Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

Kinh tế tri thức: đích đến hay công cụ? - Phạm Hải Vũ

11 trả lời, 1.245 lượt xem — Trang 1 / 1
.[/align] [/align]
Phạm Hải Vũ[/align]Kinh tế tri thức: đích đến hay công cụ?[/align] [/align] [/align][/align] [/align][/align]Tôi có hân hạnh được đọc các bài trao đổi của các ông Đoàn Tiểu Long, Hoàng GiangPhạm Tuấn Anh về vấn đề Kinh tế tri thức trên địa chỉ talawas. Là một người được học về Kinh tế thông tin và Kinh tế tri thức, tôi mong muốn đem một phần hiểu biết của mình vào cuộc trao đổi, ngõ hầu được cùng làm sáng tỏ một vấn đề mà có lẽ nhiều người Việt Nam chúng ta chưa hiểu thật sự đúng đắn. Tôi thấy rằng các ông đều có phần có lý trong bài viết của mình, nhưng quá tập trung vào phê phán trên bình diện câu chữ. Điều này làm mất ý nghĩa của cuộc trao đổi bởi vì cuối cùng tất cả lại công kích nhau thay vì cùng nhau công kích một vấn đề. Dưới đây tôi xin hệ thống lại khái niệm kinh tế tri thức để chúng ta cùng nhìn lại xem sao.

Trước hết tôi xin được bắt đầu bằng việc nói rằng so sánh cách kiếm 500 USD của ông Thomas Friedman nào đó mà ông Đoàn Tiểu Long trích dẫn, là một ví dụ hay nhưng không thể lấy nó làm đại diện cho cái gọi là nền kinh tế tri thức, và do đó không thể phê phán kinh tế tri thức thông qua nó. Ông Friedman là nhà báo, có lẽ vì thế ông ta chỉ lấy một ví dụ giúp cho độc giả dễ hiểu hơn, chứ không có ý định nói rằng nền kinh tế tri thức chỉ khuyên sản xuất duy nhất chip và phần mềm.

Khái niệm kinh tế tri thức phải được hiểu đúng là nền kinh tế mà tri thức là một đầu vào (input) cơ bản. Nếu như quan điểm cổ điển cho rằng các đầu vào sản xuất chỉ bao gồm: nguyên liệu, vốn, và lao động, thì khái niệm đầu vào tri thức đã thay đổi sâu sắc cách chúng ta tư duy kinh tế học.

Hàm số sản xuất cổ điển:
[/align]
P = F (R, C, L)
[/align]
trong đó: P sản xuất (Production) phụ thuộc vào: R tài nguyên (Ressource), C - vốn (Capital), và L - lao động (Labor)

Hàm số sản xuất hiện đại:
[/align]
P = F (R, C, L, K)
[/align]
ngoài R, C, L còn có đóng góp của tri thức K (Knowledge)

Như ông Hoàng Giang đã phân tích, trong nền kinh tế tri thức, K sẽ chiếm một tỷ trọng rất lớn so với các đầu vào còn lại. Nhờ phần đóng góp này mà doanh nghiệp, quốc gia, hay nhân loại đã tạo ra một khối lượng giá trị sử dụng lớn gấp nhiều lần nền kinh tế 'săn bắt và hái lượm', cách mà ngày hôm nay một số nước thế giới thứ 3 vẫn đang xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên của mình. Trong khi các nguồn tài nguyên và tư bản là hữu hạn thì chỉ có tri thức là thứ mà con người có thể huy động đến vô hạn [1] để đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của xã hội hiện đại.

Phần đóng góp của tri thức, trên thực tế là một phần rất khó định lượng; thế nào thì gọi là tri thức? Có nhiều quan điểm và tồn tại nhiều cách tính khác nhau, tuy nhiên sự khác biệt giữa chúng chỉ là chút đỉnh. Cái lõi của phần tri thức được nhận định chung là: thông tin, kiến thức (phát minh, sáng chế), kinh nghiệm. Đo lường các đại lượng này là việc hết sức khó khăn, nhất là khi chúng lại nằm trong cấu thành không thể tách rời của các sản phẩm mà chúng ta sử dụng [2] .

Ví dụ sau có thể làm minh họa cho vai trò của đầu vào tri thức:

Một người nông dân trồng lúa bình thường phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Nếu ông ta chịu theo dõi dự báo thời tiết, thì ông ta sẽ tránh được rất nhiều thiệt hại không đáng có. Trời hạn, ông ta sẽ chuẩn bị được nước tưới. Trời mưa, ông ta có dự phòng tháo nước... Kết quả là thu hoạch của ông ta sẽ ổn định và chắc chắn sẽ lớn hơn một người nông dân khác chỉ biết đi ra ruộng và phó mặc phần còn lại cho trời. Có thể thấy ngay là thông tin về thời tiết là nhân tố đã tạo ra phần chênh lệch trong thu hoạch giữa hai người. Để đo giá trị của đầu vào này, tôi xin đơn giản hóa ví dụ của mình: người nông dân (thay vì ngong ngóng trông đợi chương trình dự báo thời tiết lúc được lúc không của nhà nước) quyết định mua dịch vụ dự báo thời tiết của một tổ chức hoặc một doanh nghiệp. Số tiền ông phải trả để có được dịch vụ này chính là giá trị đầu vào tri thức của ông ta. Nếu ông ta lại quyết định mua một sáng chế sinh học về một giống lúa mới cho thu hoạch cao hơn, ông ta đã đầu tư và nhờ đó tăng thêm hàm lượng tri thức trong quy trình sản xuất của mình (bằng cách huy động các nguồn tri thức khác). Cứ như thế ông ta tích lũy được những kinh nghiệm (tri thức do chính ông tự sản xuất) mà những người nông dân khác không có, đem ứng dụng những kinh nghiệm này vào các vụ mùa sau và trở nên giàu có.

Các bằng phát minh, sáng chế ngày hôm nay đều có giá. Các phát hiện về các vật liệu mới, quy trình tương tác mới... lập tức được các công ty mua lại để ứng dụng vào sản xuất trên thị trường. Các cục sáng chế và quyền tác giả luôn làm việc hết công suất để trả lời cho nhu cầu đăng ký của các cá nhân và pháp nhân. Tri thức là sản phẩm của một công ty này, lại là nguyên liệu cho một công ty khác. Đó là những ví dụ theo tôi dễ hiểu nhất để chỉ ra vai trò của tri thức như là một hàng hóa được trao đổi một cách độc lập, hàng hóa mới của nền kinh tế tri thức.

Mặt khác, tri thức là một bộ phận không thể tách bạch cấu thành hàng hóa hiện đại. Chỉ cần nhìn bất kỳ một sản phẩm nào trong siêu thị là thấy điều đó. Muốn cạnh tranh được, các sản phẩm này đều phải trải qua các khâu thiết kế, thử nghiệm, phân phối, tức là có trong cơ cấu giá thành của nó một bộ phận lớn chi phí nghiên cứu và phát triển (RD) Nhìn từ một góc độ nào đó, có thể coi đây là những hình thức lao động phức tạp, phân biệt với lao động giản đơn của anh công nhân đứng máy. Tuy nhiên điều quan trọng là ở chỗ nó được tạo ra thuần túy bằng hoạt động tư duy của con người (và do đó có tính kế thừa), không phải bằng sự khéo léo của cơ thể. Ngày hôm nay, người ta có thể góp vốn không chỉ bằng tiền hay hiện vật mà còn bằng kinh nghiệm, trình độ, hoặc lượng thông tin nắm giữ [3] Tri thức vừa là lao động (trí óc), vừa là một thứ nguyên liệu vô hình (như trường hợp kinh nghiệm của một công nhân lành nghề), vừa là tư bản có thể huy động trên thị trường. Chính vì thế người ta buộc phải xếp nó riêng biệt với các đầu vào truyền thống khác. Cách nhìn nhận của Kinh tế chính trị cổ điển với hai khái niệm tư bản và lao động (đơn giản và phức tạp) không giải quyết được vấn đề này [4] .

Đến đây cần nhìn nhận rằng hoạt động tư duy của con người luôn luôn đóng góp vào sản xuất, bởi vì không thể tạo ra một sản phẩm mà không có một chút tư duy nào trong đầu. Tri thức đóng góp vào quá trình tạo nên các giá trị vật chất trong bất kỳ nền kinh tế nào, kể từ khi con người biết làm ra một sản phẩm, có khác chăng là nó chiếm tỷ trọng không giống nhau mà thôi. Nền kinh tế tri thức chỉ bắt đầu bằng việc chúng ta nhận thức được vai trò và giá trị của tri thức, nhờ đó tăng phần đóng góp này lên và tạo ra một giá trị lớn hơn trên một khối lượng lao động và tư bản cố định. Tri thức là công cụ chứ không phải là đích đến. Mục đích của nền kinh tế tri thức, trước hết, là tăng cường sử dụng tri thức, chứ không phải sản xuất thật nhiều tri thức (cho dù về mặt logic thì hai việc này có phụ thuộc rất lớn vào nhau). Nó không hề bảo chúng ta phải sản xuất gì, bao nhiêu và như thế nào; nó cũng không hề bảo chúng ta phải tập trung vào đào than, sản xuất chip máy tính hay công nghệ kỹ thuật số. Chỉ có thị trường mới trả lời được những câu hỏi đó. Nền kinh tế tri thức chỉ động viên chúng ta sử dụng những phương tiện mới: thông tin, kiến thức, kinh nghiệm - dưới dạng hàng hóa độc lập hay cấu thành các sản phẩm có chứa hàm lượng tri thức cao - để vượt qua những giới hạn sản xuất hiện tại và do đó sử dụng hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên khan hiếm.

Nếu phải phê bình thì nên chăng hãy phê bình các chính sách tuyên truyền của chính phủ về kinh tế tri thức. Từ việc hiểu tri thức là một đầu vào quan trọng phải được ưu tiên, họ cho rằng thế kỷ mới chỉ cần thật nhiều tri thức được tạo ra từ các «hàng hóa có hàm lượng chất xám cao» - Nhầm lẫn giữa công cụ và mục đích. Công cụ mới có thể có rất nhiều tính năng nhưng không phải vì thế cứ có càng nhiều càng tốt. Như đoạn trên đã nói, điều quan trọng không phải là khối lượng tri thức được sử dụng (thông qua giá trị bằng tiền của chúng) mà là hiệu quả sử dụng chúng. Nói cách khác chúng ta cần nhiều tri thức có ích (tri thức sử dụng được). Hô hào lấy tri thức làm thành phần chủ đạo là một việc không tưởng cho Việt Nam hiện nay. Hay nói khác đi chỉ là một mục tiêu trong dài... dài hạn. Không những thế nó còn gây hậu quả tai hại bằng việc khiến các doanh nghiệp hiểu lầm rằng nền kinh tế mới chỉ chấp nhận các sản phẩm kỹ thuật cao và do đó dẫn đến mất cân bằng sản xuất. Đúng là người ta không thể chỉ ngồi trước màn hình máy tính mà no được. Trên thực tế, có một sự chuyển dịch mạnh mẽ trong nhu cầu sản phẩm công nghệ cao trên thế giới, nhưng đây chỉ là một quá trình chuyển dịch tất yếu để các nền kinh tế tìm đến một cân bằng mới phù hợp hơn. Sự chuyển dịch này không thể xóa được những nhu cầu cơ bản của con người là như lương thực, quần áo, giày dép, nghệ thuật. Ông Hoàng Giang cho rằng nên chăng chỉ để 10% dân số của nước Việt Nam sản xuất nông nghiệp và phần còn lại tập trung vào công nghệ cao hay sản xuất phần mềm. Tôi nghĩ ông cũng có lý trong lập luận của mình. Đây là mô hình của các nước phát triển và sự thành công của nó gần đây tại một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ là không thể bàn cãi. Tuy nhiên liệu có thể áp dụng mô hình này cho tất cả các quốc gia không lại là một vấn đề khác. Ngay tại Trung Quốc, Ấn Độ, tỷ lệ dân số làm việc với công nghệ chắc chắn cũng nhỏ hơn rất nhiều so với dân số làm thủ công và nông nghiệp. Tăng hàm lượng tri thức không nhất thiết đồng nghĩa với tăng giá trị và thu nhập. Có rất nhiều doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ cao nhưng không phải tất cả đều thành công. Doanh nghiệp chỉ thành công khi trả lời đúng được nhu cầu của thị trường. Ngày hôm nay trên thị trường thế giới có một sự phân hóa sâu sắc về các chuyên ngành công nghiệp, do đó tôi nghĩ chúng ta không hẳn cứ phải tập trung vào công nghệ cao để phát triển. Cũng giống như một doanh nghiệp, một đất nước phải biết kết hợp hợp lý các nguồn lực của mình. Không thể định hướng các doanh nghiệp cỡ phường viết phần mềm bán cho thế giới, cũng như không thể sản xuất tàu vũ trụ bằng công nghệ nước ngoài lắp rắp bằng tay nghề thợ thủ công. Còn đào tạo họ để thay đổi cơ cấu kinh tế đất nước lại là cả một câu chuyện khác mà chẳng ai dám chắc kết cục thế nào.

Chúng ta có thể trồng lúa, đào than, hay nuôi gà trong nền kinh tế tri thức; vấn đề là phải chú trọng đầu vào tri thức để nâng cao thu hoạch. Nếu nông dân có nhiều kiến thức hơn thì tôi chắc chắn họ sẽ giàu hơn rất nhiều (chuyện này chẳng biết bao giờ mới xảy ra). Cứ nhìn nông dân Pháp ngày hôm nay thì biết. Họ làm nông nghiệp bằng máy móc, tính toán bằng computer, và bán sản phẩm bằng Internet. Chính phủ đã hỗ trợ rất nhiều để đào tạo và khuyến khích nông dân đem những ứng dụng công nghệ vào cuộc sống. Họ trầy trật để học gõ bàn phím và sử dụng chuột. Một số bỏ cuộc nhưng một số khác cố gắng theo vì họ hiểu phần kiến thức ấy hứa hẹn thu nhập và cuộc sống tươi đẹp.

Tôi nghĩ rằng bài viết này đến đây đã diễn đạt đủ những điều tôi muốn nói. Nội dung chính của bài viết chỉ để làm sáng tỏ các cách nhìn nhận về nền kinh tế tri thức. Tôi không tán thành với ý kiến rằng muốn trao đổi thì phải hiểu nhau. Chính vì không hiểu nhau cho nên người ta mới phải trao đổi để hiểu nhau hơn, và cũng vì thế có nhiều thứ để trao đổi. Hai người không nói cùng một thứ ngôn ngữ lại càng nên ngồi lại gần với nhau để hiểu cùng nhau một vấn đề. Đương nhiên nếu một bên cố tình hiểu sai hoặc cố tình không muốn hiểu thì cuộc trao đổi sẽ chẳng còn giá trị gì. Mong ông Đoàn Tiểu Long sẽ không trách cứ tôi vì như ông thấy, tôi không nâng niu trân trọng môn kinh tế chính trị mà ông yêu thích. Môn kinh tế chính trị nghiên cứu bản chất kinh tế của sự vận hành xã hội. Nó không có liên quan trực tiếp nhiều đến chủ đề này, bởi vì như tôi đã nói, kinh tế tri thức trước hết là một quan niệm, không phải một hình thái kinh tế mới của xã hội. Sau đó, nó là xu thế phát triển chứ không phải một thiết kế thần kỳ giúp chúng ta xây dựng thiên đường. Đương nhiên, khi công cụ sản xuất thay đổi, nó sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến quan hệ sản xuất. Vấn đề của kinh tế tri thức ngày hôm nay là nó dường như đang đẩy mạnh hố ngăn cách giàu nghèo và sự phân hóa xã hội. Một tập thể nhỏ có nhiều tri thức sẽ nắm giữ một phần lớn tài nguyên và tư bản, buộc phần còn lại có ít tri thức hơn phụ thuộc vào họ. Sự phát triển của Google, Amazon, Ebay... là những ví dụ liên tục được nhắc tới trong những năm qua minh chứng cho việc sử dụng tri thức để thâu tóm thế giới. Các doanh nghiệp này dùng hầu như rất ít tư bản và rất nhiều tri thức vào khởi điểm, để tạo ra một khối lượng tư bản khổng lồ và các mạng lưới toàn cầu. Kết quả là tuy các bác nông dân có tăng được doanh thu gấp 2 nhờ Internet thì các doanh nghiệp lớn, cũng nhờ Internet, đã tăng doanh thu gấp mười, thậm chí gấp trăm. Vậy là cùng tiến lên thời đại Internet, khoảng cách giữa doanh nghiệp công nghệ cao và nông dân không hẹp đi mà lại bị nới rộng ra nhiều lần. Hiện tượng này giống như hiện tượng một quả bóng tuyết. Càng lăn, hòn tuyết càng lớn và càng lăn nhanh. Càng có nhiều tri thức, doanh nghiệp càng phát triển và càng dễ tiếp nhận nhiều tri thức mới, bỏ lại phía sau phần xã hội không theo kịp vì chưa đủ tích lũy. Tri thức bị hoàn toàn biến thành tư bản. Tôi nghĩ rằng đây là điều ông muốn phê phán (dù ông không nói cùng với tôi một ngôn ngữ và cách diễn đạt).

Phần lý luận trên đây, xin được lưu ý bạn đọc, chỉ là một trong số nhiều viễn cảnh của kinh tế thế giới. Hiện tại chưa có số liệu hay nghiên cứu nào đủ thuyết phục để chứng minh điều đó. Có vô số các cuộc tranh luận đã diễn ra: nên hay không nên nền kinh tế tri thức tư bản thuần túy. Tôi cho rằng cách đặt vấn đề này là không thích hợp. Bởi vì đây là xu thế chung của nhân loại, xin hãy đặt vấn đề «Ngày hôm nay chúng ta đang bước vào nền kinh tế tri thức. Nó có khiếm khuyết gì, và chúng ta phải làm gì để đi lên mà không vướng vào những khiếm khuyết ấy?». Tri thức có thể không giúp doanh nghiệp thoát khỏi phá sản nhưng ít nhất nó cũng giảm khả năng doanh nghiệp bị phá sản.

Cuối cùng xin có một góp ý nhỏ rằng ông Đoàn Tiểu Long không nên sử dụng Marx hay kinh tế chính trị của Marx như một công cụ để phân biệt trình độ hay kiến thức của độc giả. Xin đừng so sánh việc đọc các kinh tế gia khác dễ hiểu với việc đọc Marx đọc mười phần chỉ hiểu một phần; So sánh này chẳng nói lên điều gì. Những tri thức mới đến hàng ngày hàng giờ và trừng phạt những người không cập nhật nó. Marx không thể nào biết được thế giới đã đi đến đâu năm 2006. Những tiên đoán của ông cũng chẳng có cái nào thành hiện thực. Hơn thế mặc dù những gì ông viết đã thành sách giáo khoa kinh điển, không phải tất cả những điều đó đều là chân lý. Vì thế nếu cần bảo vệ một quan điểm, xin hãy trích dẫn Marx như những tác giả khác. Kinh tế tri thức là cái thực tế ngày hôm nay. Marx là một mảng lý thuyết trong quá khứ. Chắc ông Đoàn Tiểu Long không quên câu: « Mọi lý thuyết đều xám, chỉ có cây đời là mãi mãi xanh tươi ». Chúc ông đọc bài viết của tôi vui vẻ.

15 tháng 12.2006

© 2006 talawas

[/align]


[/align][1]Đương nhiên là nó cũng hữu hạn trong những biên độ thời gian nhất định
[2]Độc giả quan tâm có thể tìm đọc Hướng dẫn Fracatti và Oslo là những phương pháp thống kê được Châu Âu sử dụng để định lượng đầu vào tri thức.
[3]Luật pháp các nước có quy định khác nhau về chuyện này và tôi cũng không nắm vững vấn đề.
[4]Bởi vì nếu coi máy móc là tích lũy của lao động thì sự tích lũy này diễn ra như thế nào? Một tỷ công nhân làm việc ngày đêm cũng không thể tích lũy được những gì cần thiết để xây một lò phản ứng điện nguyên tử. [/align] [/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8834&rb=0502
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 08:44:54gương soi>
.


Câu chuyện kinh tế
 Ảnh hưởng của Milton Friedman
trong tư tưởng tự do kinh tế
Nguyễn Anh Tuấn



Năm 2006 đánh dấu sự ra đi của hai kinh tế gia cao niên nổi tiếng của Hoa Kỳ là John Kenneth Galbraith và Milton Friedman, tuy cả hai đã bước qua cái tuổi cửu thập cổ lai hi nhưng vẫn còn rất tích cực hoạt động cho đến ngày giã từ cõi đời. Người đầu mất vào tháng Tư, hưởng thọ 98 tuổi, và người sau vừa mới từ trần vào tháng trước ở tuổi thọ 94; cả hai tuy là bạn bè thân thiết nhưng lại có quan điểm và chủ trương đối chọi trong kinh tế học, cũng như thường được coi như là kỳ phùng địch thủ trong cuộc tranh luận lý thú về vai trò của chính quyền trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics) trong nhiều thập niên qua.

Trên nhiều diễn đàn khác nhau, cả hai vị giáo sư kinh tế học lão thành đã cống hiến cho cử toạ khắp nơi những cuộc đối đáp hào hứng rất tương phản về hình thức lẫn nội dung: một cao (ông Galbraith cao 6 feet 8) và một lùn (ông Friedman cao 5 feet 3), đại diện cho hai trường phái lớn trong kinh tế học của thế kỷ 20, đối nghịch giữa cấp tiến và bảo thủ.

Tuy không đạt được giải Nobel về kinh tế học, giáo sư Galbraith được coi như là một trong những kinh tế gia được nhiều người đọc và biết đến nhất với hơn 33 cuốn sách do ông trước tác trong thời gian dài dạy môn kinh tế học tại trường Đại Học Harvard. Được coi như là linh hồn cũng như bộ óc tối cao cho các vị tổng thống bên đảng Dân Chủ từ F.D. Roosevelt cho tới Kennedy và Johnson, ông là người cổ xuý không ngừng nghỉ và mạnh mẽ nhất cho khuynh hướng cấp tiến trong chính quyền, theo mô hình của Keynes trong kinh tế học, theo đó chính quyền phải có trách nhiệm can thiệp vào công tác dân sinh và sinh hoạt kinh tế trong nước qua các chính sách thuế má hay chi tiêu công cộng để cung cấp công ăn việc làm cho người dân cũng như để giảm bớt sự cách biệt giầu nghèo quá cao trong dân chúng.

Ngược lại, giáo sư Friedman, được giải Nobel vào năm 1976 với công trình lớn nhất là sự phân tích về ảnh hưởng của tiền tệ trong việc điều tiết kinh tế quốc gia, có thể được coi như là kinh tế gia có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới sau Keynes, nhất là trong ba thập niên chót của thế kỷ 20. Ông cũng được coi là cha đẻ của chủ thuyết tiền tệ trong kinh tế học (monetarism), đề cao khuynh hướng bảo thủ làm nền tảng soi đường cho các lãnh tụ như Thủ Tướng Margaret Thatcher của Anh, TT Ronald Reagan và các chính quyền phe Cộng Hoà.

Có thể nói John Maynard Keynes, một bá tước người Anh, là kinh tế gia được biết đến nhiều nhất cũng như là nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất lên các chính sách cầm quyền trong suốt nhiều thập niên trước đó, kể từ sau cuộc Đại Suy Thoái Kinh Tế vào năm 1929. Các đề tài nghiên cứu trong tập “Lý Thuyết Tổng Quát” (General Theory) về kinh tế học của ông được coi như là kinh điển được học nằm lòng cho biết bao thế hệ sinh viên theo học môn này và sau đó đã đem ra áp dụng khi có cơ hội hành xử quyền kinh bang tế thế. Theo Keynes, thì các chính quyền phải có bổn phận giúp đỡ cho các nền kinh tế tư bản vượt qua thời kỳ suy thoái khó khăn cũng như tìm cách ngăn cản những thời kỳ phát triển quá độ để không bị rơi vào tình trạng lạm phát. Đầu tiên là ảnh hưởng của chính quyền trong các chính sách thuế khoá cấp tiến để tạo sự quân bình kinh tế: đánh thuế cao lên những thành phần giầu, có lợi tức cao để san sẻ cho những thành phần nghèo bị đánh thuế thấp, hay là miễn đóng thuế hoặc thuế âm, tức là được chính phủ tài trợ thêm thay vì phải đóng thuế (thường gọi là earned income tax credit trong xã hội Hoa Kỳ ngày nay). Trong cương vị này, chính phủ đã đóng vai trò tái phân phối mức thu nhập (redistribution of revenues) của quốc gia (thu nhập được phân phối lần đầu qua đồng lương cao thấp khác nhau của nhiều thành phần trong xã hội) để giúp san bằng hố sâu ngăn cách giầu nghèo, một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến bất ổn trong xã hội. Từ ngữ cấp tiến (progressive) thường được đồng nghĩa với phóng khoáng (liberal) trong chính trị để đối chọi với quan niệm bảo thủ (conservative), nhưng có lẽ bắt nguồn từ việc áp dụng chính sách thuế khoá để phân biệt hai chủ trương khác biệt. Khuynh hướng bảo thủ thì chủ trương một thuế suất đồng nhất (flat rate tax) tức là mọi người đều phải trả cùng một tỉ lệ cho dù lợi tức cao hay thấp, hoăc khuynh hướng ngược lại theo thuế suất cấp tiến, tức là trả tiền thuế từng phần: thuế suất thấp ở mức lợi tức thấp, và chỉ gia tăng để áp dụng lên phần lợi tức cao hơn mức thấp đó. Lấy thí dụ của flat rate tax là 20%, một nhân công nghèo có lợi tức hàng năm là 10,000 đồng sẽ phải đóng thuế là 2000, nhiều phần sẽ là một gánh nặng khá lớn khiến cho họ càng gặp khó khăn hơn để sinh sống. Nhưng với một vị tổng giám đốc hay chủ nhân ông với lợi tức cao, cỡ một triệu đồng một năm thì phải đóng thuế 200,000 đồng, tuy là một số tiền khá lớn, nhưng với phần còn lại là 800,000 đồng cũng dư sức giúp cho họ cho một cuộc sống giàu sang, thừa thãi. Trong trường hợp của progressive tax thì những vị triệu phú này sẽ phải đóng thuế theo một công thức khác: 20% ở số tiền 10,000 đầu tiên, sau đó tăng dần như 25% cho số tiền từ 10,000 đến 50,000; rồi 30% từ 50,000 đến 100,000; và 40% từ phần lợi tức cao hơn 100,000. Công thức này thoạt đầu có vẻ rắc rối nhưng có lẽ là công bằng và tạm ổn nhất vì mọi người đều chịu cùng một thuế suất cho một mức lợi tức nào đó, và chỉ phải đóng thuế nhiều hơn trên những phần lợi tức mình kiếm nhiều hơn, với lý lẽ biện minh là dù có đóng thêm tiền thuế cao hơn trên phần lợi tức đó cũng không ảnh hưởng nặng cho những thành phần được gọi là giầu có này.    

Sau đó, chính phủ có thể vay nợ (qua việc bán công khố phiếu) để phát động các chương trình chi tiêu công cộng như xây cất đường sá, trường học, công trường v.v. . . để giúp tạo công ăn việc làm cho nhiều thành phần dân chúng thất nghiệp trong nước, giúp cho họ có lợi tức để tiêu thụ, từ đó cũng đẩy mạnh bộ máy sản xuất kinh tế của quốc gia. Ngoài ra, chính phủ cũng cần phải nhảy vào thị trường để can thiệp trong nhiều trường hợp cần thiết, tuy không cần điều khiển hoàn toàn như ở dưới chính thể cộng sản. Để bảo đảm cho sinh hoạt kinh tế trong nước được phát triển tốt đẹp, nhiều lúc chính phủ còn phải để ý xem xét để tránh cho những tình trạng cạnh tranh bất chính, đầu cơ tích trữ v.v. . . có thể khiến cho sinh hoạt kinh tế trong nước bị xáo trộn. Những người sinh sống dưới thời Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975 có lẽ vẫn còn nhớ đến những kinh nghiệm này mỗi khi giá các nhu yếu phẩm như gạo, sữa, xăng dầu tăng giá vùn vụt. Vì lẽ đó mà trong kinh tế học, chính quyền còn có chức năng điều tiết (regulation) như kiểm soát, ấn định giá cả, đặt ra những quy định buôn bán hay hành nghề, làm ăn v.v. . . Ngay cả ở Tây Âu và Hoa Kỳ, cho đến đầu thập niên 70, việc kiểm soát và ấn định giá cả (price control) vẫn còn là một chính sách được áp dụng. Nếu có thể nói một cách đơn giản và bình dân hơn, chủ thuyết của Keynes là tiêu biểu cho khuynh hướng cấp tiến của đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ.  

Nhưng đối với Friedman thì chính quyền gần như phải có những chức năng gần như ngược lại: đó là đừng xen vào sinh hoạt kinh tế, và hãy để nó tự hoạt động và phát triển theo một định luật tự nhiên của thị trường tự do giữa cung và cầu. Trong góc cạnh này, người ta có thể coi Friedman như là môn đệ chân truyền của Adam Smith, cha đẻ của ngành kinh tế học, với chủ trương thả lỏng tự do sinh hoạt (laissez faire) với quan niệm cho rằng chính phủ nào càng ít xía vào chuyện của người dân thì càng hữu hiệu chừng đó. Theo Friedman thì chính phủ cần phải cắt giảm thuế tối đa và xã hội này sẽ hưởng lợi và phát triển tốt đẹp nhất khi người dân được toàn quyền lựa chọn theo ý riêng của mình. Rõ ràng không khác gì những chủ trương của phe bảo thủ như TT Bush và đảng Cộng Hoà lúc nào cũng hô hào lá bài tax cut cũng như đề cao quyền lựa chọn cá nhân khi đề nghị cải tổ chính sách hưu bổng hồi năm ngoái. Kế hoạch hưu bổng, thường được gọi là an sinh xã hội, thực hành tại Mỹ từ năm 1936, là một chính sách do nhà nước bắt buộc mọi người dân khi đi làm có lợi tức phải đóng một phần nhỏ, gọi là tiền thuế an sinh xã hội, để cho nhà nước quản lý dùm, phòng khi đến tuổi về hưu sẽ trả lại cho người dân dưới hình thức tiền trợ cấp hưu bổng. Sở dĩ nhà nước bắt buộc dân chúng phải đóng thuế trước vì quan niệm nếu để cho dân chúng tự ý để dành tiền riêng của mình cho mai hậu thì có thể nhiều người sẽ không có tinh thần tự giác cao và biết để dành, rồi có thể tiêu pha hết số tiền kiếm được, và đến khi về già thì sẽ không có tiền về hưu. Nhưng TT Bush và những người ủng hộ kế hoạch cải tổ hưu bổng thì cho rằng nên để cho người dân tự ý đầu tư số tiền để dành đó thay vì để cho nhà nước quản lý, và trong đường dài có thể số tiền tiết kiệm đó có thể sinh lợi nhiều hơn là tiền để cho chính quyền quản lý.   

Phải nói là cho đến cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, các lý thuyết của Friedman không được xem trọng không những ở các giảng đường đại học mà cũng không lôi cuốn được nhiều chính trị gia theo đuổi để áp dụng cho các chính sách cầm quyền, mặc dù ông đã là một chuyên gia nghiên cứu lâu năm cũng như là một giáo sư thực thụ về kinh tế học từ năm 1948. Trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1964, TT Johnson chủ trương chính sách theo Keynes với các chương trình phát triển công cộng to lớn trong khi đối thủ bên đảng Cộng Hoà là Barry Goldwater thì chọn ông Friedman làm cố vấn kinh tế. Kết quả là ông Johnson thắng lớn. Nhưng ông Friedman cũng còn được coi như là người khai sáng và đẩy mạnh một phong trào gọi là Trường phái Kinh tế học tại &lt;?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" /&gt;Chicago, tức là một nhóm các kinh tế gia bảo thủ ngay trong phân khoa kinh tế tại trường Đại Học Chicago. Nhóm này và nhiều đồ đệ của ông sau đó đã đạt nhiều tiếng vang lớn với khoảng một chục người đoạt các giải Nobel về kinh tế học. Friedman và các môn đồ của ông được coi như là một lực lượng đáng nể làm đối trọng với trường phái cấp tiến gồm các giáo sư nổi tiếng tại MIT và Đại Học Harvard như Paul Samuelson, John Kenneth Galbraith. Nhưng có lẽ một trong những chi tiết nhỏ phản bác lại lập luận của Keynes đã giúp cho tên tuổi và uy tín của ông Friedman bỗng được mọi người chú ý và bắt đầu nể phục nhiều hơn: đó là việc ông là người đầu tiên đã sớm tiên đoán một hiện tượng hi hữu chưa bao giờ xảy ra khi một nền kinh tế gặp cùng lúc hai trạng thái xấu là lạm phát và nạn thất nghiệp cao, với cái tên gọi kép đặc biệt stagflation (gồm có stagnation và inflation).

Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, thế giới trải qua một thời kỳ kinh tế phát triển tốt đẹp và lâu dài. Chủ thuyết của Keynes bước vào thời kỳ vàng son trong các quốc gia phương Tây với các chính sách chi tiêu công cộng được đẩy mạnh để tạo công ăn việc làm cho người dân và gia tăng sự phú cường của quốc gia. Thế nhưng giữa lúc đó, Friedman là người đơn độc đã lên tiếng cảnh giác rằng những chính sách dựa trên lý thuyết của Keynes sẽ là những yếu tố tạo nên những khó khăn kinh tế sau này. Từ giữa thập niên 60, Friedman đã tiên đoán rằng thời kỳ kinh tế tăng trưởng mãnh liệt sắp chấm dứt. Ông cảnh báo rằng không những lạm phát sẽ tăng mà nạn thất nghiệp cũng tăng, một khái niệm khó được chấp nhận vào thời ấy. Lúc bấy giờ gần như mọi người đều chấp nhận sự tương quan giữa mức lạm phát và nạn thất nghiệp theo một chiều hướng đảo ngược: nếu chính quyền thả lỏng chính sách tiền tệ, tức là tăng số tiền lưu hành trong nước, sẽ dẫn đến việc gia tăng mức lạm phát, nhưng cũng giúp cho nạn thất nghiệp giảm xuống. Vì với lưu lượng tiền tệ rộng rãi, người dân dễ tiêu xài mạnh bạo hơn, tạo ra nhu cầu tiêu thụ và từ đó sẽ tạo thêm công ăn việc làm. Ngược lại, nếu chính phủ thắt chặt chính sách tiền tệ, giúp cho mức lạm phát xuống thấp thì lại có nguy cơ gia tăng nạn thất nghiệp vì nhu cầu tiêu thụ tụt xuống dẫn đến việc hãng xưởng bớt sản xuất, và bớt cần nhân công giúp việc. Trong quá khứ,ø chưa bao giờ có cả hai hiện tượng đối nghịch cùng xuất hiện là mức lạm phát và nạn thất nghiệp đều gia tăng cùng lúc.

Nhưng Friedman là người đầu tiên đã nêu lên mối nguy đó, và điều này đã xảy ra vào thập niên 70, và chính giáo sư kinh tế học Paul Samuelson, một môn đệ của trường phái Keynes và cũng đoạt giải Nobel về kinh tế học, đã gọi hiện tượng đó là stagflation. Sự phân tích và tiên đoán của Friedman được coi như là một thành công nổi bật một cách choáng váng đáng khâm phục, và có lẽ chính là yếu tố quan trọng nhất khiến cho Viện Hàn Lâm Nobel ở Thuỵ Điển đã trao giải cho ông vào năm 1976.

Friedman là một người khiêm tốn khi cho rằng những thành công mà mình đạt được là do nhiều yếu tố may mắn đến bất ngờ: Là con của một gia đình di dân nghèo gốc Đông Âu sang lập nghiệp tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20 đã khiến cho ông được trở thành một công dân Mỹ thay vì của một quốc gia cộng sản. Rồi sau đó trong thời gian học tại Đại Học Rutgers, ông có cơ may được thọ giáo với hai vị thầy nổi tiếng là Arthur Burns và Homer Jones. Người đầu, sau này lên chức Thống Đốc Ngân Hàng Liên Bang Mỹ (Fed Bank), truyền cho ông tinh thần đam mê nghiên cứu khoa học cũng như việc tìm tòi chính xác trong kinh tế học; và người thầy thứ hai đã hướng dẫn ông chú ý vào các học thuyết tiền tệ cũng như đã giúp tiến dẫn ông lên bậc cao học ở trường Đại Học Chicago.

Sự may mắn cũng lại tiếp tục đến với ông theo kiểu bất ngờ: Trong lớp học đầu tiên ở Chicago, vì tên họ của ông bắt đầu bằng chữ F nên ông được xếp ngồi gần với một nữ sinh viên khác có tên họ gần nhất là Rose Director. Sáu năm sau đó, hai người kết hôn với nhau. Và chính bà Rose Friedman, một giáo sư kinh tế học giống như chồng, đã giúp ông khá nhiều trong sự nghiệp sau này. Friedman cho rằng khi ông mới bắt đầu nổi tiếng thì ít có ai dám lên tiếng chỉ trích hay phê bình các bài nghiên cứu của ông cho dù thấy có điểm nào đó rất dở. Thế nhưng vợ ông, bà Rose, thì dám nói thẳng điều này, và đã giúp cho ông học hỏi được nhiều điều quý giá hơn.

Cũng trong thời gian theo học tại Chicago, Friedman được thụ huấn với một vị giáo sư nổi tiếng khác là Jacob Viner, lúc bấy giờ được coi như là một trong những lý thuyết gia sáng giá cũng như là sử gia về tư tưởng kinh tế học. Giáo sư Viner đã thuyết phục được cậu sinh viên Friedman nhận thức rằng một lý thuyết kinh tế học không chỉ là mớ lý luận suông hay rời rạc mà có thể được khai triển thành một chính sách hợp lý và vững vàng để có thể đem ra áp dụng trong thực tế. Rồi đến khi được một học bổng của trường Đại Học Columbia để soạn luận án tiến sĩ, Friedman lại được học chung với Simon Kuznets, một kinh tế gia lỗi lạc khác sau này cũng đoạt giải Nobel. Công trình của ông Kuznets chính là việc đầu tiên có thể tính ra được tổng số mức thu nhập và sản xuất trong nước (thường gọi là mức GDP), tức là khả năng tiêu thụ và sản xuất của nền kinh tế Hoa Kỳ. Một khi đã tính ra được công thức để đo lường những con số này, chính quyền có thể bắt đầu tiên đoán rằng liệu nền kinh tế đang khả quan hơn hay trên đường co cụm lại. Luận án tiến sĩ của Friedman đã làm nền tảng giúp cho hai người soạn ra cuốn sách có nhan đề là “Lợi Tức Từ Những Người Hành Nghề Tự Do”.

Sự kiện này cũng mở màn cho những cuộc tranh cãi thường đi kèm với con người Friedman sau này. Một trong những khám phá của cuốn sách trên đã cho thấy là Hội Y Khoa Hoa Kỳ (American Medical Association, AMA) có áp lực độc quyền để ảnh hưởng lên việc ấn định lợi tức của các vị bác sĩ hành nghề y khoa, cũng như giới hạn số sinh viên được thu nhận, tạo nên tình trạng khan hiếm bác sĩ; hậu quả là người tiêu thụ (bệnh nhân) không được hưởng lợi với tiền lệ phí thấp, một điều chỉ có thể xảy ra nếu như có số lượng đông đảo các bác sĩ hành nghề cũng như được quyền cạnh tranh tự do. Sau khi đọc được bản thảo, hội AMA phản đối kết luận này và dùng áp lực để buộc nhà xuất bản đình hoãn việc phát hành sách. Đại học Columbia cũng đình chỉ việc cấp bằng tiến sĩ cho ông trong 5 năm trời. Thế nhưng cả hai tác giả đều không nhượng bộ, và về sau thì cuốn sách cũng được xuất bản với nội dung không thay đổi.

Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Friedman giã từ cuộc sống của một công chức để trở về với vai trò của một nhà nghiên cứu ở trường Đại Học Chicago, trở thành giáo sư thực thụ từ năm 1948, và bắt đầu nhắm tới việc đả phá những lập luận của Keynes. Với khả năng trình bày lưu loát, giải thích những vấn đề khô khan trong kinh tế học một cách đơn giản và dễ hiểu, ông bắt đầu chinh phục được nhiều người nghe theo. Giáo sư Robert Solow của trường MIT, một người đoạt giải Nobel và cũng thường đối chọi với ông Friedman, đã gọi ông là “một trong những nhà tranh luận hùng biện của muôn đời”. Chính sự say mê tranh luận này đã khiến cho tên tuổi của Trường phái Kinh tế học Chicago bắt đầu nổi tiếng, trở thành một mô hình hấp dẫn cho mọi người bắt chước trong những việc bàn luận về kinh tế cũng như chính trị sau này. Từ năm 1966 ông liên tục viết các bài bình luận kinh tế trên tuần san Newsweek trong vòng 18 năm dài để đề cao tinh thần tự do kinh tế cho cả một thế hệ chưa từng bao giờ được nghe nói đến khái niệm này. Cũng trên diễn đàn của tờ Newsweek, Friedman và Paul Samuelson, một giáo sư kinh tế nổi tiếng của MIT theo trường phái Keynes và cũng đoạt giải Nobel, đã thay phiên nhau tranh luận hết sức hào hứng và lý thú, giúp mở mang kiến thức cho nhiều tầng lớp người đọc.

Friedman cũng thành công lớn trên diễn đàn truyền hình. Từ cuối thập niên 70, qua chương trình truyền hình công cộng PBS, ông và vợ ông, bà Rose Friedman, đã thực hiện một loạt mười chương trình phóng sự mang tên là “Free to Choose” (Tự Do Lựa Chọn) để tổng kết và chia sẻ những kinh nghiệm và suy tư của họ về các chủ đề tự do từ cá nhân cho đến kinh tế và chính trị. Loạt phim tài liệu này đưa tên tuổi của ông Friedman càng nổi tiếng hơn, và cuốn sách tóm gọn với cùng tựa đề đã trở thành một cuốn sách bán chạy bestseller (trong thể loại không phải là tiểu thuyết) trong năm 1980 với hơn 1 triệu cuốn. Sau khi về hưu và rời khỏi trường Đại Học Chicago, Friedman được mời làm chuyên gia nghiên cứu kỳ cựu tại Viện Hoover của trường Đại Học Stanford. Và chính tại đây ông đã tiếp tay công việc nghiên cứu cho đến ngày qua đời vào tháng 11, hưởng thọ 94 tuổi.
Kinh tế học đã được coi là một môn khoa học (Economic Science), tuy chỉ là khoa học nhân văn, thay vì là khoa học thực nghiệm như y khoa, vật lý, hoá học v.v. . . thường đưa ra những kết luận khá chính xác và có tính thuyết phục cao. Nhưng đối với kinh tế học, dựa trên nhiều yếu tố tình cảm khó tiên đoán chính xác như là quyết định hay ý thích của người tiêu thụ v.v. . . thì chuyện phân tích, bình phẩm cũng như kết luận có thể dẫn đến những điều có phần hơi trái ngược cũng là chuyện bình thường. Và điều này có lẽ là yếu tố chính để giải thích sự khác biệt đối chọi giữa tư duy và cách nhìn của hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến.

Đối với người Việt, kinh tế học có lẽ cũng ít được chú trọng, kể cả trong học đường. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, vì bắt chước theo mô hình của Pháp, nên môn kinh tế học chưa được thiết lập thành một phân khoa riêng biệt, mà chỉ được dành ở cấp cao học, và cũng chỉ là một trong những nhánh của phân khoa trường Luật. Riêng với kẻ viết bài này, thú thật là ngay những năm học đầu tiên về môn kinh tế học tại Pháp vào giữa thập niên 70 sau khi đã thất bại ở môn Y Khoa, cũng không cảm thấy hấp dẫn gì lắm với lý thuyết về tiền tệ của Friedman. Lý thuyết của Keynes xem ra có phần dễ hiểu hơn vì đã được chứng nghiệm qua các chương trình hành động của chính phủ tại nhiều quốc gia. Thoạt đầu, lý thuyết về tiền tệ xem ra cũng có phần rắc rối, khó nhớ và khó định hình như các định nghĩa về M1, M2, M3 v.v. . . Theo định nghĩa của Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ, thường quen gọi là Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserves Bank), M1 là tổng số lượng tiền tệ lưu hành trong nước, thông thường gồm tiền mặt, chi phiếu du lịch (travelers’ checks) và tiền trong các trương mục ở ngân hàng (checking accounts). M2 là M1 cộng với khối lượng tiền trong các trương mục tiết kiệm (savings accounts) và các trương mục ký thác định kỳ (dưới 100,000 Mỹ-kim như certificate of deposit CD). Và M3 là M2 cộng với khối lượng các trương mục ký thác lớn khác (trên 100,000 Mỹ-kim), tiền Eurodollars (tức là số dollars lưu hành ngoài nội địa nước Mỹ, phần đông là ở Âu Châu) và quỹ của các định chế tài chính đầu tư khác. Nói chung, M3 thường được coi như là tổng hợp về khối tiền lưu hành (money supply) để phân tích về ảnh hưởng của tiền tệ lên sinh hoạt kinh tế.

Nói một cách đơn giản, ta có thể tạm hiểu rằng nếu như lưu lượng tiền tệ trên thị trường không tăng theo kịp đà tăng trưởng kinh tế, tức là người dân không có dư tiền để tiêu thụ, thì hàng hoá sẽ bị ế ẩm, dẫn đến hậu quả giây chuyền là cửa hiệu đóng cửa, hãng xưởng sa thải nhân công vì bớt sản xuất, và cuối cùng là nền kinh tế bị co cụm lại, thường gọi là thời kỳ suy thoái kinh tế. Ngược lại, khi lưu lượng tiền tệ trên thị trường gia tăng ồ ạt, cao hơn mức tăng trưởng kinh tế (chẳng hạn như khi Ngân Hàng Trung Ương giảm mức lời thật thấp khiến cho bà con thi nhau vay nợ), tức là giới tiêu thụ có nhiều tiền để xài trong khi thị trường không cung ứng hàng hoá kịp, mức cầu nhiều hơn cung, thì giá hàng sẽ thi nhau lên giá, tạo ra tình trạng lạm phát vì đồng tiền mất giá. Chính quyền, qua trung gian của các ngân hàng trung ương, có khả năng điều tiết lưu lượng tiền tệ qua nhiều phương cách như: mua hoặc bán công khố phiếu, giảm mức cho vay discount rate hay prime rate đối với các ngân hàng tư (thường được chú ý nhiều ở Hoa Kỳ). Tuỳ theo tình hình và sự nhận xét cũng như tiên đoán của các vị thống đốc ngân hàng trung ương, nhất là của Hoa Kỳ (Fed) hay của Liên Hiệp Âu Châu (ECB), việc tăng hay giảm phân lời này thường được coi như là phương pháp nhanh chóng và hiệu quả nhất để ảnh hưởng lên lưu lượng tiền tệ trong nước. Nếu như nghĩ rằng nền kinh tế có thể sắp bước vào thời kỳ suy thoái, ngân hàng trung ương có thể quyết định giảm phân lời (như trường hợp Fed của Mỹ đã liên tục giảm trong nhiều năm liền trước đây) để cho các ngân hàng tư có thể khuyến khích người dân và hãng xưởng thi nhau vay mượn để tiêu dùng hay đầu tư cho sản xuất. Hậu quả trước tiên là bộ máy kinh tế tiếp tục hoạt động, không rơi vào tình trạng suy thoái do tình trạng tiêu thụ mạnh mẽ này. Ngược lại, nếu như nguy cơ lạm phát có thể gia tăng, ngân hàng trung ương sẽ quyết định tăng phân lời, siết chặt lại khả năng vay mượn vì mọi người đều ngại mắc nợ với tiền lời cao. Đối với các nhà lãnh đạo của ngân hàng trung ương, việc họ quan tâm nhất là trong lúc phải giảm bớt lưu lượng tiền tệ bằng cách siết chặt khả năng vay mượn, họ phải tính toán áp dụng cho đến mức nào và thời điểm nào để cho nó không dẫn đến nguy cơ co cụm trở lại khi người dân bớt tiêu thụ đi.

Ngoài khái niệm đơn giản kể trên về vai trò của lưu lượng tiền tệ, lý thuyết của Friedman cũng đóng góp được những kiến thức hữu ích và giá trị trên nhiều địa hạt:

* Thứ nhất là đưa ra một lựa chọn khác với Keynes để giải thích về vai trò của chính quyền bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ cũng như giáo dục công cộng, trợ cấp dân sinh cũng như xoá đói giảm nghèo v.v. . . Giải pháp lựa chọn này có thể được tóm gọn trong cuốn sách “Capitalism and Freedom” (Tư Bản Chủ Nghĩa và Tự Do) xuất bản vào năm 1962, trong đó Friedman cho rằng cả hai yếu tố này đều liên kết chặt chẽ với nhau: nếu không có tự do kinh tế, tức là tư bản chủ nghĩa, thì sẽ không có tự do chính trị. Theo Friedman thì chính quyền không nên quá can thiệp vào đời sống của người dân, ngoài việc khuyến khích cạnh tranh, kiểm soát cho việc làm ăn buôn bán hay các hợp đồng thương mại được tôn trọng, giúp tạo nên một khung nền cho việc lưu hành tiền tệ, và sau cùng cũng nên bảo vệ cho những thành phần kém may mắn. Cuốn sách này vạch ra một lô khoảng 14 hoạt động mà đáng lẽ chính phủ Mỹ không nên dính vào: trợ giúp giá nông phẩm, ấn định hạn ngạch hay thuế suất lên các món hàng nhập cảng, kiểm soát giá cả, ấn định mức lương tối thiểu, đặt để những quy định hành nghề trong nhiều ngành, động viên hay trưng binh cưỡng bách (conscription) trong thời bình, độc quyền đảm nhận ngành bưu điện v.v. . . Không phải tất cả những ý kiến của ông đều được chấp thuận, nhưng trong nhiều trường hợp, chính phủ cũng đã giảm bớt sự can thiệp vào. Chẳng hạn quyết định cho phép ngành gửi thư là một dịch vụ sinh lợi, qua việc không coi đó là một độc quyền của nhà nước để từ đó nảy ra những đại công ty như FedEx sau này. Chế độ động viên cưỡng bách đã được chính thức bãi bỏ kể từ năm 1973, trùng hợp với thời điểm mà tinh thần phản chiến của đa số dân chúng Mỹ lên đến cao độ. Trong cuộc tranh luận về đề tài này với Đại tướng William Westmoreland, lúc bấy giờ là tư lệnh lục quân Mỹ, ông Friedman đã gọi đội quân trưng binh này là “một đạo quân nô lệ” (an army of slaves) không phù hợp trong thời bình: tại sao nhà nước lại không thể thuê mướn những người lính tình nguyện với đồng lương tương ứng theo thị trường?

* Kế đến, lý thuyết của Friedman đã giúp cách mạng hoá tư duy và cách nhìn của các nhà kinh tế học cũng như chính trị gia cầm quyền về hai hiểm hoạ lớn là lạm phát và nạn thất nghiệp. Trước khi được Friedman phân tích và chứng minh rõ ràng, tất cả các chính quyền trong thời hậu chiến đều tin vào mối tương quan theo chiều hướng đối chọi giữa hai mối nguy này: nếu giảm lạm phát thì sẽ tăng thất nghiệp, hoặc nếu muốn tạo công ăn việc làm cho người dân thì phải chịu thả lỏng khối tiền tệ lưu hành và chấp nhận tình trạng lạm phát. Sự tương quan này đã được chứng minh một cách khoa học qua việc thu lượm các thống kê dài hạn bởi một kinh tế gia người Tân Tây Lan (New Zealand) để trở thành một lý thuyết mang tên ông, gọi là Biểu đồ Phillips.

Nhưng Friedman cho đó là một ảo tưởng. Theo ông, việc tung tiền vào thị trường để “kích cầu” (kích thích nhu cầu) hầu tạo thêm công ăn việc làm sẽ khiến cho giới nhân công dễ lầm tưởng rằng đồng lương đã gia tăng theo thời giá, nên hăng hái đi xin việc làm. Họ hy vọng và đòi hỏi được trả lương cao và khi không đạt được thì sẽ thất vọng, sẽ xin bỏ việc hay có thể bị chủ nhân sa thải, khiến cho tình trạng thất nghiệp trở lại một cái mức mà ông Friedman gọi là “mức tự nhiên” (national rate), tức là trong xã hội bất cứ lúc nào cũng phải có một tỉ lệ nào đó (khoảng 3-4%) người thất nghiệp không liên can gì đến các chính sách của nhà nước. Nếu như chính phủ cứ nhất quyết tăng lưu lượng tiền tệ để mong tạo công ăn việc làm hầu giảm mức thất nghiệp dưới “mức tự nhiên” thì chỉ hoài công, và trong đường dài sẽ tạo thêm một hiểm hoạ xấu khác là gia tăng mức lạm phát. Sự phân tích độc đáo này cũng là nhận xét của giáo sư kinh tế học Edmund Phelps, người vừa mới đoạt giải Nobel năm nay. Do đó, theo Friedman, các chính phủ chỉ nên áp dụng một khuôn khổ ổn định cho việc lưu lượng tiền tệ, tức là ấn định một mức tăng trưởng nào đó cho khối lượng tiền tệ, một quy luật sau này thường được gọi là chủ thuyết tiền tệ (monetarism).

Thật ra thì không phải ông Friedman võ đoán mà là đã tổng kết các dữ kiện nghiên cứu trong lâu dài (cả trăm năm) để đi đến kết luận này. Đó là công trình sáng tác của ông, cùng với một kinh tế gia khác là Anna J. Schwartz, để hoàn thành vào năm 1963, cuốn sách dày 800 trang có tựa đề là “Monetary History of the U.S., 1867-1960” (Lịch Sử Tiền Tệ của Hoa Kỳ), được nhiều người coi như là một tuyệt phẩm trong sự nghiệp của Friedman. Theo đó, Friedman cho rằng khối lượng tiền tệ lưu hành trong nước cũng như có thể vay mượn được một cách dễ dàng từ ngân hàng mới chính là yếu tố quan trọng nhất để ảnh hưởng lên nền kinh tế. Để chứng minh cho lập luận của mình, Friedman đã đưa ra những con số để chứng minh rằng có một liên hệ nhân quả giữa khối lượng tiền tệ và giá cả trên thị trường, cũng như tất cả những cuộc suy thoái kinh tế trong lịch sử nước Mỹ, kể cả cuộc Đại Suy Thoái năm 1929, đều bắt đầu bằng một giai đoạn mà lưu lượng tiền tệ bị giảm thiểu. Friedman giải thích rằng Cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế năm 1929 và cơn suy thoái kéo dài cho đến năm 1933 không phải bắt nguồn từ những nguyên nhân như nhiều người đã giải thích hay tin tưởng từ trước: thị trường chứng khoán Wall Street sụp đổ, chính phủ lập lên hàng rào bảo hộ mậu dịch, hoặc là tiến trình tất nhiên trong chu kỳ theo tư bản chủ nghĩa v.v. . . Theo Friedman, sự khó khăn ban đầu để rồi trở thành một cơn đại hoạ có nguyên nhân chính là do ở Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã siết chặt lưu lượng tiền tệ thay vì phải thả lỏng, khiến cho khoảng 40% các ngân hàng tư phải sập tiệm vì không đủ khả năng giải quyết nhu cầu của khách hàng.       

* Và sau cùng, các nghiên cứu của Friedman đã tạo nền tảng cho những lý thuyết sau này về mức tiêu thụ. Theo Keynes thì khi lợi tức của người dân gia tăng thì mức tiết kiệm của họ cũng gia tăng theo. Nếu suy rộng ra từ vi mô (microeconomics) sang vĩ mô (macroeconomics) tức là gom tất cả các trường hợp cá nhân để thành một thực thể lớn hơn là quốc gia, thì khi các nước trở nên giầu có, thì cũng gia tăng mức tiết kiệm theo, ít tiêu xài hơn, dẫn đến một mối lo ngại xa là có thể rơi vào tình trạng suy thoái. Những thống kê kinh tế quả có chứng minh điều này, nhưng chỉ đúng đến một giới hạn nào thôi: mặc dù người giầu đều có mức tiết kiệm cao hơn người nghèo, nhưng khi tổng gộp lại thì mức tiết kiệm của các quốc gia giầu có cũng không gia tăng lên theo.

Friedman giải thích điều có vẻ nghịch lý này bằng một lý thuyết được gọi là giả thiết về lợi tức thường trực. Ông lý luận rằng người dân không phải tiêu xài nhất thiết so với đồng lương kiếm được trong năm đó, mà thật ra là dựa theo một mức gọi là “lợi tức thường trực” (permanent income), tức là mức lương trung bình mà họ nghĩ rằng mình kiếm được trong lâu dài. Nói một cách khác, nếu một người thường có lợi tức khoảng 100,000 Mỹ kim một năm, nhưng đến năm đó vì một lý do nào khiến bị mất việc, hay làm ít giờ hơn nên lợi tức tụt xuống còn 50,000 thì không phải là họ hoàn toàn cắt đôi tất cả những tiết mục tiêu xài, mà chỉ giảm một phần nào thôi, nhiều khi rất nhỏ và nếu cần thì xài vào tiền để dành lúc trước, nếu như họ nghĩ rằng họ sẽ nhanh chóng kiếm lại lợi tức như cũ trong thời gian sắp tới. Ngược lại, nếu như một công nhân có đồng lương nghèo cỡ 10,000 Mỹ-kim một năm, bỗng nhiên may mắn trúng số được 10,000 thì cũng không có nghĩa là họ sẽ tăng mức tiêu thụ của họ lên gấp đôi, vì kinh nghiệm dạy cho họ biết là phải cần tiết kiệm hơn để phòng cho thời gian tới, nhất là nếu khi họ ý thức rằng đồng lương trong tương lai cũng không thay đổi gì.

Dĩ nhiên không phải tất cả những đề nghị của Friedman đều được nhiều người tán đồng, cho dù đã trải qua thử thách của thời gian. Như việc cổ động phát phiếu trợ cấp học đường (vouchers) để cho phụ huynh có thể dùng tiền đó và tự tiện chọn lựa trường tư cho con em theo học thay vì phải đi học trường công, vì trong thực tế chính sách này chỉ có tác dụng giúp đỡ cho những gia đình giầu có lại được hưởng thêm trợ cấp để cho đi học trường tư, gây ra hố sâu ngăn cách to lớn hơn nữa. Nhưng nổi bật hơn hết, Friedman được nhiều người chú ý đến là sức mạnh của những tư tưởng hay sáng kiến. Có nhiều điều không hoàn toàn đúng hẳn. Ông nghĩ rằng càng giảm thuế thì nhà nước sẽ càng giảm chi tiêu công cộng, thế nhưng điều đó đã không xảy ra, chính phủ càng ngày càng chi tiêu mạnh bạo hơn khiến cho ngân sách bị thâm thủng trầm trọng và dài hạn. Ông muốn chính phủ cần phải giới hạn mức tăng trưởng của lưu lượng tiền tệ, nhưng trong thực tế khối tiền tệ lưu hành rất khó được định hình để kiểm kê một cách rõ rệt và chắc chắn. Thế nhưng, những điều đó chỉ là tiểu tiết. Trong gần nửa thế kỷ, ông đã mạnh mẽ và hăng hái cổ xuý cho những tư tưởng của mình, cho dù có đi ngược lại những ý kiến hay ưa thích của xã hội đương thời. Và cuối cùng ông đã được nhiều người công nhận và thán phục. Đặc biệt nhất là chủ trương tự do kinh tế như quyền tư hữu, cạnh tranh theo định luật cung cầu tự nhiên của thị trường, lúc trước còn là một khái niệm xa lạ xen lẫn hoài nghi đối với nhiều người, nhưng sau này đã được nhiều chính giới, từ hữu sang tả, đều giang tay đón nhận, như các chính quyền của Pinochet tại Chí Lợi vào thập niên 70 cho đến các chính quyền cộng sản như Trung Cộng và Việt Cộng sau này.

Sự ra đi của ông để lại nhiều tiếc thương và thán phục cho nhiều người, trong đó có kẻ viết bài này, cũng nhờ có cơ may học lỏm bỏm được vài khái niệm về kinh tế học để sau này có hứng tìm tòi và phân tích lan man trên nhiều lãnh vực rộng lớn khác.

Nguyễn Anh Tuấn
Houston, Texas 26-12-2006


http://www.canh-en.de/index.php?id=72&tx_mininews_pi1

_______________

 

Milton Friedman theo Wikipedia

Milton Friedman – Autobiography –Nobelprize.org

Milton Friedman - Inflation and Unemployment - Nobel Prize Lecture

Milton Friedman Interview by PBS.org

Excerpts from Milton Friedman, Capitalism and Freedom (Chicago: University of Chicago Press, 1962), Chapter 1, "The Relation Between Economic Freedom and Political Freedom," pp. 7-17. -




[/align]
Milton Friedman


.
Đăng nhập để trả lời
0
.[/align] [/align]Trần Bình[/align]Việt Nam - Vai trò và đặc tính của các địa phương trong phát triển kinh tế. Hệ quả lịch sử hay chính sách?[/align] [/align] [/align] [/align][/align]Mối tương quan quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương luôn là một trong những vấn đề quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều hành và thực hiện chính sách phát triển quốc gia của các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, vai trò của chính quyền địa phương đã trở thành một mắc xích quan yếu trong sách lược phát triển kinh tế do việc phân cấp quyền điều hành guồng máy kinh tế địa phương ngày càng sâu rộng. Trong những năm gần đây, qui mô của các công trình đầu tư trong nước và nước ngoài thuộc thẩm quyền của chính quyền cấp tỉnh được nâng cao dần. Nghị định thi hành Doanh nghiệp và Luật Đầu tư ban hành tháng 9 năm 2006 còn đẩy mạnh độ phân cấp này xa hơn nữa, trao trọn quyền cấp giấy phép đầu tư cho các địa phương [1] Vai trò quan trọng của các tỉnh địa phương trong phát triển kinh tế của Việt Nam đã được nhấn mạnh trong bản “Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2006”, do các tổ chức kinh tế và tài chánh quốc tế đang tài trợ Việt Nam thực hiện và được Ngân hàng Thế giới (WB) phổ biến tháng 11/2005 [2] : trong tiến trình xây dựng và hoàn chỉnh, trình trạng luật pháp tại Việt Nam còn thiếu rõ ràng, bất cập và chồng chéo, thì khả năng diễn giải và thực hiện các đạo luật và nghị định trung ương của các cấp chính quyền địa phương là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định thành quả của phát triển kinh tế.



*

Từ một góc độ khác, ta thấy mức tăng trưởng kinh tế của các tỉnh giữa hai miền Nam và Bắc chênh lệch đáng kể. Vấn đề này đã được Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) quan tâm và tiến hành nghiên cứu qua tài liệu Lịch sử hay chính sách - Tại sao các tỉnh phía Bắc không phát triển nhanh hơn, phổ biến tháng Sáu năm 2004. Các cuộc điều tra về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) thực hiện năm 2005 và 2006 với sự hợp tác của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cũng đã cho thấy các tỉnh phía Nam chiếm đa phần trong bảng xếp hạng cao nhất. Song có ý kiến cho rằng khoảng cách phát triển giữa hai miền đã được thu hẹp. Ông Kay Johnson trong bài bình luận trên báo Time số ấn hành tháng 5 năm 2006 đã nhận định về vấn đề này trong bài viết “Miền Bắc đang tỉnh giấc”: “Thông thường mọi người đều nghĩ rằng cộng sản miền Bắc đã thắng cuộc chiến ba mươi năm trước, nhưng miền Nam từng quen thuộc với kinh tế tư bản đã thắng trong hòa bình. Thế nhưng trong năm qua, Sài Gòn đã gặp cạnh tranh về vốn đầu tư nước ngoài. Lần đầu tiên Hà Nội đã vượt Sài Gòn về FDI, đạt 1.6 tỷ so với 738 triệu USD”.


1. Kết quả các cuộc điều tra

Công trình nghiên cứu Lịch sử hay chính sách - Tại sao các tỉnh phía Bắc không phát triển nhanh hơn [3] do Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc thực hiện năm 2004, với sự tham gia của Giáo sư David Dapice, chuyên gia của chương trình nghiên cứu Việt Nam thuộc trường Quản lý Nhà nước J.F. Kennedy Đại học Harvard, các Ông Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn, hiện là giảng viên của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Đại học Kinh tế TP. HCM, và Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã so sánh sự phát triển kinh tế của 7 tỉnh phía Bắc và 4 tỉnh phía Nam trong tương quan dân số 10 và 5 triệu, cùng có các điều kiện phát triển tương tự về hải cảng, thị trường, nguồn nhân lực, và nằm cận kề các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, TP. HCM). Kết quả như bảng tóm tắt dưới đây cho thấy các tỉnh phía Nam đã vượt trội trên các chỉ tiêu kinh tế quan trọng tính bình quân theo đầu người, như kim ngạch xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, đầu tư theo luật doanh nghiệp nói chung, và tạo thêm công ăn việc làm mới.







Nguồn: Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) - History or policy: Why don't northern provinces grow faster?
Các cuộc điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) được thực hiện với sự hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI), một dự án do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ [4] . Kết quả các cuộc điều tra trong hai năm qua cũng đã cho thấy các tỉnh phía Nam chiếm phần lớn trong nhóm xếp hạng cao nhất: 5 trên 7 năm 2005 và 8 trên 10 tỉnh đứng đầu bảng năm 2006. Cuộc điều tra năm 2006 được thực hiện hoàn chỉnh hơn với số doanh nghiệp tham gia lên đến 6.379, trên 64 tỉnh thành. Hai chỉ số mới được đưa thêm vào, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý, là hai vấn đề gai góc mà các địa phương và doanh nghiệp đang đối đầu khi qui mô nền kinh tế mở rộng và mức độ hội nhập cao dần đòi hỏi lao động có kỹ năng và nền pháp lý hiệu quả, tin cậy để giải quyết các hợp đồng và tranh chấp kinh tế ngày càng phức tạp. Các chỉ số khác cũng được cải tiến và hoàn thiện bao gồm chính sách phát triển phát triển kinh tế tư nhân, tính minh bạch, tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh, chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà nước, ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước, các chi phí không chính thức, khả năng tiếp cận đất đai, và chi phí gia nhập thị trường. Những đặc điểm đáng lưu ý qua kết quả của cuộc điều tra năm 2006 là hai tỉnh Bình Dương và Đà Nẵng tiếp tục dẫn đầu bảng, Sài Gòn được xếp hạng thứ 7, Hà Nội thứ 40, và Hải Phòng thứ 42. Cuộc điều tra cũng bộc lộ những mặt yếu Việt Nam đang đương đầu trong nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh khi đất nước đang bước vào thời kỳ kinh tế hội nhập hậu WTO: 50/64 tỉnh đạt số điểm dưới 5/10 về chỉ số thời gian để thực hiện các qui định Nhà nước, 59 địa phương đạt điểm dưới 5 về thiết chế pháp lý, và đến 69.19% doanh nghiệp cho rằng việc trả các khoản phí không chính thức là rất phổ biến, trong khi 56% doanh nghiệp cho biết phải trả tiền "hoa hồng" để có được hợp đồng từ cơ quan Nhà nước.







Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam – PCI 2006: Bức tranh nhiều tương phản

2. Hệ quả lịch sử hay chánh sách?

Các nhà nghiên cứu tham gia cuộc điều tra năm 2004 của UNDP đã đặt ra câu hỏi vì sao các tỉnh phía Bắc lại không phát triển nhanh như các tỉnh phía Nam. Là hệ quả của lịch sử hay chính sách?

Theo phân tích của nhóm nghiên cứu, ba lý do thường được nêu ra để giải thích cho trình trạng phát triển yếu kém của các tỉnh phía Bắc không có tính thuyết phục. Thứ nhất, “không thể tiếp tục vin vào lý do cơ sở hạ tầng ở phía Nam tốt hơn. Trong những năm qua nhiều khoản đầu tư lớn đã được rót vào cảng và thiết bị, đường cao tốc, điện và cấp nước cho khu vực phía Bắc. Khu công nghiệp mọc lên ở nhiều nơi”. Lý do về nguồn nhân lực cũng không xác đáng: “Chi phí nhân công ở phía Nam còn cao hơn phía Bắc và rõ ràng đây là một lợi thế của các tỉnh phía Bắc”. Và sau cùng: “Một lập luận khác, khá thuyết phục, đó là Cụm tập trung (Cluster). Theo cách lập luận này, khi mức độ tập trung hoạt động đã đạt tới một qui mô nhất định, hay một ngưỡng nhất định, tự bản thân các cụm tập trung này sẽ thu hút được thêm nhiều hoạt động mới. Khu vực phía Nam được cho là đã vượt qua ngưỡng này nhưng khu vực phía Bắc vẫn chưa làm được. Nhưng trước đây mười năm, ngưỡng này chắc hẳn khá gần nhau. Vậy tại sao phía Nam lại tiến nhanh lên trước nhiều như vậy?”

Giá đất đắt đỏ là điểm bất lợi cho các tỉnh phía Bắc, nhưng “Sự chênh lệch lớn trong giá đất giữa miền Bắc và miền Nam vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của thực tế là phía Nam thân thiện với các hoạt động của tư nhân hơn. Nếu các cán bộ địa phương coi sự thành công của họ chính là sự tăng trưởng của nền kinh tế, họ sẽ tìm mọi biện pháp để chuyển đổi nhiều đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác hơn. Như thế giá đất sẽ giảm xuống và cả doanh nghiệp mới cũng như các cư dân mới đều có thể tìm được chỗ hoạt động và sinh sống”. “Nhu cầu về đất ở phía Bắc tại mức giá cao như hiện nay đang chịu tác động của đầu cơ. Chính do Hà Nội nằm gần các tỉnh nên nhiều cán bộ trung ương có thể dễ dàng mua đất ở các tỉnh lân cận. Nắm được thông tin khu vực đất đai nào sẽ được chuyển đổi trở thành một thông tin vô cùng đáng giá bởi đây là cơ hội mua được quyền sử dụng đất với giá rất rẻ khi người chủ chưa biết được thông tin này để rồi bán đi thu với mức giá cao hơn nhiều. Cũng không thể bỏ qua khả năng động cơ chính là do các cán bộ đang có đất muốn giữ giá đất cao dẫn đến việc làm trì trệ đi quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp”.

Nhóm nghiên cứu đã nêu lên những nguyên nhân sâu xa mang dấu ấn của lịch sử, âm hưởng của nền kinh tế tập trung, của thời kỳ bao cấp vần còn tồn đọng trong nếp nghĩ, lề thói làm việc, quen trông chờ, dựa dẫm vào chỉ đạo của trung ương và ưu thế các doanh nghiệp quốc doanh, và dị ứng với sự phát triển của kinh tế tư nhân, mà hệ quả là nền kinh tế kém năng động và tính cạnh tranh thấp: “Khu vực phía Bắc đã nhiều năm theo hệ thống kế hoạch hóa tập trung, thiếu kinh nghiệm về kinh tế thị trường và do vậy chưa quen ứng xử với các nhà đầu tư tư nhân cả trong và ngoài nước. Theo cách suy nghĩ này, những vấn đề như năng lực hạn chế của bộ máy hành chính, các cơ cấu tổ chức xã hội và lối suy nghĩ cũ đã cản trở sự phát triển của miền Bắc. Các cán bộ vẫn ngồi chờ việc đến, suy nghĩ theo kiểu kế hoạch hoá tập trung và kỳ vọng nhà nước dẫn dắt các doanh nghiệp lớn. Thực ra nhiều người còn trở nên e ngại, nghi ngờ khi các doanh nghiệp tư nhân phát triển quá lớn. Xúc tiến đầu tư chỉ đơn thuần là lên Hà Nội gặp các bạn bè cũ và xin dự án. Ngay cả người dân cũng suy nghĩ như vậy, và do đó không có ai thực sự mong muốn xây dựng các công ty tư nhân thật sự và vững mạnh.”

So sánh về chỉ số năng lực cạnh tranh giữa hai miền là một vấn đề tế nhị và nhạy cảm đối với các viên chức chính phủ. Song, ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Nghiên cứu Chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cũng đã thẳng thắng nhận xét vấn đề này trên báo VNEconomy, số in tháng Sáu năm 2006: “Ưu thế của các tỉnh phía Nam trên bảng xếp hạng là minh chứng cho nhận định rằng các địa phương này cho đến nay đã tỏ ra thành công hơn trong việc xây dựng một nền kinh tế theo định hướng thị trường, trong khi môi trường kinh doanh các tỉnh, thành phía Bắc vẫn còn đang chịu quá nhiều ảnh hưởng từ các mối quan hệ”. Cũng trong số báo này, Bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban nghiên cứu của văn phòng Thủ tướng, đã nhận xét “Tỷ lệ này của miền Bắc là rất đáng suy nghĩ, khi có lợi thế là gần Trung ương hơn, gần mặt trời, nhưng môi trường kinh doanh lại có nhiều mặt khiến doanh nghiệp phàn nàn nhiều như vậy”.


3. Miền Bắc đang tỉnh giấc?

Ông Kay Johnson, qua bài viết “Miền Bắc đang tỉnh giấc” [5] trên báo Time số tháng Sáu năm 2006, nhận định rằng hiện nay cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài trên cả hai miền Nam Bắc đều rất thuận lợi, song “Miền Bắc đang nắm ưu thế trong làn sóng phát triển kinh tế đợt hai”. Làn sóng phát triển và đầu tư lần thứ hai này thể hiện qua “mức phát triển của Việt Nam chỉ đứng sau Trung quốc tại Á châu, và FDI tính theo đầu người hiện cao hơn Trung Quốc và Ấn Độ”. “Việt Nam là cơ hội để các công ty đa dạng hóa (diversify) các địa bàn sản xuất, được đánh giá cao là một trong những quốc gia có tỷ lệ dân số biết đọc và viết cao nhất, với lực lượng lao động trẻ cung ứng hàng triệu lao động mới mỗi năm, và thị trường nội địa đang phát triển”.

Những lợi thế của các tỉnh phía Bắc mà ông Johnson nêu ra là chi phí lao động, đất đai thấp, các cảng kề cận không bị trình trạng quá tải như cảng Sài Gòn, nhưng quan trọng hơn cả là ưu thế về địa điểm. “Hà Nội chỉ cách Trung Quốc 170 km. Năm ngoái, quốc gia này đã thay thế Hoa Kỳ ở vị trí số một về tổng kim ngạch mậu dịch với Việt Nam, đạt $8.7 tỷ USD. Hầu hết các công ty nước ngoài đang đặt cơ xưởng tại miền Bắc đều có kế hoạch xuất cảng sản phẩm sang Trung quốc.” Để minh chứng, Ông Johnson nêu lên đầu tư FDI vào Hà Nội năm 2005 đã vượt Sài Gòn, đạt $1.6 tỷ so với $738 triệu USD, và ngày càng có thêm nhiều công ty lớn đầu tư vào các tỉnh phía Bắc, trong số đó có Fujitsu, LG Electronics, Daewoo, Canon, và công ty địa ốc khổng lồ Nhật Bản Sumitomo. Và để củng cố cho luận cứ của mình, Ông Johnson đã trích lời của Ông Kenjiro Ishiwata, đại diện Tổ chức Xúc tiến Giao thương nước ngoài của Nhật Bản (JETO): “Hà Nội là một trong những địa điểm tốt nhất nếu bạn muốn bán sản phẩm sang Trung Quốc. Lương trung bình mỗi tháng cho lao động tại tỉnh Quảng Châu của Trung Quốc hiện trên $100 USD. Mức lương trung bình quanh Hà Nội là $50 USD, như vậy thực ra nếu sản xuất tại đây và chuyễn tải sang Trung Quốc giá thành sẽ rẻ hơn”.



*

Giá cả đất đai được xem là lợi thế của các tỉnh phía Bắc theo sự phân tích của Ông Johnson dựa trên số liệu năm 2006 trái nghịch với những dữ kiện của cuộc điều tra năm 2004 của UNDP. Chúng tôi không có số liệu về giá đất thay đổi trong khoảng thời gian hai năm qua để xác minh điểm này. Song, những ưu thế về chi phí lao động, cảng và nhất là địa điểm do ông Johnson nêu lên đều rất có cơ sở. Những năm gần đây, các học giả kinh tế thường đề cập đến nỗ lực đa dạng hoá đầu tư của các công ty đa quốc gia đang có vốn đầu tư lớn tại Trung Quốc, bằng cách chuyển những khoảng đầu tư mới đến các quốc gia khác nhằm giảm thiểu độ rủi ro và đồng thời khai thác lợi thế về lao động vì chi phí lao động tại Trung Quốc ngày mỗi tăng cao. Mô thức đầu tư này thường được hình dung hoá dưới công thức “Trung Quốc + 1”. Vị trí địa lý của miền Bắc nằm kề cận Trung Quốc, chi phí lao động thấp hơn rất đáng kể, cộng với mức tăng trưởng khá cao, ổn định của Việt Nam và sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã làm tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Vị trí địa lý của miền Bắc còn được Giáo sư Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Tokyo phân tích dưới một góc nhìn khác khi cho rằng “do tính chất của các sản phẩm (gồm nhiều linh kiện, bộ phận, nhiều sản phẩm trung gian), ta thấy có sự phân công nhiều tầng giữa những nhà máy (lập ở nhiều nơi) của cùng một công ty đa quốc gia”. Theo sự phân công và liên kết này, các tỉnh phía Bắc là đầu nối với Trung Quốc trong khi các tỉnh phía Nam là đầu cầu qua khu vực ASEAN.

Nhưng những lợi thế mang có tính chất cơ cấu vẫn chưa phải là các yếu tố hội đủ cho sự phát triển bền vững chừng nào các địa phương vẫn chưa thực hiện thành công các chỉ số năng lực cạnh tranh, bao gồm những yếu tố ngoài cơ cấu nhưng thiết yếu cho sự tồn tại của một môi trường đầu tư thông thoáng, như các qui chế pháp lý, tính minh bạch, chi phí không chính thức, thủ tục và thời gian cấp giấy phép, và chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Ông David Ray, Phó giám đốc dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) đã không ngần ngại phát biểu về vấn đề này trong buổi phỏng vấn với Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số in tháng 6/2006 [6] , khi được hỏi vì sao mức đầu tư FDI của Hà Nội tăng nhanh và đồng thời các chỉ số năng cạnh tranh lại sút giảm: “Trên thực tế hầu như tất cả các chỉ số, trừ một chỉ số về sự minh bạch, điểm của Hà Nội đều giảm so với năm trước. Điều này làm chúng tôi tin rằng Hà Nội vẫn tiếp tục nhận được sự gia tăng đầu tư bất kể những quy định của môi trường đầu tư chưa thật tốt chứ không phải là nhờ có một môi trường đầu tư tốt. Thành công về kinh tế tiếp tục được duy trì của Hà Nội, theo cách nói của chúng tôi, là do những lợi thế về cơ cấu (structural endowments) như quy mô thị trường nội địa, nguồn nhân lực hay cơ sở hạ tầng - là những yếu tố không bị ảnh hưởng bởi các quan chức thành phố về ngắn hạn. Những phân tích của chúng tôi cho thấy rằng Hà Nội có thể tận dụng tốt hơn những lợi thế cơ cấu này bằng cách cải thiện việc quản lý khu vực tư nhân”.

Ông Ray cũng nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa các chỉ số năng lực cạnh tranh PCI và sự thịnh vượng: với điều kiện truyền thống tương đương nhau, những tỉnh có chỉ số PCI cao có mức sống cao hơn [7] . Mối quan hệ này cũng đã được xác định qua nhiều cuộc điều tra khác. Phần phân tích về vai trò của các địa phương trong phát triển kinh tế qua tài liệu “Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2006” do WB ấn hành mà chúng tôi đã có dịp giới thiệu gần đây trên diễn đàn talawas [8] cũng đã minh chứng: Trong những điều kiện phát triển tương tự (yếu tố cơ cấu), các tỉnh Bình Dương, Đà Nẵng và Vĩnh Phúc đã đạt mức độ phát triển cao hơn hẳn so với các tỉnh lân cận Long An, Huế và Hà Tây, vì theo sự đánh giá của các doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra, các địa phương này đã thực hiện hữu hiệu chính sách khuyến khích khu vực tư nhân, tốc độ đăng ký, cấp đất và giấy phép, và thông tin về kế hoạch và chính sách. Những vấn đề quan hệ khác có liên quan đến vai trò các tỉnh địa phương được đề cập trong bản Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006 như việc gia tăng quyền lực và vốn đầu tư tại các địa phương dễ nảy sinh tệ nạn lạm dụng chức quyền, nhất là trong lãnh vực đất đai như những vụ tai tiếng đã xảy ra gần đây tại Bạc Liêu, Kiên Giang, Phú Thọ, Khánh Hoà và Đồ sơn. Thứ đến là tầm quan trọng của những phương pháp đánh giá các tỉnh như qua cuộc điều tra PCI, song song với các biện pháp khuyến khích thăng thưởng và qui trách nhiệm cho các cấp lãnh đạo địa phương về các kết quả phát triển. Và sau cùng, các cơ chế phân bổ ngân sách đã thực hiện khá tốt cần được phát huy trong việc chuyển một lượng đáng kể nguồn lực từ các tỉnh giàu sang các tỉnh nghèo để hỗ trợ phát triển hạ tầng cơ sở và cung cấp dịch vụ xã hội.

Trên bình diện quốc gia, phát triển kinh tế bền vững và chất lượng chỉ thực sự đạt được khi sự phát triển ấy được tỏa rộng và cân đối trên khắp các tỉnh, vùng địa phương, giữa các thành phần kinh tế khác nhau, bổ sung và liên kết tạo thành một sức mạnh tổng hợp, và thành quả của sự thịnh vượng được san sẻ sâu rộng đến mọi tầng lớp quần chúng. Những bước tiến đạt được sau gần hai thập niên cải cách đã đưa Việt Nam đến một ngưỡng cửa mới, rộng mở cho một thời kỳ phát triển cao hơn. Nhưng liệu Việt Nam có thể nắm bắt được cơ hội của làn sóng đầu tư lần thứ hai? Liệu công cuộc cải cách có thành công trong những vấn đề huyết mạch như thu hẹp qui mô và nâng cao hiệu quả quản lý của khu vực kinh tế quốc doanh thông qua tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, gỡ bỏ rào cản và hỗ trợ việc mở rộng khu vực kinh tế tư nhân, khắc phục tệ trạng tham nhũng, chấn chỉnh luật pháp, cải thiện hạ tầng cơ sở, đào tạo lao động có kỹ năng và sẽ trở thành thành viên của nhóm các quốc gia có lợi tức trung bình trong vòng một thập niên như tiên đoán và kỳ vọng của các nhà đầu tư và các tổ chức kinh tế tài chánh quốc tế đang tài trợ Việt Nam. Hay một lần nữa, Việt Nam lại bỏ lỡ cơ hội như nghi vấn mà Fred Burke, cộng sự viên công ty luật Hoa Kỳ Baker & McKenzie, đã đặt ra và được ông Johnson trích dẫn trong phần kết của bài viết của ông ta: “Vào cuối thập niên 90, người ta thường đùa rằng Việt Nam không bao giờ bỏ lỡ việc bỏ lỡ các cơ hội. Nhưng tôi hy vọng điều này sẽ không xảy ra lần nữa.”

11/2006

© 2006 talawas





[1]Môi trường đầu tư: "Hy vọng sẽ có một bước ngoặt"
[2]Bản tiếng Anh: Vietnam Development Report 2006
Bản tiếng Việt: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006
[3]Bản tiếng Anh: History or policy: Why don't northern provinces grow faster?
Bản tiếng Việt: Lịch sử hay chính sách: Tại sao các tỉnh phía Bắc không phát triển nhanh hơn?
[4]PCI 2006: Bức tranh nhiều tương phản
[5] Waking Up the North
[6]Tác động lan tỏa
[7]Xếp hạng khả năng cạnh tranh các tỉnh
[8]Kinh tế Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập
[/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8622&rb=0502[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-29 03:46:19gương soi>
.

[/align] 

[/align]Trần Bình

[/align]Kinh tế Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập

[/align] 

[/align] 

[/align] 1   2 




[/align][/align][/align]Sau gần hai thập niên cải cách, Việt Nam đã được các tổ chức kinh tế và tài chánh quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có mức phát triển kinh tế nhanh trong khu vực Đông Á và các nước đang phát triển trên thế giới. Nhưng đồng thời Việt Nam đang phải đối đầu với một số vấn đề khá nghiêm trọng, là những trở lực cho sự phát triển kinh tế trước ngưỡng cửa hội nhập. Cho đến nay, các hạn chế này vẫn chưa phải là những trở ngại lớn trong một nền kinh tế mà trình độ phát triển và hội nhập thế giới chưa cao, các hoạt động kinh doanh còn tương đối đơn giản và các qui định, tiêu chuẩn trong giao dịch thương mại quốc tế vẫn chưa ràng buộc chặt chẽ, song sẽ trở nên nghiêm trọng hơn khi Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển cao hơn và cánh cửa hội nhập đang mở rộng qua hàng loạt hiệp ước thương mại song phương vừa ký kết và việc sắp sửa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từng bước tạo ra một sân chơi bình đẳng, qua đó các giao dịch kinh doanh sẽ ngày càng phức tạp, cạnh tranh càng khốc liệt và đòi hỏi minh bạch hơn. Ví dụ, do nền pháp lý còn non yếu, việc thiết lập và xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh doanh hiện cơ bản vẫn dựa trên uy tín, lòng tin và các cơ chế không chính thức sẽ không còn phù hợp khi hoạt động kinh doanh trở nên qui mô và phức tạp hơn. Các doanh nghiệp và ngân hàng nhà nước sẽ gặp nhiều khó khăn do những biện pháp hỗ trợ ngầm buộc phải huỷ bỏ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và các ngân hàng nước ngoài sẽ ngày một lớn mạnh. Mở rộng cửa hội nhập vì thế vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Không phải quốc gia nào cũng thành công như Trung Quốc, do vào thời điểm gia nhập WTO, quốc gia này đã đạt được năng lực cạnh tranh khá vững vàng. Ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), đã khuyến cáo: nếu thiếu chuẩn bị, Việt Nam có thể trở thành Mexico thứ hai sau khi gia nhập WTO [1] . Báo cáo của Oxfam cũng nhận định rằng những những điều kiện ngặt nghèo bị áp đặt để Việt Nam được vào WTO có thể sẽ gây thiệt hại đến các thành phần kinh tế yếu kém.

Đón đầu những thách thức gây go sẽ gặp phải khi gia nhập WTO, những năm gần đây Việt Nam đã ban hành hàng loạt cải cách, thực hiện các thử nghiệm trên nhiều lĩnh vực kinh tế. Phân tích những thành tựu và năng lực cạnh tranh, những hạn chế và các biện pháp của “đợt cải cách vòng hai” là nội dung chính của bản Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006 [2] phổ biến tháng 12/2005 tại hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam. Đây là một tài liệu nghiên cứu rất công phu, hơn 200 trang, được Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ABD), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh, Chương trình Phát triển Kinh tế Tư nhân Mê-Kông (MPDF) của công ty Tài chính Quốc tế cùng soạn thảo, và được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) góp ý kiến. Việc thu thập tài liệu cho các nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển và chuyển biến nhanh như Việt Nam thường gặp khó khăn, do đó bản báo cáo đã tham khảo rất nhiều tài liệu; những phân tích, nhận định đã thận trọng đối chiếu các công trình nghiên cứu từ nhiều nguồn, nhiều thời điểm khác nhau. Song song với các số liệu thu thập từ các cuộc điều tra do các tổ chức kinh tế tài chánh thế giới thực hiện, các nhà tài trợ còn tham gia hỗ trợ các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng số liệu, như WB đối với các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê (TCTK), hay cơ quan Phát triển Quốc tế Thuỵ Điển trong cuộc nghiên cứu tham nhũng gần đây của Ban Nội chính Trung ương. Trong khuôn khổ của một bài viết ngắn, chúng tôi xin tổng hợp và cô đọng lại một số vấn đề cốt lõi trong bản báo cáo để giới thiệu với bạn đọc. Phần tổng quan cho ta thấy cái nhìn bao quát về hiện tình kinh tế Việt Nam. Trong phần kế tiếp, nền kinh tế Việt Nam sẽ được soi rọi qua sự phân tích những chuyển biến về cơ cấu (thành phần) kinh tế và các đánh giá về chỉ số phát triển và năng lực cạnh tranh. Hướng về tương lai trong bối cảnh hội nhập và phát triển, các hạn chế trong môi trường đầu tư, vai trò của chính quyền địa phương, những tác động về mặt xã hội và môi trường, và nội dung của cuộc cải cách vòng hai sẽ được bàn thảo sâu rộng.


1. Tổng quan: Thành quả ấn tượng và những hạn chế ràng buộc

Kể từ khi bắt đầu cuộc cải cách kinh tế cách đây gần hai thập kỷ, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng rất đáng kể, GDP tăng trung bình 5,9% tính từ 1993, song hệ số Gini đo lường bất bình đẳng xã hội qua việc phân tích mức chênh lệch lợi tức chỉ tăng chút ít, lên 0.37% vào năm 2004. Chính sách cho vay vốn thực hiện rộng rãi với các hộ nông dân và doanh nghiệp nhỏ đã góp phần đáng kể vào sự thành công của công cuộc xoá đói giảm nghèo: từ 1993, tỉ lệ nghèo đói đã giảm từ 57% xuống dưới mức 20% hiện nay. Hai con số này, hệ số Gini tương đối thấp và tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh, cho thấy “những lợi ích do tăng trưởng mang lại được chia sẻ rộng rãi trong xã hội”. Tính đa dạng của các khu vực doanh nghiệp là một trong những đặc điểm chính, có thể nói là điểm mạnh trong quá trình chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam. Do áp dụng chiến lược phát triển với vai trò chủ đạo của nhà nước, nên hiện nay vẫn còn hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đã bắt đầu quá trình tái cơ cấu dài hạn được tiến hành từng bước. Số lượng DNNN đã giảm đáng kể qua việc giải thể hay sáp nhập các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, và qua cổ phần hoá mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Việt Nam là “một trong những nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới xét theo giá trị tương đối”. Trong khu vực kinh tế tư nhân, gần như một nửa số hộ gia đình ở Việt Nam có hoạt động kinh doanh nhỏ dưới hình thức này hay hình thức khác. Những năm vừa qua đã có hiện tượng bùng nổ trong việc đăng ký kinh doanh tư nhân. Hiện nay khối doanh nghiệp tư nhân đã chiếm đến 33% giá trị ngành công nghiệp chế tạo, mang lại việc làm cho 21% lực lượng lao động. Vốn đầu tư khu vực tư nhân tăng nhanh trong những năm gần đây, hiện chiếm tới 1/3 tổng số vốn đầu tư hàng năm. Tổng số vốn đầu tư huy động của Việt Nam đã đạt 38% GDP năm 2005, là một tỉ lệ rất cao theo tiêu chuẩn quốc tế.

Mặt dù có những biến chuyển quan trọng theo chiều hướng tích cực, các nhà tài trợ không khỏi quan ngại về sự phân bố qui mô doanh nghiệp thiếu hợp lý: giữa hai cực - rất nhiều các hộ kinh doanh, những doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vài ngàn DNNN, công ty nước ngoài - vẫn còn thiếu vắng các doanh nghiệp qui mô vừa và sự hiện diện hiếm hoi của những công ty tư nhân có qui mô lớn. Điều này cho thấy vẫn còn những “rào cản cho sự phát triển doanh nghiệp khu vực tư nhân”.

Những kết quả rất ấn tượng cũng không che lấp một thực tế là các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế đáng kể trên bốn lãnh vực chính: vốn, đất, cơ sở hạ tầng, và kỹ năng lao động. Các doanh nghiệp lớn trong nước vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Dịch vụ tín dụng bị chi phối nặng nề bởi các Ngân hàng Thương mại Nhà nước (NHTMNN) hoạt động kém hiệu quả đã dẫn đến sự tích tụ một khối lượng đáng kể các khoản nợ xấu. Thị trường vốn (chứng khoán) chính thức kém phát triển, nhưng thị trường phi chính thức giao dịch các chứng khoán không niêm yết hoạt động khá sôi động cho thấy thị trường này có khả năng phát triển nếu được qui định đúng đắn. Môi trường pháp lý về quyền sử dụng nhà đất phức tạp và bất nhất, vấn đề quản lý đất rừng bao gồm cả khu vực dân tộc thiểu số, và việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp trên quy mô lớn sao cho sự đền bù được thoả đáng và tránh được nạn tham nhũng là những khó khăn trên thị trường đất. Tìm được lao động có kỹ năng và giữ được lâu dài các nhân viên giỏi là những trở ngại được các doanh nghiệp xếp là hạn chế lớn thứ ba. Và sau hết, mặc dù sự phát triển cơ sở hạ tầng trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, nhất là điện khí hoá và điện thoại, song các doanh nghiệp vẫn phàn nàn về cơ sở hạ tầng giao thông không đầy đủ, giá điện và điện thoại đắt đỏ. Nhưng trái với suy nghĩ thông thường, những cản trở của hệ thống pháp lý, các thủ tục hành chánh quan liêu và tình trạng tham nhũng đối với hoạt động kinh doanh tại Việt Nam lại không bị các doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra coi là nghiêm trọng. Vấn đề này cần được mổ xẻ thêm trong phần phân tích về môi trường đầu tư.

Các đánh giá về phát triển và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam từ những góc nhìn khác nhau đã dẫn đến các kết quả khác biệt đáng kể. Các học giả thường dựa trên đặc điểm của khung pháp lý điều tiết các hoạt động doanh nghiệp và những nhân tố đánh giá tiềm năng theo tiêu chuẩn quốc tế đã xếp hạng Việt Nam khá thấp, ở nửa cuối của bảng xếp hạng thế giới hay khá nhất cũng chỉ ở gần khoảng giữa bảng. Song các nhà đầu tư chú trọng hơn về phương diện thực tế, lại đánh giá Việt Nam khá cao, thuộc vào nhóm một phần tư đầu tiên, hoặc thậm chí còn cao hơn.

Mặt dù vẫn tồn tại những hạn chế nghiêm trọng, các doanh nghiệp tại Việt Nam không phải đối đầu với nguy cơ mất vốn do bất ổn định xã hội, tội phạm hoặc các chính sách không dự báo trước được, là những trở ngại cơ bản và quan trọng hàng đầu các nhà đầu tư thường gặp phải tại nhiều quốc gia đang phát triển khác. Các mục tiêu cho tương lai vẫn thường được nhấn mạnh tới tốc độ tăng GDP, nhưng hiện nay Việt Nam đã có thể có tham vọng cao hơn, đó là trở thành một nước có thu nhập ở mức trung bình và đồng thời tạo điều kiện để sự tham gia hoạt động kinh tế và việc chia sẻ các thành quả sẽ trải rộng trong xã hội qua quá trình tăng trưởng. Và điều này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cuộc cải cách mạnh mẽ và sâu rộng hơn.


2. Các thành phần kinh tế - Cơ cấu và chuyển biến 

Hiểu rõ các bộ phận cấu thành nền kinh tế, mối quan hệ giữa các bộ phận này, và những chuyển biến theo thời gian rất hữu ích cho việc phân tích những hoạt động kinh tế tại Việt Nam. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 6 năm 1986 đã xoá bỏ “quản lý tập trung quan liêu dựa trên bao cấp nhà nước” và chuyển sang nền kinh tế “nhiều thành phần theo định hướng thị trường”.

Theo Điều tra Mức sống Hộ gia đình của Tổng cục Thống kê (TCTK) năm 2004, tính bao gồm các hộ nông dân hoạt động kinh doanh vào mùa nhàn rỗi, hiện có đến khoảng 9.3 triệu hộ kinh doanh, tức hơn một nửa số hộ gia đình ở Việt Nam. Cuộc Điều tra Giá trị Thế giới (World Values Survey, WVS) đưa đến một kết luận khá ngạc nhiên rằng người Việt có chí làm ăn hơn cả người Hoa. Hai ngành kinh doanh phổ biến nhất của hộ doanh nghiệp là thương nghiệp (40%) và chế biến, chế tạo (25%). Các hộ doanh nghiệp ngày càng mang tính chuyên nghiệp, tỷ lệ thua lỗ giảm dần, còn rất thấp. Tuy nhiên, lao động khu vực hộ doanh nghiệp có chiều hướng giảm, từ 30% năm 1993 xuống 25% 2004; có thể do sự thu hút của việc làm được trả lương của các doanh nghiệp, tăng nhanh từ 16% lên 27% trong cùng thời kỳ.

Khuôn khổ pháp lý cho doanh nghiệp tư nhân được thiết lập năm 1990, nhưng sự nở rộ của hoạt động doanh nghiệp tư nhân bắt đầu từ năm 2000, khi Luật Doanh nghiệp ban hành đã đơn giản hoá thủ tục đăng ký rất đáng kể. Số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký chính thức và đi vào hoạt động từ đó tăng nhanh, bao gồm các doanh nghiệp mới thành lập, các hộ doanh nghiệp được nâng cấp, và doanh nghiệp hoạt động không chính thức trước đây. Số lượng doanh nghiệp thực sự hoạt động chiếm hơn một nửa số đăng ký, khoảng 65 ngàn doanh nghiệp. Theo phân tích của IMF, nhiều doanh nghiệp mới đăng ký do nguồn vốn của kiều bào dưới danh nghĩa người thân đang sống trong nước. Loại hình công ty đơn giản như một chủ hay trách nhiệm hữu hạn chiếm đến 90% tổng số; tuy nhiên, gần đây đã có xu hướng hình thành các công ty loại hình phức tạp hơn như công ty cổ phần (CTCP). Vào năm 2002, doanh nghiệp tư nhân một chủ trung bình có 15 nhân viên; công ty trách nhiệm hữu hạn là 38 và CTCP 53. Khách hàng phần lớn là cá nhân (67%), doanh nghiệp tư (20%) và DNNN (9%). Chỉ có 2% doanh nghiệp tư nhân có thị trường chính là thị trường xuất khẩu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự hình thành của những doanh nghiệp có qui mô lớn như Biti’s, Kinh Đô và Cà phê Trung Nguyên hiện vẫn còn hiếm hoi.

Sau khi quốc hữu hoá 1500 doanh nghiệp tư nhân của miền Nam năm 1978 thành 650 DNNN, số doanh nghiệp nước tiếp tục tăng, vào cao điểm năm 1986 có đến hơn 12 ngàn doanh nghiệp. Nhưng xu hướng này bắt đầu đảo ngược từ đó, do việc giải thể và sáp nhập các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Đến tháng 4/1994 số lượng DNNN đã giảm xuống còn khoảng phân nửa, 6.264. Công cuộc cổ phần hoá bắt đầu từ 1998, diễn tiến chậm chạp, trong những năm đầu giống như là tư nhân hoá trong phạm vi nội bộ. Tuy nhiên, gần đây việc cổ phần hoá và bán đấu giá cổ phần những công ty lớn thành công đã thu hút được đầu tư từ bên ngoài. Trung bình, nhà nước nắm giữ khoảng 46%, người lao động giữ 38% và cổ đông bên ngoài 15%. Đến nay đã có 2.500 DNNN cổ phần hoá. Đồng thời, việc thành lập DNNN mới cũng đã thực sự kết thúc vào năm 2001. Cả hai điều này dẫn đến việc giảm đáng kể số lượng DNNN, và tăng số lượng CTCP. Hiện nay, có khoảng 3.200 DNNN đang hoạt động. Đến cuối năm 2006 sẽ có khoảng 3.500 CTCP có vốn đầu tư của nhà nước, trong đó có 900 doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối. Có ba loại hình DNNN: doanh nghiệp thuộc tổng công ty trực thuộc Văn phòng Chính Phủ, doanh nghiệp trực thuộc bộ chủ quản, và doanh nghiệp trực thuộc chính quyền cấp tỉnh.



Luật Đầu tư Nước ngoài ban hành năm 1986. Vai trò của FDI được nhấn mạnh trong Đại hội Đảng 2001, và từ đó phạm vi cho phép hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài được mở rộng nhanh chóng. Việt Nam đã trở thành nước dẫn đầu nhận FDI trong số các quốc gia đang phát triển. Lượng FDI tích tụ đến năm 2004 khoảng 30 tỉ đô la, chiếm khoảng 10% GDP mỗi năm vào thời kỳ trước khi có cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 và những năm gần đây. Các quốc gia châu Á đóng góp phần quan trọng nhất: Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản. Ngoài châu Á, Pháp, Hà Lan, Anh và Hoa Kỳ là những nước đầu tư quan trọng. Việc các quốc gia châu Á chiếm đa số có thể do họ có khả năng thích ứng với môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, các giao dịch còn dựa vào lòng tin và uy tín. Tỉ trọng vốn đầu tư theo ngành: dầu khí (100%), lắp rắp ô tô (84%), điện tử (45%), dệt may (41%), hoá chất (38%), thép (32%), xi măng, cao su, nhựa, lương thực và đồ uống (25-30%). Điều đáng chú ý là sự chuyển đổi cơ cấu FDI: tỉ trọng vốn của các công ty liên doanh với nhà nước giảm dần, số lượng công ty liên doanh với tư nhân và công ty 100% vốn nước ngoài tăng nhanh. Từ năm 2000, công ty 100% vốn nước ngoài chiếm đến 90 % tổng số vốn đầu tư và 83% số dự án. Một đặc điểm nữa là qui mô vốn đầu tư trung bình của FDI tương đối nhỏ xét theo tiêu chuẩn quốc tế và chỉ có 80 [3] trong số 500 công ty đa quốc gia đang có mặt tại Việt Nam, so với con số 400 tại Trung Quốc.

Sự chuyển đổi các thành phần kinh tế theo chiều hướng giảm dần DNNN, tăng trưởng khu vực tư nhân và FDI là bước tiến quan trọng, đã mang lại những thành quả kinh tế rõ rệt. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là khoảng giữa rất nhiều những doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp qui mô lớn là sự thiếu vắng các doanh nghiệp qui mô vừa. Sự kiện này này cho thấy vẫn còn những rào cản trên con đường phát triển của các doanh nghiệp trong nước. Từ góc độ năng lực cạnh tranh trước ngưỡng cửa hội nhập đang mở rộng qua việc gia nhập WTO, khu vực tư nhân của Việt Nam không những thiếu vắng doanh nghiệp tầm trung, mà cả các doanh nghiệp qui mô lớn.



3. Các chỉ số phát triển và năng lực cạnh tranh

Các chỉ số kinh tế thường được đánh giá ở cấp doanh nghiệp khi so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp theo loại hình, hay ở phạm vi quốc gia khi đối chiếu với các nền kinh tế trên thế giới. Hiểu rõ thế mạnh và yếu của mỗi khu vực kinh tế, và quốc gia như một tổng thể từ nhiều góc nhìn khác nhau sẽ giúp cho việc hoạch định chính sách hiệu quả hơn trên bước hội nhập và phát triển.

Các nghiên cứu gần đây của Liên hiệp quốc (UNICEF) và TCTK cho thấy khu vực kinh tế tư nhân không những đã tiếp nhận đến khoảng 35% trên tổng số 1.4 đến 1.5 triệu lao động gia nhập thị trường lao động hàng năm, so với DNNN 7%, mà còn đạt hiệu quả cao nhất trong việc tạo việc làm với chi phí thấp nhất, kế đến là doanh nghiệp FDI, DNNN. Xét về hàm lượng vốn đầu tư cho mỗi lao động, chỉ số có tác dụng làm tăng sản lượng trên mỗi lao động, vốn đầu tư hàng năm của Việt Nam không ngừng gia tăng, hiện khoảng 38% GDP, nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao nhất thế giới. Điều đáng khích lệ là tỉ phần vốn đầu tư nhân khu vực tư tiếp tục tăng nhanh, hiện chiếm đến một phần ba tổng số vốn huy động.

Phân tích về hiệu quả sử dụng vốn (năng suất tổng hợp), doanh nghiệp FDI đạt năng suất cao nhất. Hiệu quả DNNN và tư nhân thấp hơn, song vẫn còn cao hơn so với tiêu chuẩn quốc tế. Điểm đáng lưu ý là các DNNN hoạt động hiệu quả hơn sau khi cổ phần hoá. Ước tính năng suất trên phạm vi quốc gia, Việt Nam đạt tỉ số tương đối cao 2-3%, so với con số trung bình từ 1 đến 4% tại nhiều nước khác. Không bao gồm giai đoạn khủng hoảng Đông Á năm 1997, tỉ số năng suất Việt Nam đạt được còn cao hơn, đến 4% vào năm 1990 và 6% thời điểm hiện tại, một con số khó tin nhưng đã được kiểm chứng từ nhiều nguồn số liệu độc lập.



Theo kết quả của cuộc điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh Tranh do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (UNCTAD) sử dụng các chỉ số như mức độ mở cửa, chính phủ, tài chính, cơ sở hạ tầng, quản lý, lao động và thể chế, thứ hạng của Việt Nam đã được cải thiện dần, từ 90 trên tổng số 100 quốc gia năm 2000 lên 70/100 vào năm 2005. Trong bảng xếp hạng Hoạt động Kinh doanh do công ty Tài chánh Quốc tế (IFC) và WB xem xét 10 vấn đề như bảo vệ đầu tư, tín dụng, giấy phép, thuế, hợp đồng và tuyển dụng lao động, vị trí của Việt Nam dao động quanh nhóm 70 trên 100 quốc gia. Chỉ số Tiềm năng FDI của tổ chức Liên hiệp quốc UNCTAD phản ảnh độ hấp dẫn đầu tư, sử dụng 12 nhân tố như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ trọng xuất khẩu so với GDP, mật độ sử dụng điện thoại, tỷ lệ sinh viên đại học trên dân số, luồng vốn FDI, xuất khẩu tài nguyên, đã đánh giá Việt Nam khá cao, hạng thứ 68 trong tổng số 140 quốc gia.

Trong khi cả ba phướng pháp xếp hạng trên nhấn mạnh đến môi trường qui chế và những nhân tố tiềm năng, thì các nhà đầu tư chú trọng hơn về môi trường thực tiễn. Ví dụ, trong khi các học giả nhấn mạnh đến hệ thống pháp lý yếu kém về quyền sở hữu đất đai và các hợp đồng giao dịch như là những trở ngại chính đối với kinh doanh thì các nhà đầu tư tại các nước đang phát triển đã quen thuộc với các hoạt động không chính thức, dựa trên cơ sở lòng tin và uy tín. Từ góc nhìn này, khi xếp hạng tỉ trọng luồng vốn FDI trên GDP của những nền kinh tế có GDP hơn 10 tỷ đô la của các cuộc điều tra của UNCTAD (2005) và JBIC (2004), Việt Nam đã được vị trí cao hơn, hạng thứ 25 trong tổng số 88 quốc gia. Việt Nam thậm chí còn được đánh giá cao hơn nữa trong con mắt các nhà đầu tư Nhật Bản; cuộc cuộc điều tra năm 2004 đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ tư trên toàn thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ khi được hỏi về các quốc gia có nhiều triển vọng đối với các hoạt động kinh doanh trung hạn.

Một cách đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam khác là xem xét kết quả hoạt động kinh tế của Việt Nam trên thị trường thế giới. Những cải cách về mậu dịch quốc tế năm 1991 và năm 1993 đã cho phép doanh nghiệp mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu. Hàng rào quan thuế và hạn ngạch nhập khẩu tiếp tục được tháo gỡ đáng kể khi Việt Nam gia nhập Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) năm 1995, Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ năm 2001 và qua các nghị định ban hành năm 2004. Kết quả, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được mức độ mở cửa khá cao với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện nay đạt trên 130% GDP và xuất khẩu đã tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm 18% tính từ năm 2000. Nguồn nhập khẩu chính của Việt Nam là các quốc gia đang phát triển, trong khi đó các nước công nghiệp Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản chiếm hơn một nửa xuất khẩu của Việt Nam. Mô hình thương mại của Việt Nam có phần giống Trung Quốc, và về mặt nào đó, Việt Nam cũng đang trở thành một trong các công xưởng của thế giới. Điều đáng quan ngại là khu vực tư nhân phần lớn vẫn còn hướng nội, hiện chỉ có 9% doanh thu trực tiếp từ xuất nhập khẩu; các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa liên kết tốt với các nhà sản xuất trong nước trong việc cung ứng nguyên liệu và linh kiện cho sản xuất. Tăng cao tỉ phần đầu vào cho sản phẩm xuất khẩu không những đẩy mạnh sản xuất trong nước mà còn giảm được kim ngạch nhập khẩu.

Nghiên cứu Đánh giá Môi trường Chính sách và Thế chế Quốc gia (CPIA) của WB có thể xem là phương thức đáng tin cậy nhất, được sử dụng như công cụ để quyết định ngân sách hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển. CPIA tổng hợp 16 chỉ số trên bốn lãnh vực chính: quản lý kinh tế vĩ mô, cải cách cơ cấu, hoà nhập và công bằng xã hội, và quản lý và thể chế khu vực công.

Mô hình 3.6 xếp hạng và so sánh Việt Nam với các nước Đông Á: chỉ số được đánh giá từ 1 - điểm thấp nhất vòng trong cùng, và 5 - điểm cao nhất vòng ngoài cùng. Nhìn chung, Việt Nam được đánh giá khá cao so với các nước khu vực Đông Á; các điểm mạnh chính là quản lý kinh tế vĩ mô, chính sách tài khoá, tài chính công, bình đẳng giới tính và nguồn nhân lực. Các điểm yếu: về cơ cấu như chính sách thương mại, khu vực tài chánh và môi trường điều tiết kinh doanh; lĩnh vực thể chế gồm huy động thu ngân sách, minh bạch, trách nhiệm giải trình tham nhũng.



Về xếp hạng tổng thể CPIA năm 2004 trên 135 quốc đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam là 1 trong số 13 quốc gia đạt 3.7 điểm, vị trí cao hơn 73 nước và thấp hơn 48 nước khác. Khi thu nhỏ trong 81 quốc gia có lợi tức thấp trong nhóm, chỉ có 13 nước có điểm cao hơn 3.7.




4. Môi trường đầu tư - Đặc điểm và những hạn chế ràng buộc

Những hạn chế đối với sự phát triển và hoạt động doanh nghiệp được xếp hạng dựa trên sự đánh giá của các doanh nghiệp qua các cuộc điều tra. Hiểu rõ các đặc điểm và những mặt hạn chế của môi trường đầu tư là cơ sở để phác hoạ các chính sách cải cách và đường hướng phát triển lâu dài trong tiến trình hội nhập và phát triển.

Tiếp cận nguồn vốn

Tiếp cận nguồn vốn là hạn chế hàng đầu trong bốn trở ngại chính. Tuy vẫn chưa bắt kịp các lân bang như Trung Quốc, Thái Lan và Malysia, nhưng độ sâu tài chánh của Việt Nam được cải thiện nhanh với khoảng 25 triệu tài khoản tiết kiệm, huy động tiền gửi tín dụng tăng trung bình 25% một năm, và tỷ lệ tín dụng trong nước trên GDP vẫn ở mức an toàn. Các cuộc điều tra cho thấy việc cho vay vốn đã được thực hiện rộng rãi đối với hộ nông dân và những doanh nghiệp nhỏ, ngay cả ở những vùng sâu và xa. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn trong nước gặp khó khăn tiếp cận vốn, do cơ sở cứu xét cho vay lệ thuộc quá đáng vào tài sản thế chấp, trong khi việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lại rất nhiêu khê và mất thời gian. Vấn đề nghiêm trọng thứ hai là sự tồn tại những khoản nợ xấu khổng lồ. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là hoạt hoạt động tín dụng thiếu hiệu quả của bốn Ngân hàng Thương Mại Việt Nam (NHTMVN) lớn, chiếm đến 70% tổng giá trị tín dụng và 70% tổng tài tản trong hệ thống ngân hàng, không tuân thủ định hướng lợi nhuận vì bị chi phối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) và các cấp chính quyền địa phương, và cơ chế giải quyết các khoản nợ xấu hoạt động kém hữu hiệu. Quyết nghị 493 ban hành tháng 4/2005 đã có những cải cách triệt để hơn như việc sử dụng tiêu chuẩn quốc tế vào việc định lượng nợ xấu, lập quỹ dự phòng bảo hiểm nợ khó đòi, và tăng vốn NHTMNN lên 8% theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng thực hiện hai biện pháp sau này cần khoản vốn đến 8% GDP, và giải pháp phù hợp nhất là phát hành trái phiếu sẽ dẫn đến việc tăng tổng giá trị nợ của Việt Nam. Theo nghiên cứu của WB và IMF, trong giả định ở mức phát triển hiện nay, khoản nợ quốc gia sẽ tăng từ 42,2% GDP hiện nay lên 48,7% năm 2010. Trên thực tế, vì phần đáng kể trong khoản nợ là các khoản vay ưu đãi, nghĩa là giá trị hiện tại thực (net present value) của nghĩa vụ nợ dài hạn phải trả ít hơn đáng kể so với hiện giá (face value), thì gánh nặng cải cách có thể làm tăng nợ ccủa nhà nước thực sự là từ 28% GDP hiện nay lên 35,2% năm 2010, một con số khá cao, nhưng vẫn có thể kiểm soát được.

Các ngân hàng liên doanh chiếm khoảng 15% tổng tín dụng, kết quả hoạt gần đây đã khả quan hơn, thể hiện qua việc mua bán cổ phiếu của các ngân hàng này trở nên sôi động. Các ngân hàng có vốn nước ngoài hiện chỉ chiếm 10% giá trị tín dụng, trước đây họ chỉ được phép thành lập ngân hàng liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, nhưng gần đây đã được cho phép góp vốn hoặc mua cổ phiếu các ngân hàng tín dụng như ngân hàng ANZ và Standard Chartered đã mua cổ phiếu của hai ngân hàng trong nước là Sacobank và ACB. Sự lớn mạnh của các ngân nước ngoài sẽ là thử thách cho các NHTMNN, như cuộc điều tra đã cho thấy là khách hàng sẽ sẵn sàng chuyển sang các ngân hàng nước ngoài vì các lý do thủ tục đơn giản và tính chuyên nghiệp.

Bên cạnh thị trường tín dụng, thị trường vốn (chứng khoán) chính thức đã khởi đầu hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 và Hà Nội 2005 vẫn còn nhỏ, chưa đủ khả năng cung cấp những nguồn vốn lớn cho các dự án mới. Nhưng sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán không chính thức qua giao dịch các chứng khoán (cổ phiếu) không niêm yết cho thấy thị trường vốn có khả năng phát triển khi có các qui định điều tiết phù hợp. Các biện pháp ban hành gần đây nhằm đẩy mạnh thị truờng chứng khoán chính thức bao gồm việc chỉ thị các DNNN được cổ phần hoá nhanh chóng yết danh cổ phiếu, tăng tỉ phần cổ phiếu nước ngoài được phép giữ từ 30% lên 49%; và hỗ trợ thành lập quỹ đầu tư trong nước và nước ngoài. Thị trường chứng khoán không chính thức hoạt động rất sôi nổi trong khi thị trường chính thức lại phát triễn chậm chạp cho thấy nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp không tham gia thị trường chính thức để né tránh công khai hoá hoạt động kinh doanh vì lý do thuế; điều này chỉ có thể giải quyết được qua việc nâng cao tiêu chuẩn minh bạch doanh nghiệp nói chung. Sự tham gia ngày càng đông đảo của các doanh nghiệp có uy tín cao đối với công chúng rất cần thiết để làm tăng gia sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán chính thức.

Tiếp cận đất đai

Tiếp vận đất đai là khó khăn được xếp hàng thứ hai mà các doanh nghiệp đang đối đầu. Quá trình cấp chủ quyền cho bất động sản diễn ra chậm chạp, đặc biệt là ở thành thị đã gây không ít trở ngại cho hoạt động kinh doanh trong việc thuê mua đất đối với doanh nghiệp FDI, thế chấp để vay vốn đối với doanh nghiệp lớn trong nước, và sự phát triển của thị trường bất động sản. Những biện pháp cải cách năm 2004, 2005 là những bước tiến đáng kể nhằm đơn giản hoá thủ tục và thời gian xin cấp đất, qui trách nhiệm cấp đất cho Sở Tài nguyên Môi truờng là đầu mối duy nhất, và mở rộng các cơ chế thuê mua đất đối với các doanh nghiệp. Nhưng việc tách riêng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và sử dụng đất, được đảm trách bởi hai cơ quan khác nhau có khả năng sẽ dẫn đến trình trạng thiếu nhất quán, làm chậm lại tiến trình cấp quyền sử dụng đất ở khu vực đô thị. Tình trạng bong bóng giá đất là vấn đề thứ hai. Giá nhà đất tiếp tục tăng mạnh trong những năm gần đây trong khi giá cho thuê nhà đất giảm và ổn định cho thấy có hiện tượng đầu cơ trong giao dịch đất đai. Tuy nhiên, số lượng giao dịch giảm rõ rệt từ đầu năm 2005 cho thấy thời kỳ bong bóng nhà đất đã qua. Những biện pháp cải cách quan trọng của Luật Đất đai ban hành gần đây là thống nhất giữa giá gốc do nhà nước ấn định và giá chuyển nhượng thực tế, thường là kẽ hở cho tham nhũng; việc đánh thuế 5% trên giá giao dịch đất đai, thuế suất tuy không cao so với tiêu chuẩn quốc tế nhưng cũng không nhỏ nhằm giảm thiểu việc mua đi bán lại trong một thời gian ngắn, tạo ra cơn sốt giá cả; và cấm các đơn vị phát triển nhà cửa bán các lô đất đã được qui hoạch xây dựng nhà trước khi hoàn thiện xây dựng hạ tầng cơ sở và nhà ở. Một vấn nạn nữa là trong khi việc chuyển đổi đất nông nghiệp ở vành đai thành phố diễn ra chậm chạp, không kịp đáp ứng với nhu cầu phát triển, thì các DNNN chiếm dụng đất dư thừa, thường gọi là đất nhàn rỗi, đem cho thuê lại để kinh doanh. Luật Đất đai mới yêu cầu các DNNN trả lại đất nhàn rỗi, nhưng thực hiện chỉ thị này trên thực tế gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi hành động quyết liệt của chính quyền địa phương như Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện.

Việc thực thi các biện pháp ban hành năm 1993 và 2003 thúc đẩy việc dồn điền đổi thửa để giải quyết trình trạnh đất nông nghiệp bị phân chia manh mún theo chính sách trước đây đã diễn ra chậm chạp và vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Những rào cản hành chính đối với việc cho phép nông dân chuyển sang trồng trọt các loại cây sinh lợi nhiều hơn là nguyên nhân khác hạn chế hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Các cải cách nhằm tái cơ cấu và quản lý đất rừng bao gồm việc tách rời hoạt động kinh tế và quản lý rừng và đặt dưới sự quản lý của hai cơ quan độc lập, giải thể và cải tiến các lâm trường vốn thường mang tiếng quản lý kém hiệu quả. Việc chuyển giao đất rừng cho cộng đồng địa phương quản lý có thể mang lợi ích cho hàng triệu gia đình và thừa nhận truyền thống quản lý đất đai lâu đời của người dân tộc, một vấn đề gai góc chính phủ đang đối đầu. Hiện nay, trên cả nước đã có khoảng 2.5 triệu héc-ta đất rừng đang đuợc cộng đồng quản lý.

Vấn đề sau cùng không kém phức tạp và gay go là việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp. Cuối năm 2004, đã có 192 khu công nghiệp trên 13 tỉnh, chiếm 30 ngàn héc-ta. Trong một số trường hợp, sự phản đối của các hộ dân dẫn đến sự bất ổn xã hội và trì hoãn quá trình giải phóng mặt bằng một cách đáng kể. Các cuộc điều tra cho thấy nguyên nhân gây ra tranh chấp thường vì đất thu hồi thiếu giấy tờ hợp pháp, giá bồi thường không thoả đáng, sự chậm trễ trong việc giải quyết tái định cư, và tình trạng tham nhũng ăn chặn, lợi dụng sự chênh lệch giữa giá chính thức và giá bán đất thực tế. Kể từ 2004, Luật qui định uỷ ban nhân dân các tỉnh phải quy hoạch các vùng tái định cư, nhưng việc thực hiện vẫn còn rất hạn chế. Từ năm 2005, một biện pháp mới nhằm khuyến khích đầu tư, theo đó các nhà đầu tư chỉ phải trả tiền thuê đất, chính quyền địa phương sẽ chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng và các chi phí liên hệ.

© 2006 talawas









[1]“Vào WTO: Đừng để Việt Nam thành Mexico thứ hai!”
http://www.fetp.edu.vn/global/inthenews_show.asp?RelID=48
[2]Bản tiếng Anh: “VietNam Development Report 2006”, bản tiếng Việt: “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006
[3]Theo Bộ KH-ĐT, cho tới nay đã có 106 tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam -
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=138929&ChannelID=11


[/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7342&rb=0502

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Trần Bình[/align]Kinh tế Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập[/align] [/align] [/align] 6[/size][/color]7   2  [/align] [/align][/align]Thị trường lao động

Lao động là “tài sản chính của Việt Nam” trong quá trình phát triển, dù rằng do một số mặt hạn chế, các doanh nghiệp đã xem đây là cản trở đứng thứ ba sau nguồn vốn và đất đai. Nền kinh tế phát triển nhanh tạo nhu cầu lao động tăng vọt, dẫn đến hiện tượng di chuyển kép: di chuyển về nghề nghiệp từ việc làm nông nghiệp sang các việc làm phi nông nghiệp và sự di chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị, trong đó lao động nữ chiếm phần lớn. Lao động nông nghiệp đã giảm từ khoảng 50% năm 1990 xuống dưới 40% hiện nay, 30% dân số Thành phố Hồ Chí Minh là dân ngoại tỉnh là một trường hợp điển hình. Ý thức kỷ luật, chăm chỉ, hiếu học, và chi phí lương thấp là những đặc điểm và thế mạnh của lao động Việt Nam. Theo Điều tra Mức sống Hộ gia đình (ĐTMSHGĐ) 2004, tính cả giá trị lợi ích bằng hiện vật, mức lương trung bình khoảng 824 nghìn/tháng cho lao động đơn giản, 220-250 đôla cho kỹ sư, và 500 đôla cho cán bộ văn phòng. Sự tồn tại của hai mức lương tối thiểu hiện nay áp dụng cho doanh nghiệp trong nước và nước ngoài phải được loại bỏ khi Việt Nam gia nhập WTO, vì chế độ này mâu thuẫn với nguyên tắc “đối xử quốc gia”. Nhưng nếu chỉ chú trọng vào mức lương sẽ dẫn đến việc không đánh giá đúng lao động ở Việt Nam vì đã “bỏ qua ý thức đạo đức làm việc rất đáng chú ý của xã hội Việt Nam”. Những dữ kiện về quá trình tăng trưởng việc làm trả lương và bình đẳng hoá tiền lương cũng rất đáng chú ý. Bảng tổng kết các cuộc điều tra của TCTK, Điều tra Mức sống Dân cư và ĐTMSHGĐ dưới đây cho thấy sự gia tăng rất đáng kể tỷ lệ việc làm trả lương, từ khoảng 16% năm 1993 lên 27 % năm 2004. Riêng khu vực tư nhân bao gồm FDI chiếm hơn 18 % dân số trong tuổi lao động. Sự khác biệt về tiền lương giữa hai miền Nam và Bắc, nam và nữ đã giảm rõ rệt. Chẳng hạn, mức lương trung bình ở Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1991 xấp xỉ gấp đôi ở Hà Nội và Hải Phòng; đến năm 1997, khoảng cách này dao động trong khoảng từ 30 đến 50%. Mức lương chênh lệch giữa nam và nữ vào đầu thập niên 90 là 32% giảm xuống còn 16% năm 2004.



Tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam thấp và không đáng ngại vì đa số những người thất nghiệp đều còn trẻ, là những người tương đối có trình độ gia nhập thị trường lao động. Mặt khác, vẫn tồn tại tình trạng thất nghiệp ngầm trong các DNNN. Trung bình có 49 lao động (19%) bị mất việc trong quá trình cổ phần hoá của 2.228 DNNN đã bộc lộ trình trạng thừa biên chế này. Việc trình độ học vấn ngày càng được đánh giá cao khi ấn định mức lương là yếu tố tích cực, song đồng thời cũng manh nha cho sự hình thành một dạng bất bình đẳng khác trong quá trình phát triển. Sự thiếu hụt lao động có tay nghề và tỷ lệ luân chuyển quá cao đối với lao động có trình độ, đặc biệt tại miền Nam, là mối quan ngại lớn đối các doanh nghiệp. Tỷ lệ luân chuyển lao động từ 2001-2003 lên đến 43,4% trong các xí nghiệp nước ngoài. Tình trạng này cho thấy cần phải xem xét lại chính sách đào tạo dạy nghề tại Việt Nam. Song chừng nào vẫn còn khoảng cách về công nghệ giữa các doanh nghiệp, sẽ khó có thể làm giảm được tỷ lệ luân chuyển, vì người lao động sau khi học được kỹ năng ở các doanh nghiệp có công nghệ cao sẽ dễ dàng được thu nhận tại các doanh nghiệp đang cần các kỹ năng ấy với mức lương cao hơn.

Cho đến khi Luật Lao động ban hành năm 1994, chỉ có người lao động trong khu vực nhà nước được hưởng quyền an sinh xã hội. Tỷ lệ lương đóng cho Chương trình Bảo hiểm Xã hội (BHXH) là 20%, trong đó có 15% do doanh nghiệp đóng góp. Tiến trình mở rộng an sinh xã hội diễn ra chậm nhưng đáng kể; số lao động được hưởng chương trình BHXH đã tăng từ hơn 3 triệu năm 1996 lên xấp xỉ gấp đôi vào năm 2004. Quan hệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp có hai đặc điểm đáng chú ý. Tình trạng tranh chấp lao động tại Việt Nam tương đối thấp; hầu hết những cuộc đình công xảy ra ở các công ty nước ngoài ở miền Nam. Thứ hai, bản bán cáo của các doanh nghiệp Đài Loan cho thấy tinh thần đấu tranh của công nhân Việt Nam rất cao: “Bạn không thể động đến được người lao động Việt Nam, chứ đừng nói là lạm dụng họ. Họ dễ tham gia vào các cuộc phản đối tập thể. Ở Trung Quốc, chúng tôi dùng cách quản lý theo Đài Loan, trừng phạt, thậm chí cả đánh đập. Ở Việt Nam việc bảo vệ quyền của người lao động rất nghiêm nhặt. Đây là điều chúng tôi hoàn toàn không ngờ tới”. Bản báo cáo kết luận cần phải thay thế biện pháp “quân sự” áp dụng tại Trung Quốc bằng biện pháp “mềm dẻo” tại Việt Nam.

Hạ tầng cơ sở

Tuy có đến 20% doanh nghiệp nhất là khu vực FDI cho rằng hạ tầng cơ sở là “trở ngại nghiêm trọng” nhất cho hoạt động của doanh nghiệp vì hạ tầng giao thông thiếu thốn và giá điện, điện thoại cao, nhưng nhìn chung, Việt Nam đã “duy trì được tốc độ tăng trưởng đáng khâm phục về hạ tầng cơ sở kể từ năm 1990”. Năm 2004, điện khí hoá đã đạt 100% ở thành thị và 88% tại nông thôn. Hệ thống đường bộ tăng từ 96 lên 224 ngàn km từ năm 1990 đến năm 2004, trong đó tỷ lệ đường tốt tăng từ 37% lên 45% từ năm 1997 đến năm 2002. Số điện thoại trên 100 người dân tăng từ 1,1 năm 1995 lên 9,2 năm 2002. Từ năm 1993 đến năm 2004, nước sạch tăng 35% - 87%, nhà vệ sinh từ 10% - 32%. Nhìn chung, sự phát triển hạ tầng cơ sở đã dẫn đến giá cả dịch vụ ngày càng gần hơn với mức giá trong khu vực:



Khoảng 9% GDP được đầu tư cho hạ tầng cơ sở hiện nay là một tỷ lệ khá cao. Tỷ trọng đầu tư của tư nhân trong lĩnh vực này tăng lên khoảng 16% trong những năm gần đây là một con số khích lệ, nhưng cần được tiếp tục nâng cao qua các biện pháp hỗ trợ thu hồi vốn và khuyến khích cạnh tranh. Mặt khác, vì việc thu hồi vốn rất chậm và thấp không hấp dẫn đối với khu vực tư nhân, việc phát triển hạ tầng cơ sở trong những năm tới vẫn sẽ phụ thuộc chính vào đầu tư công; do đó, cần phải phân tích nghiêm ngặt hơn về lợi ích tài chánh và kinh tế trong việc lựa chọn dự án và tăng tính minh bạch trong việc huy động vốn và quản lý dự án là những mặt yếu kém và dễ phát sinh tham nhũng hiện nay.

Nhưng điều làm ngạc nhiên nhiều người đang theo dõi kinh tế Việt Nam là những cản trở của hệ thống pháp lý, các thủ tục hành chánh quan liêu và tình trạng tham nhũng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không bị các doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra coi là nghiêm trọng, ở mức độ thấp hơn hẳn so với các nước khác ở Đông Á hay các khu vực khác trên thế giới. Sự giải thích vì sao hệ thống pháp lý không được coi là có tầm quan trọng cao có thể do mối giao dịch giữa các doanh nghiệp cơ bản vẫn dựa vào chữ tín và các phương thức thô sơ nhưng đáng tin cậy để bảo đảm mức an toàn. Các thủ tục đơn giản hoá từ năm 2000 theo Luật Kinh doanh, được bổ sung với cơ chế một cửa về thủ tục cấp giấy phép có thể là lý do tại sao tệ trạng quan liêu không bị đánh giá là nghiêm trọng. Nhưng việc coi tham nhũng không phải là hạn chế quan trọng là điều bất ngờ hơn cả. Mặc dù Tổ chức Minh bạch Quốc đã xếp hạng tham nhũng tại Việt Nam rất cao, nhưng nhiều cuộc điều tra khác nhau đều đã dẫn đến cùng kết luận: Tham nhũng xảy ra rất phổ biến, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp chỉ ở mức độ nhỏ, thông qua nhiều khoản hối lộ nhỏ, chiếm khoảng 0,7% tổng doanh số, thấp hơn so với những quốc gia khác ở cùng trình độ phát triển. Bốn cơ quan chính phủ bị xếp hạng tham nhũng cao nhất trong cả hai cuộc điều tra của WB và Ban Nội chính Trung ương: Cảnh sát giao thông, hải quan, địa chính và thuế vụ. Có thể giải thích quan điểm dễ tính của các doanh nghiệp là vì họ đã làm quen với tham nhũng và số tiền hối lộ trung bình 1,8 triệu là nhỏ đối với doanh nghiệp. Nhưng điều này không phủ nhận những hình thái tham nhũng khác trong các DNNN, cũng như các dự án đầu tư công, và những tác động trên mặt đạo đức xã hội, đời sống của các thành phần kinh tế yếu kém trong xã hội. Những khoản chi phí không chính thức, từ việc “học thêm tự nguyện”, đến các chi phí y tế ngoài khả năng trang trải có thể gây phẫn nộ với người dân.



5. Hội nhập phát triển và nội dung của cuộc cải cách vòng hai

Những cải cách nhằm tuân thủ các qui định của WTO và cải thiện năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế sẽ thúc đẩy năng suất từ trung đến dài hạn, song đồng thời cũng sẽ là những thử thách đối với các doanh nghiệp Việt Nam và có thể tác động tiêu cực đến môi trường và một số khu vực sản xuất ngắn và trung hạn. Quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu qua việc tham gia khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và hiệp ước song phương Việt-Mỹ, đã giúp cho thị trường trở nên cạnh tranh hơn và buộc các doanh nghiệp trong nước phải thay đổi cơ cấu và tăng năng suất. Song việc gia nhập WTO sẽ còn đẩy chương trình cải cách đi xa hơn nữa nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp công và tư, trong nước và nước ngoài. Hơn thế nữa, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, ngày càng lớn mạnh và trở nên phức tạp hơn, vì thế yêu cầu cải thiện môi trường pháp lý minh bạch và hiệu quả ngày càng khẩn thiết.

Con đường hội nhập

Hàng rào thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu đã gỡ bỏ dần khi Việt Nam gia nhập Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) năm 1995, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ năm 2001 và các nghị định ban hành năm 2004. Việt Nam cũng đã cam kết với WTO sẽ hạ mức thuế quan xuống thấp hơn nữa, trung bình 18%. Con số này tương đương với mức trung bình của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO và sẽ tiếp tục giảm qua các cuộc đàm phán song phương. Số lượng các mặt hàng phải chịu hạn ngạch nhập khẩu đã giảm xuống từ năm 1999, đến cuối năm 2005 căn bản chỉ còn áp dụng với đường và xăng dầu. Vì Việt Nam không được hưởng những ưu đãi dành cho những nước nghèo nhất, các chế độ trợ giá phải bãi bỏ sau khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, với tư cách một quốc gia đang phát triển, Việt Nam vẫn có thể bảo lưu một số biện pháp hỗ trợ 10% giá trị sản lượng. Trên thực tế, chỉ có đường là sản phẩm còn nhận trợ giá đáng kể, cần phải cắt giảm. Ngoài ra, các biện pháp trợ giá vẫn cho phép trong một số lĩnh vực như hạ tầng cơ sở, môi sinh, phát triển vùng yếu kém và các công trình nghiên cứu. Từ năm 2001, những cải cách thuế quan đã giảm phân nửa mức bảo hộ trong ngành chế tạo, nhưng các trợ giá ngầm hiện nay như Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu, Quỹ Hỗ trợ Phát triển, và các ưu đãi dành cho các DNNN sẽ phải được huỷ bỏ để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn theo nguyên tắc của WTO. Trường hợp các công ty thương mại quốc doanh hiện đang chiếm lĩnh một nửa số giao dịch ngoại thương là một ví dụ.



Từ năm 2002 đến 2006 Việt Nam đã cơ bản viết lại hầu hết các luật và qui chế tác động hoạt động thương mại và các thủ tục pháp lý, bao gồm Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Hải quan, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp… Ví dụ, Luật Đầu tư mới cấm không được yêu cầu các nhà đầu tư phải mua hoặc sử dụng sản phẩm và dịch vụ nội địa, không được bị bó buộc phải xuất khẩu một tỷ lệ hàng hoá nhất định, hoặc sản phẩm phải tuân theo tỷ lệ nội địa qui định. Các hoạt động hậu cần thương mại như bến cảng và hải quan cần phải cải thiện để hỗ trợ quá trình hội nhập. Phần lớn các bến cảng hiện nay đều quá tải, công tác bảo dưỡng và quản lý kém, cần sự tham gia của tư nhân nhiều hơn nữa trong việc huy động nguồn vốn để đẩy mạnh cạnh tranh và làm giảm giá thành. Ngành Hải quan bị đánh giá là kém hiệu quả và nhũng nhiễu. Quốc hội gần đây đã thông qua Luật Hải quan nhằm cải cách lĩnh vực này qua việc thay đổi quy trình làm việc, các biện pháp kiểm tra hành vi sai trái của cán bộ hải quan, và những qui định cho phép việc mở rộng hoạt động quản lý cảng cho tư nhân.

Vấn đề là vệ sinh an toàn thực phẩm và sở hữu trí tuệ không kém phần quan trọng trong giao thương quốc tế. Nâng cao tiêu chuẩn vệ sinh không những tăng cao hiệu suất kinh tế trong ngành xuất khẩu mà còn vì sức khỏe của người dân, rất phù hợp vào thời điểm này do các mặt hàng có giá trị cao như trái cây, rau quả, thịt và hải sản đã tăng đáng kể trong mười năm qua. Việc thực thi mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ “vừa may mắn vừa không may” đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. May mắn vì nó sẽ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và bảo vệ bản quyền sáng chế và nhãn hiệu các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, bảo vệ sở hữu trí tuệ sẽ làm cho việc sử dụng phần mềm trở nên đắt đỏ. Nhưng điều đáng quan ngại hơn là có thể làm giảm khả năng tiếp cận với các loại thuốc phổ thông có ảnh hưởng đến sức khoẻ của đại chúng mà thuốc kháng virus HIV/AIDS là một ví dụ.

Một mối quan ngại khác là cũng như Trung Quốc, Việt Nam có thể “bị ép chấp nhận qui chế kinh tế phi thị trường”. Phương pháp này “giảm đáng kể gánh nặng phải đi tìm bằng chứng” trong các vụ kiện phá giá, dẫn đến hệ quả Trung Quốc đã trở thành mục tiêu cho một phần năm số vụ kiện chống phá giá trên toàn thế giới. Những đòi hỏi ngày càng khắt khe hơn đối với thành viên mới, buộc họ phải nhượng bộ để đổi lại sự ủng hộ của các thành viên cũ trong việc xin gia nhập.

Vai trò các tỉnh địa phương và các cải cách trong nước

Quá trình phân cấp và trao ngày càng nhiều quyền quyết định cho chính quyền địa phương dẫn đến sự khác biệt lớn trong xu thế phát triển kinh tế. Vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong lĩnh vực đất đai, thuế vụ và khuyến khích đầu tư rất quan trọng, từ việc phân vùng, chuyển đổi loại đất và định giá đất, đến phê duyệt các dự án đầu tư dưới 20 triệu đô la [1] và xây dựng các khu công nghiệp. Do cơ chế phân cấp và sự thiếu nhất quán và chồng chéo của các qui định và luật, khả năng lãnh đạo cấp tỉnh trong việc diễn giải và thực thi chính sách trở thành yếu tố chính yếu cho sự thành công của cuộc cải kinh tế địa phương. Mặt khác, chính sách phân quyền cũng dễ dẫn đến việc lạm quyền, nhất ở lĩnh vực đất đai như những vụ tai tiếng đã xảy ra tại các tỉnh Bạc Liêu, Kiên Giang, Khánh Hoà, thị xã Đồ Sơn và Phú Thọ.

Sự tương phản lớn lao của các chỉ số phát triển kinh tế giữa các tỉnh cận kề và có điều kiện phát triển tương tự ở mỗi miền (bảng 11.1) như GDP, tỷ lệ nghèo, số lượng doanh nghiệp, tích luỹ đầu tư đã cho thấy rõ tầm quan trọng của việc phân cấp và chất lượng quản lý. Ví dụ sản lượng công nghiệp ở Đà Nẵng cao hơn Huế gấp bảy lần và lượng vốn đầu tư nước ngoài ở Bình Dương cao hơn Long An cũng đến bảy lần.



Điều đáng lưu ý là qua cuộc điều tra trên, chính quyền của ba tỉnh có mức phát triển mạnh - Bình Dương, Đà Nẵng và Vĩnh Phúc - cũng được các doanh nghiệp đánh giá cao trong việc thực thi các chính sách khuyến khích tư nhân, cấp giấp phép nhanh và thông tin thông thoáng. Cuộc điều tra chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của USAID và nhiều nghiên cứu khác đều cho thấy thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai dẫn đầu cả nước trên các chỉ số phát triển. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ các tỉnh nghèo trong việc hiện đại hoá qui trình lập kế hoạch và phân bổ ngân sách, các cuộc điều tra đánh giá như PCI [2] rất quan trọng cho việc khuyến khích cạnh tranh, thăng thưởng và ràng buộc trách nhiệm các cấp chính quyền tỉnh đối với các hoạt động kinh tế địa phương.

Những cải cách vòng thứ nhất đã cho phép hình thành các loại doanh nghiệp khác nhau và giảm nghèo. Cuộc cải cách vòng thứ hai cần thiết để đương đầu với các vấn đề ngày càng phức tạp khi nền kinh tế phát triển cao hơn và cánh cửa hội nhập rộng mở. Tham vấn là cơ chế quan trọng giúp tăng chất lượng các kế hoạch phát triển được áp dụng từ năm 2001 và mở rộng đáng kể trong quá trình lập kế hoạch kinh tế 2006-2010 thu thập ý kiến phản hồi từ các tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ và các hiệp hội kinh doanh trong nước và nước ngoài.

Trên mặt trận kinh tế, Việt Nam cần phải tăng hiệu quả huy động vốn và quản lý tốt hơn tài sản nhà nước. Việc cải tổ huy động vốn bắt đầu với việc cải cách hệ thống ngân hàng. Thứ nhất, các NHTMNN phải hoạt động theo định hướng lợi nhuận, thoát khỏi áp lực ngầm từ chính quyền địa phương và NHNNVN duyệt cho vay phi thương mại hoặc phục vụ mục tiêu chính trị. NHNNVN cũng phải đặt lại vị trí thích đáng, không phải kiểm tra các giao dịch đơn lẻ với các yêu cầu pháp lý quá chi tiết mà phải tập trung vào chức năng giám sát và thực hiện chính sách tiền tệ. Đầu năm 2005, NHVNNN đã đưa ra đề án cải cách hệ thống ngân hàng đầy tham vọng: sẽ chuyển đổi NHVNNN thành một ngân hàng độc lập, tách biệt NHNNVN và NHTMNN, hoàn thành cổ phần hoá các NHTMVN từ 2006-2009 và giảm sở hữu nhà nước xuống mức qui định đã cam kết với WTO, và cải thiện nguồn nhân lực và công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng. Thị trường chứng khoán chính thức và không chính thức rất cần thiết để bổ sung hệ thống ngân hàng. Các qui định cứng nhắc nhằm bảo đảm sự an toàn trong việc giao dịch trên thị trường chính thức đã ảnh hưởng tiêu cực đến lượng giao dịch cần phải thay thế bằng các hệ thống thông tin đáng tin cậy về chứng khoán và người môi giới. Tính minh bạch cũng cần phải được nâng cao đối với thị trường không chính thức OTC để buộc những người buôn bán và môi giới phải chịu trách nhiệm các hành vi sai trái.

Tiến trình cổ phần hoá DNNN cần phải sớm hoàn tất và việc quản lý các DNNN còn lại cần phải tách khỏi các bộ chủ quản để có thể đẩy mạnh cạnh tranh. Luật Doanh nghiệp mới qui định phải hoàn tất cổ phần hoá trong vòng bốn năm. Hiện có 2500 trong tổng số 4000 DNNN thuộc diện cổ phần hoá đã hoàn tất tiến trình này. Song ngay cả khi kế hoạch được thực hiện đúng theo kế hoạch, thì đến năm 2007 Việt Nam vẫn sẽ còn 1.800 DNNN với tổng số vốn lên đến 25% GDP. Điều đáng quan ngại là “chẳng có nhiều mô hình nhà nước kiểm soát phần lớn lượng vốn của nền kinh tế mà vẫn thành công”. Hiện nay có những thảo luận giảm số DNNN xuống còn con số 1000 doanh nghiệp hoặc chuyển đổi sang quản lý kiểu tư nhân, như cho phép công ty thuê giám đốc điều hành từ nước ngoài. Vinashin, công ty đóng tàu lớn nhất Việt Nam, rất năng động, là DNNN đầu tiên đã thuê giám đốc nước ngoài, và dự kiến sẽ có khoảng 100 doanh nghiệp có sở hữu nhà nước khác sẽ thực hiện trong thời gian tới.

Nếu tính bao gồm cả vốn huy động qua nợ dài hạn, tổng số vốn của các DNNN còn có thể còn cao hơn gấp đôi. Điều này cho thấy việc cải cách hiệu quả và tính minh bạch của cơ chế quản lý vốn của nhà nước rất quan trọng. Các cơ cấu thể chế mới nhằm cải thiện quản lý vốn ban hành gần đây bao gồm việc thành lập Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC) tháng 7/2005, là cơ quan duy nhất nắm quyền sở hữu vốn nhà nước của các DNNN được cổ phần hoá, đánh giá và giải thể những doanh nghiệp kém hiệu quả, và thành lập Công ty Mua bán Nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) hoạt động độc lập với NHTMVN. Việc chuyển quyền sở hữu ra khỏi các bộ ngành và cơ quan chính phủ sẽ loại bỏ các xung đột về quyền lợi giữa sở hữu và ra quyết định, nhưng đồng thời có cơ may nảy sinh các giao dịch không minh bạch vì liên quan đến những khoản tiền khổng lồ.

Những cải cách về mua sắm công, chiến lược chống tham nhũng và cải thiện hệ thống tư pháp sẽ là những bước quan trọng trong tiến trình phát triển và hội nhập. Việc xây dựng bản tin mua sắm điện tử nhằm tăng cường tính công khai và minh bạch của đấu thầu sắp hoàn thành và Luật mua sắm vừa được thông qua sẽ giúp củng cố khuôn khổ pháp lý còn rời rạc. Nhưng với số lượng các nhà cung cấp còn hạn chế, đặc biệt với các công trình dân dụng, thường mở ra khả năng thông đồng giữa các nhà thầu, chủ yếu là DNNN. Chiến lược chống tham nhũng không thể chỉ chú trọng đến trừng phạt mà phải bao gồm việc đơn giản hoá thủ tục, như cơ chế một cửa, phát triển giao dịch điện tử để giảm quyền lực tuỳ tiện của cán bộ nhà nước, và cần đặt mức phạt không quá cao để những người vi phạm ít có động cơ hối lộ. Luật chống tham nhũng thông qua cuối năm 2005 là một bước tiến khác, qui trách nhiệm cho thủ trưởng, giám sát tài sản của công chức nhà nước và họ hàng trực thuộc. Phương tiện thông tin đại chúng cũng có thể giúp khám phá các trường hợp tham nhũng nếu các nhà báo được bảo vệ. Về phương diện pháp lý, các phương thức đơn giản, dựa vào địa phương hay uy tín trong việc xác minh quyền sở hữu đất đai hay ký kết các hợp đồng không còn phù hợp trong nền kinh tế phát triển phức tạp hơn. Vì thế việc xây dựng một hệ thống tư pháp có khả năng diễn giải và thực thi hiệu quả pháp luật, giải quyết các tranh chấp thường xảy ra trong kinh doanh, như chiến lược cải cách tư pháp vừa được thông qua gần đây, là một yêu cầu rất cấp thiết.

Sau cùng, nâng cấp dịch vụ xã hội y tế, giáo dục và bảo hiểm xã hội phải là những ưu tiên hàng đầu của đợt cải cách vòng hai để những phúc lợi mang lại do sự phát triển sẽ được san sẻ rộng rãi trong đại chúng. Hệ thống y tế và giáo dục xây dựng vào thời kỳ bao cấp đã không còn phù hợp với với những yêu cầu mới của thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường khi các chi phí xã hội này trở nên quá tốn kém đối với các thành phần kinh tế yếu kém. Về giáo dục, cần cải thiện tình trạng chất lượng giáo dục không đồng đều và gánh nặng chi phí chính thức và không chính thức (học thêm) qua việc phân bổ thêm ngân sách cho các vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số. Trong lĩnh vực y tế, Quỹ Chăm sóc Sức khỏe cho Người nghèo thành lập năm 2002 là một bước tiến đáng kể, song vẫn cần cải thiện về phương thức thanh toán và kết hợp với chương trình bảo hiểm y tế của các công ty để cung cấp dịch vụ y tế rộng rãi cho đại chúng. Hệ thống bảo hiểm xã hội được mở rộng đáng kể từ năm 1995 bao gồm cả khu vực tư, nhưng nói chung vẫn còn vẫn non yếu, cần cải cách những thiếu sót hiện nay như không khuyến khích thời gian đóng bảo hiểm lâu dài, báo cáo thu nhập đầu đủ hơn, qui định mức lương hưu gần hơn với chuẩn thống kê, và mở rộng diện bao phủ cho nông dân và lao động tự do. Theo thời gian, vai trò của các doanh nghiệp càng quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục đại học, và kể cả các chương trình hưu trí.

Liệu Việt Nam có phải trả giá về mặt xã hội hay môi trường cho hội nhập và phát triển?

Xét từ khía cạnh chất lượng của phát triển kinh tế, ảnh hưởng bất lợi đối với các thành phần yếu kém trong xã hội và trình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn là những quan tâm hàng đầu và câu hỏi lớn của các quốc gia đang phát triển khi bước vào con đường hội nhập và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá lấn chiếm đất nông nghiệp, dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ dân số các gia đình không có đất ở nông thôn từ 8% năm 1993 lên 12% năm 2004. Tuy nhiên, các cuộc điều tra cho thấy tình trạng mất đất không đi với nghèo đói, mà hầu như ngược lại, khi đời sống của ba phần tư dân số không có đất trong số tỷ lệ gia tăng nói trên đã được cải thiện. Vùng đất Tây Nguyên lại có những đặc điểm khác biệt: sự di dân ồ ạt và hình thành các lâm trường quốc doanh đã thành công trong việc nâng cao sản lượng nông nghiệp, nhưng đồng thời khiến người dân tộc mất dần đất đai, lui sâu vào rừng và trở thành thiểu số trên chính vùng đất của họ, tạo nên những căng thẳng xã hội, điển hình là cuộc biểu tình và bạo loạn năm 2001. Để giải quyết tình hình căng thẳng nay, chính phủ cam kết sẽ cấp đất và trợ cấp cho tất cả các hộ dân tộc thiểu số, và đến nay chương trình đã thực hiện được khoảng hai phần ba kế hoạch.

Hội nhập vào nền kinh tế thế giới có thể sẽ tạo thêm việc làm trong một số ngành đồng thời làm mất việc làm trong những ngành mà hoạt động sẽ bị thu hẹp lại. Một đánh giá về tác động của việc gia nhập WTO đã tập hợp hơn 20 nghiên cứu gần đây cho thấy hội nhập toàn cầu có thể dẫn đến việc mở rộng các ngành dệt may, thương mại và vận tải, xăng dầu và nhớt, và các sản phẩm giấy. Những ngành có thể thu hẹp gồm thiết bị và máy móc, thiết bị điện, dịch vụ cá nhân và phương tiện giao thông. Các nghiên cứu đã không cho thấy được thay đổi lớn nào về tình trạng nghèo đói hay bất bình đẳng bắt nguồn từ việc hội nhập kinh tế toàn cầu. Nhìn chung, kết quả các đánh giá trên chỉ cung cấp những chỉ số khái quát về các tác động có thể xảy ra, chứ không phải là những con số ước tính chính xác. Vì thế, cách đối phó với những tác động khó tiên đoán này giống như vấn đề của các nhà bảo hiểm, thay vì cố phỏng đoán xem mối nguy hại xảy ra ở đâu, sẽ ước tính thiệt hại chính xác khả năng và thời điểm xảy ra, và kịp thời hỗ trợ một cách thích đáng.

Phương án trợ cấp người lao động bị mất việc trong khu vực công, qua quỹ an sinh xã hội đã hoạt động khá hữu hiệu từ ba năm nay, hỗ trợ trên 100 ngàn lao động bị xếp vào diện dôi dư. Nhưng không thể nới rộng quỹ trợ cấp này cho khu vực tư vì sẽ quá tốn kém; thay vào đó, công nhân sẽ nhận trợ cấp thôi việc từ các doanh nghiệp. Phương án hỗ trợ các tỉnh nghèo qua việc tái phân phối ngân sách giữa các tỉnh đã có hiệu quả trong những năm gần đây, cần được tiếp tục đẩy mạnh vì phù hợp với quy tắc của WTO. Hơn thế nữa, tính tập trung theo địa lý cuả một số loại cây có thể dẫn đến những tác động tiêu cực tại một số vùng khi thị truờng giá cả trên thế giới dao động mạnh.

Tóm lại, với một thị trường lao động linh hoạt như Việt Nam, những tác động có thể nhìn thấy được dường như không lớn. Tuy nhiên điều này không đúng đối với những tác động vào môi trường: tiêu chuẩn môi trường thấp tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành này để giảm chi phí sản xuất thấp nhất so với các nước khác. Một cuộc nghiên cứu đa ngành gần đây cho thấy các hoạt động kinh doanh gây ô nhiễm cao phát triển nhanh hơn các ngành ít gây ra ô nhiễm, đáng kể nhất phải kể đến ngành than, các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu như các làng nghề thủ công, ngành nuôi tôm, cá.



*

Trong phần mở đầu, chúng tôi đã trích lời ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc, khuyến cáo Việt Nam cần phải chuẩn bị để sẽ không trở thành Mexico thứ hai khi quốc gia này đã dành quá nhiều quyền ưu tiên cho công ty nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu đã không mang lại sự phát triển kinh tế vì hầu hết lợi nhuận đều lọt vào tay các nhà đầu tư nước ngoài. Một lần nữa chúng tôi xin mượn lời của ông Jonathan Pincus trong phần kết của bài viết. Ông Jonathan Pincus nhận định rằng việc gia nhập WTO là điều cần thiết, sẽ giúp Việt Nam cải thiện vị trí trong thương trường quốc tế, nhưng con đường trước mặt sẽ còn lắm chông gai. Ví dụ, về vấn đề cạnh tranh trên thị trường thuỷ sản và ngành dệt may, ông đã nhắc nhở: “Không là thành viên WTO, Việt Nam không có bất cứ quyền lực gì trong thị trường thuỷ sản và dệt may, nhưng khi là thành viên thì Việt Nam vẫn có vị trí yếu. WTO không hoàn hảo mà dường như là tổ chức của các nước giàu. Nếu anh là một nước giàu, anh sẽ được nhiều hơn nước nghèo. Dù sao là thành viên WTO vẫn tốt hơn ở ngoài. Việt Nam nên nghĩ rằng việc gia nhập WTO là bắt đầu một quá trình hơn là kết thúc. Sau khi đã là thành viên của câu lạc bộ đó, hãy cùng các nước đang phát triển khác đàm phán với các nước giàu hơn”.

(Các chữ viết tắt:



  • ABD - Ngân hàng Phát triển châu Á
  • CPIA – Đánh gía Môi trường thể chế và Chính sách Quốc Gia
  • CTCP - Công ty cổ phần
  • DNNN - Doanh nghiệp nhà nước
  • DTMSHGD - Điều tra mức sống hộ gia đình năm
  • IFC - Công ty Tài chánh Quốc tế (IFC)
  • FDI - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
  • IMF -Quỹ Tiền tệ Quốc tế
  • NHNNVN - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
  • NHTMNN - Ngân hàng Thương mại Nhà nước
  • TCTK - Tổng cục Thống kê
  • UNDP - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
  • USAID - Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
  • UNCTAD - Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc
  • VNCI - (Sáng kiến Cạnh tranh Viêt Nam). 2005. Các biện pháp khuyến khích và tài chính cho đầu tư trong nước ở Việt Nam: Có hiệu quả hay không? Tài liệu nghiên cứu chính sách sách số 2 của VNCI. VNCI, Hà Nội.
  • WB - Ngân hàng Thế giới
  • WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới)

  • Tháng 5/2006

    © 2006 talawas





    [1]Theo Bộ KH-ĐT, cấp tỉnh và thành phố sẽ được cấp phép cho các dự án đầu tư nước ngoài đến 50 triệu đô la -
    http://www.diza.org.vn/vn/news/31-03-2006/ThongTinCanBiet/381/

    [2]Kết quả điều tra PCI năm 2006: Các tỉnh phía Nam chiếm ưu thế -
    http://www.vneconomy.com.vn/vie/index.php?param=article&catid=05&id=d605b496aee696
    Chúng tôi dự tính làm PCI trong ba năm đầu liên tiếp -
    http://www.vneconomy.com.vn/vie/index.php?param=article&catid=01&id=7977e335790560
    [/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7343&rb=0502[/align]
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-09 21:31:49gương soi>
    .
    Trí thức - những giới hạn và đòi hỏi
    Lê Việt Hòa
    Hà Nội




    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/01/070107_viet_intellectuals.shtml


    Ngày nay người ta hay nói đến “Nền kinh tế tri thức” mà theo quan niệm của mọi người thì đó là một nền kinh tế trong đó mọi sản phẩm sản xuất ra đều mang hàm lượng tri thức cao, một nền kinh tế mà trong đó được điều hành bởi quan chức các cấp được đào tạo bài bản (là những trí thức có thực tài), đáp ứng được đòi hỏi của công việc và biết hoạch định chính sách lâu dài cho đất nước.

    Về mặt nào đó nó khác với ‘duy ý chí’, một sự điều hành đất nước đã tồn tại hàng bao năm qua, một điểm yếu mà cho đến nay các nhà lãnh đạo của VN chưa đáp ứng được trong thời đại hội nhập.

    Vậy giới trí thức VN hiện nay như thế nào? Trong bài viết này tôi cũng xin phép mạn đàm về giới trí thức của Việt nam trong đó có bản thân tôi.

    Cách mạng

    Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, trong một vài thế kỷ gần đây thì Cách mạng Vô sản đã và đang làm tổn thương nặng nề nhất cho giới trí thức ở các nước mà nó đi qua (nhất là trong lĩnh vực triết học, văn hoá nghệ thuật). Ở hầu hết các nước có chế độ CS, bao nhiêu nhà văn, nhà thơ và các trí thức thuộc các lĩnh vực mà có tư tưởng tự do đều đã bị các chính quyền CS đàn áp một cách không thương tiếc, nhiều người bắt buộc phải chạy ra nước ngoài. Nhẹ hơn là bị “cải tạo”, không cho xuất bản hoặc là đình bản thu hồi tất cả các tác phẩm của họ.

    Không những thế, các nhà văn nhà thơ, hoạ sỹ… nói riêng và giới trí thức nói chung còn luôn bị khống chế, kiểm soát gắt gaoủtong chế độ CS. Các ĐCS muốn rằng mọi sản phẩm của họ phải mang tính đảng, tính giai cấp. Tầng lớp trí thức buộc phải tránh không đề cập đến các vấn đề mang tính 'nhạy cảm' như dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận tự do báo chí… Các ĐCS muốn nhào nặn con người từ tuổi Nhi đồng đến Thanh thiếu niên rồi đến Trí thức trở thành như những cái máy giống nhau qua các tổ chức nối dài của mình như: Đội thiếu niên tiền phong, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Mặt trận tổ quốc. Một trong những cố gắng đó của ĐCSVN mà một thời họ muốn xây dựng con người VN thành những người vô thần thánh, chỉ biết trung với Đảng, hiếu với dân... chỉ biết sẵn sàng nhận mệnh lệnh của ĐCS.

    Trí thức ở VN trước năm 1945 thường được nói đến nhiều là các nhà văn nhà thơ, họ cũng không tránh khỏi phiền luỵ như trí thức ở các nước CS hay các nước độc tài khác. các nhà văn nhà thơ từng vang tiếng một thời mà các tác phẩm của họ vẫn chiếm được sự ngưỡng mộ của công chúng đến tận ngày nay như: Nam Cao, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Tản Đà (mất sớm)… Kể từ sau năm 1945 thì tuyệt nhiên họ không để lại được tác phẩm nào có thể chiếm được cảm tình của người đọc, mặc dù sau thời điểm đó họ vẫn sáng tác. Ngoại trừ một số tác phẩm họ viết như thể theo đơn đặt hàng của các nhà quản lý văn hoá của CS. Độc giả VN trong và ngoài nước cũng được chứng kiến: Thời gian đã làm cái việc sàng lọc khách quan nhất để trả các tác phẩm của họ về với giá trị đích thực của nó.

    Lực lượng

    Trí thức VN ngày nay là lực lượng rất đông đảo, đã bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Nói đến trí thức là nói đến khả năng nhận thức tiên phong, rộng và mới trong mọi lĩnh vực, có thể nói là vượt ra ngoài giới hạn về địa lý, không gian và thời gian. Nhìn chung họ có khả năng nhận thức và đánh giá nhanh tình hình. Sẵn sàng thể hiện ngay ra bằng thái độ và lời nói nên họ nói thường được cho là “nói khó nghe”. Chúng ta có thể đưa ra rất nhiều các dẫn chứng, ví dụ để chứng minh rằng: Có những vấn đề mà trí thức đưa ra cách đây hàng chục năm nhưng đến nay các quan CS mới công nhận là đúng. Ngoại trừ một số trí thức làm việc thuần tuý theo chuyên môn mà bỏ ngoài suy nghĩ về các vấn đề chính trị, hoặc là thoả hiệp, chấp nhận hay gia nhập vào hệ thống chính trị độc đảng.

    Vì lẽ đó mà trong thời gian dài các quan CSVN thường nghi kỵ và xa lánh giới trí thức. Họ gán cho giới trí thức nói chung là “lập trường quan điểm không vững vàng”, “phát ngôn bừa bãi”, “tư tưởng tự do”, “tiểu tư sản” vv… và bao thứ ‘tội’ khác tuỳ theo các tình huống (nhưng không công khai hoá bằng văn bản).

    Cũng chính vì thế mà trí thức rất khó hoặc không muốn gia nhập vào hàng ngũ của ĐCS. Nhiều ĐVCS không giám giới thiệu hay bảo lãnh cho ông trí thức “ngang ngạnh” vào đảng. Cho dù biết chắc họ giỏi chuyên môn và linh hoạt giải quyết mọi vấn đề.

    Có thể nói rằng, trí thức giỏi thì luôn đồng nghĩa là có tư tưởng tự do dân chủ, tôn trọng lẽ phải. Do khả năng tự nhận thức cao, cộng với môi trường làm việc và nghiên cứu khoa học nên họ không cứng nhắc, giáo điều hay duy ý chí. Họ quen làm việc trong môi trường mà muốn đưa ra kết luận gì thì phải có cơ sở khoa học, có kiểm chứng, thống kê, dẫn chứng rõ ràng, đồng thời họ thường có mối liên hệ với các trí thức, các quan điểm khác nhau trên toàn thế giới. Theo tôi những trí thức chân chính không bao giờ ở thế ‘ếch ngồi đáy giếng’. Tại VN, lực lượng trí thức không phát huy được những đặc điểm và lợi thế của mình do luôn bị cả một hệ thống chính trị khống chế kiểm soát mà thôi.

    Trí thức giỏi VN luôn phải đối mặt với người lãnh đạo của mình là những kẻ cơ hội bất tài nên rất dễ bất mãn và không còn động cơ phấn đấu trừ khi họ cũng phải thoả hiệp: Nói và làm không theo như mình nghĩ.

    Phân loại

    Phải sống trong một môi trường như vậy thì mới có thể thấy một số loại trí thức điển hình (sự phân loại này chỉ là tương đối):

    Số trí thức có trình độ chuyên môn giỏi, có “lý lịch và đạo đức tốt”, đa số là con cháu các quan chức CS, họ có điều kiện ăn học rồi vị trí công tác thuận lợi. Chúng ta thấy rất đông trong số này làm ở các lĩnh vực ngoại giao, thương mại. Một số có trình độ chuyên môn cao và thực sự muốn làm việc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, họ “không muốn” quan tâm đến chính trị. Được tạo điều kiện tốt về nguồn kinh phí, trang thiết bị nghiên cứu và làm ở các bộ phận quan trọng nên cũng có những công trình nào đó ứng dụng vào thực tế. Điển hình trong số này là làm trong lĩnh vực Ngoại giao, Quân sự, Quốc phòng, Viện nghiên cứu và ở một số trường Đại học lớn. Đời sống của họ được đảm bảo chắc chắn, thường xuyên được tuyên dương, lên chức. Lẽ tất nhiên khi họ có quyền lợi thì họ sẽ trở nên gắn chặt với hệ thống chính trị. Có thể họ đứng đầu hoặc ‘có ảnh hưởng’ trong các doanh nghiệp lớn (tư nhân hay Nhà nước).

    Một bộ phận trí thức cũng có trình độ chuyên môn giỏi nhưng có tư tưởng tự do, trực tính, có lòng tự trọng cao (không xu nịnh, nhờ vả phụ thuộc), nên được đánh giá là ngang ngạnh, hay gây phiền toái cho các quan CS, số này được các quan đánh giá là “có tài mà không có đức”, ở mức độ nhẹ hơn thì cho là “không khiêm tốn” và hiển nhiên là không có người đỡ đầu. Vì lý do đó mà số này ít được quan tâm của các quan chức CS. Do không có đất dụng võ nên thường chuyển qua làm các hợp đồng ngoài nên lại thêm cái tội là “các nhân chủ nghĩa”. Với bản tính tự do, tự lập cao nên họ rất chủ động với cuộc sống của mình. Khi đạt đến trình độ phát triển cao cả về lượng và chất thì họ cũng buộc phải thoả hiệp thì mới mong phát triển. Điển hình trong số này là một số giáo sư tiến sỹ giảng dạy ở các trường đại học. Một số vẫn có thể luôn mồm “chửi chế độ” hoặc trở nên thờ ơ ‘không quan tâm đến chính trị’.

    Bộ phận trí thức đông đảo nhất, làm việc trên nhiều lĩnh vực nhất thì đại đa số sống bình lặng không tranh chấp đấu đá với ai. Họ tần tảo làm công việc chuyên môn của mình mà không quan tâm đến tình hình chính trị, việc mình mình làm. Một ít trong số này cũng vào đảng, họ rất ít khi hoặc không hề bộc lộ quan điểm của mình, nếu có nói thì cũng chung chung không làm mếch lòng ai, “dĩ hoà vi quý”, tuân thủ làm theo sự lãnh đạo “sáng suốt” của Đảng. Một số “thức thời” và ngày càng “khôn ngoan” ra nên phát triển thành quan.

    Một ông bạn của tôi từng nói: “Quan tâm đến chính trị làm gì cho mệt, cuối cùng thì cũng mình làm mình ăn thôi mà…”. Họ gần như “điếc” khi các vấn nạn và bê bối của xã hội đang diễn ra hết năm này qua năm khác.

    Số trí thức làm trong các lĩnh vực nghệ thuật, truyền thông như các nhà văn, nhà thơ, Nhạc sỹ, Hoạ sỹ, sáng tác kịch bản sân khấu, Nhà báo… (mà tôi tin rằng họ không bao giờ ấu trĩ về chính trị, nghệ thuật). Do các lĩnh vực thuộc nghệ thật và truyền thông thường gây ảnh hưởng mạnh lên số đông dân chúng nên ĐCS luôn có sự kiểm soát gắt gao nhất.

    Hệ thống kiểm duyệt của ĐCS luôn săm soi nhằm phát hiện trước hoặc sau khi các tác phẩm ra đời xem có vi phạm tính Đảng, tính Giai cấp hay không. Nếu như hệ thống kiểm duyệt là để tránh các tác phẩm gây kích động hận thù, chia rẽ, vi phạm đạo đức ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục… thì lại là một nhẽ. Đằng này mọi có gắng của họ chỉ chăm chú đến những gì đe doạ đến sự lãnh đạo độc tôn của ĐCS. Các nghệ sỹ của VN được sáng tác trong một vùng “tự do” mà ĐCS vạch sẵn cho họ, cấm đả động đến nhân quyền, tự do dân chủ… Thử hỏi rằng một khi người ta bị cầm tù về tư tưởng và suy nghĩ thì có sáng tác được không? Hoặc cho dù họ có sáng tác thì các tác phẩm của họ có đến được với công chúng không? Nguồn nào nuôi sống họ để duy trì sáng tác? Điều này giải thích tại sao trong suốt từ năm 1945 đến nay không tìm thấy một tác phẩm nào có thể đọng lại trong lòng dân chúng. Tác phẩm gây thu hút nhiều nhất lại là cuốn nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm với lối viết chân thực, giản đơn mang tính tự sự.

    Một bộ phận trí thức có tư tưởng tự do dân chủ và không thoả hiệp, phản ứng tức thì với những sai trái trong xã hội. Số này dần dần bị đánh bật ra khỏi các cơ quan công quyền. Một số là luật sư nên vẫn có đất dụng võ, còn lại thì do bị o ép đủ bề nên không có cơ hội phát triển hoặc cùng lắm là làm ăn với quy mô nhỏ, họ cũng dần bị lãng quên trong xã hội hoặc phải tìm đường ra nước ngoài làm kiếp tha phương cầu thực. Một bộ phận trong số này đang đấu tranh đòi đa đảng đa nguyên, đòi tự do báo chí.

    Trí thức VN không có lấy bất cứ nơi nào để họ có thể cất lên tiếng nói chính thống của mình. Họ không có lấy một tờ báo cho đúng nghĩa của nó, ngoại trừ một số đặc san hay tạp chí chuyên ngành, nơi mà không được phép nói những gì mà ĐCS không muốn, hoặc phải tránh xa không được đụng đến các chủ đề “nhạy cảm”.

    Lịch sử VN cận đại thì có lẽ chỉ Hồ Chí Minh là biết sử dụng và khai thác trí thức một cách hiệu quả nhất. Chúng ta phải nhìn sự việc trong bối cảnh lúc đó mới thấy tài dùng người của ông. Ông đã quy tụ được các trí thức tinh hoa nhất thời bấy giờ. Đặc biệt là các vị trí mà ông chọn thì hầu như người nào cũng hoàn thành tốt công việc của mình, họ thật sự là những người có tài có đức.

    Còn thực tế thì trí thức VN trong một thời gian dài luôn bị xếp dưới thành phần khác trong xã hội. Họ bị cho là lập “tường tư tưởng không vững vàng” mặc dù ai cũng biết chính họ mới là lực lượng tinh hoa nhất của xã hội, là một trong những lực lượng yêu nước nhất, luôn trằn trọc suy nghĩ với thời cuộc. Phải chăng cái mà họ thiếu là sức mạnh của cơ bắp? Đại bộ phận trí thức của VN như bị lãng quên hoặc không được đặt đúng vị trí, không được đánh giá đúng khả năng và tiếng nói của họ không được coi trọng. Trí thức sẽ làm việc vô cùng hiệu quả nếu như họ được tin dùng. Ngược lại cũng có thể biến họ thành những kẻ nhu nhược và mất hết niềm tin và động cơ phấn đấu (tôi không nói đến những người đã và đang có sự thoả hiệp với chế độ độc đảng).

    Ngày nay với thời đại mà người ta đang hướng tới tự do và toàn cầu hoá, cho dù ĐCSVN có dùng mọi cách bưng bít, kìm hãm thì những tư tưởng tự do dân chủ cũng vẫn cứ đến với từng người dân. Người dân dần dần ý thức được quyền (làm người) và những đòi hỏi chính đáng của mình trong một xã hội dân chủ văn minh. Trí thức VN nói riêng và người dân VN nói chung không còn ở thế “ếch ngối đáy giếng” nữa.

    Nhưng một thực tế là trong thời gian dài trước đây và ngay cả hiện tại, trí thức VN không được sử dụng một cách có lợi nhất cho dân cho nước? Vậy cái gì đã và đang kìm hãm họ?


    http://www.canh-en.de/index.php?id=123&tx_mininews_pi1
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-11 00:14:16sóng trăng>
    .
    [/align] 


    [/align]Trần Bình


    [/align]Việt Nam - Làn sóng đầu tư thứ hai và bài học phát triển kinh tế
    [/align] 


    [/align] 


    [/align][/align]Những chuyển biến kinh tế gần đây, nổi bật nhất là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, đã đẩy làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam lên cao. Dữ kiện tổng hợp tháng 12 cho thấy FDI năm 2006 vượt con số kỷ lục 8.6 tỷ USD đạt được năm 1996, cao điểm của làn sóng đầu tư lần thứ nhất. Từ những chuyển động này, các tờ báo lớn như New York Times, Boston Globe, đã chạy tít lớn tiên đoán rằng Việt Nam đang vươn mình sẽ sớm trở thành Next China hay một tiểu long mới của châu Á. Nhưng sự rạn vỡ của cuộc hôn nhân lần đầu giữa các nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam vào thập niên 90 và sự kiện Việt Nam hiện vẫn còn đang dò dẫm trên bước chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung qua kinh tế thị trường, từ nền kinh tế khép kín sang kinh tế mở và hội nhập trong bối cảnh môi trường kinh doanh tuy được cải thiện song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, khiến những người theo dõi thời cuộc không khỏi không đặt dấu hỏi về sự bền vững và tương lai của cuộc tái hôn lần này. Việc tìm hiểu vị thế của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài và xu hướng của các nguồn vốn ấy một phần nào đó có thể giúp thẩm định triển vọng của làn sóng đầu tư thứ hai. Cuộc điều tra của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) công bố tháng tư năm 2006 đã so sánh môi trường đầu tư của các quốc gia ASEAN, Ấn Độ, và Trung Quốc, và bảng tường trình của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Kế hoạch Đầu tư công bố tháng 2 năm 2006, nghiên cứu tác dụng của Hiệp ước Thương mại Song phương (BTA) là hai trong số những tài liệu có thể giúp chúng ta cập nhật những thông tin về vấn đề này.

    Mặt khác, nguồn FDI dồi dào dù là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, song tự nó không đủ để bảo đảm cho sự phát triển cao và bền vững. Một chính sách phát triển kinh tế hiệu quả có thể khai thác nguồn đầu tư nước ngoài một cách thành công trong công cuộc kỹ nghệ hoá đất nước. Ngược lại, các quốc gia đang phát triển có thể chỉ là môi trường thuận lợi cho các công ty đa quốc gia khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên phong phú và lao động rẻ và mãi mãi vẫn chậm tiến, lạc hậu. Vấn đề hệ trọng có liên hệ đến hiện trạng phát triển kinh tế của Việt Nam này đã được bàn thảo trong tài liệu nghiên cứu “Quan hệ đối tác toàn cầu và chính sách phát triển của các quốc gia” do Diễn đàn Liên hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) thực hiện gần đây. Một phần quan trọng của tài liệu đã nghiên cứu nguyên nhân sự thành công ngoạn mục của các quốc gia vùng Đông Á, những tiểu long thực thụ như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan. Môi trường kinh tế toàn cầu hôm nay đã có khác, do đó Việt Nam ngày nay không thể rập khuôn những sách lược các quốc gia này đã sử dụng, song những bài học rút ra từ các kinh nghiệm thành công rất quí báu ấy chắc chắc sẽ rất hữu ích cho Việt nam nói riêng và các quốc gia đang phát triển nói chung trong công cuộc hiện đại hoá đất nước.

    *

    Ông John Hendra, Điều phối viên thường trú của Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam trong bài viết “WTO, Hội nhập kinh tế và Phát triển con người: Chính sách công nghệ cho sự thành công cho công cuộc công nghiệp hoá” ấn hành tháng 11 năm 2006 [1] đã nhấn mạnh rằng, con đường dẫn đến sự thịnh vượng của các quốc gia vùng Đông Á là một quá trình lâu dài. Từ góc độ này, những thành quả Việt Nam đã gặt hái được do những cải cách trong hai thập niên qua cũng chỉ mới là bước đầu của một cuộc hành trình dài đầy thử thách. Việt Nam là một trong số 6 quốc gia vùng Đông Á hay trong số 12 quốc gia trên thế giới (176 nước) đã đạt được mức phát triển trên 6% trong hai thập niên qua (1985-2004), và nền kinh tế Việt Nam hiện nay lớn gấp 4 lần so với năm 1986. “Đây là một thành tựu to lớn, song nếu so sánh với các quốc gia kỹ nghệ hoá thành công vùng Đông Á, thì mới chỉ là bắt đầu. Trong khoảng thời gian từ 1961-2005 (44 năm), nền kinh tế Singapore lớn lên gấp 30 lần, Nam Hàn 24 lần, và Malysia 20 lần”. Trong giai đoạn đầu của tiến trình phát triển mà Việt Nam đang trải nghiệm, do hoạt động kinh tế còn tương đối đơn giản, phần lớn gắn liền với ruộng đất và năng suất sản xuất còn thấp, nên cơ hội cải thiện năng suất nhằm đạt đuợc mức phát triển cao còn nhiều; ví dụ như việc cải tiến giống lúa hay sự di chuyển một bộ phận dân cư quan trọng từ khu vực nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp dưới dạng công nghiệp nhẹ mang tính chất gia công như may mặc chẳng hạn. Nhưng khi bước vào một giai đoạn phát triển cao hơn, cơ hội tăng gia năng suất sẽ hiếm hoi hơn: “Duy trì mức tăng trưởng trong một nền kinh tế có thu nhập trung bình đòi hỏi phải không ngừng nâng cao công nghệ trên mọi lãnh vực, đặc biệt ngành chế tạo là khu vực có tiềm năng tăng năng suất lớn nhất”. Những phân tích trong bản báo cáo Thương mại và Phát triển năm 2006 của Diễn đàn Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) [2] là một nỗ lực nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào các nước kỹ nghệ hoá thành công Đông Á đã đạt được thành quả to lớn như vậy?”

    Số liệu của bản báo cáo UNCTAD dưới đây cho thấy mối liên hệ giữa nâng cao năng suất qua việc mở rộng ngành chế tạo và mức phát triển kinh tế khi so sánh tỷ trọng giá trị gia tăng ngành chế tạo của 7 quốc gia vùng Đông Á với các nước châu Mỹ Latin và châu Phi trong hơn hai thập niên qua. Số liệu đã nói lên sự thành công vuợt bực của các nước vùng Đông Á trong việc phát triển ngành chế tạo, đặc biệt các quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan, tương phản rõ rệt với sự giảm mạnh tỷ trọng ngành chế tạo của các quốc gia châu Mỹ Latin và châu Phi, đặc biệt các nền kinh tế lớn của châu Mỹ Latin như Brazil và Mexico.




    Tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành chế tạo trên thế giới

    Châu Phi
    1980:0.9
    2003:0.8

    Châu Mỹ Latin & vùng Caribbean
    1980:7.1
    2003: 4.4

    Brazil
    1980:2.9
    2003:0.9

    Mexico
    1980:1.9
    2003:1.7

    Argentina
    1980:0.9
    2003:0.5

    Các quốc gia khác trong vùng
    1980:1.4
    2003:1.3

    Các nước công nghiệp hoá châu Á
    1980:6.6
    2003:15.7

    Trung Quốc
    1980:3.3
    2003:8.5

    Hàn Quốc
    1980:0.7
    2003:2.3

    Đài Loan
    1980:0.6
    2003:1.1

    Thái Lan
    1980:0.3
    2003:0.8

    Các quốc gia khác trong vùng
    1980:1.7
    2003:3.0
    Nguồn: Báo cáo Thương mại và Phát triển năm 2006 - UNCTAD





    Nhưng các quốc gia Đông Á không những chỉ thành công trong việc nâng cao tỷ trọng của ngành chế tạo mà quan trọng hơn nữa đã nâng cao tỷ trọng của các sản phẩm công nghệ cao. Biểu đồ thứ hai cho ta ấn tượng mạnh mẽ về tầm quan trọng của yếu tố kỹ thuật (technology) sử dụng trong sản xuất nhằm đạt được năng suất và mức phát triển kinh tế cao. Trong khi trình độ sản xuất thể hiện qua việc sử dụng vốn, nhân lực và kỹ thuật của Hàn Quốc, Mexico và Brazil ở khởi điểm năm 1980 hầu như giống nhau, nhưng sau hơn hai thập niên, ngành chế tạo của Hàn Quốc có hàm lượng công nghệ cao đi lên không ngừng (đường tím), trong khi đó, nền kinh tế của của Mexico và Brazil thì vẫn lệ thuộc nặng nề vào nguồn vốn (đường xanh) và nhân lực (đường vàng).


    Nguồn: Báo cáo Thương mại và Phát triển năm 2006 - UNCTAD

    Nhưng làm thế nào các quốc gia kỹ nghệ hóa thành công vùng Đông Á đã đạt được thành quả rất lớn trong ngành chế tạo hàng công nghệ cao? Theo UNCTAD, các quốc gia này đã khai thác được sức mạnh của hội nhập quốc tế như một trợ lực cho tiến trình nâng cao công nghệ trong nước. “Việc tự do hoá thương mại và đầu tư dưới tác động của WTO đã góp phần tăng năng suất vì nó tạo khả năng tiếp cận với các thị trường lớn nhất trên thế giới và các công nghệ mới thông qua việc đầu tư nước ngoài”. Song cũng theo UNCTAD, “tự do hoá thương mại qua con đường hội nhập vẫn chưa đủ”. Quốc gia có thể bị bế tắc ở mức năng suất thấp khi nguồn FDI và xuất khẩu chỉ nhắm vào việc khai thác lợi thế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và chí phí lao động rẻ mà không quan tâm đến việc nâng cao năng suất và chuyển đổi cơ cấu, là những yếu tố then chốt của chính sách thương mại và công nghiệp thành công. Chính vì thế, bằng cách “phối hợp xu thế hướng ngoại và chính sách công nghệ quốc gia, các nước Đông Á này đã tận dụng được những lợi ích của việc tự do hoá thương mại và đầu tư cho sự phát triển của nền kinh tế nội địa” nhằm đạt được mục tiêu chính yếu là làm gia tăng sản phẩm và dịch trong nước có hàm lượng kỹ thuật và tri thức cao.

    Để đạt được mục tiêu này, một phần quan yếu của chính sách công nghệ đã được các quốc gia Đông Á thực hiện là “việc xây dựng các trường đại học và các viện nghiên cứu tầm cỡ thế giới nhằm đào tạo kỹ sư, nhà khoa học, nhà quản lý, và tạo dựng được khả năng nghiên cứu và phát triển trong nước”. Lượng du học sinh đến Hoa Kỳ từ châu Á tham dự chương trình đào tạo tiến sĩ là một con số đáng kinh ngạc, bằng tổng số sinh viên của Hoa Kỳ tham gia chương trình này. Chính sách khuyến khích các du học sinh về nước vì thế cũng không kém phần quan trọng, như lương bổng phải hấp dẫn, các phòng thí nghiệm hiện đại và môi trường làm việc tốt để các chuyên viên có thể có điều kiện phát huy khả năng, và một cơ chế hoạt động độc lập cho các trường đại học, các viện nghiên cứu khả dĩ đáp ứng kịp thời các nhu cầu phát sinh.

    Để việc ứng dụng các thành quả nghiên cứu và kiến thức chuyên môn vào hoạt động sản xuất được hiệu quả, sự nối kết và phối hợp giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu và các công ty là việc làm hết sức cần thiết. Chính sách này còn có thể giúp làm giảm chi phí tiếp cận tri thức thường quá chuyên môn và đắt đỏ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Hình thức hỗ trợ tri thức và nghiên cứu phù hợp với nguyên tắc của WTO và rất hiệu quả nên vẫn được áp dụng rộng rãi, ngay cả tại các quốc tiên tiến Âu Mỹ.

    Một thành công quan trọng khác của chính sách công nghệ đã được các quốc gia Đông Á thực hiện là việc tháo gỡ rào cản và hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp tư nhân lớn trong nước thông qua các chương trình tín dụng và các quỹ hỗ trợ đầu tư. Nhờ vào qui mô và phạm vi hoạt động rộng lớn, các doanh nghiệp tư nhân tầm cỡ này mới có đủ nguồn lực tiếp cận với tri thức, thực hiện các công trình nghiên cứu và phát triển lớn và do đó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong phạm vi doanh nghiệp và trên bình diện quốc tế. “Không phải ngẫu nhiên mà các ngành sản xuất công nghệ cao như viễn thông chẳng hạn thường do các tập đoàn công ty lớn nắm giữ”.

    Một chính sách thích ứng về tỷ giá hối đoái có thể có những tác động quyết định đến khả năng cạnh tranh quốc tế. Khi tỷ giá này thấp hơn thực giá sẽ làm hàng hoá trong nước rẻ hơn và do đó thuận lợi cho xuất cảng, nhưng mặt khác có thể dẫn đến tình trạng lạm phát và làm gia tăng gánh nặng ngân sách. Ngược lại, tỷ giá quá cao sẽ tăng giá hàng trong nước, dẫn đến khó khăn cho xuất khẩu, cũng như khuyến khích các công ty sử dụng nguồn nguyên vật liệu nước ngoài nhiều hơn.

    Cũng theo báo cáo UNCTAD, vai trò của FDI ở Đông Á quan trọng hơn so với các khu vực khác trong quá trình phát triển: “Thông qua những ràng buộc đầu tư, đặc biệt những qui định về hàm lượng nội địa, đã giúp nối kết các công ty nước ngoài nước và trong nước và khuyến khích việc chuyển giao công nghệ”. Một số biện pháp điển hình khác thường được sử dụng rất hiệu quả như việc dùng thuế công nghiệp để bảo vệ các doanh nghiệp nội địa, trợ cấp một số doanh nghiệp đặc biệt, hay bắt buộc các công tư nước ngoài phải tự cấp kinh phí cho nguồn vật liệu nhập khẩu qua thương vụ xuất khẩu của chính họ.



    *

    Ngày nay, những qui định và ràng buộc của WTO, nhất là các hiệp ước thương mại song phương, đã khó khăn hơn. Nhiều biện pháp đã được các quốc gia kỹ nghệ hóa thành công Đông Á sử dụng rất hữu hiệu trước đây, nay không còn được cho phép. Một chướng ngại khác không kém phần quan trọng cho việc tiếp cận tri thức và kỹ thuật đối với Việt Nam đã được ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng của Cơ quan Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP tại Việt Nam, nêu lên trong cuộc phỏng vấn với VietNamNet “Không có một nước giàu nào trả tiền sở hữu trí tuệ khi họ bắt đầu kỹ nghệ hóa. Nhật Bản thì nhập khẩu và copy công nghệ của Đức. Hàn Quốc thì nhập và copy công nghệ của Nhật. Mỹ thì nổi tiếng là cóp ý tưởng của Anh khi mới lập quốc và bây giờ họ muốn các nước đang công nghiệp hóa phải trả tiền. Điều đó sẽ vô cùng đắt và ngăn cản Việt Nam tiếp cận công nghệ”. [3] Việt Nam hôm nay trong bước đầu của tiến trình kỹ nghệ hoá có vận dụng được nguồn đầu tư nước ngoài đang đổ vào khá thuận lợi hay không là một vấn đề hết sức quan trọng và lâu dài. Song vấn đề quan yếu trước mắt là khả năng thu hút đầu tư nước ngoài. Do đó, tìm hiểu vị thế của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh nguồn vốn nước ngoài và xu thế của nguồn vốn ấy là nội dung sẽ được bàn thảo trong phần kế tiếp.


    Vị thế của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI

    Kết quả của cuộc điều tra hàng năm do Tổ chức Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản - JETRO [4] công bố tháng 3 năm 2006, với sự tham gia của 966 công ty Nhật đang hoạt động tại 6 quốc gia thuộc khối ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam), Ấn Độ và Trung Quốc đã cho thấy vị thế của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

    Bảng đánh giá dưới đây so sánh các yếu tố thu hút đầu tư giữa Việt Nam với Trung Quốc và với sáu quốc gia ASEAN cộng Ấn Độ, lấy mốc điểm Trung Quốc = 0.0 làm điểm đối chiếu. Theo đó, điểm cộng (+) biểu hiện vị thế mạnh hơn và điểm (-) cho thấy mức độ yếu kém so với Trung Quốc. Những mặt trội nhất Việt Nam đạt được (màu xanh), cao hơn Trung Quốc lẫn ASEAN/Ấn Độ, bao gồm sự ổn định xã hội, độ biến động về tỷ giá hối đoái, và quản lý lao động. Những điểm kém nhất thấp hơn so với Trung Quốc và ASEAN/Ấn Độ (màu đỏ) gồm thủ tục hải quan, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trình độ chuyên viên nghiên cứu và kỹ sư, nhưng yếu kém nhất là ngành công nghệ phụ trợ và hạ tầng cơ sở. Nếu so sánh với từng quốc gia một, hạ tầng cơ sở Việt Nam mặc dù đã được cải thiện vẫn còn thua sút khá xa các quốc gia khác, chỉ hơn mỗi Ấn Độ. Về trình độ chuyên viên, yếu tố quan trọng cho công cuộc kỹ nghệ hoá và sự phát huy lâu dài như theo nghiên cứu UNCTAD, vị thế của Việt Nam cũng rất khiêm tốn, đặc biệt khi so với các quốc gia đang dẫn đầu về phương diện này như Singapore, Ấn Độ và Trung Quốc.




    Tiêu chí so sánh

    Ổn định chính trị xã hội

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):+ 48,0
    Việt Nam:+ 73,8

    Khả năng giao tiếp của nhân viên

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):+ 43,6
    Việt Nam: + 20,3

    Quy định đầu tư minh bạch

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ): 37,6
    Việt Nam: +6,9

    Hệ thống thuế

    Tổng cộng (Asean/Ấn Độ): +28,8
    Việt Nam:+ 7,0

    Cơ sở hạ tầng

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):+ 1,8
    Việt Nam: -74,6

    Quản lý lao động

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):+ 31,3
    Việt Nam:+ 48,3

    Trình độ chuyên viên nghiên cứu và kỹ sư

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):- 10,1
    Việt Nam:- 20,7

    Công nghiệp phụ trợ

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):- 31,1
    Việt Nam: -85,2


    Biến động tỷ giá hối đoái

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ):- 3,4
    Việt Nam: + 28,1

    Thủ tục hải quan

    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ): + 29,9
    Việt Nam: - 7,0

    Bảo vệ Quyền Sở hữu Trí tuệ (IPR)
    Tổng cộng (ASEAN/Ấn Độ): + 23,9
    Việt Nam: - 6,9

    Nguồn: JETRO




    Mặc khác, Việt Nam được đánh giá cao trên một số tiêu chí quan trọng khác như được xếp vị trí hạng 2 về địa điểm đầu tư tốt nhất trong 10 đến 15 năm tới, sau Thái Lan (1), kế đến Ấn Độ (3) và Trung Quốc (4). Và khi được thăm dò về địa điểm có chi phí sản xuất thấp nhất, các nhà đầu tư đã bình chọn Việt Nam với tỷ số cao nhất 56.1%, kế đến Ấn Độ 48.8%, và Philippines 40%. Tuy nhiên khi đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005 và triển vọng năm 2006, Việt Nam chỉ ở được đánh giá ngang tầm với các quốc gia khối ASEAN khác và thấp hơn Trung quốc đáng kể:


    Comparison criteria

    Dự đoán kinh doanh cải thiên năm 2005
    Total ASEAN: 48.5%
    China: 49.3%
    Việt Nam: 50%

    Dự đoán kinh doanh cải thiện năm 2006
    Total ASEAN: 47.5%
    China: 58.0%
    Việt Nam: 54.1%

    Dự đoán tình hình kinh doanh xấu đi năm 2005
    Total ASEAN:30.1%
    China: 31.8%
    Việt Nam: 30%

    Dự đoánh tình hình kinh doanh xấu đi năm 2006
    Total ASEAN: 19.1%
    China:9.9%
    Việt Nam: 17.6%

    Nguồn: JETRO



    Xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam

    Môi trường đầu tư của Việt Nam mặc dù vẫn còn nhiều mặt yếu so với các quốc gia trong vùng như kết quả điều tra cho thấy, song làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài những năm gần đây, đặc biệt từ hai quốc gia có nền kinh tế lớn nhất là Hoa Kỳ và Nhật Bản vào Việt Nam, bao gồm những khoản đầu tư qua trung gian quốc gia thứ ba, tiếp tục gia tăng và hai nước này đang trở thành những quốc gia dẫn đầu dòng vốn FDI vào Việt Nam.

    Cũng theo cuộc điều tra của JETRO nói trên, dưới mắt của các nhà đầu tư Nhật Bản, ngoài những lợi thế chính về chi phí sản xuất thấp và ổn định xã hội, Việt Nam “đang được xem là vùng đệm nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc quá mức đối với Trung Quốc và đồng thời cân bằng những rủi ro trên toàn khu vực”. Việt Nam đạt tỷ số cao nhất trong số những hãng xưởng dự định chuyển sự lựa chọn từ Trung Quốc sang Việt Nam trong kế hoạch mở rộng sản xuất (20.5%) hoặc trong dự đính chuyển dời một bộ phận sản xuất đang hoạt động tại Trung Quốc (6.8%) vì mối quan ngại “những rủi ro trong việc làm ăn tại Trung Quốc như ảnh hưởng của việc định giá lại đồng yuan hay phong trào bài Nhật xảy ra tháng 4, năm 2005”. Hai quốc gia có tỷ số kề cận trên hai phương diện này đạt tỷ số thấp hơn Việt Nam khá xa: Thái Lan 7.4% và Malaysia 3.1%.

    Xu hướng gia tăng dòng vốn FDI của Nhật vào Việt Nam cũng được Hisane Masaki nhà báo vùng Tokyo, nhà bình luận và học giả trên các lãnh vực kinh tế và chính trị quốc tế, phân tích trong bài báo “Các công ty Nhật Bản đã phải lòng Việt Nam” trên báo Asia Times, tháng 6 năm 2006 [5] . Theo Hisane, vào năm 2000, Việt Nam được các nhà đầu tư Nhật xếp hạng thứ 8 trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư, song vị trí này đã nâng lên thứ 4 năm 2005, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan. Riêng đối với các công ty vừa và nhỏ, Việt Nam là sự chọn thứ hai sau Trung Quốc.

    Thừa nhận Trung Quốc vẫn là quốc gia hấp dẫn FDI hàng đầu, nhưng Hisane cho rằng ưu thế ấy đang giảm dần vì “dưới áp lực của phương Tây và đặc biệt là Hoa Kỳ giá trị đồng yuan sẽ tăng dần trong trung và dài hạn gây ảnh hưởng bất lợi cho xuất cảng, chi phí lao động đang gia tăng, nguồn điện và nước thiếu hụt cho sản xuất đang trở thành một vấn đề nhức đầu cho các nhà đầu tư, những quan ngại về phản ứng chậm chạp của quốc gia này trước cơn dịch SARS và về các cuộc bạo động bài Nhật lan rộng khắp Trung Quốc tháng Tư năm 2005. Về Việt Nam, ngoài chi phí lao động thấp thường là yếu tố chính hấp dẫn các nhà đầu tư, Hisane còn đề cập đến những lợi thế khác như vị trí địa lý tiếp giáp với Trung Quốc, thị trường nội địa hứa hẹn với dân số 82 triệu, và là tiềm năng của nguồn cung ứng dầu mỏ cho Nhật Bản vốn là quốc gia rất nghèo về nguồn nhiên liệu. Tác giả cũng lưu ý rằng việc tính toán nguồn FDI của Nhật tại Việt Nam thường không bao gồm những khoản đầu tư qua quốc gia thứ ba, đặc biệt Hong Kong. Và hơn thế nữa, “Nhật Bản là quốc gia đầu tư hiệu quả nhất khi xét về tỷ lệ vốn thực hiện (4.5 tỷ USD) trên vốn được phê duyệt (6.2 tỷ USD) đạt 74% trong giai đoạn 1988-2005. Như vậy, trên cả hai chỉ số vốn thực hiện và tỷ lệ vốn thực hiện, Nhật Bản mới thực sự là quốc gia đầu tư lớn nhất tại Việt Nam tính đến năm 2005”.

    Khác với Nhật Bản, Hoa Kỳ thận trọng hơn khi đầu tư vào Việt Nam, khởi đầu chậm nhưng tăng nhanh những năm gần đây và đang trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu nguồn vốn FDI. Bản tường trình những tác động của Hiệp ước Thương mại Song phương (BTA) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp thực hiện, công bố tháng 2 năm 2006 [6] đã cho thấy rõ xu hướng này. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh vốn đầu tư thực hiện của Hoa Kỳ, tính cả đầu tư qua nước thứ 3, từ 2001-2004 tăng bình quân mỗi năm 29%. Đặc biệt hai năm 2003, 2004 vốn đầu tư Hoa Kỳ tăng khoảng gấp hai lần so với những năm trước đó. Tổng số vốn đầu tư của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1988-2004 sau khi được điều chỉnh đạt 2.6 tỷ USD, nguồn FDI đứng thứ 2 sau Nhật Bản năm 2003, và thứ nhất năm 2004. Trả lời báo chí tại Hà Nội hôm 13 tháng 12/2006, Đại sứ Hoa Kỳ Ông Michael Marin đã thông báo tổng số FDI của Hoa Kỳ đến nay đã vượt trên 4 tỷ USD, và tiên đoán FDI Hoa Kỳ cho riêng năm 2007 có thể đạt con số kỷ lục 4-5 tỷ USD.

    Xu hướng thứ hai là sự gia tăng FDI trên lãnh vực công nghệ thông tin. Theo nhận xét của Jonathan Hopner trong bài viết “Mọi con mắt đang đổ dồn vào Việt Nam” trên báo EETimes tháng 11 năm 2006 [7] , một tờ báo chuyên về công nghệ thông tin có tầm cỡ: “Trung Quốc có thể được mọi người nhắc tới khi đề cập đến thị trường và địa điểm sản xuất quan trọng, nhưng ngày càng có nhiều công ty công nghệ lớn đang theo dõi một tiềm năng mới - Việt Nam. Trước đây vốn FDI tư thường giới hạn trong hai lãnh vực nông nghiệp và dệt may, nhưng những đầu tư gần đây đã nhắm vào công nghệ cao như ngành viễn thông và con chip máy vi tính”. Cụ thể hơn, tác giả nêu ra dự án đầu tư một tỷ USD của Intel gần đây, sự hợp tác của công ty này với Texas Pacific Group mua lại một phần cổ phần quan trọng trị giá 36.5 triệu USD của FPT là công ty phần mềm lớn nhất của Việt Nam hiện có khoảng 900 lập trình viên, việc thiết lập quỹ đầu tư công nghệ thông tin và viễn thông 50 triệu USD của công ty đầu tư vốn VinaCapital và công ty Draper Fisher Jurveton đến từ thung lũng Silicon, và việc mở rộng cơ sở sản xuất ngành công nghệ thông tin của nhiều công ty lớn trên thế giới như Hewlett Packard Hoa Kỳ, Renesas and Nidec Nhật Bản, Allied Technologies Singapore và Sonion Denmark. “Khu vực sản xuất điện tử của Việt Nam tuy vẫn còn tương đối nhỏ nhưng tốc độ phát triển rất ấn tượng, kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử và phụ kiện máy vi tính năm 2005 đạt 1.8 tỷ USD, tăng 25% so với năm trước. Quốc gia này có một dân số trẻ, nhạy bén với các tiến triển kỹ thuật, với số Internet và điện thoại di động tăng nhanh hơn mức phát triển trung bình trên thế giới”.

    David Fullbrook, trong bài viết “Công nghệ Thông tin Việt Nam đang lên”, số tháng 12/2006 trên diễn đàn Asia Times, đã nêu lên con số 13.7 triệu (16.6%) dân số Việt Nam so với 7.08 triệu (8.75%) dân số Thái Lan hiện đang sử dụng thường xuyên Internet, và đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố con người Việt Nam khi trích lời Ernst, một chuyên gia về về vấn đề cải tiến và phát huy sáng kiến: “Các công ty cho biết họ đã trải qua những kinh nghiệm tốt đẹp tại Việt Nam. Dường như công việc ở đây trôi chảy hơn. Người Việt dễ đào tạo, có óc tiến thủ, và thường có nhiều sáng kiến trong công việc. Những lời ngợi khen này thường được nghe tại Việt Nam nhiều hơn ở nhiều quốc gia khác”. Ông David phân tích thêm: mặc dù trình độ học vấn sau bậc trung học của Việt Nam thấp hơn Thái Lan đáng kể, 10% so với 40%, nhưng “học sinh Việt Nam giỏi toán hơn, và đây chính là ưu thế khi bước vào lãnh vực công nghệ thông tin”.

    Theo phân tích của tờ báo Theage.com ở Australia qua bài viết “Good morning Vietnam, you have mail” [8] , số tháng 10 năm 2006, “chuyển biến của ngành thông tin Việt Nam đã bắt đầu với Nhật Bản, nhưng mãi đến khi Intel quyết định đầu tư vào Việt Nam thì các quốc gia khác mới mạnh dạn bước theo”. Trong vòng 5 năm qua, hơn một triệu máy vi tính (PC) đã bán ra và số chuyên viên tin học tăng gấp đôi lên khoảng 20 ngàn lập trình viên trong cùng thời kỳ, với số doanh nghiệp phần mềm khoảng 600 công ty. Vấn đề này cũng được Hisane Masak thảo luận trong bài viết “Các công ty Nhật Bản đã phải lòng Việt Nam”: “Những biến chuyển liên quan đến hoạt động của hai công ty khổng lồ Hoa Kỳ, Microsoft và Intel, được dư luận biết đến rộng rãi đã nâng cao sự chú ý của thế giới đến Việt Nam như một địa điểm hứa hẹn cho các hoạt động kinh doanh trong lãnh vực công nghệ cao. Mặt khác, từ năm 2004, Nhật và Việt Nam đã bắt đầu ký hiệp định hợp tác công nghệ thông tin, qua đó Nhật sẽ hỗ trợ chương trình đào tạo tại các đại học, cung ứng chuyên viên và trang bị cho Việt Nam. Quốc gia này đang nhanh chóng trở thành một trong những địa điểm lựa chọn hàng đầu của các công ty ngành công nghệ thông tin Nhật Bản trong dịch vụ gia công phần mềm ở nước ngoài (outsourcing), sau Ấn Độ và Trung Quốc”. Trong số những trường hợp điển hình của xu thế này được Hisane nêu ra là công ty dẫn đầu sản xuất phần mềm của Nhật Bản Cybozu đã hợp tác với một công ty Nhật khác, CS System, bắt đầu hoạt động tại Việt Nam tháng 6 năm 2006, công ty FPT đã hợp tác với công ty Nhật Bản thiết lập chi nhánh “FPT Software Japan” tháng 11/2006 nhằm thu hút dịch vụ gia công phần mềm của Nhật Bản, hiện đạt khoảng 3 tỷ USD mỗi năm.

    Mặc khác, hai vấn đề quan trọng các nhà đầu tư nước ngoài lẫn trong nước hiện đang phải đối đầu là: Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu trong danh sách các nước vi phạm bản quyền phần mềm và trình trạng khống chế của các doanh nghiệp nhà nước trong lãnh vực công nghệ thông tin.


    Nguồn ODA (Official Development Assistance) và thị trường chứng khoán

    ODA và thị trường chứng khoán là những nguồn vốn quan trọng khác thiển nghĩ cũng cần đề cập sơ lược qua một vài nét chính yếu. So với nguồn FDI có tổng số vốn phê duyệt trên vốn thực hiện tính đến cuối năm 2005 là 51/34 tỷ USD, nguồn ODA không kém xa phần quan trọng với tổng số vốn cam kết trên vốn giải ngân 32/15 tỷ USD, trong đó Nhật Bản đóng góp phần lớn nhất, chiếm khoảng 30%. Trái với tiên đoán cho rằng cam kết ODA cho năm 2007 sẽ giảm mạnh vì vụ tham nhũng rất tai tiếng PMU18, khoản cam kết 2007 tiếp tục gia tăng lên mức kỷ lục mới, 4.44 tỷ USD. Với ngân khoản rất lớn, ODA là nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế. Mặt khác, đến 90% của nguồn vốn này thuộc diện vay lãi suất thấp dài hạn, việc sử dụng thiếu hiệu quả ODA có thể dẫn tới hệ quả rất nghiêm trọng, làm gia tăng khoản nợ xấu của quốc gia.

    Những tín hiệu mới nhất cho thấy thị trường chứng khoán non trẻ với 6 năm tuổi của Việt Nam sau một thời gian dài giậm chân tại chỗ đã bắt đầu cất bước. Qui mô thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam rất nhỏ so với các nước láng giềng (TTCK Thái Lan 138 tỷ USD), nhưng phát triển nhanh và có tiềm năng vì vẫn còn nhiều công ty lớn kinh doanh hiệu quả trong các lãnh vực quan trọng như ngân hàng, viễn thông, bất động sản, và xây dựng chưa niêm yết. Năm 2004, TTCK Việt Nam chỉ có 22 cổ phiếu với mức vốn 144 triệu USD và dưới 1 tỷ USD vào cuối năm 2005. Theo con số ước tính mới nhất, cuối năm 2006 số cổ phiếu đã tăng lên 193 và tổng mức vốn đã vượt 10 tỷ USD.

    Với mức tăng trưởng cao và hoạt động ổn định dần, lần đầu tiên TTCK Việt Nam được các tờ báo lớn của phương Tây nhắc đến như là một trong những yếu tố tích cực của nền kinh tế Việt Nam. Trong bài “Thị trường chứng khoán Việt Nam đang rộ nở” [9] số tháng 4/2006, tờ Fortune đã nêu lên những nhân tố tác động vào các chuyển biến mới đây của TTCK Việt Nam như việc các công ty (cổ phần) Việt Nam đang bị đánh giá thấp hơn thực giá, mức phát triển kinh tế cao, những cải cách gần đây cho phép các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đến 49% cổ phiếu công ty, và những nỗ lực thúc đẩy việc niêm yết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa”. Hai yếu tố khác được Giáo sư Phan Minh Ngọc, Đại học Kyushu Nhật Bản, nêu lên trong một bài báo mới đây trên diễn đàn VNEconomy [10] là báo cáo rất lạc quan về TTCK Việt Nam hồi đầu năm 2006 của ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ Merrill-Lynch, và việc một số ngân hàng lớn nước ngoài như ANZ, Standard Chartered Bank, và HSBC mua lại cổ phiếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đến nay, có khoảng 30 quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam với số vốn khoảng 2 tỷ USD.

    Mặt khác, GS Ngọc cũng cảnh cáo “nguy cơ phát triển bong bóng” của chứng khoán Việt Nam vì những “nhà đầu tư amateur mù mờ” trong nước, trong trình trạng quản lý TTCK còn khá lỏng lẻo hiện nay.


    *
    Gia nhập WTO, Việt Nam đã gởi tín hiệu sẵn sàng chấp nhận một sân chơi bình đẳng theo luật chơi rạch ròi, và điều này đã củng cố niềm tin của các nhà đầu tư và các nhà tài trợ, dẫn đến sự tăng trưởng nguồn vốn đầu tư và viện trợ nước ngoài. Từ góc độ kinh doanh, các nhà đầu tư luôn nhắc nhở, để thành công trong việc xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, Việt Nam cần phải thể hiện mạnh mẽ hơn nữa trong nỗ lực tháo gỡ các rào cản: nạn tham nhũng lan tràn, thủ tục hành chính nhũng nhiễu, luật pháp thiếu hoàn chỉnh và việc thực thi còn tùy tiện - đặc biệt ở cấp địa phương, hạ tầng cơ sở yếu kém và đắt đỏ, và trình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng và chuyên viên. Từ quan điểm của nhà tài trợ, các tổ chức kinh tế tài chánh thế giới còn đi xa hơn khuyến cáo: nhằm đạt được mức phát triển kinh tế cao và bền vững, Việt Nam cần có một chiến lược phát triển nhất quán, thực hiện hiệu quả các chính sách quan yếu như khai thác hữu hiệu nguồn vốn nước ngoài và hội nhập quốc tế để mở rộng qui mô thị trường và tiếp cận công nghệ tiên tiến, đãi ngộ du học sinh trở về nước và xây dựng các trường đại học, viện nghiên cứu hiện đại có khả năng tiếp thu tri thức và kỹ thuật cao nhằm hỗ trợ tiến trình kỹ nghệ hóa, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt hỗ trợ sự hình thành của các doanh nghiệp tư nhân qui mô có khả năng thực hiện các cuộc nghiên cứu và phát triển lớn, các qui trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

    Con đường phát triển kinh tế Việt Nam hôm nay đang bước vào ngõ rẽ quan trọng. Việt Nam hoặc sẽ theo bước các quốc gia kỹ nghệ hoá thành công Đông Á? Hoặc sẽ là một Mexico thứ hai?

    12/2006

    © 2007 talawas



    [1]WTO, Economic Integration and Human Development: Technology Policy for Successful Industrialization
    [2]TRADE AND DEVELOPMENT REPORT 2006 - Global partnership and national policies for development
    [3]Đừng để Việt Nam thành Mexico thứ hai
    [4]JETRO Releases its Latest Survey of Japanese Manufacturers in ASEAN and India
    VN, first choice of Japanese investors in China
    [5]Japan Inc smitten by Vietnam
    [6]Hoa Kỳ trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam
    Impact of the Bilateral Trade Agreement on U.S. and Other Foreign Direct Investment in Vietnam
    [7]All eyes on Vietnam
    [8]Good morning Vietnam, you have mail
    [9]Vietnam's stock market is booming
    [10]Nguy cơ phát triển ‘bong bóng’ của chứng khoán Việt Nam
    Vì lý do kỹ thuật, sóng trăng không thể mang nguyên bảng biểu theo cách trình bày trên talawas vào đây được, nên đành thay đổi hình thức chút xiú, để giữ nguyên nội dung, xin tác giả tha lỗi.

    Các bạn có thể xem bài với các bảng biểu theo cách trình bày nguyên bản tại đây:

    [/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8937&rb=0502

    [/align]
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-22 00:41:25sóng trăng>
    .
    Việt Nam: Chặng Đường Hội Nhập Toàn Cầu
    Mai Thanh Truyết

     


    Biến cố tan rã của Liên Xô đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa Cọng sản quốc tế, chấm dứt tình trạng đối đầu lưỡng cực giữa khối Tự do và khối Cọng sản; từ đó đưa đến sự hình thành một khuynh hướng chung của thế giới, mệnh danh là “toàn cầu hóa”. Khuynh hướng nầy được xem như là một sinh lộ tất yếu của các nước đang phát triển và đặc biệt là các quốc gia đã một thời đặt mình thuộc khối Cọng sản quốc tế, nếu muốn tồn tại và phát triển trong tình hình mới.

    Sự toàn cầu hóa bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, và được chú ý nhiều nhất là lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau cùng nầy, nhu cầu toàn cầu hóa bao gồm sự hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế quốc tế thông qua thương mại, đầu tư ngoại quốc qua những công ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng vốn ngắn hạn, lưu lượng công nhân quốc tế, lưu lượng công nghệ trao đổi, v.v...

    Riêng đối với nước Việt Nam, kể từ sau ngày 30/4/1975, Việt Nam có thể được xem như hoàn toàn thống nhất về phương diện chính trị, địa dư, và xã hội. Lãnh thổ Việt Nam được đảng Cọng sản thu về một mối, được toàn trị do một Trung ương đảng gồm 160 Ủy viên chính thức, 21 Ủy viên dự khuyết, và 14 Ủy viên Bộ chính trị, tổng cộng 195 bộ óc “ưu việt” Việt Nam điều hành tất cả mọi sinh hoạt của 84,7 triệu dân (thống kê tháng 5/2006).

    Đứng về phương diện phát triển kinh tế và xã hội trong 10 năm đầu tiên sau 1975, hầu như tất cả mọi người trong và ngoài nước đều đồng ý rằng đây là sự thất bại hoàn toàn của một chính sách kinh tế tập trung. Đây là một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam, ngay cả so với thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Mọi sinh hoạt đều bị đình trê, nhiều vùng bị nạn đói đe dọa thường xuyên dù trước đây là vùng lương thực cho cả nước như Đồng bằng sông Cửu Long. Giáo dục, y tế công cộng hoàn toàn bị bỏ ngõ...

    Đứng trước nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986, một chính sách kinh tế mở được khơi mào dưới chiêu bài “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nửa vời, người dân bắt đầu được nới lỏng hơn trong vòng kềm kẹp, nông dân được cấp quyền xử dụng mảnh đất của mình dù là tạm bợ để tự khai thác và tự cứu vãn đời sống kinh tế của gia đình. Những năm tiếp theo sau đó, nguy cơ vẫn còn đầy rẫy khắp nơi, tình trạng xã hội và kinh tế chung vẫn còn nhiều gập ghềnh, chập chững trên bước đường phát triển và hội nhập vào thế giới bên ngoài.

    Từ sau ngày “giải phóng” cho đến năm 1986, cả nước vẫn còn cùng ôm nhau với những tem phiếu qua câu sấm truyến vẫn còn tồn đọng đến ngày hôm nay. Đó là:

    -          Gạo vừa 13 ký, suốt tháng cháo thừa, cơm thiếu, quanh năm no cậy nước;
    -          Vải vừa 4 nghìn ly, suốt ngày quần thiếu, khố thừa, cả đời ấm nhờ da.

    Nhưng mãi đến tháng 12 năm 2001, khi Hiệp ước Thương mãi hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành hình (US-VietNam Bilateral Trade Agreement), kinh tế Việt Nam tương đối hồi sinh và có thể nói đây là bước mở đầu tiên của VN trên tiến trình hội nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

    Cũng cần nói thêm về những thông tin trao đổi kinh tế hai chiều giữa VN và HK trong giai đoạn trước đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không xuất cảng hàng hóa vào nội địa HK; ngược lại, VN nhập cảng 7 triệu Mỹ kim thiết bị từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng thống Clinton, HK, đã ra quyết định bãi bỏ lịnh cấm vận thương mại cho VN; kể từ đó, VN bắt đầu tăng dần việc xuất cảng sang HK lên đến trị giá 50,5 triệu cho năm nầy.

    Bảy năm sau khi hiệp ước trao đổi hai chiều ký kết, hàng hóa VN gồm thực phẩm, hàng may mặc, dầu thô, giày da, sản phẩm gỗ nội thất ồ ạt vào thị trường HK, và lượng hàng hóa tiếp tục tăng mãi, từ 1 tỷ Mỹ kim năm 2001, lên đến 5,9 tỷ, năm 2005. Ngược lại, HK chỉ xuất cảng độ 1,2 tỷ vào VN trong năm 2005, gồm dụng cụ y khoa, máy móc kỹ thuật và dụng cụ hàng không.

    Đây cũng là những chỉ dấu ban đầu cho VN lần lần thực hiện tiến trình gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Và Việt Nam đã chính thức được chấp thuận gia nhập vào cuộc chơi toàn cầu nầy vào ngày 7 tháng 11 năm 2006. Bài viết nầy có mục đích phân tích một số thách thức cùng những yếu tố Việt Nam cần phải lưu ý trước tiến trình thực hiện và tuân thủ các quy định trong WTO.

    Tổ chức Thương mại Thế giới

    Tổ chức Thương mại Thế giới hay World Trade Organization (WTO), có trụ sở đặt tại Thụy Sĩ đã được thành lập chính thức vào ngày 1/1/1995 do các quốc gia thành viện ký tại thành phố Marrakesh, Marocco. Tính đến nay, Tổ chức nầy tập hợp được 149 quốc gia thành viên nhắm vào những mục tiêu sau đây:

    -          Quy định những căn bản pháp lý làm nền tảng cho mọi trao đổi thương mãi quốc tế;

    -          Tổ chức là diễn đàn đàm phán, thỏa thuận, thương lượng về tất cả mọi dịch vụ thương mại giữa các quốc gia thành viên.

    Cũng từ ngày 1/1/1995, VN đã nộp đơn xin gia nhập vào tổ chức trên và trở thành quan sát viên của tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đã được thành lập và có nhiệm vụ cứu xét đơn xin gia nhập của VN.

    Tính đến nay, VN đã trả lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và đã kết thúc đàm phán song phương với 21 quốc gia.

    Đối với HK, văn kiện chính thức giữa hai bên đã được ký kết vào ngày 31/5/2006 về những thỏa thuận trên nguyên tắc về khả năng tiếp cận thị trường song phương; từ đó sẽ giúp hai bên tái lập hàng rào thuế quan cho những mặt hàng kỹ nghệ và nông phẩm, cùng dịch vụ.

    Kết quả là hàng hóa xuất cảng từ HK vào VN như trang thiết bị xây dựng, dược phẩm, phi cơ và các bộ phận rời bảo trì sẽ chịu thuế xuất là 15% hay ít hơn. Về dịch vụ, VN cũng đã cam kết mở cửa một số lãnh vực cấm kỵ từ trước như viễn thông và viễn thông vệ tinh, lãnh vực tài chính, ngân hàng, và năng lượng cho HK nhúng tay vào.

    Một khi đã vào WTO, VN cần phải tuân thủ những tính chất pháp trị như: 1- giải quyết tranh chấp; 2- giảm bớt vai trò của mậu dịch quốc doanh; 3- hủy bỏ những giới hạn nhập cảng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua quyền thương mại; 4- hủy bỏ những quy chế kinh tế phi thị trường. Ngược lại, HK sẽ áp dụng kinh tế phi thị trường trong các vụ kiện chống phá giá cho đến khi VN ra khỏi nền kinh tế phi thị trường. Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy là 12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau cùng, VN phải tuân thủ quy tắc và luật bảo vệ sở hữu trí tuệ.

    Để có một khái niệm về kết quả của việc gia nhập vào WTO trong những năm vừa qua của các quốc gia thành viên, một số báo cáo sau đây cho thấy khuynh hướng cũng như thành quả của WTO ngày càng bị thu hẹp lại. Vào năm 2003, trong kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra những số liệu về thương mại toàn cầu qua dịch vụ trao đổi trên thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539 tỷ nằm trong các sinh hoạt giữa các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho thấy lợi ích của WTO giảm xuống còn 287 tỷ cho thế giới, trong đó chỉ còn 90 tỷ trao đổi giữa các quốc gia đang phát triển dù số thành viên của các quốc gia nầy dự phần vào 90% tổng số thương mại toàn cầu.

    Những khía cạnh thực tế

    Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức được chấp thuận  vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như vào cuối tháng 11/2006 vừa qua, quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn các điều luật trên. Việt Nam đã chính thức nhập cuộc rồi.

    Vấn đề nơi đây là cần ghi nhận đứng đắn nội lực thực tế của VN đứng trước vận hội mới này, nghĩa là VN trao đổi, xuất cảng ra thế giới bên ngoài những gì? Và ngược lại phải nhập cảng từ ngoại quốc những sản phẩm nào? Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có thể hình dung được thế mạnh và yếu của VN trong tương lai. Từ đó, có thể dự phóng được một viễn ảnh cho đời sống người dân trong những ngày hậu WTO.

    Tính đến ngày hôm nay, VN đã xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới một số lượng đáng kể về trọng lượng, nhưng ngược lại thu hồi một số ngoại tệ không đáng kể so với lượng hàng bán ra. Đó là nông phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt hàng gia công như quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô và một số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.

    Ngược lại, VN phải nhập cảng xăng dầu và nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, hóa chất, phân bón, thực phẩm “cao cấp” như thịt gà, bò, năng lượng, viễn thông, ngân hàng... Đây là những mặt hàng nhẹ về cân lượng nhưng cần phải chi ra một số lớn ngoại tệ. Do đó, VN luôn luôn đối mặt với sự thâm thủng ngân sách cho ngoại thương từ trước đến nay.

    Thêm nữa, những mặt hàng xuất cảng của VN chỉ để giải quyết cuộc sống của hàng triệu nông dân hay công nhân với mức lương tối thiểu - trong khi đó cuộc sống của nông dân và công nhân VN ngày càng tệ hại hơn, mặc dù VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng năm. Lấy thí dụ về ngành may mặc hiện tại. Một công nhân Việt Nam làm việc 12 giờ/ngày, sáu ngày/tuần lãnh được từ 600 đến 800 ngàn Đồng VN/tháng, tương đương 37 đến 50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một thợ may Việt Nam tại Mỹ làm việc tám giờ/ngày với mức lương tối thiểu quy định là 7,75 Mỹ kim/giờ, tức 62 US$/ngày, hơn xa một tháng lương của một công nhân cùng ngành tại VN.

    Tại thị trường nội địa, hiện tại VN đang làm chủ vì lợi thế sân nhà, và một số ngành nghề còn độc quyền và không cho người ngoại quốc tham dự. Do đó, mức cạnh tranh chưa hề được đặt ra, và nếu có, chỉ là những cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh trong nước mà thôi.

    Một khi cánh cửa WTO mở toang, VN sẽ không còn lý do nào để cấm đoán ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa của VN. Từ đó, mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc chắn về phần doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến mãi, và thị hiếu của người tiêu dùng VN.

    Xin đan cử một thí dụ điển hình qua hình thức thương mại đơn giản nhất là hệ thống “siêu thị”: Siêu thị Walmart (Hoa Kỳ) có mức doanh thu gấp 5-6 lần tổng sản lượng của VN, có thể tiêu diệt các siêu thị nội địa trong cung cách thu mua với giá rẻ hơn vì họ có thể chấp nhận không lời, hoặc lỗ trong thời gian đầu vì có nhiều tiền vốn. Thêm nữa, họ có khả năng nhập thực phẩm và hàng hóa từ ngoại quốc vào - điều trên đây càng nguy hiểm hơn vì nó có thể giết chết nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa của người dân. Một lợi thế nữa của các siêu thị ngoại quốc là dịch vụ thanh toán thường chỉ giải quyết sau 90 ngày nhận hàng, chính điều này khiến cho những nhà cung cấp VN sẽ không còn khả năng tài chính để trả nợ cho ngân hàng sau mỗi thời vụ.

    Trước mắt, chúng ta thấy rõ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây đang đi dần vào chỗ bế tắc:

    -          Kỹ nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản vì không cạnh tranh được so với đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất tốt hơn và giá rẻ hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của nông dân trồng mía.
    -          Chăn nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng trước cơn phá sản do kỹ thuật chăn nuôi còn nhiều khiếm khuyết. Từ đó, việc nhập cảng cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là một dịch vụ đem nhiều lợi nhuận lớn lao. Vì cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẻ $0.2/bls (vì người Mỹ không thích ăn), khi nhập vào VN có thể bán ra $1,5/kg
    -          Các kỹ nghệ đơn giản khác như xe đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội thất sẽ không còn khả năng cạnh tranh với hàng TQ nếu chưa nói đến các nhà sản xuất lớn như ở HK, Pháp, Ý... Những mặt hàng rất bắt mắt và được người VN ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lý ưa chuộng hàng ngoại quốc của người VN sẽ giết chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi chung. Và mặt trái của WTO có thể biến VN thành một thị trường tiêu thụ của quốc tế hơn là một thị trường sản xuất.

    Một số rào cản VN đang đối mặt trước ngưỡng cửa WTO được tiếp tục trình bày sau đây cũng là những gợi ý mà VN cần lưu tâm. Đó là những cản ngại của khu vực quốc doanh, ngành ngân hàng, khả năng vận chuyển đường biển, ngành viễn thông di động và một số phản ứng tâm lý của người dân VN trước tiến trình toàn cầu hóa.

    Cản ngại của khu vực quốc doanh

    Một trong nhiều yêu cầu để VN gia nhập vào WTO là VN phải minh bạch trong việc kiểm toán chi thu của quốc gia. Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử đảng, CSVN đã đưa ra bản báo cáo từng phần  ngân sách nhà nước năm 2005. Theo đó, riêng trong lãnh vực quốc doanh, 19 tổng công ty và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc, cho thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa đến việc thua lỗ và công ty quốc doanh đã làm kinh tế theo một chính sách “phi kinh tế”. Sau đây là vài con số thua lỗ cũa các công ty quốc doanh trong năm 2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng; ngành giấy lỗ 199 tỷ Đồng; ngành lương thực lỗ 183 tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương đương 60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ của 16 doanh nghiệp các ngành kể trên là 47,000 tỷ đồng, tương đương với 80% tổng tài sản của các công ty. Do đó, những công ty trên hoàn toàn không còn khả năng thanh toán phần nợ và lỗ lã.
      
    Hiện tại, con số các công ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa (tức tư nhân hóa)  là 3.830. Trong đó vốn nhà nước là 49%, công nhân viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ lệ và thành phần cổ đông như trên, thì trách nhiệm hay linh hồn của công ty vẫn là nhà nước hay quốc doanh mà thôi. Và đối với việc kinh doanh lỗ lã trên, nhà nước VN lại phải gánh chịu hay “Đất nước VN” qua hơn 84 triệu dân, phải cật lực lao động để trả nợ? Và một khi đã “giải tư” theo cung cách vừa kể, công ty tư doanh  cổ phần sẽ thuộc về ai? và ai sẽ chịu trách nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa để thỏa mãn yêu cầu của những luật định WTO, vô hình chung, VN đã biến các công ty quốc doanh thành một loại công ty dưới cơ chế bao cấp khác.

    Ngoài ra, đừng quên rằng, đã từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ chế làm kinh tế bao cấp đã đưa đất nước vào ngõ cụt. Có thể nói nhận định gần đây của ông Đào Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng hiện tại, đã nói lên một cách rốt ráo vấn đề nầy: “Trong hơn 10 năm qua, song song với vịệc tư doanh đổi mới và tăng trưởng thành công, khu vực kinh tế nhà nước trên thực tế đã trở lại cơ chế cũ tập trung quan liêu - bao cấp, có khác chăng là trong nền kinh tế thị trường “bao cấp hiện vật” chuyển thành “bao cấp tài chính””. Và cơ chế bao cấp này cũng chính là một hình thức của cơ chế xin – cho, đã trở thành miếng đất màu mỡ cho nạn tham nhũng lộng hành trong khu vực nhà nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở đến các cấp cao nhất của chính quyền”.

    Như vậy, VN làm thế nào và bằng cách nào để thực hiện được lời Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng mới vừa tuyên bố là trong vòng 5 năm tới, VN bảo đảm cổ phần hóa 100% doanh nghiệp quốc doanh?

    Cản ngại của ngành ngân hàng

    Cũng theo quy định của WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp nhận dịch vụ ngân hàng  ngoại quốc trong giai đoạn chuyển tiếp (năm năm sau khi gia nhập) có thể đầu tư tối đa 30% tổng  số vốn của ngân hàng. Một khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào có thể mua cổ phần còn lại (tức 70%) của một ngân hàng ngoại quốc, vốn dĩ có nguồn vốn lớn và bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard currency), trong lúc đó tư nhân, hay tập thể tư nhân VN chỉ có khả năng đóng góp bằng những số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như chuyển hóa cơ sở vật chất thành tiền. Từ đó, dù công ty ngoại quốc không chiếm đa số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng khuynh đảo thị trường bằng những thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn này.

    Trở lại các Công ty ngân hàng VN, một trong những lý do các doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay, là việc nhà nước tiếp tục bơm tiền bù lỗ thông qua các ngân hàng quốc doanh. Hay nói cách khác, các ngân hàng phải chịu sức ép từ nhà nước, bị bắt buộc tiếp tục cho công ty quốc doanh vay căn cứ theo chủ trương chính trị hơn là căn cứ theo tình trạng kinh tế. Và sau cùng, ngân hàng được nhà nước tái cấp thêm những ngân khoản bổ sung. Đó là trường hợp của bốn ngành Ngân hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển. Do đo, việc cổ phần hóa ngân hàng quốc doanh hoàn toàn bế tắc, và việc chuyển doanh nghiệp quốc doanh sang chế độ hoạt động của một công ty trách nhiệm hữu hạn là một việc làm không tưởng, ít ra trong những năm sắp tới.

    Cản ngại về khả năng chuyển vận hàng hóa

    Việc gia nhập vào WTO đòi hỏi quốc gia thành viên phải có tiềm lực về chuyển vận hàng hóa hai chiều. VN đã chuẩn bị vấn đề này như thế nào? Các thông tin dưới đây tương đối đầy đủ để mô tả tình trạng vận chuyển đường biển của VN.
     
    Chỉ bốn ngày sau khi được bãi bỏ cấm vận năm 1994, công ty chuyển vận hàng hóa APL, Hoa kỳ đã bắt đầu hoạt động trở lại cho các tuyến đường Mỹ – Việt Nam. Đây là một đại công ty trong dịch vụ chuyển vận trên 50 quốc gia. Từ năm 2004, APL đã thành lập thêm hai chi nhánh là Vietnam China Express (VCX) và Haiphong China Express (HCX). Những dịch vụ này đã rút ngắn thời gian vận chuyển trong những năm trở lại đây: Từ Sài Gòn đến Seattle chỉ còn 15 ngày, và Sài Gòn đến Los Angeles là 17 ngày. Còn Hải Phòng đến Seattle và Los Angeles là 13 và 15 ngày. Ưu điểm này đã làm giảm giá thành và tăng thêm lượng hàng hóa giao thông do việc gia tăng lượng chuyển vận đi - về.

    Trong khi đó, tình trạng vận tải đường biển của VN hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu vận chuyển viễn liên này. Theo thống kê, VN có trên 1000 tàu với tổng trọng tải khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300 tàu hoạt động trên các tuyến đường quốc tế trong khu vực. Các tàu vận chuyển VN có trọng tải dưới 20,000 tấn, cho nên không có khả năng giải quyết mức trao đổi hàng hóa đường biển. Và bất lợi hơn nữa là giá thành vận chuyển cao và vòng xoay đi - về không đạt hiệu quả kinh tế.

    Theo thống kê 2005, đội tàu VN chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng hóa hai chiều mà thôi. Trong lúc đó những nước nhỏ láng giềng như Singapore chỉ có khoảng 900 tàu nhưng tổng trọng tải lên đến 36,5 triệu tấn. Thậm chí, đội tàu của Campuchia đã chuyển vận gần 5 triệu tấn, hơn VN hàng triệu tấn. Do đó, ngay tại sân nhà, đội tàu VN đã bị lấn áp bởi các công ty ngoại quốc như Maersk line, NYK, P&O trong dịch vụ chuyển vận dầu thô và hàng hóa trong vùng.

    Những thông tin trên cho thấy rằng VN còn phải đối mặt với nhiều sức ép sau khi gia nhập vào WTO, và nếu không có kế hoạch tạo dựng một lực lượng tàu với trọng tải lớn hơn, huấn luyện nhân viên quản trị chuyển vận, cùng điều chỉnh và canh tân hệ thống quản lý điều hành, thì cuộc chạy đua cạnh tranh với quốc tế sẽ thấy VN ở thứ hạng thấp nhất.

    Cản ngại của ngành viễn thông và điện thoại di động

    Đây là một ngành tương đối mới ở VN mà trong những năm gần đây mức tăng trưởng của việc xử dụng điện thoại di động tăng từ 60 đến 70% hàng năm. Tính đến 2005, tổng số điện thoại di động thuê bao ở cả nước đạt được 12 triệu. Chính vì lý do đó, các hãng điện thoại ngoại quốc như Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor và Lucient Technologies đã khai thác và ráo riết cung cấp dịch vụ ở VN. Trong lúc đó, VN chỉ hiện diện qua năm công ty quốc doanh mạng di động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile, S-fone, E-mobile đang hoạt động, và một công ty mới sắp ra mắt là Hanoi Telecom.

    Đứng trước sự xâm nhập của các đại công ty ngoại quốc, từ tháng 1 năm 2006 vừa qua, các công ty VN đồng loạt hạ giá cước, do đó cước viễn thông của VN giảm dần và đang ở mức giá trung bình tại ĐNA, không còn đứng đầu như cách đây năm năm. VN cũng đã dự trù vào 2008 sẽ phóng vệ tinh VINASAT, từ đó sẽ tạo cơ hội cạnh tranh nhiều hơn với các công ty nước ngoài. Và VN cũng dự trù cổ phần hóa (tư nhân hóa)  các công ty trên để có thể hội nhập vào thị trường chứng khoán tự do.

    Nhờ vào những lợi điểm trên sân nhà, VN đã đẩy mạnh chương trình viễn thông di động, tuy nhiên với nguồn vốn không đủ lớn, sau khi hội nhập cuộc chơi WTO, các công ty ngoại quốc có thể khai thác sức mạnh nguồn vốn để thôn tính các công ty VN qua các điều kiện thuận lợi trong thị trường VN, mặc dù trong giai đoạn chuyển tiếp, các công ty nước ngoài chỉ được đóng góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác VN đã được cấp giấy phép.

    Hơn nữa, ngoài khả năng nguồn vốn, công ty ngoại quốc còn ở thế mạnh về công nghệ sản xuất và cung cách khuyến mãi theo cung cách tư bản làm cho công ty VN khó có khả năng đối đầu ở mặt trận nầy. Tuy nhiên, VN cũng có thể dùng thời gian còn đặc ân 12 năm để làm rào cản hạn chế bớt sự xâm nhập của các công ty viễn thông ngoại quốc vào VN.
     
    Cũng cần lưu ý là, hiện tại VN chú trọng nhiều đến viễn thông di động, nhưng không phát triển viễn thông “cố định”, tức là điện thoại dùng hệ thống dây cáp quang để có thể liên lạc và thông tin khi có biến động xảy ra như chiến tranh hay áp lực của thế giới tây phương. Vì còn lệ thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ động được việc điều hành vệ tinh viễn thông, cho nên viễn thông di động VN có thể bị gián đoạn, vì các công ty cho thuê bao vệ tinh viễn thông có thể cắt đứt hợp đồng trước sức ép của quốc tế (!) để gây khó khăn cho VN.

    Cản ngại do tâm lý dân tộc trước tiến trình toàn cầu hóa

    T.S Branco Milanovic, kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra nhận định cần suy gẫm. Đó là “Toàn cầu hóa đã làm tăng thêm sự bất bình đẳng giữa công dân của những nước giàu nhất cũng như giữa các quốc gia đang phát triển”. Lý do làm ông đưa ra nhận định trên là những phản ứng trái ngược từ phía các quốc gia kỹ nghệ và những nước đang phát triển đối diện với sự phất triển của Ấn Độ và Trung Quốc.
    Đó là:

    -          Các cường quốc trong WTO “khó chịu” trước nhũng bước tiến của Trung Quốc và Ấn Độ, dù họ cũng thực hiện cùng một chiến lược toàn cầu hóa do các cường quốc khơi mào.

    -          Trung Quốc và Ấn Độ hiện có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, nhưng chỉ có một phần nhỏ dân cư của họ có cuộc sống phồn vinh. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa dân thành thị và nông thôn, giữa miền duyên hải và nội địa ở Trung Quốc; những bất ổn chính trị cũng có thể tự đó mà có.

    Tại VN, sau hơn 20 năm mở cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng trưởng đạt chỉ tiêu từ 7% trở lên, VN phải đối mặt với tình trạng môi trường hầu như bế tắc qua việc tận dụng nguồn tài nguyên đất đai trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt.

    Việc phát triển và xuất cảng hàng năm 5 triệu tấn gạo, thu hồi 1,5 tỷ Mỹ kim, cũng như việc xuất cảng hải sản thu hồi trên 5 tỷ, có đem lại sự phồn vinh hay cải thiện cuộc sống của người dân Đồng Bằng Sông Cửu Long hay không? Nhìn vào mức di dân từ vùng này vào các thành phố lớn, nhìn vào tệ trạng học sinh bỏ học hàng loạt trong những năm gần đây, nhìn vào việc chấp nhận “làm dâu” người ngoại quốc của các thiếu nữ miền Tây, nhìn vào tất cả những hình thái tệ hại nhất trong việc buôn người, bán trẻ con... chúng ta cũng đã có thể hình dung câu trả lời.

    Thêm nữa, việc khai thác quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến mhững thảm họa không xa. LHQ mới vừa cảnh giác, nếu VN tiếp tục khai thác như những năm vừa qua, thì trong vòng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất bị sa mạc hóa.

    Đây cũng là nguyên nhân dự báo trước khiến cho tâm lý người dân ở những vùng nông nghiệp, vùng sâu và xa càng thêm tuyệt vọng và ngày càng đánh mất lòng tự trọng để làm bất cứ việc gì chỉ vì kế “mưu sinh”. Chính họ đã xem nhẹ số phận của chính mình và không còn niềm tin vào chính sách của nhà nước nữa. Tâm lý trên đã tạo ra một thái độ bất cần đời, bất hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa, là có thể tạo ra những bất ổn xã hội vì “cơm áo”. Từ đó có thể đưa đến một bất ổn chính trị nếu có một sự khơi mào trong tầng lớp bần cùng này. Đây cũng là một cản ngại mà VN cần phải lưu tâm.

    Thay lời kết

    Sự phát triển xã hội của một quốc gia được đánh giá là bền vững khi tầng lớp trung lưu chiếm đa số như ở các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ. Và chính tầng lớp trung lưu nầy là tác nhân điều tiết mọi biến động kinh tế của quốc gia. Trong trường hợp VN, mặc dù mức tăng trưởng có đều nhưng đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng, và trong tình trạng hiện tại, tầng lớp trung lưu chỉ chiếm theo ước tính độ 30% chưa đủ để làm chất đệm cho xã hội. Chính hai yếu tố nầy nói lên cung cách phát triển kinh tế của VN là chưa bền vững được.

    Đồng thời với việc gia nhập vào ngưỡng cửa WTO, VN đã lên tiếng báo động là có thể có 600 ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ bị mất việc vì cạnh tranh. Vấn đề được đặt ra nơi đây không phải là những con số dương tính hay âm tính. Nhưng là, việc VN cần soi chiếu vào tình trạng hiện tại của quốc gia để hoạch định hướng hội nhập thích nghi với tiến trình toàn cầu hóa mà trong đó việc gia nhập vào WTO chỉ là một bước trong tiến trình trên.

    Qua những gợi ý về những cản ngại căn bản trên, việc gia nhập vào WTO của VN không phải là một yếu tố đòn bẩy chủ yếu tạo nên tăng trưởng kinh tế quốc gia. Điều cốt lõi là VN cần phải chuyển đổi não trạng, xác định rõ chính mức tăng trưởng kinh tế quốc gia mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng và thúc đẩy  quá trình hội nhập của VN để được thành công hơn. Đây mới đúng là mục tiêu tối hậu của việc hội nhập vào cuộc chơi của toàn cầu.

    Muốn đạt mục tiêu, VN cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng trong quản lý, nghĩa là tạo ra một xã hội pháp trị, quản lý bằng luật định của quốc hội chứ không bằng nghị quyết đến từ bất cứ nhân vật cao cấp nào trong đảng. VN cần phải bình đẳng và công bằng trong mọi quyết định về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong vấn đề quản lý kinh tế và kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư nguồn vốn và chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia chung. Đặc biệt là cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn Chuyên, vì đây mới đích thực là một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất nước.

    Làm được như thế, VN sẽ giảm bớt gánh nặng phá sản của các công ty quốc doanh, kéo theo mức thâm thủng của ngân hàng qua những món nợ “xấu”. Hai yếu tố sau nầy là nguyên nhân chính của tình trạng tham nhũng trong nước.

    Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) đã nhận định rằng, qua tám năm thi hành “quy chế dân chủ cơ sở”, VN vẫn không thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh mà bị nhiễm bởi “chủ nghĩa hình thức” và môi trường dân chủ của VN là một “môi trường bất thường” vì chế độ độc đảng.

    Suy gẫm lại đúc kết của Chương trình Phát triển LHQ, chúng ta có thể thấy được những nguyên do của sự trì trệ trong phát triển Việt Nam từ bây giờ để từ đó, hy vọng có những chuyển đổi tích cực hơn trên đường áp dụng các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

    Mai Thanh Truyết
    Tết Đinh Hợi - 2007



    http://www.canh-en.de/index.php?id=123&tx_mininews_pi1
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-25 00:10:22sóng trăng>
    .
     
    Vietnamnet:
     AMCHAM: Thị trường chứng khoán VN "thăng hoa thiếu cơ sở"


    22:31' 24/01/2007 (GMT+7) 
     

    Phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AMCHAM) vừa đăng tải trên website của họ bài viết về thị trường chứng khoán Việt Nam "thăng hoa thiếu cơ sở". Mục đích của AMCHAM cốt để khuyến cáo giới đầu tư rằng các tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam thấy cổ phiếu Việt Nam đang sốt ở mức không bình thường.

    &gt;&gt;&gt; 24/1: Ủy ban Chứng khoán ra tay - thị trường hạ sốt

    Kinh tế gia chuyên về lĩnh vực tài chính của Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, ông Noritaka Akematsu, được trích lời, nói rằng "hiện đang có sự phấn khích quá mức vượt quá khuôn khổ của thị trường, vượt quá sự kiểm soát của cơ quan điều tiết vào thời điểm này.

    Nhà chức trách Việt Nam không thể đảm bảo báo cáo kinh doanh của các công ty niêm yết là hoàn toàn chính xác, các giao dịch buôn bán chứng khoán được thực hiện theo đúng chuẩn mực". Ông khuyến cáo giới đầu tư nên cẩn trọng.

    Ông David Knapp, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ cho rằng, sự thiếu vắng tính minh bạch và chuẩn mực quốc tế trong báo cáo tài chính của các công ty có nghĩa là người ta khó thực hiện việc phân tích năng lực thực sự của các công ty niêm yết.

    Giới phân tích tài chính và chứng khoán tại Hà Nội cho rằng khác với giới đầu tư vào cổ phiếu ở thị trường chứng khoán ở nước ngoài, đa số người mua chứng khoán tại Việt Nam không sử dụng các công ty nghiên cứu thực trạng của công ty niêm yết mà mua chứng khoán theo kiểu "mua bán theo cảm tính".

    Số liệu cho thấy hiện có khoảng 1700 nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Theo ông David Knapp, các nhà đầu tư mà ông gọi là các ông lớn đã có kinh nghiệm về biến động của thị trường và khi thị trường điều chỉnh cho đúng giá thực của cổ phiếu, người thiệt thường là các nhà đầu tư cá nhân.

    Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: "Chúng tôi không nói rằng quá trình này sẽ xảy ra mà chỉ muốn nói rằng đây là một trong những thực tế mà các nhà đầu tư cá nhân nên để tâm tới. Tôi cũng khuyến cáo với các nhà đầu tư rằng hiện nay giá chứng khoán Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực. Thế nhưng nếu cứ nghĩ rằng mua là được thì đó cũng là điều khá nguy hiểm bởi sẽ tới thời điểm thị trường sẽ điều chỉnh ở mức nào đó".

    "Đầu tư tại Việt Nam không thể là bài toán ngắn hạn và tôi cũng như các khách hàng của chúng tôi thấy đầu tư dài hạn mới là đầu tư có lợi và vững vàng nhất. Là nhà đầu tư tìm kiếm môi trường tương đối ổn định, có tiềm năng về dài hạn và tôi tìm thấy những điều đó ở Việt Nam".

    Thế nhưng tìm được sự ổn định trong các biến động tài chính không phải là điều dễ dàng và cũng như bất kỳ hình thức đầu tư nào thì đầu tư vào chứng khoán cũng có yếu tố khó định lượng được, đó là rủi ro.

    (TTXVN)
    http://www.vietnamnet.vn/kinhte/taichinh/2007/01/657341/
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-26 17:39:03sóng trăng>
    .

    Luật sư Việt Nam cần sớm học luật quốc tế
      


    09:13' 25/01/2007 (GMT+7)

    (VietNamNet) - Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc giới luật sư quốc tế sẽ đổ vào Việt Nam nhiều hơn. Song, nguyên Chủ tịch Hội Luật sư Anh và xứ Wales Edward Nally cho rằng, pháp luật trong nước gần như là lĩnh vực dành cho luật sư địa phương. 
     
    Ông Edward Nally đến Việt Nam trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật Việt Nam - châu Âu, do Bộ Tư pháp, Hội đồng Anh, Hội Luật sư Anh và xứ Wales phối hợp tổ chức. Một số chuyên gia pháp luật khác của châu Âu cũng đến Hà Nội dịp này để tham gia Hội thảo về xây dựng Bộ Quy tắc nghề nghiệp mới cho luật sư Việt Nam. 


     
    Ông Edward Nally tại cuộc họp báo về Tuần lễ Luật pháp VN - châu Âu. (Ảnh H.Y)


    Nguyên Chủ tịch Hội Luật sư Anh và xứ Wales Edward Nally đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh việc cần chuẩn bị gì khi Việt Nam bước vào sân chơi WTO.

    Ông Nguyễn Văn Thảo, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp), cho biết, ở Việt Nam, ý thức pháp luật của người dân còn thấp và DN không có thói quen sử dụng luật sư. Bộ Tư pháp đã thành lập Câu lạc bộ Pháp chế DN để các luật sư và doanh nhân gặp gỡ, trao đổi định kỳ. Luật Luật sư mới được QH thông qua cũng cho phép luật sư hành nghề tự do và họ quyền tiếp cận trực tiếp với DN.

    Liên quan đến Quy chuẩn nghề nghiệp luật sư, ông Thảo nói rằng, quy chuẩn này do tổ chức nghề nghiệp luật sư toàn quốc ban hành, sẽ lấy ý kiến của tất cả các luật sư trong cả nước. 


    [/align]- Thưa ông, vào WTO, áp lực cạnh tranh của các luật sư Việt Nam có lớn không? Họ cần phải có những tố chất gì để có thể cạnh tranh được? 

    - Các luật sư quốc tế sẽ vào Việt Nam bằng cách lập văn phòng, chi nhánh, liên doanh với các công ty luật trong nước. Trên thực tế, hầu hết các dịch vụ này tham gia tư vấn về luật nước ngoài, luật quốc tế hoặc trọng tài. Pháp luật trong nước gần như là lĩnh vực dành cho luật sư địa phương. 

    Trước hết, các luật sư Việt Nam phải nhanh chóng nghiên cứu, nắm bắt toàn bộ các quy định pháp luật mới, đặc biệt là pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh và hoạt động XNK, như về kiện chống bán phá giá, tranh chấp hợp đồng hay sở hữu trí tuệ...  

    Đến Việt Nam, điều đầu tiên nhà đầu tư nước ngoài quan ngại là làm sao để có được những lời tư vấn chất lượng từ đội ngũ luật sư trong nước. Do vậy, đội ngũ luật sư của các bạn cần độ ổn định, được đào tạo tốt với thiết chế luật pháp rõ ràng. Nếu họ tư vấn, bào chữa sai, phải có chế tài để rút chứng chỉ hành nghề hoặc phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Với những chuẩn bị đạo đức của nghề luật sư đã được thế giới thừa nhận thì Việt Nam phải có.

    Như vậy, tư cách là thành viên WTO sẽ đem đến Việt Nam những khách hàng mới, đầu tư sẽ bùng nổ nhưng cũng yêu cầu Việt Nam duy trì sự ổn định hơn, hấp dẫn hơn. Điều này có nghĩa là công việc cho luật sư sẽ nhiều hơn. Số lượng luật sư nước ngoài vào Việt Nam cũng tăng lên, nhưng họ đến cùng với các khách hàng của họ và đem đến những công việc mới cho cộng đồng cung cấp dịch vụ pháp lý Việt Nam. 

    - Theo ông, trở ngại lớn nhất của luật sư Việt Nam khi hội nhập là gì, có phải là do ngoại ngữ hay không? Ở nước ông đối phó với chuyện luật sư "chạy án" như thế nào?

    - Luật sư Việt Nam được cử ra nước ngoài làm việc thì biết ngoại ngữ đúng là thật cần thiết. Nhưng tôi nhìn hai chiều. Nếu tôi đến Hà Nội để kinh doanh, tôi cũng ở vị thế đó là không có ngoại ngữ, không biết nhiều về hệ thống pháp luật Việt Nam, cơ cấu, tổ chức DN. Tôi cũng không biết phải tìm dịch vụ pháp lý ở đâu? 

    Vì thế thông điệp lớn nhất mà tôi muốn chuyển đến giới luật sư Việt Nam là vào WTO là cơ hội lớn của các bạn. Tôi không cho ngoại ngữ là trở ngại lớn đối với luật sư. 

    Còn việc luật sư tham gia "chạy án" là vấn đề nghiêm trọng nhưng hiện vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn kể cả từ quốc tế. Rõ ràng là hành vi tham nhũng, chạy án có tác động tiêu cực đến người dân. Nhà đầu tư sẽ lo ngại vì không hoạt động trong môi trường kinh doanh không an toàn. Họ sẽ rút ra và đi nơi khác đầu tư. Việc này ở nơi này, nơi khác cũng có nên Việt nam cần rút kinh nghiệm.

    - Ý kiến của ông về quan hệ giữa luật sư và nhà báo? Điều này sẽ được quy định như thế nào trong Quy chuẩn nghề nghiệp vì tại Việt Nam, nhiều luật sư đồng thời cũng là nhà báo?

    - Theo quy định thì luật sư không được tiết lộ với báo chí những thông tin liên quan đến những gì phiên tòa đang xét xử để phiên tòa diễn ra một cách công khai, công bằng. Luật sư cũng không được thảo luận, tiết lộ với báo chí về thân chủ của họ khi thân chủ không đồng ý. Luật sư có nghĩa vụ bảo vệ thân chủ, đặc biệt là những người làm kinh doanh. Còn nếu luật sư dùng báo chí để tự quảng bá mình thì không cấm.

    - Được biết Hội Luật sư Anh và xứ Wales sẽ giúp Việt Nam xây dựng Bộ Quy tắc nghề nghiệp mới cho luật sư. Như việc chia sẻ kinh nghiệm sẽ như thế nào khi mà hệ thống luật pháp ở Việt Nam và Anh khác nhau? 

    - Đúng là hiện nay luật ở Anh hiện đang theo án lệ và Việt Nam là hành văn, nhưng khi tôi so sánh Quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp luật sư của Anh và Đan Mạch thấy rất giống nhau. Tôi cũng đã nhìn thấy dự thảo quy chuẩn nghề nghiệp luật sư của Việt Nam, cũng có rất nhiều điểm, nhiều khái niệm giống của Anh. Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể hợp tác. 

    Chúng tôi cũng đang tìm những luật sư trẻ để giúp đào tạo họ tại Anh, thực tập ở Anh sau đó trở về Việt Nam làm việc. Chúng tôi đã áp dụng chương trình này tại Hàn Quốc, Brazil... Chúng tôi rất muốn chuyển giao kỹ năng cho luật sư Việt Nam, nhất là về hệ thống luật quốc tế. 

    • Hà Yên

    http://www.vietnamnet.vn/kinhte/kinhdoanh/2007/01/657455/
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-28 07:25:38sóng trăng>
    .
     
    Sự "lưỡng lự" giữa tự do kinh tế và kiểm soát
     
     
     


    11:11' 14/02/2006 (GMT+7)


    (VietNamNet) - Khi xây dựng một bộ luật, những người thiết kế luật luôn đứng trước tình thế lưỡng lự giữa việc trao thêm quyền cho người dân hay tăng thêm quyền quản lý cho mình. Cho nên, luôn có sự đắn đo giữa hai mục tiêu: phát triển và quản lý nhà nước.
     


     
    Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia tư vấn Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.
    Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia tư vấn Ban nghiên cứu của Thủ tướng đã trả lời phỏng vấn VietNamNet về tự do kinh tế và lòng tin của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
    [/align] 
    [/align]Sự đắn đo của người thiết kế luật
     
    - Thưa bà, người ta vẫn đánh giá Việt Nam, Chính phủ còn can thiệp sâu vào nền kinh tế và sự chuyển biến điều hoà mối quan hệ ấy còn rất chậm? Theo bà, chúng ta cần có giải pháp nào đột phá, quyết liệt hơn?
     
    - Những năm gần đây, phải nói là Nhà nước đã nỗ lực rất lớn để một mặt thiết kế hệ thống luật pháp tốt hơn. Suốt từ 3 năm nay, chỉ đạo xây dựng những đạo luật mới, tư tưởng chung của Nhà nước là phải phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập, đồng thời phù hợp với yêu cầu thúc đẩy cải cách ở Việt Nam. 
     
    Nếu đã nói đến cải cách, chúng ta đều hướng tới cởi mở hơn trong tất cả các vấn đề về hoạt động kinh tế- xã hội của người dân, tăng thêm quyền của người dân tham gia vào các hoạt động này, vừa cải thiện đời sống của mình, vừa đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
     
    Thế nhưng trên thực tế, không phải luôn luôn chúng ta làm được như vậy. Khi thiết kế các luật, những người thiết kế luật luôn luôn đứng trước tình thế lưỡng lự giữa trao thêm quyền cho người dân hay tăng thêm quyền quản lý cho mình. Cho nên, giữa hai mục tiêu: phát triển và quản lý nhà nước luôn luôn làm cho người ta đắn đo, cân nhắc. 
     
    Trong trường hợp nào, chúng ta quyết tâm đặt mục tiêu phát triển là tối thượng và thiết kế làm sao cho đất nước phát triển được thì chúng ta thiết kế luật theo hướng cởi mở hơn. Còn khi nào chúng ta đắn đo, sợ rằng phát triển đó vượt quá tầm quản lý của nhà nước và nhà nước không theo kịp thì lại muốn tăng cường quản lý nhà nước lên, dẫn đến tình trạng luật mới đưa ra không tạo được đà cho phát triển. 
     
    Trong bối cảnh như vậy, dễ xẩy ra việc từ bên ngoài nhìn vào thấy chúng ta cải cách đưa ra luật mới nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu tự do cao. Vì vậy người ta có thể tính điểm thấp cho tự do kinh tế ở Việt Nam.
     
    Tôi lấy ví dụ năm ngoái, Quốc hội thông qua đồng thời 2 luật. Luật doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu tốt về phát triển, tự do hoá. Thế nhưng Luật đầu tư lại có những ngập ngừng cho đến gần như phút chót trước khi quyết định mở thêm nữa về đầu tư bằng cách yêu cầu thêm về đăng ký. Nó nghịch lý ở chỗ yêu cầu tăng thêm mà trước đấy không có. Mặc dù tất cả những quy định đăng ký đầu tư trước đấy không có đối với doanh nghiệp trong nước thì nó không mang lại bất cứ phương hại bất cho nhà nước! Thế nhưng, không hiểu vì lý do gì mà thiết kế nhà nước quản lại dự án đầu tư trong nước theo cách quản từ dự án, từ đề xuất đầu tư.
     
    Đấy là hướng đi không đúng, không thuận! Chính tư tưởng đó thể hiện trên thiết kế của luật làm cho người ta cảm thấy mình ngập ngững giữa tự do kinh tế và kiểm soát, hạn chế tự do kinh tế. Tôi nghĩ đây là cái để chúng ta học hỏi, rút kinh nghiệm, nhìn lại mình đầy đủ hơn! Để sau này khi toàn bộ quá trình thiết kế, đưa ra khuôn khổ mới về chính sách, luật pháp cũng như vận hành, đặc biệt là thực hiện tất cả chủ trương, chính sách, luật pháp đó theo một chiều xuyên suốt và lấy mục tiêu phát triển là mục tiêu cao nhất.
     
    "Đã hỏi đâu mà biết người ta không làm được!"
    _____________

    Văn kiện Đại hội Đảng X hơn một lần nói về đổi mới và đột phá trong chính sách phát triển kinh tế. Khoan bàn về việc đột phá thế nào, đột phá từ đâu, mà trước hết hãy nói về lòng tin của Nhà nước đối với nhân dân, hay rõ hơn, là dân chủ với người dân và từng thành phần kinh tế.

    &gt;&gt;xem tiếp

    _______________
     
    [/align]- Việc nhà nước còn can thiệp nhiều như vậy thể hiện điều gì?
     
    - Một là, Nhà nước chưa có đủ lòng tin vào xã hội hoặc các doanh nghiệp khác để mở ra nhiều lĩnh vực cho người ta làm và Nhà nước rút lui. Hiện nay, phải nói là chúng ta còn khá nhiều lĩnh vực như vậy. 
     
    Một câu thường hay được nói ''vì lĩnh vực này khu vực tư nhân chưa đủ sức làm nên nhà nước làm''. Nhưng lập luận tôi thường nói: ''Đã bao giờ cho người ta làm đâu mà bảo người ta không đủ sức! Cứ thử cho người ta làm đi!''. 
     
    Cũng có người nói ''khu vực tư nhân chưa sẵn sàng làm'' - nhưng anh đã hỏi người ta đâu mà biết sẵn sàng hay chưa?'. Tối thiểu phải hỏi: bây giờ tôi có dự án này, tôi tung ra đây, anh nào muốn làm thì lên tiếng! Thì phải để cho người ta một cơ hội để thể hiện mong muốn, nhưng không bao giờ mình hỏi, làm sao mình biết người ta có muốn làm hay không? Không bao giờ để cho người ta làm, thì làm sao biết người ta có khả năng làm hay không
     
    Vả lại, muốn có khả năng, người ta phải phát triển từ nhỏ đến lớn. Chí ít những dự án vừa phải để cho người ta làm thì mới có cơ hội trưởng thành để làm những cái lớn hơn
     
    Điển hình, Nhà nước còn đầu tư rất lớn vào cơ sở hạ tầng. Ở các nước ngay cả lĩnh vực này có sự tham gia rất lớn của khu vực tư nhân. Chúng ta ngay cả khu vực tư nhân nước ngoài, tức là đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực hạ tầng cũng rất còn rất hạn chế. Những hình thức BT, BOT đưa ra nhưng còn quá nhiều ràng buộc về mặt pháp lý, thủ tục, điều kiện đến mức không hấp dẫn người ta. Đối với trong nước lại càng ít hơn! 
     
    Tuy nhiên, thực tế chứng tỏ một số nơi đã làm và làm được. Ví dụ Quảng Ninh, khi khu du lịch Tuần Châu hình thành, đồng thời doanh nghiệp cũng làm con đường rất đẹp ở đó. Như vậy, khi tỉnh đã tin và đồng ý cho doanh nghiệp làm thì họ hoàn toàn có thể làm được! Không có kém gì nhà nước làm đâu mà lại đỡ tốn tiền của nhà nước. Chắc chắn chi phí thấp hơn vì chi phí quản lý của doanh nghiệp thấp hơn và bao giờ người ta cũng phải tính mức đầu tư làm sao hợp lý nhất. Đấy là những cái mà chúng ta chưa mạnh dạn cho doanh nghiệp làm!
     
    Nếu mà những điều kiện cơ bản ngang bằng với nhau, tôi tin khu vực tư nhân của Việt Nam có thể làm trên nhiều lĩnh vực khác nhau nếu có điều kiện tương tự như DNNN. Chúng ta, một số cơ quan nhà nước vẫn nói, khu vực tư nhân chưa đủ sức. Chính cái đó cũng làm hạn chế tự do kinh doanh đáng kể!
     
    "Với tầm tư duy thế này, chúng ta khó mà bứt lên"!
     
    - Có ý kiến cho rằng, việc nhà quản lý chưa thực sự "mở lòng" đối với doanh nghiệp như vậy một phần vì liên quan đến lợi ích của một bộ phận quan chức. Họ không muốn từ bỏ đặc quyền, đặc lợi từ những dự án lớn?
     
    - Đấy cũng là một trong những động lực làm cho người ta có thể đắn đo. Nhưng thứ hai, cũng có thể từ nhận thức, góc nhìn nhận của người ta. 
     
    Tôi không nghĩ ai cũng có động cơ vì quyền, vì lợi duy trì vai trò rất lớn hoặc muốn việc đó chỉ nhà nước làm không thôi! Nhưng cũng có những trường hợp vì nhận thức. Ở chỗ họ nghĩ, những việc này nhà nước phải làm, thuộc về quyền lực nhà nước. Đã là quyền lực nhà nước, nhiệm vụ của nhà nước thì tự tay nhà nước phải làm, không để cho người khác. 
     
    Nhưng trong trường hợp này, nhận thức ở đây phải hiểu quyền lực của nhà nước do nhân dân trao cho. Ngay từ chúng ta lập nước, Bác Hồ đã tuyên bố: Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân! Chứ còn nhà nước, tức là bộ máy mà nhân dân bầu ra để vận hành đất nước, thì do nhân dân bầu ra, giao phó cho họ quyền và trách nhiệm để làm, thay mặt cho nhân dân. 
     
    Khi mà xã hội phát triển, trình độ dân trí cao lên, khả năng của xã hội nâng lên thí có thể quyền lực đó nhà nước không nhất thiết phải làm hết nữa mà có thể trả lại một phần cho xã hội, để nhân dân làm.
     
    Chúng ta hiện nay đang nói xã hội hoá một số lĩnh vực. Đấy cũng là những lĩnh vực trước đây, trong đầu óc rất nhiều người đinh ninh: ''Những lĩnh vực này chỉ Nhà nước làm thôi, vì thuộc trách nhiệm nhà nước! Chỉ có Nhà nước mới làm được tốt chứ còn xã hội không làm được!''. Nhưng trên thực tế, suốt thời gian cải cách vừa qua cho thấy có rất nhiều lĩnh vực người dân bây giờ hoàn toàn có thể làm được.
     
    Khía cạnh thứ ba, cũng về nhận thức, theo tôi nghĩ là bởi vì nhiều cán bộ, công chức nghĩ Nhà nước phải lo bảo vệ lợi ích của cộng đồng. Người ta e ngại khi giao công việc đó cho khu vực tư nhân thì lợi ích của cộng đồng bị đặt thấp xuống và lợi ích của tư nhân lớn hơn. Người ta e ngại những doanh nghiệp tư nhân vận hành một trường học, bệnh viện chỉ lo kiếm tiền, lợi nhuận hơn là lo dạy học, trị bệnh. 
     
    Thực tế thì không hẳn như vậy! Hiện nay ngay cả doanh nghiệp trong khi thực hiện mục tiêu tối cao là lợi nhuận thì bao giờ người ta cũng nhận thực được một điều: Lợi nhuận tối cao chỉ đạt được khi người ta dung hoà được lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng, của khách hàng. Chứ nếu doanh nghiệp chỉ vì mình thì trong một thời gian ngắn khách hàng sẽ bỏ rơi doanh nghiệp đó để đi với một đối thủ cạnh tranh khác.
     
    Ở đây cũng phải có lòng tin ở sự tỉnh táo của xã hội, của thị trường khi chọn lựa người cung cấp cho mình. Chứ đừng nghĩ người ta chỉ chọn lựa nhà nước cung cấp! Cũng đừng nghĩ tư nhân cung cấp là xấu, là chỉ có động lực lợi nhuận mà không biết quan tâm đến lợi ích cộng đồng! Vả lại, xã hội càng phát triển, văn minh lên thì ý thức về trách nhiệm xã hội càng lớn lên trong doanh nghiệp Việt Nam. 
     
    Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chấp nhận áp dụng những tiêu chí về trách nhiệm xã hội, kể cả tiêu chí tương đối cao của khách hàng bên ngoài đặt vào. 
     
    - Vậy, vấn đề là do nhận thức của người quản lý?
     
    - Ở đây có nguyên nhân về nhận thức của nhà quản lý. Họ nhìn nhận không thật đầy đủ đâu là lợi ích cộng đồng và lợi ích hẹp hơn của những nhóm cộng đồng nhỏ khác nhau. Cho nên, nhiều khi người ta cứ lo, cứ sợ nếu giao vào tay tư nhân thì lợi ích của cộng đồng không còn. Nhưng chính vì nhà nước muốn quản, tự mình chăm lo đến lợi ích toàn thể cộng đồng thì lại làm cho lợi ích cộng đồng bị thua thiệt đi ở chỗ nhà nước làm không xuể được hoặc chất lượng tổ chức nhà nước cung cấp không cao trong khi người ta sẵn sàng dùng cung ứng người khác tốt hơn. 
     
    Điển hình như dịch vụ y tế, hiện nay ta đang nói rất nhiều đến xã hội hoá. Người ta sẵn sàng bỏ tiền cao hơn rất nhiều để mang con của người ta đi vào những bệnh viện cao cấp hơn và chữa hoàn toàn theo giá dịch vụ. Nếu nhìn nhận cộng đồng theo cách, cái gì nhà nước cũng phải bao, phải ''ôm'' thì mới đảm bảo lợi ích cộng đồng thì cũng lại là nhìn nhận không đúng!
     
    Theo tôi, không nên quy kết tất cả chỉ vì quyền và lợi cho dù đó đang là vấn đề cực lớn, là gốc của tham nhũng. Lớn đến mức mà Nhà nước, xã hội đều coi là quốc nạn, phải có luật chống tham nhũng. Nhưng đối với chúng ta, trong giai đoạn hiện nay tôi nghĩ không chỉ là vấn đề quyền lợi mà còn là vấn đề nhận thức, tư duy! 
     
    Thật ra với tầm tư duy như thế này, chúng ta khó mà bứt lên, đẩy tiếp được những cải cách thể chế, xây dựng, hoàn thiện thể chế thị trường trong thời gian tới. Đây là vấn đề của chúng ta! Tự do kinh tế đến đâu, phụ thuộc rất nhiều cả về mặt quyền lợi và tư duy.

    Bỏ "bộ chủ quản": Khó vì liên quan đến lợi ích bộ ngành?
     
    - Thưa bà, chúng ta đã đi tròn 20 năm đổi mới thành công, nhưng có vẻ, đến thời điểm này dường như sức ì dường như vẫn lớn và khó vượt qua. Điều này thể hiện rõ nhất ở: cải cách DNNN chậm, vốn đầu tư của nhà nước còn lớn, tồn tại thị trường phi chính thức...?
     
    - Thực tế quá trình cải cách như các nước đã chứng minh, ở Trung Quốc chẳng hạn, không bao giờ dễ dàng cả! Mỗi giai đoạn cải cách có những đòi hỏi khác nhau. Nước mình cũng vậy, ở giai đoạn đầu của cải cách thì thuận hơn rất nhiều bởi lúc bấy giờ tất cả mọi người đều trong điều kiện bị ''bó chân, bó tay'' cả và rất khổ sở, khó khăn! Cho nên ai cũng muốn vượt qua tình trạng đó! Ai cũng muốn tự mình bứt phá khỏi mình và bứt phá khỏi cơ chế trói buộc mình!
     
    Đến giai đoạn hiện nay, khi cải cách đòi hỏi cơ chế phải thay đổi theo cách tạo nên công bằng, tự do lớn hơn cho xã hội và không khí cạnh tranh lớn hơn theo điều kiện của thị trường thì rõ ràng đòi hỏi cạnh tranh đó làm cho một số người, vốn dỹ được hưởng nhiều lợi ích từ phi cạnh tranh sẽ chống lại. Từ phi cạnh tranh, trước hết ở đơn vị, doanh nghiệp còn được hưởng độc quyền, hoặc được bao cấp nhiều, dựa được nhiều vào sự hỗ trợ của nhà nước thì rõ ràng họ không muốn!
     
    Bởi vì nếu nhà nước chủ trương mạnh hơn về tự do hoá, ví dụ ngay cả DNNN cổ phần hoá, nhà nước bớt hỗ trợ đi, bớt vai trò của mình, có nghĩa là họ bớt đi một nguồn hỗ trợ cực kỳ lớn. Nguồn hỗ trợ đây, kể cả bằng vật chất như đất đai, tín dụng, kể cả bằng phi vật chất như quyền kinh doanh. 
     
    Khi còn là DNNN, trong những lĩnh vực kinh doanh hoặc dự án quan trọng nhà nước gần như cái thế của họ nhận được cơ hội kinh doanh đó cực kỳ lớn. Nếu họ ra khỏi Nhà nước rồi, cơ hội đó bé đi rất nhiều! Và họ chỉ có cơ hội khi cạnh tranh tốt. Vì vậy, phản ứng của họ không muốn bị tước đoạt đi quyền lợi của mình là gần như tự nhiên của những người vốn được hưởng lợi.
     
    Kể cả trong khu vực nhà nước cũng vậy! Nếu thẳng thắn mà nói thì không ít cơ quan, cán bộ công chức nhà nước được hưởng lợi từ cơ chế chủ quản như hiện nay. Chính vì vậy, bỏ chủ quản của chúng ta mới khó khăn đến thế! 
     
    Khi các bộ còn ''nuôi'' doanh nghiệp thì có chuyện qua lại hai chiều! Cho nên có những lợi nhất định, đặc biệt là quyền ban phát nhiều khi người ta cũng rất thích (!). Chứ không phải chỉ là quyền lực chung chung của nhà nước mà người dân, doanh nghiệp không phải đến ''cầu cạnh''! Và hai cái lợi (từ phía doanh nghiệp và cơ quan chủ quản) đều lớn cả, nên vẫn còn ràng buộc với nhau. Cải cách có phần khó là ở chỗ đó!
     
    Một khía cạnh khác, việc đầu tư của nhà nước còn rất lớn vào các dự án khác nhau như đã nói trên cũng là một nguyên nhân lớn tạo ra đánh giá của cộng đồng quốc tế về một Việt Nam với nền tự do kinh tế không cao. 

    • Trần Tiến thực hiện
      [/align]
    http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/doinoi/2006/02/541288/
    Đăng nhập để trả lời
    0