Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Nhiên Liệu Sinh Học

26 trả lời, 5.777 lượt xem — Trang 1 / 1












Hạ Viện thông qua dự luật về nhiên liệu sinh học
Thursday, February 08, 2007
WASHINGTON (Reuters) - Hôm Thứ Năm, 8 Tháng Hai, Hạ Viện Hoa Kỳ đã chấp thuận bằng một đa số áp đảo dự luật nhằm phát triển các nhiên liệu sinh học thay thế và thiết lập hạ tầng cơ sở để xử trí với số lượng cung cấp.
Dự luật, được thông qua với 400 phiếu thuận, 3 phiếu chống, đòi hỏi chính phủ thực hiện việc nghiên cứu để sản xuất các nhiên liệu thay thế có căn bản sinh học, như xăng được chế tạo bằng 85 phần trăm chất ethanol, tương thích với hạ tầng cơ sở hiện hữu để tồn trữ và giao nhiên liệu tới địa điểm bán cho người tiêu thụ.
Ðặc biệt, chính phủ sẽ nghiên cứu các phương cách để ngăn ngừa hoặc giới hạn hư hại do các nhiên liệu sinh học gây ra trong việc làm xói mòn những ống dẫn và những bồn dự trữ, làm nghẹt các bộ lọc và phát sinh thêm các chất phóng thải vì nhịp độ bốc hơi cao.
Dự luật cũng đòi hỏi chính phủ phải phát triển các kỹ thuật và phương pháp để cung cấp dụng cụ đo đạc giá hạ, có thể xách tay và chính xác để đo mức sulfur trong nhiên liệu, đặc biệt là loại diesel mới, đốt sạch hơn.
Cơ Quan Bảo Vệ Môi Sinh sẽ được cấp 10 triệu Mỹ kim để thực hiện cuộc nghiên cứu và các dự án chứng minh.
Làm cho các nhiên liệu dễ được chấp nhận ở hạ tầng cơ sở hiện hữu sẽ giúp giảm bớt nhu cầu về xăng và làm cho Hoa Kỳ bớt lệ thuộc vào dầu hỏa nhập cảng từ nước ngoài, những người bảo trợ dự luật nói.
Dự luật còn phải được Thượng Viện chấp thuận và Tổng Thống Bush ký ban hành trước khi trở thành luật. (n.n.)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=55463&z=4
Đăng nhập để trả lời
0
 
Hoa cải dầu có thể được dùng để sản xuất dầu diesel sinh học
 
Cảnh báo về nhiên liệu sinh học










13 Tháng 5 2007 - Cập nhật 09h44 GMT
 
Một bản phúc trình cho biết nỗ lực chuyển sang dùng nhiên liệu sinh học có thể làm gia tăng giá cả lương thực cũng như việc phá rừng.[/align] [/align]Chính phủ Anh và Liên hiệp châu Âu tuyên bố họ muốn 10% lượng nhiên liệu cho xe hơi sẽ phải là nhiên liệu sinh học vào năm 2020.
 
Tuy nhiên, một nghiên cứu của hãng bảo hiểm Co-op cho thấy để đạt được điều này, người ta sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng về môi trường.
 
Bản phúc trình được đưa ra sau khi có một báo cáo của LHQ với những cảnh báo tương tự, rằng nhiên liệu sinh học có tác dụng hơn khi dùng làm chất đốt và năng lượng thay vì làm nhiên liệu cho giao thông.
Nhiên liệu sinh học có thể được chế biến từ bất cứ loại cây nào có khả năng đốt cháy.
 
Chúng được xem là giải pháp tiềm năng để đối phó với tình trạng thay đổi khí hậu vì chúng có thể giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
 
'Tác dụng ưu việt'
Báo cáo của Co-op nói rằng nhiên liệu sinh học vẫn có tương lai, thế nhưng mục tiêu hiện nay là phải tăng cường loại nhiên liệu này có thể sẽ có các hậu quả không mong muốn.
 
Giáo sư Dieter Helm, một cố vấn cao cấp cho chính phủ Anh, nhận định với đài BBC: "Mục tiêu mà chúng ta đặt ra cho nhiên liệu sinh học sẽ có tác động toàn diện tới nền nông nghiệp và do đó, sẽ có hậu quả lớn tới giá lương thực cũng như việc phát triển của toàn ngành nông nghiệp nói chung."
 
Bản phúc trình nói người ta phải cần tới 90% đất canh tác nông nghiệp trên thế giới để cung cấp 10% lượng nhiên liệu mà thế giới cần cho giao thông.
 
Điều này có nghĩa là việc sản xuất nhiên liệu sinh học sẽ làm giảm đi lượng đất trồng trọt các loại vụ mùa lương thực tại những nước vẫn còn đang thiếu ăn.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/story/2007/05/070513_biofuel_warning.shtml

 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Bài đọc thêm
 
>>>>>>>>>>>>>>>>
 
14 Tháng 4 2008 - Cập nhật 14h14 GMT
 





'Thiếu hụt lương thực dẫn tới xung đột' [/align] [/align]







[/align]

Ông Zoellick kêu gọi có kế hoạch chống khủng hoảng lương thực
Ngân hàng Thế giới (WB) vừa chuẩn thuận một kế hoạch mới về chính sách lương thực toàn cầu trong bối cảnh chủ tịch ngân hàng này cảnh báo có khủng hoảng trước mắt do giá thực phẩm leo thang. [/align] [/align]Kế hoạch mới theo dự kiến bao gồm cả tiền viện trợ cho Haiti nơi vào cuối tuần qua nhiều người chết do xảy ra bạo động liên quan tới giá lương thực.
Phát biểu tại cuộc họp thường kỳ của ngân hàng ở Washington, Chủ tịch Robert Zoellick nói một số nước cần được trợ giúp khẩn cấp, bao gồm thêm 10 triệu đôla cho Haiti.
Hôm cuối tuần nhiều người đã thiệt mạng tại Haiti vì bạo loạn do thiếu hụt lương thực.
 
Can thiệp hiệu quả?
Trong khi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và WB là các cơ quan bị chỉ trích nhiều nhưng hai định chế tài chính quốc tế này cũng là nơi có nhiều ảnh hưởng.
Do đó các giải pháp họ khuyến nghị để đối phó với giá thực phẩm leo thang có thể có ảnh hưởng cả về ngắn hạn cũng như trung hạn.
Giải pháp trước mắt có thể là gây áp lực để các quốc gia thuộc danh sách các nước viện trợ chuyển thêm tiền cho chương tr?nh lương thực LHQ.
 
Ngân sách của cơ quan ngày chịu ảnh hưởng nặng trong vài năm trở lại đây.
Ông Marcus Prior, người phát ngôn của Chương trình Lương thực LHQ tại Đông và Trung Phi nói: ''Chúng ta cần ưu tiên cứu đói cho những nơi như Darfur, Somalia, Đông Công Uganda và Kenya nơi có tới 8 triệu người phụ thuộc vào thực phẩm do Chương trình lương thực LHQ cung cấp.''
''Giá lương thực tăng có nghĩa là LHQ cần phải được hỗ trợ về tài chính với khoản tiền ít nhất là 500 triệu đôla cho riêng năm 2008.''
Nhưng thậm chí có ngay khoản tiền vừa đề cập, ông Andrew Hewitt, Giám đốc tổ chức phi chính phủ Oxfam nói rằng các nước giàu chưa thực sự làm trọn bổn phận của họ.
 
Kế hoạch lâu dài
Các đề xuất của Ngân hàng Thế giới giải quyết cuộc khủng hoảng giá lương thực thực phẩm leo thang theo dự kiến còn tiến xa hơn cả việc cung cấp tiền viện trợ.
Theo dự kiến vè dài hạn có cả kế hoạch cho các nước còn nghèo vay thêm tiền để phát triển nông nghiệp sao để bớt phụ thuộc vào lương thực nhập khẩu.
WB và IMF đang đặc biệt lo ngại cho các nước tại trung và đông phi cũng như một vài nước tại châu Á trước cuộc khủng hoảng giá lương thực này.
Người đứng đầu Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo rằng hàng trăm nghìn người sẽ phải đối mặt với nạn đói nếu giá lương thực tiếp tục tăng.
 
Ông Dominique Strauss-Kahn cho rằng những bất ổn xã hội liên quan tới giá cả lương thực leo thang có thể dẫn tới xung đột.
Gần đây đã xảy ra các cuộc bạo loạn vì lương thực tại một số nước, trong đó có Haiti, Philippines và Ai Cập.
Tại Washington, IMF kêu gọi thế giới có hành động mạnh mẽ hơn trong vấn đề giá cả lương thực cũng như cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/04/080414_worldbankfoodprices.shtml
 

 
Đăng nhập để trả lời
0



Nhiên liệu sinh học: Một yếu tố khiến giá thực phẩm gia tăng


14/04/2008


Giá cả thực phẩm tăng vọt đang gây ra những vấn đề lớn lao tại nhiều nơi trên thế giới ngày nay. Một yếu tố khiến giá tăng cao có thể là nhu cầu về nhiên liệu sinh học trên toàn cầu mỗi ngày mỗi tăng thêm, nhiên liệu cho xe cộ chế tạo ít nhất một phần từ bắp hay các loại hoa mầu thực phẩm khác. Từ Washington, biên tập viên Kent Klein ghi nhận vấn đề và một số giải pháp có thể có trong bài viết sau đây.
 






Giá cả thực phẩm tăng cao vì chúng ta biến bắp từ thức ăn thành nhiên liệu, chẳng làm lợi được bao nhiêu cho môi trường mà lại rất tốn kémMột số người chỉ trích nhiên liệu sinh học lập luận rằng dùng nhiên liệu có cơ sở là thực phẩm làm nguồn năng lượng cho xe hơi đã đi đến tình trạng cạnh tranh thực phẩm giữa người và xe hơi. Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick mới đây cho biết cơ quan của ông đã kết luận rằng tăng gia sản xuất nhiên liệu sinh học là một yếu tố đẩy giá thực phẩm tăng cao.
 
Ông Zoellick nói: “Trong khi nhiều người mải lo đổ đầy bình xăng, thì có nhiều người khác trên khắp thế giới còn phải chật vật làm thế nào cho đầy bụng. Và việc này đang trở nên ngày càng gay go hơn.”
 
Bản phúc trình của Ngân hàng Thế giới nói rằng những quan ngại về giá dầu, an toàn năng lượng và biến đổi khí hậu đã khiến các chính phủ khích lệ dân chúng sản xuất và sử dụng nhiều nhiên liệu sinh học hơn, và bớt dùng xăng dầu.
 
Bản phúc trình nói rằng điều đó có nghĩa là nhu cầu lớn hơn về nguyên vật liệu, trong đó có lúa mì, đậu nành, dầu cọ và bắp, và như thế là thực phẩm trở nên đắt đỏ hơn. Ngân hàng Thế giới cũng quy lỗi cho tình trạng năng lượng và phân bón đắt đỏ hơn, cũng như những lệnh cấm xuất khẩu và đồng đôla Mỹ yếu đã khiến cho giá thực phẩm gia tăng.Với khái niệm đó, bà Kimberly Elliott, một thành viên kỳ cựu tại Trung tâm Phát triển toàn cầu, nói rằng đã đến lúc các chính phủ ngưng chú trọng quá nhiều vào các loại nhiên liệu sinh học dùng bắp làm cơ sở, tỷ như chất ethanol.
Bà Elliott nói: “Giá cả thực phẩm tăng cao bởi vì chúng ta đã biến bắp từ thức ăn thành ra nhiên liệu, chẳng làm lợi được bao nhiêu cho môi trường, mà lại rất tốn kém, vì thế thực ra đó là một chính sách không hợp lý tí chút nào cả.”
 
Tiểu bang Iowa miền trung Hoa Kỳ nằm trong số các tiểu bang dẫn đầu về trồng bắp và sản xuất ethanol. Tại Iowa City, ông Michael Ott, giám đốc điều hành Biowa, một hiệp hội thương mại của các nhà sản xuất nhiên liệu sinh học, cho rằng khích lệ sản xuất ethonal thực ra không phải là sự chọn lựa giữa thực phẩm và nhiên liệu.
 
Ông Ott nói: “Bắp được dùng làm ethanol không thể cho người ăn được. Chỉ có khoảng 5% số bắp thu hoạch là được tiêu thụ trực tiếp. Phần còn lại dùng làm thực phẩm gia súc, như trâu bò, heo và gà –rồi biến thành các sản phẩm. Vì thế có rất nhiều thứ làm bằng bắp. Và nói rằng đây là một sự cạnh tranh thì không đúng lắm.”
 
Tuy nhiên, một thùng bắp bán với giá 2 đôla 12 cent hồi tháng giêng năm 2005 đã tăng lên đến gần 6 đôla vào lúc kết thúc ngày giao dịch hôm thứ sáu tuần trước.
 
Một phương sách khác có thể là chế tạo ethanol từ một nguyên liệu nào khác ngoài bắp. Bộ trưởng nông nghiệp Brazil tin rằng giải pháp có thể là đường.
 
Ông Reinhold Stephanes nói rằng: chính phủ của ông đang tăng sản lượng ethanol làm bằng đường mà không gây trở ngại cho các nỗ lực gia tăng sản lượng thực phẩm. Brazil là nước sản xuất đường lớn nhất thế giới, và theo dự kiến, sẽ sử dụng phần lớn số mía thu hoạch được trong mùa này để sản xuất ethanol.
 
Tại New York, người đứng đầu về mua bán đường cho công ty xuất nhập khẩu Newedge USA, ông James Cassidy nói rằng giải pháp này có thể có tác dụng với Brazil nhưng không chắc sẽ giúp ích cho Hoa Kỳ.
 
Ông Cassidy nói: “Hầu hết các nước không có đủ đất để trồng mía. Phí tổn sản xuất đường quá cao tại các nước đó. Hoa Kỳ rơi vào trường hợp này. Chúng ta không có đủ số lượng đường dư thừa, chúng ta phải nhập khẩu đường. Chúng ta không có đủ đất để mở rộng việc sản xuất đường, và chi phí sản xuất không đủ thấp để làm được việc ấy.”
 
Bà Kim Elliott thuộc Trung tâm Phát triển Toàn cầu nói rằng giải pháp dài hạn là dành thêm nỗ lực vào việc phát triển thế hệ kế tiếp của nhiên liệu sinh học.
 
Bà Elliott nói: “Ethanol có gốc từ các loại cỏ hay các nguồn khác, hoặc từ các loại chất thải sinh học khác, có nghĩa là dùng lõi bắp thay vì hạt bắp. Những nguyên liệu này vừa hữu hiệu hơn và không có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất. Ta vẫn có thể dùng bắp làm thực phẩm mà không cần gia tăng nhu cầu về đất trồng.”
 
Tại Iowa, ông Michael Ott nói rằng thế hệ kế tiếp của nhiên liệu sinh học đang sẵn sàng.
 
Ông Ott nói: “Tôi tin chắc rằng ethanol dùng bắp làm nguyên liệu là giải pháp sơ khởi. Đó không phải là phương cách cuối cùng chúng ta sử dụng. Nó có hiệu quả. Nó là một sản phẩm phụ chiếm một tỷ lệ nhỏ trên thị trường. Nhưng nó cung cấp cho ta cơ sở hạ tầng, giúp chúng ta phương tiện để điều chỉnh tiến trình để làm ra các sản phẩm lớn hơn và tốt hơn.”
Hay có lẽ giải pháp không nằm trong việc tăng sản lượng mà là giảm bớt sự tiêu thụ về năng lượng. Ông Eric Holt-Gimenez, giám đốc điều hành Food First, học viện khảo cứu về thực phẩm và chính sách phát triển có cơ sở ở California, nói rằng người ta cần phải bớt sử dụng nhiên liệu, cho dù thuộc loại nào.
 
Ông Holt-Gimenez nói: “Toàn bộ vấn đề về cơn sốt nhiên liệu sinh học này là chúng ta được mời mọc để tin rằng chúng ta có thể thoát ra khỏi việc tiêu thụ quá mức bằng cách tiêu thụ quá mức. Chúng ta không thể tiếp tục tiêu thụ theo cách thức chúng ta đang tiêu thụ, về mặt năng lượng. Chúng ta phải cắt giảm bớt.”
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-04-14-voa22.cfm
 
Đăng nhập để trả lời
0








17 Tháng 4 2008 - Cập nhật 13h09 GMT
 
 
Bảo vệ xăng sinh học
Emilio San Pedro
Trưởng ban BBC châu Mỹ
 

Tổng thống Brazil, Luiz Inacio Lula da Silva lên tiếng bác bỏ các cáo buộc cho rằng nhiên liệu sinh học là nguyên nhân khiến giá thực phẩm toàn cầu tăng.[/align]Ông nói giá đồ ăn tăng là vì dân chúng các nước đang phát triển có thêm nhiều điều kiện hưởng nguồn thức ăn hơn trước.
Đó là phát biểu trong diễn đàn của FAO, tổ chức chuyên về thực phẩm và nông nghiệp của Liên hiệp quốc, tổ chức ở Brasilia.
Trong vài tháng qua, nhiều nơi trên thế giới xuất hiện luồng dư luận phản đối các loại nhiên liệu làm từ sản phẩm nông nghiệp (bio-fuel).
Từ các nhóm bảo vệ môi trường, các bộ trưởng chính phủ và ngay cả nguyên thủ quốc gia như tổng thống Hugo Chavez từ Venezuela cũng lên tiếng, cho rằng việc dùng mía và bắp chế biến thành xăng cho xe hơi có thể kéo theo khủng hoảng lương thực.
"Tội ác chống nhân loại"
Các ý kiến chỉ trích cho rằng xăng sinh học phần nào tạo ra xu hướng tăng giá thực phẩm toàn cầu hiện nay.
Báo cáo viên của LHQ về quyền lương thực, Jean Ziegler, người gốc Thụy Sĩ, mô tả xăng sinh học là tội phạm chống lại nhân loại.






[/align]

Cỏ Switchgrass (Panicum virgatum L) là một loại thực vật để chế tạo xăng sinh học
Brazil là nước xuất khẩu nhiều xăng sinh học nhất, đặc biệt là ethanol. Tổng thống Lula nói người ta dễ ngồi ở Thụy Sĩ mà chỉ trích Brazil.
Ông nói các cáo buộc cho rằng xăng sinh học làm tăng giá thực phẩm là thiếu cơ sở.
"Xăng sinh học không phải là tội phạm đe dọa an ninh lương thực" - tổng thống Lula nói.
"Mà ngược lại, nó giúp các nước chủ động về năng lượng mà không ảnh hưởng tới nguồn thực phẩm".
Theo giải thích của tổng thống Brazil, giá thực phẩm tăng là tại vì người dân các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil ăn nhiều hơn trước, do điều kiện kinh tế được cải thiện.
Ông ký một vài thỏa thuận hợp tác quan trọng với Hoa Kỳ, cũng là nước thuộc hàng đầu trong ngành sản xuất nhiên liệu sinh học.
Brazil cũng ký kết hợp tác với một số nước châu Phi nhằm cải tiến công nghệ.
Vấn đề xăng sinh học gần đây đã giúp kết nối nhiều nhóm vốn có nghị trình hoạt động khác nhau, từ giới hoạt động vì môi trường cho đến lãnh đạo một số quốc gia xuất khẩu dầu mỏ thuộc loại hàng đầu thế giới.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/science/story/2008/04/080417_lula_biofuel.shtml

 
Đăng nhập để trả lời
0
Giá cả thực phẩm tăng vọt đang gây ra những vấn đề lớn lao tại nhiều nơi trên thế giới ngày nay.

 
Vì sao giá lương thực thế giới leo thang?
 
Giá lúa mỳ, gạo và ngô đã tăng gần gấp đôi trong năm qua. Nhưng không chỉ những mặt hàng nông sản đó tăng giá trên thị trường quốc tế.[/align]Mọi chuyện diễn biến xấu tới mức các cơ quan viện trợ nhân đạo trên thế giới phải cơ cấu lại các chương trình của mình.
Vậy vì sao giá cả lương thực tăng và giải pháp có thể sẽ là gì?
BBC đặt ra một số câu hỏi và đưa ra câu trả lời về tình hình lương thực trên thế giới:
 
Chuyện gì đang xảy ra vậy?
 
.......
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/04/080413_qa_worldfoodhike.shtml
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện gì đang xảy ra vậy?
 
.......
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/04/080413_qa_worldfoodhike.shtml

 
Chuyện gì đang xảy ra vậy?
Một số mặt hàng lương thực cơ bản tăng cao trên thị trường quốc tế.
Giá lùa mỳ tăng gấp đôi trong chưa đầy một năm, trong khi các nông sản khác như ngũ cốc, ngô và đậu nành có giá cao hơn mức trung bình những năm 90.
Giá gạo và cà phê tăng cao nhất trong vòng mười năm, và tại một số nước, giá sữa và thịt tăng gần gấp ba.
 
Tại sao giá cả lương thực leo thang vào lúc này?
Đây có thể được coi là sự chấm dứt của thời kỳ “Goldilocks” đối với các mặt hàng lương thực cơ bản toàn cầu.
“Goldilocks” được coi là thời kỳ kéo dài suốt hơn 30 năm, mà trong thời kỳ đó, giá các mặt hàng thực phẩm cơ bản không quá cao cũng không quá thấp, mà luôn giữ ở mức “bình bình”.
Phần lớn trong thời kỳ này, giá cả các mặt hàng lương thực trọng yếu như lúa mỳ, ngô và đậu tương trên thực tế đã giảm.
Ngoài ra, thời kỳ này, dự trữ lương thực ở mức thấp nhất từ trước tới nay do các nước thấy không cần thiết phải tích trữ.
Nhưng dường như thời kỳ ổn định kéo dài này đã đến hồi kết.
Phần đông các nhà bình luận tin rằng chúng ta đang đứng trên đỉnh của thời kỳ bất ổn mới, và giá cả leo thang sẽ còn kéo dài một thời gian nữa.
 






[/align]

Giá cả lương thực leo thang khiến nhiều chính phủ đứng ngồi không yên
Ai được, ai mất?
Những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất không ai khác chính là người nghèo khổ sống tại các thành phố ở những nước đang phát triển, vốn đối mặt với tình trạng lương thực nhập khẩu tăng giá trong khi nguồn thu nhập thấp.
Những cuộc bạo động vì lương thực từ Haiti cho tới Indonesia đang gây ra bất ổn chính trị.
Ngân hàng Thế giới cho rằng giá cả lương thực tăng cao có thể khiến các nước đang phát triển không hoàn thành mục tiêu cắt giảm đói nghèo quốc tế.
Nhưng đối tượng được lợi chủ yếu lại là nông dân ở những nước giàu hay các quốc gia đang nổi lên như Mỹ, Brazil, Argentina, Canada và Australia, nhưng người đang thu về bộn tiền do giá nông sản tăng.
Một số người dân nghèo cũng hưởng lợi từ việc giá cả tăng.
 
Vậy nguyên nhân chủ yếu do đâu?
Nguyên nhân đầu tiên về chuyện giá cả leo thang đó chính là sự gia tăng của dân số thế giới, vốn được dự báo sẽ tăng lên chín tỷ người giữa thế kỷ 21.
Điều đó dẫn tới nhu cầu lương thực khổng lồ, và cùng lúc tạo áp lực lên một loạt các nguồn tài nguyên như đất, nước và dầu mỏ.
Tuy nhiên, ẩn sau những con số về dân số thế giới là một yếu tố khác thậm chí đóng vai trò quan trọng hơn trong việc đẩy cao giá cả.
Đó chính là điều thần kỳ đang đẩy nhanh các nền kinh tế đang lên như Trung Quốc và Ấn Độ.
Nói một cách thẳng thắn, người giàu tiêu thụ nhiều hơn người nghèo, mà sự phát triển kinh tế này đang tạo ra một loạt những người tiêu dùng trung lưu, vốn mua nhiều thịt và đồ ăn chế biến sẵn hơn.
Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) ước tính rằng thực phẩm chế biến hiện chiếm tới 80% số lượng thực phẩm và bia rượu bán ra.
 
Ngoài lý do chính đó, còn yếu tố nào khác làm đẩy nhanh giá cả không?






[/align]

Biểu đồ tăng giá của gạo
Số lượng người có thêm trên hành tinh tạo áp lực lên môi trường, và không thể không nhắc tới tình trạng biến đổi khí hậu.
Hiện trạng sa mạc hóa đang ảnh hưởng mạnh tới Trung Quốc và các vùng hạ Sahara của châu Phi., trong khi lụt lội và sự biến đổi lượng mưa lại đang có tác động không nhỏ tới sản lượng nông nghiệp.
Thêm nữa, tình trạng nóng ấm toàn cầu cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đẩy giá cả tăng cao: sự chuyển dịch trong quá trình sản xuất nông nghiệp từ lương thực sang năng lượng sinh học.
Quá trình sản xuất nhiên liệu sinh học sạch ethanol (vốn được chế ra từ các loại nông sản) chiếm tới khoảng 30% sản lượng ngô của Mỹ vào năm 2010, tức là nhanh chóng chiếm đất sản xuất lương thực, khiến bột ngô trên thị trường quốc tế tăng cao.
 
Vậy giải pháp là gì?
Nhiều quốc gia đã trợ giá lương thực, và Ngân hàng Thế giới cũng đã kêu gọi trợ giá nhằm giúp người nghèo.
Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc cần thêm khoảng 500 triệu dollar Mỹ nhằm lấp đầy lỗ hổng trong khoản cứu trợ lương thực khẩn cấp của họ.
Trong chiến lược dài hạn, các tổ chức cứu trợ quốc tế kêu gọi nhiều tiền viện trợ hơn nữa nhằm giúp sản xuất lương thực ở các nước đang phát triển.
Cho tới nay, chỉ có một phần nhỏ khoản cứu trợ nước ngoài là để giúp đỡ nông dân, nhưng Ngân hàng Thế giới cho biết sẽ tăng gấp đôi viện trợ nông nghiệp châu Phi lên 800 triệu dollar Mỹ.
Cuộc khủng hoảng lương thực cũng sẽ làm phức tạp thêm vòng đám phán thương mại Doha sắp tới, vốn sẽ tập trung vào nông nghiệp.
Các tổ chức như Oxfam cũng muốn bảo vệ các nhà nông nhỏ lẻ cũng như các cơ quan marketing nông nghiệp tại các quốc gia phát triển trước yêu cầu đòi mở cửa toàn diện thị trường của các nước giàu.
 [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/04/080413_qa_worldfoodhike.shtml[/align]
Đăng nhập để trả lời
0



Nhiên liệu sinh học bị đả kích


05/06/2008

Nhiên liệu sinh học bị đả kích (MP3 3.77 MB) - Tải xuống (MP3)
Nhiên liệu sinh học bị đả kích (MP3 3.77 MB) - Nghe trực tiếp trên mạng  (MP3)


Nhiên liệu sinh học từng được ca tụng như những sản phẩm có thể thay thế cho các loại nhiên liệu hoá thạch. Nhưng ngày nay nhiên liệu sinh học đang bị lên án là đã chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp trước nay vẫn dành cho việc sản xuất lương thực. Những người chỉ trích nhiên liệu sinh học lập luận rằng việc sản xuất loại nhiên liêu này không bền vững và đã làm cho giá lương thực trên thế giới tăng vọt. Những người ủng hộ thì lại cho rằng nhiên liệu sinh học là loại sản phẩm thay thế cho dầu mỏ duy nhất có thể được sản xuất một cách bền vững, và rằng người ta đã không công bằng khi quy cho nó trách nhiệm đã gây ra tình trạng khủng hoảng lương thực trên thế giới hiện nay. Trong câu chuyện 'Khoa học và Đời sống' hôm nay, Nguyễn Lê sẽ mang đến quý thính giả một số chi tiết liên quan đến chuyện tranh cãi này.
 






Việc sản xuất nhiên liệu sinh học được cho là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng lương thực hiện nayCác loại nhiên liệu sinh học như ethanol và diesel sinh học được tinh chế từ ngô, đổ tương, mía, và nhiều loại hạt có dầu khác. Hoa Kỳ sử dụng 1/3 sản lượng ngô của mình để sản xuất ethanol. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, ethanol chiếm 3% tổng số xăng dùng ở Mỹ. Quốc hội Hoa Kỳ đã quy định sản lượng ethanol phải tăng thêm 57 tỷ lít trước năm 2015 để giảm bớt sự tùy thuộc của nước Mỹ vào đầu lửa của nước ngoài.
 
Brazil là nước đứng hàng đầu thế giới về việc xuất khẩu ethanol được chế tạo bằng mía. Châu Âu sản xuất phần lớn số lượng diesel sinh học của thế giới và đã quy định phải tăng sản lượng nhiên liệu sinh học thêm 3% trước năm 2020 để giúp giảm bớt số lượng các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong không khí.
 
Cả Châu Âu lẫn Hoa Kỳ đang bỏ ra hàng tỷ đôla mỗi năm để bao cấp cho việc sản xuất nhiên liệu sinh học. Nhưng theo bà Katarina Wahlberg, một quan chức của Diễn đàn Chính sách Toàn cầu, một tổ chức có trụ sở ờ Thành phố New York chuyên theo dõi các hoạt động xây dựng chính sách của LHQ, thì việc tài trợ đó nên được chấm dứt.
 
Bà Wahlberg nói: "Có lẽ việc sản xuất nhiên liệu sinh học là nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay. Khi chuyển đổi lương thực thành nhiên liệu, quý vị phải cạnh tranh về đất đai, về nguồn nước, về mọi thứ nguồn lực, và gây sức ép đối với kho dự trữ và giá cả lương thực. Ngoài ra, việc chuyển đổi này cũng không thể nào bền vững được về mặt môi trường. Các công trình nghiên cứu được thực hiện nhiều năm trước đây không dự kiến được quy mô của việc sản xuất nhiên liệu sinh học hiện nay. Đến nay, người ta đã thấy rõ là hoạt động này cạnh tranh về đất đai và nguồn cung cấp lương thực và hoàn toàn không có tính cách bền vững. Nó không có lợi cho môi trường. Nhiên liệu sinh học không phải là giải pháp cho việc bảo vệ môi trường."
 
Chính quyền của Tổng thống Bush cho rằng hoạt động sản xuất nhiên liệu sinh học dùng ngô làm nguyên liệu chỉ chiếm 3% trong mức giá cả lương thực gia tăng trên toàn cầu. Một số nhà phân tích đồng ý với lập luận đó và gợi ý rằng người ta đã không công bằng khi quy trách nhiệm cho các loại nhiên liệu sinh học đã làm cho giá cả lương thực tăng vọt trên toàn thế giới, vì nhiên liệu sinh học thuộc thế hệ thứ nhất hiện nay được làm bằng cây lương thực và chí mang lại những kết quả khiêm tốn về năng lượng.
 
Kỹ sư hoá học George Huber thuộc Đại học Massachusetts tại Thành phố Amherst nói rằng điều quan trọng là chúng ta phải phân biệt giữa nhiều loại nhiên liệu sinh học khác nhau. Ông Huber nhận định:
Thách thức thật sự ở đây là các loại nhiên liệu sinh học thuộc thế hệ thứ nhất. Quý vị đang lấy những sản phẩm nông nghiệp như ngô và trực tiếp dùng nó để sản xuất nhiên liệu sinh học. Với nhiên liệu sinh học thuộc thế hệ thứ hai, được gọi là nhiên liệu sinh học sản xuất bằng cellulose, thì quý vị sử dụng sinh khối không ăn được làm nguyên liệu. Quý vị dùng những chất thải nông nghiệp hoặc các loại cây năng lượng, tức là các loại nguyên liệu không trực tiếp cạnh tranh với lương thực. Trong trường hợp của nhiên liệu ethanol sản xuất bằng ngô và diesel sinh học, quý vị có thể lý luận rằng những khoản bao cấp có thể được loại bỏ. Nhưng việc bao cấp vẫn còn cần thiết để bảo đảm cho các loại nhiên liệu sinh học có thể cạnh tranh được với các loại nhiên liệu khác về mặt kinh tế, đặc biệt là việc bao cấp cho nhiên liệu sinh học được chế tạo bằng cellulose.
 
Một số nhà quan sát lập luận rằng giá cả lương thực tăng vọt đang buộc các nhà làm chính sách, đặc biệt ở Châu Âu, phải xét các chương trình bao cấp cho nhiên liệu sinh học. Theo ông Ken Ash, phó giám đốc đặc trách thương mại và nông nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, một cơ quan đặt trụ sở ở Châu Âu,  người ta nên xét lại những chương trình nào không thực tế hoặc thiếu hiệu quả.
 
Ông Ash đề nghị: "Những chính sách nào chỉ đạt được những lợi ích tương đối khiêm nhường về an ninh năng lượng, những lợi ích tương đối khiêm nhường về bảo vệ môi trường, nhưng phí tổn lại tương đối cao, thì nên được mang ra xét lại - đặc biệt là những chính sách của các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Tôi nhớ Cơ quan Năng lượng Quốc tế từng nói rằng mục tiêu cao nhất mà người ta có thể đạt được trong thời hạn trung bình, không dài không ngắn, là khoảng 4 phần trăm của tổng số nhu cầu vận tải sẽ được đáp ứng bằng nhiên liệu sinh học."
Đồng thời, Ông Ash nói rằng tiềm năng của các loại nhiên liệu sinh học sản xuất bằng những vật liệu phế thải nên được thăm dò như một phần của tất cả các loại năng lượng thay thế.
 
Kỹ sư hóa học George Huber thuộc Đại học Massachusetts tại Thành phố Amherst nói rằng nguồn cung cấp sinh khối cellulose có đầy dẫy và rẻ tiền và phải được khai thác nếu muốn nhiên liệu sinh học có được một tác động lớn trong việc đáp ứng nhu cầu về nhiên liệu của thế giới.
 
Ông Huber giải thích thêm: "Sinh khối cellulose là các rừng cây, bãi cỏ, thảo mộc, và các vật liệu nông nghiệp phế thải. Nhiên liệu cellulose có thể giúp cải thiện đáng kể kinh tế của một số nước thuộc thế giới thứ ba, nơi có rất nhiều sinh khối. Sinh khối rất rẻ và dân chúng có thể bắt đầu tự sản xuất lấy để dùng hoặc bán ra ngoài thị trường tự do. Sinh khối phát triển nhanh hơn ở những khu vực gần xích đạo nhất. Do đó điều chúng ta cần làm là phải nghĩ ra phương cách thu hoạch sinh khối một cách bền vững và biến nó thành nhiên liệu".
 
Nhưng những người chỉ trích lo ngại rằng nhiên liệu sinh học có thể làm cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá nhanh hơn nữa. Bà Katarina Wahlberg, chuyên gia của Diễn đàn Chính sách Toàn cầu ở Thành phố New York, nói rằng công nghệ nhiên liệu sinh học cần được phát triển thêm.
 
Bà Wahlberg nhấn mạnh: "Hoặc là việc nghiên cứu và phát triển của các loại nhiên liệu sinh học này chưa tiến đủ xa để sản xuất được nhiên liệu sinh học có hiệu suất cao, hoặc là công tác này sẽ phải cạnh tranh về đất đai và nguồn nước với công tác sản xuất lương thực. Ngay cả các nhiên liệu sinh học do Brazil sản xuất cũng không có tính cách bền vững. Đã xảy ra trường hợp các công ty phá rừng ở Brazil để lấy đất sản xuất nhiên liệu sinh học. Một vài loại nhiên liệu sinh học tệ hại hơn những loại khác, và một số cung cấp được nhiều năng lượng hơn những loại khác. Ngay cả trong trường hợp đó, chúng cũng không có tính cách bền vững. Vì vậy tôi cho rằng người ta đã quá lạc quan về nhiên liệu sinh học."
 
Ông Paulo Sotero, giám đốc Viện Brazil tại Trung tâm Học giả Quốc tế Woodrow Wilson ở Thủ đô Washington, không đồng ý với đánh giá của Bà Wahlberg.
 






Brazil phát triển công nghiệp nhiên liệu sinh học trong khi vẫn là nước sản xuất và xuất khẩu nhiều lương thực nhất thế giớiÔng Sotero nói: "Thật là một điều sai lầm khi người ta liên kết việc sản xuất mía để chế tạo ethanol ở Brazil với nạn phá rừng. Brazil đã thay thế được một nửa nhu cầu của về nhiên liệu hoá thạch cho xe ôtô mà chỉ dùng hơn 1% một chút diện tích đất canh tác của mình. Vì vậy, ở Brazil, hoàn toàn không có tranh luận về chuyện nhiên liệu cạnh tranh với lương thực. Brazil đã phát triển công nghiệp nhiên liệu sinh học của mình trong khi vẫn trở thành nước sản xuất và xuất khẩu nhiều lương thực nhất trên hành tinh này."
 
Nhiều chuyên gia nói rằng cuộc tranh cãi về nhiên liệu sinh học có phần chắc sẽ tiếp tục cho đến khi thế hệ nhiên liệu sinh học kế tiếp sẵn sàng được đưa vào sản xuất thương mại trong vòng 3 hay 4 năm tới.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-06-05-voa33.cfm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-01 06:05:23Như Ý P>
25 Tháng 6 2008 - Cập nhật 14h56 GMTk]Xăng sinh học "làm nghèo thêm"  
[/align]


Nhu cầu xăng sinh học khiến cây công nghiệp chiếm chỗ đất nông nghiệp

Xăng sinh học được khen ngợi như là giải pháp để tránh ô nhiễm môi trường, nhưng mới đây một tổ chức thiện nguyện cho rằng đây là nguyên nhân khiến 30 triệu người rơi vào cảnh nghèo đói.
[/align] 
[/align]Oxfam nói chính sách tạm gọi là "xanh" của các nước phát triển đang góp phần khiến giá lương thực gia tăng, mà người nghèo là đối tượng gánh chịu nặng nhất.

Họ cũng nói là nhiên liệu sinh học không giúp gì trong chiến dịch chống ấm nóng toàn cầu.
Bản báo cáo cũng cảnh báo EU hãy bỏ mục tiêu sẽ đạt chỉ số 10% các loại phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu này vào năm 2020.

Oxfam ước tính hành động của EU sẽ làm mức khí thải Cac-bon tăng 70 lần vào năm 2020 do thay đổi cơ cấu cây trồng.

Tác giả của bản báo cáo, cố vấn về chính sách xăng sinh học Rob Bailey, chỉ trích các nước giàu đang dùng trợ giá và giảm thuế để khuyến khích các nơi trồng lương thực chuyển sang sản xuất năng lượng như ethanol.

"Nếu trồng cây làm xăng có lợi hơn cây lương thực thì người ta sẽ chuyển sang sản xuất nhiên liệu", ông nói.

"Các nước giàu... đang làm tình trạng thay đổi khí hậu thêm trầm trọng, không tốt hơn mà họ lại chiếm đoạt các vùng nông nghiệp để trồng cây công nghiệp, phá hủy cuộc sống của hàng triệu người".

Xăng sinh học đang là vấn đề gây tranh cãi với những lý luật gay gắt từ cả hai phía.

Các lãnh đạo như tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva cho rằng cơn sốt xăng sinh học mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển.
Nhưng cũng có các ý kiến ngược lại, như một cố vấn Liên hiệp quốc gọi xăng sinh học là "tội ác chống nhân loại".

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/story/2008/06/080625_biofuel.shtml

.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-08 06:29:16Như Ý P>
08 Tháng 7 2008 - Cập nhật 03h42 GMT
Kêu gọi cắt giảm nhiên liệu sinh học  


Nhiên liệu sinh học được sản xuất từ nông phẩm

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) Robert Zoellick kêu gọi các nước phát triển xem xét lại chính sách nhiên liệu sinh học của mình và tăng sản xuất lương thực để giúp các nước nghèo.
[/align] 
[/align]Ông chủ tịch đã có bài phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh khối G8 ở Nhật Bản, nơi các chủ đề giá cả hàng hóa lương thực tăng đang chiếm hàng đầu trong nghị trình.

Các lãnh đạo G8 cũng có thảo luận với đại diện bảy quốc gia châu Phi.

Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon, hiện có mặt tại hội nghị, đã kêu gọi các nước công nghiệp phát triển khắc phục các thách thức của tình trạng thay đổi khí hậu, nạn tăng giá lương thực và của quá trình phát triển kinh tế.

Phát biểu bên lề hội nghị thượng đỉnh Hokkaido, ông Zoellick nói nhiên liệu sinh học, vốn được chế biến từ nông phẩm, là một tác nhân gây tăng giá lương thực.

Ông đặc biệt chỉ trích nhiên liệu làm từ ngô và cải dầu mà Hoa Kỳ và một số nước châu Âu sản xuất.
Chủ tịch WB nói: "Hoa Kỳ và châu Âu cần có biện pháp giảm hạn ngạch, trợ giá và thuế quan ưu đãi cho việc sản xuất nhiên liệu sinh học vì việc này làm phương hại tới nguồn lương thực của hàng triệu người".
Ông Zoellick cũng kêu gọi các nước G8 tăng viện trợ lương thực và gỡ bỏ hàng rào thương mại đối với hàng nông sản.
 
Khủng hoảng lương thực
Cuộc họp kéo dài ba ngày đang diễn ra tại thị trấn Toyako trên đảo Hokkaido.

Trong ngày đầu của cuộc họp, ông Ban kêu gọi các lãnh đạo G8 giúp khắc phục tình trạng khủng hoảng lương thực thông qua cung cấp "toàn bộ các hàng hóa cần thiết như lương thực cứu trợ, hạt giống, phân bón ".

Ông cũng nói với các phóng viên rằng chính phủ các nước cần cam kết đầu tư lâu dài vào nông nghiệp và gỡ bỏ các rào cản thương mại vì mục đích nhân đạo.

Phát biểu của ông Ban được đưa ra cùng ngày với việc Anh quốc loan báo sẽ ngừng thúc đẩy việc sử dụng nhiên liệu sinh học vì 'ngày càng có nhiều câu hỏi' liên quan tới loại nhiên liệu này.



Các nhóm đấu tranh biểu tình phản đối việc giá cả tăng cao

Bộ trưởng Ruth Kelly nói: "Chúng ta cần tiến hành (sử dụng nhiên liệu sinh học) một cách thận trọng cho tới khi chắc chắn rằng việc mở rộng sử dụng tăng lợi ích và giảm thiểu nguy cơ cho toàn cầu".

Lãnh đạo các nước G8 - Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Nga và Hoa Kỳ - có mặt tại hội nghị cùng đại diện 15 quốc gia khác, trong có bảy nước châu Phi.

Châu Âu đã đề xuất một số chương trình giải quyết khủng hoảng lương thực.

Chủ tịch Ủy hội châu Âu Jose Manuel Barroso nói với các phóng viên rằng khối này sẽ sử dụng khoản trợ cấp chưa dùng tới trị giá một tỷ euro để giúp nông dân ở các nước đang phát triển.
Lãnh đạo G8 cũng đang phải đối diện các câu hỏi hắc búa liên quan viện trợ cho châu Phi.

Các nhà vận động nói rằng khối này chưa thực hiện được các cam kết đưa ra tại hội nghị thượng đỉnh G8 ba năm trước, nhằm tăng gấp đôi lượng viện trợ cho châu Phi trước năm 2010.
Ngoài các chủ đề phát triển tại châu Phi, lãnh đạo G8 cũng bàn về cuộc bầu cử vòng hai gây tranh cãi tại Zimbabwe hồi tháng trước.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2008/07/080708_g8_biofuel.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0



Tái xét việc sản xuất nhiên liệu sinh học


15/07/2008



Một cuộc tái xét độc lập về các loại nhiên liệu sinh học kết luận rằng sản xuất nguồn nhiên liệu thay thế này là yếu tố đóng góp đã khiến giá lương thực-thực phẩm gia tăng trên toàn cầu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy là các loại nhiên liệu sinh học, trên thực tế, có thể làm tăng các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kiếng, điều mà người ta hy vọng nhiên liệu sinh học có thể giúp giảm thiểu. Như lời tường thuật của thông tín viên Tendai Maphosa từ London, thì đây chỉ là một trong nhiều phúc trình bày tỏ quan tâm và kêu gọi các nước hãy xét lại việc sản xuất nhiên liệu sinh học.

Chính phủ Anh đã yêu cầu thực hiện cuộc nghiên cứu tái xét việc sản xuất nhiên liệu. Công trình này, do Giáo Sư Gallagher đứng đầu, kết luận rằng nước Anh không nên từ bỏ nhiên liệu sinh học, thế nhưng nên giảm tốc độ sản xuất và sử dụng loại nhiên liệu này. Tác giả cuộc nghiên cứu đề nghị nên áp dụng một đường lối tiếp cận thận trọng hơn cho tới khi nào các chính sách quốc tế đã được thiết lập.

Giới chỉ trích lập luận rằng các khu rừng nhiệt đới và nhiều khu vực thuộc thế giới đang phát triển có thể bị tác động tai hại vì đất đai, trước đây được dùng để trồng cây lương thực, nay được chuyển sang để trồng các loại cây dùng vào việc sản xuất nhiên liệu.

Chính phủ Anh đã chấp thuận những đề nghị do phúc trình đưa ra. Bộ Trưởng Giao Thông Ruth Kelly đã lên tiếng trước diễn đàn Quốc Hội Anh và đề cập đến những kết luận trong bản phúc trình.

Giáo Sư Gallagher còn kết luận rằng có một nguy cơ là phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học có thể dẫn đến những thay đổi liên quan tới việc sử dụng đất đai một cách không bền vững, như việc phá hủy các rừng nhiệt đới để trồng các loại cây dùng vào việc sản xuất nhiên liệu sinh học. Làm như thế trên thực tế, có thể làm tăng các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kiếng, và cùng lúc, đóng góp làm tăng giá lương thực-thực phẩm, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực.  

Một tổ chức chống nạn đói, có tên là Action Aid, nói nhiên liệu sinh học đã đẩy giá lương thực lên tới 30%. Cơ quan này kêu gọi nên đặt ra tạm ngưng trong vòng 5 năm trợ cấp dành cho những người trồng cây để làm nhiên liệu sinh học, và cùng lúc gia tốc các nguồn nhiên liệu thay thế khác.

Một nữ phát ngôn viên của tổ chức Action Aid về vấn đề nhiên liệu sinh học, bà Claire Melamed, nói với đài VOA rằng mặc dù tổ chức của bà hoan nghênh phúc trình của Giáo sư Gallagher, kêu gọi hãy thận trọng đối với việc phát triển nhiên liệu sinh học, nhưng tổ chức của bà cảm thấy thất vọng.

Bà Melamed nói: "Chúng tôi đã hy vọng sẽ có một phản ứng quyết liệt hơn, như chúng ta nên ngưng sản xuất nhiên liệu sinh học ngay từ bây giờ, và hoàn toàn xét lại vấn đề làm thế nào và nên chọn nơi nào để sản xuất nhiên liệu sinh học có thể giúp giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kiếng, mà không đẩy hàng triệu người vào tình trạng đói kém."

Nước Anh đã đồng thuận với một quyết định của Liên Hiệp Châu Âu, kêu gọi là tới năm 2010, tất cả các loại xăng hoặc dầu bán ra ở trong nước phải gồm 5% nhiên liệu sinh học. Tỷ lệ này sẽ tăng lên 10% trước năm 2020. Để đạt được mục tiêu đó, khởi sự từ đầu năm nay, 2,5% tất cả các loại xăng và dầu được bán ra trong nước Anh đều xuất phát từ các loại cây trồng.

Nhiên liệu sinh học chủ yếu được sản xuất từ các loại cây như bắp, mía và các loại dầu sinh học.

Hồi đầu tháng, nhật báo The Guardian của Anh đã trích một phúc trình của Ngân Hàng Thế Giới còn được giữ kín, nói rằng nhiên liệu sinh học đã đẩy giá lương thực-thực phẩm trên thế giới lên tới 75%. Theo tờ The Guardian, thì phúc trình này được dựa trên một cuộc phân tích chi tiết nhất từ trước tới nay về cuộc khủng hoảng này. Tác giả phúc trình là một nhà kinh tế nổi danh được thế giới tôn trọng, ông làm việc cho một cơ quan tài chánh quốc tế.

Các vấn đề nhiên liệu sinh học, thay đổi khí hậu, và việc gia tăng giá lương thực toàn cầu là những đề tài ghi trong nghị trình thảo luận tại Hội Nghị Cấp Cao G-8 vừa qua ở Nhật Bản. Tại hội nghị này, Thống Đốc Ngân Hàng Thế Giới Robert Zoelick đã nói rằng nhiên liệu sinh học là yếu tố đóng góp làm tăng giá lương thực-thực phẩm. Ông Zoelick đặc biệt đề cập đến nhiên liệu chế biến từ bắp và hạt cải dầu sản xuất tại Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu.

http://www.voanews.com/vietnamese/2008-07-15-voa18.cfm
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-20 01:42:35lyenson>
Nguyên liệu cho sản xuất nhiên liệu sinh học
 
Ngày 20.11.2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học (NLSH) đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”. Đây là định hướng đúng đắn trong việc tìm kiếm và sử dụng nguồn năng lượng sạch mới trong tương lai ở nước ta. Tuy nhiên, vấn đề nguyên liệu cho sản xuất NLSH cần được xem xét không chỉ dưới góc độ công nghệ và sản phẩm thuần túy, mà còn phải xem xét mối quan hệ của chúng với cơ chế thị trường và giá cả. Bởi vì đó là yếu tố quyết định sự thành bại của một đề án cấp quốc gia.


Mối quan hệ giữa nguyên liệu và quy luật thị trường

Chúng ta đều biết rằng, nguyên liệu có tầm quan trọng đặc biệt để sản xuất ra hàng hóa. Hàng hoá, qua chu trình vận động của nó trở thành tiền tệ, rồi lại trở lại phục vụ cho sản xuất nguyên liệu, sản xuất hàng hóa. Đó là một chu trình khép kín với các công đoạn khác nhau nhưng tầm quan trọng của chúng như nhau.

Khi chúng ta xét NLSH đơn thuần là một loại hàng hóa của chu trình trên, sẽ thấy rằng, nếu có thêm một vài yếu tố khách quan nào đó tác động vào, chu trình sẽ bị thay đổi, hay nói đúng hơn, nó sẽ được vận hành trái với quy luật. Điều này đồng nghĩa với việc làm cho chu trình bị đảo lộn, dẫn đến những khó khăn không lường trước.

Sở dĩ phải đề cập đến vấn đề Tiền - Hàng, một vấn đề hóc búa trong kinh tế học, để khuyến cáo rằng, trước khi quyết định tập trung vào một loại nguyên liệu nào đó để sản xuất NLSH, cần phải tham vấn các nhà kinh tế học để đảm bảo rằng, không có một yếu tố duy ý chí nào xen vào chu trình biến NLSH thành hàng hóa. Việc phát triển NLSH không thể nằm ngoài quy luật Tiền - Hàng, một Quy luật cơ bản của kinh tế thị trường. Các sản phẩm được gọi là hàng hóa phải tuân thủ quy luật này mới tồn tại một cách lành mạnh và phát triển bền vững.

Khi nói đến nguyên liệu cho NLSH, trước hết phải xem nó như một loại hàng hóa và như vậy, đương nhiên nó phải điều chỉnh giá cho phù hợp với quy luật Tiền - Hàng. Mọi sự trợ giúp từ phía Nhà nước càng lớn bao nhiêu thì tác động ngược lại cũng sẽ lớn bấy nhiêu. Kinh nghiệm của một số nước đi trước như Mỹ, Đức (miễn thuế, trợ giá, bù giá…) cho thấy rằng, đến một thời điểm, khi mà Nhà nước không thể tiếp tục việc can thiệp như trước, sẽ xảy ra những vấn đề về giá cả, giải quyết không ổn sẽ kéo theo sự sụp đổ của cả chương trình, lãng phí sẽ vô cùng lớn, tác hại về kinh tế - xã hội khó mà lường được.

Vậy, vai trò của Nhà nước trong vấn đề này như thế nào?

Chính phủ đã có chiến lược phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025, trong đó nêu rất nhiều giải pháp để đạt được mục tiêu đề ra. Bản đề án khá hoàn chỉnh và súc tích là cơ sở để tin tưởng rằng NLSH sẽ sớm được phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần phải có một phương pháp làm cụ thể và khoa học, không nằm ngoài các quy luật, đồng thời cần rút ra các bài học từ kinh nghiệm đi trước của nước ngoài.

Hiện nay, khi nước ta chưa có một nền công nghiệp lọc hoá dầu, thì xăng dầu vẫn được nhập và sử dụng như một loại hàng hoá, mặc dù có gắn thêm hai chữ “đặc biệt”. Tại sao không xem NLSH cũng như xăng dầu từ dầu mỏ?

Theo tôi, Nhà nước cần khẳng định Việt Nam sẽ sử dụng NLSH (kể từ thời điểm xác định) và cơ quan quản lý nhà nước nào chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nào có trách nhiệm mua E-100 và B-100 để phối trộn (E-100 và B-100 theo TCVN). Những đơn vị này sẽ nghiên cứu nên pha theo tỷ lệ nào và giá mua vào là bao nhiêu. Giá cả nên để cho thị trường quyết định, nghĩa là người bán (người sản xuất), người mua (các đơn vị được chỉ định chính thức hoặc thí điểm) đều có lợi.

Bất kỳ cá nhân, tập thể, doanh nghiệp nào cũng có thể sản xuất E-100 và B-100 để bán và bán với giá thị trường mà đơn vị có trách nhiệm có thể mua, miễn là bảo đảm chất lượng theo quy định. Nhà nước chỉ cần có những biện pháp thông thoáng, không rườm rà trong các thủ tục về sản xuất, về đất đai để cá nhân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư mà không tạo ra bất cứ sự trợ giá nào (có chăng, chỉ nên đặt ra một giá trị thuế nào đó, để cả hai bên cùng có lợi).

Trường hợp trong nước không sản xuất được NLSH với giá chấp nhận được, các đơn vị được chỉ định mua để phối trộn và phân phối (có thể nhập, miễn là có lời và đạt chất lượng). Tất nhiên, các đơn vị này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Có như vậy, NLSH mới sớm đi vào đời sống của nền kinh tế Việt Nam. Hơn thế nữa, NLSH mới thực sự là hàng hóa, tự động chuyển đổi theo đúng quy luật của nó.

Mối quan hệ giữa nguyên liệu và giá thành sản phẩm

Khi quyết định đầu tư sản xuất nguyên liệu cho NLSH (mía, đường, tinh bột… để sản xuất cồn và làm khan cồn - E-100 để phối trộn với xăng; hay trồng các loại cây dầu thực vật để lấy dầu và sản xuất diesel sinh học - B-100), các cá nhân hay doanh nghiệp phải lường trước và xác định rõ giá thành sản phẩm sẽ là bao nhiêu? Liệu có cạnh tranh được với etanol của Brazin hay dầu cọ của Malaixia? Nếu không thể cạnh tranh được, mà chỉ trông chờ Nhà nước trợ giá, miễn thuế, bù lỗ…, thì liệu sẽ tồn tại được bao lâu, khi mà tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng và quyết liệt? Rất nhiều đề án trồng cây Jatropha với nhiều hecta đất từ Bắc chí Nam được đệ trình; rất nhiều đề án trồng mía, khoai mỳ để sản xuất etanol được xây dựng. Tất cả các đề án đó, nhiều hay ít, đều dựa trên cơ sở miễn thuế, giảm thuế, cho không đất… trong khi đất đai cũng là hàng hoá đặc biệt?

Chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới nhưng người trồng lúa vẫn ở mức nghèo khổ, trong khi xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế giới thì người trồng cà phê lại giàu lên, tại sao vậy? Có phải tại lúa của ta cho năng suất thấp, còn cà phê cho năng suất cao? Xin thưa rằng không phải vậy. Nguyên nhân chính là hệ thống phân phối đa cấp, nhỏ lẻ đã làm cho lợi nhuận thu được từ hàng hoá bị phân chia ra nhiều tầng nấc trước khi đến tay người nông dân trồng lúa. Chính sự nhỏ lẻ, manh mún của việc sản xuất lúa đã tạo nên nhiều tầng nấc trung gian. Người trồng cà phê không nhiều và khâu thu mua không phức tạp nên sự chênh lệch giá không quá lớn, vì thế người trồng cà phê giàu lên là đương nhiên.

Nếu sản xuất nguyên liệu cho NLSH cũng lặp lại mô hình trồng lúa thì dù diện tích có tăng lên bao nhiêu đi nữa, người trồng vẫn không phấn khởi, giá thành nguyên liệu sẽ vẫn không ổn định, dẫn đến giá thành NLSH không thể cạnh tranh được với nhiên liệu hoá thạch. Lúc đó sẽ nảy sinh vấn đề trợ giá hay không trợ giá? Do đó, không cần thiết phải bao cấp cho việc sản xuất nguyên liệu. Hãy để thị trường phản ánh giá trị thực của nguyên liệu theo đúng quy luật của nó.

Hệ quả của hai mối quan hệ trên và những vấn đề cần lưu ý

Vấn đề nguyên liệu cho sản xuất NLSH, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đã được trình bày ở trên. Như vậy, nguyên liệu cho sản xuất NLSH có quan hệ mật thiết với cơ chế thị trường và giá cả của nó. Chúng ta đang phấn đấu là một quốc gia có nền kinh tế thị trường đầy đủ thì hãy để cho thị trường quyết định loại nguyên liệu nào nên trồng, loại nguyên liệu nào không nên trồng.

Xăng sinh học xuất phát từ công nghiệp mía đường cũng như các loại cây cho bột như sắn, bắp… với sản phẩm duy nhất mà nó tạo ra chính là cồn thực phẩm. Sau khi làm khan nước mới có thể sử dụng để phối trộn với xăng của dầu mỏ.

Diesel sinh học đi từ dầu béo, mỡ động vật…, sản phẩm của nó rất đa dạng. Trong tiêu chuẩn biodiesel của các nước cũng như của Việt Nam, không hề quy định số hydro cacbon có trong mạch (mạch dài hay ngắn không quan trọng), dẫn đến rất nhiều loại dầu béo có thể làm NLSH. Vì vậy, tại sao phải giới hạn chỉ cây này hay cây kia mới là nguyên liệu cho biodiesel? ở một số nước, người ta chỉ có thể trồng đại trà một số loại cây có dầu nhất định - gọi là cây chủ lực, trong khi ở Việt Nam - có rất nhiều loại cây cho hạt có dầu quanh năm, có thể sử dụng - lại chỉ tập trung chú trọng vào một loại nào đó, cho dù nó có những tính chất đặc biệt.

Những quan niệm như vậy đã vô tình xoá bỏ tính thị trường của nguyên liệu cho biodiesel. Tại sao những người dân ở miền núi phía Bắc có vài trăm hecta rừng Sở lại không thể bán hạt của nó để tăng thêm thu nhập cho mình? Một vài gốc cây Gòn trước nhà của nhiều người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm cho vài trăm kilôgam hạt, tại sao không thể là nguồn thu nhập chính đáng của họ, trong khi dầu hạt Gòn không khác các loại dầu khác? Hay người dân trồng bông vải, thu thêm vài trăm kilôgam hạt trên cánh đồng bông của mình, lại không thể bán cho nhà sản xuất biodiesel để cải thiện thêm đời sống của mình? Tính nhân văn của NLSH chính là ở chỗ đó; giá trị xoá đói giảm nghèo của nó cũng chính là ở chỗ đó; tác dụng chống xói lở, phủ xanh đất trống đồi trọc của nó cũng chính ở chỗ đó. Vì vậy, hãy tạo cơ hội cho mọi nguồn lực tham gia sản xuất nguyên liệu cho NLSH, có cơ hội tìm kiếm thu nhập từ đó. Xã hội hoá việc sản xuất nguyên liệu cho NLSH là biện pháp tốt nhất chống lại sự độc quyền và thao túng giá nguyên liệu của các tập đoàn. Cây có dầu là cây lâu năm, không sợ sự nhỏ lẻ như trồng lúa.

Như vậy, cơ chế thị trường sẽ điều chỉnh giá nguyên liệu, còn công nghệ (hay nhà sản xuất) sẽ quyết định nguyên liệu đó có giá bao nhiêu? Mối quan hệ này là rõ ràng và biện chứng.

Chiến lược phát triển nguyên liệu để sản xuất NLSH cần lưu ý một số điểm sau:

Một là, nguyên liệu cho sản xuất cồn cần phải nhanh chóng chuyển hướng sang sử dụng biomass (các dạng cành cây, mùn cưa, lá, rơm rạ…). Các loại cây cho bột nên tập trung cho mục tiêu lương thực, vì lương thực quan trọng hơn NLSH. Các dạng thiên tai trong vài năm tới sẽ làm thay đổi quan điểm của thế giới, vì vậy, không nên cứ nhắm mắt đi theo con đường người khác đã đi.

Hai là, nguyên liệu cho biodiesel chỉ nên dựa trên các loại dầu không ăn được. Chỉ nên trồng những loại cây không làm tổn hại đất, có nhiều ứng dụng khác nhau để tăng hiệu quả kinh tế.

Ba là, không nên bao cấp NLSH, cũng như không nên chờ nghiên cứu xong mới triển khai. Hãy xem nó như xăng dầu bình thường và tôn trọng quy luật thị trường của nó.

Bốn là, sản xuất E-100 và B-100 phải dựa trên công nghệ không bã thải mới hy vọng khống chế giá của chúng trong biên độ thấp hơn hoặc bằng nhiên liệu từ dầu mỏ.

Năm là, đầu tư cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực NLSH là cần thiết nhưng không nên quá dàn trải, quá mỏng. Những vấn đề phụ gia, công nghệ phối trộn chỉ nên giao cho đơn vị thực hiện việc này chủ trì nghiên cứu và áp dụng.

Sáu là, việc trồng hàng trăm hecta cây Jatropha trên một vùng đất nào đó, cần phải xem xét và đánh giá tác động môi trường của loại cây này. Ai cũng biết rằng cây Jatropha có những độc tính nhất định, được trồng làm hàng rào quanh nhà để ngăn ngừa sâu bọ, rắn rết. Khi có hàng trăm hecta trồng Jatropha, các loại côn trùng, động vật này sẽ đi đâu? Chắc chắn nó sẽ phải đi về phía không có cây này, đó là khu dân cư. Vì vậy, cần hết sức lưu tâm tới vấn đề này.
 
Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-XE68oQ49YqMEaT2UtusyNXI-?cq=1&p=336

📎 800c
Đăng nhập để trả lời
0
Phát triển nhiên liệu sinh học: Dù muộn, vẫn phải làm!10:00' 27/10/2007 (GMT+7) (VietNamNet)Dù muộn, vẫn phải thực hiện phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam... PGS TS Chu Tuấn Nhạ - Chủ tịch Hội đồng chính sách Khoa họ
c và Công nghệ quốc gia đã trả lời phỏng vấn của phóng viên VietNamNet nhân Hội thảo “Nhiên liệu sinh học cho vận tải: Tiềm năng và điều kiện phát triển” tổ chức tại Hà Nội vào ngày 26/10.

PV: - Trong vài năm nay, đã có nhiều cuộc hội thảo bàn về việc phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam... Cuộc hội thảo lần này, ta lại bàn tiếp hay có hướng cụ thể nào hơn chăng cho vấn đề này?
PGS TS Chu Tuấn Nhạ - Chủ tịch Hội đồng chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia:"Dù muộn, vẫn phải thực hiện phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam..." (Ảnh: Ng. Huyền)
PGS.TS Chu Tuấn Nhạ: Mục đích của hội thảo này là đưa ra ý kiến để xây dựng lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học Việt Nam.
Còn lộ trình sơ bộ do Bộ Công thương soạn thảo và đưa ra báo cáo tại hội thảo này đã được yêu cầu phải cụ thể hơn, chi tiết hơn như vấn đề ưu đãi; trợ giá; miễn, giảm thuế thực hiện như thế nào... Cùng với đó là các bước đi về nghiên cứu có liên quan đến đất đai, tăng năng suất cây trồng để sử dụng hiệu quả nguồn đất đai nông nghiệp hiện rất hạn chế; vấn đề tổ chức các trạm phân phối, xây dựng tiêu chuẩn...
Qua hội thảo này, chúng ta phải thành lập bước đi hết sức cụ thể và có những chính sách cụ thể. Vấn đề phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam chỉ có thể thành công khi có quyết tâm chung của cả nước, trong đó có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học và các doanh nghiệp.
Tiếp tục thúc đẩy chính sách phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam
Ngày 26/10, tại Hà Nội, Hội đồng chính sách Khoa học - Công nghệ quốc gia đã tổ chức Hội thảo: "Nhiên liệu sinh học cho vận tải: Tiềm năng - điều kiện phát triển". Mục đích của hội thảo là nhằm kết nối các nhà khoa học cùng với với các doanh nghiệp quan tâm đầu tư sản  xuất nhiên liệu sinh học, đồng thời, tập trung ý kiến từ nhiều ngành để thúc đẩy chính sách quốc gia về phát triển nhiên liệu sinh học, bao gồm đầu tư, sản xuất, phân phối nhiên liệu sinh học ở Việt Nam. Có 140 đại biểu đại diện cho giới khoa học, giới doanh nghiệp trong cả nước cùng đại diện các cơ quan Nhà nước có liên quan như Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Công thương, Văn phòng Chính phủ đã tham dự hội thảo.  Tại hội thảo trên, giới khoa học và doanh nghiệp đã hướng sự chú ý đến việc phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam từ cây dầu mè, mía, dừa và cá basa. 
[/align] - Một trong những vấn đề mà giới doanh nghiệp đang mong đợi để có thể đầu tư vào phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam là tiêu chuẩn nhiên liệu sinh học... Chúng tôi nghe nói, bộ tiêu chuẩn này đang được các cơ quan chức năng soạn thảo?
- Tiêu chuẩn cho nhiên liệu sinh học đã được xây dựng xong bản thảo và hiện đang trình Bộ Khoa học và Công nghệ ký và ban hành.
- Thế nhưng đây lại cũng chỉ mới là bước đi ban đầu vì mới có tiêu chuẩn cho nhiên liệu sinh học không thôi thì chưa đủ... Doanh nghiệp còn cần cả một loạt chính sách từ Nhà nước thì mới có thể mạnh dạn đầu tư vào công nghiệp nhiên liệu sinh học được?
- Tiêu chuẩn thì có thể xong sớm nhưng chính sách thì phải đợi qua hội thảo này. Sau hội thảo này, Bộ Công thương sẽ tập trung ý kiến và trình lên Chính phủ.
Thực ra nhiều nước có nguồn năng lượng dồi dào hơn Việt Nam nhưng họ vẫn quan tâm đến phát triển nhiên liệu sinh học. Do vậy, một mặt các nhà khoa học phải đầu tư nghiên cứu để có tính thuyết phục hơn, một mặt nhận thức của các ngành các cấp về vấn đề này cũng phải rõ hơn. Phải có ban chỉ đạo cấp Nhà nước và một đồng chí lãnh đạo Chính phủ làm trưởng ban ví dụ như Phó Thủ tướng... 
- Hiện vấn đề tìm kiếm nhiên liệu thay thế dầu mỏ đang là vấn đề nóng của toàn cầu... Mỹ có xu hướng sử dụng xăng pha cồn với cồn tinh chiết từ bắp (ngô), một số nước khác lại có xu hướng sử dụng dầu cọ, dầu cải. Việt Nam sẽ tìm kiếm nguồn nhiên liệu thay thế từ loại cây nào? Có những chủ trương gì để giải quyết vấn đề này?
- Để phát triển nhiên liệu sinh học ở nước ta, cần phải tính toán hết sức cụ thể. Mỗi nước đều có những ưu thế hoặc hạn chế trong việc chọn lựa loại cây trồng thích hợp cho nhu cầu phát triển nhiên liệu sinh học. Có nước nhấn mạnh nhiên liệu sinh học từ mía, có nước thì làm từ sắn, dầu cọ... Trong hội thảo này, các báo cáo nói nhiều về cây dầu mè và cây mía.
Đối với cây dầu mè, một loại cây mới thì đặc điểm của loại cây này là có thể trồng được từ trong Nam ra ngoài Bắc và dễ thích nghi với điều kiện khí hậu. Nhiều đơn vị ở ta đã nghiên cứu về cây dầu mè nhưng những nghiên cứu đó chỉ được thực hiện lẻ tẻ hoặc riêng lẻ mà chưa có sự liên kết để nhìn nhận vấn đề một cách hệ thống.

Cây dầu mè: 750 USD/tấn hạt - Ứng viên số một của đầu tư phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam. 

 
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có nhiều ý kiến từ giới khoa học đề nghị đầu tư trồng và phát triển cây dầu mè, còn gọi là cây cọc rào, cây diesel (tên khoa học Jatropa curcas) ở Việt Nam. Đây là loại cây có tính chịu hạn cao. Hạt dùng để ép dầu và dầu được dùng thẳng cho các động cơ diesel mà không cần qua chế biến, hoặc có thể pha chung với diesel từ dầu mỏ theo tỷ lệ từ 0,5-20%. Trung bình, cây cho năng suất từ 3-12 tấn hạt/ha (ép hạt thu được từ 1-3 tấn dầu diesel sinh học). Giá 1 tấn hạt cây dầu mè là 750 USD. Hiện đang có nhiều doanh nghiệp nước ngoài như Công ty Eco-Carbore (Pháp), Van Der Horst Biodiesel JVC (Singapore) dự định hợp tác đầu tư trồng cây dầu mè ở Việt Nam. Các công ty này sẽ hỗ trợ vốn đầu tư và bao tiêu sản phẩm cho các hộ dân, đơn vị trồng cây dầu mè. (Theo tài liệu của TS Lê Võ Định Tường, Phân viện hóa học các hợp chất thiên nhiên tại TP.HCM)

Mục đích của hội thảo này là ngồi lại với nhau, lắng nghe ý kiến của nhau trên cơ sở những nghiên cứu bước đầu đó. Nhưng để có được sự chọn lựa chính xác cho việc đầu tư phát triển loại nhiên liệu sinh học nào thì vẫn cần những nghiên cứu thêm cùng số liệu nghiên cứu một cách đầy đủ.
Cuối cùng, để thực hiện có hiệu quả toàn bộ quá trình này cho vấn đề phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam cần phải có sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ. Nói đúng hơn là, cần phải có một quyết định của Thủ tướng. 

- Theo các nhà khoa học, nhiên liệu sinh học đưa vào sử dụng có giá thành tương đối cao, ông đánh giá tính khả thi như thế nào khi đưa vào sử dụng ở Việt Nam?
- Đã có nhiều bài học về vấn đề này từ kinh nghiệm các nước... Ví dụ, trong một số báo cáo hôm nay cho biết ở Mỹ, thoạt tiên, khi họ thúc đẩy sự phát triển mạnh về nhiên liệu sinh học thì họ đã chưa tính hết xăng sinh học không thể vận chuyển theo đường ống dẫn dầu mà phải vận chuyển bằng ôtô. Thành thử, tính ra thì chi phí giá thành rất cao. Do vậy, từ bài học kinh nghiệm này chúng ta cần phải tính thêm một số chính sách khác. Hay, như ở Hàn Quốc, khi bắt đầu đưa nhiên liệu sinh học vào sử dụng phải có chính sách giảm thuế nhưng nếu nếu mọi việc tiến triển tốt thì trong vòng 10 năm sau không cần phải giảm thuế nữa. Khi đó, giá thành của nhiên liệu sinh học hoàn toàn có thể cạnh tranh được với xăng thông thường.
Tóm lại, ban đầu bao giờ cũng phải có chính sách khuyến khích của Nhà nước như: Giảm thuế, hỗ trợ nghiên cứu... Sau đó, khi đưa vào sử dụng rồi thì giá thành của nhiên liệu sinh học cũng sẽ mang tính cạnh tranh được. Theo như báo cáo của một công ty Hàn Quốc, lộ trình này phải mất tới 5 - 10 năm. Lúc đầu, Bộ Tài chính Hàn Quốc đã rất ngần ngại bởi đưa ra chủ trương giảm thuế thì Nhà nước sẽ bị thất thu...
- Phát triển nhiên liệu sinh học không phải là vấn đề mới trên thế giới. Hàng chục năm nay, nhiều nước như Mỹ hay các nước ở châu Âu như Đức, châu Á như Thái Lan, Indonesia... đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng nhiên liệu sinh học. Còn ta, vẫn đang bàn và tiếp tục bàn... Có chậm quá không, thưa ông?
- Chúng ta đã bị muộn rồi, nhưng muộn vẫn phải làm và thúc đẩy sự phát triển và phải phát triển đồng bộ, ví dụ như doanh nghiệp sản xuất không có chính sách trợ giá thì sẽ không làm được. Bên tài chính thì sợ thiếu hụt nên không đồng ý. Tóm lại, chúng ta cần phải có nhạc trưởng...
Tôi mong sau hội thảo này, các nhà khoa học và doanh nghiệp sẽ liên kết với nhau. Các cơ quan quản lý Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công thương và Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cần phối hợp với nhau và ra được một lộ trình cụ thể, bài toán cụ thể về vấn đề này.
- Xin cảm ơn ông!
Ngọc Huyền (thực hiện) [/align]

Nhà trẻ http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=353773
Chat room http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=345893
Phòng khám Răng-Hàm-Lưỡi http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx
Đăng nhập để trả lời
0
Nhiên liệu sinh học: Định hướng sai sẽ là thảm họa!15:09' 28/10/2007 (GMT+7) (VietNamNet) - Sau bài Phát triển nhiên liệu sinh học: Dù muộn, vẫn phải làm!, PGS-TS Hồ Sơn Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng đã có bài viết gởi VietNamNet, trong đó, ông bày tỏ sự bức xúc trước một số vấn đề đang đặt ra trong định hướng phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết PGS-TS Hồ Sơn Lâm như dưới đây (Tựa bài và tít phụ trong bài đã được đặt lại do biên tập).


Theo đề nghị của Hội đồng Chính sách Khoa học & Công nghệ Quốc gia (HĐCSKHCNQG), Chính phủ đã giao cho Bộ Công thương soạn thảo "Một số định hướng chính sách đầu tư phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam“..
Văn bản trên đã được trình bày tại hội thảo khoa học do Hội đồng chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (HĐCSKHCNQG) tổ chức vào ngày 26/10, và được đông đảo các cơ quan, doanh nghiệp, các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này đón nhận với nhiều đánh giá khác nhau.
Bản thân tôi, hoàn toàn nhất trí với sự đánh giá về tầm quan trọng của nhiên liệu có nguồn gốc sinh học ở Việt Nam, như đã được giới thiệu trong văn bản nói trên của Bộ Công thương.
Có thể nói rằng, Việt Nam đang đi sau 40 - 45 quốc gia trên thế giới với khoảng cách từ 10 -15 năm trong lĩnh vực này. Để đuổi kịp các nước, Việt Nam cần một chiến lược phát triển rõ ràng, cụ thể với lộ trình được vạch ra một cách một cách khoa học, có tính khả thi cao.
Tuy nhiên, trong văn bản nói trên của Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công thương), những đề xuất nêu ra còn chung chung và quá chậm chạp về tiến độ. Hơn nữa, vẫn mang nặng hình thức quản lý với quá nhiều bộ, ngành, trong khi thiếu hẳn những cơ quan trực tiếp thực thi.
Điều này được thể hiện rõ khi trong văn bản trên, đã không thấy đề cập đến sự tham gia của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong việc phát triển nhiên liệu sinh học cho đất nước. Trong khi đó, đây lại là một cơ quan tập trung nhiều đơn vị có tiềm lực về thiết bị, đội ngũ cán bộ nghiên cứu có chất lượng ngang tầm quốc tế.
Tương tự, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nhiều triệu đô la cho việc trồng nguyên liệu, cơ sở nhà xưởng, máy móc thiết bị, chuẩn bị sẵn sàng cho công cuộc phát triển nhiên liệu sinh học cũng không thấy được đề cập đến.
Từ thực tế đó, tôi xin được trình bày một số quan điểm của mình liên quan đến việc phát triển nhiên liệu có nguồn gốc sinh học ở Việt Nam để các cấp có thẩm quyền xem xét.
PGS-TS Hồ Sơn Lâm (Ảnh: VietNamNet)
PGS-TS Hồ Sơn Lâm, sinh năm 1950. Ông tốt nghiệp tiến sĩ về hóa dầu tại Đức vào năm 1983 và được phong hàm Phó Giáo sư vào năm 2002. Ngoài chức vụ Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng (Viện Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia), ông còn là ủy viên Hội đồng khoa học liên ngành tại TP.HCM và là thành viên Ban chủ nhiệm chương trình Vật liệu mới, một trong 15 chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp TP.HCM. Trong những năm qua, PGS-TS Hồ Sơn Lâm cùng các cộng sự đã hợp tác với Viện Hóa kỹ thuật - ĐH Tổng hợp Jena (Đức) để nghiên cứu một loạt vấn đề liên quan đến nhiên liệu sinh học ở Việt Nam.  
Giờ "G" và "ai" điều phối:  Không định rõ, sẽ có rối loạn...
Hội thảo lần thứ nhất về "Nhiên liệu có nguồn gốc sinh học ở Việt nam“ vào tháng 8/2006 tại TP.HCM do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì đã được nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, trường đại học, doanh nghiệp từ khắp cả nước quan tâm, tham dự và trao đổi ý kiến một cách thẳng thắn, xây dựng.
Sau hội thảo, một số vấn đề được đặt ra là: Nhà nước có chủ trương sử dụng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam hay không? Nếu có thì bao giờ thực hiện? Các chế độ chính sách cho việc phát triển nhiên liệu sinh học? Tiêu chuẩn chất lượng loại nhiên liệu này của Việt Nam ? Cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc phối trộn và phân phối?
Thông điệp đó đã được HĐCSKHCNQG cũng như một số cơ quan quản lý Nhà nước khác tiếp thu và thực hiện khá nhanh, như HĐCSKHCNQG đã có văn bản trình Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành bộ Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam về nhiên liệu sinh học.... Thế nhưng, nhìn chung cho đến nay đã 2 năm trôi qua mà những vấn đề cơ bản nhất vẫn chưa có lời giải như: Thời điểm cụ thể nào sẽ áp dụng việc sử dụng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam? Cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc tiếp nhận, phối trộn và phân phối trên lãnh thổ Việt Nam?
Không giải quyết được hai vấn đề trên, mọi chủ trương, chính sách sẽ chỉ là chủ trương, chính sách trên giấy.
Tại sao lại như vậy? Xin thưa:
Nhiên liệu sinh học bao gồm 2 loại: Cồn tuyệt đối pha xăng (biofuel) và este của dầu béo pha diesel (biodiesel). 
Nếu chưa có lộ trình cụ thể, không một doanh nghiệp nào muốn đầu tư tiền tỷ rồi ngồi chờ lúc nào đến giờ G sẽ thực hiện. Có thể sẽ xẩy ra tình trạng nhiều doanh nghiệp sẽ liên doanh với đối tác nước ngoài để trồng nguyên liệu, sau đó nguyên liệu thô sẽ xuất ra nước ngoài. Khi Việt Nam cần, lại phải nhập về.
Nếu chưa có một cơ quan chính chịu trách nhiệm điều phối nguồn nhiên liệu này ở cấp độ quốc gia, có thể có một số doang nghiệp nào đó tự mình sản xuất, tự mình tiêu thụ, như vậy sẽ xẩy ra tình trạng không quản lý được chất lượng sản phẩm trên thị trường tự do, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng như đã từng xảy ra ở vùng biển phía nam. Cần lưu ý rằng, nếu sử dụng cồn (E 100) có thể trực tiếp phối trộn tại nơi phân phối, nhưng nếu sử dụng biodiesel (B 100) thì trước đó phải phối trộn, phải có những điều kiện kỷ thuật nhất định và rất nghiêm ngặt.
Nhiên liệu sinh học không phải chỉ là este dầu béo hay cồn khan, phối trộn với dầu diesel hay xăng, mà cần thiết phải có các phụ gia đặc biệt khác để bảo đảm tính đồng pha, hệ số cháy nổ ổn định, chống oxy hóa...
Biodiesel không phải cứ pha 5-20% vào bất cứ loại diesel nào cũng được. Những loại dầu diesel có hàm lượng lưu hùynh cao sẽ làm cho hỗn hợp tách pha sau một thời gian để trong bồn chứa. Các loại dầu diesel sử dụng cho các mục đích khác nhau (xe ôtô con, xe tải nặng, xe ủi, máy tàu, máy phát điện...) có các tính chất rất khác nhau, vì vậy, loại diesel dùng để pha cho một mục đích nào đó, phải ổn định và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Cho nên không thể để cho việc cơ quan nào cũng tự phối chế, đó sẽ là thảm họa quốc gia trong tương lai. Nếu vài triệu lít diesel bị hỏng, việc tái chế nó là không đơn giản, không biết đã có cơ quan quản lý Nhà nước nào tính đến vấn đề này chưa?
Không phải là trồng cây nào mà là công nghệ nào
Công nghệ nào cho việc phát triển nhiên liệu sinh học ở VIệt Nam (Ảnh minh họa: http://www.cbc.ca) Đối với biodiesel, hiện nay, nhiều nhà khoa học, doanh nghiệp đang đầu tư cho việc trồng cây dầu mè.
Đây là một hướng đi rất có triển vọng ở Việt Nam. Trong tương lai không xa, cây này có thể là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất biodiesel. Tuy nhiên, không thể không tính đến các loại cây có dầu khác. Không thể nói rằng loại dầu này hay loại dầu kia mới là nguyên liệu chính cho biodiesel.
Quan điểm của chúng tôi từ trước đến nay là sử dụng tất cả các lọai dầu béo (tất nhiên, trừ các loại dầu thực phẩm vì lý do kinh tế) và qua công nghệ chế biến để có được một hỗn hợp có mạch hydrocacbon C12-C16 chiếm gần 40% và C18-C22 chiếm gần 60%. Xin nói thêm, một mẫu như vậy, trong thực tế chỉ có ở phần cùi của dầu cọ, loại cây trồng nhiều ở Malaixia.
Về công nghệ: Công nghệ sản xuất biodiesel không phải là khó và các nhà khoa học Việt Nam không phải không tự chế tạo thiết bị được. Vấn đề là ở chổ, công nghệ đó có hiệu quả đến mức nào? Nhiều doanh nghiệp cho rằng để bảo đảm sản xuất, tốt nhất là nhập công nghệ của nước ngoài.
Tôi không phản đối ý tưởng đó! Tuy nhiên, theo các nghiên cứu của chúng tôi, dầu thực vật Việt Nam có nhiều điểm khác với dầu thực vật của nước ngoài. Để có thể áp dụng công nghệ nước ngoài, dầu thực vật Việt Nam phải qua các khâu tinh chế rất cẩn thận, trong khi hầu hết các cơ sở ép dầu của ta còn thủ công, nhiều loại dầu có chỉ số axít cao. Như vậy, chỉ riêng khâu nguyên liệu đầu vào, phải chi phí khá tốn kém, chưa kể đến vấn đề xử lý môi trường (nếu dùng các lọai xúc tác có tính kiềm như của một số nước).
Các chi phí trên thường rất cao và phải mua riêng. Nếu mua chung thì giá trị của toàn bộ công nghệ rất cao. Trong khi ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học của ta đang đi những bước đầu tiên, nên chăng sử dụng công nghệ của Việt Nam là phù hợp trong giai đoạn này?
Cần phải áp dụng công nghệ không bả thải trong sản xuất nhiên liệu liệu sinh học, kể cả sản xuất cồn khan, lẫn biodiesel.
Chỉ có như vậy mới tránh được những biến động giá cả mà một số nước đang gặp phải. Vì mục đích nhiên liệu, Nhà nước phải bù lỗ cho trồng và sản xuất nhiên liệu sinh học. Khi không thể tiếp tục bù lỗ, giá nguyên liệu tăng cao, dẫn đến giá nhiên liệu cũng tăng cao, dẫn đến tình trạng phá sản của cả một chương trình mang tính xã hội và môi trường. Vì vậy, áp dụng công nghệ không bả thải là phương thức duy nhất làm chủ giá cả, tránh tình trạng tăng giá nguyên liệu, trong khi Nhà nước không cần phải bù lỗ, người sản xuất nguyên liệu cũng như người mua nguyên liệu tự mình tuân thủ qui luật thị trường, không ai phụ thuộc ai. 
Tóm lại, công nghệ sẽ quyết định giá thành sản phẩm, miễn doanh nghiệp có hay không tầm nhìn và sự tin tưởng vào con đường mình đã chọn.
PGS - TS Hồ Sơn Lâm[/align]

Nhà trẻ http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=353773
Chat room http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=345893
Phòng khám Răng-Hàm-Lưỡi http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx
Đăng nhập để trả lời
0

Phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam:[/align]Lợi nhiều bề
   
05:53' AM - Thứ năm, 10/01/2008
Điện và khí gas sinh học đang được sử dụng tại một số xã vùng cao tại Thái NguyênKhi giá dầu thô phá ngưỡng 100 USD/thùng vấn đề phát triển nguồn nhiên liệu sinh học (NLSH) càng được thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, tháng 11/2007 vừa qua, Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn 2020 - mở ra một hướng đầu tư mới hứa hẹn nhiều lợi ích cho các DN Việt Nam. Tuy nhiên, không thể phát triển ồ ạt NLSH mà không tính đến an ninh lương thực. DĐDN giới thiệu bài viết của PGS Đinh Xuân Bá - Chủ tịch HĐQT Cty Secoin, một trong những người khởi xướng hướng đi này tại Việt Nam và đang triển khai trên thực tế.
Khác với nhiên liệu hoá thạch (than, xăng, dầu, khí...), NLSH là một loại năng lượng tái tạo được. NLSH góp phần quan trọng vào an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Cuối tháng 7, Cty Nguyễn Chí (TP HCM) đã tuyên bố sản xuất thành công nhiên liệu gasohol - sản phẩm xăng pha cồn công nghiệp - và dự kiến sẽ đưa sản phẩm này ra thị trường vào tháng 10. Trung tâm công nghệ lọc-hóa dầu TP?HCM đang chuẩn bị lắp đặt dây chuyền sản xuất bio-diesel, công suất 2 tấn/ngày, với tổng vốn đầu tư gần 9,7 tỷ đồng.

Nhu cầu bức thiết
NLSH là nhiên liệu có nguồn gốc từ sinh khối (biomass), tức là từ thực vật, động vật và các sản phẩm phụ của chúng. NLSH có thể ở dạng lỏng, rắn hay khí. Có nhiều cách phân loại NLSH (ví dụ NLSH thế hệ thứ nhất, NLSH thế hệ thứ hai), nhưng theo tôi để dễ vận dụng và dễ hiểu, có thể tạm chia NLSH thành 3 loại:
Thứ nhất, NLSH làm từ sản phẩm nông lâm nghiệp vốn là lương thực thực phẩm, ví dụ: ngô, đậu tương, sắn, cải dầu, lúa mì, củ cải đường, mía, dầu cọ, lúa miến (sorghum), mù tạc...
Thứ hai, NLSH làm từ sản phẩm nông lâm nghiệp không phải lương thực thực phẩm, ví dụ: hạt Cọc rào, cỏ kê Mỹ, cỏ trâu, tảo...
Thứ ba, NLSH làm từ phế thải phân huỷ được từ sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp, nhà hàng ăn uống, khu dân cư, ví dụ: mỡ động thực vật, thức ăn thừa, mùn cưa, vỏ bào, thân cây ngô, rơm rạ, trấu, phân khô, rác...
Hiện nay các sản phẩm NLSH phổ cập trên thế giới là: diesel sinh học viết tắt là BD; cồn sinh học: bioethanol, biobutanol, biomethanol, trong đó nổi bật là Ethanol sinh học viết tắt là BE; nhiên liệu sinh học rắn , trong đó nổi bật là Gỗ Viên.
Trạm đổ dầu diesel thực vật ở Someya Shoten - Nhật Bản
BD đã manh nha xuất hiện rất sớm từ 1853 do công trình nghiên cứu của E. Duffy và J. Patrick về chuyển hoá ester của dầu thực vật, nhưng BD chỉ được chính thức ghi nhận vào ngày 10/8/1893, ngày kỹ sư người Đức Rudolf Christian Karl Diesel cho ra mắt động cơ diesel chạy bằng dầu lạc, sau đó ngày 10/8 được chọn là Ngày Biodiesel quốc tế. Đến 1907 Henry Ford, người sáng lập Cty đa quốc gia Ford Motor Company, cho ra đời chiếc xe ôtô chạy bằng Ethanol. Nhưng do giá xăng dầu khai thác từ nhiên liệu hoá thạch còn rất rẻ nên NLSH chưa được coi trọng. Đến đầu thế kỷ này, do giá xăng dầu tăng nhanh, nguy cơ cạn kiệt nhiên liệu hoá thạch đe dọa và yêu cầu bức thiết về chống sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì NLSH trở thành một nhu cầu thiết thực của nhân loại, nhất là khi các công nghệ biến đổi gène góp phần làm tăng đột biến sản lượng một số sản phẩm nông lâm nghiệp.
Xu hướng của thế giới
Nói riêng về diesel sinh học, sản lượng BD trên toàn cầu từ năm 1991 đến 2005 là: năm 1991 sản lượng BD chỉ có 11 triệu lít, đến năm 2005 đã là 4.125 triệu lít, sản lượng tăng theo hàm số mũ. Trong 4.125 triệu lít của năm 2005, Đức chiếm 46,57%, Pháp 13,5%, Mỹ 6,88%, Italia 5,5%, Thụy Điển 3,3%, Áo 2,06%, Tây Ban Nha 2,04%, Đan Mạch 1,94%, Ba Lan 1.94%.
Những nước láng giềng của Việt Nam cũng đã có bước đi cho NLSH. Đơn cử Trung Quốc dự định cho đến năm 2010 sẽ trồng 13 triệu hecta cây Cọc rào. Các nhà máy ở 3 tỉnh phía Nam Trung Quốc trong năm 2006 đã sản xuất 50.000 m3 BD... Tại các nước Đông Nam Á láng giềng cũng vậy, Thái Lan ưu tiên cho việc sản xuất BD từ dầu Cọ. Hiện nay Thái sản xuất BD từ dầu Cọ với sản lượng 500.000 lít/ngày, dự kiến đến năm 2012 sẽ nâng công suất loại BD này lên 8,5 triệu lít/ngày. Diện tích trồng cây Cọc rào hiện nay chỉ mới có 1.600 hecta, với giá bán hạt Cọc rào khoảng 4-5 Baht/kg, nhưng thường được bán cho Trung Quốc vì giá thành sản xuất tại Thái một lít BD từ hạt Cọc rào xấp xỉ giá bán lẻ diesel hoá thạch. Chính phủ Thái Lan rất coi trọng việc phát triển NLSH, cụ thể là ngày 19/2/2007 Bộ Năng lượng Thái Lan đã quyết định thành lập Văn phòng phát triển NLSH thuộc Cục DAEDE. Giống như Thái Lan, Indonesia và Malaysia chủ yếu sản xuất BD từ dầu Cọ, tuy rằng đã có các nhà khoa học của Indonesia cảnh báo về sự huỷ hoại môi trường sống của các động vật hoang dã quý (hổ, tê giác...) do việc đốn hạ cây Cọ tràn lan. Gần đây họ đã hướng sự chú ý tới việc sản xuất BD từ hạt Cọc rào. Năm 2007, tập đoàn D1 Oil Plc (Hà Lan) đã hợp tác với 3 Cty Indonesia để triển khai trồng thử nghiệm 1.000 hecta cây Cọc rào.
Được khuyến khích bởi các chính sách hỗ trợ phát triển NLSH của Chính phủ Philippines, ngày 15/12/2007 hãng Bionor Transformacion SA của Tây Ban Nha đã ký hợp đồng liên doanh với Philippines để đầu tư 200 triệu USD trồng 100.000 hecta cây cọc rào và chế biến BD. Chính phủ Campuchia cũng dự định dành 40.000 hecta cho dự án sản xuất diesel sinh học từ hạt Cọc rào. Dự án này được triển khai bởi trường Đại học MVU và tổ chức Biodiesel Cambodia. Hai tổ chức này nhận được sự hỗ trợ thiết thực của Chính phủ Campuchia và một quỹ của Australia có tên tắt là AACF. Ngoài ra, Cty SODECO của ông Hak và bà Saumura Tioulong đang có thành công bước đầu trong việc gây giống Cọc rào cao sản mới tại 7 trang trại thử nghiệm.

Hiện nay, nhiều DN cũng đã sản xuất thử nghiệm thành công nhiên liệu sinh học từ dầu thực vật phế thải, mỡ cá ba sa, rỉ đường mía... góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường. Trong đó Cty cổ phần XNK Thủy sản An Giang (Agifish) đang đi tiên phong với việc triển khai dự án sản xuất NLSH từ mỡ cá ba sa cùng với hai Cty khác. Với tổng sản lượng cá ba sa khai thác hiện nay, trên 500.000 tấn/năm, mỗi năm các nhà máy này có thể cung ứng cho Agifish khoảng 75.000 tấn mỡ cá. Agifish đang chuẩn bị lắp đặt thêm dây chuyền sản xuất loại nhiên liệu này trị giá 3,8 triệu USD.

Phát triển theo hướng nào?

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ này, một số nhà khoa học Việt Nam đã để tâm nghiên cứu về NLSH và đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm có giá trị thực tiễn, trên cơ sở đó đã có nhiều đề xuất thiết thực, kể cả các Đề án nghiêm túc trình Chính phủ và các bộ liên quan về phát triển và sử dụng NLSH ở Việt Nam. Cũng đã có không ít Cty và hợp tác xã Việt Nam mạnh dạn đầu tư để triển khai các thử nghiệm trồng cây năng lượng và chế biến NLSH theo cả 3 hướng đã nói ở trên... Đặc biệt, đã có vài Cty nước ngoài (Đức, Israel, Hàn Quốc...) đến Việt Nam để nghiên cứu hợp tác hoặc liên doanh phát triển NLSH, nhưng mới ở giai đoạn thăm dò. Tuy vậy, chưa có Cty nước ngoài nào lớn như những Cty đã đầu tư vào Philippines và Indonesia trong lĩnh vực NLSH. Trong 3 tháng nay chúng tôi đang thương lượng một hợp đồng liên doanh với hai đối tác nước ngoài về sản xuất BD, nhưng còn vướng rất nhiều vấn đề chưa thể giải quyết sớm được. Tôi hi vọng rằng Quyết định 177/2007/QĐ-TTg và các văn bản thực thi đi kèm sẽ vừa tạo cho các pháp nhân Việt Nam điều kiện thuận lợi vừa mở ra một cổng hấp dẫn mới cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để sản xuất NLSH.
Khác với nhiên liệu hoá thạch (than, xăng...), NLSH là một loại năng lượng tái tạo được. NLSH góp phần quan trọng vào an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu. NLSH làm giảm ít nhất 60% lượng carbon thải ra so với nhiên liệu hoá thạch. Riêng BD giảm 50% lượng CO và 78% lượng CO2 thải ra so với nhiên liệu hoá thạch, BD hoàn toàn không thải ra SO2 nhưng lại thải ra lượng N2O nhiều hơn so với diesel hoá thạch.
Tuy nhiên, NLSH lại có thể tạo ra nguy cơ về an ninh lương thực, ông Jean Ziegler, người phát ngôn về lương thực của Liên Hợp Quốc thậm chí còn kêu gọi tạm dừng sản xuất NLSH trong 5 năm để tránh một "thảm hoạ" về nạn đói. Tại Trung Quốc, có lẽ do phát triển NLSH nên giá ngô tăng cao liên tục, vì vậy họ đang điều chỉnh lại hướng phát triển NLSH. Ở nước ta, an ninh lương thực là ưu tiên số 1 trong chính sách sử dụng đất, nên cần sáng suốt chọn lọc hướng phát triển NLSH. Nên chăng khuyến khích sản xuất NLSH loại thứ hai và thứ ba nói trên, chỉ sản xuất NLSH loại thứ nhất với chừng mực hợp lý. Hơn nữa nên hạn chế dùng đất nông nghiệp để trồng nguyên liệu cho NLSH (trong 20 năm qua đã có 3% đất nông nghiệp bị lấy để phát triển công nghiệp, dự báo đến 2020 con số này là 10%). Ở nước ta, để trồng cây cho NLSH (còn gọi là cây năng lượng, energy crops), cần tận dụng đất hoang hoá (khoảng 9,3 triệu hecta), đất đồi núi chưa sử dụng (có khoảng 4,3 triệu hecta) và rà soát lại 3 loại rừng để dành thêm đất cho rừng sản xuất. Ngoài ra hiện nay có 8,1 triệu hecta đất lâm nghiệp đã được giao phân tán, do đó cần có chính sách và phương thức thích hợp tích tụ đất lâm nghiệp để trồng cây năng lượng.
ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN NLSH ĐẾN NĂM 2015, TẦM NHÌN 2020


- Đặt mục tiêu sản xuất xăng E10 (là loại xăng pha cồn với hàm lượng cồn tối đa là 10%, đáp ứng hoàn toàn mọi hoạt động bình thường của ôtô, xe máy) và dầu sinh học nhằm thay thế một phần nhiên liệu truyền thống hiện nay.
- Việt Nam sẽ tiếp cận công nghệ sản xuất NLSH, xây dựng mô hình thí điểm phân phối NLSH tại một số tỉnh, thành phố; quy hoạch vùng trồng cây nguyên liệu cho năng suất cao phục vụ sản xuất NLSH; đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên sâu về kỹ thuật đáp ứng đủ trình độ trong quá trình phát triển NLSH.
- Giai đoạn 2011-2015, sẽ phát triển mạnh sản xuất và sử dụng NLSH thay một phần nhiên liệu truyền thống, mở rộng quy mô sản xuất và mạng lưới phân phối phục vụ cho giao thông và các sản xuất công nghiệp khác; đảm bảo cung ứng đủ và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu cho quá trình chuyển hóa sinh khối thành NLSH.
- Đến năm 2020, Việt Nam sẽ sản xuất được khoảng 5 tỷ lít xăng E10 và 500 triệu lít dầu sinh học bio-diesel B10/năm.



Nhà trẻ http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=353773
Chat room http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=345893
Phòng khám Răng-Hàm-Lưỡi http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-29 13:48:39lyenson>
Nhiên liệu sinh học biodiezel

Giới thiệu chung về biodiezel
Hiện nay, môi trường là vấn đề đang được mọi quốc gia trên thế giới quan tâm. ở nước ta ngày nay ô nhiễm môi trường đang làm đau đầu các ban, ngành liên quan. Ô nhiễm không khí là một trong những dạng ô nhiễm môi trường được quan tâm nhiều nhất. Ô nhiễm không khí chủ yếu là do khói thải từ các nhà máy, các khu công nghiệp và từ các phương tiện giao thông. Hơn thế nữa, các phương tiện giao thông ngày càng gia tăng thì nguy cơ thải ra môi trường các chất độc hại cũng tăng theo. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường ở mức thấp nhất có thể.
Các phương tiện giao thông muốn hoạt động cần phải có nhiên liệu, trong đó có xăng và diezel. Do vậy, nhiên liệu cần phải đạt yêu cầu chất lượng để khí thải không gây ô nhiễm nhiều đến bầu khí quyển. Vì thế việc nâng cao chất lượng nhiên liệu và tìm ra những nhiên liệu mới để làm giảm hàm lượng khí thải đang ngày càng được chú trọng.
Trong những năm gần đây, rất nhiều nước trên thế giới đã quan tâm đến việc sản xuất ra các loại nhiên liệu sạch, nhưng đáng chú ý nhất là nhiên liệu sinh học. Biodiezel là một dạng nhiên liệu sinh học được quan tâm hơn cả do xu hướng diezel hoá động cơ trên toàn cầu. ít nhất có 28 quốc gia trên thế giới nghiên cứu sản xuất biodiezel. ở Mỹ, ngành công nghiệp biodiezel tăng trưởng rất mạnh, lượng sản phẩm này bán ra đến gần 2 tỷ gallon mỗi năm. Với mức độ thâm nhập thị trường như vậy, biodiezel có thể được sử dụng cho xe buýt, xe tải nặng, các phương tiện cho ngành đường sắt, nông nghiệp, xây dựng, thậm chí hệ thống sưởi trong gia đình và máy phát điện. ở Pháp, trên 50% số người có xe với động cơ diezel đã sử dụng nhiên liệu biodiezel. Đã có hơn 4000 phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu có pha 30% biodiezel. Các phưng tiện này đã chạy được hơn 200 triệu km mà không hề có một hỏng hóc nào liên quan đến sự vận hành của động cơ. Theo thống kê, lượng biodiezel tiêu thụ trên thi trường Pháp tăng mạnh từ vài năm gần đây. Có thể thấy rõ điều này qua các số liệu trong bảng 1.

Bảng 1. Mức tiêu thụ biodiezel ở Pháp

Năm    Mức tiêu thụ biodiezel, tấn/năm
1992   0
1998   250.000
2004   387.000
2008   Dự kiến: 960.000

Ở Đức, năm 1991 bắt đầu đưa ra chương trình phát triển biodiezel, đến năm 1995 đã có 13 nhà máy sản xuất biodiezel với tổng công suất là 1 triệu tấn/năm. Tháng 1/2005 CHLB Đức đã ban hành sắc lệnh bắt buộc phải pha 5% biodiezel vào dầu DO. Tại các nước Châu á, điển hình là Thái Lan, Bộ Năng lượng đã sẵn sàng hỗ trợ cho sử dụng dầu cọ trên phạm vi toàn quốc để sản xuất biodiezel và đưa ra mục tiêu sử dụng dầu diezel pha 5% biodiezel vào năm 2011 và pha 10% biodiezel vào 2012.

Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu sản xuất nhiên liệu biodiezel trong phòng thí nghiệm và quy mô sản xuất nhỏ. Chẳng hạn như ở An Giang, một doanh nghiệp đã thành công việc sản xuất biodiezel từ mỡ cá basa, với 1 kg mỡ cá có thể sản xuất ra 1,13 lít biodiezel. Công ty cũng chuẩn bị xây dựng nhà máy sản xuất Basa-biodiezel với công suất 10 nghìn tấn/ năm và dự kiến đưa vào sản xuất lớn năm 2009. Ngoài ra, một số viện khoa học đã nghiên cứu tổng hợp biodiezel từ dầu thực vật có kết quả khả quan. Kế hoạch đến 2010, nước ta sẽ làm chủ công nghệ sản xuất biodiezel từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước và bước đầu tiến hành pha trộn B5. Đây cũng là xu hướng sản xuất nhiên liệu sạch phù hợp với sự hội nhập.
Biodiezel là các alkyl este của axít béo, một phụ gia rất tốt cho nhiên liệu diezel để làm giảm lượng khí thải; hơn thế nữa nó còn là nguồn nhiên liệu có khả năng tái tạo được. Biodiezel được sản xuất từ các loại dầu thực vật, mỡ động vật, thậm chí từ các loại dầu cặn phế thải. Việt Nam, một nước nông nghiệp có nguồn dầu thực vật phong phú thì việc sử dụng chúng trong sản xuất nhiên liệu, phụ gia cho nhiên liệu sẽ có giá trị khoa học và thực tiễn cao.

(còn tiếp)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-30 09:11:44lyenson>
Vấn đề ô nhiễm môi trường do diezel khoáng tạo ra
Nhiên liệu diezel chủ yếu được lấy từ hai nguồn chính là quá trình chưng cất trực tiếp dầu mỏ và là sản phẩm phụ của quá trình cracking xúc tác. Các thành phần phi hydrocacbon trong nhiên liệu diezel tương đối cao, như các hợp chất chứa lưu huỳnh, nitơ, nhựa, asphanten. Các thành phần này không những gây nên các vấn đề về động cơ, mà còn gây ô nhiễm môi trường rất mạnh. Khí thải chủ yếu của nhiên liệu này là SO2, SO3, NOx, CO, CO2, hydrocacbon, vật chất dạng hạt… Khí SOx không những gây ăn mòn thiết bị mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, gây mưa axit… Khí CO2 là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính. Khí CO được tạo ra do quá trình cháy không hoàn toàn của nhiên liệu. Không giống như những khí khác, khí CO không có mùi, không màu, không vị và không gây kích thích da, nhưng nó rất nguy hiểm đối với con người. Lượng CO khoãng 70 ppm có thể gây ra các triệu chứng như đau đầu, mệt mỏi, buồn nôn. Lượng CO khoãng 150 đến 200 ppm gây bất tỉnh, mất trí nhớ và có thể gây chết người. Các thành phần hydrocacbon trong khí thải của nhiên liệu diezel, đặc biệt là các hợp chất thơm rất có hại cho con người và là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư. Các vật chất dạng hạt có lẫn trong khí thải cũng gây ô nhiễm không khí mạnh, chúng rất khó nhận biết, là nguyên nhân gây ra các bệnh về hô hấp, tim mạch.
Các nước trên thế giới hiện nay đều quan tâm đến vấn đề về hiệu quả kinh tế và môi trường, vì vậy xu hướng phát triển chung của nhiên liệu diezel là tối ưu hoá trị số xetan, tìm mọi cách để giảm hàm lượng lưu huỳnh xuống, mở rộng nguồn nhiên liệu, tạo nhiên liệu sạch ít gây ô nhiễm. Việc đưa biodiezel vào nhiên liệu diezel có thể nói là phương pháp hiệu quả nhất trong xu thế phát triển của nhiên liệu diezel khoáng hiện nay, nó vừa có lợi về mặt kinh tế, về sự hoạt động của động cơ, vừa có lợi về mặt môi trường sinh thái.
Sử dụng nhiên liệu sinh học là phương pháp có hiệu quả nhất. Nhiên liệu sinh học được định nghĩa là bất kỳ loại nhiên liệu nào nhận được từ sinh khối. Chúng bao gồm bioetanol, biodiezel, biogas, etanol pha trộn (ethanol-blended fuels), dimetyl ete sinh học và dầu thực vật. Nhiên liệu sinh học hiện nay được sử dụng trong giao thông vận tải là etanol sinh học, diezel sinh học và xăng pha etanol. Có thể so sánh giữa nhiên liệu dầu mỏ với nhiên liệu sinh học qua các tính chất như ở bảng 2.

Bảng 2. So sánh nhiên liệu sinh học với nhiên liệu dầu mỏ
Nhiên liệu dầu mỏ                         Nhiên liệu sinh học
Sản xuất từ dầu mỏ                         Sản xuất từ nguyên liệu thực vật
Hàm lượng lưu huỳnh cao                  Hàm lượng lưu huỳnh cực thấp
Chứa hàm lượng chất thơm                Không chứa hàm lượng chất thơm
Khó phân hủy sinh học                      Có khả năng phân hủy sinh học cao
Không chứa hàm lượng oxy                Có 11% oxy
Điểm chớp cháy thấp                        Điểm chớp cháy cao

Như vậy, việc phát triển nhiên liệu sinh học có lợi về nhiều mặt như giảm đáng kể các khí độc hại như SO2, CO, CO2 (khí nhà kính), các hydrocacbon chưa cháy hết, giảm cặn buồng đốt… mở rộng nguồn năng lượng, đóng góp vào an ninh năng lượng: giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, đồng thời cũng đem lại lợi nhuận và việc làm cho người dân…

(còn tiếp)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-01 01:33:27lyenson>
Sơ đồ thu biodiesel từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau



Dầu nguyên liệu, rượu và chất xúc tác được trộn trong lò phản ứng trong thời gian thích hợp (1-2 tiếng) ở nhiệt độ khoảng 60 độ C.
Quá trình thu biodiesel có thể liên tục hoặc theo chu kỳ. Trên thực tế quá trình thường được thực hiện liên tục qua hai giai đoạn (2 lò phản ứng): khoảng 80% lượng rượu và xúc tác được dùng ở lò phản ứng thứ nhất. Hỗn hợp phản ứng sau khi tách khỏi pha glixerin được đưa vào lò phản ứng thứ hai để kết thúc phản ứng với lượng rượu và xúc tác còn lại.
Glixerin tạo thành được tách ra khỏi pha este ở máy phân ly hoặc máy ly tâm. Quá trình tách thường xảy ra dễ dàng vì glixerin hầu như không tan trong este. Lượng rượu dư có thể làm chậm quá trình tách vì rượu hòa tan tốt cả glixerin lẫn este. Nhưng không thể đuổi lượng rượu dư trước quá trình tách pha vì như thế sẽ dịch chuyển cân bằng về phía tạo ra triglixerit.
Este sau khi tách khỏi glixerin được đưa đến khâu trung hòa và qua tháp tách metanol. Ở khâu trung hòa người ta dùng axit như HCl, axit xitric để trung hòa lượng xúc tác kiềm dư và lượng xà phòng tạo thành. Tất cả lượng dư xúc tác, xà phòng, muối, metanol và glixerin tự do được tách khỏi biodiesel bằng quá trình rửa nước. Trung hòa bằng axit trước khi rửa nước nhằm giảm tối đa lượng xà phòng và lượng nước rửa cần dùng do đó hạn chế được quá trình tạo nhũ tương (nước trong biodiesel với tác nhân tạo nhũ tương là xà phòng), gây khó khăn cho việc tách nước khỏi biodiesel. Biodiesel được làm sạch nước trong tháp bay hơi. Nếu sản xuất ở qui mô nhỏ người ta thường dùng các muối khô để hút nước.
Một số nguồn nguyên liệu chứa một lượng lớn axit béo tự do. Axit béo tự do phản ứng với xúc tác kiềm sinh ra xà phòng và nước. Thực tế cho thấy rằng quá trình thu biodiesel có thể xảy ra bình thường với hàm lượng axit béo tự do thấp hơn 5%. Khi đó, cần dùng thêm xúc tác để trung hòa axit béo tự do. Lượng xà phòng tạo ra nằm ở mức cho phép.
Khi hàm lượng axit béo tự do lớn hơn 5%, lượng xà phòng tạo ra làm chậm quá trình tách pha este và glixerin, đồng thời tăng mạnh sự tạo nhũ tương trong quá trình rửa nước. Để giảm hàm lượng axit béo tự do, trước phản ứng chuyển vị este, người ta dùng xúc tác axit, như H2SO4, chuyển hóa axit béo tự do thành este (phản ứng este hóa).
Vì vậy, hàm lượng axit béo tự do là yếu tố chính trong việc lựa chọn công nghệ cho quá trình sản xuất biodiesel
Nguồn:
Knothe G., Gerpen J. V., Krahl J. The Biodiesel Handbook. Champaign, IL: AOCS Press, 2005.
 
📎 SC6A1C..A1cnhau
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-02 05:21:05lyenson>
Quá trình thu biodiesel dựa trên phản ứng chuyển vị este



Quá trình chuyển vị este (Thời gian phản ứng)
Nguyên nhân làm giảm tốc độ phản ứng chính là sự khó hòa tan metanol vào dầu, mỡ. Để tăng sự hòa tan này người ta tăng nhiệt độ, tăng mức độ khuấy (nhất là ở thời điểm bắt đầu phản ứng trong quá trình chu kỳ) hoặc sử dụng chất dung môi trung gian.
·                            Nếu phản ứng thực hiện ở nhiệt độ phòng, cần 4-8 tiếng để hoàn tất phản ứng.
·                            Ở 40 độ C : 2-4 tiếng; 60 độ C:1-2 tiếng.
·                            Nhiệt độ cao hơn sẽ giảm thời gian phản ứng nhưng cần thực hiện trong điều kiện áp suất để giữ cho metanol ở trạng thái lỏng.
·                            Trên thực tế, quá trình được thực hiện chủ yếu ở 60 độ C.
·                            Khi làm thí nghiệm với lượng nhỏ dầu thực vật, khoảng 50 gam, sau khoảng 10 phút phản ứng thì nhiệt độ hầu như không ảnh hưởng đến lượng este tạo thành (trong cùng điều kiện phản ứng).

Nguồn:
1. Biodiesel Production Technology. Jon H. Van Gerpen. University of Idaho, Moscow, ID, USA.
2. M. Mittelbach, B. Trathnigg. Kinetics of Alkaline Catalyzed Methanolysis of Sunflower Oil. Fett. Wissenschaft Technol. Fat Science Tech, 1990.



📎 1
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-02 05:46:29lyenson>
Quá trình chuyển vị este (Rượu)
Qua cơ chế phản ứng, ta thấy vận tốc phản ứng phụ thuộc vào kích thước của anion RO-. Kích thước càng lớn, anion càng khó tấn công vào liên kết CO, phản ứng xảy ra càng chậm. Do đó, phản ứng với metanol xảy ra dễ dàng hơn với các rượu khác.
Để đạt được hiệu suất tối ưu, etanol và butanol cần nhiệt độ cao hơn so với metanol:


Ngoài khả năng phản ứng, metanol còn nhiều ưu điểm so với những rượu khác:
·         Giá thành thấp hơn (tính trên 1 mol : lượng rượu cần dùng được xác định bởi tỉ lệ mol rượu : dầu)
·         Khối lượng (và thể tích) metanol cần dùng thấp hơn do khối lượng mol của metanol thấp hơn nhiều (trong khi khối lượng riêng không khác nhau nhiều).
·         Để thu được biodiesel với hiệu suất cao (đến 99,7%), người ta phải dùng dư rượu. Lượng rượu dư phải được tách ra và quay trở lại phản ứng nhằm giảm chi phí sản xuất và không gây độc hại môi trường. Metanol có nhiệt độ sôi thấp hơn nên hiển nhiên dễ tách ra khỏi hỗn hợp phản ứng hơn. Thêm vào đó, khi được tách ra, rượu luôn chứa nước. Metanol có thể dễ dàng tách khỏi nước bằng những phương pháp chưng cất thông thường. Những rượu khác như etanol và iso-propanol tạo với nước hỗn hợp đồng sôi (azeotropic mixture) nên gây khó khăn cho việc tách nước.
Do đó, mặc dù metanol rất độc hại nhưng vẫn là rượu phổ biến nhất trong sản xuất biodiesel .
Ở một số nước như Brazil, etanol lại được ưa chuộng hơn vì ở những nước này etanol rẻ hơn so với metanol.
Khi dùng một số rượu khác như isopropanol, isobutanol, biodiesel thu được có nhiệt độ đông đặc thấp hơn so với khi dùng metanol. Nhưng do giá thành cao và sự không phổ biến, những rượu này không được dùng rộng rãi. Hơn nữa, tính đông đặc của biodiesel có thể giải quyết một cách kinh tế hơn khi dùng các chất phụ gia thích hợp.

Nguồn:
1. Евдокимов А.Ю., Фукс И.Г., Багдасаров Л.Н., Геленов А.А. Топлива и смазочные материалы на основе растительных и животных жиров. – М., ЦНИИТЭнефтехим, 1992
2. Knothe G., Gerpen J. V., Krahl J. The Biodiesel Handbook. Champaign, IL: AOCS Press, 2005, trang 51.
3. Biodiesel Production Technology. Jon H. Van Gerpen. University of Idaho, Moscow, ID, USA.
4. Biodiesel Production Technology. NREL, 2004.



📎 ruou1
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-03 00:10:43lyenson>
Quá trình chuyển vị este (Cơ chế)
Cơ chế phản ứng chuyển vị este dưới tác dụng của xúc tác kiềm:
Tác nhân xúc tác thật sự chính là anion RO- (CH3O- trong trường hợp CH3OH), được tạo thành trong dung dịch rượu:


Anion RO- tấn công vào trung tâm mang điện tích dương của liên kết C+O- ,tiếp theo là sự tách phân tử este ra khỏi phân tử triglyxerit và sự tạo thành phân tử điglyxerit:

 

Cơ chế này lập lại cho đến khi tạo thành phân tử glyxerin.
Có thể thấy rằng, phản ứng chuyển vị este xảy ra phức tạp, với sự tạo thành sản phẩm trung gian là điglyxerit và monoglyxerit.
Sự phụ thuộc định tính của hàm lượng triglyxerit và các sản phẩm vào thời gian phản ứng như sau:
 


Giá trị cụ thể phụ thuộc vào điều kiện phản ứng. Thí dụ, trong phản ứng biến đổi 50 gram dầu hướng dương ở điều kiện: tỉ lệ mol metanol: dầu = 3,3 : 1; 1,5% khối lượng KOH; 25 độ C, 93% este tạo thành sau 60 phút.
Nguồn:
1. Тютюнников Б.Н. Химия жиров. – М., Пищевая промышленность, 1974.
2. Knothe G., Gerpen J. V., Krahl J. The Biodiesel Handbook. Champaign, IL: AOCS Press, 2005, trang 37.
 


📎 coche3
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-03 00:18:05lyenson>
Quá trình chuyển vị este (Xúc tác)


Quá trình chuyển vị este thu biodiesel từ lâu đã là đề tài nghiên cứu ở nhiều nước. Các thông số của quá trình đã được nghiên cứu kỹ lưỡng như nồng độ xúc tác, tỉ lệ mol rượu : dầu, nhiệt độ, thời gian phản ứng, mức độ làm sạch dầu thực vật ban đầu, ảnh hưởng của độ ẩm và axít béo tự do…


Xúc tác cho phản ứng có thể dùng axít hoặc kiềm. Nhưng trong quá trình xúc tác đồng thể, xúc tác kiềm thúc đẩy phản ứng nhanh hơn xúc tác axít. Trong những xúc tác kiềm, phổ biến nhất là NaOH, KOH và các ancolat tương ứng (CH3ONa, CH3OK).

Tất cả các xúc tác này đều có thể giúp thu được biodiesel chất lượng cao.Nhưng tùy thuộc vào công suất của nhà máy và những điều kiện cụ thể khác mà người ta dùng lọai này hay loại khác.

Ở dạng thành phẩm, NaOH và KOH đều ở dạng hạt rắn. Để tạo ra tác nhân xúc tác phản ứng là ion CH3O-, người ta phải hòa tan chúng vào trong rượu CH3OH trước khi cho vào lò phản ứng. Quá trình hòa tan này tỏa nhiệt và rất nguy hiểm vì bản thân CH3OH và kiềm đều độc, nhất là CH3OH. Như vậy, ở những nhà máy sử dụng NaOH và KOH, phải mất thêm chi phí cho khâu chuẩn bị chất xúc tác cũng như các biện pháp xử lý an toàn. Do vậy,ở Châu Âu và Mỹ, người ta dùng NaOH và KOH ở những nhà máy với công suất không cao ( dưới 8,9 triệu galông).

Thêm vào đó, khi hòa tan NaOH, KOH với CH3OH, nước sinh ra theo phản ứng:
NaOH + CH3OH ------&gt; CH3ONa + H2O

Nước gây thủy phân triglixerit và este tạo thành, làm giảm hiệu suất của quá trình đồng thời gây khó khăn thêm cho quá trình loại bỏ nước sau này.
KOH mắc gấp đôi NaOH, nhưng KOH có lợi là hòa tan với CH3OH dễ hơn NaOH và muối sulphát kali không tan, thu được trong quá trình làm sạch sản phẩm, có thể được dùng làm phân bón.

Khác với NaOH và KOH, CH3ONa hoàn toàn không sinh ra nước. CH3ONa thường dùng ở dạng hòa tan (25-30%) trong CH3OH do đó đã “sẵn sàng” cho phản ứng, không mất thêm chi phí cho việc chuẩn bị chất xúc tác . Khi sử dụng xúc tác này, hiệu suất thu biodiesel là cao nhất trong khi tiêu tốn ít xúc tác hơn so với trường hợp NaOH và KOH. Thêm vào đó, glyxerin thu được tinh khiết hơn dẫn đến giảm chi phí cho quá trình làm sạch glyxerin.

Do độ hấp thụ nước cao, CH3ONa thường được dùng trong trường hợp nguồn nguyên liệu chất lượng tốt (lượng nước và axít béo nhỏ hơn 0,1%).
Mặc dù CH3ONa giá thành cao (gấp 2 lần KOH), nhưng những lợi ích của nó có thể bù lại trong trường hợp công suất nhà máy lớn (&gt; 5 triệu galông). Trên thực tế, 2/3 nhà máy sản xuất biodiesel công suất lớn ở Châu Âu và 70% biodiesel sản xuất tại Bắc Mỹ sử dụng loại xúc tác này.
Những nhà cung cấp công nghệ chính như Lurgi PSI, Desmet Ballestra và Crown Iron Works đều khuyến khích sử dụng CH3ONa.
Hai nhà cung cấp xúc tác CH3ONa và CH3OK (ở dạng hòa tan trong CH3OH) chính là BASF và Degussa.

Nguồn tham khảo:
1. Е. Давыдова, B. Harten, Н. Пасхин. Развитие топливного рынка ЕС: биодизельного топливо – возобновляемый энергетический ресурс. Масложировая промышленность. 2005, № 4, с. 2-4
2.http://biodieselmagazine.com/article.jsp?article_id=462&q=biodieselcatalyst&category_id=21
3.http://biodieselmagazine.com/article.jsp?article_id=715&q=biodieselcatalyst&category_id=21
4. www.basf.com/alcoholates
5. www.degussa-biodiesel.com
 
Đăng nhập để trả lời
0
BIODIESEL
 
          Biodiesel là dầu diesel sinh học, được xem là nguồn nhiên liệu sạch, hoàn toàn có thể thay thế nhiên liệu dầu đốt hóa thạch diesel thông thường. Biodiesel là một chất lỏng có màu vàng nhạt đến vàng nâu, hoàn toàn không trộn lẫn với nước. Biodiesel có điểm sôi cao (thông thường khoảng 150oC hay 302oF), áp suất hơi thấp, trọng lượng riêng khoảng 0.8 g.cm3, và hoàn toàn không phải là hóa chất độc hại. Độ nhớt của biodiesel tương đương của dầu diesel thông thường. Hiện nay ở Việt nam, biodiesel được sản xuất từ hai nguồn nguyên liệu chính là mỡ cá basa và dầu ăn thải.
 
ỨNG DỤNG CỦA BIODIESEL
 
Biodiesel có thể được dùng hoàn toàn 100% trong các loại động cơ diesel hoặc được phối trộn với dầu diesel hóa thạch thông thường ở bất cứ tỉ lệ nào trong các thiết bị hiện đại chạy dầu diesel. Nó cũng có thể được sử dụng như là một chất phụ gia để phối trộn sản xuất dầu DO nhằm gia tăng tính bôi trơn của nhiên liệu có hàm lượng lưu  huỳnh thấp, ULSD (Ultra-Low-Sulfur Diesel) với điều kiện hàm lượng lưu huỳnh trong hỗn hợp thu được không vượt quá 15 ppm. Chỉ số bôi trơn cao so với DO thông thường là một lợi thế của biodiesel, góp phần gia tăng tuổi thọ của béc phun nhiên liệu của động cơ. Biodiesel là một dung môi hòa tan tốt hơn so với petrodiesel, nó có thể hòa tan và làm giảm hẳn lượng cặn bám trong các bộ phận dẫn nhiên liệu của thiết bị mà trước đó đã sử dụng petrodiesel trong khoảng thời gian dài. Điều này giúp làm sạch động cơ, tăng cường khả năng phun nhiên liệu của béc phun và gia tăng tuổi thọ động cơ.
 
ẢNH HƯỞNG KHI SỬ DỤNG BIODIESEL ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG
 
Sử dụng biodiesel có nhiều thuận lợi cho môi trường so với petroleum diesel, cụ thể như sau:
 
1. Giảm thành phần CO trong khí thải đến 50% và CO2 đến 78%.
 
2. Biodiesel chứa ít hydrocarbon thơm hơn so với diesel thông thường. Cụ thể là hàm lượng Benzofluoranthene giảm  56%, và Benzopyrenes giảm 71%.
 
3. Biodiesel có thể làm giảm nhiều đến 20% các  khí thải trực tiếp dạng hạt nhỏ, các sản phẩm cháy của các chất rắn, trên thiết bị có bộ lọc, so với dầu diesel có hàm lượng sulfur thấp (&lt;50ppm). Khí thải dạng hạt được tạo ra khi đốt biodiesel giảm khoảng 50% so với khi sử dụng diesel có nguồn gốc hóa thạch.
 
4. Biodiesel tạo ra nhiều khí thải NOx hơn từ 10-25% so với petrodiesel. Vì biodiesel có hàm lượng sulfur thấp hơn DO thông thường, khí thải NOx có thể được giảm nhờ vào việc sử dụng các bộ chuyển đổi xúc tác trong các động cơ diesel thông thường. Tuy nhiên, khí thải NOx của biodiesel sau khi sử dụng bộ chuyển đổi xúc tác vẫn còn cao hơn so với DO thông thường. Vì Biodiesel không chứa Nitơ, việc gia tăng khí thải NOx có thể do bởi chỉ số cetane và hàm lượng ôxy của biodiesel cao hơn DO thông thường, và điều này cho phép chuyển hóa Nitơ trong không khí thành NOx nhanh hơn.
 
5. Biodiesel có chỉ số Cetane cao hơn so với DO thông thường, và do đó bắt cháy nhanh hơn khi được phun vào trong buồng đốt động cơ.
 
6. Biodiesel có thể bị phân hủy sinh học và những thử nghiệm về tính không độc hại của nó do Bộ Nông Nghiệp Mỹ tài trợ đã khẳng định rằng biodiesel thì ít độc hại hơn muối ăn và khả năng bị phân hủy sinh học nhanh như quá trình phân hủy đường.
  
Ở Mỹ, biodiesel là nhiên liệu thay thế duy nhất đáp ứng hoàn toàn các điều kiện về thử nghiệm ảnh  hưởng đối với sức khỏe cộng đồng của Đạo Luật không khí sạch 1990.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
ASTM D 6751 – TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG CHO BIODIESEL

Thuật ngữ “biodiesel” chính là ester của axit béo và rượu có mạch cacbon ngắn, tiêu biểu là Methyl Esters của axit béo và rượu methanol hay còn gọi là FAME (Fatty Acid Methyl Esters) được sản xuất từ dầu thực vật, mỡ động vật hay dầu ăn thải qua phản ứng chuyển vị ester (transesterification). Tại Mỹ, nguồn nguyên liệu chính để sản xuất biodiesel chính là dầu đậu nành (soybean oil), trong khi tại châu Âu là cây cải dầu (rapeseed oil) và châu Á là dầu cọ (palm oil), dầu mè (jatropha oil). Một số nơi sử dụng 100% biodiesel hay B100 như là nhiên liệu cho các động cơ, nhưng đặc tính của B100 khác nhiều so với nhiên liệu diesel thông thuờng từ dầu hỏa (petroleum diesel) hay các nhiên liệu đốt lò khác (heating oil) và rõ ràng rằng các động cơ diesel hay các lò đốt (boilers) không tương thích hoàn toàn với việc sử dụng B100. Do vậy, biodiesel được sử dụng phổ biến là pha trộn với dầu diesel từ dầu mỏ ở các mức tỷ lệ khác nhau từ 2 (B2) đến 20 (B20) phần trăm thể tích.

Tại Mỹ, ASTM (Hiệp hội thử nghiệm và vật liệu Hoa Kỳ) có một tiêu chuẩn qui định cho B100 là ASTM D 6751 – Specification for Biodiesel Fuel Blend Stock (B100) for Middle Distillate Fuels. Điều cần lưu ý đây không phải là tiêu chuẩn cho nhiên liệu mà là tiêu chuẩn cho biodiesel dùng để pha trộn lên đến 20 % thể tích với phân đoạn cất trung bình thu được từ dầu mỏ (Thông thường phân đoạn này dùng để sản xuất dầu diesel hay dầu đốt). Để bảo vệ công suất và tuổi thọ của các lò đốt, động cơ, D 6751 đưa ra các giới hạn cho phép các tạp chất để đảm bảo quá trình sản xuất biodiesel đạt chất lượng trước khi pha trộn. Chúng bao gồm hàm lượng methanol, hàm lượng glycerin (đồng sản phẩm với biodiesel) chưa chuyển hóa và chuyển hóa một phần từ nguyên liệu glyceride và hàm lượng kim loại Na, K có thể có trong quá trình sử dụng xúc tác kiềm cho phản ứng tạo biosiesel này.

Methanol là một trong những tác chất sử dụng sản xuất biodiesel. Phản ứng chuyển vị tạo biodiesel xãy ra tối ưu ở tỷ lệ 4:1 với lượng methanol thừa phải được lấy ra khỏi sản phẩm. Hàm lượng methanol trên 0,2 % khối lượng được biết là không tương thích với một số hệ thống nhiên liệu ô tô kim loại và đàn hồi.

D 6751 giới hạn hàm lượng methanol trong B100 phải đáp ứng một trong hai yêu cầu sau. Yêu cầu thứ nhất, điểm chớp cháy cốc kín xác định bởi phương pháp ASTM D 93, phải lớn hơn 1300C. Yêu cầu thứ hai, điểm chớp cháy cốc kín trên 930C và hàm lượng methanol phải thấp hơn 0,2% được xác định theo tiêu chuẩn châu Âu EN 14110 (Fat and oil derivatives – Fatty acid methyl esters (FAME) – Determination of methanol content). Điểm chớp cháy cốc kín tối thiểu 930C đảm bảo rằng biodiesel không gây nguy hiểm trong quá trình vận chuyển.

Glycerin là đồng sản phẩm tạo thành cùng biodiesel, là một chất lỏng nhớt có thể tách ra khỏi B100, nó tạo thành cặn ở đáy bồn chứa nhiên liệu và lắn lại làm tắt nghẽn các bộ lọc. Hàm lượng glycerin cao gây tắt đầu phun nhiên liệu, để hạn chế vấn đề này ASTM D 6751 yêu cầu hàm lượng glycerin tự do tối đa là 0,02 % khối lượng.
Độ không chuyển hóa hay chuyển hóa một phần các glyceride, nguyên liệu sản xuất biodiesel (dầu thực vật, dầu ăn thải, hoặc mỡ động vật) được biết là nguyên nhân làm tắt nghẽn đầu phun nhiên liệu và tạo cặn bẩn đọng trên xy lanh của động cơ diesel. Chính những thành phần này là nguyên nhân làm giảm tuổi thọ cho cả động cơ và lò đốt. Về cấu trúc hóa học, đây là các hợp chất mono-, di-, và triglycerides. Cấu trúc này gồm phần “mạch chính” là thành phần glycerin nối với một, hai hay ba gốc axit béo bởi liên kết ester. Để bảo vệ động cơ, lò đốt gây ra bởi các thành phần này, ASTM D6751 giới hạn tổng hàm lượng glycerin tối đa là 0,24 % khối lượng. Tổng hàm lượng glycerin này chính là tổng hàm lượng glycerin tự do và hàm lượng glycerin liên kết trong các phân tử mono-, di- và triglycerides.

Hầu hết các qui trình sản xuất biodiesel sử dụng chất xúc tác NaOH hay KOH cho phản ứng chuyển vị ester. Phần cặn của các xúc tác này cần được loại bỏ để tránh gây mài mòn, tạo cặn, nhiễm bẩn dầu bôi trơn. ASTM D 6751 qui định tổng hàm lượng Na/K phải nhỏ hơn 5 mg/kg (ppm) được xác định bằng tiêu chuẩn EN 14538 (Fat and Oil derivatives – Fatty acid methyl esters (FAME) – Determination of Ca, K, Mg and Na content by optical emission spectral analysis with inductively coupled plasma (ICP OES)). Bên cạnh đó, biodiesel tạo thành có thể nhiễm bẩn với Ca, Mg do sử dụng chất hấp thụ hay nuớc để trích ly hơặc rửa các tạp chất trong biodiesel. ASTM D 6751 cũng qui định tổng hàm lượng Ca/Mg tối đa là 5 mg/kg được xác định theo tiêu chuẩn EN 14538.

Một yêu cầu gần đây được thêm vào ASTM D 6751 là độ ổn định oxy hóa. Quá trình oxy hóa có thể dẫn đến tạo ra các axit gây ăn mòn, cũng như tạo nhựa và cặn nguyên nhân cho các vấn đề vận hành và tuổi thọ động cơ, lò đốt. Biodiesel chứa sản phẩm polyme hóa các mạch axit béo không no, các hợp chất này rất dễ bị oxy hóa trong quá trình tồn trữ, bảo quản hơn so với dầu diesel thông thường từ dầu mỏ (petroleum diesel). Tính axit đã được giới hạn trong ASTM D 6751 thông qua trị số axit. Năm 2006, giới hạn trị số axit đã được giảm từ 0,8 mgKOH/g xuống 0,5 mgKOH/g xác định bởi ASTM D 664 (Test method for acid number of petroleum products by potentiometric titration). Độ ổn định oxy hóa cũng được giới hạn tối thiểu 3 giờ bằng phương pháp EN 14112 (Fat and Oils Derivatives – Fatty acid methyl esters (FAME) – Determination of oxidation stability (accelerated oxidation test)), được gọi là chỉ số ổn định dầu. Các mẫu biodiesel thương mại có một khoảng rộng độ ổn định oxy hóa bởi vì khác nhau tổng hàm lượng polyme hóa các mạch axit béo không no, và khác nhau các phụ gia chống oxy hóa được pha vào. Tại Mỹ, khoảng 25% B100 yêu cầu thêm vào các phụ gia chống oxy hóa để đáp ứng yêu cầu 3 giờ chu kỳ ổn định oxy hóa.

Một số thay đổi gần đây cũng được thêm vào ASTM D 6751. Bao gồm cho phép xác định trị số cetane bằng phương pháp ASTM D 6890 (Test method for determination of Ignition delay and derived cetane number (DCN) of diesel fuels oils by combustion in a constant volume chamber) như là một lựa chọn cho trị số cetane, cùng với phương pháp trọng tài sử dụng động cơ cetane ASTM D 613 (Test method for cetane number of diesel fuel oil). Xác định điểm mây (cloud point) tự động bằng phương pháp ASTM D 5773 (Test method for cloud point of petroleum products (constant cooling rate method)) cùng với phương pháp thủ công ASTM D 2500 (Test method for cloud point of petroleum products). Một số yêu cầu mới cho ASTM D 6751 cũng đang được tiểu ban D02.E0 xem xét và bổ sung, hiện tại hàm lương nước và cặn xác định bởi ASTM D 2709 (Test method for water and sediment in middle distillates fuels by centrifuge) qui định tối đa 0,05 % thể tích, và qui định này đang xem xét thay thế với giới hạn hàm lượng nước 500 mg/kg xác định bằng phương pháp Karl Fischer D 6304 (Test method for determination of water in petroleum products, lubricating oils, and additives by coulometric Karl Fischer titration) và giới hạn tạp chất dạng hạt hiện đang phát triển phương pháp. Tiểu ban cũng đang xem xét thay thế phương pháp xác định thành phần cất D 1160 (Test method for distillation of petroleum products at reduced pressure) bằng phương pháp chưng cất mô phỏng sử dụng sắc ký khí.

Tham khảo:
1. ASTM (www.astm.org)
2. National Renewable Energy Laboratory (www.nrel.gov)

Sơ qua vài nét về ASTM D 6751 - Specification for Biodiesel Fuel Blend Stock (B100) for Middle Distillate Fuels- Tiêu chuẩn này được ASTM xem xét đến lần thứ 3 trong năm hồi tháng 7/2007. Có thể nói các Quốc gia châu Á khác hầu hết áp dụng tiêu chuân này, và về cơ bản nó giống với EN 14214 của cộng đồng châu Âu. Câu chuyện về Phát triển Nhiên liệu sinh học tại VN, các bạn có thể xem tại: http://www3.vietnamnet.vn/khoahoc/2007/10/751616/
PGS TS Chu Tuấn Nhạ - Chủ tịch Hội đồng chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia đã trả lời phỏng vấn của phóng viên VietNamNet nhân Hội thảo “Nhiên liệu sinh học cho vận tải: Tiềm năng và điều kiện phát triển” tổ chức tại Hà Nội vào ngày 26/10/2007.
"- Chúng ta đã bị muộn rồi, nhưng muộn vẫn phải làm và thúc đẩy sự phát triển và phải phát triển đồng bộ, ví dụ như doanh nghiệp sản xuất không có chính sách trợ giá thì sẽ không làm được. Bên tài chính thì sợ thiếu hụt nên không đồng ý. Tóm lại, chúng ta cần phải có nhạc trưởng... "
Đăng nhập để trả lời
0
Nhiên liệu sinh học: xăng etanol

Năng lượng sinh học
Ngày nay do thế giới phụ thuộc quá nhiều vào dầu mỏ, giá dầu biến động liên tục theo chiều tăng, sự cạn kiệt dần nguồn năng lượng hoá thạch và khí đốt nên việc tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế là việc làm có tính sống còn trong những thập kỷ tới, trong đó có năng lượng sinh học.
Năng lượng sinh học bao gồm các nguồn năng lượng được sản xuất từ nhiều loại sản phẩm nông nghiệp khác nhau như thân, cành, vỏ, quả, cây, các sản phẩm dư thừa khi chế biến nông, lâm sản, gỗ củi, phân gia súc, nước thải và bả phế thải hữu cơ công nghiệp, rác thải… Vì vậy, năng lượng sinh học là nguồn năng lượng thay thế có thể tồn tại, tái sinh và điều chỉnh theo ý muốn của con người.
Hiện có hai dạng năng lượng sinh học chủ yếu, đó là etanol sinh học và diezel sinh học. Diezel sinh học đã được nêu ở phần trước. Trong phần này, chúng ta sẽ đề cập đến etanol sinh học, một dạng năng lượng đầy hứa hẹn trong tương lai.

Giới thiệu về etanol và các ứng dụng

Etanol còn được gọi là rượu etylic, rượu ngũ cốc hay cồn. Nó là một hợp chất hữu cơ nằm trong dãy đồng đẳng của rượu metylic, dễ cháy, không màu, là một trong các thành phần của đồ uống chứa cồn. Trong dân dã, nó thường được gọi vắn tắt là rượu. Công thức hoá học C2H5OH, viết tắt là C2H6O.
Etanol đã được con người sử dụng từ thời tiền sử (từ thời đồ đá mới) như là một thành phần gây cảm giác say. Việc chiết etanol tương đối nguyên chất với nồng độ 96% được thực hiện vào thời kỳ Abbasid Hồi giáo (năm 721-815). Etanol tinh khiết lần đầu tiên được Johann Tobias Lowits thu hồi vào năm 1796 bằng phương pháp chưng cất qua than củi.
Antoine Lavoisier đã mô tả etanol là hợp chất của hydro, cacbon và oxy. Vào năm 1808 Nicola-Théodere de Saussure đã xác định được công thức hoá học, năm 1858 Archibald Scott Couper đã công bố công thức cấu tạo, điều này làm cho etanol trở thành một trong các hợp chất hoá học đầu tiên có sự xác định cấu trúc hoá học.
Etanol lần đầu tiên được Henry Hennel ở Anh và Sérullas ở Pháp tổng hợp nhân tạo vào năm 1826. Faraday đã tổng hợp etanol bằng phản ứng hyrdrat hoá etylen với xúc tác axit vào năm 1828 theo một công nghệ tương tự như công nghệ tổng hợp etanol ngày nay.
Etanol dễ dàng hoà tan vào nước theo mọi tỷ lệ, với sự giảm nhẹ tổng thể về thể tích khi hai chất này được trộn lẫn với nhau. Etanol tinh khiết hay etanol 95% là các dung môi tốt, sử dụng trong các loại nước hoa, sơn và cồn thuốc. Các tỷ lệ khác của etanol với nước cũng có thể làm dung môi . Các loại đồ uống chứa cồn có hương vị khác nhau do có các chất tạo mùi khác nhau được hoà tan trong nó trong quá trình ủ và nấu rượu. Khi etanol được sản xuất như là đồ uống hỗn hợp thì nó là rượu ngũ cốc tinh khiết.
Dung dịch etanol 70% chủ yếu sử dụng như là chất tẩy uế. Etanol cũng được sử dụng trong các gel vệ sinh kháng khuẩn, phổ biến nhất có nồng độ khoãng 62%. Etanol giết chết các vi sinh vật theo cơ chế biến tính protein và hoà tan lipit của chúng. Do khả năng kháng khuẩn của etanol nên các đồ uống chứa trên 18% etanol có kh năng bảo quản lâu dài (đồ uống chưa nhỏ hơn 18% etanol không ngăn chặn được vi khuẩn phát triển).
Etanol có thể sử dụng trong các sản phẩm chống đông lạnh vì điểm đóng băng thấp của nó.
Etanol có thể sử dụng làm nguyên liệu trong công nghệ hoá học, nguyên liệu cho tổng hợp hữu cơ hoá dầu.
Ngày nay, etanol được sử dụng rộng rãi để pha vào xăng tạo nhiên liệu sinh học thân thiện với môi trường. Tại Hoa Kỳ, Iowa là bang sản xuất etanol cho nhiên liệu ôtô với sản lượng lớn nhất.
 
Triển vọng và tình hình sản xuất, sử dụng nhiên liệu sinh học trên thế giới và Việt Nam


Do có nguồn gốc từ cây trồng nên etanol mang lại nhiều lợi ích: An toàn năng lượng, giá nhiên liệu thấp, giảm khí CO2, tái sinh nền công nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân. Việc sản xuất etanol từ nguyên liệu sinh khối như: Rơm rạ, cành cây nhỏ, củi tre… đang có dấu hiệu rất khả quan, báo hiệu thời điểm đẩy mạnh việc sản xuất và sử dụng nguồn nguyên liệu vô tận đang đến.
Trên thế giới, các nước sản xuất etanol từ các nguồn nguyên liệu khác nhau. Nước sản xuất etanol sinh học nhiều bậc nhất thế giới là Brazin. Brazin sản xuất mỗi năm 14 tỷ lít cồn (tưng đương với 20 vạn thùng) từ cây mía. Chương trình sản xuất này tạo việc làm cho 1 triệu người và tiết kiệm được 60 tỷ USD tiền nhập xăng dầu trong 3 thập kỷ qua. Số tiền này lớn gấp 10 lần chi cho chương trình trên và gấp 50 lần số tiền trợ cấp ban đầu. Từ năm 1985 sản lượng etanol nhiên liệu đạt bình quân 10 triệu tấn/năm, thay thế luỹ kế cho 200 tấn dầu mỏ. Năm 2005 có 70% số ôtô đã sử dụng nhiên liệu sinh học. Hiện nay toàn bộ xăng chạy ôtô  của Brazin đều pha 20 - 25% etanol sinh học. Brazin có thể sản xuất lượng etanol thay thế 10% nhu cầu xăng dầu của thế giới trong vòng 20 năm tới với lượng xuất khẩu khong 200 tỷ lít, so với mức 30 tỷ lít hiện nay. Luật pháp Brazin qui định tất cả các loại xe phải sử dụng xăng pha 22% etanol và nước này đã có 20% số lượng xe chỉ sử dụng etanol 100%.
Từ nay đến 2012 Brazin dự định sẽ đưa vào hoạt động trên 70 nhà máy mới chuyên sản xuất etanol.
Trong khối EU nhiên liệu sinh học là một ưu tiên trong chính sách môi trường và giao thông. Theo ước tính của các nhà kinh tế sử dụng nhiên liệu sinh học, hàng năm có thể tiết kiệm được 120 triệu thùng dầu thô vào năm 2010.
Từ đầu năm 2004 các trạm xăng Aral và Shell ở Đức bắt đầu thực hiện chỉ thị 2003/30/EU mà theo đó từ 31-12-2005 ít nhất 2% và đến
31-12-2010 ít nhất 5,75% các nhiên liệu dùng để chuyên chở phải có nguồn gốc tái tạo.
Tại Áo, một phần chỉ thị của EU đã được thực hiện sớm hơn từ 1-11-2005 với dầu diezel phải pha 5% nguồn gốc sinh học.
EU đặt mục tiêu đến 2020 sản xuất điện năng từ các nguồn năng lượng tái sinh. EU qui định các nước thành viên phải sử dụng ít nhất 10% nhiên liệu sinh học từ nay đến 2020.
 Mỹ đề ra đến 2020 sử dụng 20% nhiên liệu sinh học trong giao thông.
Indonesia đã trợ cấp khoãng 7 tỷ USD cho năng lượng. Nước này đặt mục tiêu đến năm 2010 nhiên liệu sinh học đáp ứng 10% nhu cầu cho ngành điện và giao thông. Hiện nay ở Indonesia phần lớn xe buýt và xe tải chạy bằng dầu diezel sinh học (hỗn hợp dầu cọ với nhiên liệu hoá thạch)
Tại Trung Quốc, các tỉnh Hà Nam, An Huy, Cát Lâm, Hắc Long Giang… đã sản xuất etanol từ lương thực tồn kho với sản lượng hàng năm 1,02 triệu tấn /năm. Riêng tỉnh Hắc Long Giang sản xuất etanol năng suất 5000 tấn/năm. Nước này đang nghiên cứu công nghệ sản xuất etanol từ xenluloza và hiện đã có cơ sở đạt 600 tấn/năm. Theo kế hoạch, đến năm 2010 sản lượng nhiên liệu sinh học của Trung Quốc khoãng 6 triệu tấn. Đến năm 2020 là 19 triệu tấn trong đó etanol là 10 triệu tấn, biodiezel là 9 triệu tấn.
Malaysia hiện có 3 nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học với công suất 276.000 tấn/năm. Chính phủ nước này đặt mục tiêu sản xuất 1 triệu tấn dầu diezel sinh học xuất khẩu vào năm 2007 - 2008. Hiện nay Malaysia đã trồng được 10.000 cây jatropha để chiết xuất lấy dầu diezel.
Thái Lan đã xây dựng chương trình phát triển năng lượng thay thế các nguồn nhiên liệu hoá thạch.
Tại Nhật bản, năm 2001 đã sử dụng tế bào Rhizopus oryzae cố định để sản xuất diezel sinh học với tỷ lệ chuyển hoá đạt 80 % và tương lai có thể đạt trên 95%, giá thành của phương pháp này giảm hơn so với phương pháp hoá học từ 15 - 20%.
Pháp sử dụng dầu hạt cải và dầu của cây jatropha đế sản xuất nhiên liệu sinh học biodiezel.
Tại Việt Nam, vừa qua Bộ Công nghiệp đã xây dựng Đề án phát triển nhiên liệu sinh học (NLSH) đến 2015, tầm nhìn đến 2020 và được Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án này vào ngày 20-11-2007. Theo đề án, trong giai đoạn 2006 - 2010, Việt Nam sẽ tiếp cận công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học, xây dựng mạng lưới thí điểm phân phối nhiên liệu sinh học tại một số tỉnh thành, qui hoạch vùng trồng cây nguyên liệu cho năng suất cao, đào tạo cán bộ chuyên sâu về kỹ thuật. Giai đoạn 2011 -2015 sẽ phát triển mạnh sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế một phần nhiên liệu truyền thống. Mở rộng qui mô sản xuất và mạng lưới phân phối phục vụ giao thông và các ngành sản xuất công nghiệp khác. Đến năm 2020 công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trên thế giới với sản lượng khoãng 5 tỷ lít xăng E10 và 500 triệu lít dầu diezel B10 trong 1 năm. Từ tháng 8-2007, một hệ thống sản xuất nhiên liệu sinh học từ dầu ăn phế thải với công suất 2 tấn/ngày đã triển khai tại Công ty Phú Xương T.P. Hồ Chí Minh. Việt Nam có nguồn nguyên liệu dồi dào đó là mỡ cá tra và cá basa, dầu hạt cao su, dầu dừa... để sản xuất biodiezel. Sắp tới một dây chuyền công nghệ năng suất cao sẽ hình thành tại tỉnh Long An để sản xuất và pha chế nhiên liệu B5 đạt tiêu chuẩn để chạy động cơ diezel.
Cũng theo Đề án trên, từ nay đến năm 2015, ngân sách nhà nước sẽ chi khoãng 260 tỷ VN đồng để nghiên cứu, mua công nghệ, máy móc thiết bị, sản xuất thử NLSH. Đề án đặt mục tiêu qui hoạch vùng nguyên liệu để sản xuất NLSH như cồn, dầu mỡ động thực vật. Đến năm 2010 NLSH sẽ thay thế 0,4% xăng dầu. Đến năm 2015 sẽ thay thế 1% năng lượng xăng dầu tiêu thụ.

Nguồn:
GS. Đinh thị Ngọ - Nhiên liệu sạch
Đăng nhập để trả lời
0
Nhiên liệu sinh khối biomass
 
Vai trò của nhiên liệu sinh khối


Tại phần trước chúng ta đã đề cập đến nhiên liệu sinh học và tầm quan trọng của nó trong việc thay thế nhiên liệu khoáng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, chúng cũng gặp phải những khó khăn trong việc cạnh tranh với nguyên liệu cho ngành lương thực, thực phẩm. Loại nhiên liệu này chỉ thực sự phát huy tác dụng tốt khi sử dụng nguồn dầu cây công nghiệp (các loại dầu không ăn được) hoặc có những chính sách thật hợp lý để phát triển nông nghiệp, trồng thêm các loại cây lấy dầu với sản lượng lớn tại các vùng đất dư thừa để vừa đáp ứng nhu cầu về lương thực vừa có thêm nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học.
Nhiên liệu sinh khối (NLSK) không có những nhược điểm trên. Đây là loại nhiên liệu cổ xưa nhất, tốt nhất, đảm bảo mọi chỉ tiêu về năng lượng, không ảnh hưởng đến an ninh lương thực và đáp ứng tốt về môi trường.
Nhiên liệu sinh khối là vật liệu hữu cơ, chứa chủ yếu 3 thành phần là: Lignin 15 - 25%; xenlulo: 38 - 50%; hemixenlulo: 23 - 32%; chúng có nhiều dạng như gỗ, sản phẩm phụ của lâm nghiệp như mùn cưa vỏ bào, chất thải nông nghiệp như rơm rạ, trấu, bả mía, rác sinh hoạt, phân động vật v.v...
Hiện nay, trên qui mô toàn cầu, NLSK là nguồn năng lượng lớn thứ tư, chiếm tới 14 - 15% tổng năng lượng tiêu thụ. Ở các nước phát triển, sinh khối thường là nguồn năng lượng lớn nhất, đóng góp khoãng 35% tổng số năng lượng. Từ sinh khối, có thể sản xuất ra nhiên liệu khí cũng như nhiên liệu lỏng làm chất đốt hay nhiên liệu cho động cơ.
Nhiên liệu lỏng từ sinh khối được tổng hợp thông qua một qui trình gọi là nhiệt phân trong điều kiện thiếu oxy. Sau nhiệt phân thu được chất lỏng gọi là dầu nhiệt phân, có thể sử dụng để sản xuất điện năng (gọi là điện sinh học). Một hệ thống điện sinh học đang được thưng mại hoá ở Mỹ với 350 nhà máy điện sinh học, sản xuất trên 7.500 MW điện mỗi năm, đủ cung cấp cho hàng triệu hộ gia đình và tạo 60.000 việc làm. Dự kiến năng suất điện sinh học ở Mỹ vào năm 2010 là 13.000 MW.
ở Ấn Độ, NLSK chiếm 30% tổng nhiên liệu được sử dụng, là nguồn nhiên liệu quan trọng nhất được sử dụng ở trên 90% hộ gia đình nông thôn và chừng 15% hộ gia đình đô thị. Ở Anh, dự kiến tới năm 2050 NLSK có thể cung cấp 10 - 15% tổng năng lượng sử dụng.
Tại Việt nam, nguồn sinh khối chủ yếu là trấu, bả mía, gỗ, phân động vật, rác sinh học, đô thị và phụ phẩm nông nghiệp. Chính phủ ta đang đàm phán với Anh và Mỹ để ký kết hợp đồng trị giá 106 triệu USD để xây dựng nhà máy sinh khối tại thành phố Hồ Chí Minh. Dự án này sẽ xử lý 1.500 - 3.000 tấn rác mỗi ngày, sản xuất 15 MW điện và 480.000 tấn phân NPK/năm. Ngoài ra, ở nước ta cũng có rất nhiều các công trình nhỏ lẻ tại vùng nông thôn sản xuất khí đốt dân dụng từ phân động vật (hầm biogas), giải quyết được khá nhiều vần đề về năng lượng cho nông dân.
Ngoài tác dụng làm nhiên liệu, NLSK còn có thể giải quyết được tình trạng thay đổi khí hậu, giảm hiệu ứng nhà kính: Khi sinh vật sinh trưởng, chúng hấp thụ khí thải CO2 trong môi trường thông qua quá trình quang hợp, như vậy sẽ tiêu thụ bớt một lượng khí giúp phát thải khí nhà kính.
NLSK còn giải quyết vấn đề môi trường: biến chất thải, phế phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp thành nhiệt và năng lượng. Như vậy vừa tận dụng được phế thải lại không phải xử lý môi trường. Ngưòi ta gọi ngành công nghiệp NLSK là công nghiệp không chất thải và là nguồn nhiên liệu thiết thực cho ngày nay và cho tương lai.

Tiềm năng nhiên liệu sinh khối


Nguồn NLSK rất phong phú và đa dạng, do vậy công nghệ sản xuất NLSK cũng đa dạng. Các vật liệu sinh khối bao gồm gỗ, cành cây nhỏ, bả mía, rơm rạ, trấu, lá cây, phân động vật, phế thải nông, lâm nghiệp... Có thể tham khảo các số liệu trong bảng 1, bảng 2.

Bảng 1. Nguồn sinh khối gỗ năng lượng
TT Nguồn cung cấp Tiềm năng, (triệu tấn) Qui dầu tương đương, triệu tấn
1   Rừng tự nhiên        6,842                   2,390
2   Rừng trồng            3,718                   1,300
3   Đất không rừng      3,850                   1,350
4   Cây trồng phân tán 6,050                   2,120
5  Cây công nghiệp      2,400                   0,840
6   Phế liệu gỗ            1,649                    0,580
 Tổng                        25,090                 8,780

Bảng 2. Tiềm năng sinh khối phụ phẩm nông nghiệp
TT Nguồn cung cấp Tiềm năng (triệu tấn) Qui dầu (triệu tấn)Tỷ lệ, %
1 Rơm rạ                32,52                    7,30                     60,4
2 Trấu                   6,50                      2,16                     17,9
3 Bả mía                4,45                       0,82                     6,8
4 Các loại khác       9,00                      1,80                      14,9
 Tổng                    53,43                    12,08                    100,0

Từ các bảng trên ta thấy, tiềm năng của NLSK là rất lớn. Theo báo cáo của Hội Công nghiệp sinh khối Châu Âu, NLSK có thể đảm bảo tới 15% nhu cầu năng lượng của của các nước công nghiệp vào năm 2020. Hiện tại nguồn này mới chỉ đạt 1% nhu cầu. Sinh khối có thể cung cấp năng lượng cho 100 triệu hộ gia đình tương đương với công suất có thể thay thế 400 nhà máy điện truyền thống lớn. Lợi thế của nhiên liệu sinh khối là có thể dự trữ và sử dụng khi cần ; chúng luôn có tính ổn định và là nguồn năng lượng có thể tái tạo.
Giá thành của NLSK luôn rẻ hơn các loại hình nhiên liệu khác, ví dụ: sử dụng 2 - 4 kg chất thải sinh khối tương đương 1 kg than, trong khi đó giá của 1 kg chất thải sinh khối chỉ bằng 5 - 10% giá 1 kg than. Nếu sản xuất điện năng từ sinh khối thì giá thành điện cũng giảm từ 10 - 30% so với nguồn nguyên liệu hoá thạch. Ở nước ta, nếu tận dụng triệt để nguồn NLSK từ rơm rạ, bả mía thì ước tính cũng đã sản xuất được khoãng 605.000.000 kW điện trong một năm.

Nguồn:
GS. Đinh thị Ngọ - Nhiên liệu sạch


Đăng nhập để trả lời
0
Những quan điểm trái chiều về việc sản xuất nhiên liệu sinh học


Ngày nay nhiên liệu sinh học là một chủ đề nổi bật trong công nghệ. Sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học có ảnh hưởng tới các ngành nông nghiệp, hóa học, kinh tế năng lượng và môi trường. Môi trường cũng là một yếu tố thúc đẩy việc sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học do loại nhiên liệu này gây ô nhiễm môi trường ít hơn so với một số loại nhiên liệu khác (ví dụ: nhiên liệu hóa thạch). Một số người ca ngợi các ưu điểm của nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, một số người khác lại có ý kiến chống đối và họ cũng có những lập luận riêng của mình. Tranh luận công khai là một điều rất bổ ích và cần thiết và nếu một ai có những ý kiến khác với dư luận chung thì chưa chắc người đó đã sai.
Chúng ta có thể nhớ lại chuyện này: Vào những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước, trái đất có hiện tượng lạnh dần đi chứ không phải là hiện tượng nóng dần lên như chúng ta chứng kiến hiện nay. Các nhà báo đã rất quan tâm và viết nhiều về đề tài này. Họ cảnh báo về nguy cơ của một thời kỳ băng hà mới trên trái đất. Vào những thời gian đó, các hiện tượng thời tiết bất thường như bão, lụt, hạn hán đều bị quy là do hiện tượng “trái đất lạnh đi” gây ra. Với cách nghĩ như vậy, một số nhà khoa học ở Trung tâm Dự báo Khí tượng của nước Anh và của Trường Đại học Wisconsin của Mỹ đã nghiên cứu và tìm cách giải thích hiện tượng bụi bay ở một số trang trại tại những vùng bán khô hạn. Vào năm 1961, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) đã đứng ra tổ chức một hội nghị để đánh giá về hiện tượng trái đất bị lạnh đi và ảnh hưởng của nó tới tình hình cung cấp lương thực cho thế giới. Trong năm 1984, tờ tạp chí New Scientist nổi tiếng (xuất bản ở London) đã đăng tải trên 100 bài báo của các nhà khoa học hàng đầu  thế giới, mà chủ đề là các vấn đề lớn của khoa học và của loài người. Trong đó có một số bài báo đưa ra các dự đoán về những tình hình có thể xảy ra trong 20 năm tới. Họ cũng có nhắc tới vấn đề biến đổi khí hậu. Thế nhưng không một ai đề cập đến khả năng trái đất sẽ bị nóng dần lên bởi hiệu ứng nhà kính mà nguyên nhân là do con người sử dụng quá mức các nhiên liệu chứa cacbon, mặc dù lúc ấy người ta đã biết rằng mức CO2 trong khí quyển đang tăng lên.
Trở lại với vấn đề sản xuất nhiên liệu sinh học, vào năm 2005 hai nhà khoa học là các ông David Pimentel và Tad Patzed, trong một bài báo của họ đăng trên tạp chí “Nghiên cứu các nguồn tài nguyên thiên nhiên” đã phân tích tính kinh tế năng lượng của quá trình sản xuất hai loại nhiên liệu sinh học là etanol sinh học và dầu diesel sinh học. Họ khẳng định rằng sản xuất nhiên liệu sinh học tiêu thụ năng lượng nhiều hơn là bản thân chúng sinh ra được và chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học cao hơn nhiều so với chi phí sản xuất các nhiên liệu đi từ dầu mỏ, là những thứ mà nó có thể thay thế. Nếu những luận điểm này được chứng minh là đúng thì nó sẽ làm nản lòng những ai đang cổ vũ cho việc sản xuất nhiên liệu sinh học. Trong các nghiên cứu của mình, hai nhà khoa học nói trên đã điểm lại các khoản chi phí của quá trình sản xuất một số nhiên liệu sinh học (đặc biệt là etanol sinh học và dầu diesel sinh học) ở Mỹ. Sản xuất etanol sinh học bao gồm hai giai đoạn: sản xuất (trồng, thu hoạch) ngô và chuyển hóa ngô thành etanol. ở Mỹ, năng suất trồng ngô rất cao do người Mỹ đã áp dụng rất thành công công nghệ biến đổi gen. Chính vì vậy nước Mỹ rất dư thừa loại ngũ cốc này. ở công đoạn sản xuất ngô có 14 khoản chi phí như: nhân lực, xăng dầu, phân bón, thuốc trừ dịch hại, chi phí vận tải, v.v... Trong đó chi phí về năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Chi phí này bao gồm: chi phí năng lượng cho sản xuất máy nông nghiệp, xăng dầu chạy máy nông nghiệp, năng lượng cho sản xuất phân bón, v.v... ở công đoạn chế biến (chuyển hóa) ngô hạt thành etanol có 10 khoản chi phí: hơi nước, điện, tiền mua ngô, nhân lực, nước (dùng trong sản xuất), v.v... Trong đó phần chi phí cho năng lượng cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất, đó là: hơi, điện và năng lượng dùng để chế biến khối lượng ngô hạt. Tổng hợp cả hai công đoạn, chỉ riêng về chi phí năng lượng, hai nhà khoa học tính rằng đầu vào năng lượng cho sản xuất 1 lít etanol là 6.597 kcal.103. Trong khi đó 1 lít etanol chỉ có  thể sinh ra 5.130 kcal.103. Như vậy mức lỗ về năng lượng khi sản xuất 1 lít etanol là 6.597 kcal.103 - 5.130 kcal.103 = 1467 kcal.103. Có một điều chúng ta cần chú ý là hàm lượng năng lượng của etanol khá thấp; 1,6 lít etanol mới tương đương với 1 lít xăng đi từ dầu mỏ. Chi phí để sản xuất 1,6 lít etanol là 1,88 USD, còn chi phí cho sản xuất 1 lít xăng là 0,33 USD (theo mức giá xăng dầu năm 2003). Cách tính trên cũng chỉ là tương đối bởi vì giá dầu mỏ trên thế giới luôn biến động. Giá dầu mỏ tháng 3/2005 là 55 USD/ thùng, tháng 7 là 60,65 USD/ thùng, nhưng đến tháng 11/2005 là 61,60 USD/ thùng. Năm 2008 giá dầu mỏ trên thế giới lại càng biến động rất lớn. Giá dầu mỏ tháng 8/2008 là 147 USD/ thùng, nhưng đến tháng 12/2008 tụt xuống chỉ còn dưới 40 USD/ thùng. Cho nên nếu chỉ nhìn vào giá dầu mỏ thì sẽ có lúc sản xuất nhiên liệu sinh học sẽ không còn động lực.
Về sản xuất ngô ở nước Mỹ, hai tác giả trên cũng đưa ra một số so sánh với việc trồng các loại ngũ cốc khác:
- Trồng ngô làm xói mòn đất nhiều hơn.
- Trồng ngô sử dụng nhiều thuốc trừ dịch hại hơn, do đó nó cũng gây ô nhiễm nguồn nước nhiều hơn.
- Trồng ngô dùng nhiều phân đạm hơn mà các nhà máy sản xuất phân đạm lại là một yếu tố gây ô nhiễm môi trường.
Ngoài các ý kiến trên, các tác giả còn đưa ra những nhận định rất đáng chú ý là:
- Sản xuất ngũ cốc đáp ứng tới 80% nhu cầu lương thực của cả thế giới. Vì vậy nếu lấy ngũ cốc để sản xuất nhiên liệu sinh học thì rất có thể sẽ gây khủng hoảng thiếu lương thực và làm giá thực phẩm tăng cao.
- Trên thế giới trong thập niên vừa qua, tính theo đầu người diện tích trồng ngũ cốc đã giảm 20%, lượng phân bón giảm 17% và diện tích đất canh tác được tưới tiêu giảm 12%.
- Trong sản xuất ngũ cốc, phân đạm là loại vật tư đầu vào có mức chi phí năng lượng (để sản xuất ra nó) cao nhất.
- Bắc Mỹ là nơi cây cối hấp thụ ánh sáng mặt trời với tỷ lệ thấp nhất.
Về tình hình sản xuất etanol sinh học từ đường mía ở Braxin, các tác giả chưa có những số liệu chính xác. Tuy vậy họ cũng thừa nhận rằng, so với các nước khác trên thế giới, sản xuất etanol sinh học ở Braxin có chi phí thấp hơn do có khí hậu thích hợp, năng suất mía cao, và quá trình chuyển hóa từ đường sang etanol tương đối đơn giản.
Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất dầu diesel sinh học, David và Tad cũng có kết luận là sản xuất dầu diesel sinh học từ dầu đậu tương và dầu hạt hướng dương tiêu thụ năng lượng còn lớn hơn lượng năng lượng mà dầu diesel sinh học có thể sinh ra. Tình hình sản xuất diesel sinh học ở Malaixia có vẻ khả quan hơn. Hiện nay, Chính phủ Malaixia đang trợ giá cho nhiên liệu kể cả đối với dầu diesel (đi từ dầu mỏ). Năm 2005 mức trợ giá cho nhiên liệu lên tới 4,3 tỉ USD. Chính phủ Malaixia cho rằng, việc sử dụng dầu diesel sinh học sẽ làm giảm tới 10% nhu cầu dầu diesel hóa học. ở Malaixia, ngành sản xuất dầu cọ (ép từ hạt cây cọ dầu) rất phát triển, vì vậy sản xuất dầu diesel sinh học từ loại nguyên liệu này có triển vọng rất lớn. Chính phủ dự định đưa ra một điều luật, bắt buộc trong dầu diesel chạy xe máy phải chứa 5% dầu cọ. Năm 2005, chính phủ có kế hoạch xây dựng 3 nhà máy sản xuất dầu diesel sinh học với tổng công suất 180 nghìn tấn/ năm và giành sản phẩm cho xuất khẩu. Các nhà máy này sẽ tiêu thụ hàng năm 500 nghìn tấn dầu cọ trong tổng số 14 triệu tấn dầu cọ của cả nước sản xuất ra. Trái với một số loại dầu diesel khác, khi sử dụng dầu diesel sinh học đi từ dầu cọ, người ta không cần phải cải biến động cơ. Nó cũng ít gây ô nhiễm môi trường hơn so với một số nhiên liệu khác. Năm 2005 nhu cầu nhiên liệu sinh học của thế giới là 2,5 triệu tấn và mức tăng trưởng hàng năm là 25%. Chính phủ Malaixia hy vọng, Malaixia sẽ chiếm được 10% thị phần của thị trường này và châu Âu là một mục tiêu quan trọng của họ. Hiện nay Liên minh châu Âu (EU) là nhà sản xuất nhiên liệu sinh học dẫn đầu thế giới. Nguyên liệu đầu vào của họ chủ yếu là dầu hạt cải. Tuy nhiên, dầu cọ có thể là nguyên liệu thay thế vì nó có giá rẻ hơn. EU muốn vào năm 2006 các quốc gia thành viên sẽ sử dụng nhiên liệu sinh học với tỉ lệ chiếm tới 2% trong tổng lượng nhiên liệu chạy xe, máy của họ, và con số này vào năm 2010 sẽ là 5,75%.
Khi giá dầu mỏ tăng cao thì việc sản xuất nhiên liệu sinh học sẽ được khuyến khích, đặc biệt khi giá dầu cọ chỉ là 1.600 đôla Malaixia/ tấn, là mức khá rẻ so với giá 2.000 đôla Malaixia cho 1 tấn dầu diesel hóa học.
Vừa qua, trên thế giới giá lương thực, thực phẩm tăng cao. Dư luận chung đều cho rằng nguyên nhân của tình trạng này là do một số nước đã sử dụng ngũ cốc để sản xuất nhiên liệu sinh học làm nguồn cung cấp lương thực bị suy giảm. Tuy nhiên người ta cũng phải thừa nhận rằng, nguồn nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí đốt) của thế giới ngày càng cạn dần mà nhu cầu nhiên liệu của thế giới ngày càng tăng lên. Trong khi đó các nguồn năng lượng tái tạo (sức gió, năng lượng mặt trời...) vẫn chưa được sử dụng rộng rãi, còn năng lượng hạt nhân chỉ được sử dụng ở một số quốc gia có tiềm lực về kinh tế và công nghệ, nên nhiên liệu sinh học chắc chắn sẽ là một nguồn năng lượng bổ sung cần thiết cho nhu cầu năng lượng của loài người. Trong thực tế, nhiên liệu sinh học cũng là loại nhiên liệu tái tạo, vì vậy tương lai của nó vẫn rất sáng sủa.
VŨ TRUNG
Theo FI, 11-12/2005
 
Đăng nhập để trả lời
0