Diễn Đàn » Tin Việt Nam

Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội - Trần Hữu Quang

2 trả lời, 1.241 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-31 05:13:11sóng trăng>



Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội
Trần Hữu Quang [1]
 

 
      “Vốn xã hội” là một thuật ngữ trong một hai thập niên gần đây được đề cập nhiều trong giới khoa học xã hội, nhưng cho đến giờ, dường như giới học thuật vẫn chưa đi đến một định nghĩa thống nhất về khái niệm này. Điều này không phải chỉ vì cụm từ này được ghép từ những thuật ngữ thuộc những lĩnh vực khác nhau (“vốn” là một từ mang ý nghĩa kinh tế, được ghép với từ “xã hội” mà người ta thường hiểu một cách rất rộng), mà còn vì bản thân thuật ngữ “vốn xã hội” được dùng để chỉ một thực thể bao quát đến mức khá mơ hồ và khó nắm bắt. Và trong thực tế, mỗi nhà nghiên cứu thường xác định nội hàm của nó tùy theo sự chọn lựa góc độ tiếp cận và khảo sát của mình. Có thể nói cho đến nay thuật ngữ này vẫn chưa được “khái niệm hóa” một cách đầy đủ, hay nói cách khác, nó chưa trở thành một khái niệm khoa học thực thụ.  

      Bài viết này là một nỗ lực nhằm đóng góp phần nào vào việc khái niệm hóa “vốn xã hội”, chủ yếu dưới cách tiếp cận xã hội học. Ở phần đầu, chúng tôi sẽ điểm lại một số định nghĩa và từ đó xác định lại xem thế nào là vốn xã hội. Sau đó, chúng tôi sẽ thử đi vào phân tích các kích thước văn hóa và định chế của vốn xã hội.

Cần hiểu thế nào là vốn xã hội

      Trước tiên, chúng tôi muốn điểm lại một số quan niệm về vốn xã hội của một vài tác giả thường được nhắc tới trong chủ đề này.

      Trong một công trình xuất bản năm 1980, khi tìm cách giải thích tình trạng bất bình đẳng xã hội và quá trình tái sản xuất tình trạng bất bình đẳng ấy, nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu đã du nhập khái niệm “vốn” hay “tư bản” (capital) của lĩnh vực kinh tế vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian xã hội. Ngoài vốn kinh tế (capital économique), Bourdieu còn phân biệt ba loại vốn nữa là vốn văn hóa (capital culturel), vốn xã hội (capital social), và vốn biểu tượng (capital symbolique).

      Bourdieu  định nghĩa vốn xã hội là một “mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, [những mối liên hệ này] ít nhiều đã được định chế hóa”.[2] Ông cho rằng “khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, và vào khối lượng vốn ([vốn] kinh tế, [vốn] văn hóa hay [vốn] biểu tượng) của từng người mà anh ta có liên hệ.”[3] Bourdieu quan niệm rằng các loại vốn vừa nói có thể chuyển hóa lẫn nhau.

      Năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông hiểu vốn xã hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như sau : các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms), và sự tin cậy trong xã hội (social trust) – là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung.[4] Năm 1995, nhà chính trị học Robert Putnam đã lập lại ý tưởng của Coleman và đưa ra định nghĩa như sau về vốn xã hội trong một bài tạp chí thường được nhắc tới mang tên là “Chơi bowling một mình” : “Hiểu một cách tương tự như những khái niệm vốn vật thể và vốn con người – đây là những phương tiện và [những kỹ năng] đào tạo [có tác dụng] làm gia tăng năng suất của cá nhân –, ‘vốn xã hội’ nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng lưới [xã hội], các chuẩn mực, và sự tin cậy [trong] xã hội vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương.”[5]

      Như vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội với tư cách là một thứ tài sản mà mỗi cá nhân có thể có được, thì Coleman và Putnam lại hiểu vốn xã hội như là một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó. Trong bài này, chúng tôi đi sâu vào khái niệm vốn xã hội hiểu theo định nghĩa thứ hai này.

      Putnam không những đã đào sâu khái niệm vốn xã hội, mà còn đề xuất những chỉ báo nhằm đo lường vốn xã hội. Trong một công trình nghiên cứu đối chiếu giữa miền bắc và miền nam nước Ý,[6] Putnam đã khảo sát vốn xã hội xét về mức độ tham gia vào đời sống công dân qua những chỉ báo như : mức độ tham gia vào các cuộc bầu cử, số lượng phát hành báo chí, mức độ gia nhập tự nguyện vào các hội (như các hội hát hoặc các câu lạc bộ bóng đá…), và mức độ tin tưởng vào các định chế công cộng. Ông kết luận rằng ở miền bắc nước Ý, nơi mà những chỉ báo vừa nói đều mang tính chất thuận lợi hơn so với miền nam, nghĩa là có “vốn xã hội” phát triển hơn, những thành tựu về khả năng quản trị của nhà nước (governance), về hiệu quả của các định chế cũng như về sự phát triển kinh tế-xã hội đều tích cực hơn so với miền nam nước Ý.

      Cách hiểu của Ngân hàng Thế giới hiện nay về vốn xã hội cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên : “Vốn xã hội [là một khái niệm] có liên quan tới những chuẩn mực và những mạng lưới [xã hội] dẫn đến hành động tập thể. Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng sự gắn kết xã hội – vốn xã hội – đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững.”[7]
 
      Mặc dù đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung vốn xã hội thường được định nghĩa xoay quanh ba yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau : (a) khả năng làm việc chung với nhau, (b) sự tin cậy giữa con người với nhau, và (c) các mạng lưới xã hội.[8]
 
      Nhưng trong một bài viết vào năm 2000, nhà nghiên cứu chính trị học người Mỹ gốc Nhật Francis Fukuyama cho rằng phần lớn các định nghĩa về vốn xã hội đều chỉ nói về những mặt biểu hiện của vốn xã hội hơn là về bản thân vốn xã hội. Ông quan niệm rằng vốn xã hội chính là thành tố văn hóa của các xã hội hiện đại – những xã hội mà kể từ thời kỳ Khai sáng đã được tổ chức dựa trên cơ sở của các định chế chính thức, trên nhà nước pháp quyền và lý tính.[9]

      Định nghĩa về vốn xã hội của Fukuyama có đặc điểm là nhấn mạnh hơn đến yếu tố chuẩn mực xã hội. Ông viết như sau : “Vốn xã hội là một chuẩn mực phi chính thức được biểu hiện trong thực tế [instantiated][10] [có tác dụng] thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân. Các chuẩn mực làm nên vốn xã hội có thể bao gồm từ chuẩn mực có đi có lại [reciprocity] giữa hai người bạn, cho tới những học thuyết phức tạp và được kết cấu một cách tinh tế như Ki-tô giáo hay Khổng giáo. Những chuẩn mực này phải được biểu hiện trong thực tế [instantiated] trong mối liên hệ có thực [actual] giữa con người với con người : chuẩn mực có đi có lại tồn tại trong tiềm thể [in potentia] trong lối xử sự của tôi với mọi người, nhưng nó chỉ được hiện thực hóa [actualized] khi tôi xử sự với bạn bè của tôi mà thôi. Theo định nghĩa này, sự tin cậy, các mạng lưới [xã hội], xã hội dân sự, và những thứ tương tự, vốn gắn liền với vốn xã hội, đều là những hiện tượng thứ phát [epiphenominal], nảy sinh do vốn xã hội chứ không phải là bản thân vốn xã hội.”[11]

      Trong số các định nghĩa vừa nêu trên đây về vốn xã hội, theo chúng tôi, định nghĩa của Francis Fukuyama là tương đối thỏa đáng hơn cả, vì nó nhấn mạnh yếu tố chuẩn mực, hay nói cách khác nó chú trọng tới kích thước văn hóa của vốn xã hội. Tuy nhiên chúng tôi không đồng ý với định nghĩa của Fukuyama ở chỗ nó chỉ giới hạn vào các “chuẩn mực phi chính thức” (informal norms). Nếu hiểu “chuẩn mực xã hội” (social norms) theo ý nghĩa chung nhất là những qui tắc của một tập thể, một cộng đồng hay một xã hội mà mỗi cá nhân thành viên đều buộc phải tuân thủ trong các hành vi và ứng xử của mình, thì chúng tôi cho rằng vốn xã hội phải bao hàm trong nó cả những chuẩn mực chính thức (nghĩa là đã được định chế hóa một cách công khai). Bởi lẽ trong số các điều qui định của luật pháp chẳng hạn, người ta thấy có những điều có thể thúc đẩy sự hợp tác và sự tin cậy giữa con người với nhau, nhưng cũng có những điều có thể không thuận lợi hoặc có tác dụng cản trở, một cách minh nhiên hoặc một cách vô tình, sự hợp tác hay sự liên kết giữa các cá nhân hay các tổ chức với nhau.

      Cho đến nay, phần lớn những tác giả như Coleman, Putnam hay Fukuyama đều thiên về cách định nghĩa vốn xã hội theo hướng tích cực, và nhấn mạnh tới tính hiệu quả của nó trong việc thúc đẩy khả năng hợp tác và tham gia vào các hoạt động xã hội, cũng như trong quá trình phát triển kinh tế. Chính vì thế mà nhiều công trình điều tra dựa trên những định nghĩa này đã đi đến những nhận định theo khuynh hướng định lượng hóa (chẳng hạn nhiều hay ít, mạnh hay yếu), và mặc nhiên giả định rằng vốn xã hội phải mang nội hàm tích cực.

      Nhưng theo chúng tôi, vốn xã hội có thể có ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực. Nói cách khác, đây là một khái niệm trung tính. Khái niệm “vốn xã hội” không phải là một khái niệm triết học, và cũng chưa trở thành một khái niệm kinh tế học. Có lẽ cần coi “vốn xã hội” như một khái niệm xã hội học được dùng để chỉ một cách tổng hợp hiện thực và đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội. Những mối dây liên kết này chịu sự chi phối quyết định của các chuẩn mực (chính thức và phi chính thức) và các định chế đang tồn tại trong cộng đồng hay xã hội ấy, và được biểu hiện ra thành những hiện tượng mà chúng ta có thể quan sát được như sự tin cậy giữa con người với nhau, khả năng làm việc chung với nhau, và các loại mạng lưới xã hội khác nhau.

      Trong tiếng Việt, chữ “vốn” hay “vốn liếng” ngoài ý nghĩa kinh tế còn hàm nghĩa là “nói chung những gì sẵn có hay tích lũy được”, chẳng hạn như “vốn kiến thức” hay “vốn từ ngữ”.[12] Nhưng khác với vốn vật thể hay vốn kinh tế, điều cần chú ý là “vốn xã hội” mà con người tích lũy được không phải lúc nào cũng có ý nghĩa và tác dụng tích cực ; nó có thể mang tính chất tích cực hoặc tiêu cực, tùy vào bối cảnh kinh tế và chính trị-xã hội cụ thể. Tích cực hay tiêu cực ở đây không phải theo nghĩa là tốt hay xấu, đúng hay sai, mà theo nghĩa phù hợp hay không phù hợp, thuận lợi hay cản trở xu thế phát triển của một cộng đồng hay một xã hội vào một giai đoạn lịch sử cụ thể. Có những loại vốn xã hội có thể có tác dụng tích cực đối với một xã hội trong một thời kỳ nào đó, nhưng khi chuyển sang một thời kỳ khác thì chúng lại trở thành những yếu tố cản trở sự phát triển, hay là từ “vốn quí” trở thành “của nợ” theo lối nói của Fukuyama.

      Vì tính chất tổng hợp và phức tạp của khái niệm này, nên chúng ta khó lòng đo lường hay định lượng hóa được “vốn xã hội”, mà chỉ có thể đề cập đến nó về mặt định tính. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể quan sát và đo lường những biểu hiện ra bên ngoài của nó như sự tin cậy, sự hợp tác, sự tham gia vào các hội đoàn, và các mạng lưới xã hội.

      Trong một bài viết mới đây, nhà kinh tế học Trần Hữu Dũng cho rằng mặc dù vốn xã hội là một “ý niệm rất linh động, thậm chí mập mờ, chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế”, nhưng đây là một “ ý niệm hữu ích”.[13] Ông viết : “Ý niệm ‘vốn xã hội’ là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những lý giải phong phú và thuyết phục hơn về hiện tượng phát triển kinh tế. Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa các cộng đồng và thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế.”[14]
 
Những kích thước văn hóa và định chế của vốn xã hội

      Nếu hiểu “vốn xã hội” là một hiện thực đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội, thì chúng ta có thể nói rằng xã hội nào có vốn xã hội nấy. Trong thực tế, không có “vốn xã hội” hiểu theo nghĩa chung chung. Mỗi xã hội có những kiểu liên kết đặc thù giữa con người với con người, do đó mỗi xã hội có thể có một kiểu vốn xã hội riêng biệt, không giống với vốn xã hội ở các xã hội khác.

      Chúng ta biết rằng các mối quan hệ giữa con người và con người luôn luôn chịu sự chi phối và cưỡng chế của các loại chuẩn mực khác nhau, từ những chuẩn mực luân lý, tôn giáo, phong tục, tập quán, hay những chuẩn mực trong các tổ chức và hội đoàn xã hội, cho tới những chuẩn mực pháp lý trong một quốc gia. Những chuẩn mực xã hội này tạo thành cái vỉa trầm tích nằm sâu trong nền văn hóa của một xã hội. Vì thế, chúng ta không thể nào hiểu được vốn xã hội một cách đầy đủ nếu không xem xét nó dưới góc độ của các chuẩn mực xã hội nằm trong khuôn khổ các định chế xã hội, hay nói rộng hơn là dưới kích thước văn hóa-xã hội và kích thước các định chế xã hội của bản thân xã hội mà chúng ta đang khảo sát.

      Khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của các xã hội, một trong những sự phân biệt tương đối phổ biến nhất trong giới khoa học xã hội là sự phân biệt giữa các xã hội cổ truyền với các xã hội hiện đại (chẳng hạn như sự phân biệt của Ferdinand Toennies giữa khái niệm “cộng đồng” [Gemeinschaft] và khái niệm “xã hội” [Gesellschaft]). Trong bài viết dẫn ở trên, Fukuyama cũng đã nhấn mạnh tới sự khác biệt quan trọng này khi phân tích về vốn xã hội. Do sự phát triển của các yếu tố kinh tế (đặc biệt là thị trường) và các yếu tố kỹ thuật, do sự phát triển của các định chế xã hội, nên kích thước văn hóa-xã hội của các xã hội hiện đại mang những đặc trưng rất khác so với các xã hội cổ truyền.

      Đời sống của các cộng đồng bộ tộc hay các làng xã cổ truyền cũng luôn được đặt nền tảng trên những chuẩn mực chung mà mọi người cùng chia sẻ, nhưng theo nhận xét của Fukuyama, nói chung phần lớn các công trình nghiên cứu về quá trình phát triển đều không coi vốn xã hội dưới dạng ấy là “vốn quí” (asset), mà đúng ra là một thứ “của nợ” thường gây ra khó khăn (liability).[15] Vì “phạm vi bán kính của sự tin cẩn” (the radius of trust) (theo lối nói của Lawrence Harrison[16]) quá hạn hẹp (chỉ giới hạn trong nội bộ gia đình, dòng họ, hay trong làng xã), nên các thành viên của các cộng đồng ấy khó lòng mà tin vào người ngoài, và phản ứng thông thường là nghi kỵ, thậm chí có thể đi đến chỗ ác cảm và tẩy chay những người không phải là thành viên như mình. Những xã hội cổ truyền thường mang tính chất “phân mảnh” hoặc “rời rạc” (segmentary), nghĩa là bao gồm rất nhiều đơn vị làng xã hoặc bộ tộc tự cấp tự túc, giống y như nhau nhưng biệt lập nhau, trong đó tinh thần cố kết mạnh mẽ trong nội bộ mỗi cộng đồng thường giảm thiểu khả năng hợp tác với bên ngoài, với các cộng đồng khác (chẳng hạn thể hiện qua câu “phép vua thua lệ làng”). Trong khi đó, ngược lại, các xã hội hiện đại được cấu tạo bởi rất nhiều nhóm xã hội dị biệt nhau và chồng lấn lên nhau (overlapping)[17], trong đó mỗi cá nhân có thể đồng thời là thành viên của nhiều nhóm khác nhau và mang nhiều tư thế khác nhau, đóng nhiều vai trò khác nhau. Do đó khả năng chấp nhận cái khác và hợp tác với người khác dễ dàng hơn nhiều so với các xã hội cổ truyền vốn thường mang tính chất thu hẹp và khép kín.

      Nếu xã hội cổ truyền được tổ chức chủ yếu dựa trên phong tục, tập quán, luân lý và tình cảm, thì xã hội hiện đại được tổ chức chủ yếu dựa trên luật pháp và lý tính. Nếu trong xã hội cổ truyền, vị trí của cá nhân được công nhận chủ yếu trên cơ sở vị trí thứ bậc của người này trong làng xã, trong dòng tộc, thì trong xã hội hiện đại, vị trí của cá nhân, trên nguyên tắc, được xác lập chủ yếu dựa trên khả năng của cá nhân và vị trí trong sự phân công lao động xã hội. Hay nói như Henry Maine, trong quá trình chuyển từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại, quan hệ giữa các cá nhân với nhau chuyển từ lối quan hệ dựa trên “vị thế” (status) sang lối quan hệ dựa trên “khế ước” (contract).[18] Nhiều chuẩn mực trong xã hội hiện đại tuy vẫn còn mang cái tên tương tự như trong xã hội cổ truyền nhưng thường mang những nội hàm hoàn toàn khác.

      Chuẩn mực “phục tùng” chẳng hạn trong xã hội Việt Nam truyền thống được hiểu là sự tuân phục tuyệt đối đối với mệnh lệnh của vua quan, là sự vâng lời gần như vô điều kiện đối với giáo huấn của cha mẹ (“ngoan ngoãn”, “dễ bảo”…), của người thầy, hay của một tôn giáo. Lối phục tùng ấy không dung nạp quyền tự do tư tưởng, và hoàn toàn không khuyến khích óc tranh luận hay tinh thần sáng tạo. Trong xã hội hiện đại, người ta cũng coi trọng chuẩn mực phục tùng (chẳng hạn tinh thần kỷ luật trong khuôn khổ các tổ chức như xí nghiệp hay cơ quan, hay kể cả trong đời sống xã hội, nhất là ở đô thị) ; nhưng không giống như xã hội cổ truyền, sự phục tùng trong xã hội hiện đại thiên về tính chất lý tính hơn là tình cảm, và đây không phải là sự phục tùng cá nhân người lãnh đạo của một tổ chức mà thực ra là sự phục tùng những nguyên tắc của tổ chức ấy. Sự phục tùng trong xã hội cổ truyền chủ yếu xuất phát từ một trật tự mang tính chất thứ bậc (hierarchical) xuất phát từ vị thế (của cá nhân trong trật tự xã hội), từ phong tục, từ truyền thống ; trong khi đó, sự phục tùng trong xã hội hiện đại lại chủ yếu xuất phát từ một trật tự mang tính chất phân công theo chức năng (functional) và theo lý tính.

      Nói đến khả năng hợp tác hay khả năng làm việc chung với nhau xét như là một thành tố của vốn xã hội cũng như thế. Cho đến nay, nhiều người vẫn thường cho rằng người Việt Nam có truyền thống hợp tác xuất phát từ trong đời sống làng xã và sinh hoạt dòng họ. Thế nhưng trong thực tế hiện nay, không ít người từng nêu ra nhận xét cho rằng hình như người Việt Nam khó làm việc chung với nhau. Sở dĩ như vậy là vì tinh thần hợp tác trong xã hội cổ truyền được hình thành chủ yếu dựa trên nền tảng tình cảm và dựa trên trật tự thứ bậc của cấu trúc làng xã hay dòng họ (chính vì thế mà óc hợp tác này thường mang tính chất cục bộ, bản vị, địa phương), không phù hợp với những yêu cầu của các tổ chức trong xã hội hiện đại vốn đòi hỏi một tinh thần hợp tác mang nét thuần lý nhiều hơn, dựa trên trật tự phân công chủ yếu căn cứ trên chức năng của từng bộ phận của tổ chức cũng như căn cứ trên năng lực của từng cá nhân (chứ không phải dựa trên tình cảm thân tộc, đồng hương, hay dựa trên tiêu chuẩn lý lịch chẳng hạn).

      Lòng tin giữa các cá nhân với nhau trong nội bộ một làng xã hay một dòng họ có thể là một lợi thế, là một thành tố quan trọng của vốn xã hội trong một giai đoạn nhất định nào đó, nhưng chuyển sang một thời kỳ phát triển mạnh mẽ hơn, khi mà các mối quan hệ giao dịch được đẩy mạnh trên qui mô quốc gia và xuyên quốc gia, thì lúc ấy, kiểu tin cậy của làng xã hay dòng họ lại có thể trở thành một thứ lực cản kềm hãm sự phát triển.

      Sự đoàn kết hay tính cố kết xã hội (social cohesion) cũng hoàn toàn không giống nhau giữa xã hội cổ truyền với xã hội hiện đại. Sự đoàn kết trong một cộng đồng cổ truyền hình thành chủ yếu trên nền tảng liên hệ tình cảm đồng hương, đồng tộc (huyết thống) hay tình cảm tôn giáo ; trong khi đó, ở xã hội hiện đại, những định chế như làng xã, dòng họ hay cộng đồng tôn giáo không còn nữa hoặc đã phai nhạt đi nhiều, và sự đoàn kết xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của quá trình phân công lao động xã hội và quá trình dị biệt hóa của các định chế xã hội. Sự đoàn kết trong xã hội cổ truyền có bán kính hẹp, với đường biên giới đóng kín (chủ yếu hướng nội), còn sự đoàn kết trong xã hội hiện đại mang tính chất rộng rãi hơn và mở hơn. Tính đoàn kết trong xã hội cổ truyền dựa trên sự đồng dạng (người ta liên kết gắn bó với nhau vì người ta giống nhau), nhưng trong xã hội hiện đại, tính đoàn kết xã hội lại dựa trên sự dị biệt và sự đa dạng (người ta liên kết với nhau chính vì người ta khác nhau). Nói như nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim, trong xã hội cổ truyền, sự liên đới giữa con người với nhau mang tính chất máy móc (solidarité mécanique), còn trong xã hội hiện đại, sự liên đới mang tính chất phức tạp hơn, tựa hồ như sự gắn kết giữa các bộ phận khác nhau trong một cơ thể sống (solidarité organique).

      Do đó, nếu nói một cách chung chung và đơn giản rằng người Việt Nam (hay người Đông phương nói chung) có vốn xã hội mạnh vì sẵn có tinh thần tuân phục (mà người ta thường cho là xuất phát từ truyền thống Nho giáo) và tinh thần đoàn kết (mà nhiều người thường nghĩ là kế thừa từ truyền thống làng xã) thì chưa hẳn đã chính xác. Cái vốn xã hội với những nội hàm ấy có thể “mạnh” và thích hợp với những thời kỳ lịch sử nào đó, nhưng lại có thể không còn thích hợp và thậm chí trở thành những yếu tố cản trở sự phát triển trong thời kỳ mà đất nước phải tham gia vào nền kinh tế toàn cầu hóa như ngày nay.

      Chúng tôi cho rằng mức độ tin cẩn lẫn nhau thì có thể đo lường được (mạnh hay yếu, cao hay thấp), nhưng vốn xã hội thì rất khó mà đo lường được, do bản thân khái niệm này vừa mang tính chất phức hợp, vừa trung tính, có thể chỉ một hiện thực mang tính chất hoặc tích cực hoặc tiêu cực. Vì thế, nhận định rằng một xã hội có nhiều vốn xã hội là chưa nói lên được điều gì cả, vì vấn đề mấu chốt chưa được nói đến là đấy là loại vốn xã hội nào. Mặt khác, ngay bản thân khái niệm tin cẩn cũng cần có sự phân biệt (về nội dung và tính chất) giữa sự tin cẩn trong các xã hội cổ truyền với sự tin cẩn trong các xã hội hiện đại, vì hệ lụy của hai loại tin cẩn này có thể hoàn toàn khác nhau, như chúng tôi đã phân tích ở đoạn trên.

      Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy là nói đến vốn xã hội hay nói đến sự tin cậy mà không đặt chúng vào trong bối cảnh văn hóa xã hội và bối cảnh các định chế xã hội trong đó hình thành nên vốn xã hội và sự tin cậy, thì không thể hiểu được thực sự nội hàm của những khái niệm này, vì đã không hình dung đầy đủ những kích thước văn hóa và kích thước định chế của chúng.[19]
 
T.H.Q.

Tài liệu tham khảo
 
- Pierre BOURDIEU, Questions de sociologie, Paris, Ed. Minuit, 1984.
- ĐOÀN Khắc Xuyên, “Vốn xã hội của Việt Nam nhìn từ thực tế hôm nay”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 6-7-2006, trang 12-13.
- Olivier GALLAND, “Les dimensions de la confiance”, Futuribles, no. 277, juillet-aout 2002, trang 15-39.
- Anthony GIDDENS, Social Theory and Modern Sociology, Stanford, Stanford University Press, 1996.
- Francis FUKUYAMA, “Social capital and civil society”, IMF Working paper WP/2000/74.
- Lene HJOLLUND, Martin PALDAM, Gert Tinggaard SVENDSEN, “Social capital in Russia and Denmark : A comparative study”, 2001 (www.gov.si/ zmar/conference/2001/pdf-konf/17-paldam.pdf).
- Takashi OMORI, “L’équilibre entre la croissance économique et le bien-être : Les implications de l’expérience japonaise”, ISUMA, Canadian Journal of Policy Research, Volume 2, No. 1, Spring 2001, trang 99-106.
- Robert PUTNAM, “Bowling alone : America‘s declining social capital”, Journal of Democracy, số 6 (1), tháng 1-1995, trang 65-78.
- TRẦN Hữu Dũng, “Vốn xã hội và kinh tế”, tạp chí Thời đại, số 8, tháng 7-2003, trang 82-102.
- TRẦN Hữu Dũng, “Vốn xã hội và phát triển kinh tế”, Tạp chí Tia Sáng, số 13, tháng 7-2006, trang 32-33, và 66.
- TRẦN Hữu Quang, “Lòng tin trong quản lý”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 26-12-2002, trang 36-37.
- TRẦN Hữu Quang, “Từ lòng tin trong xã hội tới xã hội dân sự”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 6-7-2006, trang 14-15.













[1] Phần lớn nội dung bài viết này đã được đăng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 07 (95), 2006, trang 74-81.
[2] Le capital social est un “réseau durable de relations plus ou moins institutionnalisées d’interconnaissance et d’interreconnaissance” (Pierre Bourdieu, Le sens pratique, Paris, Ed. Minuit, 1980).
[3] “Le volume du capital social que possède un agent particulier dépend de l’étendue des liaisons qu’il peut effectivement mobiliser et du volume de capital (économique, culturel ou symbolique) possédé en propre par chacun de ceux auxquels il est lié.” (Pierre Bourdieu, sách đã dẫn).
[4] James Coleman, Foundations of Social Theory, Cambridge (Massachusetts), Harvard University Press, 1990. Dẫn lại theo Olivier Galland, “Les dimensions de la confiance”, Futuribles, no. 277, juillet-aout 2002, trang 17.
[5] “By analogy with notions of physical capital and human capital – tools and training that enhance individual productivity – "social capital" refers to features of social organization such as networks, norms, and social trust that facilitate coordination and cooperation for mutual benefit.” (Robert Putnam, “Bowling alone : America‘s declining social capital”, Journal of Democracy, số 6 (1), tháng 1-1995, trang 67).
[6] Robert Putnam, Making Democracy Work: Civic Traditions in Modern Italy, Princeton: Princeton University Press, 1993.
[7] “Social capital refers to the norms and networks that enable collective action. Increasing evidence shows that social cohesion — social capital — is critical for poverty alleviation and sustainable human and economic development.” (http://web.worldbank.org)
[8] Xem Lene Hjollund, Martin Paldam, Gert Tinggaard Svendsen, “Social capital in Russia and Denmark : A comparative study”, 2001, trang 2 (www.gov.si/zmar/conference/2001 /pdf-konf/17-paldam.pdf).
[9] “[Social capital] constitutes the cultural component of modern societies, which in other respects have been organized since the Enlightenment on the basis of formal institutions, the rule of law, and rationality.” (Francis Fukuyama, “Social capital and civil society”, IMF Working paper WP/2000/74, trang 3).
[10] Trong bản gốc tiếng Anh là “an instantiated informal norm”. Chúng tôi dịch chữ “instantiated” là “được biểu hiện trong thực tế”.
[11] “ocial capital is an instantiated informal norm that promotes cooperation between two or more individuals. The norms that constitute social capital can range from a norm of reciprocity between two friends, all the way to complex and elaborately articulated doctrines like Christianity or Confucianism. These norms must be instantiated in an actual human relationship : the norm of reciprocity exists in potentia in my dealings with all people, but is actualized only in my dealings with my friends. By this definition, trust, networks, civil society, and the like, which have been associated with social capital, are all epiphenominal, arising because of social capital but not constituting social capital itself.” (Francis Fukuyama, bài đã dẫn, trang 3).
[12] Hoàng Phê (chủ biên) (Viện Ngôn ngữ học), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2000, trang 1126.
[13] Trần Hữu Dũng, “Vốn xã hội và phát triển kinh tế”, Tạp chí Tia Sáng, số 13, tháng 7-2006, trang 32.
[14] Trần Hữu Dũng, bài đã dẫn, trang 33.
[15] Francis Fukuyama, bài đã dẫn, trang 4.
[16] Paldam và Svendsen từng nói đến “mật độ tin cậy” (the density of trust) trong vốn xã hội. Còn Lawrence Harrison thì sử dụng cụm từ “phạm vi bán kính của sự tin cậy” (the radius of trust) (Lawrence Harrison, Underdevelopment Is a State of Mind : The Latin American Case, New York, Madison Books, 1985, trang 7-8. Dẫn lại theo Francis Fukuyama, bài đã dẫn, trang 4).
[17] Francis Fukuyama, bài đã dẫn, trang 5.
[18] Sir Henry Maine, Ancient Law (1917), bài trích trong Vilhelm Aubert (Ed.), Sociology of Law. Selected Readings, Harmondsworth, Penguin Education, 1975, trang 30-31.
[19] Có thể tham khảo thêm loạt bài viết về vốn xã hội đăng trên tạp chí Tia Sáng từ tháng 4 tới tháng 7-2006, và trên tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 6-7-2006, nhân cuộc hội thảo mang chủ đề “Vốn xã hội trong phát triển” do tạp chí Tia Sáng tổ chức tại Hà Nội ngày 24-6-2006.

http://www.viet-studies.org/kinhte/TranHuuQuang_VonXaHoi.htm
 
____________

Đọc thêm:
 
Bordieu, Pierre
http://en.wikipedia.org/wiki/Pierre_Bourdieu
 
Coleman, James
http://en.wikipedia.org/wiki/James_S._Coleman
 
Fukuyama, Francis:
http://en.wikipedia.org/wiki/Francis_Fukuyama
http://www.imf.org/external/pubs/ft/seminar/1999/reforms/fukuyama.htm

Giddens, Anthony:
http://en.wikipedia.org/wiki/Anthony_Giddens

Putnam, Robert:
http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_Putnam

Các Tiểu luận về Kinh Tế trên diễn đàn Việt Nam Thư Quán:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=236641
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-31 05:14:35sóng trăng>
.
 
Vốn xã hội và phát triển kinh tế
Trần Hữu Dũng
15:54:10 05/07/2006
nguồn: Tiasang.com
 

Tuy rằng động cơ khiến các học giả đặt ra khái niệm Vốn xã hội xuất phát từ nhiều hướng (xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục) song đại để là với nhận xét rằng (1) sự tin cẩn giữa những người cùng một “cộng đồng” (không nhất thiết bao trùm toàn thể quốc gia), (2) sự tuân theo thói lề, phong tục của cộng đồng ấy (không cần pháp luật cưỡng chế, hoặc vì hấp lực của quyền lợi vật chất), và (3) nói chung là “mạng lưới” xã hội (có thể là những hiệp hội, liên hệ gia tộc...), những “thứ đó” có ảnh hưởng thường là tốt đối với xã hội nói rộng, thậm chí có những lợi ích kinh tế rõ rệt. 

Từ những nhận xét “chung chung” (và khó phủ nhận) này, nhiều học giả đã gọi nguồn lực ấy là một thứ “vốn” – “vốn xã hội”.

Trước khi khai triển thêm về  khái niệm này, cần nhận xét ngay rằng không ít bàn tán về nó là xung quanh câu hỏi thật sự căn bản: tại sao gọi nguồn lực này là “vốn”?

Người biện hộ cho bản chất “vốn” của nguồn lực này đưa ra ba lí do chính. Thứ nhất, nó giống những loại vốn (đã được công nhận) khác ở chỗ có thể tích lũy từ các loại nguồn lực khác với mong mỏi sẽ có thêm thu hoạch (dù không chắc) trong tương lai. Thứ hai, vốn xã hội có thể được sử dụng trong nhiều việc khác nhau (Coleman 1988).  Thứ ba, vốn xã hội có thể được chuyển thành những loại nguồn lực khác, vốn khác (Bourdieu 1985).

Tất nhiên, cũng như những loại vốn khác ở chỗ có nhiều chỗ khác nhau song vẫn là “vốn”, vốn xã hội (theo những người đề xuất ý niệm này) có vài dị biệt với những loại vốn khác.  Chẳng hạn, khác vốn tài chính (nhưng giống vốn vật thể và vốn con người), vốn xã hội cần được nuôi dưỡng, bảo trì, để tiếp tục có ích. Rồi, cũng không thể tiên đoán suất chiết cựu của vốn xã hội. Về đặc tính này, vốn xã hội giống với vốn con người, nhưng khác với vốn vật thể .

Căn bản hơn, không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội là sản phẩm của tập thể, không của chỉ một cá nhân. Nó tùy vào “lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó cũng là của chung. Dùng thuật ngữ kinh tế, có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hóa công. Không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác.  Song, ngược lại, chỉ một vài cá nhân thôi cũng đủ làm đổ vỡ vốn xã hội mà tập thể đã dày công xây dựng.

Gần đây, nhiều nhà kinh tế chính thống (Arrow, Solow, Stiglitz) đã phân tích cặn kẽ khái niệm vốn xã hội và nêu ra một số dè dặt về sự thích hợp của chữ “vốn” trong cụm từ này. Arrow nhắc lại rằng vốn vật thể có ba đặc tính: trải ra trong thời gian (extension in time), hàm chứa những hi sinh cho lợi ích mai sau, và có thể được chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác. Theo Arrow, “vốn xã hội” có đặc tính thứ nhất nhưng thiếu đặc tính thứ hai và thứ ba. 

Solow đặt thêm câu hỏi: vốn vật thể có “suất thu hoạch” và có thể đo bằng cách tổng cộng tất cả đầu tư trong quá khứ, trừ đi phần tiêu hao, còn vốn xã hội thì làm sao đo? “Suất thu hoạch” của nó là cái gì? Và Ostrom châm thêm: vốn xã hội có đặc tính là càng sử dụng thì giá trị càng tăng, hoàn toàn trái ngược với vốn vật thể.



Vốn xã hội và phát triển kinh tế



[/align]Vậy thì cái “nguồn lực” ấy (từ đây sẽ gọi là “vốn xã hội” cho gọn, dù vẫn tồn nghi tính “vốn” của nó, như đã nói ở trên) có những ích lợi kinh tế nào?

(1) Vốn xã hội giúp giải quyết nhữngbài toán tập thể”. Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ đầy rẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc bình thường như dừng khi đèn đỏ hoặc không vứt rác nơi công cộng. Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng - giúp giải quyết các “bài toán phối hợp” (coordination problems). Đi xa hơn (dù chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự “thất bại phối hợp” (coordination failures), người viết bài này nghĩ rằng “tiếp cận vốn xã hội” có thể rất hữu ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm phát...).

(2) Vốn xã hội tiết kiệm phí giao dịch (transaction costs). Mọi giao dịch xã hội và kinh tế sẽ ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu rằng mọi người đều theo một chuẩn tắc cư xử (tự trọng, sợ mất danh giá gia đình, giữ lời hứa, chẳng hạn), bởi vì như vậy thì những cá nhân liên hệ sẽ không tốn nhiều thời giờ và tiền bạc để bảo đảm rằng đối tác sẽ chu toàn trách nhiệm của họ.

(3) Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của những loại vốn khác. Chẳng hạn, vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người (Coleman 1988).

(4) Trong những xã hội ít tin cẩn (tức là nghèo vốn xã hội), quyết định thuê mướn nhân viên thường bị ảnh hưởng của những đặc tính cá nhân người ấy (chẳng hạn như thân nhân hoặc quen biết riêng), ít dính dáng đến khả năng làm việc.  Ở xã hội nhiều tin cẩn thì những yếu tố khác như học vấn, tay nghề, sẽ được quan tâm hơn. Do đó, muốn tiến thân, người trong xã hội thiếu tin cẩn hay tìm cách móc nối thay vì trau dồi khả năng hay kiến thức của mình.

(5) Một xã hội nhiều vốn xã hội là một xã hội ít tội phạm.[1] Khi sinh ra trong một xã hội mà thành viên tin cẩn nhau thì con người cũng dễ có lòng tốt với người khác. Hậu quả là xã hội sẽ ít tội phạm hơn. Lợi ích kinh tế không phải nhỏ.

(6) Vốn xã hội của nhà nước là cái sườn, là thành tố của pháp chế. Càng nhiều vốn xã hội thì tư pháp càng vững chắc, khế ước càng nhiều khả năng thực thi, tham nhũng càng ít, quyết định của nhà nước càng minh bạch, dễ kiểm soát, và bộ máy hành chính càng hữu hiệu.

(7) Vốn xã hội, qua dạng tin cẩn, sẽ tăng mức khả tín của quan chức nhà nước, đặc biệt là khi họ tuyên bố về chính sách kinh tế và tài chính. Do đó vốn xã hội sẽ nâng cao mức đầu tư và những hoạt động kinh tế khác

(8) Một xã hội đoàn kết, ít chia rẽ (tức là phong phú vốn xã hội) sẽ dễ hồi phục sau những cú “sốc” kinh tế. Theo Rodrik (1999), những cú sốc này đòi hỏi sự quản lí những quyền lợi khác nhau trong xã hội. Vốn xã hội giúp hài hòa những xung khắc mà một cơn khủng hoảng kinh tế sẽ phơi trần. Thiếu vốn xã hội, ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế sẽ trầm trọng và lâu dài hơn.


Vốn xã hội và chính sách phát triển kinh tế

Ý niệm “vốn xã hội” là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những lí giải phong phú và thuyết phục hơn về hiện tượng phát triển kinh tế.  Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa các cộng đồng và thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế. Nhận định này có nhiều hệ luận quan trọng cho chính sách phát triển mà cho đến nay hầu như chỉ nhắm vào mặt kinh tế.

(1) Mọi chính sách đều có một bối cảnh xã hội, và mỗi bối cảnh ấy là một hỗn hợp tế nhị giữa các tổ chức không chính thức (informal), những mạng (quen biết cá nhân), và các thể chế. Do đó, quy hoạch chính sách đòi hỏi, trước hết, một phân tích xã hội và thể chế để nhận dạng mọi thành phần liên hệ, và liên hệ giữa các thành phần ấy. Cụ thể, khi hoạch định một phương thức can thiệp kinh tế hay xã hội, cần lưu ý đến khả năng các nhóm thế lực có thể động viên ảnh hưởng của họ theo cách có hại cho cộng đồng chung.
______________________

“Vốn xã hội” là một ý niệm hữu ích, cơ bản là nó giúp ta nhớ rằng liên hệ quen biết, sự tin cẩn, thể chế xã hội (và lịch sử) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, và do đó cần những chính sách thích hợp. Tuy nhiên, phải cảnh giác rằng ý niệm này rất linh động, thậm chí mập mờ, chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế.  Hơn nữa, có nhiều tình huống, vấn đề, mà sự phân tích không thật sự cần khái niệm “vốn xã hội”. Fukuyama (2006) cảnh báo là chớ nên xem (tiếp cận) “thể chế” như “viên đạn thần” cho phát triển. “Vốn xã hội” cũng thế. Nên xem nó như một quan niệm bổ túc để hiểu tiến trình phát triển, không phải là thành tố quan trọng nhất trong tiến trình này.
_____________________________________



[/align](2)  Phải xem vốn xã hội là một nguồn lực như các nguồn lực khác trong mọi công trình  xây dựng, dự án phát triển, từ cơ sở hạ tầng, đến giáo dục, y tế... Cũng nên nhớ rằng vốn xã hội là một loại “hàng hóa công” và, cũng như các loại hàng hóa công khác, nó sẽ không được thị trường cung ứng đầy đủ.  Sự hỗ trợ của nhà nước là cần thiết.

(3)  Nói chung, cần vun quén vốn xã hội, song cũng nên nhớ (a) vốn xã hội không phải bao giờ cũng tốt, (b) vốn xã hội thường là thuộc tính của một “cộng đồng”, một nhóm, đan xen, chồng chéo nhau - ít khi của toàn thể quốc gia. Do đó, chính sách “phát triển vốn xã hội” cần được cẩn thận chọn lọc, cụ thể, trong đó có cả biện pháp kết nối những cộng đồng (mà nội bộ có vốn xã hội riêng) trong một nước (Granovetter). Nó không thể là một chính sách chung chung. Sự phân cực, manh mún trong xã hội sẽ làm giảm vốn xã hội. Muốn phát triển kinh tế, chúng ta phải vượt lên những chia rẽ trong xã hội, làm xã hội gắn kết hơn. 

(4) Cần tăng cường khả năng tổ chức, phối hợp của người thu nhập thấp (nhưng lại có thể rất giàu vốn xã hội) và giúp những tập thể, những nhóm xã hội liên kết với nhau. Đặc biệt quan trọng là “bắt cầu” (từ của Granovetter) giữa những nhóm xã hội, bởi lẽ nhiều quyết định có ảnh hưởng đến người nghèo là không xuất phát từ địa phương.  Nhằm mục đích này, phải cổ động sự tham gia đông đảo để tiến đến sự đồng thuận, cũng như tương tác xã hội, giữa những người (khác nhau về quyền lợi và chênh nhau về nguồn lực) trong tầm ảnh hưởng của quyết định ấy. 

(5) Các tổ chức viện trợ của nước ngoài thường có một câu hỏi bức xúc: làm sao để trợ giúp thành phần nào đó trong một xã hội vô cùng phức tạp, xa lạ đối với họ? Tiếp cận “vốn xã hội” nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn chấp thuận một dự án hỗ trợ như thế không thể chỉ dựa vào các tiêu chuẩn công nghiệp và tài chính, mà còn phải để ý đến vốn xã hội địa phương.

(6) Từ quan điểm vốn xã hội, ta càng thấy cần có những chính sách “tiết lộ thông tin” (information disclosure) ở mọi cấp để công dân có nhiều thông tin hơn, và do đó tăng cường “tính trách nhiệm” ở khu vực công lẫn tư. Quan niệm vốn xã hội đưa đến ý nghĩ là một chính sách tăng cường thông tin, nhất là giữa các tầng lớp xã hội, là cần thiết – thêm một lí do để nhà nước đầu tư vào những phương tiện truyền thông đại chúng.

[font=tahoma,arial,helvetica,sans-serif](7) Liên hệ giữa các loại vốn xã hội thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế. Những lối sống “cổ truyền” (dựa vào vốn xã hội giữa dân chúng) dần dần được thay thế bằng những tổ chức xã hội có quy củ hơn. Thị trường ngày càng mở rộng, quy mô sản xuất ngày càng lớn, nhưng sự phát triển ấy chỉ có thể bền vững nếu số lượng và chất lượng vốn xã hội là đầy đủ và thích hợp. Nhìn cách khác, ở mỗi giai đoạn phát triển là một tỷ lệ tổ hợp tối ưu giữa vốn-xã-hội-dân-sự và vốn-xã-hội-nhà-nước và, trong chừng mực có thể, chính sách phải linh động đồng nhịp với những thay đổi ấy. 
[/font]
 
Trần Hữu Dũng  
http://www.tiasang.com.vn/news?id=614

__________________

Đọc thêm:
 
Bordieu, Pierre
http://en.wikipedia.org/wiki/Pierre_Bourdieu
 
Coleman, James
http://en.wikipedia.org/wiki/James_S._Coleman 
 
Fukuyama, Francis:
http://en.wikipedia.org/wiki/Francis_Fukuyama
http://www.imf.org/external/pubs/ft/seminar/1999/reforms/fukuyama.htm

Giddens, Anthony:
http://en.wikipedia.org/wiki/Anthony_Giddens

Putnam, Robert:
http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_Putnam

Các Tiểu luận về Kinh Tế trên diễn đàn Việt Nam Thư Quán:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=236641


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-21 16:56:58sóng trăng>
.
[/align] 
[/align]Trần Bình
[/align]Việt Nam - Xuất khẩu lao động: cơ hội và những hệ lụy
[/align] 
[/align] 
[/align][/align][/align]Có hai hình thức di trú, thứ nhất là di trú tạm thời, được biết đến dưới tên gọi không chính thức là Xuất khẩu lao động (XKLĐ); thứ hai là di trú vĩnh viễn (permanent migrant). Vấn đề di trú thường được thảo luận như một tổng thể bao gồm cả hai hình thức di trú, xoáy mạnh vào hai điểm chính: những ảnh hưởng của kiều hối (remittance) do chính sách di trú mang lại đối với đời sống dân nghèo và sự phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển (QGĐPT). Bài viết này cũng sẽ thảo luận theo chiều hướng trên, song chú trọng hơn về xuất khẩu lao động vì mối quan hệ giữa chính sách này với nguồn lao động, vốn là một trong những mắc xích quan yếu của tiến trình phát triển kinh tế tại Việt Nam hiện nay.

Trên bình diện quốc tế, ảnh hưởng của chính sách di trú đối với sự phát triển của các QGĐPT đã được bàn cãi từ nhiều thập niên qua; trình trạng “chảy chất xám” (brain drain) là một đề tài nóng bỏng của thập niên 70. Những năm gần đây, lượng di dân bao gồm cả XKLĐ từ các QGĐPT đến các quốc gia phát triển (QGPT) ngày mỗi lớn và lượng kiều hối theo đó cũng tăng nhanh, vấn đề di trú lại được chú ý hơn; các cuộc điều tra, tranh luận vì vậy cũng trở nên sôi động hơn, thậm chí có khi gay gắt vì đụng chạm đến những vấn đề nhức nhối của nhân loại. Hai trong số những tài liệu có thể giúp đào sâu vấn đề khá phức tạp này là công trình nghiên cứu công phu dài gần 200 trang của World Bank Những chỉ dẫn kinh tế của kiều hối và di trú năm 2006, và các phản bác sắc bén của Susanna Mitchell qua tiểu luận “Di trú và phát triển - cơ hội hay khai thác?” dài 26 trang, ấn hành vào tháng 3/2006. Những dữ kiện và phân tích từ các tài liệu này tuy ở bình diện rộng lớn thế giới, song vì đặc điểm và tính chất của vấn đề di trú mang tính phổ quát toàn cầu, nên sẽ là những tư liệu tham khảo rất hữu ích.


1. Tổng quan

Theo số liệu của World Bank (WB) và Liên Hiệp Quốc (UN) sử dụng trong hai tài liệu nói trên, kiều hối (KH) trên thế giới năm 2006 lên đến 232 tỷ USD. 167 tỷ trong tổng số này là lợi tức của các QGĐPT, 30 – 45% từ dân di trú và 24 tỷ USD của nguồn kiều hối đã phát sinh từ sự di trú giữa các QGĐPT. Con số thực của KH còn cao hơn ít nhất 50% vì một khối lượng tiền đáng kể đã không được chuyển theo hệ thống chính thức, hoặc không được tường trình đầy đủ. Lượng KH tăng nhanh, gấp hai lần trong vòng 5 năm qua, phản ảnh mức tăng gia tốc lượng dân di trú, tăng trung bình từ 2.1% giai đoạn 1960-2000, lên 2.7% trong những năm gần đây 2000-2005, với tổng số khoảng 200 triệu người năm 2005. Lý do của sự gia tăng này là dân số tại các QGPT đang trên đà suy thoái, sinh suất giảm và dân số lão hóa, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động ngày mỗi trầm trọng. Tại Âu Châu chẳng hạn, dân số giảm 4.4 triệu chỉ trong vòng 5 năm: 1995-2000. Vấn đề của các QGĐPT thì ngược lại, lực lượng lao động tăng nhanh, nhưng việc làm lại không nhiều. Lực lượng lao động của các QGPT chiếm dưới 20% tổng số lao động trên thế giới, các quốc gia này đang sử dụng hơn 60% lao động di trú đến từ các QGĐPT.

Biểu đồ dưới đây cho thấy có đến 20 QGĐPT có số lượng kiều hối đạt trên 10% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Xét theo lượng (tỷ USD), các QGĐPT có lượng KH hằng năm cao nhất gồm Ấn Độ (21.7), Trung Quốc (21.3), Mexico (18.1) và Philippines (11.6). So với các nguồn vốn phát triển khác, lượng KH đã vượt ngân khoản viện trợ phát triển hơn hai lần và có lúc đã vượt qua cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI).



Việt Nam là một trong 20 quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng tính theo lượng KH. KH và XKLĐ tại Việt Nam phát triển cùng chiều với thế giới, tăng nhanh từ 35 triệu USD năm 1991, 1.76 tỷ/2000, và khoảng 5 tỷ/2006, với kim ngạch tích lũy lên đến 23 USD; chiếm tỷ trọng quan trọng so với các nguồn vốn phát triển khác: 60% vốn FDI thực hiện và 137% vốn giải ngân của viện trợ phát triển (ODA). Tuy nhiên, việc quá chú trọng về số lượng của KH và sự thiếu vắng những phân tích đầy đủ về việc sử dụng nguồn tài khoản này và những tác động của nó thường dẫn đến các đánh giá lệch lạc.


2. Ảnh hưởng của kiều hối và di trú đối với người dân và công cuộc chống nghèo đói

Tài liệu nghiên cứu về vấn đề di trú của WB năm 2006 Những chỉ dẫn kinh tế của kiều hối và di trú đã nêu lên ba tiền đề cần được lưu ý [1] : sự khó khăn trong việc thu thập dữ kiện điều tra tại các QGĐPT, bối cảnh và hệ quả của KH và di trú rất khác biệt giữa các quốc gia, và những vấn đề xã hội, chính trị nảy sinh cũng hệ trọng không kém ảnh hưởng về kinh tế. Thứ đến, các hệ quả xã hội, chính trị và vấn đề di trú giữa các vùng trong nước, dù quan trọng nhưng sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của tài liệu do WB thực hiện.

Cuộc điều tra của WB đã dẫn đến kết luận: dù ảnh hưởng không đáng kể đến tình trạng bất bình đẳng xã hội, KH đã góp phần quan trọng làm giảm nghèo khó cho bản thân và gia đình người di trú do nguồn KH mang lại và qua những tác động gián tiếp. Chẳng hạn, KH đã làm giảm tỷ lệ dân nghèo tại Ghana 5%, Bangadesh 6%, Uganda 11% và Guatemala 20%. Tỷ lệ tiết kiệm từ KH tương đối thấp tại các quốc gia Châu Mỹ Latin, nhưng cao hơn nhiều tại những nước khác, như Egypt (Ai Cập), Pakistan và Guatemala. Tại nhiều nước, các cuộc điều tra còn tìm thấy mối quan hệ giữa KH và đầu tư kinh doanh: KH đóng góp 20% vốn của 6000 doanh nghiệp nhỏ thuộc 44 thị trấn tại Mexico và tỷ lệ vốn KH đạt trên 30% tại 10 tỉnh của Mexico có lượng dân di trú ở Hoa Kỳ cao nhất. Cuộc điều tra tại 13 quốc gia vùng Caribbean cho thấy, cứ 1% KH gia tăng kéo theo sự gia tăng 0.6% vốn đầu tư. KH cũng ảnh hưởng tích cực trên phương diện giáo dục và y tế; tuy chưa mấy rõ nét về mặt y tế, nhưng cụ thể hơn về giáo dục với con số học sinh nghèo đi học tăng lên đáng kể tại các quốc gia Philippine, El Salvador và Mexico. Những tác động lan truyền của KH mang lại là do sự tiêu dùng KH làm phát sinh lợi tức cho các thành phần dân cư khác khi cung ứng sản phẩm và dịch vụ, cũng như những phát triển kinh tế do KH đầu tư tác động đến các khu vực sản xuất và kinh doanh liên hệ khác. Ngoài ra, KH còn có vai trò cứu trợ, làm giảm bớt những khó khăn, tổn thất do thiên tai, mất mùa, hay khủng hoảng kinh tế gây ra. Lượng KH gia tăng khi thiên tai xảy ra tại Jamaca năm 2004 và Philippines năm 2005 là những ví dụ điển hình. Trình trạng sút giảm lực lượng lao động do thành viên trong các gia đình được hưởng KH không tham gia lao động vì tâm lý hưởng nhàn được nhóm nghiên cứu WB xem là không đáng quan ngại, vì họ cho rằng đây là sự thụ hưởng bình thường, nhất là khi sự trợ giúp KH có kèm theo điều kiện khuyến khích nguời thụ hưởng không nên ỷ lại.

Song cuộc điều tra của WB cũng cho thấy di trú trong nhiều trường hợp phải trả giá đắt. Ngoài những tổn thất tinh thần, người di trú có khi còn gặp rủi ro. Nhiều người trong số họ bị khai thác và lạm dụng, nhất là những người di trú bất hợp pháp. Các quyết định tham gia di trú thường dựa trên những tin tức không xác thực, dẫn đến trình trạng phải trả chi phí quá cao để được di trú. Không hiếm những trường hợp chi phí này cao cả hơn thu nhập. Ngoài ra, còn phải kể đến những mất mát khi bỏ lại gia đình sau lưng, nhất là con cái.

Những tổn thất và rủi ro này được Susanna Mitchell đào sâu hơn qua bài viết “Di trú và phát triển: cơ hội hay khai thác?” [2] Mitchell cáo buộc tài liệu nghiên cứu của WB nói trên đã “tô hồng” vai trò của KH: “Do bị ảnh hưởng sâu xa bởi nhu cầu lao động di trú đang gia tăng của các QGPT, các tài liệu này đã tô hồng vấn đề di trú khi chỉ lướt qua bản chất không mấy tốt đẹp của công việc 3-D (dangerous, dirty and difficult - nguy hiểm, dơ bẩn và khó nhọc) mà hầu hết người di trú phải đảm trách, những tổn hại về mặt xã hội và tinh thần, và không hề đào sâu vào căn nguyên của sự gia tăng di trú.” Tuy phải làm những công việc khó nhọc mà người dân bản xứ tránh né, người di trú thường bị người dân bản xứ nhìn dưới cặp mắt ngờ vực vì cho rằng họ đã lấy mất công ăn việc làm, làm sụt giảm lương bổng, không đóng thuế, gây tội phạm, và làm băng hoại tính thuần khiết và lành mạnh của cộng đồng bản địa. Họ phải vất vả để thích nghi với môi trường sống mới rất xa lạ, từ ngôn ngữ đến văn hoá, và thiếu thốn các quan hệ thân thuộc gia đình, xã hội và tập quán cộng đồng. Tại Âu Châu, cuộc điều tra do Tổ chức Y tế và Di trú Quốc tế thực hiện cho thấy tỷ lệ tự tử của dân di trú cao hơn bình thường, và số tai nạn nghề nghiệp cao gấp hai lần do thời gian làm các công việc nguy hiểm quá dài. Các cuộc nghiên cứu khác tại Phi Châu, các quốc gia vùng Caribbean và Hòa Lan cũng đã xác định mối quan hệ giữa di trú và tỷ lệ cao bất thường của các chứng bệnh tâm thần.

Sự gia tăng nhanh chóng của lượng KH tại các QGĐPT dễ dẫn đến sự suy luận rằng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia đang dần thu hẹp. Song các dẫn chứng của Mitchell đã cho thấy chiều hướng phát triển đang đi ngược lại. Gần phân nửa dân số thế giới (3/6 tỷ) hiện có lợi tức dưới 2 USD/ngày, và khoảng 1.1 tỷ người đang sống với đồng lương dưới 1 USD/ngày. Trong tổng số 18 ngàn 691 tỷ USD tăng trưởng GDP của thế giới trong 20 năm 1981-2001, có 4.2 % là lợi tức của người lao động thu nhập dưới 2 USD/ngày; và chỉ hơn 1.5% cho dân số có lợi tức dưới 1 USD/ngày. Lượng KH cũng không có khuynh hướng đổ vào các quốc gia nghèo nhất; theo số liệu của Tổ chức Di trú Thế giới (IOM), chỉ 6 quốc gia Ấn Độ, Mexico và Philippines, Morocco, Egypt và Turkey đã chiếm khoảng 1/2 KH trên thế giới. Trong phạm vi quốc gia, thành phần dân cư nghèo nhất thường không đủ khả năng tham gia chương trình di trú vì các chi phí quá tốn kém. Hơn thế nữa, tại nhiều quốc gia, KH đã có những ảnh hưởng tiêu cực về phương diện giáo dục. Số dân Mexico di trú tại Mỹ chưa hoàn tất bậc trung học cao hơn 6 lần so với dân bản xứ. Dữ kiện này rất ăn khớp với kết quả nghiên cứu do giáo sự McKenzie thực hiện tháng 10/2005: trẻ em Mexico từ 16-18 tuổi trong các gia đình di trú học kém hơn các trẻ em khác cùng lứa tuổi. Tâm lý ỷ lại vào KH, do vẫn có thể thu nhập cao khi đi di trú mà không phải học hành đến nơi đến chốn, có thể không khuyến khích việc học hành. Trên khía cạnh này, KH được so sánh với các chương trình trợ cấp xã hội (welfare), khi người thụ hưởng thường trở nên lệ thuộc, thụ động, và không muốn đi làm.

Thu nhập từ xuất khẩu lao động của Việt Nam đạt 1.6 tỷ USD năm 2006, với tổng số khoảng 400 ngàn lao động đang làm việc tại hơn 50 quốc gia; trung bình mỗi lao động gởi về nhà được khoảng $4000/năm. Nếu như chi phí đi lao động không quá cao, và hợp đồng lao động suôn sẻ trong vài ba năm, khoản thu nhập đáng kể này có thể giúp người lao động cải thiện đời sống. Song trên thực tế, người dân phải trả chi phí lao động cao hơn qui định rất nhiều, và còn phải đối đầu với những rủi ro trong hợp đồng do tình trạng nhũng lạm, luật lệ còn bất cập, và những khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động tại các quốc gia di trú. Hãy lắng nghe những phản ảnh từ nguồn báo chí trong nước. Báo Người Lao động số ngày 8/5/2006 viết:

“Trong tổng số gần 170 doanh nghiệp xuất khẩu lao động, hiện chỉ mới có khoảng chục doanh nghiệp tư nhân. Nhưng không phải doanh nghiệp Nhà nước nào cũng làm ăn đàng hoàng. Tình trạng tư nhân núp bóng doanh nghiệp Nhà nước làm xuất khẩu lao động đang xảy ra khá phổ biến. Chỉ cần mua lại giấy phép xuất khẩu lao động, các cá nhân có thể đường hoàng lập ra trung tâm, hoặc chi nhánh công ty xuất khẩu lao động. Để có được giấy phép, không chỉ ăn chia lợi nhuận theo thỏa thuận, mà hằng tháng, giám đốc công ty có giấy phép còn được lại quả riêng một số tiền không nhỏ. Lấy đâu ra tiền để ăn chia và lại quả? Câu trả lời được ông Nguyễn Thanh Hòa, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, nói thẳng: Chỉ có tận thu người lao động bằng mọi cách.” [3]

Người lao động bị tận thu qua nhiều ngõ ngách, như thu chi phí cao hơn qui định: “Chương trình cấp phép lao động nước ngoài tại Hàn Quốc, chi phí ban đầu theo quy định chỉ 699 USD, nhưng thực tế nhiều người tốn cả chục ngàn USD mới đi được.” [4] Hoặc “thu một lần cho cả 3 năm (theo qui định, được thu một tháng lương/năm) đối với hợp đồng có thời hạn 2 năm (thu cả thời gian gia hạn)”, và không hoàn lại tiền khi hợp đồng không được gia hạn hoặc bị gián đoạn. [5] Người lao động còn phải chi tiền cò: “Anh bảo vệ này là người nhà của giám đốc, chỉ cần bỏ ra 1.000 USD là... có chỉ tiêu ngay.” [6] Hay những khoản chi không tên mà báo Thanh niên gọi là chi phí làng xã: “Họ buộc phải chung chi cho các quan cấp một mớ, quan xã một mớ; lên huyện, lên tỉnh lại phải chung chi cho quan huyện, quan tỉnh một mớ nữa.” [7] Với từng ấy chi phí trắng đen, người dân nghèo xuôi ngược vay mượn, thế chấp, và nếu may mắn lắm mới có đủ tiền để đi XKLĐ. Cuộc hội thảo tháng 12/2006 tại TP. HCM do Công ty Dịch vụ XKLĐ & Chuyên gia (Suleco) tổ chức đã đúc kết: “Có tới 56,8% lao động cho rằng chi phí môi giới trung gian quá cao khiến họ không đi XKLĐ. Ngoài ra, 83,3% cho biết không đủ điều kiện để đi XKLĐ.” [8]

Nhưng khi ra được nước ngoài rồi, không phải ai cũng gặp thuận lợi. Không ít người đã bị giới chủ nhân ngược đãi và lạm dụng, và đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng di trú bất hợp pháp. Dưới đề tài “Thân phận lao động chui tại Đài Loan,” tờ VNEpress số tháng 10/2006 đã tường thuật, có đến 11 ngàn “lao động chui” trong số 71.000 người lao động đang làm việc tại Đài Loan. [9] Tổng kết tình hình XKLĐ năm 2005, tờ Saigon Times tường thuật tỷ lệ lao động chui tại Nam Hàn và Nhật Bản lên đến khoảng 30%. [10] Các tranh chấp lao động cũng xảy ra khá thường xuyên, và người lao động thường phải chịu thiệt thòi:

“Thời gian qua, tình trạng lao động về nước trước hạn mà lỗi không thuộc về họ (như doanh nghiệp ở nước ngoài bị phá sản, bị mất việc làm, không được gia hạn visa...) đã thường xuyên xảy ra. Điều đáng nói là trong hầu hết các vụ tranh chấp, dù lỗi không thuộc mình, người lao động vẫn bị thua thiệt quyền lợi… Ở trường hợp giải quyết tranh chấp theo pháp luật của nước tiếp nhận lao động, qua hàng loạt các vụ tranh chấp, điển hình như ở Malaysia, doanh nghiệp không thể can thiệp buộc đối tác, chủ sử dụng lao động bồi thường thiệt hại cho người lao động, cũng như không đưa ra được hướng giải quyết có lợi cho người lao động.” [11]

Ngoài ra, những ảnh hưởng về giáo dục và xã hội như việc học hành và dạy dỗ con cái luôn là mối bận tâm của cha mẹ khi vì hoàn cảnh họ phải đi lao động xa. Cũng như Trung Quốc, ngoài hơn 400 ngàn LĐXK, Việt Nam còn có khối lượng rất lớn dân vùng nông thôn di chuyển ra thành phố và các tỉnh công nghiệp làm việc, làm phát sinh các vấn đề xã hội, lung lay nền móng gia đình. Bản tin của BBC tháng 2/2007 [12] tường thuật tin trên tờ Nhật báo Trung Quốc về trình trạng của trẻ em sinh sống xa cha mẹ ở Trung Quốc rất đáng được lưu ý:

“Nhiều em trong số 20 triệu trẻ em sống với người thân vì cha mẹ đi lao động xa phải trải qua tâm trạng cô độc và học hành sút kém. Việc liên lạc giữa cha mẹ và con cái không thường xuyên, qua đìện thoại một hai lần trong tháng, và về thăm nhà mỗi năm chỉ một lần.”


3. Ảnh hưởng của di trú và kiều hối đối với phát triển kinh tế tại các quốc gia đang phát triển

Do phần lớn lượng KH đã đổ vào các quốc gia nghèo, và ảnh hưởng của KH rất khác biệt, thậm chí còn mâu thuẫn, theo từng quốc gia, khu vực, nên không dễ truy nguyên giữa di trú và sự chậm phát triển, đâu là đầu, đâu là ngọn?

Cuộc nghiên cứu của WB qua tài liệu Những chỉ dẫn kinh tế của kiều hối và di trú năm 2006 đưa đến kết luận, “Các chứng cứ về ảnh hưởng của KH đối với phát triển kinh tế trong trường kỳ đã không xác lập được.” Mặc dù các công trình nghiên cứu của WB nêu lên ở phần 1 cho thấy, tại một số quốc gia, KH đã có những đóng góp tích cực trên các mặt giáo dục, y tế và đầu tư, song cuộc điều tra do IMF thực hiện năm 2005 trên 101 quốc gia giai đoạn 1970-2003 đã không xác minh được mối quan hệ giữa KH và sự phát triển, hoặc giữa KH và yếu tố khác như giáo dục và đầu tư (IMF 2005). Tuy nhiên, với ngân lượng rất lớn, theo WB, KH có những tác động tích cực và rõ rệt trên một vài chỉ số kinh tế quan trọng. KH có thể cải thiện độ tin cậy tài chánh (credit worthness) của quốc gia, nhờ đó làm tăng khả năng tiếp cận nguồn tài chánh quốc tế. KH còn được sử dụng làm bảo chứng cho việc phát hành chứng khoán, qua đó thực hiện việc vay vốn trên thị trường tài chánh quốc tế với lãi suất thấp và dài hạn hơn. Qua những tác động và phương án này, các quốc gia Mexico, El Salvado, và Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng nguồn vốn lên 2.3 tỷ USD trong thời kỳ 1994-2000. Trên thị trường lao động, di trú còn có tác dụng như “nút thoát an toàn làm giảm thất nghiệp”, do đó có thể tận dụng được nguồn nhân lực trong nước.



Mặt khác, cũng theo WB, di trú có thể có những tác động tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế. Những tổn thất về lao động kỹ thuật (brain drain) ảnh hưởng đến nguồn vốn tri thức, chi phí đào tạo và những dịch vụ trọng yếu, đặc biệt trên hai lãnh vực giáo dục và y tế. Tuy nhiên, các QGĐPT có thể thực hiện chính sách làm giảm thiểu sự thất thoát nguồn lao động quí hiếm này, và do đó tăng khả năng truyền tải kiến thức học hỏi được từ các quốc gia tiên tiến khi trở về nước (brain gain). Thứ đến, lượng KH lớn tăng mạnh có thể ảnh hưởng hối suất theo chiều hướng tăng trị giá tiền tệ trong nước (currency appreciation) gây bất lợi cho xuất khẩu. Dù vậy, do được phân bố trải rộng, tác động của KH trên hối suất có thể sẽ ít nghiêm trọng hơn so với sự bùng phát của các nguồn tài chánh khác.

Nhưng Susanna Mitchell còn đi xa hơn, nhấn mạnh đến mức độ trầm trọng của trình trạng “chảy chất xám” và ảnh hưởng sâu xa của nó đối với sự phát triển của các QGĐPT. Dữ kiện sử dụng từ tài liệu của WB cho thấy lượng lao động kỹ thuật di trú tại 30 quốc gia của khối OECD tăng đến 100% trong giai đoạn 1990-2000, so với sự gia tăng 50% của lao động phổ thông. Châu Phi, vùng Caribbean và Trung Mỹ là những khu vực mất chất xám nặng nề nhất. Khoảng 50% lao động tốt nghiệp đại học tại các quốc qia vùng Caribbean và Trung Mỹ sống ở nước ngoài. Lao động kỹ thuật di trú chiếm đến 20% trên tổng số lao động kỹ thuật của 42 quốc gia vùng sub-Saharan (trừ Nam Phi) và gần 50% tổng số lao động di trú đến từ Á Châu. Theo số liệu của Tổ chức Di trú Thế giới (IOM), khoảng 30 đến 50% của toàn bộ nhà khoa học và kỹ sư của các QGĐPT hiện đang làm việc cho các QGPT. Trầm trọng hơn, tại một số quốc gia, như Jamaica chẳng hạn, lao động có trình độ đại học làm việc tại Hoa kỳ gấp 4 lần con số trong nước. Những tổn thất nhân lực trên mặt y tế gây bức xúc hơn cả, vì nó quan hệ đến việc chăm lo sức khỏe của người dân nghèo tại các quốc gia có lợi tức thấp, nơi số lượng y tá và bác sĩ vốn đã thiếu trầm trọng. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới và Liên Hiệp Quốc (WHO/UN), hơn 1/3 số bác sĩ tại Liên hiệp Anh được đào tạo hoặc đến học từ nước ngoài, 23% bác sĩ tại Hoa Kỳ được đào tạo ở nước ngoài, 2/3 trong số đó đến từ các QGĐPT. Đơn cử vài trường hợp để thấy rõ hơn mức độ nghiêm trọng của tình trạng mất chất xám trên lãnh vực y tế của các QGĐPT: Pakistan và Nam Phi mất phân nửa số sinh viên tốt nghiệp y khoa mỗi năm, Ghana mất khoảng 2/3. Lượng bác sĩ của Ethiopia đang làm việc ở Chicago nhiều hơn tại chính quốc gia này, và tại Zimbabwe, nơi nhu cầu nhân sự cho các dịch vụ y tế hết sức cấp thiết, con số y tá làm việc ở Liên hiệp Anh trong giai đoạn 1998-2004 nhiều hơn tổng số y tá đào tạo tại Zimbabwe!

Mitchell cũng đã bác bỏ lập luận cho rằng “di trú gia tăng trong giai đoạn đầu phát triển của quốc gia, và giảm dần theo tiến trình phát triển.” Trên thực tế, đã có được mấy quốc gia như Nam Hàn và Malaysia trong số các quốc gia lợi tức thấp và trung bình vươn lên thành quốc gia lợi tức cao? Những nước nào trong số những quốc gia có lượng dân di trú cao như Mexico, Turkey, Philippines, Pakistan, Yemen, Egypt, Morocco, Lesotho, Burkina Faso, Jamaica… đã đạt được mức phát triển kinh tế cao? Mitchell còn phản bác lý thuyết “tiếp nhận chất xám” (brain gain - cho rằng có thể xoay ngược trình trạng mất chất xám), rằng lý thuyết này đã không phản ảnh thực trạng. Ông trích dẫn lời của Mauric Schiff, người đã bác bỏ lý thuyết “brain gain” qua cuốn sách Di trú thế giới, kiều hối và trình trạng mất chất xám do WB ấn hành. Từ những năm 60, nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu vấn nạn chảy chất xám đã được các quốc gia Ghana, India, Pakistan và Philippine thực hiện, nhưng kết quả đạt được rất thất vọng.

Nguồn kiều hối và số lượng dân di trú khá lớn của Việt Nam đã có những đóng góp nhất định trên bình diện kinh tế. Báo cáo Phát triển Kinh tế Việt Nam Năm 2006 của WB [13] đã đề cập đến tiềm năng nguồn vốn đầu tư của Việt kiều ở hải ngoại, cách trực tiếp qua các dự án, hay cách gián tiếp qua người thân. Con số thống kê về đầu tư của nguồn KH hiện rất tản mạn. Theo tài liệu “Ảnh hưởng của kiều hối và kiều dân: trường hợp của Việt Nam,” ấn hành tháng 12/2005 trên tạp chí Dân số Châu Á -Thái Bình Dương, của TS. Đặng Nguyên Anh [14] , khoảng 1 tỷ USD từ nguồn kiều hối đã không sử dụng vào việc tiêu dùng, nhưng cho các dự án đầu tư qui mô nhỏ. Một con số rất khiêm tốn so với tổng số KH gần 20 tỷ USD vào thời điểm tài liệu này ấn hành. Cũng theo ông Đặng, tính đến năm 2002, kiều bào đã đầu tư 504 triệu USD trên 60 dự án theo luật đầu tư nước ngoài, và 700 doanh nghiệp theo luật đầu tư trong nước. Nguồn vốn đầu tư này vẫn còn rất thấp so với tiềm năng. Tuy nhiên, sẽ không đánh giá đúng mức ảnh hưởng của KH nếu không kể đến những ảnh hưởng gián tiếp mà nguồn KH tác động vào hoạt động kinh doanh và sản xuất phát sinh từ sự tiêu dùng ngân khoản rất lớn này.

Trên phương diện tài chánh, theo tài liệu Báo cáo cập nhật tình hình phát triển và cải cách kinh tế của Việt Nam do WB ấn hành tháng 12/2006 [15] , KH đã góp phần giúp cho tài khoản vãng lai của Việt Nam thặng dư trong hai năm 2005 và 2006. Sự cải thiện cán cân vãng lai, cùng với các chỉ số kinh tế tài chánh khác, như tỷ lệ nợ trên kim ngạch xuất khẩu, dự trữ ngoại tệ, và các nguồn vốn đầu tư và phát triển, đã giúp nâng cao độ tin cậy tài chánh của Việt Nam trên thị trường tài chánh quốc tế; tháng 9/2006, Công ty Standard and Poor đã nâng hạng tín nhiệm ngoại tệ của Việt Nam lên một mức thành hạng BB, và nội tệ từ BB lên BB+.

Nhận thức được nguồn vốn quí chất xám trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, Vìệt Nam đã có nhiều nỗ lực thu dụng nhân tài trong số 3 triệu kiều bào. Từ năm 1990, Việt Nam đã phối hợp với Liên Hiệp Quốc (UNDP) thực hiện chương trình Chuyển giao tri thức thông qua kiều dân (TOKTEN). Theo tài liệu của TS. Đặng Nguyên Anh, đến năm 2002, chương trình này đã mời được 150 chuyên gia trên nhiều lãnh vực khác nhau. Vai trò của các chuyên gia này được Ông Keith Bradsher, tờ NewYork Times, đánh giá cao: “Cũng như Trung Quốc và Ấn Độ, Việt Nam đang hưởng lợi rất lớn từ sự trở về của kiều dân, những người đã từng bỏ chạy trước đây. Hàng ngàn kiều dân đã trở lại sau khi đã thông thạo tiếng Anh, tiếp nhận được năng khiếu chuyên môn và kinh nghiêm quản trị.” Ông Bradsher đơn cử Phu Thân, Giám đốc Intel tại Việt Nam và Đông Dương, như một ví dụ điển hình. [16] Louis Nguyễn, Giám đốc điều hành quỹ đầu tư công nghệ của VinaCapital, một trong những công ty đầu tư vốn hàng đầu tại Việt Nam hiện nay, hoặc tiến sĩ Trần Văn Thọ - giáo sư đại học Waseda (Tokyo), thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế của nhiều đời Thủ tướng Nhật - tư vấn kinh tế cho Việt Nam từ thời chính phủ ông Võ Văn Kiệt đến nay, là một vài trường hợp đáng chú ý khác.

Mặt khác, lượng du học sinh Việt Nam đã gia tăng đáng kể, khoảng 40 ngàn người. Thời gian gần đây, dư luận trong nước đã phản ảnh mối quan tâm e ngại rằng du học sinh tốt nghiệp sẽ không trở về nước. Tình trạng chảy chất xám không phải chỉ là nỗi quan ngại xa xôi, mà là mối hiểm họa thực sự Việt Nam sẽ phải đối đầu. Bản tin tháng 2 năm 2007 trên BBC đã tường thuật “Viện Khoa học Xã hội tại Bắc kinh đã nhận định rằng vấn nạn chảy chất xám của Trung Quốc hiện nghiêm trọng hàng đầu thế giới, với khoảng 2/3 du học sinh từ 1980 đã không trở về nước.” [17]

Trên thị trường lao động, nỗ lực nâng cao cả số lượng người đi lao động lẫn tỷ lệ lao động kỹ thuật, là một chính sách rất đáng quan ngại. Theo ông Nguyễn Thanh Hòa, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, kế hoạch XKLĐ sẽ gởi từ 100-120 ngàn lao động mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010; tỷ lệ lao động kỹ thuật sẽ tăng từ 30% vào đầu năm 2006 lên 70% năm 2010, và 100% năm 2015. [18] Trong khi đó, khả năng đào tạo và cung ứng lao động kỹ năng cao tại Việt Nam vẫn còn thấp so với nhu cầu sản xuất trong nước đang tăng trưởng mạnh, và điều này hiện là một trong những lo ngại hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Đến ngay cả lao động phổ thông, là ưu thế lớn nhất của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh thu hút nguồn vốn FDI, hiện cũng đang có những dấu hiệu rất đáng quan tâm. Theo phản ảnh từ báo chí và giới hữu trách trong nước, các khu sản xuất, đặc biệt tại các thành phố lớn, đang gặp không ít khó khăn trong việc tuyển dụng lao động. Dưới đề tài “Nhìn từ luật cung cầu”, tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 3/2006 viết:

“Ông Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc Ban Quản lý các khu chế xuất - khu công nghiệp TPHCM (Hepza), cho biết doanh nghiệp trong các khu chế xuất (KCX) - khu công nghiệp (KCN) đang thiếu lao động trầm trọng -. Hiện nay thành phố không những thiếu lao động có tay nghề mà cả lao động không có tay nghề cũng khan hiếm. Giống như TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương cũng đang đứng trước tình hình đói lao động. Ngoài lý do vật giá tăng nhanh hơn mức lương, ông Tùng còn nhận xét: ‘Thời gian gần đây tỉnh nào cũng có KCN, cũng thu hút được nhà đầu tư nên người lao động ở các tỉnh đang làm việc ở TPHCM có xu hướng trở về địa phương làm việc. Hơn nữa, theo ông Tùng, chính sách về xuất khẩu lao động cũng làm cho lao động trong nước thiếu hụt.’” [19]

Theo tài liệu WB nói trên, XKLĐ gia tăng mạnh khi cung cầu lao động trong nước cân đối có thể dẫn đến việc gia tăng chi phí lao động nội địa. Nếu tình trạng lao động sẽ trở nên khan hiếm và chí phí lao động gia tăng, Việt Nam có nguy cơ đánh mất ưu thế lao động trong cuộc chạy đua thu hút đầu tư, vốn đã rất cam go, với Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á khác. Kế hoạch xuất khẩu hàng trăm ngàn lao động kỹ thuật trong những năm tới không có tính khả thi, nhưng giả sử thực hiện được, kế hoạch này sẽ gây tổn thất không nhỏ đến nguồn nhân lực kỹ năng vốn rất cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế đang mở rộng tại Việt Nam. Hơn nữa, gần đây Việt Nam còn dự trù sẽ đưa lao động ngành y tế qua Hoa Kỳ vì thu nhập rất cao, trong khi nhân lực ngành này vẫn còn rất thiếu, cả lượng lẫn chất, nhất là khu vực nông thôn, vùng xa, vùng sâu, và gánh nặng chi phí y tế đối với người lao động hiện là một vấn đề xã hội rất bức xúc. Thử nghĩ, nếu Việt Nam sẽ đưa được hàng chục ngàn y tá ra nước ngoài, thành phần nào trong xã hội sẽ hưởng lợi, và tầng lớp dân chúng nào sẽ chịu thiệt thòi?

Một kết luận quan trọng của cuộc nghiên cứu do Tổ chức Di trú Quốc tế (IOM) thực hiện năm 2005 đã được Mitchell trích dẫn: “Khi mức chênh lệch lợi tức giữa quốc gia gởi và nhận dân di trú giảm xuống ở tỷ lệ 4:1 hay 5:1, đi đôi với hoạt động kinh tế và công ăn việc làm tại quốc gia có lợi tức thấp đạt mức phát triển cao, hầu hết người dân sẽ lựa chọn không tham gia di trú.” Điều này đã nói lên được những mất mát và rủi ro không nhỏ mà người lao động phải đắn đo cân nhắc khi quyết định di trú. Người Việt Nam vốn chịu thương chịu khó, có đức tính hy sinh cao, sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh trong một giai đoạn nào đó để cuộc sống gia đình khá hơn, con cái họ được học hành đến nơi đến chốn. Nhưng những hy sinh và mất mát khi phải sống xa những người yêu thương, quê nhà thân thiết, và đối đầu những rủi may trong công việc và cuộc sống xa lạ nơi đất khách quê người, người lao động cần phải được bảo vệ để không phải oằn vai gánh nặng những chi phí trắng đen, hoặc khi gặp phải sự chèn ép và khai thác của giới chủ nhân.

Trên bình diện quốc gia, dù có những khác biệt khi đánh giá ảnh hưởng của KH và di trú đối với sự phát triển kinh tế tại các quốc gia có lợi tức thấp, các tài liệu nghiên cứu đều nhấn mạnh rằng: “Di trú không thể xem là giải pháp cho phát triển kinh tế; sự phát triển phải tùy thuộc vào chính sách phát triển hiệu quả. Và trong trường kỳ, quốc gia phải có chính sách phát triển kinh tế nhằm tận dụng nguồn lao động thay vì lệ thuộc vào chương trình di trú.” Song trên thực tế, theo Mitchell, do “văn hoá ỷ lại kiều hối”, ngày càng có nhiều quốc gia lệ thuộc vào nguồn tài chính này.

Chính sách xuất khẩu lao động có thể góp phần vào sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân trong một giai đoạn nhất định chỉ khi nào chính sách ấy không làm tổn hại đến nguồn vốn quí lao động và tri thức, khi quyền lợi người lao động được bảo vệ, khi con người, đất nước Việt Nam không tiêm nhiễm tinh thần vọng ngoại, ỷ lại vào KH, và vững tin vào nội lực, bước tới trên đôi chân của chính mình.

Hoặc Việt Nam sẽ sớm trở thành “cường quốc xuất khẩu lao động”, như Philippines và Mexico, với nền kinh tế phát triển què quặt, và nền văn hoá ngoại lai.

3/2007

© 2007 talawas


[/align]





[/align][1]World Bank, Global Economic Prospects – Economic Implications of Remittances and Migration 2006
[2]Susanna Mitchell, “Migration and development: Opportunity or exploitation?”
[3]Người Lao Động, “Ra ngõ gặp ‘cò’, vào doanh nghiệp gặp...’ma”
[4]Nt.
[5]Người Lao Động, “Chế tài mạnh, xử lý nghiêm”
[6]Người Lao Động, “Ra ngõ gặp ‘cò’, vào doanh nghiệp gặp... ‘ma’”
[7]VNEpress, “Thân phận lao động chui ở Đài Loan”
[8]Tuổi Trẻ, “Chỉ 7,64% lao động của TP.HCM đi XKLĐ”
[9]VNExpress, “Thân phận lao động chui ở Đài Loan
[10]SaigonTimes, “Labor Export Brings Benefits
[11]Người Lao Động,Cần một cơ chế thoáng, giảm rủi ro cho người lao động
[12]BBC, “China migrants leave kids behind
[13]World Bank, VietNam Development Report 2006
[14]Asia-Pacific Population Journal, “Enhancing the Development Impact of Migrant Remittances and Diaspora: The Case of Viet Nam
[15]World Bank, An update on Vietnam's economic developments and reforms
[16]Keith Bradsher, “Vietnam’s Roaring Economy Is Set for World Stage”. Trong The New York Times.
[17]BBC, “China's lost talent overseas
[18]Saigon Times, “Nhìn từ quy luật cung-cầu
[19]Người Lao Động,Cần một cơ chế thoáng, giảm rủi ro cho người lao động
[/align] 
[/align]

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9517&rb=0502
 
___________
 
Đọc thêm:
[/align].
Các Tiểu luận về Kinh Tế trên diễn đàn Việt Nam Thư Quán:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=236641
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0