Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

THÀNH NGỮ - TỤC NGỮ VẪN C

10 trả lời, 20.968 lượt xem — Trang 1 / 1
Chờ được mạ, má đã sưng

 


Mạ, tiếng địa phương là mẹ. Thành ngữ "chờ được mạ, má đã sưng" có nghĩa là chờ được mẹ ra thì đã bị đánh sưng má rồi. Câu này có ý khuyên không nên ỷ lại, phải biết tự lực trong cuộc sống. Chờ được sự giúp đỡ của người khác, có khi đã bị thiệt hại rồi.

Thành ngữ này có lẽ đã xuất hiện ở địa phương dùng từ mạ để chỉ mẹ, cho nên khi thành ngữ này được "truyền khẩu" sang các vùng khác thì đâm khó hiểu và do âm vạ gần với mạ nên câu thành ngữ được tách thành một dị bản sai: "Chờ được vạ, má đã sưng". Mà nói như thế về ý nghĩa cũng có vẻ xuôi xuôi vì vạ là từ cổ, có nghĩa phạt (bắt vạ, ngả vạ) hoặc tai họa (bị vạ), nhưng lâu nay người ta đã hiểu vạ khác đi với nghĩa "được cuộc", "được kiện". Do đó thành ngữ này từ lâu cũng được dùng trong những trường hợp có chuyện "được thua".

Nhưng thực ra, vạ với nghĩa cổ phạt và tai họa thì không phải là thứ mong được. Trong làng xóm xưa kia có lối phạt vạ những ai vi phạm lệ làng, trong đó có hình thức phạt là: cả làng kéo đến nhà người bị phạt để ngả vạ, nghĩa là bắt sự chủ làm cỗ cho mà ăn, nên được vạ là không chính xác. Người ta chỉ nói phạt vạ, bắt vạ, ngả vạ, gieo vạ, đổ vạ, nộp tiền vạ...

Có sách từ điển định nghĩa chờ được vạ là "chờ được xét xử bồi thường". Định nghĩa như thế thật khiên cưỡng, thiếu chính xác.
Đăng nhập để trả lời
0
CÒNG CÒNG BIẾT NUÔI CON




Còng còng sinh sống trên bãi cát với số lượng lớn và không ai biết cách thức sinh sống của chúng. Chúng cứ đàn lũ lớn lên, không cần biết đến thời tiết, thời vụ hoặc các biến đổi khác. Khi có động, chúng chạy tản ra, chui nhanh vào các lỗ đào sẵn. Con lớn vào lỗ lớn, con bé vào lỗ bé. Im tiếng động, chúng lại bò ra, tụ tập lại với nhau cứ như đã được dạy bảo, luyện tập từ bé. Người ta cho rằng chính còng lớn đã dạy cho còng con cách thức như thế.

Thành ngữ hàm nghĩa chỉ ai cũng có thể làm được việc định làm, dù đó là người thấp kém muốn làm việc khó, ngoài khả năng của mình. Vì đến như con còng còng còn biết cả nuôi con nữa là.
Đăng nhập để trả lời
0
Cái tổ con chuồn chuồn



Óc quan sát thế giới tự nhiên của người Việt Nam dành khá nhiều cho đời sống và cá tính riêng của con chuồn chuồn. Bởi là, nó gần gũi với con người, trước hết là với trẻ em. Trẻ em thích chơi chuồn chuồn. Thấy chuồn chuồn là giơ tay bắt ngay, nên mới có câu hát:

“Chuồn chuồn có cánh thì bay
Đừng cho thằng bé giơ tay bắt chuồn”

Đối với tuổi nhỏ, chuồn chuồn có mặt như một thứ trò chơi và cũng như bạn bè. Bắt chuồn về cho chuồn chọi nhau; bắt chuồn về, cho chuồn cắn vào rốn, nói là để cho chóng biết bơi. Và bao nhiêu trò nữa. Chuồn chuồn thân quen và hấp dẫn với trẻ nhỏ đến thế, mà tổ con chuồn chuồn ở đâu, nghìn đời nay rồi, chẳng ai mách dùm các em một câu!

Còn trong ý thức người lớn tuổi thì khác hơn. Cũng rất quen thuộc, nhưng chuồn chuồn không còn là một thứ trò chơi nữa, mà đã đi vào chuyện làm ăn, chuyện ứng xử ở đời, có cả những điều hy vọng và những điều buồn đau. Đối với những người để tâm nhiều đến việc buôn bán, làm ăn thì có câu: Vốn chuồn chuồn, ý nói vốn ít ỏi, mỏng nhỏ, chẳng hề làm nên cơ nghiệp gì. Đối với những người quanh năm suốt tháng làm bạn với nắng mưa, với trời đất, thì truyền cho nhau câu tục ngữ:

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

Chuồn chuồn cũng tham dự vào ý thức thẩm mỹ của dân gian Việt Nam như là sự liên tưởng - so sánh trực giác, nhờ đó mà nói được cô đúc hơn, hình ảnh sâu sắc hơn cái ý về sự hời hợt, qua loa, không chuyên chú theo lối chuồn chuồn đạp nước. Chuyện về con chuồn chuồn còn được mang vào mỗi cuộc đời trong cái phút lâm chung của họ. Đó là phút người bệnh đã mê sảng và đã “bắt chuồn chuồn”, tức là các ngón tay cứ chúm lại rồi toẽ ra, lại chúm lại, toẽ ra như động tác các ngón tay khi bắt chuồn chuồn, báo hiệu cái chết đã đến! Con người quan sát đời sống con chuồn chuồn sâu sắc và đa dạng đến thế mà cái tổ con chuồn chuồn ở đâu và hình dáng của nó ra sao vẫn chẳng ai biết cả. Nhưng tại sao người ta vẫn nói “ai biết đâu cái tổ con chuồn chuồn”. Và văn học cứ viết, chẳng hạn như: “Ngày tháng trôi qua, hai chị em gái của Hà đi lấy chồng. Mỗi lần có tiếng pháo nổ, tiếng nhạc xập xình bên ấy, mấy đứa chúng tôi lại bảo nhau: “Thế là tổ con chuồn chuồn lại bay mất một con” (báo Văn nghệ quân đội). Thế ra tổ con chuồn chuồn lại có điều gì đó tương đồng với một gia đình sinh ra toàn con gái cả hay sao? Chuyện về cái tổ con chuồn chuồn thật là rắc rối. Con chuồn chuồn có tổ không? Chuồn chuồn làm tổ ở đâu? Hình dáng tổ con chuồn chuồn ra sao? Và tại sao để nói lên ý về sự không thể biết được, sự bí ẩn, kín mật, dân gian lại tạo lập cách nói Cái tổ con chuồn chuồn? Trước hết hãy trở về đời sống sinh vật của chuồn chuồn. Chuồn chuồn là loài sâu bọ cánh mỏng, có gân. Vòng đời của chuồn chuồn không dài chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn nhộng, ba năm ở dưới nước, giai đoạn trưởng thành hai tháng. Hóa từ nhộng ra, chuồn chuồn con sinh sống kiếm ăn ở mặt nước, nên ít ai nhận biết. Đến lúc lớn lên, có khả năng tự vệ, chuồn chuồn mới bay lên cạn kiếm mồi. Cuộc sống ở trên cạn, chuồn chuồn cũng có những cá tính khác thường: không ở đâu lâu một chỗ, mà cứ nay đây, mai đó, ngày bay, đêm nghỉ. Lại có những ngày chuồn chuồn rủ nhau tụ họp, bay dăng đầy sân, đầy bãi gây một ấn tượng rộn rã, bỗng chốc lại tan đàn, bay đi mất hút cả một mùa. Lúc ở phía trước, lát ở phía sau, thoắt một cái lại biến mất vẻn vẹn chỉ có hai tháng sống trên cạn thôi mà đã mất một thời sống quanh quẩn nơi mặt nước, không có ai biết đến. Những ngày sống trên cạn thì du thủ du thực, vui đâu chầu đấy; lại có những ngày tụ họp bay rợp trời rợp đất rồi sau đó mất hút... Tất cả những “lối sinh hoạt” ấy: “thoắt đến thoắt đi” vừa nhìn thấy đã biến mất, vừa đến đã đi, sáng bay ra, tối đi hết, gây ra cảm nghĩ “không biết đâu mà lường”, “khó mà tìm cho được”. Nhưng, có lẽ chừng ấy cũng chưa đủ chứng cứ ngôn ngữ học cho sự xuất hiện thành ngữ cái tổ con chuồn chuồn”, mà phải thêm điều này nữa: Trong cách nghĩ dân gian, con chim phải có tổ, người ta phải có nhà. Và dường như, các loài có cánh đều làm tổ, đẻ trứng và nuôi con ở tổ, thế thì chuồn chuồn cũng phải có tổ như chim có tổ để trú ngụ, đẻ trứng, nuôi con chứ! Cái logic ấy tự nhiên, chỉ có điều là, tổ chim nhìn thấy được mà tổ chuồn chuồn thì ở đâu, mà chẳng bao giờ nhìn thấy cả. Cái logic dân gian này cùng với lối sinh hoạt “nay đây mai đó”, “thoắt đến thoắt đi” của chuồn chuồn đã đưa liên tưởng con người đến với ý nghĩ về sự “bí ẩn”, “chẳng thể nào biết được”, từ đó mà có câu thành ngữ cái tổ con chuồn chuồn nói về cái ý đó, giống như cách nói “ai biết ma ăn cỗ” hay “ai biết ma ăn cỗ ở đâu”. Ở đây các logic dân gian và logic hiện thực khách quan không đồng nhất. Chuồn chuồn không làm tổ, nên không có tổ, do đó, không bao giờ con người tìm thấy tổ chuồn chuồn. Chuồn chuồn đạp nước, đẻ trứng xuống nước, trứng nở thành nhộng. Nhộng sống dưới nước sau ba năm mới hóa thành chuồn chuồn. Cái tổ con chuồn chuồn biểu trưng cho sự “bí ẩn”, “không thể biết”. Để diễn đạt ý về sự đã biết rõ, biết tường tận điều bí ẩn nào đó, người ta phải nói biết tỏng cái tổ con chuồn chuồn rồi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chim sa cá lặn


 

Ngày nay mọi người đều hiểu thành ngữ này là một cách nói ngoa dụ để chỉ người đàn bà rất đẹp, giống như cách hiểu thành ngữ "hoa hờn nguyệt thẹn", tức đẹp tới mức hoa phải hờn vì kém sắc, trăng phải thẹn vì kém tươi. Nhưng thực ra ý nghĩa ban đầu của thành ngữ này không phải như vậy.

Trang Chu, hay thường gọi là Trang Tử, người đời Chiến Quốc, học thức rất uyên bác, không môn gì không biết. Trong sách "Nam hoa kinh", ông chép rằng: Mao Tường và Lệ Cơ là hai người đàn bà đẹp, cá thấy - chìm vào chốn hang sâu, chim thấy - bay cao (ngư kiến chi nhập thâm, điểu kiến chi cao phi). Ý Trang Chu muốn nói rằng mọi sự trên đời đều là tương đối. Mao Tường, Lệ Cơ tuy đẹp, song chỉ đẹp đối với người, chứ biết đâu trông thấy họ cá chẳng sợ mà lặn sâu, chim chẳng sợ mà bay cao?

Người sau hiểu khác hẳn nguyên ý ấy của Trang Chu. Sách "Thông tục biên" dùng thành ngữ "trầm ngư lạc nhạn" tức "chim rơi cá chìm" để chỉ nhan sắc người đàn bà cực đẹp.

Các nhà văn cổ điển của nước ta thường viết theo ý câu ấy:

"Mặn mà chìm cá rơi chim"

(Hoa Tiên)

Hay:

"Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa"

(Cung oán)

Cũng cần thấy rằng thành ngữ này mang tính văn chương nhiều hơn là tính khẩu ngữ. Nó đặc biệt được sử dụng nhiều trong văn học cổ.
Đăng nhập để trả lời
0
Cái khó bó cái khôn hay
Cái khó ló cái khôn?




 
Xưa nay nhiều người cứ ngỡ đây là hai biến thể của một câu tục ngữ, thế rồi không ít người tranh luận, lí giải theo những hướng khác nhau. Nhiều người xem dạng thức cái khó bó cái khôn là dạng chuẩn, dạng đích thực và phủ nhận dạng thức cái khó ló cái khôn. Ngược lại, một số khác lại cho dạng cái khó ló cái khôn mới là một dạng chân chính. Thực ra, đây là hai câu tục ngữ có nghĩa và cách sử dụng khác nhau. Chúng khác nhau một cách "nghiệt ngã"!

Trong những hoàn cảnh bất lợi, những người thông minh tài cán, khôn ngoan cũng có lúc phải bất lực, không thể dễ dàng xoay trở, đảo ngược được tình thế. Cái khó bó cái khôn là vậy. Cái khó bó cái khôn phản ánh sự bất lực của trí tuệ, tài năng trước hoàn cảnh. Đó cũng là sự cảm thông trước bước đường của những con người đang rơi vào hoàn cảnh không có lối thoát.

Thế nhưng, đôi khi trong cuộc sống vẫn có những tình thế ngược lại. Con người ở vào một cảnh huống tưởng chừng đã hoàn toàn bế tắc, hoàn toàn hết đường tháo gỡ, đột nhiên một ý nghĩ thông minh "xuất thần" cứu vớt được tình cảnh, giải tỏa được khó khăn. Cái khó ló cái khôn là như thế. Đó cũng là lời động viên, an ủi nhau, cố gắng tìm cách tháo gỡ khó khăn, bất luận ở hoàn cảnh nào.

Rõ ràng, là giữa cái khó bó cái khôn và cái khó ló cái khôn ý nghĩa và cách sử dụng hoàn toàn trái ngược nhau. Do vậy, không thể nói đây là hai biến thể của một câu tục ngữ, không có dạng nào là chuẩn, dạng nào là không chuẩn. Đây là hai câu tục ngữ trái nghĩa nhau.
Đăng nhập để trả lời
0
CẬU ẤM CÔ CHIÊU
 
 
Cậu ấm cô chiêu là ai vậy? Ấm” và “chiêu” là hai danh từ chỉ con quan.  Ngày xưa từ thời Lê , con các ông tiến sĩ được gọi là “chiêu” và được theo một trường riêng là “chiêu văn quán” . Còn ấm là chức tước do triều đình ban cho con cháu các quan từ ngủ phẩm trở lên, ấm tôn là cháu quan, ấm tử là con quan , ấm sinh là học trò con quan đã đỗ đạt có bằng , ấm thụ chị con quan ra nối nghiệp cha mà không hề qua sát hạch, tức là được đỗ “đặc cách” Tất cả đều gọi chung là cậu ấm. Như vậy “chiêu là danh từ xưng gọi trong gia đình (ví như Nguyễn Du thời còn đi học trong nhà trường gọi là “cậu chiêu” Bảy) còn “ấm” là danh từ gọi ngoài xã hội. Thêm nữa, “chiêu” có thể chỉ cả con trai lẫn con gái, còn “ấm” thì chỉ gọi con trai các quan mà thôi. Sau này “ấm” và “chiêu” còn chỉ cả con cái các nhà giàu có, quyền quý nói chung.
 
Ngày nay, đôi khi con cái nhà quyền cao chức trọng cũng được gọi là Cậu ấm cô chiêu . Vì đồng âm với dụng cụ đun nước , khi các cậu “con ông cháu cha” ấy mà hư hỏng, dốt nát, thành ngữ trên chuyển sắc thái hài hước châm biếm và cậu ấm ấy được gọi là “cậu ấm sứt vòi”.
ban mai
Đăng nhập để trả lời
0
Cáo mượn oai hùm,
 
 
Thành ngữ này vốn bắt nguồn từ một câu chuyện kể về sự gian ngoan, ma lanh của cáo đã khéo uốn ba tấc lưỡi để lừa con hùm (tên gọi khác của cọp).
 
Có một con hùm đói mồi, đang lang thang trong rừng kiếm ăn, thì gặp ngay con cáo. Hùm sung sướng và chắc mẽm phen này được bữa no say. Nhưng con cáo gian ngoan đã nói với hùm rằng: "Này cái ông hùm ông hổ kia ơi! Ông đừng có mà ăn thịt tôi. Thượng đế đã giao cho tôi làm chúa tể muôn loại. Ông mà ăn tôi là làm trái ý của thượng đế ! Không tin, ông cứ đi đằng trước, tôi đi đằng sau, thử hỏi có co nvật nào trông thấy tôi mà không sợ? Và hùm đã làm theo. Quả nhiên, chúng đi đến đâu, mọi thú vật đều chạy tán loạn. "Sự thật" đó đã làm cho hùm tin lời cáo, và đương nhiên cáo đã thoát chết! Hùm có biết đâu rằng, những con vật kia sợ mình, sợ từ cái bóng của mình, chứ đâu có sợ cáo !...
 
Trong dân gian, bên cạnh thành ngữ "cáo mượn oai hùm" còn có cách nói "cáo đội lốt hổ uy" với với nghĩa tương tợ nhưng ít dùng.
 
Thành ngữ trên dùng để chỉ những hạng người ranh ma (như cáo), bản thân chẳng có gì, nhưng dựa vào uy danh, quyền lực của kẻ quyền uy để hù doạ người khác.
 
 
 
ban mai
Đăng nhập để trả lời
0
Cành vàng lá ngọc
 
 
Cành vàng lá ngọc là thành ngữ phỏng dịch từ thành ngữ tiếng hán “Kim chi ngọc diệp” , và biến thể của nó là lá ngọc cành vàng cũng phỏng dịch từ “ngọc điệp kim chi” . theo Lục thiếp, thì “cành vàng lá ngọc” là con cháu đế vương (Đặng đức Siêu, Ngữ liệu văn học, Nxb.GĐ,1999,tr.185)
 
Trong văn thơ Việt Nam, cành vàng lá ngọc, hay lá ngọc cành vàng thường được dùng với nghĩa rộng hơn, không chỉ là con cháu đế vương mà chỉ chung con cháu dòng dõi vua chúa, quý tộc , dòng dõi nhà quyền quí, cao sang.
ban mai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-09 13:22:38ban mai>
Cháy nhà ra mặt chuột
 
Chuột là một loại động vật gậm nhấm, sống đời ẩn nấp trong hang hóc xó xỉnh,  thường xuất hiện khi không có người để kiếm ăn hoặc phá phách, gậm nhấm tất cả những thứ mà chúng thích.  Phá hại mùa màng, đục khoét nhà cửa vật dụng làm hang ổ. Nói chung chúng là một loại đông vật bất lợi đối với con người.  Không ai muốn trong nhà mình có loại động vật này. Thế nhưng muốn diệt trừ chúng không phải dễ, nhất là những nơi nhà cửa bề bộn, không kín đáo. Chúng luồn ngỏ này, lách ngõ kia … Trong những ngôi nhà ở thôn quê xưa, bước vào thấy vắng lặng tưởng chừng như không có con chuột nào! Nhưng ngộ nhỡ ngôi nhà bị cháy thì chuột chạy ra từng đàn, và đấy là lý do phát sinh thành ngữ cháy nhà ra mặt chuột.
 
Trong nghĩa bóng của thành ngữ này, chuột tượng trưng cho thành phần xấu, thành phần phá hoại ngấm ngầm, mà mọi người không thể phân biệt khi chưa có chuyện. .. Lúc trong nhà có chuyện, hay trong một tập thể nào đó có vấn đề khó khăn nguy biến xảy ra, nhưng kẻ xấu mới lộ mặt. Và trong trường hợp đó người ta dùng thành ngữ: cháy nhà ra mặt chuột.
 
Trong dân gian người ta dùng cách đốt rơm rạ um khói ở cửa hang để bắt chuột chạy ra.
ban mai
Đăng nhập để trả lời
0
CHÍN CHỮ CÙ LAO
 
Thành ngữ này thuờng dùng để chỉ công lao khó nhọc của bố mẹ. ( Cù là siêng năng, lao là khó nhọc). Chín chứ cù lao ấy là:
 
Sinh : đẻ
Cúc: nâng đỡ
Phủ: vuốt ve
Súc: cho bú mớm lúc nhỏ
Trưởng: nuôi cho lớn
Dục: dạy dỗ
Cố: trông nom, săn sóc
Phục: xem tính nết mà dạy bảo cho thành người tốt
Phúc: giữ gìn
 
Trong truyện Kiều có câu:
 
Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn.
.....
Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
 
( Theo Tiếng Việt lí thú )
 
      

Mặt trời có nóng lắm không?
Bé ngây ngô hỏi nhìn hoa mặt trời
Mỉm cười tôi nói bé ơi
Hoa mặt trời ấy - mặt trời nào đâu?
Tùng Anh
Đăng nhập để trả lời
0
CỮ GIÓ TUẦN MƯA
 
Theo cách chia thời gian ngày trước, một cữ là 7 ngày, một tuần là 10 ngày. Ngày nay vẫn còn nói: " Chị ấy mới ở cữ", tức mới sinh con được một vài cữ. Một tháng chia ra 3 tuần: thuợng tuần, trung tuần và hạ tuần. Câu này ý nói nhớ người thân đi xa vất vả.
 
Não người cữ gió tuần mưa
Một ngày nặng gánh tương tư nột ngày.
                                                 ( Truyện Kiều) 
 
 
 
 

Mặt trời có nóng lắm không?
Bé ngây ngô hỏi nhìn hoa mặt trời
Mỉm cười tôi nói bé ơi
Hoa mặt trời ấy - mặt trời nào đâu?
Tùng Anh
Đăng nhập để trả lời
0