp Tây Sơn. Nhưng không nên vì thế mà đẩy ông vào chung danh sách những người chống Tây Sơn như Phạm Thái, Trần Danh Án, Nguyễn Quýnh v.v... Lúc này, đám cựu thần nhà Lê phân hóa thành ba bộ phận: một bộ phận đi theo, một bộ phận chống lại Tây Sơn, còn một bộ phận lừng chừng lui về sống ẩn dật kiểu Bá Di, Thúc Tề.
Nguyễn Du ở trong hộ phận lừng chừng này. Tuy nhiên, cũng có lúc ông đã cảm thấy mình vô lý và tỏ ra chán cả Di, Tề. Trong bài Hành lạc từ, ông đã viết:
Di, Tề vô đại danh
Chích,, Cược vô đại lợi.
Trung thọ chỉ bát thập
Hà sự thiên niên kế?
(Di, Tề chẳng có danh lớn
Chích, Cược cũng chẳng giàu to.
Sống lâu cũng chỉ 80 tuổi
Cần gì tính chuyện nghìn năm).
Tiếc rằng ý nghĩ này đến với ông quá muộn. Ông chưa thoát khỏi cái “vòng kim cô” trung quân vô nghĩa. Trước đó mười năm, Ngô Thì Nhậm đã nhận biết được thời cuộc và tỏ thái độ coi khinh lối sống Di, Tề:
Tự truyền Phùng Lạc, đê Doanh quốc
Tài loát Chu Thanh, bạc Thú Dương.
(Cảm hứng)
(Tựa truyền Phùng Lạc, chê Doanh quốc.
Tài vượt Di, Tề; rẻ Thú Dương)
Nếu biết coi thường Di, Tề sớm hơn hẳn Nguyễn Du cũng đã có mặt bên cạnh Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Nễ, Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích, Ninh Tốn v.v... và chắc làm dược nhiều việc có ích cho Tây Sơn.
Căn cứ vào hành dộng thực tế cũng như tác phẩm, có thể kết luận rằng: Nguyễn Du không hề chống Tây Sơn? Ông chỉ bất hợp tác với Tây Sơn mà thôi!
Có một hiện tượng rất thú vị. Trong khi nhiều nhà nghiên cứu tin theo Gia phả hoặc tin theo ông Đào Duy Anh và yên trí rằng Nguyễn Du chống Tây Sơn thì hầu như đều ngỡ ngàng và kinh ngạc trước bài Long thành cầm giả ca, một bài thơ làm dưới triều Nguyễn Gia Long nhưng chan chứa tình cảm quý trọng và nhớ tiếc nhà Tây Sơn. Một số người nghiên cứu đành lờ di. Một số khác thì phân vân lúng túng không dám nhận định dứt khoát ra sao. Có người như Đào Duy Anh chỉ nhắc phớt qua và dừng lại ở tầng nghĩa thứ nhất: (...) “Bài vịnh Người con hát ở Long Thành (Long Thành cầm giả ca) thì ta thấy cái tình cảm khác của tiên sinh đối với kẻ hồng nhan bạc mệnh vị tất không phải là có lộn ái tình”.
Riêng có Hoài Thanh là tỏ ra tinh tường nhưng ông cũng còn dè dặt: “Khó có thể nói nỗi niềm tưởng nhớ ở đây chỉ có tưởng nhớ nhà Lê. Thế nghĩa là thế nào? Đi theo nhà Nguyễn, nhưng lại nhớ tiếc nhà Lê và có khi dường như nhớ tiếc cả Tây Sơn nữa”. Sau này ông đã từ bỏ thái độ dè dặt đó và tỏ bày nhận định mạnh bạo, dứt khoát hơn: “Trong một bài thơ chữ Hán, bài Long Thành cầm giả ca, nói đến tướng tá Tây Sơn, đến công nghiệp nhà Tây Sơn, ông đã có những lời hiển nhiên là kính mộ (tôi nhấn mạng - T.K)” .
Đối với nhận xét này của Hoài Thanh, người thì phản đối, người thì tán thành nửa vời.
Ông Lê Đình Kỵ dùng lối nói nước đôi dè dặt: “Có một bài nói đến Tây Sơn - Long Thành cầm giả ca - thì thái độ của Nguyễn Du xem chừng “khó hiểu”. Có người nói là kính phục, có người gọi là mỉa mai. Dù sao thì cũng không phải là thù địch” .
Ông Nguyễn Văn Hoàn cũng dùng lối nói nước đôi tương tự. Ông Trương Chính thì bác bỏ thẳng thừng; theo ông, bài thơ này “không phải là khâm phục Tây Sơn”, “cũng chẳng hàm ý nhớ tiếc Tây Sơn”. Nhưng ông Nguyễn Lộc thì thấy có lẽ cần xem lại ý kiến của ông Trương Chính, rồi ông cũng dừng lại ở mức Lê Đình Kỵ: “Chắc chắn thái độ ấy không thể là thái dộ thù địch được” .
Theo tôi, Long Thành cầm giả ca là một hài thơ hết sức quan trọng vì nó bộc lộ một cảm xúc, một thái độ rất minh bạch của Nguyễn Du đối với nhà Tây Sơn. Nó đáng dược xem xét một cách toàn diện và phân tích kỹ lưỡng để có thể rút ra nhưng kết luận thỏa đáng.
Bài thơ này ở trong tập Bắc hành tạp lục. Nguyễn Du trên đường đi sứ dừng lại ở Thăng Long (mùa xuân năm 1813) đã sáng tác nó, ở đầu bài có một cái tiểu dẫn khá dài nêu rõ hoàn cảnh và lý do sáng tác. Nếu xem qua thì bài ca Người gảy dàn đất Long Thành chẳng qua chỉ biểu lộ lòng thương xót của tác giả đối với một người gảy đàn đã về già, thất thế, nhan sắc tiều tụy. Vậy thì đó là tình cảm nhân đạo thường thấy ở Nguyễn Du cũng như nhiều tác giả khác. Nhưng điều quan trọng là phải thấy dược ẩn ý của tác giả biểu lộ một cách tế nhị đối với một đối tượng khác ở trong thơ: các quan Tây Sơn và công nghiệp nhà Tây Sơn.
Khi phân tích bài thơ này, các nhà nghiên cứu đã bỏ qua nhiều chi tiết có ý nghĩa không phải chỉ trong bài thơ mà trong cả lời “Tiểu dẫn”. Tại sao Nguyễn Du đã lưu trong ký ức mình một ấn tượng lâu bền đến thế? Cách 20 năm, trong lúc ông lên Thăng Long thăm người anh ruột, được tận mắt quan sát một bữa tiệc của các quan Tây Sơn:
Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến
Giám hồ hồ biên dạ khai yến
Kỳ thời tam thất chính phương niên.
(Tôi nhớ hồi trẻ đã từng gặp một lần
Bên hồ Giám trong một cuộc dạ yến
Lúc đó (cô ta) khoảng hai mươi mốt tuổi).
Khứ tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
Hà huống thành trung ca vũ diên.
(Nhớ lại từ bữa tiệc ấy đã 20 năm
Sau khi Tây Sơn bại, tôi vào Nam
Long Thành gang tấc không được thấy nữa
Huống hồ tiệc vui múa hát trong thành).
Trong tiệc rượu ấy, nếu như Nguyễn Du chỉ lưu lại ấn tượng về người con gái gảy đàn thì cũng chẳng đáng phải bàn nhiều. Nhưng Nguyễn Du đã giữ lại những ấn tượng rất đẹp về “các quan Tây Sơn”:
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo.
Hào hoa ý khí lăng vương hầu
Ngũ Lăng thiếu niên bất túc đạo.
(Các quan Tây Sơn trong tiệc đều nghiêng ngả
Mảng vui suốt đêm không biết chán
Phía tả phía hữu tranh nhau gieo thưởng
Tiền bạc coi rẻ như đất bùn
Ý khí hào hoa át cả các bậc vương hầu
Còn bọn thiếu niên đất Ngũ Lăng thì không dáng kể)
Thật đáng kinh ngạc! Không gọi là “Tây tặc” (giặc Tây Sơn). Cũng chẳng gọi là “Tây ngụy” (bọn ngụy Tây Sơn). Mà là “Tây Sơn chư thần” một cách trang trọng. Không phải tác giả dùng gượng ép do nhu cầu của vần thơ hay âm điệu thơ. Ngay trong phần “Tiểu dẫn” viết bằng văn xuôi, Nguyễn Du cũng vẫn dùng cái ngôn từ xưng hô nghiêm túc ấy: “Tây Sơn binh khởi” (quân Tây Sơn nổi dậy) và “Kỳ bàng Tây Sơn chư thần, đại tập nữ nhạc, danh cơ bất hạ sổ thập”. (cạnh đó, các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con hát đẹp có đến vài chục người).
Chưa cần bàn nhiều đến lối so sánh và khẳng định tính hơn hẳn về vẻ hào hoa của các quan Tây Sơn đối với giới đại quý tộc phong kiến, chỉ riêng cách gọi tên một cách trang trọng như thế cũng hàm chứa một thái độ đầy ý nghĩa! Vì cần nhớ rằng,Nguyễn Du viết những dùng thơ này dưới triều Nguyễn Gia Long. Gọi tên kẻ thù của Gia Long và ca tụng kẻ thù của Gia Long một cách công khai thẳng thắn như thế sao lại có thể coi đó là một thái độ bình thường được? Phải công bằng mà khẳng định rằng: đó là một thái dộ rất can đảm; và phải chăng đó còn là một thái độ trêu gan đương kim hoàng đế?
Nhà Lê, dư luận của giới nghiên cứu vẫn bảo rằng Nguyễn Du nặng lòng nhớ tiếc, chưa hề được một bài thơ nào trân trọng tương tự!
Nhà Nguyễn, vẫn thường được cho rằng Nguyễn Du thật thà đi theo, mong nhận được một vài dòng tương tự, cũng chẳng hề có bao giờ!
Lại còn những ẩn ý không thể bỏ qua trong đoạn kết:
Thành quách suy di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
Tây Sơn công nghiệp, nhất đán tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại.
Thuần đức bách niên năng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y.
Nam Hà quy lai đầu tận bạch.
Quái để giai nhân nhan sắc suy.
(Thành quách đổi dời việc người cũng khác
Bao nơi nương dâu biến thành biển xanh
Công nghiệp nhà Tây Sơn một sớm tiêu vong đâu hết
Mà còn sót lại một người trong làng ca múa).
Đúng là một tiếng thở dài não nuột đầy tiếc nhớ!
Xưa kia, sử sách phong kiến coi những nhà Hồ, nhà Mạc là ngụy triều, không bao giờ được chép riêng một kỷ, chỉ được phụ chép, tất nhiên không được coi là có công nghiệp gì cả. Gia Long và sử quán triều Nguyễn cũng coi Tây Sơn là ngụy triều. Nhưng qua cách dùng tư “công nghiệp”, rõ ràng Nguyễn Du vẫn coi Tây Sơn là một triều chính thống.
Chẳng lẽ đó còn chưa phải là một thái độ trân trọng hay sao?
Lại còn cụm từ “nhất đán” biểu lộ một tình cảm kinh ngạc đau buồn. Bỗng một sớm, cái công nghiệp vĩ đại như thế bị tiêu vong hết! Chẳng lẽ như thế chưa gọi là một tình cảm luyến tiếc sao? Và cũng chưa có ai để ý tới cái dụng ý của tác giả khi dùng điệp hai lần chữ “tận”. Một bên là công nghiệp nhà Tây Sơn tận tiêu vong, một bên là tác giả “đầu tận bạch”; đầu đã bạc hết nghĩa là cũng sắp tiêu vong. Than thở cho nhan sắc người cơn gái gảy đàn suy tàn, than thở cho công nghiệp nhà Tây Sơn đã suy vong và than thở cho thân mình đã sớm già. Trong tiếng thơ có pha những giọt lệ xót thương cho ba số phận cùng cảnh ngộ. Và đặc biệt, trong những giọt lệ này còn kín đáo pha thêm cả cái vị đắng cay của một nỗi niềm ân hận:
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri.
Rất tiếc câu thơ dịch của ông Hoàng Tạo chưa chuyển đúng cái hàm ý sâu xa của tác giả:
Trừng trừng đôi mắt mơ màng
Quen mà hóa lạ nghĩ càng thêm thương.
Lại tiếc rằng ông Trương Chính cũng dịch xuôi chưa sát nghĩa. “Đối diện” mà ông dịch là “gặp mặt” thì e chưa đúng hoặc mới đúng được phần nào nghĩa đen, bỏ sót cái ý hàm ẩn rất quan trọng. Vì cái cụm từ “đối diện” này không chỉ nhằm diễn tả cái việc gặp nhau trong hiện tại mà nó còn muốn nhắc đến cái việc mặt giáp mặt trong quá khứ, cái việc xảy ra từ 20 năm trước, cái vãng sự mà tác giả đang hồi tưởng:
Hai mắt trừng trừng luống tưởng chuyện trước
Thương thay, giáp mặt nhau mà chẳng nhận biết nhau.
Nếu hiểu cái nhìn trừng trừng này chỉ là hướng vào đối tượng hiện tại (người gảy đàn) thì chưa đủ. Đây là một cái nhìn hướng vào nội tâm, nhìn qua ký ức để nhớ lại một sự việc đã qua (vãng sự). Mà cái vãn sự của 20 năm về trước thì không phải là giáp mặt không nhận biết người con gái gảy đàn. Hiện tại thì không nhận biết người gảy đàn còn quá khứ là không nhận biết một đối tượng khác. Đối tượng ấy không nói ra nhưng người đọc tinh ý có thế hiểu ngầm dó chính là “Tây Sơn công nghiệp”. Có lẽ phải cảm thụ đầy đủ ba nỗi tiếc thương đồng thời thì mới khỏi phụ lòng tác giả: tiếc thương cho sắc đẹp của người con gái suy tàn, tiếc thương cho công nghiệp nhà Tây Sơn tiêu vong đột ngột, nhưng chủ yếu và sâu xa hơn cả là tiếc thương và ân hận xót xa cho bản thân mình. Tất nhiên nỗi tiếc thương và ân hận này chỉ nảy sinh khi nhà thơ đã trông thấy những điều làm lòng mình đau đớn, đã cảm thấy mình phải sống với những kẻ “không để lộ vuốt, nanh, sừng và nọc độc nhưng cắn xé thịt người ngọt xớt như đường” (Phản chiêu hồn). Họ cắn xé kẻ thù một cách man rợ để thỏa mãn lòng thù hận; họ cắn xé lẫn nhau để tranh giành quyền lợi; họ cắn xé cả các công thần đã giúp rập họ khôi phục ngai vàng. Chắc chắn trong số những điều đau đớn lòng mà Nguyễn Du đã thấy có cả những hành động tàn bạo của hoàng đế Gia Long đa nghi, hiếu sát. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy ông than thở và thấm thía ân hận:
Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen.
Phẩm tiên rơi đến tay hèn.
Hoài công nắng giữ, mưa gìn với ai.
(Truyện Kiều)
Như vậy rõ ràng Nguyễn Du chưa hề chống Tây Sơn dù trong thực tế hay trong tác phẩm. Ngược lại, ông còn tỏ lòng quý trọng nhà Tây Sơn. Hẳn là nên đồng tình với ông Hoài Thanh: “Nguyễn Du hiển nhiên là kính mộ Tây Sơn” và tôi xin phép thêm: hiển nhiên ông có cả nỗi lòng nuối tiếc và xót xa ân hận vì đã không nhận biết đầy đủ và đúng đắn về nhà Tây Sơn. Nỗi xót xa ân hận này chỉ nảy sinh khi ông phải cộng tác với một triều vua mà ông không ưa họ và họ cũng chẳng ưa ông.

III. NGUYỄN DU CÓ THẬT THÀ ĐI THEO NHÀ NGUYỄN CHĂNG?

Về chuyện Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn, ông Hoài Thanh từng nghiêm chỉnh nhận xét: “Nguyễn Du thật thà đi theo nhà Nguyễn. Ông làm quan đến chức tham tri và hai lần được làm chánh sứ. Không phải vô cớ mà nhà Nguyễn tin dùng ông đến thế” .
Cũng như nhiều người khác, ông Trương Chính khẳng định: “Ông Hoài Thanh nói đúng” . Ông Lê Đình Kỵ cũng “đồng ý với ý kiến của Hoài Thanh” .
Riêng tôi, thú thật, tôi hơi ngạc nhiên trước nhận định và lập luận của ông Hoài Thanh. Theo ông, Nguyễn Du thật thà đi theo nhà Nguyễn với chứng cứ là ông từng làm quan đến tham tri và hai lần được làm Chánh sứ. Giữ những trọng trách ấy hẳn là do được tin dùng. Được tin dùng vì đã thật thà đi theo.
Có thể đặt lại vấn đề được không? Có phải cứ giao cho chức vụ cao đều là do được tin dùng không? Và có phải cứ được tin dùng là chứng tỏ người được tin dùng đã thật thà đi theo?
Khảo lại toàn bộ hành trạng và tác phẩm của Nguyễn Du, nhất là thái độ của triều đình nhà Nguyễn (trong đó có Gia Long và Minh Mệnh) đối với ông, tôi thấy nhận định của ông Hoài Thanh không đúng, đáng được xem xét lại.
Về việc ông ra làm quan với nhà Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện và Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi chép khác hẳn nhau:
Gia phả thì ghi thái độ tự nguyện: “Mùa hạ tháng 6 năm Nhâm Tuất, vua Cao Hoàng đi ra Nghệ An. Ông đón xe yết kiến vua và được đem thủ hạ đi theo ra Bắc”.
Liệt truyện lại ghi thái độ miễn cưỡng: “Đến khi có lệnh gọi, không thể từ chối, ông bất đắc dĩ phải ra”.
Ông Hoài Thanh và nhiều người khác tin theo lời ghi của Gia phả. Ông Nguyễn Lộc thì phân vân nửa tin, nửa ngờ “chưa biết tài liệu nào đúng”. Ông Trương Chính cũng lờ đi không bàn chuyện sai, đúng: “Ở đây chưa bàn Gia phả chép đúng hay Liệt truyện chép đúng, cũng chưa bàn động cơ xui khiến ông ra làm quan với nhà Nguyễn là động cơ gì...” . Không khẳng định dứt khoát bên nào đúng, sai kể cũng có điều thuận tiện. Tin thì các ông tin theo Gia phả, nhưng bảo Liệt truyện sai thì cũng thấy khó quá. Nhưng trong sự kiện này, người nghiên cứu không thể có thái độ nước đôi, lấp lửng được. Hai tài liệu ghi hai thái độ đối lập hẳn nhau, chỉ có thể chấp nhận một mà thôi, và tất nhiên cái mà ta cho là đúng.
Theo tôi, Đại Nam chính biên liệt truyện ghi như thế là đúng và đáng tin cậy vì:
1. Quốc sử quán triều Nguyễn không thể ghi một thái độ bất lợi cho triều Nguyễn nếu như thái độ đó không có thật ở Nguyễn Du. Họ cũng có thể thêm bớt nhưng chắc chỉ thêm bớt những điều có lợi cho triều Nguyễn.
2. Thái độ miễn cưỡng này của Nguyễn Du nhất quán với hệ thống thái độ và tâm trạng của ông trong suốt quá trình làm quan với triều Nguyễn, nó càng khớp với lời quở trách của vua Gia Long sau này.
3. Thái độ này cũng khớp với tâm trạng của Nguyễn Du biểu lộ trong nhiều bài thơ chữ Hán của ông.
Gia phả ghi như trên là không đáng tin vì nếu ghi đúng thì có hại cho gia dình và dòng họ. Nhiều sự thật về những thái độ khác của Nguyễn Du cũng chỉ thấy liệt truyện ghi chứ Gia phả lờ đi không ghi. Như lời quở trách của Gia Long đối với thái độ lừng khừng, ậm ừ cho qua chuyện của Nguyễn Du. Ấy là chưa nói đến chuyện người chép Gia phả còn tự tiện thêm vào nhiều thứ không thuộc về Nguyễn Du. Bốn câu thơ:
Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ
Chu sơ tam kỷ hữu ngoan dân.
(Cuối Hán tạm thời không còn nghĩa sĩ nữa
Đầu Chu đã ba đời vẫn có những người không chịu theo).
Đàn đắc Kỳ Sơn thánh nhân xuất
Bá Di tuy tử bất thần Chu.
(Dẫu có học thánh nhân ra đời ở đất Kỳ Sơn
Nhưng ông Bá Di đến chết cũng chẳng chịu làm tôi nhà Chu).
Người chép Gia phả bảo là trích trong thơ của Nguyễn Du, nhưng cho đến nay người ta chẳng thấy nó nằm trong bài thơ nào của ông. Cả mấy tập thơ chữ Hán đều không thấy có câu nào tương tự có ý đó. Ngược lại, chỉ thấy có ý thơ coi nhẹ Bá Di, Thúc Tề. Xét về giọng thơ, người ta cũng thấy đó không phải giọng thơ của Nguyễn Du. Giọng thơ quyết liệt này không phù hợp với phong cách Nguyễn Du. Người chép Gia phả không chỉ thêm mấy câu thơ, có khi còn thêm cả một tác phẩm vào cho Nguyễn Du. Đó là trường hợp Gia phả ghi Lê quý kỷ sự là tác phẩm của Nguyễn Du. Sự thật đó là tác phẩm của Nguyễn Thu. Do đó, khi dùng các tư liệu ở Gia phả nói chung, người nghiên cứu cần khảo sát kỹ lưỡng để lọc ra những điều người chép Gia phả tự tiện đặt ra hoặc bớt đi một cách vô căn cứ do những động cơ riêng. )Chúng ta có thể tham khảo thêm ý kiến phê phán của nhà văn Nguyễn Công Hoan về Gia phả của gia đình nhà thơ Tú Xương).
Nguyễn Du không tự nguyện ra làm quan với nhà Nguyễn. Trong 18 năm làm quan, ông đã cáo ốm xin về tới hai lần (1804 và 1808). Tuy được thăng chức vài ba lần và được giao trọng trách nhưng ông cũng chẳng phấn khởi, lúc nào cũng biểu lộ một tâm trạng buồn nản, chán ngán. Lúc thì “bị quan trên quở trách, nên lấy làm uất ức, bực chí” (Liệt truyện), lúc thì ông tức giận vì “khi có việc, bọn nha lại đều lên mặt với ta” (Ngẫu đắc). Ông luôn luôn phải đề phòng những kẻ muốn hại mình. Đó là những kẻ “bề ngoài có vẻ văn hoa, tốt đẹp. Nhưng bên trong giấu chất độc” chết người. Xung quanh toàn thấy bọn người dèm pha và bất cứ lúc nào cũng có thể chết chìm ngay trên mặt đất “Đời sau, người người đều là Thượng quan; mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La” (Phản chiêu hồn)
Có lúc ông than thở và cảm thấy bị trói buộc: “thân này đã là vật trong lồng cũi, còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng tự do nữa” (Tân thư ngẫu hứng); “Thân làm quan mà cảm thấy như bị đi đày: “Cảnh xuân bên trời đi về đâu. Người lần lữa bên trời vì một chức quan (Ngẫu thơ công quán bích). Ông luôn luôn nhớ quê nhà và muốn quay về: “Đỗ Vũ kêu báo tàn xuân. Hồn ơi về đi! Nhớ cố hương”. (Ngẫu thơ công quán bích). “Ta muốn từ đây treo mũ ra về, cùng ông hưởng tuổi già vui thú gảy đàn và uống rượu” (Tặng nhân).
Nếu Nguyễn Du thật thà đi theo và hết lòng phụng sự thì việc gì còn bị nhà vua quở trách. Liệt truyện còn ghi rõ lời quở trách của hoàng đế Gia Long:
“Nhà nước dùng người, cứ kẻ hiền tài là dùng chứ không phân biệt người Nam, người Bắc. Người với Ngô Vị đã được ơn tri ngộ, làm quan đến bậc á khanh, biết việc gì thì phải nói để hết chức trách của mình, sao lại cứ rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện thôi?”.
Lâu nay, các nhà nghiện cứu có ý xem nhẹ cái lời quở trách này. Thực ra, đây là một sự kiện nghiêm trọng trong cuộc đời Nguyễn Du. Vì chính người ghi liệt truyện cũng tố cáo chân tướng của Nguyễn Du: “Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn cung kính. mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt không biết nói năng gì”. Liệu Nguyễn Du có che nổi chân tướng mình qua mắt Gia Long không? Phải chăng vì đến lúc không chịu được nữa, Gia Long mới nói toạc ra? Phải chăng đó là cách Gia Long lật ngửa bài ra trước mặt Nguyễn Du và triều đình: ta dùng ngươi, đã đãi ngộ hậu hĩ như thế mà ngươi vẫn chẳng hết lòng vì ta. Thôi đủ rồi, cần gì thì nói toạc ra, đừng có vờ vịt ú ớ nữa.
Chắc Nguyễn Du cũng chẳng lạ gì cái bản chất đa nghi, hiếu sát của Gia Long. Có gì đảm bảo rằng Gia Long không cho người theo dò xét Nguyễn Du như đã dò xét bao kẻ khác, kể cả đám công thần của ông? Có gì đảm bảo rằng những bài thơ trong Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục không lọt vào tai mắt của lũ tay chân hoàng đế và chúng không tâu hót đầy đủ với hoàng đế? Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ phải luôn luôn mượn chuyện Tàu để nói chuyện Ta và dùng rất đắt các thủ pháp ẩn dụ, ám dụ... Cái ngục văn tự của cha con Nguyễn Văn Thành còn sờ sờ ra đó. Chỉ vì một câu thơ bị xuyên tạc mà đến nỗi con bị hạ ngục, cha phải uống thuốc độc tự tử, cả nhà bị bức hại. Huống chi đây đâu chỉ là một dòng hay một bài mà hàng trăm bài toàn giọng rỉa róc, ai oán. Nào là:
Cứ thường nghe nói ở đất Trung Hoa ai cũng no ấm
(Không ngờ) Trung Hoa cũng có kẻ đói rách như thế này đây.
(Thái bình mại ca giả)
Nào là:
Ai cũng bảo Trung Quốc đường bằng phẳng
Nào ngờ đường Trung Quốc như thế này.
Sâu thẳm, quanh co như lòng người!
...
Người có tài thường bị văn chương ghét ghen
Thịt người thì ma quỷ “thích nhất”
(Ninh Minh giang chu hành)
Ông lại nghĩ đến cái chỗ hiểm nghèo gấp mười lần ghềnh thác
Còn có chỗ hiểm nghèo gấp mười lần thác này
Ta sẽ lấy gì kêu với thần minh.
(Vãn há Đại Than...)
Nào là gặp hùm rắn lại thấy yên tâm hơn gặp hạng người thích ra oai:
Hùm rắn mang thấy người không ra oai.
(Há than hỉ phú)
Ông lại nói với hồn của Khuất Nguyên:
“Nếu hồn trở về cũng không biết nương tựa vào đâu
Khắp cõi người đầy những rắn rồng (long xà) quỉ quái
(Ngũ nguyệt quan cạnh độ)
... Đừng trở về mà người ta mai mỉa
Đời sau ai ai cũng đều là Thượng quan
Mặt đất đâu đâu cũng đều là sông Mịch La
Cá rồng (ngư long) không ăn, hùm sói cũng ăn
Hồn ơi! Hồn ơi! Hồn làm thế nào?
(Phản chiêu hồn)
Ai cũng biết việc kiêng tên húy, tên hiệu nhà vua ở thời phong kiến là vô cùng hà khắc nghiêm ngặt. Đến thời nhà Nguyễn càng cực kỳ nghiêm ngặt.
Viết thì phải thiếu nét hay chệch đi (chữ “long” trong thành Thăng Long vốn viết chữ long 龍 nghĩa là con rồng nhưng vì kiêng tên hiệu vua, bắt phải viết thành chữ “long” 隆 có nghĩa là thịnh vượng); phát âm phải trẹo đi: Kim Long phải nói thành Kim Luông...
Ấy thế mà trong thơ Nguyễn Du cứ luôn luôn thấy long hổ, ngư long, long xà, giao long... rồi toàn nói chuyện ăn thịt người và than thở cho số phận những người bị các giống “long” ăn thịt. Đó là chuyện vô tình hay hữu ý?
- Than thương hà sở văn?
Ứng long kích nô thôi điền điền!
(Trên ghềnh nghe thấy gì?
Tưởng như nghe con ứng long nổi giận, tiếng sấm động ầm ầm).
- Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiễn
Hhữu như long xà hổ báo ngưu mã la kỳ tiên.
(Đã có những hình thù kỳ lạ chi chít gần nhau
Có những hòn như rồng rắn, hùm beo, trâu ngựa la hét trước mặt).
- Ngư long bất tất thực, sài hổ thực
(Cá rồng không ăn, hùm sói cũng ăn)
- Vị tín quỷ thần năng tướng hựu
Tẫn giao long hổ thất tinh tinh.
(Không tin quỷ thần có thể cứu giúp
Dù cho rồng hổ cũng hết linh thiêng).
(Chiều xuôi ghềnh Đại Than)
- Bạch ba trung nhật tẩu xà long
Thanh sơn lưỡng ngạn giai sài hổ.
(Sóng bạc suốt ngày như rồng rắn
Non xanh hai bờ như sói beo).
(Bất tiến hành)
- Ngư long giang thượng vô tàn cốt
(Lòng sông đầy rồng cá, không tìm thấy nắm xương tàn)
(Điếu Tam Lư đại phu)
Được tin cậy giao cho trọng trách cầm dầu đoàn sứ thần đi sang Tàu thế mà vừa ra đến Thăng Long làm thơ ca tụng ý khí hào hoa “của các quan Tây Sơn”, rồi than thở cho sự tiêu vong của “Tây Sơn công nghiệp”. Chưa ra khỏi cửa ải biên giới đã nói bóng gió nhà vua:
Ơn vua như bể chưa báo được mảy may
Mưa xuân nhuần thấm như mỡ mà mình cảm thấy lạnh buốt thấu xương.
(Nam quan đạo trung)
Ông Lê Đình Kỵ đọc hai câu trên và câu:
Chưa báo đáp được mảy may, sống chẳng ích gì?
(Giang đầu tản bộ)
lại vội tin rằng Nguyễn Du nói thực lòng nên đã viết: “Cái ơn tri ngộ đó là có thật. Nguyễn Du đã nhiều lần cảm thấy mình chưa làm được gì để báo đáp cho nhà vua”. Sự thật không phải như thế.
Về bài thơ Nam quan đạo trung, nhà thơ Xuân Diệu đã có lời bình rất tinh, đáng cho mọi người tham khảo: “Theo tôi hiểu, bài thơ này chỉ muốn nói: Chiếu nhà vua từ trên mây năm sắc đưa xuống, cử tôi làm Chánh sứ. Nhưng tôi chả có lý thú gì! Tôi cứ lạnh buốt từ trong xương lạnh ra! Nhưng muốn nói cái đó, Nguyễn Du đã phải bọc trong nhung êm, trong gấm đẹp một cách trào phúng sâu cay! Nguyễn Du chắp hai tay lạy vua trước đã:
Quân ân tự hải hào vô báo.
thì mới trôi được câu sau:
Xuân vũ như cao, cốt tự hàn.
Nói phong cảnh núi non trập trùng, để dễ tiếp theo nói cảnh mưa xuân như mỡ (báo bổ), mưa từ nghĩa đen ngoài đrời dã thành ơn mưa móc của vua; cái mưa trời ấy (cũng như cái mưa ơn ấy) chỉ làm cho tôi lạnh toát” .
Tôi tán thành ý Xuân Diệu. Nguyễn Du nhắc đến “ơn vua” chẳng qua dùng làm cái mộc che đỡ thôi. Đó là “cái bề ngoài giữ gìn cung kính” trong thơ. Liệu Nguyễn Du có che nổi mắt của Gia Long không? Chắc Gia Long và bọn tôi tớ của vua thừa biết Nguyễn Du ám chỉ ai khi ông mỉa mai thái độ vênh râu đắc chí của Tô Tần lúc đắc thế, khi ông phê phán kín đáo cái thói “treo cung giết chó” của Hán Cao Tổ, khi ông ngầm khinh cái thói bạo ngược của vua Trụ mổ Tỷ Can để xem tim 7 lỗ. Vua quan triều Nguyễn sẽ nghĩ gì khi đọc thơ Nguyễn Du ca tụng Hoàng Sào và thơ tỏ lòng thông cảm với “lũ dân đói nổi loạn”.
Đặc biệt, bài Trường Sa Giả thái phó có ý thác ngụ rất khéo:
Giáng Quán võ nhân hà sở tri
Hiếu Văn đạm bạc đạn canh vi.
Lập đàm bất triển bình sinh học
Sự chức hà phương chí tử bi.
Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ
Nhật tà dị vật hữu lai thì.
Tương Đàm chỉ xích tương lân cận
Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi.
(Giáng hầu và Quán Anh đều là võ tướng có hiểu biết gì đâu.
Mà Hiếu Văn đế là ông vua đạm bạc, sợ thay đổi chính sự
Đứng bàn việc chốc lát, ông không thể bàn hết cái học của mình
Giữ chức vụ không ngại vì buồn bực mà chết
Trời sinh người có tài khác thường mà không có chỗ đứng
Buổi chiều tà có đàn chim lạ đến báo điều xấu
Đây và Tương Đàm gần nhau gang tấc
Cách hàng nghìn năm gặp gỡ, tâm sự vẫn giống nhau).
Đúng! Tâm sự giống nhau vì hoàn cảnh có khác nhau đâu. Hiếu Văn đế là ai? Giáng, Quán là lũ nào? Người có tài khác thường chỉ ai? Không nói rõ nhưng các thức giả đương thời hẳn đều hiểu cả.
Cho nên khi Hoài Thanh bảo triều Nguyễn tin dùng Nguyễn Du là do mới nhìn vào việc bổ nhiệm thăng chức, chưa chú ý đến nỗi lòng canh cánh của ông:
Mây trắng, dòng nước cùng trôi vô tận
Bác chài, chim âu hai bên không ngờ vực nhau
Không lụy thì chẳng làm gì cho quỷ trách
Bất tài nên làm việc quan hay sợ mắc sai lầm.
(Giang đầu tản bộ)
Do mẫn cảm nên Nguyễn Du thấy rõ mình luôn luôn bị “ngờ vực”. Ông khao khát được sống tự do thanh thản như bác chài giữa thiên nhiên phóng khoáng. Hình như ông đã dự cảm sớm muộn rồi mình cũng bị cả quỷ quan lẫn quỷ vương trách cứ.
Có gì đảm bảo rằng lời quở trách - mà thực chất là lời đe dọa của Gia Long - không liên quan đến cái chết của Nguyễn Du? Liệt truyện ghi khá chi tiết về chuyện này:
“Đến khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói “được” rồi mất, không trối lại một điều gì”.
Đọc qua người ta sẽ tưởng Nguyễn Du chết bệnh. Nhưng nếu ông chịu uống thuốc rồi chết vì bệnh quá nặng, với trường hợp ông không chịu uống thuốc để chết cho nhanh, đó là hai chuyện khác nhau.
Rõ ràng Nguyễn Du muốn tự làm cho mình chết nhanh. Chẳng thế mà cháu ruột của ông là Nguyễn Hành đã phải kinh ngạc kêu lên:
Dịch lệ hà năng tốc công tử?
(Bệnh dịch sao có thể làm chú chết nhanh đến thế?)
Theo tôi, Nguyễn Du không phải chết vì bệnh dịch. Chẳng qua nhân có bệnh dịch mà chết. Để khỏi có chuyện liên lụy, Nguyễn Hành cũng lấy làm mừng là chú mình đã giữ được trọn vẹn:
Ngô môn hậu phúc công xảo toàn.
(Phúc dày nhà ta, chú đã giữ được trọn vẹn)
Thời phong kiến chuyên chế, một người bị tội có khi liên lụy tới ba họ. Nguyễn Du phải khéo léo giữ gìn lắm mới giữ trọn vẹn an toàn cho bản thân và cả gia đình và dòng họ suốt trong 19 năm làm quan với triều Nguyễn. Ta thấy Liệt truyện ghi những điều rất nhất quán với tâm sự của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán. Tâm sự âu lo chán nản muốn chết sớm đã được nhắc đến nhiều lần: “Trai gái hàng đàn, chết cũng được” (Giang đầu tản bộ), “ở đất khách đầu đã bạc, mãi vẫn không chết” (tạp ngâm). Cũng không nên quên rằng sau khi ông chết, nhà vua có cho người mang lễ viếng đồng thời thu hết di cảo của ông về cung.
Việc thu tất cả các bản thảo của ông là do Minh Mệnh vừa lên ngôi đã tự nghĩ ra hay do được vua cha (Gia Long) dặn lại? Hoặc giả do từ trước Minh Mệnh cũng đã hiểu ý cha mình vẫn ngờ vực Nguyễn Du? Tôi lại xin nêu thêm chứng cứ này để xác minh thêm cái thái độ ngờ vực của triều Nguyễn đối với nhà thơ của chúng ta. Khi Minh Mệnh đọc thơ chữ Hán của ông, đến bài Độ hoài hữu cảm Hoài âm hầu tác, gặp câu:
Thôi thực giải y nan bội đức
Tàng cung phanh cẩu diệc cam tâm.
(Ơn nhường áo sẻ cơm khó mà quên được
Dù cất cung giết chó cũng cam tâm)
liền khen: “Người Bắc Kỳ như Nguyễn Du hởi còn thì ta cho làm đến chức Hiệp hiện”. Thế là Minh Mệnh không hiểu nổi ý thác ngụ kín đáo của Nguyễn Du, lại tưởng rằng ông có lòng trung thành thật sự nên mới nói đến chuyện thăng chức cho ông. Vua không ngờ rằng khen Hàn Tín, Nguyễn Du nhằm phê phán ngầm thói giết công thần một cách tàn bạo của Hán Cao Tổ, và thông qua việc phê phán Hán Cao Tổ, ông lại ngầm phê phán Gia Long. Dù sao ta cũng thấy cha con vua Gia Long luôn ngờ vực Nguyễn Du, cả lúc ông còn sống lẫn khi ông đã chết.
Vậy thiết nghĩ, có thể kết luận khác ông Hoài Thanh:
Nguyễn Du không thật thà đi theo nhà Nguyễn và nhà Nguyễn cũng chẳng thật thà tin dùng ông.
Việc thăng chức cho ông và điều động ông từ Bắc vào Quảng Bình hay kinh đô Huế chẳng qua là một thủ đoạn của vua Gia Long. Phải chăng vua Gia Long thăng cho Nguyễn Du làm tham tri hay học sĩ (những chức vụ không to và cũng chẳng quan trọng) là nhằm đưa Nguyễn Du về triều để dễ bề giám sát. Kiềm chế cũng là một kiểu gọi về “hầu hạ đài doanh”. Cho nên khi bị Gia Long chạm mặt đè tình hỏi tra”, thì ông bỗng chốc hóa ra lạnh người. Chỉ còn một thác mới xuôi. Thann ôi, mình bạc uổng đời tài hoa! Thực ra Nguyễn Du đã cảm thấy “lạnh buốt xương” từ ngày được ban chức chánh sứ và cứ tiếp tục lạnh; cho tới khi Gia Long vật ngửa bài, quở mắng thì ông lạnh cứng thật sự. Âu cũng là một dịp may để Nguyễn Du vĩnh viễn thoát hẳn cái kiếp “kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi”. Và cùng với những tác phẩm của mình, ông đi vào cõi bất tử.
Tóm lại, Nguyễn Du đã sống chân thực và giàu tình thương. Ông thương mình và thương người nhưng luôn luôn cảm thấy bất lực. Trước cuộc đời, ông là một nghệ sĩ hơn là một nho sĩ. Nhưng cái chất nho sĩ dã làm hại ông không nhỏ, nhiều phen khiến ông chần chừ, do dự, mất phương hướng và không có được những hành động đúng đắn cần thiết. Còn chất nghệ sĩ làm cho ông trở nên đúng dằn, minh mẫn; điều này đã biểu lộ khá sâu sắc, đầy đủ trong các tác phẩm của ông.
Người đến sau có thể tự do khen, chê nhưng không nên thêm bớt về ông. Công bằng và khách quan mà nói: ông nặng lòng hoài cổ hơn là hoài Lê; ông không hiểu Tây Sơn nên không cộng tác chứ không hề chống Tây Sơn, sau này hiểu ra ông dã tỏ lòng nuối tiếc, ân hận; ông chưa bao giờ coi Tây Sơn là thù địch, trái lại “lòng riêng, riêng vẫn kính yêu”; ông đã ra làm quan với nhà Nguyễn, vì lẽ gì, cần nghiên cứu thêm, nhưng ông không phải là người thật thà đi theo nhà Nguyễn và nhà Nguyễn cũng chẳng thật thà tin dùng ông.
Tưởng nhớ đến ông, tôi viết ít dòng này để chiêu tuyết cho ông và đính chính những điều mà giới nghiên cứu Nguyễn Du đã hiểu sai, hoặc hiểu lầm quá lâu về ông.
Nam Định, tháng 4-1974.

Ghi thêm.
1. Bài này đã gửi Tạp chí Văn học từ tháng 6-1974 nhưng không được đăng với lý do “khuôn khổ tạp chí có hạn”.
2. Nhân dịp kỷ niệm 200 năm giải phóng Phú Xuân, tác giả trích phần thứ hai “Nguyễn Du không hề chống Tây Sơn!” tham gia hội thảo khoa học tại Huế (tháng 6-1986). Vì giấy mời bị thất lạc nên tôi không dự hội thảo. Ban tổ chức hội thảo đã mời đ/c Phan Thành Tài đọc tham luận thay tôi. Chân thành cảm ơn Ban tổ chức và đ/c Phan Thành Tài.
Đăng nhập để trả lời
0
[color=blueviolet]hiiiiiiiiiiiiii, mấy you bàn về Truyện Kiều quá dữ nha, hiiiiiiiii mình đọc mà muốn hoa cả mắt luôn đó, hiiiiiiiiiii quả thật bàn về tác phẩm lớn như vậy khó lắm, nhưng cũng thú vị nhỉ? [/color]
[color=blueviolet] Tình như bao ánh ban chiều
Đem cho ta biết bao điều ưu tư
[/color]
Đăng nhập để trả lời
0
Người mê truyện Kiều


Cụ ông 81 tuổi Trần Văn Tý ở số 62/8 đường Quang Trung, Gò Vấp - TP HCM, đam mê ghi chép những bài viết về truyện Kiều. Cụ còn gom riêng bài viết của những người có tầm cỡ nghiên cứu truyện Kiều như giáo sư Lê Trí Viễn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi...

Cách nay 30 năm, cụ Tý đã tỷ mẩn ghi chép những bài viết, luận đàm về truyện Kiều. Cụ bảo: “Tôi thích truyện Kiều như tôi yêu đất nước mình vậy. Tôi nghĩ, những cái người ta viết lên báo biết đâu rồi cũng theo những người ve chai đi vào dĩ vãng, tôi thấy tiếc và tôi nảy ra ý định viết cho mình thôi”. Cái ý định viết cho mình, giữ cho mình nhiều lúc khiến cụ ăn không ngon, ngủ không yên. Thiên tai rồi sự khốn khó của đời sống đã đánh cắp dần những bản chép tay của cụ. Đến một ngày, sợ mất đi những gì còn lại sau những năm góp nhặt, cụ quyết định: Chép được cuốn nào cất vào tủ kính cuốn đó. Nhưng cách lưu trữ đó xem ra vẫn chưa an toàn, nhiều cuốn bị mối xông.

Các bản chép tay ấy được cụ Tý ghi lại cẩn thận cả với những dấu chấm, dấu phẩy, ghi lại toàn bộ những thông tin về ngày tháng, tác giả, tên báo và cả số trang... và ở dưới còn ghi rõ ngày tháng cụ chép nữa. “Tôi làm vậy vì chỉ cần giở những bài đó ra, tôi lại hình dung được những ngày đã qua của đời mình”, cụ Tý nói.

Trong bộ sưu tập ấy có 22 bài bát cú chuyển thể truyện Kiều. Ý, lời, cốt truyện, nhân vật... tất cả đều không chệch với truyện Kiều; chỉ chuyển từ lục bát sang bát cú với tên gọi khác: “Châu về Hiệp phố”. 15 chương của truyện Kiều được gói gọn trong 22 bài 8 câu 7 chữ. Tấm lòng nặng với thơ, với đời, với những sáng tạo ở ngoài cái tuổi thất thập cổ lai hy như cụ vẫn rất đáng trân trọng.

(Theo Người Lao Động)




Đăng nhập để trả lời
0
bác Thái Nhi làm 1 phát dài dằng dặc, đọc xong hết muốn nói gì lun [:(]
phải chi chỉ đưa link là dc [&:]
I could be a wolf in disguise
I could be an angel in your eyes
Never judge a book by its cover
Đăng nhập để trả lời
0
Làm gì có cái link nào. Đây là của chính tác giả đưa mình đấy chứ! Săn thấy hợp với chủ để, thế là post một hơi cho mọi người coi chơi [:D]
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Kiều quả nhiên là được nghiên cứu kỹ thật đấy. Nhưng không hiểu tại sao không thấy ai lý giải vì sao các truyện thơ nôm VN hẳn hoi thời xưa đến 9 phần 10 toàn sơ tán sang Tàu như thế: tên tuổi, địa điểm, bối cảnh... tất tần tật đều từ TQ mà ra.

SH thì mạo muội đoán rằng các cụ nhà ta làm thế chắc không phải vì xứ ta đất xấu người còm không xứng được nói đến mà phải đi mượn người mượn việc của thiên bang thượng quốc đâu, mà chẳng qua các cụ lo cho cái đầu của mình thôi. Ai chẳng biết chuyện anh chàng kép họ Đào viết bài hát ca ngợi Trịnh Kiểm mà cũng còn bị ăn đòn vì tội lôi tên quan lớn vào trò xướng ca vô loài nữa là viết về bọn đạo tặc như TH. Thôi thì cũng giống như chuyện hài của Aziz Nexin về ông nhà văn lấy bản đồ New York ra thay tên địa điểm cho câu chuyện của mình để bán cho chạy sách, thì ở đây các cụ nhà ta kiến thức địa lý còm hơn đành mượn cảnh Tàu cho chuyện của mình, vừa tránh làm thánh thượng khó chịu, vừa hấp dẫn độc giả. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Du cài số lùi đến hơn hai thế kỷ về đến tận đời Gia Tĩnh (cuối TK 16) cho chắc ăn; thế vẫn chưa chắc ăn, cụ Đồ Chiểu còn cho anh chàng Lục Vân Tiên cưỡi máy thời gian về tận thời nước Sở (chắc là thời xuân thu chiến quốc). Cẩn thận đến thế rồi mà mấy chục năm sau khi mất cụ Nguyễn Du còn bị Tự Đức mắng cho một trận chỉ vì chữ "thì" mà cụ dùng quá nhiều lại chẳng may trùng vào trọng huý của thánh thượng. Tai bay vạ gió làm sao[:D]. Có lẽ trên thế giới này chỉ có ở TQ và VN mới có chuyện quái thai như thế. Mạng người có thể dễ dàng đi đứt vì một nét sổ nét móc hỡi ơi nào đấy.

Thế thì cũng chẳng trách cụ Nguyễn Du bắt chước Trùng Nhĩ đi xa lánh nạn, tránh không đả động gì đến xứ Nam trong truyện Kiều của cụ. Thế là truyện vẫn cứ hay, mà tác giả cũng được an toàn.[:D]
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
Đăng nhập để trả lời
0