Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thư pháp - thú chơi thời hiện đại

4 trả lời, 281 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>ct.ly</b> -- <b>20.8.2004 2:50:40 </b> &gt;>
Thư pháp - thú chơi thời hiện đại



Hình ảnh các "ông đồ" trẻ đang cho chữ.
Vài năm gần đây, những ngày giáp Tết, Hà Nội lại tấp nập người đi xin chữ. Người sành sỏi phải đến nhà xin bằng được chữ của cụ Hòa, cụ Bách, cụ Quảng, còn ra Văn Miếu, người ta cũng dễ gặp những "ông đồ" trẻ tuổi trải chiếu ngồi cho chữ. Nét chữ đẹp, khéo, không kém phần cứng cỏi, họ chỉ ở lứa tuổi ngoài 20.

Nói đến thư pháp thì ai cũng nghĩ ngay đến hình ảnh ông đồ áo dài, khăn đóng, nghiêm trang múa ngọn bút lông để tạo nên những nét chữ mực Tàu thần kỳ trên tấm liễu đỏ. Những nghệ sĩ thư pháp người Hoa xuống "tấn" dùng "nội công" bay nhảy như phim kiếm hiệp để viết trên những tấm liễu, tấm phướn khổ rộng dài cả chục thước. Nghệ thuật thư pháp thường gắn liền với "sự di dưỡng tinh thần", người viết chữ phải dùng ý chí đặt vào đầu ngòi bút. Cái tâm phải tĩnh mới thổi được hồn cốt vào mỗi nét chữ. Nghề chơi lắm công phu nên người ngoài nhìn vào thứ nghệ thuật cao khiết đó chỉ "kính nhi viễn chi". Người trẻ tuổi lại càng "e ngại" bởi dùng nhãn tiền để ngắm đã là điều không đơn giản, huống chi việc "nhập môn".

Nhưng có điều lạ, ngay trên đất Hà thành người ta dễ gặp những người trẻ tuổi dám mạo hiểm như thế. Đào Thái Hồng Phúc, người đoạt giải thưởng Tài năng trẻ thư pháp tại Festival Huế 2004, mới bước vào tuổi 30 nhưng tên anh đã được những người sành chơi biết đến. Niềm đam mê thư pháp đến với anh khi còn là một cậu bé. Mặc bạn bè gán cho mình những biệt hiệu "hâm", "dở hơi", anh tự tìm tòi mọi sách vở học Hán Nôm, rồi luyện thư pháp. Đào Thái Hồng Phúc không nhớ những nét chữ đầu tiên đã lấy đi của anh bao nhiêu giấy mực, thời gian và tâm lực. Anh tâm sự: "Mọi người thường bảo sao mình cứ sống như ông già, vô vị như thế. Không bạn bè, thú vui gì, chỉ quay quẩn với mấy cái chữ viết đi rồi viết lại. Nhưng khi đến với thư pháp mới thấy, phải mất cả đời để hiểu được nó, và có lẽ phải tốn thêm vài trăm năm mới có thể nhận mình là nhà thư pháp".

Bản chất chữ Hán có yếu tố tạo hình nên qua nhiều thế kỷ, người Trung Quốc sáng tạo ra các loại chữ viết theo các kiểu khác nhau. Về cơ bản có Tứ thảo: Chân, Thảo, Lệ, Chiết, và ở mỗi loại, người viết lại phải học lại từ đầu từng bộ thủ hay cách viết. Rồi phải tuân theo Tam pháp, trong đó bút pháp với từng nét cơ bản từ ngang bằng sổ thẳng, tự pháp là kết cấu của từng chữ và rộng hơn là chương pháp. Một nghệ thuật đòi hỏi nhiều, khắt khe như thế cho nên cũng rất kén người chơi.

Người có tài chữ không chỉ dừng lại ở việc viết chữ đúng, luyện quen tay, người viết ngoài một số nguyên tắc chung còn thể hiện sự sáng tạo và tính cách trong nét chữ. Anh Tuấn, một người đến với thư pháp Hán Nôm khá muộn, cho biết: "Các cụ nói nét chữ là nét người, cho nên nếu tinh ý xem chữ cụ Hòa viết sẽ khác với chữ cụ Quảng. Có những người viết chữ rất bay, nhưng có người lại có kiểu viết chắc, tuân thủ các đường nét rõ ràng. Và nếu là người nóng vội, nhiều tính toán thì sẽ không bao giờ viết được".

Các "ông đồ" thời hiện đại không áo the khăn xếp như ngày xưa nhưng khi đã "vận" mình vào thú chơi này dường như họ cũng tìm lại được chính bản thân. Anh Nguyễn Văn Thức, cử nhân khoa Hán Nôm, trường ĐH Khoa học xã hội Nhân văn, nói: "Từ ngày luyện viết thư pháp, tôi cảm thấy những suy nghĩ của mình có chiều sâu hơn và hiểu hơn giáo lý của đạo Phật. Lúc hướng được ngòi bút theo sự điều khiển của lý trí thấy mình đi được vào tận cùng con người mình". Câu nói có vẻ già trước tuổi ấy lý giải vì sao để tạo nên một bức thư pháp chỉ với một chữ "Nhẫn", "Tâm" hay "Đức"... người viết lại phải khổ luyện, tốn nhiều giấy mực đến thế.

Theo lời cụ Hòa, người viết chữ đẹp có tiếng hiện nay chỉ có khoảng hơn chục người trẻ tuổi thực. Trong nhịp sống gấp gáp của cuộc sống thời hiện đại, những Đào Thái Hồng Phúc, Đức Dũng, Nguyễn Thanh Sơn... vẫn âm thầm tìm cho mình một lối đi riêng. Họ không coi thư pháp là một nghề để kiếm sống nhưng dành cho nó phần lớn thời gian và công sức. Anh Thức vẫn ở nhà thuê, làm đủ mọi công việc từ dịch thuật đến viết bia, dạy thêm, tối về lại lem nhem cùng giấy mực. Hồng Phúc theo y học cổ truyền và giờ đây, anh có cửa hàng nho nhỏ bốc thuốc Đông y. Nhiều người biết đến tên tuổi anh đã tìm đến nhà theo học thư pháp, cả người đã có tuổi và không ít thanh niên. Một lớp học khoảng hơn hai mươi người cũng giúp anh tăng phần thu nhập. Đặc biệt vào dịp lễ tết, có dịp trổ tài "múa chữ", Phúc có thể kiếm vài chục triệu từ chính sở thích "kỳ quái" mà anh đã công phu luyện tập. Anh tâm sự đầy lạc quan: "Khi tôi theo học thư pháp Hán Nôm, bố mẹ đều can ngăn, bảo bây giờ làm gì còn ai quan tâm đến loại chữ nghĩa ấy nữa. Nhưng tôi tin trong vài năm nữa, nghệ thuật này sẽ phát triển mạnh. Giới trẻ khi đã biết được một điều gì đó về thư pháp, họ sẽ rất quan tâm".

Những người mê thư pháp thường chọn cho mình một thú vui để cân bằng cuộc sống. Người chơi đàn, người thích vẽ tranh, nghe nhạc. Có điều, họ là một số ít người dám chấp nhận thú chơi thử thách cao, đòi hỏi sự công phu và kiên nhẫn. Một thứ nghệ thuật không dành chỗ cho những tham vọng vật chất, và vô tình họ trở thành những người níu giữ lại nét đẹp văn hóa ngàn xưa của dân tộc. Nét đẹp mà gần một thế kỷ trước nhà thơ Vũ Đình Liên từng lo lắng: "Những người muôn năm cũ/ hồn ở đâu bây giờ". Ngày hôm nay, ông đồ thời hiện đại sẽ không phải chứng kiến cảnh "Giấy đỏ buồn không thắm/ mực đọng trong nghiên sầu". Xã hội đang tìm lại họ, và nghệ thuật thư pháp sẽ không còn là quá vãng.

Thu Hà

[image]local://upfiles/2452/14C8F463D7E24E6999796DB00F909BA4.jpg[/image]
📎 ong do già




Đăng nhập để trả lời
0
Cần phải phát triển hơn nữa hồn dân tộc. Khuyến khích nhiều trong cuộc thi thư pháp (ngày xưa gọi là vở sạch chữ đẹp), cả quốc ngữ lẫn Hán-Nôm.
Mình từng là nạn nhân của vấn đề chữ viết, và cho đến ngày nay, dưới ảnh hưởng của máy tính, người ta càng lúc càng có chữ viết "tệ".
Nâng chữ viết thành nghệ thuật cũng là một cách bảo tồn văn hóa hữu hiệu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>thanhtung_p</b> -- <b>20.8.2004 23:01:37 </b> &gt;>
Thư pháp Việt Nam
Xin được giới thiệu với các bạn một bộ môn nghệ thuật đang phát triển bên Việt Nam, đó là môn Thư pháp.

Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những người « hay chữ » để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa. Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp. Thư Pháp là phương pháp viết chữ (đẹp)
cụ đồ xưa


Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì.

Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện : bút sắt, cọ, thước, compa, êke...Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.
Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.

Ở Việt-Nam vào thời điểm nầy, có lẽ ngoại trừ một số người lớn tuổi thâm Nho mới đọc được chữ Hán, chữ Nôm, chớ còn hầu hết là không đọc được.

Bởi vậy tại sao ta không viết thư pháp bằng tiếng Việt ? Viết chữ Việt cũng đẹp vậy, bởi vì sao giải thích được : « Sao là đẹp ? Sao là không đẹp ? » (KTS Nguyễn Thanh Sơn)

« Biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta, chắc gì gọi là đẹp đối với kẻ khác !... biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta bây giờ chắc gì gọi là đẹp đối với ta sau nầy” (Trang Tử).

Thư pháp bằng tiếng Việt:


Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia còn phải "nhiếp tâm" với những gì mình sắp sửa viết ra.

Phong trào viết Thư pháp bằng tiếng Việt đã được khôi phục một cách mạnh mẽ từ khoãng 10 năm nay. Bên Việt Nam nhiều Câu Lạc Bộ viết Thư pháp được thành lập trong các thành phố lớn, đã có nhiều "Thư pháp gia" tổ chức những cuộc triển lãm thư pháp như những hoạ sĩ triển lãm tranh vẽ. Tôi xin giới thiệu với bạn sơ lược về bộ môn nầy.

Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá dễ, muốn viết sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chánh.

Chương pháp: tức là nguyên cứu phương pháp phân bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các hàng với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư pháp thành công hay không là do ở chương pháp.

-Ðầu câu không thụt vô.
-Các hàng đều và dài bằng nhau
-Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
-Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân nửa chiều dài của hàng
-Không dùng dấu chấm câu.

Hình dạng bức thư pháp:Có bốn hình dạng chánh

-Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
-Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
-Hình vuông (Ðấu phương)
-Hình mặt quạt (Phiến diện) (coi hình dưới đây)

Ấn chương:(hay con dấu, con triện) là một nét văn hoá rất độc đáo của người Trung Quốc.

Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm gía trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỷ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.

Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi :

-Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm.
-Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
-Loại nữa chìm nữa nổi

Vị trí đặt con dấu:
Trong các thư tác của người Trung Hoa xưa có nhiều vị trí được qui ước để đóng dấu như :

-Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác gọi là Nhân chương
-Ðóng ở thắc lưng thư tác gọi là Yêu chương
-Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác gọi là Danh chương

Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn mà có thể đóng một, hai, hoặc ba dấu triện. Vị trí các dấu triện đều có ý nghĩa riêng của nó.

Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây :

Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là tác giả hình thức (Hình) ; hoặc tác giả Hình nhưng Ý là các câu văn thơ cổ (hết bản quyền) thì con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có thể thêm một dấu ở trên, trái như dấu treo. Như vậy được gọi là Toàn triện.



Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ...) nhưng chưa có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và người viết phải ghi « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện



Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ...) có sự đồng ý của tác giả Ý thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng phải đề tên tác giả Ý phía trên cao, bên trái ; và người viết phải ghi chữ « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng triện.



Trường hợp ngoại lệ : vì lý do bố cục mà người viết không thể sắp xếp được vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện.



Các kiểu chữ trong Thư pháp
+ Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.



Chữ Cách Diệu, tạm gọi là Biến Tự, là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo ra cái lối viết riêng của mình.







+ Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là lối viết Thư Pháp mà người phóng bút « nhiếp tâm » giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ nầy thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy, người xem dễ biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường viết liền lạc trong một nét nên khó đọc.



+ Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Có người viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên, v.v..



+ Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết ngược.

+ Ngoài ra trong một số tranh Thư Pháp còn có hình ảnh minh họa về thiên nhiên, trong đó phần tranh có thể chiếm khoãng không gian lớn hơn phần chữ. Với đặc trưng nầy Thư Pháp trở thành Thư Họa.






Trong một số người viết thư Pháp, có nhiều người là họa sĩ, họ thường biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ. Lối viết nầy rất khó. Thí dụ như



Ta có thể hình dung ra được khuôn mặt của Ðức Phật

Sau đây là chữ "Phật" của Trần Bá Linh:



Chữ "Lệ rơi" của Tuấn Hạ :



Và cuối cùng là chữ "Mẹ" của Chính Văn:



Nếu ta nhìn kỷ thì có thể "thấy" hình dáng người mẹ tóc dài xõa lưng, đứng đưa lưng lại và dang tay ra để đở một đứa bé, đứa bé nầy nhìn ngang, nằm co lại như còn trong bụng mẹ.

Copyright : http://nguyentl.free.fr

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
Sau đây là một số bức thư pháp mà tt đã sưu tập được từ một số website khác:












































Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
......

Mọi ngùi làm sói nhớ ông đò quá chừng [:)]
Theo năm tháng dường như thư pháp cũng đan lu mờ dần,đó quả là một điều đáng tiếc
Đăng nhập để trả lời
0