Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Phong Thủy Học

217 trả lời, 211.502 lượt xem — Trang 6 / 8




Trong phép Ngũ Quỹ Vận Tài , cốt yếu phải phân rõ tịnh âm , tịnh dương , cho nên xin các anh chị các bạn để ý thử  :  Với Khôn thì lập Chấn Hướng , Tốn Thủy triều lai; với Càn thì lập Tốn Hướng , Chấn Thủy triều lai ; với Tốn thì lập Càn Hướng , Khôn Thủy triều lai ; với Cấn thì lập Ly Hướng , Khảm Thủy triều lai; với Đoài thì lập Khảm Hướng , Ly Thủy triều lai....
Sự phân Âm Dương rất rõ ràng. Chớ nên dùng sai lệch , chẳng những không Tốc phát , mà còn chuốc Họa nữa đấy. Cẩn thận ! Cẩn thận !
 
 
 
 



[/align]
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-09 00:08:05NCD>
        LẬP HƯỚNG PHÂN KIM PHÁP 
                                 ------------------
 
Quách , Ngô , Nguyễn , các nhà Địa lý ở Trung Hoa quý về Âm Trạch , chê về Dương Trạch , cũng đều do luận về các vì sao trên trời. Bởi Thánh Nhân nói : Dùng Quái để minh lý , dùng Quái để suy đoán Khí. Phàm Tiên Thiên , Hậu Thiên , Song Sơn , Hồng Phạm , Tam Hợp , Huyền Không , Xuyên Sơn , Thấu Địa , Tọa Độ, Phân Châm , Hưu Tù Vượng Tướng , Vận Khí , Tuế Thời đều do Lý Khí mà ra cả.
Người đời xưa dùng pháp quăng gậy cốt yếu chỉ lấy chỗ Sanh Khí làm Địa cục , ngoài điểm Sanh khí không cần bàn đến nữa. Địa để phép chiếm Sơn , dùng thế đất là rất khó , mà Hình cuộc là thứ yếu , phương hướng lại thứ nữa.
Phàm xem Huyệt phải xét trong Huyệt đó phải có Sanh Khí , có kết trong lòng Huyệt đích xác không , tức Huyệt có tình mới xuất hiện được Lý Khí , mới được Chính Khí nhập Mạch đặt quan. Nếu trong Huyệt đó vô tình tức không có Sanh Khí , dú quý Âm , chê Dương , thừa Sanh khử Mộ tất cả vô Lý Khí.
Những thứ vô ích không những không có lợi còn có hại lắm đấy. Chỗ đã không có Sanh Khí , tức là dùng Lý Khí cũng vô dụng. Trong sách có nói :  Đất Huyệt không có Sanh Khí mà dùng Lý Khí thì lấy Khí gì ?
Dưới đây là bàn về 24 Long với cách Lấp Hướng , Phân Kim :
 
1/. NHÂM LONG    :
Nhâm Long có 3 Hướng   :   Tý Sơn Ngọ Hướng , Cấn Sơn Khôn Hướng , Tân Sơn Ất Hướng lấy Bính Tý làm Chính Khí.
  a//  Tọa Tý Hướng Ngọ   :   Nhâm Long Nhập Thủ , khí từ bên phải xuống , nên đặt lệch về bên trái , gia thêm Hợi nửa phân , lấy Bính Tý thì Chính Khí ở Chính Nhâm sẽ rót vào tai bên phải.
    Nếu kiêm Nhâm Bính thì nên chọn Canh Tý , Canh Ngọ
    Nếu kiêm Quý Đinh thì nên chọn Bính Tý , Bính Ngọ.
 
  b// Tọa Cấn Hướng Khôn :  Nhâm Long Nhập Thủ , khí từ bên phải xuống , nên đặt lệch sang bên trái , gia thêm Hợi phân nửa , lấy Nhâm Mạch suốt qua lưng bên phải.
    Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi
    Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Bính Dần , Bính Thân
 
  c// Tọa Tân Hướng Ất      :  Nhâm Long NHập Thủ , khí từ bên trái xuống , nên đặt lệch về bên phải , đun nhích qua Tý nửa phân , để lấy Chính Nhâm Mạch suốt qua lưng bên trái.
    Nếu kiêm Mẹo Dậu thì lấy Tân Mẹo , Tân Dậu
    Nếu kiêm Thìn Tuất thì lấy Bính Thìn , Bính Tuất
 
2/. KHẢM LONG   :
Khảm Long có 1 Huyệt :  Cấn Sơn Khôn Hướng lấy Canh Tý là Chính Khí.
Tý Long Nhập Thủ , khí từ bên phải xuống thì Huyệt là Tọa Cấn Hướng Khôn , nên đặt nhích sang bên phải mốt chút , gia thêm Nhâm 1 phân , khiến khí Canh Tý đi suốt qua tai bên phải.
    Nếu kiêm Sửu Mùi lấy Tân Sửu , Tân Mùi
    Nếu kiêm Dần Thân lấy Bính Dần , Bính Thân
* LƯU Ý  : Huyệt này sẽ sản sinh trong con cháu có người có tay 6 ngón , giàu cự phú.
 
3/. QUÝ LONG  : 
Quý Long Nhập Thủ có 2 Hướng cần lập là  :  Cấn Sơn Khôn Hướng , Tý Sơn Ngọ Hướng lấy Đinh Sửu làm Chính Khí.
  a// Tọa Cấn Hướng Khôn  :   Quý Long Nhập Thủ , khí rót xuống từ bên phải , lấy Huyệt Tọa Cấn Hướng Khôn , nên đặt nhích sang bên trái gia Tý chút ít , lấy Đinh Sửu là Chính Quý Mạch để khí suốt qua tai phải.
     Nếu kiêm Sửu Mùi nên dùng Tân Sửu , Tân Mùi
     Nếu kiêm Dần Thân nên dùng Bính Dần , Bính Thân.
 
  b// Tọa Tý Hướng Ngọ     :   Quý Long Nhập Thủ , khí rót xuống từ bên trái , lấy Huyệt Tọa Tý Hướng Ngọ , nên đặt nhích sang bên phải gia Sửu thêm Sửu nửa phân , lấy Đinh Sửu là Chính Quý Khí đi suốt vào tai bên trái
     Nếu kiêm Nhâm Bính nên lấy Canh Tý , Canh Ngọ
     Nếu kiêm Quý Đinh thì nên chọn Bính Tý , Bính Ngọ.
* LƯU Ý  :  Huyệt Tọa Cấn Hướng Khôn tuy giàu nhưng hèn , sống rất phong lưu.





[/align]
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0



Hì , sư muội cuối năm rảnh rỗi quá lên đăng bài hỉ ? Lần này hổng thèm hỏi ý SH luôn nha , đáng đánh đòn. Nhưng thui , đáng thưởng vì học còn nhớ , công bù tội , muội đăng tiếp đi , SH dzọttt à... !


[/align]
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
Hì, cảm ơn bạn Nhím.

Cứ lâu lâu mình online lại được đọc thêm mấy bài viết mới. Mỗi lần như vậy mình sẽ copy lại để dành đọc từ từ.[:)]
Thân ái./.

zoomzzzoom
Đăng nhập để trả lời
0




4/. SỬU LONG   :
Sửu Long Nhập Thủ có 1 Huyệt là Tọa Nhâm Hướng Bính ,lấy Tân Sửu làm Chính Khí vào Huyệt.
Sửu Long Nhập Thủ thì khí phải rót từ bên trái xuống , khi đó ta lập Tọa Nhâm Hướng Bính , nên đặt nhích sang bên phải , gia thêm Cấn để lấy Chính Khí Tân Sửu rót vào Huyệt.
    Nếu kiêm Hợi Tị thì nên chọn Tân Hợi , Tân Tị lúc phân kim
    Nếu kiêm Tý Ngọ nên chọn Bính Tý , Bính Ngọ lúc phân kim
 
 
5/. CẤN LONG    :
Cấn Long Nhập Thủ có 8 Huyệt tất cả   :  Quý Sơn Đinh Hướng , Nhâm Sơn Bính Hướng , Giáp Sơn Canh Hướng , Ất Sơn Tân Hướng , Mẹo Sơn Dậu Hướng , Càn Sơn Tốn Hướng , Hợi Sơn Tị Hướng , Sửu Sơn Mùi Hướng.  Đa phần đều lấy Mậu Dần làm Chính Khí rót vào Huyệt.
 
  a//. Tọa Quý Hướng Đinh   :  Cấn Long Nhập Thủ khí rót từ bên trái xuống có thể lập Huyệt Tọa Quý Hướng Đinh , nên đặt nhích sang Bạch Hổ lấy thêm Dần 1 phân , để Chính Khí Mậu Dần đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
    Nếu kiêm Tý Ngọ nên chọn Canh Tý , Canh Ngọ lúc phân kim
    Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Đinh Sửu , Đinh Mùi lúc phân kim
 
   b//. Tọa Nhâm Hướng Bính:  Cấn Long Nhập Thủ khí đi ngang từ bên trái vào ra bên bên phải Huyệt thì nên lập Huyệt Tọa Nhâm Hướng Bính. Khi ấy nên đặt nhích sang bên phải lấy Chính Khí Mậu Dần đi suốt vào lưng bên trái Huyệt.
    Nếu kiêm Tị Hợi thì nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc phân kim
    Nếu kiêm Tý Ngọ nên chọn Bính Tý , Bính Ngọ lúc phân kim
 
   c//. Tọa Giáp Hướng Canh :  Cấn Long Nhập Thủ khí đi từ bên phải xuống nên lập Huyệt Tọa Giáp Hướng Canh , nên đặt thiên về bên Thanh Long gia thêm Sửu 1 phân , để lấy Chính Khí Bính Dần đi suốt tai bên phải Huyệt.
    Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Canh Dần , Canh Thân lúc phân kim
    Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Đinh Mẹo , Đinh Dậu lúc phân kim
 
   d//. Tọa Ất Hướng Tân      :  Cấn Long Nhập Thủ khí đi ngang từ bên phải Huyệt vào , xuất ra bên trái , nên lập Huyệt Tọa Ất Hướng Tân , nên đặt nhích sang bên trái gia thêm Sửu nửa phân , để lấy Chính Khí Mậu Dần đi suốt vào lưng bên phải của Huyệt.
    Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Tân Mẹo , Tân Dậu lúc phân kim
    Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Bính Thìn , Bính Tuất lúc phân kim
 
   e//. Tọa Mẹo Hướng Dậu    :  Cấn Long Nhập Thủ khí đi từ bên phải xuống , có thể lập Huyệt Tọa Mẹo Hướng Dậu , nên đặt nhích sang bên Thanh Long gia thêm Sửu 1 phân để lấy Chính Khí Bính Dần đi suốt vào tai bên phải Huyệt.
    Nếu kiêm Giáp Canh nên dùng Tân Mẹo , Tân Dậu lúc phân kim
    Nếu kiêm Ất Tân nên dùng Đinh Mẹo , Đinh dậu lúc phân kim
 
   f//. Tọa Càn Hướng Tốn     :  Cấn Long Nhập Thủ khí đi ngang từ bên trái lại ,ra bên phải nên lập Huyệt Tọa Càn Hướng Tốn , nên đặt nhích sang bên phải lấy Chính Khí Mậu Dần đi suốt vào lưng bên trái Huyệt.
    Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Canh Thìn , Canh Tuất lúc phân kim
    Nếu kiêm Tị Hợi nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc phân kim
 
   g//. Tọa Hợi Hướng Tị        :  Cấn Long Nhập Thủ khí đi từ bên phải xuống có thể lập Huyệt Tọa Hợi Hướng Tị , nên đặt nhích sang bên phải thủ lấy Chính Khí Mậu Dần đi suốt qua lưng bên trái Huyệt
    Nếu kiêm Càn Tốn nên chọn Tân Hợi , Tân Tị
    Nếu kiêm Nhâm Bính nên chọn Đinh Hợi , Đinh Tị lúc phân kim
 
   h//. Tọa Sửu Hướng Mùi     :   Cấn Long Nhập Thủ khí đi từ bên trái xuống có thể lập Huyệt Tọa Sửu Hướng Mùi , nên đặt nhích sang bên phải gia thêm Dần 1 phân , lấy Mậu Dần Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
    Nếu kiêm Quý Đinh nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc phân kim
    Nếu kiêm Cấn Khôn nên chọn Đinh Sửu , Đinh Mùi lúc phần kim.
 
*LƯU Ý  :   Huyệt Tọa Càn Hướng Tốn tuy nhà giàu nhưng trong nhà e có người tuổi trẻ chết non. Huyệt Tọa Hợi Hướng Tị tuy giàu nhưng không sang. Cẩn thận !!



[/align]
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0




6/. DẦN LONG :
Dần Long Nhập Thủ có 2 Huyệt là  :  Tọa Cấn Hướng Khôn và Tọa Dần Hướng Thân , lấy Nhâm Dần làm Chính Khí rót vào Huyệt.
 
  a//. Tọa Cần Hướng Khôn  :  Dần Long Nhập Thủ , Mạch đi từ bên trái xuống thì chọn Tọa Cấn Hướng Khôn , nên đặt lệch sang bên phải gia thêm tý Giáp để lầy Nhâm Dần Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
     Nếu kiêm Sửu Mùi thì nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim
Huyệt này phát cực nhanh.
 
  b//. Tọa Dần Hướng Thân  :  Dần Long Nhập Thủ , Mạch đi thẳng xung vào trực diện , và cũng ra thẳng thì nên chọn Tọa Dần Hướng Thân , nên đặt Huyệt lệch sang phải lấy Giáp Dần Chính Khí vào Huyệt. Huyệt này rất nhỏ diệu , miễn là Sa Thủy đẹp đẽ thì được , khuyết 1 cái thì chẳng những vô dụng mà còn cực kỳ xấu.Cẩn thận !
 
     Nếu kiêm Cấn Khôn nên chọn Canh Dần , Canh Thân lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Giáp Canh nên chọn Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim
Nếu Sa Thủy không đủ là cực kỳ hung ác , sẽ khiến người mẹ sống đời quả phụ , thường sinh chuyện ác hại trong thân tộc.
 
7/. GIÁP LONG :
Giáp Long Nhập Thủ có 2 Huyệt   : Tọa Cấn Hướng Khôn và Tọa Tốn Hướng Càn , lấy Kỷ Mẹo làm Chính Khí.
 
  a//. Tọa Cấn Hướng Khôn  :  Giáp Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên trái xuống nên lập Huyệt Tọa Cấn Hướng Khôn , nên đặt Huyệt lệch sang bên phải gia thêm Dần nửa phân , lấy Kỷ Mẹo Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
     Nếu kiêm Sửu Mùi nên lấy Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Dần Thân nên lấy Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim
Huyệt này phải để ý Thủy Long ôm lấy Huyệt mới dùng được.
 
  b//. Tọa Tốn Hướng Càn    :  Giáp Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên trái xuống có thể lập Tọa Tốn Hướng Càn , nên đặt Huyệt lệch sang bên phải , lấy Kỷ Mẹo Chính Khí đi suốt vào lưng bên phải Huyệt.
     Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Canh Thìn , Canh Tuất lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Tị Hợi nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim
Nếu Long 2 bên trái phải không giao vào xem như Long mất độ phận sẽ khiến bị cô quả , bệnh tật , phang tàng.
 
8/. MẸO LONG  :
Mẹo Long Nhập Thủ có 4 Huyệt  : Tọa Giáp Hướng Canh , Tọa Ất Hướng Tân , Tọa Quý Hướng Đinh , Tọa Tị Hướng Hợi , lấy Quý Mẹo làm Chính Khí rót vào Huyệt.
 
  a//. Tọa Giáp Hướng Canh  :  Mẹo Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên trái xuống nên lấy Tọa Giáp Hướng Canh , nên đặt lệch sang bên Bạch Hổ gia thêm Ất , lấy Quý Mẹo Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt
     Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Canh Dần , Canh Thân lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Đinh Mẹo , Đinh Dậu lúc Phân Kim
Huyệt này thường xuất Võ tướng.
 
  b//. Tọa Ất Hướng Tân       :  Mẹo Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên phải xuống nên chọn Tọa Ất Hướng Tân , nên đặt lệch sang bên Thanh Long gia thêm Giáp nửa phân , lấy Quý Mẹo Chính Khí đi suốt vào tai bên phải Huyệt
     Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Tân Mẹo , Tân Dậu lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Bính Thìn , Bính Tuất lúc Phân Kim
 
  c//. Tọa Quý Hướng Đinh    :  Mẹo Long Nhập Thủ , mạch đi ngang từ bên trái vào ,ra bên bên phải thì lập Huyệt Tọa Quý Hướng Đinh , nên đặt lệch sang bên phải , lấy Quý Mẹo Chính Khí đi suốt vào lưng bên trái Huyệt.
     Nếu kiêm Tý Ngọ nên chọn Canh tý , Canh Ngọ lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Đinh Sửu , Đinh Mùi lúc Phân Kim
 
  d//. Tọa Tị Hướng Hợi        :  Mẹo Long Nhập Thủ , mạch đi ngang từ bên phải vào ,ra bên trái nên chọn Huyệt Tọa Tị Hướng Hợi và đặt lệch sang bên trái , lấy Quý Mẹo Chính Khí đi thông vào lưng bên phải Huyệt.
     Nếu kiêm Bính Nhâm nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Tốn Càn nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc Phân Kim
 
9/. ẤT LONG  :
Ất Long Nhập Thủ có 1 Huyệt duy nhất là Tọa Cấn Hướng Khôn , lấy Canh Thìn là Chính Khí rót vào Huyệt.
Ất Long Nhập Thủ , mạch đi ngang vào bên trái , ra bên phải , lập Huyệt Tọa Cấn Hướng Khôn , nên đặt lệch sang bên phải , lấy Canh Thìn Chính Khí đi suốt vào lưng bên trái Huyệt.
      Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
      Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim
 
10/. THÌN LONG  :
Thìn Long Nhập Thủ có 2 Huyệt   : Tọa Tốn Hướng Càn và Tọa Cấn Hướng Khôn , lấy Giáp Thìn là Chính Khí rót vào Huyệt.
 
   a//. Tọa Tốn Hướng Càn    : Thìn Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên phải xuống chọn Huyệt Tọa Tốn Hướng Càn , nên đặt lệch sang bên trái gia thêm Ất , lấy Giáp Thìn Chính Khí đi suốt vào tai bên phải Huyệt
      Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Canh Thìn , Canh Tuất lúc Phân Kim
      Nếu kiêm Tị Hợi nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim
 
   b//. Tọa Cấn Hướng Khôn  :  Thìn Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên trái xuống chọn Huyệt Tọa Cấn Hướng Khôn , nên đặt lệch sang bên phải để thừa Khí bên trái , lấy Giáp Thìn Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt
      Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
      Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim
 
 



[/align]
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-28 03:33:43nhim_con75>
11/. TỐN LONG :
Tốn Long Nhập Thủ có 3 Huyệt  :   Ất Sơn Tân Hướng , Tị Sơn Hợi Hướng , Khôn Sơn Cấn Hướng , lấy Tân Tị làm Chính Khí rót vào Huyệt.
 
   a//. Tọa Ất Hướng Tân    :  Tốn Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên trái xuống chọn Huyệt Tọa Ất Hướng Tân , nên thiên về bên Bạch Hổ gia thêm Tị 1 phân , lấy Tân Tị Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
    Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Tân Mẹo , Tân Dậu lúc Phân Kim
    Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Bính Thìn , Bính Tuất lúc Phân Kim.
 
   b//. Tọa Tị Hướng Hợi     :  Tốn Long Nhập Thủ , mạch đi từ bên phải xuống có thể chọn Huyệt Tọa Tị Hướng Hợi , nên đặt thiên về bên Thanh Long gia thêm Thìn nửa phân , lấy Tân Tị Chính Khí đi suốt vào tai bên phải Huyệt &gt;
    Nếu kiêm Tốn Càn nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc Phân Kim
    Nếu kiêm Nhâm Bính nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim
 
   c//. Tọa Khôn Hướng Cấn :  Tốn Long Nhập Thủ , mạch đi ngang từ bên phải đến , ra bên trái thì chọn Huyệt Tọa Khôn Hướng Cấn , nên đặt thiên về bên trái , lấy Tân Tị Chính Khí đi thông vào lưng bên phải Huyệt.
    Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
    Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim.
 
12/. TỊ LONG  :
Tị Long Nhập Thủ có 1 Huyệt là Tị Sơn Hợi Hướng , lấy Ất Tị làm Chính Khí rót vào Huyệt.
Huyệt này nên đặt thiên về bên phải , lấy Chính Khí Tốn nhập Huyệt.
    Nếu kiêm Tốn Càn nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc Phân Kim 
    Nếu kiêm Bính Nhâm nên dùng Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim. 




[/align]
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-28 04:41:16nhim_con75>
13/. BÍNH LONG  :
Bính Long Nhập Thủ có 4 Huyệt  :  Tị Sơn Hợi Hướng , Giáp Sơn Canh Hướng , Ất Sơn Tân Hướng , Khôn Sơn Cấn Hướng , lấy Nhâm Ngọ làm Chính Khí rót vào Huyệt.
 
   a//. Tọa Tị Hướng Hợi         :   Bính Long Nhập Thủ mạch đi từ bên phải xuống có thể chọn Huyệt Tọa Tị Hướng Hợi , nên thiên 1 ít về bên phải , lấy Chính Bính khí thông suốt vào tai bên trái Huyệt.
     Nếu kiêm Tốn Càn nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Bính Nhâm nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim
 
    b//. Tọa Giáp Hướng Canh  :     Bính Long Nhập Thủ mạch đi từ bên phải xuống , có thể chọn Huyệt Tọa Giáp Hướng Canh , nên đặt thiên về bên phải 1 chút để lấy Chính Khí Nhâm Ngọ rót vào tai bên trái Huyệt
     Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Canh Dần , Canh Thân lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Đinh Mẹo , Đinh Dậu lúc Phân Kim
 
    c//. Tọa Ất Hướng Tân        :    Bính Long Nhâp Thủ mạch đi từ bên phải xuống cũng có thể chọn Huyệt Tọa Ất Hướng Tân , nên đặt thiên về bên phải 1 chút để lấy Chính Khí Nhâm Ngọ đi suốt vào tai bên trái Huyệt
     Nếu kiêm Mẹo Dậu nên chọn Tân Mẹo , Tân Dậu lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Thìn Tuất nên chọn Bính Thìn , Bính Tuất lúc Phân Kim
 
    d//. Tọa Khôn Hướng Cấn    :    Bính Long Nhập Thủ mạch đi từ bên trái xuống thì chọn Huyệt Tọa Khôn Hướng Cấn , nên đặt thiên về bên trái gia thêm Tị , lấy Chính Khí Bính đi suốt vào tai bên phải Huyệt
     Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Dần Thân nên chọn Bính Dần , Bính Thân lúc Phân Kim
 
14/. NGỌ LONG   :
Ngọ Long Nhập Thủ có 2 Huyệt  :  Bính Sơn Nhâm Hướng và Đinh Sơn Quý Hướng , lấy Bính Ngọ là Chính Khí rót vào Huyệt.
 
    a//. Tọa Bính Hướng Nhâm    :   Ngọ Long Nhập Thủ mạch đi từ bên trái xuống thì chọn Huyệt Tọa Bính Hướng Nhâm , nên đặt thiên sang bên phải gia thêm Đinh nửa phân , lấy Bính Ngọ Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt
     Nếu kiêm Tị Hợi nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Ngọ Tý nên chọn Bính Ngọ , Bính Tý lúc Phân Kim
 
    b//. Tọa Đinh Hướng Quý       :   Ngọ Long Nhập Thủ mạch đi từ bên phải xuống thì chọn Huyệt Tọa Đinh Hướng Quý , nên đặt thiên về bên Thanh Long gia thêm Bính nửa phân , lấy Bính Ngọ Chính Khí rót vào tai bên phải Huyệt.
     Nếu kiêm Ngọ Tý nên chọn Canh Ngọ , Canh Tý lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Đinh Sửu , Đinh Mùi lúc Phân Kim.
 
15/. ĐINH LONG  :
Đinh Long Nhập Thủ có 2 Huyệt  :  Khôn Sơn Cấn Hướng và Tị Sơn Hợi Hướng , lấy Quý Mùi làm Chính Khí rót vào Huyệt.
 
    a//. Tọa Khôn Hướng Cấn  :   Đinh Long Nhập Thủ mạch đi từ bên phải xuống thì chọn Huyệt Tọa Khôn Hướng Cấn , nên đặt thiên về bên Thanh Long gia thêm Ngọ 1 phân , lấy Quý Mùi Chính Khí đi suốt vào tai bên phải Huyệt.
     Nếu kiêm Mùi Sửu nên chọn Tân Sửu , Tân Mùi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Thân Dần nên chọn Bính Thân , Bính Dần lúc Phân Kim.
 
    b//. Tọa Tị Hướng Hợi       :   Đinh Long Nhập Thủ mạch đi từ bên trái xuống thì chọn Huyệt Tọa Tị Hướng Hợi , nên đặt thiên về bên Bạch Hổ gia thêm Mùi 1 phân , lấy Chính Khí Quý Mùi đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
     Nếu kiêm Tốn Càn nên chọn Tân Tị , Tân Hợi lúc Phân Kim
     Nếu kiêm Bính Nhâm nên chọn Đinh Tị , Đinh Hợi lúc Phân Kim.
 
 





[/align]
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Chào ae, e thấy ae hiểu biết thật, kiến thức thật rộng, e cũng là một người rất thích phong thuỷ, chỉ đơn giản là e đang học kinh tế, lại rất thích môn phong thuỷ này, vì nghĩ sẽ giúp ích rất nhìu về việc kinh doanh sau này. Tâm niệm của e thì chỉ nghĩ môn này là một môn khoa học, mà lại rất thú vị, tại sao mình lại không học nó nhỉ :D.
E cũng có thắc mắc là không bít môn phong thuỷ thì dạy ở đâu nhỉ ?
E cũng đã tìm chỗ học, mà tìm gần 1 năm trời mà ko bít chỗ nào dạy, các sư huynh có thể chỉ cho e với dc ko ah, thanks ae nhìu
E thấy trên này, hình như ae ai cũng biết nhau, chắc là chung 1 thầy phải ko ah :D, srry nếu e có nói sai j, thanks ae nhìu
Mong ae hồi âm:D
Đăng nhập để trả lời
0
hix, chờ mấy hôm nay mà ko thấy ai lên hết, rất mong sự trả lời của ae, thanks ae nhìu. Theo e nghĩ chắc ae cũng còn trẻ nhỉ:D
Đăng nhập để trả lời
0
talk biết có một số web dạy phong thủy á, nhưng talk chưa ghi danh học lần nào nên không biết ra sao... hihi
mỗi năm bên web tuvilyso có mở khóa dạy phong thủy á. vào web đó hỏi sẽ có người chỉ cho, còn ở đây thì có thể PM hỏi NCD xen sao, talk chưa nói chuyện với NCD lần nào nên không biết ttiens có được trả lời hay không...
chúc bạn may mắn tìm được chỗ học hỏi phong thủy...
nhưng trong thời gian chờ đợi bạn có thể mua sách "Bát Trạch Minh Cảnh" về nghiên cứu trước để có một số căn bản, thì sau nầy sẽ dễ thu thập kiến thức hơn.
thân ái...
Hạt tương tư nở hoa thương nhớ
Có lẽ vì...anh lỡ yêu em.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-10 08:33:35NCD>
Chào bạn ttiens !
Việc các web dạy Pt thì mình không tham gia , và cũng chẳng quan tâm , dù biết 1 số địa chỉ vẫn thỉnh thoảng mở lớp như bạn talk có nói. NHƯNG theo mình , học Địa lý mà chỉ học qua web là chỉ học như con vẹt , có người hướng dẫn tận nơi , chỉ từng trường hợp cụ thể mỗi lúc đi xem nhà , còn học khó xong , huống hồ học qua mạng. Tốt nhất là bạn mua sách về tự tìm tòi nghiên cứu , sau đó lên các trang web trao đổi những chỗ mình không hiểu , mình tin những ai đã lên mạng trao đổi học thuật đều sẵn sàng chỉ cho bạn thôi.
Ở đây , cumusic , anh vanti67 , Nhím , Tím đều là sư đệ mình , vì mình chỉ hướng dẫn cho mọi người với tính cách sư huynh muội với nhau , chứ mình chưa thực sự nhận học trò bao giờ , ai thích tìm tòi học hỏi với cái Tâm tốt giúp đỡ mọi người , mình luôn sẵn sàng chỉ với tư cách người anh , người bạn đi trước.
Chúc bạn vui với việc nghiên cứu bộ môn Huyền thuật này.
Thân chào bạn

P/S : À , sau này bạn có hỏi gì thì vào trong mục " Giải đáp thắc mắc " mà hỏi nhé ! Nơi đây chỉ dành đăng những kiến thức cho những ai tìm tòi , học hỏi về Phong Thuỷ thui.
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
thanks ae nhìu, chắc e sẽ mua sách về nghiên cứu thêm. Mà e thích cách viết văn của mọi người hơn, vì nó giống văn nói hơn là văn viết, đọc dễ hiễu hơn. Dù sao cũng cảm ơn mọi người, có j ko hiểu e xin làm phiền mấy ae, mong ae giúp đỡ
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn các Anh Chị đã cho em 1 bài đọc rất bổ ích. Diễn Đàn này rất thú vị. Thanks
Đăng nhập để trả lời
0
BÁT TRẠCH CHU THƯ NHỊ THẬP TỨ SƠN ĐỒ THUYẾT

Đại du niên ca quyết:
Kiền, lục thiên ngũ hoạ tuyệt diên sinh
Khảm, quỷ y khí niên mệnh hại sát
Cấn, sát tuyệt hoạ sinh diên thiên quỷ
Chấn, niên khí hại mệnh quỷ y sát
Tốn, thiên ngũ lục hoạ sinh tuyệt diên
Ly, sát quỷ mệnh niên hại khí y
Khôn, y diên tuyệt sinh hoạ ngũ lục
Đoài, khí hại niên mệnh sát quỷ thiên

Đại du niên ca quyết bên trên ai từng học qua Bát Trạch pháp đều phải biết đến nó. Như Kiền trạch thì cung Khảm là Lục Sát, cung Cấn là Thiên Y, cung Chấn là Ngũ quỷ, cung Tốn là Hoạ Hại, cung Ly là Tuyệt Mệnh, cung Khôn là Diên Niên, cung Đoài là Sinh Khí.

Đại du niên ca bên trên thực sự xuất phát từ:
- Sự tương sinh của ngũ hành do Tây tứ trạch Kiền Khôn Cấn Đoài là cục Kim sinh Thuỷ; Tây tứ trạch Khảm Ly Chấn Tốn là cục Mộc sinh Hoả.
- Phù hợp quy luật sinh thành của Hà Đồ-Lạc Thư do tổ hợp 1-6, 4-9, 2-7, 3-8, vừa là sinh thành vừa là hợp thập vừa là đối đãi với nhau.
- Quy luật âm dương tương phối, vì Càn Đoài thái dương phối Khôn Cấn thái âm, Tốn Khảm thiếu dương phối Chấn Ly thiếu âm.

Vì hợp lẽ Tiên thiên dùng cho phương vị Hậu thiên nên có Bát cung biến du niên như trên; Tuy nhiên trước nay vẫn phổ biến việc định trạch trong Bát Trạch phái chỉ có 8 cung mà thôi. Tình cờ Nam Phong đọc được trong Bát Trạch Chu Thư có câu: "Người đời chỉ biết phân làm Đông Tây nhị trạch mà không biết rằng trong Đông có Tây, trong Tây có Đông, trong Nam Bắc có cả Đông Tây. Hiểu được thì nạp quái, lập hướng, khai môn mới không sai lầm". Câu quyết đó đeo đẳng một thời gian đến khi tình cờ đọc được cách nạp giáp và đồ hình Kiền sơn thì mới thấu hết.
Kiền nạp Giáp Nhâm
Khôn nạp Ất Quý
Cấn nạp Bính
Tốn nạp Tân
Đoài nạp Đinh Tỵ Dậu Sửu
Chấn nạp Canh Hợi Mão Mùi
Khảm nạp Thân Tý Thìn Quý
Ly nạp Dần Ngọ Tuất Nhâm


Như vậy nếu Kiền trạch(Giáp Nhâm đồng lệ) thì:
Nhâm sơn là Phục vị
Tý sơn là Lục Sát
Quý sơn là Diên niên
Sửu sơn là Sinh khí
Cấn sơn là Thiên y
Dần sơn là Tuyệt mệnh
Giáp sơn là Phục vị
Mão sơn là Ngũ quỷ
Ất sơn là Diên niên
Thìn sơn là Lục sát
Tốn sơn là Hoạ hại
Tỵ sơn là Sinh khí
Bính sơn là Thiên y
Ngọ sơn là Tuyệt mệnh
Đinh sơn là Sinh khí
Mùi sơn là Ngũ quỷ
Khôn sơn là Diên niên
Thân sơn là Lục sát
Canh sơn là Ngũ quỷ
Dậu sơn là Sinh khí
Tân sơn là Hoạ hại
Tuất sơn là Lục sát
Kiền sơn là Phục vị
Hợi sơn là Ngũ quỷ
Đại du niên ca của Bát Trạch thực không chỉ dùng cho 8 cung, chỉ vì những người học được không nói ra để kẻ học sau phải sai lầm; Bát Trạch như vậy mới đầy đủ vì 24 sơn hoạ phúc không như nhau, mấy ai hiểu được Cấn là Thiên y mà lại có Tuyệt mệnh trong đó, Khảm là Lục sát mà lại có Diên niên, cùng một cung vị mà hoạ phúc lại khác nhau chính là vì vậy.
Lấy một trạch Kiền để tính, các trạch khác cũng theo đó mà suy ra.
Từ đây các thứ phối trạch, phối mệnh, định môn, phân phòng, bếp... theo 24 sơn như trên biến thành vô số trường hợp không thể nói hết. Nếu đã tinh thông rồi thì phối với Tiểu du niên tầm lấy cát tinh toạ nơi cát vị, khi đó sẽ thấy Hoạ hại mà phát phúc, Thiên y mà bại vong.
Bài viết này hy vọng mở đường cho các bạn học Bát Trạch sớm có được thành tựu.


Nam Phong

PS: tuy nhiên khi đem hợp nhất với Phiên quái Tiểu du niên thì lại sai ở hai sơn Nhâm Quý, nếu Nhâm nạp vào Ly, Quý nạp vào Khảm thì sẽ đúng hoàn toàn. Phần này nói thêm để các bạn lưu ý hai sơn Nhâm Quý, phải lấy thực tế kiểm chứng để có thể kết luận nên dùng Nạp quái Tiên Thiên(Nhâm theo Càn, Quý theo Khôn) hay Nạp quái Nguyệt thể(Nhâm theo Ly, Quý theo Khảm).

Lùi một bước trời cao biển rộng
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: quanbao

BÁT TRẠCH CHU THƯ NHỊ THẬP TỨ SƠN ĐỒ THUYẾT
.......Câu quyết đó đeo đẳng một thời gian đến khi tình cờ đọc được cách nạp giáp và đồ hình Kiền sơn thì mới thấu hết.
Kiền nạp Giáp Nhâm
Khôn nạp Ất Quý
Cấn nạp Bính
Tốn nạp Tân
Đoài nạp Đinh Tỵ Dậu Sửu
Chấn nạp Canh Hợi Mão Mùi
Khảm nạp Thân Tý Thìn Quý
Ly nạp Dần Ngọ Tuất Nhâm


Nam Phong

PS: tuy nhiên khi đem hợp nhất với Phiên quái Tiểu du niên thì lại sai ở hai sơn Nhâm Quý, nếu Nhâm nạp vào Ly, Quý nạp vào Khảm thì sẽ đúng hoàn toàn. Phần này nói thêm để các bạn lưu ý hai sơn Nhâm Quý, phải lấy thực tế kiểm chứng để có thể kết luận nên dùng Nạp quái Tiên Thiên(Nhâm theo Càn, Quý theo Khôn) hay Nạp quái Nguyệt thể(Nhâm theo Ly, Quý theo Khảm).



Câu này viết sai rồi!!
(xem chữ màu đỏ )

Chaos
Đăng nhập để trả lời
0
Xin chào quanbao!
quan bao có thể nói rõ hơn được không?
Những vấn đề quanbao nói là ở tài liệu nào, có thể chia sẽ được không?
Thanh you!
Đăng nhập để trả lời
0
Chào bạn tonkin !
Trong room KHHB có mục Giải đáp thắc mắc , bạn nên vào đó hỏi nhé , ở đây chỉ dành để đăng các bài kiến thức về Phong Thuỷ thôi , bài này sẽ được dời đi sau 48 giờ nữa , bạn chuyển câu hỏi sang mục kia , Nhím sẽ trả lời cho bạn há!
Thân chào bạn.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-14 04:40:06danhphong>
BÀI VIẾT TRONG PHẦN NÀY HAY QUÁ!!!

Rất mong tiền bối NCD và Chị Nhím tiếp tục.
Nhưng cứ từ từ... thôi nha. Em còn đọc mà.... Không gấp được! Hi[:D]

Vừa đọc vừa ngẫm, nghĩ cũng phải.... vài tháng đấy.
 
ps: mong các bạn muốn hỏi và thắc mắc gì thì hãy vào phần hỏi đáp.
Phần này chỉ dành để các tiền bối đăng bài thôi.
Như vậy hay hơn phải không các bạn?!
Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở!
Hãy đi tìm, rồi bạn sẽ gặp.
Đăng nhập để trả lời
0
Chào NHIM và NCD Các bạn có thể viết vài ví dụ thực tế về cách luận kết hợp huyền không và bát trạch cho mình và các bạn trên dđ tìm hiểu thêm về phong thuỷ.THÂN CHÀO.
có sức khoẻ không phải là có mọi thứ nhưng mất đi sức khoẻ là mất mọi thứ
Đăng nhập để trả lời
0
                     PHÂN KIM-LẬP HƯỚNG(tt)
 
16/. MÙI LONG :
Mùi Long Nhập Thủ chỉ có 1 Hướng cần lập là : Khôn Sơn Cấn Hướng lây Đinh Mùi làm Chính Khí vào huyệt.
Mùi Long Nhập Thủ thì khí từ bên phải đi xuống, nên đặt thiên về bên phải để lấy khí Đinh Mùi đi suốt vào tai bên phải của Huyệt
Nếu kiêm Sửu Mùi thì chọn Tân Sửu, Tân Mùi lúc phân kim.
Nếu kiêm Dần Thân thì chọn Bính Dần, Bính Thân lúc phân kim.
 
17/. KHÔN LONG :
Khôn Long Nhập Thủ cũng chỉ có 1 Hướng cần lập là Đinh Sơn, Quý Hướng, lấy khí của Giáp Thân làm chính khí vào huyệt.
Khôn Long Nhập Thủ thì khí đi từ bên trái qua, nên đặt thiên bên phải gia thêm nửa phần Thân, để Chính khí Giáp Thân đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
Nếu kiêm Tý Ngọ thì dùng Canh Tý, Canh Ngọ lúc phân kim
Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Đinh Sửu, Đinh Mùi lúc phân kim.
 
18/. THÂN LONG:
Thân Long Nhập Thủ cũng chỉ lập mỗi Hướng : Đinh Sơn, Quý Hướng, lấy Mậu Thân làm chính khí vào Huyệt.
Thân Long Nhập Thủ thì khí đi từ bên trái xuống, nên đăt thiên về bên phải, để lấy khí Mậu Thân Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
Nếu kiêm Ngọ Tý nên chọn Canh Ngọ, Canh Tý lúc phân kim.
Nếu kiêm Mùi Sửu nên chọn Đinh Mùi, Đinh Sửu lúc phân kim.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
19/. CANH LONG :
Canh Long nhập thủ có 2 hướng là :  Dậu Sơn Mão Hướng và Khôn Sơn Cấn hưóng, lấy Ất Dậu làm chính khí vào huyệt.
 a/. Tọa Dậu Hướng Mẹo   : Canh Long nhập thủ, mạch đi từ bên phải xuống thì lập hướng Tọa Dậu Hướng Mẹo, lệch về bên trái gia thêm Thân 1 phân để lấy khí Ất Dậu làm chính khí đi suốt vào tai bên phải huyệt.
  Nếu kiêm Canh Giáp thì nên chọn Tân Dậu, Tân Mẹo lúc phân kim
  Nếu kiêm Tân Ất thì nên chọn Đinh Dậu, Đinh Mẹo lúc phân kim.
 
 b/. Tọa Khôn Hướng Cấn  : Canh Long nhập thủ, mạch đi từ bên trái xuống thì lập hướng Tọa Khôn Hướng Cấn, nên đặt lệch về bên phải, gia thêm Dậu 1 phân để lấy khí Ất Dậu đi suốt vào tai bên trái huyệt.
  Nếu kiêm Mùi Sửu thì nên chọn Tân Mùi, Tân Sửu lúc phân kim.
  Nếu kiêm Thân Dần thì nên chọn Bính Thân, Bính Dần lúc phân kim.
 
20/. DẬU LONG :
Dậu Long nhập thủ có 3 hướng có thể lập là  :  Khôn Son Cấn Hướng, Càn Sơn Tốn Hướng, Hợi Sơn Tị Hướng, lấy Kỷ Dậu làm Chính Khí rót vào huyệt.
  a/. Tọa Khôn Hướng Cấn  : Dậu Long nhập thủ, nếu mạch đi từ bên trái xuống có thể lập Tọa Kôn Hướng Cấn, lệch về bên phải, gia thêm Tân 1 phân để lấy khí Kỷ Dậu đi suốt vào tai bên trái huyệt.
  Nếu kiêm Mùi Sửu nên chọn Tân Mùi, Tân Sửu lúc phân kim.
  Nếu kiêm Thân Dần nên chọn Bính Thân, Bính Dần lúc phân kim.
 
 b/. Tọa Càn Hướng Tốn    :  Dậu Long nhập thủ, nếu huyệt đi từ bên phải xuống có thể lập Tọa Càn Hướng Tốn, đặt lệch về bên trái, gia thêm Canh 1 phân để lấy khí Kỷ Dậu đi suốt vào tai bên phải huyệt.
  Nếu kiêm Tuất Thìn nên chọn Canh Tuất, Canh Thìn lúc phân kim.
  Nếu kiêm Hợi Tị nên chọn Đinh Hợi, Đinh Tị lúc phân kim.
 
 c/. Tọa Hợi Hướng Tị        : Dậu Long nhập thủ nếu huyệt đi từ bên phải xuống có thể lập hướng Tọa Hợi Hướng Tị, đặt thiên về bên trái, gia thêm Canh 1 phân để lấy Chính Khí Kỷ Dậu đi suốt vào tai bên phải huyệt.
  Nếu kiêm Càn Tốn nên chọn Tân Hợi, Tân Tị lúc phân kim.
  Nếu kiêm Nhâm Bính nên chọn Định Hợi, Đinh Tị lúc phân kim.
 
21/. TÂN LONG:
Tân Long nhập thủ có 3 hướng có thể lập : Càn Sơn Tốn Hướng, Dậu Sơn Mẹo Hướng, Khôn Sơn Cấn HƯớng, lấy Bính Tuất làm Chính Khí rót vào huyệt.
  a/. Tọa Càn Hướng Tốn    : Tân Long nhập thủ, nếu huyệt đi từ bên phải xuống có thể lập hướng là Tọa Càn Hướng Tốn, đặt thiên về bên trái, gia thêm Dậu 1 phân để lấy Bính Tuất làm Chính Khí đi suốt vào tai bên phải huyệt.
  Nếu kiêm Tuất Thìn nên chọn Canh Tuất, Canh Thìn lúc phân kim.
  Nếu kiêm Hợi Tị nên chọn Đinh Hợi, Đinh Tị lúc phân kim.
 
  b/. Tọa Dậu Hướng Mẹo    : Tân Long nhập thủ, nếu mạch đi từ bên trái xuống có thể lập hướng Tọa Dậu Hướng Mẹo, đặt lệch về bên phải, gia thêm Tuất 1 phân để lấy Chính Khí Bính Tuất đi suốt vào tai bên trái huyệt.
  Nếu kiêm Canh Giáp nên chọn Tân Dậu, Tân Mẹo lúc phân kim.
  Nếu kiêm Tân Ất nên chọn Đinh Dậu, Đinh Mẹo lúc phân kim.
 
  c/. Tọa Khôn Hướng Cấn   : Tân Long nhập thủ, nếu mạch đi ngang thì nên chọn Tọa Khôn HƯớng Cấn lập huyệt, đặt thiên về bên phải để thu Bính Tuất Chính Khí đi suốt vào lưng bên trái huyệt.
  Nếu kiêm Mùi Sửu nên chọn Tân Mùi, Tân Sửu lúc phân kim.
  Nếu kiêm Thân Dần nên chọn Bính Thân, Bính Dần lúc phân kim.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
22/. TUẤT LONG :
Tuất Long Nhập Thủ chỉ có 1 Hướng khả dĩ lập là Tọa Tân Hướng Ất, lấy Canh Tuất làm Chính Khí rót vào Huyệt.
Tuất Long Nhập Thủ thì khí đi từ bên trái xuống, nên đặt Huyệt thiên về bên phải, gia thêm Dậu để lấy Chính Khí Canh Tuất đi suốt vào tai bên trái Huyệt
Nếu kiêm Dậu Mẹo nên chọn tân Dậu, Tân Mẹo lúc Phân Kim
Nếu kiêm Tuất Thìn nên chọn Bính Tuất, Bính Thìn lúc Phân Kim.
 
23/. KIỀN LONG  :
Kiền Long Nhập Thủ cũng chỉ có 1 Hướng có thể lập là Tọa tân Hướng Ất, lấy Đinh Hợi làm Chính Khí rót vào Huyệt.
Kiền Long Nhập Thủ thì Khí đi từ bên trái xuống, nên đặt Huyệt thiên về bên phải, gia thêm Tuất để lấy Đinh Hợi Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt
Nếu kiêm Dậu Mẹo nên chọn Tân Dậu, Tân Mẹo lúc Phân Kim
Nếu kiêm Tuất Thìn nên chọn Bính Tuất, Bính Thìn lúc Phân Kim
 
24/. HỢI LONG  :
Hợi Long Nhập Thủ có 5 Hướng có thể lập : Tọa Nhâm Hướng Bính, Tọa Càn Hướng Tốn, Tọa Quý Hướng Đinh, Tọa Dậu Hướng Mẹo, Tọa Sửu Hướng Mùi. Lấy Tân Hợi lám Chính Khí rót vào Huyệt
 a/. Tọa Nhâm Hướng Bính  :  Hợi Long Nhập Thủ, mạch đi từ bên phải xuống thì lập Huyệt Tọa Nhâm Hướng Bính, nên đặt thiên về bên Thanh Long, gia thêm nửa phần Càn để lấy Chính Khí Tân Hợi đi suốt vào tai bên phải Huyệt.
 Nếu kiêm Hợi Tị thì nên chọn Tân Tị, Tân Hợi lúc Phân Kim
 Nếu kiêm Tý Ngọ thì nên chọn Bính Tý, Bính Ngọ lúc Phân Kim
 
 b/. Tọa Càn Hướng Tốn      :  Hợi Long Nhập Thủ, mạch đi từ bên trái xuống có thể lập Huyệt Tọa Càn Hướng Tốn, nên đặt thiên về bên Bạch Hổ, gia thêm Nhâm nửa phần lấy Quý Hợi làm Chính Khí đi suốt vào tai bên trái Huyệt.
 Nếu kiêm Tuất Thìn thì nên chọn Canh Tuất, Canh Thìn lúc Phân Kim
 Nếu kiêm Hợi Tị thì nên chọn Đinh Hợi, Đinh Tị lúc Phân Kim.
 
 c/. Tọa Quý Hướng Đinh     :  Hợi Long Nhập Thủ, mạch đi từ bên phải xuống có thể lập Huyệt Tọa Quý Hướng Đinh, nên đặt thiên về bên Thanh Long gia thêm Càn 1 phân, lấy Tân Hợi làm Chính Khí đi suốt vào tai bên phải Huyệt.
 Nếu kiêm Tý Ngọ nên chọn Canh Tý, Canh Ngọ lúc Phân Kim
 Nếu kiêm Sửu Mùi nên chọn Đinh Sửu, Đinh Mùi lúc Phân Kim.
 
 d/. Tọa Dậu Hướng Mẹo     :  Hợi Long Nhập Thủ, mạch đi từ bên trái xuống có thể lập Huyệt Tọa Dậu Hướng Mẹo, nên đặt thiên về Bạch Hổ, lấy Tân Hợi làm Chính Khí đi suốt tai bên trái Huyệt.
 Nếu kiêm Canh Giáp nên chọn Tân Dậu, Tân Mẹo lúc Phân Kim
 Nếu kiêm Tân Ất nên chọn Đinh Dậu, Đinh Mẹo lúc Phân Kim
 
 e/. Tọa Sửu Hướng Mùi      :  Hợi Long Nhập Thủ, mạch đi từ bên phải xuống vòng sang trái xuất ra, có thể lập Huyệt Tọa Sửu Hướng Mùi, nên đặt thiên về bên Thanh Long, lấy Tân Hợi làm Chính Khí đi suốt vào tai bên phải Huyệt.
 Nếu kiêm Quý Đinh nên chọn Tân Sửu, Tân Mùi lúc Phân Kim
 Nếu kiêm Cấn Khôn nên chọn Đinh Sửu, Đinh Mùi lúc Phân Kim.
 
 
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
CỬU CUNG, BÁT SƠN
TỔNG LUẬN
 
Nhà Địa lý Thái Cửu Thăng nói: Người đời nay nói về Lý Khí ở trong miền Bình dương, đại để là không ngoài hai môn: Cửu Cung và Bát Sơn. Cửu Cung thì lấy Bản cục tinh nhập Trung Cung, phi ra 8 phương, lấy phương Sinh Khí và Vượng kHí làm phương tốt lành. Bát Sơn  thì lấy Bản cục quái, khởi sao Liêm Trinh, lấy Tham Lang, Cự Môn, Vũ khúc là 3 sao ở 3 phương đó làm tốt lành.Về định cục và biện quái của 2 môn thì cùng như nhau, nhưng so sánh cái Cát và cái Hung ở 8 phương thì không giống hệt như nhau. Tức là bất đồng. Xem ra tập Can thì chỉ có 1,2 cái là đồng còn 8,9 cái là bất đồng. Vì thế nên người theo môn Cửu Cung thì bảo Cửu Cung là phải; người theo phái Bát Sơn thì cho Bát Sơn là phải. Hai bên mâu thuẫn và tranh cãi rất nhiều, NHƯNG, thực ra, thì do cả 2 phái đều chưa thấu đáo cái LÝ bên trong. Họ có biết đâu Địa Vận có lúc Thịnh, lúc Suy; đắc Vận thì Hưng Vượng, thất Vận thì suy bại. Nếu không tường môn Cửu Cung thì không biết khi nào hưng thịnh, khi nào suy bại, vì Cửu Cung chính là cách xem Khí Vận của Địa cục. Phương vị thì có tinh thuần, có bác tạp. Cho nên mới có câu:
" Âm, Dương tương kiến nhi cát
Âm, Dương tương thừa nhi hung"
( nôm na là có cái Âm, Dương gặp nhau thì Cát, có khi Âm, Dương gặp nhau lại Hung)
Và không có Bát Sơn thì không thể biết khi nào Cát, khi nào Hung vậy.
Bát Sơn là cách xem Thủy định Hướng, nếu không thông tỏ Bát Sơn thì không biết phương vị đó là Cát hay Hung được. Không am hiểu Cửu Cung thì không biết lúc nào Vận Vượng, lúc nào Vận Suy.
Vậy cả 2 môn hỗ tương cho nhau, cùng dùng cả, chẳng thể thiếu một. Nên khi xét phương hướng định vị thì lấy Bát Sơn làm chủ, lấy Cửu Cung để hỗ trợ. Tỷ như Bát Sơn có Cát Địa, Cát Thủy cũng phải đợi đến lúc Vận Vượng mới ứng nghiệm mà phát được.
Nói vậy cũng có nghĩa là: Khi xem xét Khí Vận phải lấy Cửu Cung làm chủ, mà Bát Sơn hỗ trợ thêm. Tỷ như Cửu Cung đã gặp Vận Hưng, nhưng cũng phải có Cát Sơn, Cát Thủy thì mới phát Phú Quý được.
Cho nên, cả 2 môn cũng như Thể, Dụng đi đôi với nhau, không thể tách rời.
Xét về ứng dụng thì thế, xét về phạm vi thì Cửu Cung luận cái Tổng Quát, đại lược của bố cục thôi; còn Bát Sơn thì phải đến trên Huyệt mà định 8 quẻ, mỗi quẻ phân ra 3 sơn, xem Thủy, xét phương một cách chi tiết hơn. Cả 2 môn không thể trộn lẫn mà dùng 1 cách hỗn tạp, mà phải có từng cái Dụng riêng, do đó không có tình trạng dẫm chân nhau như người của 2 phái này thường tranh luận. Vậy ta cũng thấy 2 môn đâu hề mâ thuẫn nhau, chỉ có người học không đến nơi, hiểu không đến chốn mới bình phẩm cái này đúng, cái kia sai, không hề có việc cái này phải, cái kia trái khi xét 1 cuộc đất giửa 2 môn này.
Đại sư Lại Bố Y cho rằng: Bát Sơn dụng Ngũ Quỹ quái, ở trong cái Âm, Dương thuần tịnh có Liêm Trinh, ở cái Âm , Dương bác tạp có Phụ Tinh, chỗ thuần tịnh chẳng phải lúc nào cũng toàn Cát, chỗ bác tạp chẳng phải lúc nào cũng toàn Hung. Âm, Dương cùng gốc, họa phúc cùng chịu. "Cực tắc bất biến" chính là "Thiên đạo chi diệu dã" vậy (Vật đến chỗ cùng cực tất sẽ biến đổi, đó mới đúng là đạo thật hay).  Lý này của Ngài chẳng khác nào Ý Dịch mà NCD mình đã nhiều lần nói với các anh chị, các bạn "Dịch không có tốt, không có xấu, mà tốt xấu cùng 1 chỗ", cũng như vòng tròn Lưỡng Nghi, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, khi đến Thái Dương tất sẽ sinh Thiếu Âm, đến Thái Âm tất sẽ sinh Thiếu Dương vậy.
Theo Ngọc Xích Kinh nói thì miền Bình dương (đồng bằng) chỉ có Tiểu vận thôi, cho rằng ở miền Bình Dương chỉ có Địa cuộc nhỏ sẽ không đắc Đại vận được, nên chỉ luận Tiểu vận. Nếu các anh chị, các bạn còn nhớ, trong bài "Thánh vật sông Tô Lích", NCd mình đã từng nói ở miền Bình dương đa phần là Huyệt Phú, ít có Huyệt Quý, nhưng nếu có thì Huyệt kết sẽ lớn không kém miền sơn cước. Bởi ở vùng đồng bằng cũng có Đại Cán Longkết Huyệt vậy, chẳng những thế, Lực của nó rất lớn, Khí dồi dào, phải lấy Đại vận mà suy xét sự Hưng, Suy của nó vậy.
Tiểu Vận thì lấy 20 năm, đổi thay 1 sao vào giửa Trung Cung mà phi đi.
Đại Vận thì lấy 60 năm ( tương đương 1 Nguyên) cũng lấy 1 sao chủ Đại Vận nhập vào Trung Cung mà thuận phi đi.
Muốn luận đất là Đại địa hay Tiểu Địa phải xem xét cái Địa Cục đó lớn hay nhỏ, dày hay mỏng mà quyết định Sao vào Trung Cung là của Tiểu Vận hay Đại Vận, có vậy mới khỏi lầm lạc khi quyết đoán sự Cát Hung khi 8 sao phi đến 8 phương.
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 13:06:35NCD>
NGỌC XÍCH CHÍNH KINH
SƠN, THỦY, KIẾN, PHÁ ĐỊNH CỤC LUẬN.
 
Đến bất kỳ Hình cục nào, thấy có Sơn thì xem theo Sơn, thấy có Thủy thì xem theo Thủy. Sơn thì xem theo cái thế nó dẫn lại, phải định rõ được đâu là Tổ Sơn (trong Dương Trạch đô thị, thì xem những Cao Ốc lớn là Tổ Sơn), có thế mới xác định được Mạch đi theo Hướng nào đến. Thủy thì xem chỗ nó triều lại, hay nơi nước hội tụ, hay nơi gần Thủy.
Sơn tuy là gốc khởi phát Tinh-phong, nhưng Bản cục mà ta chọn thường xem chỗ kết cục, tức Long dẫn vào. Nếu gần nơi Hình cục không có sơn phong khởi chỏm lên, thì lấy chỗ Lai Long, tức là lấy hướng Mạch lại Huyệt trường. Nếu có sơn phong (núi cao lên) thì Bản cục phải theo chỗ phong khởi mà định.
Thủy tuy gốc ở chỗ Lưu nguyên (phát xuất của nguồn nước), nhưng Bản cục định ở chỗ góc nó triều vào, không có Hợp thủy thì lấy chỗ Thủy hoành nhiễu (quấn quanh ngang mặt). Nếu có chổ Thủy hội họp, thì bản cục lấy ở chỗ hội họp ấy mà quyết.
Vậy thì ở chốn đồng bằng, đô thị lấy chỗ cao hơn làm Sơn, chỗ thấp hơn làm Thủy. Chỗ Sơn khởi phong cao lên gọi là Kiến, chỗ Thủy gặp nhau gọi là Phá. Kiến làm Chủ, Phá làm Khách, Chủ-Khách phối với nhau thì ra quẻ.
Sau khi biết được quẻ gì, sao gì thì lấy đó nhập Trung Cung, phi thuận ra 8 phương để xem Sinh, Vượng, Quan Sát và đoán Cát Hung.
Nói thì khó hiểu, nhưng để mình ví dụ cho dễ hiểu hơn : Tỷ như phương Ly có Thủy thì ta định là Khảm Sơn, phương Càn có Thủy thì ta định là Tốn Sơn
Sơn xuyên Kiến, Phá yếu phân minh
Kiếu thanh hồ, Phá yếu ninh
Cánh trị sơn phương vô khắc sát
Chủ sơn đắc vận, họa nan sinh
Dịch nôm na đại ý thế này: Núi, sông, Kiến, Phá phải rõ ràng, tinh tường. Ở phương Kiến cần phải thanh, sảo, không nên thô ngạnh; phương Phá cần yên tĩnh. Nếu như phương chủ sơn (quẻ, cục) ấy không bị phương ấy khắc sát. Thì lúc chủ sơn đắc vận, tai họa khó mà xâm hại đến được.
Ở nơi núi cao thì lấy chỗ cao làm Kiến, chỗ thấp làm Phá. Nơi đất bằng thì lấy Tọa sơn làm Kiến, hướng triều vào làm Phá. Kiến là Chủ thì nên triều vào và tú lệ, thanh quang. Phá là Khách thì nên vòng cong ôm lại.
Nếu thấy phương Sinh có Cao Sơn mà Thủy uốn vòng quanh, thì con cahú có phước lộc, nếu được chủ Kiến đắc Vận thì đại phát phú quý.
Cũng phân như Cửu Cung trong Huyền Không :
 
Cửu cung Bát Quái thử trung phân
Nhất Bạch Tham Lang , Khảm Thủy thần
Cửu Tử Hữu Bật, Ly Hỏa diệm
Tứ Lục Văn Xương, Tốn Mộc thân.
 
Lục Bạch Vũ Khúc, Càn thuộc Kim
Bát Bạch Cấn Thổ, Tả Phù tinh
Thất Xích Phá Quân, Đoài Kim quản
Tam Bích Chấn Mộc, Lộc Tồn sinh
Ngũ Hoàng Liêm Trinh, Trung cung Thổ
Nhị Hắc Khôn Thổ, Cự Môn hình
Cửu cung ngôi vị tường minh bạch
Cát Hung quyết đoán dữ phân minh.
Tức là : Nhất Bạch sao Tham Lang là Khảm Thủy, Nhị Hắc sao Cự Môn thuộc Khôn Thổ, Tam Bích sao Lộc Tồn thuộc Chấn Mộc, Tứ Lục sao Văn Xương thuộc Tốn Mộc, Ngũ Hoàng sao Liêm Trinh chiếm Trung cung Thổ, Lục Bạch sao Vũ Khúc thuộc Càn Kim, Thất xích sao Phá Quân thuộc Đoài Kim, Bát Bạch sao Tả Phù thuộc Cấn Thổ, Cửu Tử sao Hữu Bật thuộc Ly Hỏa.
Trên là phần giới thiệu về Cửu tinh và cách lập cục, tiếp đến chúng ta tìm hiểu thế nào là Sinh, Sát, Thoái, Tử, Vượng Khí của Cửu tinh
CỬU TINH SINH KHẮC CA
Sinh Khí nguyên lai, sinh ngã thân
Sát tinh khắc ngã, tiệp sinh sân
Ngã nhược sinh tha, vi Thoái khí
Lâm ngộ khắc giã thị Tài thần
Đản vi Tử khí, phi toàn lợi
Dữ ngã tương đồng, Vượng khí chân
Tức là  :  Nếu nó sinh ta thì đó là Sinh Khí, nó khắc ta là Sát Khí, ta sinh nó là Thoái Khí, ta khắc nó thì đó Tài Khí tuy nhiên đó là phương Tử Khí thì cũng chẳng ích lợi gì, cùng ngũ hành với ta đó là Vượng Khí.
Khi đến Cuộc thế đất, ta xem phương khởi phong (núi cao lên), xem nơi nào gần nước thì lấy chỗ đó mà định quái cục Quái cục đã định được rồi thì lấy Sao bản quái đó nhập vào Trung cung, thuận phi 8 phương, xem phương nào Sinh , Khắc,...
Ví dụ  : Ta có phương Ly gần nước, tức lấy Bản quái cục là Khảm. Xem trên kia thì thấy " Nhất Bạch Tham Lang, Khảm Thủy Thần", vậy thì ta lấy Nhất Bạch nhập Trung Cung thuận phi đi 8 phương, Nhị Hắc ở Càn là Sát Khí phương, Tam Bích ở Đoài là Thoái Khí phương, Tứ Lục đến Cấn cũng là Thoái Khí phương, Ngũ Hoàng đến Ly là Sát Khí phương, Lục Bạch đến Khảm là Sinh Khí phương, Thất Xích đến Khôn là Sinh Khí phương, Bát Bạch đến Chấn là Sát Khí phương, Cửu Tử đến Tốn là Tử Khí phương.
Sao tại Trung Cung làm chủ, các sao phi đến các phương đều so đối với nó mà xét sự Sinh, Khắc, Sát, Tử, Thoái. Cho nên khi so đối ra, Nhị Hắc đến Càn không phải so với bản cung Càn Kim đó, mà so với Nhất Bạch ở Trung Cung, Thổ khắc Thủy, nên đó mới là phương Sát Khí. Các cung , sao khác cũng tương tự vậy mà tính.
 
 
 
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 13:05:55NCD>
CỬU TINH ĐẠI CỤC
 
Đây là thực tế chúng ta thấy nhiều nhất : Cũng trên Trái Đất như nhau, cũng cùng 1 thời điểm, mà Đông, Tây, Nam, Bắc khác nhau; nơi là ngày, nơi là đêm, nơi là trưa, nơi là chiều, nơi thì nóng, nơi thì lạnh, nơi mát mẻ, nơi ấm áp, nơi mưa rào, nơi khô hạn,....điều này thì có lẽ ai cũng lý giải được. Và câu đơn giản nhất để trả lời là : Trời Đất xoay vần.
Đúng vậy. Chính do Trái Đất còn xoay, Vũ Trụ còn biến di nên Tinh tú chuyển dời. Cũng chính vì vận hội độ số do Thiên, Địa tuần hoàn ấy mà Âm phần có khí Vượng Suy, Dương Trạch có lúc hưng phát, lúc phế bại, cũng vì vậy mà ảnh hưởng đến con người chúng ta. Đã biết đấy là quy luật tuần hoàn của Thiên Địa, ảnh hưởng đến cả muôn loài, muôn vật, thì tất cả đều không tránh khỏi quy luật " Cấu, Tạo, Hóa, Thành" của Dịch, và " Sinh, Lão, Bệnh, Tử" của Đạo tự nhiên, nhất giai đồng thụ, chẳng riêng loài nào. Chỉ có những ai am hiểu Lường Thiên Xích, thông tỏ Thiên Văn Địa Lý mới có thể biết trước : gặp vận tốt thì phước hạnh sẽ tăng thêm, gặp vận rủi thì ẩn thoái để giảm thiểu hung tai. Vận tốt tức là Địa cục gặp được Sinh Khí, Vượng Khí. Vận xấu là gặp Sát Khí, Tử Khí dẫn lại. Chỉ có những người vô tri, không hiểu biết mới lo sợ, bởi người hiểu biết thì đối diện với vận xấu, nương theo nó mà Chiết giải.
Vận là luân thứ của Cửu Tinh cai quản 8 sơn, phân làm Tam Nguyên, mỗi nguyên có 60 năm.
_ Thượng Nguyên
_ Trung Nguyên
_ Hạ Nguyên
THƯỢNG NGUYÊN :  Do sao Nhất Bạch thống trị, 2 sao Nhị Hắc và Tam Bích là phụ lực.
TRUNG NGUYÊN   :  Do sao Tứ Lục thống trị, Ngũ Hoàng và Lục Bạch là 2 sao phụ lực
HẠ NGUYÊN         :  Do sao Thất Xích làm chủ, Bát Bạch và Cửu Tử là 2 sao phụ lực.
 Trong Nguyên là Chính Vận Khí, ngoài Nguyên là Dư Khí. Dư Khí là Khí đã hết, thì dẫu là Đại địa cũng nghỉ, không phát phúc nữa. Nếu Long Mạch kết Huyệt hùng hậu, thì còn được bình bình, không gặp tai họa; nếu Long Mạch bạc nhược, nhỏ yếu thì còn biến động, tai họa bất thường.
 Đa số thấy những nhà chỉ có 1 ngôi Âm Phần hay 1 ngôi Dương Cơ kết phát thôi, nhưng trước sau hưởng phước khác nhau, người không hiểu thì nghi ngờ, cho là Địa lý không đủ để tin. Họ có biết đâu Mộ, Trạch không thay đổi, nhưng Nguyên, Vận tự chuyển biến theo thời gian tất có sự thay đổi họa, phước trước sau.
NGUYÊN VẬN  :  Thượng Nguyên Giáp Tý thì sao Nhất Bạch ở Khảm làm chủ thống trị, Nhị Hắc là Khôn và Tam Bích là Chấn là phụ trị trong suốt 60 năm. Sao Nhất Bạch quản 20 năm đầu, tức 10 năm thuộc về Giáp Tý, 10 năm thuộc về Giáp Tuất; kế đến là sao Nhị Hắc quản 20 năm kế, tức 10 năm thuộc Giáp Thân và 10 năm thuộc Giáp Ngọ; sau cùng là sao Tam Bích quản 20 năm cuối, tức 10 năm thuộc Giáp Thìn và 10 năm thuộc Giáp Dần. Đến năm Quý Hợi thì đủ 60 năm, hết Thượng Nguyên. Tuy nhiên, trong cùng 1 Nguyên Vận mà phát phúc cũng có trước sau, nhiều ít bất đồng, là do Địa cục đó thừa Vượng Khí ở Bát Sơn thế nào.
Trung Nguyên Giáp Tý thì Tứ Lục là Tốn làm chủ thống trị, Ngũ Hoàng Trung Cung và Lục Bạch Càn là 2 sao phụ trị. Cách quản trong Trung Nguyên cũng chia như trên.
Hạ Nguyên Giáp Tý thì sao Thất Xích ở Đoài sẽ thống trị, và 2 sao Bát Bạch ở Cấn và Cửu Tử ở Ly phụ trị.
Xét các Địa cục trước nay theo lịch sử thì Khảm Ly là Trung khí của Thiên Địa, là phương vị thuộc về Trung nam, Trung nữ. Khảm Ly ở Hậu Thiên cũng chính là Càn Khôn ở Tiên Thiên, vì Mậu-Kỷ là Chân Thổ tàng trú ở trong đó, nên thấy rất nhiều đất ở 2 Địa cục này vượng cả 3 Nguyên không suy bại.
Chấn cục thuộc Mộc thì lấy là "bản tráng, căn thâm" (gốc lớn mạnh, rễ sâu). Đoài thuộc Kim thì lấy là nhỏ bé mà bền cứng, vả lại là cửa ngõ của vòng Nhật, Nguyệt, tượng trưng là khí hậu ôn hòa của mùa xuân, mùa Thu. So sánh với Khảm Ly cũng là thứ hạng.
Cấn thuộc Thổ thì tượng trưng là Sơn, mà núi thì không thể di dịch, vì chất kiên cố, nên cũng bền lâu ví với Chấn, Đoài.
Kiền là "lão cang chi kim" (vàng già cứng), Khôn là "ký sản chi thổ" ( đất đã sinh sản rồi), Ngũ Hoàng Trung Cung là "liêm trinh chi hỏa" ( lửa nóng dữ) cũng không có căn nguyên, chỉ nương tựa vào vật khác mà cháy bùng lên và dễ tàn lụi, nên tất cả đều không được bền lâu.
Tốn là "trĩ mộc kỳ hoa" ( cây non, hoa đẹp) sáng sủa, xinh tươi, nhưng không quen chịu gió mưa, nên dễ suy tàn.
Trong Long Mạch Âm Phần của Cửu Cung có khác so với Dương Cơ. Những Long Mạch thuộc về Thượng Nguyên đều vượng về Trung Nguyên, những Long Sơn thuộc về Trung Nguyên cũng Dự Vượng về Thượng Nguyên, những Long thuộc về Hạ Nguyên thường có Dư Lực vượng về Thượng Nguyên. Đây là Định Vận, Long vận tuy định nhưng cũng cần phải xem rõ cái Địa lực,, Long Mạch hùng hậu thế nào, và Phiên Tinh quái phải thuần khiết, dẫu gặp vào vận bại cũng chỉ là nghỉ, không phát phước nhưng còn tự giử được. Nếu Địa mạch nhược bạc, Tinh Quái lại hỗn tạp, dẫu gặp Vận vượng, dù có phát phước cũng gặp nhiều nghiêng ngã bất ngờ, ngũ phước không trọn vẹn..
Xưa nay đã thấy : Chỉ có 1 ngôi Âm Phần, Dương Cơ kết phát, khi hết Vượng vận thì thường không thể khiên chế nổi. Nếu có 2 ngôi, 1 ngôi suy, 1 ngôi Vượng thì 2 cái lại đương đối, khống chế lẫn nhau, cũng được hưởng phước lộc bình thường, NHƯNG cũng phải nhận rõ Lực Địa của 2 ngôi lớn nhỏ thế nào để quyết định cho chính xác, 1 cái Vượng chẳng chống nổi 2 cái Suy, thì cái Suy hay tác hại; 1 cái Suy, 2 cái Vượng thì cái Suy không địch nổi, thì cái Vượng vẫn hay phát phúc. LƯU Ý : Cái Đại Cát thì mới có thể quét sạch được cái Tiểu Hung.
Vậy được mộ cha, ông rồi, cũng cần thiết đến cả những mộ Tổ Tiên ở 4,5 đời trước, thì phước ấm mới mỹ mãn bền lâu, không bị biến đổi; nếu không cũng phải xét đến ngôi Dương Cơ mình đang trú ngụ, không được tính toán sai lầm về Nguyên Vận, Phiên Quái cho Bát Sơn.
Tóm lại, tìm được cái Đại Địa mà không đúng Nguyên Vận không bằng tìm được cái Tiểu Địa mà đắc vượng khí. Bởi đời người chúng ta chỉ có 60 năm, đợi hết Nguyên suy đền Nguyên vượng...60 năm (có thể hơn nữa) mà hưởng phước e không thể, lúc đó chắc đã "gia phá thân vong" mất còn đâu. Cho nên các bậc Thầy Địa lý xưa hay chỉ người ta khai mở chỗ này, lấp chỗ kia, hầu tìm chỗ đắc Vượng Khí trong Bát Sơn mà phát phúc.
 
***Riêng bản thân mình nhìn thấy nhiều cuộc mộ Tốn cục vẫn phát phúc lâu dài, không như Tiền nhân luận định trong sách, mình không dám Vọng Ngữ phê phán các bậc tiền nhân là sai lầm, chỉ đưa ra để các anh chị, các bạn để ý xem thử thế nào hầu rút kinh nghiệm.
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 13:05:25NCD>
BÁT SƠN SUY VƯỢNG TẾ PHÁP
 
Lục Bạch: Vượng Tướng tại Thượng Nguyên
Thất, Bát hưng long tại Hạ Nguyên.
Tam, Tứ lưỡng sơn trùng lục thập.
Khôn sơn trung vị hạ đầu liên.
Duy hữu Cửu Tử dữ Nhất Bạch
Thượng vỉ, Trung đầu, Ngũ thập niên.
_ Thượng nguyên Nhất Bạch chủ sự: Khảm Chấn Tốn Khôn cát, Ly hung.
_ Trung nguyên Tứ Lục chủ sự: Ly Khảm Càn Đoài cát, Khôn Cấn hung
_ Hạ nguyên Thất Xích chủ sự: Khảm Ly Khôn Cấn Đoài cát, Chấn Tốn hung.
Giải nghĩa:
Xét kỹ về phép Suy và Vượng ở Bát sơn tức là tám phương:
_ Lục Bạch thuộc về Càn thì Vượng về Thượng nguyên.
_ Thất Xích thuộc về Đoài, Bát Bạch thuộc về Cấn, tức Đoài Cấn hai phương thì hưng long về Hạ nguyên
_ Tam Bích thuộc về Chấn, Tứ Lục thuôc về Tốn , tức Chấn Tốn hai phương thì hưng vượng về 60 năm ở Trung nguyên
_ Khôn phương thì Vượng về cuối ở Trung Nguyên và đầu Hạ nguyên
_ Chỉ có Ly phương và Khảm phương là hai phương cùng Vượng về cuối Thượng nguyên và đầu Trung nguyên.
Thượng nguyên thì sao Nhất Bạch cầm đầu trị sự cả 60 năm, thì phương Khảm Chấn Tốn Khôn phương tốt lành, phương Ly thì hung bại.
Trung nguyên thì sao Tứ Lục đứng đầu trị sự cả 60 năm, thì phương Ly Khảm Càn Đoài bốn phương tốt lành, Khôn Cấn là hai phương hung bại
Hạ nguyên thì sao Thất Xích đứng chủ quyền trị sự cả 60 năm thì phương Khảm Ly Khôn Cấn Đoài là năm phương tốt lành, Chấn Tốn hai phương hung hại.

BÁT SƠN SINH SÁT KHÍ PHÁP
 
Về phép Sinh hay là Sát của 8 phương thì lấy Sao Chủ Vận làm chủ:
_ Khắc Chủ Vận gọi là Tử khí
_ Sinh Chủ Vận gọi là Thoái khí
_ Chủ Vận sinh vào mình thì gọi là Sinh khí
_ Chủ Vận khắc vào mình thì gọi là Sát khí
_ Cùng hoà với Chủ Vận gọi là Vượng khí
Vì dụ như: Hiện nay là Bát Bạch đang làm Chủ Vận, thì Càn cục, Đoài cục làm Sinh Khí; Cấn Khôn cục là Vượng Khí; Khảm cục là Sát Khí; Chấn Tốn cục là Tử Khí; Càn Đoài cục là Sinh Khí; Ly cục là Thoái Khí.
Trên đây là Sinh, Sát...Khí lấy Chủ Vận tinh phân ra. So với cái Sinh, Sát...Khí của 8 phương phân ra thì khác, không cùng một phép. Xin hãy nhận chân cho rõ!
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 13:05:03NCD>
TINH PHÙ THIÊN

Khí hoá lưu hành suốt trong bầu trời, quả đất và các vì tinh tú chuyển vần...vv... hết thảy đều do Cửu Tinh chủ trị cả. Danh hiệu của Cửu Tinh:
_ Thiên Hoàng Đại Đế tức Tôn Tinh.
_ Tử Vi Đại Đế tức Đế Tinh.
_ Bắc Đầu thứ nhất tức Tham Lang Tinh.
_ Bắc Đẩu thứ nhì tức Cự Môn Tinh.
_ Bắc Đẩu thứ ba tức Lộc Tồn Tinh.
_ Bắc Đẩu thứ tư tức Văn Khúc Tinh.
_ Bắc Đẩu thừ năm tức Liêm Trinh Tinh.
_ Bắc Đẩu thứ sáu tức Vũ Khúc Tinh.
_ Bắc Đẩu thứ bảy tức Phá Quân Tinh.
Hai vị Tôn Tinh và Đế Tinh lại hoá ra hai sao Tả Phù và Hữu Bật, hai sao kèm ở hai bên ngôi Vũ Khúc, đều là ở ngoài ngôi cao của Tử Vi Viên mà làm chủ tể cả Thiên Địa, quay chuyển Tạo Hoá, dưới thì thi hành ở Địa cầu hoá sinh muôn vật. Tất cả những việc liên quan đến Thỏ, Yểu, Cùng, Thông trong sinh mệnh của con người đều hệ thuộc ở đó mà ra cả. Cái Địa Khí tuy phát sinh dưới lòng đất, nhưng thực ra nó cũng hợp nhất với Thiên Khí trên trời. Do vậy, cái hay, dỡ của đất đai địa cục phải theo ở Cửu Tinh mà xét đoán, cho nên mới gọi là Huyền Không Bát Quái Ngũ Hành pháp. Như Kiền, Khôn, Cấn Tốn, Khảm, Ly, Chấn, Đoài cái thứ tự hào quái của nó tự nhiên đã có như thế, không phải người tạo ra mà được. Tuy thấy điên đảo thác loạn mà cùng hợp bên trong, trong cái bất đồng lại có cái qui hợp đại đồng (điều này cũng tương ứng trong Ý Dịch, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, thấy tốt mà ẩn cái xấu, thấy xấu mà tàng chứa cái tốt, tốt xấu cùng một lúc, "vạn thù qui nhất bổn, nhất bổn tán vạn thù"). 
Quái thì lấy Kiền Khôn làm Phụ Mẫu, lấy lục hào làm Tử tôn. Hai mươi bốn phương vị lại lấy Bát Quái làm Phụ Mẫu, lấy Can Chi nạp giáp vào mà làm Tử tôn vậy.
Bởi Long Mạch là Địa Khí, mà Địa Khí thì nặng và đục, nên ba phương vị qui vào một quái. Tinh là Thiên Khí, mà Thiên Khí thì nhẹ và trong, nên hai mươi bốn phương vị tự phân hành đi nhưng vẫn lệ thuộc vào quái nạp giáp, lấy cách một cung làm Địa Mẫu Quái. Mà Địa và Mẫu vốn mang tính chịu đựng, thu nạp (như chúng ta đổ nước hoa xuống đất, đất có khen thơm chăng? Chúng ta xả rác xuống đất, đất cò chê hôi hay phiền trách chăng?), nên Lập Hướng lấy Nạp Thuỷ làm chủ yếu.
Lấy bản cung đối xứng làm Thiên Phụ Quái, Thiên và Phụ vốn là tính trải ra, phản hồi (như chúng ta thả khói ô nhiễm vào bầu trời, tất lãnh ngay hậu quả phản hồi "lỗ thủng tầng ô zôn"), nên Tiêu Thuỷ làm chủ yếu.
Tham, Cự, Vũ, Phụ ở Thiên Phụ Quái. Văn, Lộc, Phá, Liêm ở Địa Mẫu Quái. Người biết Thu được cái Thuỷ của Tam Cát (Tham, Cự, Vũ), biết tiêu được cái Ác khí của Tứ Hung (Phá, Lộc, Văn, Liêm) thì bất kỳ cục địa nào cũng có thể trở nên tốt lành. Vậy ở hai bên trái phải của quái như có Sa, Thuỷ Cát tú thì nên ở phía trước, không nên ở đằng sau. Điều này cũng ví như bầy tôi với vua chúa vậy, hướng chầu vào vua là kẻ phò tá, trung thần; quay lưng vào vua là phản bội, gian thần vậy. Sa, Thuỷ, Long, Hướng chỉ nên thu cái tam Cát và Phụ Bật thôi, không nên làm phạm vào phương vị của Tứ Hung.
Cái Thuỷ Lai ở những phương Cát ấy phải cực thanh. Nếu cả hai cái Thuỷ Cát Hung cùng đến Huyệt, thì cái Thuỷ Cát ứng Cát, cái Thuỷ Hung ứng Hung. Nếu cả Cát và Hung cùng hợp vào một cung mà dẫn vào Huyệt, thì trong cái tốt có cái xấu, bán Cát bán Hung.
Còn cái Ảnh diệu, tức cái bóng ánh nước chiếu, nếu không trông thấy nước ở Nội Minh Đường, hay ngắn gọn hơn, không thấy ánh nước chiếu vào Huyệt, là ẩn mà không thấy, thì cái Phước, cái Hoạ chưa ứng nghiệm. Chính vì Thuỷ là cái gốc gây ra Phước, Hoạ cho Địa Huyệt vậy. 
Thường có cái nhà nhỏ, thấp của người nghèo lại phát phước dần dần; mà cái nhà lầu cao của người giàu lại thoái bại dần, là do bới thấy cái Hung Thuỷ ở bên ngoài vậy. Có nhiều cái Huyệt thuở ban đầu không phát, sau trồng cái cây cao, hay tự nhiên có cây cao mọc lên mà phát quý, đó là do cái Cát Thuỷ bên ngoài ứng chiếu vào vậy.
Còn cái Chuyển diệu, là cái sao luân chuyển đi, khiến sinh có cái Hướng Cát mà trở thành Hung, có cái Hướng Hung mà phản lại thành Cát. Trong cái Hướng mà có Thuỷ Lai là hướng Thực, trong cái Hướng mà có Thuỷ Khứ là hướng Hư, nên cái Cát mà thành Hung, cái Hung mà thành Cát là vì thế. 
Vậy cái Tinh quái ở chỗ Khứ Thuỷ phải lấy ở chỗ cửa khẩu Tiêu Thuỷ gần với Nội Minh Đường, lấy chỗ Thuỷ gẫy khúc lần thứ nhất là đúng. Sau chỗ Thuỷ gẫy khúc đã chảy đi rồi, mà trong chỗ Huyệt kết lại thấy cái bóng của Thuỷ Khứ nữa, cái ấy gọi là chỗ Ngoại lưu. Còn cái Khứ Thuỷ mà tiêu đi không hết, là ở chỗ cửa nước tiêu đi, lại khai ra cái vũng chứa nước, hoặc cái đầm, ao để làm cho cái Khứ Thuỷ ấy chứa lại, thì cái Cát Hung tất nhiên cũng có sự điên đảo, nên xem xét cẩn thận, bởi chỗ ấy là Nguyên khí thịnh vượng, nước tiêu đi mà còn trở lại ( Cái này trong Dương Trạch thường rất hay gặp, nhiều nhà hay làm hố ga chưa nước lại trước khi thoát đi ra, cần phải chọn vị trí cho đúng, không khéo mà gặp hoạ . Cẩn thân! Cẩn thận!).
Đây chính là dụng pháp của Ai Tinh, là cái bí quyết ẩn tàng của Thiên Địa. Xưa có câu: Hữu nhân đắc thức Ai Tinh quyết, chiêu thị phàm phu mộ thị Tiên. Nghĩa là: Có người nào biết được phép Ai Tinh thì buổi sớm là kẻ trần tục, buổi tối đã là bực Tiên rồi. Tức là người nào biết sử dụng được phép Ai Tinh, thì Tạo Hoá ở cả trong bàn tay rồi, hô hấp quán thông đến tận cả trời xanh. Cổ nhân truyền cho cái hay mà không truyền cho cái thuyết, thật là bí hiểm, có lẽ còn theo về Duy Tâm, sơ e Thiên nộ vì tiết lậu Thiên cơ.
Còn những chổ gần biển, có nước biển dâng lên, rút xuống, thì lấy chỗ cửa ra biển là nơi Thuỷ Khứ. Nghĩa là cái nước Hải Triều chảy ngược lên, không phải là cái Thuỷ Lai. Đó là Lạc Thuỷ Quy Nguyên, ở khoảng đó là Lưu Tinh, đạo lý tự nhiên của Thiên Địa, do sự hô hấp của Âm Dương mà thăng giáng như vậy.
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 13:04:34NCD>
PHIÊN QUÁI QUYẾT

LY    TỐN    KHÔN    ĐOÀI
KIÊN  CẤN   KHẢM    CHẤN

Khời Tham Lang pháp và Liêm Trinh pháp:
_ Khôn tòng Ly khởi, Ly tòng Khôn khởi.
Nghĩa là: Khôn cục thì khởi tinh ở cung Ly, Ly cục thì khởi tinh ở cung Khôn. Đây là pháp cách cung khởi tinh.
_ Kiền tòng Đoài khởi, Đoài tòng Kiền khởi.
Nghĩa là: Kiền cục thì khởi tinh ở cung Đoài, Đoài cục thì khởi tinh ở cung Kiền. Đây là pháp đối cung khởi tinh.
Thu Lai Thuỷ (nước chảy lại) thì lấy bản cục cách một cung khởi tinh. Hễ được Tham, Cự, Vũ, Phụ là Cát tinh thì tốt. Tức là quẻ Ngũ Quỹ tức vị vi khởi Liêm Trinh, đó là khởi Liêm Trinh trước (theo thứ tự Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn).
Tiêu Khứ Thuỷ (nước tiêu chảy đi) thì lấy bản cục đối cung để khởi tinh, hể được Tham, Cự, Vũ, Phụ là Cát tinh thì tốt. Tức là quẻ Thiên Định  (Thiên Định Quái) thì khởi Tham Lang trước (Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ).

Tinh quái định cục:
_ Quẻ Ngũ Quỹ: Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn.
_ Quẻ Thiên Định: Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ.
Dưới đây NCD sẽ kê ra sẵn theo từng cục với hai cách phiên tinh của hai quẻ trên, lần lượt theo thứ tự các sao như trên, hàng trên là khởi theo Ngũ Quỷ pháp, hàng dưới là theo Thiên Định pháp (hay còn gọi là Tham Lang pháp):

ĐOÀI CỤC:
_ Đoài, Chấn, Khôn, Khảm, Tốn, Cấn, Ly, Kiền.
_ Kiền, Ly, Cấn, Tốn, Khảm, Khôn, Chấn, Đoài.

CHẤN CỤC:
_ Chấn, Đoài, Khảm, Khôn, Cấn, Tốn, Kiền, Ly.
_ Ly, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn, Khảm, Đoài, Chấn.

KHÔN CỤC:
_ Khôn, Khảm, Đoài, Chấn, Ly, Kiền, Tốn, Cấn.
_ Cấn, Tốn, Kiền, Ly, Chấn, Đoài, Khảm, Khôn.

KHẢM CỤC:
_ Khảm, Khôn, Chấn, Đoài, Kiền, Ly, Cấn, Tốn.
_ Tốn, Cấn, Ly, Kiền, Đoài, Chấn, Khôn, Khảm.

TỐN CỤC:
_ Tốn, Cấn, Ly, Kiền, Đoài, Chấn, Khôn, Khảm.
_ Khảm, Khôn, Chấn, Đoài, Kiền, Ly, Cấn, Tốn.

CẤN CỤC:
_ Cấn, Tốn, Kiền, Ly, Chấn, Đoài, Khảm, Khôn.
_ Khôn, Khảm, Đoài, Chấn, Ly, Kiền, Tốn, Cấn.

LY CỤC:
_ Ly, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn, Khảm, Đoài, Chấn.
_ Chấn, Đoài, Khảm, Khôn, Cấn, Tốn, Kiền, Ly.

KIỀN CỤC:
_ Kiền, Ly, Cấn, Tốn, Khảm, Khôn, Chấn, Đoài.
_ Đoài, Chấn, Khôn, Khảm, Tốn, Cấn, Ly Kiền.

Chẳng lẽ mỗi lúc cần xem lại lấy bảng này ra xem, hay phải nhớ thứ tự của cả bảng 8 cục với hai cách tính, thật là khó khăn, nên NCd sẽ chỉ công thức cho cả hai cách phiên quái này, các anh chị, các bạn chỉ cần biết cách tính, còn nhớ thì chỉ cần nhớ thứ tự sao theo thứ tự mỗi lần biến là đủ.
1/. Cách tính cho quẻ Thiên Định:
Lần thứ nhất biến hào thượng.
Lần thứ nhì biến hào trung.
Lần thứ ba biến hào hạ.
Lần thứ tư biến hào trung.
Lần thứ năm biến hào thượng.
Lần thứ sáu biến hào trung.
Lần thứ bảy biến hào hạ.
Lần thứ 8 biến hào trung trở về Nguyên vị.

Ví dụ: Càn cục khởi quái: Lần thứ nhất biến hào thượng thành quẻ Đoài, lần thứ nhì biến hào trung thành quẻ Chấn, lần thứ ba biến hào hạ thành quẻ Khôn, lần thứ tư biến hào trung thành quẻ Khảm, lần thứ năm biến hào thượng thành quẻ Tốn, lần thứ sáu biến hào trung thành quẻ Cấn, lần thứ bảy biến hào hạ thành quẻ Ly, lần thứ tám biến hào trung trở về Nguyên vị là quẻ Càn.

2/. Cách tính cho quẻ Ngũ Quỹ:

Lần thứ nhất giử nguyên vị.
Lần thứ nhì biến hào trung.
Lần thứ ba biến hào hạ.
Lần thứ tư biến hào trung.
Lần thứ năm biến hào thượng.
Lần thứ sáu biến hào trung.
Lần thứ bảy biến hào hạ.
Lần thứ tám biến hào trung.

Ví dụ: Cũng là Càn cục khởi quái: Lần thứ nhất giử Nguyên Vị quẻ Càn là Phụ, lần thứ nhì biến hào trung thành quẻ Ly là Vũ, lần thứ ba biến hào hạ thành quẻ Cấn là Phá, lần thứ tư biến hào trung thành quẻ Tốn là Liêm, lần thứ năm biến hào thượng thành quẻ Khảm là Tham, lần thứ sáu biến hào trung thành quẻ Khôn là Cự, lần thứ bảy biến hào hạ thành quẻ Chấn là Lộc, lần thứ tám biến hào trung thành quẻ Đoài là Văn.
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 13:04:04NCD>
SANH KHÍ QUYẾT
Sinh Nguyên khí tụ xuất danh thần
Hiếu hữu trung lương tá thánh quân
Chập chập tử tôn hành hiếu nghĩa
tự nhiên phú quý vạn niên xuân
Nghĩa là: Vị sao làm chủ cái Nguyên ấy là Sinh-bản-cục, mà thấy khí tụ ở ohương ấy tất sanh được bậc danh thần, là người trung lương hiếu nghĩa phò tá vua, giúp nước; con cháu đông đảo, tất thảy đều là người hiếu nghĩa; tự nhiên giàu sang trường thịnh muôn năm vẫn còn.
Những phương là Sinh Khí, mà có đồi núi cao, hoặc Thuỷ lưu, Thuỷ tụ, tú lệ hữu tình, từ ngoài xa triều lại, là được Khôi tinh tương tá. Những phương Quan sát thấp phục, thì đại phát tài lộc, đời đời làm quan. Sơn cương, Thuỷ lộ đoản, tiểu cũng được tiểu phú quý. Nếu không có Sơn Thuỷ thì bất Cát.

VƯỢNG KHÍ QUYẾT
Sơn gia Vượng khí uất Liêm Trinh
Tú lệ ứng tri Cát sở chung
Ác diệu, thô ngoan tính phản bối
Quan tinh xung phá dữ vi hung.
Nghĩa là: Ở phương là Vượng Khí mà có núi cao ngùn ngụt vót lên, thấy tốt đẹp (tú lệ) thì biết khí chung tụ nhiều lắml nếu là đơn độc, thô xuẩn, to ngạnh và lưng phản lại, và quan tinh xung phá, vậy là hung.
Ở phương là Vượng Khí, mà có núi nhọn cao, ôm ấp; hoặc có Tú Thuỷ vòng quanh triều vào là Đại Cát lợi. Nếu Sơn xấu, Thuỷ trực thì không phải là tốt đẹp. Nếu gồm cả Quan sát lại xung thì biến làm Hung.

TỬ KHÍ QUYẾT
Thuỷ lộ, Sơn cương phạm Tử thần
Gia môn tịch tịch chủ cô bần
Lãnh thoái, tai truân, tần nhạ hoạ
Khan khan hậu đại tuyệt vô nhân.
Nghĩa là: Nước và núi đồi phạm vào phương Tử khí nên cửa nhà vắng vẻ, bị cô quả, bần hàn, lạnh lẽo, thoái bại cả người lẫn của, tai hoạ gây ra luôn luôn, xem thấy đời sau tuyệt tự không sai

THOÁI KHÍ QUYẾT
Thoái khí nguyên lai tối bất lương
Thời nhân phạm chước hoạ nan đương
Doanh mưu tất bản, đồ ta thán
Gia đạo tiêu điều, khởi hoạ ương
Nghĩa là: Phương Thoái Khí nguyên là phương rất xấu, không lành, người nào bị phạm ứng vào thì tai hoạ khó tránh khỏi, mưu sự buôn bán thì mất cả vốn, luống những than phiền, gia đạo bị tiêu điều, đầy dẫy tai nạn, thiệt hại khởi lên.
Hai phương Tử Khí và Thoái Khí đều là bất lợi cả, nhưng Sơn củng, Thuỷ nhiễu thì cũng còn không đến nỗi. Tuy không phát quý, nhưng tài lộc còn khá, không bị tuyệt sản nghiệp. Vậy nên Sơn, Sa phải đê phục, bình thản, Thuỷ khộng nên chảy đi ở phương Thoái khí, nếu Trực khứ thì tiết hết cục khí, tức là Ngã thân Tuyệt khí, cực kỳ hung hại. Cẩn thận!
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 4 5 6 7 8 » »»