Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lều Chõng -14 - 15

1 trả lời, 1.120 lượt xem — Trang 1 / 1
XIV.

Mặt trời vừa ở ngọn cây nhòm xuống, như muốn cười với nhân gian. Trên đường thỉnh thoảng đã có từng lũ học trò, lẻ tẻ kéo về. Lúc ấy, bọn Vân Hạc mới tới trước cửa trường thi.
Vì không ai ngờ Đốc Cung có thể bị "ra bảng còn" cho nên cả bọn xăm xăm tới dưới bảng lớn.
Kỳ này chỉ có một bảng "yết tên" treo ở cạnh cửa giáp. Tuy là kỳ cuối cùng, nhưng số học trò "được vào" cũng còn đến hơn trăm người. Thoạt coi đầu bảng, thấy tên Đoàn Bằng, ai nầy đều vỗ tay reo. Cách vài dòng nữa, đến tên Vân Hạc. Rồi cuối bảng, thì tên Tiêm Hồng. Riêng tên Đốc Cung, tìm đi hâm lại mấy lần không thấy. Bấy giờ Đốc Cung mới càng chột dạ. Cả bọn đều tỏ ra vẻ ái ngại. Đốc Cung nói bằng giọng liều:
- Có lẽ họ cho mình ra bảng con thật chắc!
Đoàn Bằng nhất định không tin:
Chẳng có lý nào như thế Vân Hạc cố trêu Đốc Cung:
- Lý nào cái đó? Hễ viết vô ý một tí, thì được nêu tên bảng con, chứ có khó gì?
Rồi đó, chẳng ai bảo ai, cả bọn đều đi đến cạnh bảng con.
Cái bảng mới xấu làm sao! Nó là một mảnh cót cũ, quét vôi nhơm nhếch như một tấm mái nhà mồ, bề ngang chừng hơn ba gang, bề dọc độ gần ba thước.
Người ta treo nó trong cái nhà bảng lụp xụp, mặt bảng chỉ độ ngang với mặt người.
Nhác trông trên bảng, Vân Hạc liền kêu giật giọng.
Thôi chết' Có tên anh Cung thật rồi. ' Mọi người ngơ ngác nhìn theo. Trong bảng có chừng mười mấy tên người. Người thì phạm húy, người thì "khiếm đài", người thì viết không đủ quyển. . . mỗi người môi tội khác nhau. Tên của Đốc Cung liệt ở giữa bảng, dưới có bốn chữ "cổ văn khiếm ty" viết nhỏ theo lối chú cước, đối với bốn chữ "HAø Nội, Trúc Lâm".
Tất cả bốn người sắc mặt đều thấy tái mét. Vân Hạc sẽ hỏi Đốc Cung:
- Chắc là trong quyển của anh có chỗ dùng phải những chữ trùng với tên lăng, tên điện của nhà vua mày anh không biết.
Đoàn Bằng trả lời:
- Không có! Sáng nay tên đã xem đi xem lại bản giáp của bác ấy rồi. Chẳng có chỗ nào khiếm ty.
Vân Hạc vẫn ngó Đốc Cung:
Nhưng mà bản giáp của anh có đúng như trong quyển thi hay không?
Đốc Cung đáp bằng giọng cả quyết:
Đúng lắm. Đúng từ những chỗ "đồ di câu cải" trở đi. Có đều trong quyển viết chữ chân phương, bản giáp thì hơi đá thảo một chút.
Tiên Hồng nói xen:
Nếu vậy, thì bác phải làm ngay giấy khiếu oan, đưa vào trong trường, để xin quan trường xét lại.
Đốc Cung ra vẻ tự phụ:
Khiếu làm cái gì? Hỏng khoa này lại thi khoa sau, chẳng tội gì mà cày cục?
Đoàn Bằng gạt đi:
- Bác nói tuy vẫn có lý, nhưng học trò đi thi mà phải nêu ra bảng con, cũng là một sự mang tiếng, có khi còn để lụy cho các quan huấn giáo hạt mình nữa chứ! Bởi vậy. tôi tưởng bác nên khiếu oan, để rửa cái tai tiếng kia.
- Khiếu oan là phải. Nhưng cũng hãy nên coi lại bản giáp lần nữa cho thật cẩn thận xem rằng có đích là mình bị oan hay không.
Tiêm Hồng khen phải. Lập tức cả bọn kéo về nhà trọ.
Bấy giờ ở các đường phố, học trò đã đương nhao nháo kháo nhau về chuyện Đốc Cung phải ra bảng con.
Mỗi khi gặp người quen biết hỏi thăm, Đốc Cung tưởng mỗi nhời nói của họ là một mũi giáo đâm vào ruột mình. Nhưng chàng cũng chỉ đáp lại bằng một nụ cười, vì không biết trả lời thế nào cho phải.
Tới nhà, Đoàn Bằng giục luôn Đốc Cung lấy ngay bản giáp của chàng đưa cho mình coi. Cả bọn xúm lại trên mảnh giấy, giở suốt từ đầu đến cuối, chẳng thấy .
"khiếm ty" chỗ nào. Sau cùng đến lượt Vân Hạc. Coi một lần trước cũng không thấy gì, nhưng còn hồ nghí, chàng lại coi thêm lần nữa. Khi giở đến tờ thứ tư, Vân Hạc chỉ tay vào một dòng chữ và nói bằng một giọng kình ngạc:
- Còn oan gì nữa, chẳng "khiếm ty" thì cái gì đây?
Mọi người đều nhìn theo chỗ Vân Hạc đã chỉ, thì thấy có mấy chữ rằng:
"Tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thử tai".
Lúc ấy ai nấy thất sắc, Đốc Cung vỗ tay xuống phản và nói hai tiếng vắn cộc:
- Con chó' Rồi chàng lại thuần vẻ mặt và cười:
- Bốn người tìm mãi từ sáng đến giờ mới thấy, thế mà trong lúc chấm văn nhanh như ăn cướp, quan trường cũng bới ra được, thật là thánh quá. Hỏng thì hỏng, tôi cũng bái phục cái tài xoi mói của các ngài ấy.
Thêm Hồng ngắt lời: ~ Không phải là các quan trường có ý bới móc. Bởi tại mệnh lệnh nhà vau giao cho như vậy, nếu không làm hết chức vụ, tất nhiên tội sẽ đến thân. Ngày xưa, biết bao nhiêu ông khảo quan; chỉ vì chấm văn sơ xuất mà bị phạt bổng, giáng cấp, có ông còn bì cách chức nữa kia!
Đoàn Bằng an ủi Đốc Cung:
- Thôi, bác cũng đừng phàn nàn. Chúng ta còn đương niên thiếu lực cường, tiền trình còn dài, chẳng đỗ khoa này thì đỗ khoa khác. Miễn là bác đừng ngã lòng.
Đốc Cung vẫn ngông:
- Tôi chẳng ngã lòng chút nào. Lương Hiệu nhà Tống tám mươi hai tuổi còn thi và còn đỗ được trạng nguyên, nay tối mới hai mốt tuổi, chưa đỗ cũng chưa là muộn. Chỉ hiềm bản triều không lấy trạng nguyên mà vân Hạc cố ý trêu ghẹo:
Tôi cũng chắc anh phải đỗ, nếu mà trời cho học lực của anh được bằng người ta.
Dốc Cung cũng trả miếng bàng giọng bông đùa:
- Vậy còn anh nữa? Không biết năm nay học lực của anh đã bằng người ta hay chưa?
Vân Hạc chưa kịp trả lời, ông chủ nhà trọ vừa ở nhà dưới đi lên và nói lễ phép:
- Vì bận sai bảo chúng nó làm mấy món ăn, cho nên từ nãy đến giờ, tôi chưa kịp hỏi chuyện các ngài.
Thế nào? Bốn ngài được "vào" cả chứ?' Đốc Cung chỉ vào anh em Vân Hạc và đáp:
- Cả ba ông này đều "vào", chỉ có một mình tôi hỏng. Dúng như lời ông nói lúc sáng ngày, tôi bị nêu ra bảng con thật!
ông chủ nhà trọ đường định tìm câu an ủi Đốc Cung, nhưng chưa tìm được, ngoài cổng bỗng có tiếng người là lạ:
- Bùi tiên sinh vẫn còn ở đây đấy chứ?
Đốc Cung lầm bầm với Vân Hạc:
- Thằng nào mà hỏi đến vậy. Chắc nó tưởng mình bị hỏng, đã xách khăn gói cút rồi.
Rồi chàng nói chõ ra cổng:
- Tiên sinh còn đây. Ai muốn hỏi gì thì vào trong này.
ông chủ nhà trọ lật đật. chạy ra đón khách.
Có phải ai đâu Cậu Trần Đức Chinh hôm nọ.
Giữa lúc Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng ngẩng lên nhôm, Đức Chinh đã ở ngoài sân tiến vào với một dáng điệu bạo dạn, khác hẳn cái bộ rụt rè khúm núm trong lúc hắn đi thuê người làm văn.
Cả bọn cùng đứng dậy chào.
Sau khi Đốc Cung đã lần lượt nói tên người nọ với người kia, Đoàn bằng mời đức Chinh cùng ngồi vào chỗ mọi người đương ngồi. Vân Hạc sẽ hỏi Đức Chinh:
- Cậu có được ,'vào" hay không?
Đức Chinh đáp bằng vẻ mặt sung sướng:
Không, tôi bị hỏng.
Rồi hắn nhìn sang Đốc Cung:
- Chết chửa? Sao ở bảng con tôi lại thấy có tên ông?
Đốc Cung cười nhạt: ' - Viết văn không cẩn thận, thì phải nêu ra bảng con, chứ có lạ gì sự đó?
Đức Chinh nói tiếp:
- Vậy ông phạm phải lỗi gì? Không phải là phạm húy chứ?
- Không' Có phạm húy đâu? Tôi phạm vào tội "khiếm ty". Vì ở đoạn văn nói về đời Đường của tôi, lỡ viết phải câu "tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thừ tái".
ông chủ nhà trọ đứng ở bên cạnh, có ý lấy làm kinh ngạc, liền hỏi:
Thưa ông câu ấy là nghĩa thế nào?
Đốc Cung đáp:
- Nghĩa là "xã tắc nhà Đường- lâu dài đến 'ba trăm năm, há chẳng phải nhờ ở điều đó hay sao?" ông chủ nhà trọ càng lấy làm lạ:
- Như thế thì có can gì mà đến phải nêu bảng con?
Đức Chinh hùa theo:
- Chắc là ông bị cái lỗi gì khác, chứ như câu ấy thì có việc gì?
Đốc Cung chỉ cười không trả lời. Đoàn Bằng rẽ rẽ cắt nghĩa:
- Phải đấy, ông Cung phải nêu bảng con là tại câu đó Bởi vì theo phép bản triều, học trò đi thi chẳng những phải kiêng khinh húy, trọng húy của nhà vua:
mà đến những chữ tên các cung điện, lăng tẩm trong kinh bây giờ, cũng đều không được dùng đến. Ví như lăng ông Gia Long tên là Thiên thụ, thì khi làm ván không được viết chữ Thiên thụ. Hay như ở trong hoàng cung có điện Cần chálth~ thì chữ Cần chánh cũng không được dùng làm văn... Nhưng chỉ kiêng ở văn cổ mà thôi.
Đức Chinh cốlàm ra bộ thạo việc trường ốc:
Tôi cũng biết thế, nhưng trong hai câu của Bùi tiên sinh có chữ nào phạm lệ đó đâu?
Đoàn Bằng nói tiếp:
Có chứ' Chữ "trường" và chữ "ninh".
ông chủ nhà trọ vội hỏi:
- Thưa ngài, thế hai chữ ấy cũng phạm húy ư?
Đoàn Báng lắc đầu:
Không, trường ninh là tên cái cung nào đó. Hmh như là cung của Hoàng thái hậu vẫn ở thì phải.
Đức Chinh ra vẻ ngơ ngác:
- Quái lạ, trong hai câu của Bùi tiên sinh, làm gì có chữ trường ninh.
Vân Hạc phì cười và nói:
Vậy thì cậu thử đọc lại xem nào' Đức Chính lẩm nh,im lần nữa:
thử tai?
Rồi hắn vỗ đùi đánh đét:
à! Phải rồi! Có thật' Chữ trường ở cuối câu trên, chữ ninh ở đầu câu dưới.
Và hắn lại hỏi:
- Tôi tưởng về những chữ tên lăng tẩm cung điện nhà vua, chỉ có khi nào hai chữ cùng ở một câu mới là phạm cấm. Mỗi chữ mỗi nơi như thế cũng phải kiêng ư?
Tiêm Hồng nói góp:
- Bởi vì hai chữ tuy ở hai câu, nhưng nó đứng liền nhau thì cũng như ở một câu, cho nên cũng là có tội.
ông chủ nhà trọ nhanh mồm lè lưỡi và tỏ ra vẻ kinh sợ: ' Trời ơi, rắc rối quá chừng. Cứ như chúng tôi, thì tránh cho hết hàng trăm chữ húy cũng đã khó thay, huống chi lại còn những cái oái oăm ấy nữa. Vậy mà các ngài đều tránh được cả, tôi xin phục là ông thánh.
Đoàn Bằng lài tiếp:
Có phải chỉ thế thôi đâư Lại còn cái nạn "khiếm trang" mới đáng sợ chức Đức Chinh cũng như ông chủ nhà trọ, chỉ ngồi ngẩn mặt, hình r~hư có ý chờ nghe. Đoàn Bằng nhôm vào ông chú nhà trọ và hỏi:
Chắc ông chưa rõ khiếm trang là gì?
Rồi thày liền giảng:
Khiếm trang nghĩa là thiếu sự kính trọng. Theo đúng lệ đó, thì hết thảy những chữ có nghĩa không hay, như bạo là tợn hôn là tôi, cách là đấm, sát là giết v.v...
không được đặt trên các chữ có nghĩa là vua, như là chữ hoàng đê, chữ quân, chữ vương, chữ chủ... i vì nếu để chữ cách liền với chữ quân thì nó sẽ có nghĩa là đấm vua, mà để chữ bạo liền với chữ chủ thì nó phải có nghĩa là ông vua tàn bạo. Dù mà mình không chỉ vào vua nào, hay là mình đã chỉ đích vào những hạng vua vô đạo của Tầu ngày xưa, như bọn vua Kiệt, vua Trụ .
chẳng hạn, cũng là khiếm trang tất cả.
Đến lượt ông chủ nhà trọ:
Khiếm trang sẽ bị tội gì?
Vân Hạc nhìn vào Đốc Cung rồi cười và đoán:
Nhẹ hơn "khiếm tỵ" một chút, nghĩa là chỉ bị đánh hỏng, không có hân hạnh được ra bảng con như Bùi tiên sinh nhà tôi.
Tiêm Hồng không bằng lòng sự bông đùa của Vân Hạc, vội vàng nói cho lấp đi.
- Năm xưa, một ông tú tài ở tỉnh Đông, bạn thân của anh cả tôi, cũng xuýt bị tội về cái nạn đó.
Nhũng lại một lát để nhìn Đức Chinh và ông chủ nhà trọ, Tiêm Hồng lại tiếp:
- Khoa ấy - tôi kllôllg rõ là khoa nào - ông ấy đã vào đến kỳ thứ ba. Trong bài văn sách của ông ta có câu như vầy: "Xuân sinh thu sái. đế đạo dữ thiên đạo nhị tịnh l~àllll". Thế mà cũng bị quan trường cho là khiếm trang. Rồi quan ngoại trường ngự sử lại hạch thê~n rằng: tú tài đi thi mà còn phạm vào ky húy, thì nên phạt cho thật nặng. May nhờ được quan chủ khảo có lượng khoan dại, ngài phải hết sức bênh vực, ông ta mới được khỏi tội. Nhưng mà cũng phải đánh hỏng.
ông chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngẩn:
Vậy thì, thưa ngài. nghĩa đen câu ấy ra sao?
Tiêm Hồng đáp: .
- Có gì đâu? Nghĩa nó chỉ là "Mùa xuân sinh ra.
mùa thu thu lại việc của đời "đế" cũng đi đôi với việc của ông trời". Có thế thôi.
Dực Chỉnh vẫn chưa hiểu và ]lỏi:
- Song mà trong bấy nhiêu chữ. người ta ghép những chữ nào có tội khiếm trang Chữ "sái" và chữ "đê~ Chữ sái chính nghĩa là thu.
đáng lê cũng không xấu xa, gở độc gì cả. Chỉ vì bản thể của nó nguyên ở chữ "sát" là "giết" mà chuyển âm ra.
Sái với sát đọc tuy khác nhau, nhưng mặt chữ cũng vẫn là một, cho nên đặt chữ sái liền với chữ đế tuy rằng mỗi chữ ở mỗi câu, người ta cũng có thể nhập lại làm một đọc nó ra "sát đế". "Sát đế" nghĩa là giết vua, như thế tức là khiếm trang, chứ gì.
ông chủ nhà trọ đứng dậy, chắp tay vái lia, vái lịa:
Thôi! Tôi xin lạy cả nón. Phúc tổ nhà tôi, làm sao lúc học dốt quá, đành phải bỏ học đi cày. Nếu như tôi sáng dạ một chút, mà cố theo đuổi để được cắp quyển vào trường với các ngài, thì chắc suốt đời bị tội!
Và ông ấy nói thêm:
- Nghe chuyện các ngài, làm cho tôi càng thêm sợ.
Vậy xin phép các ngài, tôi đi giục nó làm .cơm kẻo muộn.
Kồi thì ông ta quay mặt đi ra, Đốc Cung hình như đã thấy nóng ruột về cuộc chuyện phiếm, chàng ngoảnh sang phía Đức Chinh và hỏi:
- Cậu đến chơi hay có việc gì cần hỏi chúng tôi?
Đức Chinh mỉm cười như đương có chuyện đắc ý:
- Tôi muốn mời ngài đêm nay đi chơi giải buồn.
Bởi vì chúng mình cùng phường "hỏng" với nhau.
Đốc Cung cũng cười:
- Đa tạ cậu có hảo tâm. Nhưng tôi bây giờ ruột gan đương bồn chồn, còn thiết gì đến chơi bời? Vậy xin lỗi cậu để cho khi khác. Chúng fq còn nhiều ìúc gặp nhau. Vội gì?
Đức Chinh vẫn kèo nèo:
CỐ nhiên thi hỏng ái cũng phải tức, huống chi chúng mình đã lẽo đẽo vào đến tam trường. Tôi cũng cay đắng trong ruột, có lẽ còn hơn ngài nữa. Vì vậy, tôi muốn mời ngài đi chơi cho khuây.
Đốc Cung nhất định từ chối:
- Thồi cậu miễn cho? Từ sáng đến giờ tôi thấy trong ~h hơi mệt. Nếu lại thức đêm, tất nhiên sẽ thành ốm nặng. . .
Đức Chinh nói thêm vài câu tào lao, rồi hắn đứng dậy từ biệt.
Thằng nhỏ vừa bưng rượu đặt vào giữa phản, sau ' khi nó đã trmh trọng xin phép mấy ông khách trọ.
Cũng như sáng ngày, ông chủ nhà trọ, lại đến gãi tai mời chào, rồi tự lảng đi nơi khác.
Cả bọn bấy giờ mới thay khăn áo, rồi cùng ngồi vào mâm.
Trong ìú~ chén thù chén tạc, Đốc Cung tuy cũng có vẻ cảm khái, nhưng vì Vân Hạc thmh thoảng lại chêm một câu bông đùa rất có ý vị, cho nên quang cảnh vẫn vui vẻ như tết.
Mặt trời đã xế. bóng nắng leo lên nửa tường của tòa nhà trước sân, bấy giờ cuộc rượu mới tan.
Mấy tuần trầu nước đã tàn, Đốc Cung cất tập giấy giáp bài vào tráp, rồi chàng ra mắc nhắc lấy khăn áo bỏ xuống chiếu. .
Đoàn BAè ~ vội hỏi:
Bác ở đây chứ? Đi đâu bây giờ?
Đốc Cung đáp:
Vâng, tôi ở đây. Có lẽ tôi sẽ ở mãi đến ngày xướng danh. Bởi vì tôi tuy hỏng, nhưng mà các bác "vào,, cả, thì cũng còn vui, tôi phải ở lại để mừng các bác. Có điều ngày mai các bác được đì vào trường, tôi ở nhà một mình, chắc là không thể chịu nổi. Vì vậy. . .
Đến đây, chàng bỗng ngừr~ lại để đưa ra một nụ cười:
Vì vậy tôi muốn xin phép các bác, đêm nay xuống thăm Hàng Lờ cho đỡ buồn. . .
Rồi chàng vội cúi mặt xuống, như muốn giấu kín những giọt nước mắt đương thập thò ở đầu con mắt.
Vân Hạc lại trêu:
Mày khóc đó Cung?
Đoàn Bằng vội ngăn:
Sao chú lại cứ bông đùa mãi thết Và với vẻ mặt rất cảm động, thày quay lại nhìn Đốc Cung.
Hôm nay thì tôi không dám can bác. Nhưng đến chiều mai, bác lại về đây, để cho chúng tôi đi với!
Vân Hạc lại hỏi Đốc Cung:
Thế sao Trần Đức Chinh đến mời, anh không đi luôn với hắn?
Đốc Cung lại cười:
- Đi chơi với thằng tục tử ấy có gì là thú? Vả lại, nghe lời hắn nói, tôi đã sinh ghét. Hỏng thi cũng có năm, bảy thứ người, hắn bì với tôi được à? Thế mà bấy giờ hắn dám nói rằng: "chúng mình cũng là "phường hỏng" với nhau'. Như vậy, anh bảo có tức hay không?
Vân Hạc cũng cười:
Kể cả cũng đáng tức thật' Nhưng mà anh hơn gì ' hắn? Anh tam trường, hắn cũng tam trưởng. Và chưa biết chừng, có khi mai kia hắn sẽ đỗ được tú tài cũng nén.
Tiêm Hồng lắc đầu:
Khó lòng lắm. Tuy rang người hỏng tam trường cũng có thể đỗ được tú tài. Nhưng khoa này cả trường Hà Nội chỉ lấy hai bốn cử nhân, theo lệ "nhất cứ tam tứ' thì được bảy hai ông tú tài nữa. Thế là kể cả tú tài, cử nhân, cả trường mới có chín mươi sáu người.
Nếu nhà vua có gia ân mà lấy thêm nữa. chẳng qua cũng đến trăm người là cùng. Vậy mà sáng ngày coi ở trên bảng, số vào phúc hạch đã được hơn một trăm rồi. Thế thì khi nào tú tài còn đến phần hắn?
Đốc Cung họa theo:
- Phải! Nếu hắn mà đỗ, thì cũng đáng buồn cho cuộc thi cử.
Vừa nói, Đốc Cung vừa thủng thẳng rửa mặt chải đầu, coi bộ như một người đương có việc gấp. Sau khi đội khăn mặc áo chỉnh tề, chàng lại mỉm cười với bọn Đoàn Bằng, Tiêm Hồng.
- Xin chúc các ngài ngày mai viết cho linh lợi!
Tôi đi, chiều mai .hoặc sáng ngày kia thì lại về đây Anh em Vân Hạc ai cũng có vẻ ái ngại, nhưng không ai dám nói thêm câu gì, vì sợ khêu mối đau lòng cho bạn.
Trời đã chiều cả. Ngoài phố lác đác có tiếng hàng quà đi rao.
ông chủ nhà trọ tất tả vào giục các ông khách trọ giao hết lều chõng cho mình sắp sửa. Là vì kỳ này học trò đã vắng. Những ai được vào, đều phải đem lều chõng nộp sẵn từ chiều hôm trước, để lính thể sát đóng cho, ngày mai chỉ việc vào đó mà ngồi, không phải lôi thôi gì nữa. ông chủ nhà trọ đã quen lệ đó, nên mới Tức thì Vân Hạc kiểm điểm các thứ đồ đạc của hai anh và mượn lều chõng của Đốc Cung vì lều chõng của chàng kỳ trước bỏ không đem về đưa nhờ ông chú nhà trọ bó buộc đâu đấy. Rồi chàng lấy ba mảnh giấy viết tên ba người dán vào mỗi bộ áo lều một mảnh, và giao cả cho thằng nhỏ đưa lên cửa trường. ở đấy đã có một người lại phòng thu nhận.
Trong thành bắt đầu nổi trống thu không. Tiếng chuông ở các chùa xa văng vẳng đưa lại.
Trời nhá nhem tối. Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng giục Vân Hạc soát lại ống quyển, hộp mực, giấy bút và các đồ vặt để' ngày mai vào trường.
XV

Nửa đêm hôm qua hãy còn gió bấc mưa phùn, hơi lạnh thấu xương, nằm trong chăn tưởng như nằm trên vũng nước. Nhưng từ gà gáy thứ nhất trở đi, thình lình quay ra gió nồm. Khí lạnh bị tống bớt về các rừng núi nẻo Tây Bắc, Hà Nội dần dần hồi lại trong cảnh ấm áp Sau khi vừng đông đỏ như vừng lửa đă thiêu tan hết .bức màn nặng nề u ám của sương mù, bầu trời mỗi lúc một thêm sáng sủa. Tuy là tiết đầu tháng một, vẻ kiều mỹ không khác quang cảnh một buổi mai của tháng đầu xuân.
Anh em Vân Hạc xong tiệc điểm tâm, ánh nắng đã lóng lánh nhuộm các ngọn cây vàng úa. Bấy giờ ai nấy mới sắm sửa quần áo và các đồ đạc để vào trường.
Lần này cái vai đã được nhẹ nợ, vì nó không phải đeo chõng và lều. Nhưng trách nhiệm cái cổ vẫn chưa bớt đi chút nào, ống quyển, bầu nước và tráp hoặc yên vẫn còn thi nhau bíu chặt lấy cổ mà lủng lẳng đánh đu xuống ngực và bụng.
Kỳ này chỉ thi trong một vi giáp. Tuy số học trò được vào có hơn một trăm, nhưng ngoài cửa vi cũng thấy bóng người đông nghịt. Bởi vì, ngoài các thí sinh, còn có phụ huynh tôn tộc của các ông "ngấp nghé tân khoa" cũng kéo tới đó để dự hưởng cái vinh dự trong cuộc đắc thắng của người nhà mình.
Tan một hồi trống khẩu dõng dạc điểm trong nhà Thập đạo, cửa trường mở rộng, tàn lọng cờ quạt linh đình rước lá cờ khâm sai và ông chủ khảo từ trong trường ra chiếc ghế tréo ngoài cửa. Cái loa và các lính tráng lại chiếu lệ làm việc phận sự.
Bây giờ học trò không phải chen chọi vất vả như các kỳ trước. Người nào đã được cái loa nhắc đến tên mình, người ấy có thể ung dung tiến đến cửa trường, không bị ngàn cản chi hết. Nhưng mà bọn lính thể sát lại phải làm thêm một việc. Sau khi khám xong đồ đạc của người nào, họ còn phải dẫn người ấy đi đến dãy lều mà họ đã cắm từ tồi hôm trước, rồi bảo người ta vào lều mà ngồi.
Cuộc gọi tên lần này rất ngăn, mới độ nữa giờ đã xong. Công việc sắp đặt trong vi cũng có trật tự hơn trước Cả vi chia làm chừng hơn mười dãy, các dãy song song từ nhà Thập đạo ra đến bức phên ngoài cùng. Dãy nọ cách dãy kia độ năm sáu thước. ở giữa hai dãy giáp nhau, đều có cái khe rất rộng để làm đường đi. Mỗi dãy chỉ có đúng mười cái lều, cái nọ cách cái kia cũng độ năm thước trở lại. Vì muốn giữ cho người ở lều này khỏi nhòm thấy người ở lều kia, các lều đều cắm theo hình chữ "công", một cái nằm ngang, lại đến một cái nằm dọc.
Lều của Vân Hạc ở số 31, nằm ngay đầu dòng thứ tư, giáp với bức rào của nhà Thập đạo. Trong lúc người lính thể sát dẫn chàng tới đó và chỉ cho biết một mảnh giấy trắng có đề ba chữ tên chàng dán ở cửa lều, Vân Hạc có ý nhìn ở các dãy, xem rằng lều của Đoàn Bằng đóng ở chỗ nào - vì Đoàn Bằng đã vào trước chàng một lát Nhưng mà không thấy bóng anh ở đâu, chàng bèn chui vào trong lều, lục các đồ đạc lặt vặt bỏ ra mặt chõng, rồi giở bộ đồ đánh lửa, hì hục đập đá vào sắt lấy lửa hút thuốc. Thình lính nhớ đến Đốc Cung, bụng chàng càng thấy bồi hồi khó tả. Vì theo ý chàng, Đốc Cung cũng là bậc văn chương xuất sắc có thể đỗ to.
Chẳng ngờ vì hai chữ vô ý mà đến phải ra bảng "con'l thật là đáng tiếc.
"Thì ra văn hay chữ tốt, cũng chưa chắc đỗ. Có l~ cái việc đỗ hỏng, còn quan hệ ở sự may rủi nữa chăng".
Chàng đương vơ vẩn nghĩ quanh, trên chòi của quan ngự sử ngoại trường, bỗng nổi một hồi trống cái rất hùng dũng. Biết là sắp có đầu bài, chàng quen như lệ mọi kỳ, đã toan sắp sửa giấy mực ch đến nhà bảng, thì ở trên chòi lại có tiếng loa ậm ọe:
"Bớ toàn sĩ tử? Ai nấy ở yên trong lều, chờ hình đầu bài?" Tiếng "bài" vừa dứt, quan đề điệu vừa ở trên nhà Thập đạo đi xuống với chừng hơn mười người lình, mỗi người trong tay. có một tập giấy. Bọn lính chia ngả đi thẳng đến các dãy lều, quăng cho mỗi lều một mảnh giấy chữ.
Đó là giấy sao đầu bài. i vì kỳ này học trò đã thưa, đầu bài ra rồi, lại phòng liền phải xúm lại sao thành nhiều bản, rồi quan chủ khảo giao quan đề điệu đem đi phát cho mỗi người một bản, chứ không dán ở nhà bảng như các kỳ trước.
Lều của Vân Hạc ở ngay đầu dãy, nên chàng nhận được giấy sao trước các lều khác.
ở trong mảnh giấy, tất cả chỉ có ba bài, một bài Kính nghĩa, một bài phú và một bài văn sách. Trong ba bài đó, trừ bài kinh nghĩa phải viết cụ thể, còn hai bài sau, đều nhẹ hơn các kỳ trước. Bài phú chỉ có ba "vận", còn bài văn sách cũng độ năm sáu câu hỏi mà thôi.
Đây là thể lệ của phép thi mới. Theo như mấy khoa gần đây, thì kỳ phúc hạch của trường thi hương, cũng có ý nghĩa sát hạch lại các kỳ trước. Vì vậy, nó phải đủ các món văn của mấy kỳ kia để cho khảo quan có thể tựa vào các loại văn đó mà xét khiếu văn và sức học của từng người. Với các người khác, thì những đầu đề kỳ này, nói riêng từng bài, tuy có nhẹ thật song hợp cả lại thì lại rất nặng, vì nó gồm đủ văn thể của ba kỳ.
Nhưng với Vân Hạc thì chẳng có gì là nặng. Là bởi trong khi tập văn ở nhà, chàng vẫn nổi tiếng là người "học đềư' bất kỳ thơ phú, kinh nghĩa văn sách, hay món gì khác, món nào chàng cứng hơn người, anh em đồng học ít khi theo kịp.
Bởi vậy, trong khi ngó vào mấy cái đầu bài, thái độ của chàng tỏ ra cực kỳ ung dung.
Khi đã viết xong mấy dòng ở trang đầu quyển để đi lấy dấu nhật trung, chàng bắt đầu nghĩ nốt các vế của bài kinh nghĩa, rồi đến bài phú, rồi đến bài văn sách. Vì sợ có chỗ lầm lỡ như của Đốc Cung, mà trong lúc vô tình, tự mình không biết, cho nên mỗi khi nghĩ xong bài nào, chàng lại cẩn thận giáp hết bài ấy ra một mảnh giấy, và còn soát đi, soát lại từng câu từng chữ, có khi đến từng nét nữa. Khi nào không thấy có chỗ đáng ngờ và không còn chữ nào đáng chữa, bấy giờ chàng mới viết vào trong quyển.
Viết xong hai bài kinh nghĩa và phú, mới chừng quá trưa, chàng tiếc thì giờ còn nhiều, muốn hãy để bài văn sách lại đó, nung đúc cho thật kỹ càng. Nhưng khi coi lại mấy lần, chàng thấy lời văn đã đanh thép, không còn cách nào làm hơn, lúc ấy mới chịu cặm cụi viết nốt.
Kiểm lại trong quyển, không có chỗ nào xóa, sót, móc, chữa, theo đúng trường quy, thế là không phải viết "cộng quyển nội" ở cuối quyển nữa, bởi vì không có xóa, móc, chữa, thì "cộng" cái gì?
Lúc ấy không còn việc gì phải làm, chàng lại giở đá đánh lửa, rung đùi ngồi hút thuốc vặt.
Một lát sau, trên c~lòi có trống thu quyển, chàng mới bỏ quyển vào ống, thu xếp đồ đạc vào tráp. Đáng lẽ chàng lại bỏ cả lều chõng lần nữa, nhưng vì bộ lều chõng này là của Đốc Cung, không phải của mình, nên chàng lại cố hì hục dỡ lên, bó lại, và đeo lên vai, rồi sang bên nhà Thập đạo nộp quyển. Bấy giờ mặt trời còn cao, hết thảy học trò còn đương làm văn chưa xong.
Ra khỏi cổng trường, vừa gặp thằng nhỏ nhà trọ đến đón, chàng trút hết thảy đồ vật trên vai trên cổ cho nó về trước, rồi mình đủng đỉnh đi sau. Thmh lình ở phía trước mặt nghe có tiếng người ầm ầm.
Một bọn chừng hơn mười người hung hăng tiến lên đàng trước, hàng xứ xúm lại đi theo rất đông.
Trước luồng gió nhẹ, hời rượu sặc sụa theo đám người đó tiếp tục bay lên. Nhìn thấy mấy ông đi trước, ông nào, ông ấy, sắc mặt đỏ như màu mặt trời, dáng đi lảo ~ đảo như kẻ đương lên đồng trượng. Họ nghiêng bên nọ, họ ngả bên kia, có người vừa đi vừa nôn thốc nôn tháo khắp cả đường cái. Rồi họ nhao nhao chỉ tay lên phía cứa trường: ' - Văn ông như thế mà bỉ đánh hỏng, thật là một lũ không mắt.
Đã dốt không chấm nồi văn, thì về nhà mà ở với vợ' Sao lại dám đi chấm trường?
Thì ra đó là những ông hỏng kỳ đệ tam. Không biết đổ lỗi' cho ái, họ phải đổ cho quan trường.
Cứ một giọng hùng hổ vô lý như vậy, họ vm vai nhau, nắm tay nhau, chắn ngang cả một đoạn đường, vừa đi, vừa thét. Nhưng đi vài bước họ lái lăn xuống dọc đường, thi nhau vừa khóc vừa gào:
ối trời đất ới' Nó đỗ mà tôi bị hỏng, thì tôi còn mặt mũi nào trở về làng nữa' ối cha mẹ ơi' Nào tôi có làm điều gì thất đức, sao tôi cứ phái hỏng mãi thế này' Khốn nạn thân tôi, lẽo đẽo thi bao nhiêu khoa, bây giờ mới vào tam trường một khoa, không ngờ lại hỏng. Thôi công đến sách cũng là đổ cả xuống sông' Gào chán, khóc chán, họ lại đành đạch giãy ở mặt đường giống như những người ngộ gió. Trẻ con hàng xứ vỗ tay reo cười. Tiếng cười chua chát làm cho họ đều đứng phắt trở dậy, đuổi sấn đám người chung quanh và quát:
- Chúng bay cười gì?
- Có phải cười chúng ông dốt thì bảo?
Tan cuộc ra oai với lũ trẻ, họ liền nhặt lấy mỗi người một hòn gạch vỡ, hung hăng kéo lên nẻo cửa trường.
Vân Hạc biết là họ sắp sinh sự bậy bạ, chàng bèn cố len qua đám hàng xứ để đi ngược xuống. Vừa lủi thủi cất bước, chàng vừa nghĩ thầm: "Không .ngờ trong đám văn nho lại có những người liều lĩnh đến thế, không biết họ là học trò tỉnh nào?" Trên đường đã hết bóng nắng, chàng vừa lững thững đến phố hàng Đào, trước mặt lại có một đám người nữa cũng đương chiếm cả một khu đường đi.
Chắc đây cũng vẫn những vị anh hùng hỏng thi, chàng toan rẽ đi đường khác, trong đám chợt có tiếng người nói lớn:
- Việc này là cái nhục chung của sỹ lâm Hà Nội.
Nếu không làm cho ra chuyện thiên hạ sẽ coi sĩ khí Hà Nội là cái trò gì?
Rồi lại có tiếng tiếp theo:
vậy ai đã đọc sách thánh hiền cũng phải biết có nghĩa khí, lẽ nào thấy việc như vậy mà đứng im!
Và lại có người phụ họa:
- Phải đó? Nó chửi một người. tức là nó chửi tất cả sỹ lâm. Nó đánh một người tức là nó đánh tất cả sỹ lâm. Chúng ta đều là người trong thanh khí, cần phải bênh vực lấy nhau. Tôi xin anh em cứ đến mà đánh cho chết cả nhà nó đi, bao nhiêu tội, tôi xin chịu cả.
Rồi đó người ta kéo ùa lên nẻo hàng Ngang, tiếng hô sỹ lâm mỗi lúc mỗi thêm dữ dội.
"Cái gì mà to chuyện vậy?" Vân Hạc đã toan đi theo, để xém họ làm trò gì. Sau chàng lại nghĩ: nếu là một việc nghĩa khí, thì mình cũng phải dự cuộc, không thể bó tay làm kẻ bàng quan. Nhưng nếu nó chỉ là chuyện tức giận vô lý của bọn ngông cuồng, thì mình vào hùa làm chi cho dại. âu là ta hãy hỏi xem đầu đuôi ra sao cái đã? RỒI chàng quanh sang 'lối khác trở về nhà trọ. ông chủ, thằng nhỏ đều đi vắng cả. Trong nhà chỉ có mấy đứa bé con nhỏ lúi húi chơi ở trước sân và bộ lều chõng của chàng bỏ ở trên thềm.
Chàng vào trong nhà cởi khăn, cởi áo rồi tự bưng chậu ra bể múa nước rửa mặt.
Một lát sau, thằng nhỏ lễ mễ quẩy hai bó lều khệnh khạng đi vào trong sân, nét mặt hớn hở nhìn vào vân Hạc như có chuyện gì muốn nói. Nhưng nó còn chưa kịp nói, ngoài cổng đã có tiếng giầy lẹp kẹp, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng về với một dáng bộ nghiêm trang, như mới bị có việc gì trái ý. , Vân Hạc vội bỏ chậu nước và đứng lên chào. Cả hai người đều đổi ra bộ vui vẻ:
- Chú đã về rồi đấy à?
- Chú ở trường ra từ bao giờ?
Vân Hạc lê phép:
Em cũng vừa về đến nhà' Ba người liền cùng bước lên nhà trên, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng vừa thay khăn áo vừa hỏi:
- Chú có gặp bọn say rượu ở ngoài cổng trường đấy chứ?
- Có ạ, em gặp bọn họ ở giữa đường.
- Ai ngờ sỹ lâm, lại có những hạng người vô hạnh như vậy? ở nhà không chịu học hành, đến lúc thi hỏng lại định gây sự với quan trường. . . Danh giáo nào dong những hạng người ấy?
Vân Hạc cũng hỏi:
Lại còn một bọn ở hàng Ngang nữa. Hai anh có gặp họ không" Tiêm Hồng đáp:
- Không Chúng tôi không thấy họ đâu' Nhưng mà thiếu gì! Trong kỳ đệ tam, số hỏng có đến hơn hai trăm người. Những ông ấy bây giờ còn đương phát điên phát cuồng. Hê họ tụ bạ ở đâu, thì sẽ nói bậy ở đấy.
Vân Hạc tỏ vẻ nghi ngờ:
- Có lẽ bọn ở hàng Ngang không phải vì chuyện thi hỏng. Em nghe thấy họ luôn luôn nhắc đến sĩ khí, hình như có người bị ai làm nhục.
Đoàn Bằng có ý ngạc nhiên:
- Lạ nhỉ! Không rõ là việc gì thết ông chủ nhà trọ ở đâu vừa về. Với một dáng điệu tất tả ông ấy vào thẳng trong nhà vừa thở hì hò vừa nói: ' Các quan về sớm quá nhỉ? Đáng lẽ chiều nay tôi cũng lên đón các ngài, sau vì có người rủ đi xem việc lôi thôi ở phố Hàng Giấy, nên lại không lên, các ngài miễn cho!
Rồi ông ấy thêm:
- Đáo để! Các ông học trò hăng quá. Không khéo nhà bá hộ K. sẽ bì tan tành.
Vân Hạc nghe nói, đồ là việc đó cũng có liên can đến bọn học trò hàng Đào, chàng liền hỏi tắt:
- Câu chuyện đầu đuôi ra sao, cũng hãy kể cho chúng tôi nghe. ~ LẾU CHÕNG 685 ông chủ nhà trọ quay ra phía sân để gọi thằng nhỏ châm lửa thắp đèn và giục người nhà làm cơm mau mau. RỒI ngồi vào chiếc phản cạnh, ông ta ra giọng đắc - Có gì đâu? Chỉ tại một câu nói chua.
Số là nhà bá hộ K. . . , các ngài chắc cũng đã biết, vốn là một nhà đại phú. BỞI khi buôn bán cũng có đồng chịu đồng trả, hoặc có giật bọc vay mượn của ông ta, cho nên ở phố hàng Giấy cũng nhiều người nể. ông ấy có người con gái, hình như tên là cô Kim, năm nay độ hài mười tuổi, người cũng khá đẹp, còn đương kén chồng, cả ngày vẫn ngồi ngoài cửa bán hàng. Con cái nhà giàu ở đất kẻ chợ, phần nhiều quen thói khỏng khảnh, huống chi cô nay đẻ ra đã sẵn có tính chua ngoa, thì còn coi ải ra gì? Thôi thì kẻ ăn người ở trong nhà, cho đến những khách ra vào mua bán, hễ ai mà nói thất ý nửa nhời, ấy là cô ta ngoan ngoắt nguyền rủa, có khi chửi trùm chửi lợp người ta nữa chức Vì vậy cả phố ai cũng phải sợ. Tmh cờ đến trưa hôm nay...
Tới đó ông ta ngừng lại để sai người nhà pha nước.
Vân Hạc cũng như nóng nghe, liền gặng:
Đến trưa hôm nay làm sao?
ông chủ nhà trọ hút tàn điếu thuốc rồi đáp:
- Đến trưa hôm nay, có ông học trò vào hàng hỏi mua giấy bút - Cứ nhiều người nói lại là ông đó hãy còn trẻ tuổi - chưa rõ quê quán ở đâu, cũng là số người hỏng kỳ đệ tam và còn ở đây chở bảng tù tài - Trong khi mặc cả, ông này có nói bông đùa sao đó. Cái đó kể ra cũng là sự thường. i vì "hoa thơm ai chẳng muốn vin". có phải thế không, thưa các ngài.
Anh em Vân Hạc chỉ cười không đáp, ông ta lại tiếp:
- Nhưng mà cô Kim là hạng chỏng lỏn có tiếng, đâu lại nghĩ nhũn như vậy? Khi thấy ông kia có ý trêu cợt cô này liền nổi tam bành, rủa luôn một thôi một thốc. ông kia trước còn cố nhịn, sau thấy cô Kim làm già, ông ta phát cáu cũng phải mắng lại một cách rất phũ. Thế rồi hai bên thành ra xô xát. Người nhà cô này nhao nhao chạy ra, níu lấy ông đó, xé tan mất cái khăn lượt và cái áo the. ông này vừa thẹn vừa tức, nhưng vì chỉ có một mình, không thể sao được. Lập tức ông ta chạy luôn về nhà trọ, thuật lại đầu đuôi với bạn cùng trọ và xin anh em rửa nhục cho mình. Trong nhà trọ tất cả mấy bọn, cũng có đến hơn mười người, nghe ông này nói ai nấy đều tỏ ra vẻ bất bình. Cả bọn liền kéo nhau đến trước cửa nhà bá hộ K. bắt đền khăn áo cho bạn. Giả sừ bá hộ K. xin lỗi một câu, có lẽ người ta cũng thôi. Song nào có thế! ông ấy lại giở lý sự và nói những câu cực kỳ vô lễ. Thế mới ngu chứ!
Thằng nhỏ vừa bưng siêu nước đến cạnh, ông chủ nhà trọ đứng dậy lấy bộ khay chén đặt sang giữa ghế.
Vân Hạc đón lấy ấm chén, vừa chuyên nước vừa để ý nghe. Tiêm Hồng hỏi:
ông bá hộ K. nói những thế nào?
Trước hết ông ta vu vạ cho ông học trò kia đã vào cửa hàng ăn cắp. Rồi thì ông ta lên giọng kẻ cả, bảo học trò thi hỏng toàn là những quân mất dạy. Sau hết, ông ta còn hỏi "chúng bay học trò thằng nào" và nói "ông thách thằng thày chúng mày đến đây cũng không làm gì ông tốt..." Tiêm Hồng tỏ ý tức giận:
- Như thế thì càn rỡ thật. Đánh cho chết đi cũng đáng' Vân Hạc bưng chén nước đưa ông chủ trọ và nói:
- ông hãy xơi nước cái đã' ông chủ nhà trọ đón lấy chén nước đặt xuống đầu ghế.
Các ông học trò lúc ấy tức lắm, đã toan xông vào đánh cho ông bá hộ K. một trận. Nhưng mà ông ta chạy thụt vào trong nhà và gọi một lũ gia nhân vác gậy đổ ra. Những đứa gia nhân sức khỏe như voi, chúng đẩy bọn này ra mãi ngoài đường, có ông ngã sấp ngã ngửa, lóp ngóp mãi mới đứng lên được..
Chén nước đầu phản đã nguội, ông chủ nhà trọ - Thế rồi ông bá hộ K. sai lũ gia nhân đứng canh trước cửa và dặn hễ thấy đứa nào đến gần, cứ việc đánh cho mất mạng.
Những ông học trò lúc này càng hăng, nhưng vì ít người không thể đối địch, các ông ấy bèn cắt một nửa ở đó để canh ông K, còn một nửa nữa, thì chạy tuốt về các phố nói cho bạn bè biết rõ tình đầu. Chỉ nửa giờ sau, học trò. các nơi kéo đến tấp nập. Người nào người ấy, sắc mặt hằm hằm như ông Long thần. ông bá hộ K. biết là thế nguy, hến sai người nhà đóng chặt cửa lại Cả nhà trốn hết lên gác. Ngoài này học trò mỗi lúc mỗi đông, đứng chặt cả hai dãy phố. Lúc ấy tôi tưởng người ta sẽ cùng chửi bới nhà kia tàn tệ, cho h~ cơn giận trong lòng. Té ra không, các ông ấy chỉ gọi ông bá hộ K. mở cửa ~tể anh em hỏi câu chuyện lúc nãy đầu đuôi thế nào. Nhưng mà ông bá hộ K. nhất định không thưa. Tức quá mấy ông trong bọn giục nhau đi mượn rìu búa phá cửa mà vào. Giữa khi đó thấy có một đội lính tuần chừng hơn mười người, sầm sập tiến lại. Té ra trong lúc đóng cửa, ông bá hộ K. đã sai người nhà vượt qua tường hậu chạy vào trong thành cấp báo. Có lẽ đối với một đám học trò, lại toàn là hạng tam trường, các quan cũng có lòng nể. i vậy, quan tổng đốc chỉ phái một bọn lính tuần ra đó đề phòng những sự hành hung, chứ không đàn áp. Nhưng khi bị lính ngăn cản, khí tức của các học trò lại càng như lửa thêm dầu, người ta bàn nhau phải kéo đổ nhà ông bá hộ K. để rửa cái nhục cho sỹ lâm rồi sẽ cùng đến cửa quan chịu tội.
Nhời bàn ấy đã được nhiều người khen phải. Và rồi học trò ~ớì đó mỗi lúc mỗi đông, kỉli tồi về đến đầu Hàng Đường, còn thấy một bọn độ vài chục_n~ười đổ lên nẻo phố Hàng Gạo, chắc cũng đi dự cuộc đó...
Tiềm Hồng ra bộ hả dạ:
- Đáng kiếp! Những đứa trọc phú phần nhiều vẫn hay láo hỗn vô lý. Có thế, chúng nó mới chừa.
Vân Hạc ra vẻ khảng khái:
- Nếu quả như vậy, thì việc này có thể là một nghĩa cử. Em muốn.chạy lên. xem sao. "Kiến nghĩa bất vi vô dũng giã"...
Đoàn Bằng vội vàng gạt đi:
- Chú nghĩ như vậy là lầm. Khi nào "danh Chinh ngôn thuận" mới gọi được là nghĩa cử. Đằng này, cứ theo như lời ông chủ nói đó, thì kỳ thủy nó chỉ là chuyện ve gái. ở đời ve gái mà đến bị rủa, bị xé là sự đương nhiên, không nên bênh vực làm chi. i vì thân gái quý ở hai chữ đoan trinh, nếu bị trêu ghẹo, người ta có quyền kháng cự, không ai được trách chỗ đó. Thế mà trong lúc cái ông ve gái bì nhục về nhà cầu cứu, những người cùng trọ không lấy lẽ phải mà khuyên anh em, lại còn kéo nhau đến nhà người ta để hòng gây chuyện.
Đó là tự các ông ấy đã bất chính rồi. ~ vân Hạc nói xen:
- Đã đành như thế, nhưng mà lão bá hộ K. cũng hỗn láo quá!
- Phải rồi. Lão đó cũng hỗn láo quá thật đấy!
Song vì những ông học trò có chỗ vô lý, thì hắn mới hỗn láo chứ. Sao không trách mình lại cứ trách người là cái nghĩa gì? Vả chăng, lão đó nói càn mấy câu, anh em trừng trị như thế, cũng đã xứng đáng lắm rồi. Không nên làm cho to việc ra nữa. Các chú thử nghĩ mà xem, bênh một người bạn chim gài mà đến hàng trăm học trò kéo đi phá nhà người ta, có thể gọi là "danh chính ngôn thuận" được không? Làm vậy thiên hạ hậu thế sẽ bảo chúng mình là hạng người gì?
Rồi thày kết luận:
- Thôi' Chú có đi mà can anh em, thì hãy nên đi, nếu đi để vào đảng với các ông ấy thì tôi không bằng lòng chút nào' .
ông chủ nhà trọ tán thêm:
Phải đấy! Các quan mới ở trường về, chắc còn mỏi mệt, không nên đi vội. Xin mời các ngài ở nhà xơi cơm, để tôi lại lên Hàng Giấy coi thừ công việc thế nào, rồi tôi nói để các ngài nghe, nên đi hay không, lúc đó sẽ quyết định.
Mọi người đều cho là phải. ông ta lại lật đật ra đi, sau khi đã xuống nhà dưới dặn bảo người nhà sắp sửa cơm nước.
Chừng nửa canh một, anh em Vân Hạc ăn cơm đã xong ai nấy nóng lòng chờ đợi.
Trăng non đã lặn, ngoài sân trời tối mù mù, bấy giờ ông ta mới đốt đuốc về. Nhanh nhảu đến chỗ bọn này đương ngồi, ông ấy vừa cười vừa nói:
- Đại phúc cho nhà ông bá hộ K. Chuyện đã dẹp yên. Các ông học trò đã đâu về đấy cả rồi.
Đoàn Bằng bảo ông ấy ngồi hẳn vào ghế rồi hỏi:
- Yên là thế nào? Anh em học trò bị giải tán hay có người nào đứng ra thu xếp?
- Có chút' Quan đốc học phải đến khuôn xếp. Ngà} thật khéo quá, cương có, nhu có, vì thế, các ông học trò mới phải vâng nhời.
Vừa nói, ông ấy vừa ghé vào trước Đoàn Bằng và tiếp:
- Tôi xin nói lại từ đầu để các ngài nghe. Lúc tôi lên đến Hàng Giấy đã thấy mấy cây đuốc lớn đương cháy đùng đùng, trong phố sáng như ban ngày. Hỏi đuốc lấy ở đâu ra, người ta nói rằng: đó là các ông học trò góp tiền mua nứa bó lại thành bó. Bấy giờ các ông học trò vẫn còn bàn tán hăng hái như trước, có điều ai nấy vẫn hai tay không. Tôi đương cố nghe xem các ông ấy bàn ra thế nào, thì ở đầu phố, có một người anh cầm chiếc đèn lồng sòi cho hai người lính khác khiêng một cái võng rẽ đám học trò đi đến trước cửa nhà bá hộ K.
Trên võng bước xuống một ông cụ già đầu đã bạc trắng.
Bóng lửa lấp loáng, nhôm mãi mới biết là quan đốc học.
điều này là lúc sau này người ta mới kể với tôi - thì ra trong lúc các ông học trò hò nhau kéo đổ nhà há hộ K.
một người lính tuần ở đó liền chạy về thành báo tin với quan tổng đốc. Lập tức quan tổng đốc cho người vào dính bàn cách khu xử. Không biết hai ngài bàn định thế nào, mà quan tổng đốc phái quan đốc học thân hành đến đó. Các ông học trò lúc ấy mới đáng Kính phục làm sao' Ai nấy đều đương cơn thịnh nộ, thế mà thấy quan đốc học, cả đám đều chắp tay vái chào, rồi cùng nín im phăng phắc như đám ba quân chờ nghe hiệu lệnh ' của ông đại tướng. . .
Tiêm Hồng nói xen:
Cái đó là lẽ tất nhiên. i vì quan đốc học là người đứng đầu việc học trong một tỉnh, 'học trò tuy không học ngài, nhưng cũng phái coi như thầy. Vả chăng, cụ đốc học Hà Nội lài là một bậc danh vọng, ai mà không phải kính trọng?
Vân Hạc hỏi gặng:
- Thế rồi cụ đốc làm gì?
Ngài bảo các ông học trò đứng xếp hàng ở hai dãy phố để ngài giảng giải. 'Trước hết, ngài khen các ông đó đều có khí khái, biết bệnh thể diện của sỹ lâm.
Rồi ngài hỏi ai là người đã bị con bá hộ K. lăng mạ và xé khăn áo. Một ông học trò liền chạy ra nhận. Ngài bảo ông đó đứng ra một bên, và ngài hỏi đến những người đã đến nhà bá hộ K. bắt đền quần áo cho bạn và bị ông ta nói hỗn. Chừng hơn mười người ra trước mặt ngài thưa là chúng con. Ngài lại bảo những ông này đứng sang một bên. Bấy giờ ngài mới chỉ vào cái ông học trò bị xé khăn áo và cất giọng nghiêm nghị mà răng: ~ ',Anh đã nói trêu con gái bá hộ K. phải không ' ông này chối không, nhưng ngài không tin và noi:
"Ta biết cả rồi, anh không thể cãi. Công nhiên vào nhà lương gia ve vãn con gái người ta, như anh tức là tội nhân của danh giáo".
Luôn đó, ngài quay sang phía những ông đã bị ông bá hộ K. nói hỗn và quở như vầy:
"Thấy bạn làm xằng, đáng lẽ can đi mới phải. Các anh không can, lại còn kéo bè kéo đảng, định lấy danh nghĩa nho lâm bênh vực một kẻ ve gái, chẳng những gây thêm nết xấu cho bạn, mà còn làm cho danh giáo phải điếm nhục nữa, nghe không Tất cả mấy ông học trò đều am thin thít. Khi ấy ngài mới sai lính đập cửa gọi hai cha con bá hộ K. ra đứng ở trước mặt ngài. Hai người hình như vẫn chưa hết cơn sợ hãi, vẻ mặt không còn sắc máu và đều chắp tay, cúi đầu, không dám trông lên. Trước hết quan đốc học mắng người con gái thế này:
"Mày là phận gái, gặp kẻ trêu ghẹo, cố nhiên cũng nên mắng lại, nhưng phải mắng cho có lẽ. Ai cho mày chửi rủa người ta, rồi lại sai lũ đầy tớ xé cả khăn áo người ta? Mày có biết "lăng mạ người khác", phải tội như thế nào không '.
Rồi ngài mắng ông bá hộ K như vầy:
"Mày thách thằng thày các anh học trò cũng không làm gì được mày phải không? Tao là một người ở bậc thầy vậy tao muốn hỏi mày thách những gì~ ông bá hộ K. chắp tay lạy lấy lạy để coi rất buồn cười Quan đốc học lại chỉ vào mặt ông bá hộ K. và nói giận dữ như vầy:
"Thế là mày đã không biết răn con, lại còn bênh con mà vô lễ với tất cả người trong nho lâm. Người ta muốn phá nhà mày, không phải là quá?".
ông bá hộ K. cúi gục tận đất, kêu xin tha tội.
Đến đây, ông chủ nhà trọ tạm nghỉ để hút một hơi thuốc lào. Đoàn Bằng chờ cho khỏi thuốc ra hết, lại hỏi:
- Thế rồi sao nữa?
ông chủ nhà trọ giương hai con mắt lờ đờ của kẻ say thuốc và đáp:
Thế rồi quan đốc học bắt ông bá hộ K. phải xin lỗi cả đám học trò, nbợườỉ con gái phải xin lỗi cái ông bị xé, hai cha con phải đền ông này một cái khăn lượt một cái áo the. Và ngài còn bắt ông bá hộ K. và ông học trò bị xé, ngày mai phải xuống Văn Miếu lễ tạ và chịu mỗi người một chục roi đòn. Những ông học trò đi bắt đền áo cho bạn cũng phải lễ tạ Văn Miếu. Trước khi ra về, ngài đã sai người lễ sinh đi hầu phải hỏi tên họ của các học trò bị phạt, biên vào mảnh giấy, để họ khỏi trốn.
Và ngài còn nói giờ ngọ ngày mai, ngài sẽ xuống nhà Văn Miếu thi hành các lệnh phạt kia, các ông học trò nếu có thì giờ, cũng nên tới đó chứng kiến cuộc trừng phạt đó.
ông chủ nhà trọ kết luận:
- Tôi tức cười nhất là lúc cha con ông bá hộ K. cúi lạy các ông học trò và nói mấy câu xin lỗi. Cái bộ điệu của họ lúc ấy thật là khúm núm khốn nạn, chẳng bù với lúc quạc mồm nói càn. _ Anh em Vân Hạc đều khen: ' - Cụ đốc khu xử như vậy, thật hợp tình hợp lý, anh em học trò kính phục là phải. Ngày mai chún~ý mình nếu có thong thả, cũng nên xuống nhà Văn Miếu mà xem cho hay.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
XVI
Mọi khoa xong kỳ phúc hạch, lâu lắm cũng độ nửa tháng thì đã đến kỳ xướng danh. Khoa này sao mà chậm quá? Cái hạn nửa tháng qua rồi, người ta vẫn chưa được biết cuộc xướng danh sẽ là ngày nào.
Bạc đã đánh rồi, ai không mong cho chóng mở bài. Anh em Vân Hạc cũng như những người đã vào đến kỳ thứ tư, hết thảy nóng lòng sốt ruột, qua ngày nay lại ngóng ngày mai.
Ngay từ sau kỳ phúc hạch, Đoàn Bằng đã sai người về làng Đào Nguyên và làng Vân Trmh đưa cho anh cả và ông đồ Vân Trình coi những bản sao các bài kỳ ấy của ba anh em. Họ nội họ ngoại cũng như những người ruột thịt trong nhà, ai nấy nô nức mừng rỡ. Cách một hôm sau, Đào Hải âu và hai anh em họ là Đào Tường Loan, Đào Cương Phượng hến thân hành đến tận nhà trọ. Đáng lẽ cô Ngọc và hai chị dâu thứ hai thứ ba cũng cùng tới đó để hưởng những sự vinh dự sắp tới của các ông chồng. Nhưng ở nhà còn có nhiều việc cần phải lo liệu, nếu như anh em Vân Hạc cùng đỗ cừ nhân.
Vì thế cô chỉ gửi ông anh cả đem thêm cho chồng một số tiền nữa, để chàng chi tiêu trong những ngày chờ đợi xem bảng. Hai người chị dâu cũng vậy.
Trong nhà Vân Hạc, Hải âu tuy là ông anh thứ nhất, nhưng mà đối với các em không quá khắc khổ như Đoàn Bàng.
Thày năm nay đă năm chục tuổi, nhưng vẫn tráng kiện như con trai, râu tóc chưa bạc cái nào. Từ thuở chưa hai mươi tuổi, thày đã nổi tiếng là tay văn chương có tài. Về sau học lực càng ngày càng tiến, những vị khoa giáp ở xứ Đoài và xứ Bắc đều phục là tay đại nho. Nhưng tmh thày cũng như ông cống ngày xưa. chỉ thích khoáng dật, không chịu nổi những sự bó buộc... Cho nên, từ lúc trẻ tuổi, thày đă quyết không thi cử gì cả. Quanh năm chí tối. ngoài việc đọc sách, thì giờ của thày chỉ để vun xới hoa cỏ trong vườn. Lúc nào cao hứng, thì thày cho tìm mấy ông bạn thân đến nhà thưởng hoa, uống rượu. hoặc đi tiêu giao các nơi sơn thủy, hay là vào các ca-lâu, tửu quán mua vui. Trong bọn thiếu niên, Vân Hạc, Đốc Cung đều là người rất hợp ý thày. Bởi vậy, khi mới bước vào nhà trọ, thày hỏi ngay đến Đốc Cung. Thấy nói Đốc Cung phải "ra bảng con". thày điềm nhiên bảo với các em:
Sự đắc táng của cuộc đời, chẳng qua như một giấc mộng. đô hay hỏng kể ra cũng chẳng quan hệ cho lắm. Có đều tài học anh ta nên đỗ là phải. Thế mà bị nêu bảng con, thì cũng khi oan. Nhưng may không phải tội gì, cũng còn khá đấy.
Rồi thày liền sai Vân Hạc đi kiếm Đốc Cung về đó cho vui. .
Từ bữa bị hỏng, Đốc Cung chỉ lên nhà trọ một lần luôn bữa đó chàng lại bị mấy người bạn ;'cùng hỏng" kéo xuống hàng Lờ, la cà hết nhà ấy sang nhà khác, cái nồng nàn của những cuộc thâu đêm đàn hát đã làm cho chàng quên mình là người hỏng thi.
Đoán chắc Đốc Cung chỉ nằm ở nhà đào Cúc, Vân Hạc liền đến nhà ấy trước tiên. Nhưng mà Đốc Cung không có ở đấy. Đào Phượng hết sức chèo kéo, mời chàng ở lại đến mai, chàng phải nói thật là không thể ở và xin khất đến hôm khác.
Hỏi thăm ba, bốn nhà nữa, Vân Hạc mới biết chỗ ở của Đốc Cung. ~úc ấy Đốc Cung đương cùng một lũ ả đào lăn lóc trong bàn tổ tôm. Tiếng ăn, tiếng phỗng tíu tít xen với tiếng cười nói tdth tứ. Thấy Vân Hạc vào một cách đột ngột, Đốc Cung cho là chàng này đã trốn Đoàn Bằng, Tiêm Hồng, xuống đó cho qua cơn nghiện, liền chào bằng giọng bông đùa:
- Hôm nay trời đi vắng nhà hạc đã xổ lồng phải không? Vào đây cầm hộ vài ván. Tao đương bị chúng ăn hiếp, suốt hội không ù ván nào?
Vân Hạc cũng đùa:
- Thấy mặt là thấy nói láo! Bao giờ cho mày thành ra người lớn?
Cả bọn ả đào, tuy chưa ai quen Vân Hạc, nhưng cũng biết là bạn Đốc Cung nên đều tỏ ý vồ vập, thi nhau nhường bài cho chàng.
Vân Hạc hết thảy từ chối và nói cho Đốc Cung biết Hải âu sai mình đi tìm.
Xưa nay đôi mới Hải âu, Đốc Cung vẫn quý mến và rất kính trọng. Hồi này Hải âu luôn luôn đi chơi, nên đã gần một năm nay, chàng chưa được gặp. Bây giở nghe nói ông bạn vong niên và cực tương đắc đó mới ở quê ra, tự nhiên chàng thấy sự mải miết trong đám yên hoa đã thành ra cuộc vô vị. Tức thì Đốc Cung trao bài cho Vân Hạc đánh, để mình đứng dậy rứa mặt chải đầu sắp sửa khăn áo. Còn vài ván nữa hết hội. Trước sự co kéo lả lơi của một đám phấn son nhí nhảnh, hai- ' chàng cùng dứt áo ra về.
Bấy giờ trời đã sầm tối, trong nhà bắt đầu thắp đèn. Dưới ánh sáng đỏ nhợt của ngọn lửa mùa đông, một mâm thịnh soạn và một nai rượu lớn của ông chủ nhà trọ đã chiếu lệ hàng ngày đặt ở giữa phản, cả nhà đương sốt sắng đợi người đi vắng.
Đốc Cung vừa nhô vào cửa, Hải âu liền cười và noi:
- Thế nào? Bác bị "khiếm ty" đấy ư? ấy cũng vì thế mà từ thuở nhỏ tôi không dám nghĩ đến chuyện thi cử Đốc Cung chỉ trả lời bằng một nụ cười khiêm tốn.
Rồi đó, c~ nhà quây vào quanh mâm. Hết cuộc hàn huyên của Hải âu, Đốc Cung, Tiêm Hồng nhắc lại câu chuyện còn dở:
- Hôm nọ, sau khi xem bảng, bốn người chúng em coi đi coi lại bản giáp của bác Cung đến hai chục lượt, vẫn không tìm được "khiếm ty" chỗ nào. Bởi vì hai chữ ',trường", "ninh" lại ở hai câu, trong lúc vô tình, khó mà nhận thấy. Em chắc không may cho bác Cung, cho nên mới bị quan trường nhôm ra, chứ những quyển khác có khi cũng còn nhiều chỗ phạm tội như thế mà không ai biết.
Cái đó tuy cũng có thể, nhưng mà ít khi xảy ra.
Là vì mỗi quyển những bốn ông chấm, nếu ông chấm trước không thấy, thì ông chấm sau cũng thấy. Vả lại, theo phép nhà Nguyễn, trách nhiệm của các quan trường rất ngặt. Thí dụ gặp một quyển văn có tội như là "khiếm trang", "phạm húy", "phạm trường qui", "đồ di câu cải bất phụ' chẳng hạn, mà ông sơ khảo không biết, đến ông phúc khảo bới ra, thì ông sơ khảo tức thì phải đuổi ra liền; nếu cả mấy ông sơ khảo, phúc khảo, và giám khảo đều không nhận ra, rồi ông chủ khảo xét thấy thì ba ông kia cũng bị "phù xuất" tất cả, nếu ông chủ khảo cũng không xét thấy, nhưng mà quyển đó cũng bị đánh hỏng thì thôi không sao, giả sử quyển ấy được đô, khi đệ về triều, hoàng thượng hay các quan triều xét ra, thì từ ông chánh chủ khảo trở xuống đều có tội cả i vậy, trong khi chấm văn, các quan đều phải hết sức tìm bới những chữ phạm tội.
Cương Phượng nói xen:
- Thảo nào em thấy thày em nói rằng: cái khoa bác cống làm phúc khảo. cũng có mấy ông sơ khảo bì "phù xuất". Hẳn các ông ấy cũng phạm lỗi đó?
Hải âu đáp vội dặư chén rượu xuống mâm:
- Không phải! Mấy ông sơ khảo khoa ấy mà bị phù xuất là tại phê văn không đúng. Theo lệ, những ông quan trường chấm văn tuy vẫn được môi người mỗi ý nhưng các dấu phê cũng phải na ná với nhau, không được chênh nhau xa quá. Thí dụ llht( ông sơ khảo phê "liệt" rồi ông phân khảo phê "thứ" hoặc phê "bmh" thì không làm sao. nếu ông phân khảo phê "ưư' ấy là những ông chấm trước đă phê "liệt" đều phải phù xuất.
Hay là các ông sơ khảo phê "ưư' rồi ông chủ khảo phê "bình" hoặc phê "thứ" thì không việc gì, nếu ông chủ khảo phê "liệt" thì ông chấm trước phê "ưư' cũng bị đuổi ra khỏi trường. Bởi vì "ưư' với "liệt" cách nhau rất xa. khi nào cùng một quyển văn mà lại có thể người này phê "liệt" người kia phê "ưư'? Mấy ông sơ khảo bị phù xuất trong khoa thày tôi đi chấm trường. nghe đâu vì mấy quyển các ngài phê "liệt". đến ông phân khảo lại đều phê "lrư'. có thế thôi.
Tường Loan lại hỏi.
- Giả sử có quyển dở quá, mấy ông chấm trước phê "liệt" là đúng. mà ông phân khảo lại đi phê "ưư' hay là những quyển văn thật hay. những ông chấm l'liệt", thì làm thế nào? Các ông chấm trước cũng bị phù xuất ư?
Hải âu nâng chén và đáp:
Đã có các quan ngoại trường ngự sử can thiệp.
Trách nhiệm của mấy ông này chỉ cốt coi sóc công việc ngoại trường.
Nếu thấy mấy ông chủ khảo, phân khảo có ý thiên tư, thì các ông đó có quyền bắt bẻ và phải lập tức làm sớ đàn hoặc đưa về triều đình...
Cương Phượng nói góp:
- Thế ra thể lệ với khảo quan cũng nghiêm ngặt lắm. Vậy mả làm sao vẫn có những việc học trò thông với quan trường?
Hải âu vẫn nâng chén rượu:
- Cái đó có lẽ là chuyện đời Lê. Cứ như các cụ kể lại thì việc thi cử về hồi Lê mạt nhũng lắm. Nhất là mấy khoa cuối đời Cảnh Hưng. Có khoa người ta ăn tiền, lấy đến sáu trăm sinh đồ. Về sau vì có nhiều tiếng nói ra nói vào, chúa Trịnh phải bắt những người đã đỗ ra bãi bờ sông hạch lại. Sáu trăm ông bị loại hơn bốn trăm ông. Cũng 'vì công việc trường ốc của nhà Lê hãy còn nhiều chỗ sơ xuất, cho nên mới có tệ đó. Chứ đến đời Nguyễn thì sự đề phòng đã cực chu đáo, không thể nào mà gian lận được.
Cả nhà đều lắng tai chờ nghe, Hải âu uống một hớp rượu rồi tiếp:
- Từ đời Minh Mệnh mà đi, nước ta có bảy trường thi là: trường Gia định, trường Bình Định, trường Thừa Thiên, trường Nghệ An, trưởng Thanh Hóa, trường Nam Định và trường Hà Nội. Việc thi cử của bảy trường đó đều do Lễ bộ trông coi. Nhưng việc lựa chọn hai ông chánh phó chủ khảo và các ông nội trường ngự sử, ngoại trường ngự sử, nội trường đề điệu, ngoại trường đề điệu, thì do ý kiến triều đình. Bấy nhiêu ông đó mỗi ông mỗi việc, các ông chủ khảo coi việc văn chương các ông đề điệu giữ việc canh phòng trong trường các ông ngự sử thì phải giám thị quan trường, và học trò. Bao giờ cũng vậy, đến cách kỳ thi độ chừng ' mười ngày trở lại, trong triều mới kén khảo quan. Sau khi cắt cử đâu đấy, ông chánh chủ khảo được ban lá cờ khâm sai, ông phó chủ khảo được ban cái biển phụng chỉ. lập tức hai đội thị vệ rước luôn cờ, biển và dẫn ông nào về nhà ông ấy. Mấy ông ngự sử cũng phải theo chân ra liền. Thế rồi các lính thị vệ ở luôn ngoài cổng canh giữ, không cho ai ra, ai vào. Mỗi ông ngự sử cũng phải kèm luôn bên cạnh một ông chủ khảo, ông này đi đâu, ông kia đi đấy. Lúc ấy hai ông chủ khảo chỉ còn có việc sắm sửa hòm xiểng quần áo rồi lên đường không được dặn vợ, dặn con nửa câu. Từ đấy cho mãi đến khi xong hết việc trường, các ông ngự sứ không rời các ông chủ khảo bước nào. Các ông phân khảo cũng bị canh phòng như thế. chỉ kém cờ biển mà thôi. Như thế thì còn dặn nhau vào lúc nào mà bảo học trò có thể thông với quan trường?
Cương Phượng cầm chai rót rượu vào chén của Hải âu:
- Giả sử ông ngự sử vào hùa với ông chủ khảo thì sao?
Không có dời nào như thế. Là vì những ông ngự sử đều là những người cương trực. không kiêng nể ai.
Chỉ những llg~rời cương trực không kiêng nể ai. mới được cứ làm chức ngự sứ. Cho nên các quan ngự sử tuy không có quyền, nhưng triều đình vẫn phải kính trọng.
Tường Loan vẫ~l chưa tin:
- Nhưng mà người ta cũng còn có thể thông với mấy ông sơ khảo. phúc khảo. giám khảo được chứ? Các ông này đều lấy những ông huấn đạo. giáo thụ sung vào kia mà?
- Cũng không thể được. Các ông sơ khảo, phúc khảo, giám khảo tuy cũng là chân huấn đạo. giáo thụ do các quan tỉnh cứ ra, nhưng cách đề cử cũng rất tinh tế Ví như hai trường đường ngoài. người chấm trường Hà phải là huấn giáo của những tỉnh th~lộc về trường Nam. người chấm trường Nam lại là hutm giáo của các tỉnh thuộc về trường Hà. ông nào bị cử đi làm quan trường mà còn có em hay học trò dự thi ở trường sẽ có mình chấm thì phải làm giấy hồi tì. Như vậy, các ông sơ khảo, phúc khảo với các học trò còn ai biết là ai mà hòng thông nhau? Vả chăng, dù có thông nhau được nữa cũng là vô ích. i vì cái quyền lấy đỗ ở trường thi hương phải do tay ông chủ khảo, vậy mà sau khi tiến trường, các ông sơ khảo, phúc khảo, đều phải ở riêng ngăn trong, có rào che kín, có quan nội trường ngự sử giám thị, có ông nội trường đề điệu và hình mật sát canh phòng. Trừ ngày ra bảng giải ngạch, mấy ông đó không bao giờ được giáp mặt các ông chủ khảo, nghĩa là không thể nói lót được cho người nào, thế thì thông nhau để làm gì? Huống chi những việc tư túi: chỉ quan hệ ở lúc chấm văn. Nhưng các quyển học trò đều phải rọc "phách", việc chấm cứ chấm, quan trường không thể biết được quyển nào là của người nào, còn dùng cách nào mà tư túi được?
Cương Phượng ra bộ mải nghe lại gợi:
- Không biết trong các quan trường ông nào coi việc rọc phách?
ông nội trường đề điệu. Việc ấy sở dĩ giao cho quan võ là vì trong lúc rọc phách các quyển đều có đủ cả tên tuổi quê quán của học trò, nếu để lọt vào tay một ông quan văn, sợ rằng ông ấy sẽ vì tmh riêng mà sửa chữa văn bài trong quyển. Dùng ông quay võ trông coi, không phải nghi ngờ gì nữa.
Tường Loan lại hỏi:
- Nhưng môi kỳ thi có hàng vạn quyển, mỗi quyển là một cái phách, xếp đặt thế nào cho khỏi lẫn lộn?
Hải âu lại cất chén rượu:
Người ta làm việc rất có trật tự.
Thày uống hớp rượu rồi tiếp:
- Thí dụ như trường Hà - Nội khoa này có một vạn hải học trò ứng thí, thì số quyển thi phải bốn vạn tám. i vì ai cũng nộp sẵn bốn quyển cho đủ để viết bốn kỳ. Những quyển đó đều do chính tay học trò tự đề tên mình và nộp lên quan đốc học bản tmh. Sắp đến ngày thi, các quan đốc học các tỉnh phải đệ cả đến cửa trường giao cho quan trường. ông ngoại trường đề điệu nhận đủ quyển của các tình, đóng dấu "Hà Nội thi trường" vào những trang đầu các quyển, rồi mới chuyển vào nội trường cho ông đề điệu trong ấy. Công việc của ông này mới là lôi thôi' Trước hết phải mở các quyển đóng vào khe giữa trang hai và trang ba một miếng dấu nữa - dấu này có chữ "Văn hành công khỉ', người ta vẫn gọi là dấu "giáp phùng". - Rồi chọn mồi tên học trò một quyển, tổng cộng một vạn và hai nghìn quyển, để vào một đống, trộn cho lung tung và chia ra làm bốn phần.
ông chủ nhà trọ vừa qua trước sân, Hải âu ngừng lại để chào ông ta, Cương Phượng tiện dịp lại xen một câu:
- sao lại phải chia làm bốn? Trộn lên như thế để làm gì? \ vì trường có bốn vi, quyển của vì nào để riêng cho vi ấy, cho nên phải chia làm bốn. Còn việc trộn cho đống lung tung là cốt để khi chia phần, những quyển cùng tỉnh khỏi ở cùng phần với nhau.
Tường Loan nhắc:
- Chia xong rồi thì làm thế nào?
- Bấy giờ ông ấy mới sai lại phòng lần lượt ghì tên quyển vào sổ, bốn phần phải tám cuốn sổ, mỗi phần hai cuốn, biên đúng như nhau. Rồi bắt bọn hành mật sát đem các phần quyển đóng làm bốn hòm, đưa ra ngoại trường, để đến ngày thi phát chó học trò. những bản sổ quyển đã ghi cũng phải đưa luôn ra đó bốn cuốn, để ngoài này làm bảng "yết danh" tức là cái bảng biên tên học trò treo ở ngoài cửa các vi. Còn bốn cuốn nữa phải giữ lại đó để kỳ sau tra xem ai hỏng ai vào.
"Trong ngày thi, khi đã có trống thu quyển, ông ngoại trường đề điệu phải ra tại nhà Thập đạo, trông' cho lại phòng thu nhận, quyển nào đúng hạn đều xếp vào hòm, khóa lại và dán niêm phong cẩn thận, quyển nào ngoại hạn thì đóng cái dấu "ngoại hàm" lên đầu và để nguôi, rồi lại giao cả cho ông đề điệu nội trường.
"ông này nhận những quyển đó, để riêng các quyển ngoại hàm một nơi, còn bao nhiêu quyển nội hàm thì đưa lại phòng đánh dấu rọc phách. Lúc này công việc gấp lắm, bao nhiêu lại phòng đều phải xúm lại mà làm. Mỗi quyển phải khuyên một cái ở giữa trang đầu và viết hai bên hai dòng chữ số như nhau:
Thí dụ bên này là "giáp nhất hiệp', bên kia cũng "giáp nhất hiệp', bên này là "khảm lục hiệp' bên kia cũng "khảm lục hiệp'. Rồi gập một vệt ở giữa cái khuyên, rọc lấy một mảnh có đề tên họ quê quán học trò, mảnh giấy ấy gọi là cái phách. Rọc xong; có bao nhiêu phách, ông đề điệu phải cất vào hòm còn quyển thì giao các ông sơ khảo chấm trước, đến ông phúc khảo, đến ông giám khảo. Hết lượt nội trường, mới đưa ra ngoài ngoại trường. Các quan ngoại trường chấm xong, lại giao vào trả nội trường. Bấy giờ lại phòng lại phải xúm I.ai, giở hòm phách kháp vào các quyển. Hễ thấy bên phách bên quyển, hai dòng chữ số đúng nhau, hai nửa cái khuyên đúng nhau, tức là phách đúng với quyển. Phách của quyển nào hãy tạm cài vào quyển ấy, để kiểm dấu phê ở trong. Những quyển đã bị ngoại trường phê "liệt" bấy kỳ nội trường phê gì, hoặc "ưư' hoặc "bình" mặc lòng, đều là quyển hỏng, số phận cũng như các quyển ngoại hạn, phải để riêng ra một nơi. Còn những quyển nào được ngoại trường phê "thứ" hoặc "bình" hoặc "ưư', dẫu cho nội trường phê "liệt" cũng vẫn được "vào" phải tháo lấy những mảnh phách vừa cài vào đó, bỏ lại một đống trộn cho đều, rồi lại chia làm bốn phần và cũng biên tên từng phần vào sổ như lần trước.
Chừng đã thấy thèm thuốc lào. Hải âu kéo lấy chiếc điếu bên cạnh, đặt thuốc và hút một mồi rồi tiếp:
- Trong lúc bọn lại phòng này biên các sổ phách, thì bọn lại phòng khác mở hòm quyển trắng lục lấy một vạn và hai ngậm quyển. tức là môi người học trò một quyển. Rồi mới kiểm số quyển hỏng, xem có những tên người nào, thì bỏ quyển của người ấy ở đống quyển trăng này đi. Còn những quyển trắng còn lại, thì đem so vào với bốn phần "phách" mới chia, phần nào có những người nào. quyển trắng của những người ấy lại phải để vào phần ấy. Thế là hết việc, các phách và các quyển trắng lại phải đóng làm bốn hòm, đưa ra ngoại trường phách thì để lại làm bảng "yết danh", quyển thì để lại phát cho học trò trong kỳ thứ hai. Đến kỳ thứ ba cũng phải làm việc như thế. Có điều sau này học trò thưa dần, số người ít dần, công việc cũng nhẹ hơn nhiều.
Tường Loan kết luận:
- Thế ra trong một khoa thi, công việc của quan nội trường đề điệu vất vả lắm nhỉ?
Hải âu đáp:
Cũng chưa vất vả bằng các ông sơ khảo, phúc khảo.
Đốc Cung khôi hài:
- Bác chưa nói đến những quyển khiếm tỵ như Hải âu c~mg cười:
- Aø còn eót nhỉ' Những quyển khiếm ty cũng như những quyền phạm húy, khiếm đài, bất túc, khiếm trang, bạch tự, thiệp tích, tì ố, phạm trường quy v.v...
phần nhiều không được chấm hết. Các ông sơ khảo hay phúc khảo chấm đến những chỗ có tội như vậy, phải nêu vào mảnh giấy trắng nhỏ bằng giấy cuộn thuốc lá và cài lên chỗ đầu quyển, rồi thôi không chấm nốt nữa.
Mấy ông chấm sau, thấy chữ nêu đó, xét ra quả có tội thật thì chỉ ký tên vào trang đầu quyển, chữ không chấm một nhát nào. Những quyển ấy, sau khi trở về nội trường, lại phòng hợp phách xong rồi, cũng phải làm 'sổ đưa ra ngoại trưởng để các quan ngoài đó xét xem những ai đáng bảng con. Trong các tội mà tôi vừa nói, chỉ có bốn tội: phạm húy, khiếm đài, bất túc và khiếm tỵ phải yết bảng con, còn .các tội kia chỉ bị đánh hỏng mà thôi.
Đêm đã khuya, ngoái phố chừng đã hết người đi lại bốn bề im lặng như tờ. Hứng rượu của Hải âu còn bồng bột. Câu chuyện thi cử kéo dài cuộc chén chú chén anh đến gần canh ba.
Từ đó, Hải âu, và Cương Phượng, Tường Loan ở luôn trong trọ đợi ngày xướng danh. Và ở hài làng Đào Nguyên, Vân Trình thỉnh thoảng cũng vẫn có người tới đó hỏi thăm tin tức. Rồi các bạn bè của anh em Vân Hạc luôn luôn rủ nhau đến tìm Vân Hạc để nói chuyện phiếm. Trong nhà suốt ngày khách khứa dập dìu. ông chủ nhà trọ hình như cũng có lòng mừng, tuy phải phục dịch vất vả, nhưng vẫn tỏ vẻ sốt sắng và vui vẻ.

XVII

HÔM nay trời đã bớt lạnh, mặt trời hình như mọc sớm hơn các hôm khác. Đốc Cung và anh em Vân Hạc vừa mới lần lượt trở dậy, ánh nắng vàng nhạt đã lấp lánh in vào những chiếc lá bàng úa đỏ ở trước sân.
Quen lệ, thằng nhỏ nhà trọ nhanh nhảu đệ lên ~ chỗ ngồi của khách một siêu nước sôi và bộ bàn chè chén mẫu.
Vân Hạc đương lúi húi đổ chè ra chiếc nắp bao và rẽ ràng trút vào chiếc ấm quần ẩm, ngoài sân bông có tiếng hỏi:
- Tôi tưởng các ngài còn ngủ, té ra đã dậy cả rồi.
Hôm nay sao chư tiên sinh dậy sớm quá vậy?
Cả nhà đều ngẩng lên trông.
Trần Đức Chinh nghênh ngang lên thềm với một nụ cười tủm tỉm.
Đốc Cung nhận rõ anh ta đương có việc gì đắc ý, sau khi chào nhau khắp lượt, chàng hỏi:
Đức Chinh theo lời mời của Vân Hạc, ngồi vào trong ghế, rồi làm ra vẻ khiêm tốn:
ông nói ếm nhau chi thế Tú tài đâu đến phần tôi? Nếu tôi mà đỗ, thiên hạ còn ai hỏng nữa' Đốc Cung cười kiểu chế nhạo:
- Cái đó không biết chừng... Học tài thi phận, cậu ạ Nhưng nếu không có tin đỗ thì sao người cậu hôm nay lại thấy tươi hơn mọi hôm?
Đức Chinh vẫn đáp bằng giọng thật thà:
Vì tôi mừng cho ông Hạc.
Đốc Cung vội hỏi:
Cậu biết anh Hạc đỗ à?
- Vâng, có lẽ ông Hạc sẽ đỗ thủ khoa.
Vân Hạc buột miệng:
Nếu quả như vậy, thì các quan trường năm nay đã biết chấm văn. . .
Rồi chợt nhớ ra trước mặt còn có Đoàn Bằng.
Tiêm Hồng, chàng liền lảng sang ngách khác.
Nhưng cậu nghe được tin đó ở đâu?
Hôm qua thày tôi có vào thăm quan tổng đốc, trong lúc nói về việc trường, ngài có cho biết như vậy.
vì tôi khoe ông Hạc là bạn với tôi. cho nên thày tôi giục phải đến đây sớm đê báo tin mưng.
Hải âu cũng hỏi:
Vậy ngài có biết bao giờ thì xướng danh không?
- Cớ như t.hãy tôi nói lại. tin chắc cũng không còn lâu lắm. Bởi vì còn phải đợi "chỉ" trong kinh.
Đoàn Bằng ra ý nóng ruột: .
Thưa ngài. thế cụ lớn nhà dạy như thế nào?
Thày t.ôi nói rằng: sáng sớm hôm qua. vừa có mật tin (ỉ trong trường ra. báo quan tổng đốc cho biết rằng: việc trường đã xong hết cả. giải ngạch cứ nhân.
tú tài cũng lấy xong rồi. Chỉ còn hai ông giải nguyên. á nguyên thì chưa quyết định. ~LAø vì trong số hơn một trăm quyển được vào phúc hạch. thì quyển của ông Hạc là tốt hơn cả. rồi đến q~lyển của ông Nguyễn Chu Văn.
ông Hạc được hai "ư~l" ngoại. hai "lrư' nội và mười hai "bình". ông Văn được một "ưư' ngoại. một "ưư' nội và mười bốn "bình". Như thế thủ khoa đáng lẽ phải về ông Hạc. vì dã hơn hẳn ông Văn hai "ưư' kìa mà' Nhưng mà ông Hạc mới hăm hai tuổi lại là chân trắng. mà ông Văn thì đã bốn mươi nhăm tuổi. lại đã hai khoa tú tài.
Neú lấy sự cao niên túc học làm trọng. thì ông Văn cũng nên được đỗ tì lú khoa. Quan chủ khảo và q~lan ngự sử đă tranh luận mãi về chỗ đó. Yù quan chú khảo muốn để ông Văn ở trên. vì ngài trọng người tôn niên.
Nhưng quan ngự sử nhất định không nghe. ông này cho rằng: việc thi cử là thi bằng văn, không thi bằng tuổi, hễ mà văn hay thì phải đỗ trên, bất luận tuổi nhiều hay ít. Kết cục, hai ngài không ai chịu ai, ai cũng nhận cái lý của mình là phải. i thế các ngài mới phải làm sớ tâu về triều đình và gửi tất cả các quyển trong bốn kỳ của hai ông ấy vào đó, để tùy trong triều định đoạt Đức Chinh kết luận:
Từ đây vào kinh, vừa đi vừa về, ít ra cũng phải ngoài hai chục ngày. Vả lại, sớ vào đến nơi, hoàng thượng xem rồi, lại còn giao cho triều thần bàn bạc nữa chứ. Như vậy, có lẽ phải mươi ngày nữa mới có "chỉ" ra...
Hải âu ngắt lời:
Không! Từ đây vào kinh, cả đi lẫn về chỉ hết độ hơn mười ngày là cùng. Bởi vì trong năm Gia Long thứ ba, trình hạn của phu chạy trạm đã có định rõ: từ Bắc thành đến kinh đô, việc gấp, phải chạy năm ngày cho tới Người nào chạy được đúng hạn thì thưởng ba quan, quá hạn độ một hai ngày, thì phải phạt ba chục roi đòn.
Việc thi bây giờ cũng là việc gấp, bao nhiêu quan trường, bao nhiêu học trò đều đương ngong ngóng chờ đợi kia mà~ Lẽ nào phu trạm lại dám để chậm?
Cương Phượng tỏ ý kinh ngạc:
- Trời ơi, đường đất từ đây vào kinh, kể có nghìn dặm, thế mà chỉ đi năm ngày! . . . Họ chạy nhanh bằng Luật kinh chạy theo mặt trời. Nhưng chạy như thế lỡ ra phu trạm mệt quá, chết ở ngang đường thì làm thế nào?
Hải âu đáp:
Họ chết ở cung đường nào, thì nhà trạm ở cung đường ấy phải cắt người khác nhận lấy giấy má của họ mà chạy luôn đi. Trong luật đã có nói rõ như vầy.
Rồi thày trở lại câu chuyện thi cử.
- Tôi chắc nay mai, chỉ của triều đình sẽ ra đến đây và vài ngày nữa thì sẽ có cuộc xướng danh.
Đức Chinh vừa cười vừa nhìn Vân Hạc:
- Thôi thì bao giờ xướng danh mặc lòng, ông cũng không phải nóng ruột, mười phần đỗ cả mười rồi.
Chẳng thủ khoa thì á nguyên, quyết không xuống đến thứ ba.
Vân Hạc cũng cười:
- Có đỗ thủ khoa thì tôi đỗ chơi cho hay, chứ đỗ á nguyên còn thú gì nữa?
Đốc Cung nói đùa:
- Thật là được thể dễ nói khoác. . . Tôi chỉ cầu Trời khấn Phật cho anh hỏng khoa này nữa, để xem anh sẽ nói với chị ấy ra sao.
Tường Loan chỉ vào Đoàn Bằng. Tiêm Hồng và hỏi Đức Chinh:
Thưa ngài. còn hai ông này ra sao, ngài có biết tin gì không?
Đức Chinh lắc đầu:
Tôi không được rõ; vì không thấy thày tôi nói clluyệli Nhưng chắc các ngài đỗ cả.
Mỗi người nói phiếm thêm mấy câu nữa. ấm chè vừa tàn.
Đức Chinh cáo từ ra về.
Bây giờ ánh nắng đã xuyên qua lỗ cửa sổ, chếnh chếch xuống nền nhà. Hạt bụi xanh đỏ rối ni giờn nhau trong những luồng sáng thẳng vuông như chiếc tay tllưởc Trong nhà đầy vẻ ấm áp của tiết tiểu xuân. Hải âu cao hứng bảo với Đốc Cung:
Hôm nay chúng mình phải đi ngoạn cảnh cái chừ. BÓ gối ngồi nhà để ngong ngóng đợi ngày xướng danh hộ các ông ấy là cái nghĩa gì?
Đốc Cung chưa kịp trả lời. Hải âu lại tiếp:
- đă mười năm nay tôi khỏng đặt gót đến đất Hà Nội. Không biết bây giờ cuộc dâu bể của các cảnh vật.
xứ này đã đi đến chỗ nào rồi. . .
ĐỐC Cung vừa cười vừa đáp:
- Thú thật với bác, tôi ở nhà luôn mấy hôm nay đã thấy tù cẳng lắm rồi. Bác tính còn gì khổ bằng cái thằng thi hỏng lại phải ở lại để đợi anh em xem bảng?
Hải âu cũng cười và hỏi:
Nhưng mà bác định đi chơi đâu giờ?
Tường loan cướp lại:
- Tôi thấy các cụ vẫn nói phong cảnh hồ Tây đẹp lắm mà chưa được đến nơi. Hay là các ông lên chơi trên ấy cho tôi đi với?
Đoàn Bằng tán vào:
- Phải đấy, hôm nay trời âm, có lễ lên chơi hồ Tâ.y cũng thú.
Rồi đó ai nấy đội khăn mặc áo, kéo thẳng lên nẻo cửa Bắc và rẽ sang đường Cổ Ngựa. ~úc ấy cây cối đã đương đổi lộc, quanh hồ như vẽ một cảnh tiêu sơ. Trên lớp cỏ héo ven đường, những chiếc lá đa vàng úa tơi bời rơi rụng. Trong khu giữa hồ, một đám sen tàn, xờ xạc lượt theo gợn sóng. Ngoài nẻo xa xa, mấy bông lau sậy trắng xóa, thi nhau đùa trước ngọn gió hiu hiu.. Ngắm các cảnh vật trước mắt. Hải âu tự thấy vô hạn bồi hồi.
Sau khi thăm quán Trấn Vũ, cả bọn đủng đỉnh sang chùa Trấn Quốc. Bây giờ mặt trời đã cao, bầu trời rất sáng sủa, bằng mây thăm thẳm lồng xuống đáy nước, làm cho cảnh hồ càng thêm mông mênh. Hải âu thơ thẩn đi lại trước nhà chùa hồi lâu, thình lình thày chạy đến chỗ Đốc Cung, Vân Hạc, vừa cười vừa nói:
Tôi định làm một bài hoài cổ, nhưng mới nghĩ được bốn câu thì hết mất tứ, bán Cung và các chú tiếp hộ.
đốc Cung liền bảo:
Bốn câu của bác ra sao?
Hải âu đọc:
"Cáo trắng trâu vàng chuyện có không?
"Đêm trăng bao độ rước thuyền rồng?
"Nào khu yếm xống hàng quan thị?
"Đâu chỗ ca, chèo bóng gái cung?...
Đốc Cung tỏ vẻ bông đùa:
- Hay thì hay thật. Nhưng câu thứ ba chua lắm.
Tường Loan ngơ ngẩn:
- Thế là Trấn Quốc tự hoài cổ, hay là Tây hồ hoài cổ HẢI âu đáp:
- Tây hồ hoài cổ đấy chữ' Nếu Trấn Quốc tự hoài cổ thì sao cho đắt?
Tường Loan càng ngạc nhiên:
vâng thì mấy chữ "yếm xống", "ca chèo" là ý thế nào?
Hải âu cắt nghĩa: ' - Đó là tôi muốn nói về chuyện chúa Trịnh. Trong lúc họ Trịnh còn thịnh. hồ Tây vẫn còn là một nơi thắng thưởng, giống như vườn Phù dung của Đường Minh Hoàng, chùa Trấn Quốc này, đã bị lập thành hành cung, mỗi tháng nhà chúa ra chơi chừng vài ba lần. Cung nữ trong phủ, ngày thường đã phải may sẵn hàng nghìn đèn lồng toàn bằng gấ~n vóc là lượt, thêu thùa rất khéo, khi nào chúa sắp ra. lính tráng phải lĩnh những đèn lồng ấy đem treo khắp các ngọn cây, rồi các quan thị từ hạng tam phẩm trở lên, đều phải dọn quán bán hàng ở khắp bờ' hồ. Trong quán có đủ các thức phấn, sáp. quà, bánh, đồ ta. đồ tàu... Rồi chính những vị "ông cả không xâư' đó lại phải mang yếm, mặc xống, chít khăn mỏ quạ: giả làm con gái bán hàng và ngồi chầu chực trong quán một đêm. Nhà chúa ở phủ ra hồ, thường thường vào cuối canh hai. Ngài ngự một chiếc thuyền rồng rất'lớn có nhiều thuyền của các quan thị tụng đi theo. Trong thuyền có đem rất nhiều cung nữ và đồ chè chén. Thuyền ra giữa hồ, nhà chúa bắt đầu uống rượu, cung nữ kẻ đàn người hát, tiếng hát tiếng đàn phải rất lả lơi. Người nào cần dùng món gì, cứ việc cho thuyền ghé vào gần bờ, rồi lên mua ở các quán của bọn quan thị. Trong lúc mua bán, hái bên tha hồ cười đùa chớt nhả. hát vè hát ví. y như trai gái nhà quê thứ tư, chỉ về chuyện đó.
- Vậy còn mấy chữ "cáo trắng" "trâu vàng"?
Đấy là tôi theo điển tích của sách Trích quái và sách Địa cảo. Trích quái chép rằng: ở đời thượng cổ, hồ Tây còn là một trái núi nhỏ. Trên núi có con cáo trắng chín đuôi thường hay hóa ra yêu quái làm hại dân cư.
ông thần Long đô đem việc ấy tâu với Thượng đế, Thượng đế cả giận, liền sai Long vương giết con yêu đó.
Long vương vâng lệnh, đem các thủy tộc ngược dòng sông Nhị tiến lên nã bắt. trái núi đó tức thì sụt xuống thành ra cái hồ. Còn sách Đìa Cảo thì nói: trong núi Lạn Kha có con trâu vàng. Khi nghe tiếng chuông Où quán Trấn Vũ, con trâu ấy tưởng là tiếng mẹ, vội vàng lồng ra, rồi ẩn vào trong hồ này. ấy là những chuyện hoang đường như thế, mà từ xưa đến nay, ai ai cũng tin thì có lạ không? .
Rồi Hải âu quay hỏi bọn Đốc Cung:
Bác và các chú đã nghĩ được câu gì chưa?
Đốc Cung đáp:
Tôi mới nghĩ được hai câu như vầy:
"Xờ xạc đầu vời sen rạc lá, "Phất phơ cuối bãi, sậy phơi bông.
Hải âu khen được và bảo Vân Hạc:
- Chú thử tiếp nốt xem sao.
Vân Hạc ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:
- Thế thì thế này:
lâu đài ~ê, Trịnh tìm đâu tá?
,,Bảng lảng rêu xanh bóng ác hồng".
Cả bọn đều là cho hay. Hải âu muốn lên Nhật Chiêu, thuê một chiếc thuyền chở ra giữa hồ chơi.
Nhưng khi hỏi thăm bọn sư trong chùa, thì họ nói rằng:
nếu muốn dùng thuyền, phải hẹn từ hôm trước hay từ sáng sớm. Bây giờ mới thuê, không chắc đã được, vì rằng những nhà có thuyền đều đi làm ăn vắng nhà.
Hải âu thấy trời đã xế chiều, tưởng chừng nếu thuê được thuyền đi nữa, cuộc du thưởng cũng không còn được bao láu, thày đành phải thôi. Cả bọn dạo quanh bờ hồ một lúc nữa. rồi cùng lẽo đẽo trở về.
Tới khỏi cửa Bắc, thình lình có tiếng người gọi Vân hạc, mọi người cùng quay mặt. Trần Đức Chinh vừa ở ngõ ngang đi ra. Chàng thở và hỏi:
- Các ngài có ai quen cụ Hoàng Doãn Đạt hay không?
Hải âu hỏi lại:
- Có phải cụ Hoàng Doãn Đạt giáo thụ phủ Kinh môn, mới rồi được cử đi làm phúc khảo đó không?
Đức Chính đáp:
Phải? Chính cụ ấy.
Hải âu nói:
- Chúng tôi quen cả. i vì ci..I ấy nguyên là học trò thày tôi ngày xưa, đôi với nhà tôi rất thân. Ngài hỏi vậy có việc gì chăng?
- Thấy nói cụ ở trong trường bị bệnh nặng lắm, mới được cáo ra lúc trưa, bây giờ còn trọ trong nhà người quen ở phố Cửa Nam. Chắc cụ biết rõ công việc trong trường, các ngài thử xuống hỏi xem. chỉ của triều định đã ra đây chưa?
Đến đây, Đức Chinh ngừng lại và nhìn Vân Hạc.
- Chỉ vì việc đó, tôi phải lật đật tìm ngài từ trưa đến gi~l. Gặp ngài ở đây may quá. Bây giờ tồi về có việc.
Đến tối xin lại thăm các ngài.
Vân Hạc tỏ ý cảm ơn.
Đức Chinh chào khắp bọn này và rẽ sang nẻo hàng Than.
Hải âu thấy cụ giáo Kinh - môn bị đau, tự nhiên trong ruột bồn chồn như bị lửa đốt. ~à vì cụ với anh em Hải âu tuy chỉ là chỗ thế huynh thế đệ, song hai nhà ăn ở với nhau không khác gì người ruột thịt. Xưa nay Hải âu và các em vẫn kính mến cụ vô cùng. Hơn nữa thày với cụ lại cùng chung một tính tình, hầu hết những cuộc đăng sơn lâm thúy, hễ có cụ thì phải có thày, nhiều klú thày vẫn nằm ở nhà cụ hàng hai ba tháng. Bây giờ nếu cụ đau thật, ít nhất thày phải biết ngay bệnh cụ thế nào thì mới yên dạ. i vậy, sau khi Đức Chinh đi khỏi, Hải âu giền bảo Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng đi với mình xuống phía Cửa Nam, để bọn Vân Hạc hãy về nhà trọ, sợ rằng ở đấy có khách nào chăng.
Thì ra sự ức đoán của Hải âu không sai chút nào, ở nhà quả có một người em họ Hàng Đào Nguyên mới ra. Người ấy bảo cho Vân Hạc biết rằng: hôm nay cụ Năm đã định ra chơi. Nhưng vì chưa rõ ngày nào xướng danh, sợ phải chờ~đợi lâu quá, nên cụ lại không ra vội và cho hắn ra trước hỏi xem bao giờ xướng danh, về nói với cụ, để cụ ra mừng và thăm phong cảnh Hà Nội luôn thể. Thấy lòng ân cần của ông chú già, Vân Hạc vô hạn cảm động, nước mắt tự nhiên ứa ra đầy hai khóe mắt.
Bóng nắng ra hết sân gạch. Sương mù bắt đầu pha đục bầu trời. Gió bấc hiu hiu quạt mấy tầu cau ánh nắng. Những con chim sẽ sợ lạnh sập sè vào nấp trong mái nhà.
Nhà trọ sắp dọn cơm chiều, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng vừa lủi thủi về với một dáng bộ rời rợi.
Đốc Cung vội hỏi:
- Bác cả còn đi chơi đâu chưa về?
- Anh ta ở chơi dưới ấy với bác giáo.
nhà. Vân Hạc lễ phép:
- Bệnh tình bác giáo ra sao? Có nặng lắm không, thưa anh?
Đoàn Bằng cất giọng buồn rầu:
Có việc gì đâu! Bác ấy cũng ho xoàng. Chỉ vì ở lâu trong trường buồn quá. Nhân thể việc trường' đã xong, ngài mượn cớ cáo bệnh để xin ra trước vài ngày.
Đốc Cung vui vẻ:
Cụ giáo có nói chuyện gì về việc thi cừ của các bác không?
Có' Bác ấy bảo chú Hạc nó hỏng tuột. Chú tú nó đỗ !ai tôi thì may được đội bảng tú tài.
Vân Hạc nghe nói sắc mặt xám mét. Đốc Cung cũng đổi vẻ mặt:
- Thế ra Trần Đức Chinh bịa chuyện nói nhảm à?
Đoàn Bằng đương dở bỏ khăn, cởi áo,'Tiêm Hồng đỡ lời:
- Không! Anh ta nói đúng. Bác giáo cũng bảo trong trường đã chắc chú Hạc sẽ đỗ thủ khoa. Sáng nay có chỉ ở kinh ban ra, mới biết là hỏng.
- Vậy thì quyển của anh Hạc có tội gì chăng?
Không? Bác giáo cũng nói như Trần Đức Chinh, quyển của chú nó tốt lắm, bốn "ưư' mười hai "bình" thật.
- Thế thì làm sao anh ấy lại bị hỏng tuột? Cụ giáo có biết chỉ của triều đình nói thế nào không?
Có! Thấy bác ấy nói: trong chỉ phê rằng: Đào Vân Hạc quả là tay đại tài, sự học hơn hẳn Nguyễn Chu Văn, đáng được đỗ đầu khoa này. Chỉ hiềm tên ấy hãy còn trẻ tuổi, văn chương không khỏi có chỗ ngông nghênh. Nếu lấy đỗ cao, sợ sẽ nuôi thêm cho y cái bệnh kiêu ngạo, thì khó trở nên một người đại dụng. Triều đình trong sự tác thành nhân tài, không muốn cho kẻ có tài đến nôi uổng phí. Vậy khoa này hãy cho tên ấy hỏng tuột, để mài giũa bớt những khách khí thiếu niên của y. Rữi đến khoa sau thì sẽ cho đậu giải nguyên.: .
Vân Hạc tỏ vẻ phẫn uất:
- Tác thành như thế thì chết bỏ mẹ người ta!
Đốc Cung ra ý ái ngại:
- Vậy thì chuyện anh Hạc cũng giống với chuyện cụ Nguyễn Công Trứ.
Rồi Đốc Cung tiếp:
- Tôi thấy ông tôi ngày xưa có nói lại rằng: cụ Nguyễn Công Trứ từ lúc trẻ tuổi đã nổi tiếng là bậc văn chương đại tài, bè bạn ai cũng phải phục. Chỉ vì hồi ấy mới qua một cơn đỉnh cách, thời cục chưa biết thế nào, mà cụ lại là một tay cố Lê công tử, chưa hẳn tuyệt tình với nhà Lê, cho nên bao nhiêu khoa thi đầu đời Gia Long, cụ đều không dự. Mãi đến cuối đời Gia Long, hay là đầu đời Minh Mệnh gì đg, Vì Các anh em cố bầu, cụ mới ra thi..
Đốc Cung uống một hớp nước dấp giọng:
- Bấy giờ ở tỉnh Nghệ An, bè cánh của bọn cố Lê công tử cũng lớn và cũng nhiều người đi thi. ~li thấy khảo quan tiến trường, các ông ấy họp làm một đám đón đường xin cho Nguyễn Công Trứ được đỗ thủ khoa ấy Nghe đâu quan chánh chủ khảo có đáp lại rằng: các ngài phụng mệnh triều đình ra đó, cốt vì nhà nước mà kén nhân tài. Nếu như tài Nguyễn Công Trứ đáng đỗ thủ khoa, tự nhiên các ngài cho đỗ thủ khoa..
,'Thế rồi, ba kỳ thi xong, - phải lúc ấy chỉ thi ba kỳ - ba kỳ thi xong, quả nhiên văn của cụ Trứ hay lắm, quan trường cũng muốn lấy đỗ thủ khoa. Nhưng vì có chuyện học trò kêu xin, các ngài sợ rằng phong thanh về đến triều đình, mình sẽ bị ngờ là không công minh, liền phải làm sớ và đệ các quyền của cụ này về kinh, để tùy trong ấy quyết định. Không rõ bấy giờ, triều định bàn bạc ra sao, rồi thấy có chỉ đưa ra, nói rằng cho Nguyễn Công Trứ sẽ đỗ thú khoa khoa sau, khoa ấy phải đánh hỏng tuột.
Đốc Cung lại năm Vân Hạc:
Không ngờ việc cụ thượng Trứ, nay lại xảy ra cho anh. Nhưng cũng không sao, triều đình đã hứa không bao giờ sai. Cụ Trứ về sau lại đô thủ khoa, thì anh khoa sau cũng đỗ thú khoa. Sang năm đã lại có khoa tlù rồi, chậm đỗ. một năm cũng không muộn lắm.
Vân Hạc tỏ vẻ cáu kỉnh:
Thế họa khoa sau tối ốm không đì thi được, triều đình có cho đỗ không? ' . ông chủ nhà trọ vừa ở nhà dưới tiến lên, Đoàn Bằng nói bằng giọng cười gượng:
Cơm đã xong chưa? ông cho bưng lên đi thôi!
Hôm nay ông phải uống rượu với chúng tôi một bữa thật say, không được từ chối. i vì ngày mai chúng tôi sẽ cùng từ giã ông i..ất cả.
ông chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngác, không hiểu bọn này nói thật hay nói đùa. Sau khi Đoàn Bằng đem chuyện đến chơi quan giáo Kinh Môn kể lại cho nghe, ông ấy vội can:
- Các ngài không nên nóng nảy. i vì tôi vẫn nghe nói việc trường bao giờ cũng giữ rất kín, khó lòng có ai biết trước. Chắc đâu cụ giáo nói vậy là đúng?
Đoàn Bằng cắt nghĩa:
Tôi chắc đúng lắm. Cụ giáo Kinh Môn có quen quan chánh chủ khảo - hai người đã từng gặp nhau trong một khoa hội năm xưa - vì với nhà tôi là chỗ chí thân, nên khi lên chào quan chánh chủ khảo để ra ngoài trường, cụ có hỏi ngài về chuyện đỗ hỏng của chúng tôi. Bây giờ việc trường đã xong, không cần phải giữ bí mật như trước, cho nên quan chánh chủ khảo đưa cả cuốn số giải ngạch và đạo chỉ của triều đình cho cụ ấy coi Như vậy còn sai sao được?
- Dầu vậy đi nữa, cũng còn hai ngài đậu được tú tài kia mà! Tôi tưởng các ngài hãy nên ở lại xem bảng cái đã' Việc gì mà phải hấp tấp?
Đoàn Bằng lại càng buồn bã:
- Tú tài đỗ lại và tú tài đội bảng thì cũng như hỏng, còn sung sướng gì mà đợi xem bảng hừ ông?
Thẳng nhỏ vừa bưng'mâm rượu đặt vào chỗ phản mọi ngày. Cả nhà cùng ngồi xúm lại. Cuộc rượu bắt đầu bằng những tiếng cười gượng, nói gượng.
Rượu đến nửa chừng, Tiêm Hồng vừa bưng chén rượu vừa khóc rưng rức' Đoàn Bằng vội ngăn:
"Có học, có thi, thì có đỗ", chẳng đỗ khoa này thì đô khoa khác, việc gì mà phải tủi thân?
Vừa dứt hai tiếng "tủi thân", miệng thày tự nhiên mếu xệch, nước mắt ròng ròng rỏ xuống mặt chiếu.
Vân Hạc thấy hai anh khóc, chàng bỗng nghĩ đến sự kỳ vọng của những người thân thích ruột rà và bụng bảo dạ: "Lúc mình bước chân ra đi, nào mẹ, nào vợ, nào cha mẹ vợ, nào chú bác họ hàng, người này giúp năm quan, người kia giúp ba quan, ai cũng 'mong cho mình đỗ' Cả đến cụ Năm, đã đương nằm kề miệng lỗ, nghe tin cháu vào phúc hạch cũng còn sai người đến đây hỏi xem ngày nào xướng danh để ra chơi mừng. Bây giờ mình hỏng, làm cho biết bao nhiêu người thất vọng!
Hiện nay mẹ mình, chú mình và ông nhạc bà nhạc của mình đều đã vất vưởng như đèn trước gió, không biết các cụ có còn sống được đến ngày mình đô hay không?" Thế rồi chàng cứ nức nức nở nở, trong họng như bị nghẹn ngào, chén rượu bưng lên lại phải đặt xuống, không tài nào mà nhắp đi được.
Đốc Cung từ khi bị hỏng vẫn cố nén dạ cười nói cho qưa, bây giờ thấy Vân Hạc khóc, lửa phiền của chàng như sắp dập tắt lại bị khêu lên, chàng cũng thổn thức nói không ra tiếng.
Tường xoan, Cương Phượng và người em họ mới ra, tuy không bị đau về sự thi cử, nhưng thấy các anh buồn bã, họ cũng cảm động không thể cầm được nước mắt.
ông chủ nhà trọ trước còn khuyên giải mọi người.
Khi thấy mình càng khuyên, người ta lại càng khóc, ông ấy nghĩ ngợi ra sao không rõ. tự nhiên cũng khóc ru rú.
Quang cảnh tiệc rượu lúc ấy giống như quang cảnh đám ma của kẻ bạo , tử, toàn những người khóc, người mếu. Sáu, bảy chén rượu la liệt bày ở quanh mâm, lâu lắm không ai buồn nhấc.
Đốc Cung đương gục đầu trên gọi, bỗng ngừng phắt dậy và nói:
- Thi đỗ cũng thế, chẳng đỗ cũng thế, việc đếch gì mà phải cảm khái cho khổ thân. "Sống là Nghiêu Thuần, chết thì xương khô, sống là Kiệt Trụ, chết thì xương khô't. Dù có đỗ nữa, chẳng qua chỉ đeo cái tiếng ông cử độ vài chục năm rồi cũng hóa ra xương khô, chứ làm cóc gì' Rồi chàng bưng chén và giục:
- Uống đi các anh' Mọi người lại cùng sốt sắng hẫng chén lên miệng.
Nhưng mà vị rượu lúc ấy hình như chỉ rặt những mùi cay đắng, uống thì uống vậy, chẳng ai thấy có thú hứng gì. Cả nhà khề khà đến gần nửa đêm. Đoàn Bằng, Tiêm Hồng say dí, say dì, lúc đứng đậy, mấy lần chếnh choáng định ngã. Bữa tiệc dần dần giải tán một cách âm thầm im lặng.
Sau khi nằm vào trong chăn, Vân Hạc tự thấy ruột gan nóng như lửa chất; khi thì mong rằng quan giáo Kinh Môn nói sai, khi thì mong rằng quan trường sẽ cùng làm sớ kêu oan cho mình. khi thì' mong rằng triều định sẽ đem việc mình xét lại, rồi chữa ngay đạo chỉ dụ đã bắt mình hỏng._ Đến khi thấy những điều đó là huyễn tưởng, thì chàng lái muốn ngày mai sẽ là sang năm, nghĩa là cái năm sắp có kỳ thi, để chàng lài vật nhau với số mệnh một lần nữa. Mọi đêm trường thi và chàng còn có quan hệ, mỗi lần nghe tiếng trống ở trường đưa ra, chàng còn phấn khởi trong lòng. Giờ với trường thi, chàng đã là người cục ngoại, những tiếng trống ấy đều như có vẻ trêu cợt mỉa mai, môi dịp tùng tùng, ấy là mỗi cơn chàng phải đứt từng khúc ruột.
Cạnh chàng, Đốc Cung, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cũng đều vật vã không ngủ, thỉnh thoảng lại góp một tiếng thở dài, như giúp thêm sự đau đớn của chàng.
Đêm càng khuya, trời càng lạnh, ngọn đèn trên quang mỗi lúc mỗi lù mù, chàng càng trằn trọc không thể chợp mắt. Nghĩ đến quang cảnh khi cắp khăn gói về làng, chàng không biết mặt mũi mình ra thế nào.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0