Diễn Đàn » Kinh nghiệm sống

SAU HAI THẬP KỶ CẢI TỔ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐANG ĐI VỀ ĐÂU?

28 trả lời, 1.920 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-28 08:42:35chialy1904>
 
Sau hai thập kỷ cải tổ
Giáo dục Việt Nam đang đi về đâu?*

 
 
* Đăng trên báo Lao Động số 42 - 43/2007, ngày 23- 24/02/2007
 
 
Nguyễn Xuân Thu
(Suy nghĩ và viết trong những ngày đầu xuân Đinh Hợi)
 
 
 
Việt Nam bắt đầu áp dụng chính sách đổi mới từ năm 1987. Từ đó đất nước dần dần biến đổi nền kinh tế bao cấp qua nền kinh tế thị trường và đến hôm nay Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới báo trước một tương lai đầy hứa hẹn cũng như không ít thách thức.
 
Thách thức lớn nhất là cạnh tranh quốc tế. Muốn chiến thắng trong mặt trận này mọi quốc gia đều phải hoàn chỉnh và liên lục hoàn chỉnh tốt hơn cả nền kinh tế vĩ mô (tức hệ thống pháp luật và bộ máy tổ chức, quản lý khoa học của các cơ quan nhà nước) lẫn nền kinh tế vi mô (bao gồm mọi hoạt động kinh tế từ các công ty, doanh nghiệp đến các cơ sở kinh doanh cá thể). Trong cả hai nền kinh tế vĩ mô và vi mô ấy yếu tố con người đóng vai trò then chốt cho mọi sự thành công.
 
Trọng tâm bài viết này nhằm điểm qua các hoạt động cải tổ giáo dục và đào tạo trong quá trình đi lên của đất nước trong hai thập kỷ qua. Tại sao trong những năm gần đây mọi ngõ ngách trong cuộc sống đều vọng lên tiếng gào đòi cải tổ giáo dục Việt Nam? Các nhà giáo dục và toàn xã hội phải làm gì để giúp giáo dục nước nhà hoàn thành được vai trò đào tạo những “kỹ sư” cho nền kinh tế tri thức trong giai đoạn đất nược hội nhập?
 
 
Quá trình cải tổ giáo dục… dở dang
 
Việt Nam bắt đầu công cuộc cải tổ từ năm 1987 nhưng giáo dục và đào tạo chỉ bắt đầu tiến hành công cuộc cải tổ sau khi bản nghiên cứu về tình hình giáo dục và đào tạo Việt Nam do các tổ chức quốc tế như UNDP, UNICEF, UNESCO tài trợ và có sự đóng góp của Bộ Giáo dục và Đào tạo được công bố vào năm 1992. Có hai sự kiện đáng kể nhất sau khi bản nghiên cứu được công bố là việc Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) chính thức tài trợ giúp giáo dục tiểu học Việt Nam phát triển và việc chính phủ cho thành lập hệ thống các trường đại học đa ngành theo mô hình của các nước phát triển phương Tây gồm có hai trường đại học quốc gia (ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP.HCM) và ba trường đại học vùng (ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng và ĐH Thái Nguyên). Theo các khuyến nghị trong bản nghiên cứu thì Ngân hàng thế giới (WB) sẽ tài trợ giúp Việt Nam phát triển hệ thống giáo dục đại học. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân từ các phía, dự án phát triển giáo dục đại học Việt Nam mãi đến gần 10 năm sau mới triển khai xong và cho đến nay dự án này cũng chưa hoàn tất. Mặt khác, hệ thống các trường đại học đa ngành được thành lập dưới thời Bộ trưởng Trần Hồng Quân chỉ mấy năm sau không những không được vun xới đúng mức mà còn bị chia tách nhỏ lại.
 
 
Đóng góp và trách nhiệm
 
Công cuộc cải tổ nền kinh tế Việt Nam, ngoài vai trò chủ đạo của phía Việt Nam phải kể đến sự đóng góp to lớn của các tổ chức quốc tế có văn phòng tại Việt Nam trong đó có các định chế tài chính lớn, các tổ chức Liên hiệp quốc, các đại sứ quán, các tổ chức thiện nguyện NGO và đặc biệt là cộng đồng các nhà kinh doanh nước ngoài. Họ đã giúp Việt Nam rất nhiều trong việc đưa ra thêm và hoàn chỉnh các văn bản pháp quy nhằm giúp cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam, cải tổ và nâng cấp các công trình hạ tầng, phủ đồi trọc, xử lý nước, giúp đỡ phụ nữ, người già, người thuộc các sắc tộc ở vùng sâu, vùng xa. Nói chung, hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế xã hội của Việt Nam nhận được sự hỗ trợ đáng kể của các tổ chức thế giới, trong đó lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là khu vực giáo dục và đào tạo bậc đại học nhận được sự hỗ trợ ít nhất và không đáng kể. Đầu tư giúp cải tổ một nền kinh tế mà thiếu chú trọng đến giáo dục và đào tạo là một sự đầu tư mất quân bình. Cải tổ, nâng cấp đường sá, cầu cống mà không giúp đào tạo con người thì ai sẽ đảm nhận công tác tu bổ, bảo trì? Trong lúc các hoạt động kinh tế mỗi ngày một gia tăng gấp bội thể hiện qua tổng thu nhập quốc dân hàng năm trong lúc ấy giáo dục và đào tạo dậm chân tại chỗ do đó gây nên cuộc khủng hoảng giáo dục là lẽ tất nhiên. Quy trách nhiệm cho riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo và những người làm công tác giáo dục là thiếu công bằng. Phải khách quan nói rằng mọi người có tham gia vào trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đều phải nhận một phần trách nhiệm.
 
 
Rào cản văn hóa
 
Văn hóa cũng là một trở ngại đáng kể trong công cuộc cải tổ giáo dục. Sau chiến tranh, Việt Nam một mặt hưởng được một di sản quý báu và phong phú về tri thức, kinh nghiệm và văn hóa từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng mặt khác cũng chính những nguồn tri thức này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc cải tổ giáo dục trong các giai đoạn vừa qua. Những người tốt nghiệp trong khối Liên Xô và Đông Âu cũ chỉ có kinh nghiệm về hệ thống giáo dục đại học chuyên sâu và đơn ngành. Những người theo học trong khối tiếng Pháp thì có kinh nghiệm riêng. Người chịu ảnh hưởng của Hán học và tư tưởng Nho giáo cũ thì muốn giáo dục và đào tạo đi theo hướng “tiên học lễ hậu học văn”, “tôn sư trọng đạo”, một thứ triết lý và phương pháp giáo dục đã nhận chìm nước Trung Quốc trong chậm tiến và lạc hậu qua suốt nhiều thế kỷ. Một số ít người chịu ảnh hưởng của giáo dục Mỹ trước đây thì bất lực. Trong lúc chưa có một triết lý giáo dục và thiếu những chuyên gia hàng đầu về tổ chức và quản lý giáo dục đại học, những sự khác biệt trong tư duy, kinh nghiệm của tầng lớp trí thức trên đã chuyển hóa thành những hình thức phản kháng một chiều, cực đoan và làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình đưa ra các quyết định có tính chiến lược của các cấp lãnh đạo giáo dục và đào tạo.
 
 
Bức tường cơ chế
 
Ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu và sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam là cơ cấu tổ chức hiện nay của hệ thống giáo dục Việt Nam. Muốn cho giáo dục và đào tạo của Việt Nam hội nhập với thế giới và đào tạo được đội ngũ nhân lực phục vụ sự phát triển ổn định xã hội, các viện và trung tâm nghiên cứu (trừ các viện và trung tâm chiến lược) phải nhập vào các trường đại học; các trường đại học phải được tổ chức theo mô hình đa cấp, đa ngành; phải đưa các trường đại học nằm trong các bộ khác nhau vào dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo; các trường đại học mỏ, địa chất và xây dựng phải nhập vào trường đại học bách khoa để trở thành trường đại học công nghệ có tầm cỡ quốc tế; hệ thống các trường dạy nghề phải nằm trong hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam. Nếu không cải tổ được cơ cấu tổ chức, giáo dục và đào tạo của Việt Nam khó có thể phát triển đúng mức và rất khó hoàn thành được chức năng của mình trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế tri thức, một yếu tố không thể thiếu để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
 
 
Tâm lý vọng ngoại
 
Tâm lý vọng ngoại của nhiều người Việt Nam cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc cải tổ giáo dục trong hai thập kỷ vừa qua. Do tập quán, cái gì của nước ngoài cũng tốt, cũng quý, giáo dục và đào tạo cũng không ngoại lệ. Chính tâm lý này cũng đã làm cho các nhà giáo dục trong nước dần dần mất niềm tin vào chính mình. Vì thiếu thông tin, nhiều người trong chúng ta xem giáo dục của Việt Nam là kém chất lượng, thua xa giáo dục và đào tạo của nhiều nước khác, kể cả các nước trong vùng. Điều này không hoàn toàn đúng. Là người có chút ít hiểu biết và kinh nghiệm về giáo dục đại học quốc tế, xin phải công bằng thưa rằng giáo dục đại học của Việt Nam có mặt yếu kém của mình nhưng cũng có nhiều mặt phụ trội hơn một số trường đại học thuộc các nước trong vùng. Tôi có hàng trăm chứng cứ đối chiếu khoa học để hỗ trợ quan điểm của mình. Để hiểu đúng giáo dục và đào tạo Việt Nam, chỉ xin suy nghĩ về câu hỏi: Ai đã đóng góp xây dựng đất nước để Việt Nam có diện mạo ngày hôm nay và đa số họ đã được đào tạo từ đâu?  
 
 
Chưa có chính sách về du học
 
Hiện nay vì Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa đưa ra được một chính sách về du học thích đáng nhằm phục vụ sự phát triển của đất nước nên bậc cha mẹ đã  chọn không đúng nước để gửi con đi du học và vì thế sự đầu tư không có hiệu quả cao. Mặt khác, do không có những công trình nghiên cứu sâu sát các cơ sở giáo dục nước ngoài nên đã để cho một số không nhỏ các cơ sở kinh doanh giáo dục của người nước ngoài tại Việt Nam bùng nổ một cách thiếu bền vững và kém chất lượng. Qua kinh nghiệm của cá nhân và khá phù hợp với một số ý kiến của Đoàn thanh tra liên Bộ trong năm vừa qua, trong số khoảng vài trăm cơ sở giáo dục của người nước ngoài tại Việt Nam chỉ có một cơ sở giáo dục đại học của người nước ngoài duy nhất là đúng với ý nghĩa của một trường đại học quốc tế, có chất lượng cao và có thể làm mô hình cho một số trường mới thành lập tham khảo. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, yếu tố quốc tế của trường đại học thể hiện qua một số đặc điểm sau: sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy; trên 10% tổng số người học là sinh viên quốc tế; trên 70% giảng viên người nước ngoài đến từ trên 20 nước trên thế giới; quản lý tài chính, nhân lực và sinh viên theo khoa học; có ký túc xá khang trang, có các cơ sơ thể dục thể thao hiện đại; có sự tham gia về tài chính của các định chế tài chính lớn nhất thế giới; có sự biếu tặng mang tính chiến lược của các nhà hão tâm quốc tế.
 
 
Cần xây dựng một triết lý giáo dục
 
Muốn có được sự phát triển giáo dục đúng mức, ngoài các luật, nghị định, quyết định, thông tư, Việt Nam cần sớm hình thành cho được một triết lý giáo dục vì chính triết lý giáo dục này sẽ dung hợp được tất cả các tư duy giáo dục khác biệt để tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nền móng cho ngôi nhà giáo dục Việt Nam phát triển. Trong số các phạm trù tư tưởng cũ hiện đang được áp dụng trong học đường Việt Nam, kể cả tư duy “tiên học lễ” cũng cần được xem xét lại thật kỹ lưỡng. “Lễ” đó là gì? Lễ phép hình thức bên ngoài để làm hài lòng một số người trước mặt trong lúc thiếu sự kính trọng thật sự từ bên trong, thế hệ trẻ miễn cưỡng chấp nhận, trong lúc đó chính thứ “lễ” ấy tạo ra một loạt các hậu quả khôn lường trong quá trình học tập khiến cho thứ “lễ” ấy trở thành một lực hãm rất lớn cho sự phát triển của toàn xã hội. Thế giới ngày nay có nhiều tiêu chí để rèn luyện đạo đức có hiệu năng cao hơn phạm trù “tiên học lễ” của các nhà Nho và giúp được người học sinh xây dựng được nhân cách, sự trung thực, tính độc lập, tinh thần sáng tạo là những yếu tố rất cần thiết trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay./.
 
 
Địa vị ư? - Sẽ mất
Tiền tài ư? - Sẽ hết
Hoa đẹp ư? - Sẽ tàn
Chỉ có lòng người sống mãi với thời gian.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-21 16:09:35Ngọc Lý>
Nguồn: Vietnam Review
Văn Hóa: Một Vài Suy Nghĩ Liên Quan Ðến Giáo Dục Phổ Thông Ở Việt Nam Hiện Nay.
Nguyễn Ðình Quyền
Saigon, 12-08-2007

[12/08/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]


 
Hình: Thi cử gian lận ở Việt-Nam: Cảnh ném tài liệu vào phòng thi (trên).
Giám thị ra ngoài hành lang ngồi để thí sinh tự do trong phòng thi (dưới).

LTS: Nền giáo dục Việt-Nam trở nên tồi tệ trong vài thập niên vừa qua. Trong những tệ nạn phải kể đến sách giáo khoa lỗi thời, trình độ giảng viên thấp kém, phương tiện giáo dục thiếu thốn, chính sách giao dục chỉ nhăm vào mục tiêu con số, bất kể phẩm chất. Học sinh phải trả học phí nếu nghèo như đa số dân nông thôn thì không thể đặt chân vào trường học. Bằng giả khá phổ thông ở Việt-Nam trước sự bất lực của nhà nước. Tương lai của Việt-Nam sẽ đi về đâu với lớp người được đào tạo trong môi trường này ? Đây thật là một thảm trạng.

1. Bài Toán Giáo Dục Phổ Thông

Không cần nói nhiều thì chắc hẳn mỗi một người trong chúng ta, ai ai cũng đều nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong quá trình xây dựng và phát triển của nhân loại. Mỗi một khu vực, mỗi một quốc gia, hay cộng đồng đều chỉ có thể phát triển đi lên nếu như họ xác định đúng vai trò của công tác giáo dục và đào tạo, và triển khai chúng hợp lý dựa trên các đặc trưng tự nhiên, văn hoá, xã hội, và lịch sử của từng dân tộc, của con người ở nơi đó.

Với mục tiêu xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp, văn minh, và hiện đại; nhiệm vụ chiến lược về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam ngay bây giờ cần phải được những người làm công tác giáo dục và đào tạo tái khẳng định hơn bao giờ hết. Và điều này đã được thể hiện rõ qua phiên chất vấn của quốc hội khoá XI và bộ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo diễn ra vào cuối tháng ba vừa qua ở Hà Nội.

Ðứng dưới góc nhìn của một người làm chuyên môn nghiên cứu và giảng dạy ở trường đại học, nhưng đồng thời lại là người học tập và trao đổi về chuyên đề "Lý luận dạy học đại học," (1) tôi muốn trình bày trong bài viết này một số suy nghĩ, dựa trên những hiểu biết và kinh nghiệm nhỏ nhoi của mình, về một vấn đề khá nổi cộm liên quan đến tình hình giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay, đó là - mà theo tôi là - "bài toán giáo dục phổ thông".

Hiện nay, một trong những quan tâm hàng đầu mà bất cứ một người dân Việt Nam nào khi đề cập đến giáo dục thì theo tôi trước tiên đều sẽ là giáo dục phổ thông. Giáo dục phổ thông gần như gắn liền cuộc sống của mọi người dân, cho mọi tầng lớp lao động, tại mọi vị trí địa lý,... cũng như mọi yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội khác nữa. Tùy thuộc vào mối tương quan, kinh nghiệm, và nhận thức khác nhau mà mỗi người trong chúng ta sẽ có những nhận định và suy nghĩ khác nhau về giáo dục phổ thông.

Vì thế, trong bài viết này tôi muốn nêu những suy nghĩ của mình liên quan đến việc giáo dục phổ thông trong mối liên hệ với giáo dục đại học cho học sinh sau này, và ít nhiều dựa trên các ý tưởng liên quan đến bài viết "40 năm trước: Học sinh tốt nghiệp phổ thông sống được ngoài đời," do Phạm Cường thực hiện, đăng trên báo điện tử Vietnamnet ngày 21/09/2006.

2.Một Số Vấn Ðề Chính Trong Giáo Dục Phổ Thông Việt Nam

Cũng giống như lý luận về dạy học đại học, chúng ta cần nhìn về giáo dục phổ thông theo quy luật biện chứng về sự vận động và phát triển của nó, trong mối liên hệ giữa nhà trường, học sinh, và xã hội - như là ba yếu tố chung cấu thành giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, với phạm vi của bài viết, tôi không trình bày chi tiết từng vấn đề, mà sẽ đi vào một vài đặc điểm cụ thể liên quan đến lý luận giáo dục phổ thông thông qua các quan sát, sau đó đưa ra suy nghĩ riêng của mình.

Vì thế, trong mục này, ở phần đầu tiên (phần a) tôi xin phép bàn về ý nghĩa và nhiệm vụ của giáo dục phổ thông, xem như là điều kiện cần và cơ bản cho việc đưa ra những suy nghĩ, nhận định của mình ở các phần sau: nội dung và chương trình đào tạo ở bậc phổ thông (phần b), yếu tố con người trong giáo dục phổ thông (phần c), và môi trường, phương tiện và phương pháp giáo dục trong giáo dục phổ thông, trong đó có vấn đề thi cử và đánh giá học tập (phần d).

a. Ý nghĩa và nhiệm vụ của giáo dục phổ thông

Trước hết, chúng ta cùng nhau xác định ý nghĩa và mục đích của giáo dục phổ thông. Ðể đơn giản, tôi xin đặt ra câu hỏi: "Kết quả của giáo dục phổ thông là gì? Có phải để - nói như bài viết của Phạm Cường - 'học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông sống được ngoài đời'?" Hay nói một cách nôm na, "giáo dục phổ thông giúp gì cho người học sinh sau này?"

Ðể trả lời, chúng ta cần phân tích các yếu tố của con người, mà trong đó quan trọng nhất là yếu tố văn hóa xã hội và kinh tế xã hội. Với tầm phát triển về khoa học và công nghệ hiện nay, theo tôi, mục đích của giáo dục phổ thông không phải là đào tạo nên những con người có khả năng làm việc - một cách trọn vẹn - ngoài đời. Bởi trọng tâm giáo dục phổ thông là giúp người học nắm vững các tri thức phổ thông cơ bản [1, trang 80], nhưng không phải là đào tạo nên những người có khả năng làm việc theo kiểu "năng lực tư duy (thinking manpower) hay có khả năng tạo nghiệp (entrepreneurial manpower)" [1, trang 11-12].

Ðấy cũng chính là cách nhìn của hầu hết mọi người dân Việt Nam. Tuy nhiên, hình như có cái gì đó sai lạc trong "cách nhìn" đó về giáo dục phổ thông của nhiều người hiện nay. Nếu thử đi khảo sát xem mục tiêu việc học của học sinh phổ thông, nhất là học sinh cấp III, câu trả lời đa phần là để "thi đậu đại học"?!? Thế nhưng, như tôi vừa trích từ tài liệu của TS Lưu Xuân Mới, cái cốt lõi của giáo dục phổ thông không phải là để thi đậu đại học, mà là giúp người học "nắm vững các tri thức phổ thông cơ bản" mà thôi.

Trong lý luận dạy học đại học, quá trình dạy học là quá trình mà giáo viên giúp cho sinh viên tự tạo nên những kiến thức cần thiết cho công việc sau này của họ, thì trong lý luận giáo dục phổ thông, chúng ta cũng cần làm sao giúp học sinh hiểu họ cần học các môn học để làm gì; tại sao họ cần học Văn, tại sao họ phải học Toán, tại sao họ phải học thể dục, v.v...? Nếu hiểu được như thế, hơn nữa luôn luôn quán triệt trong tư tưởng như thế, giáo viên sẽ không lệnh "con đường" giảng dạy của mình và học sinh sẽ không bị lệch đi "con đường" học tập của mình. Và theo tôi, đó là một nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục phổ thông, bên cạnh nhiệm vụ xây dựng chương trình học và truyền đạt những nội dung bài học cụ thể ở nhà trường.

b. Nội dung và chương trình học cần như thế nào?

Như thế, việc giáo dục và đào tạo ở bậc phổ thông được đặt trên phương châm chính là "mỗi góc cạnh của cuộc sống đều mang tính giáo dục" - (trích lời giảng của PGS Ðoàn Văn Ðiều) - nghĩa là giáo dục phổ thông không chỉ để giúp phát triển những kiến thức về khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội - nhân văn, mà còn là để phát triển về tình cảm, ý chí, thể lực,... ở mức độ nền tảng cơ bản cho người học, theo các cấp độ khác nhau.

Tôi vẫn nhớ rõ những câu chuyện thầy kể trên lớp về việc tại sao cần dạy các trò chơi cho trẻ con, những câu chuyện về các trò chơi dân gian mà ông bà ta đã đúc kết và truyền đạt lại cho con cháu, hoặc ví dụ về công việc giáo dục thể chất cho học sinh thiểu năng trong các trường học đặc biệt. Tất cả đều nhằm mục đích, như tôi vừa nói, giúp học sinh phát triển dần các khả năng cơ bản của mình ở các cấp độ khác nhau.

Suy nghĩ đó của tôi có lẽ đã là một trong những trọng tâm mà những người có trách nhiệm về giáo dục phổ thông ở nước ta biết và đã luôn cố gắng thể hiện và áp dụng vào thực tế của nền giáo dục nước nhà. Vì thế, tôi không dám bàn luận và đưa ra nhiều ý tưởng về việc thay đổi chương trình học và nội dung học ở bậc phổ thông hiện nay, mà chỉ trình bày một số "vấn nạn" mà tôi cảm nhận được, liên quan đến:

-Thứ nhất là việc phân chia chương trình học.

-Thứ hai là về quy trình triển khai nội dung dạy - học.

-Và cuối cùng là phương pháp và thái độ giáo dục trong giáo dục phổ thông.

Về chương trình học, để đạt được mục tiêu cung cấp kiến thức và tri thức cơ bản giúp phát triển toàn diện cho học sinh ở mức độ cơ bản, chúng ta cần xây dựng một chương trình học chung, đồng đều và rộng đủ. Chúng ta đã làm được điều này khi đưa đầy đủ các môn học khác nhau vào chương trình giáo dục phổ thông, theo các cấp học khác nhau. Tuy nhiên, điểm hạn chế là chúng ta đưa ra chương trình học ấy sau những phân tích và đánh giá của người làm công tác xây dựng chương trình học, nhưng lại không triển khai hợp lý vào điều kiện cụ thể của nhà trường phổ thông.

Vì thế, việc xây dựng chương trình phân ban, chương trình hướng nghiệp, và việc đưa chúng vào triển khai thực tế dưới dạng các trường phổ thông trung học phân ban, phổ thông trung học hướng nghiệp,... bên cạnh các trường phổ thông trung học thông thường là không thật sự hợp lý.

Lấy đơn cử về chương trình phân ban, hiện nay học sinh khối A phải học rất nhiều về Toán - Lý - Hoá, như là những môn học quan trọng cho việc học đại học các khối ngành tự nhiên, kỹ thuật sau này, nhưng lại quá xem nhẹ các môn học khác, như là các môn Văn - Sử - Ðịa thuộc khối C. Chính điều này đã tạo nên lỗ hổng khá lớn cho những sinh viên học các ngành tự nhiên, kỹ thuật sau này, bởi rất nhiều sinh viên khi học tập, nghiên cứu, và ra làm việc sau khi tốt nghiệp đã gặp phải rất nhiều khó khăn về khả năng trình bày các bài viết, bài luận, khả năng diễn đạt, giao tiếp xã hội,... Ðấy là chưa nói đến việc các môn học đều có mối liên hệ hỗ tương lẫn nhau trong việc hình thành tư duy và phát triển của người học ở bậc phổ thông.

Ðể giải quyết vấn nạn đó, rất nhiều trường đã triển khai thay đổi phương thức đào tạo - theo định hướng của Bộ Giáo dục và Ðào tạo (?). Chúng ta đã đi từ việc chuyển từ các chương trình học không phân ban sang phân ban, rồi lại từ phân ban về lại không phân ban ở nhiều trường trung học phổ thông; hay là chúng ta đã xây dựng lên mô hình các trường phổ thông chuyên, rồi bỏ chuyên, rồi lại chuyên,... Cứ thế, hình như chúng ta vẫn đang lẫn quẩn với các mô hình và phương pháp đào tạo.

Như vậy, chúng ta đang tự thí điểm trên một đối tượng quá quan trọng của xã hội, chúng ta đang thí điểm trên chính sức sống và tương lai chúng ta, và hậu quả hiện nay là khá trầm trọng: Các học sinh khi bước vào môi trường đại học gặp khá nhiều khó khăn, hoặc học sinh tốt nghiệp phổ thông ra ngoài đời không làm việc được (tất nhiên có kèm cả yếu tố về cơ sở vật chất, trình độ khoa học kỹ thuật và nền kinh tế của chúng ta). Hơn nữa, theo cái nhìn chung của khá nhiều người, vấn nạn thi vào đại học - như tôi nêu ra trong phần ý nghĩa và nhiệm vụ ở trên - đã khiến cho các trường khi áp dụng mô hình đào tạo phổ thông thông thường lại có quan điểm của dạy và học theo kiểu "phân ban".

Hướng giải quyết thế nào tôi không dám bàn, chỉ thiết nghĩ chúng ta cần "cập nhật" lại tư tưởng của mỗi người dân, trong chủ trương chung của giáo dục và đào tạo của cả nước, và thích nghi dần dần vào xu thế và tầm tri thức của nhân loại.

Nói đến đây, tôi nghĩ đến giáo dục phổ thông ở Cộng Hòa Liên Bang Ðức, một nền giáo dục phát triển, tiên tiến trên thế giới. Khi tôi học tập ở Ðức, điều làm tôi thật sự ngạc nhiên là cách phân chia các chương trình học và khả năng cũng như thái độ học đại học và sau đại học của họ. Khi hỏi về giáo dục phổ thông, tôi càng ngạc nhiên và sau đó mới vỡ lẽ hơn nữa việc mà chúng ta cũng na ná làm là phân ban, là hướng nghiệp ở phổ thông - hay như là mô hình Trường trung học kiểu mẫu Thủ Ðức của TS Dương Thiệu Tống [2].

Chương trình học phổ thông ở Ðức cũng khá giống ở Việt Nam, thông thường học sinh phải học từ 12 đến 13 năm. Ở đó, các học sinh được tiếp cận và học theo một quy trình khá đặc biệt để làm sao sau khi tốt nghiệp phổ thông họ nắm được những kiến thức chung, phát triển được khả năng cơ bản với những kiến thức cơ bản nhất, và định hướng rõ ràng cho việc học lên cao cũng như chuyên môn tương lai của mình sau này.

Ngay từ khi học cấp I (Grundschule) , các học sinh tiểu học ở Ðức đã được kiểm tra khách quan để chuyển vào các hệ đào tạo khác nhau, tuy nhiên việc phân hoạch hoá các nhóm học sinh là không thật sự rõ rệt, họ gần như có chương trình đào tạo chung cho giai đoạn này. Tuy nhiên, có một điểm đặc biệt là họ căn cứ trên cách học, khả năng học của học sinh, dưới sự hướng dẫn (đóng vai trò hết sức quan trọng, vì là giáo dục tiểu học) của giáo viên để dần dần xác định ra các nhóm học sinh với các khả năng khác nhau.

Khi vào cấp II (Hauptschule) , tuỳ theo kết quả học tập - xét trên tổng thể nhiều yếu tố theo chương trình đào tạo tiểu học - họ chuyển học sinh vào các trường, hệ đào tạo khác nhau, mà ở đây tôi chỉ đưa ra hai nhóm chính, đó là nhóm trung học cơ sở hướng khoa học và nhóm trung học cơ sở hướng nghiệp. Ở cả hai nhóm học, kiến thức nền tảng đều như nhau, nhưng bên cạnh đó, các học sinh hướng khoa học được cung cấp thêm khả năng về tư duy khoa học, trong khi các học sinh hướng nghiệp bắt đầu được làm quen nhiều hơn với việc học thực hành, đồng thời được giới thiệu cơ bản một số hướng ngành cụ thể. Quy trình này được thực hiện theo hướng tiếp cận phụ thuộc học sinh; nghĩa là chuyển hướng cho học sinh vào các lớp học cụ thể sau mỗi từng năm học nếu thấy khả năng của học sinh là không phù hợp với cách đang được giáo dục.

Lên cấp III, học sinh lại được một lần nữa phân hoạch rõ ràng hơn, và ở cấp độ này, họ được đào tạo theo 3 nhóm: trường đào tạo chung (Gesamtschule và Realschule), trường đào tạo hướng khoa học (Gymnasium) hoặc hướng nghiệp (Berufsschule) , tạo tiền đề cho việc học sau phổ thông sau này. Lúc này, chương trình học đã khác nhau nhiều, nên việc tốt nghiệp cũng khác nhau, và việc chuyển vào học đại học là đơn giản, phù hợp chứ không như thi đại học ở Việt Nam (tôi sẽ nhắc lại trong phần về thi cử, đánh giá học tập sau): chỉ những học sinh tốt nghiệp phổ thông từ hệ hướng khoa học (gọi là tốt nghiệp Abitur) mới được đăng ký vào các trường đại học (Universitat) , còn các học sinh học hướng nghiệp thì theo học chuyên môn tại các trường đại học ứng dụng (Fachhochschule, tiếng Anh là University of Applied Science).

Việc phân định như vậy, dựa trên khả năng của học sinh, theo định hướng và kiểu mẫu chung và đặc điểm văn hoá và kinh tế của xã hội sẽ giúp đào tạo nên những con người thật sự triển nở cho xã hội. Khi đó, chúng ta sẽ giảm đi chuyện quá tải cho học sinh, giảm đi bệnh thành tích, giảm đi những hạn chế sau này của sinh viên (chẳng hạn việc học đại học sẽ đúng nghĩa hơn đối với sinh viên chứ không phải là như học sinh học "lớp 13"). Và cũng nhờ đó, việc đưa các môn học chung, môn hướng nghiệp, môn học hỗ trợ (chẳng hạn ngoại ngữ) vào chương trình đào tạo, cũng như việc giáo dục đạo đức, thái độ học tập trong nhà trường phổ thông sẽ thật sự diễn ra như mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục phổ thông.

c. Yếu tố con người trong giáo dục phổ thông

Những vấn đề mà tôi vừa trình bày, nhất là vấn đề thái độ và đạo đức giáo dục, nếu xét ở mức độ chi tiết hơn sẽ gắn liền với yếu tố con người. Nhiệm vụ của giáo dục phổ thông được đặt ra, nội dung cần bàn thảo sẽ không có nếu như ta không quy về yếu tố con người. Tuy nhiên, trong bài thu hoạch này, các vấn đề khác vấn đề về nội dung giáo dục phổ thông - theo yêu cầu của bài luận - sẽ không được trao đổi nhiều, vì thế tôi chỉ lược qua như sau.

Nhà trường và tất cả những gì diễn ra trong nhà trường là quá trình vận động phát triển dựa trên các đối tượng động là người dạy (giáo viên) - người học (học sinh) - và người quản lý (nhà trường). Vì thế, để giáo dục phổ thông phát triển theo đúng yêu cầu và nhiệm vụ của nó, chúng ta cần quan tâm đến những đặc trưng xã hội - nhân văn của con người, bao gồm:

- Tâm sinh lý con người trong giáo dục phổ thông.
- Tương quan kinh tế trong giáo dục phổ thông.
- Ðạo đức và các giá trị trong giáo dục phổ thông.
- Lịch sử và văn hoá xã hội của giáo dục phổ thông.cùng những yếu tố liên quan khác nữa.

Nếu xét về yếu tố người dạy, tôi nhớ có một lần ngồi nói chuyện với một thầy hiệu phó hồi tôi học cấp III, khi chúng tôi đề cập đến việc học sinh không tiếp thu được kiến thức truyền đạt của một số giáo viên, thầy giáo tôi đã nói: "Thật sự đấy cũng là trăn trở chung của tôi và của những người làm công tác giáo dục phổ thông. Làm người thầy ai cũng muốn dạy tốt, cũng muốn truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm sống của mình cho học sinh, nhưng điều đó không phải dễ khi mà khả năng họ không đáp ứng đủ. Mà tại sao, một phần là những yếu tố xã hội...," thầy ngưng lại rồi tiếp, "trong số các bạn, sau này có bao nhiêu người chọn ưu tiên đầu tiên thi vào sư phạm để dạy học ở phổ thông, ở cấp I, II, III, hay là chọn lựa những nghề nghiệp về kinh tế, xã hội khác."

Những vấn đề như thế về việc tạo ra đội ngũ thầy giáo ở bậc phổ thông, về việc đào tạo chuyên môn cho họ, về việc nâng cao chuyên môn nghiệp vụ,... cũng cần phải xem xét, để làm sao chúng ta ít nhất là được như trước đây, chẳng hạn trước năm 1975, ngành sư phạm được xem như là một trong những ngành đòi hỏi xét tuyển đầu vào kỹ nhất, và đào tạo ở bậc càng thấp, nhất là giáo dục mầu giáo, càng thật quan trọng.

Tương tự như vậy, chúng ta cũng cần xem xét và bàn về những yếu tố văn hoá, xã hội có liên quan đến người quản lý cũng như đến học sinh. Chẳng hạn tôi lấy ví dụ như sau: Cùng với sự phân hoá về kinh tế, các yếu tố tồn tại song song với nó trong xã hội cũng được phân hoá theo. Các trường học, dẫu ở bậc phổ thông, ở các vùng thành thị khác hẳn ở các vùng nông thôn, ở các thành phố lớn khác các thành phố nhỏ,... Ðiều này dẫn đến việc học sinh ở các nơi khác nhau cũng hoàn toàn khác nhau, và kéo theo nhiều vấn nạn về tâm lý, đạo đức xã hội khác nhau.

Những câu hỏi như "Vì điều kiện học tập, học sinh có nên đi học xa nhà hay không, ở cái giai đoạn mà việc phát triển và hình thành nên con người của chúng không chỉ là kiến thức mà còn là những đặc trưng khác như tâm lý tình cảm gia đình?", "Có nên cho con em chúng ta đi học ở nước ngoài hay không?", "Có nên trang bị các trang thiết bị hiện đại, chẳng hạn máy tính, cho học sinh phổ thông hay không? Và nếu có thì cần quản lý thế nào?",... theo tôi là những câu hỏi mà chúng ta luôn cần xem xét kết hợp khi xã hội hoá giáo dục phổ thông trong tình hình hiện nay.

d. Phương tiện và phương pháp giáo dục phổ thông và vấn đề thi cử, đánh giá học tập

Trong phần cuối liên quan đến phân tích giáo dục phổ thông ở Việt Nam hiện nay, tôi muốn đưa ra những suy nghĩ liên quan đến những câu hỏi tôi vừa đặt ra ở trên, về việc làm sao để triển khai giáo dục phổ thông cho các vùng địa lý khác nhau, với các điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau, mà vẫn đảm bảo tốt nhất ý nghĩa và mục đích của giáo dục phổ thông.

Ðiều đầu tiên theo tôi nghĩ phải là tầm nhìn của chúng ta về phương pháp dạy học. Từ nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục phổ thông đã phân tích trên, và dựa trên khả năng chuyên môn của giáo viên phổ thông nói chung, các nhà làm công tác định hướng và triển khai giáo dục phổ thông phải nghiên cứu và đưa ra các phương pháp giáo dục thích hợp nhất. Chẳng hạn trong tình hình hiện này, cần triển khai dần "công nghệ dạy học" dựa trên đặc trưng con người, bằng cách kết hợp khoa học, công nghệ hiện đại với các yếu tố lịch sử, xã hội.

Khi đó chúng ta sẽ biết xây dựng phương pháp dạy - học ở bậc phổ thông như thế nào. Ví dụ với việc học sinh phổ thông ở nước ta gần như hoàn toàn bị động trong việc học, vì thế ta phải thay đổi dần quan điểm lấy việc học làm trung tâm thành việc lấy người học làm trung tâm, nhưng ở cấp độ khác hơn so với lý luận đó trong giáo dục đại học; nghĩa là không thuần tuý là cộng tác, nhưng là bán cộng tác, giữa nhà trường và giáo viên với học sinh và gia đình (phụ huynh).

Tương tự như thế, vấn đề thi cử và đánh giá học tập cũng cần được phân tích nghiên cứu và triển khai tùy theo đặc trưng nội dung và chương trình giáo dục đã đề ra. Ví dụ, việc tổ chức thi cử và thi đua cần triển khai song song với việc học tập như là yếu tố cần thiết cho quá trình phát triển và định hướng phát triển của học sinh phổ thông. Làm sao cho học sinh và xã hội hiểu chuyện thi cử là quan trọng như thế nào, và thi cử là để có điểm hay là có kiến thức và phát triển nhân cách,...

Ðể kết lại những suy nghĩ trên, tôi nêu lại vấn đề đang được nhiều người bàn bạc bây giờ về giáo dục phổ thông ở Việt Nam là vấn đề thi đại học:

- Chúng ta có tiếp tục xây dựng các chương trình thi tuyển sinh đại học hay không? Nếu có thì phải thi như thế nào, đánh giá ra sao? Hình thức thi trắc nghiệm hiện đang được triển khai là có hợp lý hay không?

- Nếu không thi tuyển sinh đại học thì chúng ta nên xét tuyển từ phổ thông thế nào? Mô hình giáo dục phổ thông của Cộng Hòa Liên Bang Ðức có thể phù hợp cho chúng ta hay không? Nếu có thì ta cần bắt đầu từ đâu?

3. Kết Luận

Phân tích và đưa ý kiến về những vấn đề quan trọng như là vấn đề giáo dục phổ thông có thể nói là điều không dễ để nói bởi một vài cá nhân, mà phải bởi cả tập thể, cả xã hội với những nghiên cứu và triển khai bài bản. Bởi thế, với bài viết này, tôi chỉ muốn trình bày lại những suy nghĩ tương đối chủ quan của mình như một cách thức trao đổi quan điểm với những ai quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Bên cạnh đó, khơi gợi lại cho mình cũng như những ai có cùng quan điểm những trăn trở khi bàn về giáo dục phổ thông, với những ý tưởng ít nhiều liên quan đến bài viết của Phạm Cường [2].

Như đã trình bày, những vấn đề được nêu ra trong bài phỏng vấn TS Dương Thiệu Tống đều ít nhiều được đề cập đến trong bài viết này, chẳng hạn như câu hỏi về nguồn kinh phí của mô hình Trường trung học kiểu mẫu Thủ Ðức sẽ đâu đó liên quan đến suy nghĩ của tôi về vấn đề kinh tế và đạo đức con người trong giáo dục phổ thông hiện nay, với một cấp độ khác; hoặc như bàn luận về cấu trúc chương trình đào tạo so với mô hình giáo dục phổ thông ở Ðức,...

Khi mà giáo dục phải gắn liền với sự phát triển của xã hội, của nhân loại, thì những yêu cầu cải tiến giáo dục phổ thông cũng như các bậc học khác nữa là tất yếu. Và theo quy luật vận động và phát triển chung của nhân loại thì trước sau gì nó cũng xảy ra theo chiều kích tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, quá trình diễn ra nhanh hay chậm, dễ dàng hay gặp nhiều cản trở, thậm chí đôi khi phải bị thụt lùi, sẽ ở chỗ chúng ta biết nhìn nhận và triển khai chúng như thế nào bây giờ. Câu trả lời là ở mỗi chúng ta và của những người làm công tác giáo dục và đào tạo của nước nhà.

4. Tài Liệu Tham Khảo

[1] Lưu Xuân Mới. Lý luận dạy học đại học. Nhà xuất bản giáo dục, 2000.
[2] Phạm Cường, "40 năm trước: Học sinh tốt nghiệp phổ thông sống được ngoài đời," bài viết trên báo điện tử Vietnamnet, 21/09/2006.
(1) Bài viết này cũng chính là bài thu hoạch của tác giả về chuyên đề "Lý luận dạy học đại học"- Ðại Học Sư Phạm Saigòn, Tháng 04/2007.

http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=6799
Đăng nhập để trả lời
0
Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục
đại học chất lượng cao tại Việt Nam: Một đề án

Hồ Tú Bảo - Trần Nam Bình - Trần Hữu Dũng
Trần Văn Thọ - Hà Dương Tường - Vũ Quang Việt
 
 
© 2006 [email=toasoan@tapchithoidai.org]Thời Đại Mới[/email]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-22 22:52:38Ngọc Lý>
Lời xin: Ngọc Lý đọc được bài viết này từ rất lâu, một thời gian bài bị lấy ra khỏi website Thời Đại Mới, và một thời gian website Thời Đại Mới đổi địa chỉ hay tạm đóng cửa, không vào đọc lại các bài viết được. Do đó, hôm nay xin phép quý tác giả của Đề Án này cho phép chép lại vào đây, như một cách lưu giữ tài liệu quý và vẫn trân trọng tác quyền của quý tác giả cũng như tạp chí Thời Đại Mới . Hy vọng điều này không làm quý vị phiền lòng. Ngọc Lý
 

________________________________________

thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN
 
Số 9  - Tháng 11/2006
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai9/200609_DeAnDaiHoc.htm
--------------------------------------------------------------------------------
 
Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng
giáo dục đại học chất lượng cao
tại Việt Nam: Một đề án
 
Hồ Tú Bảo
Giáo sư tin học
Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản
(Japan Advanced Institute of Science and Technology)
Nhật Bản

Trần Nam Bình
Giáo sư kinh tế
Atax, Đại học New South Wales
Úc

Trần Hữu Dũng*
Giáo sư kinh tế
Đại học Wright State
Dayton, Ohio
Mỹ

Trần Văn Thọ
Giáo sư kinh tế
Đại học Waseda
Tokyo, Nhật Bản

Hà Dương Tường
Giáo sư toán
Đại học Công nghệ Compiègne
Pháp

Vũ Quang Việt*
Chuyên viên cao cấp
Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia (Chief of National Accounts Section)
Cục Thống kê Liên Hợp Quốc (United Nations Statistics Division).  



*Người liên lạc ([email=thd@viet-studies.org]thd@viet-studies.org[/email])

--------------------------------------------------------------------------------
 

Lời nói đầu

Sau cuộc Hội thảo Hè (**) ở Đà Nẵng vào tháng 7 năm 2005 trong đó vấn đề giáo dục là một đề tài thảo luận chính, một số thành viên tham dự Hội thảo đã tập hợp nhau lại để cụ thể hoá các ý tưởng thảo luận trong Hội thảo qua việc xây dựng một đề án về trường đại học chất lượng cao ở Việt Nam. Đề án này hoàn thành và gửi về Thủ tướng Chính phủ ngày 20.9.2005, tuy nhiên chưa hề được công bố trên bất kỳ một phương tiện truyền thông hay sách vở nào. Ngày 5.10.2005, báo điện tử VietnamNet đăng một bài viết nhan đề Xây dựng một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam, Đề cương thảo luận của ông Thomas Vallely, giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard (Hoa Kỳ). Ngày 23.11, tờ báo cũng đăng một bài phỏng vấn anh Trần Văn Thọ, một trong 6 tác giả đề án, trực tiếp đề cập tới một số nội dung của đề án, nhưng cũng chỉ giới hạn trong vài câu.

Từ đó đến nay, ở trong nước đã có nhiều cuộc thảo luận về việc xây dựng một đại học chất lượng cao, và kết quả ban đầu là quyết định của thủ tướng Phan Văn Khải thành lập một Tổ công tác nghiên cứu xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế (ĐHĐCQT), sau đó là quyết định của thủ tướng giao cho Tổ công tác trình dự án khả thi vào quí 1 năm 2007 – Mới đây, tân thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định giao Tổ này cho đích thân bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân phụ trách. Tuy nhiên, quyết định của thủ tướng Phan Văn Khải ngày 26 tháng  6 năm 2006 về chủ trương và định hướng vẫn còn có nhiều điểm chờ được xác định rõ ràng hơn, chẳng hạn như xây mới ĐHĐCQT hay xây dựng đại học này trên cơ sở một đại học sẵn có... Song, theo chúng tôi được biết, khâu xích cốt yếu nhất – triết lý giáo dục – vẫn chưa được đề cập tới, vì những lý do chính trị mà ông Trần Đức Nguyên, một thành viên của Ban nghiên cứu chính phủ (đã giải thể ngày 28.7.2006 theo quyết định của tân thủ tướng) đã nói thẳng trên mặt báo là “tế nhị”. Ít ra, cho tới thời điểm này (tháng 8.2006), theo những tin tức có được, đề án đang được bàn cãi của chính phủ vẫn chỉ hướng về xây dựng một đại học có tính chất thuần túy kỹ thuật (khoa học tự nhiên và công nghệ), và không bao hàm những bộ môn khoa học xã hội và nhân văn – để có thể đáp ứng một yêu cầu được nhiều người nêu lên khẩn thiết từ nhiều năm nay: trao cho các nhà khoa học nhiều “tự do” hơn về nghiên cứu, về chương trình giảng dạy v.v., mà không sợ “chệch hướng”. Nếu thế, các khái niệm về quyền tự do nghiên cứu, độc lập tư duy – những cơ sở không thể thiếu để phát triển một nền đại học đích thực – sẽ chỉ còn phần xác mà không có phần hồn, kể cả đối với những nhà khoa học “chính xác” hay công nghệ. Ví dụ kinh điển Lyssenko nhắc ta tác hại đối với ngành sinh học Liên Xô những năm 1930-1950... không phải của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà là của sự ngự trị tuyệt đối và đầy quyền thế của chủ nghĩa đó (xem D. Lecourt, “Lyssenko, Histoire réelle d’une “science prolétarienne”, Paris 1976). “Thiết thực” hơn, những đề án phát triển công nghệ lớn (như các đề án năng lượng quốc gia) có thể nào hoàn chỉnh, hữu hiệu, nếu không có sự hợp tác giữa những nhà khoa học tự nhiên, những kỹ sư, với các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội học? Có cần nhấn mạnh thêm rằng những người tham gia đề án phải có khả năng và quyền tự do thảo luận, cân nhắc cả những phản biện đi ngược lại với các “định hướng” có trước về đề án, rồi nếu cần, đề nghị sửa đổi các “định hướng” ấy? Ngày nay, ngay cả những trường đại học kỹ thuật (đào tạo kỹ sư) ở các nước phương Tây, sinh viên vẫn phải dành một phần thời giờ để học những môn khoa học xã hội và nhân văn (như xã hội học, tâm lý, triết học, chưa kể kinh tế!), chính vì đã có sự đồng thuận về sự cần thiết của những kiến thức liên ngành kể cả đối với một người làm kỹ thuật. Lập luận trên cắt nghĩa tại sao đề án xây dựng một trường đại học “chất lượng cao” mà chúng tôi giới thiệu dưới đây trước tiên sẽ khẳng định sự cần thiết của một không gian tư duy hoàn toàn tự do, và không chỉ thu hẹp trong khuôn khổ một đại học thuần tuý “khoa học – công nghệ”.

Với cụm từ “chất lượng cao”, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn về những tiêu chuẩn cần đạt được của một đại học đích thực, thay cho cụm từ “đẳng cấp quốc tế”, bao hàm sự so sánh, sự vượt trội của đại học đó (ít ra là trong một số lĩnh vực) so với thế giới. Tất nhiên, được thiên hạ công nhận “đẳng cấp quốc tế” là một hoài bão mà chúng ta ai cũng mong có ngày thành hiện thực. Nhưng nếu một số ít những cá nhân xuất chúng vẫn có thể vươn cao từ những điều kiện không thuận lợi và mang lại ít nhiều tiếng tăm cho cộng đồng, vấn đề là làm sao để cả một nền khoa học có thể khẳng định “đẳng cấp quốc tế” của mình nếu không dựa trên những đại học đáp ứng các tiêu chuẩn đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới?  Trong tinh thần này, đề án cũng đi sâu ở một mức nhất định vào chương trình học, vấn đề quản trị đại học, tuyển sinh và tuyển giáo chức.  Đề án cũng tính toán chi phí tối thiểu, đặt cơ sở trên tính khả thi và điều kiện kinh tế hiện nay của đất nước.

Trong ý nghĩa đó, thiết nghĩ đề án này cũng hội tụ với ý tưởng xây dựng một đại học “hoa tiêu” mà nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Tuỵ đã đưa ra. Có khác chăng, từ vị trí của mình, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn một chút về việc “sử dụng trí thức Việt kiều” để xây dựng đại học đó, như tên gọi của đề án đã nói lên.

Giáo sư Đặng Đình Áng đã có nhiều đóng góp to lớn cho toán học và giáo dục tại Việt Nam.  Chúng tôi cũng đã gửi bản đề án này vào Kỷ Yếu mừng Giáo sư Đặng Đình Áng 80 tuổi (sẽ được xuất bản khoảng cuối năm 2006) để biểu lộ tình cảm quý mến, trân trọng của chúng tôi đối với Giáo sư.  Qua việc công bố này, chúng tôi cũng rất mong được các bậc thức giả chỉ ra những nhược điểm, bất cập của nó, và hi vọng rằng, cùng với những ý kiến quý báu ấy, đề án sẽ đóng góp được phần nào vào cuộc thảo luận cần thiết cho công cuộc cải tổ nền giáo dục đại học Việt Nam, như các mong muốn từ lâu của Giáo sư Đặng Đình Áng nói riêng và của những người ưu tư về tiền đồ dân tộc nói chung.

Chúng tôi xin cám ơn ban chủ biên Kỷ Yếu đã cho phép đăng lại toàn văn đề án này trên Thời Đại Mới.

Các tác giả

(**) Xem http://hoithao.viet-studies.org/Hoithao2005.htm 



--------------------------------------------------------------------------------

Đề án
 

Có thể nói cải tổ hệ thống giáo dục ở Việt Nam đòi hỏi một cách nhìn và giải pháp có tính toàn bộ và lâu dài, dựa trên một triết lý giáo dục được xã hội chấp nhận. Cần khẳng định rằng nền tảng của toàn bộ hệ thống giáo dục chính là giáo dục cấp cơ sở như tiểu học và trung học cơ sở. Tuy nhiên sự chuyển biến của hai cấp này lại phụ thuộc một phần quan trọng vào đội ngũ giáo viên được đào tạo ở đại học. Tiếc là, do nhiều nguyên nhân trong đó có việc mở rộng hệ thống giáo dục một cách ồ ạt trong thời gian gần đây ở nước ta, chất lượng ở các đại học hiện có, đặc biệt chất lượng đào tạo bậc thạc sĩ và tiến sĩ, đã trở thành vấn đề bức xúc cho toàn xã hội. Cải tổ đại học, vì thế, vừa là yêu cầu của bản thân nó (đại học không chỉ có nhiệm vụ đào tạo giáo viên) vừa là bước đi thiết yếu cho công cuộc cải tổ nền giáo dục nói chung. Nhưng việc cải tổ toàn bộ hệ thống giáo dục là việc lâu dài. Trong một phạm vi hẹp và cụ thể hơn, bài viết này đề xuất một đề án nhằm thiết lập ngay vài đại học chất lượng cao (ĐHCLC) ở Việt Nam; chúng có vai trò xây dựng nền tảng tri thức lâu dài cho xã hội, như cái đỉnh của hệ thống giáo dục. Đề án này cũng nhấn mạnh đến vai trò trí thức Việt kiều như một giải pháp trong các ĐHCLC này nói riêng, và trong công cuộc cải tổ giáo dục đại học và phát triển đất nước nói chung.

Lịch sử thế giới cho thấy thông qua các đóng góp khoa học của giáo sư và các sinh viên ra trường, giáo dục đại học và uy tín của nó có vị trí đặc biệt trong sự phát triển tự do tư duy độc lập, là niềm tự hào về trí tuệ con người, và trở thành trung tâm bồi đắp nền văn minh của các dân tộc. Khắp thế giới, những đại học đầu tiên và đại học hàng đầu bao giờ cũng là nơi quy tụ lao động trí óc, tư duy sáng tạo, không bị khiên cưỡng bởi một thể chế chính trị hoặc một mô hình suy nghĩ nào. Có thể nói thế giới trong khuôn viên đại học là thế giới của tư duy độc lập. Sự hiện hữu của các đại học chất lượng cao do đó có thể xem là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ phát triển của mỗi quốc gia.

Cho nên dù hoài bão của mọi người là đại chúng hoá giáo dục đại học, chúng ta phải luôn nhớ rằng vai trò tiên phong của đại học là trung tâm của tư duy độc lập, là vườn ươm những ý tưởng sáng tạo, bồi đắp cho tri thức nhân loại. Bất cứ nước nào cũng cần những trung tâm như thế để làm tấm gương phản chiếu cho toàn xã hội. Hầu như ai cũng cảm nhận được vai trò quan trọng của đại học Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Nơi đây đã quy tụ được những bậc thầy khả kính trong đóng góp khoa học cũng như tác phong sư phạm, thí dụ như Giáo sư Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, ... và nhiều sinh viên xuất thân từ đó cũng trở thành những bậc thầy đáng kính như Giáo sư Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Hoàng Tụy, … ở miền Bắc, hay Ngô Gia Hy, Đặng Đình Áng, … ở miền Nam trước 1975. Những vị này được sinh viên và xã hội kính trọng không nhất thiết vì bằng cấp (nhiều người chỉ có bằng tương đương với cử nhân hiện nay) nhưng vì những công trình nghiên cứu và tác phong lao động trí tuệ của họ.
Hiển nhiên, mở rộng giáo dục đại học là cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và hoài bão thăng tiến của người dân. Tuy nhiên, đại học sẽ không là đúng nghĩa của nó nếu đó chỉ là nơi huấn nghệ cao cấp, nhẹ tính hàn lâm. Bất cứ nước nào cũng cần các đại học có chất lượng cao (ở tính hàn lâm lẫn khả năng huấn nghệ) để đào tạo những lớp người chủ chốt cho sự phát triển kinh tế, khoa học, xã hội và văn hoá của nước ấy. Ta chưa có những đại học như vậy.

Một điều đáng ghi nhận nữa là hầu hết các đại học hàng đầu trên thế giới (cụ thể là khối sử dụng tiếng Anh) hiện nay đã trở về với việc đòi hỏi sinh viên dù theo ngành chuyên môn nào cũng phải qua một chương trình giáo dục cơ bản (khoảng hai năm). Chương trình này bao trùm mọi khía cạnh của nhân văn, xã hội và khoa học, từ toán, vật lý, hoá học cho đến mỹ thuật, âm nhạc, triết học, lịch sử, kinh tế, xã hội học. Nói cách khác, khả năng tư duy và phân tích sự vật từ nhiều góc cạnh khác nhau được chú trọng ngay từ những năm đầu đại học. Chương trình này được gọi là “liberal arts”, và bắt nguồn từ quan điểm về “liberal education”, tức là giáo dục khai phóng vì mục đích hiểu biết, nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức tổng quát và khả năng tư duy độc lập, chứ không chỉ nhằm mục đích huấn nghệ. Đây là một mô hình mà giáo dục đại học cấp cử nhân tại Việt Nam nên theo.

Ở một nước đang phát triển (và mong muốn bắt kịp các nước tiên tiến) như nước ta, đòi hỏi đại học phải đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế là rất cấp bách, không những từ phía người dân mà cả từ phía hệ thống chính trị. Phải khẳng định: đi học là để có việc làm xứng đáng. Đào tạo để sinh viên ra trường dễ dàng tìm được vị trí đúng khả năng của họ là quan trọng, nhưng bảo đảm tính hàn lâm của đại học cũng quan trọng không kém. Để thực hiện việc này, chúng ta cần thiết lập trong thời gian sớm nhất hai đại học công lập, chất lượng cao, ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau này, tùy khả năng và rút kinh nghiệm từ hai đại học này, ta có thể thiết lập nhiều đại học chất lượng cao ở những nơi khác, và đồng thời nâng cấp những đại học đã có hiện nay.

Mục tiêu: ĐHCLC tại Việt Nam nhằm đạt đến chất lượng đào tạo ngang hàng các đại học hàng đầu trong khu vực hoặc các đại học chất lượng cao ở các nước phát triển cho một số ngành khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên, cần cho sự phát triển của Việt Nam.

Tiêu chuẩn: Nhằm đạt mục tiêu trên, ĐHCLC cần có các tiêu chuẩn sau:

Là nơi tự do phát huy trí tuệ, tư duy độc lập và sáng tạo.

Có nội dung và phương pháp đào tạo với chất lượng của các đại học có uy tín trên thế giới.

Có đội ngũ giáo sư giỏi, trình độ cao, tha thiết với giảng dạy và nghiên cứu, và có đủ điều kiện để đảm bảo duy trì chất lượng đào tạo, đặc biệt là lương bổng đúng mức để không phải lo kiếm sống thêm.

Có sinh viên giỏi với động lực học tập cao.

Có các điều kiện vật chất (tuy tối thiểu) của một đại học quốc tế cho việc dạy, học và nghiên cứu.

Đào tạo gắn liền với nghiên cứu, và từng bước đạt được trình độ nghiên cứu quốc tế ở một số ngành. Cụ thể, mỗi khoa sẽ có một hay nhiều phòng thí nghiệm, và các phòng thí nghiệm của cả trường hoạt động liên kết với nhau.

Quản lý tốt, hữu hiệu và không lãng phí nguồn lực.

Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, một ĐHCLC với 2.000 sinh viên và 150 giáo sư như thế sẽ đòi hỏi đầu tư ban đầu tối thiểu là 11 triệu USD (176 tỷ đồng) và chi phí hàng năm khoảng 5 triệu USD (80 tỷ đồng), nếu như tính lương giáo sư ở mức thấp nhất là 500 USD/tháng (8 triệu đồng) và tỷ lệ giáo sư/sinh viên là 1/15. Trong tương lai không nên xa lắm, phải tiến tới tỷ lệ 1/10, tương đương với các đại học hàng đầu ở Mỹ.  Như vậy, hai trường như thế cần nhà nước đầu tư khoảng 22 triệu USD (352 tỷ đồng) và chi phí hàng năm khoảng 10 triệu (160 tỷ đồng) (xem Phụ lục 1).

Nhu cầu tài chính để thiết lập hai trường ĐHCLC này rõ ràng là không quá lớn (dù trong tình trạng nguồn lực quốc gia còn eo hẹp như hiện nay), nhất là khi hàng năm nhà nước đang chi ra một số ngoại tệ khá lớn để gửi sinh viên đi du học hoặc đáp ứng số nhu cầu chi phí cho các lưu học sinh tự túc kinh phí nhưng số trở về không đáng kể. Đất đai, trường sở, thiết bị bước đầu cần được nhà nước đầu tư. Diện tích khuôn viên phải đủ rộng (ước lượng vào khoảng 60 hecta mỗi trường) cho sự tăng trưởng lâu dài của trường. Phòng ốc, phương tiện giảng dạy phải được thiết kế, trang bị thích hợp cho từng ngành. Quá trình xây dựng, mua sắm thiết bị, xây dựng thư viện, v.v.. cần rất nhiều công sức và phải được giám sát chặt chẽ ngay từ đầu để tránh lãng phí.

Khó khăn lớn nhất để thiết lập ĐHCLC ở Việt Nam hiện nay là tuyển dụng (cho cả hai trường) được số 300 giáo sư theo đúng chuẩn mực giáo sư của các trường đại học có uy tín trên thế giới, tức là phải có bằng tiến sĩ, có công trình đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín (các tạp chí mà bài nộp đăng phải thông qua một quy trình thẩm định khách quan, độc lập của các chuyên gia cùng ngành). Ít nhất một phần tư số giáo sư được bổ nhiệm chính thức phải hội đủ các điều kiện cao nhất, số còn lại là các giảng viên trẻ, có bằng tiến sĩ (trên một nửa) hoặc chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ trong năm được bổ nhiệm (phần còn lại), đã chứng tỏ khả năng nghiên cứu (xem Phụ lục 4).

Để thực hiện dự án này, hai trường ĐHCLC lúc đầu sẽ đào tạo cấp sau cử nhân và sau đó mở rộng ra cấp cử nhân. Trường có nhiệm vụ kết hợp nghiên cứu và giảng dạy, cấp bằng thạc sĩ (Masters) và tiến sĩ (Ph.D.) về những ngành nhân văn (văn học, lịch sử, triết học, chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, v.v) và khoa học cơ bản (toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, v.v.). Ít nhất là trong giai đoạn đầu, hai trường này sẽ không có những ngành đào tạo kỹ sư (do kinh phí sẽ cao hơn rất nhiều). Hệ thống các trường Bách Khoa (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng), với chương trình đào tạo “kỹ sư chất lượng cao”, được Pháp hỗ trợ, đang làm tốt một phần nhiệm vụ này.

Trong giai đoạn đầu, trường có thể tập trung vào năm khoa: văn-triết, sử-địa-chính trị, kinh tế-xã hội, toán-lý-tin học, hóa-sinh. Tuy nhiên, như ở các đại học lớn của thế giới, sinh viên mỗi khoa không bị buộc phải giới hạn theo học các môn trong khoa mình. Ngược lại, họ được khuyến khích mở rộng kiến thức bằng việc phải theo học một tỉ lệ nhất định (khoảng 15-25%) một số môn của các khoa khác.

Cụ thể, hai trường ĐHCLC này có nhiệm vụ:

Đào tạo các trí thức hàng đầu cho đất nước, những người có thể trở thành chuyên gia cho bộ máy hành chính, kinh tế hoặc các giáo sư giỏi trong tương lai;

Trở thành trung tâm nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên có uy tín trong khu vực, luôn luôn là nơi cổ vũ và đón nhận thường xuyên các tranh luận khoa học được phản ánh qua các cuộc trao đổi trên các tạp chí khoa học do trường xuất bản;

Thiết lập chương trình, soạn thảo, dịch thuật và xuất bản sách nghiên cứu và sách giáo khoa;

Thiết lập nhà xuất bản riêng về sách khoa học đại học;

Qua hoạt động và tổ chức, đóng vai trò cầu nối giữa giáo dục đại học trong nước và trí thức gốc Việt ở nước ngoài.

Trong đề án này, ĐHCLC sẽ có tư cách pháp nhân của một trường công, có thể thu học phí nhưng hoàn toàn phi lợi nhuận. Để gây quỹ nghiên cứu và hỗ trợ các hoạt động khác, trường sẽ tích cực vận động đóng góp của các cá nhân, các tổ chức hảo tâm trong và ngoài nước. Trường cũng được quyền ký kết hợp đồng nghiên cứu với các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, và tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, các đóng góp và hợp đồng với những đối tác bên ngoài không được phép đi ngược tinh thần tự quản, độc lập, và vô vị lợi của trường.

Chúng tôi đã nghĩ đến giải pháp biến vài trường đại học hiện nay thành ĐHCLC như phác họa trên đây, hoặc kết hợp một số viện nghiên cứu với đại học để xây dựng những khoa có uy tín.  Song các giải pháp này không khả thi vì nhiều lẽ:

Thứ nhất, không dễ nhanh chóng thay đổi quy chế hiện có ở những trường và viện đang đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GD&ĐT);

Thứ hai, khó được sự đồng tình của những người mà chức vụ hiện tại của họ sẽ phải xoá đi khi tái tổ chức;

Thứ ba, không thể giải quyết thoả đáng những giáo chức hoặc quan chức không đủ tiêu chuẩn trong hệ thống được kết hợp này;

Thứ tư, quy chế hiện hành không cho phép trả lương khác nhau cho giáo chức trong cùng một đại học;

Thứ năm, việc bổ nhiệm giáo sư hiện nay không do đại học mà do Bộ GD&ĐT, với quy chế tuyển dụng mà một người mới lấy tiến sĩ ở nước ngoài, hay một Việt kiều dù có công trình đáng kể, khó vào được với chức danh phù hợp.

Chính vì những lý do nói trên mà chúng tôi đề nghị là hai trường này được có quy chế đặc biệt: đó là tính tự quản cao. Ngân sách được cấp thẳng và Viện trưởng được Thủ tướng bổ nhiệm (hoặc bãi nhiệm) dựa trên đề nghị của Hội đồng Quản trị (Board of Trustees) của trường (xem Phụ lục 3).

Hội đồng Quản trị trường gồm những người có uy tín về giáo dục, chính trị, doanh thương trong xã hội (kể cả người nước ngoài) được Thủ tướng bổ nhiệm với nhiệm kỳ (chẳng hạn như 5 năm).

Viện trưởng phải là người có uy tín khoa học trong và ngoài nước, biết quản lý, có khả năng tiếp xúc với cộng đồng giáo dục quốc tế và đặc biệt là có khả năng gây quỹ cho trường. Viện trưởng được một Hội đồng Khoa học tham mưu và cố vấn trong các định hướng nghiên cứu và phát triển nghiên cứu. Hội đồng Khoa học bao gồm một số giáo sư trong và ngoài trường, những nhà khoa học ngoài trường (từ 30 đến 40% Hội đồng) do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT bổ nhiệm, họp mỗi năm ít nhất hai lần.

Mỗi khoa có Hội đồng Khoa phụ trách điều hành công việc nghiên cứu và giảng huấn trong khoa. Thành viên của Hội đồng này được giáo chức trong khoa bầu ra trong số những giáo sư cơ hữu của trường.

Viện trưởng và Hội đồng Quản trị được giao quyền tự quản trường. Viện trưởng, từ đề nghị của Hội đồng Khoa học, quyết định bổ nhiệm giáo sư, đặt định quy trình tuyển chọn sinh viên theo các tiêu chuẩn do Hội đồng Quản trị đề ra và phù hợp với chính sách chung của nhà nước. Chương trình giảng dạy do các giáo sư đề xuất 6 tháng trước mỗi đầu niên khóa, được Hội đồng Khoa thông qua và Viện trưởng chuẩn y. 

Đội ngũ giáo sư có thể tuyển chọn từ các giáo sư hàng đầu ở các trường đại học và các viện nghiên cứu trong nước hiện nay, từ trí thức người Việt hiện đang giảng dạy hoặc làm nghiên cứu ở nước ngoài và các trí thức Việt kiều về hưu có tên tuổi (xem Phụ lục 4). Trường cũng sẽ có chương trình tích cực gửi những sinh viên vừa tốt nghiệp xuất sắc trong nước ra nước ngoài để lấy tiến sĩ, hoặc nghiên cứu hậu tiến sĩ, để bồi dưỡng cho ban giảng huấn tương lai của trường. Việc quy định thang chức giáo sư được tuyển là hoàn toàn do trường quyết định trong một phiên họp của Hội đồng Quản trị mở rộng tới các Khoa trưởng.

Thời điểm này là lúc mà nhiều người Việt ở nước ngoài đến tuổi về hưu và có lẽ họ cũng là lớp người cuối cùng giỏi tiếng Việt, gắn bó với đất nước và có thể sẵn sàng hồi hương. Chúng ta phải khai thác ngay “cửa sổ cơ hội” này trước khi nó khép lại. Hai trường ĐHCLC với quy chế tự quản như đề nghị ở đây sẽ là nơi tiếp thu những trí thức Việt kiều về hưu mà vẫn còn nhiều ý chí và khả năng đóng góp. Trường cũng là nơi phát triển liên hệ gần gũi, cụ thể với các trí thức người Việt ở nước ngoài trong việc thỉnh giảng, đỡ đầu các luận án làm nghiên cứu chung.

Vì hai ĐHCLC đề nghị ở đây phải trở thành trung tâm giảng huấn và nghiên cứu tầm cỡ, giáo sư ở trường sẽ không dạy hơn 9 giờ mỗi tuần và được cung cấp những phương tiện nghiên cứu tốt nhất (chẳng hạn như phòng làm việc riêng cho từng người, Internet băng rộng, đội ngũ nhân viên hành chính đầy đủ khả năng). Việc bổ nhiệm và thăng tiến của giáo sư vào các ngạch cao hơn và vào biên chế hoàn toàn tùy thuộc vào các công trình nghiên cứu, các hoạt động chuyên ngành, và khả năng sư phạm của đương sự. Để đảm bảo chất lượng sư phạm, các giáo sư cần có mặt ít nhất là 20-25 giờ/tuần tại nhà trường và không nhận chức vụ nơi khác (nếu chưa được Viện trưởng cho phép).

Hai ĐHCL này có thể mở rộng thêm trong tương lai nhưng không nên có hơn 10.000 sinh viên (theo kinh nghiệm các nước tiên tiến). Dù dưới hình thức nào trong tương lai, trường đại học được đề nghị ở đây phải trở thành trung tâm giáo dục và nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam và có uy tín trên thế giới. Mong rằng đề nghị này được chính phủ xem xét và sớm thực thi. Vì là ý kiến ban đầu, chúng tôi không đi vào những ý kiến quá chi tiết về tổ chức mà chỉ xin phác thảo một số nét đại cương trong các Phụ lục để dễ thảo luận và điều chỉnh.         

--------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 1
Tài chính và tư cách pháp nhân
 
Giải trình thêm về tư cách pháp nhân của ĐHCLC

Các doanh nghiệp tự chủ kinh doanh ở nhiều nước được phân loại như sau: doanh nghiệp công và doanh nghiệp tư tùy theo sở hữu là công hay tư. Cả hai loại doanh nghiệp lại chia làm hai loại: loại vị lợi và vô vị lợi. Sự khác biệt giữa vị lợi và vô vị lợi là vấn đề phân chia cổ tức. Doanh nghiệp vị lợi chia cổ tức cho người sở hữu cổ tức (người sở hữu cổ tức có thể là chính phủ hay tư nhân). Loại vô vị lợi có thể có lợi nhuận nhưng không bị đánh thuế; chúng không có cổ tức và do đó lợi nhuận không được phân chia mà phải dùng để đầu tư phát triển. Trong các loại doanh nghiệp này, ban giám đốc doanh nghiệp được tự chủ về tuyển dụng nhân viên, về tài chính mặc dù giá cả sản phẩm làm ra có thể bị kiểm soát nếu là doanh nghiệp độc quyền hoặc doanh nghiệp vô vị lợi. Ngoài các hình thức doanh nghiệp trên là các “đơn vị sự nghiệp” thuộc nhà nước; chúng không có quyền tự chủ về tài chính, hoạt động sản xuất chỉ nhằm phục vụ lợi ích công cộng đặc biệt như chuyên chở công cộng trong thành phố và giáo dục công như trong các trường công hiện nay ở Việt Nam; công nhân viên của doanh nghiệp này là công chức nhà nước.   

ĐHCLC sẽ có tư cách pháp nhân là doanh nghiệp công vô vị lợi (thay vì là một “đơn vị sự nghiệp”). Loại doanh nghiệp này phù hợp với Nghị quyết của chính phủ số 05/2005/NQ-CP:

Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích không bao cấp tràn lan và không nhằm lợi nhuận (gọi tắt là cơ chế cung ứng dịch vụ): có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ; hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi...; thường xuyên nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ, sản phẩm; bảo đảm quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người thụ hưởng.

Đổi mới chế độ thu phí đi đôi với việc thực hiện tốt chính sách ư&shy;u đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo. Mức phí quy định theo nguyên tắc đủ trang trải các chi phí cần thiết, có tích luỹ để đầu tư&shy; phát triển và xoá bỏ mọi khoản thu khác. Người thụ hưởng có quyền lựa chọn cơ sở cung ứng dịch vụ phù hợp với từng lĩnh vực.

ĐHCLC là loại doanh nghiệp công vô vị lợi, khác hẳn doanh nghiệp công vị lợi có tên gọi hiện nay là “doanh nghiệp quốc doanh”.  ĐHCLC do đó sẽ được nhà nước bỏ vốn, có thể tài trợ một phần chi phí thường xuyên, nhưng sẽ phải cố gắng bươn chải tự túc về chí phí thường xuyên và đi tới ngày tự chủ hoàn toàn về tài chính. 

Ước lượng sơ lược vốn ban đầu và chi phí thường xuyên tối thiểu cho một trường được tính dựa vào các giả thiết như sau:

Số sinh viên: 2.000. Số giáo sư 150. Số nhân viên hành chính và công nhân: 200.

Đất với diện tích 60 hecta để có một  khuôn viên đại học có khả năng mở rộng cho một trường với 10.000 sinh viên. Đất do nhà nước cấp.

Chi phí xây dựng dựa trên tỷ lệ chi phí xây dựng/sinh viên của trường RMIT ở Việt Nam

Giáo sư: lương tối thiểu 500 USD/tháng. Nhân viên hành chính và công nhân: lương tối thiểu 100 USD/tháng.

Thư viện: tối thiểu 50.000 quyển sách.

Máy tính: mỗi giáo sư một máy tính PC, hai sinh viên một máy tính, có nối mạng vào workstation và internet.

Máy tính khấu hao trong vòng 3 năm.

Phòng thí nghiệm khấu hao trong 5 năm

Xây dựng khấu hao trong 25 năm.

Chi phí sinh hoạt gồm các hoạt động tổ chức hội thảo, tham dự hội nghị và các hoạt động tương tự.

Vốn ban đầu                 Triệu USD

Đất                                Nhà nước cấp

Xây dựng                             5,0

Thư viện                              2,5

Máy tính                              1,5

Dụng cụ phòng thí nghiệm      2,0

Tổng vốn                             11,0


Chi phí thường xuyên hàng năm

Lương giáo sư                         1,5

Lương nhân viên                      0,5

Thư viện                                  0,5

Khấu hao                                  1,1

Xây dựng                                  0,2

Máy tính                                   0,5

Phòng thí nghiệm                       0,4

Chi phí tổ chức, sinh hoạt           0,5

Chi phí khác
(điện nước, sửa chữa)                 0,5

Chi phí khó dự trù                      0,5

Tổng chi hàng năm                     5,1

Trên đây là ước lượng tối thiểu. Tổng chi hàng năm có thể tính tăng khoảng 5% một năm với dự trù lạm phát.    

--------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 2
Chương trình tuyển sinh trong 10 năm đầu
 


Năm →                           1        2         3       4        5        6      7       8       9     10   Giả thiết tỷ lệ bỏ học

Tuyển sinh thạc sĩ         200     180               200    180     200    180    200   180   200
                                           200     180
                                                      200     180     200     180    200    180   200   180

Sinh viên thạc sĩ            200     380     380     380     380     380    380    380   380  380

Tuyển sinh tiến sĩ
Mỗi năm 10%
Lấy từ trong trường           0       0          0        0         0       30     27       24    21    18     
Lấy từ ngoài                   30      27       24       21       18       30     27        24    21    18
                                               0          0         0          0         0     30        27    24    21
                                              30        27       24        21       18     30        27    24    21
                                                         30        27       24        21     18       30     27    24
                                                         30        27       24        21     18       30     27    24
                                                                    30       27        24     21               30     27
                                                                    30       27        24     21               30     27
                                                                               30       27      24        21    18    30 
                                                                               30       27      24        21    18    30


Sinh viên tiến sĩ                30    57    111      159     201     222   240      204    240  240
Tổng số sinh viên sau cử nhân
                                    230   437    491       539     581     602   620     584    620   620
Tuyến sinh cử nhân
                                                     350       315     315     315    350     315  315     315
10% sau năm thứ nhất                                 350     315     315    315     350  315     315
                                                                            350     315    315      315   350    315
                                                                                     350    315      315   315     350

Tổng số sinh viên cử nhân   0     0    350      665     980  1.295 1.295    1.295 1.295 1.295

Tổng số sinh viên            230   437   841   1.204   1.561 1.897 1.915   1.879   1.915 1.915

Số giáo sư cần                   15   29      56      80     104       126     128     125   128     128

Chi phí thường xuyên hàng năm (triệu USD)
                                   0,59  1,11     2,14   3,07   3,98     4,84     4,88     4,79    4,88   4,88

Vốn đầu tư (triệu USD)    10

--------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 3
Sơ đồ về tổ chức Đại học


Hội đồng quản trị: Đề nghị Thủ tướng bổ nhiệm Viện trưởng. Quyết định đường hướng phát triển của trường và chính sách lương bổng. Theo dõi, xem xét các báo cáo về hoạt động của trường. Tham mưu gây quĩ cho trường.
Viện trưởng:  Trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động của trường. Bổ nhiệm Viện phó, và các Khoa trưởng (phải là GS) dựa trên đề nghị của Hội đồng Khoa. Bổ nhiệm các chức vụ giáo sư dựa trên danh sách đề nghị của Hội đồng Khoa học. 
Hội đồng Khoa học: Tham mưu và cố vấn trong các định hướng giảng dạy, nghiên cứu và phát triển nghiên cứu. Xét duyệt các ứng viên vào các chức vụ giáo sư và đề nghị danh sách lên Viện trưởng quyết định.
Hội đồng khoa: Tư vấn Khoa trưởng về định hướng giảng dạy và nghiên cứu của khoa.  Đề nghị lên Viện trưởng ứng viên Khoa trưởng. 


--------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 4
Tuyển giáo sư
 


Giáo sư là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng đại học do đó chương trình tuyển chọn giáo sư là điều cần được thiết kế và thực hiện bài bản với chất lượng là điều kiện hàng đầu. Dưới đây là một số ý kiến về việc tuyển chọn giáo sư.

■ Thành phần giáo sư và giảng dạy

Ban giảng huấn của trường sẽ gồm một bộ phận cơ hữu và một bộ phận khác gồm những giáo sư thỉnh giảng và các giảng viên trẻ, chưa khẳng định được chỗ đứng lâu dài trong trường.

1.   Bộ phận cơ hữu trong ban giảng huấn gồm những người có trình độ tiến sĩ hay tương đương trở lên, được Viện trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng khoa học. Hội đồng này có nhiệm vụ xét duyệt lý lịch khoa học và thực hiện các cuộc phỏng vấn các ứng viên. Chức vụ của họ gọi chung là giáo sư, tuy sẽ gồm ba ngạch “Giáo sư thực thụ” (full professor), gọi tắt là “Giáo sư” (GS), “Phó giáo sư” (PGS) (associate professor) và “Giảng sư” (assistant professor).

(a) GS và PGS đều phải có ít nhất 5 công trình khoa học sau luận án tiến sĩ được đăng trong những tạp chí khoa học có uy tín quốc tế, có kinh nghiệm giảng dạy. Cả hai được đề nghị hợp đồng kéo dài 10 năm (có thể gia hạn). Những người được tuyển vào hai chức vụ này chỉ khác nhau trong uy tín khoa học và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy, nhưng có những trách nhiệm khác nhau rất ít. Cả hai đều có quyền và nhiệm vụ hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ, và đều có thể được bầu vào Hội đồng Khoa học và các Hội đồng Khoa trong trường. Tuy nhiên, Khoa trưởng phải là một GS.

   Một phó giáo sư trong suốt thời hạn 10 năm của hợp đồng, cuối mỗi năm có thể ứng cử vào chức vụ giáo sư nếu tự xét mình đủ khả năng. Quyết định cuối cùng thuộc về Viện trưởng, sau khi đã qua sự xét duyệt của Hội đồng Khoa học.

(b) Giảng sư là những tiến sĩ vừa tốt nghiệp, có luận án được đánh giá cao, chứng tỏ khả năng nghiên cứu. Hợp đồng đầu tiên của họ có thời hạn 5 năm. Giảng sư có quyền và nhiệm vụ hướng dẫn luận văn tốt nghiệp thạc sĩ môn mình giảng dạy. Họ cũng có quyền tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ, chung với một giáo sư hay phó giáo sư. Nếu chứng tỏ khả năng xuất sắc, người giảng sư không cần đợi hết thời hạn 5 năm này để ứng cử vào một chức vụ phó giáo sư. Sau thời hạn 5 năm đầu, nếu chưa thể được bổ nhiệm làm phó giáo sư, hợp đồng giảng sư có thể được gia hạn, mỗi lần gia hạn là một nhiệm kỳ 3 năm.

Công việc chính của các giáo sư là giảng dạy và nghiên cứu tại trường. Số giờ lên lớp hàng tuần của các giáo sư do Hội đồng Quản trị quyết định, không dưới 6 giờ và không trên 12 giờ, bao gồm giờ giảng bài và giờ hướng dẫn các seminar nghiên cứu. Ngoài giờ lên lớp, các giáo sư phải có mặt trong phòng làm việc hay phòng thí nghiệm của mình ít nhất 20 giờ một tuần. Các giáo sư có quyền làm thêm nơi khác trong các cương vị cố vấn khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp hay của một cơ quan chính phủ, hoặc thỉnh giảng tại một đại học khác không quá 3 giờ/tuần. Những việc làm thêm này phải được Viện trưởng cho phép.

2.  Ngoài bộ phận cơ hữu nói trên, ban giảng huấn của trường còn gồm các thành phần sau đây:

(a)  Giáo sư thỉnh giảng (visiting professor): là các giáo sư, phó giáo sư, giảng sư ở một trường đại học khác, trong hay ngoài nước, được mời dạy trong một thời gian ngắn, ít nhất là 3 tháng. 

(b) Trợ tá giảng sư (teaching assistant, gọi tắt là “trợ giảng”): là nghiên cứu sinh chương trình tiến sĩ hay trong chương trình hậu tiến sĩ (postdoc) của trường hay của một đại học khác, được giáo sư hướng dẫn giới thiệu và được Hội đồng Khoa trong bộ môn của mình chấp nhận. Các trợ giảng có nhiệm vụ phụ tá một giáo sư trong công tác giảng dạy một giáo trình, từ 4 tới 6 giờ/tuần, song song với công tác nghiên cứu của mình. Họ được nhận hợp đồng đầu tiên là 3 năm, có thể được gia hạn tối đa là hai lần, mỗi lần một năm.

(c) Ngoài ra, trường có thể nhận các nghiên cứu sinh cuối chương trình tiến sĩ, hoặc nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, được đánh giá cao về khả năng nghiên cứu, làm “phụ tá nghiên cứu” (research assistant) trong các phòng thí nghiệm. Hợp đồng của các phụ tá nghiên cứu tương đương với hợp đồng của các trợ giảng.

(d) Giáo sư đặc nhiệm: Để tạo uy tín cho trường, để thu hút các giáo sư hàng đầu, và để thu hút đóng góp đặc biệt của các nhà hảo tâm (cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức quốc tế), trường có thể lập ra một hay nhiều chức vụ “giáo sư đặc nhiệm” (tương đương với các “chair professor” ở đại học Âu-Mỹ), với ngân quỹ riêng cho mỗi chức vụ này ít nhất là 200.000 USD. Số tiền này được nhà trường đầu tư và giáo sư được bổ nhiệm có thể dùng tiền từ quỹ để chi phí cho việc nghiên cứu của mình trong đó có việc thuê các phụ tá nghiên cứu.

■ Vấn đề tuyển dụng Việt kiều, giáo sư nước ngoài, và lưu học sinh xuất sắc
Trường cần có chương trình tích cực thu hút trí thức Việt kiều hồi hương vào thành phần giảng dạy:

·  Khuyến khích trí thức Việt kiều về hưu trở thành thành phần giáo sư cơ hữu của trường. Việc tuyển chọn dựa trên chính sách chung ở trên.

·  Khuyến khích trí thức Việt kiều về hưu hay chưa về hưu tham gia thành phần giáo sư thỉnh giảng từ 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm.

·  Khuyến khích giáo sư nước ngoài tham gia thành phần giáo sư thỉnh giảng từ 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm.

·  Khuyến khích các lưu học sinh xuất sắc sau khi bảo vệ luận án hoặc làm nghiên cứu hậu tiến sĩ về tham gia thành phần giảng sư.

·  Ký kết với đại học nước ngoài về các chương trình hợp tác, giúp đỡ về giảng dạy và nghiên cứu. Trường nước ngoài gửi giáo sư về hợp tác dưới hình thức giáo sư thỉnh giảng (giảng dạy hoặc nghiên cứu)  trong một thời gian ngắn từ 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm. Có thể vận động trường nước ngoài trả lương cho giáo sư thỉnh giảng này, và trường đại học trong nước chỉ lo ăn ở.

■ Làm sao tuyển mộ đủ giáo sư? 

Một đại học chất lượng phải có đủ tỉ lệ 1/15 (tiến lên 1/10 trong tương lai) giáo sư/sinh viên như đã nói trong phần chính của đề án. 

Điểm nổi bật của dự án này là trường phải có lực lượng giáo sư cơ hữu hùng hậu, nghĩa là những người :

(a)  đủ tiêu chuẩn bằng cấp (đại đa số sẽ là tiến sĩ, tuy có thể có ngoại lệ), tốt nghiệp từ những đại học có chất lượng;

(b)  có hoài bão là dạy học và nghiên cứu;

(c)  xem việc cộng tác với đại học chất lượng cao là công việc chính của họ;

(d)  không đảm nhận một chức vụ, việc làm nào nơi khác (trừ khi đuợc Viện  trưởng cho phép).

Tìm những người này ở đâu? Chúng tôi xin đưa vài ý:

Trước hết là từ các giáo sư hiện hữu trong những trường hàng đầu trong nước.  Đây là một vấn đề tế nhị, song cũng là một trong những quy luật của “cạnh tranh thị trường”. Mặt khác, có thể vì vậy mà các trường hiện hữu phải trở thành tốt hơn để giữ họ lại. Dưới góc nhìn này, có thể coi ĐHCLC như sẽ tạo một “ngoại ứng” tốt cho nền giáo dục đại học cả nuớc.

Song, phải nhìn nhận, phần lớn giáo sư sẽ là người Việt Nam từ nước ngoài về. Có hai vấn đề: (a) Tìm ra họ, (b) Lôi kéo được họ.

(a) Làm sao tìm họ? Việc đầu tiên phải làm là lập một danh sách tương đối đầy đủ những giáo sư người Việt hiện ở nước ngoài. Chúng tôi nghĩ rằng có thể bắt tay làm việc này ngay từ bây giờ, không cần đợi đề án được thông qua. 

(b) Lôi kéo họ? Đây là một việc rất khó khăn, cần những giải pháp “sáng tạo”.  ĐHCLC cần chấp nhận trường hợp những người chỉ có thể về 3-4 tháng mỗi năm (song, ngược lại, phải yêu cầu họ cam kết mỗi năm sẽ về chừng ấy, trong 3-5 năm sắp đến, để nhà trường có thể lập chương trình dạy cho họ). Có người sẽ cần sự can thiệp trực tiếp giữa Viện trưởng trường ĐHCLC và Viện trưởng trường họ để trường họ cho phép về Việt Nam (và vẫn trả lương). ĐHCLC phải sẵn sàng đi vào những thương lượng đó.

Nhưng làm sao để thuyết phục họ? Ngoài tình cảm cá nhân đối với quê hương, cần nhấn mạnh tới hiệu quả của công việc mà họ sẽ tham gia đối với thế hệ các em, các cháu trong nước, và về lâu dài là công cuộc gây dựng một nền giáo dục có chất lượng cao cho nước ta mà mọi người đều sẽ hãnh diện sau này.  

Vấn đề lương bổng không là hàng đầu (và nếu so về lương thì Việt Nam còn lâu mới cạnh tranh nổi với các trường ngoại quốc). Nhưng những lợi ích bên lề như nhà ở, xe cộ, trường học cho con cái, chi phí đi về, Internet, v.v. thì ĐHCLC có thể cung cấp được.

■ Một vài yêu cầu trong kế hoạch tuyển chọn giáo sư

Ngay năm đầu, trường phải tuyển ít nhất 2 người cấp giáo sư cho mỗi khoa, và bảo đảm tỉ lệ GS/PGS/Giảng sư như đã trình bày trong phần chính của dự án.

Lương giáo sư không nhất thiết đồng đều, lương các giáo sư hàng đầu có thể rất cao hơn trung bình. 


--------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 5
Tuyển sinh viên
 

Chất lượng sinh viên cũng là yếu tố quan trọng làm nên chất lượng của đại học và tri thức của đất nước. Dưới đây là một số ý kiến về tuyển sinh.

Điều kiện để sinh viên được tuyển chọn vào đại học: mọi sinh viên phải theo chương trình học toàn phần.
■ Chất lượng sinh viên cấp cử nhân (khi trường mở cấp cử nhân)

Sinh viên cấp cử nhân được tuyển chọn là những học sinh giỏi và có chứng tỏ khả năng lãnh đạo trong quá trình tham gia các hoạt động xã hội.

Học sinh có tư cách nộp đơn khi hội đủ điều kiện sau:

1.      Là học sinh xếp hạng trong số 5% đầu lớp trong trường trung học của họ trong hai năm cuối.

2.      Điểm TOEFL tiếng Anh đạt ít nhất 300

Sinh viên được tuyển  lựa dựa vào những yếu tố sau:

1.      Là học sinh đạt điểm cao về toán và văn trong kỳ thi nhập học do trường tổ chức. Hệ số 70%

2.      Là học sinh có quá trình chứng tỏ khả năng lãnh đạo trong các hoạt động xã hội. Hệ số 10%

3.      Chất lượng bài luận văn nộp chung với đơn xin học (do trường ra đề, toàn bài không quá 1500 chữ). Hệ số 10%

4.      Thư giới thiệu và đánh giá học sinh của ba giáo viên trong trường trung học. Hệ số 10%.

■ Chất lượng sinh viên cấp sau cử nhân

Sinh viên cấp sau cử nhân được tuyển chọn là những sinh viên tốt nghiệp cử nhân giỏi và chứng tỏ khả năng nghiên cứu.

Ứng viên phải hội đủ điều kiện sau:

1.      Tốt nghiệp cử nhân loại giỏi

2.      Điểm TOEFL tiếng Anh đạt ít nhất 400.  

Các tiêu chuẩn đánh giá khác:

3.      Những nghiên cứu được xuất bản nếu có.

4.      Chất lượng bài luận văn nộp chung với đơn xin học (do trường ra đề, toàn bài không quá 1500 chữ).

5.      Thư giới thiệu và đánh giá ứng viên của ba giáo sư đã dạy ứng viên ở cấp cử nhân. 


--------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 6
Hệ thống tổ chức đơn vị học
 

Vấn đề từ ngữ

Trong hệ thống đề nghị ở dưới đây, chúng tôi dùng một số từ ngữ sau:

Niên học
Academic year
Niên học kéo dài 9 tháng

Học kỳ
Academic term
Niên học có 2 hoặc 3 học kỳ

Quí
Quarter
Học kỳ 3 tháng, gồm 10 tuần

Học kỳ nửa năm
Semester
Học kỳ 4 tháng rưỡi, gồm 15 tuần

Tín chỉ
Credit
Một đơn vị học trình trong một kỳ học

Môn
Course
Môn học trong một kỳ học

Tiết

Tiết là một đơn vị giờ kéo dài 50 phút. Để cho giản dị tiết đồng nghĩa với một giờ học

Seminar

Lóp học cho một nhóm nhỏ (không hơn 10 sinh viên,) phân tích hoặc nghiên cứu về một vấn đề do thầy trao và trao đổi trong lớp. 

Hệ thống tổ chức đơn vị học

Chúng tôi đề nghị:

Tổ chức hệ thống đơn vị học theo học kỳ nửa năm (15 tuần học và 2 tuần thi cử).

Các môn học được tổ chức theo hệ thống tín chỉ. Mỗi môn có giá trị từ 1 đến 4 tín chỉ. Đại đa số các môn có 3 tín chỉ.

Mỗi tín chỉ nghe giảng trong lớp 1 giờ một tuần, trong vòng 15 tuần, với tổng số giờ phải học là 15 giờ trong một kỳ học nửa năm. Ngoài giờ nghe giảng, những giờ thực tập hoặc làm và sửa bài tập có hướng dẫn, giờ sinh viên tự học, không tính trong bảng “chương trình điển hình” dưới đây.

Sinh viên trung bình học 5 môn một kỳ, mỗi môn trung bình 3 tín chỉ.
 
Giải trình:


Tổ chức kỳ học trong niên học có thể theo quí hoặc theo học kỳ nửa năm (thực tế là 4 tháng rưỡi, vì có những ngày nghỉ lễ...). Rất nhiều trường trên thế giới hiện nay theo học kỳ nửa năm. Một số trường theo học kỳ quí. Vấn đề tổ chức theo học kỳ nửa năm đơn giản hơn.

Để đáp ứng với một số giáo sư chỉ có thể giảng dạy theo quí, một số môn sẽ được tổ chức theo quí, với cùng số giờ giảng dạy như trường hợp chương trình theo học kỳ nửa năm. 
 
Đòi hỏi về tín chỉ


Mỗi sinh viên ở cấp cử nhân cần hoàn thành 120 tín chỉ.

Sinh viên chương trình thạc sĩ (MA, MBA, MS) phải hoàn thành 32 tín chỉ, và một luận văn tốt nghiệp được chuẩn bị từ năm thứ hai với một số yêu cầu về kết quả phải đạt được sau năm thứ nhất (sẽ quy định chi tiết cho từng ngành học).

Có thể được gia hạn thêm năm thứ ba để hoàn thành chương trình thạc sĩ. 

Về bằng tiến sĩ

·  Sinh viên được nhận vào chương trình tiến sĩ phải đạt được những điều kiện sau:

(a) Có điểm cao trong các môn học của chương trình thạc sĩ, kể cả luận văn tốt nghiệp.

(b) Được một giáo sư (GS, PGS hay giảng sư) trong khoa nhận làm GS hướng dẫn, theo một đề tài (hướng nghiên cứu) do hai người thỏa thuận. Hồ sơ đăng ký của NCS phải bao gồm một giải trình ngắn (1500 tới 2000 từ), nói lên những suy nghĩ sơ khởi của mình về đề tài này.

(c) Được Hội đồng Khoa chấp nhận, qua phỏng vấn hay sát hạch. Nếu hồ sơ đăng ký của nghiên cứu sinh (NCS) chỉ có một giáo sư đứng tên, Hội đồng Khoa sẽ cử thêm một giáo sư làm đồng hướng dẫn. Ít nhất một trong hai giáo sư hướng dẫn phải là GS hay PGS.

(d) Có bảo đảm về tài chính để có thể tập trung nghiên cứu trong thời gian làm luận án: học bổng của bộ GD&ĐT, của một cơ quan nhà nước hoặc một doanh nghiệp có liên quan tới đề tài nghiên cứu. Trong trường hợp NCS không có một học bổng nói trên, người ấy phải nộp đơn xin làm trợ giảng hay trợ tá nghiên cứu trong trường, và đơn đó phải đã được chấp thuận.

  ·   Thời hạn làm luận án tiến sĩ là 3 năm sau Thạc sĩ, có thể được gia hạn một năm, hoặc hai năm nếu NCS và giáo sư hướng dẫn có giải trình được Hội đồng Khoa chấp nhận. Nếu luận án không thể được bảo vệ cuối năm thứ 5, NCS bị mất tư cách sinh viên tiến sĩ, và chỉ được ghi danh lại khi luận án hoàn thành (văn bản phải được nộp cùng ngày ghi danh để xin được bảo vệ).

·   Các Hội đồng Khoa có thể ra quy định buộc NCS trong khoa mình phải hoàn thành thêm một hay hai đơn vị học trình (15 hay 30 tín chỉ) trong một hay hai năm đầu của quá trình làm luận án.

·   Hội đồng giám khảo luận án (jury) do Viện trưởng chỉ định, theo đề nghị của Hội đồng Khoa, và phải gồm ít nhất 6, nhiều nhất 8 người, với thành phần các uỷ viên như sau:

(a)  Hai giáo sư hướng dẫn luận án;

(b)  Hai báo cáo viên từ một đại học khác (trong hay ngoài nước);

(c)  Ít nhất, hai giáo sư khác trong ngành, trong hay ngoài trường.

Tất cả các uỷ viên Hội đồng phải là những người có học vị tiến sĩ trở lên, hoặc là chuyên gia có những công trình nghiên cứu được thừa nhận có giá trị tương đương hay cao hơn tiến sĩ.

Hai báo cáo viên phải là các Giáo sư hoặc Phó Giáo sư. Các uỷ viên này phải có báo cáo viết về sự thẩm định luận án của mình, trong đó nói rõ kết luận cuối cùng là đồng ý cho luận án được bảo vệ. Các báo cáo phải nêu rõ những đóng góp của NCS, dựa trên tính học thuật và tính sáng tạo của luận án (nếu là ứng dụng một phương pháp khoa học đã có thì tính chất mở đường, đột phá của ứng dụng phải được nêu ra đồng thời với các tiêu chuẩn về học thuật của NCS), được thể hiện cụ thể bằng ít nhất một bài nói ở một hội nghị quốc tế và một bài báo được chấp nhận đăng trên một tạp chí khoa học quốc tế có uy tín. 

Các báo cáo này phải được gửi tới Hội đồng Khoa một tháng trước ngày bảo vệ. Nếu Hội đồng Khoa chấp thuận các báo cáo nhận được, cuộc bảo vệ sẽ được tổ chức, như một thủ tục đứng về mặt bằng cấp – coi như đã đạt được. Tuy vậy, thủ tục này có tầm quan trọng đối với NCS, thông qua báo cáo chung của Hội đồng giám khảo về chất lượng của luận án cũng như các đức tính khoa học, khả năng trình bày những kết quả khoa học của người NCS.
 
Chương trình thạc sĩ


Năm thứ nhất

Kỳ học I: Tạm nhận giáo sư phụ trách. Sinh viên nộp kế hoạch học cho GS phụ trách. Cuối kỳ học I nhận giáo sư hướng dẫn.

Kỳ học II: Tham gia Seminar/nghiên cứu. Cuối kỳ học II hoàn thành đề cương đề tài nghiên cứu với sự đồng ý của GS hướng dẫn.

Năm thứ hai

Kỳ học I: sinh viên nộp kế hoạch học cho GS phụ trách. Tiến hành nghiên cứu

Kỳ học II: nộp luận văn vào cuối kỳ.

Chương trình điển hình 4 năm cử nhân          I            II               III                IV

Chương trình giáo dục tổng quát   42
Bắt buộc              30  
Seminar về thông tin khoa học và
máy tính                                        2                 2

Seminar về viết luận văn                 3                 1           2 
Thưởng thức Nghệ thuật                 2     
(có thể chọn Mỹ thuật hay Âm nhạc)                  2
Lịch sử  khoa học                           3                 3
Văn minh nhân loại                         3                 3
Triết học:
Triết học đông phương                    2                 2
Triết học tây phương                       2                 2
Lịch sử Việt Nam                            3                 2           1
Ngoại ngữ  (viết và đọc)                  7                  3           2                  2
Thể thao                                         3                 1           1                  1
Chương trình giáo dục tổng quát
tự chọn  12                                                        9            3
Chương trình giáo dục chuyên ngành    78
Ngành chính                                            45
Bắt buộc                                                 27                     9                12             6 
Tự chọn                                                  18                    6                  6             6
Ngành phụ và các bắt buộc theo ngành      24                    6                  9             9
Luận văn tốt nghiệp                                   9                                                       9

Chú thích:

1.      Số La mã I, II, III, IV chỉ các năm học của bậc cử nhân.

2.      Những con số ả-rập chỉ số tín chỉ.

3.      Mỗi tín chỉ là một giờ học trong tuần. Cần cộng thêm vào bảng này những giờ làm bài có hướng dẫn, giờ tự học của SV. Ví dụ môn thể thao, chỉ tính điểm cho 1 tín chỉ, nhưng SV cần có điều kiện tập thể thao nhiều hơn 1 giờ/tuần.

©  Kỷ Yếu mừng GS Đặng Đình Áng 80 tuổi

1-12-2006

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai9/200609_DeAnDaiHoc.htm
 
Vì lý do kỹ thuật, các bảng biểu khi đem vào Việt Nam Thư Quán không còn giữ được cách trình bày như nguyên bản, và có thay đổi hình thức chút ít, tuy các con số và nội dung vẫn đúng theo nguyên bản, thành thật xin lỗi các tác giả. Xin bạn đọc tham khảo bản chính. Ngọc Lý.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-23 05:22:43Ngọc Lý>
Gần 600.000 thí sinh trượt đại học
16:11' 08/08/2007 (GMT+7) 
 
 
(VietNamNet) - Với mức điểm sàn được xác định chiều nay, đã có 594.103 thí sinh bị "loại" khỏi cuộc đua xét tuyển các nguyện vọng vào ĐH.



Sau hai giờ thảo luận, Hội đồng xác định điểm sàn tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2007 (Bộ GD-ĐT) đã ấn định mức điểm sàn hệ ĐH như sau: Khối A, B: 15; khối  C: 14, khối D:13. Mức điểm sàn hệ CĐ ở mỗi khối tương ứng giảm 3 điểm. Đây là mức sàn đối với học sinh phổ thông khu vực 3, chưa tính điểm ưu tiên khu vực và đối tượng. Khu vực kế tiếp được giảm 0,5 điểm, đối tượng kế tiếp được giảm 1 điểm.


Trong số hơn 1 triệu thí sinh dự thi ĐH, có hơn 373.000 thí sinh các khối thi A, B, C, D đạt mức điểm từ sàn trở lên. Trong số đó, có gần 158.00 thí sinh đã trúng tuyển theo nguyện vọng 1. Chỉ tiêu tuyển mới tại tất cả các trường ĐH của 4 khối này là 182.810 thí sinh.


Ở khối A, với mức điểm sàn 15, có 188.870 thí sinh đủ điều kiện xét tuyển ĐH theo các nguyện vọng 2 và 3 . Chỉ tiêu tuyển sinh của khối này là 109.082, trong khi số lượng thí sinh trúng tuyển theo nguyện vọng 1 là 94.770.


Với mức điểm sàn 15, ở khối B, 103.388 thí sinh sẽ có cơ hội xét tuyển. Chỉ tiêu tuyển sinh của khối này là 19.648; số lượng đã trúng tuyển theo nguyện vọng 1 là 15.041.


30.211 thí sinh khối C có điểm thi ĐH từ 14 trở lên sẽ có cơ hội xét tuyển các nguyện vọng 2 và 3. Đã có 15.498 thí sinh trúng tuyển theo nguyện vọng 1, trong khi chỉ tiêu tổng thể của khối  này là 18.316.


Ở khối D, với 35.764 chỉ tiêu tuyển sinh, đã có 26.778 thí sinh trúng tuyển ĐH theo nguyện vọng 1. Với mức điểm sàn 13, sẽ có  48.578 thí sinh chờ cơ hội xét tuyển.
Cục Công nghệ thông tin đã làm thống kê, đa phần thí sinh đi thi hai khối là khối A và B. Trong số120 thí sinh đạt 27 điểm của ĐH Y có 96 thí sinh đạt từ 20 điểm trở lên từ khối A ở trường khác.

Toàn quốc có 15 em đạt 30 điểm: 9 em khối A, 6 em khối B. Điểm cao nhất khối C là 25,5, có 1 em, sau đó, có 9 em đạt 25 điểm. Ở khối D,  thí sinh điểm cao nhất (27,25) thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân. Có  em đạt 9,5 điểm môn văn ở khối C và D







Phổ điểm thi ĐH khối B năm 2007 khả quan hơn năm 2006

Hà Nội dẫn đầu, TP.HCM "về" 16


Thống kê từ kết quả bài thi của 991.000 thí sinh ở 4 khối thi, Cục trưởng Cục Công nghệ Thông tin Quách Tuấn Ngọc nhận xét, phổ điểm khối A và B năm nay đẹp hơn so với các năm trước. Tỷ lệ phần trăm đạt trên trung bình (15 điểm) đã cao hơn. Tuy nhiên, phổ điểm khối C, D chưa thay đổi nhiều do vẫn giữ cách thi tự luận.

Theo giải thích của ông Ngọc, phổ điểm năm nay “đẹp” hơn do thi trắc nghiệm nên xác suất làm bài của thí sinh kém nhất sẽ là 2,5 điểm chứ không phải là 0 điểm. Đồng thời, kì thi tốt nghiệp THPT năm nay đã “gọt”  khoảng 300.000 học sinh học lực kém. 

Thống kê kết quả bài thi theo địa phương cho thấy, Hà Nội dẫn đầu trong bảng thống kê kết quả bài thi thí sinh. Tiếp theo đó là 13 địa phương phía Bắc. Đáng lưu ý,  vị trí của Hà Tây và Nghệ An năm nay nhẩy bậc khá nhiều do làm tốt kì thi tốt nghiệp THPT.

Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế lần lượt giữ các vị trí 15, 17. TP.HCM, địa phương có tỷ lệ HS tốt nghiệp THPT cao nhất, có kết quả thi ĐH ở vị trí 16.

Ở vị trí cuối bảng là các miền núi phía bắc.

Từ phân tích kết quả phổ điểm, Cục Công nghệ Thông tin cho hay, độ chênh lệch giữa tỉnh thấp nhất (Bắc Kạn) với thành phố cao nhất (Hà Nội) đã thu hẹp. 9,54 so với 14,45. 
 
Kiều Oanh



http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/tuyensinh/huongnghiep/2007/08/732852/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-23 05:29:24Ngọc Lý>
Cố đeo đuổi đại học: Lãng phí
09:37' 23/08/2007 (GMT+7) 
 


(VietNamNet) - "Sự học không bao giờ là muộn và lãng phí. Nhưng sự lãng phí sẽ rất nhiều nếu hơn nửa triệu thanh niên lại chờ 1, 2 hoặc 3 năm để ôn thi vào CĐ hay ĐH".
 
Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT) Hoàng Ngọc Vinh chia sẻ như vậy với gần 600.000 thí sinh không trúng tuyển vào các trường ĐH, CĐ trong kỳ thi tuyển vừa qua. 
 



Vụ trưởng Hoàng Ngọc Vinh
 
Nguồn lực cho giáo dục nghề còn hạn chế


- Ai trong ngành cũng nhận ra vấn đề: Giáo dục Việt Nam cần có định hướng phân luồng từ sau THCS để một bộ phận HS không có khả năng học lên cao được tiếp cận một chương trình học phù hợp. Nhưng xem ra, vấn đề phân luồng trong ngành GD chỉ đặt ra thảo luận rồi bỏ đó?
 
Phân luồng HS là việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và giảm bớt sức ép trong các kỳ thi tuyển sinh.
 
Đặc biệt, với hàng trăm ngàn HS mà năng lực học tập còn hạn chế dẫn đến thi trượt tốt nghiệp THPT vừa qua, lẽ ra đi vào con đường giáo dục nghề nghiệp sớm hơn thì lợi ích của cá nhân, gia đình và xã hội lớn hơn nhiều.
 
Tuy nhiên, thành công của việc “phân luồng” không thể dùng một “công cụ” chính sách giản đơn được mà phải áp dụng một chính sách mang tính hệ thống và đồng bộ từ việc tư vấn hướng nghiệp, mở rộng quy mô các cơ sở GDNN, nâng cao chất lượng trường dạy nghề, TCCN để thu hút người học, thực hiện cơ chế liên thông, đổi mới cơ chế tài chính giáo dục cho đối tượng này, đổi mới cơ cấu hệ thống GD quốc dân, tuyên truyền thay đổi nhận thức của người dân và các cấp quản lý, đến chính sách việc làm, trả lương ngoài thị trường lao động v.v....
 
Như vậy, không chỉ “phân luồng” mà còn cần có các giải pháp “khơi luồng” vừa “đẩy” vừa “kéo” nữa nếu không hệ thống sẽ “tắc”.
 
Bộ GD-ĐT đang tích cực triển khai hàng loạt các biện pháp tăng cường thu hút học sinh tốt nghiệp THCS vào các trường TCCN.
 
Tuy nhiên, nguồn lực dành cho giáo dục TCCN rất hạn chế, hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp còn chồng chéo nên hiệu quả “phân luồng” chưa đáng kể.
 
Thiếu cả "thầy" và "thợ"




"Hiện nay, nhân lực nước ta đang trong tình trạng thiếu cả “thầy” cả “thợ”
do chất lượng đào tạo ở hầu hết các trình độ đều thấp" - ông Hoàng Ngọc Vinh nhận xét. Ảnh: LAD.

- Cũng phải thẳng thắn rằng, những chương trình giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự hấp dẫn?


Đúng vậy, chương trình GDNN vẫn chưa có những chuyển biến mang tính đột phá, gắn với nhu cầu sử dụng lao động.


Suy cho cùng, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý còn nhiều bất cập nên chất lượng xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện không cao.


Bên cạnh đó, ngay cả khi có chương trình tốt rồi nhưng lại thiếu trang thiết bị công nghệ, giáo trình và các điều kiện khác thì cũng làm cho chương trình mất tính hấp dẫn.


- Đó cũng là nguyên nhân khiến ít thí sinh trượt ĐH chọn con đường vào học các trường nghề hoặc họ vào rồi năm sau tìm cách thi lại ĐH. Như vậy, bài toán "thừa thầy thiếu thợ" sẽ khó có lời giải?


Thực ra, thanh niên bây giờ có suy nghĩ thực tế hơn. Vấn đề là xã hội có tạo ra nhiều việc làm cho họ hay không.


Trong điều kiện kinh tế thị trường, chính quy luật kinh tế thị trường sẽ góp phần điều chỉnh mong muốn và những hành vi của người học.


Tất nhiên, không thể bỏ qua vai trò của Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề mang tính hệ thống như: Cung cấp thông tin dự báo nhu cầu lao động, điều phối nguồn lực, hình thành đồng bộ một loạt các thị trường, trong đó có thị trường lao động...


Hiện nay, nhân lực nước ta đang trong tình trạng thiếu cả “thầy” cả “thợ” do chất lượng đào tạo ở hầu hết các trình độ đều thấp.
Trong tương lai, đất nước phát triển lên, tôi cho rằng “thừa thầy thiếu thợ” lại chẳng phải là điều gì đáng chê trách trong cạnh tranh toàn cầu và xã hội tri thức, khi đó sẽ cần “nhiều thầy và ít thợ”, chúng ta sẽ xuất khẩu tri thức nhiều hơn thay vì chủ yếu xuất khẩu “cơ bắp”….


Cần cả "khơi luồng"


- Bộ GD-ĐT đang kỳ vọng vào sự cải tiến tuyển sinh trong thời gian tới với nhiều thay đổi, ông có đề xuất giải pháp gì để giảm sức ép lên các kỳ thi tuyển sinh hiện nay?


Rõ ràng, do điều kiện kinh tế xã hội và những ràng buộc khác mà công tác tuyển sinh ĐH còn những bất cập mặc dù ngành giáo dục và toàn xã hội đã cố gắng. Việc giảm sức ép tuyển sinh ĐH là công việc không mấy dễ dàng.


Ví như Hàn Quốc từ năm 1949 đến nay đã thay đổi 10 lần chính sách tuyển sinh, song sức ép tuyển sinh ĐH vẫn khó giảm bớt ngay cả khi hệ thống GDĐH có thể tuyển đến trên 85% HS tốt nghiệp THPT. Ở đó sự cạnh tranh lại không phải vào ĐH mà là vào ĐH nào để sau này có nhiều cơ hội việc làm và thăng tiến.


Việc dùng các giải pháp thi hoặc đổi mới kỹ thuật thi theo tôi khó có thể giảm được sức ép tuyển sinh. Về giải pháp thì có nhiều và nhiều quốc gia phát triển trước ta cũng đã từng trải qua có thể cho một số bài học.


Theo tôi một số vấn đề cần tính đến là:


Mức độ hoàn thiện của thị trường giáo dục và thị trường lao động sẽ tác động mạnh vào chính sách giáo dục, trong đó có cả chính sách tuyển sinh.


Cần tiến hành một kỳ thi tốt nghiệp THPT và việc tuyển chọn thí sinh vào trường CĐ, ĐH do các trường có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm.


Sử dụng các giải pháp đồng bộ và hệ thống để “phân luồng” và “khơi luồng” HS  theo các con đường giáo dục khác nhau. Nâng cao chất lượng các cơ sở GDNN, xây dựng các mô hình đào tạo gắn với việc làm, áp dụng các hình thức học tập khác nhau để dẫn đến chung một loại văn bằng...


Xiết chặt công tác thi kiểm tra đánh giá trong hệ thống giáo dục, đặc biệt công tác thi kiểm tra trong các trường ĐH để có thể sàng lọc những SV không đủ năng lực ra khỏi trường ĐH từ sớm để đi theo “luồng” giáo dục nghề nghiệp.


Phải chấp nhận giải pháp phân tầng chất lượng giáo dục ĐH để tiếp tục mở rộng quy mô giáo dục ĐH và phải đồng thời đảm bảo tính cân đối giữa các trình độ đào tạo.

- Cảm ơn ông!

  • Kiều Oanh (thực hiện)
    [/align]


http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/tuyensinh/huongnghiep/2007/08/732852/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-23 05:58:51Ngọc Lý>
Thi tuyển sinh ĐH nông học hệ tại chức ở trường ĐH Hồng Đức, Thanh Hoá:
Một kỳ thi gian dối trắng trợn
Lao Động số 194 Ngày 22/08/2007 Cập nhật: 8:26 AM, 22/08/2007
 
[/align] 
[/align] 
Các TS đang được phổ biến cách... chép bài thi làm sẵn.

(LĐ) - Trong 2 ngày 18-19.8, tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị (BDTT) huyện Thường Xuân, Trường ĐH Hồng Đức đã tổ chức thi tuyển sinh ĐH nông học - hệ tại chức cho khoảng 90 TS. Tính chất của kỳ thi này không khác gì so với kỳ thi tuyển vào ĐH chính quy.
[/align]
Song ở đây, chính những người đảm nhiệm công tác tổ chức thi đã "gian dối" bày cách cho các TS chép bài thi từ bên ngoài đưa vào, bày các thủ thuật để tránh sự giống nhau đồng loạt... PV Lao Động đã xâm nhập ghi âm và tận mắt chứng kiến toàn bộ diễn biến sự việc.

Phổ biến cách... chép bài

8 giờ sáng ngày 18.8, thí sinh chủ yếu là lãnh đạo các xã, một số ngành và cả những trường hợp vừa tốt nghiệp THPT có mặt đông đủ tại hội trường lớn của Trung tâm BDTT để nghe phổ biến quy chế thi. Nhưng thật bất ngờ đây lại là buổi phổ biến cách chép bài thi làm sẵn chuyển từ bên ngoài vào.

Ngay sau khi ổn định chỗ ngồi, các thí sinh được một vị cán bộ có chức sắc vào phủ đầu ngay: "Đây là một trận chiến rất gay nếu chúng ta không diễn tập".

Vậy rồi ông nói oang oang như chẳng có gì phải lo sợ cả. Trong hội trường này có 3 dãy bàn tương ứng với 3 phòng thi, mỗi dãy có 10 bàn, mỗi bàn 3 thí sinh. Cứ mỗi bàn sẽ có một bài đưa vào và các đồng chí thay nhau chép. Rồi vị lãnh đạo phân công cho các thí sinh ngồi ở dãy bàn giáp với 3 cửa sổ cạnh bức tường bên hông hội trường chịu trách nhiệm mở cửa, có thể bỏ rèm xuống song phải để ý nhận bài giải đưa từ ngoài vào phân phát cho các dãy bàn bên trong nhưng phải cực kỳ giữ trật tự, không được gây ức chế cho giám thị.

Trong thời gian chờ đợi bài từ bên ngoài vào, các đồng chí cũng phải nháp chứ không ngồi chơi gây ồn ào mất trật tự như ong vỡ tổ là hỏng hết. Người ta nói tam sao thất bản nhưng ở đây tam sao không bao giờ thất bản. Khi các đồng chí nhận được bài giải từ ngoài đưa vào thì xé ra, người chép câu 1, người chép câu 2, người chép câu 3, chép xong đổi lại để tránh sự giống nhau đồng loạt. Trong lúc chép cũng đừng có hớ hênh quá, trong trường hợp quá lộ liễu, giám thị bắt thì các đồng chí tự chịu trách nhiệm. 

Tiếp theo đó, một thí sinh đã từng tham gia các khoá học tại chức đứng dậy phổ biến kinh nghiệm "quay bài". Theo thí sinh nam này thì không nên chép hết tất cả các câu trả lời. Mà chỉ cần chép khoảng 2/3 lời giải theo đề yêu cầu là đỗ.

Thực tế là "thi chép"

Cũng buổi sáng ngày 18.8, một vị cán bộ trong Hội đồng thi đến từ Trường Đại học Hồng Đức đã có mặt. Ông phổ biến sơ qua các nội dung quy chế của một kỳ thi cấp quốc gia và cho biết Chủ tịch Hội đồng thi này là ông Nguyễn Văn Phát - Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức nhưng do ông Phát bận công tác nên không thể có mặt. Ông cũng nghiêm cấm việc mang điện thoại vào phòng thi nhưng không phải cấm vì lý do thí sinh sử dụng để nghe đọc lời giải từ bên ngoài mà cấm vì sợ các thí sinh sẽ quay camera rồi đưa đến tay các nhà báo thì sẽ rất nguy hiểm.

Và ông cũng thừa nhận, tại kỳ thi này, không tránh khỏi những khuất tất, do vậy mới có chuyện mỗi thí sinh phải đóng đến 405 nghìn đồng. Trong đó có 150 nghìn đồng nộp về nhà trường theo quy chế. Số tiền còn lại cơ bản là để bồi dưỡng cho hội đồng thi. Từ đó, 3 buổi thi mới diễn ra một cách suông sẻ.



Người đàn ông này đang tuồn tài liệu vào phòng thi tại Trung tâm BDTT huyện Thường Xuân chiều ngày 18.8.
 
Điều lạ nữa là vào buổi chiều ngày 18.8, các thí sinh bắt đầu thi môn toán, ấy thế mà hội đồng thi vẫn chưa phát thẻ dự thi cho các thí sinh bởi còn một số thẻ hội đồng chưa kịp dán ảnh nên để đến chiều phát luôn.

Trong buổi thi môn toán chiều ngày 18.8, PV Báo Lao Động đã có mặt và chứng kiến cảnh diễn ra đúng như những gì đã được phổ biến buổi sáng. 14 giờ, các thí sinh vào phòng thi, nhận đề và đề được chuyển ra một địa điểm bí mật để giải. Sau đó bài giải được đưa đi photocopy thành nhiều bản mang vào cung cấp cho các thí sinh chép. Đúng 15 giờ 15 phút, một người đàn ông trạc ngoài 30 tuổi cầm tập bài giải đi vòng ra phía sau - nơi có 3 khung cửa sổ đang mở rộng, ngó nghiêng rồi gọi người nhận và đút tài liệu vào, anh chàng còn nói "chia cho mỗi bàn một tờ nhé".

Tưởng như vậy là hết, anh đi quay ra và có một người đàn ông khác mặc áo may ô tiếp tục đưa cho anh một tập bài giải nữa để anh này tuồn vào bên trong phòng thi. Theo thông báo từ buổi sáng thì sẽ có 3 bảo vệ làm nhiệm vụ nhưng thực tế chúng tôi đã không nhìn thấy một bảo vệ nào ra ngăn cản việc làm sai trái trên của 2 người đàn ông đưa bài vào phòng thi.

Qua tìm hiểu được biết, suốt 3 buổi thi đã không có bất cứ một sự cố nào xảy ra, không có một thí sinh nào bị lập biên bản. Đây là một kỳ tuyển sinh chứa đựng nhiều gian dối. Đề nghị cơ quan chức năng tỉnh Thanh Hoá vào cuộc làm rõ những việc làm sai trái tại Hội đồng thi tuyển sinh đại học nông học - hệ tại chức tại Trung tâm BDTT huyện Thường Xuân ngày 18-19.8 vừa qua. 


[/align]Công Tâm
[/align][/align][/align]


http://www.laodong.com.vn/Home/xahoi/giaoduc/2007/8/51679.laodong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-24 17:14:35Ngọc Lý>
Nhìn lại giáo dục đại học Việt Nam hậu WTO 
Giáo Sư Tiến Sĩ Khoa Học Nguyễn Đăng Hưng   
Tháng 3/2007

http://www.cynosura.org/content/view/74/79/
 

Cuối cùng thì Việt Nam cũng hoà nhập với thế giới, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức mậu dịch quốc tế (WTO), bước lên thuyền có động cơ để đi ra biển lớn của xu thế toàn cầu hoá. Đây là một thành quả đáng khích lệ về những nỗ lực kiên trì không mệt mõi của chính phủ Việt Nam qua những cuộc bàn thảo song phương và đa phương kéo dài 11 năm nay. Đây là bước ngoặt quyết định của công cuộc đổi mới, món quà quí báu nhất cho toàn thể dân tộc Việt Nam trong những ngày chuẩn bị bước sang năm mới 2007. 

Khung cảnh cạnh tranh toàn cầu sẽ thúc đẩy các chủ trương sửa đổi, cải tổ mà Việt nam đang rất cần. Hướng đi đã rõ, dân tộc Việt nam, vốn thông minh quả cảm, sẽ vượt qua được những thử thách mới để vươn lên chung vai sát cánh cùng thế giới. Đó là những cơ hội, nhưng  chúng ta cũng phải đương đầu với những khó khăn nhất định và những khó khăn này sẽ ngày càng trở nên bức thiết.






__________________________________________________________________________
Mặc dù là một nhà khoa học vật lý ứng dụng nổi tiếng, với nhiều người Việt, Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng được biết đến như là một Việt kiều đi tiên phong trong các họat động hỗ trợ Việt Nam phát triển Khoa học và Công nghệ. Ngay sau khi thống nhất đất nước (1976) ông đã có những bài giảng về chuyên môn tại các trường Đại học ở Việt Nam. Ông là người sáng lập và điều hành nhiều chương trình hợp tác đào tạo sau đại học giữa các trường đại học Bỉ và Việt Nam. Ông đã nhận được nhiều danh hiệu cao quí của Bỉ cho những cống hiến của ông cho khoa học. Những đóng góp của ông cho nhân dân Việt Nam cũng được công nhận với nhiều bằng khen và huân/huy chương. Ông cũng là một nhân vật tiêu biểu được tặng danh hiệu “Vinh danh Đất Việt” năm 2004. Trong một e-mail trao đổi với OVREN, GS Nguyễn Đăng Hưng cho biết ông đã quyết định sẽ dành trọn phần còn lại của cuộc đời để làm những việc mà ông cho rằng sẽ thúc đẩy khoa học vào giáo dục tại Việt Nam.

[/align][/align]________________________________________________________________________


[/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align]
Đặc biệt, trong ký kết, giáo dục đào tạo được coi là một dịch vụ. Các tổ chức, cơ cấu quốc tế có thể ký kết hợp đồng với các tổ chức Việt nam về tổ chức giảng dạy và đào tạo những lĩnh vực cho phép như khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ… Đây là những lĩnh vực chủ đạo mà đất nước phải có nhiều nỗ lực để tiến lên. Bản cam kết cũng nói rằng, sau 2008 các tổ chức quốc tế có thể đến Việt nam đặt cơ sở về giáo dục đào tạo với vốn 100%. Đến lúc đó dịch vụ giáo dục đào tạo Việt nam coi như toàn diện mở cửa.

Trước bối cảnh toàn cầu hoá như vậy ta nên ứng xử thế nào? Ta biết toàn cầu hoá là quá trình không cưỡng lại được. Ngay cả những nước tiên tiến nhất cũng có mất mát vì công việc làm và tiền đầu tư bị chuyển đi chỗ khác, và có thể, họ sẽ bị những hậu quả xã hội nhất định. Đối với một nước trên đường phát triển như nuớc Việt Nam, chúng ta cũng phải chuẩn bị để những hậu quả được giảm thiểu. Đây chính là cái giá phải trả cho việc toàn cầu hoá. Một câu hỏi thường được đặt ra: Chúng ta đã chuẩn bị thế nào, nỗ lực làm sao để thích ứng thực tại mới này?

Chúng ta đang đứng ở đâu?

Tại Việt Nam, tôi cho rằng trong tất cả lĩnh vực dịch vụ thì lĩnh vực giáo dục đào tạo ta sẽ phải khởi đầu như một đối tác khó có thể yếu hơn. Và có lẽ công việc chuẩn bị của Việt Nam trong lĩnh vực này cũng là kém nhất. Ngay từ ngày ký kết chúng ta đã không có được 50% thị phần. Chúng ta không có gì để xuất khẩu trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Thật vậy, chúng ta có gì đâu để trình làng, để có cơ may vươn ra thế giới? Trừ một ít sinh viên Lào, trừ vài ba sinh viên quốc tế đến Việt Nam học tiếng Việt hay nghiên cứu văn hoá Việt Nam, thử hỏi thành phần học sinh, sinh viên nào sẽ đông đảo qua Việt Nam du học trong tình trạng giaó dục rất tụt hậu hiện nay? Cũng nên đặt câu hỏi có mấy giáo sư Việt Nam được quốc tế mời đi thỉnh giảng?

Thế vậy 50% còn lại là gì? Đó là thị trường Việt nam. Làm gì để giữ chân được con em mình học tập ngay tại đất nước mình. Phải nói, trải dài qua mấy thập kỷ, chúng ta liên tục đi chệch hướng để ngày nay dẫn đến tình trạng cùng cực nhất. Người dân Việt Nam đã mất hết niềm tin vào hệ thống giáo dục Việt Nam. Con em những gia đình khá giả, những gia đình trí thức, những gia đình quan chức đổ xô đi học ở nước ngoài.  Một nguồn vốn lớn lẽ ra rất cần cho việc đầu tư cho ngành giáo dục lại chạy tụt khỏi tầm tay !

Vậy chúng ta phải làm gì?


Vấn đề là phải bắt đúng mạch, đoán đúng bệnh mới có cơ may chữa trị!

Trước hết theo tôi nền giáo dục cần phải nỗ lực hết mình để lấy lại lòng tin của nhân dân. Làm thế nào để tài sản trí tuệ không chảy ra xứ người mà giữ lại Việt nam để củng cố các cơ sở đào tạo hiện có. Ta phải bình tâm nhận định rõ ràng hơn, từ đâu mà giáo dục Việt nam lại tụt hậu trầm trọng và chệch hướng như hôm nay? Theo tôi, nguyên nhân sâu sắc nhất là ở tư duy giáo dục của ta có những sai lầm mãn tính, những căn bịnh trầm kha từ nhiều thập kỷ. Cơ chế giáo dục của ta quá cũ kỷ, còng kềnh, một mãng lớn của bộ phận nhân sự quản lý không có tầm mà cũng chẳng có tâm.

Chúng ta đề cao thành tích, đề cao bằng cấp nhưng lại quên mất truyền thống “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Hệ thống tổ chức quản lý giáo dục lại tạo ra những kẽ hở, những hướng đi, những cách giải quyết không giống ai để thực học càng ngày càng tàn lụi và học ảo càng ngày càng lấn át.

Chúng ta chưa chấp nhận cơ chế mềm đầu vào và cứng đầu ra. Một mặt tổ chức thi cử quá cứng nhắc, quá phức tạp ở đầu vào, mặt khác lại không đảm bảo được chất lượng đào tạo ở đầu ra. Chúng ta chưa ý thức hay cố tình lờ đi cốt lõi của vấn đề: cấp bằng cho người không đạt trình độ là cố ý làm tác hại đến tương lai xã hội…
Phong cách, lề lối quản lý giáo dục còn quá lạc hậu. Thói ôm đồm, gom tóm, thu vén đã thâm nhập sâu đậm vào các cấp, trước hết tại cơ quan đầu ngành: Bộ giáo dục và đào tạo.  Tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” đã vô hiệu hoá các cơ chế thanh tra. Bộ muốn nắm hết quyền, nhưng bộ không thực thi có hiệu quả quyền hành của mình và trên thực tế, Bộ đã tạo điều kiện cho những đường giây tiêu cực thoải mái hoành hành như báo chí những tháng qua đã đề cập đến, và đưa ra những bằng chứng không chối cải được!

Nên chấm dứt những hệ đào tạo mà ta khó kiểm soát và chủ động tổ chức đánh giá đúng chất lượng

Hệ thống giáo dục của ta rất tràn lan, không giống ai. Từ một hệ chính quy ta lại thêm một hệ tại chức, rồi chuyên tu, rồi nhiều thứ khác, rất lung tung… Tại Việt Nam từ nhiều năm ta đã cấp bằng tương đương với người học chính quy cho những người học tại chức. Như thế thì có khác gì ta đã tự ta phá ta. Không chấm dứt những sai lầm nội tại này thì làm sao có thể vươn lên được? Tôi đã nhiều lần phát biểu là các hệ lung tung đã vô tình hay hữu ý biến những người thầy giáo thành người đi bán bằng, người đi học thành người đi mua bằng! Tôi rất vui là gần đây việc này đã được Quốc Hội quan tâm. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã phát biểu là chưa nên đụng tới vì đây là nồi cơm của các trường đại học, có nhiều trường đại học thu qua hệ tại chức có được đến 90% tiền doanh thu! Nhưng theo tôi, thứ nhất, nồi cơm của các trường phải có cách giải quyết riêng chứ không thể để như thế được. Thứ hai, tôi đồng ý với ký giả Hà Thạch Hản trên báo Tuổi Trẻ là nồi cơm của dân tộc phải quan trọng hơn nồi cơm của các trường. Một thực tế đang tồn tại là hệ tại chức đã đào tạo ra những người có bằng thực mà học giả. Điều này ngoài những tác hại đã nói ở trên, còn làm cho nhuệ khí của các con em đi học bị sa sút. Và như thế, vô tình chính sách nhà nuớc không khuyến khích tuổi trẻ học hành tử tế, đề cao thực học. Từ đó đẩy tới xu hướng giả dối.

Xin minh định rõ là tôi đồng ý là phải duy trì giáo dục thường xuyên vì đó là nhu cầu của xã hội của một bộ phận đáng quý của nhân dân. Hệ giáo dục thường xuyên luôn luôn có mặt tại các nước phát triển. Nhưng nó không đồng nghĩa với việc cấp bằng tương đương với hệ chánh quy mà trên thực tế thời gian theo học cũng như chương trình đào tạo không thể so sánh được. Để khuyến khích việc bổ túc hiểu biết thường xuyên cho mọi lứa tuổi, cho những nguời có thiện chí trau dồi kiến thức hay chuyên môn, chỉ nên cấp chứng chỉ. Còn bằng cấp thực thụ thì chỉ nên dành cho những ai có trình độ, đạt tiêu chuẩn mà thôi. Cả nước cần trở về một hệ giáo dục duy nhất: hệ chính quy. Bãi bỏ hệ tại chức sẽ chấm dứt được thãm trạng bán bằng, mua bằng, học giả bằng thật, chạy đua theo bằng cấp, kiếm bằng để giữ ghế…

Ta không thể nói không với tiêu cực cùng một lúc đứng ra chánh thức tổ chức một hệ đào tạo từ đó phát sinh ra cái nôi của tiêu cực trong học vấn thi cử!

Đổi mới tư duy dạy học


Trong cơ chế giáo dục, chúng ta đang nhầm lẫn giữa giáo dục và tuyên truyền. Giáo dục phải toàn hoàn khách quan và phải tôn trọng thói quen thảo luận, trao đổi, khuyến khích tinh thần tự nghiên cứu, khai phá, của người học. Phải dứt khoát đoạn tuyệt với lề lối giáo dục áp đặt và nhồi nhét hiện nay. Chúng ta đã thấy rất nhiều những hậu quả không lường, những phản ứng ngược của tuổi trẻ hôm nay: kết quả các cuộc thi toàn quốc những năm gần đây về các môn sử và văn… Cho nên cần cải tiến phương thức giảng dạy để làm sao có sự tham gia suy nghĩ, tự học của các đối tượng, tạo tinh thần dân chủ giữa thầy và trò để cho học sinh thói quen bảo vệ ý kiến của mình trước đám đông. Tuổi trẻ cần có bản lĩnh, có tự tin mới thành công trong hoà nhập và cạnh tranh trong xu thế toàn cầu. Phải đào tạo cho được ngoài khả năng chuyên môn còn phải có khả năng sáng tạo, khả năng phản biện, khả năng giao tiếp, khả năng sinh hoạt nhóm… Ngoài ra, phương thức giảng dạy phải sinh động và chân thực, không tuyên truyền một chiều, mà phải khách quan vô tư. Ngay cả bức tranh hiện thực cũng cần phải có cả bóng tối và ánh sáng. Nhưng với tuổi trẻ cũng cần phải có những bức tranh khác, những bức tranh lãng mạn, những bức tranh ấn tượng và siêu thực, những giấc mơ, những hoài bảo…Giáo dục chân chính là tạo điều kiện để tuổi trẻ có kiến thức chân thực, có tự do chọn lựa, có thông tin đa chiều…

Hội nhập vào nền kinh tế tri thức


Khi gia nhập WTO thì thế mạnh của Việt nam là phát triển lên mức cao hơn, nền kinh tế thị trường. Nhưng hiện nay hàng hoá  ta xuất cảng ra thế giới, thặng dư về trí tuệ gần như ta chưa có gì cả. Lẽ ra một nước mà truyền thống hiếu học của người dân đã ngấm sâu vào huyết quản từ ngàn xưa thì thặng dư trí tuệ phải là thế mạnh. Buồn thay, chúng ta chưa tạo tiền đề để khai thác cơ may này. Phải ý thức đây chính là tiềm lực quý hiếm để hội nhập vào nền kinh tế tri thức. Tiềm lực này chưa được khai thác đúng mức!

Kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy


Một việc cần làm ngay trong hệ thống giáo dục Đại học, đặc biệt tại các trường khoa học công nghệ trọng điểm là kết hợp nghiên cứu với giảng dạy. Những người làm nghiên cứu nên tham gia giảng dạy để bớt giờ các thầy ở các trường. Các thầy ở các trường chạy sô nhiều quá nên không có thì giờ để nghiên cứu. Kết hợp các trung tâm nghiên cứu với các trường đại học. Trừ những trung tâm nghiên cứu có tính chất chiến lược đối với quốc gia, những trung tâm khác có thể sát nhập vào các trường để các trường chủ động được, để những kết quả nghiên cứu có chất lượng được truyền bá cho sinh viên thông qua bài giảng, hoặc seminar. Những người làm nghiên cứu có hiệu quả mà không phổ biến được cho những người đi sau những thành quả đạt được thì quả là phí phạm. Ngược lại, các giáo sư giảng dạy không có thì giờ nghiên cứu sẽ dẫn đến chất lượng bài giảng xuống cấp. Thông thường ở các nước phát triển cứ 3 năm là thay đổi giáo trình vì công nghệ, khoa học phát triển như vũ bão, trong khi đó giáo trình của ta hơn 30 năm nay không đổi!

Để nâng cao chất lượng giáo dục phải có yếu tố quốc tế

Muốn có chất lượng giáo dục tốt thì phải quốc tế hoá các hệ giá trị ở Đại học. Các luận án tiến sỹ ít nhất phải có mặt một giáo sư quốc tế trong hội đồng chấm luận án. Nếu người chấm luận án đó không về nước được thì cũng phải thẩm định được bằng cách gửi luận văn qua internet để họ thẩm định rồi gởi về. Và ít nhất cũng phải có hai giáo sư tham gia hội đồng chấm luận án không phải xuất phát từ trường của nghiên cứu sinh để bảo đảm tính khách quan. Đồng thời, luận án đó phải được công bố trước và sau khi trình để mọi người cho ý kiến. Như vậy, hể có quay cóp thì sẽ phát hiện nhanh chóng. Việc quốc tế hoá này nên dựa vào nguồn nhân lực Việt kiều. Giới trí thức Việt kiều mong có sự tín nhiệm để làm việc. Tôi nghĩ là Việt kiều đang tham gia giảng dạy ở đông đảo các trường đại học trên thế giới sẽ sẵn sàng tham gia vào công việc này nếu có được một cơ chế vừa hợp lý vừa thông thoáng. Chúng ta cũng cần quốc tế hoá hội đồng tuyển chọn Giáo sư. Không cần phải ở cấp Bộ, cấp các trường Đai học vẫn có thể trực tiếp tuyển chọn giáo sư. Vấn đề là phải công khai quá trình tuyển chọn. Hồ sơ các ứng viên phải được công bố và việc xếp hạng các ứng viên phải dành cho cơ sở bao gồm những nhà chuyên môn của lĩnh vực. Hội đồng tuyển chọn cũng phải có mặt những nhà khoa học được quốc tế công nhận. Dĩ nhiên là tiêu chuẩn tuyển chọn phải khách quan và minh bạch.

Nhận thức về tính đẳng cấp quốc tế sẽ rất sai lầm khi cho rằng chỉ cần mang giáo trình của MIT, Havard về rồi dùng để đào tạo là xong. Thú thật tôi rất buồn khi đọc trên báo chí đâu đó cách nhìn này. Nó quá hạn hẹp và cục bộ. Những gì thuộc về đẳng cấp thì không thể học lõm được. Càng không thể lấy bài giảng của người khác làm của mình khi mình không can qua nghiên cứu khoa học thực thụ. Một giáo sư có đẳng cấp quốc tế  thường viết ra giáo trình sau khi bõ ra hàng chục năm nghiên cứu miệt mài trong ngành đó, có thời gian dài hạn cọ xát với mãng khoa học tiên tiến ấy. Đào tạo đẳng cấp thì phải có người đẳng cấp dạy. Các trường ĐH có đẳng cấp quốc tế họ tìm mọi cách để câu cho được giáo sư đẳng cấp về dạy. Đẳng cấp của họ được đánh giá thông qua quá trình nghiên cứu, số công trình đã công bố quốc tế và qua ảnh hưởng khoa học của giáo sư đó.

        Để có được khoa học công nghệ có đẳng cấp quốc tế, ta phải bắt trúng người, phải tìm cho được những đầu tàu như thế. Trung Quốc và Singapore làm rất tốt điều này.

Và muốn thẩm định đẳng cấp của một trường, phải chờ 10 đến 20 năm sau. Phải chờ xem khi sinh viên ra trường họ có tiếp tục nghiên cứu khoa học không, họ công bố các bài báo quốc tế trên báo nào, họ vào công ty, xí nghiệp làm những công việc gì?…

Để hội nhập vào sân chơi giáo dục toàn cầu cần thu hút chất xám Việt kiều

Sức mạnh của dân tộc Việt nam là ở nhân dân Việt nam. Trong thời kháng chiến chúng ta thấy rõ, nhưng trong thời bình chúng ta lại chưa phát huy có hiệu quả. Các hoạt động phải phong phú hơn nữa để khai thác các tiềm lực của dân tộc Việt nam. Chúng ta phải mở rộng tổ chức hội dân sự để xã hội Việt nam hoà nhập với quốc tế. Con người Việt nam rất sáng kiến, con người Việt nam rất năng động, cần cù và thông minh, nhưng phải có đất dụng võ. Chúng ta phải biết đề bạt người tài ba đúng chỗ. Chúng ta phải đổi mới tư duy về quản lý con người chứ không nên chỉ dựa vào lý lịch, hành chánh. Đừng quên khi chúng ta vào WTO là chúng ta vào sân chơi của thế giới tư bản. Nhưng đây không phải là tư bản hoang dã nữa, mà là tư bản có điều tiết, có tính xã hội. Bởi vậy mới có khái niệm và xu huớng ổn định chính trị, phát triển bền vững.

Phải tin tưởng vào Việt kiều. Chúng ta thấy rằng, không một dân tộc nào có tấm lòng yêu nước nồng nàn như dân tộc Việt. Chúng ta cũng phải chọn lựa Việt kiều theo những tiêu chuẩn đánh giá về năng lực. Chúng ta phải thu hút cho được những Việt kiều có năng lực. Nhưng thông thường những người thuộc loại này lại không có nhiều thì giờ. Vì vậy nên thu hút những Việt kiều có trình độ nhưng sắp về hưu. Chúng ta muốn so đo trong thị trường quốc tế ngày nay thì phải có yếu tố quốc tế vào trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là đào tạo tiến sỹ, đào tạo thầy, xây dựng những trường trọng điểm. Chúng ta phải quốc tế hoá mạnh mẽ. Cách đi nhanh nhất là vận dụng một lợi thế vô cùng to lớn là chất xám Việt kiều. Phải nói là Việt Nam vẫn chưa có chính sách hợp lý và hữu hiệu để thu hút nguồn chất xám Việt kiều. Kỳ vọng phát xuất từ nghị quyết 36 của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn là kỳ vọng trên những trang giấy.

Tổ công tác về xây dựng một trường ĐH đẳng cấp tại Việt Nam, không có bóng dáng một thành viên Việt kiều, nay đã giải thể. Tân bộ trưởng Bộ GD&ĐT đang năng nổ tổ chức lại. Tôi hy vọng rằng lần này, thiếu sót ấy sẽ không xảy ra nữa.

Văn hào Miguel Angel Asturias (người Guatemala, giải Lénine năm 1966, giải Nobel năm 1967) có lần đã nói: “Tôi sáng tạo vì tôi có lòng tin, người có lòng tin mới có sáng tạo”. Đổi mới là một sáng tạo của Việt Nam, tiếp tục đổi mới, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cần nhiều lòng tin ở con người Việt Nam, trong ấy có người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài.


GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư danh dự trường ĐH Liège, Bỉ

(ngày 9/1/2007)



http://www.cynosura.org/content/view/74/79/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-27 03:03:44Ngọc Lý>
"Xã hội hoá" giáo dục
— Hoàng Tuỵ — Cập nhật : 21/08/2007 14:50

 
[/align][/align][/align]Bài dưới đây của giáo sư Hoàng Tuỵ đã được hai tờ báo trong nước đăng lại : tờ Người Lao Động số ra ngày 14.8.2007 (mà Zidol đã giới thiệu), và tờ Tia Sáng ngày 20.8.2007. Nhưng bài viết bị cắt khá nhiều : khoảng 1/3 trên Người Lao Động, ít hơn trên Tia Sáng. Diễn Đàn cám ơn tác giả đã gửi cho nguyên bản và cho phép đăng lại.

 
Xã hội hóa hay là
đẩy gánh nặng cho dân ?
Hoàng Tụy


Sắp bước vào năm học mới, trong khi cả xã hội chưa hết bàng hoàng về kết quả thấp của kỳ thi THPT nghiêm túc đầu tiên, thì nhiều gia đình đang nháo nhác lo âu chuyện học phí rục rịch tăng. Hai việc như cộng hưởng để gây bức xúc lớn: chất lượng thấp đi đôi với học phí ngày càng cao, thật khó thông cảm. Tuy ai cũng biết những khó khăn của ngành giáo dục, nhưng có lẽ cơ quan quản lý giáo dục cũng cần hiểu rõ hơn những khó khăn của dân, nhất là vào lúc đời sống còn nhiều mặt bất an như mấy tháng gần đây.

Qua báo chí có thể thấy rõ phản ứng không mấy thuận lợi của số đông người dân đối với chủ trương tăng học phí. Số là từ mấy năm nay, theo quan điểm “thị trường là tất cả”, lý luận “giáo dục là hàng hóa” đã du nhập vào nước ta và được sử dụng để biện minh cho chủ trương “xã hội hóa” mà nội dung được hiểu rất tùy tiện, như GS Bùi Trọng Liễu đã phân tích trong bài [1]. Lý do đưa ra để tăng học phí là vì kinh phí nhà nước cấp cho giáo dục quá thấp, lương thầy cô giáo không đủ sống, nếu cứ giữ học phí ở mức hiện nay thì chất lượng giáo dục khó có thể cải thiện. Mới thoạt nghe tưởng có lý nhưng suy xét kỹ hơn, đó là cái lý thiếu trách nhiệm muôn thuở của cơ quan quản lý. Không đi sâu vào lý luận có nên xem giáo dục là hàng hóa không, và điều đó hàm nghĩa gì, có hệ lụy gì đến trách nhiệm của Nhà Nước đối với quốc sách hàng đầu này, tôi chỉ xin nêu lên mấy sự việc sau, mong các cơ quan hữu trách cân nhắc để có thái độ thận trọng trước một vấn đề mà ý nghĩa có thể vượt quá tác động trực tiếp của nó đến đời sống người dân.

1. Phải chăng vì thiếu tiền nên chất lượng giáo dục sút kém, do đó cần tăng học phí để nâng cao chất lượng giáo dục ? 

Rõ ràng tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích dỏm, làm láo báo cáo hay, học sinh ngồi nhầm lớp, giáo viên đứng nhầm lớp, vi phạm đạo đức nghề thầy, chương trình, sách giáo khoa sai sót nhiều, không ổn định, dạy thêm học thêm tràn lan, chạy trường, chạy lớp, học giả bằng thật, v.v... đều không phải do thiếu tiền. Vừa qua bệnh tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích đã được khắc phục một bước, đâu phải nhờ ngành giáo dục đã được cấp thêm kinh phí ? Có ý kiến cho rằng Nhà Nước hiện chi cho giáo dục 20% ngân sách, nhưng giả dụ có tăng lên đến 25% thì cũng không chắc giải quyết nổi những vấn đề bức xúc của giáo dục. Đúng vậy, chỉ xin nói thêm: giả dụ có tăng lên 30-40% ngân sách và tăng học phí nhiều, nhiều lần nữa, cũng chẳng có tác dụng gì nhiều nếu không thay đổi phong cách làm giáo dục. Vì sao ? vì chất lượng giáo dục kém hoàn toàn không phải do thiếu tiền. Từ 1998 đến 2007, đầu tư của Nhà Nước cho giáo dục tăng gấp 6 lần (từ 11.754 tỉ lên 67.000 tỉ), chưa kể tiền vay của nước ngoài 1,1 tỉ USD, trong khi đó số lượng học sinh, sinh viên không tăng bao nhiêu. Cho nên không thể viện cớ khung học phí 10 năm nay không thay đổi để biện minh cho đề nghị tăng học phí. Căn bệnh trầm kha của giáo dục không thể chữa trị nếu chỉ lo tăng đầu tư và phần đóng góp của người học.


2. Phải chăng cần tăng học phí để tăng lương cho giáo viên đủ sống ? 


Chỉ cần phân tích số liệu thực tế một cách khách quan cũng đủ rút ra kết luận (xem chẳng hạn [2] và [3]): gộp cả phần ngân sách chi cho lương và các khỏan thu nhập khác của giáo chức với tiền đóng góp của dân qua học phí đủ loại, thì lương trung bình thầy cô giáo phổ thông phải gấp 3-4 lần lương chính thức. Điều cực kỳ phi lý đó của cơ chế sử dụng tài chính công chính là thủ phạm số một của tệ nạn tham nhũng đang hoành hành trong bộ máy hành chính của chúng ta, và riêng trong ngành giáo dục, nó cũng là thủ phạm số một của mọi sự tiêu cực, khuất tất ở đây. Theo nhận định chung, trên cơ sở các kết quả điều tra thực tế, hiện nay thu nhập của phần đông giáo chức đã đủ sống tương đối, đã có không ít giáo viên ở thành phố có thu nhập trên dưới 10 triệu đồng/tháng, thậm chí cá biệt vài chục triệu đồng/tháng. Vậy vấn đề cấp bách không phải ở chỗ lương thấp mà ở chỗ: lương chỉ là một phần nhỏ thu nhập, mà thu nhập này thì không phụ thuộc nhiệm vụ chính, lại được phân phối khá tùy tiện, gây ra nhiều bất công, và hơn nữa, khiến quan chức ngày càng quan liêu, còn thầy cô giáo thì luôn đầu tắt mặt tối để làm những việc ngoài trách nhiệm trực tiếp. Sao không tìm cách xóa bỏ cái nghịch lý trơ trẽn đó trên cơ sở chấn chỉnh cơ chế tài chính cho minh bạch, công bằng, và giảm thiểu tối đa những chi tiêu lãng phí đang làm thất thóat biết bao tài sản ? Đó mới thật là giải pháp căn cơ để tiến đến đồng lương công bằng cho giáo viên, tuy giải pháp này khó thực hiện, song không khó vì bản chất bất khả thi mà chỉ khó vì đụng chạm tới lợi ích của những nhóm người đã quen được ưu đãi bởi cơ chế tài chính thiếu công bằng và thiếu minh bạch đã tồn tại lâu nay.


3. Phải chăng chỉ cần có chính sách học bổng thích hợp thì tăng học phí vẫn bảo đảm cho người nghèo đi học được ?


Trước hết cấp học phổ cập phải hoàn toàn miễn phí, còn các cấp học khác, nếu bắt buộc phải tăng học phí thì tối thiểu cũng cần có chính sách học bổng cho người nghèo, đồng thời học phí không thể đồng loạt, mà cần có phân biệt theo vùng, miền. Lý thuyết thì vậy, song khi nhìn vào thực trạng bộ máy hành chính mà tình trạng quan liêu, tham nhũng từ nhiều năm rồi chưa được cải thiện nhiều, ai dám chắc sẽ không xảy ra điều trái ngược: người giàu hay có quyền chức lại chạy được học bổng, hoặc trả học phí thấp, còn người nghèo không trả nổi học phí, có khi đành bỏ học. Có thể những trường hợp oái ăm như thế không đến nỗi là đa số, nhưng ai dám khẳng định không nhiều, không phổ biến, và dù cho chỉ là số ít thì Nhà Nước có thể dửng dưng được chăng ?

Thật ra kinh nghiệm thực tế không cho phép ta hy vọng quá nhiều ở chính sách học bổng. Mặc dù chính sách ấy đã có từ lâu, song mấy năm gần đây số học sinh tiểu học giảm (từ 9,7 triệu năm 2000 còn 7,8 triệu năm 2004) trong khi dân số vẫn tăng có thể là do có nhiều học sinh bỏ học. Học phí chưa tăng mà còn như thế thì tới đây nếu học phí tăng lên tình hình sẽ ra sao ? Theo tính toán của TS Vũ Quang Việt [3] có thể dự đoán bức tranh rất ảm đạm nếu học phí đổ đồng tăng từ 66 nghìn lên 200 nghìn/tháng. Đến mức đó người dân sẽ tự hỏi mục tiêu của chính sách giáo dục là vì ai ? Nếu chúng ta nhớ rằng ngoài học phí, còn có bao nhiêu khoản phí khác về sách vở, về học thêm, nếu không chi thì cơ hội học được trường tốt, và lọt được vào cấp học cao hơn rất mong manh, thì mới thấy hết sự bất công còn tồn tại trong nền giáo dục của chúng ta.


4. Phải chăng do Nhà Nước không thể bao cấp hết cho giáo dục, nên phải đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tăng cường huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục trong đó có việc tăng học phí ? 

Ngay ở các nước giàu OECD, phần đóng góp của dân cho giáo dục cũng chỉ quanh quẩn 20%, trong khi ở nước ta tỉ lệ ấy đã vượt 40%, thế vẫn chưa đủ sao ? Có người còn cho rằng quan niệm giáo dục là hàng hóa đã chiếm ưu thế trên thế giới, ta không nên né tránh thị trường giáo dục, mà phải trả giáo dục về cho xã hội. Trong thực tiễn quản lý giáo dục điều đó thường dẫn đến giảm thiểu trách nhiệm của Nhà Nước và trút hết gánh nặng tài chính về giáo dục cho dân. Thật là trớ trêu, trong lúc hàng trăm doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ gây nên những món nợ khổng lồ không biết bao giờ mới thanh toán nổi, mà các tổng giám đốc vẫn điềm nhiên hưởng lương mấy chục triệu đồng/tháng, thì ngành giáo dục lại đang bàn tính chuyện tăng học phí, cổ phần hóa đại học công, khuyến khích tư nhân góp vốn kinh doanh giáo dục lấy lãi, lấy cớ hội nhập xu thế quốc tế. Trong khi đó, ở các nước văn minh, những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải đóng cửa, và tuyệt đại đa số đại học tư đều vô vị lợi, thảng hoặc có vài cái vị lợi thì chẳng có chút uy tín gì.

Tuy nhiên điều quan trọng nhất không phải ở đó. Không sa vào tranh cãi lý thuyết, tôi chỉ suy nghĩ đơn giản thế này: tham nhũng, lãng phí, quan liêu từ hàng chục năm nay chưa giảm, thậm chí còn có mặt trầm trọng hơn, đời sống người dân đang còn bao chuyện bất an như tai nạn giao thông luôn rình rập, thực phẩm thiếu an toàn, y tế nhiều sự cố, vật giá leo thang chóng mặt, dịch bệnh gia súc phát triển, mà chính lúc này lại tăng học phí, lấy cớ Nhà Nước không đủ tiền lo cho giáo dục, thì quả tình không ổn, lòng dân thêm bất an.

Nói cho cùng, một chính quyền vì dân nhiều hay ít chủ yếu phải thể hiện ở mấy mặt: 1) trong sạch, ít tham nhũng; 2) thân thiện với dân, không hành dân; 3) bảo đảm cho dân các quyền dân chủ trong đó có quyền được học hành. Xin kiến nghị Chính Phủ mới và Quốc Hội mới cho tạm dừng đề án tăng học phí, để giảm bớt lo lắng cho các gia đình lao động.
 

Hoàng Tuỵ

Các tài liệu đã dẫn :
[1]  Bùi Trọng Liễu : Những kỳ dị đằng sau cụm từ “xã hội hoá giáo dục”.
[2] Vũ Quang Việt : Chi tiêu cho giáo duc: những con số giật mình,
[3] Vũ Quang Việt : Tăng học phí: bao nhiêu học sinh bỏ học ? 
 






Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
[email=diendan@diendan.org]diendan@diendan.org[/email]
 
http://www.diendan.org/viet-nam/xa-hoi-hoa-giao-duc/
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-28 05:00:38Ngọc Lý>
Những kỳ dị đằng sau cụm từ "xã hội hóa" giáo dục
Giáo Sư Bùi Trọng Liễu
18:47' 22/07/2007 (GMT+7)



(VietNamNet) - "Tôi ngạc nhiên khi thấy xuất hiện cụm từ “xã hội hóa” ở Việt Nam ta – có lẽ là xuất hiện từ khoảng mươi năm nay, và càng ngày càng bị sử dụng một cách thản nhiên theo nghĩa ngược lại".
Ông Bùi Trọng Liễu - Nguyên giáo sư Đại học (Paris, Pháp) cho biết như vậy trong bài viết gửi tới VietNamNet từ những câu chuyện "xã hội hóa giáo dục" đang được nhắc nhiều trong thời gian gần đây. Dưới đây là bài viết của ông.
[/align]
 


Một lớp học ở trường THCS Láng Thượng, Hà Nội
 
Ở các nước phương Tây, dù là người cộng sản hay không, cụm từ “xã hội hóa” (tiếng Pháp là socialisation, từ ngữ mà tôi quen thuộc) từ trước tới nay, vẫn thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển [của nhà nước] nhân danh xã hội”, v.v. Tôi nghĩ rằng các ngôn ngữ nước khác, qua từ điển, thấy cũng có nghĩa tương đương.
 
[/align]Cho nên tôi ngạc nhiên khi thấy xuất hiện cụm từ “xã hội hóa” ở Việt Nam ta – có lẽ là xuất hiện từ khoảng mươi năm nay, và càng ngày càng bị sử dụng một cách thản nhiên theo nghĩa ngược lại – theo nghĩa đẩy gánh nặng tài chính lên vai người công dân , và trao cho tư nhân đảm nhiệm một số lĩnh vực thuộc bổn phận nhà nước phải quản lý, đặc biệt là giáo dục đào tạo.

Theo tôi biết, ở các nước tiên tiến hay không, sự tham gia của người công dân vào lĩnh vực giáo dục đào tạo này được thể hiện qua sự hiện diện trong các hội đồng quản trị hay tư vấn, của các phụ huynh học sinh, của các công đoàn, của đại diện xã hội dân sự, vv. và nói chung qua tiếng nói của dư luận, chủ yếu là để góp ý về chiến lược, về hướng phát triển, đề nghị những giải pháp phù hợp cũng như để tố cáo những bất cập.

Ở những nước đó, tôi không hề thấy có sự cưỡng bức nào ghi trong hiến pháp (thí dụ như cuỡng bức học hết tiểu học, hay học đến tuổi 16, v.v....) mà lại gắn liền với sự cưỡng bức gia đình người học phải đóng học phí, nhất là học phí cao. Nếu có, thì thật là một sự kỳ dị, vì người dân phải đóng thuế, vậy thì thuế đó dùng để làm gì? Nếu quả là mức thu nhập của người dân đất nước đó chưa đủ cho phép có phương tiện vật chất để bảo đảm những mục tiêu “cao” trong việc học hành , vv. thì họ cũng đủ lương thiện để  “liệu cơm mà gắp mắm”, và không đưa vào hiến pháp những điều mà rốt cục nhà nước của họ không thực hiện được.

Ai cũng ước mơ có một nền giáo dục đào tạo với chất lượng tốt. Và tất nhiên, chất lượng tốt đòi hỏi những phương tiện về nhân sự và về vật chất, với một giá phải trả. Nhà nước thay mặt xã hội để điều hành, quản lý công việc của đất nước, bảo đảm cuộc sống của toàn dân.

“Công bằng”, “bình đẳng” trong việc học hành, không có nghĩa là ai ai cũng phải có bằng cấp cao, mà có nghĩa là : giàu nghèo sang hèn, ai có trình độ thì học cao, ai không có trình độ thì học vừa đủ, theo số chỗ mà phương tiện của đất nước có thể bảo đảm nổi. Thi tuyển để lấy người vào học trong các trường công lập mang ý nghĩa đó, cho nên không thể tăng học phí vô tội vạ ở các trường thuộc hệ thống đó, gây ra sự kỳ thị giàu nghèo. Nếu không đủ ngân quĩ để bảo đảm mức độ của trường công lập, thì đừng mở tràn lan. Đó là trách nhiệm quản lý của nhà nước. Tất nhiên, có thể có những đóng góp của những nhà hảo tâm cho các trường, nhưng đó là tự nguyện.
Thiết tưởng đừng dùng cụm từ “xã hội hóa” để nhập nhằng che đậy việc ép buộc đóng học phí cao hay những chi phí nhì nhằng gì khác trong hệ thống công lập.

Còn các trường tư thì tùy mức độ ; tuy nhiên tư bản hoang dã kiểu thế kỉ 19, và kinh doanh giáo dục tàn nhẫn, ngày nay không còn tồn tại ở đa số các nước trên thế giới nữa.

Bùi Trọng Liễu - Nguyên giáo sư Đại học (Paris, Pháp)
 
 

************************
Email: lythuongkiet82@yahoo.com
Tieu de:
Noi dung: Tôi thấy mọi người nói nhiều về cái gọi là "xã hội hoá "giáo dục mà không thấy ông Bùi Trọng Liễu còn nói những điều chưa đúng về gd Việt Nam . Tôi xin trích nguyên văn"tuy nhiên tư bản hoang dã kiểu thế kỉ 19, và kinh doanh giáo dục tàn nhẫn". Tôi không hiểu thế nào là tư bản hoang dã và kinh doanh gd tàn nhẫn ? Nếu theo ông không mở các trường công lập thì tôi nghĩ con em nông thôn sẽ không bao giờ biết trường học là cái gì. Hơn nữa hiện nay các trường dân lập về mức độ đóng góp cao hơn nhiều so với các trường công lập.Không đủ các trường công lập thì số hs còn lại sẽ đi đâu làm gì?

Ho ten:
Dia chi: Hà nội
Email:
Tieu de:
Noi dung: Nhận và đánh giá một vấn đề, phụ thuộc rất lớn vào việc các thông tin số liệu bạn có nắm được không, số liệu đó có chính xác không. Ở nước ta các thông tin số liệu it được công bố công khai và không bị bắt buộc phải công bố. Nhưng theo tôi được biết ngân sách cho giáo dục của nhà nước hàng năm rất lớn ( tỷ lệ chi ngân sách không thua các nước xung quanh ) nhưng quản lý sử dụng dở, lãng phí nên không có tiền tăng lương cho giáo viên.... Các nước mà chúng ta gọi là tư bản bóc lột thì đang miễn giảm học phí phổ thông ngày càng phổ cập còn chế độ chúng ta buồn thay: lương thầy cô giáo thì thấp học phí mỗi ngày mỗi nâng lên.... Chung quy nhà nước chưa làm tròn bổn phận quản lý đồng tiền đóng thuế của người dân...vậy thì các câu khẩu hiệu vì dân...có sáo rỗng không ???


Ho ten: Lâm Quang Vinh
Dia chi: Trường Đại học Trà Vinh
Email: lamquangvinhtv@yahoo.com
Tieu de: XHH giáo dục - xin đừng nguỵ biện!
Noi dung: Tôi là một nhà giáo; tôi thật sự đau lòng khi phải chứng kiến cảnh những đứa học trò nghèo ( nhiều triển vọng phát triển) của mình phải lần lượt rời giảng đường để mưu sinh hay bị cấm thi vì cha mẹ của chúng không đủ tiền để đóng tiền học phí. Mà số tiền đâu có lớn lào gì cho cam chỉ 500 -600 nghìn đồng cho một học kỳ,. Xã hội ta tuy phát triển nhưng một số vùng còn nghèo lắm,đường đi học còn gian nan lắm, cơ hội vào đời của những đứa trẻ nhà nghèo là mỏng manh và xa xôi lắm. Xã hội hoá giáo dục là làm cho họ(những học sinh, sinh viên nghèo), cấp cho họ một cơ hội để học tập, một cơ hội để vào đời ngang bằng với những đứa trẻ khác ở thành thì thì đó mới là xã hội hoá giáo dục, đó mới là nhân bản của xã hội xã hội chủ nghỉa chứ không phải đơn giàn là đóng nhiều tiền từ nhiều khoản để có kinh phí cho ngành giáo dục tự di tiêu xài theo kiểu đề án này , đề án nọ… Tôi đã từng mong ước - dù là những ước mơ xa xôi- tôi có đủ vốn lập một doanh nghiệp nhỏ để kinh doanh giải trí, đó sẽ là nơi giải quyết việc làm thời vụ cho những sinh viên nghèo, Tôi sẽ dánh hết tiền lương giáo viên của mình cho những học bổng “vượt khó” không biết như vậy có phải là “Xã hội hoá giáo dục” không? hay chỉ là khẩu hiệu suông để “moi tiền thiên hạ- những người đã quá nghèo!” 
 
Nhiều người cố tình hiểu sai để mưu lợi!
Mạc Văn Trang, Hà Nội, email: [email=mactrang@fpt.vn]mactrang@fpt.vn[/email]
"Chữ Xã hội" hoá GD cũng đã được giải thích trong các văn bản khá rõ, nhưng họ cố tình hiểu sai thành "tư nhân hoá GD", "cổ phần hoá GD", "Tận thu cho GD"... Mà không biết có gì hấp dẫn mà nhiều người say mê, hăng hái, quyết tâm làm nhanh, làm mạnh lắm!? Có nhiều lời cảnh báo, góp ý rằng: Đó là đi ngược ý nguyện của dân; Đi ngược Tư tưởng Hồ Chí Minh; Đi ngược xu thế thế giới... Còn lấy tiền đâu ra để làm GD thì Chính phủ phải đi học các nước chứ! Tại sao người ta làm được? Hàng trăm nước miễn phí GD 12 năm thôi?

Nguyễn Đức Truờng, Nguyễn Công Hoan, Hà Nội, email: nguyenductruong71955yahoo@
GS Bùi Trọng Liễu đã phân tích rất chính xác sự vô lý của việc sử dụng khái niệm “xã hội hoá” trong việc dự định tăng học phí ở các trường công lập. Rất vui vì VietNamNet đã đăng ý kiến của giáo sư Liễu. Nhân việc này tôi cũng xin bổ sung một điều về cách hành xử của cơ quan quản lý trong cách tiếp nhận ý kiến đóng góp của người Việt ở trong nước. Thường những ý kiến của người Việt ở trong nước không được coi trọng. Chúng được xếp một bên một cách “thản nhiên theo nghĩa ngược lại". Chỉ khi có những ý kiến trùng hợp từ bên ngoài biên giới nước Việt (của bạn bè quốc tế, của những Việt kiều có danh tiếng) thì những ý kiến của người Việt trong nước mới được coi trọng. Đối với ý tưởng “xã hội hoá giáo dục” do quản lý nhà nước đưa ra, người dân trong nước không phải không có suy nghĩ như giáo sư Bùi Trọng Liễu. Nhưng dường như những suy nghĩ đó viên đá ném ao bèo!

Dùng từ sai bản chất
Trương Văn Tạo, Hà Nội, email: [email=Taovantruong@yahoo.com]Taovantruong@yahoo.com[/email]
Tôi hết sức tán thành nội dung bài viết của GS Bùi Trọng Liễu. Hiện nay, việc lạm dụng cụm từ "xã hội hoá" được thực hiện ở rất nhiều lĩnh vực từ vệ sinh môi trường, y tế, thể dục thể thao, quản lý trật tự an ninh... và được phát ngôn, đăng tải mọi lúc mọi nơi (nếu có diễn đàn) vô hình chung đã làm cho người dân hiểu sai chủ trương, chính sách của nhà nước. Một số người còn dùng cụm từ này như là "mốt ngôn ngữ diễn thuyết". Ai đó nên xem lại mình kẻo quá lố rồi.

Bàn về Xã hội hóa
Đoàn Hải Yến, Q.Phú Nhuận, TP.HCM 
Lâu nay chúng ta nhầm lẫn một cách tệ hại chữ: "xã hội hóa". Nào là xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế, xã hội hóa xây nhà tái định cư. Không phải cái gì cũng xã hội hóa. Ở đây, cái nào nhà nước phải có trách nhiệm làm, vì anh đã thu thuế của dân, cái nào để tư nhân làm thì tạo điều kiện cho họ làm, còn xã hội hóa là sao? Tôi đề nghị báo chí nên lên tiếng về vấn đề này. Chỉ có Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân ai đó, chứ làm giáo dục theo kiểu xã hội hóa là làm sao?

"Xã hội hoá" hay "Thị trường hoá" giáo dục?
Nguyễn Quang Hoa, Trương Định, Hai Bà Trưng, Hà Nội, email: [email=hungvuong1@vnn.vn]hungvuong1@vnn.vn[/email]
Tôi rất tán đồng với ý kiến của Giáo sư Bùi Trọng Liễu khi nhận xét về cụm từ "Xã hội hoá giáo dục" mà chúng ta vẫn thường gặp trên các diễn đàn, thậm chí cả trong các kỳ họp của Quốc hội cũng rất sính dùng. Trong một ý nghĩa tốt đẹp nào đó thì cụm từ này có thể được hiểu "sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân". Nhưng bản chất thật của vấn đề lại không phải là như vậy. Mà thực chất họ coi "Xã hội hoá giáo dục" như một nghĩa vụ đóng góp về tài chính và vật chất cần phải bổ đầu cho những phụ huynh và những người trong độ tuổi đi học. Cũng chính bởi lẽ đó mà sự thiêng liêng, lòng kính trọng của đại bộ phận quần chúng đối với ngành giáo dục đã phần nào bị giảm sút, và hơn thế nữa đã làm mất đi tính ưu việt vốn có của nền giáo dục truyền thống mà bấy lâu nay chúng ta vần hằng mơ ước. Chúng ta đang "Thị trường hoá" giáo dục thì đúng nghĩa hơn là "Xã hội hoá giáo dục". Một khi đã thị trường hoá giáo dục thì tính nhân văn trong ngành giáo dục sẽ dần bị mất đi và thay vào đó chỉ còn là những toan tính cho lợi nhuận...

Email: betan96@yahoo.com
Tôi rất tán thành với những điều mà ông Bùi Trọng Liễu đã viết. Cụm từ "Xã hội hóa" đang bị lợi dụng, cố tình hiểu sai. "Xã hội hoá giáo dục", "xã hội hoá y tế"... thực chất là người dân phải nộp tiền nhiều hơn vào những lĩnh vực mà đáng ra họ phải được hưởng vì họ đã đómg thuế. Cái kiểu "x ã hội hoá" này chỉ có những người nhiều tiền mới có khả năng. Dần dần con cái của những người nghèo sẽ thất học, sẽ không được chữa bệnh vì không đủ tiền.


http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/721181/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-28 17:34:34Ngọc Lý>
Chi tiêu cho giáo dục: Những con số "giật mình"!
Vũ Quang Việt
06:07' 13/02/2006 (GMT+7)


(VietNamNet) - Từ New York (Mỹ) chuyên viên thống kê cao cấp của Liên Hợp Quốc Vũ Quang Việt gửi tới VietNamNet những phân tích thú vị về chi tiêu cho giáo dục Việt Nam rút ra qua những số liệu tính và phương pháp tính toán của bản thân. VietNamNet xin giới thiệu những kết luận cũng như phương pháp của tác giả, đồng thời, mong nhận được ý kiến bạn đọc về vấn đề này.
 
Số HS tiểu học đang giảm, từ 9,7 triệu (năm 2000)
xuống 7,8 triệu (năm 2004) trong khi dân số vẫn tăng (Ảnh: Nguyên Vũ)



Chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam trong khoảng thời gian năm 2000-2005 rất lớn so với mức thu nhập của người dân và thu nhập của cả nước. Một vài con số sau đây thể hiện điều đó:

Chi tiêu cho giáo dục ở VN năm 2005 chiếm 8,3% GDP, vượt cả Mỹ chỉ có 7,2%.

Trong chi tiêu trên, dân các nước phát triển cao chi trả 20%, còn ở Việt Nam dân chi trả tới 40%. Phần còn lại là nhà nước chi trả.

Tuy nhiên, do việc quản lý tổ chức giáo dục bất hợp lý, trường phải thu thêm, trò phải học thêm nên so với lương chính thức năm 2004 của giáo viên tính bình quân chỉ có 14 triệu đồng, thu nhập thật gồm lương chính thức và phụ thu bình quân một giáo viên có thể đạt ít nhất là 31 triệu đồng, tức là hơn gấp đôi lương chính thức.

Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục cao như thế, nhưng môt điều đáng lo lắng mà ít người để ý là số học sinh tiểu học, cơ sở của bất cứ một nền giáo dục nào, hình như đang bỏ học hoặc không đi học. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, số HS tiểu học đang giảm, từ 9,7 triệu (năm 2000) xuống 7,8 triệu (năm 2004) trong khi dân số vẫn tăng. Tình hình này khó hiểu. Phải chăng dân nghèo không đủ sức gửi con đến trường hay là do một lý do nào khác? Bộ GD - ĐT cần có một câu trả lời về vấn đề này. 

Những kết luận trên dựa vào số liệu chính thức của Bộ GD - ĐT, của Tổng cục Thống kê và số liệu tính theo phương pháp gián tiếp của tác giả. 

Những kết quả đáng lưu ý 

* Chi phí cho giáo dục ở Việt Nam vượt xa các nước phát triển cao! 

Có thể thấy, chi phí cho giáo dục ở Việt Nam rất lớn (bảng 1). Tỷ lệ chi phí cho giáo dục trên GDP là 8,3% vượt xa các nước phát triển cao thuộc khối OECD kể cả Mỹ, Pháp, Nhật và Hàn Quốc(bảng 1 và 2). Có người cho rằng cần phải so sánh dựa trên chi phí tính bằng tiền đô la Mỹ, và như thế chi phí cho một HS ở Việt Nam rất thấp. Nhưng điều này không hợp lý vì các nước có trình độ phát triển khác nhau. Chỉ có so sánh dựa vào khả năng chi phí của nền kinh tế mới có giá trị phân tích: đó chính là tỷ lệ chi phí trên GDP. 

Kết quả này cũng cho ta so sánh mức trách nhiệm chi phí cho giáo dục: từ ngân sách nhà nước và từ đóng góp của nhân dân (bảng 2).  Người dân hiện nay ở Việt Nam chi trả 40% chi phí giáo dục, trong khi ở các nước phát triển cao trung bình dân chúng chỉ chi trả 20%, phần còn lại là từ ngân sách nhà nước.

Bảng 1. Tỷ lệ chi phí cho giáo dục ở Việt Nam 2000-2005 
         
Tổng chi cho giáo dục (tỷ)       Tỷ lệ chi/GDP (%)     Tỷ lệ ngân sách cho giáo dục /GDP

2000         23,219                                 5.3             3.2
2001         25,882                                 5.4             3.2
2002         34,088                                 6,4             3,8
2003         37,552                                 6.1             3.7
2004         54,223                                 7.6             4.6
2005         68,968                                 8.3             5.0

(Nguồn: Bộ GD-ĐT và Ngân sách nhà nước. Tổng chi và tỷ lệ chi là do tác giả tự tính) 

Bảng 2. Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam và các nước 

                                  Việt Nam      Mỹ         Pháp        Nhật      Hàn Quốc    OCDE

Chi tiêu

cho giáo dục
/GDP (%)                       8.3          7.2        6.1         4.7          7.1          6.1

Từ ngân sách               5.0          5,3        5.7         3.5          4.2          4.9

Từ dân
và các nguồn
khác                            3,3         1,9        0.4          1.2           2.9         1.2

Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục (%)

Từ ngân sách                 60          74        93            74            59           80

Từ dân
và các nguồn khác          40          26          7            26            41            20

(Nguồn: Số liệu VN là cho năm 2005 do tác giả tính. Số liệu các nước khác là cho năm 2002 từ OECD, Education at a Glance 2005


* Thu nhập của giáo viên: bị rơi vãi! 

Dựa vào chi phí cho giáo dục ở Việt Nam như trên và dựa vào tỷ lệ 62,3% chi phí thường xuyên cho giáo dục là để trả lương (theo tỷ lệ hiện nay ở Việt Nam), ta có thể thấy là thu nhập của giáo viên, tính một cách bình quân có thể lên tới 31 triệu đồng một năm vào năm 2004, gấp hơn 2 lần lương nhận chính thức. Với ngân sách tăng cho giáo dục vào năm 2005, thu nhập có thể lên tới 38,5 triệu đồng nếu như hệ thống giáo dục được tổ chức và điều hành qui củ và hợp lý. 

Vấn đề thực tế là giáo viên không nhận được thu nhập như thế, mặc dù thu nhập nhận được cao hơn lương chính thức, vậy thì phần này rơi vãi nơi đâu? Điều này cho thấy việc phân tích thường xuyên chi phí giáo dục là đòi hỏi cấp bách để nâng cao hiệu quả của hệ thống giáo dục. 

Bảng 3. Thu nhập và lương giáo viên: 

                                   2000         2001           2002            2003           2004              2005

Tổng chi
thường xuyên
cho giáo dục (tỷ)     21,367      23,522       31,080        34,352      49,323         62,735

Chi lương (tỷ)          13,312      14,654       19,363        21,401      30,728         39,084

Giáo viên                836,127    869,038      905,295      943,725    979,548     1,014,638

Thu nhập
của giáo viên
(triệu)                       15.92        16.86        21.39        22.68        31.37            38.52

Lương chính thức
(triệu,
NG Thống kê)               7.38            8.70         9.40        12.19         13.97

(Nguồn: Lương chính thức là từ Niên Giám Thống Kê 2005, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2005. Phụ thu do tác giả tính) 


* Có cần chạy đua không tưởng về số lượng SV ĐH? 

Một điểm nữa cần thấy là hệ thống giáo dục Việt Nam đang nằm ở mức kỳ vọng cao, mọi nỗ lực đều nhằm xây dựng thêm ĐH, tạo ra nhiều SV mà không để ý đầy đủ đến trường dạy nghề, trung học và CĐ chuyên nghiệp. 
Hiện nay số SV trên số dân là 1.6%. Tỷ lệ này so với Thái Lan ở mức 2% không phải là nhỏ. Nhưng đề án tăng tỷ lệ này lên 2,0 trong 5 năm tới (2010) và 4,5% trong 15 năm tới (2020) liệu có đúng hướng không? 

Tỷ lệ trung bình ở các nước pháp triển cao OECD dựa vào nguồn số liệu về giáo dục của OECD (Education at a Glance 2005) là 4,3% (có nước cao như Hàn Quốc là 6,7%, Mỹ 5,7%, nhưng có nước thấp như Tây Đức 2,6%, Mexico 2,1%).  

Một vấn đề khác cần được nhận thức là HS Việt Nam đi học là nhằm lên ĐH kiếm bằng cấp thay vì học nghề để đáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế. Do đó mà ở cấp trung học, số HS các trường chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay chỉ chiếm 14% tổng số HS trung học. Tại các nước phát triển cao OECD, tỷ lệ HS ở các trường chuyên nghiệp lên tới 45%.  Phải chăng đã đến lúc cần xét lại chính sách giáo dục một cách rốt ráo thay vì chỉ nhằm chay đua bắt kịp các nước tiên tiến một cách không tưởng về số lượng SV ĐH?

*** 

Những kết luận trên dựa vào số liệu chính thức của Bộ GD - ĐT, của Tổng cục Thống kê và số liệu tính theo phương pháp gián tiếp của tác giả. 

Người đọc có thể đặt dấu hỏi về số liệu tính gián tiếp, nhưng đây là chuyện thông thường trong nghiên cứu, nhất là khi thiếu thốn số liệu chính thức. Phương pháp thống kê ít ra là minh bạch, khách quan, và như thế đáng tin cậy hơn là các loại suy chủ quan. Hy vọng là dù có thiếu sót, phân tích chi tiêu này cho phép các nhà làm chính sách có được một cái nhìn ban đầu về chi tiêu giáo dục. Cũng hy vọng là Bộ GD-ĐT, Tổng cục Thống kê thu thập thêm số liệu và minh bạch hoá chí phí về giáo dục để làm cơ sở cho việc hình thành và theo dõi tác động cũng như hiệu quả của chính sách.

                  Nắm vững chi phí của nền kinh tế cho giáo dục: Rối rắm 

Hệ thống giáo dục ở Việt Nam tổ chức khá phức tạp, dẫn đến sự rối rắm trong việc nắm vững chi phí của nền kinh tế cho giáo dục.  

Hệ thống giáo dục ở Việt Nam gồm:

(a)    Hoạt động của Bộ GD-ĐT và các trường trực thuộc Bộ do Bộ dựa vào ngân sách nhà nước cấp cho Bộ; Bộ cấp lại cho trường hoặc địa phương phụ thuộc. Tuy nhiên, Bộ lại cho phép trường thu thêm học phí, nhận thêm SV (tại chức và các loại không được tuyển theo đường cạnh tranh chính thức).

(b)   Ngoài học phí thu thêm là các dịch vụ do trường làm thêm hoặc trường nhận được từ doanh nghiệp. Ngoài ra, các trường, kể cả Bộ, cũng đều nhận viện trợ từ nước ngoài. Các nguồn này nằm ngoài ngân sách nhà nước. Năm 2000, nguồn ngoài ngân sách bằng 41% nguồn từ ngân sách..

(c)    Các trường độc lập với Bộ GD-ĐT, hoặc thuộc các Bộ khác và địa phương có ngân sách do Bộ khác hoặc địa phương cấp. Đây là các chi phí mà Bộ GD-ĐT không nắm được.

(d)   Các trường tư thục mà Bộ GD-ĐT quản, Bộ cũng không biết rõ chi phí.

(e)    Các chi phí cho việc học thêm tất nhiên Bộ GD-ĐT cũng không nắm được.   

Để có thống kê toàn diện, ngoài thống kê do Bộ GD-ĐT thu thập, Tổng cục Thống kê cũng phải điều tra thu thập những phần mà Bộ không thể cung cấp.  

Phương pháp tính tổng chi tiêu cho giáo dục 

Ngân sách Bộ GD-ĐT cho phép biết chi phí ở phần (a). 

Chi phí ngoài ngân sách ở phần (b) dựa vào các tỷ lệ cơ bản mà Bộ xuất bản năm 2000 và thống kê chi tiết do Tổng cục thống kê thu thập cho năm 2000. Tỷ lệ này được áp dụng cho những năm sau đó, mặc dù tác giả biết rằng tỷ lệ này là thấp so với thực tế hiện nay. Một phương pháp khác mà nhiều người dùng để ước tính chi phí thêm là dựa vào học phí thu thêm từ HSSV được báo chí nói tới. Những con số này lớn hơn con số đưa ra trong bài này nhưng có thể không chính xác, do đó tác giả quyết định chọn cách làm bảo thủ là dùng các tỷ lệ điều tra của Tổng cục Thống kê trong năm 2000.  

Phần (b) không tính tới 2 tỷ US chi làm sách giáo khoa trong thời kỳ 2002-2007 (theo GS Nguyễn Xuân Hãn trong bài “Còn có thể giảm học phí!”, Tiền Phong online 29/9/2005).  

Chi phí ở phần (c), (d) và (e) là dựa vào tỷ lệ điều tra về giá trị sản lượng dịch vụ giáo dục do Tổng cục Thống kê (TCTK) tính cho năm 2000 trong bảng Cân đối Liên ngành của Việt Nam Năm 2000, NXB Thống kê, Hà Nội 2003.   

Theo nguyên tắc, chi phí cho giáo dục là tổng của giá trị sản phẩm giáo dục tính theo TCTK và chi phí đầu tư cho giáo dục. Tuy nhiên vì thiếu số liệu, cách tính của bài này là không tính thẳng mà dựa vào hệ số tính từ số liệu năm 2000 của TCTK. 

Theo bảng cân đối liên ngành trên, giá trị sản phẩm giáo dục (tức là chi phí cho hàng hoá và dịch vụ, thu nhập, khấu hao nhưng không kể đầu tư) theo nguyên tắc của tài khoản quốc gia trong năm 2000 là 21.367 tỷ, trong khi đó các nguồn số liệu (a), (b) chỉ có 19.928 tỷ. Như vậy, mức chi sẽ cao hơn 7% nữa.  

Tỷ lệ thêm này có thể thấp hơn thực tế vì phần này không tính trực tiếp ngân sách dành riêng cho 2 ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP.HCM, chỉ bắt đầu từ năm 2002.   

Chi phí cho dịch vụ giáo dục như vậy, về nguyên tắc, sẽ bằng giá trị sản lượng giáo dục cộng thêm tích lũy. 


Vũ Quang Việt (chuyên viên Thống kê cao cấp của Liên Hợp Quốc, New York, Mỹ)

    http://www2.vietnamnet.vn/giaoduc/2006/
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-29 05:47:11Ngọc Lý>
    Tăng học phí: Bao nhiêu HS TP.HCM bỏ học?
    08:01' 14/07/2007 (GMT+7)


    (VietNamNet) - TS Vũ Quang Việt, chuyên gia thống kê của Liên hợp quốc tính toán, nếu mức học phí là 200.000 đồng/tháng, ở vùng Đông Nam Bộ, 60% HS có khả năng bỏ học.

    &gt;&gt;Chi tiêu cho giáo dục: Những con số "giật mình"!

    Lúc trước đây, tôi đã có tính thử xem là chi phí cho giáo dục ở Việt Nam là bao nhiêu so với GDP và so với các nước khác. Con số tôi tính đã công bố.

    Bây giờ, xin nhắc lại là tỷ lệ này lên tới 8.3% GDP. Nó thuộc lại cao nhất thế giới, vượt cả Mỹ, Pháp, Nam Triều Tiên và Nhật và tỷ lệ trung bình của OECD (xem bảng 1). Phần gia đình tự trả lên đến 40% chi phí giáo dục. Trong khi ở Mỹ 74% chi phí là do nhà nước trả.

    Và tôi cũng tính là nếu trừ đi các tốn phí hiện hành và chi phí đầu tư cho hạ tầng cơ sở giáo dục theo báo cáo chính thức của Bộ GD-ĐT mà Tổng cục Thống kê dùng thì phần còn lại có thể trả lương gấp đôi cho giáo chức.

    Như vậy, nếu những tính toán gián tiếp trên là đúng, thì quả là nền giáo dục của ta phí phạm, chi phí chui vào các lỗ hổng nào đó chưa kiểm soát được, và vì vậy, tôi đề nghị Chính phủ qua Tổng cục Thống kê, nên làm một cuộc tổng điều tra để xem rõ thực hư và tìm các biện pháp giải quyết, trước khi nghĩ đến chuyện tăng học phí. Thậm chí, có nhà lãnh đạo giáo dục còn nói chuyện “tính thu đủ chi”, làm như là nhà nước này không còn có trách nhiệm gì với lợi ích của nhân dân. 

    Tôi đã hy vọng rằng bài viết trước đây và rất nhiều bài viết của những người tâm huyết về giáo dục đã thúc đẩy Bộ GD-ĐT tìm hiểu thêm vấn đề. Nhưng thật buồn là cho tới nay, Bộ GD-ĐT chỉ nhằm nhằm đưa ra các đề án tăng học phí mà không có chứng cớ cụ thể để đánh giá việc tăng này có ảnh hưởng đến xã hội như thế nào. 

    Bảng 1. Số liệu so sánh chi phí giáo dục ở Việt Nam và các nước  


                                                                              Việt Nam      Mỹ        Pháp     Nhật      Nam Triều Tiên    OCDE


    Chi phí cho giáo dục/GDP (%)                       8.3             7.2       6.1        4.7            7.1                6.1

    Từ ngân sách                                            5.0            5.3       5.7        3.5             4.2               4.9

    Từ dân và các nguồn khác                          3.3             1.9       0.4        1.2             2.9                          1.2

    Tỷ lệ chi phí cho giáo dục (%)

    Từ ngân sách                                            60               74        93         74              59               80

    Từ dân và các nguồn khác                           40              26         7          26              41               20 

    Nguồn: Số liệu VN là cho năm 2005 do tác giả tính. Số liệu các nước khác là cho năm 2002 từ OECD, Education at a Glance 2005.

    Như vậy, tôi lại phải thử tính toán gián tiếp để xem tuyên bố của ông Thứ trưởng Nguyễn Văn Vọng (trên Lao Động Chủ Nhật ngày 6/7/2007) có cơ sở không, nhân việc ông cho rằng mức học phí ở TPHCM sẽ tăng. Ông Vọng nói rằng: “Còn tại TPHCM, năm 2006 thu nhập bình quân đầu người ở nội thành là 1,552 triệu đồng/ tháng. Như vậy, theo đề án điều chỉnh mức thu học phí mới thì với gia đình có 2 người đi làm thì học phí cho 1 người đi học THCS học 1 buổi/ ngày chiếm khoảng 2,9% thu nhập của gia đình, học 2 buổi/ ngày chiếm khoảng 5,15%; đối với THPT học phí 1 buổi/ ngày chiếm khoảng 4,5% thu nhập gia đình và học 2 buổi/ ngày chiếm 7,09%.”

    Vậy thì sự thật là gì? Tôi không thể tìm ra sự thật nếu như nhà nước không làm công việc điều tra để công bố cho dân chúng. Tuy nhiên, tôi sẽ thử tiếp cận dưới tư cách của một người làm thống kê. 

    Công bố về thu nhập cá nhân của cả nước và từng vùng của Tổng cục Thống kê mới nhất cũng đã khá muộn. Số liệu mới nhất chỉ có cho năm 2004.

    Để giải quyết vấn đề, tôi thử làm bài toán đơn giản sau. Tôi sẽ tính đổ đồng là thu nhập đầu người tăng hàng năm 16.64% (tức là 8% do kinh tế phát triển hàng nằm và 8% là do tăng giá), một giả thiết khá nương tay.

    Coi bảng 2 để thấy thu nhập đầu người của dân chúng Việt Nam vào năm 2006. Dân chúng chia làm năm nhóm: nhóm 1 là nhóm 20% dân có thu nhập thấp nhất, và nhóm 5 là nhóm 20% dân có thu nhập cao nhất. Thí dụ ở Đông Nam Bộ (có TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) nhóm 20% có thu nhập cao nhất bình quân kiếm được 2.7 triệu đồng một tháng (khoảng 167 USD) và nhóm thấp nhất chỉ kiếm được 317 ngàn một tháng, thấp hơn lương tối thiểu.

    Ở TP.HCM, thu nhập của nhóm cao nhất là 3.6 triệu, và thấp nhất là 586 ngàn. Bà Dương Ngọc Thanh, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM trên Lao Động điện tử (26/6/2007) cho rằng lương tối thiểu từ năm 1998 đã tăng lên 3 lần từ 144 ngàn lên 450 ngàn, làm như là lương của mọi người Việt Nam không ai dưới 450 ngàn một tháng. Nhưng câu nói trên vô nghĩa vì lương tối thiểu chỉ áp dụng cho công chức hoặc các cơ sở sản xuất lớn chứ không thể áp dụng cho nông dân hoặc những người làm bất cứ gì để kiếm sống như rất nhiều người ở Việt Nam hiện nay.    

    Bảng 2. Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo 5 nhóm thu nhập,
    thành thị, nông thôn, giới tính chủ hộ, vùng (giá hiện hành) năm 2006


    Nghìn đồng
                                  Chung       5 nhóm thu nhập

                                                 Nhóm 1           Nhóm 2           Nhóm 3       Nhóm 4    Nhóm5

    CẢ NƯỚC                    659          193                327                472              700          1608

    Thành thị, nông thôn
    Thành thị                  1109          322                595                838             1193          2604

    Nông thôn                   514          178                293                405              566          1136

    Giới tính chủ hộ

    Nam                          620           188                315                448              656          1494

    Nữ                            802           216                387                584              863          1959

    Vùng

    Đồng bằng
    sông Hồng                  664           223                354                490              706          1550

    Đông Bắc                   517           169                275                 385              570          1187

    Tây Bắc                     361           129                202                 264              384           832

    Bắc
    Trung bộ                   431            156                249                 341              481           931
    Duyên Hải
    Nam Trung bộ             564            192                318                 444             624           1248

    Tây Nguyên                531            161               272                  397            601           1230

    Đông
    Nam Bộ                    1133            317                574                 814            1199          2765

    TP
    Hồ Chí Minh               1585           586                864                1184            1658          3630

    Đồng bằng
    sông Cửu Long             641           216                357                  491              690          1457

    Nguồn: Tác giả tự tính dựa vào số liệu năm 2004 của TCTK. Số liệu về TP.HCM là từ Cục Thống kê Thành phố. 

    Hiện nay, theo đề án sơ khởi của ông Vọng, học phí đổ đồng tăng từ 66 ngàn lên 200 ngàn/tháng. Tôi cũng giả thiết như ông Vọng là một nhà có hai con đi học thì tiền chi phí cho việc học lên đến 400 ngàn một tháng.

    Bảng 3. Thu nhập tháng theo nhóm ở Đông Nam Bộ

                                           Nhóm 1         Nhóm 2        Nhóm 3      Nhóm 4          Nhóm 5


    Gia đình 2 người đi làm           634             1147            1629          2398             5530

    Chi phí học cho 2 con            400              400              400            400              400

    Tỷ lệ học phí/thu nhập           63%             35%             25%           17%              7%

    Bảng 4. Thu nhập tháng theo nhóm ở TP Hồ Chí Min

                                                   Nhóm 1           Nhóm 2          Nhóm 3        Nhóm 4         Nhóm 5

    Gia đình 2 người đi làm          1173              1728            2367             3317           7260

    Chi phí học cho 2 con            400                400             400               400             400

    Tỷ lệ học phí/thu nhập           34%               23%            17%              12%             6%


    Nhìn vào bảng 3 cho vùng Đông Nam Bộ trên, theo tôi đánh giá là gia đình thuộc nhóm 1 và nhóm 2 không có khả năng cho con đi học vì tiền học chiếm tới 35-63% lương của gia đình có hai người đi làm, và nhóm 3 sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho con đi học khi học phí chiếm đến 25%.

    Nếu nhìn vào TP.HCM ở bảng 4 thì khả năng khó khăn đi học cũng là nhóm 1 và 2 vì học phí đã chiếm mất ít nhất 23% thu nhập gia đình. Con số trên rất khác với con số ông Vọng đưa ra vì ông ta chỉ nhìn vào con số của nhóm người có thu nhập trung bình để để bàn chính sách (nhìn bảng 2, cột chung).

    Nhưng quan trọng hơn là trả lời câu hỏi: vậy số học sinh/sinh viên có thể bỏ học là bao nhiêu?

    Vì không có số liệu, tôi lại phải làm giả thiết là số học sinh/sinh viên thuộc các nhóm hộ gia đình có thu nhập khác nhau này bằng nhau, mặc dù thực tế có thể số trẻ em thuộc nhóm nhà nghèo cao hơn nhóm nhà giàu vì gia đình nghèo thường có nhiều con hơn. 

    Như vậy với số học sinh, sinh viên của TP.HCM là 1,349, 219 (trong đó 160 ngàn là học sinh mẫu giáo,  890 ngàn là học sinh phổ thông và 299 ngàn là học sinh đại học), mỗi nhóm sẽ có 270 ngàn học sinh, sinh viên và 210 ngàn nếu chỉ kể học sinh.  Tính sơ bộ đối với TP.HCM thì có khả năng 270 ngàn sinh viên học sinh sẽ bỏ học và có thêm 270 ngàn sẽ gặp nhiều khó khăn.  Nếu suy rộng ra cho cả vùng Đồng Nam Bộ, thì 60% học sinh có khả năng bỏ học khi học phí là 200 ngàn một tháng.

    Dù đây là bài tập thử nghiệm với số liệu không thật chính xác, nhưng nếu mục tiêu của nhà nước là vì dân thì đây là con số đáng quan ngại và không thể nói chuyện tăng học phí nếu chưa có nghiên cứu tính toán đầy đủ về ảnh hưởng xã hội.

    Chỉ một câu nói là học sinh nghèo sẽ được cấp học bổng không giải quyết được vấn đề trầm trọng nêu trên vì ai cũng có thể thấy là với hệ thống chính quyền thiếu trong sạch hiện nay thì có lẽ người giầu sẽ xin được giấy chứng nhận là mình nghèo còn người nghèo sẽ phải "phong bao" khá nặng mới có được tờ giấy trên. Tuy vậy các bình luận trên là phụ, câu hỏi cơ bản mà xã hội cần đặt ra là: nhà nước có hay không có trách nhiệm với giáo dục phổ thông?

    Nhiều chủ trương định thực hiện của chính phủ hiện nay không thể không làm cho nhiều người nghi ngờ mục đích cho ai và vì ai của nó. Và cũng không thể bỏ qua câu hỏi: phải chăng, chính phủ hiện nay chủ trương tối thiếu hoá trách nhiệm nhà nước và tối đa hoá sự đóng góp của dân bằng mỹ từ “xã hội hoá” không? Vấn đề này không phải chỉ xảy ra đối với giáo dục mà còn với các đề án “xã hội hoá” nhà thương. Tôi nghĩ đã đến lúc chính phủ nên trình bày cho dân rõ ý đồ của mình trong việc “xã hội hoá” này.  

    10/7/ 2007



    Vũ Quang Việt


      http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/718033/
      Đăng nhập để trả lời
      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 03:18:38Ngọc Lý>
      Chuẩn bị năm học mới: Vẫn còn dang dở
      Lao Động số 201 Ngày 30/08/2007 

      Cập nhật: 7:55 AM, 30/08/2007
      [/align] 
      [/align]



      Học sinh Trường Tiểu học Kim Liên (Hà Nội) tập dượt cho lễ khai giảng.

      (LĐ) - Chưa đầy một tuần nữa, gần 22 triệu học sinh, sinh viên cả nước sẽ chính thức bước vào năm học mới 2007-2008. Tuy nhiên, câu trả lời cho những vấn đề thiết thân đối với học sinh, sinh viên, giáo viên là học phí vẫn còn đang bị bỏ ngỏ.
      [/align] 
      Tiếp tục "tuyên chiến"

      Sau một năm tuyên chiến với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, năm học 2007 - 2008, gần 20 triệu GV và HS các cấp sẽ lại tiếp tục "tuyên chiến": "Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và không ngồi nhầm lớp".

      Bộ GDĐT đã đề ra kế hoạch giải quyết tình trạng học sinh "ngồi nhầm lớp" trong vòng 2-3 năm tới.

      Theo ông Lê Quán Tần - Vụ trưởng Vụ THPT - thì không thể giải quyết được hết tình trạng HS yếu kém vì đó là điều phi thực tế, không thể biến tất cả HS thành khá, giỏi được.

      Đối với cấp tiểu học, bộ đưa ra 3 phương án giải quyết số HS đang ngồi nhầm lớp. Phương án 1, nếu có số lượng từ 20 HS trở lên và mức độ ngồi nhầm lớp nghiêm trọng thì tập trung số HS có cùng trình độ thành lớp riêng, xây dựng thời khoá biểu và nội dung dạy học riêng phù hợp.

      Tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, phân công GV có trình độ, năng lực, kinh nghiệm và tâm huyết trực tiếp dạy lớp đó, tăng cường phụ đạo cho HS, đảm bảo cho HS bắt kịp trình độ lớp học vào cuối năm học.



      Chọn mua SGK cho năm học mới.Phương án 2, nếu số lượng không quá lớn và mức độ không nghiêm trọng thì tiếp tục để số HS này học tại lớp. GV chủ nhiệm phải có biện pháp giáo dục riêng trong từng giờ học, đồng thời tổ chức cho số HS này học 2 buổi/ngày - buổi 1 học theo chương trình quy định, buổi 2 phụ đạo, bổ sung, củng cố kiến thức để HS bắt kịp trình độ chung.

      Phương án 3, đối với những trường có khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, có HS ngồi nhầm lớp ở nhiều mức độ thì tổ chức lớp ghép cho số HS này, mỗi lớp ghép không quá 2 trình độ, đồng thời thực hiện dạy học 2 buổi/ngày.

      Đối với cấp trung học, bộ cũng đưa ra các phương án tương tự. Nhưng bộ lưu ý đối với những HS mà trình độ thực tế quá thấp không thể tiếp tục học ở lớp đó thì hiệu trưởng cần báo cáo với phòng GDĐT hoặc sở GDĐT để giải quyết cụ thể.

      Và sau một số vụ việc GV dùng nhục hình đối với HS xảy ra trong năm học vừa qua thì vấn đề đạo đức người thầy cũng đã được quan tâm đặc biệt. Vì vậy, bắt đầu năm học 2007 - 2008, bên cạnh việc đưa thành phong trào "Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo", bộ sẽ cho triển khai đánh giá gần 350 nghìn GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học mới được ban hành. Đồng thời, bộ sẽ tiếp tục xây dựng chuẩn nghề nghiệp đối với GV mầm non, THCS, THPT, giáo dục thường xuyên.

      Chế độ học phí: Bộ vẫn nợ câu trả lời

      Đầu tháng 7.2007, sau khi dự kiến áp dụng mức học phí mới trong năm học 2007-2008 của thành phố Hồ Chí Minh vấp phải sự phản ứng mạnh của đông đảo phụ huynh học sinh, Bộ GDĐT đã có công văn nêu rõ: "Vì chưa trình Chính phủ đề án học phí mới nên Bộ GDĐT chưa có chủ trương chỉ đạo các tỉnh, thành phố trong cả nước điều chỉnh học phí".

      Và trong công văn này cũng đưa ra một mốc thời gian khá cụ thể: "Hiện nay Bộ GDĐT đang hoàn thiện dự thảo đề án này (dự thảo lần thứ 14), dự kiến sẽ hoàn thành trong tháng 7.2007 và công bố rộng rãi để nhân dân góp ý, sau đó sẽ hoàn chỉnh và trình Chính phủ trong quý III năm 2007".




      Từ năm học 2007-2008, Bộ GDĐT sẽ triển khai đánh giá gần 350 nghìn GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học mới được ban hành.Tuy nhiên, tại buổi họp báo, trước những câu hỏi về đề án học phí, Thứ trưởng Phạm Vũ Luận và lãnh đạo Vụ Kế hoạch Tài chính chỉ đưa ra câu trả lời rất chung chung: "Bộ đang tích cực hoàn thiện đề án này".

      Theo Thứ trưởng Phạm Vũ Luận thì lãnh đạo bộ vẫn đang lắng nghe dự thảo và tham khảo ý kiến các cơ quan Chính phủ, bộ cũng "không quên lời hứa trình Chính phủ đề án học phí trong quý III", nhưng thời hạn đưa ra lấy ý kiến dư luận thì "Bộ trưởng sẽ ấn định thời điểm thích hợp".

      Còn về thi cử, ông Lê Quán Tần - Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học - cho biết, việc đổi mới thi cử vẫn phải tiếp tục vì nếu không đổi mới sẽ không tạo được động lực học tập. Tuy nhiên, ông Lê Quán Tần cũng khẳng định: "Việc đổi mới này sẽ phải tính đến việc không tạo ra sức ép quá lớn cho phụ huynh, học sinh".

      Tuy nhiên thực tế, những kỳ thi đầu cấp dù được tổ chức dưới hình thức nào cũng luôn gây sức ép tâm lý không nhỏ tới tất cả HS và phụ huynh. Và mặc dù trong năm học 2007 - 2008, bộ giữ ổn định việc thi tuyển sinh ĐH, CĐ như năm học 2006 - 2007, nhưng bộ sẽ tổ chức rút kinh nghiệm việc ra đề thi trắc nghiệm, việc hướng dẫn thi trắc nghiệm để triển khai tiếp thi trắc nghiệm môn toán.

      Theo số liệu thống kê của Bộ GDĐT, các tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn thì tỉ lệ HS yếu kém khá cao như Sơn La gần 20,9%, Đắc Nông 25,8%, Cà Mau 20,4%... Học sinh yếu kém có ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Tổng số học sinh yếu kém của các cấp học là khoảng 1,5 triệu em.



      [/align]Hạnh Ngân
      [/align][/align][/align]

      http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2007/8/52909.laodong
      Đăng nhập để trả lời
      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-30 19:56:34Ngọc Lý>
      Người dân ưu tư trước tin sẽ tăng học phí trong niên học sắp tới
      2007.08.30
      Mặc Lâm, phóng viên đài RFA


      Năm học mới sắp bắt đầu, phụ huynh học sinh nào tương đối khá giả đã lai rai dẫn con đi sắm sửa tập vở, quần áo. Ngược lại, những gia đình khó khăn đang tần tảo với chén cơm manh áo thì việc mua sắm quần áo mới không làm họ bận tâm, vì chưa cần thiết bằng số tiền học phí mà họ phải đóng cho con em được đến trường.


      Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
      Tải xuống để nghe

        [/align]
        Người dân ưu tư trước tin sẽ tăng học phí
        trong niên học sắp tới. AFP PHOTO
         
        [/align]Nỗi ưu tư ngày càng lớn khi Bộ Giáo Dục và Đào Tạo mới đây dự kiến sẽ cho phép tăng học phí vào niên học mới nhằm bù đắp những khó khăn mà bộ này gặp phải. Biên tập viên Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn Giáo sư Phạm Phụ từng giảng dạy tại trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, mời quý vị theo dõi.

        Mặc Lâm: Xin kính chào Giáo sư Phạm Phụ, thưa giáo sư, câu đầu tiên xin được phép hỏi giáo sư là mới đây dư luận tỏ ra bức xúc trước nguồn tin Bộ Giáo Dục và Đào Tạo có quyết định sẽ tăng học phí trong niên học sắp tới, giáo sư có chia sẻ gì về vấn đề này?


        Giáo sư Phạm Phụ: Thực ra câu chuyện về học phí của cả đại học và giáo dục phổ thông hiện nay tại Việt Nam là một chuyện nóng trên các phương tiện truyền thông cũng như dư luận xung quanh xã hội.

        Đây là một vấn đề lớn tôi đã phát biểu nhiều lần lẽ ra nó phải nằm trong một tổng thể là bài toán cung cấp tài chánh cho giáo dục mà học phí chỉ một mặt của vấn đề thôi. Vì vậy khi chỉ nói vấn đề học phí mà không nói chuyện giải quyết công bằng xã hội thì khó được dư luận đồng tình.

        Kế hoạch giải quyết

        Mặc Lâm: Thưa giáo sư, như vậy theo ông thì bộ Giáo Dục và Đào Tạo phải có những kế hoạch gì để giải quyết tình trạng học phí hiện nay và những năm kế tiếp?


        Đây là một vấn đề lớn tôi đã phát biểu nhiều lần lẽ ra nó phải nằm trong một tổng thể là bài toán cung cấp tài chánh cho giáo dục mà học phí chỉ một mặt của vấn đề thôi. Vì vậy khi chỉ nói vấn đề học phí mà không nói chuyện giải quyết công bằng xã hội thì khó được dư luận đồng tình.

        [/align]Giáo sư Phạm Phụ


        Giáo sư Phạm Phụ: Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam về mặt tài chánh giáo dục chúng ta khó lòng bắt chước các nhà nước của châu Âu. Ở các nhà nước phúc lợi này người ta thu vào ngân sách nhà nước đến trên 40% của GDP vì vậy nên họ có một ngân sách rất lớn để trang trãi những chi phí an sinh xã hội trong đó có vấn đề giáo dục và y tế.

        Trong điều kiện Việt Nam tôi nghĩ nên bắt chước mô hình Nhật Bản, vì trong thực tế Việt Nam thu GDP khoảng 23- 24% mà thôi nên không vận dụng cách của các nhà nước châu Âu được. Theo mô hình Nhật Bản đối với giáo dục phổ thông mà phần giáo dục bắt buộc như trung học cơ sở chẳng hạn thì nhà nước phải gánh chịu, đồng thời cho mở một số trường tư với học phí và chất lượng cao hơn nhiều để một số gia đình khá giả cho con theo học.

        Đặc biệt trong khu vực đại học và dạy nghề, đây là những lãnh vực mà nó đem lại lợi ích cho người học, vì vậy trong điều kiện hiện tại của Việt Nam người đi học phải gánh là chính. Bài toán phân phối tài chánh cho giáo dục của nhà nước phải được giải quyết trứơc đã.

        Mặc Lâm: Ý kiến của Giáo sư cho rằng những người nào ở bên ngoài phạm vi của nhà nước trợ cấp nếu muốn học tiếp bậc đại học thì phải bỏ tiền ra để đóng học phí. Riêng với người nghèo hiếu học chắc chắn phải đứng bên ngoài khuôn viên đại học rồi, giáo sư có cho rằng tình trạng này sẽ làm gia tăng bất công xã hội hay không?


        Giáo sư Phạm Phụ: Để giải quyết bài toán công bằng xã hội, nếu không có những chính sách tương ứng thì thế nào cũng dẫn đến những chuyện con em của các gia đình nghèo phải bỏ học. Vì vậy khi tăng học phí thì phải kèm theo những chính sách quốc gia để đảm bảo chừng mức vấn đề công bằng xã hội mà trong đó xu thế gần đây trên thế giới người ta cho sinh viên vay vốn có nghĩa là chuyển sự chi trả hiện tại sang tương lai khi mà họ có khả năng chi trả.

        Nên sớm thiết kế quỹ tín dụng cho sinh viên vay vốn đi học. Phải nghiên cứu áp dụng vấn đề này để giải quyết bài toán công bằng xã hội trong giáo dục

        Vay tiền đi học

        Mặc Lâm: Gần đây phó thủ tướng, kiêm bộ trưởng Giáo Dục và Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân có cho rằng trong niên học tới cần tăng thêm học phí để tăng cường chất lượng giáo dục theo ý giáo sư việc này có thật sự giúp cho ngân sách nhà nước hay không và liệu giải pháp này có đáp ứng được tình hình khó khăn kinh tế mà tuyệt đại bộ phận dân chúng đang gặp phải hay không?


        Tôi cho rằng việc trình dự án tăng học phí có vẻ vội vã mà chưa có cơ sở lắm. Tuy nhiên ý kiến của người phản bác cũng bằng cảm tính nhiều hơn là cơ sở khoa học. Còn phương án cho sinh viên vay để đi học thì tôi tin là chúng ta có thể thực hiện được nếu có quyết tâm và kế hoạch đúng đắn trong vài năm tới.

        [/align]Giáo sư Phạm Phụ


        Giáo sư Phạm Phụ: Thật tế, Bộ Giáo Dục Đào Tạo đang soạn cái đề án học phí, đây là một vấn đề khá phức tạp mà cách tổ chức ở Việt Nam chưa tốt và một số thành phố như Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chưa thông qua bởi HĐND cuối cùng dẫn tới dư luận phản bác và vừa rồi Thành Phố Hồ Chí Minh gác lại vấn đề tăng học phí.
        Tôi cho rằng việc trình dự án tăng học phí có vẻ vội vã mà chưa có cơ sở lắm. Tuy nhiên ý kiến của người phản bác cũng bằng cảm tính nhiều hơn là cơ sở khoa học. Còn phương án cho sinh viên vay để đi học thì tôi tin là chúng ta có thể thực hiện được nếu có quyết tâm và kế hoạch đúng đắn trong vài năm tới.

        Mặc Lâm: Hiện nay có quá nhiều sinh viên ra trường không có việc làm thì tiền đâu để hòan trả cho những khoản vay khi đi học và do đó làm sao có đủ tiền để cho những sinh viên khác tiếp tục vay?


        Giáo sư Phạm Phụ: Vấn đề thứ nhất theo cách nhìn của tôi thì sinh viên có việc làm hay không thì có liên quan tới chất lượng đào tạo nhưng chủ yếu do nền kinh tế lúc ấy có tạo ra được công việc hay không. Thí dụ tôi lập một công ty mới, tôi cần 5 kế toán thì đứng trước mặt tôi là những em có chất lượng rất thấp tôi buộc lòng phải tuyển 3 em để làm việc.

        Nhưng nếu tôi không mở công ty này thì có 10 em có chất lượng kế toán rất cao đứng trước mặt tôi, tôi cũng không thể tuyển một em nào cả. Tôi cho rằng việc thất nghiệp của sinh viên không phải là cá biệt đối với Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới vẫn đang gặp phải trường hợp này. Vấn đề thứ hai, tôi muốn nói đối với một số ít sinh viên không có khả năng hoàn trả tiền vay thì nhà nước giúp trong các hình thức kéo dài thời gian chi trả hay vài biện pháp khác.

        Mặc Lâm: Xin cám ơn giáo sư Phạm Phụ đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn hôm nay.

        [/align] 
        [/align]© 2007 Radio Free Asia
        [/align][/align]


        Những bài liên quan

        [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/08/30/ConcernOfSocietyInTuitionOfVietnam_MLam/

        [/align]
        Đăng nhập để trả lời
        0
        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-01 18:24:08Ngọc Lý>
        Vì đâu ngày càng nhiều học sinh chọn ban cơ bản ?
        2007.09.01
        Nhã Trân, phóng viên đài RFA
         
        Xưa nay chọn ban trung học phổ thông cho phù hợp là một quan tâm của học sinh lớp 10 và khả năng, thiên hướng thường được dùng làm chuẩn mực. Thế nhưng, năm nay xảy ra hiện tượng học sinh nhiều trường chỉ chọn ban cơ bản, là chương trình tổng quát, thay vì theo các ban chuyên sâu như khoa học tự nhiên hoặc khoa học xã hội.

        Bấm vào đây để nghe bài này
        Tải xuống để nghe

          [/align]
          Thư viện trường RMIT International University Vietnam ở Sài Gòn hôm 20-12-2006. AFP PHOTO


          [/align]Lý do vì đâu ban cơ bản được chuộng và chương trình này hữu ích, tác động ra sao đến việc học tập cũng như thi vào đại học của học trò, biên tập viên Nhã Trân trình bày.

          Từ năm học 2006-2007, Bộ Giáo dục-Đào tạo triển khai việc phân ban trung học, đồng thời khai sinh thêm một ban mới, tên gọi ban cơ bản. Tuân thủ qui định dạy theo chương trình chuẩn, ban cơ bản gồm 8 môn học nâng cao, và học sinh được lựa từ 1 đến 3 môn tự chọn.

          Công tác tổ chức thực hiện phân ban THPT niên khoá 2007-2008 được hướng dẫn từ thượng tuần tháng 7 năm nay.

          Nhằm giúp học sinh định hướng trong việc chọn ban phù hợp, một số trường trung học phổ thông ở TP HCM cũng lập chương trình tư vấn cho học sinh trúng tuyển lớp 10 ngay sau khi danh sách trúng tuyển được công bố. Nhóm hướng dẫn đã tổ chức nhiều buổi giới thiệu các ban, đồng thời tư vấn cho phụ huynh và học sinh về vấn đề phân ban.

          Chi tiết về mỗi ban được trình bày, chủ đích giúp học trò nắm rõ tính chất và hướng đi của từng ban hầu có quyết định đúng đắn, là chọn chương trình học cho phù hợp với khả năng đồng thời nhắm đúng hướng thi tuyển đại học.

          Điều khá ngạc nhiên là, bất kể cố gắng của nhà trường, số học sinh đăng ký vào ban cơ bản chiếm hầu hết tổng số học sinh trúng tuyển lớp 10. Có thể lấy trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai làm một thí dụ điển hình.


          Em chọn ban cơ bản vì nếu học ban cơ bản thì lúc đầu học cân bằng, rồi sau này đến khi thi đại học thì mới chú trọng [chi tiết]. Em nghĩ như vậy đỡ hơn, vì có những học sinh lớp 10 bắt đầu chia [ban], lúc đầu học ban này nhưng về sau lại muốn thi ban khác. Nếu chọn ban cơ bản như vậy sẽ dễ hơn.

          [/align]Thùy Trang


          Cô Dương Thị Trúc Bạch, Hiệu trưởng, cho báo chí hay sau một loạt tư vấn cho học sinh và phụ huynh, rằng tất cả 690 học sinh của trường đều ghi danh học ban cơ bản, có vẻ như không màng đến các ban khác.
          Nhiều trường THPT còn lại như Lê Quý Đôn, Hùng Vương, Marie Curie, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thái Bình… cũng gặp trường hợp tương tự, là hầu hết học sinh đều chọn ban cơ bản, sau đó lựa môn cần học chuyên sâu để luyện thi vào đại học các khối.

          Sau 3 năm thí điểm chương trình phân ban, vì đâu học trò quyết định theo ban cơ bản? Lý do nào khiến ban này được chọn trong khi các ban khác dường như không còn được để ý như trước?

          Ý kiến của học sinh

          Nhã Trân hỏi chuyện học sinh một vài trường thì thấy hầu hết các em cho là theo chương trình ban cơ bản các môn học không đi sâu vào chi tiết, vì thế học sinh đỡ phải vất vả không cần thiết. Thùy Trang, một nữ sinh lớp 10 trường Lê Hồng Phong, giải thích:

          “Em chọn ban cơ bản vì nếu học ban cơ bản thì lúc đầu học cân bằng, rồi sau này đến khi thi đại học thì mới chú trọng [chi tiết]. Em nghĩ như vậy đỡ hơn, vì có những học sinh lớp 10 bắt đầu chia [ban], lúc đầu học ban này nhưng về sau lại muốn thi ban khác. Nếu chọn ban cơ bản như vậy sẽ dễ hơn”


          Theo như cô học trò lớp 10 vừa rồi, và cũng là ý nghĩ của đa số học sinh được hỏi, ban cơ bản được ưa vì chỉ đòi hỏi kiến thức bề rộng, không mất nhiều thì giờ học tập cho những môn không có trong các cuộc tuyển sinh đại học.

          Cùng mang ý nghĩ này là Thắng, một nam sinh lớp 11 trường Lê Quý Đôn: “Em nghĩ làm chủ bản thân mình là chính, tư vấn chỉ một phần nào đó thôi. Nói chung đã đi học thì tất nhiên môn nào cũng phải học hết, nhưng những môn để thi đại học thì mình tập trung học nhiều hơn.

          Ban A là bên có nhiều trừơng để thi nhất, và ban khoa học tự nhiên - toán lý hóa cũng có nhiều trường để thi, thành ra tập trung học mấy môn đó nhiều”



          Thế rồi về sau họ chế biến ra thành cái ban cơ bản, còn họ vẫn giữ cái ban khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Lý do là vì sách giáo khoa đã viết sẵn, in sẵn, hàng chục năm nay đã kiểm đi kiểm lại, cho nên bây giờ họ không muốn bỏ. Hiện nay các bộ phận làm chương trình sách giáo khoa có thể nói là rất bảo thủ. Nhiều ý kiến nói đi nói lại mãi mà chả bao giờ họ nghe cả.

          [/align]Giáo sư Hoàng Tụy



          Giới phụ huynh

          Học trò có nhận xét như thế. Giới phụ huynh thì đánh giá môn cơ bản ra sao? Trao đổi cho thấy những bậc cha mẹ có con chọn môn này cũng có cùng suy nghĩ:

          “Trong nhà tôi thì tụi nó học trường phổ thông trung học Thủ Đức, học ban cơ bản, học hết mọi môn. Đến khi thi thì các cháu chọn khối A - toán lý hoá. Nói chung thì nhà trường dạy gì thì chúng học đó, không theo phân ban. Học hết, ví dụ như toán, lý, hóa, anh văn, văn, sử, địa… các môn đều học hết, học như nhau. Học thì học bình thường. Cuối cùng rồi cũng thi vào đại học được”


          Hầu hết những học sinh và phụ huynh được hỏi có xu hướng tán thành ban cơ bản như các lý do vừa kể, là cho rằng môn cơ bản không buộc học trò phải khổ công trau giồi kinh sử mà vẫn có khả năng đậu tuyển sinh, bằng cách chỉ chú tâm vào những môn bắt buộc.

          Dầu vậy, có những phụ huynh hoặc giáo viên không chia sẻ ý nghĩ này. Một bà mẹ có 3 cháu trai theo ban khoa học tự nhiên và luôn đạt xuất sắc trong quá trình học tập, không nghĩ rằng ban cơ bản là cần thiết nếu học trò đi theo đúng năng khiếu, sở trường:

          “Các cháu đi vào ban toán. Đứa nào cũng chọn ban toán. Thật ra chọn đúng theo ý thích, lại học đúng ban chuyên toán ở Lê Hồng Phong, nên cũng không có gì thắc mắc cả”

          Một nữ giáo sư toán của một trong các trường này thì cho rằng phân ban khai triển đúng đắn khả năng của học sinh, đồng thời e ngại ban cơ bản có thể là một môi trường hỗn tạp, không giúp học trò định hướng được rõ rệt:
          “Tôi dạy môn toán cho tất cả các lớp. Mỗi lớp có 40, 50 em. Phân ban vẫn hay hơn. Phân ban là hợp lý. Nó có cái lý của nó. Chứ để tùm lum làm sao học sinh học được”

          Không tán đồng


          Ban cơ bản thì chỉ cần học toán với lý thôi, rồi đi thêm cái chương trình nâng cao về toán lý. Còn không thì phải học bao nhiêu thứ, 6 môn cả thảy. Bên khoa học cũng vậy. Thì như thế không hợp lý.

          [/align]Giáo sư Hoàng Tuỵ


          Một trong những người không tán đồng việc phân ban có thể kể là giáo sư kiêm khoa học gia Hoàng Tụy, từng giảng dạy ở Đại học Công nghiệp Hà Nội hàng thập niên lúc trước. Ông cho hay trước đây đã trình bày suy nghĩ với giới thẩm quyền:

          “Khi họp nói về việc phân ban tôi đã góp ý kiến với Bộ Giáo dục và khi ấy coi bộ họ đã đồng ý. Nhưng sau đó không hiểu vì sao họ thay đổi, làm không đúng ý kiến mà chúng tôi đã đề nghị. Theo chúng tôi đề nghị thì không có ban này ban kia, nhưng mỗi một môn như thế có thể để cho học sinh lựa chọn, hoặc có chương trình nâng cao, thành ra không có ban.
          Thế rồi về sau họ chế biến ra thành cái ban cơ bản, còn họ vẫn giữ cái ban khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Lý do là vì sách giáo khoa đã viết sẵn, in sẵn, hàng chục năm nay đã kiểm đi kiểm lại, cho nên bây giờ họ không muốn bỏ. Hiện nay các bộ phận làm chương trình sách giáo khoa có thể nói là rất bảo thủ. Nhiều ý kiến nói đi nói lại mãi mà chả bao giờ họ nghe cả.

          Tôi đã đề nghị sửa. Thế nhưng cách làm việc của chúng ta lâu nay vẫn như vậy. Cái gì đã đưa ra rồi thì cứ như thế. Góp ý kiến đi góp ý kiến lại vẫn không có gì thay đổi; cho nên năm nay vẫn tiếp tục như năm ngoái.”
          Các ý kiến không tương đồng về việc phân ban, hay nói chính xác hơn là về việc chọn ban cơ bản thay vì đi theo các ban khác, đang tồn tại.

          Tuy chưa ngã ngũ, thực tế cho thấy học sinh tiếp tục chọn ban cơ bản và không mặn mà lắm với những ban còn lại. Ông Phạm Văn Phiệt, Hiệu trưởng trường THPT Lê Quý Đôn, cho biết hầu hết học sinh đều xin vào ban cơ bản, thậm chí có em đã đăng ký ban khác tuy nhiên sau đó đổi ý, xin chuyển về ban cơ bản, và rồi học các môn nâng cao theo điều kiện thi đại học.

          Ở trường THPT Nguyễn Thượng Hiền Hai năm nay, hai phần ba số lớp ban A bị cắt giảm vì không có học sinh ghi danh. Trường Hùng Vương thì số lớp dạy ban cơ bản là 21 trên 27, tức chiếm hơn ba phần tư tổng số lớp cho học sinh trúng tuyển lớp 10.

          Lý do

          Giáo sư Hoàng Tuỵ phân tích lý do tại sao ông không tán thành ban cơ bản: “Khi đưa ra thì ban cơ bản được đa số học sinh hoan nghênh, vì thấy ban đó mềm dẻo, dễ thay đổi và hợp với tình hình hơn. Nhưng ý của chúng tôi không phải là [tạo ra] môn cơ bản, vì môn cơ bản thì phải học tất cả các môn, rồi lựa chọn 2, 3 môn thích, học nâng cao thêm các môn khác nữa.
          Như vậy là học chương trình ban cơ bản, rồi lại học các môn khác. Học như thế tốn thì giờ, mà lại không có hiệu quả. Đa số học sinh có thể, báo đăng đến 70% hay hơn 70%, là đều theo ban cơ bản cả, còn những ban kia rất ít.

          Thì chẳng có lý do gì mà chọn các ban kia: muốn đi sâu vào môn nào đấy thì cứ việc học cái ban cơ bản, rồi học chương trình nâng cao. Thí dụ vào ban khoa học tự nhiên, thì cả 6 môn đó đều học chương trình nâng cao cả, rất là nặng, nhưng cũng không học sâu. Thường trong 6 môn đó học sinh chỉ chọn độ 2, 3 môn thôi, việc gì phải học tất cả 6 môn như thế.

          Ban cơ bản thì chỉ cần học toán với lý thôi, rồi đi thêm cái chương trình nâng cao về toán lý. Còn không thì phải học bao nhiêu thứ, 6 môn cả thảy. Bên khoa học cũng vậy. Thì như thế không hợp lý.

          Phần lớn học sinh chọn ban cơ bản, rồi muốn học thêm gì thì học thêm, học kỹ, lựa chọn, nâng cao môn nào thích hợp. Thế còn ban khoa học tự nhiên thì ít [được chọn], mà ban khoa học xã hội thì còn ít nữa. Cái này là kiểu phân ban không đúng, không thích hợp.”
          Theo một số vị hiệu trưởng, ban cơ bản có chương trình chuẩn, tính ra nhẹ nhàng, ít đòi hỏi hơn các ban A hay C và vẫn cung cấp các kiến thức căn bản cần thiết. Một vài trường, như Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Quý Đôn, khuyên học trò nên chọn ban này đồng thời theo học những môn nâng cao trong suốt 3 năm bậc trung học phổ thông hầu đủ khả năng thi vào đại học.

          Cho đến nay chưa có ý kiến nào từ Bộ Giáo dục-Đào tạo, ngoài tư duy của giới giáo chức, phụ huynh và học sinh. Chuyện phân ban vẫn được thực hiện như qui định, bên cạnh các suy nghĩ khác biệt của mọi người.

          [/align][/align]© 2007 Radio Free Asia
          [/align][/align]___________________________________________

          Những bài liên quan

          [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/01/ReasonsMoreStudentsChooseGeneralProgram_NTran/

          [/align]
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-04 04:45:25Ngọc Lý>
           
          Hơn 500 tỷ đồng dành cho trường lớp bị sử dụng vào ... mục đích khác
           
           
          VietNam Net
          00:37' 24/08/2007 (GMT+7)
          Kiên cố hóa trường, lớp: Có tiền vẫn chưa biết cách tiêu


          (VietNamNet) - Hơn 500 tỷ đồng dùng để "xóa phòng học tranh tre nứa lá" đã được sử dụng vào mục đích khác. Từ khi phê duyệt chương trình đến lúc có mẫu thực thi...mất gần 2 năm. Bởi vậy, trong thời gian tới, việc tiêu tiền của chương trình "kiên cố hóa trường lớp học" sẽ đổi mới theo phương thức khác.


          Đây là những nội dung đưa ra từ hội nghị về kiên cố hóa trường, lớp học diễn ra ngày 23/8, tại Hà Nội.

          Cho vay công trái giáo dục để sản xuất nhựa




          Quang cảnh hội nghị,Báo cáo của Bộ GD-ĐT cho thấy,
          trong số 92,7% kinh phí chương trình kiên cố hóa
          trường, lớp học giai đoạn 2002-2006 đã giải ngân,
          vẫn có đơn vị chi sai mục đích.
           

          Theo kết quả kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính ở 36 tỉnh, số vốn đã sử dụng để thực hiện các công việc khác lên tới hơn 513 tỷ đồng.

          Tỉnh Hà Giang đã sử dụng hơn 59 tỷ đồng để thanh toán nợ; Tuyên Quang sử dụng gần 106 tỷ đồng để xây dựng lại các phòng học cấp 4 xuống cấp. Còn tỉnh Lạng Sơn dùng 4 tỷ đồng vốn công trái giáo dục cho doanh nghiệp vay để sản xuất nhựa.

          Theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận, tổng kinh phí nhà nước đầu tư thực hiện chương trình kiên cố hóa giai đoạn 1 (từ năm 2002) là 7.714 tỷ đồng. Tuy nhiên, hết 4 năm thực thi, vẫn còn trên 7% kinh phí chưa giải ngân.

          Các tỉnh có tỷ lệ giải ngân đạt thấp gồm Hà Giang, Bắc Kạn, Lai Châu, Đắk Nông, Khánh Hòa. Tính đến cuối tháng 6/2007 có 29 tỉnh chưa hoàn thành việc này.

          "Chậm giải ngân ở địa phương một phần do sự thay đổi lãnh đạo và các thành viên trong Ban chỉ đạo chương trình. Hoặc, chủ đầu tư chưa có sự phối hợp với các đơn vị thực thi làm thủ tục tạm ứng, thanh quyết toán. Mặt khác, cũng không loại trừ nguyên nhân do đơn giá xây dựng tăng, việc huy động các nguồn vốn địa phương khó khăn nên đến nay nhiều công trình vẫn chưa đủ vốn để thanh toán", ông Luận lý giải.

          Giải đáp vấn đề đặt ra, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cam kết, sắp tới khi các tỉnh tuyển chọn chủ đầu tư sẽ được rà soát năng lực, nếu chưa đủ khả năng sẽ được tập huấn.

          Dài cổ chờ hướng dẫn

          Nhiều đại biểu "kêu" thời gian để thực hiện chương trình là quá ngắn và gấp (4 năm) trong khi chậm hướng dẫn từ trung ương.
          Ông Đỗ Hữu Tài, Phó GĐ Sở GD-ĐT Đồng Nai cho biết, trong 4 năm, cùng với việc thống kê phòng, lớp học tạm... các địa phương phải "đối mặt" với điều kiện thay đổi, giá đền bù đất đai biến động liên tục. Trong khi đó, không có mẫu thiết kế nên địa phương đã phải tính toán xây mới toàn bộ. Mẫu thiết kế của Bộ Xây dựng cách đây 4 năm không còn phù hợp, nên cần có điều chỉnh.

          Theo GĐ Sở GD-ĐT Thanh Hóa Lê Xuân Đồng, với địa bàn trải rộng, riêng việc thống kê số phòng học tranh tre nứa lá cũng mất nhiều thời gian. Chưa kể, mức ngân sách trung ương hỗ trợ từ 70 -110 triệu cho mỗi phòng không phù hợp cho những địa bàn kinh tế khó khăn.

          Đại diện Bộ Xây dựng, ông Nguyễn Hữu Dũng đáp lời, 99 mẫu thiết kế năm 2003 chỉ là hướng dẫn để địa phương tham khảo. Từ đó, các địa phương phát triển thành những phòng học phù hợp.

          Tháng 11/2002, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình, nhưng mãi đến tháng 8/2003 mới có hướng dẫn. Đến 22 tháng sau mới có mẫu thiết kế cho những vùng khó khăn...

          Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nói, những vấn đề này sẽ được khắc phục để đẩy tiến độ thực hiện chương trình giai đoạn 2 nhanh và đạt hiệu quả.

          Giai đoạn 2: Nhà nước không rót tiền trực tiếp

          Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nêu con số khiến cả hội trường cười ồ: Sau 4 năm thực hiện chương trình, đã có 80% lớp học được xây mới thì số phòng học tạm cần được xây dựng sắp tới lại bằng với số phòng cần xây cách đây 4 năm.

          Nghĩa là, từ năm 2007 - 2010, chương trình cần đầu tư xây dựng 59.340 phòng, chưa tính đến hơn 93.000 phòng học xuống cấp chưa được đưa vào đối tượng được cấp ngân sách giai đoạn trước.

          "Bài toán" về quy mô là rất lớn. Nếu không đổi mới cách làm thì e rằng có tiền chưa chắc đã giải quyết được. Bởi vậy, ông Nhân đề nghị, để cuối tháng 10 có đề án triển khai chương trình kiên cố hóa giai đoạn 2007-2010, các địa phương phải lên danh mục đầu tư trình sớm.

          Cùng với các chế tài tạo điều kiện "thông thoáng" hơn cho các địa phương thực hiện chương trình kiên cố hóa giai đoạn 2, từng địa phương được tăng quyền chủ động.

          Đại diện Bộ Tài chính Trịnh Nam Tuấn cho biết, tới đây, về phía nhà nước, sẽ không trực tiếp "rót" vốn mà chỉ ban hành cơ chế quản lý và giám sát. Tất cả các khâu lập kế hoạch, cân đối kinh phí sẽ do địa phương quyết.

          Phương án 2 thực hiện từ 2007-2010, ngoài thanh toán phòng học 3 ca mới phát sinh, phòng học nhờ, mượn, các phòng học tạm, sẽ xây dựng lại các phòng học bán kiên cố (cấp 4 cũ) hết niên hạn sử dụng... Số vốn đầu tư dự kiến thực hiện là 15.914 tỷ đồng.

          Tới đây, trong chế tài thực hiện, bên cạnh khen thưởng, sẽ có nhắc nhở những đơn vị thực hiện không đúng mục tiêu. Đồng thời, 6 tháng, hội đồng nhân dân sẽ giám sát, kiểm tra 1 lần kế hoạch thực hiện chương trình. Có xử lý đối với những công trình không đúng mục đích...

          "Ngay sau hội nghị, các địa phương xây dựng phương án tổng thể trình Bộ GD-ĐT xem xét". Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo.

          • Kiều Oanh

          http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/08/733176/
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-04 06:27:44Ngọc Lý>
          Thiếu sách giáo khoa là chuyện bình thường
          2007.09.03
          Lê Dân, phóng viên đài RFA
           
          Trong những ngày đầu năm học, báo chí đều loan tin tình trạng sách giáo khoa khan hiếm. Bức xúc nhất là lời tuyên bố của người đứng đầu bộ phận độc quyền in ấn sách giáo khoa, cho đó là "chuyện bình thường". Lê Dân tìm hiểu thêm sự việc và trình bày như sau.


          Bấm vào đây để nghe bài này
          Tải xuống để nghe

            [/align]

            Học sinh đang tìm mua sách đã dùng rồi bày bán trên vỉa hè ở Bắc Ninh để chuẩn bị cho năm học mới. AFP PHOTO.

            [/align][/align] 
            [/align]Trong buổi tiếp xúc với báo chí hôm 31 tháng Tám, ông Ngô Trần Ái, giám đốc Nhà Xuất bản Giáo dục, cơ quan độc quyền biên soạn và ấn hành sách giáo khoa cho cả nước, đã giải thích là thiếu sách giáo khoa là bình thường, năm nào cũng có xảy ra.

            Gánh nặng cho gia đình

            Tình trạng thiếu sách giáo khoa cho năm học mới được ghi nhận tại nhiều địa phuơng trên cả nước, đặc biệt tại một số nơi như thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Phát hành sách tại đây cho biết tình trạng diễn ra lâu nay nhưng năm nay khan hiếm nghiêm trọng bất thường. Tại khu vực miền Trung tình hình đã diễn ra cả tháng nay.

            Một trong những lọai đang hiếm nhất là là sách lớp 12. Sách giáo khoa hiện nay vẫn thuộc độc quyền xuất bản của Nhà xuất bản Giáo Dục. Tình trạng thiếu sách lớp 12 năm nay được lý giải là do chương trình cải cách đã áp dụng đến lớp 11 vào năm học 2007 - 2008. Bộ sách lớp 12 năm nay là bộ sách cũ cuối cùng, chỉ còn dùng trong một niên khóa, do vậy đơn vị xuất bản đã in dè dặt vì lo ngại sách sẽ bị tồn đọng.

            Tuy nhiên lý đó không đứng vững vì không riêng gì sách lớp 12, mà tình trạng thay sách liên tục kéo dài đã mấy thập niên qua đã là một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một phụ huynh bức xúc nhận xét:

            “Hiện nay vấn đề thay sách, nước mình nghèo mà lại thay sách quá nhiều. Cứ mỗi năm mỗi sửa, bổ sung miết, làm cho số người nghèo bắt buộc phải mua sách. Sách người anh học rồi không để lại cho người em học được.”



            Hiện nay vấn đề thay sách, nước mình nghèo mà lại thay sách quá nhiều. Cứ mỗi năm mỗi sửa, bổ sung miết, làm cho số người nghèo bắt buộc phải mua sách. Sách người anh học rồi không để lại cho người em học được.

            [/align]Một phụ huynh bức xúc nhận xét

            Hầu như tất cả các quốc gia thịnh vượng như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singapore... không có nước nào xài "sang" như Việt Nam là mỗi năm in mới tòan bộ sách giáo khoa các cấp. Nhiều sách giáo khoa Vật lý, Hóa học của các nước dùng cả chục năm mà vẫn có giá trị. Vậy đâu là nguyên do của tình trạng "xài sang" về sách giáo khoa Việt Nam?

            Theo số liệu thống kê do báo chí Việt Nam thu thập được thì tính tới cuối năm 2006, toàn bộ sách giáo khoa các cấp của Việt Nam in ra đạt 280 triệu cuốn. Con số khổng lồ đó giúp cơ quan nhà nước độc quyền in ấn sách thu về 3,800 tỷ đồng, thu lợi nhuận ít nhất là 240 tỷ đồng.

            Độc quyền sách giáo khoa

            Trong một lần trao đổi với chúng tôi trước đây, tiến sĩ Ngô Như Bình, người được đại học Harvard mời sang giảng dạy, cũng từng nhận xét rằng:

            “Đương nhiên chuyện độc quyền sách giáo khoa là một trong những vấn đề lớn của nền giáo dục Việt Nam trong thời gian vừa qua. Đương nhiên là phải bỏ chuyện độc quyền, phải để cho giáo viên các trường phổ thông trung học, từ cấp dưới lên cấp trên, cấp dưới còn có thể cần ràng buộc, nhưng càng lên cấp cao hơn thì giáo viên càng phải được tự do lựa chọn những sách giáo khoa, giáo trình mà mình sử dụng trong lớp.”
             
            Khi tiếp xúc với báo chí hôm 31 tháng Tám, ông Ngô Trần Ái, giám đốc Nhà Xuất bản Giáo dục, vốn xuất thân là giáo viên Sinh Vật ở huyện Hòa Vang, Đà Nẵng, cũng không phải là người xa lạ với chuyện sách giáo khoa, đã đổ lỗi cho việc khan hiếm sách năm nay là ở khâu phát hành.

            Tuy nhiên, ông Phạm Minh Thuận, tổng giám đốc Công ty Fahasa, nhận định với báo chí rằng "tình trạng không cung cấp đủ sách giáo khoa cho học sinh trong điều kiện Nhà xuất bản Giáo Dục đang độc quyền việc xuất bản là lỡi của nhà xuất bản, chứ không do nhà phát hành”.

            Nhiều ý kiến vẫn cho rằng do tình trạng độc quyền sản xuất sách giáo khoa mới dẫn đến hậu quả tiêu cực lâu nay. Từ bao năm qua có không ít ý kiến xoay quanh vấn đề sách giao khoa được đưa ra. Từ chuyện nội dung không phù hợp, thiếu chính xác, có khi sai sót trầm trọng, đến giá cả, số lượng phát hành... Một vị phụ huynh học sinh ở Sàigòn than vãn:



            Chương trình giáo dục đã có rất nhiều cái gọi là thay đổi, cải cách. Mà cuối cùng cứ đi lòng vòng, không bao giờ đi đến đích.

            [/align]Một vị phụ huynh học sinh ở Sàigòn than vãn

            “Chương trình giáo dục đã có rất nhiều cái gọi là thay đổi, cải cách. Mà cuối cùng cứ đi lòng vòng, không bao giờ đi đến đích.”
             
            Nét mới nhất năm nay về vấn đề sách lại là giá cả. Tin nói là nhiều bậc phụ huynh vẫn trả tiền sách theo giá bìa mà không biết giá sách đã được giảm 5%theo chỉ thị của bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ trung tuần tháng 8 vừa qua, Bộ đã có công văn yêu cầu Nhà Xuất bản Giáo dục tính tóan để hạ giá sách xuống từ 5 đến 10%.

            Đến tuần qua, thì cơ quan này nói là đã yêu cầu các đơn vị liên quan thực hiện quyết định giảm giá sách. Đến ngày hôm qua, thì đa số các nhà sách tại hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh vẫn không niêm yết giá sách đã hạ.

            Nhận xét về "chuyện dài sách giáo khoa Việt Nam" một giáo chức, từng là đồng nghiệp của ông giám đốc Nhà Xuất bản Sách Giáo khoa thuộc bộ Giáo dục, nhận xét chua chát rằng:

            “Sự độc quyền của bộ Giáo dục trong vấn đề in ấn sách giáo khoa, hay soạn thảo sách giáo khoa có nhiều bất cập lắm rồi. Nhiều người đã nhắc tới vấn đề này là vừa lãng phí, vừa tạo ra nhiều tiêu cực.”
             
            Để tạm kết thúc, chúng tôi xin mượn lời của một vị tiến sĩ Tóan trong nước, được Hoa Kỳ mời sang giảng dạy tại đại học Boston mới đây trả lời báo chí khi ông về thăm Hà Nội, rằng "nếu có quyền thì ông sẽ thay đổi rất nhiều thứ".

            © 2007 Radio Free Asia




            Những bài liên quan

            [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/03/ScarcityVnEducationalBooksIsNormal_LDan/

            [/align]
            Đăng nhập để trả lời
            0
            <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-05 22:46:38Ngọc Lý>
            Chi phí trường lớp, nỗi lo của nhiều bậc phụ huynh
            2007.09.05
            Nhã Trân, phóng viên đài RFA
             
            Việt Nam đang trong mùa khai giảng niên học mới. Mùa khai trường năm nay đối với nhiều phụ huynh cũng tương tự như mấy mùa khai trường mấy năm gần đây, ngoài là một niềm vui vì con được tiếp tục đến trường còn là một nỗi lo. Nỗi lo âu này là gì, mời quí vị theo dõi phần trao đổi của Nhã Trân và một vài phụ huynh.


            Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
            Tải xuống để nghe

              [/align]
              AFP PHOTO

              [/align]Những trăn trở của phụ huynh

              Bức xúc này được phản ánh trong công luận và trên báo chí. Để rõ vấn đề, trước hết Nhã Trân hỏi thăm mẹ của hai cháu lớp 6 và lớp 9. Bà Lệ, một phụ nữ buôn bán lẻ ở chợ Trương Minh Giảng, Sài Gòn, chia sẻ suy nghĩ và ý kiến của bà. “Đầu năm học bà có thấy những chi phí phải đóng như là phí học, phí sách giáo khoa và nhiều thứ khác như quĩ hỗ trợ học sinh, quĩ phụ huynh… phí có phải chăng, có hợp lý hay không?”


              Bà Lệ: Có vụ đóng góp ngoài tiêu chuẩn. Đối với người giàu thì không quan trọng, nhưng đối với những ngừơi nghèo thì rất là khó khăn, rất là kẹt. Làm thì cũng chỉ đủ xài thôi chứ đâu có dư, phải vay mượn hay là nhờ vả anh em, đó là mình thuộc lớp tạm đủ ăn.

              Với lại có vấn đề như vầy, có những trường điểm hội phụ huynh họ đòi hỏi những cái phí chọc trời, là “ký sổ vàng”. Ký sổ vàng là cái thối nát nhất. Trường thì đổ là tại quĩ phụ huynh. Cũng tội một cái là ngày xưa lương của giáo viên, giáo sư cao, tính theo công chức, theo ngành giáo dục.

              Còn bây giờ giáo viên lương ít lắm, rất là ít. Nhà nước đâu có trả cho giáo viên nhiều. Rồi tuỳ theo cái phòng giáo dục của quận, thương tình thì gíup giáo viên, mà mình không biết cái nguồn đó ở đâu ra, nhiều khi còn hơn lương, chứ lương của giáo viên thì ít lắm.

              Nhã Trân: Thế còn vấn đề mua bảo hiểm sức khoẻ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể cho học sinh… theo bà thì giá cả như thế nào?


              Bà Lệ: Lộn xộn lắm. Ba cái vụ bảo hiểm này rất là lộn xộn. Mà nhiều khi tới lúc xảy ra sự cố gì thì…. Lộn xộn lắm, vấn đề tiền bạc, vấn đề này, đừng có đụng tới.

              Giải pháp nào cho ngân sách gia đình?

              Nhã Trân: Nếu nói rằng các phí quá cao, gây khó khăn cho gia đình, thì theo bà có cách nào? Giảm các phí này hay nên trả lương cho giáo viên cao để nhà trường không cần lập quĩ này quĩ nọ?


              Bà Lệ: Cái này tôi thấy là một cái khó tại vì nó cứ luẩn quẩn. Mới dự trù lên lương, phải nói là thiên hạ mừng luôn đó. Nhưng lương chưa lên thì vật giá đã lên rồi thành ra cũng luẩn quẩn lắm, chẳng tới đâu hết.


              AFP PHOTO

              [/align]Nó đòi hỏi một sự đổi mới về cách suy nghĩ và về cách làm việc. Rồi ngành giáo dục phải như thế nào. Mình thương con, mình nghĩ đến tương lai của con thành ra mình phải cố gắng, bằng mọi cách đóng những món tiền đó, biết làm sao gọi là đủ?

              Vật giá nó cứ như vậy hoài. Xăng thì nay thông báo lên, mai thông báo lên, một năm lên 2, 3 lần. Điện, nước cứ suốt ngày hăm he là lên.

              Tôi nghĩ rằng nhà nước cần kiểm soát giá cả, giữ được giá cả, cho nó phù hợp với mức sống của cả nước. Điển hình là xăng của Việt Nam giá đắt bằng xăng của thế giới. Đời sống của Việt Nam làm sao bằng thế giới mà xăng lại đắt bằng thế giới? Đi làm ở Sài Gòn mà con đi học ở Chợ Lớn hay ở Hóc Môn, hoặc ngược lại….

              Cầu mong khoảng vài ba năm nữa tìm được lối thoát cho dân đỡ khổ.

              Sự khác biệt giữa các hệ thống giáo dục


              Sau khi được nghe bày tỏ của mẹ hai cháu học sinh trung học ở Sài Gòn, chúng tôi hỏi chuyện ông Tường, cha 1 cháu đang học tiểu học, gia đình trước kia ở Sài Gòn, nay mới qua Mỹ đoàn tụ khoảng 2 năm nay.

              Nhã Trân: Thưa ông cháu nhà học lớp mấy, trường nào?


              Ông Tường: Con tôi học lớp 3 trường Kỳ Đồng.

              Nhã Trân: Trong trường có những quĩ như quĩ phụ huynh, quĩ lớp, tiền hỗ trợ tiền điện, mà phụ huynh phải đóng?


              Ông Tường: Trong trường có rất nhiều quĩ. Quĩ tu sửa nhà trường… vật chất nhà trường [như] bàn ghế, quĩ hội phụ huynh, quĩ lớp, rồi quĩ cho các cô giáo bảo mẫu… Nói chung là đủ các loại quĩ, đủ thứ tiền.

              Nhã Trân: Ông bà đóng tiền cho các quĩ này có thấy là hợp lý? Có phải chật vật khó khăn, xoay sở?


              Ông Tường: Đóng đầy đủ các quĩ đó thì rất là khó khăn. Học sinh nào học bán trú, học nửa buổi, thì ít quĩ hơn. Còn học nội trú, ở lại ăn trưa, ngủ trưa thì có thêm rất nhiều thứ tiền.

              Nhã Trân: Thế riêng về học phí và phí sách giáo khoa, ông thấy rằng có quá nặng hay không?


              Ông Tường: Học phí trừơng công thì không nặng, nhưng tiền các quĩ thì nặng. Ví dụ nếu học thêm anh văn, vi tính, vẽ, nhạc… thì phải đóng thêm. Các lớp đó là bắt buộc chứ không phải mình muốn học là học không muốn thì thôi, thế nhưng mình phải trả tiền, để mướn thêm giáo sư dạy.

              Nhã Trân: Ông thấy khoản tiền này nên tính chung vào học phí?


              Ông Tường: Tôi thấy [tính riêng] là không hợp lý. Nên tính chung vào học phí, vì chương trình dạy phải dạy văn hóa, như công dân đức dục… các thứ.

              Nhã Trân: Nói về tiền mua bảo hiểm cho các em, ông nghĩ rằng nhà trừơng nên thu khoản này?


              Ông Tường: Nên để phụ huynh tự lo, tự mua thì tốt hơn, vì phụ huynh được lựa chọn.

              Nhã Trân: Được biết gia đình ông đã qua Mỹ khoảng 2 năm nay. Có lẽ cháu vẫn còn tiếp tục đi học?


              Ông Tường: Vâng.

              Nhã Trân: Bên Mỹ ông bà trả tiền học cho con như thế nào, những món nào phải trả và những món nào được miễn phí?


              Ông Tường: Bên đây hiện nay tôi thấy không phải đóng học phí, không tốn tiền đồng phục, chỉ phải mua quần áo tập thể dục và dụng cụ học sinh cá nhân của các em thôi, không đáng kể. Không đáng kể so với mức ngày xưa phải đóng. Bây giờ mình cũng phải đóng nhưng nó không là một mối bận tâm lớn cho mình. Đầu năm các em mua một số lặt vặt linh tinh, không phải đóng thêm hàng tháng.

              Nhã Trân: Còn vấn đề sách giáo khoa, cháu có phải mua?


              Ông Tường: Lớp nhỏ không phải mua. Lớp lớn thì chỉ phải mua vài cuốn thôi.

              Nhã Trân: Nguyên cả năm học chỉ học, chỉ phải mua vài cuốn? Có phải là nhà trường cho mượn?


              Ông Tường: Trường họ cho mượn sách. Đa số sách các em có thể mượn thư viện của trường hoặc thư viện ngoài, chỉ phải mua một ít hoặc download trên internet, học trên computer.

              Nhã Trân: Theo ông những khoản thu phụ trội như hỗ trợ vật tư nhà trường như để sửa chữa bàn ghế, mua cây trồng trong khuôn viên trừơng…hoặc hỗ trợ thêm tiền điện, những khoản nào ông thấy vô lý?


              Ông Tường: Tôi thấy không khoản nào hợp lý hết, vì khi nhà trường đã tính học phí là tính các thứ vô trong học phí rồi, bây giờ thứ gì cũng yêu cầu đóng góp hỗ trợ thêm thì không hợp lý.

              Phụ huynh không biết phải đóng tới mức nào, có thêm cái gì là phải đóng thêm, phát sinh không biết sẽ phát sinh thêm món nào để đóng, không có giới hạn.

              Nếu mình đóng học phí mà mọi thứ đều gom vào đó hết trong tháng đó thì hợp lý, không phải lo nghĩ thêm nữa.

              Nhã Trân: Nói tóm lại, ý ông là nên gom tất cả mọi thứ đều nên được thu về một mối là học phí, sau đó không bắt phụ huynh phải đóng thêm tiền này tiền kia linh tinh, vì mình không tính toán trước được?


              Và chuyện bảo hiểm nên để phụ huynh mua bên ngoài, vì tuy nói là không bắt buộc nhưng nếu nhà trường cứ hỏi đến, cứ thôi thúc thì học sinh và phụ huynh cảm thấy rất là căng thẳng?


              Ông Tường: Đúng vậy.

              Nhã Trân: Vừa rồi là trình bày của một vài phụ huynh về lý do vì sao nhiều phụ huynh lại nặng trĩu mối lo trong mùa khai giảng của con em, và ý kiến cùng hy vọng của họ về một sự thay đổi trong vấn đề phí tổn học vấn ở Việt Nam.

              [/align]© 2007 Radio Free Asia
              [/align][/align]


              Các tin, bài liên quan

              [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/05/Why_some_parents_worry_as_new_school_year_begins_NTran/

              [/align]
              Đăng nhập để trả lời
              0
              <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-07 18:20:53Ngọc Lý>
              Các bậc phụ huynh chạy tiền vất vả chuẩn bị cho con đến ngày khai giảng
              2007.09.06
              Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA
               
              Năm học này, cả nước có hơn 3 triệu trẻ em mầm non, gần 17 triệu học sinh tiểu, trung học và trên một triệu rưỡi sinh viên đại học, cao đẳng. Như vậy, hôm qua có chừng 22 triệu học sinh, sinh viên Việt Nam bước vào ngày khai giảng, niên khóa mới 2008-2009.


              Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
              Tải xuống để nghe

                [/align]
                AFP PHOTO

                [/align]Khi con em mình bắt đầu vào một năm học mới thì bậc làm cha mẹ ai nấy đều âu lo, chạy tiền vất vả bằng đủ mọi cách, để mua sắm sách vở, áo quần, đóng mọi thứ chi phí để lo chuyện đèn sách, đầu tư cho thế hệ tương lai, để con cái hy vọng có cuộc sống không thua sút thiên hạ.

                Báo chí trong nước nói, cái gì cũng tăng giá, đồng phục tăng từ 5 tới 10% so với năm ngoái, cho nên nhiều gia đình lao động tận dụng lại đồng phục của năm trước, dù tình trạng áo quần không được tươm tất lắm.

                Từ tháng năm đến giờ, các loại tập vỡ đã tăng hai lần giá, nói chung thì giá đã tăng trung bình 30%, nhưng dù tăng cỡ nào thì phụ huynh cũng cần phải chạy tiền mua, vì đây là mặt hàng thiết yếu trong chuyện học hành của con cái mình.

                Bà Hạnh, từ Tân Bình cho biết cái khó của bậc làm cha mẹ vào dịp khai trường với hàng loạt thứ cần phải bỏ tiền ra mua sắm, mà giá cả cứ nhích lên hoài như bao nhiêu thứ khác trong đời sống hàng ngày. Đó là chưa kể sách giáo khoa, năm nào cũng thay đổi chút ít nội dung, nên học sinh không thể sử dụng sách cũ.

                Khi được hỏi là con cái của bà có vui khi đến trường ngày đầu không, bà đáp là trẻ nhỏ thì hớn hở, nhưng đứa con lớn theo bậc trung học thì không phấn khởi, vì chương trình giảng dạy không mấy thu hút hay hấp dẫn học trò.

                Trong câu chuyện với phóng viên Ban Việt Ngữ chúng tôi, em Kim, 8 tuổi thì kể là hôm qua đi học rất vui. Phần em Tâm 14 tuổi thì lại nghỉ khác, đến trường là một bổn phận của con trẻ, nhưng không khí trường em, cũng như thái độ của các thầy cô không làm cho em vui thích, hăng hái, khi bước vào năm học mới.

                Bà Ngọc ở Gia Định thì kể rằng, vì biết trước là giá cả những mặt hàng trang bị cho con trẻ chuẩn bị cho những ngày tựu trường sẽ tăng vọt, cho nên bà phải chạy lo từ trước, tránh cảnh bất ngờ vào giờ chót.

                Tuy nhiên, các bậc phụ huynh đều thắt lưng buộc bụng mà lo cho con cái mình đến trường học hành, cho có tương lai, vì không có cách nào khác hơn.

                Báo chí cũng cho hay là chánh phủ mới ban hành chỉ thị số 21/2007, về việc thực hiện chế độ cho vay ưu đãi để sinh viên theo bậc đại học, cao đẳng, có thể theo đuổi chương trình học, mà không phải bỏ học, vì không có tiền nộp học phí và trang trải các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu về ăn, ở, đi lại, cũng như tài liệu học tập.


                © 2007 Radio Free Asia
                [/align][/align]


                Các tin, bài liên quan

                [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/06/BackToSchoolsFor22millionPupilsAndStudentsInVietnam_DHieu/

                [/align]
                Đăng nhập để trả lời
                0
                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-08 04:35:27Ngọc Lý>
                Tiêu cực ở Trường Đại học dân lập Đông Đô: Lời bao biện thiếu căn cứ
                Lao Động số 208 Ngày 08/09/2007 Cập nhật: 8:03 AM, 08/09/2007

                [/align] 
                [/align] 
                [/align]


                Trụ sở Trường ĐHDL Đông Đô tại số 8 Nguyễn Công Hoan,
                Hà Nội cho đến nay vẫn là địa điểm đi thuê.
                 

                (LĐ) - Trong bài báo trước, chúng tôi đã đề cập đến việc tại Trường ĐHDL Đông Đô, người công khai tố cáo tiêu cực thì bị mất việc, Chủ tịch Công đoàn thì bị ép buộc phải kiểm điểm, nhận hình thức kỷ luật vì những lý do không đâu vào đâu.
                [/align]
                Giải thích về những quyết định này, Ban giám hiệu nhà trường lại cho rằng những người tố cáo tiêu cực là những người chống đối, không mang tính xây dựng.

                Có dấu hiệu rút tiền chia nhau

                Ngày 15.8.2007, phóng viên Báo Lao Động đã có cuộc làm việc với Ban giám hiệu nhà trường. Tại cuộc làm việc này, ông Nguyễn Niên (Hiệu trưởng) đã uỷ quyền cho ông Đàm Quang Giang (Hiệu phó) và ông Đỗ Hữu Tước (Trưởng phòng Tổ chức cán bộ) làm việc với chúng tôi.

                Tại cuộc làm việc, cả hai ông đã phủ nhận toàn bộ đơn tố cáo của ông Vũ Tráng và PGS-TS Chu Đình Thuý và phủ nhận luôn kết quả thanh tra của Bộ GDĐT trước đó về những sai phạm của nhà trường (chúng tôi đã nêu ra trong số báo trước). Tuy nhiên sự phủ nhận ấy rất thiếu căn cứ, chúng tôi chỉ xin dẫn ra 2 điển hình.

                Điển hình thứ nhất là việc ngày 22.8.2002, ông Nguyễn Niên đã ký hợp đồng số 42/HĐKT với ông Trần Đình Liêm - Giám đốc Cty cổ phần Cách Tân - về việc "giao nhận thầu hoàn thành việc giao đất và dự án đầu tư xây dựng".

                Với nội dung: Trường ĐHDL Đông Đô giao cho Cty cổ phần Cách Tân thực hiện dịch vụ xin đất cho nhà trường với "Kết quả cuối cùng của hợp đồng là Trường Đại học dân lập (ĐHDL) Đông Đô nhận được quyết định giao đất của UBND thành phố Hà Nội và hoàn thành thủ tục cần thiết để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thời gian thực hiện hợp đồng là 6 tháng; tổng giá trị hợp đồng là 1,8 tỉ đồng".

                Ngay sau đó, nhà trường đã chi tạm ứng bằng các phiếu chi cho ông Trần Đình Liêm 7 lần với số tiền 1,72 tỉ đồng. Thế nhưng cho đến thời điểm này, đã qua 5 năm (gấp 10 thời gian cam kết trong hợp đồng) tiền đã chi ra, thế nhưng một hòn đất để nhận về vẫn chưa thấy đâu.
                Chưa dừng lại ở đó, khi phát hiện có dấu hiệu bất minh trong hợp đồng này, một số cán bộ nhà trường đã đến hỏi Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch - Đầu tư Hà Nội về tư cách pháp nhân của Cty cổ phần Cách Tân thì nhận được văn bản trả lời số 28/XN-ĐKKD do Trưởng phòng Đặng Minh Tuấn ký khẳng định: "Người đại diện theo pháp luật của Cty cổ phần Cách Tân là ông Lê Anh Tuấn... Phòng Đăng ký kinh doanh đã nhận được công văn của Cục Thuế Hà Nội về việc Cty cổ phần Cách Tân tự bỏ khỏi địa chỉ kinh doanh"... 

                Một điển hình khác đó là việc chi tiền để thuê người đòi nợ trong vụ việc tranh chấp dân sự với Cty lâm sản Trung Văn. Vụ việc đã được toà án xét xử và toà đã tuyên buộc Cty chế biến lâm sản Trung Văn phải trả cho Trường ĐHDL Đông Đô hơn 1,5 tỉ đồng. Ngày 22.10.2003, ông Niên ra thông báo số 669/TB-ĐĐ triển khai chủ trương thu hồi nợ, trong đó có nội dung sẽ trích thưởng 400 triệu đồng cho ai đòi được số nợ trên.

                Và ông Phạm Đình Lâm - Phó Chủ nhiệm khoa Kiến trúc của nhà trường - đã "trúng thầu" và ký hợp đồng thoả thuận đòi tiền cho Ban giám hiệu. Đến ngày 15.8.2005, Cty chế biến lâm sản Trung Văn đã chuyển trả cho nhà trường 1,01 tỉ đồng. Nhà trường đã chi khoản tiền "phí dịch vụ thu nợ" hơn 280 triệu đồng cho ông Phạm Đình Lâm. Theo kết luận thanh tra thì tại thời điểm nhà trường ký hợp đồng dịch vụ đòi nợ, pháp luật VN chưa có quy định về việc mua bán nợ, do đó việc làm nêu trên là trái pháp luật.

                Chứng cứ khó chối bỏ

                Với việc cố ý ký các hợp đồng không theo nguyên tắc pháp luật nêu trên, đã thể hiện có dấu hiệu rút tiền chia nhau. Trả lời về vấn đề này, ông Đàm Quang Giang cho rằng: "Ông Trần Đình Liêm là người được Giám đốc Cty cổ phần Cách Tân Lê Anh Tuấn uỷ quyền làm Giám đốc để ký hợp đồng".

                Đây là một lý giải hết sức vô lý, bởi lẽ theo đăng ký thì Cty cổ phần Cách Tân chỉ có 1 người duy nhất đại diện trước pháp luật và làm giám đốc là ông Lê Anh Tuấn chứ không thể là người nào khác. Ông Giang cũng không thể đưa ra được bằng chứng gì về việc ông Phạm Đình Lâm đã có những biện pháp nào đó để thu hồi được món nợ cho nhà trường để hợp lý hóa số tiền hơn 280 triệu đã chi cho ông Lâm.

                Về việc yêu cầu ông Trần Ngọc Quang (Chủ tịch Công đoàn) phải kiểm điểm và nhận hình thức kỷ luật, tại cuộc làm việc với chúng tôi, ông Đàm Quang Giang cũng không nêu ra được ông Quang đã vi phạm vào điều nào của Luật Khiếu nại, tố cáo. Ông Giang cũng cho rằng vì ông Quang không phải là Chủ tịch Công đoàn chuyên trách, nên Ban giám hiệu nhà trường vẫn có quyền yêu cầu ông Quang phải kiểm điểm khi cho rằng có vi phạm.

                Không đồng tình với lý do này, ông Trần Ngọc Quang khẳng định: Tất cả những việc tôi làm đều thuộc lĩnh vực công đoàn và với tư cách của Chủ tịch Công đoàn, với tư cách và nhiệm vụ này, nếu tôi có sai phạm thì công đoàn cấp trên sẽ có trách nhiệm xử lý kỷ luật tôi. Việc Ban giám hiệu nhà trường yêu cầu tôi phải kiểm điểm và nhận hình thức kỷ luật là lạm quyền và can thiệp không đúng vào hoạt động công đoàn.

                Toàn bộ những việc đang xảy ra hiện nay ở Trường ĐHDL Đông Đô giống như một mớ bung xung, rất cần các cơ quan chức năng làm rõ để ngôi trường này đi vào hoạt động ổn định.




                [/align]Ngô Chí Tùng
                [/align][/align] [/align]http://www.laodong.com.vn/Home/xahoi/2007/9/54298.laodong[/align]
                Đăng nhập để trả lời
                0
                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-08 20:18:54Ngọc Lý>
                PTT Nguyễn Thiện Nhân: SGGP đăng tin sai sự thật
                Phó TT Nguyễn Thiện Nhân phản hồi thông tin báo chí

                VietNam Net - 07/09/2007 09:44 (GMT + 7)

                Ngày 6/9/2007, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã gửi một bức thư phản hồi  về việc báo SGGP đăng tải lời phát biểu của ông tại một cuộc họp báo mới đây.

                Để tôn trọng tiêu chí của mục Thông tin đa chiều, chúng tôi xin đăng tải nguyên văn bức thư này.

                Hà Nội ngày 6/9/2007
                Kính gửi đồng chí: Dương Trọng Dật - Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải phóng




                 
                Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân. Ảnh: quangngai.gov.vn.

                Hôm nay, sau khi dự khai giảng ở Trường THPT Nguyễn Tất Thành ở Hà Nội, tôi đọc báo Sài Gòn Giải phóng có bài: "Cái giá phải trả" của tác giả Mai Lan. Tôi thực sự bị sốc khi bài này có đoạn: "....Tại một buổi họp báo mới đây, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân lại khẳng định: Học phí chắc chắn sẽ phải tăng, có thể chấp nhận cả việc một số người đi học sẽ giảm vì tăng học phí".

                Tôi sốc, vì trên tờ báo của Đảng bộ và Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thân yêu, nơi tôi có may mắn được làm việc 23 năm, trên tờ báo mà  tôi  đã luôn trân trọng, đánh giá cao vì tính trung thực và tính chiến đấu của nó, lại có một bài báo sai trái sự thật, gán cho tôi đã phát biểu một quan điểm, một câu nói mà tôi không hề phát biểu như vậy.

                Tôi xin đề nghị đồng chí Tổng Biên tập yêu cầu người viết bài cung cấp tư liệu thật, để chứng minh cho việc tôi đã phát biểu như trên, và xử lý người có trách nhiệm liên quan theo luật báo chí.

                Nhân đây tôi xin thưa lại với đồng chí Tổng Biên tập một câu chuyện mà sáng nay tôi đã kể với các em học sinh và các thầy cô giáo tại lễ khai giảng ở Trường THPT Nguyễn Tất Thành.

                Cách đây mấy tháng tôi có thăm một số trường ở Bắc Giang, trong đó có một trường mầm non, ở vùng đồng bào dân tộc. Đời sống của đồng bào còn rất khó khăn. Học mầm non thì phải đóng hai khoản tiền là tiền ăn và tiền học. Có gia đình rất nghèo, chỉ cố gắng đóng được tiền ăn cho con, nhưng không đóng được tiền học. Khi nhà trường nhắc nhở việc đóng tiền học, thì gia đình đã mang một con chó của nhà để nộp cho thầy cô ở trường!

                Nghèo đến như vậy đó, đau lòng như vậy đó!

                Trong ngày khai trường tại một trường chuẩn quốc gia giữa thủ đô Hà Nội, mà tôi lại kể câu chuyện này, diễn ra tại một nơi cách Hà Nội chỉ hơn 100 km, vì tôi muốn các em không quên cái may mắn của mình, được học trong một ngôi trường hiện đại trong khi các bạn cùng trang lứa ở bao nơi khác còn rất khó khăn. Các em cần phải nỗ lực học tập vì mình, vì cha mẹ và đất nước.

                Cách đây hơn một tháng, tại Hội nghị toàn quốc về giáo dục mầm non, tôi đã nêu 4 yêu cầu cần đạt được và có thể đạt được khi tiến hành xã hội hoá giáo dục là:

                1. Tổng đầu tư của xã hội hoá giáo dục phải tăng, trong đó sự đầu tư của Nhà nước và của tư nhân đều tăng. Nơi nào thực hiện xã hội hóa giáo dục mà giảm đầu tư của Nhà nước cho giáo dục là không đúng. 

                2. Số người đi học phải tăng. Nếu việc chuyển đổi các trường bán công sang tư thục mà làm cho số học sinh giảm, vì không có khả năng đóng học phí cao hơn, thì việc xã hội hoá như vậy không đạt mục tiêu.

                3. Cơ hội, điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục phải tăng.

                4. Bình đẳng trong giáo dục phải tốt hơn.

                Cũng tại Hội nghị này, tôi đã chỉ đạo vận động trong thực hiện phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, để các em, nhất là con em của đồng bào dân tộc, được chuẩn bị tốt cho học lớp một, đặc biệt là làm quen với tiếng Việt. Đối với vùng có đời sống kinh tế quá khó khăn, bà con không có khả năng đóng tiền học cho trẻ 5 tuổi đi học thì Nhà nước phải lo, không thu học phí.

                Tôi muốn thưa lại với đồng chí Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải phóng hai sự việc trên để đồng chí có thể cảm nhận rằng, tôi, Nguyễn Thiện Nhân, không thể là người thiếu lý trí và lương tâm tới mức đã phát biểu như báo đã trích dẫn.

                Tôi kính chúc Báo Sài Gòn Giải phóng liên tục phát huy truyền thống quý báu của mình và của báo chí Việt Nam, đóng góp xuất sắc và sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay, trong đó có sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

                Xin gởi tới đồng chí và tập thể phóng viên, cán bộ, công nhân viên của Báo lời chào trân trọng.

                Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân (đã ký).

                Ghi chú: Trong cuộc họp báo trước khai giảng năm học mới vừa qua, khi các phóng viên hỏi về đề án học phí mà Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố dự thảo để lấy ý kiến của nhân dân trong tháng 9/2007 tôi có nói với các phóng viên:

                1. Mức học phí tuân thủ nguyên tắc chung là phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Ở vùng có mức sống cao, học phí cao hơn, vùng có mức sống thấp thì thấp hơn. Học phí do UBND các tỉnh, thành phố quyết định, trên cơ sở thu nhập bình quân của người dân trong tỉnh. Đa số người đi học sẽ đóng học phí theo mức này.

                2. Tuy nhiên, với các gia đình mà thu nhập thực tế thấp hơn mức thu nhập bình quân mà tỉnh, thành phố đã dựa vào đó để tính học phí thì được giảm hoặc miễn học phí.

                3. Với các gia đình có thu nhập thực tế cao hơn mức thu nhập bình quân của tỉnh, thành phố và có nguyện vọng được đóng học phí nhiều hơn để con em họ được học các trường chất lượng cao, học phí cao hơn. Song các địa phương vẫn giữ tỷ lệ các trường này ở mức thấp, để đảm bảo con em các gia đình có mức thu nhập trung bình hoặc thấp luôn có đủ chỗ học. Nếu thực tế chứng tỏ nhu cầu học trường chất lượng cao hiện có thì mới tăng số trường này.

                (Đối với các học sinh giỏi của tỉnh, chúng ta đã có hệ thống các trường chuyên. Giữa tháng 9, Bộ sẽ có hội nghị tổng kết 42 năm trường chuyên của cả nước và đề xuất các giải pháp mới).
                 
                Đăng nhập để trả lời
                0
                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-10 04:39:13Ngọc Lý>
                "Hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta đang tụt hậu"
                Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bài về giáo dục

                06:52' 10/09/2007 (GMT+7)


                (VietNamNet) - Ngày 6/9, VietNamNet nhận được bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tiêu đề "đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà". Được biết, bài viết đã có sự tham khảo của một số nhà khoa học, nhà giáo. Trong bài viết hơn 4.000 từ này, có nhiều vấn đề đã từng đặt ra từ trước tới nay; đồng thời nêu 6 vấn đề "cơ bản và cấp bách" nhằm "triển khai có kết quả công cuộc đổi mới nền giáo dục và đào tạo. Để rộng đường dư luận, VietNamNet giới thiệu bài viết này.

                      Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà




                HS Trường Tiểu học VIP (Hà Nội) trong lễ khai giảng. Ảnh: Phạm Hải

                Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam và cộng đồng dân tộc Việt Nam, là động lực quan trọng để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta tiến lên nhanh và vững, hội nhập quốc tế thắng lợi, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới.

                Đảng ta đã xác định rất đúng đắn: Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.


                Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội và sự nỗ lực phấn đấu của ngành giáo dục, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có một số tiến bộ mới: Ngân sách đầu tư cho giáo dục nhiều hơn, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, quy mô giáo dục được mở rộng, trình độ dân trí được nâng cao. Những tiến bộ ấy đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

                Tuy nhiên, cho đến nay, nền giáo dục và đào tạo của nước nhà vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập, từ việc xác định quan điểm và mục tiêu giáo dục đào tạo, xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, đội ngũ thầy giáo, hệ thống tổ chức cho đến công tác quản lý. Chất lượng giáo dục và đào tạo ở cả phổ thông và đại học đều thấp. Nội dung chương trình quá tải, sách giáo khoa có nhiều mặt lạc hậu; cách dạy và học nặng về nhồi nhét kiến thức một cách thụ động, thiếu kết hợp học với hành, giáo dục và đào tạo với thực tiễn kinh tế, sản xuất và đời sống. Học sinh, sinh viên kém năng lực chủ động, sáng tạo, kém khả năng thực hành, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước trong tình hình mới. Hiện tượng mua bằng cấp, gian lận trong thi cử, bệnh chạy theo thành tích còn phổ biến. Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sáng kiến tiến hành cuộc vận động “hai không”, kết quả bước đầu cho thấy, sự yếu kém về chất lượng giáo dục và đào tạo đã bộc lộ một cách rất đáng lo ngại. Sự bất cập thể hiện ở cả ba phương diện: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài.

                Nhìn chung, hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta đang tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới (1). Thực trạng này đã sớm được phát hiện. Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết và chủ trương đúng đắn mà chưa được thực hiện nghiêm túc. Mấy năm qua, chúng ta đã trăn trở tìm tòi cách giải quyết, nhưng tình hình chuyển biến rất chậm. Cho đến nay, vẫn còn những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau chưa được đưa ra trao đổi, bàn bạc để tìm ra phương sách chấn chỉnh có hiệu quả. Sự yếu kém, bất cập kéo dài của hệ thống giáo dục và đào tạo đã có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội.

                Nhìn lại tình hình đất nước, trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển (2).

                Trong khi Việt Nam bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhiều nước đã vượt qua thời đại cách mạng công nghiệp đi vào thời đại cách mạng thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Khoảng cách về trình độ kinh tế, khoa học và công nghệ giữa nước ta với các nước phát triển trên thế giới, kể cả một số nước trong khu vực, có xu hướng ngày càng mở rộng thêm, mà một nguyên nhân quan trọng là do chất lượng trí tuệ, năng lực sáng tạo và kỹ năng chuyên môn còn bất cập của nguồn nhân lực (3).

                Trước những thách thức của thời đại cách mạng tri thức gắn liền với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khi mà nước ta đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong cuộc đua tranh quyết liệt về mọi mặt, mà chủ yếu là đua tranh về trí tuệ của các quốc gia trên toàn cầu, sự yếu kém, bất cấp và tụt hậu của giáo dục và đào tạo đang trở thành lực cản đối với sự phát triển nhanh và vững của đất nước.
                Chúng ta đang ở vào thời kỳ có nhiều biến đổi sâu sắc và nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Trước những thách thức và yêu cầu của thời đại mới - thời đại của sự phát triển dựa chủ yếu vào nguồn lực thông tin và tri thức với xu thế toàn cầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia, các nước trên thế giới, ở mức độ khác nhau, đều thực hiện những thay đổi có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo. Ngay từ những năm 80 và 90 của thế kỷ XX, một làn sóng cải cách giáo dục đã diễn ra trên thế giới, trước tiên là ở các nước công nghiệp phát triển. Nước Mỹ đã đề ra chương trình cải cách giáo dục 10 điểm để chuẩn bị hành trang cho người Mỹ tiến vào nền kinh tế tri thức trong thế kỷ XXI, gần đây lại đưa ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho kỷ nguyên thông tin. Liên minh châu Âu gồm 29 nước đã thống nhất đổi mới hệ thống giáo dục, coi việc xây dựng không gian giáo dục và đại học châu Âu, không gian nghiên cứu châu Âu, không gian tri thức châu Âu là nền tảng cho sự tăng trưởng mới nhằm biến châu Âu thành một nền kinh tế tri thức hiệu quả nhất trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI…

                Tư tưởng chủ đạo của làn sóng cải cách giáo dục trên thế giới ở cuối Thế kỷ XX là chuyển hệ thống giáo dục và đào tạo cũ được xây dựng để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên công nghiệp cổ điển sang một hệ thống giáo dục và đào tạo mới thích ứng với những đòi hỏi của kỷ nguyên thông tin và tri thức.

                Ngay từ đầu thập niên 90 của Thế kỷ XX, Tổ chức UNESCO nêu lên 4 trụ cột của cải cách giáo dục đã đặc biệt nhấn mạnh: Thời đại mới đòi hỏi con người phải có cách nhìn mới, cách nghĩ mới và những kiến thức, kỹ năng mới của chính thời đại mình. Nói cụ thể hơn, con người mới đó phải có khả năng tư duy độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống và cách nhìn toàn thể; có năng lực sáng tạo và tinh thần đổi mới; có khả năng thích ứng với sự thay đổi thường xuyên, đa dạng, phức tạp, đầy biến động bất ngờ và bất định; có năng lực hành động hiệu quả và tinh thần hợp tác trong một môi trường đa văn hóa của một thế giới toàn cầu hóa.

                Nền giáo dục của kỷ nguyên thông tin là một nền giáo dục cho mọi người, tạo điều kiện để mọi người được học, giúp cho mọi người biết cách học, biết cách tự học, học tập liên tục, học suốt đời; là một nền giáo dục mở và liên thông, có khả năng hội nhập với nền giáo dục chung của thế giới.


                Nền giáo dục mới là một nền giáo dục hiện đại, sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông, mạng máy tính và Internet để tổ chức và triển khai quá trình dạy và học với những phương pháp và hình thức linh hoạt nhằm nâng cao nền tảng văn hóa và tinh thần chung của xã hội, mở ra những khả năng mới hỗ trợ cho quá trình học tập liên tục, học tập suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc, học từ xa và đặc biệt là tự học của mọi người. Học trực tuyến và tương tác qua mạng Internet sẽ trở thành một hiện tượng toàn cầu…

                Chúng ta cần nghiên cứu những quan điểm và bài học kinh nghiệm của các nước về cải cách giáo dục và đào tạo để có thể vận dụng thích hợp vào hoàn cnh cụ thể của nước ta.

                Mục tiêu sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, hội nhập quốc tế, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới trong thế kỷ XXI mà Đại hội X của Đảng đã nêu ra, cũng cần được hiểu với một tầm nhìn mới, nhận thức mới, bởi vì trong thế kỷ XXI, các mục tiêu đó chỉ có thể đạt được nếu ta xây dựng được nước ta trở thành một nước độc lập, có năng lực sáng tạo mạnh mẽ, góp phần tạo nên những thành tựu và cống hiến đặc sắc, độc đáo vào sự phát triển chung của một thế giới của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức toàn cầu hóa.

                Một nền giáo dục hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội đó phải là một nền giáo dục mở, hướng tới đối tượng trung tâm là người học, có trách nhiệm tạo điều kiện và môi trường cho mọi cá nhân người học được trang bị một nền học vấn vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, vừa hiện đại về tri thức, khoa học và công nghệ,…
                Mỗi con người mà nền giáo dục đó đào tạo phải có: 1. những hiểu biết và cảm thụ sâu sắc đối với những tinh hoa của truyền thống văn hóa dân tộc; 2. những kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại; 3. năng lực tư duy độc lập trên cơ sở kết hợp tư duy khoa học với phương pháp tư duy hệ thống, tư duy phức hợp, để có khả năng sống và hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo trong một thế giới phức tạp, đầy những bất định và đổi thay, đan xen những thách thức và cơ hội…

                Trong lúc ấy, nền giáo dục của nước ta về cơ bản vẫn dựa trên mô hình cũ. Để đưa đất nước phát triển nhanh với chất lượng cao và bền vững, tiến kịp thời đại trong kỷ nguyên thông tin và tri thức, chúng ta cần tiến hành một cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà.


                Để thực hiện chủ trương này, cần tập hợp một số chuyên gia hàng đầu về giáo dục, khoa học và quản lý để giúp Đảng và Nhà nước nghiên cứu, kiểm điểm, đánh giá tình hình giáo dục và đào tạo một cách khách quan khoa học với tinh thần nhìn thẳng và sự thật, làm rõ những kết quả đạt được, vạch rõ những yếu kém, bất cập, đặc biệt làm rõ những nguyên nhân vì sao mấy năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng tìm cách chấn chỉnh nhưng tình trạng yếu kém, bất cấp trong giáo dục vẫn tồn tại, chậm chuyển biến, để đi đến một nhận thức mới, một quyết tâm mới, một chương trình hành động mới làm chuyển biến căn bản nền giáo dục và đào tạo của nước nhà. Trước hết, cần đổi mới tư duy về quan điểm và mục tiêu giáo dục và đào tạo, từ đó mà đổi mới chương trình, nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục, đổi mới hệ thống tổ chức, công tác quản lý và hệ thống chính sách nhằm hiện đại hóa nền giáo dục của nước ta phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc và xu hướng phát triển chung của thời đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển và hiện đại hóa đất nước ta trong tình hình mới.


                Ngành giáo dục và đào tạo phải đổi mới tư duy và có quyết tâm cao đối với công cuộc đổi mới nền giáo dục. Trước mắt, cần rà soát lại các chủ trương, chính sách về giáo dục và đào tạo được đề ra trong các nghị quy ết của Đảng, trong luật và chiến lược giáo dục của Nhà nước để xác định một kế hoạch, một lộ trình đổi mới nền giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2020 với yêu cầu nâng cao một bước rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo.
                Để triển khai có kết quả công cuộc đổi mới nền giáo dục và đào tạo, cần thực hiện ngay một số vấn đề cơ bản và cấp bách:


                Trước hết, cần tổ chức lại và kiện toàn Hội đồng giáo dục quốc gia cho ngang tầm với nhiệm vụ. Đây là hội đồng khoa học, chủ yếu làm nhiệm vụ tư vấn cho Trung ương, Quốc hội và Chính phủ trong việc hoạch định chính sách và chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo ở tầm vĩ mô. Hội đồng phải tập hợp được các nhà giáo dục và khoa học có tâm huyết, những chuyên gia giỏi, am hiểu hình hình giáo dục trong nước và thế giới, có uy tín, phần lớn không phụ trách chức vụ quản lý, kể cả những người đã nghỉ hưu nhưng có năng lực, có kinh nghiệm và còn sức làm việc. Chủ tịch Hội đồng nên là một nhà khoa học giáo dục có uy tín phụ trách. Hội đồng có quy chế làm việc chặt chẽ, bảo đảm thực sự dân chủ, tôn trọng những ý kiến khác nhau, cùng nhau thảo luận đi đến kết luận và đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước.

                Hai là, tổ chức nghiên cứu rà soát lại hệ thống chương trình giáo dục và sách giáo khoa. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, ổn định chương trình làm cơ sở để sớm biên soạn xong sách giáo khoa chuẩn mực cho mọi bậc học, mọi ngành học trong một vài năm. Thay đổi cách tổ chức biên soạn chương trình, sách giáo khoa, thực hiện dân chủ, công khai, tránh độc quyền, có hội đồng thẩm định nghiêm túc, tránh sửa đi sửa lại, biên soạn kéo dài và thay đổi sách triền miên. Một số nhà khoa học nêu ý kiến có thể giải quyết vấn đề chương trình và sách giáo khoa chuẩn cho cả phổ thông và đại học trong một năm với kinh phí 100 tỷ đồng. Những ý kiến như vậy nên được trao đổi, bàn bạc.

                Ba là, cần nghiên cứu tổ chức hệ thống giáo dục quốc dân cho hợp lý. Sớm chấm dứt tình trạng “vừa thừa vừa thiếu cả thầy lẫn thợ”. Cấp đại học trước hết phải nâng cao chất lượng về mọi mặt, phấn đấu đến năm 2020 có một số trường đại học trọng điểm đạt đẳng cấp quốc tế. Chỉ mở thêm trường đại học khi có đủ điều kiện bảo đảm chất lượng. Sớm khắc phục tình trạng đào tạo trên đại học tràn lan, không bảo đảm chất lượng. Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng và thực hiện tốt việc phân luồng ở cấp phổ thông. Phát triển mạnh hệ thống các trường dạy nghề để đáp ứng kịp nhu cầu nhân lực có kỹ năng chuyên môn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phấn đấu trong một thời gian ngắn nhất có thể được, làm cho bằng cấp của nước ta, lao động kỹ thuật do ta đào tạo ra được thị trường quốc tế thừa nhận.

                Hết sức coi trọng phương châm gắn học với hành. Trường đại học gắn với viện nghiên cứu và các cơ sở kinh tế lớn. Trường dạy nghề gắn với các cơ sở sản xuất. Trường phổ thông phải tổ chức hướng nghiệp, gắn với đời sống kinh tế xã hội ở địa phương.

                Tiếp tục chống gian lận trong thi cử, chạy theo thành tích giả. Sớm chấm dứt mọi hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục.

                Bốn là, cần triển khai tích cực công tác phát hiện, tuyển chọn nhân tài, tổ chức đào tạo trong nước và ngoài nước để sớm có một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, bồi dưỡng thành đội ngũ giảng viên đại học, đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng của cấp đại học. Nâng cao chất lượng cấp đại học là cơ sở để nâng cao chất lượng cấp trung học phổ thông và dạy nghề. Đào tạo đội ngũ thầy giáo có trình độ quốc tế là vấn đề quyết định để đổi mới, hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà. Coi trọng việc lựa chọn đúng cán bộ quản lý giáo dục, nhất là chức bộ trưởng, hiệu trưởng các trường đại học lớn và giám đốc các sở giáo dục. Những cán bộ ấy phải là những người có tâm và có tầm, có phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, không bảo thủ giáo điều, có uy tín, có cách làm việc tập hợp được nhân tài, phát huy được trí tuệ của chuyên gia giỏi, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục.

                Để khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ đầu đàn và sự mất cân đối về cơ cấu, trước mắt, cần có cơ chế và chính sách tiếp tục sử dụng những cán bộ khoa học và giáo dục đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn đủ sức khỏe, có năng lực chuyên môn và có tâm huyết.

                Mặt khác, cần có chủ trương, chính sách và cơ chế tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà khoa học giỏi vào đội ngũ giảng viên cao cấp của các trường đại học và các viện nghiên cứu, thu hút các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam.

                Năm là, cần tăng thích đáng đầu tư, và quan trọng hơn, cần quản lý và sử dụng có hiệu quả ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Mức đầu tư phải tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo đi trước, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Mấy năm qua, mức đầu tư cho giáo dục và đào tạo (tính theo % GDP và % ngân sách nhà nước) đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, cần thấy rõ là mức đầu tư cho giáo dục và đào tạo tính theo đầu người của nước ta còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới (4), vì vậy, cần tính toán các mặt để có một mức tăng đáng kể từ nay đến năm 2020 nhằm tạo nên một sự chuyển biến căn bản về chất lượng và quy mô giáo dục và đào tạo. Đầu tư từ ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, nhưng chắc chắn không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng, bởi vậy, một nguồn lực quan trọng là cần xác định trách nhiệm, cơ chế và chính sách cụ thể nhằm huy động sự đóng góp của các tổ chức kinh tế và xã hội sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo. Đồng thời, đặc biệt quan tâm việc quản lý, phân bổ và sử dụng các nguồn đầu tư cho giáo dục và đào tạo một cách đúng hướng, hợp lý và hiệu quả, tránh gây thất thoát, lãng phí.

                Dành tỷ lệ đầu tư thích đáng cho việc nâng cấp, từng bước hiện đại hóa kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật cho giáo dục và đào tạo, đặc biệt là nguồn thông tin tư liệu, các trung tâm thử nghiệm, các cơ sở dạy nghề và sản xuất thử, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ và tin học.

                Cuối năm 2000, Trung ương đã có chỉ thị về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục và đào tạo vẫn còn hạn chế, còn kém so với các nước trong khu vực. Để tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục, cần có chủ trương và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các giáo viên, học sinh, sinh viên được dễ dàng sử dụng máy tính và Internet trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập. Đồng thời, cần nghiên cứu thực hiện chủ trương phổ cập tiếng Anh để nâng cao hiệu quả sử dụng máy tính và Internet trong giáo dục và đào tạo, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong hoạt động quản lý và kinh doanh (5).

                Sáu, nền giáo dục của ta là nền giáo dục của dân, vì dân, do dân. Dân chủ và công bằng là tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, trước hết phải được thể hiện trong giáo dục và y tế, hai lĩnh vực trực tiếp bồi dưỡng con người. Bác Hồ mong muốn “ai cũng được học hành”. Vì vậy, xu hướng đúng đắn là phải tiến tới bỏ học phí. Nhiều nước tư bản cũng đã bỏ học phí ở cấp phổ thông, có nước bỏ học phí ở cấp đại học. Đất nước Cuba còn nhiều khó khăn vẫn kiên trì thực hiện học tập và chữa bệnh miễn phí. Vì vậy, không lý gì ta lại chủ trương tăng học phí tràn lan (6). Phải kiên quyết thực hiện không thu học phí đối với giáo dục phổ cập theo đúng tinh thần của Hiến pháp. Mặt khác, cần nghiên cứu kỹ chế độ học phí theo hướng không tăng mà giảm dần, tiến tới bỏ học phí ở cấp phổ thông rồi tiến đến bỏ học phí ở cấp đại học. Ở cấp mẫu giáo, mầm non, không nên hình thành một loại trường cho các cháu con nhà giàu và một loại trường cho các cháu con nhà nghèo. Nên nghiên cứu vận dụng cơ chế khuyến khích cạnh tranh dạy tốt, học tốt, nhưng không nên phát triển tư nhân hóa trường công, phát triển xu hướng thương mại hóa giáo dục, coi nhà trường là tổ chức kinh doanh để thu lợi nhuận dưới danh nghĩa “xã hội hóa giáo dục”, không đúng với tinh thần chủ trương của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng nền giáo dục của nhân dân, vì nhân dân.

                *************
                 
                Đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền GD-ĐT là một điều kiện tiên quyết để đưa nước ta tiến lên nhanh và vững trên con đường hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa.
                ____________________________________

                (1) Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2006: Giáo dục Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước khác trong khu vực, chỉ có 2% dân số được học trong thời gian trên 13 năm. Việt Nam xếp hàng chót trong khu vực châu Á nếu xét trong độ tuổi từ 20 đến 24 chỉ có 10% học lên tới đại học (so với Trung Quốc 15%, Thái Lan 41%, Hàn Quốc 89%). Tỷ lệ 167 sinh viên/1 vạn dân là rất thấp so với khu vực và các nước phát triển.

                (2) Một nước được coi là “kém phát triển” nếu GDP/người dưới 750 USD/năm (theo Liên hiệp quốc) và dưới 1.000 USD/năm (theo phân loại và xếp hạng của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD); GDP/người của Việt Nam hiện nay khoảng trên dưới 600 USD/năm.

                (3) Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), (năm 2005), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát.

                Báo cáo về phát triển con người của Liên hiệp quốc (UNDP) đánh giá: Việt Nam tụt hậu so với Trung Quốc 10 năm, Thái Lan 15 năm, Malaysia 20 năm, Hàn Quốc 25 năm, Singapore 35 năm, Nhật Bản 40 năm.

                Nếu tiếp tục tốc độ phát triển như hiện nay (GDP tăng 8% - 8,6% mỗi năm và GDP/người cứ 10 năm tăng gấp đôi) thì đến năm 2020, Việt Nam vẫn đi sau Thái Lan 15 năm và GDP/người vẫn thấp hơn nhiều nước trong ASEAN.

                (4) Hiện nay, mức đầu tư cho GD-ĐT tính theo đầu người của Việt Nam chỉ bằng 1/8 của Thái Lan và chỉ bằng 1/20 mức trung bình của các nước phát triển.

                (5) Hiện nay, khoảng 90% nguồn thông tin, tri thức khoa học và công nghệ trên internet được viết bằng tiếng Anh.

                (6) Hiện nay, tỷ lệ đóng góp giữa nhân dân và nhà nước ở ta là 50/50, trong khi tỷ lệ đóng góp cao nhất của người dân trên thế giới khoảng 20% (Mỹ 19%, Pháp 7%, Trung Quốc 12%).
                 

                Đại tướng Võ Nguyên Giáp
                http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/09/738921/

                _______________

                TIẾNG NÓI CHÍNH THỨC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO:

                Sau đây là ý kiến của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về nguyên nhân chính của các vấn nạn hiện nay, phần này Ngọc Lý đọc thấy trên Website của Bộ bằng tiếng Anh, không tìm thấy phần tương tự trong Website bằng tiếng Việt, nên xin đăng nguyên bản tiếng Anh lên để các bạn tham khảo .

                http://en.moet.gov.vn/?page=6.1&view=3451
                (ngày 09/10/2007, địa chỉ trên có nguyên văn text dưới đây, dù có thể bị xóa đi ngay)


                The causes of these weaknesses and shortcomings from a subjective perspective are seen as follows: the level of education management has not caught up with the practice and the needs of development as the economy is experiencing the transition from a centrally planned to a market economy with socialistic orientation; it does not coordinate well or effectively use the state and social resources for education; the change in the thinking as well as mode of management is slow decision making in terms of strategic orientation and policy at macro level in order to solve appropriately the relations between enrollment, quality and effectiveness in education is slow and late. The legal documents on education are not issued in a timely manner. Education inspection is weak and does not gain due attention. Due attention is not paid to the theoretical problems of education development in the new period in a way to direct the practical activities. Little attention is paid to enhancing the capability of education managerial staff at different levels. The ethics of certain number of managers and teachers has degraded.

                The guiding view point “education is the top national policy” is not fully shared by some governmental officials and managerial staff at different levels and therefore does not serve as guidance for their practical activities. Education is still considered as the business only of education sector. This hampers co-operation and consistent coordination between other sectors, different administration levels and social forces with education sector for the cause of education development, nor is it paid due attention in the co-operation between school, family and social education.

                From an objective perspective, during the past years, education in this country has been under a strong pressure because of the increase of the population and the level of mass education. At the same time, the labour supply exceeded the demand, job placements provided by economic development was limited and the investment capability for education is still poor. The fact that the country is moving to a market economy and implementing an open policy is now changing the social values and the quality of labourers. This has direct impact on the orientation of personality development of learners. The education sector of our country has not carried out effective measures to respond positively to these changes.

                The delays in the reform of state administration, in the renovation of economic management, finance management, labour utilization and salary policy, etc., are the factors that hamper the effective solution of education issues, the mobilization of all social power for education development, the rapid growth in response to the high demands of country’s industrialization and modernization.

                *

                Tóm lại, vấn đề chính của sự tụt hậu giáo dục là ở cơ chế của Đảng và Nhà Nước .

                Đây là tiếng kêu rất can đảm của Bộ Giáo Dục, những người đang phải "đội đá vá trời" trong một cơ chế độc đảng toàn trị, bảo thủ, trì trệ, và đầy tham nhũng, không còn lương tâm nữa  ("the ethics has degraded")

                Trong các điều Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đưa ra, thiếu điều quan trọng nhất: Thay đổi cơ chế.

                Tại sao bao nhiêu năm rồi "Đảng sớm nhận ra" mà cho đến nay "chúng ta vẫn tụt hậu"?

                Tại sao trẻ không đủ tiền đóng tiền học đến phải bỏ học, cả nước chỉ có trên 80% trình độ tiểu học, 2% trình độ Đại học, giáo viên lương chết đói, thì ngân quỹ quốc gia phải dùng để trả lương cho một hệ thống 3 triệu đảng viên cồng kềnh, tham nhũng từ trên xuống dưới, ăn mất tiền học và tiền y tế của dân ?

                Xếp áo phải xếp từ cổ.

                Hãy dành ngân quỹ quốc gia cho việc giáo dục thay vì trả lương cho hệ thống đảng song song với hệ thống nhà nước, cả hai hệ thống đều "ngồi mát ăn bát vàng và tham nhũng" để đến hôm nay phải "đi tìm người tài đức ra giúp Đảng và Nhà Nước "? Thế thì hãy để ngân quỹ trả lương cho người tài đức, Đảng và Nhà  Nước có liêm sỉ thì hãy tự từ chức đi, để tiền cho trẻ con đi học và lo y tế cùng đền bù cho các gia đình liệt sĩ đang bị lấy mất nhà mất đất hầu ổn định đất nước .

                Hãy xóa bỏ Điều 4 Hiến Pháp .

                Để cho mọi nỗ lực của dân tộc thực sự là của dân, vì dân, và cho dân .

                Mong lắm thay .


                Ngọc Lý
                Đăng nhập để trả lời
                0
                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-13 03:43:32Ngọc Lý>
                 
                Hoa Lư
                Học phí - nỗi niềm muôn thuở của phận nghèo
                00:44' 13/09/2007 (GMT+7) 
                 

                (VietNamNet) - Nếu học phí được cộng đồng biết cụ thể như chi trả lương cho giáo viên, xây dựng trường lớp và nhằm tăng chất lượng giáo dục, số người phản đối tăng học phí cũng không nhiều. Nếu nhìn thấy hiệu quả thật và sự minh bạch, số đông các bậc phụ huynh sẽ mở hầu bao như các bậc tiền nhân từng gánh gạo và mang gà đến trả công thầy đồ một cách tự nguyện.

                “Lộ trình” đi học của con nhà nghèo

                Khi tôi học tiểu học trường làng những năm 60, mỗi lần xin tiền học phí, mẹ tôi lại mếu máo: “Đào đâu ra ngần ấy, con ơi?”. Sáu anh chị em đang tuổi đi học, trải đều từ lớp 1 đến lớp 4 cùng xin tiền vào một ngày đầu tháng, trong khi hai em tôi lít nhít lại sắp đến trường. Nông dân vùng chiêm trũng quê tôi với một mùa lúa làm sao đủ tiền trả cho con đi học. Nào học phí, tiền giấy bút, quần áo, rồi đóng góp trường sở - mẹ tôi thường gọi là “tiền khổ, tiền sở” - và thêm nhiều loại đóng góp không tên gọi là tiền “trời ơi, đất hỡi”.



                Chỉ huy "Ngưu Ma Vương". Ảnh: Theo Asia grace


                Để giải quyết vấn đề nan giải về tiền học, bố tôi ra một quyết định “Khổng Minh gạt lệ, chém Mã Tốc” mang tính “lộ trình”: Chị gái đầu lòng đi học muộn tuổi nên đến lớp 2 biết đọc khẩu hiệu là đủ, vì “con gái lớn rồi cần gì nhiều chữ”.


                Hai ông anh trai khỏe mạnh được ưu tiên học hết lớp 4 cũng nghỉ để phụ việc nhà. Hai đứa em gái sau, tùy cơ ứng biến, học tốt sẽ cho đến lớp 7. May ra, cậu em út lúc lớn lên đến trường không phải đóng học phí vì nước ta đã giàu lên.


                Riêng tôi sức “cò lả”, nghỉ cũng chẳng được việc gì nên ông quyết cho đi học đến khi nào “hết chữ thì thôi”, hoặc “dốt quá thì ở nhà chỉ huy Ngưu Ma Vương (chăn trâu)”. Mẹ tôi thỉnh thoảng lại thì thầm: “Cầu giời, khấn phật, phù hộ độ trì để ông Chính phủ bỏ cái học phí khốn khổ này đi”.

                Tăng học phí, chi tiêu khác có giảm?

                Trong mục đích Thiên Niên Kỷ “Trường học cho tất cả mọi người – education for all”, các nhà tài trợ Quốc tế như UNICEF, Ngân hàng Thế giới hay UN hoạch định chương trình với Chính phủ các nước đang phát triển nhằm tiến tới xóa bỏ tiền học phí cho học sinh phổ thông, nhất là các em trong diện gia đình nghèo. Học phí và chi tiêu cho học hành là rào cản, không cho con em người nghèo đến lớp.

                Khảo sát 80 nước đang phát triển trên thế giới về giáo dục phổ thông, cho thấy 97% quốc gia có chế độ học phí và các chi tiêu bắt buộc khác như đóng góp cho trường của phụ huynh hay cộng đồng, tiền mua sách vở, đi lại, quần áo đồng phục thậm chí cả lệ phí thi cử, trong đó, có 40% các nước quy định bắt buộc về học phí. Họ cũng không đưa ra được kết luận về sự liên quan giữa học phí và chất lượng đào tạo.

                Đóng học phí được coi là chuyện bình thường ở các nước Nam Á. Vùng Đông Á, học sinh phổ thông ở Indonesia, Trung Quốc hay đảo Solomon đều phải đóng như Việt Nam ta. Ở Trung Quốc hay Ai Cập, người ta thu học phí nộp vào ngân sách nhà nước và được phân bổ lại theo kiểu “xin cho”. Nhưng hầu hết các nước khác, trường tự thu học phí và chi tiêu tại chỗ. Rõ ràng, học phí được dùng tại trường, có sự kiểm soát chặt chẽ của cộng đồng và luật pháp, chắc chắn người dân sẽ yên tâm hơn vì nhìn thấy hiệu quả nhãn tiền.

                Theo thống kê, số tiền dân nước ta chi cho con đi học thì học phí chỉ chiếm khoảng 4%, 29% chi cho sách vở tài liệu, 15% cho quần áo và đồng phục, 13% cho đóng góp trường, sở và đến 39% cho các chi tiêu “trời ơi” như học thêm, mua sách ngoài chương trình kể cả việc “đến thăm thầy cô”. Ở Ấn Độ, chi cho học phí là 13%, dùng đến 76% cho sách vở, dụng cụ học tập và chỉ có 1% cho việc “đất hỡi”. Thái Lan không có chế độ học phí nhưng qui định chi cho sách vở, quần áo và đóng góp trường, sở lại chiếm rất cao và đặc biệt không có chi tiêu “đi đêm”.

                Câu hỏi ở đây là nếu dân ta đồng ý tăng gấp ba lần, thậm chí bốn lần học phí như hiện nay thì phần 39% chi cho “trời ơi đất hỡi” có biến mất như ở Thái Lan hay chí ít cũng giảm đi một nửa? Có đảm bảo lương giáo viên tăng gấp đôi để họ không phải dạy thêm hoặc bịa cớ để dạy “ngoài giờ”?
                Chất lượng giảng dạy sẽ tăng gấp ba hay cuối cùng lại “vẫn thế vì cơ chế”? Phải chăng, thấy ngành điện hay xăng dầu tăng giá thì giáo dục cũng bắt chước vì kinh tế thị trường? Ngành GD & ĐT có đưa ra được một lộ trình từ nay đến năm 2020 việc tăng, giảm và tiến tới bỏ học phí như thế nào nếu Việt Nam đạt thu nhập 5.000 USD - 10.000USD/năm/người, như một giấc mơ? Xin các chính khách xa-lông máy lạnh thấu hiểu, đồng tiền “của đau con xót” dân nghèo chi ra phải biết mục đích và hiệu quả.

                Người nghèo: Càng tăng học phí, càng nghèo?

                Các nghiên cứu về giáo dục của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ trên thế giới, các hộ gia đình dành đến 20% thu nhập cho con đi học ở bậc phổ thông, ở châu Phi tỷ lệ này là 30%, Liên Xô cũ là 40% và Việt Nam trung bình 44%, vào loại cao nhất thế giới. Điều đó chứng tỏ dân ta hết lòng vì tương lai con em và cũng thuộc vào quốc gia… nghèo.



                Quỹ tín dụng cho người nghèo. Ảnh: Theo BCHT
                 
                Những phân tích đã chỉ ra rằng gia đình càng nghèo, phần trăm thu nhập dành cho chi phí học hành càng cao và vì thế càng làm họ nghèo thêm nếu cho con đi học. Ví dụ, một gia đình thu nhập hàng năm là 12 triệu đồng (gần tương đương thu nhập bình quân hiện nay theo đầu người của VN). Nếu dành 44% thu nhập cho con đi học nghĩa là mất đi 5,2 triệu, họ chỉ còn lại 6,8 triệu cho các chi tiêu khác cho cả năm bao gồm ăn uống, quần áo, thuốc men v.v... Một hộ khá hơn cùng xã với thu nhập 36 triệu một năm, cứ cho là giầu nên mua quần áo, đồ dùng học tập đắt hơn và tạm cho chi phí khoảng 10 triệu (gấp đôi hộ trên) cho học hành, chỉ tương đương với 28% thu nhập.


                Quyết định tăng học phí sẽ làm người nghèo sẽ nghèo thêm, gia tăng khoảng cách trong xã hội. Gia đình khó khăn vùng nông thôn hay miền núi sẽ ưu tiên cho con trai đi học, con gái ở nhà lao động. Tiêu chí về công bằng xã hội và bình đẳng giới sẽ dần biến mất.


                Đất nước ta đã thành công đưa 58% hộ đói nghèo từ năm 1993 xuống dưới 20% vào năm 2004 và năm nay là 15% với tốc độ khoảng 3,5% hộ thoát nghèo hàng năm. Không hiểu sau khi tăng học phí, tốc độ số hộ vượt qua ngưỡng nghèo có tiếp tục giảm 3,5% hàng năm hay số vượt nghèo qua năm trước lại quay về nơi xuất phát?

                Người giàu: Hướng tới trường chất lượng cao

                Đương nhiên, người giầu hoặc thu nhập khá trở lên bao giờ cũng có khả năng cho con cái học ở những trường có điều kiện tạo ra chất lượng cao. Việc họ đóng học phí cho con đến trường không là vấn đề lớn như những người nghèo. Học phí hiện phải đóng 100 nghìn, nếu tăng lên 5 lần (500 nghìn) người ta vẫn chấp nhận được, miễn là sau đó chất lượng trường lớp và giảng dạy lên “gấp ba lần” cũng tốt lắm rồi.

                Chúng ta đều hiểu rằng ngân sách ở những quốc gia đang phát triển, bao giờ cũng hạn hẹp nên việc thu học phí để đóng góp thêm cho ngành giáo dục là lẽ đương nhiên, nhất là đối với một nước như Việt Nam đang cố đạt thu nhập 1.000 USD/người/năm đến năm 2010.


                Quốc gia đã giàu thì việc miễn học phí cho học sinh phổ thông rất dễ thực hiện như ở Bắc Mỹ, châu Âu hay thậm chí như ốc đảo Đài Loan. Người giàu sẵn sàng đóng thêm học phí, nhưng ông nông dân nghèo như bố tôi thì không thể. Theo cơ chế trường công như hiện nay, người nghèo cũng khó cho con đến trường nếu tăng học phí và người giầu với mong muốn cải thiện chất lượng giáo dục lại không muốn ném tiền vào miệng “thuồng luồng” nếu họ không thấy hiệu quả.

                Trong thực tế chắc chắn đã và đang diễn ra một sự phân hoá tự nhiên, ở những trường tư nhân, thậm trí trường Quốc tế, con cái các đại gia, các gia đình giầu có, khá giả có khả năng theo học. Người giầu chắc gì thích gửi con đi học ở nước ngoài nếu ngay tại quê nhà cũng có trường chất lượng cao, không mất chất xám cũng như ngoại tệ lại được gần con. Thuế lợi tức của các trường đó có thể giúp một phần cho trường công thông qua sự điều tiết của Nhà nước.




                Trường THPT Chu Văn An, trường chất lượng cao. Ảnh: Diễn đàn trường CVA
                 
                Gia đình có thu nhập thấp sẽ được các trường công thu nhận con cái họ vào học do ngân sách nhà nước đầu tư. Những gia đình nghèo thấy con mình có khả năng và quyết tâm cho con ăn học đến nơi đến chốn cũng có thể vay ngân hàng lãi suất thấp để cho chúng ăn học ở các trường chất lượng cao và hoàn trả sau 10 hay 15 năm sau.

                Làm thế nào để có cơ chế trường tư song hành với hệ thống trường công - có cạnh tranh vẫn tốt hơn là độc quyền. Câu hỏi này xin dành cho ngành GD & ĐT. Chỉ e rằng sau khi thực thi chiến lược trường công-tư, số cán bộ cồng kềnh thuộc Bộ cùng các sở GD & ĐT lại vơi đi một nửa.

                Giá như phụ huynh biết học phí dùng để làm gì?

                Tôi đến thăm Trà Vinh, được biết chùa chiền ở đây rất to và đẹp, trên nóc dát vàng. Người Khơ me rất nghèo, nhà tranh vách lá, nhưng lại cúng tiền xây chùa vì họ tin vào tín ngưỡng và con cái họ được học trong đó.

                Cậu con trai bốn tuổi của tôi đi nhà trẻ, thấy lớp nóng quá về bàn: “Mẹ ơi, mẹ mang cái điều hòa nhà mình đến lớp con cho mát”. Chuyện đùa hóa thật, các bà, các cô bàn nhau, tự đóng góp tiền, mua điều hòa lắp và hứa trả cả tiền điện hàng tháng. Thậm chí, một số gia đình nghèo lại được các bác khá hơn gánh vác. Các bậc phụ huynh sẵn sàng bỏ tiền xây dựng trường lớp nếu họ thực sự thấy hữu ích cho con cái.

                Trên website của Bộ GD & ĐT có một cửa sổ nhỏ thăm dò ý kiến bạn đọc: “Theo bạn, nguồn thu từ học phí lâu nay được các trường sử dụng phần lớn vào việc gì?”. Vào thời điểm tôi viết bài này, có khoảng 2000 phiếu và gần 60% chọn “Không hề biết” học phí dùng cho mục đích gì. Nếu ở site khác chắc kết quả còn tệ hơn.

                Phương cách có từ thế kỷ trước là thu học phí, nộp vào ngân sách để rồi phân bổ lại cho các trường như hiện nay có còn giá trị ở thế kỷ 21 này? Tôi tin rằng nếu học phí được cộng đồng biết cụ thể như chi trả lương cho giáo viên, xây dựng trường lớp và nhằm tăng chất lượng giáo dục, số người phản đối tăng học phí cũng không nhiều. Nếu nhìn thấy hiệu quả thật và sự minh bạch, số đông sẽ mở hầu bao như các bậc tiền nhân từng gánh gạo và mang gà đến trả công thầy đồ một cách tự nguyện.

                Thay cho lời kết

                Viết những dòng này, tôi nhớ đến bố mẹ tôi vất vả sớm khuya nuôi tám đứa con ăn học. Sau gần 50 năm nhìn lại “lộ trình” của ông bố, chị tôi ít học nhất là người nghèo nhất, các cháu con của chị học đến lớp 7 rồi bỏ ở nhà làm ruộng. Các anh em tôi có khá hơn một chút, nhưng không cháu nào vào đại học, tiếp nối cha anh “hết phổ thông, xin ông cầm cầy”. Còn lại chỉ mình tôi ra được khỏi lũy tre làng, học mãi vẫn không thấy hết chữ. Giá như lúc đó, học phí không là cản trở chính việc các anh chị em tôi đến trường thì hôm nay các cháu của tôi cũng không phải quanh quẩn mấy dãy núi Ninh Bình, nổ mìn phá đá.

                Ai cũng mong muốn con em mình đến trường khang trang, thầy cô yêu nghề, hết lòng vì học sinh thân yêu. Đấy là giấc mơ bao đời của các bậc cha mẹ khi cho con đi học. Di chúc Cụ Hồ cũng viết: “Ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.


                Thiết nghĩ, mỗi quyết định về tăng, giảm học phí đều phải có nghiên cứu khoa học, có c ơ sở thực tiễn, xem xét tác động của nó đến toàn xã hội vì việc tăng học phí động chạm đến hàng chục vạn gia đình. Nếu chính sách, lộ trình tăng, giảm học phí, sự minh bạch trong chi tiêu, các giải pháp cho mọi tầng lớp được bàn thấu đáo và nhân dân đồng thuận thì khỏi lo việc đóng góp. Dân ta vốn hiếu học nên luôn mong muốn con cái có tri thức bằng người. Họ sẵn sàng thắt lưng buộc bụng để con được đến trường.

                Mong các vị chức sắc quyết định tăng học phí, khi ngồi xa-lông máy lạnh, uống ly trà ướp nhài vào giờ nghỉ trưa, hãy tự đặt mình trong vai của ông bố hay bà mẹ nghèo khó đang lội ruộng giữa mùa hè nóng 42OC ở miền quê Hà Tĩnh khô khốc gió Lào. Vài đồng học phí rất có thể làm cho hàng triệu người nghèo ở thế kỷ 21 phải ra những quyết định đau đớn như của bố tôi từng làm nửa thế kỷ trước.
                 
              • Hoa Lư

                  Các số liệu trong bài viết được tham khảo trong báo cáo của Nghiên cứu về phí giáo dục trong phổ thông cơ sở. (User Fees in Primary Education – The World Bank).
                   
                   
                  http://www.vietnamnet.vn/thuhanoi/2007/09/740199/
                • Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-14 21:59:45Ngọc Lý>
                  Thiếu tự do tư duy và tự do ngôn luận, giáo dục "chuyên" của XHCN đi vào ngõ cụt:

                  Trường chuyên: Tạo nhân tài hay luyện "gà nòi"?
                  VietNam Net 23:23' 14/09/2007 (GMT+7) 
                   

                  (VietNamNet) - Sau 42 năm, hạn chế đầu tiên đối với hệ thống trường chuyên được ngành giáo dục thừa nhận là “việc xác định mục tiêu chưa rõ”. Các trường THPT chuyên hầu như chỉ tập trung vào việc luyện thi học sinh giỏi (HSG), thi ĐH; còn có HS không năng khiếu được tuyển vào trường THPT chuyên.

                  Nhiều vấn đề đã được đặt ra từ hội thảo tổng kết 42 năm hệ thống trường chuyên, lớp chọn - diễn ra ở Hải Phòng trong hai ngày 14 và 15/9.


                  &gt;&gt;9 chương trình bồi dưỡng nhân tài

                  Luyện "gà nòi" và ôn thi ĐH


                  Lễ khai giảng năm học 2007 - 2008 khối phổ thông chuyên,
                  Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội). Ảnh: Phạm Hải


                  “Mục tiêu giáo dục của trường THPT chuyên còn được hiểu chưa thống nhất, dẫn đến có những mô hình, cách gọi tên khác nhau như năng khiếu, trường chất lượng cao, nhân tài…” - ông Nguyễn Anh Dũng, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục nhận xét. 


                  “Một số trường khi đến kỳ thi HSG cho HS bỏ hết các môn học khác, chỉ tập trung vào môn chuyên. Điều này làm cho các em trở nên “què cụt” về kiến thức, kỹ năng”, ông Nguyễn Văn Lợi, Hiệu trưởng trường Chuyên ngữ, ĐH Ngoại ngữ, ĐHQG Hà Nội… và hầu hết đều chung ý kiến: trường chuyên là nơi luyện “gà nòi”. 


                  Theo ông Trịnh Khôi, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Bắc Ninh, SGK cho riêng HS chuyên từ bao lâu nay không có, nhà trường và giáo viên đều phải từ “mò”. Không có một chương trình chuẩn nào cho HS trường chuyên, giảng dạy mông lung.


                  Ông Võ Anh Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM) nhận thấy, việc thực hiện mục tiêu “phát hiện, bồi dưỡng và phát triển HS năng khiếu” chưa được đầy đủ. Do thiếu chính sách động bộ, các trường hầu như chỉ tập trung vào việc luyện thi HSG và sau đó là thi ĐH. Nội dung giảng dạy phụ thuộc vào đề thi HSG hàng năm chứ không phải nhằm cung cấp kiến thức tạo điều kiện cho các em HS năng khiếu phát triển và đi sâu học tập, nghiên cứu bộ môn mình yêu thích.


                  Cần xác định lại, việc thi HSG chỉ là một trong những hoạt động của trường THPT chuyên. Đó không phải là nhiệm vụ chính và cũng không phải là tiêu chí đánh giá.


                  Hệ quả của sự “mơ hồ” về mục tiêu đào tạo này, theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Vọng, đã “dẫn đến việc tập trung cao cho thi HSG, thi vào ĐH, chưa thật chú trọng đúng mức đến giáo dục toàn diện và chăm sóc sức khoẻ cho HS”. Thậm chí, báo cáo tổng kết của Bộ GD-ĐT còn cho rằng, học sinh các trường THPT chuyên còn rất yếu về tiếng Anh, sức khỏe, chưa thật tự tin, khả năng hòa đồng trong giao lưu với bạn bè quốc tế, trong môi trường đa ngôn ngữ còn hạn chế.


                  HS chuyên: vẫn "ngồi nhầm lớp"


                  Cả nước hiện có gần 48.000 HS chuyên đang theo học ở 74 trường. Hiện tượng “ngồi nhầm lớp” ở ngay trong trường chuyên là có thật, ông Nguyễn Huy Tú, giảng viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội khẳng định.


                  Theo ông, cách tuyển sinh hiện nay không chính xác: "Với cách tuyển truyền thống, các trường ra đề thật khó, ai làm được bài sẽ tuyển. Nhưng với những dạng bài quá khó thì nếu được luyện nhiều các em có năng lực bình thường nếu được luyện nhiều vẫn có thể làm được. cách ra đề như thế cũng không đánh giá được tính sáng tạo của HS. Còn nếu thi bằng phương pháp trắc nghiệm cũng chỉ nhìn ra được từ 10 – 15% năng lực của một người”.
                  Đồng tình với cách nhìn đó, ông Đặng Đình Tới, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN bổ sung: "Phụ huynh HS, và ngay cả HS, nhiều người mong muốn tìm ở trường chuyên một môi trường học tập sạch và tốt, học để thi đỗ ĐH chứ không phải để phát triển năng khiếu. Hiện nay mỗi lớp chuyên có từ 30 – 40 em, nhưng số HS thực sự có năng khiếu ít hơn nhiều”. Ông Tới dẫn chứng hàng năm số HS chuyên lý của ĐH Khoa học Tự nhiên vào học Khoa Vật lý của các trường ĐH chỉ chiếm 1/10, và lại không phải là những em học tốt nhất. 


                  Thực tế này được nêu rõ trong tổng kết của Bộ GD-ĐT: "Ở một số môn chuyên, nội dung thi chủ yếu là kiến thức, kỹ năng cơ bản, chưa có hình thức kiểm tra năng khiếu, tài năng thông qua các trắc nghiệm về chỉ số thông minh IQ, chỉ số sáng tạo và năng lực đặc biệt theo các lĩnh vực. Do vậy, còn có những học sinh không có năng khiếu thực sự; chỉ cần cù, chịu khó, chăm học được tuyển vào trường THPT chuyên".


                  Thiếu giáo viên thực sự "chuyên"


                  Ảnh: Phạm Hải


                  Ông Võ Anh Dũng chỉ ra một bất cập: "Chúng ta có hệ thống trường THPT chuyên già nửa thế kỷ nhưng không hề đào tạo giáo viên dạy chuyên. Nếu không xuất thân từ trường chuyên thì các SV tốt nghiệp ĐH sư phạm hoàn toàn xa lạ với nội dung giảng dạy tại trường THPT chuyên. Thêm vào đó, chỉ xây dựng chương trình THPT chuyên cho chương trình cải cách cũ nhưng chưa có SGK nên giáo viên rất ngán ngại khi bắt đầu tham gia dạy chuyên".
                  Một lý do rất đời sống, chế độ chính sách hiện nay cho giáo viên chuyên còn thấp, không đủ sức bù đắp công sức bỏ ra và không đủ sức thu hút giáo viên giỏi đầu tư nghiên cứu để giảng dạy chuyên.

                  Sự phát triển ồ ạt của các trường dân lập chất lượng cao, các trường liên kết với nước ngoài khiến lãnh đạo các trường chuyên, đặc biệt các trường chuyên ở hai thành phố lớn Hà Nội và TPHCM, rất lo lắng.


                  Bà Lê Thị Chính, Trường THPT chuyên ngữ, ĐHQG Hà Nội cảnh báo: “Trong khi học phí tại các trường chuyên chỉ là vài chục nghìn một tháng, và tiền lương trả cho giáo viên cũng chỉ theo đúng quy định, thì việc các trường quốc tế thu học phí tới 7 – 8 triệu/ tháng và sẵn sàng thu hút giáo viên giỏi về trường bằng mức lương “tương xứng”, thì việc giáo viên sẵn sàng bỏ trường ra dạy ngoài là có thật”.


                  "Đây là cuộc chiến không cân sức” - ông Nguyễn Chu Hùng, Trưởng ban đào tạo ĐHQG TP.HCM “rất đau lòng trước việc đội ngũ thầy cô tốt như thế lại đang dần chảy máu về khu vực tư nhân”.


                  Ông Bùi Văn Năm, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Bến Tre phân tích, sự thiếu hụt giáo viên dạy chuyên còn thể hiện ở chỗ, rất ít học sinh giỏi chọn ngành sư phạm, và sau khi ra trường rất ít em theo nghiệp giảng dạy.


                   “Sau hơn chục năm dạy trường chuyên, trường tôi có hàng trăm HSG cấp quốc gia. Nhưng tất cả những em này, sau khi lên TP.HCM học đại học, đều ở lại lập nghiệp tại THPCM hết, không một em nào trở về địa phương chứ đừng nói là về trường dạy học. Nếu kêu gọi, cùng lắm là các em hỗ trợ tiền bạc để khuyến học, khuyến tài cho các lớp đàn em, chứ kiến thức, trình độ của các em thì trường không được “hưởng”.


                  Lập chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân tài


                  "Không nên băn khoăn về sự tồn tại của trường chuyên. Hệ thống trường này phải tồn tại để có hạt giống, có hệ thống. Tuy nhiên, phải điều chỉnh lại cho phù hợp", ông Nguyễn Thành Nhân, Trưởng phòng Giáo dục chuyên nghiệp Tây Ninh nêu quan điểm.


                  Thứ trưởng Nguyễn Văn Vọng khẳng định hơn lúc nào hết, sự nghiệp bồi dưỡng, phát triển nhân tài cho đất nước phải được đặt lên một tầm cao mới với “yêu cầu mới, nguồn lực mới và cách làm mới”.


                  Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện nhân nhấn mạnh: "Gốc của trường chuyên là khuyến khích các HS có năng khiếu đặc biệt và say mê học tập. Vừa qua, thi Toán quốc tế chúng ta đứng thứ 3 thế giới, tuy nhiên, Toán học lại đứng thứ 70".


                  Yêu cầu mới, như dự kiến của Bộ là “xây dựng và phát triển các trường THPT chuyên thành hệ thống chủ lực, phát hiện những HS có tư chất thông minh, khá giỏi nhiều môn học, bồi dưỡng các em trở thành những HS có tình yêu đất nước, có ý thức tự học, có nền tảng kiến thức vững vàng, có phương pháp tự học, tự nghiên cứu, có sức khoẻ tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế”.


                  Để thực hiện tinh thần mới này, Bộ GD-ĐT đã đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể. thành lập Ban chỉ đạo “chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân tài” giai đọan 2008-2020 do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng làm trưởng ban; một Thứ trưởng Bộ GD-ĐT là Phó trưởng ban thường trực.

                  Cùng với đó, sẽ thành lập bộ phận quản lý của Bộ GD-ĐT về hệ thống trường THPT chuyên, quản lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, học sinh các trường THPT chuyên, tiến tới thành lập Cục Đào tạo phát triển tài năng.

                  • Bảo Anh

                  http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/09/741045/
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-20 08:40:21Ngọc Lý>
                  "Không thể chấp nhận tăng học phí"
                  Giáo sư Hoàng Tụy
                  Cựu Viện trưởng Viện Toán Học VN
                  BBC 19/9/2007

                  [/align] 



                  Tiền ăn học cho con cái thường chiếm một khoản lớn trong chi phí hàng tháng của mỗi gia đình

                  Dự án tăng học phí của Bộ Giáo dục - Đào tạo Việt Nam đang gây ra nhiều ý kiến tranh cãi.
                   

                  [/align]Sau khi một tờ báo trích lời Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói rằng "có thể phải chấp nhận cả việc số người đi học sẽ giảm vì tăng học phí", ông Nhân phản ứng lại rằng ông không nói như vậy.

                  Tuy nhiên, trong cuộc trả lời báo Sài Gòn Giải Phóng, vị bộ trưởng vẫn khẳng định rằng "đối với bậc đại học, nếu không tăng học phí thì không thể giải quyết được vấn đề chất lượng".

                  Một trong những người phản đối mạnh mẽ nhất chủ trương tăng học phí, GS. Hoàng Tụy, cựu Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, nói rằng không thể chấp nhận việc buộc người dân tăng khoản đóng góp khi mà kinh phí giáo dục chưa được dùng một cách hiệu quả.

                  Xã hội hoá giáo dục


                  Theo Giáo sư Hoàng Tuỵ, việc tăng học phí chỉ nên thực hiện sau khi đã tiến hành các biện pháp chống lãng phí, chống tham nhũng.

                  Giáo sư Hoàng Tuỵ nói thậm chí chỉ cần chấn chỉnh việc sử dụng các nguồn thu hiện thời của ngành giáo dục cũng đã đáp ứng được đáng kể việc tăng lương cho giáo viên và bổ sung kinh phí giáo dục. Do vậy, ông nói, việc tăng thu để bù đắp các khoản thất thoát là điều vô lý.

                  Cũng có ý tưởng chỉ tăng khoản thu đối với người giàu trong lúc duy trì mức đóng góp hạn chế đối với người nghèo, hoặc thậm chí cấp học bổng cho các đối tượng nghèo, được đưa ra.

                  Phó Vụ trưởng Vụ Công tác HSSV (Bộ GD-ĐT) Nguyễn Đình Đức nói kể từ tháng Chín 2007, mức học bổng tối thiểu tại các trường cao đẳng và đại học sẽ không thấp hơn mức học phí cao nhất của mỗi trường.


                   Ngành giáo dục hiện nay đang sử dụng nguồn tiền của nhà nước và dân đầu tư vào không hiệu quả. Cần phải chấn chỉnh quản lý trước khi đòi tăng học phí. 

                  [/align]Giáo sư Hoàng Tuỵ

                  [/align][/align]
                  Điều đó có nghĩa là mỗi khi mức học phí tăng lên thì các đối tượng được cấp học bổng cũng sẽ được nhận thêm tiền.

                  Được biết, số người được cấp học bổng được đảm bảo chiếm 30% tổng số học sinh, sinh viên mỗi trường.

                  Tuy nhiên, Giáo sư Hoàng Tuỵ nhận xét đây là một hình thức nhằm biến giáo dục thành một lĩnh vực kinh doanh, chuyển sang cổ phần hoá các đại học công để biến những nơi này thành các cơ sở kinh doanh và do vậy, làm mất đi tính công bằng của hệ thống trường công.

                  Ông nói, trong bối cảnh số người nghèo là quá đông so với số người giàu, việc đầu tư giáo dục lẽ ra phải hỗ trợ người nghèo thì quá trình thực hiện từ trước tới nay lại thường là ưu đãi người giàu, phục vụ tốt những đối tượng có tiền trong lúc người nghèo lại không được hưởng nhiều những lợi ích từ việc phát triển giáo dục.

                  Từ lúc bắt đầu năm học mới, báo chí trong nước thường đưa tin nhiều về nỗi đau đầu lo tiền học phí và các loại phụ phí khác đi học.

                  Theo báo điện tử vnexpress.net, tổng học phí ở một lớp học tiểu học tại Hà Nội là 4 triệu đồng mỗi học kỳ, nhưng quỹ phụ huynh phải "tự nguyện đóng góp" lên tới 12-13 triệu đồng mỗi năm.








                  Nguyen Van Ninh, Quảng Ninh
                  Tệ nạn này là tàn dư của các chế độ trước đây để lại chứ không phải nó được phát sinh ở chế độ này như một số độc giả quá bức xúc mà vội kết luận... Đọc lịch sử ta sẽ rõ...-Nhà nước và nhân dân Việt namđang ra sức phòng ,chống tham nhũng nhưng không thể triệt để được vì còn phụ thuộc voà một số yếu tố khách quan: -Còn Nhà nước thì còn quyền lực dẫn đến còn quan liêu và tham nhũng, nhưng nó ở mức độ nào còn phụ thuộc vào sự phát triển, văn minh của xã hội. - Bản thân mỗi con người luôn tồn tại ý thức tiêu cực là:mang lại lợi ích về cho mình mà không quán triệt được quan điểm: Quyền lợi của mình lại là nghĩa vụ của người khác. Với lại ta phải thống nhất với nhau rằng: Việc đưa hối lộ cũng là tham nhũng. Mong diễn đàn nên khách quan, đừng hằn học mà phản cảm... Cám ơn chuyên mục đã có chương trình mà cả Thế giới đang quan tâm.

                  Học trò dốt
                  Coi như dưới XHCN không còn trường công nữa, mà chỉ có trường quốc doanh. Nếu đảng CSVN cho phép dân được mở trường tư không chừng học phí rẻ hơn nhiều, phụ huynh không bị vòi đóng góp thêm, và nhờ ganh đua nên có nhiều trường nổi tiếng với thày cô giỏi, học trò siêng năng. Chỉ sợ một điều trường tư họ mánh mung "rút ruột học trình", giảm bớt giờ chính trị Mác Lê thì sinh viên, học sinh sẽ thành "chuyên hơn hồng".

                  Dove, Hà Nội
                  Để giải bài toán giáo dục cần phải cân đối chi tiêu ngân sách liên ngành chứ không phải chỉ đơn thuần là sử dụng hiệu quả ngân sách giáo dục như GS Hoàng Tuỵ đã đề xuất. Sau đây là 2 minh chứng. 1) Các GS và PGS của Viện Khoa học & Công nghệ VN chỉ lãnh lương từ 2,5 đến 3,5 triệu VND/tháng, tức là gấp 4 học phí của một học sinh tiểu học. Vậy câu hỏi được đặt ra là: Các vị GS và PGS đó có được trả đúng, trả đủ để nghiên cứu và giảng dạy không? 2) Dove vi phạm luật giao thông và bị một trung tá công an xử lý. Nghe nói là lương và phụ cấp của một trung tá CA khoảng 4 triệu VND/tháng. Vậy câu hỏi được đặt ra là: Có đáng trả lương cho một vị trung tá để thi hành nhiệm vụ của một hạ sĩ quan hay không? Có hàng triệu khoản vô lý như đã nêu trong việc chi tiêu ngân sách. Nếu rà soát và cân đối lại thì sẽ đủ kinh phí cho giáo dục mà không cần tăng học phí.

                  Minh Nam, Việt Nam
                  Qua phản ảnh của báo chí về lãng phí trong giáo dục thì có lẽ trước hết phải chi tiêu hiệu quả các ngân khoản của giáo dục, gồm cả viện trợ. Cố nhiên, bậc phổ thông cần miễn phí hoàn toàn. Học phí đại học hiện nay (các em tôi đang phải đóng đây) thì thấp quá so với những gia đình giàu; nhưng với gia đình nghèo vẫn là rất cao. Gia đình nghèo vẫn rất vất vả vì các khoản đóng "tự nguyện" ở ngay bậc mẫu giáo. VN cứ tự hào là chống nghèo hiệu quả. Tiêu chuẩn hết nghèo ở VN quá thấp so với tham nhũng. Để được coi là hiệu quả, là khi một hộ bị coi là hết nghèo phải đủ tiền nuôi một con học đại học, kể cả học phí. Còn hết nghèo hiện nay là hết lo chết đói (nhưng bụng chỉ lưng lửng... cho đến khi chết), nói gì đóng học phí đi học.

                  Một người đọc
                  Lại một chuyện "nên-nhưng-không-thể-làm" (necessary impossibility). Nên lắm, nhưng không thể làm, không thể xảy ra, như chuyện thần thoại vậy. Giống như chuyện "thế giới Cộng sản đại đồng", "cuộc sống vì mọi người", "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". Vấn đề rất đơn giản, GS Hoàng Tụy à, nhưng ông không dám nói ra mà thôi. Làm sao "chấn chỉnh quản lý" một khi các Hiệu trưởng đều là "người của Đảng", hầu như bất khả xâm phạm, vì để ngồi vào ghế đó đã có biết bao người cao cấp, nói ra chắc GS phải giật mình, chống lưng, và chia chác.

                  Đụng vào bất cứ một Hiệu trưởng nào thì đụng vào dây chuyền như điện giật vậy, sẽ vào tận Trung ương ĐCSVN ngay. Và xin thôi dẹp cái lối nói "học bổng tối thiểu sẽ không thấp hơn học phí cao nhất", vì ai cũng biết "học phí" chỉ là "chuyện nhỏ" trong hàng trăm loại phí có sổ sách, và không sổ sách, khác. Chính đoạn cuối bài này nói "tổng học phí 4 triệu..." nhưng "các khoản đóng góp 12-13 triệu". Mà đó chỉ là các khoản "có giấy tờ", ngoài ra còn bao nhiêu là vụ khác như sinh viên sư phạm đi thực tập để ra trường thì đi đến đâu phải phong bì, đãi tiệc rượu, cho bao nhiêu là quan chức địa phương, sở giáo dục. Trước đó để lên lớp thì nữ sinh đôi khi phảI ngủ với thầy, nam sinh đút lót... Ôi thôi GS ơi, nếu ông dám nói hết lòng thì hoặc đã bị tù, hoặc từ chức từ lâu vì oán hận chính quyền còn tệ hại hơn Thực dân Pháp nhiều.



                  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/09/070918_viet_tuitionfees.shtml
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-21 17:42:57Ngọc Lý>
                  Đối thoại về vấn đề giáo dục
                  http://www.diendan.org/viet-nam/111oi-thoai-ve-van-111e-giao-duc
                  — Vũ Quang Việt — Cập nhật : 18/09/2007 23:38

                  [/align][/align][/align]Toàn văn bài viết về vấn đề giáo dục trong tinh thần đối thoại với phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo.

                  Xin được đối thoại
                  với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân
                  về vấn đề giáo dục


                  Vũ Quang Việt
                   
                   
                  LTS – Dưới tựa đề “Tăng học phí : Trách nhiệm xã hội trong giáo dục cơ sở đến đâu”, báo Lao Động ngày 17.09.2007 đã đăng phần I (trong 4 phần) bài viết của nhà kinh tế học Vũ Quang Việt (Cục thống kê Liên Hiệp Quốc, New York). Chúng tôi xin đăng dưới đây toàn văn bài viết (kể cả đầu đề) của tác giả.


                  I. Trao đổi về vấn đề trách nhiệm xã hội trong giáo dục cơ sở

                  Tôi không phải là nhà giáo, mà là người nghiên cứu kinh tế, chủ yếu là thống kê kinh tế, nhưng có quan tâm đến giáo dục Việt Nam, chỉ vì một lý do duy nhất là trong nhiều năm theo dõi các cuộc tranh luận về giáo dục, các phản ánh trên báo chí về chất lượng thấp và sự gian dối trong giáo dục quá ư là không chấp nhận được, do đó tôi đã cố gắng tìm hiểu vấn đề qua thống kê, nhất là thống kê so sánh.

                  Cho đến nay, nhiều số liệu ở Việt Nam đã được công bố, nhưng số liệu về thu chi cho giáo dục thì vẫn chưa được minh bạch hoá và có lẽ chưa được kiểm toán độc lập. Ngân sách cho giáo dục đã được Bộ công bố trên mạng, nhưng lại quá ư thiếu chi tiết. Dù thế nào thì những số liệu này cũng giúp tôi có một cái nhìn khách quan hơn. Cho đến nay, rất tiếc là chưa có một công trình đánh giá độc lập và đáng tin cậy của giới chuyên gia về chi thu của từng trường, từng tỉnh, và cả nước và loại học sinh được nhận vào trường (qua thi hoặc qua các cửa khác như tại chức, chuyên tu) để có thể phân tích cho rõ vấn đề, nhằm làm cơ sở cho việc cải cách, nâng cao chất lượng sử dụng đồng tiền của dân, qua đóng thuế và đóng học phí. Không thể đặt vấn đề tăng học phí khi chi tiêu chưa được minh bạch hoá, chưa được kiểm toán độc lập, chưa được phân tích đầy đủ. Vụ Kiểm toán mới đây của Kiểm toán Nhà nước cũng cho thấy là đã có hiện tượng không tốt như việc sử dụng 53,6 tỷ đồng của kinh phí KH&CN để làm chuyện khác, 14/32 tỉnh phân bổ và giao dự toán một số khoản chi cho sự nghiệp giáo dục và KH&CN thấp hơn TƯ dự toán là 782 tỷ, cũng như lấy tiền từ chương trình kiên cố hoá trường học cho vay lãi hoặc dùng làm chuyện khác.

                  Chính vì lý do này mà tôi xin phép được đối thoại với Phó Thủ tướng về những điều ông phát biểu trên báo Sài Gòn Giải Phóng (10/9/2007)  về vấn đề tăng học phí. Những số liệu tôi dùng là số liệu chính thức của nhà nước hoặc Việt Nam, Mỹ hay Trung Quốc. Những gì do tôi ước lượng tôi đều nói rõ và nếu yêu cầu tôi sẽ cung cấp.

                  Trao đổi về giải pháp cho giáo dục phải bắt đầu từ việc xác định quan niệm về giáo dục. Nếu không thế thì việc bàn về giải pháp sẽ không phù hợp vì quan niệm đã khác thì giải pháp tất khác. Trước tiên tôi xin bày tỏ về cách nhìn của hầu hết các nhà kinh tế thị trường về giáo dục. Giáo dục hay bất cứ dịch vụ nào cũng là hàng hoá theo cách nhìn của chúng tôi. Hầu hết các hàng hoá được trao đổi theo dạng “tiền trao cháo múc”. Có tiền thì mua, không thì thôi, và ai mua thì người đó hưởng. Nhưng dịch vụ bảo vệ an ninh quốc gia thì vô hình, không thể mua bán được, và nếu một người trả thì những người không trả cũng được hưởng an ninh. Do đó giải pháp là dân bị đóng thuế, bị bắt đi lính nếu cần để bảo vệ an ninh. Chính quyền thực hiện trách nhiệm xã hội này.

                  Giáo dục cho trẻ em còn tuổi vị thành niên cũng gần như thế, chúng làm gì có tiền để “tiền trao cháo múc”, chúng được giáo dục thì cả xã hội được nhờ. Nếu có mua, thì cha mẹ chúng phải mua, chứ không phải chính đứa trẻ. Có thể ta cho rằng đứa trẻ không mua được thì bố mẹ chúng phải làm và do đó giáo dục là trách nhiệm gia đình. Nếu chấp nhập lập luận này thì xã hội đã từ nhiệm với con người vì xã hội nào cũng có rất nhiều cha mẹ nghèo dù họ có muốn mua cũng không có khả năng. Dịch vụ giáo dục lại cũng vô hình, không thể biết ngay chất lượng nên không thể dễ dàng xem xét chi phí có xứng đáng với kết quả nhận được không, và ảnh hưởng của giáo dục thì dài lâu cho toàn xã hội, do đó cần có vai trò của xã hội trong việc đặt ra tiêu chuẩn để kiểm tra.

                  Xã hội phải nhận trách nhiệm chi trả cho giáo dục trẻ em vị thành niên để tạo ra sự bình đẳng về điều kiện ban đầu cho mọi người trong xã hội bằng cách thu thuế. Và cũng vì lợi ích xã hội, không thể để trẻ em thất học. Đây là điều cơ bản mà ta cần nhìn nhận. Ở nước nào cũng thế, dù là tư bản hay không, giáo dục cho thanh thiếu niên còn tuổi vị thành niên, chưa thể tự quyết định cho mình, thì nhà nước tổ chức trường công miễn phí, hoặc mới đây có hiện tượng là nhà nước trả phí tương đương và để cha mẹ học sinh tự chọn trường. Đây là đường hướng cơ sở, có thể gọi là là “định hướng xã hội chủ nghĩa” hay trách nhiệm xã hội mà nhà nước phải thực hiện. Nếu như nhà nước Việt Nam chỉ có khả năng chi trả cho giáo dục tiểu học, hay nhà nước Trung Quốc chỉ có thể chi trả cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, và do đó có thu học phí ở cấp khác, thì lộ trình vẫn đòi hỏi học phí cho giáo dục cơ sở cho đến hết cấp trung học phổ thông phải từ từ giảm cho đến khi có thể miễn phí toàn bộ. Chính Trung Quốc đã tuyên bố xoá thu học phí cho giáo dục cơ sở vào năm 2007 này, dù học phí của họ chỉ bằng 20% chi phí.

                  Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói rõ về trách nhiệm xã hội này (Sài Gòn Giải Phóng, 10/9/2007) :  “…nền giáo dục của ta là nền giáo dục của dân, vì dân, do dân. Dân chủ và công bằng là tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, trước hết phải được thể hiện trong giáo dục và y tế, hai lĩnh vực trực tiếp bồi dưỡng con người. Bác Hồ mong muốn “ai cũng được học hành”. Vì vậy, xu hướng đúng đắn là phải tiến tới bỏ học phí. Nhiều nước tư bản cũng đã bỏ học phí ở cấp phổ thông, có nước bỏ học phí ở cấp đại học. Đất nước Cuba còn nhiều khó khăn vẫn kiên trì thực hiện học tập và chữa bệnh miễn phí.”

                  II. Trao đổi về tính hợp lý khi so sánh chi phí giáo dục

                  Về chi phí cho giáo dục, Phó Thủ tướng phát biểu : “ Ví dụ chi phí của quốc gia, từ ngân sách nhà nước và đóng góp trực tiếp của người dân (qua học phí và chi khác) cho giáo dục ở Mỹ là 2 880 USD/người/năm (năm 2004), còn ở Việt Nam là 50 USD/người/năm (2006). Tức là họ chi cho một người một năm bằng chúng ta chi cho một người 57 năm ! ”

                  Đối thoại lại: Đây là so sánh không hợp lý. Chỉ có thể so sánh một cách hợp lý bằng cách so sánh dựa trên tỷ lệ GDP chi cho giáo dục. Mỹ chi cho giáo dục 7,2 % còn ta chi hiện nay ít nhất là 8,3 % GDP, cao hơn cả Mỹ.
                  Con số 8,3 % này từ đâu mà ra ? Từ hai nguồn, nguồn ngân sách và nguồn ước lượng dân đóng cộng lại. Tổng chi cho giáo dục gần 4,8 tỉ $US vào năm 2006, trong đó 3,45 tỉ $US là từ ngân sách nhà nước (con số chính thức) và 1,3 tỷ do nhân dân đóng góp thêm, dựa theo ước đoán là 21 triệu học sinh bình quân đóng 63 $US hay 1 triệu đồng một năm (sinh viên đại học 150 $US/năm, mẫu giáo 100 $US /năm, phổ thông 50 $US/năm).

                  So sánh với Mỹ có thể vẫn khó chấp nhận dù là so qua tỉ lệ như thông lệ quốc tế, vậy ta hãy thử so sánh với Trung Quốc. Họ chi trung bình cho một học sinh là 332 $US một năm, so với Việt Nam là 227 $US. Tất nhiên so sánh này cũng còn khập khiễng vì thu nhập trên đầu người Trung Quốc gấp 3 Việt Nam (2 055 $US so với 643 $US), và giá cả mắc hơn Việt Nam khoảng 20 %. Nhưng như vậy cũng cho thấy là về con số tuyệt đối, sau khi điều chỉnh giá, Việt Nam không thấp hơn nhiều so với TQ. Hơn thế, dân đóng góp qua học phí và phụ phí ở Trung Quốc chỉ khoảng 20 % chi phí, so với 40 % ở Việt Nam. Trung Quốc lại mới tuyên bố là sẽ xoá bỏ hoàn toàn học phí và phụ phí ở cấp phổ thông cưỡng bách.

                  Tỉ lệ ngân sách nhà nước Việt Nam chi cho giáo dục đã lên tới 6 % GDP năm 2006. Không kể dân đóng thêm, nhà nước ta đã chi cho giáo dục với một tỷ lệ có thể so sánh với tỷ lệ trung bình của các nước phát triển cao trên thế giới. Chi phí ngân sách cho giáo dục của ta lại tăng rất nhanh, năm 2007 bằng hơn bốn lần năm 2001, vì mỗi năm bình quân tăng 27 %. Nếu so với Trung Quốc, ngân sách chỉ khoảng 2,8 % GDP và tỷ lệ này vẫn chưa thay đổi, thì nhà nước Việt Nam đúng là đã đặt giáo dục lên hàng đầu, tất nhiên là chỉ trong vấn đề chi cho nó, chứ chưa phải trong vấn đề điều hành và quản lý nó để đạt hiệu quả. Trung Quốc chi ít hơn, nhưng không ai có thể nói là giáo dục Trung Quốc thua kém giáo dục Việt Nam. Vậy thì để cải cách giáo dục và tăng chất lượng giáo dục, hãy làm một cuộc đánh giá toàn diện về quản lý và chi tiêu trước đã, và điều này Bộ giáo dục cần minh bạch hoá toàn bộ chi phí về giáo dục. Việc đánh giá cần phải thông qua một uỷ ban gồm các chuyên gia về giáo dục, kinh tế và tài chính độc lập. Không có đánh giá thì không thể cải cách được. Chỉ nhằm tăng chi thì chỉ làm phí tiền của dân.
                   
                  III. Trao đổi về trách nhiệm xã hội đối với giáo dục cơ sở

                  Về học phí cho giáo dục, Phó Thủ tướng phát biểu : Tiểu học vẫn được miễn phí nhưng chúng ta cũng để một "kênh" để gia đình nào muốn trả tiền để được học tốt hơn so với tiểu học miễn phí. THCS, THPT đang đóng học phí nhưng điều kiện học hành vẫn rất kém, thiếu máy tính, cơ sở vật chất… Vì vậy, nếu không đầu tư thêm cho nhà trường từ nhiều nguồn thì không thể tăng chất lượng giáo dục cũng như góp phần đảm bảo đời sống của thầy cô giáo. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, bài toán tăng đầu tư cho giáo dục, trong đó có phương án tăng học phí vẫn phải đạt mục tiêu số người đi học tăng thêm. Vì vậy, sẽ huy động thêm nguồn lực của xã hội bằng nhiều cách như đóng học phí, đóng góp tự nguyện, mở trường tư thục, dân lập…

                  Đối thoại lại : Điều 59 của Hiến pháp ghi : “ Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. ” Cho nên điều Phó TT phát biểu là hoàn toàn đúng đắn. Tất nhiên tôi còn băn khoăn một điều, tại sao Hiến Pháp lại không ghi là mẫu giáo là bắt buộc. Tôi chỉ có thể hiểu được nếu mẫu giáo là nhà trẻ, và lớp 1 mới là lớp đầu tiên học chữ. Nếu ngay lớp mẫu giáo đã học chữ thì con nhà nghèo đã thua ngay từ lớp 1. Ngoài ra, còn có vấn đề cần thực hiện là xoá bỏ tất cả những biến chứng của học phí như các khoản đóng góp, từ lo xây dựng trường cho đến vệ sinh, v.v. Con tôi học ở trường công Mỹ, ở cấp cưỡng bách, cũng không phải đóng một đồng. Học sinh gia đình nghèo lại được cấp phiếu ăn trưa. Hoạt động của Hội phụ huynh hoàn toàn có tính cách đóng góp tự nguyện, bằng thì giờ chứ không bằng tiền, còn bằng tiền thì ai đóng bao nhiêu vào một hoạt động nào đó thì tùy, và hầu hết là không đóng. Vậy thì nên xoá bỏ trò ép đóng bằng cách nhân danh đa số. Đây là chuyện nhỏ nhưng không hẳn nhỏ.
                  Chuyện lớn là đề nghị của Phó Thủ tướng lập ra các trường công cho gia đình nào muốn trả tiền để được học tốt hơn so với miễn phí. Ý kiến này rõ ràng là phân biệt đối xử người nghèo và người giầu. Cũng là trường công cả, nhưng có tiền thì vào chỗ tốt không có tiền thì vào chỗ tệ. Công lý ở chỗ nào ? Nhiệm vụ của nhà nước có tính xã hội là cố gắng tạo ra cơ chế bình đẳng cho mọi công dân. Tôi chưa thấy một nước tư bản nào làm chuyện này. Đã là trường công của nhà nước thì mọi công dân phải được đối xử ngang nhau, và có cùng cơ hội giống nhau. Ở các nơi, cũng có trường công với chất lượng đặc biệt tốt, có thể gọi là trường chọn, nhưng mọi học sinh đều có quyền thi vào, và khi vào thì vẫn không bị đóng học phí. Ở thành phố New York nơi tôi đang ở cũng có một số trường như thế. Nguyên tắc bình đẳng trong Hiến pháp của ta không cho phép một nhà nước thực hiện điều ông chủ trương. Đây là điều vi hiến. Ông có phát biểu : “ Khó khăn thứ 2 là những người có thu nhập cao hơn, muốn đóng tiền nhiều hơn để con họ đi học trong điều kiện tốt hơn thì nó lại vượt khung, trường không thu được.” Đây đâu có phải là điều khó khăn. Điều 36 Hiến pháp cho phép lập trường tư. Những người có tiền có thể lựa chọn học trường tư chất lượng cao.

                  Về tỷ lệ học phí, Phó Thủ tướng phát biểu : Vì vậy, khi đặt vấn đề điều chỉnh đề án học phí, nguyên tắc căn bản là học phí phải phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Tức là, người có thu nhập thấp đóng ít, thu nhập cao hơn cũng đóng cùng 1 tỉ lệ nhưng giá trị tuyệt đối lớn hơn so với người nghèo. Khi nói đến đóng học phí theo khả năng chi trả thì ngay trong đó cũng đảm bảo tính công bằng. 

                  Đối thoại lại: Đây là một ý kiến mà các nhà kinh tế không thể đồng ý với ông. Làm sao có sự công bằng và quyền tự do lựa chọn về giải pháp trả giá khác nhau cho cùng một sản phẩm. Nếu thế sao không triển khai ý kiến này đến mọi loại hàng hoá khác ? Cái chính sách hai giá, hay rất nhiều giá, cho một sản phẩm như nhau như ông đề nghị thì các nhà kinh tế ở đất nước ta, kể cả tôi, đã mất gần 30 năm kể từ 1980 khuyến nghị lãnh đạo xoá bỏ. Bởi vì nó đã tạo ra biến chứng lợi dụng ăn chênh lệch. Và xin nói, cái giá để bảo đảm rằng không có “bịp bợm” rất cao. Làm sao mỗi trường học có thể theo dõi thu nhập của từng gia đình để thực hiện ý đồ của ông. Ông có nghĩ rằng mọi gia đình ở Việt Nam đều khai thu nhập ? Ông giải quyết sao nếu gia đình có 1 con và gia đình có 2 hoặc hơn thế đi học ? Và ai sẽ thực hiện việc trừng phạt. Sẽ có những người bình thường nếu gian dối được thì họ sẽ làm, như vậy ngay từ nhỏ đứa bé đã học được thói hư tật xấu vì chính cơ chế mà ông định cho ra đời. Thưa ông, các nước thị trường sẽ đánh thuế thu nhập, người giầu trả tỷ lệ cao hơn người nghèo, với một mục đích rõ ràng là phân bố lại thu nhập trong xã hội. Điều bất công này là nhằm tạo ra an sinh kể cả hài hoà xã hội và tạo ra cơ hội bình đẳng cho công dân. 

                  Về dự kiến áp dụng học phí khác nhau, Phó Thủ tướng Tuyên bố: Dự kiến sẽ có khoảng 20 % người dân trong 1 địa phương có nhu cầu được miễn, giảm học phí. Với nhóm gia đình có thu nhập cao hơn mức bình quân của địa phương, mong muốn đóng góp mức học phí cao hơn để con em họ học ở những trường có chất lượng tốt hơn chuẩn tối thiểu thì nhà nước cho phép có trường chất lượng cao thu phí cao hơn. Tuy nhiên, tỉ lệ các trường thu phí cao phải nhỏ và sẽ điều chỉnh tùy vào tín hiệu của cuộc sống, nếu có nhu cầu lớn hơn thì mở rộng.

                  Đối thoại lại: Như vậy là hình như ông không áp dụng biện pháp đóng học phí theo tỷ lệ thu nhập như ông giải thích ở trên mà là cho phép có trường công học phí cao cho con nhà giầu, có trường công cho con nhà nghèo, vẫn phải đóng học phí, nhưng nếu nghèo quá thì được miễn giảm. Hệ thống tổ chức đề nghị này tôi chưa từng thấy ở nước nào trên thế giới. Nó bất công như tôi nói, lại phức tạp về kiểm tra thì tôi nghĩ có lẽ nhiều giáo viên trong trường, công chức của Bộ và sở phải học “làm công an” để theo dõi áp dụng cho đúng. 


                  IV. Trao đổi về sự cần thiết của học phí đại học

                  Về chi phí cho đại học, Phó Thủ tướng phát biểu: Đối với giáo dục đại học, hiện ngân sách của bậc học này chiếm 16,2 % ngân sách dành cho giáo dục,… Chúng ta đang phát triển một nền kinh tế cần có nhân lực trình độ cao nhưng chi cho toàn bộ bậc đại học gồm 1,4 triệu sinh viên chỉ bằng hơn phân nửa so với chi cho giáo dục tiểu học (27,4 %). Hiện nay, học phí đại học của chúng ta khoảng 200 000 đồng/tháng, tức khoảng 150 USD/năm, trong khi ở Mỹ, ở Anh, đa số từ 10 000 USD – 15 000 USD/năm.

                  Đối thoại lại: Tôi đồng ý với chủ trương thu học phí cho giáo dục đại học, tuy nhiên để có một nền giáo dục có chất lượng thì vẫn không thể không có bàn tay nhà nước và sự đóng góp tự nguyện của xã hội dân sự. Và ở đâu cũng vậy, học phí không phải là chính. Học phí không thôi cũng không tạo ra chất lượng, mà phải nhìn xa hơn. Tất nhiên, chúng ta không thể so với Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Ngay cả giáo dục đại học ở Thái Lan cũng hơn hẳn ta, dù ta hơn hẳn họ về số người có bằng tiến sĩ. Thế nhưng ta nên tự hỏi, tại sao bây giờ, ngay Mỹ cũng lại lo ngại về sự thành công của hệ thống giáo dục Trung Quốc trong việc cho ra đời rất nhiều kỹ sư và các nhà khoa học?

                  Qua số liệu Trung Quốc công bố (còn Việt Nam thì không), tôi tính được là chi phí giáo dục một sinh viên đại học một năm là 1 277 $US, trong đó ngân sách bỏ ra là $612, học phí là $368, phần còn lại là từ quỹ đoàn thể xã hội. Việt Nam chắc là thấp hơn nhiều nhưng Bộ giáo dục không công bố số liệu để tính, còn ông Phó Thủ tướng thì chỉ đưa ra học phí là $150/năm, chứ không đưa ra chi phí nhà nước.

                  Xem xét kỹ, ta thấy rõ là Trung Quốc đã phát triển giáo dục có chọn lọc và họ đã đặt kế hoạch xoá bỏ truyền thống giáo dục bắt chước Liên Xô, tập trung các trường nhỏ một ngành vào trường đại học đa ngành, kết hợp nghiên cứu và giảng dậy tại trường, và tập trung xây dựng một số trường có nghiên cứu có tầm quốc tế. Tôi sẽ không thể đi vào chi tiết.
                  Tôi thấy họ đặt vấn đề quý hồ tinh, mặc dù không quên mở rộng. Do đó mà hiện nay họ thua ta về lượng. Họ chỉ có 1,1 % dân số là sinh viên đại học còn ta đã lên đến 1,6 %, tức là gần gấp rưỡi họ. Tức là ta phát triển quá nhanh, mở đại trà, cho bằng thoả thuê mọi người, bất kể chất lượng. Nếu theo kế hoạch ông đặt ra trước đây là tăng tỉ lệ sinh viên trên dân số lên 2 % vào năm 2010 thì tôi nghĩ rằng mình đang đi theo con đường phá sản giáo dục. Hãy kiếm cách tăng chất lượng lên, trước khi đặt vấn đề số lượng. Tôi hết sức kinh ngạc khi nhìn thấy số sinh viên trong các đại học Việt Nam : Đại học Quốc gia TPHCM 81 ngàn, Đại học kinh tế TPHCM 34 ngàn, Đại học Huế 81 ngàn, Đại học Đà Nẵng 52 ngàn, Đại học mở Hà Nội 46 ngàn, Đại học Thái Nguyên 34 ngàn, v.v. Đây là những đại học vào hàng khổng lồ nhất thế giới. Ở Mỹ, đại học lớn nhất là Arizona State cũng chỉ có khoảng 52 ngàn sinh viên. Các đại học hàng đầu của Mỹ chỉ khoảng 15 ngàn. Tôi không hiểu trong mỗi đại học Việt Nam có bao nhiêu sinh viên là chính khoá, còn bao nhiêu là tại chức, chuyên tu, v.v. Số lượng đại học và cao đẳng cũng mọc ra như nấm, hiện nay con số chính thức là 322. So với Trung Quốc thì số lượng của ta này bằng 17 % của họ nhưng dân số thì chỉ bằng 6,7 %. Như vậy, rõ ràng là ta chạy theo số lượng, và do đó thiếu tiền, mà lại còn thiếu kiểm soát, thiếu lãnh đạo, thiếu hướng phát triển do đó thiếu chất lượng. Tôi nghĩ nhà nước ta nên đánh giá lại phương hướng phát triển giáo dục đại học, thay vì chỉ nhằm tăng trường, tăng sinh viên với mục đính chính là tăng thu nhập cho người làm công tác giáo dục. Những người học chuyên tu, tại chức nên cấp chứng chỉ chứng minh lòng hiếu học, muốn hiểu biết thêm của họ, thay vì cho bằng.

                  Về trả học phí đại học, Phó Thủ tướng Tuyên bố: …Vì vậy, phải tạo một đột phá trong tài chính cho giáo dục đại học, thay vì trả học phí thấp theo mức thu nhập hiện tại của quốc gia và người dân thì chúng ta phải trả học phí ở mức đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội, đa số người ra trường phải có việc làm và thu nhập khá. Mức thu nhập này cho phép trả lại số tiền đã vay để trả học phí trước đó. Tức là lấy thu nhập của tương lai cao hơn rất nhiều so với học phí hiện tại để trả học phí ở mức có chất lượng đào tạo cao. Đối với bậc đại học, nếu không tăng học phí thì không thể giải quyết được vấn đề chất lượng… Để đột phá về cơ chế tài chính cho giáo dục đại học, ngày 4-9-2007, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị cho vay để trả học phí. Sau 5 năm, tôi tin là hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề sẽ có bước phát triển mạnh mẽ. Học phí phổ thông và đại học, cao đẳng, dạy nghề khác nhau và phải được quyết định với quan điểm khác nhau.

                  Đối thoại lại: Tăng học phí đại học cộng với chính sách cho vay là điều tôi có thể dễ dàng đồng ý với ông Phó TT, nhưng tăng học phí không nhất thiết đưa tới chất lượng cao. Phân tích so sánh ở trên của tôi đã cho thấy nhiều bất cập quá lớn của đại học VN, cần chấn chỉnh và phải có lộ trình chấn chỉnh. Quan trọng nhất là đại học phải có tự chủ về tài chính, phải có tự chủ về tư duy, về quyết định chương trình và nội dung giảng dạy và về bổ nhiệm giáo sư theo quy định về yêu cầu tối thiểu của nhà nước. Và đại học phải được đánh giá, xem xét đối với từng khoa về việc đủ tư cách cấp bằng dựa trên tiêu chuẩn quốc tế nhất định. Ông cần đưa ra một lộ trình cải cách giáo dục đại học. Việc cho vay cũng không đơn giản mà phải có nhóm chuyên gia tài chính và giáo dục ngồi lại lập dự án và theo dõi thực hiện.

                  Để tóm tắt những trao đổi của tôi, tôi đề nghị là nhà nước ta nên thành lập một ủy ban gồm cả các nhà giáo dục, kinh tế tài chính, xã hội học có khả năng chuyên môn, có kinh nghiệm và uy tín, trong và ngoài nước, kể cả người nước ngoài, đánh giá hệ thống giáo dục hiện nay và đề ra một số giải pháp để nhà nước chọn lựa. Chúng ta không nên tiếp tục đưa ra một giải pháp để dân góp ý trong khi chẳng có một nghiên cứu cơ bản và đáng tin cậy nào.



                  VŨ QUANG VIỆT
                  [/align][/align][/align][/align]




                  Copyright © 2006 by Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
                  [email=diendan@diendan.org]diendan@diendan.org[/email]
                  [/align] 
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-23 04:58:42Ngọc Lý>
                  Loay hoay đi tìm "triết lý giáo dục" sau 60 năm "trồng người" thất mùa
                  Thử lắng nghe các vị Tiến Sĩ trong Bộ Giáo Dục Đào Tạo của Xã Hội Chủ Nghĩa
                  thảo luận về "triết lý giáo dục" cho Việt Nam.

                   
                  Triết lý giáo dục VN: "Phải tư duy hai lần"!
                  Viet Nam Net - 22:47' 21/09/2007 (GMT+7) 
                   

                  (VietNamNet) - Cả thế giới cùng phải tư duy lại về giáo dục. Riêng VN phải tư duy lại 2 lần. Ngoài lần 1 giống như các nước khác, còn phải tư duy lần 2: xây dựng triết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong cơ chế thị trường. Điều này nảy sinh mâu thuẫn giữa lý luận XHCN và thực tiễn, dẫn đến sự lung lay về niềm tin.
                   
                  TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến, nguyên Trợ lý Bộ trưởng GD-ĐT cho biết như vậy tại hội thảo về "triết lý giáo dục" do Học viện Quản lý giáo dục tổ chức sáng nay, 21/9.

                  Một triết lý giáo dục XHCN được xây dựng trong cơ chế thị trường cho VN đã được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục cùng thảo luận trong buổi hội thảo diễn ra sáng 21/9. Thứ trưởng Bành Tiến Long cho biết, sắp tới, Bộ GD-ĐT sẽ tổ chức hội thảo quốc gia về triết lý giáo dục.


                  "Nhận dạng" chứ chưa "định nghĩa"



                  TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến: "Vấn đề không phải VN thiếu triết lý giáo dục
                  mà là chúng ta phải xây dựng triết lý giáo dục XHCN trong cơ chế thị trường".
                   Ảnh: Phạm Hải
                   
                   

                  Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long nhận định, để xây dựng được triết lý giáo dục mới, trước hết phải nêu được bối cảnh hiện nay của VN. Những đặc trưng nổi bật như hội nhập và toàn cầu hóa, CNTT và truyền thông phát triển mạnh mẽ, VN gia nhập WTO... có ảnh hưởng tới việc xây dựng triết lý giáo dục.


                  "Dạy thật tốt để mọi người VN học tốt, làm tốt và sống tốt!" là thông điệp về triết lý giáo dục VN mà TS. Nguyễn Phúc Châu, Trưởng Phòng Quản lý Khoa học, HV Quản lý giáo dục đưa ra.


                  "Về phía người học, ngoài việc lĩnh hội tri thức, còn phải biết vận dụng tri thức để tạo ra việc làm và làm việc, đảm bảo chất lượng hiệu quả hành nghề của bản thân và đáp ứng được các yêu cầu sức lao động của xã hội. Bên cạnh đó, mỗi người VN cần phải biết chung sống với người khác, thực hiện tốt nghĩa vụ bản thân, biết bảo vệ cái riêng và tôn trọng cái chung, vì lợi ích hôm nay và tương lai" - ông nói.


                  Còn theo PGS. TS Nguyễn Công Giáp, Phó GĐ HV Quản lý giáo dục, thì triết lý là phương châm hành động trong 1 lĩnh vực cụ thể nhất định nhằm đáp ứng lợi ích trong 1 khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, triết lý không mang tính vĩnh cửu mà thay đổi theo bối cảnh.


                  Theo ông Giáp, triết lý giáo dục của VN là "Giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực hội nhập và giàu lòng yêu nước".
                  GS. TSKH Thái Duy Tuyên (Viện Chiến lược và Phát triển Giáo dục) gói gọn triết lý giáo dục trong "4 mệnh đề hạt nhân": Ai cũng được học hành. Ai cũng được phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có. Vì độc lập tự do và phồn vinh của Tổ quốc. Vì hạnh phúc của mỗi con người và toàn nhân loại.


                  TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến, nguyên Trợ lý Bộ trưởng GD-ĐT, đưa ra quan niệm: "Triết lý giáo dục là sự phát biểu niềm tin liên quan đến các vấn đề cơ bản của giáo dục, từ đó xác định mục đích và hướng đi cho nhà trường, người dạy, người học và xã hội". Triết lý giáo dục của VN là khẳng định niềm tin của Đảng và Nhà nước về giáo dục với cơ sở là triết học giáo dục CNXH và tư tưởng Hồ Chí Minh.


                  Như vậy, ông Tiến khẳng định, không phải VN không có 1 triết lý giáo dục mà vấn đề là đang xây dựng triết lý giáo dục XHCN trong cơ chế thị trường. Từ đó nảy sinh mâu thuẫn giữa lý luận XHCN và thực tiễn, dẫn đến sự lung lay về niềm tin.


                  Cũng theo ông Tiến thì khi chuyển từ thế kỷ XX sang XXI, chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, cả thế giới cùng phải tư duy lại về giáo dục (re-thinking). Riêng VN phải tư duy lại 2 lần. Ngoài tư duy lần 1 giống như các nước khác, chúng ta còn phải tư duy lần 2 là xây dựng triết lý giáo dục XHCN trong thời kỳ cơ chế thị trường. Thậm chí, phải tư duy lại cả những vấn đề bất biến như bản chất XHCN của giáo dục và mục tiêu giáo dục.


                  PGS.TS Đặng Quốc Bảo, Nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý GD-ĐT, cho rằng có thể nhận diện được triết lý giáo dục nhưng chưa thể định nghĩa được khái niệm này.


                  Nhà nước - nhà trường - nhà giáo đều cần triết lý giáo dục riêng


                  Các đại biểu trao đổi tại hội thảo sáng 21/9. Ảnh: Lan Hương
                   
                  TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến viện dẫn ngôn ngữ phương Tây dùng thuật ngữ "philosophy statement of education" để nói về triết lý giáo dục. Khi ấy, thuật ngữ này được xây dựng ở các cấp độ khác nhau, từ nhà giáo, nhà trường đến toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.


                  Ở Mỹ, gần như bắt buộc mỗi giáo viên phải xây dựng riêng cho mình một triết lý giáo dục cá nhân được trình bày thành văn bản trong hồ sơ tuyển dụng và được định kỳ cập nhật, bổ sung trong quá trình dạy học. Trong đó, giáo viên trình bày một cách khúc chiết, ngắn gọn niềm tin của mình vào một số quan điểm triết học giáo dục, từ đó đề cập cách nhìn riêng của mình về việc dạy, việc học, các mục tiêu mong muốn và những việc cần làm, những đóng góp có thể.


                  Nhà trường cũng phải xây dựng cho mình một triết lý giáo dục khẳng định niềm tin cụ thể vào nhà trường, nhà giáo, người học, cộng đồng, chỉ ra mục tiêu mong muốn mà nhà trường đem lại, vạch ra các việc phải làm. Nó như một tuyên bố về sứ mệnh, tầm nhìn hoặc văn bản chiến lược. Đây cũng là một trong các yếu tố để kiểm định chất lượng trường học tại Mỹ.


                  Đồng tình với ý kiến này, Thứ trưởng GD-ĐT Bành Tiến Long cho biết khi đoàn làm việc của Bộ sang Thái Lan, hầu hết các trường ở đây đều có triết lý giáo dục riêng trong khi ở VN, chưa có trường nào xây dựng triết lý giáo dục.
                  Ở tầm quốc gia, triết lý giáo dục cũng được hiểu tương tự như ở cấp độ trường học, nhưng mở rộng hơn. Đó cũng là các tuyên bố về mục tiêu, sứ mệnh, tầm nhìn, chiến lược của 1 quốc gia về những vấn đề cơ bản của giáo dục.


                  ThS Nguyễn Hồng Hà, NCS tại Canada đã tìm hiểu nền giáo dục của quốc gia này và chỉ ra rằng các tổ chức giáo dục và cá nhân người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục ở Bắc Mỹ đều tự xây dựng triết lý giáo dục.


                  Khi giáo viên tham dự phỏng vấn tuyển việc, điều đầu tiên là phải thể hiện được tuyên ngôn về triết lý giáo dục của mình. Có người rất sáng tạo và dùng thơ để nói về điều này, lại cũng có giáo viên thể hiện triết lý của mình thông qua hình thức đặt câu hỏi và đưa ra câu trả lời.


                  Triết lý giáo dục của giáo viên không phải là bất biến mà qua thời gian cần được xem xét lại cho phù hợp với giai đoạn phát triển nghề nghiệp cũng như môi trường công tác. Ở Mỹ còn có cả những công ty tư vấn đưa ra lời khuyên cho những ai muốn làm rõ và thể hiện được tuyên ngôn triết lý giáo dục của cá nhân mình.

                  Một học giả đã từng thừa nhận rằng chính những giáo viên bình thường, chứ không phải các triết gia ngồi trong tháp ngà khoa học, đã đưa ra những triết lý giáo dục hết sức chặt chẽ và sâu sắc làm tác động và thay đổi quan niệm của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này.
                   
                  Lan Hương (tường thuật)



                  http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/09/743503/
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-24 03:35:42Ngọc Lý>
                  Sự lạm quyền của Đảng CSVN trong môi trường giáo dục để ăn chặn tiền dân:
                  Vợ  Công An CSVN đứng đầu một đường dây "chạy trường" quy mô lớn tại Hà Nội, liên quan đến nhiều đối tượng với số tiền lên đến hơn 200 triệu đồng                                 
                   
                  Hà Nội: Hé lộ một đường dây "chạy trường" quy mô lớn
                  Lao Động số 220 Ngày 22/09/2007 Cập nhật: 8:28 AM, 22/09/2007

                  [/align]
                  (LĐ) - • Đối tượng lừa đảo là vợ của một cán bộ công an quận Hoàng Mai.

                  [/align]
                  CA phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm đang điều tra một đường dây "chạy trường" quy mô lớn liên quan đến nhiều đối tượng với số tiền lên đến hơn 200 triệu đồng.

                  Đường dây này bị phát giác khi chị Nguyễn Kim Thanh (trú tại phường Phương Liên, Đống Đa) cùng một số người khác đến CA phường Hàng Bột tố cáo sự việc: Đầu năm học 2007 - 2008, qua quen biết, chị Thanh đã đưa tiền cho Nguyễn Thu Thuỷ (bán hàng gần trường THCS Ngô Sĩ Liên) nhờ Thuỷ chạy cho con chị từ trường Ngô Sĩ Liên vào trường Mari-Quyri. Sau đó, chị Thanh còn giúp một số người cùng là phụ huynh trong lớp của con chị "kết nối" với Thuỷ để "chạy trường" cho con em mình.

                  Tuy nhiên, năm học mới đã kéo dài được hơn hai tuần nhưng con chị Thanh và con của số người "chạy trường" trên vẫn không được chuyển đến học ở nơi mong muốn... Do Thuỷ cư trú trên địa bàn phường Hàng Bài nên CA phường Hàng Bột đã chuyển giao hồ sơ sang cho CA phường Hàng Bài thụ lý, điều tra.   

                  Sáng 21.9, trao đổi với PV, đại uý Trịnh Quang Hựu, cảnh sát  hình sự CA phường Hàng Bài,cho biết: Qua xem xét đơn tố cáo của những người bị hại và những tình tiết của vụ án, cho thấy đây là một vụ lừa đảo chạy trường với quy mô lớn, có liên quan đến nhiều đối tượng.

                  Tuy nhiên, do vụ án mới đang ở giai đoạn điều tra ban đầu nên chưa thể có kết luận cụ thể. Theo nguồn tin riêng của Lao Động, tới thời điểm này, cơ quan chức năng đã xác định được 17 phụ huynh đã trao tiền cho Thuỷ để Thuỷ "chạy trường" cho con em mình với số tiền thấp nhất 8 triệu đồng và nhiều nhất lên tới 20 triệu đồng/người. Đặc biệt, Nguyễn Thu Thuỷ, đối tượng chính của vụ án là vợ của ông Trương Ngọc Anh, hiện đang công tác tại CA quận Hoàng Mai.


                  [/align]Nhâm Hồng Hắc
                  [/align][/align][/align]

                  http://www.laodong.com.vn/Home/xahoi/giaoduc/2007/9/56510.laodong
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  Phùng Hi
                  [/align][/align]Phác họa đôi nét về trường trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay
                   
                   
                  [/align][/align]Bài viết chỉ nêu hiện trạng chung nhất cho ba thành phần chính của một trường trung học phổ thông (THPT): Học sinh, giáo viên và cán bộ quản lí, chứ không bàn cá biệt đến một đơn vị hay cá nhân nào.
                  [/align]Học sinh

                  Trong một thời gian khá dài, ngành giáo dục chạy theo thành tích không có thực, giáo viên chạy theo các danh hiệu thi đua ảo, vô hình chung đã tạo ra một lớp học sinh xem nhẹ việc học hành, chủ quan, ỷ lại; bởi không học cũng lên lớp. Học sinh giỏi, học sinh tiên tiến ở đâu ra lắm thế? Để chấn chỉnh tình trạng này, đâu phải một sớm một chiều mà làm được ngay.

                  Chính chúng ta, giáo viên và những người làm quản lí giáo dục biến học sinh thành người học không có khả năng độc lập suy nghĩ, thụ động trong tiếp thu tri thức, nói sao nghe vậy. Do đó dạy thêm là hệ quả tất yếu. Học sinh bỏ tiền trực tiếp mua kiến thức từ những lớp dạy thêm tại nhà giáo viên, nếu chưa đủ thì phụ huynh tiếp tục bỏ tiền mua điểm. Đã như thế thì chỉ cần “nửa bước” là học sinh tỏ ra mất dạy, xem thường tư cách giáo viên, coi khinh đạo đức nghề nghiệp của các thầy cô giáo chân chính. Ích kỷ, hèn nhát, không có lòng tự trọng, nói năng cụt ngủn, tự cho mình là trung tâm của xã hội, hết 8x rồi 9x, số học sinh ấy sao mà đông quá. Học sinh ngồi nhầm lớp, nhầm cấp, lẽ ra sức học chỉ ở lớp 7 lại ngồi ở lớp 12.

                  Chưa bao giờ học sinh THPT có nhiều lựa chọn ngành nghề và cũng quá nhiều thú vui như hiện nay. Xã hội có hàng trăm, hàng ngàn nghề, nhưng trong nhà trường phổ thông chưa chú trọng việc để học sinh tự khám phá xem mình có năng khiếu gì, đi ngành nào là phù hợp. Một ít học sinh có khả năng vào đời bằng con đường đại học, số đông phó mặc ra sao thì ra, vui chơi cái đã.


                  Giáo viên

                  Ngay trong thời chiến tranh trong xã hội đã lưu hành câu: “Chuột chạy cùng sào, nhào vô sư phạm”. Và có những giai đoạn không xa, thi vào Đại học Sư phạm (ĐHSP) tổng điểm ba môn thi chưa quá mười đã đậu. Năm 1996 nhà nước có chủ trương giảm học phí cho sinh viên ĐHSP, tuy nhiên vẫn không tuyển được học sinh giỏi. Nói ngành sư phạm không thu hút được học sinh giỏi là chưa xác đáng, đúng hơn là chưa thu hút được những học sinh có bản lĩnh làm khoa học, sẵn sàng đi đến cùng cho một công việc. Sinh viên sư phạm chỉ ở mức làng nhàng về chất lượng, thiếu lòng đam mê nghề nghiệp. Kết quả đội ngũ giảng dạy ở trường THPT như sau:

                  Viết sai chính tả, viết hoa tùy tiện, đặt câu ngô nghê là những căn bệnh phổ biến hiện nay của giáo viên. Hiểu lơ mơ các khái niệm ngay trong chính bộ môn mình phụ trách. Giáo viên không biết lấy một ngoại ngữ, còn giáo viên dạy ngoại ngữ không biết thêm thứ tiếng nào khác. Một điều dễ nhận thấy là đội ngũ giáo viên rất yếu về khoa học thường thức, khoa học xã hội, cách đối nhân xử thế không xứng tầm một trí thức. Giáo viên còn kém về văn hóa đọc, không biết gì khác ngoài chuyên môn có phần lôm côm của mình. Giáo viên đứng nhầm chỗ, ngoài lí do chuyên môn thấp ra còn thiếu nhiệt tình và cả đạo đức.

                  Không thấy bóng dáng về lòng hy sinh, dấn thân trong nghề nghiệp của giáo viên. Dành dụm, tiết kiệm, cố gắng làm ra của cải là đức tính tốt, nhưng ở giáo viên tính cách ấy quá cực đoan, nó thành ra phẩm chất thấp kém. Giáo viên tự đo nhau bằng cách ai dạy thêm nhiều hơn! Hãy nghe giáo viên chào mời: “Chương trình cải cách nặng quá, thầy (cô) mở lớp dạy thêm, em nào có nhu cầu đăng kí?”. Bao cánh tay học sinh giơ lên để rồi thầy (cô) vin vào: “Học sinh nó có nhu cầu đấy chứ”. Thầy cô tưng bừng mở lớp dạy thêm, đến độ các giáo viên dạy bộ môn không dạy thêm được như Sử, Địa, Công dân… nhìn các giáo viên Toán, Lí, Hóa… làm ra tiền, tiếc nuối ngày xưa mình chọn nhầm ngành.

                  Ngoài ra, sự bất hợp lí trong thang lương giáo viên hiện nay làm giảm đáng kể nhiệt tình của giáo viên trẻ. Một giáo viên tuổi nghề 28 năm (50 tuổi), mức lương 3-4 triệu không phải là cao nhưng nó đã gấp ba lần lương giáo viên dạy trên 5 năm, chỉ nhận 1-2 triệu đồng. Thực tế một giáo viên qua 5 năm dạy học xem như hoàn thiện nghề nghiệp. Với một mức lương như thế ta khó trách họ thiếu nhiệt tình trong công tác.


                  Cán bộ quản lí

                  Cán bộ quản lí (CBQL) tác động trực tiếp công tác giảng dạy của giáo viên là hiệu trưởng và hiệu phó chuyên môn. Thế nhưng trình độ chuyên môn của hiệu trưởng, hiệu phó thường cũng chỉ ngang trình độ của giáo viên, chưa kể CBQL có khi không phải là giáo viên giỏi. Đây là một đặc thù của ngành giáo dục, gây bất lợi cho người quản lí, bởi giáo viên và CBQL đều cùng tốt nghiệp ĐHSP. Cách bổ nhiệm CBQL hiện nay là cách làm lấy hạt gạo dưới sàng chứ không phải lấy trên sàng. Xin được phân tích:

                  Thứ nhất, việc nắm cương vị hiệu trưởng, hiệu phó hiện nay là công việc chẳng mấy khó khăn vì các hoạt động dường như đã lên khuôn sẵn từ A đến Z cho mọi trường. Các danh hiệu "thi đua", "hoàn thành chỉ tiêu" mang tính hình thức, sáo rỗng. CBQL dễ dàng đạt được dù họ chẳng nỗ lực gì, hoạt động gì khả dĩ được xem là xuất sắc…

                  Thứ hai, do cần nâng cao tiêu chí chính trị trong công tác bổ nhiệm các bộ, nên sự lựa chọn người có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp bị thu hẹp. Thực ra chỉ cần hiệu trưởng là bí thư chi bộ, nhà trường sẽ quán triệt được chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý, không nhất thiết toàn ban giám hiệu đều là đảng viên.

                  Thứ ba, dường như có một thông lệ là đã làm hiệu trưởng, hiệu phó là làm suốt đời. Đây là nhân tố chính gây sức ỳ mỗi khi cần triển khai một chương trình, một hành động gì mới, kể cả việc thực hiện chủ trương, chính sách. Cần thiết phải qui định thể chế nhiệm kì 3 hoặc 4 năm cho hiệu trưởng và mỗi hiệu trưởng chỉ nên làm tối đa hai nhiệm kì. Hiệu trưởng có quyền chọn hiệu phó cho ê-kíp làm việc, chứ không chỉ chọn tổ trưởng chuyên môn như hiện nay.

                  Chuyện CBQL ngồi nhầm ghế là phổ biến. Do đó, việc điều động một CBQL ở bậc đại học làm hiệu trưởng trường THPT là một giải pháp cần xét đến.

                  © 2007 talawas
                  [/align] 
                  [/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11010&rb=0501
                  [/align]
                  Đăng nhập để trả lời
                  0