Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đò Dọc - Bình Nguyên Lộc 🔒

46 trả lời, 7.594 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-12 22:13:35fish>
Truyện Đò Dọc không có chương, có nhiều đoạn rất ngắn. fish chia thành 18 phần để dễ đánh máy.

Đò Dọc - phần 1 (1,066 KB) &gt;&gt; fish đang đánh máy = fish đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 2 (807 KB) &gt;&gt; fish đang đánh máy = fish đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 3 (1,000 KB) &gt;&gt; phuonguyen nhận đánh máy = phuonguyen đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 4 (1,462 KB) &gt;&gt; phuonguyen nhận đánh máy = phuonguyen đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 5 (634 KB) &gt;&gt; Ct.Ly hoàn tất
Đò Dọc - phần 6 (1,319 KB) &gt;&gt; trieuminhquanchua nhận đánh máy = trieuminhquanchua đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 7 (1,079 KB) &gt;&gt; trieuminhquanchua nhận đánh máy
Đò Dọc - phần 8 (1,358 KB) &gt;&gt; trieuminhquanchua nhận đánh máy = trieuminhquanchua đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 9 (1,556 KB) &gt;&gt; trieuminhquanchua nhận đánh máy = trieuminhquanchua đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 10 (1,247 KB) &gt;&gt; Tomato nhận đánh máy = Tomato đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 11 (1,245 KB) &gt;&gt; sonzin nhận đánh máy = sonzin đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 12 (1,585 KB) &gt;&gt; sonzin nhận đánh máy = sonzin đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 13 (1,703 KB) &gt;&gt; phuonguyen nhận đánh máy = phuonguyen đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 14 (1,554 KB) &gt;&gt;  Ct.Ly đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 15 (1,596 KB) &gt;&gt; Hoàng Dung nhận đánh máy = Hoàng Dung đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 16 (1,469 KB) &gt;&gt; trieuminhquanchua nhận đánh máy = trieuminhquanchua đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 17 (1,108 KB) &gt;&gt; phunhongloan nhận đánh máy = phunhongloan đã hoàn tất
Đò Dọc - phần 18 (968 KB) &gt;&gt; phunhongloan nhận đánh máy = phunhongloan đã hoàn tất
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-13 14:19:35Ct.Ly>
Chào fish

Sao Ct.Ly không mở file FPT ra được vậy

Hay là đường link có vấn đề chi không???

Chúc Fish luôn vui

Tình thân
0
Hello Ct.Ly,

Ct.Ly thử "right click" trên link rồi "Save Target As" (hay "Save Link As")
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-24 00:46:58Ct.Ly>
Cảm ơn fish nhiều

Mở theo cách của fish chỉ thì mở được rồi

Cảm ơn Fish nhiều lắm nhé

Chúc vui

Sẳn đó, Ct.Ly xin gõ phần 14 nhé

Mấy file kia, khg cái nào mở được, kỳ ghê
Chỉ có phần 14
 
Nhờ Fish xem lại file Phần 18 , vì khg ai mở ra được


Thôi mở được cái nào, thì Ct.Ly gõ phần đó vậy
0
ngộ nhỉ, fish thử với acrobat reader 5, acrobat reader 6, acrobat reader 8, mở ra được hết. Ct.Ly cho fish hỏi, Ct.Ly dùng phần mềm gì để mở pdf files ? và khi mở không được nó có "message" gì không ?
0
Có người bạn vừa cho cái acrobat reader 8, nó có đăng cái message là,
" le fichier est endommagé et n'a pas pu être réparé.
 
Cho nên mở ra, chỉ thấy một màn ảnh đen xì ah [8D]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-09 23:44:20fish>
Trích đoạn: Ct.Ly

Có người bạn vừa cho cái acrobat reader 8, nó có đăng cái message là,
" le fichier est endommagé et n'a pas pu être réparé.


à, nghĩa là file bị hư khi download, có thể bạn đó download không hết cái file, file dodoc18.pdf có 968 KB, phải download hết 968 KB mới mở ra được. Cũng có thể khi download file bị hư (corrupted), phải download lại. fish đã test download và mở với acrobat reader 8, mở được hết.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-26 20:48:41Ct.Ly>


Đò Dọc - Bình Nguyên Lộc

 
Trang 228 đến 244
 
Chương 14

Ăn cơm trưa xong, Long xin phép ông bà Nam Thành vô xom trong để hầu chuyện vị sư già nơi am " yên Hà " là cái am riêng, thờ Quan Âm, do một bà cụ lập ra từ mấy năm nay.
Hôm ấy tới phiên Hoa rửa chén. cả nhà mạc dầu không ngủ trưa, vẫn nằm nghỉ trên nhà trên.
Hống nằm chưa nóng lưng đã ngồi dậy để xuống bếp! Không ai chú ý nên không thấy được cmặt nàng hầm hầm vì nỗi căm tức chưa tiêu hóa được sau khi bắt chợt trong đám cỏ bù xít những tiết lộ ác hiểm của em khi sáng.
Hoa đang sắp chén dĩa đã rửa xong vào sóng thì Hồng chụp lấy vai cô rồi cười gằn mà hỏi:
- Sao em ác với chị dữ vậy?
Hoa hết hồn, vì bị chụp thình - lình lại vì câu hỏi đến trong lúc cô đang có tịch, nên cô đứng ngậm câm vài giây rồi mới hỏi lại được:
- Em có ác gì đâu chị?
Hồng cười dài rất mỉa mai mà rằng:
- Em ác, mà lại hèn, không có gan thú tội. Trời ơi! Trong gia đình mình lại có một đứa con , một đứa em như vậy à?
Bây giờ Hoa đã hiểu, và sợ hãi lắm, nhưng nàng vẫn còn hy vọng rằng không phải chuyện tiết lộ kia đã chọc giận chị nàng, nên nàng mới hỏi gặng cho chắc ý.
- Nhưng việc gì chị cũng phải nói ra chớ.
- Việc gì thì em biết, cần gì phải nói ra. Chị chỉ hỏi em vì sao nỡ ác như vậy. Xấu xa quá, đến chị, chị còn mắc cở cho em, cho cả nhà ta, huồng gì đối với người nghe chuyện em kể trong đám cỏ hôi.
Thế là đã rõ, Hồng đã rình mò ( hay tình cờ không biết) nghe được câu chuyện bép xép vì ác ý của nàng.
Không thể chối cãi được nữa, cũng chẳng có lý lẽ nào để đưa ra cho giảm tội đưọc, Hoa làm mặt lì cự lại:
- Mắc cở cho em? Chị làm xấu mà em lại mắc cở? Có phải tập tầm vòng của trẻ nhỏ đâu.
Rồi nàng mỉa mai hát:
Tập tầm vông.
Chị lấy chồng?
Em ở góa.
Chị ăn cá.
Em múc xương.
Chị nằm giường.
Em nằm đất.
Chị húp mật.
Em liếm ve....


Tức lắm Hồng sừng sộ hỏi:
- Chị làm gì mà em cho là làm xấu.
- Tốt lắm à, con gái có mèo mà tốt lắm à?
Cơn giận từ trong lòng nàng đã sôi bọt và trào lên. Hồng nhảy đến nắm đầu em, tát vào má nó một cái tóa hỏa, vừa tát vừa nói:
- Có phải là mèo chuột hay không, mầy đã dư biết đừng vu khống thêm vô ích. Mà em không có quyền xét đoán chị như vậy nghe chưa?
Hoa không nhịn, một tay nắm lấy tay đánh của chị, còn tay khác thì đánh lại Hồng.
- À, con nầy dữ, Hồng nói rồi vả tiếp vào mặt Hoa.
   Bị vả hai lần đau điếng, Hoa như điên lên, hai tay chụp đầu chị, quay những lọn tóc của Hồng trong những ngón tay của cô rồi vặn mạnh.
Hồng nghe như ai rứt da đầu của nàng ra, nàng vả lia vào mặt em để thoát, nhưng Hoa cứ chịu vả như vậy, và tiếp tục vặn tóc của Hồng.
Cùng thế, Hống táp cánh tay của em rồi cắn vào thịt của Hoa một cái thật mạnh.
Hoa la " oái " lên một tiếng rồi buông tóc Hồng ra. Nhưng tóc cứ vướng vào những ngòn tay của cô mãi. Hồng tuy nghe hết đau đầu, mà thấy tay em không rời tóc mình, ngỡ nó toan vặn tóc lọn nữa, nên ôm Hoa mà vật xuống như con trai đánh lộn.
Không đề phòng, nên Hoa bị vật ngã xuống dấy kêu cái ạch. Cô níu chị theo trong khi té, vì thế Hồng cũng ngã nhưng nằm đè lên mình em.
Hoa vùng vậy để hất cho chị té xuống đất. Nhưng Hồng thấy em mình dữ quá, lo nó mà ngồi dậy được thì khổ, nên cố nín thở để cho nặng  thêm để đè xuống.
  Vùng vẫy không hiệu quả, Hoa đánh lên túi bụi. Hồng đã ngồi dậy trên mình em và đánh trả lại một cách đắc thế hơn trước vì ngồi thì không vững bằng nằm. Vì thế Hoa lật té chị xuống được.
Hai chị em bây giờ ôm nhau mà vật lộn, không ai thắng ai cả, nên họ xàng quây với nhau và hai chị em lắm lúc quay tròn như con trổng.
Cẳng hai người khi xây qua tới cái chỗng cao cẳng, dùng để sóng chén, chạm mạnh vào chõng ấy, làm cho sóng chén rơi xuống, chén dĩa bể kêu lổn rổn.
Hoa bỗng nảy ra một sáng kiến ác hiểm. Nàng cố quay cho dầu quay lại đống miễng chén rồi vói tay lượm một cái miểng lớn, đập nó vào mặt chị .Hồng bị vỡ trán máu phun có vòi. Nhưng nàng không la. Cả hai dều lầm lì quyết câm miệng để sống chết với nhau.
  Nàng cũng vói tay lượm miểng đập vào mặt em như vậy, nhưng Hoa biết trước, đưa cả hai bàn tay ra mà đở. Tuy bàn tay trái của cô rách và máu chảy dầm dề nhưng mặt cô còn nguyên vẹn được.
Nghe chén dĩa rơi cả sóng, ở nhà tên ai cũng hoảng không biết tai nạn gì đang xảy ra cho người rửa chén.
Hương và Quá nhảy xuống đất chạy trước, ông bà Nam Thành chạy sau.
Khi họ xuống tới thì thấy Hồng và Hoa đánh vùi với nhau, máu me đầy cả mình mẩy và áo quần của họ.
   Cả nhà kinh khủng hết sức, Hương và Quá vội vã mỗi người kéo một chiến sĩ đang hỗn chiến ấy ra. Ông bà Nam Thành thì cứ chạy vòng quanh đó mà hỏi:
- Cái gì? Cái gì vậy?
Bà Nam Thành ngồi bệt xuống đất rồi rốnglên mà khóc.
Khi hai con gà mái tơ đã bị rứt rời ra xong, Hương giao cho Quá ngăn hai người tái chiến, còn cô thì chạy lấy gòn, băng và tanh tuya - dót để trở lại nghề lang băm một lần nữa.
Hai nữ tướng thấy cha mẹ thì sợ hãi, cúi mặt xuống nhưng cả- quyết lặng- im, ông Nam Thành hỏi gì họ cũng chẳng dỉ hơi.
  Ông Nam Thành tức lắm, giậm chơn xuống đất mà kêu trời:
- Trời ơi chị em bây hòa thuận với nhau thuở giờ như bát nước dầy, cả nhà đầm ấm mấy mươi năm nay. Rồi bây giờ lại sanh chứng ra thế nầy thì có khổ hay không!
Bà Nam Thành khóc đã rồi kể lể:
- Tại ông không nghe tôi, nên mới ra cớ sự như vầy! Ông giết con ông đó đa!Rồi ông sẽ thấy còn khổ hơn trăm ngàn lần bây giờ nữa.
- Tại tôi làm sao? Ông Nam Thành đổ quạu, hỏi bằng giọng sân si.
- Tui biểu đừng có lui về quê, chưa phải lúc đâu.
Ông Nam Thành bỗng chợt hiểu. Trong khi Hương và Quá vẫn cứ ngơ ngác ra.
Ông bà không tinh hơn hai cô con không biết rộng hơn, nhứt là về khoa - học, nhưng ông bà vốn đã có bàn qua vấn đề ấy rồi nên nay nhắc sơ lại là hiểu ngay.
Hương hối hai em đi rửa mặt mày và thay dổi y - phục. còn Quá thì lo dẹp miểng chén và quét những giọt máu trên mặt đất.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, Long trở về nhà. Chàng có cảm giác như là một cuộc bể dâu vừa đi qua đó.
Cô Hồng bị băng đầu, còn cô Hoa thì băng tay trái, cả nhà lại im -lìm chớ không nói cười như mọi ngày. Mặt ai cũng có dáng lo nghĩ buồn phiền.
Long lấm - la lấm lét như kẻ có tội vì chàng quan niệm rằng bắt chợt những thảm cảnh, những chi tiết  trong đời sống thân mật của gia đình người ta là có tội.
Vì vậy chàng thơ thẩn đi ngoài vườn, dưới nắng xế. Đi quanh được vài vòng Long nghe khó chịu quá, nên chun vào đám cỏ bù xít cạnh vườn để núp nắng và nhứt là núp mắt người nhà.
Đến khoảng trống mà chàng dọn khi sáng để làm phòng vẽ, Long rồi xuống rồi rút khăn ra lau mồ hôi hột đã thắm ướt cả áo sơ - mi của chàng.
Long có cảm giác là chàng không phải là không liên - hệ đến cơ bão tố đã nổi lên ở nhà lúc chàng vắng mặt. Nếu họ bị tai nạn hay là đánh nhau đi nữa, mà vì lẽ khác thì thế nào cũng bô lô, bô la lúc chàng về để cắt nghĩa lăng xăng cho khỏa lấp việc ấy. Đằng này họ nhìn chàng từ xa mà như là mắc cở
Sự im lặng của họ là sự im lặng hổ ngươi chớ không phải im lặng giận hờn. Nhung sao lại hổ ngươi? Có phải chăng vì chàng .......
Ấy náy khó chịu, chàng đứng lên mà đi, không biết đích tới, đi cốt để quên sự cắn rứt vì mối hận đã gây sóng gió một cách vô tình trong một gia đình mà chàng chịu ơn và thương mến.
  Long ra khỏi phòng vẽ lộ - thiên ấy được đâu bảy tám bước thì ngạc nhiên thấy cõ ngã thành một đường dài. Con đường nầy khác với con đường chàng và Hoa đã phá để vào khi sáng.
Chàng ngạc nhiên không phải vì sự hiện hữu của con đường. Ai cũng có thể và có lý do vào đó cả, nhưng con đường lại tuyệt đạo. Người vô danh nào, đã đi đâu, sao không đi tới nữa, như chàng đã đi tới một nơi trống cỏ để vẽ vời, lại quay gót lúc nửa chừng như vậy?
Hơn thế, nơi đầu đường tuyệt đạo ấy, là cỏ chung quanh bị hài sạch trơn, bị vò nát, vứt đầy trên mặt đất.
    Bỗng chàng hiểu tất cả: Hồng đã theo dõi họ, có lẽ vì muốn xem vẽ thôi, chớ không có ý xấu rình mò. Nhưng vừa tới đó, nàng bất chợt câu chuyện do em kể. Đứng nghe một hồì, vừa sợ, vừa giận, vừa bối rối nàng vò nát cỏ mà không hay.
   Long thở dài lẩm bẩm:"Thì ra vậy! Rồi Hồng tìm Hoa để mắng em, rồi họ cãi vã với nhau, rối đánh nhau đấy! Thì ra cảm giác của mình đúng chớ không phải là đoán mò".
  Bây giờ Long lại hối hận và sợ hãi hơn hồi mới về nhiều. Tội chàng đã rõ rệt trong vụ nầy, không phải là tội bắt chợt chi tiết thân mật trong đời sống gia đình của người ta, mà tội gián tiếp làm xáo trộn cảnh êm ấm của mấy chị em đáng mến nầy.
     Vì lẻ ấy, chàng lại càng không dám vô nhà. Nhưng còn chưa biết phải  tính sao thì Long bỗng mừng rỡ mà thấy Bằng ngoài ngõ.
Chàng ngạc nhiên nhưng vẫn mừng. Sao Bằng lại lên ngày thường chớ không phải chúa nhựt, thứ bảy gì, lại lên vào buổi xế chiều, như là có chuyện gì quan trọng lắm? Mà mặc, miễn vào nhà được mà khỏi ngượng rồi hãy hay. Chàng sẽ tháp tùng theo Bằng, rồi thì xí xóa cả. Ăn thua cái phút đầu, mà cái phút đầu qua lọt được thì êm luôn.
Nghĩ vậy, Long đi riết ra cữa ngõ, rồi reo lên:
- Ê! Bằng! Saigon có gì lạ?
  Bằng lạnh lùng bắt tay Long, mỉm cười một cách gượng- gạo rồi đáp:
- Chuyện lạ là ở đây.
Long cục hứng và sợ hãi không dám nói gì nữa. Hai người con trai lặng lẽ đi song song với nhau vào nhà.
  Mấy cô con gái đang dọn cơm chiều, vì ở nhà quê ăn cơm tối thật sớm, vào lúc mặt trời chưa lặn hẳn.
  - À! Bằng! Ông bà Nam Thành mừng cháu bằng câu cụt ngủn ấy.
Trừ Hương ra thì mấy cô con gái kia chỉ cúi đầu chào anh, như chào khác lạ.
   Hương hỏi:
- Có việc gì mà anh lên một lúc bất thường vậy?
- Thôi để ăn rồi hãy hay, bà Nam Thành ngăn Bằng đáp lời con. Hay là ta nói chuyện trong bữa ăn cũng được, bà lại đề nghị như vậy.
Cơm đã dọn xong, cả nhà ngồi lại. Trong mấy phút đầu, bữa ăn lặng trang như bữa giỗ đầu của người thân yêu nào, kẻ sống ăn mà ngặm ngùi nhớ người chết hẳn như còn quanh quất đâu đây.
   Ông bà Nam Thành e có chuyện gì kín chăng nên không muốn hỏi trước mặt khách. Hương bị anh không đáp một lần nên đâm chán, làm thinh mà ăn, Hồng và Hoa, hai nữ tướng bị thương, từ trưa đến giờ vẫn chưa bỏ quyết định làm reo ngậm miệng. Quá thì vì đã ngược đãi bồ của Bằng, nên lấm lét, sợ Bằng cự.
Lâu lắm, Bằng mới hỏi:
- Hai cô làm sao mà bể mặt rách tay như vậy?
- Hai đứa nó té, Hưong nói dối hớt dùm hai em.
  Nhưng  Hồng đã chịu mở miệng và nói ngay sự thật ra, nói bằng một giọng pha trò, mong Long hiểu là cô nói cà - rỡn:
- Không, hai đứa em dánh nhau đó a anh Bằng.
- Tôi cứ ngỡ là hai cô bị tại nạn xe hơi. Tôi bị ám ảnh vì tai nạn ô-tô nên nghĩ ngay ra thế.
Long khó chịu, không biết Bằng có muốn ám chỉ xiên xẹo gì mình hay không. Nhưng chàng vẫn không dám mở lời.
  Bằng lại nín cả hà lại ăn. Tiếng nhai dưa chuột, tiếng húp canh đều nghe mồn một, bữa ăn lặng lẽ quá, khiến người ta có cảm giác đang nghe tiếng ăn rào rào của một nong tằm.
   Khi gần xong bữa, Bằng nhìn dì dượng và nói:
- Cháu định chúa nhựt sẽ lên, nhưng bứt rứt quá chờ không được nữa nên mới đi hôm nay, vào giờ nầy. Cháu lên để  cự cô Quá một mách cho hả giận. Thằng Côn nó về nó kể lại buổi đi xem mắt vợ của nó, cháu nghe, cháu tức muốn nghẹn.
Bà Nam Thành nghe cháu nói bỗng nghẹn ngang thật sự. Sợ cháu nó hối hận, bà vẫn tiếp tục nhai nhai mãi mà không nuốt, giây lâu mới qua được cơn tức. Bà nói:
- Đâu cháu hỏi nó trước mặt dì thử xem, coi nó trả lời làm sao vụ đó.
- Sao vậy cô Quá? Bằng hỏi em theo lời dì yêu cầu.
- Tại không phải duyên nợ, chớ có sao đâu anh.
- Cô điên lắm, về sau cô sẽ phải ăn năn ... Nó là thằng bạn trẻ của tôi. Tôi mến nó lắm và thấy nó đủ điều kiện, nên mới dám điềm chỉ như vậy.
  Không ưng là quyền của cô, đến dì dượng đây mà còn không ép được cô. Nhưng tôi thấy thái độ của cô không có lý do, hay nói cho đúng ra, không có lý do hợp lý nên tôi tức, lên đây mà nói cho hả hơi.
  Ăn cơm xong là Bằng xin về ngay, ông bà Nam Thành cầm thế nào cũng không được.
  Long vừa định đưa Bằng ra cửa ngõ, thì người con trai nầy đã ngoắt chàng trước. Họ làm thinh mà đi, chừng cách xa nhà rồi, Bằng mới đột ngột hỏi và nhìn ngay vào mắt Long:
- Anh có lỗi gì hay không? Cứ nói thật đi.Mình là bạn trai với nhau, hiểu nhau nhiều, không còn gì giấu nhau nữa.
Long thẳn thắn đáp:
- Có, nhưng lỗi gián - tiếp thôi. Mặc dầu vậy tôi cũng hối- hận hết sức.
Đáp xong chàng thở dài, mặt bí - xí.
Ra tới đường, Bằng nói:
- Anh nên đi là tốt hơn.
- Phải, tôi đã quyết định từ hồi trưa. Tối nay tôi sẽ xin phép để mai lên đường. Tôi đã phác họa xong bức truyền thần cho ông cụ và ghi sâu vào trí đặc điểm của gương mặt ông. Đó là bức họa cuối cùng mà tôi sẽ hoàn thành ở Saigon.
- Như vậy là biết điều.
- Anh không trách tôi lắm chớ?
- Không! Tôi chỉ tiếc thôi. Tôi thương mấy em tôi lắm.
Long đưa tay nắm tay Bằng siết chặc lại và nói:
- Tôi cũng vậy, tôi thề quyết chuộc tội bằng...
- Tốt hơn là đừng nói gì trước, kẻo lại phải hối hận nữa.
Một chiếc xe lô chạy ngang qua. Bằng đưa tay bắt lại. Đôi bạn xiết tay nhau thật mạnh. Xe chạy đã xa rồi mà Long vẫn còn đứng trông theo cái người độc nhất đã hiểu câu chuyện, hiểu anh và khoan hồng không trách móc anh.
Xe đã khuất nẻo. Trời tím xẩm xuống. Xóm trên đã khởi sự đỏ đèn.
Long định đêm nay không dự buổi họp mặt đầu hôm của gia đình. Chàng xin phép về, tỏ lòng biết ơn và từ giã nội nhà thì cũng tốn trót một tiếng đồng hồ rồi. Nếu ở lại họp mặt như mọi ngày thì buổi họp mặt của người ta sẽ phải kéo dài thêm. Vả lại không khí ở đây không còn đầm ấm vui vẻ nữa. Thái - huyên trang đã có thể sửa lại là Thái Phiền trang rồi .
" Trời ơi, Long than thầm, mới ngày nào mình còn hình dung ra một đêm giã từ vừa vui vẻ, vừa bận bịu những luyến - tiếc, mà bây giờ thật - trạng lại như thế nầy!".
Mới có mấy hôm, chỉ có mấy hôm thôi, mà bao nhiêu biến -cố đã xãy ra trong nhà nầy. Những tình - cảm bị dồn ép, những nhân dục bị đẩy lùi, tìm gặp chỗ yếu nơi thành của chiếc thùng nhốt chúng nó, phá chỗ yếu ấy.
Chàng thương biết baonhững con người hiền lành kia/ Ông bà Nam Thành chỉ dám mong mỏi gả được con, rồi sống những ngày xế chiều trong một xó tối, mấy cô con gái chỉ ước mơ lấy được một tấm chồng, ước mơ nào có xấu xa gì cho cam.
  Họ đã yêu! Cũng không có tội lỗi gì cả. Họ điên dại mà ngược - đãi người coi mắt họ, càng đáng thương thêm . Họ đâm khùng phá hoại hạnh phúc của chị họ, mong cướp hạnh - phúc ấy cho riêng mình, điều đó tuy bậy, nhưng những kẻ may mắn hơn, không có dịp làm thế, liệu có lương thiện được hay không, nếu đứng vào địa vị họ.
  Long băn khoăn không biết làm thế nào để gặp mặt Hồng được đêm nay hầu giã từ riêng nàng, nói cho nàng khỏi lo, rằng chàng vẫn yêu nàng và câu chuyện xưa hoàn toàn không lung lay được mối tình của chàng.
  Nhà vỏn vẹn có ba buồng ở dưới, vách buồng trống trơn, vườn cũng trống lỗng, đêm nay nhà lại có việc buồn thì rất khó mà trao lời với Hồng.
Long định đón Hồng nơi một xó nào đó trong nhà, nói mau cho nàng biết ý định của mình muốn gặp nàng, khuya lại, chắc nàng xuống.
Nhưng chàng không dám. Sóng gió vừa qua hai cơn, nếu rủi ro, cơn thứ ba  nổi lên thì phải ôm mặt mà chạy ra khỏi nhà nầy ngay, không còn dám ngó ai nữa hết.
Bỗng chàng hồi hộp, mà thấy dáng ai đứng gần giếng. Đêm đã xuống hẳn. Trời chỉ có lưa thưa vài con sao, nên dưới nầy gần như tối mịt. Người ấy nhờ mặc áo trắng nên chàng mới trông thấy được.
Nếu như đó là Hồng thì thật may mắn bất ngờ. Nhưng lỡ không phải Hồng, thì nó sẽ rắc rốì thêm biết bao nhiêu!
Người ấy chắc chắn không phải là Hương, vì chỉ có ba cô kia mới đang buồn, đang khổ và mới thơ thẩn ngoài trời như vậy.
Hoa thì chàng đã ghê tởm rồi, còn Quá thì chàng thương lắm, không muốn cô có dịp hy vọng hão nữa.Mà cả hai đều yêu chàng và nhân dục họ mạnh và mù vô cùng, gặp họ thì nguy.
Nhưng nếu không dến gần thì còn làm sao biết đó là ai được. Long nhớ lại mình đang mặc bi- da- ma xám, đi trong đêm chắc không bị ai trông thấy.
Chàng định đến cách khoãng vừa đủ trông thấy là ai thôi, rồi sẽ tiến nữa hay lùi tùy người đứng đó là ai.
  Nhưng chàng đến càng lúc càng gần mà cũng trông không rõ được. Người ấy đứng nghiêng mình, có thể đoán là đang âu sầu nhìn xuống giếng.
  Người ấy khóc hay chăng? Ừ, hình như là chàng vẵng nghe tiếng hít mũi.
  Bỗng một ý nghĩ ghê - gớm chạy xẹt qua trong trí chàng. Long hoảng sợ là không kịp? Chàng vừa đến nơi thì trời ơi, cái mình áo trắng đã ngã xuống. Chàng chỉ nhắm chừng thôi, vì quần đen của người ấy không thấy được, nhắm chừng rồi chụp lấy hai cái chơn của người ấy lại.
  May quá, chàng chụp trúng và nắm chặt lấy hai chơn ấy.
  Thân trên kẻ quyên sinh đã ngã vào miệng giếng, nhưng hai bắp vế của y còn nằm trên bờ giếng bằng xi măng xây khá cao. Vì chân được giữ lại, nên thân dưới không bị lôi theo.
Long bối rối lắm. Nếu buông ra, toàn thân kẻ quyên- sinh sẽ lọt xuống dưới đáy giếng! Mà không buông thì tay đâu đở mình y lên.
Riêng y, một là y không chịu lên, hai là y không đủ sức ngóc lên nữa.
Long đành phải ôm hai cái chơn ấy bằng một tay rồi kéo lui mình người ấy vừa vói tay kia để níu lấy cái mình.
Người bị kéo như vậy, da thịt cọ vào bờ giếng, chắc đau đớn lắm, nhưng mặc! Chàng hì - hục rất lâu mới kéo thân hình trên của người ấy ra khỏi miệng giếng được.
  Lạ là y làm thinh, không kêu la gì cả, như một cái xác chết. Được biết tình cảm mãnh liệt của mấy chị em Thái - Huyên - trang. Long không ngạc nhiên trước cam đảm của người nầy chút nào.
   Chàng hỏi nho nhỏ:
- Ai đây?
- Anh Long!
Nhận ra được tiếng của Hồng, Long mừng hết sức và càng sợ nhiều hơn lên, nỗi sợ trễ - tràng vì Hồng có thể rơi xuống đáy giếng trước khi chàng cứu kịp.
Hồng kêu lên hai tiếng " Anh Long " rồi òa lên khóc nức nở. Long không nói gì cả, để cho bạn tự - do khóc cho hả hơi và lợi dụng thời gian ấy để đỡ Hồng dậy. Xong đâu đó chàng nói:
- Bậy lắm, sao cô lại làm vậy? Tôi đang tìm cô để nói rõ cho cô biết là tôi vẫn yêu cô và không đếm xỉa đến những lời nói xấu nào hết.
Hồng nức nở lên mà khóc nữa. Lần đầu tiên Long đường đột chạm đến Hồng. Chàng nắm lấy tay Hồng, siết chặt lại rồi ngồi chờ cho trận khóc thứ nhì ấy dứt.
Khi tiếng thổn thức thưa dần . Long gọi:
- Em!
- Dạ.
- Em có nghe anh nói hay không?
- Dạ nghe.
- Thì nín đi. Em cứ an lòng. Anh sẽ trở lại mà cưới em, nếu em còn yêu anh.
- Làm sao mà không còn hở anh.
- Con sao Hôm, hôm nay không ra mặt, con sao Hôm của chúng ta, sẽ nhắc nhở mối tình của chúng ta, sẽ nhắc nhở em chờ anh và sẽ nhắc nhở anh kịp trở lên đây cưới em.
Long đặt má chàng lên tóc bạn, Hồng còn tấm - tức, tấm - tưởi nên đầu nàng chốc chốc lại đẩy lên, đè áp lực vào má của Long.
- Thôi anh từ giã em nhé! Ở đây lâu không tiện, em vào nhà mau đi.
Hồng đứng lên rồi tấm - tức tấm - tưởi nói:
- Người ta hay nói : "Vật đổi sao dời". Anh có thể đổi ý, nhưng em cầu xin cho sao đừng dời để mỗi đêm em nhìn sao mà nhớ đến anh.
- Vật đổi sao dời, nhưng người không đổi, em đừng lo.
Hình như một bóng đen đang đi vào nhà. Đôi bạn sợ hãi buông nhau ra. Hồng bước mau, rời khoẻi giếng, trong khi Long đi vòng để ra phía ngoài mà vào, như đi đâu ngoài đường mới về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-26 20:46:03Ct.Ly>
Chương 1

Cả nhà bỗng giựt mình thức dậy giữa loạt súng đầu. Ông Nam Thành nói : "Rồi, rồi !" rồi nhào đại xuống đất và hét thêm : "Xuống bà, mau mau ! Bây ơi,  xuống đất mau mau !"
Bà Nam Thành mập tù lu, ột ệt ngồi dậy, bới đầu, bộ chậm rãi như không việc gì, khiến ông sốt ruột nạt :
- Biểu xuống, còn ngồi đó, chết bây giờ !
- Làm gì mà chết !
Ầm... !
Cả dãy phố như rùng mình lên một cái, đất cát đâu trên ngói rớt xuống trần kêu lộp độp, trần xi măng lại đổ xuống gạch kêu lạch cạch như ma ném đá.
Bà Nam Thành ngã lăn trên nệm rồi la bải hãi :
- Chết rồi ông ơi !
- Ừ, nói không chết mà ! Thây kệ cứ ở trển mà la, rồi đạn nó ăn, đừng than.
Bà Nam Thành cứ vừa la, vừa kéo mền trùm lại kín mít, làm như trùm mền là chắc ăn lắm.
Nơi buồng trong nghe chào rào chộn rộn nghe lụi đụi dữ lắm, rồi có tiếng cười, lại có tiếng khóc, cười và khóc đều do con gái cả.
Ông Nam Thành lại kêu :
- Con ơi, xuống đất nghen con !
- Dạ !
- Dạ !
- Dạ !
Có đến bốn tiếng dạ, mà toàn là giọng con gái.
Nhà có ba buồng. Buồng ngoài là một cái thảo bạt, cất thêm mái hiên và cửa, vách, dùng tiếp khách. Ông bà Nam Thành ngủ ở buồng chánh, bầy giờ biến thành buồng giữa, bốn cô con gái ngủ ở phòng trong cùng.
Bóng chong ba nến ở thảo bạt đục và nhỏ như y cái trứng gà, đang soi mờ cái cảnh dị kỳ đó, một ông cụ nằm co dưới đất, một bà cụ nằm trùm mền trên giường và bên trong bốn cô con gái ôm nhau cười và khóc.
Liên thinh vẫn nổ không dứt, từng chập điểm những tiếng nổ ầm của tạc đạn, của bách kích đạn, giống như pháo tràn ngày Tết điểm pháo đại giữa dòng.
Quả đạn bách kích nổ to hồi nảy, gần nhà, là một quả đạn lẻ loi, còn thì nổ tương đối hơi xa cả.
Ông Nam Thành bò lẹ vào buồng trong, nhìn một đống người lù bù tay chân và đầu rồi hỏi :
- Có đứa nào làm sao không ?
- Dạ không !
- Dạ có, ba à, con Quá nó khóc ba à !
Có tiếng cười rúc rích của hai ba cô gì đó, rồi nghe một cái đụi.
- Ui cha ! Con dịch ! Ba ơi, nó đạp con té cái bịch đây nè.
- Đừng có giỡn mà các con ! Tao rầu chín ruột mà tụi bây còn giỡn được !
Cái cô gái nói tiếng NÈ với chử r ngoài sau, hỏi to :
- Má sao mà la dữ vậy, ba ?
- Thì cái tật của má mầy, không biết hay sao mà còn hỏi.  Nó nằm đó mà la, chứ không làm gì hết, có thèm hạ thổ như mình đâu ! Thôi, rán chịu, đừng có lên giường nghe các con !
Rồi ông bò trở ra. Bây giờ tiếng súng hơi lơi, bà Nam Thành hé mền, thấy không có gì ghê sợ cả, nên đánh bạo tung hết mền rồi lết xuống gạch.
Ông Nam Thành bò tới nơi, hỏi đùa :
- Sao không nằm luôn ở trển ?
- Mấy đứa nhỏ có sao không ông ? Bà không đáp mà hỏi lại như vậy.
- Chúng nó đánh lộn trong đó, chứ không sao cả !
- Chồng ngồng cái đầu mà sao như là con nít é ! Ông à, gì đó vậy ông ?
- Họ đánh giặc chớ gì !
- Ai đánh với ai ? À, mà hồi nãy, ông nói gì mà "Rồi, rồi !" ?
- Bà quên rằng hổm nay nó căn thẳng như dây đờn hay sao. Người ta nín hơi lo cho dây đứt. Nay nó đứt là "rồi" chớ gì.
Bỗng liên thinh lại nổ hồi dữ dội, đạn bách kích pháo lại nổ ầm ầm, hai ba quả nổ rất gần và trần lại đổ.
- Đâu như là bên bót Hoàng Hùng ! Bà Nam Thành nói.
- Không, độ ra thì là đằng trường Đức Trí.
- Ai đánh với ai vậy ông ? Liệu ta đánh Tây hay không ?
- Ai biết ! Mà bà hỏi điều đó làm chi ?
- Vì đó là việc chết sống của mình. Ông giỏi quá mà sao không thấy ?
- Tôi thật không thấy, bà nói nghe thử.
- Nầy nhé !  Nếu ta đánh Tây thì cái thành Ô-Ma trước nhà mình sẽ hóa ra bãi chiến trường, và xóm này sẽ nát cả.
- Ờ, Trời ơi !
Ông nam Thành kêu lên thế, rồi tái mặt đi. Vùa lúc ấy có tiếng đông người chạy rần rần ngoài đường cái, tiếng la khóc om trời.
- Trời ơi ! Ta xung kích thàng Ô-Ma ! Ông Nam Thành kêu lên và điếng cả người.
- Xí, vậy mà làm bộ giỏi, làm bộ gan ! Lính gì mà xung kích người ta, lại khóc. Cho bằng đó là họ đi coi hát về khuya, bị trận đánh bắt chợt giữa đường. Không nghe giọng đàn bà la đó à ?
Ầm... !
- Khổ quá ! Bà Nam Thành than. Thật là chạy ô mồ mắc ô mả. Ngỡ lên đây bình yên được, nào dè...
- Chớ mười năm nay lại không bình yên à ? Phải ta còn ở dưới thì liệu còn đầy đủ cả nhà như vầy hay không ?
- Lâu ngày không nghe tiếng súng, quên nó mất, nay nghe lại thì sợ y hồi 45, má hớ, cô Hương nói.
- Em nhớ lại cái đêm họ đánh nhau ngoài vàm, em ghê quá, cô Quá nói và bị một cái tấm tức muộn ngắt đôi câu nói của cô.
- Nói dóc, cô Hoa mắng em. Hồi đó mày có mười một tuổi, biết gì ?
- Chớ chị lại lớn hơn ai. Chị mười ba tuổi, chớ bao nhiêu.
- Mà tao có dóc, có nói nhớ cái gì đâu.
- Tôi đố ông ai ăn ai chua ?
- Chưa có ăn, thua gì đâu. Lực lượng của đôi bên, lẽ nào chỉ đánh vài giờ mà tiêu hết một bên được. Họ ngưng đó chớ.
- Vậy còn đánh nữa ? Ghê quá !
- Ghê cũng phải chịu, chớ biết sao. mà mình dại quá, sợ hãi vô ích. Vách tường mấy mươi lớp chung quanh, đạn làm sao tới mình cho được.
- Sợ mọt-chê ấy chớ.
- Có trần thì đỡ lo.
- Trái phá thứ lớn, nổ bể nhà hay không ba ?
- Sao lại không. Nhưng nhà mình là nhà dân, chớ có phải là pháo đài đâu mà họ dùng trái phá thứ lớn để bắn sập nhà mình.
Cả nhà mòn mỏi rồi ngủ quên luôn cho đến trưa trờ trưa trật mới dậy.

***

Nhà ông Nam Thành ở trong ngõ hẻm ba mươi căn đường Vỏ Tánh, ngang hông thành Ô-Ma. Ông ở căn bìa hết và chuyên bán rương và va li da cho quân nhân Pháp.
Trước kia ông là thầy giáo Hải, giáo làng, ở một xó hẻo lánh trong tỉnh Bặc Liêu. Hai vợ chồng trôi giạt lên Sàigòn với bốn đứa con gái, một gói áo quần cũ và hai bàn tay không.
Gia đình ở đậu nhà người bà con, tại căn nhà bây giờ. Nhờ cần cù và may mắn, nhất là may mắn, hai vợ chồng dành dụm được chút ít, trong khi người bà con nướng sạch cả của cải trong Kim Chung.
Thành ra không bao lâu,  người bà con ấy nhường đứt luôn căn nhà lại cho ông giáo Hải.
Người trong xóm phần đông là me Tây, thứ me hơi sang sang, nên mới được các đức phu quân mướn phố gạch cho mà ở.
Ông giáo Hải quan sát nhận ra điều này, là những cô me Tây ấy thường đổi chủ tùy theo sự thuyên chuyển của các đức phu quân.
Họ được giao tận tay cho người thừa kế, bên đi và bên lại, rua nhau rất thân mật, gởi gắm cô nàng rất ân cần.
Vì vậy ông giáo nẩy ra sáng kiến bán rương da. Ông đến rương của xưởng thợ người miền Bác, rồi bán lẻ tại đây mà ăn lời.
Môi giới là những cô me Tây ấy ; họ ăn chia với nhau và đồng lòng cùng nhau mà đập các quân nhân dễ tính trong công việc mua sắm kia.
Những ngày khói lửa sau cái hôm hãi hùng ấy trải qua như một cơn ác mộng. Rồi câu tục ngữ Pháp "Sau mưa thì nắng" sao mà nghe đúng như bon.
Quả thế, sau mấy tháng sau đó, vợ chồng ông Nam Thành phát tài lạ. Tây nó mua rương nhiều gấp ba mọi khi, mà không cần trả giá cho lắm.
Ông Nam Thành nhận thấy điều này nữa là bà me Tây nào tiển chồng là trở về với chăn đơn gối chiếc chớ không có người hứng hoa rơi như trước nữa.
Ông không quen nghĩ xa, nên cứ làm ăn được ngày nào là mừng ngày nấy thôi.
Vào tháng thứ ba, ông bán thôi không hở tay. Ông không ngạc nhiên, vì có tin chánh thức là quân đội Pháp sẽ rút toàn diện.
Tuy chỉ tham gia khán chiến có một năm thôi, ông Nam Thành vẫn ao ước độc lập và mong đợi sự triệt thối ấy từ hơn mười năm nay.
Bây giờ mộng ông đã thành sự thật thì còn gì thích bằng. Thích hơn nữa là Tây ra mà tiền lại vô. Vô rất nhiều. Vui lắm ! Những trò sảy ra chung quanh ông cũng rất khôu hài để tăng thơ thới nơi lòng ông. Các cô me Tây làm mối ăn tiền đầu, mà mỗi lần đưa tay lấy tiền là khóc bù lu bù loa. Nào là "Thằng chả đi luôn thì tụi em đây khổ bỏ mẹ". Nào là "Tiền này là tiền vớt, tiền vát, nuốt thì nó nghẹn thì thương ai, mà không nuốt thì sẽ không có mà nuốt nữa".
Một cô nói : "Mình đi chung một xuồng, ông Nam Thành hớ. Hễ tụi em mà chìm, thì ông cũng chìm tuốt theo".
Nghe câu này ông Nam Thành giựt mình. Nhưng cái nguy xa lắn sao được cái đắc thắng gần. Và qua cái tháng làm ăn rận rộ đó, ông mới thấy lời ấy là đúng.
Hai vợ chồng ông Nam Thành ở lại ăn lần tiền lời kiếm được một cách vội vàng kia.
Một năm qua...

***

- Vỡ nợ rồi !
- Ai vỡ nợ ?
- Ông Đỗ Mạnh Tánh chớ ai.
- Tánh nào ?
- Bán thực phẩm cho nhà binh Pháp, đường Yersin đó mà.
- À, nhớ rồi, có bà vợ còn trẻ ấy à ?
- Ừ.
- Trời, sao mà mới có một năm...
- Thì ăn xài to, lại đổi nghề trong khi chưa sành trong ngành hoạt động mới.
- Chỉ có mình là khôn. Ở không, nghĩ lẵm rẵm mà hay.
- Hay gì. Thì cũng chết như nhau. Người ta loi nhoi thì phải lăng đùng ra mà chết. Còn mình nằm yên không cục cựa thì sẽ chết lần, chết mòn, đằng nào cũng chết cả.
- Lạ quá, ngày xưa, không có quân đội Pháp, sao không ai chết. Bây giờ có, mà hễ nó đi là áp nhau mà la làng.
- Có gì lạ đâu. Là tại mình ăn bám nó. Đứa nào không ăn bám nó, vẫn sống nhăn. Hội Đồng Thời bên Rạch Giá, bây giờ chạy xe đò Sàigòn Bình Đương đó, có chết đâu, tuy cũng mệt chút ít thôi.
- Không chết mà cũng mệt. Tại sao lạ vậy ?
- Là tại đời bây giờ cái gì cũng dính liền với nhau không thể tách riêng được. Nầy nhé : Tây nó đi, thì các quán rượu đóng cửa. Nhân viên các quán rượu ấy không có tiền ăn phở nữa. Anh hàng phở, vì thế hết xu để đi xe. Các me Tây không may áo, không bỏ giặt ủi nữa thì hiệu may, hiệu giặt ngưng hoạt đông, thợ may, thợ giặt không đi coi cải lương, cải lương sụt rờ sết, bào kép bớt mua báo, báo ế vân... vân...
Thảm lắm ! Mấy năm trước hễ mình đón tắc xi là y như bên cạnh mình cũng có người đang đón. Xe ngừng khi mình đứng dang nắng muốn rụt giò là mình và họ tranh nhau mà lên xe, cãi lộn om trời. Ngày nay thì khác xa : bà đưa tay ngoắt một cái là ba bốn chiếc tắc xi về lại, bác tài nào cũng quả quyết là mình kêu họ trước. Thật là :
Thân này nếu sẻ làm tư được
- Sao hồi đó ông cứ vái cho nó đi. Phải nó không đi có phải là...
- Bà đừng nói bậy. Nó phải đi thì dân ta mới ngóc đầu lên nổi. Còn tụi ăn bám như mình, muốn khỏi chết thì đổi nghề, chớ có gì đâu. Khi một số đông không ăn bám vào chổ nao được nữa, thì cố nhiên có rối loạn. Trật tự cũ bị xáo trộn cả. Những phần tử bị hất ra đó, vì bản năng tự tồn sẽ cố tìm nẻo mà chui rồi lần lần trở về lối sống cũ trước ngày ăn bám, và tình trạng sẽ ổn định lại như xưa. Có điều là phải bỡ ngỡ khổ sở, khó khăn lúc mới bị xô ra, nhưng phải cắn răng, mà chịu chớ kêu ca với ai, ai biểu mình ỷ lại làm chi.
- Ông nói nghe dễ ợt. Sao không giỏi đổi nghề thử coi !
- Thì đổi. Bà tưởng trong một năm nay, tôi yên phận nằm ỳ ở đây sao. Tôi tính nát trí mà chưa ra đó chớ.
- Một măm mà vẫn không ra, thì ba năm nữa, chắc cũng chẳng ra !
- Bà đừng có vội. Người ta no;i bôn ba không ra thời vận. Bà thấy không, tụi tư Minh, sáu Chẩn, chạy theo Tây ra Cấp bây giờ cũng thiệt thối về Sàigòn, mà còn méo mặt nữa chớ.
À, nói Cấp, tôi mới nhớ ra. Anh phán Tân ảnh rủ mình đi Cấp, đi hết nội nhà, đi xe của ảnh.
- Ở ngoải mấy bửa ?
- Thì đi chiều thứ bảy, chiều chúa nhật trở về. Anh phải đi làm sáng thứ hai.
- Thôi đi ông. Cái đó là đi dang nắng chớ phải đi nghỉ mát đâu. Tối thứ bảy đi ra tới ngoải rồi chịu cái nhức đầu đi nắng xuốt đêm đó. Sáng ra vừa hết phải chịu cơn nhức đầu bận về nữa. Mẹ con tôi ở nhà còn xướng hơn.
- Nhưng tôi đã hứa lỡ rồi.
- Thì ông đi một mình.
Ba ngày sau, ông Nam Thành cọp xe đi Vũng Tàu, đến mười giờ đêm sau mới về tới nhà. Sáng ông ngủ dậy rất trưa rồi loay hoay một hơi là tới bữa ăn.
Chiếc bàn tròn xếp, kiểu cắc chú, được mở ra và đặt ngay giữa nhà bếp, cạnh cái lò. Khói nấu cơm, vì thiếu lối thoát, còn un nghẹt nơi đó.
Cả nhà đều ngồi quanh bàn, trừ cô Hương, con gái lớn của ông bà, còn bận chiên cá bông lăn bột, món ấy cô làm sau hết cho được nóng hổi lúc ăn.
Mặt đỏ ựng nước mắt sống chảy ròng ròng vì cay khói, cô Hương vừa vén tóc trán bằng cái tay, vừa cười nói với mấy cô em :
- Bữa nay tao mới hiểu tại sao bánh xèo mà người Huế gọi là bánh khói.
- Vậy hà, cô Quá ngạc nhiên hỏi, họ kêu là bánh khói à ?
- Chớ sao.
- Tại sao vậy chị ? Cô Hoa hỏi.
- Tại bánh xèo phải ăn ngay lúc mới lấy ra khỏi chảo mới ngon. Mà muốn ăn ngay, phải ngồi gần chảo, tức là phải ngồi gần khói. Ăn bánh khói, tức là ăn bánh trong đám khói.
Ông Nam Thành cười ha hả :
- Con Hương nó bói ra ma. Tao thì nghĩ khác. Tao tưởng khói là tiếng khoái, nói ngọng theo lối miền Trung. Bánh khói là bánh khoái, ăn khoái miệng lắm.
- Thôi, con rồi thì đem lại ăn luôn con !
Bà Nam Thành sốt ruột con gái lớn của bà bao giờ cũng thiệt thòi, nên thúc giục như vậy.
Cô Hương xúc cá bằng vá dẩy rồi vội vàng đe, lại đặt trên nệm xà lách xon trong dĩa.
- Chế nước sốt vô, Hồng ! Cô bảo em gái kế như vậy rồi đi rửa tay dính mỡ để ngồi vào bàn ăn.
Người miền Nam ta có nhiều lối đặt tên con rất ngộ nhgĩnh. Có lối đặt liền với tên cha, hễ cha tên Sang thì con phải tên Trọng, cha tên Phú thì con phải tên Quí, cha tên Sâm thì con phải tên Nhung.
Có lối đặt liền với nhau. Thí dụ bốn đứa thì đặt : Nết, Na, Đằm, Thắm, năm đức thì đặt : Cửu, Hạn, Phùng, Cam, Võ.
Ông Nam Thành đặt tên con một cách đặt biệt hơn ai cả, ông dựa theo năm chữ nhạc đầu trong điệu Bình bán vắn mà quyết định giọng của chữ tên của con ông.
Hương, Hồng, Hoa, Quá, Thơm.
Ý ông muốn nói : cái hương của hoa Hồng thơm quá ! Mà nói bằng điệu câu Bình bán vắn câu đầu.
Cứ theo ý chí đó thì ông mà có đặt như vầy cũng vẫn ổn.
Con, Cò, Ma, Ốm, Thay !
Hoặc :
Tao, Mày, Đi, Tắm, Chơi !
Vì bất kể như vậy, hay nói cho đúng ra, vì chỉ kể có giọng bằng, trắc thôi, nên đứa nào xui nấy chịu. Đứa đó là cô con gái thứ năm, cô Quá.
Con gái mà tên Quá, trong khi con nhà khác tên là Lê Chi, Bích Vân thì có tức hay không ? Cái cô Quá nầy khóc mãi vì cái tên kỳ cục của cô.
Được cái là em cô, con Thơm, chết ngay hồi ba tuổi, cô Quá thành con gái út, được cưng dữ lắm nên cô tự an ủi phần nào.
Là con gái lớn, quán xuyến cả việc nhà, nên Hương ngồi gần bếp để bới cơm và rội thức ăn.
Con cả trong gia đình nào cũng thế, không đẹp lắm, lại hơi thật thà, nếu không đần, tương đối với mấy đứa sau.
Cô Hương năm nay hăm tám, trông hiền hậu quá sức, lù đù như gái quê, và an phận như bất kỳ cô gái luống tuổi nào.
Gương mặt cô chỉ dể thương thôi. Còn thân hình cô thì hơi đẫy đà. Người ta nói con gái lỡ thời hay phát phì thình lình hoặc đột ngột gầy khô đét khi qua khỏi mức tuổi nào đó. Họ cắt nghĩa sự dư, thiếu th.t ấy như vầy : trong cơ thể, sự mất thăng bằng do nội hạch (nhứt là hạch sanh dục) bạo động hoạc quá lười. Có lẽ đúng chăng ?
Kế Hương là cô Hồng, hăm sáu tuổi. Hồng đẹp nhứt nhà, nhứt xóm, và có lẽ cô hạng giữa gái Sàigòn.
Người con gái hăm bốn là cô Hoa đã bước gần tới lằn mứt cuối cùng của sự trổ mã. Cô này cũng đẹp, nhưng không quyến rũ bằng cô Hồng kia. Cô Hồng đã nở toàn diện trong sự bừng dậy của nhan sắc một thiếu phụ. Phải, đàn bà còn trẻ khi nào cũng đẹp hơn con gái đương thì. Có ai mê con gái mà tan nhà nát cửa kkhông ? Không, chỉ có đàn bà mới làm hại đàn ông được.
Hồng, Hoa rồi đến Quá. Nơi cô Quá, sắc đẹp còn ngập ngừng, những đường cong còn dò dẫm chưa quyết dừng lại nơi đâu cả.
Có thể là cô sẽ đẹp, mà cũng có thể không đẹp bao nhiêu. Sự trổ mã của cô chưa nói lên cái tiếng cuối cùng của nó. Tuy đã hăm hai, cô còn trẻ con cả tính tình lẫn thể chất.
Ba chị em kia đều là gái tân, còn cô Hồng đã viễn du một chuyến trong cuộc phiêu lưu mạo hiễm trên đường tình.
Một sự so le nỗi bật lên giữa vợ chồng ông Nam Thành. Bà thì cao trộm, và phục phịch như bao gạo chỉ xanh. Ông lại len lén thấp, và ốm như người nghiền á phiện. Phải chăng sự lấn lướt của bà vợ là nguyên nhơn của việc đẻ toàn con gái ?
- Sớm mai, con đi trên đường Tự Do, thấy buồn quá, cô Quá bắn phát súng đầu tiên như thường lệ. Nội nhà chỉ có cô là nói nhiều hơn cả.
- Đường đó là đường Tây buôn bán. Tây nó cuốn gói hết thì tự nhiên là đường phải buồn. Tiếng vang đầu tiên phát ra từ miệng cô Hoa, một cái miệng ba hoa thứ nhì trong gia đình.
Mà ba ná à, con thấy anh Viết đứng chụp hình dạo trên đó, trước nhà hát Tây (1).
- Thiệt vậy hả ? Bà Nam Thành ngạc nhiên hỏi. Trời ơi, sao xuống lẹ dữ vậy ? Mà ai lại đường đường một anh thầu khoán mà...
- Bà lầm, cuốc đời giống hệt như đi xe ô tô buýt. Đi ô tô buýt mà đeo được bàn đạp để đến nơi là chúa lắm rồi. Còn biết bao nhiêu người đeo không được phải ở lại vỉa hè, dưới trận mưa ! Kiếm được một nghề, dầu nhỏ mọn, để mà sống, là giỏi lắm đó, đừng có chê.
Cô Hoa cười dòn mà rằng :
- Nhà mình mấy năm trước đi xe ô tô buýt đời, ngồi ghế có nệm. Bây giờ đứng bàn đạp, mà chỉ đứng một chơn thôi.
- Ba so sánh hay lắm, cô Quá khen. Cuộc sống giống hệt đi ô tô buýt về mọi mặt. Lên tại bến thì lấn nhau không còn biết xấu hổ gì cả, miễn tìm được ghế ! Phần đông đi tới đích, mà có ngường cũng xuống dọc đường, đó là những kẻ suy sụp hay bị tử thần rước sớm.
Trên xe cũng có những may mắn, hên xui. Có lần con đứng gần một bà cụ. Chỉ đứng bậy vậy thôi, không mong mỏi gì. Thế mà qua hai trạm thì bà cụ xuống xe, con được ghế, thích quá, thích như ông ba Công nhờ có người trước chết mà được bầu thũ quĩ hội ái hữu Bặc Liêu, mặc sức lấy tiền quĩ mà chơi hụi.
Cô Hồng nảy giờ làm thinh, xen vào một nhận xét :
- Nhưng có khác là xe ô tô buýt, có đờn ông nịnh đầm, còn trên cuộc tranh sống thì không.
- Nịnh gì ? Bây giờ có ai thèm nịnh đầm nữa đâu. Họ nói mình đòi nữ quyền tức là tự xét bằng họ rồi, nên họ không thèm nịnh mình nữa.
Cả bốn cô gái đều cười xòa.
Trận cười chấm dứt chuyện đời, nên ông Nam Thành khởi đầu câu chuyện khác.
- Hôm nay tôi đi trên đường Biênh Hòa tôi thấy chuyện này đáng chú ý lắm là ở làng Xuân Trường, dựa hai bên đường, nhà mới, cất lên rất nhiều, trông vui hết sức.
- Yên giặc rồi dân trở về sứ cũ à ?
- Không, chổ đó ngày xưa, hồi tiền chiến, không có nhà. Hỏi ra thì mới hay dân mới là những kẻ suy sụp như mình, lùi về vườn để thủ.
- Sao họ không về làng họ, lại chọn chỗ đó ?
- Chắc làng họ đang bị nạn cướp bóc như làng mình. Còn tại sao họ chọn làng đó mà không chọn làng khác thì tôi thật bí.Có lẽ ở các làng khác cũng có, mà mình ít đi đâu nên không thấy. Nhưng luôn luôn, họ chọn gần đường cho được an ninh. Trông ngộ quá. Một nếp nhà con con, xinh xắn, vén khéo, giữa một miếng vườn mới lập, cây còn non như cuộc đời chớm nở. Nó trẻ và mạnh làm sao !
- Nhưng chủ nhà lại vào buổi xế chiều. Cô Hoa nói.
- Ừ đúng ! Luôn luôn như vậy. Chỉ có mấy ông già bà cả mới trồng cây ; thanh niên, thiếu nữ nóng tánh lắm, hưởng thì thích mà trồng thì không đủ chí bền.
- Chưa chắc thích hưởng đâu ba. Quá cãi. Con tưởng tượng về vườn chắc buồn lắm.
- Nên thơ lắm chớ buồn gì, cô Hồng đa cảm và hay mơ mộng cãi như vậy.
- Nên chơ đối với bọn về chơi vài bữa. Còn về ở luôn để cuốc đất thì nên... thở là đúng hơn. Cô Hoa thông minh một cách thực tế, thấy rất đúng, và ranh mãnh nói câu đó.
- Chết chưa, ông Nam Thành than, tao định lui về vườn mà tụi bây nghĩ như vậy cả thì làm sao.
Bây giờ cô gái lớn mới xen vô :
- Đâu có nghĩ như vậy cả, ba ! Con với con Hồng thì tán thành. Cọng thêm vào ba, má là mình được đa số rồi. Cho con Hoa và con Quá hỏng giò !
- Ờ, tán thành ! nữa rồi chị đào mương nghen ! Tụi em chỉ làm thơ thôi.
- Thôi không cà rỡn nữa. Bác Phán Tâm, lúc đi xe qua vùng đó, có mách ba một cuộc đất hai mẫu, cách Thủ Đức bốn cây số ngàn...
Bà Nam Thành chận hỏi :
- Tính đi từ Sàigòn lên thì khỏi Thủ Đức hay chưa tới Thủ Đức ?
- Khỏi.
- Cũng được. Nếu chưa tới thì khổ, vì đất phía dưới ngập nước, mà lại nước mặn nữa chớ, y như dưới xứ của mình.
- Nghe đâu họ bán có bảy chục ngàn.
- Đất không mà mắc dữ vậy sao ?
- Đất bây giờ     có giá. Vả lại đó là đất tốt.
- Tôi không hiểu sao ông chẳng tính chuyện về xứ.
- Dưới mình còn cướp bóc nhiều lắm.
- Còn ở đó cũng là chổ khỉ ho cò gáy chớ hơn gì.
- Không, miền đông khác dưới ta nhiều. Ở miền Đông, không có xó kẹt nào mà xe đò không vô tới. Việc tiếp tế dễ dàng hơn, dân ít quê hơn, và nhứt là tương đối an ninh hơn.
- Vả lại ta sẽ    ở dựa con đường thiên lý, con đường quan trọng nhứt Việt Nam thì bà biết ta sẽ được yên ổn đến bực nào.
Cô Quá gõ đũa vào chén, đánh nhịp mà hát :
Ai đi lên trên con đường thiên lý sương sa mờ (2)
- Im cái mồm ! Bà Nam Thành mắng con bằng giọng và lối nói miền Bắc. Gần đi lấy chồng rồi mà còn trẻ con !
- Gần đâu mà gần, má. Chị Hai hăm tám rồi mà còn chưa lấy chồng, con mới có hăm hai hè !
Gia đình ông Nam Thành rất cởi mở về    việc chồng con của con cái. Bà mẹ ưa nói đùa về vụ đó nên mấy cô con gái quen tai không mắc cỡ nữa và lấy đó làm đầu đề câu chuyện nhiều khi.
Hương bị cô em gái nói mỉa mà không mích lòng, vì cô thấy nó không ác ý. Cô cũng rập nhau mà cười với mấy em cô.
Cô điểm mặt Quá mà nói :
- Về trển, bắt mày nhịn xi nê cho mày ngáp chơi.
Cô Quá chụp cô Hoa mà trả thù :
- Chị Hoa mới là ngáp chớ, em có ghiền ngồi tiệm kem như chị đâu.
Ông Nam Thành làm thinh mà ăn, để cho con pha trò giây lâu mới hỏi vợ :
- Bà nghĩ làm sao ?
- Thì quyền ở ông.
- Nhưng bà thích theo tôi hay không chớ ?
- Ở đâu quen đó. Thích thì tôi không thích mà theo thì tôi theo. Xóm đó đông hay không ?
- Nhà lân cận ở cách đất ấy cỡ hú một tiếng dài mới nghe.
- Uý trời ! Vậy thì sợ chết !
- Có tôi mà còn sợ cái gì. Tôi chỉ lo bà nhớ tay xệp ở đây mà buồn mà thôi.
- Ông nói như tôi là tay cờ bạc. Buồn, đánh chơi chút ít, chớ hồi ở dưới Bặc Liêu tôi lại không chăn vịt, không làm lụng sao ?
- Tôi tính như vầy. Mình sang căn nhà nầy, ít lắm cũng được bốn mươi ngàn. Lại hốt mấy đầu hụi chót. Mua đất xong, còn tiền đủ ăn trong năm đầu.
Năm đó ta trồng cây. Nhưng lại trồng xen hàng bông và nuôi gà để kiếm tiền xấp thời đặng ăn năm sau.
- Không cất nhà sao ?
- Cất chớ ! Tôi quên nói rõ : Mua đất và cất nhà, cất nhà chỉ tốn độ hai mươi ngàn là nhà rộng chán.
- Sao rẻ dữ vậy ?
- Ở nhà quê vật liệu và nhơn công nới hơn ở đây. Vả lại mình biết thu xếp.
- Té ra ba nói thật à ? cô Hoa nói.
- Chớ nãy giờ con ngỡ ba, má nói cà rỡn hay sao ? Sách có chữ : Tọa thực sơn băng...
Cô Quá cười khúc khích, liếc các chị cô mà phê nho nhỏ :
- Ổng xổ nho rồi đó !
Cô Hương nối lờ cha bằng một vế chữ nôm :
-... ngồi ăn núi cũng lở.
Rồi cả nhà cùng cười. Được trớn, cô tiếp :
- Vì vậy ba mới đem mình về gần núi Châu Thới cho nó mau lở thêm chơi.
- Gần núi thật hả ba ?
- Cũng còn xa. Mà đi bộ tới đó chưa mõi chơn lắm.
- Sướng a, tụi mình sẽ đi suối Lồ Ồ mỗi ngày.
- Cô nào cũng có phậv sự cả. Ông Nam Thành chận phấn khởi của con lại. Chúa nhựt mới đi chơi.
- Về nhà quê rồi mà còn theo thời dụng biểu phiền phức như ở đây sao ba ?
- Tại sao lại bỏ, nếu thời dụng biểu là cần ?

Chú thích.
(1) Lúc xảy ra câu chuyện, chưa có Quốc hội.
(2) Điệu hát thạnh hành hồi tiền chiến.
0
Từ trang 82 đến trang  95

Đò Dọc - Bình Nguyên Lộc


Chương 5

Ánh trăng tráng ngà.
Có cây da to.
Có thằng Cuội già.
Ôm một mối mơ.


      Gần hai mươi đứa trẻ vừa trai vừa gái, đứa nào cũng rất hôi mùi mồ hôi muối và khét nắng, rập nhau mà hát giữa sân bài hát do bốn cô Thái - huyên - trang dạy chúng từ một tuần lễ nay.
      Vì bà thầy nhạc cũng không giỏi lắm, nên chúng hát sai bét. Tuy thế mẹ chúng và chị chúng, đang ngồi với các cô tại thềm nhà cũng thấy làm hay vô cùng.
     Phụ nữ ở đây nghèo khổ quá, bận tay bận chơn suốt ngày nên không hề vui chơi việc gì cả. Ngồi lê đôi- mách là tật cổ truyền của đờn bà mà họ cũng từ bỏ được thì biết đời họ khô - khan đến bực nào.
    Bốn chị em thương- lượng với các người nghèo nhứt xóm để họ cho con em đến học chữ với các cô một tuần năm buổi, trừ thứ bảy và chủ nhựt.
   Thật ra làm việc đó, các cô chỉ vụ- lợi thôi, để cho công việc chiếm hết thì giờ cho khỏi buồn ấy mà! Chớ các cô không có lý tưởng gì ráo, không có một băn khoăn xã hội nào cả.
    Nhưng dạy được mười hai đứa khá thông minh các cô lần lần thấy thú- vị thật tình trong việc phá ngu mười hai bộ óc, chớ không phải vừa dạy, vừa nghĩ vơ vẩn đâu đâu như những hôm đầu nữa.
   Thứ nhứt là biến đổi những đứa con gái đầu bù và ăn nói thô -lỗ ra những em bé gái biết chải gỡ vén khéo và thuộc một nhúm lễ phép sơ - đẳng.
     Thỉnh thoảng các cô nài nỉ một số đờn bà và con gái lớn đến nhà chơi vào những đêm trăng như đêm nay cùng chỉ cốt đỡ buồn. Cái trò hợp ca là để quyến -rủ họ đến cho thường và cho đông.
   Ánh trăng sáng ngà thật. Trời trong và sâu thăm thẳm khiến cảnh ở đây lại càng trống - trải trơ - trọi thêm. Nếu trăng núp sau tàu dừa, hoặc rớt dưới sông rồi tan vỡ ra từng mảnh thì còn ngắm được, còn thưởng - thức được vẻ thơ - mộng của nó. Đằng nầy đến không có lấy một sợi mây mỏng vắt ngang qua cái mặt tròn vo kia thì trông bầu trời và cảnh đất trơ -trẽn đến bực nào.
Cuội ơi, ta nói cho cuội nghe.
Ở trên cung trăng mãi làm chi.

.   .   .   .   .   .   .    .    .    .    .    .
Có con dế mèn.
Suốt đêm canh thâu.
Hát xẩm không tiền.
Nên nghèo xác - xơ.

 
Thím hai Nếp ngẫm - nghĩ nói to:
- Ngày xưa hồi còn nhỏ dại, chúng tôi đêm trăng thi chơi nhảy chán chậu, chơi u bắt mọi, vui lắm. Không hiểu sao từ hơn hai mươi năm nay, trẻ con không chơi các trò chơi ấy nữa. Thành ra tối tối trong xóm buồn hết sức.
- Trò chơi nào lâu đời quá cũng dể chán, cho nên...
- . . . Cho nên trẻ con nó bỏ? Hoa nói hớt câu nói của người chị cả của cô. Nhưng nàng tiếp: bỏ cái nầy, phải tìm cái khác thay vào chớ.
- Thì mày giỏi tìm đi. Trẻ con nó đang buồn đó, không riêng gì trẻ con ở đây, mà cả khắp nước kìa.
- Thách hả ? Được, em sẽ tìm, và sẽ tìm ra.
   Cô Hoa quả quyết điều đó rồi bỗng thấy cái rỗng không của những ngày quê của cô hết đáng sợ nữa. Cô thoáng thấy sẽ có một cái gì để đeo đuổi theo.
      Ba cô khác thì chưa gặp may mắn đó.
                                                                       
                                         *   *   *

Sau ba bốn ngày nóng bức, gió nồm thổi dữ. Trái sao trái dầu có cánh ở đâu bay tới như mưa, quay tròn như con vụ trên không trung rồi rơi xuống đầy sân.
     Không khí buồn tẻ ở Thái - huyên- trang nhờ thế, đỡ lạt phần nào.
  Chiều chiều bốn cô con gái đợi gió. Hễ gió nỗi lên là  họ vui như các thứ quả có cánh ấy là những bức tâm - thơ của người xứ xa gởi đến.
  Trái sao, trái dầu bay đẹp mà rơi cũng đẹp. Nhưng trái trác bay trông lại buồn cười. Cánh của thứ trái ấy không chia ra hai nhánh, hoặc bốn nhánh mà lại bao quanh tròn cả trái. Trái trác, nếu gió to thì bay cuồng loạn lộn nhào, còn nếu gió nhẹ, thì bay như dĩa bay mà các cô thấy trong chiếu bóng.
    Thú nhứt là rượt bông lồng mức. Bên kia đường , một cây lồng mức già trụi lá đứng đó bồi thêm vài vệt buồn vào cảnh khô hạn ở Xóm Thuốc nầy.
    Trái lồng mức tròn mà dài như trái đậu bắp. Chiều chiều, vỏ cứng như vỏ sô của trái ấy nổ tách ra làm hai rồi thả ra muôn ngàn cái bông trắng, bay như tuyết đổ.
   Bông gồm một hột vàng nhỏ như hột lúa, trên đầu hột lòng trắng, mọc tua tủa ra, lông mịn như tơ, mà cong như lông mi, dùng làm cánh dưa hột vàng về những nơi xa lạ.
   Nhiều bông quá nặng, cánh chở không nổi, sa xuống trên sàn, nhưng vẫn bay là là ngang đầu người chớ không chịu rơi xuống đất.
    Các cô rượt bắt mớ bông ấy, ai bắt được một chiếc thì sung sướng vô cùng. Chỉ vò mớ lông trắng mịn giữa hai ngón tay cũng đủ vui vẻ một buổi chiều trống rỗng.
    Cái thú thứ nhì là xem trẻ trong xóm giành nhau mà lượm xoài non, trái nhỏ bằng ngón tay cái: Ở nhà quê ít bánh hàng nên thứ gì trẻ nhỏ cũng thích ăn: me non, dái mít, xoài non, và những trận lượm xoài thì hào hứng như cuộc tranh sống thật sự.
     Người gia - trưởng Thái - huyên - trang thấy con vui thì mừng, nhưng  không vui được với con.
     Trong bữa cơm chiều nào ông cũng nói:
- Cảnh ở dây khác dưới mình nhiều quá. Mỗi mùa có màun sắc, có mùi vị riêng của nó. Nhưng màu sắc , mùi vị nầy không giống màu sắc mùi vị ở quê ta. Nhớ nhà quá đi thôi.
  Ông Nam Thành dùng tiếng mình, (1) nhưng ông quên rằng chỉ có ông là nhớ nhà. Con ông lớn lên ở Saigon, nếu có nhớ thì nhớ đô - thành.
   Nếu chúng không bận bịu với đô - thành vì ở đó thiếu cảnh đẹp thì chúng vui với cảnh ở đây là hợp lý, không thể kéo chúng vào phe nhớ quê hậu - giang được.

                                *  *  *

Cả nhà nghe như có một cái nắp đậy lên đầu họ trong những ngày đầu mùa. Nắp ấy ban đầu vô hình, sau rồi hiện ra thành một tốp mây đen.
   Những trận mưa đầu mùa ồ ạt như bão tố, đã đánh vỡ được cái nắp kia, khiến họ nghe giải thoát.
Cô Hồng nghe nhẹ người hơn ai cả vì khổ dịch kéo nước tưới cây khỏi phải làm nữa.
Ông Nam Thành thì bận túi bụi sửa lại chuồng heo, chuồng gà dựng sơ sịa hôm còn nắng.
Hai cô con gái sau thì lo ngại nhiệm - vụ của hai cô từ đây biến thành khổ - dịch; nuôi heo, nuôi gà trong mùa mưa là một công việc cực nhọc: cho heo ăn phải bị ướt át, gà lăn ra chết toi vào lúc đầu mùa mưa nầy thì nội cái việc đào lỗ chôn xác để tránh sự truyền nhiểm cũng đủ hụt hơi rồi.
Trời mưa liên tiếp mỗi ngày cho đến suốt tuần lễ mà chưa thôi, làm như là nước đọng cả nửa năm nhiều quá, bây giờ đổ xuống được là nó cứ đổ tràn trề.
Thôi, từ giã rượt bông lồng, từ giã đi thăm anh Xòn, thăm cậu hai Quờn, và đi dạo mỗi chiều trên đường nhựa.
Bốn chị em ngồi đó mà nhìn mưa xa chạy về như ai kéo màn trắng đến. Mưa trắng xóa, xóa mờ cả chơn trời, cả cánh đồng trống trước nhà, cả những đoàn xe hơi cứ nối đuôi nhau mà chạy.

                                      *  *  *

Mùa mưa buồn nhưng lại giúp bốn chị em tìm được thêm bạn mới.
Chiều hôm ấy cô Hồng mắc mưa ở xóm trên. Không muốn làm rộn ai, cô chạy vào lò rèn của thợ Hổ là nơi gần như là công cộng: người đi lỡ đường ghé lại đó nghỉ chơn, những ông già rỗi rãi trong xóm, đến đó để đánh cờ tướng, trẻ nhỏ bán quà vặt cũng hay lân la nơi đó để tìm khách hàng.
  Cô Hồng chạy vào tới lò thì giọt tranh đã to bằng ngón tay út rồi. Để tránh tạt, cô vào đứng giữa lò, gần bếp lửa.
Ông thợ Hổ không thể dừng tay vì sắt đang đỏ, vừa tiếp tục đập vừa nói:
- Coi vậy mà không sao, cô ba cứ đứng yên đó.
Nhưng những đóm lửa bay tua tủa ra khiến Hồng sợ hãi nhảy lui ra ngoài, bị tạt ướt cả ống quần.
- Hay là cô lên ghế ống thụt mà ngồi, ông tư Hổ đề nghị.
Sau bếp lửa đứng lên hai ống bễ to tướng. Một thằng bé con ngồi trên một con ngựa cao đặt sau đó, thụt mãi không thôi.
Ông bễ thở khò khè như mệt hổn hển, mỗi lần nó thở ra một cái là than trong bếp lại đỏ tươi lên.
Mừng được nơi ngồi yên chỗ, Hồng chạy ra sau bếp rồi trèo lên ngựa mà ngồi chung với thằng bé. Mặt ngựa khá dài để hai người ngồi mà người nầy không ngăn trở công việc làm của người kia.
  Bây giờ thoát khỏi lửa. Hồng sung sướng mà nhìn nó, nhận thấy nó đẹp lắm! Thằng bé mỏi tay lơi thụt, than lu mờ, tư Hổ nạt nó, nó vội thụt lia lịa, than hồng lên, xem trong trẻo lạ. Những thanh sắt đã nướng, đỏ lần lần như lửa đã rửa được cái đen đúa dơ dáy của nó. Đẹp nhứt cố nhiên là mưa lửa bắn ra mỗi lần búa nện xuống đe. Giò ông tư Hổ bộ bằng sắt sao ấy, mà lửa văng vào đó tới tấp, ông vẫn đứng yên mà đập sắt.
Ở đây có cái mùi ngồ ngộ như mùi hơi đất xông lên sau trận mưa đầu mùa. Đó là mùi sắt đỏ trui trong nước lạnh, nghe khen khét một cách thật dễ chịu.
Ấm lạ! Mặc dầu gió vào tứ phía, bụi mưa bay khắp nhà, Hồng cũng nghe thấy ấm, nhứt là ấm trong lòng cô, giữa sự xúm xít nầy, ông chủ lò rèn, hai ông lão đánh cờ, ba nông dân trai tráng, và hai đứa con gái bán bánh ít trần, bánh cam.
Bỗng trời chớp một cái rồi tiếp liền theo một tiếng sét nổ long trời.
Thằng bé thụt ống lửa, giựt mình ngừng tay lại. Ông tư Hổ không mắng nó như mấy lần trước, mà trái lại chính ông cũng thôi đập.
Ông gỡ kiếng ra, ngó ra cánh đồng trước nhà rồi nói:
- Có quỉ núp đâu gần đây...
Hai ông lão đánh cờ cũng vừa xong một ván, ngửng mặt lên và một ông bắt chuyện.
- Nói quỉ, tôi mới nhớ lại một lần đi ghe. Ghe chúng tôi mắc mưa từ lúc mới chun vào kinh tắt để băng qua sông Saigon. Khi tới Vàm Nông sắp đặt đổ ra sông lớn thì...
Rồi mỗi người có mặt ở đó, người nào cũng sẵn một câu chuyện yêu, tinh, ma, quỉ, một câu chuyện lưỡi tầm sét để mà kể lại.
Ông tư Hổ kể chuyện linh động hơn hết, có cả đối thoại của nhân vật trong truyện mà ông nhái giọng nghe rất là sống.
Ông lại nhớ cả chuyện xưa tích cũ trong làng, chuyện dắp con đường Thiên lý trước nhà và lịch sử phát triển của chợ Thủ Đức.
Trời bớt hột lần lần, khách lần lượt rút đi.
- Thôi, thụt mầy!
Tư Hổ vừa đeo kiếng trở vào, vừa ra lịnh cho thằng bé tiếp việc. Nhưng Hồng đã giành lấy hai cây thụt, ngồi xích vào giữa rồi ra tay thử.
Lạ quá, thằng bé còn nhỏ thế, mà nó thụt coi nhẹ hều, còn cô, sao cô ráng hết sức mà nhấn không nổi.
Ống bễ dưới tay cô giống như người nghẹt mũi, ống nầy kêu một cái khè khó khăn mệt nhọc, thì ống kia còn hịt hịt như bị bít hơi.
Cô gái Thái Huyên trang cười ngất rồi giao cây thụt lại cho thằng bé nó cũng đang bành miệng ra mà cười. Cô từ giả ông Tư, ra về dưới mưa thưa, đinh ninh sẽ trở lại đó lúc nào trời chuyển mưa. Ông tư là cái kho tàng trử tích hay chuyện lạ, không tới lui với ông, lấy gì giải trí trong mùa nầy?
Từ đó, xế trưa nào, không chị thì em, các cô Thái Huyên trang đều có mặt ở lò rèn để hưởng một buổi đụt mưa ấm cúng.
Cuộc đời phẳng lặng của mấy chị em thêm được những buổi vui ngắn ngủi và phù du như đốm lửa ở mặt đe văng ra, bừng cháy trông rất xôm, mà chết đi cũng mau lẹ vô cùng.
Như vào mùa đông ở các xứ miền Bắc, ở xứ ta người trong gia đình xúm xít lại gần nhau trong mùa mưa.
Nhứt là vào những buổi đầu hôm, dưới ngọn đèn un khói, họ quây quần quanh người gia trưởng để bàn chuyện tương lai, để nhắc kỷ niệm cũ, để nghe kể chuyện đời xửa đời xưa.
Hồn muôn thế hệ qua như phảng phất hiện về đây đó, rồi truyền thống của gia đình, của dân tộc được hồn ma xưa bí mật thổi nó vào tâm hồn người đời nay đang có mặt bên đèn.
Ngoài kia, mưa rơi trên tàu chuối, mưa tạt vào phên tre, mưa rao điệu ai cho ãnh ương hòa tấu bản nhạc buồn...
Bà Nam Thành nhìn từng đứa con của bà rồi thoáng ái ngại nhận thấy rằng ở đây không phải chỗ của chúng nó. Chỗ của chúng phải vui tươi trẻ trung, sinh động hơn cái không khí ủ rủ nầy.
- Ông à, tôi có chuyện muốn bàn với ông.
- Ừ, thì cứ nói đi.
- Lên gác hãy nói.
- Như vậy gọi tôi bây giờ làm gì.
- Để ông lên gác.
- Bà buồn ngủ mà sợ ma không dám lên một mình thì cứ thú thật để tôi đưa lên, đừng có kiếm chuyện.
Bà Nam Thành cười hơi rung rinh cái nây. Bà cố cười cái cười thú tội, làm bộ như mặc nhận lời đoán của chồng là đúng, hầu lên gác tự nhiên cho khỏi băn khoăn về câu chuyện mà bà muốn giữ kín.
Bà nhả trầu, súc miệng, doạn pha trò với mỗi đứa con một câu rồi mới theo ông mà lên lầu.
- Chuyện gì mà bí mật dữ vậy, ông Nam Thành hỏi một khi lên đến nơi.
- Bữa nay yên xong mọi việc tôi mới rảnh trí để nhớ lại chuyện nhà...
Bà nín một lát lâu, dường như không biết bắt đầu nơi đâu câu chuyện của bà. Rồi dột ngột, bà hỏi chồng:
- Ông có bao giờ nghĩ đến việc chồng con của con hay không?;
Ông Nam Thành ngạc nhiên quá, ông đã đoán nhiều chuyện mà bà Nam Thành sắp nói, trừ chuyện nầy. Giây lâu ông mới đáp:
- Không, à ...ơ... nghĩa là có...mà ít khi lắm.Mấy năm trước bận  buôn bán, rồi bận lo nghĩ về túng thiếu, bây giờ thì say thú làm vườn. Sao, có gì lạ ?
- Không có gì lạ tôi mới lo. Ông thử tưởng tượng thử coi làm sao con mình lấy chồng được.
- Thì sớm muộn gì cũng có người đến hỏi chúng nó chớ.
- Nếu mình còn ở Saigon thì như vậy. Nhưng lại đây là khác rồi.
- Khác làm sao?
- Muốn gã lấy chồng, phải giao thiệp. Các mối giao thiệp ấy lại phải lâu ngay chầy tháng. Mình rời quê, mất cả quen lớn ở dưới. Lên Saigon , vì là thành phố lớn lại vì mình chưa vững. Vì vậy con Hương phải chịu lỡ thời. Nó rủi là phải rời quê giữa lúc đương thi, rồi sống trong chỗ thờ ơ cho đến ngày nay nên đã hăm tám rồi mà còn cô độc một thân.
- Cũng tội nghiệp cho con Hương thật đó. Nhưng ba đứa sau thì khỏi lo. Rồi giao thiệp ở đây.
- Ông nói niếc sao chớ! Giao thiệp ở đây? Ông định gả con ông cho ai?
- Thì gả cho con nhà nào đồng địa vị với mình.
- Thí dụ ông cụ Hương cả Quan? Xứng hay không?
-  Ừ, thí dụ ông ấy. Xứng sui gia lắm.
- Nhưng liệu con mình chịu ưng cậu công tử nhà quê ấy hay không?
- Sao lại không. Nó cũng khá trai, lại có học đến lớp nhứt, và là con một của một nhà giàu có nữa, thì tại sao con mình lại không ưng nó?
- Ông lầm. Tôi thấy giai cấp nào lấy giai cấp nào cũng có thể tốt đôi cả. Thí dụ con ông chủ hãng cưới con gái bác thợ trong xưởng của cha anh ta. Mà đến con gái ông đốc tơ ưng thầy phạm nhe cũng đã xảy ra rồi mà họ đều ăn ở hòa thuận với nhau được. Nói giai cấp nầy, không thể lấy giai cấp kia, là xúi dại người ta.
Nhưng có hai giai cấp không thể lấy nhau được mà không ai ngờ: giai cấp chợ và giai cấp quê.
- Chợ và quê là giai cấp à?
- Không đúng lắm. Nhưng tôi nói như vậy cho dễ phân biệt.
- Hừ, tại sao có chuyện lạ như vậy? Ông huyện Bỉ không cưới con gái hương sư Sen đó à? Ngày xưa người ta chỉ cưới gái quê thôi, còn gái chợ thì a ... lê...
- Phải, ngày xưa thì như vậy. Ông Huyện Bỉ cũng là người ngày xưa. Bây giờ ông ta đã Đốc phủ rồi kia mà. Ngày xưa không có đời sống đô thị, người ở chợ chẳng khác người ở đồng áng bao nhiêu. Nay thì khác. Tôi đã nghe từ lâu chúng
nó nói chuyện nhiều lắm rồi về vấn đề chợ và quê đó.
Vả lại ông chỉ nêu ra thí dụ một chiều thôi: trai chợ cưới gái quê, mà không chỉ được gái chợ nào lại ưng trai quê. Gái quê khác trai quê nhiều, như xưa khác nay.
Con gái không có đời sống bên ngoài, ở nhà mà lo nội trợ thì quê hay chợ cũng như nhau. Ông nghĩ thử một anh chồng con Hoa hay con Quá mà mặc bi da ma hường đi ngoài đường, không biết nghiêng mình thi lễ thì coi được hay không?
Ông Nam Thành nín lặng, trầm ngâm rất lâu. Những điều vợ ông vừa nói ra, thật chưa bao giờ ông nghĩ đến. Lý lẽ mới lạ của bà, ông nghe lại đúng, thế mới chết. Định bụng là vợ ông sắp kết luận để buộc ông cái tội đày con về quê, ông đùa cho khỏ lấp:
- Thành ra có con gái đến tuổi lấy chồng, không nên lui đi vườn.
- Lui thì lui, nhưng phải để chúng nó ở lại thành phố.
- Để chúng nó một mình vậy nè.
- Có mẹ chúng nó lo.
- Ha ... ha... Té ra bà muốn về dưới. Nhớ tay bài rồi hả?
Bà Nam Thành cũng được, nhưng bà lại lập nghiêm mà rằng:
- Tôi nói là nói thật chớ không phải giỡn đâu. Cũng chẳng nhớ tay bài hay hụi h gì hết. Tôi thề theo ông trọn đời, ông đâu tôi đó. Nhưng bài toán gả con nan giải kia, ông nên liệu , kẻo tội nghiệp con.
Ông Nam Thành thở dài mà làm thinh.

Chú thích.
 1- Tiếng địa phương miền Nam , mình có nghĩa là chúng ta.
0
Chào bạn fish
 
Định phụ gõ cuốn truyện nầy
Nhưng CtLy bận việc, phải vắng mặt một thời gian, nên xin ngừng lại đây
 
Hy vọng có các bạn khác sẽ vào đây phụ giúp fish cho sớm hoàn thành cuốn Đò dọc nầy nhé.
 
Chúc vui
0
cám ơm Ct.Ly nhiều, Ct.Ly gõ nhanh quá, fish còn đang ... cọc cọc hai ngón tay [:)]
0
Để mình đánh máy phần 6 và 7 nhe.
0
Chào Fish,
 
Uyên cũng ko mở link được, hay là Fish gởi cho U phần 3 và 4 qua địa chỉ mail [email=ntphuonguyen1978@yahoo.com]ntphuonguyen1978@yahoo.com[/email] để U gõ phụ nhé.
 
Thân mến,
Uyên
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-09 23:47:59fish>
Trích đoạn: phuonguyen

Chào Fish,

Uyên cũng ko mở link được, hay là Fish gởi cho U phần 3 và 4 qua địa chỉ mail [email=ntphuonguyen1978@yahoo.com]ntphuonguyen1978@yahoo.com[/email] để U gõ phụ nhé.

Thân mến,
Uyên


fish đã mail cho bạn. cám ơn bạn Uyên nhiều nhé.



Để mình đánh máy phần 6 và 7 nhe.


cám ơn bạn TuanCali nhận phần 6 và 7.


cám ơn bạn Phunhongloan nhận phần 17, 18.
0
dù sao mình cũng đang rỗi nên mình nhận phần 12 luôn nha
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-07 15:26:51tomato>
tui nhan fan 8 nhe
[:D]
to live is to fight
0
Tomato ơi, bạn đã đánh máy được trang nào của phần 8 chưa? Mình đã tranh thủ in ra ở cty để về nhà làm rùi. Bạn nhường cho mình được ko?Mình ngại in phần khác quá.Nhé nhé...
0
Trích đoạn: tomato

tui nhan fan 8 nhe
[:D]


Hello bạn Tomato, bạn chọn phần khác nhé, phần 8 bị quận chúa dành rùi [:D]

cám ơn hai bạn giúp đánh máy.
0
Chương 17

Theo dị đoan của ta thì một nhà không nên gả hai đứa con trong vòng một năm. Ông Nam Thành thì bất kể tư tưởng ấy. Còn bà, tuy sợ hãi lắm cũng phải liều mạng vượt tục vì để trễ ngày nào bà lo ngày nấy.

Hai đám hỏi làm vào cuối tháng tám, định đầu tháng mười là cưới.

Long nhớ Hồng lắm mà thơ qua lại không đủ làm cho chàng khuây. Hay tin đám hỏi đã làm xong, chàng định lên thăm bạn vì không còn ai ganh với ai nữa mà phải lo.

Nhưng chàng vẫn chưa dám, các ông cụ bà cụ nhờ thấy nhiều chuyện nên đã hay kể những vụ sanh chứng bất thình lình của những cô gái sắp lấy chồng. Những vụ sanh chứng ấy chỉ đột ngột phát lên vào tháng cuối cùng trước ngày đám cưới thôi.

Sự có mặt của chàng trong gia đình ấy có thể khơi ngòi nhân dục rồi sanh ra lắm chuyện không hay.

Lạ quá, chàng không phải tay mơ về gái. Chàng đã gần nhiều đàn bà, hơn thế, đã yêu. Nhưng đây là lần đầu chàng sốt ruột vì một giai nhân.

Trước chàng muốn yêu ai thì cứ đeo đuổi theo người ấy. Rồi được yêu, chàng khỏi phải nhớ nhung gì cả. Bây giờ thì người chàng yêu là một trái cấm, khiến chàng nghĩ đến người ấy không bao giờ thôi.

Long đi thơ thẩn trên vỉa hè, như một cậu học sinh mười tám mới bắt đấu bâng khuâng.

Bỗng chàng bị ai vỗ mạnh lên vai. Giựt mình, họa sĩ day lại thì ra đó là Bằng:

- Hú hồn hú vía tôi!
- Sao lại sợ, có kẻ thù à?
- Không, nhưng đang lo ra, nên hết hồn.
- Băn khoăn về nghệ thuật hả?

Long không đáp lời bạn mà nắm tay anh này rồi hỏi:

- Tôi có thể lên thăm Hồng được hay không?
- Á, tôi ngạc nhiên mà thấy sao anh không lên đó. Chẳng những ngạc nhiên mà thôi, tôi lại còn hơi lo nữa.
- Nhưng tôi sợ có hại.
- Không, anh khỏi phải lo. Côn và Đăng cả hai đều bảnh trai, đều khá về tâm tánh nên được hai em tôi nó yêu thật sự rồi, chỉ còn chờ ngày cưới nữa mà thôi.
- Vậy hả? Thế mà tôi cứ ngại nên tôi không dám lên.
- Còn tôi, tôi lại cứ lo. Tôi có hỏi thăm em tôi về anh. Nó bảo là anh vẫn gởi thơ luôn. Nhưng như thế không phải là một bằng cớ chắc chắn của tình yêu mà tôi không an lòng được. Tôi lại lo vì lẽ khác nữa.
- Lẽ gì?
- Thôi, khoan nói vội.
*********


Long đi sắm quà tốn có một tiếng đồng hồ, nhưng phải suy tính đến một tuần lễ. Chàng đoán ý của mỗi người trong nhà, thế nào cho món quà nào cũng hạp ý người nhận cả.

Ông Nam Thành sẽ được một cái ống điếu bằng gốc cây bruyere còn nguyên vỏ xù xì trông đậm nét đồng áng.

Bà Nam Thành chắc rất thích một chiếc máy hát, một bộ đĩa vọng cổ về Phật Thích Ca.

Cô Hương hằng ao ước một va ly nhỏ bằng da đựng dụng cụ và thuốc men cấp cứu: cô sẽ toại nguyện.

Cô Hoa thì sẽ được một bộ sách dạy nấu ăn, rất nhiều tranh ảnh trong đó có dạy nhiều món kem lạ lắm.

Cô Quá sẽ được bốn bộ tạp chí chiếu bóng, đóng lại bằng bìa da.

Người cuối cùng làm chàng khổ sở đến mấy buổi suy tính. Món quà phải đượm tình yêu một cách kín đáo thế nào cho người trong cuộc hiểu ngay mà người ngoài lại không thấy.

Rốt cuộc chàng mua một chiếc nhà tranh bằng đất nung từ Hương Cảng gởi sang để bán cho những tay chơi non bộ. Trong chiếc lều cỏ ấy, chàng đặt một quả tim vàng nhỏ xíu thôi. Tùy thích cô Hồng cho người ta xem nhà có chứa tim vàng hay nhà trống vườn không, nếu cô sợ lậu mối tình.

Long hồi hộp ngay từ lúc mới bước lên xe, nửa mừng nửa lo. Chàng không lo bị người ta tống cổ ra ngoài, nhưng lo không khí tiếp đón không nồng hậu lắm, nó sẽ bắt chàng so sánh với cảm tình cũ rồi tủi thân.

Khi xe chạy tới Thái - huyên trang, chàng cho phóng luôn vì chàng hơi sợ một phần, mà nhất là vì muốn sống lại giây phút tai nạn ngày nào.

Lên tới trên kia xa, Long mới quẹo vào một con đường xe bò để quanh xe lại.

Chàng cố nhớ lại những ý nghĩ của chàng hôm chiều tai nạn. Không, hôm đó chàng không có ý nghĩ gì cả. Lòng đang nhẹ lâng lâng, bỗng không, hốt hoảng lên vì xe trợt bánh, rồi lại khủng khiếp khi chiếc xe leo lề, rồi thì u u minh minh không còn biết gì nữa cả.

Thái - huyên trang đã lố dạng, Long xúc động lắm! Nơi chứng kiến một mối tình của ta bao giờ cũng gây bồi hồi, cho dẫu mối tình ấy toại nguyện hay đau thương, là vì mối tình nào cũng đẹp cả, mà cái đẹp đã qua lại hay gợi ngậm ngùi.

Long cho xe chạy thật chậm rồi ngừng êm ái trước nhà. Chắc trong ấy người ta đã thấy xe, đã nhận được chiếc xe lật ngày nào cũng nên, và người ta đang ngạc nhiên sao xe lại từ Biên Hòa xuống.

Long khệ nệ bưng các món quà ra, bộ đĩa hát nặng quá, phải để lại.

Trong nhà quả đã thấy chàng và chàng ngạc nhiên lắm  mà thấy họ chạy ra đón mừng chàng.

Bốn cô con gái chạy đua, nhưng cô Quá còn trẻ nên ăn hạng nhất, rồi đến cô Hoa, cô Hương. Cô Hồng chỉ đứng nói thầm với cha mẹ thôi.

Lạ, chàng nghĩ, họ đã yên vui thật à?
- Quà gì đó, anh Long? Quá chưa tới nơi đã hỏi lớn.
- Đừng cho con Quá gì hết anh Long, chồng nó đã cho lu bù rồi, Hoa nói:

Cô Hương chỉ cười rồi lướt đến rước bớt đồ giùm cho người khách. Hai cô kia bắt chước, thành ra Long được rảnh tay nên trở lại xe lấy bộ đĩa.
- Hôm nay có anh Bằng lên hay không các cô? Long hỏi.
- Lên ngày một, chỉ có anh là trốn luôn.
- Trốn cũng không thoát. À, bức họa của bác trai, bác trai có ưng ý không các cô?
- À, ổng cứ đi qua đi lại mà nhìn mãi, nhưng không nhận được đó là chân dung của ai.

Cả bốn đều cười xòa...

Long vừa đi vừa nhìn vào nhà mà hỏi:
- Cô Hồng chắc không ưa tôi nên chẳng thèm ra đây.
- Xí, Quá vừa nói vừa nguýt Long một cái, thôi đi anh, bộ người ta không biết hay sao mà làm bộ, chị ấy cũng giả dối lắm, có gì xấu hổ đâu mà sợ dữ vậy?
- Cô biết cái gì?
- Biết anh sắp đi hỏi vợ chứ gì. Bác gái đã lên đây mấy lần rồi, tuy chưa nói gì mà em thấy rõ quá.
- Vậy à?

Long ngạc nhiên thật tình trước tin này. Mẹ chàng đã lên đây mà không cho chàng hay. Cũng may là bà cụ chưa nói gì hết, theo lời cô Quá.

Long cảm động và nghe thương mẹ vô cùng. Bà cụ ham dâu quá sức và thèm ẵm cháu nội lắm. Tình thương mẹ lại khiến chàng yêu Hồng hơn bao giờ cả. Đây là một thứ tình giống như tình chồng vợ, vì Long chợt thấy rằng, Hồng một cô gái được mẹ chàng thương mến, đã như là vợ của chàng rồi.

- Kính chào hai bác. Long chạy mau tới để ông bà Nam Thành khỏi phải nói gì trước chàng.
- À, cháu lên chơi.

Trong khi vợ chồng ông chủ Thái - huyên trang đáp lời thì Long nhìn Hồng mỉm cười, nói vắn tắt như một kẻ cả nói với em nhỏ:

- Cô Hồng,

Hồng mắc cỡ nên cũng có thái độ em nhỏ. Nàng chỉ kêu khẽ một tiếng “Anh!” rồi lui ra núp sau lưng mẹ.

Bà Nam Thành hỏi:

- Bà phủ vẫn mạnh chớ cháu?

Bà hỏi cho có chuyện chớ thật ra bà phủ lên đây lần chót cách đó mới sáu hôm. Long cũng khách sáo lại:

- Dạ, nhờ trời...

Để được rảnh về sau, Long bày ngay quà biếu ra trên bàn. Nói lời tặng với ông bà Nam Thành là một việc khó. Long đã sắp đặt trước lời lẽ nhưng nói vẫn chẳng trôi.

- Quý hóa lắm! Ông bà Nam Thành đỡ lời khách cho y khỏi ngượng và trách lấy lệ thêm:
- Cháu mua quà nhiều tiền, không tốt. Chiếc ống điếu này dễ thường cũng đến ba trăm, nhưng mà cũng được, đến như máy hát thì bạc ngàn, tốn kém cho cháu quá, bác ngại lắm.
- Thưa bác, cháu có quen các nhà đại lý nên mua được theo giá vốn thì cũng chẳng tốn bao nhiêu.

Sợ ông bà Nam Thành nói nữa, Long đưa một cái gói vuông trước mặt Hương rồi nói:

- Nếu như không có ê-te của cô thì tôi đã nguy lúc nọ. Nhưng ê-te mà không có đồ đựng thì nó ngã rồi đổ hết. Vậy đây là món quà, tuy biếu cô mà chỉ các nạn nhân chung quanh đây mới được hưởng.

Hương vội mở dây ra rồi đứng đó mà trầm trồ mãi cái hộp da, trong đó chia ra làm nhiều ngăn nắp rất tiện.

- Cảm ơn anh lắm đó. Mà anh chọn quà sao tài dữ vậy? Nó trúng y ao ước của tôi.

- Cũng cầu may thôi cô Hương à. Nhưng cầu may mãi có khi gặp rủi. Tôi đố hai cô, cô Hoa và cô Quá, hai gói gì đây?

- Ai làm thầy bói bao giờ mà anh hỏi như vậy. Đứng ngay ngắn mà thưa cho đàng hoàng đi đặng người ta mở ra xem, sốt ruột lắm rồi.

Bà Nam Thành mắng Quá:

- Con cứ hỗn như vậy, lỗi với anh lắm đó.

Long cười nói:

- Quà hai cô thì dễ đoán lắm. Nhưng chẳng biết trúng ý hai cô hay không? Cô Hoa thích kem nên...

- Té ra đây là kem?

- Không, cô mở ra xem thử.

Hoa vội vàng mở gói rồi chưng hửng:

- Sao lại sách?

Long làm thinh mở quyển sách to nhất ra, to hơn cả quyển tự điển rồi lật nơi trang mà anh đã làm dấu.

- Ồ!

Cả bốn cô con gái đều kêu lên.

Giấy sách đầy và trắng mịn. Một cốc kem to bằng hai cốc thật ở ngoài, đang tràn trề khỏi miệng một thứ tuyết màu ngà, tất cả nổi lên trên một chiếc khăn trải bàn nhiều màu trông bắt thèm đến muốn bưng cốc lên ăn ngay.

- Trong đó có chỉ cách làm nhiều thứ kem, nghe chừng ngon lắm, Long nói.
- Còn quà cho em, mở ra nha! Quá sốt ruột giục.
- Đã đem lên là thuộc của cô rồi, cô cứ mở ra.

Quá mở gói rồi cũng chưng hửng mà hỏi:
- Sao cũng sách?
- Cô xem trên gáy.
Quá lật gáy sách lên rồi đọc:
- Presse nouvelle – Les plus beaux films, Revue hebdomadaire. Trên một gáy khác thì: Cinehebdo.
- Ồ! Thích lắm! thích lắm! Quá đọc xong rồi reo lên, kê mũi vào mấy bộ báo để ngửi mùi giấy mới mà cô thích.

Long rất bằng lòng. Chàng lại thò tay vào túi trên mà lấy ra một cái gói nhỏ. Hồng nảy giờ đợi phiên mình, bây giờ thì hồi hộp lắm, nhìn lom bom cái gói nhỏ xíu ấy, không sao đoán được món gì trong đó.

Long nói:

- Tôi đã bảo rằng cầu may lắm, có khi phải gặp rủi. Như trường hợp chọn quà cho cô Hồng đây. Tôi không dám nói là món gì, sợ cô Hồng xấu hổ với các cô. Vậy thôi tôi để tùy ý cô Hồng muốn khoe hay giấu. Đây cô Hồng.

Chàng bước tới trao món quà tận tay bạn. Hồng run run bóp thử cái gói thì nghe cứng như đá. Khi mép giấy đã tung ra, Hồng ngạc nhiên hết sức. Một chiếc nhà tranh bằng đất nung? Sao lạ thế?

Nàng bống đổi sắc vì sung sướng lắm. Quả tim vàng thoáng thấy nằm trong buồng giữa, giúp nàng hiểu ngay ý nghĩa của món quà.

Quá nhảy tới hỏi lia lịa:

- Gì đó chị? Gì đó?

Hồng làm bộ vùng vằng rồi bỏ đi, vừa đi vừa nói:

- Sao quà của em kỳ vầy?

Ông bà Nam Thành lo sợ ác cảm sanh ra giữa Long và Hồng nên cũng nóng muốn biết là thứ gì mà làm cho Hồng không vui, để tìm cách mà an ủi con.

Hồng vừa đi vừa trút quả tim vàng ra, nên khi Quá giựt được món quà trên tay chị, thì chỉ có chiếc nhà tranh không mà thôi.

Quá cầm chiếc nhà non bộ giữa hai ngón tay rồi hô lên:

- Búp bê lô-canh, không bằng nhựa mà bằng đất hầm.

Cả nhà đều chưng hửng trước món quà kỳ dị ấy.
*****

Thái - huyên trang đã biết mối tình giữa Long và Hồng và đã mặc nhận mối tình đó. Cuộc thăm viếng siêng năng của bà phủ là một bảo đảm tinh thần nên ông bà Nam Thành không cần bắt con phải giữ gìn cho lắm.

Long định lên đây ở vài ngày, nhưng từ lúc mới bước tới thềm chàng đã tự hỏi nên ở lại hay không?

Sự niềm nở mà chàng mong mỏi đã xảy ra. Chàng còn muốn gì hơn?

Nhưng trời ơi, một nỗi tuyệt vọng mênh mong đã xô đổ vỡ mộng to mà chàng xây đắp từ khi về Sài Gòn. Long nghe khó chịu vô cùng vì thứ tình cảm mâu thuẫn mà chàng đang có. Tình yêu Hồng vẫn còn nguyên vẹn nơi lòng chàng thế mà chàng lại nghe không thể cưới Hồng được nữa.

Trời ơi, Hồng đã mất, mà mối tình lại còn! Long ngậm ngùi như khi trở lại chốn xưa, cảnh cũ còn y như trước mà người yêu của chàng đã hóa người thiên cổ rồi.

Từ xóm trên, vẳng đưa xuống tiếng hát ru con của ai:

&lt;&lt; Ghe lui khỏi bến còn đằm
&lt;&lt; Người thương đi mất, chỗ nằm còn đây.

Không lẽ lại ra về liền, Long phải ở nán lại đến chiều. Nhưng suốt thời gian ngắn ngủi mà chàng ở lại, họa sĩ cố tránh người yêu. Không tránh được, chàng trò chuyện với nàng mà không dám nhìn người nàng, chỉ ngó mặt mà nói thôi.

Suốt hai tiếng đồng hồ sau khi tới nơi, Long chỉ làm có mỗi một việc là ngắm Hồng từ đằng xa để kiểm điểm lại cảm giác đầu tiên của chàng khi mới lên tới đây.

Sau khi nhận thấy cảm giác ấy là đúng với sự thật, chàng không dám trông dáng người của Hồng nữa.

Trái với dự định của mọi người mà cả của chàng nữa, Long chỉ trò chuyện nhiều với ba chị em kia. Nhưng không ai ngạc nhiên về chỗ lạ đó cả.

Họ đoán rằng Long sợ người ta thấy rõ quá mối tình của chàng đối với Hồng, nên cố làm bộ thờ ơ như vậy thôi. Cả Hồng cũng ngờ như vậy, và chính nàng cũng muốn thế nên nàng vui vẻ được như thường.

Đến chiều, Long ra xe về. Thái - huyên trang đưa chàng ra tận cửa ngõ thì Hồng mới chợt nhận thấy vẻ khác lạ nơi Long.

Long vừa buồn thiu, vừa sượng sùng như mắc cỡ với ai. Chàng đóng cửa xe và cho rồ máy chạy liền, không day lại lưu luyến nhìn đám người đưa đón.

Tuy nhiên Hồng không lo lắm. Bao nhiêu lời nói chứa đựng trong món quà khi sáng không đủ bảo đảm cho mối tình của Long à?

Nhưng sau ngày ấy, nàng đợi thơ Long đến mười hôm mà không thấy người phu trạm làng ghé qua lần nào cả.

Thái Huyên trang bận rộn chuẩn bị hai cái đám cưới trong tháng tới, nên không ai thèm để tâm tới băn khoăn của nàng, băn khoăn biến thành lo sợ sau ngày thứ mười hai mà nàng được thơ của Long.

Thơ lạ lắm chỉ hỏi thăm sức khỏe và nói đến tình bạn giữa hai đàng. Mọi khi Long cũng chẳng dám bộc lộ tình yêu trong thơ, nhưng tình cảm của chàng không giấu được, đã phơi ra trên những chữ không đâu, ai sành lối đọc giữa dòng là hiểu ngay.

Hồng đọc đi đọc lại mãi bức thư, làm như hễ đọc kỹ là tìm được tình ý nồng nàn trong đó. Tìm tòi vô hiệu quả, nàng chán nản vô cùng.

Đây là cuộc phiêu lưu tình ái thứ nhì trong đời nàng. Lần thứ nhất nàng tuyệt vọng rồi đau khổ. Nhưng lần này, lòng nàng như rắn lại vì nỗi ê chề.

Trong khi đó ông bà Nam Thành luôn luôn hân hoan trong sự bận rộn, thích chí gả được hai đứa con trong năm nay, còn một đứa nữa thì thế nào năm tới cũng gả trôi được.


(phunhongloan đánh máy)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-11 04:25:33trieuminhquanchua>
Chương 8
Hôm ấy cô Hồng đi chợ. Bà thầy lang khỏi phải làm bếp một bữa để rảnh tay mà khám bịnh kẻ bị nạn.
Long bị bầm thịt nơi sau ót, lòng bàn tay trái trầy rướm máu mà không ai thấy, chính chàng cũng không hay. Chơn trái của họa sĩ cũng trầy rướm máu nơi bắp chuối, chơn mặt thì bầm tím gần một chục nơi. Có chỗ lại sưng lên và đỏ như da trẻ sơ sanh.
Cô Hương có mang đến nhiều lọ thuốc, để trên bàn, cô chon một lọ mà Long nhìn thấy chữ đề trên nhãn là “ Baume adoucissant ”.
Chàng mỉm cười thầm : “ Ngỡ gì, thứ ấy để thoa cho em nhỏ thì được, người lớn thì cần quái gì ”.
Chàng nói với cô nữ khán hộ:
- Cô bảo đúng lắm.Xương tôi không gãy. Tôi nhớ có đọc sách về cấp cứu, trong đó người ta cũng dạy như vậy.
- Nhưng trặc cũng có lắm khi có hại.Mà ba tôi lại muốn để tự nhiên cho ông khỏi. Thoa thuốc nầy cho êm vậy thôi. Ông có muốn mời đốc-tơ hay không?
- Tôi nghĩ không cần.Nếu không khỏi, hãy mời không chết chóc gì mà vội.
Cô Hương thoa bằng cục bông gòn tẩm thuốc, đoạn dùng cục gòn ấy mà đánh lên những nơi cô tưởng là cần.
Long méo miệng vì đau mà không dám nói gì cả.Cô Hương thoa đánh một lát mới dừng tay, và bấy gìơ Long nghe như được giải thoát khỏi một khổ hình.
Chàng nhìn kỹ thiếu nữ thì thấy cô ta không xấu xí lắm như chàng đã in trí, lại có thể nói là dễ coi nữa. Người con gái đầu lòng nầy bị các em của cô lấn nước, nên phải chịu lép vế trước mặt họ. Nếu không có sự so sánh gần, thì người ta có thể cho cô là đẹp được.
- Thưa cô, cô có biết bó bột hay không ? Không tìm ra đầu đề câu chuyện, Long hỏi về nghề chuyên môn của nữ khán hộ tài tử nầy,
- Bó bột là công việc rất dễ. Khó là biết kéo làm sao cho hai khúc xương gãy nằm lại ngay đường nhau và ráp làm sao cho hai đầu gãy ăn khớp với nhau. Việc đó tôi chưa thử lần nào, nên không tự tin lắm.
- Cô chắc tôi không bị gãy xương chứ?
- Chắc một trăm phần trăm.
- Cô lành nghề lắm. Việc nào biết chắc là dám quả quyết, còn việc nào ngờ là cô thú ngay. Cô học ngành này làm chi vậy cô?
Hương ngẩn người ra. Học nghề ấy làm chi, cô không thể cắt nghĩa với Long được. Đối với hạng người khác cô bảo là để giúp ích khi nào người ta cần đến mình.Nhưng lý lẽ cao thượng ấy không thể đưa ra được trước câu hỏi của chàng thanh niên nầy mà nàng đoán là thông minh và sẽ tế nhị nhận được giả dối của nàng.
Thật mỉa mai quá, rõ ràng nàng đang giúp ích khi Long cần được săn sóc. Nhưng cái rõ-ràng ấy lại không thật, không phải mục đích chánh nên không thể dùng nó mà đáp lời hỏi.
Giây lâu nàng đáp bừa, còn giả dối hơn nữa, nhưng nghe ổn hơn.
- Tôi học để tìm chỗ làm. Nhưng không ai dùng, người ta chỉ tuyển xung mấy chị đỗ đầu học khóa thôi, thành ra…
Con gái ngày nay cũng vẫn đợi chồng như con gái ngày xưa. Nhưng họ không ngồi đó mà đợi. Những người nghèo thì bươn chải tìm phương sống. Những người khá giả thì làm một cái gì để khỏi nghe trống rỗng quanh mình, miễn là hành động được, đi ra ngoài được, có dịp phiêu lưu nho nhỏ cho đỡ buồn chán.
Long cũng biết rõ tâm trạng con gái thế hệ chàng, nhưng chàng thử hỏi vậy thôi.
Chàng hài lòng với câu đáp của Hương, vì xem ra gia đình nầy không khá giả bao nhiêu, con cái cần phải đi làm.
Bấy giờ, cô Hoa bước vào, mỉm cười với bịnh nhân và hỏi
- Bà lang băm của nhà tôi có làm cho ông đau lắm không?
- Thưa không, tôi nghe đỡ nhiều.
- Không đau, nhưng chắc ông ấy nhăn mặt vì dễ chịu, Hương cười nói.
- Bà lang băm nầy lại là tay nhổ răng cừ khôi, Hoa đùa chị với khách, ngày sau ông có nhức răng thì cứ lên đây. Bả sẽ lấy chỉ cột răng ông vào một chiếc ghế, đoạn ý hà một tiếng, nói là có ma, hay có chó điên gì kia, thế là ông hoảng, nhảy một cái thì răng rụng ngay.
Cả ba đều cười xòa, đoạn Long nói:
-Cô Hoa ơi, cô làm ơn cho tôi một tờ giấy với lại một cây bút chì cũng được. Tôi muốn viết thơ cho má tôi.
- Kìa, trên đầu nằm ông đó.
Long quay đầu ngược lên thì quả thấy trên bàn con có giấy bút và sách báo mà cô nào đã đem vào lúc nào chàng không hay!
- Châu đáo quá! Các cô thật là…
- Thôi, chị em tôi ra, để ông yên mà viết.
 
 
*
 
Không quen ở nhà trống trải, Long thấy nắng bên ngoài chói lòa quá. Ánh sáng sớm lại chĩa xiên qua vách trĩ long mốt, đâm vào buồng ăn kế cận như là cuộc xâm nhập của khách không biết đều.
Không quen thì nghe khó chịu, chớ chàng vẫn biết trống trải như vậy là hạp vệ sinh; chàng lại nhận thấy cả vẻ đẹp của tấm vách trĩ lọc ánh nắng ấy nữa. Bức tranh nắng lò khe vách, là một bức tranh đẹp đang được thai nghén trong trí chàng kể từ phút nầy.
Long quan sát căn buồng, thấy nét đạm bạc của nó rồi thương gia đình nầy không biết bao nhiêu. Đó là những người hiền lành, không tham vọng lớn và nhờ vậy không ganh tị với đời, tốt bụng và sẵn sàng.
Hai bức tranh lồng kính không khung là tranh Kiều, phụ bản của một biệt ẩn ngoại quốc, có lần bán tràn lan trên vỉa hè Saigon.
Bàn ghế toàn là bàn ghế Ngã Bảy cả. Chiếc lọ dùng cắm hoa là lọ sành Lái Thiêu.
Tuy nhiên, nhà nầy có khiếu thẩm mỹ. Nếu không họ đã treo tranh sơn mài xanh xanh đỏ đỏ có gắn chiếc thuyền bằng ngà vào đó, họ đã sắm lọ rẻ tiền của Nhựt Bổn rồi.
Long với tay lấy báo xuống xem qua : vài tờ báo hằng ngày quen biết, một tờ tuần báo chánh trị. Chỉ có một quyển sách thôi: quyển “ Trại Bồ Tùng Linh ”. Nhà nầy thật là biết điệu. Đọc “ Trại Bồ Tùng Linh ” ở đây phải chỗ vô cùng.
Long lật vài trang đầu và vài trang cuối sách để xem coi lần tái bản nầy có thêm bớt gì lạ không. Chàng nhớ lại cảm giác rờn rợn mà chàng đã có, khi đọc truyện nầy lần đầu cách đây mười mấy năm. Đó là một nỗi ghê rợn dễ ưa hơn là cái kinh sợ êm đềm nơi trẻ con khi chúng nghe kể chuyện ma.
Bỗng Long rợn người lên thật. Hay là mình lạc vào động hồ ly, chàng tự hỏi thầm. Câu chuyện kỳ quặc quá để có thể là một câu chuyện thật. Càng đáng sợ hãi hơn là ở đây có đến sáu con hồ ly…
*
 
          Hoa bưng vào phòng bịnh một chiếc mâm gỗ mít tròn, mượn của hàng xóm. Các gia đình miền Nam ở chợ không dùng mâm nữa từ mấy mươi năm nay rồi, nên Thái huyên trang có cần đến món đồ ấy là phải đi mượn.
          Trên mâm, một tô gì lên hơi nghi ngút tỏa mùi thơm bắt đói bụng ra, mùi hành tây chiên, Long đánh hơi nghe biết như vậy.
          Hoa đặt mâm xuống bàn và nói:
- Chị Hồng tôi ngại ông còn yếu, ăn cơm không tiêu hóa nổi nên nấu cháo.
- Cô Hồng nghĩ đúng lắm. Mà tôi cũng thích cháo lắm. Nhưng mà ăn rắc rối như vầy, chỉ khổ cho nhà.
- Có gì đâu mà rắc rối, ông.
- Thì phải lo thêm một món ăn, thêm bao nhiêu là công việc. Cứ cho tôi ăn cơm theo nhà, hẳn giản dị hơn.
- Không hề gì, bây giờ tôi đút cho ông ăn nhé?
- Ý chết! Trời, phiền phức quá như vậy, tôi ngại lắm. Như thế nầy, cô để mâm lên ngực tôi, chêm mền cho nó đứng lúc lắc, rồi tôi múc mà ăn lấy.
- Tùy ý ông.
          Khi chiếc mâm đã được kè vững vàng. Long cầm muỗng nhưng vẫn chưa khởi ăn.
- Cháo gan, cô Hoa nói, nếu ông không ăn ngay thì gan sẽ chín, hết ngon đi.
- Cháo gan chín thì hết ngon thật đó. Nhưng chín thêm một chút xíu trong cháo hết sôi, sẽ không hỏng lắm đâu cô. Tôi có đọc sách thuốc về người Tàu, nên ngại ăn nóng lắm.
Tò mò, cô Hoa hỏi:
- Sách thuốc gì mà về người Tàu?
- Đó là một quyển hồi ký của một vị y sĩ Pháp đã ở bên Tàu trên hai mươi năm.
Ông ấy bảo người Triều Châu ưa mắc chứng ung thư nơi cuống họng. Ông ta đã ra công nghiên cứu trên mười năm để tìm ra nguyên do coi tại sao bịnh ung thư thường phát nơi cuống họng trong xứ Triều Châu thì ông tìm ra được nguyên do như sau đây: Người Triều Châu rất thích ăn nóng, lắm khi họ múc cháo đang sôi trên bếp mà ăn ngay và bảo rằng sách thuốc của họ dạy rằng ăn nóng thì tốt. Cuống họng của họ vì thế mỗi ngày bị cháy một chút cho đến vào một tuổi kia thì họ bị ung thư.
Hoa cười dọn rồi nói:
- Nhưng lâu lắm ông mới ăn cháo gan một lần, làm gì đến cháy cuống họng được.
Long cũng cười xòa, khi chợt nhận ra mình đã lo sợ vô lối.
Chàng múc một muỗng cháo, cẩn thận giữ cho muỗng nằm ngửa một cách thật thăng bằng rồi từ từ hạ muỗng xuống ngang miệng. Muỗng đầu ấy chàng múc rất may mắn vì trong đó có đủ cả: thịt bằm, gan sống, hành ta, và hành tây chiên.
Tối hôm qua, Long chưa ăn gì. Đau đớn quá, nên quên đói. Tách và phê khi sáng dường như đánh thức sức đói của chàng nên giờ ăn cháo nghe ngon lạ. Mà cháo cũng nấu khéo thật, nên chàng khen:
- Cô Hồng quả là người nấu bếp tài tình.
- Chị hai tôi kia mới là tài. Tụi tôi đứa nào cũng chỉ xoàng xoàng thôi.
- Không, tôi khen thật tình chứ không phải vì lịch sự. Nếu xoàng mà được khéo như vầy, thì nhà nầy là quán quân nấu cơm trong nước.
Long ép hai hàm răng lại, miếng gan chín sơ lớp bọc mỏng ở ngoài, bể ra, và nước gan ngọt rỉ trên lưỡi chàng khiến chàng không muốn nuốt mà cứ để yên đó đặng ngậm mà nghe cái vị gan sống tuyệt diệu kia.
Cô Hoa ra ngoài khi Long ăn gần xong. Cô trở vô với cái tách nước trà nóng.
- Ba tôi bày vẽ con vịt, nhưng ông đã tự ăn cháo được thì chắc ông cũng uống nước được và không cần con vịt phải không ông? Dùng vịt xem ra có vẻ…
- Ừ, có vẻ bịnh hoạn quá, tôi thích nghiêng tách mà uống hơn.
Bấy giờ cô Quá vào, tay cầm một chiếc khăn lông nhỏ khổ.
- Để ông lau mồ hôi, cô nói. Ăn cháo nóng, thế nào cũng đổ mồ hôi.
Hai cô con gái chưa ra thì ông Nam Thành đã vô.
- Sao, thầy nghe đỡ hay chưa?
- Thưa ông, đỡ nhiều lắm.
- Thầy có gì thì gọi chúng tôi. Thầy lắc cái chuông nhỏ nầy thì có người tới.
Ông Nam Thành vừa nói vừa đưa ra một chiếc lục lạc chớ không phải chuông, và thêm:
- Thôi, thầy nghỉ trưa.
Cả ba người đều lặng lẽ đi ra. Long thấy mình được săn sóc châu đáo quá, nên hơi khó chịu. Nếu người ở Thái huyên trang lơ là hơn, chắc chàng cũng sẽ khó chịu. Nhưng sự vừa chứng không thể có được, người ta tống cổ chàng đi ngay, hay người ta quấn quít quanh chàng để làm cho chàng dễ chịu, không thể khác hơn được.
*
 
Thái huyên trang ăn cơm trưa bữa đó ở sau bếp chớ không phải tại buồng ăn như mọi ngày.
Ông Nam Thành tiên liệu rằng vợ con ông thế nào cũng nói đến khách, nên ông muốn họ ngồi xa khách, e câu chuyện thấu tai Long chăng.
Nhưng cả nhà không ai nói đến người bị tai nạn xe hơi cả. Họ đồng lòng tẩy chay ông ta, đồng lòng làm reo im lặng suốt bữa.
Ông Nam Thành thấy sáng kiến của mình làm khổ vợ con, nên không dám nhắc tới nó, sợ bà nổi xung lên bất tử. Bà Nam Thành không tha thiết tới khách nhiều nên chỉ bàn rộng về vụ giựt hụi mà bà thấy đăng trong báo khi sáng.
Bốn cô con gái thì cố nhiên tránh đả động đến một thanh niên vào hạng Long, mặc dầu họ rất cởi mở về việc chồng con. Họ chỉ cởi mở khi bàn tổng quát về ái tình, về hôn nhơn thôi. Nói đến riêng một người, họ vẫn ngại như thường. Gã tình nhơn, người vị hôn phu tưởng tượng là kẻ vô hình, là của chung, không gợi nghi ngờ nào được. Một thanh niên bằng xương bằng thịt có thể gây xuyên tạc, và ngộ nhận.
Lúc bữa ăn sắp tàn, ông Nam Thành hốt hoảng:
- Chết, không biết thầy ấy có đưa thơ cho ba chưa, nếu có, ba để đâu, ba quên mất rồi.
Tất cả những gì bị đè nén, như được dở nắp cho bung lên.
- Quên thì thủng thẳng sẽ kiếm, làm gì mà sợ hãi dữ vậy, bà Nam Thành cằn rằn.
- Chưa ba à, con thấy ông ấy chưa viết thơ, Quá nói.
- Coi bộ thi sĩ dữ, Hoa bàn. Cầm bút đặt lên giấy, rồi lại nghĩ chuyện khác, quẹt bậy bạ lên đó.
- Sao mày biết là bậy bạ, Hương hỏi, người ta là họa sĩ, chắc người ta gặp hứng nên phải vẽ phác ra liền đó chớ.
- À, ông ấy thế nào?
Cả nhà cười rộ sau câu hỏi của Hồng. Cô bé hôm nay vùi đầu vào bếp mãi đến bữa ăn trưa, nên không rõ bịnh tình của khách ra sao.
- Khen chị dữ lắm đó. Quá vừa nói vừa cười. Nói chị nấu cháo khéo số dách, tặng chị chức vô địch về ngành hỏa đầu quân.
Câu nói đùa của Quá là vị cứu tinh của bốn chị em. Từ đây, họ dám nói đến người đó, một người đã biến thành đối tượng của sự cười đùa của họ, và vì thế, hóa ra vô công phạt.
- Tao vái trời cho chúa nhựt này anh Bằng lên chơi. Hồng nói, để ảnh trả thù dùm tao. Mầy đừng có làm phách.
Gì chớ về môn đùa các cô em họ về vụ đó, thì Bằng là tay có nanh vuốt. Cả bốn cô em đến sợ anh ta, nên Hồng mới dọa thế.
- Biệt cửa sợ đó, Quá thách.
- Ừ, để rồi xem.
Họ vừa ăn cơm xong là trời phủ mây đen ngòm. Quá vội vã đi lấy vải bố để che vách nơi buồng bịnh. Bấy giờ Long đã thiếp ngủ, nên nàng làm việc thật nhẹ rồi rút êm ra ngoài.
*
 
Trời mưa cho đến ba giờ trưa mới dứt hột. Quá cất đồ len đương đan dở chừng vào bị, rồi bước qua phòng bịnh.
- Ông có lạnh lắm không? Nàng hỏi vì thấy Long đã thức.
- Thưa không, còn trái lại nữa. Mưa đầu mùa mà cô.
- Nhà cửa, vách, lôi thôi quá, tôi cứ lo gió vào nhiều.
- Tôi còn mong cho nó vào thường hơn nữa cô à.
Cô Quá nói “ Gió vào nhiều” và ý cô muốn chỉ về lượng. Nhưng Long lại nói “ Nó vào thường” Tiếng Nó và tiếng Thường có thể hiểu về sự năng vào của ai đó. Không rõ Long có cố ý nói hai nghĩa hay không, nhưng Quá thì hiểu cả nghĩa đen lẫn nghĩa ngầm của tiếng “ thường” ấy.
Nàng bối rối lên và bỗng dưng đâm ra hổ thẹn. Lần đầu tiên cô gái rắn mắc và kỳ khôi ấy mắc cỡ trước một người con trai.
Đã sống nhiều, tuy năm nay chàng mới có hăm bảy tuổi thôi, Long thấy là hiểu ngay. Chàng hối hận lắm khi nhớ ra tiếng Thường của mình quá mờ ớ, quá phân hai, nên cô gái thơ kia mới ngộ nhận như vậy.
Chàng không yêu Quá, cũng không xem được nàng là một cô gái thường ; trong gia đình nầy, người nào, chàng thấy cũng đáng kính nể cả, nên chi chàng không thể để cô bé hiểu lầm mình như vậy mãi.
Chàng cố tìm một lời đính chánh khéo, nhưng tìm hoài mà không ra. Khi người ta quýnh lên, người ta vội vàng và rất dễ sai lầm tai hại. Long nóng nảy muốn phá tan ngộ nhận ngay mà vì bí quá nên nghĩ rằng chàng phải nhấn mạnh về chỗ bé bỏng của cô gái, cho cô ta bị tự ti mặc cảm không còn nghĩ mình được yêu nữa.
- Cô Út à, chàng hỏi, năm nay cô được bao nhiêu tuổi.
Không ai vô lễ đi hỏi tuổi một cô gái, Long nghĩ rằng Quá biết như vậy. Chàng lại kêu cô bằng cô Út để cho cô ta nghe mình còn bé lắm nên mới bị gọi và bị hỏi thế.
Nhưng Quá không hiểu và thấy đó là một bước tiến đến sự thân mật của Long, nên đáp:
- Dạ, em hăm hai.
Cô xưng em, chớ không phải xưng tôi như trước và như các chị của cô nữa.
Long hoảng sợ hết sức. Vô tình chàng đã xui cho Quá hiểu lầm thêm, một sự hiểu lầm có thể gieo tai hại không biết đến đâu mà lường.
May sao, giữa lúc chàng đang khó nghĩ thì Hoa vào, tay cầm đèn tọa đăng thắp dầu hôi. Nàng nói:
- Ba tôi nghĩ thắp đèn măng xông như đêm rồi chắc ông chói mắt. Vả lại ông cần đèn chong sáng đêm, mà măng xong chong sáng đêm lại bất tiện. Vậy xin ông bằng lòng với cây đèn dầu nầy.
- Dạ được, đèn dầu hôi là quí lắm rồi. Tôi có ở nhà quê một lúc, họ không thắp đèn gì hết mới là khổ chớ.
- Nhưng như vầy ông không đọc sách ban đêm được nữa.
- Tôi không dám đọc sách ban đêm đâu cô.
- Sao vậy?
- “ TRẠI BỒ TÙNG LINH” mà quí cô cho mượn, đọc ban ngày cũng đã rởn óc rồi, đọc ban đêm, chắc tôi phải la làng.
Cả ba đều cười xòa, rồi hai cô gái lui ra.
 
*
 
Thế là một chiếc đò dọc đã ghé bến, trên giòng Thiên lý.
Các cô Thái huyên trang đã tuyệt vọng từ mấy tháng nay, lại càng tuyệt vọng hơn từ hôm xa lộ Saigon – Biên Hòa được khởi công.
Xa lộ ấy sẽ xuyên tạc con đường Thiên lý, đưa sự quan trọng qua hết bên kia, và khúc đường trước nhà sẽ cô quạnh như một con đường làng.
Nhưng người trai mong đợi đã đến trước ngay khúc đường của họ bị mồ côi, đến trong một trường hợp kỳ dị, gần như họ ước trong mơ.
Hôm đầu các cô bị xúc động mạnh trước tai nạn nên chỉ nhớ đến sự ghê gớm của vụ lật xe thôi. Bây giờ ác mộng đã qua, các cô lắng nghe tình cảm mình xem nó thế nào khi giấc mơ hão hằng ngày đã được thực hiện.
Cô Hương vỡ mộng ngay từ lúc cô săn sóc lần đầu cho người khách trẻ tuổi. Không, cô không còn son trẻ nữa để có thể bị được lôi cuốn trong những cuộc phiêu lưu tình ái hay tình cảm nào. Người mong đợi còn trẻ, dường như là trẻ hơn cô, khó lòng mà bảo yêu cô được, cô biết thế.
Cô Hồng tuy mong gặp lại người tình cũ, chớ không phải mong hão một tao nhơn mặc khách nào, nhưng vậy, cô vẫn nghe lòng xao xuyến khi người nầy đến.
Y đến, rồi y lại thố lộ niềm riêng, nào là bị tình phụ ..v..v.. khiến cho Hồng như bị y nắm con dao đang cặm trong tim cô mà lay động. Cô nghe niềm đau cũ đang tạm êm dịu bỗng thức dậy mà hành hạ cô.
Tuy nhiên cô không ân hận đã đón tiếp người khách bất ngờ ấy. Đau khổ dầu sao cũng vẫn dễ chịu hơn là cái trống rỗng của những ngày tháng bằng phẳng, không thấy tăm dạng hy vọng nào cả.
Cô Hoa thường được người ta khen là gái có bản lãnh nên cô hay lập dị để tỏ ra ta đây quả thật có bản lãnh.
Vụ nầy là một đầu đề cho cô đùa. Cô bảo đó là một cuốn tiểu thuyết mà kết cuộc sẽ không hay ho gì đâu. Đứa nào dại, nhảy vô làm nhơn vật cho tiểu thuyết ấy, sẽ khổ cho mà xem.
Cô chế nhạo Long là một thanh niên nhiễm tiểu thuyết, làm bộ lãng mạn để thơ mộng hóa mọi việc, nói thì châu mày, làm thinh cũng châu mày, luôn luôn ra vẻ nghĩ ngợi đâu đâu.
Tóm lại cô làm như ta đây không mảy may bị chuyện ấy làm xúc động, và ta sẽ mất uy tín đi, nếu ta để tâm đến một chàng thanh niên mới đến trong đời ta.
Cô Quá, trái lại nghe lòng xao xuyến lạ kỳ. Cô gái nầy, lúc còn ở thành, chưa biết yêu. Cô chỉ mới bắt đầu bâng khuâng từ khi dọn về Thái huyên trang thôi, bâng khuâng trước những đám mây chiều, trước trận bay của trái sao, trái dầu, trướ giọt tranh xoi cát bên thềm hay đánh nhạc lên một cái chén bể vứt ngoài sân.
Người khách đến giữa lúc tình yêu của cô mới lố dạng, còn đi bơ vơ như một con thuyền không bến. Có phải đây là bến trong hay không, con thuyền tự hỏi, rồi ngập ngừng muốn cặm sào.
0
Chương 2


Hốt chót ba đầu hụi lớn xong là ông Nam Thành đi vắng nhà luôn. Ban đầu thỉnh thoảng bỏ cơm sau rồi hai ba hôm ông mới về : ông lo cất nhà để đưa gia quyến lên.
Trong khi đó thì bà Nam Thành tìm người sang nhà, dứt khoát những dính líu tiền bạc nho nhỏ và bán bớt những vật dụng mà ở nhà quê không dùng.
Cả nhà gom y phục trắng và màu để nhuộm đen. Bà Nam Thành nói :
- Làm lụng thì phải ăn mặc đồ đen cho nó đở tốn sà bông. Với lại mình phải làm cho giống người chung quanh. Nếu không, khó mà giao thiệp, mà trộm cướp nó thấy mình sang trọng thì nguy.
- Mình mà sang trọng với ai ?
- Ậy, ở đây mình chỉ xoàng thôi. Nhưng về quê thì các cô sẽ thấy. Các cô nỗi rõ lên như công chúa ấy.
Phe phụ nữ không ai háo hức lui về vườn cả, nhưng ai cũng chuẩn bị ráo riết, nhẫn nại chịu số phận và cố làm cho tròn phận sự. Cảm động thay người đàn bà !
Thỉnh thoảng ông Nam Thành về qua nhà, thấy vợ con buồn buồn, ông an ủi :
- Người ta nói : "Tấn về nội, thối về ngoại". Đồng quê là quê ngoại đó. Đó là nơi ẩn náu tuyệt diệu khi ta thất vận. Có làm là có ăn, không sợ đói bao giờ.
- Chớ ở đây mình làm cũng được vậy ba, cô Quá cãi.
- Mình làm cái gì ? Không lẽ ba đi làm phu cho các xưởng xây cất, hay làm lon ton. Về trển thì ba cuốc đất đó, mà coi nó còn được hơn : sĩ, nông, công, thương, nông đứng đến hàng thứ nhì.
Còn các con, đi bán thuốc điếu không được, bán chè đậu cũng không. Thì về nuôi heo là phải. Trong nhà, làm cực nhọc lem luốc gì cũng chẳng ai biết.
Tình thế bốn chị em quả khó xoay xở. Cả bốn đều có học nửa chừng trung học và đã sống theo lối khá giả từ thuở giờ. Bây giờ dễ gì mà dám đẩy một chiếc xe nước mía ! Đi làm vẫn được đó, nhưng ông Nam Thành nhắm sức học của con mình, cỡ đi làm thì lương chỉ đủ tiền son phấn và áo dài thôi, nên nhứt quyết không cho bốn cô tìm việc.
Ông ít băn khoăn về gánh nặng bốn cái thùng giạ nầy vì ông tưởng rồi chồng nó sẽ rước con ông đi. Nhưng mãi không thấy ai gắm ghé gì cả, cho đến bây giờ thì vợ chồng con cái phải lo cho bổn thân về sau vậy.
Quá cứ chui đầu vào các rạp chiếu bóng. Xem cho ngấy ra để nhịn thèm về sau. Còn Hoa thì lẽ cố nhiên, ăn kem hết hiệu nầy đến hiệu khác. Cô Hồng chỉ ngồi đó mà buồn, hay đi thơ thẩn ở các ngả đường vắng. Người chị cả tự nhiên như không tình cảm, lo thu xếp không ngớt tay.
Nhưng cả bốn chị em đều thích Bằng đến chơi. Bằng là người anh họ của bốn chị em nhà nầy. Hắn nhỏ hơn Hương một tuổi, nhưng trông già dặn, đáng mặt người anh lắm.
Gia đình nào chỉ có toàn con gái không mà thôi, thì rất cần một đứa cháu trai như vậy. Nó sẽ đưa em nó đi chỗ nầy chỗ nọ, những nơi tuổi trẻ giải trí mà người lớn không hạp, không muốn bước chơn tới, cha mẹ, vì thế không đưa con mình đi được.
Hồi mấy chị em mới lên Sàigòn, còn nhà quê đặc, đã nhờ anh Bằng nầy rửa sạch mùi ruộng bùn lầy cho. Cho mãi đến ngày nay họ cũng còn nhờ cậy Bằng đưa vào những nơi họ không dám đến. Nói họ là nói Hương với Hồng ấy, chớ còn Hoa và Quá thì nơi đâu hai cô cũng dám lăn vào. Hai cô đã tổ chức đánh lộn với con trai tại vườn Tao đàn, hồi còn đi học, đã dám vác ve chai chọi lính Lê Dương thì có gì mà hai cô không dám. Còn điều nầy nữa, tuy cả nhà không ai nói ra, là họ hy vọng nơi một cuộc mai mối của người cháu, người anh họ ấy.
Bằng có rất nhiều bạn trai, thỉnh thoảng có rủ vài đứa đến chơi nhà. Thì một khi kia, lẽ nào lại không có một đứa si tình một trong bốn cô.
Bằng cũng thích đưa bốn cô em họ đi dạo. Bốn cô nầy cũng khá đông bạn gái. Bằng thích gặp bạn của các cô. Cả đôi bên đều có lợi.
Nay lui về quê, họ càng hy vọng nơi người anh ấy, rất sợ gãy mất cây cầu liên lạc, nên càng niềm nở với Bằng lúc anh nầy đến chơi, khẩn khoản nài nỉ anh ít ra mỗi tuần cũng lên trên ấy một chuyến.
Hôm Bằng hay tin họ sắp dọn nhà, chàng chưng hửng, rồi buồn buồn hỏi :
- Các cô đi đành à ?
- Không đành cũng phải đành. Anh tính coi còn biết làm sao ! Nè chúa nựt nào anh cũng lên nghen ! Tụi em cho ăn trái cây thì phải biết.
- Nói dóc. Cây chưa trồng, lấy đâu àm ăn.
Cả bọn cười xòa.
 
***
 
Bạn hữu của Hương và Hồng phần đông đã có chồng. Một vài cô đã góa chồng. Đôi cô lại thay chồng hai bận rồi. Cô nào cũng tay bồng tay dắt cả. Thế nên hai cô chỉ đi từ giã những bạn còn độc thân thôi. Những người nầy, tuy không nói ra, vẫn ái ngại cho hai cô lắm.
Còn Hoa và Quá thì trao đổi ảnh không ngớt tay. Có bao nhiêu tiền đi chụp ảnh cả, rồi để tặng bạn, rồi xin ảnh bạn dán vào tập. Họ làm thơ nữa, trong đó có lá
 thư, lá vàng rụng rất nhiều, mưa rơi cũng lắm, còn nói gì nước mắt cũng đằm đìa.
Hôm ấy ông Nam Thành về lần chót rồi tuyên bố :
- Xong cả rồi, mốt ta đi !
- Vậy hả ! Ba cô con gái sau, mặc dầu dư biết sẽ có ngày ấy, vẫn rụng rời khi nghe tin dọn nhà. Ba cô cứ mong ông cụ chuận bị chậm thật chậm, càng chậm càng hay. Họ lại mơ hão một chuyện bất ngờ xảy ra để ông cụ đổi ý.
Giây lâu Quá hỏi :
- Nhà đẹp không ba ?
- Đẹp... nghĩa là đẹp theo sằn dã ấy. Hễ qua khỏi Thủ Đức, tụi bây thấy nếp nhà nào xinh xắn muốn vào đó mà ở thì đó là nhà của mình.
Ông cụ tuy vừ nói vừ cười, nhưng vẫn nghiêm trang chớ không cà rỡn. Cái cười đó là cười thích ý về cônng trình của mình.
- Thì xe ngừng ở đâu, là nhà ở đó, như vậy còn đoán trước sao được ? Bà Nam Thành nói.
- Không, tôi sẽ cho xe chạy lố một đoạn đường, để mẹ con đoán chơi. Đoán được thì là tôi thành công, bằng không thì cũng mặc. Rồi tôi sẽ cho xe lui lại ngay nhà.
Ông Nam Thành đi mướn xe cam nhông. Bà thì cho người sang nhà hay tin để mốt họ lại nhận nhà.
Ngày hôm đó, và hôm sau, không ai đi đâu nữa cả. Họ muốn, trong hai ngày cuối cùng, khắn khít với căn nhà mà họ chiếm trong mười năm, căn nhà đã thấy bốn cô gái lớn lên, căn nhà mà trên vách còn những ngắn đo bề cao hằng năm của ba cô gái sau.
Chơn trời chung quanh thật không có gì quyến rủ, tuy nhiên nó quen mắt quá nên họ cũng nao nao buồn phải rời cảnh quen thuộc đó : trước mặt là một dãy phố tồi tàn. Ngõ hẻm ở giữa hai dãy nhà thì lổm chổm đá và loang lổ những ổ gà nước đọng, một hàng trụ, mấy nghĩa địa nhà thờ Cầu Kho. Đầu mgoài là phố Võ Tánh và bên kia phố là hàng rào song sắt của thành Ô Ma.
Cô Hương lớn lên ở nhà quê, và như cha mẹ, xem chổ ấy là nơi tạm trú. Lui về quê cô chỉ thấy thích.
Ba cô sau đã quen mất nông thôn, xem ngõ hẻm là quê hương của họ, nhứt là cô Quá là kẻ lên đây lúc còn thơ ấu lắm. Quá và cả Hoa nữa, tuy nói tia lia vẫ héo hon lòng.
Sàigòn là nơi cô để lại mối tình đầu, nên chi cô Hồng ngậm ngùi hơn ai cả. Mặc dầu mối tình đã tan vỡ mà người cô yêu vẫn còn ở đô thành, thì đô thành đối với cô là một chổ thiêng liêng.
 
***
 
Để cho đở tốn, hôm ấy nội nhà theo cam nhông chớ không mướn xe riêng.
Người Sàigòn dọn nhà đi giữa sự thờ ơ của hàng xóm. Ở với nhau không bao lâu, tới lui nhau rất ít, thì đi đâu nào ai thiết tha đến mình !
Nhờ thế họ lên xe mà khỏi bận bịu người. Cảnh thì cứ ngậm câm, không nghẹn lời giã bạn được, nên họ chia tay với cảnh dễ dàng.
Qua khỏi chợ Thủ Đức, ông Nam Thành nói :
- Coi chừng, mẹ con rán mà dòm để đoán nhà.
- Bên trái hay bên mặt, ông ?
- Biết đâu, cứ xem cả hai bên.
- Hứ, làm bộ bí mật hoài. Nhà tranh chớ bộ lầu đài gì sao mà trịnh trọng dữ vậy.
Họ chia ra hai phe để nhìn hai bên lộ.
- Đây nè, Hoa reo lên.
Người ta xem lại thì đó chỉ là một ngôi nhà gạch củ, Quá véo chị một cái đau điếng.
Bà Nam Thành than :
- Mỏi cổ lắm ông ơi, ông báo hại mẹ con tôi làm chi vầy nè.
Anh tài xế và hai anh phu khiêng đều cười ngất mà thấy ông chủ nhà có ý dấu kỳ dị như vậy.
- Đây nè !
- Lần nầy, chính cô Hương ít nói kia la lên.
Họ day qua phía tả thì thấy một nếp nhà tranh có gác, kiến trúc rất kỳ lạ. Nhưng quả thật xinh lắm. Chung quanh nhà trồng được vài cây bông huỳnh, vài bụi cỏ huệ. Vì cuộc đất hơi to nên chỉ mới làm hàng rào ở mặt tiền thôi, mà đó là một hàng rào tượng trưng, dài độ bốn mươi thước, cố ý làm trước, để trổ cửa ngõ.
Rồi mấy mẹ con lại nhìn người gia trưởng thì thấy ông nầy cười chúm chím. Lúc bấy giờ xe đã chạy qua khỏi đó mấy trăm thước rồi.
Ông Nam Thành biểu xe ngừng và de lại.
Nếu vợ con ông mà biết được những dự bị của ông Nam Thành thì họ sẽ cảm động biết bao nhiêu !
Ông Nam Thành tản cư lên Sàigòn với hai bàn tay không như ta đã thấy. Nhưng ông lại ôm theo một chồng báo P.H. cũ. Báo ấy có dành riêng cho hội Ánh Sáng là hội bài trừ nhà hang chuột ở Hànội hồi tiền chiến, mỗi tuần một trang. Trong trang đó, mỗi tuần kiến trúc sư V.Đ.D đều có vẽ một kiểu nhà tre lợp tranh, rất tiện và khá đẹp.
Ông Nam Thành yêu báo, hay yêu kiểu nhà ? Có lẽ cả hai. Và có lẽ ông đã nưng niu cái mộng về quê cất nhà Ánh Sáng từ mười mấy năm nay.
Thấy rõ là ông đã làm công việc tạo tập nầy với cả tấm lòng ông.
Ông Nam Thành đã tự ý sửa đổi rất nhiều, và nếu nhà kiến trúc sư vẽ họa đồ trông thấy cái nhà lai căn nầy, chắc ông bất bình lắm. Nhưng phần chánh vẫn còn được kính nể và ông Nam Thành có nhiều lý do để xúc phạm kiểu mẩu như vậy.
Trước hết là cái nóc. Ông không lợp mỏng như người mình thường làm hay như họa đồ chỉ vẽ, mà lợp thật dày theo lối Nhật Bổn, dày đến bốn tấc. Bạc ngàn tiền tranh nằm trên đó. Như thế mười lăm năm sau, nóc ấy dễ cũng chưa hề hấm gì.
Ban đầu ông Nam Thành định làm vách đất tô xi măng rồi quét nước vôi để trông cho sáng sủa. Nhưng nghĩ lại vách đất hầm quá, phải tốn rất nhiều cửa sổ. Nên rốt cuộc ông làm vách trỉ long mốt, gần với kiểu mẫu hơn (họa đồ vẽ  phên tre).
Nhà gỗ có gác, hai căn, một căn sâu tám thước, còn một căn chỉ sâu bốn thước thôi, thành ra nhà mang hình thước nách, cái phần hủng vô của cây thước nách ấy ngó về hướng đông. Vào buổi xế, chỗ ấy rợp bóng mát.
Theo hình thể đó thì nhà ngăn ra được sáu buồng, ba buồng dưới và ba buồng trên.
Ông bà Nam Thành chiếm buồng trên bên hướng tây, ông bà hy sinh, nhường hai buồng hướng đông cho bốn cô con gái ; ba buồng dưới thì dùng một làm phòng tiếp khách, một làm phòng ăn, còn một để trống phòng lúc có bạn hữu ở lại nhiều ngày.
Nhà bếp và nhà bắc cầu đều cất cột tre, lớp tôn ngừa hỏa hoạn. Ông Nam Thành có làm một việc châu đáo nầy mà ở nhà quê ta, không mấy ai để tâm đến là sau nhà bếp, ông thêm hai cái chòi con, một để tắm rửa, và một xa hơn, là cầu xí.
Phu khiêng bàn ghế vào nhà chỉ tốn có nửa giờ thôi. Nhưng gia đình phải mất trọn ngày để sắp đặt mọi thứ lặt vặt.
Không lần nào mà sáu người ấy đồng ý với nhau về vị trí một bức tranh hay một chiếc bàn con. Họ cãi nhau về mặt thẫm mỹ, mặt tiện lợi, mặt tình cảm, nhiều cuộc tranh luận sôi nổi quá, muốn chấm dứt phải mượn đến lối bỏ thăm đưa tay lên. Ngặt nhà có sáu người, số chẵn, khó lòng mà lấy được đa số khi ý kiến chia hai đều.
Ông Nam Thành khôn ưa xử dụng quyền gia trưởng trong các việc lặt vặt, thành ra nền dân chủ trong gia đình ông gây rối loạn liên miên.
Người ta cãi nhau, người ta giận hờn, nhưng vui lắm vì sự dao động vô tội ấy giúp đỡ chán cái mặt nước phẳng của nhà quê.
Trong buổi dọn nhà nầy gia đình mới hiểu công dụng của những tấm bố nhà binh Pháp loại ra mà ông Nam Thành đà mua dưới chợ Dân Sanh hôm nọ.
Vách trỉ long mốt luôn luôn bị gió lò. Vào thu và bấc, mấy tấm bố nầy buông xuống sát vách bên trong, sẽ giúp cho nhà thêm ấm.
Và giỏ cần xé chai không kia là khí giới tối tân mà ông chủ nhà kỳ dị nầy đã nghĩ ra.
- Ở đây không khỏi có cướp, ông Nam Thành nói. Nhứt là bọn họ đồn mình ở chợ về thì cướp nó càng thêm hơn nữa. Mình nghèo mình biết, nhưng chúng nó ngỡ dân Sàigòn nào cũng nứt đồ đổ vách. Chai nầy ta sẽ đổ đầy nước vào rồi đem lên gác. Cướp nó đến, mỗi người năm bảy chai, chọi cho bể đầu chúng nó ta mới thôi.
- Ghê quá, cô Hồng nói, nó giận nó bắn chết còn gì ba ?
- Nếu chúng lẹ tay, chỉ bắn chết một mạng trong nhà ta thôi. Rồi chúng sẽ bể đầu mà rút lui.
- Thành ra mình phải hy sinh một mạng ?
- Chớ sao ! Ở chỗ dữ tợn phải như thế mới sống còn cho.
- Thôi, ai chọi cướp trước thì trọi, con đợi chúng nó rút lui mới chọi với theo. Quá cười và tỏ thái độ ấy. Nhưng chắc cô ta sẽ làm thật như vậy, khi có cướp đến.
Suốt ngày hôm đó họ ăn bánh mì thịt quay mua ở dưới Sàigòn vì họ đã tiên liệu sẽ bận, không làm bếp được. Mà quả như vậy.
Đến xế chiều, ông Nam Thành mới chịu dùng quyền chỉ huy để phân công cho mọi người :
- Công việc nhà, tôi sắp đặt một lần nầy thôi, rồi bà phải kiểm soát việc thi hành mỗi ngày, để tôi rảnh tay, rảnh trí mà lo vườn tược. Con Ba, con Tư, con Năm, ba đứa biết đi xe máy thì thay phiên nhau mà đi chợ. Đừng đi mỗi ngày mất công. Mình ăn khô, ăm mắm thì cứ hai ba bữa đi một lần.
Những thứ lặt vặt như tiêu, muối, hành, tỏi thì trử cho kha khá, để muốn dùng lúc nào sẵn có trong nhà lúc nấy. Thí dụ nửa đêm thèm cháo gà, trưa trưa họ có bán ếch mập thì ta đủ mọi thứ cần dùng.
- Ông thì lo món nhậu của ông trước.
- Ở nhà quê phải vậy. Có nhậu mới có tới lui với xóm giềng được. À, thay phiên nhau đi chợ, rồi về thay phiên nhau mà giặt gịa...
- Bàn ủi điện má bán rồi, còn đâu mà...
- Má mầy bán là phải, ở đây lấy đâu ra điện. Mà không cần mặc đồ ủi nữa. Có muốn làm dáng thì ủi điện lấy...
- Ủi điện ?
- Phải, ủi điện, mà là điện trời, nghĩa là vuốt cho thẳng, xếp tử tế rồi để dưới gối nằm đè lên đó, thì nó sẽ láng như là...
Cả nhà cười ngả nghiêng ngả ngửa.
Ông Nam Thành lại tiếp :
- Thay phiên nhau giặt gịa rồi áp nhau mà làm vườn...
- Đi chợ rồi nghỉ, giặt gịa rồi nghỉ, làm vườn rồi nghỉ, rửa chén rồi nghỉ, cho heo ăn rồi nghỉ, phải không ba ? Cô Hoa ranh mãnh hỏi cha như vậy.
- Đúng !
_ Ứ hự !
- Còn chị hai, ba ?
- Con hai làm bếp. Nên nói rõ chi tiết. Làm vườn gồm có những việc sau đây : nhổ cỏ, kéo nước tưới cây, bắt sâu, cho heo, cho gà ăn... v...v...
- ba trộn lộn chăn nuôi và trồng trọt. Đó là hai khoa khác nhau. Con học ở trường họ dạy như vậy.
- Hay là con ba biệt phái chăn nuôi. Hai đứa kia làm vườn, ông Nam Thành đề nghị sau lời cãi lý của Hoa.
- Không đâu, con muốn chăn nuôi hè !
- Con cũng vậy !
- Nữa nè, thôi thì bỏ thăm.
- Ừ, oẳn tù tì, đứa nào thắng là được chăn nuôi.
- Thôi đừng cà rỡn nữa. Phận sự của bốn đứa bây đã rõ rồi đó.
Còn bà, bà kiểm soát, nhắc nhở chúng nó, và xuất phát tiền bạc.
- Còn ông ?
- Tôi ấy à ? Tôi thì tôi làm tất cả các công việc còn lại chưa ai nhận lãnh.
- Đâu còn công việc gì ba, Hoa cãi.
- Ba ăn gian quá ! Quá phàn nàn.
- Sao lại không còn ? Tiếp khách nè, đi thăm xóm giềng nè...
- Nhậu nè, bà Nam Thànnh vừa xỉa thuốc sống, vừa tiếp lời chồng, và bốn cô con gái đều cười rộ lên.
- Nói chơi vậy chớ ba sẽ làm tất cả công việc nặng mà mẹ con bây làm không nổi. Nội hai việc sau đây, thử hỏi đứa nào dám đãm đương không ? Đó là việc canh ăn trộm và coi chừng ma cho bây ngủ.
Cô Quá ý ạ một tiếng rồi nhảy vô ngồi giữa gia quyến mắt liếc ra vách. Qua trỉ long mốt, hoàng hôn xuống ngập đồng vắng. Đây là buổi chiều đầu tiên mà bốn cô con gái sống ở thôn quê. Lòng họ bỗng nghe buồn minh mông quá, khiến họ kinh ngạc cho số phận họ, mới hồi sáng còn ở chốn phồn hoa đô hội, rồi chớp mắt một cái thì bây giờ đã ngồi giữa cảnh đìu hiu, cô quạnh nầy, và không biết về sau sẽ ra sao.
Ông Nam Thành có sắm một cây đèn măng sông, mua săng, mua rượu đủ cả. Nhưng ông nói thắp đèn sáng quá sợ người ta để ý ngỡ gia đình giàu có dư dả lắm, rồi trộm cướp nó mò tới. Nên chi họ thắp đèm dầu hôi .
Cô Hương đã có ở nhà quê, nên không thấy mình lạc hướng bao nhiêu trong cảnh quạnh quẽ nầy. Nhưng ba cô khác vì rời thôn xóm lúc còn bé quá, nên nghe bỡ ngỡ lạ kỳ.
Cây đèn vặn ngọn lên cao thì un khói, còn hạ thấp ngọn ánh sáng vàng vàng cũng phủ lên buồng khách một màu dơ dáy, ủ rũ và bệnh hoạn.
Những con sâu con trùng gì không biết, ở đâu ngoài cỏ nội bay ùa vào đâm đầu vô ống khói rồi chết thiêu rơi rơi xuống đầy mặt bàn. Có một mớ lại rơi ngay trong ống khói đèn và lớp xác sâu cứ càng lúc càng dày lên.
Ông Nam Thành lượm lên một xác sâu xanh rồi nói :
- Thứ nầy tên là con phù du...
- Vậy hả ba ? Té ra con phù du có thật à ?
- Sao lại không thật.
Rồi ông ngâm :
&lt;i&gt;Đời người như kiếp phù du,
Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.&lt;/i&gt;
- Chà, ba thi sĩ quá !
Thêm hứng, ông Nam Thành hạ ngọn đèn xuống đoạn lại ngâm :
Canh khuya thắp chút dầu dư,
Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình.
Cô Quá vỗ tay khen :
- Hay quá ! Ba dạy con câu hát nhà quê đi ba.
- Tụi bây ở chợ, không nghe ai hát ru con nên dốt về câu hát lắm. Về đây rán mà banh lỗ tai ra để nghe mà học.
- Học làm gì, bà Nam Thành cà rỡn, mấy đứa nầy nữa chúng nó ru con bằng âm nhạc hò lờ, lúa vàng, và hò dô ta ấy mà !
Cô Hồng cứ ngó ngoáy ra sau lưng mà nói :
- Vách hở như vầy, ghê quá !
- Cho nên ở nhà quê, ngủ phải tắt đèn, nếu chong đèn ăn trộm nó thấy rõ bên trong hết.
- Nhưng không chong đèn thì tối hù, lại còn ghê hơn nữa, bà Nam Thành bàn rộng sau lo sợ của Hồng.
- Kín cổng cao vách như vầy mà còn sợ thì ở đây sao được, ông Nam Thành nói.
- Ăn trộm nó dòm vô, nó thấy cái gì ba ?
- Thì nó thấy mình nằm đâu, ngủ hay thức, tủ áo để chỗ nào, tủ tiền kê xó nào ấy mà. Ngày xưa nghe bà nội bây nói lại, trộm còn giỏi hơn nữa. Nó gắn một cây đèn cầy cháy lên lưng một con cua, rồi nó thả con cua vào nhà, qua hạ cửa. Con cua bò qua lại trong nhà, soi sáng cả mọi vật. Lắm khi không cần đèn, chúng vẫn thấy rõ trong bóng tối như giữa ban ngày. Đi đứng thì chúng dùng một que tre thật nhỏ và thật dài mà quơ trước mắt. Que đụng phải cột, báo chúng biết để tránh mà không khua động gì hết, cho chủ nhà đừng giựt mình thức dậy.
Chúng lại hốt gạo cất sẵn trong túi mà ném tứ tung ra. Gạo chạm phải đồ đồng, đồ thau, kêu leng keng nho nhỏ, dẫn dắt chúng lại chỗ cất đồ quí đó. Ấy ngày xưa, trong nhà dân, chỉ có đồ đồng, đồ thau, là quí giá thôi.
Ánh đèn dầu phóng đại lên vách trỉ sáu bóng người. Quá đưa cánh tay lên hươi thử và lấy làm thích mà thấy bóng cánh tay nàng giống đầu một con vịt quây mỏ lại để rỉa lông.
- Đừng giỡn với bóng, khuya ngủ, nó dồi chết bây giờ. Ba Nam Thành mắn con gái út.
- Bà khéo dị đoan hoài. Bóng sao lại dồi người ?
Cô Hồng đứng lên đi lại đi văng lấy chiếc gối dài, ôm gối vào mình như ẵm con, rồi ngắm thử bóng mình trên vách.
Như hội ý, cô Hoa hát :
" Ai đời còn nhớ chăng "
Xóm Nam Xương có một nàng.
Lòng son muôn đời muôn kiếp mang xuống tuyền đài.
Câm uất ôi buồn ôi đến bao nguôi.
Ông cụ cũng cảm xúc về chuyện cổ tích mà lũ con ông vừa gợi lên, nên ngâm bài thơ Lê thánh Tông :
" Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương "
Câu chuyện đã đến lúc nặng nề khó thở. Mà không khí cũng khó thở thật. Bầu trời giống như một nồi xúp de bị nung nhiều giờ, áp lực mạnh vô cùng mà không ai xả xúc báp cho xì bớt hơi.
Lúc ấy vào cuối tháng tư, tại hóa chuyển mình một cách đau đớn để bước sang mùa khác, nhưng bước còn do dự ngập ngừng nên vạn vật dưới đây bị đè dẹp dí xuống.
Không bảo nhau, cả nhà đông đứng lên, đi ra ngoài.
Mặc dầu nực, trời không mây. Sân sáng sao, trông mờ mờ như hừng đông. Vài con đôm đóm nở trước mùa, xẹt qua lại trên không trung thành những lằn nhỏ dài như những mũi kim vàng. Đèn nhà ai le lói đằng xa và xa nữa rừng mờ đen trên chân trời trong hơn một tí.
Trên vòm trời, sao dầy đặc như dề cơm cháy. Đó là muôn ngàn đâu cây đinh bằng vàng đóng trên một tấm trần đen.
Thỉnh thoảng một cây đinh long ra, rơi đi đâu không biết.
- Sao băng ! Bà Nam Thành nắm tay chồng, hồi hộp nói bằng giọng run run.
- Không có gì đâu mà sợ. Mỗi đêm hằng trăm ngôi sao xẹt đi như vậy là thường.
Trong khi đó thì bốn cô con gái đều ngó về hướng nam. Một vầng ánh sáng bừng lên ở chơn trời hướng đó, như mặt nhựt sắp lú lên vào buổi bình minh.
Đó là ánh sáng đô thành mà mới hôm qua đây họ còn sống lộn trong đó. Mới hôm qua nầy ? Ừ ! Nhưng sao mà nghe như lâu quá rồi, nghe như xa lắm rồi. Nỗi nhớ xứ, nhớ nhà minh mông như là họ đã lìa khỏi quê cha đất tổ.
Quặn quẹo là khúc đường từ nhà đổ xuống chợ Thủ Đức và quặn quẹo là lòng của bốn ả nhớ nhà. Lòng quặn quẹo và ruột quặn đau niềm ly biệt cái nơi mà họ xem như nơi chôn nhau của họ.
Cô Quá không sao xóa được nơi trí cô hình ảnh các rạp chiếu bóng hực hỡ đèn màu. Nóng bức lại nhắc nhở cô Hoa các tiệm kem mà nơi đó, giờ này, bạn hữu cô đang ngồi chấm chút thứ tuyết ngọt kia.
Riêng cô Hồng thì ngậm ngùi hơi ai cả. Cô không chỉ để lại Saigòn một căn nhà không cá tánh, một lũ bạn ít tình cảm hay một cuộc sống quay cuồng, mà là một mối tình đầu, hơn thế, một mối ttình đau thương không nguôi.
Như hiểu ý con, ông Nam Thành nói cho khuây dạ chúng nó :
- Các con biết ! Ngày xưa không ai nhớ Sàigòn cả, vì lúc đó không có dân Sàigòn.
- Không có dân Sàigòn, thưa ba ? Cô Hương ngạc nhiên hỏi.
- Nghĩa là có, nhưng không phải dân Sàigòn chánh hiệu. Sàigòn ngày xưa chỉ gồm có hai thư dân : thương gia và công chức. Công chức toàn là người các tỉnh lên. Họ về tỉnh cưới vợ, khi muốn lập gia đình. Đẻ con ra, họ cho về tỉnh ỡ quê ngoại, quê nội. Cả Sàigòn đều đổ xô nhau mà nhớ tỉnh. Hễ Tết một cái là Sàigòn trống trơn. Về ông về bà hết kia mà !
Vả Sàigòn lúc đó cũng chưa có đặc tính gì để họ lưu luyến, cho đến đỗi ca dao về Sàigòn cũng rất hiếm hoi, đếm được trên đầu mười ngón tay.
Số phận của các thành phố mới là như thế. Không có dân chánh gốc để làm cốt trụ, không có nhân cách riêng để quyến rủ người ta.
- Ba chưa nói đến hạng thứ hai là thương gia.
- Ờ thường dân ấy à ? Bọn nầy là ngoại nhân cả. Cũng có vài thương nhân Việt Nam, nhưng họ là hạng người ít tình cảm, đâu cũng là quê, là nhà được tuốt.
Phải qua nhiều thế hệ người, một thành phố mới trở thành được một quê cũ có người nhớ, có người thương. Có lẽ Sàigòn ngày nay đã đến tuổi già dặn của một chốn định cư lâu đời rồi.
Bây giờ đèn pha xe hơi từ Sàigòn lên và từ Biên Hòa xuống soi thủng bóng đêm trên đường. Tia đèn bắt tréo nhau như những lưỡi gươm dài mà mấy tay hiệp sĩ dạ khách khổng lồ nào đang so kiếm giữa đêm trường.
Xa xa tiếng chó sủa dài. Lần nầy ông Nam Thành giựt nẩy mình, dáo dác nghe ngóng, rồi tần ngần rất lâu ông nói :
- Nghe chó sủa sao mà nhớ nhà quá !
- Tôi cũng vậy. bà Nam Thành đồng tâm với chồng.
Nhưng hai ông bà lại nhớ một làng xa dưới Bắc Liêu chớ không phải nhớ Sàigòn.
Suốt đêm ấy cả nhà không ai ngủ được hết.
Con chó con mà bà Nma Thành xin dưới Ô Ma, kêu cẳng cẳng từ đầu hôm tới sáng. Nó nhớ ổ, nhớ mẹ nó. Thỉnh thoảng từ trên gác, bà Nam Thành hét xuống :
- Chó nà ! Nín đi hôn ?
Nó im giây lát, rồi kêu cẳng cẳng trở lại như củ.
Ông Nam Thành bỗng phát minh ra một điều nầy, nói to lên rồi cả nhà áp nhau trò truyện từ giường của mỗi người.
Ông Nam Thành nói :
- Thấy rõ là nuôi chó ở nhà quê rất cần. Không có nó, lúc nào mình ngủ quên thì nguy. Và vì thế thấy rõ việc nuôi chó ở các thành phố là xa xí. Món xa xí ấy lại có hại. Nó cắn người đi đường, báo hại người ta phải đi tiêm thuốc mất ngày giờ không biết bao nhiêu. Đó là nói trường hợp bắt được chủ nó đền bồi tổn phí. Mà khó bắt biết bao ! Ai làm chứng cho mình là chó ông A chó ông B cắn mình.
Tôi mà có quyền trong chánh phủ, tôi đánh thuế chó ở các thành phố cho thật nặng, nặng hơn cả hột xoàn và rượu huýt ky, tôi cho kiểm tra chó kỹ lưỡng, mỗi năm nội Sàigòn, thâu không dưới trăm triệu bạc.
Cô Hồng vốn đa cảm, bỗng nhớ lại bầy chó bẹc dê trong xóm mà các me Tây khi lui về vườn, bỏ rơi lại. Lũ chó nầy thành chó đói cả, và rất sung sướng được ăn cơm người ta bố thí cho.
- Hồi trước thịt bò mà nó chê, bây giờ bữa nào mà có chút nước cá kho, lũ nó thích quá xá.
- Có một con, sáng nào cũng đi tiệm cà phê cả. Ở đó nó ăn vỏ bánh bao no nê. Mà họ cũng kỳ, tiền đâu mà vứt xuống đất cho mấy con chó vô ích đó ăn cho uổng ?
Cô Quá sợ trộm, lại sợ ma, chạy qua giường cô Hoa mà nằm. Bực bội quá, Hoa thét lên, rồi Quá gây lại, không ai chợp mắt được cả.
0
Hello fish, mình là thành viên mới, mình xung phong đánh máy phần 8 nhé.Mình đọc đau cả đầu mà thấy khó hiểu quá, mình sẽ đánh máy vào Word trên computer của mình, sau đó copy và paste vào đâu. Đánh máy bằng font chữ gì ( Arial hay Times New Roman)?Chờ tin bạn. Thanks.
0
no problem!
tui nhan fan 10 nhe
quanchua co not phan 9 nhe! [:D]
chuc mot ngay vui!!!
to live is to fight
0
Ok,mình nhận luôn phần 9.Chúc mọi người có ngày nghỉ cuối tuần vui vẻ.
0
[:D]lãnh phần 15-16 nha fish[:D]
@ Quận chúa sửa chữ nhỏ lại đi, to tổ bà chát à.
0
Cho mình làm phần 11 nhé, chỉ dám làm ít thôi do dạo này bận nhiều quá, lâu ko ghé vnthuquan bây giờ phong phú quá
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 16:07:49Ct.Ly>
Chương 11
 
Cúng giỗ rồi qua ngày sau nữa, bà phủ lại lên, mang lên đủ thứ đồ cần thiết con bà đòi hỏi, ,với lại quà cho ông và bà Nam Thành và bốn cô gái.
Không lên, sợ người ta nói là bỏ phú con, mà lên mãi lại ngại làm phiền chủ nhà. Nên chi bà xin phép về ngày.
Cả nhà còn đang ăn cơm mà trẻ con lối xóm đã tề tựu đông đảo ngoài sân rồi, vì cô Quả khi sáng đã đi quảng cáo từ xóm lò rèn đến xóm công- tử ảo hướng, khiến Long phải ăn hối hả để xong bữa cho sớm đặng đi căng màn.
Hoạ sĩ cả nhắc bỗng biến thành anh chàng chiếu bóng dạo, tuy không cần rờ-xết mà rất lo lắng cho buổi chiếu bóng được suôn sẻ, nhứt là lo phim không vừa ý khách.
Phim đầu là một phim tài liệu về nghề trồng thuốc ở Havane, chàng chọn nó vì đề tài của cuốn phim dính líu đến đời sống trong xóm nầy.
Phim kế là một việc thời sự liên hệ đến phim đầu: cuộc thi hút xì gà giữ nguyên tàn, cũng ở Havane. Ồ, những điếu thuốc xì- gà dài lắm sao ! Mà mấy mươi người dự thi mới tài chứ! Họ hút mãi, tàn thuốc cứ mỗi lúc một dài thêm ra mà không hề bể, không hề rơi xuống.
Phim câm, nhưng vẫn nói. Người nói đó là Long. Cháng nói có duyên hơn bao giờ cả, phê bình trào phúng những nhơn vật dự thi, đùa cái mũi của ông nầy, cái trán của lão nọ, khiến cả sàn đều cưới nôn ruột.
Phim thứ ba cũng là phim tài liệu: cảnh săn cá voi ở các biển Bắc. Lần đầu tiên trẻ con trong xóm thấy hình ảnh biển cả, có một ý niêm về đại- dương và hàng- hải, nên chúng mê thích lắm.
Phim cuối cùng cho trẻ con là một cuộn phim hoạt hoạ khôi hài chọc cho trẻ cười lăn chiêng.
Long bật đèn sáng lên rồi tuyên bố hết, khiến đám nhi đồng nầy tiếc hùi hụi vì cuộc vui chóng tàn. Trong khi Long đi xem lại cái máy đèn, thì ông bà Nam Thành cũng ngỡ hết thật nên lo dọn ghết vô nhà một lượt với trẻ nhỏ đang giải tán.
Long ra hiệu bảo Quá lại gần chàng, rồi chàng bảo nhỏ với cô nên mời kín đáo ông bà ở lại. Khi trẻ nhỏ vào hết trong xóm, Long bắt đầu chiếu phim riêng cho Thái- huyên trang xem.
Đây cũng là phim đen câm, cũ quá nhưng còn xem được. Phim tiểu thuyết hoá đời tình ái đau thương của thi sĩ Đức Henri Heine.
Henri Heine mồ côi, ở với chú, lại yêu trưởng nữ của chủ là một cô gái trưởng giả không hiểu nổi tâm hồn cao đẹp của chàng mà chỉ thích lấy một người chồng sang cả thôi.
Cô gái ấy toại nguyện về sau, nhưng chàng thanh niên mồ côi lại phải đau khổ vì mối tình điên của chàng: yêu một người không hiểu mình, không được yêu lại mà vẫn hy vọng cho đến ngày người ấy lấy chồng.
Trong khi đó thì bóng một người thứ ba lởn vởn sau khung cảnh, cô thứ nữ của ông chú, một cô gái bé, hiểu thấu tâm hồn của Henry Heine, nhưng lại còn quá bé con, không được Heine để ý đến.
Cô bé nàu cũng là nạn nhân của mối tình cút- bắt kia, cả hai đau khổ âm thầm, nhưng chàng trở thành vĩ đại nhờ niềm đau khổ ấy, còn nàng thì chỉ ôm hận trong cảnh tối tăm, không gây được tiếng vang nào lại với đời sau cả.
Không biết vô tình hay cố ý mà Long bảo mướn phim ấy. Nhưng cả hai chị em Hồng và Quá đều quả quyết thầm là Long cố ý.
Nhưng tuy cùng một nghi ngờ, mà hai người lại nghĩ khác nhau về nghi ngờ đó.
Hồng thì nghĩ rằng Long ngờ nàng không hiểu anh ta nên mới trách xéo bằng cuốn phim kia.
Còn Quá lại thấy đó là lời xác nhận ngầm của Long, xác nhận rằng anh ta hiểu cô gái bé là cô ta lắm và đã chú ý đến cô. Ừ, Heine không ý thức nên quên cô em bé hộ. Nhưng Long đã biết câu chuyện ấy rồi, không thể không ý thức như vậy được, không thể quên như vậy được.
Và cả hai đều đinh ninh rằng Long nghĩ đến họ

**

Cô Quá ơi, cô thích có một bức chân dung cô hay không?
- Cái đó tuỳ. Nếu hoạ dở thì không. À, mà anh nè! họ nói anh người lớn tuổi thì hoạ mới giống. còn anh người còn trẻ, khó lòng mà giống được, phải không anh?
- Đúng phần nào. Người lớn, nhất là người già, nét mặt rõ rệt lắm, lại nhờ những cái chỗ hóp, những đường nhăn làm rõ ra thêm. Nơi người còn trẻ như cô chẳng hạn, trên mặt chỗ nào cũng đầy... Nhưng tôi không hoạ phóng đại ảnh của cô đâu. Tôi vẽ truyền thần mà.
- Vẽ truyền thân thì có khác gì hoạ phóng đại ảnh?
- Khác lắm, tôi thí dụ: mặt cô có nét riêng biệt khác thường, thì ônga nhr không thể làm lộ ra được, và người hoạ phóng đại theo ảnh cũng không thể thành công hơn. Nhưng người vẽ truyền thần, khi quan sát nét ấy, sẽ vẽ nó hơi quá lố hơn một chút. Vì nét ấy là điểm chính của biệt sắc trên gương mặt của mỗi người, nên chỉ vẽ nét ấy được là giống được người đó, tất cả những nét khác đều phụ thuộc thôi.
- Ý ẹ, như vậy nếu cái mũi em hơi lớn một tí, thì anh sẽ vẽ cho nó chù vù ra à?
- Chớ sao! Tôi sẽ vẽ cái mũi cô to như trái cam. Long nhát cô Quá rồi cười ngất.
Quá thấy người nhà Long mang lên cho chàng đến sáu tấm bồ căn nên biết là Long định vẽ truyền thần cho cả nhà. Nhưng sao lại bắt nàng mà vẽ trước? Nàng băn khoăn về chỗ đó lắm. Phải chăng đó là vì tình cảm riêng.
Thật ra, đó chỉ là sự tình cờ. Nhưng Long rủi ro cứ vô tình hành động cho Quá ngộ nhận mãi.
Sau buổi đầu ngồi cho Long vẽ. Quá xem lại các nét phác thì là không bằng lòng. Tuy chưa có gì, mà nàng đoán là về sau cũng sẽ không có gì lỗi lạc lắm.
Quả nhiên không có gì thật, Quá mong đợi bức chân dung trình bày nàng tươi cười như một đoá hoa chớm nở. Nhưng Long chỉ vẽ được một cô gái hết sức ngây thơ, ngây thơ hơn người thật, nhiều lắm.
Long giải thích:
-   Ngây thơ là điểm chính trên gương mặt của cô. Tôi trình bày lố cái điểm ấy ra, thế mới làm lộ biệt sắc của cô được
Nhưng Quá không chịu hiểu như vậy và hờn mắt hoạ sĩ không biết ý người mẫu.
Long buồn cười lắm cho cái tính trẻ con của Quá. Nhưng chàng làm lành, theo năn nỉ cô như dỗ em bé:
-   Hay là để tôi vẽ bức khác bắt đền cho cô?
Quá tức mình, ứa nước mắt, rồi khóc oà lên. Long lo lắng bước đến gần cô rồi cố dịu giọng mà rằng:
-   Em Quá, đừng trẻ con nữa, anh vẽ bức khác cho mà
Rồi chàng đưa tay vò đầu cô gái út Thái- huyên trang. Quá bỗng nghe như một luồng điện chạy khắp thân nàng. Nàng cúi mặt lặng thinh, lắng nghe cái tái tê kỳ lạ lần đầu tiên lay động người nàng và cả lòng nàng.
Thật ra đó chỉ là một cử chỉ vô tội của Long thôi. Từ ngày chàng yêu trộm Hồng, và định cưới cô ấy thì chàng xem Quá như là một đứa em vợ còn bé con. Đứa em gái ấy hôm nay nũng nịu thì chàng vỗ về nó, chỉ có thể thôi.
Bao nhiêu là rủi ro đều qui tụ lại để làm cô Quá ngộ nhận. Long vô tình nói và làm gì với Quá cũng hớ hênh cả.
Quá lau nước mắt rồi mỉm cười nhìn lên, nàng nhìn Long một cách say dại như đứa con nhìn mẹ đánh phần, thấy mẹ đẹp vô cùng, nhớ lại cái gõ đầu khi nãy mà mẹ ban cho và đinh ninh mẹ tỏ bụng yêu mình bằng cái gõ đầu ấy.
Long bắt chợt cái nhìn đó, bỗng hiểu. rồi sợ hãi hết sức

**
Vẽ chân dung cho Quá xong là Long đi được gần ngay ngắn. Chàng rất lo bệnh cho khỏi và chàng không biết lấy lẽ gì để nấn ná lại đây lâu thêm nữa.
Chàng tiếc sao hôm đó chàng không bị gẫy xương. Nếu gãy xương, chàng sẽ nằm tại nhà này hai tháng là ít.
Ý mà, chàng chợt tỉnh và bảo thầm, nếu gãy xương, người ta đã đưa mình đi nhà thương còn đâu!
Long mong hão một chứng bệnh gì thình lình xảy ra đến cho chàng, bệnh không nguy hiểm lắm, nhưng phải được săn sóc lâu, như bệnh sốt rét rừng chẳng hạn.
Chàng bỗng thấy vẽ chân dung cho cô Quá trước là hay. Bây giờ chàng sẽ vẽ Hương, rồi Hoa rồi đến hồng và ông cụ bà cụ
Chàng sẽ khỏi hẳn bệnh lúc đang vẽ cho ông Nam Thành. Vẽ cho ông xong lại vẽ cho bà. Chàng sẽ có cớ ở lại để làm xong xứ mạng. Ba bức tranh chót, chân dung ông, bà, cô Hồng, sẽ giúp chàng nấn nán thêm hai mươi ngày là ít.
Thật là cố lì, nhưng yêu thì không thể lịch sự được. Kẻ yêu luôn luôn điên, gàn và nhất là không biết điều. Tránh được những cái tệ đó là yêu ít, yêu có chừng mực rồi vậy.
Hôm nay Long vẽ chân dung cho Hương thì Bằng lên chơi
-   Thế nào? Anh ta hỏi ba cô em kia. Đoạn sau của cuốn tiểu thuyết có gì hấp dẫn hay chăng?
Hoa đáp:
-   Gay cấn lắm, hoạ sĩ vẽ truyền thần cho con Quá bị nó trề môi dài hai thước năm mà chê. Nó nhõng nhẽo é mà. !
-   Coi chừng đa cô bé. Thứ tiểu thuyết đó hay lắm, mà do óc lãng mạn của cô viết thêm ra nó càng hay hơn. Chà, trí cô làm việc dữ để bịa ra cốt truyện. Loại truyện này nọ đã viết hàng trăm lần rồi mà lần nào cũng được hoan nghênh cả. Nhuưg coi chừng lúc tỉnh mộng, đau lắm.
Bằng ưu cà rỡn và mấy chị em không lấy đó làm phiền. Nhưng lần này Quá giận anh thực sự. Cà rỡn sao mà đúng vào tâm trạng của cô, mà câu hăm doạ dễ sợ kia thật đáng ghét làm sao!
Hình như là Bằng có chuyện gì quan trọng để nói với ông bà Nam Thành. Họ rù rì nhỏ to lâu lắm rồi Bằng ra về ngay chứ không đợi chiều như mọi lần.
Ông bà Nam Thành, sau khi Bằng đi rồi, lo dọn dẹp nhà cửa ngay nội ngày hôm đó. Ông phân công các con, đứa nhỏ cỏ ngoài sân, đứa dọn quét dưới bếp, đứa chùi lịa ly, tách, đứa lo những món ăn hàng nắm như dưa kiệu, tương ớt, vân vân...
Hai ngày sau, nhà có khách lạ. Khách lên hồi tám giờ sáng, mười phút sau khi Hương đi chợ về
Một ông cụ đầu râu bạc trắng, một cụ nữa cao niên hơn ông Nam Thành lối năm bày tuổi, và một bà cụ trạc tuổi bà Nam Thành.
Long thơ thẩn quanh các gốc me, gốc mít ngoài sau, còn các cô gái thì rút vào nhà bếp.
Bà Nam Thành kêu rót nước, nhưng không kêu “các con” như mọi bân trước có khách khác, mà lại kêu quyết:
-   Năm ơi, đem nước uông con
Cô Quá bưng mân trà lên và có cảm giác khách xét nét cô, tuy không hỏi gì về cô cả.
Chỉ có ông cụ đầu bạc là nói chuyện nhiều còn hai ông bà kia chỉ nghe thôi. Ông cụ râu bạc nói gì mà nghe như là chữ nho, khó hiểu quá.
Cô Quá trở gót ra sau được nữa chừng đường thì bà Nam Thành gọi lại:
-   Con, lấy thêm vôi con.
Lạ quá! Vôi đang đầy bình, sao mẹ nàng lại bảo lấy thêm! Quá lấy thêm vôi lên tới thì mẹ lại hỏi:
-   Con à, gà nhà mình nuôi cỡ độ mấy con, má quên mất, con có nhớ hay không?
Quá cũng chẳng nhớ gì hơn mẹ. Gà đã để nhiều lắm rồi, đến tám chín mái, gà lại nhiều lứa, lứa già, lứa trẻ, lứa mặc áo lá, lứa mới đủ lòng, còn làm sao nhớ được
Tuy vậy nàng cũng đáp liều
- Thư má , lối hai trăm con
Khách ở lại ăn cơm. Bà Nam Thành ra sau, dặn quyết chỉ có một mình Quá bưng các thức ăn lên thôi. Đó là bữa ăn đầu tiên trong gia đình mà không có mặt bốn người con, mà cũng không có mặt người khách quí trong nhà.
Khách ăn lâu quá, nhưng chừng xong bữa, dọn xuống thì mâm cơm vẫn còn nguyên, còn đĩa chỉ được động đũa sơ đến thôi
Cô Hương từ sáng tới giờ, cú cười mãi mà nhìn cô em út. Cơn dọn ra mân thứ nhì ngay trong nhà bếp, mà chỉ có bốn người ăn thôi: ba chị em và Long, còn Quá thì bận bưng mân, chưa dùng bữa được.
Ông bà Nam Thanh đã xin lỗi Long và yêu cầu chàng ăn riêng nơi mâm thứ nhì ấy, vì một lẽ riêng mà ông bà đã cho chàng biết.
Long đã hỏi các cô gái
- Cô Quá năm nay bao nhiêu tuổi, các cô?
- Hăm hai. Hoa đáp. Nhưng theo tính tình và gương mặt thì người ta đoán lỗi mười tám thôi
- Cô Hương  chắc biết chuyện nên tppo thấy cô cứ cười mãi
- Dạ hôm nay các chú lái đi coi heo ấy mà?
Cả bốn đều cười xoà! Hoa reo:
- Hay! Hèn chi mà trông trịnh trọng và bí mật dữ. Để anh Bằng lên đây...
Nhà có gì buồn cười, bốn cô đều nhớ đến cái người anh họ hay bông đùa ấy.
Họ vốn cởi mở về việc chồng con. Nay nhân Long đã thành thân trong nhà và biết câu chuyện quan trong đó nên họ cởi mở cả trước mặt anh ta nữa.
- Chị biết mà không dám nói ra, Hương cắt nghĩa, là vì sợ con Quá nó quýnh rồi bưng mâm vấp té mà khổ.
- Em thì có ai đi coi mặt em, em biết ngay, và sẽ hát xiếc cho họ xem. Em sẽ cho chén, đĩa nay lên cho họ thấy kinh không dám tới nữa.
Cô Hoa vô tình dùng tiếng “sẽ” thành ra Long biết rằng cô chưa được ai xem mặt lần nào cả
Chàng bỗng thương biết bao bốn cô gái nhà này với tình trạng khó lấy chồng của bốn cô Giàu, người ta không trông xuống; nghèo, người ta không dán với lên; lại chung quanh toàn là những anh trai kém cỏi hơn bốn chị em nhiều.
Long đoán biết phản ứng ngầm của các cô, bằng theo lời lẽ bóng lơn của các cô về vụ này, và bằng theo trình độ hiểu biết, trí thông minh của các cô mà chàng quan sát được hôm nay.
Phản ứng ấy  là sự công phẫn của họ đối với trò xem mặt “các chú lái đi coi heo”. Lời của Hương đúng, bóng bảy và chu cay biết bao!
Thân người con gái sao mà như món hàng để bán. Mỗi lần có khách muốn mua, món hàng được bày ra dưới đủ khía cạnh. Người ta xem phía trước, người ta ngắm phía sau, người ta xét tướng đi, người ta thử nghe giọng nói.
Chắc hẳn người ta chê khen trong bụng, có người lại nghĩ thầm:”Hàng chỉ xoàng thôi, nhưng nếu được giá hời thì cũng mua”
Chắc chắn là các cô công phẫn như vậy, nhưng chỉ công phẫn ngầm chớ không dám phản đối ra mặt, không phải vì sợ cha mẹ mắng, mà vì chính món hàng cũng thích được mua, Chua cay là ở chỗ đó. Đó là một sự hy sinh lớn, hy sinh lòng tự ái, hy sinh nhân phẩm mà các cô phải chịu đựng để đi lấy chồng.
Xã hội Việt Nam đang ở vào giai đoạn giao thời, sự tiến bộ tinh thần còn nhiều chênh lệch giữa nhiều hạng người. Một mớ thì quan niệm rằng “đi con heo” như vậy phạm đến nhân phẩm con gái, mớ khác xem đó là sự thường, là phải lẽ, vì từ ngàn xưa người ta vẫn thế.
Vậy các cô, vốn biết điều, biết lẽ phải thì phải rán ông bụng chịu chứ phản đối ai mà nghe cho.
Chắc chắn là Quá đoán hiểu khách muốn gì sau khi cô bị kêu lên xuống một cách vô lý, và cũng chắc chắn là cô giả đò không biết. Biết mà vẫn im lặng chịu khổ hình thì khó chịu với mình biết bao và nhất là với các chị của mình biết bao! Họ sẽ chế nhạo mà khóc.
Khách ra về thì đồng hồ điểm mười hai giờ trưa. Ơn chưa cho sự kéo của cuộc viếng thăm đầu! Hèn chi lời tục bảo “cà kê, dê ngỗng, như nói chuyện làm sui”.
Hoa hỏi em lúc Quá ăn bữa cơm trễ:
- Có vừa mắt hay không ?
Quá làm bộ chưng hửng:
- Gì mà vừa mắt?
- Tao hỏi mày, mày xem mắt chú lái heo có vừa bụng hay không. Có xứng đáng cho mày gọi làm “bố” chồng hay không?
- Vậy hà! Té ra ...
- Thôi để cho nó ăn. Coi bộ nó đói gần luỗi rồi kia
- Đừng buôn mà em, Hoa lại đùa. Nữa rồi mình sẽ trả thù cái bữa đói này. Mình bắt ông bà ăn cơm khô, và bữa nào cũng ăn trễ độ nửa tiếng đồng hồ cho bõ ghét.
Quá chỉ làm bộ suông vậy thôi cho các chị bớt chế nhạo. cô không hề cố ngoan ngoãn để được chồng. Cô chưa lỡ thời như các chị của cô, nên không cần hoảng hốt. Vả cô đã bắt đầu yêu một người, thì cô chỉ biết có người đó thôi.
Các cô chị thì thấy tỉnh cảnh mỉa mai đến không biết phải nên cười hay nên khóc
Chàng trai mong đợi, bắt các cô chờ mãi không biết từ bao năm rồi. Nay hắn vừa đến, xem chừng đã yêu một người trong mấy chị em, chưa biết rõ người nào, thì chàng trai khác lại đến nữa. Khi bất cập, lúc thái quá như vậy, không rồi lòng ta sao được.
Mà cái chàng trai thứ nhì này đến lại để xem quiyết mắt cô em út là cô gái chưa cần lấy chồng lắm. Kể cóc cần lại được, người tha thiết lại không.
Nhưng dầu sao, ba chị em lớn cũng thầm cám ơn cha mẹ hết sức. Trong gia đình có lu bù con gái chưa chồng như vậy, bậc cha mẹ thường hay nói câu này “Đó, ba bốn đứa đó, muốn chọn đứa nào tuỳ ý thích” mặc dầu bên đằng trai chỉ coi một cô thôi.
Sự dễ dãi của các bậc cha mẹ ấy đã hạ phẩm giá củ con họ ngang hàng các vật trong chuồng
Ông bà Nam Thành chỉ trình món hàng người ta đòi xem thôi, nhờ thế nhân phẩm giá của các cô được cứu vãn phần nào.
Phần ông bà Nam Thành thì xem như ông bà vui vẻ lắm.
Ông bà cứ nhìn con gái út mà cưới chúm chím mãi. Chắc bụng ông bà thầm khen con bé có duyên đắt chồng sơm chớ không hẩm hiu như các chị của nó.
Cái duyên ấy nếu có, thì chỉ là của trời ban thôi. Nhưng nó bớt cho ông bà một ghánh nặng nên ông bà mừng rồi muốn xem là Quá đẫ giỏi giắn tạo tạo ra được cái duyên kia.
Ông bà thương yêu đứa con gái út hơn lên, và nuông chiều bênh vực nó hơn, không phải là vì nó xứng đáng hơn.

Đây là phần 11 nhé, bản gốc có hơi mờ và dùng một số từ ngữ cổ và địa phương mình đã chỉnh sửa cho phù hợp cách hiểu
     .          


                                                         
0
Sorry mọi người nha, lần đầu tui đánh máy nên ko biết. Rút kinh nghiệm lần sau"cứ thế" nha..hehe..
0
 
Trích đoạn: Hoàng Dung
[:D]lãnh phần 15-16 nha fish[:D]


cán ơn Hoàng Dung nhận phần 15, 16 nhé [:D]


Trích đoạn : sonzin
Đây là phần 11 nhé, bản gốc có hơi mờ và dùng một số từ ngữ cổ và địa phương mình đã chỉnh sửa cho phù hợp cách hiểu


cám ơn sonzin đánh máy phần 11 há. sách củ bạn à, có vài đoạn in rất mờ...


Trích đoạn : trieuminhquanchua
Sorry mọi người nha, lần đầu tui đánh máy nên ko biết. Rút kinh nghiệm lần sau"cứ thế" nha..hehe..


quận chúa có thể sửa font bằng cách click "Sửa", rồi right click &gt; "Select All" text, rồi chọn Size 2.



chúc mọi người vui vẻ [:)]






0
«« « 1 2 » »»