Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

V.I Lê-nin toàn tập

8 trả lời, 2.744 lượt xem — Trang 1 / 1
 
 Nguồn tác phẩm lấy từ: http://dangcongsan.vn 
 
 
 
Lời tựa cho toàn tập
Theo quyết định của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên-xô, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin trực thuộc BCHTư ĐCSLX xuất bản Toàn tập của V. I. Lê-nin, gồm 55 tập.
Lần xuất bản thứ nhất Toàn tập của V. I. Lê-nin đã được tiến hành theo quyết định của Đại hội IX của Đảng, trong thời gian từ 1920 đến 1926 với số lượng 20 tập, gồm cả thảy 26 cuốn (có 6 tập gồm 2 phần mỗi tập), trong đó đã in hơn 1500 tác phẩm của V. I. Lê-nin. Lần xuất bản thứ nhất Toàn tập của V. I. Lê-nin còn rất không đầy đủ: trong lần xuất bản đó, có nhiều bài của Lê-nin đăng trong các báo "Tia lửa", "Người vô sản", "Sự thật", không ký tên hoặc ký biệt hiệu, đã không được đưa vào; sở dĩ như vậy là vì hồi đó chưa xác định được những bài ấy là của Lê-nin. Trong lần xuất bản đó, nhiều tác phẩm và thư từ khác của Lê-nin cũng không được đưa vào.
Lần xuất bản thứ hai và thứ ba (cũng một nội dung như lần thứ hai) Toàn tập của V. I. Lê-nin đã được tiến hành theo quyết định của Đại hội II các Xô-viết Liên-xô và Đại hội XIII của Đảng, trong thời gian từ 1925 đến 1932. Mỗi lần xuất bản gồm có 30 tập, trong đó đã in hơn 2700 tác phẩm của V. I. Lê-nin. Song lần xuất bản thứ hai và thứ ba cũng không được đầy đủ.
Lần xuất bản thứ tư Toàn tập của V. I. Lê-nin
được tiến hành theo quyết định của BCHTƯ Đảng, trong năm 1941 và những năm 1946 - 1950. Lần xuất bản này gồm 35 tập (trong đó có hai tập thư) đã đăng cả thảy 2927 tác phẩm. So với lần xuất bản thứ ba thì lần thứ tư đã đưa vào nhiều văn kiện mới (trong đó có 62 văn kiện được đăng lần đầu tiên). Khi chuẩn bị cho lần xuất bản thứ tư, văn bản của tất cả các tác phẩm của V. I. Lê-nin đều được đối chiếu lại với bản gốc, nhờ vậy đã sửa được một số điểm sai lầm và không chính xác trong việc dò đọc những bản thảo của V. I. Lê-nin, cũng như những lỗi in sai trong những lần xuất bản trước. Nhiều tác phẩm in trong lần xuất bản thứ tư, là theo đúng những bản mới, chính xác hơn và đầy đủ hơn, chẳng hạn như in theo bản thảo chứ không theo bản đã in, in theo bản tốc ký chứ không theo tường thuật vắn tắt trên báo. Một tập tra cứu gồm hai cuốn đã được ấn hành cho toàn bộ lần xuất bản; trong tập đó, có những bản chỉ dẫn vấn đề theo vần chữ cái và một số bản chỉ dẫn khác.
Tuy nhiên, trong lần xuất bản thứ tư, còn thiếu một số văn kiện và nhiều tài liệu chuẩn bị, đã từng được đăng rồi hoặc chưa đăng. Thể theo nguyện vọng của những người đặt mua bản in thứ tư, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã ấn hành thêm 10 tập bổ sung cho lần xuất bản ấy.
Trong Toàn tập của V. I. Lê-nin - lần này là lần xuất
bản thứ năm những tác phẩm của Lê-nin - có đưa vào
tất cả những tài iệu đã in trong các lần xuất bản thứ ba
và thứ tư, gồm trên 3000 văn kiện. Trong Toàn tập, theo
thứ tự thời gian, đã đưa vào những tác phẩm thiên tài
của Lê-nin: "Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?", "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "Làm gì?", "Một bước tiến, hai bước lùi", "Hai sách lược của đảng dân chủ - xã
hội trong cách mạng dân chủ", "Chủ nghĩa duy vật và  chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", "Chủ nghĩa đế quốc,
[/align] giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản", "Nhà nước và cách mạng", "Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền xô-viết", "Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky", "Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản", "Bàn về thuế lương thực", "Bàn về chế độ hợp tác", v. v... Trong lần xuất bản này, có in những bài của V. I. Lê-nin đã đăng trên các báo "Tia lửa", "Tiến lên", "Người vô sản", "Người dân chủ - xã hội", "Sự thật", trong các tạp chí và văn tập bôn-sê-vích, cũng như những bài báo và phỏng vấn đăng trên các báo chí Nga và nước ngoài; có in những báo cáo và diễn văn của V.I. Lê-nin tại các đại hội và các hội nghị đại biểu của Đảng, tại đại hội các Xô-viết, đại hội Quốc tế cộng sản, những lời phát biểu tại các phiên họp của các cơ quan lãnh đạo trung ương của Đảng, tại các cuộc họp và mít-tinh quần chúng; ngoài ra còn in những tờ truyền đơn, bản tuyên bố, lời kêu gọi, những văn kiện có tính chất cương lĩnh, dự án nghị quyết, những sắc lệnh, lời chào mừng do V. I. Lê-nin thảo, những thư từ, điện văn, bút ký ghi chép đàm thoại qua đường dây trực tiếp, những bản tự khai và những tài liệu khác.
Bên cạnh những tác phẩm đã viết xong rồi, trong Toàn tập còn in cả những tài liệu chuẩn bị: những dàn bài, bản tóm tắt, sơ thảo, những ghi chú, những điểm bổ chính cho các văn kiện do những tác giả khác viết, cũng như những nhận xét và ghi chú của V. I. Lê-nin trong các sách lớn và nhỏ và bài báo của các tác giả, những đoạn trích từ các sách, tạp chí và báo.
Trong Toàn tập có in "Bút ký triết học", "Bút ký về chủ nghĩa đế quốc" cùng với những tài liệu chuẩn bị cho tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" và bút ký "Chủ nghĩa Mác bàn về nhà nước" gồm những tài liệu chuẩn bị cho cuốn "Nhà nước và cách mạng".
Sẽ được xuất bản thành sách bổ sung cho Toàn tập
này: những tài liệu chuẩn bị cho tác phẩm của V. I. Lê-nin
"Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "Những tài liệu về vấn đề ruộng đất", bản tóm tắt do V. I. Lê-nin ghi khi Người nghiên cứu bốn tập thư trao đổi giữa C.Mác và Ph. Ăng-ghen xuất bản bằng tiếng Đức hồi năm 1913.
So sánh những lần xuất bản trước, lần xuất bản thứ năm đã được bổ sung thêm những tài liệu mới thuộc thời kỳ "Tia lửa" - đó là những thư từ của V. I. Lê-nin gửi G.V.Plê-kha-nốp, B.M. Crơ-ghi-gia-nốp-xki, X.I và I. I. Rát-tsen-cô, V. Đ. Bôn-tsơ - Bru-ê-vích, cùng một số khá nhiều những văn kiện mới của Lê-nin thuộc thời kỳ ngay trước và trong cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất, trong số đó có một số tài liệu của Đại hội III của Đảng.
Một số văn kiện lần đầu tiên được đưa vào Toàn tập, nêu rõ sự hoạt động của V. I. Lê-nin trong những năm phản động và trong thời kỳ cao trào cách mạng mới của phong trào công nhân. Chủ yếu đó là những thư từ gửi G.V. Plê-kha-nốp, V.A.Các-pin-xki, Ph. A. Rốt-stanh, L. Tư-sca và những người khác. Qua đó phản ánh cuộc đấu tranh của V. I. Lê-nin chống phái thủ tiêu để giữ gìn và củng cố đảng, đấu tranh chống những động dao tư tưởng và những lệch lạc xa rời chủ nghĩa Mác.
Trong Toàn tập của V. I. Lê-nin, có in nhiều tài liệu mới về các vấn đề ruộng đất và dân tộc: những thư, dàn bài, những ghi chú trên các sách đã đọc, những đoạn trích từ các sách với những nhận xét kèm theo, những bản tổng hợp thống kê, v. v.; trong số đó có nhiều tài liệu mới được công bố lần đầu.
Trong lần xuất bản này, có một số văn kiện mới thuộc thời kỳ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất: dàn bài quyển sách nhỏ chưa viết "Chiến tranh Âu châu và chủ nghĩa xã hội Âu châu", những tài liệu về Hội nghị Xim-méc-van, một số khá nhiều thư. Tất cả những văn kiện đó phản ánh cuộc đấu tranh của V. I. Lê-nin chống chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, chống chủ nghĩa xã hội - sô-vanh và chủ nghĩa phái giữa, cho sự đoàn kết quốc tế của công nhân.
[/align] Trong Toàn tập này, nhiều văn kiện về cuộc Cách mạng dân chủ - tư sản tháng Hai và cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười được đăng lần đầu: những tài liệu chuẩn bị cho lời phát biểu tại hội nghị của những người bôn-sê-vích ở cung điện Ksê-xin-xcai-a trong đêm mồng 3 rạng ngày mồng 4 tháng Tư năm 1917, bản tiểu sử tự thuật viết dở dang, bản tóm tắt nghị quyết về những biện pháp kinh tế để đấu tranh chống tình trạng kinh tế đổ nát, những thư, v. v..
Những văn kiện mới, thuộc thời kỳ Chính quyền xô-viết lần đầu tiên được đưa vào Toàn tập, có một tầm quan trọng lớn lao. Một số khá nhiều những văn kiện ấy phản ánh hoạt động của V. I. Lê-nin trong việc lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, phản ánh việc V. I. Lê-nin khởi thảo ra những nguyên lý cơ bản của việc quản lý kiến thiết kinh tế. Trong Toàn tập có in, chẳng hạn, các đề cương của tác phẩm nổi tiếng "Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền xô-viết", trong đó V. I. Lê-nin đã thảo ra cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã giải thích rõ tầm quan trọng của năng suất lao động và của thi đua xã hội chủ nghĩa. Trong các tác phẩm đó và những tác phẩm khác, V. I. Lê-nin đã vạch ra một cách toàn diện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc lãnh đạo xây dựng kinh tế. Trong một số văn kiện, V. I. Lê-nin đã chỉ rõ sự cần thiết phải nghiên cứu kinh nghiệm địa phương, phải phổ biến và phổ cập kinh nghiệm đó, đã nêu rõ là phải dùng những phương pháp nào để cải tiến công tác.
Nhiều văn kiện mới nói về hoạt động của bộ máy nhà nước xô-viết. Những văn kiện đó phản ánh cuộc đấu tranh của V. I. Lê-nin chống chủ nghĩa quan liêu, nhằm tinh giản
và giảm bớt chi phí của bộ máy nhà nước, tăng cường mối liên hệ của nó với nhân dân và thu hút các tầng lớp lao
động rộng rãi nhất tham gia quản lý nhà nước, nhằm làm
cho pháp luật xô-viết được tuân thủ nghiêm chỉnh. Trong Toàn tập có in "Dự thảo điểm thứ ba trong phần chính
trị chung của cương lĩnh (viết cho Uỷ ban dự thảo cương lĩnh của Đại hội VIII của Đảng)", trong đó V. I. Lê-nin chỉ rất rõ ràng bản chất của nền dân chủ xô-viết, vô sản, thực sự nhân dân, sự khác biệt căn bản của nó với nền dân chủ tư sản.
Những văn kiện mới thuộc thời kỳ cuộc can thiệp vũ trang của nước ngoài và cuộc nội chiến, nêu bật sự hoạt động lớn lao của V. I. Lê-nin, với tư cách là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng công nông, sự quan tâm không mệt mỏi của Người đến việc củng cố Hồng quân, đến việc động viên mọi lực lượng để đập tan bọn can thiệp và bọn phản cách mạng trong nước, nêu bật sự lãnh đạo của Lê-nin trong việc vạch ra những kế hoạch và những chỉ thị về chiến lược quân sự.
Một số văn kiện lần đầu tiên được in trong Toàn tập bao gồm luận chứng của V. I. Lê-nin về những nguyên tắc chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau, nêu rõ sự lãnh đạo của Người đối với chính sách đối ngoại của nhà nước xô-viết, cuộc đấu tranh trước sau như một vì nền hoà bình, vì sự củng cố những mối liên hệ giao dịch với tất cả các nước.
Những tài liệu về phong trào công nhân quốc tế chiếm một vị trí lớn trong Toàn tập. Trong lần xuất bản này, lần đầu tiên in: đề cương bài "Về những nhiệm vụ của Quốc tế III", đề cương báo cáo tại Đại hội II của Quốc tế cộng sản về tình hình quốc tế và những nhiệm vụ cơ bản của Quốc tế cộng sản, những văn kiện có liên quan đến công việc của Đại hội III của Quốc tế cộng sản, "Những ý kiến nhận xét của luận cương về mặt trận thống nhất", v. v..
Trong Toàn tập V. I. Lê-nin, có in những văn kiện vô
cùng quan trọng mà Lê-nin đã đọc cho thư ký ghi hồi tháng Chạp 1922 - tháng Giêng 1923: "Thư gửi Đại hội", nổi
tiếng với tên gọi là "Di chúc", những thư "Về việc trao cho Uỷ ban kế hoạch những chức năng lập pháp", và "Về vấn
đề các dân tộc hay là "sự tự trị hoá"". Những văn kiện đó đi liền với những tác phẩm cuối cùng có ý nghĩa cương lĩnh của V. I. Lê-nin: "Những trang nhật ký", "Bàn về chế độ hợp tác", "Về cuộc cách mạng của chúng ta", "Chúng ta phải cải tổ Ban thanh tra công nông như thế nào", "Thà ít mà tốt".
Những văn kiện lần đầu tiên được đưa vào Toàn tập V. I. Lê-nin, về khối lượng tính ra khoảng 20 tập. Những văn kiện này do được in trong các văn tập Lê-nin, trong các tạp chí và báo, nên tương đối ít được độc giả biết đến. Việc đưa những văn kiện đó vào Toàn tập làm cho quần chúng rộng rãi có điều kiện nghiên cứu hơn.
Trong lần xuất bản này, tất cả những văn kiện của Lê-nin đều được xếp theo thứ tự thời gian.
Chỉ trừ một số trường hợp, khi thấy cần duy trì tính chất toàn vẹn và mối liên hệ hữu cơ giữa tác phẩm viết vào những thời gian khác nhau mà thôi. Trong các tập thì tất cả các tài liệu đều được sắp xếp theo ngày tháng viết ra chúng (diễn văn và báo cáo thì xếp theo ngày tháng phát biểu); còn những văn kiện mà ngày tháng viết ra không xác minh được thì xếp theo ngày tháng công bố. Những đề cương và bản tóm tắt của Lê-nin khi viết các tác phẩm, chẳng hạn các đề cương bài "Về quyền dân tộc tự quyết", các đề cương tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc và sự phân liệt trong phong trào xã hội chủ nghĩa" đều được đưa vào những tập có in những tác phẩm ấy, ở một mục đặc biệt của tập, dưới đầu đề chung là "Tài liệu chuẩn bị".
Thư tín (thư, điện báo, mệnh lệnh, chỉ thị, thư vài dòng, v. v.) được tập hợp thành những tập đặc biệt và in vào cuối Toàn tập. Các thư từ của V. I. Lê-nin gửi cho những người thân được tập hợp thành một tập riêng.
Trong một số tập của Toàn tập V. I. Lê-nin, có phần phụ lục, phần này gồm những đơn từ và những tài liệu khác có tính chất tiểu sử.
Để đăng vào Toàn tập, văn bản các tác phẩm của V. I. Lê-nin một lần nữa đã được đối chiếu với các bản gốc: những bản thảo của Lê-nin; các tác phẩm đã được xuất bản, do tự tay Người chuẩn bị để đưa in; những bài đã được đăng trên các báo và tạp chí hồi sinh thời Người; những bản ghi tốc ký do Người chỉnh lý, v. v.. Những tác phẩm mà V. I. Lê-nin viết bằng tiếng nước ngoài thì được in theo thứ tiếng của nguyên bản và theo bản dịch ra tiếng Nga.
Kèm theo Toàn tập, còn có phần tham khảo khoa học giúp độc giả trong việc nghiên cứu các tác phẩm của V. I. Lê-nin: lời tựa chung cho Toàn tập; lời tựa cho từng tập có phần nhận định tóm tắt bối cảnh lịch sử trong đó các tác phẩm đã ra đời, cũng như có phần trình bày quá trình phát triển của những tư tưởng chủ yếu của V. I. Lê-nin chứa đựng trong các tác phẩm đó. Tài liệu tham khảo còn bao gồm cả phần thân thế và sự nghiệp của V. I. Lê-nin thuộc vào thời kỳ tương ứng với từng tập; bao gồm cả phần chú thích về các biến cố lịch sử, về một số sự kiện, về các cơ quan ngôn luận v. v.; phần chỉ dẫn tên người có kèm theo tiểu sử sơ lược của những nhân vật đã nêu trong sách và phần chỉ dẫn các nguồn tài liệu đã được V. I. Lê-nin trích dẫn và nhắc tới.
Những chú thích ở cuối trang là những đoạn dịch văn bản bằng tiếng nước ngoài, là những chú dẫn sách báo được nhắc đến hay được trích dẫn trong tác phẩm của V. I. Lê-nin, và là những điều khảo dị có ý nghĩa quan trọng hơn cả.
Những đầu đề các tác phẩm của V. I. Lê-nin do Ban biên tập đặt ra thì đều được đánh dấu bằng một hoa thị.
*         *
*
Các tác phẩm của V. I. Lê-nin là kho tàng tư tưởng vô
giá, là nguồn tri thức thật là vô tận về những quy luật phát triển của xã hội, về những con đường xây dựng chủ nghĩa
cộng sản. Trong các tác phẩm của V. I. Lê-nin, - người tổ chức và lãnh tụ của Đảng cộng sản Liên-xô, người sáng lập ra nhà nước xã hội chủ nghĩa xô-viết, - học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác đã được phát triển hơn nữa trong những điều kiện lịch sử mới - trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản, trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Cả ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác đều được phát triển hơn nữa trong các tác phẩm của V. I. Lê-nin: triết học, chính trị kinh tế học, lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học. V. I. Lê-nin đã làm phong phú chủ nghĩa Mác bằng những kết luận và những luận điểm mới, đã phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác áp dụng vào thời đại lịch sử mới, phù hợp với những nhiệm vụ mới đặt ra trước giai cấp công nhân và đảng của nó trong thời kỳ đó. Trong các trước tác bất hủ của mình, V.I. Lê-nin đã giải đáp tất cả những vấn đề cơ bản mà thời đại lịch sử mới đã đặt ra cho giai cấp vô sản quốc tế.
V. I. Lê-nin đã xây dựng nên một học thuyết hoàn chỉnh về đảng, về vai trò lãnh đạo của đảng, về các nguyên lý tổ chức, chính trị và tư tưởng của đảng, về chiến lược và sách lược, về đường lối của đảng; Người đã vạch ra nguyên tắc quốc tế trong việc xây dựng một đảng vô sản. Người luôn luôn nhấn mạnh rằng: không có sự lãnh đạo của một đảng mác-xít kiểu mới, được vũ trang bằng lý luận cách mạng tiên tiến thì giai cấp công nhân không thể hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình là người xây dựng xã hội mới, cộng sản chủ nghĩa.
Các tác phẩm của V. I. Lê-nin cho ta thấy cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Người cho sự thống nhất, nhất trí và sự trong sạch của hàng ngũ đảng, cho mối quan hệ gắn bó giữa đảng với quần chúng, cho kỷ luật hết sức nghiêm ngặt của đảng, nhằm thực hiện trước sau như một các quy tắc sinh hoạt của đảng và các nguyên tắc lãnh đạo của đảng, mà nguyên tắc chủ yếu là tính tập thể.
V. I. Lê-nin là người đầu tiên đã phân tích chủ nghĩa đế quốc một cách sâu sắc theo quan điểm mác-xít, coi đó là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Người đã vạch ra những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được của chủ nghĩa đế quốc. Người chỉ rõ rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đó mang tính chất hết sức không đều, nhảy vọt, và rút ra một kết luận có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới: trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội có thể thắng trước hết trong một số ít nước hay thậm chí trong riêng một nước. Kết luận thiên tài đó đã được chứng thực một cách rõ rệt trong cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên-xô và ở các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa.
Tổng kết kinh nghiệm của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại và vạch ra ý nghĩa quốc tế của nó, V. I. Lê-nin chỉ rõ rằng những quy luật và những đặc điểm cơ bản của nó là có tính chất phổ biến cho cách mạng xã hội chủ nghĩa trong tất cả các nước. Lê-nin viết : chủ nghĩa bôn-sê-vích đã đem lại lý luận, cương lĩnh và sách lược cho phong trào cộng sản thế giới. "Chủ nghĩa bôn-sê-vích là mẫu mực sách lược cho tất cả các nước" (Toàn tập, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 5, t. 37, tr. 305).
V. I. Lê-nin đã phát triển lý luận mác-xít về nhà nước, lý luận chuyên chính vô sản. Người chứng minh rằng vấn đề chuyên chính vô sản là vấn đề chủ yếu trong học thuyết của Mác. Lê-nin giải thích rằng chỉ người nào đi từ chỗ thừa nhận đấu tranh giai cấp đến chỗ thừa nhận chuyên chính vô sản, mới là người mác-xít. V. I. Lê-nin nhấn mạnh rằng chuyên chính vô sản là nền dân chủ kiểu cao nhất, là nền dân chủ thực sự của nhân dân. V. I. Lê-nin đã phát hiện thấy các Xô-viết - ra đời nhờ sự sáng tạo cách mạng của giai cấp công nhân Nga - là một hình thức nhà nước của chuyên chính
vô sản, đồng thời Người nhìn thấy trước rằng nhất định sẽ
có rất nhiều hình thức chính trị khác nhau của chuyên chính vô sản, tuỳ theo những điều kiện lịch sử cụ thể của các nước khác nhau. Điều tiên đoán đó đã được chính thể ở các nước trong phe xã hội chủ nghĩa chứng thực một cách hết sức rực rỡ.
V. I. Lê-nin đã vạch ra cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên-xô, Người đã đưa ra những lời chỉ giáo chủ yếu nói về các con đường xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cương lĩnh của Lê-nin đã đề ra nhiệm vụ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đất nước, ra sức phát triển công nghiệp nặng, điện khí hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cải tạo nông nghiệp theo những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, tiến hành cách mạng văn hoá. Cương lĩnh Lê-nin được thực hiện đã đưa tới kết quả là: chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng thành công ở Liên-xô, Liên-xô đã trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có một nền công nghiệp và nền nông nghiệp tập thể hùng mạnh.
Trong các tác phẩm của mình, V. I. Lê-nin đã làm sáng rõ vấn đề vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản, vấn đề liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân, coi đó là lực lượng quyết định sự phát triển của xã hội. Người gọi liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân là lực lượng kỳ diệu nhất trên thế giới, có khả năng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, xây dựng lại xã hội trên cơ sở mới, xã hội chủ nghĩa.
V. I. Lê-nin đã góp phần cống hiến vĩ đại vào việc giải quyết vấn đề dân tộc. Trong các tác phẩm của mình, Lê-nin đã bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền được tách ra và trở thành quốc gia độc lập. Người luôn luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện triệt để các nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản, phải thực hiện liên minh chặt chẽ giữa công nhân và nông dân thuộc tất cả các dân tộc trong cuộc đấu tranh nhằm tự giải phóng khỏi ách áp bức xã hội và dân tộc, sự cần thiết phải đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa sô-vanh.
V. I. Lê-nin đã tiến hành và dạy cách tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống hệ thống tư sản, chống bọn xét lại, bọn cơ hội chủ nghĩa - là những tên tay sai của giai cấp tư sản ở trong phong trào công nhân. V. I. Lê-nin cho rằng chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chủ yếu trong phong trào công nhân. Các tác phẩm của V. I. Lê-nin đã phản ánh cuộc đấu tranh của người chống "phái mác-xít hợp pháp", "phái kinh tế", bọn men-sê-vích, bọn tơ-rốt-xkít, bọn dân tộc chủ nghĩa tư sản và bọn vô chính phủ. Cuộc đấu tranh đó có một ý nghĩa quốc tế rất lớn. Cuộc đấu tranh của V. I. Lê-nin chống chủ nghĩa giáo điều, chống việc biến chủ nghĩa Mác thành một mớ luận điểm và công thức cứng nhắc tách rời khỏi cuộc sống và thực tiễn, là sợi chỉ đỏ xuyên qua các tác phẩm của Người.
*         *
*
Toàn tập của V. I. Lê-nin ra đời là một sự kiện lớn trong đời sống tư tưởng của Đảng cộng sản Liên-xô, trong toàn thể phong trào cộng sản quốc tế. Lần xuất bản này sẽ giúp cho hàng triệu người xô-viết và cho nhân dân lao động tất cả các nước đi sâu nắm vững hơn nữa những sáng tạo bất hủ thiên tài của Lê-nin và đấu tranh thắng lợi hơn cho việc thực hiện những sáng tạo đó.
Đảng cộng sản Liên-xô và Ban chấp hành trung ương Đảng cùng các đảng cộng sản anh em, tuân theo những tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Lê-nin, không ngừng đấu tranh để thực hiện những tư tưởng đó và phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin. Tất cả mọi thắng lợi của Đảng cộng sản Liên-xô và của toàn thể phong trào cộng sản quốc tế đều gắn liền với sự trung thành đối với chủ nghĩa Lê-nin.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được các đảng cộng sản và
các đảng công nhân tất cả các nước phát triển một cách sáng
tạo. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên-xô, và chủ nghĩa xã hội ở các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân lao động trong các nước, nơi chủ nghĩa tư bản còn thống trị, và kinh nghiệm của phong trào giải phóng dân tộc, làm cho phong phú thêm.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một học thuyết quốc tế. Những tư tưởng cao cả của nó đã chỉ ra cho toàn thể nhân loại con đường đi tới tương lai tươi sáng, những tư tưởng đó ngày càng được truyền bá rộng rãi trong quần chúng lao động trên toàn thế giới. Không một lực lượng nào có thể ngăn cản được bước tiến thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Thắng lợi hoàn toàn của những tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là tất yếu.
Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin
trực thuộc Ban chấp hành trung ương
Đảng cộng sản Liên-xô.
 
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
Lời  tựa  cho  tập  I
Tập thứ nhất gồm có những tác phẩm của V. I. Lê-nin viết trong những năm 1893 - 1894, vào thời kỳ đầu đời hoạt động cách mạng của Người.
ở Nga, những năm 90 thế kỷ XIX được đánh dấu bằng sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và sự trưởng thành của giai cấp công nhân, bằng cao trào chung của phong trào công nhân. Sự tích tụ cao độ của đại công nghiệp đã giúp cho việc đoàn kết và tổ chức công nhân lại. Hình thức đấu tranh đình công đã được đẩy mạnh lên nhiều. Những tư tưởng của chủ nghĩa Mác bắt đầu thâm nhập vào trong công nhân.
Tên tuổi của Lê-nin gắn liền với sự mở đầu của một giai đoạn mới trong phong trào công nhân Nga. Trong các tác phẩm của mình viết trong những năm 1893 - 1894, V. I. Lê-nin đã phân tích một cách sâu sắc, theo quan điểm mác-xít chế độ kinh tế - xã hội của đất nước vào cuối thế kỷ XIX, xác định những nhiệm vụ cơ bản của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và đảng dân chủ - xã hội Nga. Lê-nin đề ra cho những người dân chủ - xã hội Nga nhiệm vụ phải thành lập một đảng mác-xít. Có thái độ sáng tạo đối với lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác, Lê-nin là người mác-xít đầu tiên đã nghiên cứu vấn đề về những đặc điểm của cuộc cách mạng dân chủ - tư sản sắp tới ở Nga, về những động lực của cuộc cách mạng đó và
về sự chuyển biến của nó thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong các tác phẩm in ở tập này, V. I. Lê-nin đã chĩa mũi nhọn chủ yếu vào các quan điểm triết học và kinh tế của phái dân tuý, vào lập trường chính trị và sách lược của phái đó, vì lúc bấy giờ những quan điểm và lập trường ấy là trở ngại chủ yếu, về mặt tư tưởng, cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác và cho phong trào dân chủ - xã hội ở Nga. Trong các tác phẩm đó, Lê-nin cũng đã đấu tranh chống lại việc các đại biểu của "chủ nghĩa Mác hợp pháp" xuyên tạc chủ nghĩa Mác theo tinh thần tư sản.
Tập thứ nhất gồm bốn tác phẩm của Lê-nin: "Những biến đổi mới về kinh tế trong đời sống nông dân (Bàn về cuốn sách của V. Ê. Pô-xtơ-ni-cốp "Kinh tế nông dân ở miền Nam nước Nga")", "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường", "Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao? (Trả lời những bài báo đăng trên tạp chí "Của cải nước Nga" chống lại những người mác-xít)", "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơ-ru-vê về nội dung đó (Sự phản ánh chủ nghĩa Mác trong sách báo tư sản)".
Bài "Những biến đổi mới về kinh tế trong đời sống nông dân" - bài mở đầu tập này - là tác phẩm đầu tiên trong số những tác phẩm còn giữ lại được của V. I. Lê-nin, Người viết bài này khi còn hoạt động ở Xa-ma-ra, vào mùa xuân 1893. Bài đó chứng tỏ rằng Lê-nin thời trẻ đã vận dụng lý luận mác-xít vào việc nghiên cứu đời sống nông dân một cách khéo kéo, độc lập, sâu sắc và triệt để biết bao. Sử dụng những số liệu thống kê của các hội đồng địa phương được dẫn ra trong cuốn "Kinh tế nông dân ở miền Nam nước Nga" của Pô-xtơ-ni-xốp đồng thời phê phán tính không triệt để và những sai lầm về phương pháp luận của tác giả cuốn sách đó, Lê-nin đã đánh giá một cách mác-xít tình hình nông thôn, vạch ra những quá trình và các hình
[/align] thức phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, và đập tan câu chuyện hoang đường của phái dân tuý nói rằng tuồng như chủ nghĩa tư bản không đụng chạm đến nông dân "công xã". Lê-nin chứng minh rằng trái với lý luận của phái dân tuý, chủ nghĩa tư bản ở Nga vẫn phát triển với một sức mạnh không gì kìm hãm nổi, rằng nông dân thực tế đã phân chia thành những giai cấp đối địch: giai cấp tư sản nông thôn và giai cấp vô sản nông nghiệp, là hai giai cấp đã phát triển do sự tan rã của trung nông dưới chủ nghĩa tư bản. Trên cơ sở tài liệu rất phong phú, Lê-nin đã vạch trần tính chất tiểu tư sản của công xã nông thôn, những quan niệm phi lý và tai hại của phái dân tuý coi công xã nông dân là nền tảng của chủ nghĩa xã hội. Người chứng minh rằng các quan hệ kinh tế tư sản đã bám rễ chắc vào nông dân.
Bài "Những biến đổi mới về kinh tế trong đời sống nông dân" được viết ra để đăng trên báo chí hợp pháp. Trong một bức thư viết vào thời kỳ đó, V. I. Lê-nin đã nhấn mạnh rằng những luận điểm trình bày trong bài đó là cơ sở để đi đến những kết luận quan trọng hơn nhiều, tiến xa hơn nhiều so với những kết luận đã nêu ra trong chính bài ấy.
Liên quan đến bài "Những biến đổi mới về kinh tế trong đời sống nông dân", xét về nội dung, cần phải kể đến những chỗ ghi chú, những con số tính toán, những chỗ gạch dưới của V. I. Lê-nin ở trong cuốn sách của V. Ê. Pô-xtơ-ni-cốp, và được in trong tập này, ở phần "Tài liệu chuẩn bị". Một số trong những con số tính toán này của Lê-nin được in ra lần đầu tiên.
Tác phẩm "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường", mà
V. I. Lê-nin đã viết vào mùa thu năm 1893, là mẫu mực về sự vận dụng sáng tạo lý luận kinh tế của C. Mác vào việc nghiên cứu chế độ kinh tế ở Nga. Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc bộ "Tư bản" của Mác và vận dụng phương pháp biện chứng, Lê-nin đã chỉ ra rằng do kết quả của
sự phân công xã hội ngày càng tăng, nền kinh tế tự nhiên của những người sản xuất nhỏ dần dần biến thành nền kinh tế hàng hoá, và nền kinh tế hàng hoá đến lượt nó biến thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, rằng sự phân công lao động đó tất yếu dẫn đến sự phân hoá giai cấp trong những người sản xuất và làm cho thị trường trong nước phát triển. Như vậy, Lê-nin đã bác bỏ những lý luận thịnh hành của phái dân tuý cho rằng ở Nga, chủ nghĩa tư bản tuồng như không có cơ sở để phát triển, và Người chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản đã trở thành "cái nền cơ bản của đời sống kinh tế nước Nga" (xem tập này, tr. 127). Đồng thời Người phê phán những sự khẳng định của g. B. Cra-xin - sau này những sự khẳng định này đã được bọn "mác-xít hợp pháp" bảo vệ - nói rằng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tất nhiên đòi hỏi phải có thị trường ngoài nước để thực hiện giá trị thặng dư, rằng việc sản xuất ra tư liệu sản xuất không gắn liền với việc sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng. Lê-nin chỉ rõ rằng những quan điểm như thế thực chất không có gì khác với các quan điểm của phái dân tuý về vấn đề thị trường, và Người nhấn mạnh tư tưởng sau đây: cái mà những người mác-xít cần phải quan tâm đến, không phải là thị trường cho giai cấp tư sản, mà là sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.
Trong tác phẩm "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường", Lê-nin đã phát triển luận điểm của Mác nói về mối tương quan giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội, Người xác định sự phát triển ưu tiên của khu vực I, coi đó là quy luật kinh tế của tái sản xuất mở rộng. Trên cơ sở công thức tái sản xuất của Mác, Lê-nin đã trình bày những thay đổi trong tái sản xuất mở rộng, do sự tiến bộ kỹ thuật đưa lại.
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
Tác phẩm xuất sắc của V. I. Lê-nin "Những "người
bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người
dân chủ - xã hội ra sao?", được viết vào xuân - hè năm 1894, chiếm vị trí trung tâm trong tập thứ nhất.
Vào cuối năm 1893, tạp chí "Của cải nước Nga", một tạp chí đã tập hợp xung quanh mình phái dân tuý tự do chủ nghĩa, và những tạp chí dân tuý khác đã mở một chiến dịch chống chủ nghĩa Mác. Trong các tạp chí đó có đăng những bài báo xuyên tạc một cách có ý thức học thuyết mác-xít về xã hội, về cách mạng, về chủ nghĩa xã hội; phái dân tuý đã xuyên tạc thô bạo các quan điểm của những người mác-xít Nga. Không có cơ quan ngôn luận của mình ở Nga nên những người mác-xít không thể đập lại phái dân tuý một cách đích đáng trên báo chí công khai. Cuốn sách được xuất bản bí mật đó của Lê-nin đã đóng một vai trò to lớn trong việc đánh bại chủ nghĩa dân tuý. Trong bản tuyên ngôn thực sự đó của chủ nghĩa Mác cách mạng, trong văn kiện mác-xít có tính chất cương lĩnh đó, Lê-nin đã trình bày một cách sâu sắc thế giới quan khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết kinh tế của Mác, và phê phán một cách toàn diện các quan điểm triết học, kinh tế và chính trị của phái dân tuý tự do chủ nghĩa, cương lĩnh và sách lược của phái đó. V. I. Lê-nin đã chỉ ra rằng cương lĩnh chính trị của những "người bạn dân" giả dối đó thể hiện lợi ích của bọn cu-lắc; Người vạch mặt phái dân tuý tự do chủ nghĩa là những tên cải lương điển hình, bọn này phản đối cuộc đấu tranh cách mạng chống chế độ chuyên chế Nga hoàng và mô tả chế độ này như một lực lượng đứng trên các giai cấp và có khả năng cải thiện tình cảnh của nhân dân. V. I. Lê-nin vạch rõ tính chất vô căn cứ và sai lầm của những lý luận dân tuý về con đường phát triển đặc biệt, phi tư bản chủ nghĩa của nước Nga, và chỉ rõ rằng phái dân tuý tự do chủ nghĩa đã cố tình làm lu mờ sự thật về tình trạng bóc lột tư bản chủ nghĩa ở nông thôn.
Trong tác phẩm của mình, V. I. Lê-nin đã vạch mặt các nhà lý luận của phái dân tuý là những đại biểu của phương pháp phản khoa học, chủ quan trong xã hội học, là những nhà duy tâm phủ nhận tính khách quan của các quy luật phát triển xã hội và vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Các nhà dân tuý cho rằng có thể tuỳ tiện hướng tiến trình lịch sử theo ý muốn của những cá nhân "xuất chúng". Lê-nin đã đập tan những quan điểm chủ quan đó và đưa ra quan niệm duy vật về đời sống xã hội để đối lập với các quan điểm đó; Người vạch ra nội dung của học thuyết mác-xít về xã hội và chỉ rõ rằng tiến trình lịch sử được quyết định bởi những quy luật phát triển khách quan, rằng động lực chủ yếu của sự phát triển của xã hội là nhân dân, là các giai cấp mà cuộc đấu tranh của họ quyết định sự phát triển của xã hội.
Trong tác phẩm "Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?", V. I. Lê-nin lần đầu tiên đã đề ra cho những người dân chủ - xã hội Nga nhiệm vụ thành lập một đảng công nhân mác-xít và đề ra tư tưởng liên minh cách mạng giữa giai cấp công nhân và nông dân, coi đó là phương sách chủ yếu để lật đổ chế độ Nga hoàng, bọn địa chủ và giai cấp tư sản, và thành lập xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Nhấn mạnh vai trò lịch sử vĩ đại của giai cấp công nhân Nga, V. I. Lê-nin viết: "Những người dân chủ - xã hội hướng toàn bộ sự chú ý và toàn bộ hoạt động của mình vào giai cấp công nhân. Khi những người đại biểu tiên tiến của giai cấp đó đã thấm nhuần được những tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng về vai trò lịch sử của người công nhân Nga, khi các tư tưởng đó đã được phổ biến rộng rãi, và khi mà trong hàng ngũ công nhân đã lập ra được các tổ chức vững chắc có thể biến cuộc chiến tranh kinh tế phân tán hiện nay của công nhân thành một cuộc đấu tranh giai cấp tự giác, - thì lúc đó người công
nhân Nga, đứng đầu tất cả các phần tử dân chủ, sẽ đập đổ được chủ nghĩa chuyên chế và đưa giai cấp vô sản Nga
(sát cánh với giai cấp vô sản tất cả các nước),
thông qua con đường trực tiếp đấu tranh chính trị công khai, tiến tới cách mạng cộng sản chủ nghĩa thắng lợi". (xem tr. 386).
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
Tập thứ nhất kết thúc bằng tác phẩm "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơ-ru-vê về nội dung đó (Sự phản ánh chủ nghĩa Mác trong sách báo tư sản)", do Lê-nin viết vào cuối năm 1894 - đầu năm 1895. Theo lời của Lê-nin, tác phẩm này, về nhiều mặt, là bản tóm tắt của những tác phẩm kinh tế sau này của người, nhất là tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga". Trong tác phẩm này, V.I. Lê-nin đã chỉ rõ rằng phái dân tuý là những người đại biểu cho lợi ích của người sản xuất nhỏ, rằng nguồn gốc của chủ nghĩa dân tuý là tình trạng giai cấp những người sản xuất nhỏ chiếm số đông ở nước Nga tư bản chủ nghĩa sau khi xoá bỏ chế độ nông nô. Tiếp tục sự phê phán các quan điểm dân tuý, đã được tiến hành trong những tác phẩm trước, Lê-nin, trong tác phẩm "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơ-ru-vê về nội dung đó", đã chỉ rõ tính chất thuần tuý tư sản của các yêu sách kinh tế của phái dân tuý tự do chủ nghĩa, tính chất không tưởng và phản động của cương lĩnh chính trị của phái đó, thực chất duy tâm của các quan điểm xã hội học của họ.
Trong khi phê phán gay gắt hệ thống quan điểm dân tuý, Lê-nin đồng thời cũng lưu ý độc giả đến những nét và những mặt tích cực, - theo con mắt của người mác-xít, - của chủ nghĩa dân tuý trong những năm 60 - 70 thế kỷ XIX, coi đó là một trào lưu dân chủ - cách mạng trong một nước đang ở vào đêm trước cuộc cách mạng tư sản.
Đồng thời, trong tác phẩm đó, V. I. Lê-nin đã phê phán việc P. Xtơ-ru-vê, đại biểu của "chủ nghĩa Mác hợp pháp" đã xuyên tạc chủ nghĩa Mác theo tinh thần tư sản Lê-nin vạch trần những mưu toan của bọn "mác-xít hợp pháp" muốn tước bỏ nội dung cách mạng của chủ nghĩa Mác, và chỉ rõ rằng chủ nghĩa khách quan tư sản là cơ sở của các quan điểm của bọn "mác-xít hợp pháp", chủ nghĩa đó biện hộ cho chủ nghĩa tư bản và làm lu mờ những mâu thuẫn giai cấp. Lê-nin coi chủ nghĩa Xtơ-ru-vê, "chủ nghĩa Mác hợp pháp" là mầm mống của chủ nghĩa xét lại quốc tế. Cùng với việc phê phán chủ nghĩa khách quan tư sản, V. I. Lê-nin đã chứng minh nguyên tắc tính đảng trong khoa học xã hội và trong triết học. "... Chủ nghĩa duy vật, - Lê-nin chỉ rõ, - có thể nói là mang trong mình nó tính đảng, nghĩa là bắt buộc người ta, mỗi khi đánh giá một sự biến, phải trực tiếp và công khai đứng trên quan điểm của một tập đoàn xã hội nhất định...) (xem tr. 524 - 525).
V. I. Lê-nin chỉ rõ rằng trong điều kiện xã hội tư sản, cái gọi là chủ nghĩa khách quan trong khoa học là một sự che đậy những lợi ích giai cấp vụ lợi của các giai cấp bóc lột và thống trị. Khoa học mác-xít, gắn bó một cách công khai và mật thiết với giai cấp công nhân, phục vụ sự nghiệp cải tạo xã hội bằng con đường cách mạng, luôn luôn quan tâm đến việc vạch ra những quy luật phát triển của xã hội. Vì vậy tính đảng của khoa học mác-xít trùng với tính khoa học.
Ngay từ lúc mới bắt đầu hoạt động cách mạng, Lê-nin
đã cho ta một mẫu mực về sự phê phán có tính nguyên
tắc chống các lý luận xã hội chủ nghĩa giả mạo và xét
lại, một mẫu mực về tinh thần đấu tranh một lòng một
dạ vì lợi ích của giai cấp công nhân. Các tác phẩm của
V. I. Lê-nin toát lên một sự nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và sự vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác
vào việc phân tích tình hình kinh tế và chính trị ở Nga, vào việc xác định những nhiệm vụ đặt ra trước phong trào công nhân Nga.
Các tác phẩm của V. I. Lê-nin dạy giai cấp vô sản thế giới, các đảng cộng sản và công nhân trong tất cả các nước biết cách vạch mặt cái số đông đảo những "người bạn dân" và bọn xét lại hiện nay, là bọn đang tìm cách lợi dụng phong trào công nhân nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản.
Trong phần phụ lục cho tập thứ nhất, lần đầu tiên trong Toàn tập của V. I. Lê-nin có in "Các đơn từ của V.I. U-li-a-nốp (Lê-nin) từ năm 1887 đến 1893". Những văn kiện này là tài liệu bổ sung về tiểu sử của V. I. Lê-nin. Có hai lá đơn được đăng lần đầu, đó là: đơn gửi Toà án khu Xa-ma-ra ngày 5 tháng Giêng 1893 và đơn gửi Chánh án Toà án khu Xa-ma-ra ngày 16 tháng Tám 1893.
Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin
trực thuộc Ban chấp hành trung ương
Đảng cộng sản Liên-xô
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn teppyrock,
 
Công trình này bao gồm khoảng 3500 tác phẩm của Lenin, mất rất nhiều công mới đưa lên được hết. Tuy là có source đánh máy sẵn, nhưng nội chỉ copy-paste lên cũng mệt lắm, nói gì là còn phải chuyển đổi bộ chữ, từ TCVN qua. Cho nên rất mong bạn không chán nản mà bỏ cuộc nửa chừng.
 
Chắc chắn tôi sẽ có phụ với bạn, nhưng không thể thường xuyên được. Bạn nên xem những phần trong thư viện có sẵn:
 
LÊNIN TOÀN TẬP
 
để đỡ mất công đánh lại.
 
Cố lên bạn nhé!
 
Đăng nhập để trả lời
0
Những  biến  đổi  mới  về  kinh  tế  trong  đời  sống  nông  dân

Bàn  về  cuốn  sách  của  V.  Ê.  Pô-xtơ-ni-cốp:
"Kinh  tế  nông  dân  ở  miền  Nam  nước  Nga"1
I
Cuốn sách của V. Ê. Pô-xtơ-ni-cốp: "Kinh tế nông dân ở miền Nam nước Nga" (Mát-xcơ-va, 1891. Tr. XXXII + 391), xuất bản cách đây hai năm, mô tả hết sức chi tiết và tỉ mỉ nền kinh tế nông dân trong các tỉnh Ta-vrích, Khéc-xôn và Ê-ca-tê-ri-nô-xláp, và chủ yếu là trong những huyện trên đất liền (ở phía Bắc) của tỉnh Ta-vrích. Khi mô tả như thế, tác giả đã căn cứ trước hết - và chủ yếu - vào những tài liệu điều tra thống kê của các hội đồng địa phương trong ba tỉnh nói trên; và sau nữa là căn cứ vào những nhận xét cá nhân của tác giả, những nhận xét này thì một phần được tiến hành trong khi tác giả thi hành chức vụ của mình*, còn một phần nữa được tiến hành nhằm mục đích riêng là nghiên cứu nền kinh tế nông dân từ năm 1887 đến năm 1890.
Bản thân việc tập hợp thành một toàn bộ, những tài liệu điều tra thống kê của các hội đồng địa phương về cả một vùng và trình bày dưới một hình thức có hệ thống những kết quả điều tra, là một việc rất đáng chú ý, vì tài liệu thống kê của hội đồng địa phương2, tuy là tài liệu phong phú và hết sức tỉ mỉ về tình hình kinh tế của nông dân, nhưng đã được cung cấp dưới một hình thức làm cho những tài liệu điều tra đó hầu như không đem lại một cái gì bổ ích cho công chúng cả: những tập thống kê của các
 
 * Tác giả trước kia là nhân viên sở quy hoạch ruộng công trong tỉnh Ta-vrích
[/align] hội đồng địa phương đều là những bộ sách lớn gồm toàn biểu đồ (thường thì mỗi huyện được dành riêng một tập) mà chỉ cứ đem sắp xếp lại thành từng mục tương đối lớn và rành mạch cũng đòi hỏi một công tác chuyên môn mới làm được. Từ lâu, người ta đã cảm thấy cần phải sắp xếp lại những tài liệu thống kê của các hội đồng địa phương và chỉnh lý những tài liệu ấy. Chính nhằm mục đích đó, nên trong thời gian gần đây, người ta đã bắt tay vào việc xuất bản tập "Kết quả những tài liệu thống kê của các hội đồng địa phương". Kế hoạch xuất bản là như sau: người ta chọn một vấn đề cục bộ nào đó nói về nền kinh tế nông dân, rồi người ta tiến hành nghiên cứu riêng để tổng hợp tất cả những số liệu đã có trong những thống kê của các hội đồng địa phương về vấn đề đó; người ta tập hợp lẫn lộn những số liệu về vùng đất đen ở miền Nam nước Nga với vùng không phải đất đen ở miền Bắc, về những tỉnh thuần tuý nông nghiệp với những tỉnh thủ công nghiệp. Hai tập "Kết quả" đã xuất bản, đều đã được soạn ra căn cứ vào kế hoạch đó; tập thứ nhất chuyên nói về "công xã nông dân" (V. V.), tập thứ hai về "việc nông dân thuê ruộng đất không phải phần ruộng được chia" (N. Ca-rư-sép)3. Ta có quyền không tin rằng phương pháp tổng hợp đó là chính xác: trước hết, vì phương pháp đó đòi hỏi phải tổng hợp lại làm một những số liệu về các khu vực kinh tế khác nhau có những điều kiện kinh tế khác nhau (đồng thời hết sức khó mà nêu lên được những đặc trưng riêng của từng khu vực, vì những tài liệu điều tra của các hội đồng địa phương đều chưa đầy đủ, và vì nhiều huyện đã bị bỏ sót: những khó khăn đó đều đã biểu lộ ngay trong tập "Kết quả" thứ hai; ông Ca-rư-sép cũng đã thất bại khi ông ta định đem những số liệu thống kê của các hội đồng địa phương áp dụng cho những khu vực khác nhau); sau nữa, vì hoàn toàn không thể mô tả riêng rẽ một mặt nào đó của nền kinh tế nông dân mà lại không nói đến những mặt
[/align] khác; vì đem một vấn đề nhất định nào đó mà tách riêng ra, như thế là trái với tự nhiên và không làm cho thấy rõ được toàn bộ. Vấn đề nông dân thuê ruộng đất không phải phần ruộng được chia thì bị tách khỏi vấn đề cho thuê ruộng được chia, tách khỏi những số liệu chung về việc phân loại nông dân căn cứ vào phương diện kinh tế, và những số liệu về diện tích gieo trồng; những việc cho thuê ruộng đất đó chỉ được coi là một bộ phận của kinh tế nông dân thôi, kỳ thực việc đó lại thường là một phương thức đặc thù trong lối kinh doanh tư hữu. Chính vì thế mà theo tôi, tốt hơn là nên tổng hợp những số liệu thống kê của các Hội đồng địa phương về một vùng nhất định, có những điều kiện kinh tế giống nhau.
Trình bày qua những ý kiến của tôi về cách làm thế nào để tổng hợp được chính xác hơn những tài liệu điều tra thống kê của các hội đồng địa phương, cũng như những ý kiến đã nảy ra trong khi tôi đối chiếu các tập "Kết quả" với cuốn sách của Pô-xtơ-ni-cốp, tôi thấy cần phải nói thêm rằng nói cho đúng thì ông Pô-xtơ-ni-cốp đã không tự đề ra cho mình nhiệm vụ tổng hợp: ông coi những số liệu là thứ yếu và hoàn toàn chú tâm vào việc mô tả sao cho đầy đủ và nổi bật.
Trong khi mô tả như thế, tác giả chú ý gần như đồng đều đến những vấn đề có tính chất kinh tế, hành chính - pháp lý (hình thức chiếm hữu ruộng đất), cũng như những vấn đề có tính chất kỹ thuật (vấn đề ranh giới, chế độ kinh doanh, số thu hoạch) nhưng ông có ý đặt những vấn đề thứ nhất lên hàng đầu.
Trong bài tựa, ông Pô-xtơ-ni-cốp viết: "Phải thú thực
rằng đáng lẽ có thể chú ý nhiều đến kỹ thuật của kinh tế
 nông dân, thì tôi lại ít chú ý đến, nhưng sở dĩ tôi làm như
thế là vì, theo tôi thì trong nền kinh tế nông dân những
điều kiện kinh tế có một vai trò quan trọng hơn là kỹ thuật. Báo chí nước ta... thường coi nhẹ mặt kinh tế... Người ta
rất ít chú ý nghiên cứu những vấn đề kinh tế có tính chất cơ bản đối với nền kinh tế nông dân ở nước ta, như vấn đề ruộng đất và vấn đề ranh giới ruộng đất. Cuốn sách này dành một phần lớn hơn để làm sáng tỏ chính những vấn đề ấy, và đặc biệt là vấn đề ruộng đất" (Lời tựa, tr. IX).
Hoàn toàn đồng ý với cách nhìn của tác giả về tầm quan trọng tương đối của những vấn đề kinh tế và kỹ thuật, nên tôi định dành bài của tôi để chỉ trình bày riêng cái phần tác phẩm của ông Pô-xtơ-ni-cốp trong đó nền kinh tế nông dân là đối tượng để nghiên cứu về mặt kinh tế - chính trị*.
Trong bài tựa, tác giả đã nói rõ những điểm chủ yếu của việc nghiên cứu đó như sau:
"Do máy móc, trong thời gian gần đây, đã được sử dụng rộng rãi trong công việc đồng áng của nông dân và do quy mô kinh doanh của bộ phận nông dân khá giả được mở rộng ra nhiều, nên đời sống nông nghiệp ở nước ta đi vào một giai đoạn mới, giai đoạn này chắc chắn là sẽ còn được những điều kiện kinh tế khó khăn trong năm nay tạo cho một đà phát triển mới. Quy mô kinh doanh và việc sử dụng máy móc mà tăng lên, thì năng suất lao động của nông dân và khả năng lao động của gia đình cũng tăng lên rất nhiều, đó là điều mà từ trước đến nay người ta vẫn không nhìn thấy, khi xác định diện tích do một hộ nông dân có thể canh tác được...
Việc sử dụng máy móc trong nền kinh tế nông dân làm cho những điều kiện sinh hoạt thay đổi rất nhiều: việc sử dụng máy móc như thế đã giảm bớt nhu cầu về nhân công
* Theo tôi thì trình bày như thế không phải là thừa, vì cuốn sách của ông Pô-xtơ-ni-cốp - một trong những trước tác xuất sắc nhất trong số các trước tác kinh tế ở nước ta trong những năm gần đây - hầu như không được ai biết tới cả. Có lẽ một phần là do tác giả, tuy đã thừa nhận tầm quan trọng lớn lao của những vấn đề kinh tế, nhưng lại trình bày những vấn đề đó hết sức tản mạn và đã đưa vào bản trình bày của mình quá nhiều chi tiết thuộc về những vấn đề khác.
nông nghiệp và làm cho tình trạng nhân khẩu thừa - vốn vẫn có trong nông nghiệp nước ta - càng nặng nề hơn đối với nông dân, nên nó đã góp phần làm tăng thêm con số những gia đình đã trở thành thừa đối với nông thôn, do đó phải đi nơi khác kiếm công ăn, việc làm và thực tế đã trở thành những gia đình nông dân không ruộng đất. Đồng thời, với những phương pháp trồng trọt hiện đang được áp dụng, và với tính chất quảng canh của nông nghiệp thì việc sử dụng những máy móc lớn vào nông nghiệp đưa đời sống của nông dân lên cao đến một mức mà từ trước đến nay không thể nghĩ tới được. Đó là điều đảm bảo cho sức mạnh của những sự biến đổi mới về kinh tế trong đời sống của nông dân. Nêu ra và nói rõ những sự biến đổi ấy trong nông dân miền Nam nước Nga, đó là nhiệm vụ trực tiếp của cuốn sách này" (Lời tựa, tr. X).
Trước khi trình bày xem những sự biến đổi mới về kinh tế đó, theo ý của tác giả, là những gì, tôi cần phải nói thêm hai điểm dưới đây:
Một là, như trên kia ta đã thấy, Pô-xtơ-ni-cốp cho ta biết những số liệu về những tỉnh Khéc-xôn, Ê-ca-tê-ri-nô-xláp và Ta-vrích; nhưng chỉ những số liệu về tỉnh Ta-vrích là có đầy đủ chi tiết thôi, mà cũng không phải đối với toàn tỉnh: tác giả không cung cấp được những số liệu về Crưm là vùng có những điều kiện kinh tế hơi khác một chút, mà chỉ chú trọng đến ba huyện trên đất liền nằm ở phía Bắc tỉnh Ta-vrích, tức là huyện Béc-đi-an-xcơ, Mê-li-tô-pôn và Đni-ép-rơ. Tôi cũng chỉ dùng những số liệu thuộc độc ba huyện đó thôi.
Hai là, trong tỉnh Ta-vrích, ngoài người Nga ra còn có
cả người Đức và người Bun-ga-ri sinh sống nữa, nhưng số người Đức và người Bun-ga-ri không đông bằng người Nga: trong tổng số 19586 hộ thuộc huyện Đni-ép-rơ, có 113 hộ
di dân người Đức, tức là chỉ có vẻn vẹn 0,6%. Tại huyện
Mê-li-tô-pôn, trong tổng số 34 978 hộ, có (1 874 + 285 =)
2 159 hộ người Đức và người Bun-ga-ri, tức là 6,1%. Sau
cùng, tại huyện Béc-đi-an-xcơ, trong tổng số 28 794 hộ, thì có 7 224 hộ người Đức và người Bun-ga-ri, tức là 25%. Tổng cộng lại thì trong tổng số 83 358 hộ của cả ba huyện, có 9 496 hộ di dân, tức là vào khoảng 1/9. Vậy là, nói chung số hộ di dân là rất ít, mà trong huyện Đni-ép-rơ thì con số đó lại hoàn toàn không đáng kể. Tác giả đã mô tả tỉ mỉ kinh tế của những hộ di dân, luôn luôn tách rời kinh tế của những hộ đó với kinh tế của những hộ người Nga. Tôi không nói đến tất cả những sự mô tả đó mà hoàn toàn chỉ nói đến kinh tế của nông dân Nga thôi. Thật ra thì số liệu bao gồm cả người Nga lẫn người Đức, nhưng vì con số người Đức không đông, nên dù có nhập người Đức vào thì cũng không làm cho tỷ lệ chung thay đổi, thành thử chúng ta hoàn toàn có thể dựa vào những số liệu đó để nhận định nền kinh tế của nông dân Nga. Những người Nga ở tỉnh Ta-vrích, đến làm ăn sinh sống ở đấy trong 30 năm gần đây, chỉ khác nông dân thuộc các tỉnh khác ở chỗ họ khá giả hơn. Trong tỉnh đó, chế độ chiếm hữu ruộng đất công xã, theo lời tác giả nói, là "có tính chất điển hình và ổn định"*; nói tóm lại, trừ những hộ di dân ra thì kinh tế nông dân trong tỉnh Ta-vrích, về căn bản, không khác với hình loại chung của kinh tế nông dân Nga.



@huytran: cám ơn vì đã cổ vũ T.R, mong đựoc hợp tác với bạn

Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
II
Pô-xtơ-ni-cốp nói: "Hiện nay, trong bất cứ làng nào tương đối lớn ở miền Nam Nga (và chắc là người ta cũng có thể nói như thế đối với phần lớn những địa phương trong nước Nga) tình hình kinh tế của các loại dân cư đều khác nhau
rất nhiều, đến nỗi hết sức khó mà coi riêng từng làng nào
* Chế độ chiếm hữu ruộng đất theo từng nông hộ cá thể chỉ có trong năm địa phương thôi.
đó là một đơn vị hoàn chỉnh để nói về mức sinh hoạt được, và hết sức khó mà dùng những con số trung bình để nói lên mức sinh hoạt đó được. Những con số trung bình đó tuy có nói lên được một vài điều kiện chung có tính chất quyết định trong đời sống kinh tế của nông dân, nhưng không làm cho ta có được một khái niệm nào về tính muôn hình muôn vẻ của các hiện tượng kinh tế trong thực tế" (tr. 106).
Dưới đó một chút, Pô-xtơ-ni-cốp lại còn nói rõ hơn:
"Mức sống không đều nhau khiến cho hết sức khó mà nhận xét được mức sống khá giả chung của dân cư. Những người nào đi lướt qua những làng lớn trong tỉnh Ta-vrích, thường kết luận rằng những nông dân ở đây đều rất khá giả; nhưng một làng mà nửa số nông dân là những người khá giả, còn một nửa thì luôn luôn ở trong tình trạng bần cùng, như vậy có thể nói đó là một làng khá giả được không? Và căn cứ vào dấu hiệu nào để xác định mức độ khá giả của làng này hay làng nọ? Rõ ràng là ở đây những con số trung bình - là những con số nói lên tình hình của dân cư trong cả một làng hay cả một khu vực - chưa đủ để kết luận về mức độ khá giả của nông dân được. Muốn xét mức độ khá giả đó, thì chỉ có thể căn cứ vào rất nhiều số liệu, và phân dân cư thành nhiều loại khác nhau " (tr. 154).
Người ta có thể tưởng rằng khi tác giả xác nhận sự phân hoá trong nông dân, thì như vậy là hình như tác giả chẳng nói lên được một điều gì mới mẻ cả: sự phân hoá này đã được nói đến trong hầu hết những trước tác bàn về kinh tế nông dân nói chung rồi. Nhưng vấn đề là khi người ta nhắc đến sự phân hoá đó thì thường coi nhẹ ý nghĩa của nó, người ta xem sự phân hoá đó là không quan trọng hay thậm chí còn coi là một điều ngẫu nhiên nữa, người ta cho rằng có thể nói đến hình loại kinh tế nông dân, và còn dùng những con số trung bình để nêu lên đặc trưng của hình loại đó, người ta thảo luận về ý nghĩa của các loại biện pháp thực tế đối với toàn thể nông dân. Trong cuốn sách của mình, Pô-xtơ-ni-cốp đã phản đối những quan điểm như thế. Ông nêu rõ (và không phải chỉ một lần mà thôi) "tính chất hết sức nhiều hình nhiều vẻ của tình hình kinh tế của các nông hộ ở trong công xã" (tr. 323) và ông kiên quyết phản đối "khuynh hướng coi giới nông dân là một chỉnh thể thuần nhất, như những phần tử trí thức thành thị ở nước ta, cho đến nay, vẫn coi là như thế" (tr. 351). Ông nói: "Những tài liệu điều tra thống kê của các hội đồng địa phương về mười năm gần đây, đã cho ta thấy rõ rằng công xã nông thôn ở nước ta hoàn toàn không phải là một đơn vị thuần nhất như các nhà chính luận nước ta vào những năm 70 đã tưởng; và cho ta thấy rõ rằng trong mấy chục năm gần đây, dân cư trong công xã nông thôn đều phân hoá thành nhiều loại với tình hình kinh tế hết sức khác nhau" (tr. 323).
Pô-xtơ-ni-cốp đưa ra rất nhiều số liệu, rải rác trong toàn bộ cuốn sách, để chứng thực cho quan điểm của mình, và bây giờ đây, chúng ta cần phải tổng hợp những số liệu đó lại một cách có hệ thống để kiểm tra xem quan điểm đó có đúng không; để giải quyết những vấn đề sau đây: vấn đề giữa "những phần tử trí thức thành thị", là những người coi nông dân là một cái gì thuần nhất, và Pô-xtơ-ni-cốp, là người khẳng định rằng nông dân rất không thuần nhất, thì bên nào đúng? rồi đến vấn đề tính không thuần nhất đó sâu sắc như thế nào? nếu chúng ta chỉ căn cứ vào những con số trung bình thôi thì tính chất đó có làm cho chúng ta khó nêu rõ được đặc trưng kinh tế - chính trị chung của nền kinh tế nông dân không? tính chất đó có khả năng thay đổi được tác dụng và ảnh hưởng của những biện pháp thực tế đối với các loại nông dân khác nhau, không?
Trước khi dẫn ra những con số dùng làm tài liệu cần
thiết để giải đáp những vấn đề đó, cần thấy rõ rằng tất
cả những số liệu thuộc loại ấy đều do Pô-xtơ-ni-cốp rút
từ những tập thống kê của các hội đồng địa phương nói
về tỉnh Ta-vrích. Trong những cuộc điều tra thì lúc đầu,
cơ quan thống kê của các Hội đồng địa phương chỉ thu thập những số liệu về từng công xã nông thôn, chứ không thu thập những số liệu về mỗi nông hộ. Nhưng chẳng bao lâu người ta nhận thấy rằng tình hình tài sản của các nông hộ ấy có khác nhau, cho nên người ta liền tiến hành điều tra từng hộ, đó là bước đầu tiên nhằm nghiên cứu sâu hơn về tình hình kinh tế của nông dân. Bước tiếp theo là việc dùng các biểu đồ tổng hợp: xuất phát từ nhận thức cho rằng tình hình tài sản của nông dân trong công xã4 có những sự khác nhau sâu sắc hơn những sự khác nhau giữa các loại nông dân được sắp xếp theo địa vị pháp lý, nên những nhân viên thống kê căn cứ vào những sự khác nhau nhất định về tình hình tài sản, mà phân loại tất cả những chỉ tiêu về tình hình kinh tế của nông dân, chẳng hạn như chia nông dân thành từng loại căn cứ vào diện tích gieo trồng tính theo đê-xi-a-tin, căn cứ vào số súc vật cày kéo, căn cứ vào phần ruộng canh tác được chia của mỗi hộ, v. v. .
Thống kê của các Hội đồng địa phương tỉnh Ta-vrích phân loại nông dân, căn cứ vào số ruộng đất gieo trồng? Pô-xtơ-ni-cốp cho rằng cách phân loại như thế "là rất đạt" (tr. XII), vì "trong những điều kiện kinh tế của các huyện ở Ta-vrích, thì diện tích gieo trồng là dấu hiệu quan trọng nhất nói lên mức sống của nông dân" (tr. XII). Pô-xtơ-ni-cốp nói: "Trong các vùng thảo nguyên ở miền Nam nước Nga, các nghề phụ đủ mọi loại và có tính chất phi nông nghiệp, trong nông dân, hãy còn tương đối ít phát triển, và công việc chủ yếu của tối đại đa số dân cư nông thôn hiện nay là nghề nông dựa trên việc trồng ngũ cốc là chính". "Theo thống kê của các hội đồng địa phương, thì trong các huyện miền Bắc tỉnh Ta-vrích 7,6% nông dân quê quán ở đấy hoàn toàn làm nghề thủ công; ngoài ra, 16,3% dân cư còn làm thêm một nghề phụ nữa bên cạnh việc canh tác ruộng đất của mình" (tr. 108). Thực vậy, ngay cả đối với các địa phương khác ở Nga cũng vậy, phương pháp phân loại căn cứ vào
diện tích gieo trồng là phương pháp đúng hơn nhiều so với những phương pháp phân loại khác đã được các nhà thống kê của các hội đồng địa phương áp dụng, chẳng hạn, như phương pháp phân loại căn cứ theo số đê-xi-a-tin ruộng đất được chia của mỗi hộ hay số ruộng đất gieo trồng được chia của mỗi hộ: một mặt vì số ruộng đất được chia không trực tiếp nói lên mức độ khá giả của nông hộ, do chỗ diện tích phần ruộng được chia phụ thuộc vào số nhân khẩu được đăng ký5 tức là phụ thuộc vào số nam giới trong gia đình, và chỉ gián tiếp phụ thuộc vào tình hình khá giả của người chủ hộ thôi; - sau cùng còn vì người nông dân có thể không sử dụng phần ruộng được chia của mình nhưng lại đem cho thuê đi và không có khả năng sử dụng phần đất ấy do thiếu nông cụ. Mặt khác, nếu nghề chính của dân cư là nghề nông, thì cần phải xác định diện tích gieo trồng, mới tính toán được sản lượng, mới xác định được số lúa mì mà người nông dân tiêu dùng, cũng như mua hay bán, vì không làm sáng tỏ những vấn đề ấy thì cũng vẫn sẽ không thấy rõ được một mặt rất quan trọng của nền kinh tế nông dân: sẽ không hiểu rõ được tính chất của nền kinh tế nông nghiệp của nông dân và tầm quan trọng của nền kinh tế đó so với những khoản kiếm thêm, v. v.. Sau hết, chính là phải căn cứ vào diện tích gieo trồng để phân loại thì mới có thể so sánh kinh tế của một hộ với cái gọi là tiêu chuẩn chiếm hữu ruộng đất và tiêu chuẩn canh tác của nông dân, với tiêu chuẩn lương thực (Nahrungsflọche) và tiêu chuẩn lao động (Arbeitsflọche). Tóm lại, việc phân loại căn cứ vào diện tích gieo trồng không những là một phương pháp rất đạt, mà còn là phương pháp tốt nhất và tuyệt đối cần thiết.
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
Nếu chúng ta nghiên cứu những số liệu về số ruộng đất do các loại nông dân mua được, chúng ta thấy rằng những hộ mua được ruộng đất thì hầu như chỉ là những hộ loại trên, gieo trồng từ 25 đê-xi-a-tin trở lên, và chủ yếu là những nông dân rất khá giả, mỗi hộ gieo trồng 75 đê-xi-a-tin. Bởi vậy những số liệu về ruộng đất mua đã chứng thực một cách đầy đủ ý kiến của Pô-xtơ-ni-cốp về sự khác nhau giữa các loại nông dân. Chẳng hạn như
tài liệu mà tác giả đã cung cấp khi viết ở trang 147: "96 146 đê-xi-a-tin ruộng đất là do nông dân các huyện trong tỉnh Ta-vrích mua", thì hoàn toàn không nói rõ được hiện tượng sau đây: hầu hết ruộng đất ấy đều ở trong tay một thiểu số rất nhỏ đã được hưởng nhiều phần ruộng được chia hơn cả, nghĩa là ở trong tay thiểu số gồm những nông dân "khá giả", như Pô-xtơ-ni-cốp
đã nói, và số nông dân này không chiếm quá 1/5 tổng số dân cư.
Về vấn đề thuê ruộng đất thì cũng phải nói như thế. Biểu đồ trên kia chỉ rõ tổng số ruộng đất thuê, trong đó kể cả phần ruộng được chia lẫn ruộng đất không phải là ruộng được chia. Xem đó thì thấy rằng số ruộng đất thuê tăng lên theo đúng mức độ khá giả của nông dân, và do đó cũng thấy rằng nông dân càng có nhiều ruộng đất thì lại càng thuê nhiều ruộng đất và do đó làm cho những loại nông dân nghèo không có được đủ số ruộng đất cần thiết cho họ.
Cần phải nói rằng đó là một hiện tượng phổ biến trong cả nước Nga. Giáo sư Ca-rư-sép tổng kết cho toàn nước Nga tình hình nông dân thuê ruộng đất không phải phần ruộng được chia (trong tất cả những khu vực mà các hội đồng địa phương đã tiến hành thống kê), đã nêu rõ mối quan hệ trực tiếp giữa số ruộng đất thuê và mức độ khá giả của người thuê ruộng đất, và coi đó là quy luật phổ biến*.
Ngoài ra, Pô-xtơ-ni-cốp lại đưa ra những con số còn chi tiết hơn nữa về tình hình phân bố của số ruộng đất thuê (kể cả những phần ruộng đất được chia, lẫn những ruộng đất không phải là ruộng được chia), và tôi xin dẫn những con số đó ra đây: [xem bảng tr. 18. - BT.]
Cả ở đây nữa, chúng ta cũng thấy rằng những con số trung bình không thể nói rõ được hiện tượng: thí dụ như khi chúng ta nói rằng trong huyện Đni-ép-rơ, 56% nông dân đi thuê ruộng đất, như thế là chúng ta đã đưa ra một
khái niệm rất không đầy đủ về tình hình thuê ruộng đất,
vì trong những loại không có đủ ruộng đất (sau đây, chúng ta
 
* "Kết quả nghiên cứu kinh tế về nước Nga, căn cứ vào những tài liệu thống kê của các hội đồng địa phương". T. II. N. Ca-rư-sép. Tình hình nông dân thuê những ruộng đất không phải phần ruộng được chia. Đoóc-pát, 1892, Tr. 122, 133 và những trang tiếp.
[/align] sẽ chứng minh điểm đó) thì tỷ lệ phần trăm số người thuê ruộng đất lại thấp hơn nhiều, chỉ có 25% trong loại 1, nhưng trong loại nhiều ruộng là loại hoàn toàn có đủ ruộng rồi, thì hầu hết lại đi thuê ruộng đất (91%). Mức chênh lệch về số đê-xi-a-tin ruộng đất mà mỗi hộ thuê được, lại còn lớn hơn nữa: số ruộng đất mà loại trên thuê thì lớn gấp 30 - 15 - 24 lần số ruộng đất mà loại dưới thuê. Rõ ràng là điều đó làm thay đổi chính tính chất của việc thuê ruộng đất : đối với loại trên, thì đó đã là một việc kinh doanh thương mại rồi, còn đối với loại dưới, thì có thể đó là một việc làm do sự bần cùng cay đắng. Những số liệu về giá thuê ruộng đất đã xác minh giả thuyết sau là đúng : rõ ràng là loại ít ruộng phải trả giá thuê ruộng đất đắt hơn, đôi khi đắt gấp bốn lần so với những hộ loại trên (trong huyện Đni-ép-rơ). Về vấn đề này, cũng nên nhắc lại rằng không phải chỉ ở miền Nam nước ta, mới có tình trạng là diện tích ruộng đất thuê càng ít bao nhiêu thì giá thuê ruộng càng cao lên bấy nhiêu đâu : tác phẩm của ông Ca-rư-sép đã chứng mình rằng quy luật đó là một quy luật phổ biến.
Về những số liệu đó, ông Pô-xtơ-ni-cốp đã nói : "Trong những huyện thuộc tỉnh Ta-vrích thì những người đi thuê ruộng lại chủ yếu là những nông dân khá giả, đã có đủ phần ruộng được chia và ruộng tư rồi; họ đặc biệt thuê những ruộng đất không phải phần ruộng được chia, nghĩa là những ruộng đất của địa chủ và của nhà nước, ở xa làng mạc hơn. Xét về thực chất thì điều đó là hoàn toàn tự nhiên: muốn thuê những ruộng đất xa, thì phải có đầy đủ súc vật cày kéo, còn những nông dân nghèo hơn thì ngay cả đến súc vật để canh tác phần ruộng được chia của mình, cũng không có đủ nữa là" (tr. 148).
Không nên nghĩ rằng sở dĩ có tình hình phân bố đó về những ruộng đất thuê, là vì ruộng đất được đem cho từng
cá nhân thuê. Dù ruộng đất là do một công xã thuê đi
nữa thì tình hình cũng vẫn như thế, vì lý do đơn giản này: sự phân bố ruộng đất thuê đều tuân theo cùng những nguyên tắc ấy, nghĩa là "tuỳ theo túi tiền".
Pô-xtơ-ni-cốp nói: "Năm 1890, theo sổ thuế của Cục quản lý tài sản quốc gia, thì trong số 133 852 đê-xi-a-tin ruộng công của ba huyện, đã ký giao kèo cho thuê, có 84 756 đê-xi-a-tin ruộng đất tốt, tức là độ 63% tổng số diện tích, là cho những công xã nông thôn thuê để sử dụng. Nhưng ruộng đất mà công xã nông thôn thuê lại do một số chủ hộ - tương đối ít - sử dụng, chủ yếu là do những chủ hộ khá giả. Tài liệu điều tra từng nông hộ của Hội đồng địa phương đã làm nổi bật tình hình thực tế đó một cách rõ rệt" (tr. 150)*: [xem bảng tr. 21. - BT.]
Pô-xtơ-ni-cốp kết luận: "Như vậy là, trong huyện Đni-ép-rơ, quá 1/2 số ruộng đất gieo trồng cho thuê là do loại nông dân khá giả sử dụng; trong huyện Béc-đi-an-xcơ trên 2/3, và trong huyện Mê-li-tô-pôn là huyện mà người ta cho thuê nhiều ruộng đất nhà nước nhất thì thậm chí trên 4/5 diện tích cho thuê là do loại nông dân khá giả sử dụng. Còn trong tất cả các huyện, loại nông dân nghèo (gieo trồng nhiều nhất là 10 đê-xi-a-tin) thì thuê tất cả có 1 938 đê-xi-a-tin, tức là độ 4% tổng số ruộng đất cho thuê" (tr. 150). Sau đó, tác giả còn kể ra nhiều ví dụ về sự phân bố không đều về ruộng đất do các công xã nông thôn thuê, nhưng bất tất phải dẫn những ví dụ đó ra đây.
Nhân những kết luận của Pô-xtơ-ni-cốp về sự phụ thuộc của việc thuê ruộng vào mức độ khá giả của những người đi thuê, thì nêu ra đây ý kiến ngược lại của những nhà thống kê của các hội đồng địa phương, cũng là điều hết sức có ý nghĩa.
 
* Pô-xtơ-ni-cốp không ghi cột cuối cùng của biểu đồ đó (cột tổng số cho cả ba huyện). Ông đã thêm vào biểu đồ 6 lời chú thích như sau: "theo điều kiện trong giao kèo thuê ruộng, nông dân chỉ có quyền cày cấy 1/3 số ruộng đất thuê mà thôi".
[/align] Pô-xtơ-ni-cốp đã xếp bài : "Bàn về những tập thống kê của các hội đồng địa phương các tỉnh Ta-vrích, Khéc-xôn và Ê-ca-tê-ri-nô-xláp" (tr. XI-XXXII) lên đầu cuốn sách của ông. Trong bài này, ông có phân tích tập "Lược ghi về tỉnh Ta-vrích", do Hội đồng địa phương của tỉnh đó xuất bản năm 1889, trong đó có một bản tổng kết vắn tắt về toàn bộ cuộc điều tra nghiên cứu đã tiến hành. Phân tích phần trong tập đó nói về việc thuê ruộng đất, Pô-xtơ-ni-cốp viết :
"Trong các tỉnh miền Nam và miền Đông nước ta là những tỉnh có nhiều ruộng đất, thống kê của các hội đồng địa phương đã chỉ rõ rằng ở tỷ số phần trăm nông dân khá giả thì lớn, những nông dân này, ngoài số lớn ruộng đất mà cá nhân họ được chia, lại còn đi thuê thêm khá nhiều ruộng đất ở nơi khác nữa. Họ kinh doanh không phải chỉ nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu riêng của gia đình, mà còn nhằm thu thêm được một món, một số thu nhập dùng để sửa sang nhà cửa, mua máy móc và mua thêm ruộng đất nữa. Nguyện vọng đó cũng khá tự nhiên thôi, và bản thân nguyện vọng đó không có gì là tội lỗi cả, vì trong đó không có một yếu tố cu-lắc nào cả". [Đúng là ở đấy không có một yếu tố cu-lắc nào cả, nhưng chắc chắn là có những yếu tố bóc lột : thuê ruộng đất vượt xa nhu cầu của mình, như vậy là nông dân khá giả đã lấy mất của nông dân nghèo số ruộng đất cần thiết để nông dân nghèo sản xuất lương thực cho mình; nông dân khá giả mà mở rộng kinh doanh của họ ra thì họ cần thêm một số nhân công nữa và phải sử dụng công nhân làm thuê.] "Nhưng một số nhà thống kê của các Hội đồng địa phương rõ ràng là đã coi những hiện tượng đó trong đời sống nông dân là bất bình thường, nên ra công làm giảm ý nghĩa của những hiện tượng đó và ra công chứng minh rằng sở dĩ người nông dân thuê ruộng đất thì chủ yếu là do nhu cầu về lương thực đòi hỏi; rằng ngay cả khi nông dân khá giả thuê nhiều ruộng đi nữa thì tỷ lệ những người thuê ruộng đó cũng cứ luôn luôn giảm
xuống  theo mức độ tăng của diện tích phần ruộng được chia"
(tr.XVII). Để chứng minh ý kiến đó, nhà biên soạn quyển "Lược ghi", là ông Véc-ne, đã căn cứ vào diện tích phần ruộng được chia của những nông dân trong toàn tỉnh Ta-vrích, có thuê một hay hai công nhân hay có hai hay ba súc vật cày kéo, mà phân loại họ. Kết quả là "hoàn toàn tuỳ theo diện tích phần ruộng được chia mà tỷ lệ số hộ thuê ruộng giảm đi một cách tương ứng, nhưng diện tích ruộng đất mà mỗi hộ thuê được thì lại giảm đi một cách không tương ứng bằng" (tr.XVIII). Pô-xtơ-ni-cốp nói rất đúng rằng làm như vậy thì hoàn toàn không được chính xác, vì làm như thế là người ta đã tuỳ tiện chọn một bộ phận nông dân nào đó (những người có hai hay ba súc vật cày kéo), hơn nữa làm như thế là tầng lớp nông dân khá giả lại chính là tầng lớp bị loại ra; ngoài ra không thể đem gộp làm một những huyện trên đất liền của tỉnh Ta-vrích với vùng Crưm, vì điều kiện cho thuê ruộng ở hai vùng đó không giống nhau: ở Crưm, từ 1/2 đến 3/4 dân cư là nông dân không có ruộng đất (gọi là "đê-xi-a-tin-sích"), còn trong những huyện miền Bắc, số nông dân này chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân cư thôi. ở Crưm, hầu như lúc nào cũng dễ kiếm được ruộng đất để thuê; trong các huyện miền Bắc, thì đôi khi không sao kiếm được ruộng đất để thuê. Điều đáng chú ý là những nhà thống kê của các hội đồng địa phương các tỉnh khác cũng đã thử làm như thế (dĩ nhiên là những việc thử làm như thế của họ cũng đều không thành công) để che giấu những hiện tượng "không bình thường" trong đời sống nông dân, như hiện tượng thuê ruộng để kiếm lời. (Xem Ca-rư-sép, sách đã dẫn.)
Thế là, nếu tình hình phân bố những ruộng đất không phải phần ruộng được chia mà nông dân thuê được, chỉ rõ sự khác nhau giữa các nông hộ, khác nhau không những về lượng (người thuê nhiều, người thuê ít) mà cả về chất nữa (người thì vì nhu cầu lương thực mà thuê, người thì vì 
mục đích buôn bán mà thuê), - thì về tình hình thuê phần ruộng được chia lại càng chỉ rõ như vậy hơn.
Pô-xtơ-ni-cốp nói: "Cuộc điều tra từng nông hộ tiến hành từ 1884 đến 1886 trong ba huyện ở tỉnh Ta-vrích, đã đăng ký được tổng cộng là 256716 đê-xi-a-tin phần ruộng được chia có canh tác do nông dân cho nhau thuê, như thế là ở đây, con số đó chiếm 1/4 toàn bộ phần ruộng được chia; ấy là người ta chưa kể đến số ruộng đất mà những người bình dân sống trong làng đã thuê của nông dân, cũng như những ruộng đất mà các viên thư ký, giáo viên, mục sư và những người khác không phải là nông dân và không ở trong diện của cuộc điều tra từng hộ, đã thuê của nông dân. Hầu hết các ruộng đất đó là do nông dân thuộc loại khá giả thuê. Những con số sau đây chứng tỏ điều đó. Cuộc điều tra đã ghi lại số đê-xi-a-tin phần ruộng được chia do các nông hộ thuê của các nông hộ ở cạnh mình.
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0
Bây giờ, nhiệm vụ của chúng ta là phải nói lên được một cách hết sức chính xác tình hình kinh tế của riêng từng loại hộ một, và do đó cố gắng giải thích mức độ và những nguyên nhân của những bất hoà về mặt kinh tế trong nông dân.
Pô-xtơ-ni-cốp không đề ra cho mình nhiệm vụ làm như vậy; cho nên những số liệu ông dẫn ra thì rất tản mạn, và bình luận chung của ông về các loại hộ là không được rõ ràng lắm.
Chúng ta bắt đầu từ loại hộ hạng dưới, tức là loại nghèo, loại bao gồm 2/5 dân số trong các huyện thuộc tỉnh Ta-vrích.
Muốn biết loại đó nghèo đến mức nào thì tốt nhất nên xem số súc vật cày kéo (tức là công cụ chủ yếu để sản xuất trong nông nghiệp) của họ. Tính ba huyện thuộc tỉnh Ta-vrích thì trong tổng số súc vật cày kéo 263 589 con, loại hộ hạng dưới chỉ có 43 625 (tr. 117), nghĩa là chỉ có 17%, tức là
2 1/3 lần ít hơn loại hộ hạng trung. Trên kia, chúng ta kể ra những số liệu về tỷ lệ phần trăm những hộ không có súc vật cày kéo (80% - 48% - 12% ở 3 nhóm thuộc loại hộ hạng dưới). Căn cứ vào những số liệu đó, Pô-xtơ-ni-cốp kết luận rằng: "Chỉ có trong các loại hộ không có diện tích gieo trồng hay có 10 đê-xi-a-tin trở lại mỗi hộ thì tỷ lệ những chủ hộ không có súc vật cày kéo riêng của mình, mới lớn thôi" (tr. 135). Diện tích gieo trồng của loại đó thì tương ứng với số súc vật cày kéo: loại này gieo trồng 146 114 đê-xi-a-tin ruộng đất của mình trong tổng số 962 933 đê-xi-a-tin (của ba huyện), tức là 15%. Nếu kể cả ruộng đất họ thuê nữa thì số ruộng đất họ gieo trồng lên đến 174 496 đê-xi-a-tin, nhưng vì trong khi đó, số diện tích gieo trồng của các nhóm khác cũng tăng lên và lại tăng lên nhiều hơn mức tăng trong loại hộ hạng dưới, nên kết quả là diện tích gieo trồng của loại hộ hạng dưới chỉ là 12% tổng số diện tích gieo trồng thôi, như thế có nghĩa là trên 3/8 dân
số chỉ có được 1/8 tổng số diện tích gieo trồng. Nếu chúng ta nhớ lại rằng tác giả lấy chính diện tích gieo trồng trung bình của người nông dân Ta-vrích làm diện tích tiêu chuẩn (nghĩa là đủ để thoả mãn mọi nhu cầu của gia đình) thì cũng dễ thấy được rằng với một diện tích gieo trồng 3 1/3 lần ít hơn diện tích trung bình, loại hộ đó đã bị thiệt thòi đến như thế nào.
Hoàn toàn tự nhiên là trong những điều kiện như thế, thì kinh tế nông nghiệp của loại đó ở vào một tình trạng hết sức buồn thảm: trên kia chúng ta đã thấy rằng từ 33% đến 39% dân cư trong các huyện thuộc tỉnh Ta-vrích ? tức là tuyệt đại đa số các hộ thuộc loại hạng dưới ? hoàn toàn không có nông cụ. Không có nông cụ nên nông dân buộc phải bỏ ruộng đất và đem phần ruộng được chia của mình cho thuê đi: Pô-xtơ-ni-cốp ước tính số người cho thuê ruộng đất đó (kinh tế của họ rõ ràng đã hoàn toàn suy sụp rồi) là khoảng độ 1/3 dân cư, như thế lại cũng có nghĩa là số người đó là tuyệt đại đa số của loại hộ nghèo. Nhân tiện, chúng tôi cũng lưu ý rằng hiện tượng "bán" những phần ruộng được chia như thế (đây là nói theo cách nông dân thường nói) đã được cơ quan thống kê của các hội đồng địa phương xác nhận rằng đâu đâu cũng có và có trên một quy mô rất lớn. Những báo chí đã nêu lên hiện tượng đó, cũng đã phát minh ra được một phương pháp để chống lại hiện tượng đó, là: đề nghị cấm không được đem nhượng phần ruộng được chia. Pô-xtơ-ni-cốp hoàn toàn có lý khi bác bỏ tính hiện thực của những biện pháp như thế, những biện pháp đó chứng tỏ rằng những kẻ phát minh ra những biện pháp đó đã tin tưởng một cách hoàn toàn quan liêu vào sức mạnh của những mệnh lệnh của chính quyền. Ông nói: "Chắc chắn rằng chỉ cấm không cho đem cho thuê ruộng đất không thôi, thì không xoá bỏ được hiện tượng đó, nó đã ăn rễ quá sâu vào chế độ kinh tế hiện nay của đời sống nông dân. Người nông dân không có cả nông cụ lẫn tiền
cần thiết để tự mình canh tác thì người nông dân đó thực tế không thể sử dụng phần ruộng được chia của mình được và phải đem cho những nông dân khác thuê vì những người này có phương tiện để canh tác. Tuyệt đối cấm không được đem ruộng đất cho thuê thì người ta sẽ cho thuê một cách giấu giếm, không kiểm tra được, và chắc chắn là người cho thuê phải cho thuê với những điều kiện tệ hơn bây giờ, vì người này thế nào cũng phải cho thuê ruộng đất của mình đi. Sau nữa, để trả số tiền thuế mà nông dân còn chịu thì thường thường là toà án nông thôn11 đứng ra làm trung gian để cho thuê  phần ruộng được chia của nông dân, mà các cho thuê như thế là cách ít có lợi nhất cho những nông dân nghèo" (tr. 140).
Kinh tế của toàn thể các hộ nghèo đang hoàn toàn suy sụp.
Pô-xtơ-ni-cốp nói: "Về thực chất mà nói thì những chủ hộ không gieo trồng và những chủ hộ gieo trồng ít, phải canh tác ruộng đất của mình bằng súc vật cày kéo thuê của người khác, thì không khác nhau nhiều về mặt tình cảnh kinh tế. Loại thứ nhất đem toàn bộ ruộng đất của mình cho dân trong làng thuê; loại thứ hai chỉ cho thuê một phần thôi, nhưng cả hai đều hoặc là làm cố nông cho những người cùng làng với mình, hoặc là vẫn ở trên mảnh đất của mình nhưng phải đi tìm những khoản kiếm thêm ở nơi khác, mà phần lớn đó là những việc làm thuộc nghề nông. Chính vì thế có thể gộp cả hai loại đó ? loại không gieo trồng gì cả, và loại gieo trồng ít ? làm một mà xét. Cả hai loại đó đều là những chủ hộ đã mất doanh nghiệp của mình, phần lớn đã phá sản hay sắp phá sản, không có súc vật cày kéo và nông cụ cần thiết để canh tác" (tr. 135).
Dưới đó một chút, Pô-xtơ-ni-cốp lại nói: "Nếu phần lớn những hộ không có doanh nghiệp và không gieo trồng gì
đều là những hộ phá sản thì những hộ gieo trồng ít và cho
thuê ruộng đất của mình đi, cũng sắp sửa rơi vào loại thứ nhất thôi. Hễ mất mùa nặng, hay bị tai nạn như cháy nhà, ngựa chết, v.v., là một phần những chủ hộ trong loại này liền rơi xuống thành loại những hộ không có doanh nghiệp và thành công nhân nông nghiệp. Vì một nguyên nhân nào đó mà mất súc vật cày kéo, là chủ hộ đó liền bắt đầu rơi vào cảnh suy sụp. Việc canh tác bằng súc vật cày kéo thuê của người khác là một việc rất có tính chất may rủi, không có quy củ và thường buộc người ta phải giảm diện tích gieo trồng đi. Những quỹ cho vay và tiết kiệm ở địa phương và những người cùng làng không cho những nông dân như thế vay một món nào cả [tác giả chú thích: "trong các huyện ở Ta-vrích thì những làng lớn có rất nhiều những quỹ cho vay và quỹ tiết kiệm, hoạt động nhờ vào tiền vay của Ngân hàng quốc gia, nhưng chỉ những chủ hộ khá giả hoặc sung túc mới vay tiền được của những quỹ ấy thôi"]; thường thường thì họ phải vay với những điều kiện ngặt nghèo hơn những nông dân "có khả năng". Nông dân nói: "họ không có một đồng xu dính túi thì cho họ vay làm sao được?". Một khi đã mắc công mắc nợ rồi thì hễ gặp vận rủi, là người nông dân đó mất ngay cả ruộng đất nữa, nhất là nếu anh ta không đóng đủ thuế" (tr. 139).
Do chỗ tác giả thậm chí đã cự tuyệt không giải đáp cho ta thấy nền kinh tế của nông dân thuộc loại nghèo ở vào tình trạng nào, nên chúng ta càng thấy được rõ hơn nữa mức độ suy sụp của nền kinh tế đó. Ông nói: trong những nông hộ gieo trồng mỗi hộ 10 đê-xi-a-tin trở lại thì "nghề nông ở vào những điều kiện quá bấp bênh, nên không thể dùng những phương pháp nhất định để nói lên đặc trưng của nó được" (tr. 278).
Trên đây, đã kể ra rất nhiều số liệu nêu rõ đặc trưng
của nền kinh tế nông dân thuộc loại hộ hạng dưới, nhưng như thế cũng còn hoàn toàn chưa đủ: những đặc trưng
đó hoàn toàn chỉ là những đặc trưng phản diện thôi, mà lẽ
ra thì nhất định cũng phải có những đặc trưng chính diện nữa. Cho đến nay, chúng ta chỉ nghe nói rằng không thể xếp những nông dân thuộc loại ấy vào loại những nông hộ độc lập, vì nghề nông của họ đã hoàn toàn suy sụp; sau nữa vì diện tích gieo trồng hết sức thiếu, và cuối cùng vì họ làm nghề nông một cách không có quy củ: "Chỉ những chủ hộ khá giả và có đủ hạt giống mới có thể tiến hành canh tác một cách tương đối có quy củ, ? những nhà thống kê đã nói như vậy, khi họ mô tả tình hình huyện Ba-khơ-mút, ? còn những nông dân nghèo thì có gì gieo nấy, không chọn nơi gieo và phương pháp gieo" (tr. 278). Nhưng sự tồn tại của toàn bộ cái khối nông dân thuộc loại dưới đó (trên 30 000 hộ và trên 200 000 người, cả nam lẫn nữ, trong 3 huyện ở Ta-vrích) không thể là một hiện tượng ngẫu nhiên được. Nếu họ không sống dựa vào doanh nghiệp của bản thân họ thì họ sống bằng cái gì? Chủ yếu là sống bằng cách bán sức lao động. Như trên kia chúng ta đã thấy, Pô-xtơ-ni-cốp đã nói rằng những nông dân thuộc loại hộ ấy sống bằng nghề làm công nhân nông nghiệp và bằng những khoản kiếm thêm. Vì miền Nam hầu như hoàn toàn không có công nghiệp, nên phần lớn những khoản kiếm thêm đó là do làm trong nông nghiệp mà có, và do đó chỉ là do lao động làm thuê trong nông nghiệp mà có thôi. Muốn chứng minh được tỉ mỉ hơn rằng chính việc bán lao động là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế của nông dân thuộc loại hộ hạng dưới thì bây giờ chúng ta hãy xét loại hộ đó, theo đúng cách phân loại trong thống kê của các hội đồng địa phương. Không cần phải nói đến những chủ hộ không gieo trồng gì cả: đó hoàn toàn chỉ là những công nhân nông nghiệp thôi. Hạng thứ hai bao gồm những nông dân gieo trồng mỗi hộ 5 đê-xi-a-tin trở lại (trung bình là 3,5 đê-xi-a-tin). Theo cách phân chia nói trên kia, tức là phân chia diện tích gieo trồng thành diện tích kinh doanh, diện tích trồng thức ăn cho súc vật, diện tích lương thực và diện tích thương phẩm thì chúng
ta thấy rằng số diện tích gieo trồng như vậy là hoàn toàn không đủ. Pô-xtơ-ni-cốp nói: "Trong diện tích gieo trồng của loại hộ thứ nhất, tức là loại gieo trồng mỗi hộ 5 đê-xi-a-tin trở lại thì không có diện tích thị trường, tức là diện tích thương phẩm; loại hộ này sở dĩ sống được là nhờ có thêm những khoản kiếm thêm, bằng cách đi làm thuê làm mướn hay bằng những phương pháp khác" (tr. 319). Như thế là còn loại hộ cuối cùng, tức là loại các hộ gieo trồng mỗi hộ từ 5 đến 10 đê-xi-a-tin. Một câu hỏi đặt ra là: trong nông dân thuộc loại ấy thì tỷ lệ giữa việc độc lập canh tác nông nghiệp với "những khoản kiếm thêm", là bao nhiêu? Muốn trả lời câu hỏi đó một cách chính xác, cần phải biết vài loại bảng chi thu điển hình của nông dân thuộc loại ấy. Pô-xtơ-ni-cốp hoàn toàn thừa nhận rằng những số liệu về bảng chi thu là cần thiết và quan trọng, nhưng ông cho biết rằng "thu thập được những số liệu như vậy là điều hết sức khó, mà trong nhiều trường hợp, lại là điều hoàn toàn không thể làm được đối với các nhà thống kê" (tr. 107). Chúng ta rất khó đồng ý với điểm nhận xét sau, vì những nhà thống kê ở Mát-xcơ-va đã thu thập được một số bảng chi thu hết sức có ý nghĩa và chi tiết (xem "Tập tài liệu thống kê về tỉnh Mát-xcơ-va". Phần thống kê kinh tế, Tt. VI và VII); bản thân tác giả cũng cho biết là trong một số huyện thuộc tỉnh Vô-rô-ne-giơ, người ta cũng đã thu thập được những số liệu về chi thu của từng hộ.
Rất đáng tiếc là những số liệu của bản thân Pô-xtơ-ni-
cốp về những bảng chi thu lại hết sức không đầy đủ: ông
dẫn ra 7 bảng chi thu của dân di cư người Đức, mà lại
chỉ dẫn ra có một bảng chi thu của một nông dân Nga thôi, hơn nữa tất cả các bảng chi thu đó lại là của những hộ
gieo trồng nhiều (diện tích gieo trồng minimum của người nông dân Nga là 39 1/2 đê-xi-a-tin) nghĩa là của những người thuộc vào các loại mà, căn cứ vào số liệu thống kê của các
hội đồng địa phương, ta có thể thấy khá rõ tình hình kinh tế của loại đó. Tỏ ý tiếc là "trong khi đi công cán", ông đã "không thu thập được nhiều bảng chi thu của nông dân", Pô-xtơ-ni-cốp nói rằng, "nói chung thì xác định chính xác những bảng chi thu đó là một điều khó khăn. Dân cư ở Ta-vrích cung cấp khá thành thật những tài liệu về tình hình kinh tế của mình, song bản thân họ phần nhiều lại không nhớ rõ con số chi thu chính xác của họ. Nông dân nhớ khá chính xác tổng số chi hay những món chi thu lớn nhất của họ, song hầu như không bao giờ họ nhớ được những con số chi tiết" (tr. 288). Nhưng tốt nhất là nên thu thập lấy một vài bảng chi thu, mặc dù trong những bảng này không có những chi tiết nhỏ, còn hơn làm như tác giả là thu thập "đến 90 đoạn mô tả có tính chất bình luận" về tình hình kinh tế, mà tình hình đó thì ta đã thấy khá rõ qua các số liệu điều tra của các hội đồng địa phương về từng hộ.
Vì không có những bảng chi thu, nên chúng ta chỉ có những số liệu thuộc hai loại để xác định tính chất của nền kinh tế của loại hộ chúng ta xét: thứ nhất là những con số tính toán của Pô-xtơ-ni-cốp về diện tích gieo trồng cần thiết để nuôi sống một gia đình bậc trung; thứ hai là những số liệu về việc phân chia diện tích gieo trồng thành 4 phần và về số chi trung bình hàng năm về tiền của mỗi hộ nông dân ở các vùng khác nhau.
Căn cứ vào những con số tính toán tỉ mỉ số đê-xi-a-tin gieo trồng cần thiết để nuôi sống một gia đình, cần thiết cho gieo giống và cho thức ăn của súc vật, Pô-xtơ-ni-cốp kết luận dứt khoát như sau:
"Một gia đình đông vừa phải và giàu vừa phải, chỉ sống bằng nghề nông không thôi và chi thu thăng bằng, thì trong điều kiện sản lượng thu hoạch trung bình, phải có, ? trong tổng số diện tích gieo trồng của mình, ? 4 đê-xi-a-tin để
cung cấp lương thực cho 61/2 nhân khẩu trong gia đình,
 4 1/2 đê-xi-a-tin trồng thức ăn cho 3 ngựa kéo, 1 1/2 đê-xi-a-
tin để gieo giống và từ 6 đến 8 đê-xi-a-tin để cung cấp ngũ cốc bán ra thị trường, như thế tổng cộng là phải có từ 16 đến 18 đê-xi-a-tin diện tích gieo trồng. ...Nông dân hạng trung ở Ta-vrích có mỗi hộ chừng 18 đê-xi-a-tin diện tích gieo trồng, nhưng 40% dân số 3 huyện thuộc tỉnh Ta-vrích lại chỉ có mỗi hộ I0 đê-xi-a-tin trở lại thôi, mà nếu họ vẫn cứ làm nghề nông, chính chỉ là vì một phần thu nhập của họ có được là do những khoản kiếm thêm và do cho những người khác thuê ruộng đất của mình. Tình hình kinh tế của bộ phận dân cư ấy thì không bình thường, bấp bênh, vì trong phần lớn trường hợp, bộ phận đó không có dự trữ để phòng những năm đói kém" (tr. 272).
Do chỗ diện tích gieo trồng trung bình trong loại hộ đó là 8 đê-xi-a-tin mỗi hộ, tức là chưa bằng một nửa diện tích cần thiết (17 đê-xi-a-tin), nên chúng ta có thể kết luận rằng nông dân thuộc loại đó kiếm phần lớn thu nhập của họ là nhờ vào "những khoản kiếm thêm", nghĩa là nhờ đã bán sức lao động của mình đi.
Một cách tính khác: theo những số liệu của Pô-xtơ-ni-cốp về sự phân bố diện tích gieo trồng, thì trong số 8 đê-xi-a-tin diện tích gieo trồng, 0,48 đê-xi-a-tin sẽ được dành để sản xuất hạt giống; 3 đê-xi-a-tin để trồng thức ăn cho súc vật ( trong loại này, mỗi hộ có 2 súc vật cày kéo, chứ không phải 3); 3,576 đê-xi-a-tin để sản xuất lương thực cho gia đình (số nhân khẩu cũng ít hơn số nhân khẩu trung bình: gần 5 1/2 người, chứ không phải 6 1/2), thành thử còn lại một diện tích thương phẩm chưa đầy 1 đê-xi-a-tin (0,944), mà tác giả ước tính là diện tích đó sẽ mang lại một thu nhập là 30 rúp. Nhưng số tiền mà người nông dân Ta-vrích phải chi, lại lớn hơn số 30 rúp đó rất nhiều. Tác giả nói rằng thu nhập những số liệu về số tiền chi thì dễ hơn nhiều so với việc thu nhập những số tiền về các bảng thu chi, vì bản thân nông dân thường luôn luôn tính toán số chi của mình. Theo những tính toán đó thì thấy rằng:
"Nông dân Ta-vrích ước tính là một gia đình nhân khẩu vừa phải, nghĩa là gồm có người chồng lao động, vợ và 4 đứa con kể cả nhỏ lẫn lớn, nếu canh tác ruộng đất của chính mình - ví dụ, vào khoảng 20 đê-xi-a-tin - mà không cần phải thuê thêm ruộng đất nữa, thì mỗi năm số chi cần thiết bằng tiền là 200 - 250 rúp. Số tiền 150 - 180 rúp được coi là số tiền tối thiểu mà một gia đình nhỏ phải chi, nếu gia đình đó ăn tiêu dè xẻn về mọi thứ. Không thể có một số thu nhập dưới số đó, vì hai vợ chồng người lao động trong vùng này đi làm thuê thì kiếm được mỗi năm 120 rúp, mà lại được ăn ở không mất tiền, và không phải chi gì về việc nuôi dưỡng súc vật và bảo quản nông cụ, v.v., đồng thời họ lại còn có thể được những "món phụ" nhờ đã cho nông dân cùng làng thuê ruộng đất" (tr.289). Vì loại hộ mà chúng ta đang xét đây là loại thấp hơn loại trung bình nên chúng ta chọn số tiền chi tối thiểu chứ không chọn số chi trung bình, và thậm chí chọn con số 150 rúp, tức là số thấp hơn minimum và số tiền ấy phải "kiếm thêm". Nếu tính theo cách ấy thì việc canh tác của bản thân người nông dân thuộc loại hộ đó mang lại một số tiền là (30+87,5*=) 117,5 rúp mà bán sức lao động thì được 120 rúp. Do đó, chúng ta vẫn lại thấy rằng việc canh tác nông nghiệp độc lập của nông dân thuộc loại đó chỉ có thể đáp ứng được gần một nửa số chi tối thiểu cho họ thôi **.


 
* 3 1/2 đê-xi-a-tin diện tích lương thực cung cấp mỗi đê-xi-a-tin được 25 rúp sản phẩm (25x3,5=87,5) ? đây là cách tính của Pô-xtơ-ni-cốp, tr.272.
** Những con tính của ông I-u-gia-cốp trong tạp chí "Tư tưởng
Nga" 12, số 9, năm 1885, ("Tiêu chuẩn sở hữu ruộng đất của nhân dân") hoàn toàn xác nhận kết luận đó. Đối với tỉnh Ta-vrích, ông cho rằng 9
đê-xi-a-tin ruộng đất gieo trồng là tiêu chuẩn diện tích lương thực, tức
là tiêu chuẩn thấp nhất của phần ruộng được chia của mỗi hộ. Nhưng
ông I-u-gia-cốp tính là phần ruộng được chia chỉ phải gánh số sản phẩm ngũ
[/align] Do đó, sau khi nghiên cứu tính chất doanh nghiệp trong tất cả những nhóm nhỏ thuộc loại hộ hạng dưới, chúng ta đi đến cái kết luận không còn nghi ngờ được là: tuy đa số nông dân đều có được ít diện tích gieo trồng thật đấy, nhưng không phải vì thế mà cái nguồn chủ yếu để họ kiếm ra những tư liệu sinh sống lại không phải là việc bán sức lao động. Đúng ra thì những nông dân thuộc loại đó là những công nhân làm thuê, chứ không phải là nông dân chủ doanh nghiệp.
Pô-xtơ-ni-cốp không đặt ra vấn đề đó, tức là vấn đề tính chất của sản xuất nông nghiệp của những nông dân thuộc loại hộ hạng dưới, và không làm sáng tỏ quan hệ giữa những khoản kiếm thêm với thu nhập do sản xuất mà có: đó là khuyết điểm lớn của tác phẩm của ông. Do đó mà trong tác phẩm của ông, ông không giải thích đầy đủ cái hiện tượng mới nhìn thì có vẻ kỳ lạ này: nông dân thuộc loại dưới, do có quá ít ruộng, nên bỏ không làm ruộng mà đem cho thuê đi; do đó mà ông đã tách khỏi
cốc dùng để ăn và trả thuế mà thôi, còn những món chi khác thì trông vào những khoản kiếm thêm. Những bảng chi thu mà cơ quan thống kê của các hội đồng địa phương lập thì lại cho ta thấy rằng số chi loại hai chiếm già nửa tổng số chi. Chẳng hạn, trong tỉnh Vô-rô-ne-giơ, số chi trung bình của một gia đình nông dân là 495,39 rúp, kể cả khoản chi bằng hiện vật lẫn khoản chi tiền mặt. Trong số đó, thì 109,10 rúp là chi để nuôi dưỡng súc vật [N.B. I-u-gia-cốp liệt khoản chi về nuôi dưỡng súc vật vào khoản chi về cắt cỏ và vào các ruộng đất bổ trợ, chứ không liệt vào khoản chi về ruộng đất gieo trồng], 135,80 là chi vào những sản phẩm thực vật và thuế má, còn 250,49 là chi vào các khoản khác: quần áo, nông cụ, tiền tô, các nhu cầu khác về canh tác v.v.. [24 bảng chi thu trong "Tập tài liệu thống kê về huyện Ô-xtơ-rô-gốt-xcơ"]. Trong tỉnh Mát-xcơ-va, số chi trung bình hàng năm của một gia đình là 348,83 rúp, trong số đó thì 156,03 chi vào sản phẩm ngũ cốc để ăn và thuế má, còn 192,80 chi vào các món khác. [Con số trung bình 8 bảng chi thu mà các nhà thống kê ở Mát-xcơ-va đã thu thập được, - 1. c1).]
1) ? loco  citato ? chỗ đã dẫn
[/align] tính chất chung của kinh doanh, cái sự thật quan trọng này: trong nông dân loại dưới, số lượng tư liệu sản xuất (tức là ruộng đất và nông cụ) thấp hơn nhiều so với số lượng trung bình về tư liệu sản xuất. Vì số lượng trung bình về tư liệu sản xuất thì nhiều lắm - như chúng ta đã thấy - cũng chỉ thoả mãn được những nhu cầu cần thiết của gia đình thôi, nên tình trạng nông dân nghèo thiếu tư liệu sản xuất như vậy khiến họ tuyệt đối cần phải tìm kiếm những tư liệu sản xuất của người khác để sử dụng lao động của mình, nghĩa là phải bán sức lao động của mình.
Bây giờ, chúng ta nói đến loại thứ hai, tức là loại hạng trung, loại này cũng bao gồm 40% dân số. Đó là những chủ hộ có một diện tích gieo trồng từ 10 đến 25 đê-xi-a-tin mỗi hộ. Thuật ngữ "hạng trung" là hoàn toàn thích dụng cho loại đó, tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng số tư liệu sản xuất của họ là ở dưới mức trung bình (một chút): diện tích gieo trồng của mỗi hộ là 16,4 đê-xi-a-tin, mà diện tích trung bình đối với tất cả nông dân là 17 đê-xi-a-tin. Súc vật của họ là: 7,3 con, mà mức trung bình là 7,6 con (súc vật cày kéo: 3,2 con, còn mức trung bình là 3,1 ). Tất cả ruộng đất canh tác của họ (phần ruộng được chia, ruộng đất mua và thuê) là từ 17 đến 18 đê-xi-a-tin mỗi hộ, còn mức trung bình là từ 20 đến 21 đê-xi-a-tin trong tất cả các huyện. Đem so số đê-xi-a-tin mỗi hộ gieo trồng, với tiêu chuẩn mà Pô-xtơ-ni-cốp đã đưa ra, thì chúng ta thấy rằng việc canh tác số ruộng đất của chính bản thân, chỉ cung cấp cho loại hộ đó vừa đủ số lương thực cần thiết của họ thôi.
Cứ theo tất cả những số liệu đó thì chúng ta có thể cho rằng doanh nghiệp của nông dân thuộc loại đó là vững vàng nhất: nông dân dựa vào đó mà đủ trang trải các khoản chi tiêu; họ lao động chỉ để thoả mãn những nhu cầu cần thiết bậc nhất của họ thôi, chứ không phải để kiếm thu nhập.
Thực ra, chúng ta lại thấy trái hẳn lại: đặc điểm của doanh nghiệp của những nông dân thuộc nhóm đó là rất bấp bênh.
Trong loại ấy, cái đầy đủ trước tiên là diện tích gieo trồng trung bình - 16 đê-xi-a-tin. Bởi vậy những chủ hộ có từ 10 đến 16 đê-xi-a-tin ruộng đất gieo trồng thì không thể trông vào nghề nông mà đủ chi tiêu được, nên cũng phải đi tìm những khoản kiếm thêm. Theo con tính ước chừng đã dẫn ở trên của Pô-xtơ-ni-cốp thì thấy rằng loại đó đã thuê 2 846 công nhân, nhưng số người thuộc loại đó phải đi làm thuê lại là 3 389, nghĩa là trội lên 543 người. Như thế là đời sống của chừng nửa số nông hộ loại đó không được bảo đảm hoàn toàn.
Sau nữa, trong loại đó, mỗi hộ có 3,2 súc vật cày kéo, nhưng, như trên kia chúng ta đã biết, phải cần đến 4 con. Như vậy là một bộ phận lớn thuộc loại đó không có đủ súc vật để canh tác ruộng đất, mà phải dùng chung súc vật cày kéo với người khác. Số những nông dân thuộc loại hộ đó phải dùng chung súc vật cày kéo với người khác, cũng không dưới 1/2: có thể nghĩ như vậy được, vì tổng số những hộ có đủ sức kéo là vào khoảng 40%, trong số này thì 20% là thuộc loại khá giả; còn 20% là thuộc loại hạng trung, thành thử ít ra thì 1/2 số hộ trong loại hạng trung không có sức kéo. Pô-xtơ-ni-cốp không đưa ra con số chính xác về số nông dân trong loại đó phải dùng chung súc vật cày kéo.
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Đăng nhập để trả lời
0