Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lều Chõng - tiểu thuyết - Ngô Tất Tố

9 trả lời, 1.498 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Mọt Sách</b> -- <b>7.7.2004 19:53:21 </b> &gt;>
đã scan đến chương ba: nếu bạn nào nhận sửa nhớ để ý sửa chính tả dùm mình nhé khi scan và nhận dạng đã cố gắng rõ ràng hết mức rồi nhưng vẫn còn bị lỗi nhiều ! mong các bạn để ý - cám ơn nhiều

các bạn cứ chỉnh dòng và sửa chính tả việc chia chương mình sẽ làm sau khi đưa vào thư quán, mong các bạn phân công nhau làm được không? hiện giờ mình mới chỉ thấy có thất sơn anh hùng và SH1 nhận sửa !
mong sẽ có thêm nhiều bạn nữa nhận những việc này !


Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, "Lều Chõng" vẫn làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta tán khoe là "bốn nghìn năm văn hiến "? Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nhà nước, những ông ở nơi tuyến thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám "lều chõng" mà ra.
Lều chõng vời nước Việt Nam chẳng khác một ông tạo vật. đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng và vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa. rồi cũng chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Vì nó, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài tồn tại nhiều cảnh tượng kỳ quái, khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp.

NGÔ TẤT Tố.
Thời vụ số 109 ra ngày 10-3-1939.

chương 1
Gần nửa tháng rồi, trong làng Văn khoa, lúc nào cũng náo nức, rnn rịp 'như sắp kéo hội.
Đình trung điếm sở cung như quán nước hàng quà chỉ làm chỗ hội họp của các ông già, bà già và những cây gậy trúc mũi sắt, những gói trầu cau lớn bằng cái/đâu.
Chuyện mới, chuyện cũ luôn luôn theo những bài cốt trầu, những làn' khói thuốc đồng thời tuôn ra và nổ như bỏng rang.
ông này nhắc làng mình thật được hướng đình.
ông kia đoán. ngôi mộ họ Trân kết ngôi mộ tổ. Bà này bảo cụ đô phúc:đức hiền hậu,.chịu khó lê các đền chùa. Bà kia khen cô nghè tốt nết, đủ điêu, biết phân biệt kẻ trên người dưới.
Cái hoa gạo nở đầu tháng giêng đã được tán là điềm tốt. Con khanh khách kêu trên các đình giữa ngày khai hạ, cũng được tôn là tin mừng.
Câu chuyện tuy duy nhất chỉ quanh quẩn có thế, nhưng sự nô nức đã bắt người ta cứ phải chiếu đi chiếu lại bàn tán hết ngày ấy sang ngày khác, đâu làng chói làng, thường có những tiếng cười nói rầm rầm.
Hôm nay lại càng tấp nập hơn nữa. . . .
Tử lúc trời mới sáng rõ, một hồi mõ đã tiệp tiếng vang của ba hồi trống cái khua động góc trời trên đình.
Với chiếc dải lưng lụa đỏ bỏ múi sang cạnh sườn, !.y trưởng không khác phó lý, trương tuần, tung tăng vác tay thước chạy nhào tử đình đến điếm.
Giữa một hồi tí u của những tiếng hiệu ốc đi đôi với dịp hiệu sừng, nguội Ơû các xóm kéo ra tíu tít.
Chỗ này vài chục đàn ông đi với mai, thuổng, xẻng, cuốc gậy nạng và câu liêm; chỗ kia mươi người đàn bà và những' ~qưang, thúng, sảo, sọt lủng lẳng dưới đầu đòn gánh. ~ .
Một toán lại một toán. ' ~ ' Một lũ lại một lũ.
ống quần bẳn trên đầu gối,' gấu .váy kéo lên đến nứa bụng chân, các toán, các lũ lân lượt tiến vào ~ sân đình. ' ' ' : Một bầu ồn ào chiếm cả khu đinh và điếm. ' Mặt trời từ trên ngọn tre xuyên sang mái đình tưng ' bừng đón tiếng chào của đàn chim sẻ. ánh sáng lóng lánh chiếu trên num quả dành của đôi đồng trụ cửa đình.
Cái ồn ào mỗi lúc một lớn.
Chĩnh nước chè khô đã bị mấy chục bát đàn vực cạn. Hai thùng cau khô để đó dần dần biến thành đống bã trầu tàn. Hết thảy các toán, các lũ .nhất tề đứng dậy. Như một đạo quân ra trận, mấy trăm con người rầm rập 'kéo đàn đẩu làng và vui vẻ tiến thẳng đến đoạn đường cùng tận địa giới. .
Theo mệnh lánh của ông lý, ông phó, ông trương, dân phu bát đầu sang sứa tử đầu đia phận trở về.
Các bầu tát 'nước' đều được bồi đắp phẳng phiu.
Những đám' cỏ gấu ven đường đều bị giẫy sạch và hắt xuống ruộng.
Người tá cắt hết những cây vẩy ốc bám Ơû ven thành.
Người ta "giật" hết những cái ánh tre khum khum rủ trên đường cái.
Người ta quét hết~những đông cắn rác kinh niên bừa bãi khắp các đầu ngõ ven đường.
Hương lý vẫn thúc giục vội vã.
Tù và vẫn rúc từng hồi dài từ xóm này đến xóm kia.
Trời dần dần nóng thêm.
Mấy trăm bộ mặt đỏ như đồng tụ mồ hôi đổ ra bóng nhoáng. Nhưng cát oi bức của tiết đầu hạ vẫn không ngăn nổi sự nô nức của đám người làm việc hết lòng.
Gần đến nửa buổi, bao nhiêu khúc đường khấp khểnh,' gồ ghề đều trở nên những dải đất óng mượt như tấm lụa mới. Những tiếng cười nói vui như ngày .tết, lại đưa các toán, các lũ dân phu lần lượt trở về sân đình.
Một tuần tra.u nước vừa tàn, lý trưởng đứng trên thềm đình dõng dạc nói xuống: Trưa lắm rồi! Xịn 'chạ" đi rửa chân tay và cất đồ đ~lc. Rồi "chạ" đến luôn nhà quan tân khoa. đê còn làm rạp, kê phản, sắp sửa ớ a bát mâm nồi, kẻo nữa không kịp? Một buổi ồn ào dồn dập troflg dám đôllg, đàn ông, đàn bà, lẻ tẻ ai ~fê nhà nấy.
Trương tuần cắt lũ tuần phu canh cổng làng. Lý trưởng, phó lý và tất cả những hạng đàn anh lật đật kéo vào nhà ông nghè mới. ' Ơû đây, từ đầu cổng cho đến xó bếp; toàn lả những vẻ vui mừng. Các ông, bà, cô, cậu trong quan họ đầ họp tấp nập.
Trên chiếc ghế ngựa quang dầu kê Ơû gian giữa, cố ông bắt chân chữ "ngữ', ngồi bằng điệu bộ rất đắc ý phu dãy phán Ơû gian bên cạnh, ông trưởng họ Trần thong . thà đưa ch iếc quạt thước phẩy mấy chòm râu trắng xóa, bàn định các việc sẽ đến trong ngày mai.
Ngoài sân, cố bà cũng như cô nghè, tất tả chạy ngược chạy xuôi. vừa sắp sứa các thứ đồ dùng, vừa cắt đặt việc này việc khác. .
Sau. mấy cái vái cung kính dâng khắp các cố óng, cố bà và các vị già lão. lý trưởng, phó lý và bọn trùm trướng ghé ngồi vào hàng ghế cuối cùng.
Dân làng kéo đến môi lúc mỗi đông.
Từ .nhà dưới đến nhà trên, kẻ đứng, người ngồi, lố nhố như một khu chợ.
Theo lởi cắt cử của các vị tôn trưởng, những người "làm giúp" tới tấp đi tìm công việc.
Mượn mâm, mượn nồi, mượn bát đĩa và gánh nước đô đậy các chum, các vại, đó là phận sự của dàn bà.
Còn phe đàn ông thì chia ' ra thành hai ban: một ban chôn tre, dựng rạp, kê phản, kê ~yhế, sắp đặt các đồ bài trí, một ban nữa vào chuông bắt lợn, làm gấp mấy chục mâm dấm ghém để kịp làng xóm họ mạc ăn tạm bữa trưa.
Công việc bắt đầu túi bụi.
Tiếng người hò thét, tiếng mâm bát đụng nhau, hòa với tiêag lợn kêu ì éc ngoài vườn làm thành cái vọng ầm ầm của một đình đám to lớn.
Hơi lửa trong bếp hợp với hơi người các nơi càng ~ăllg thêm sức nóng của trời hè..: Đúng trưa, cỗ bàn làm xong, hai tòa rạp lớn cũng vừa lợp kín.
Những chiếc chiếu hề~l dài thườn thượt như lá cót đại lần lượt phú kín các dãy giường phản từ trong nhà ra ngoài sân. .
Hàng mấy chục mâm rau nộm thịt mỡ chất đầy ~ trong những bát đá, ớ a đàn, la liệt đặt khắp các nhà các rạp.
Xin mời bà con hãy đi xơi cơm kẻo đói. Các việc để đó ăn xong rồi ta hay làm. .
Lời nói chia ông trưởng họ Trần không kém tiếng hò của ông đại tướng đứng đầu ba quân, nó có sức mạnh khiên cho mọi người răm rắp đứng dậy.
Đàn ông với đàn ông, đàn bà với đàn bà. bốn một. tám hai làng xóm .họ mạc tự ý rủ nhau, tiện chiếu nào ngôi vào chiếu ấy. .
Mâm này gọi rượu, mâm kia gọi cơm, rồi mấy mâm khác vâm véo giục lấy nước canh nước-mám.
Lối đi chật hẹp trong mấy gian rạp thành chỗ chen nhau của người ra vào.
Giọng như .lớp tằm ăn rỗi, một loạt năm sáu chục mâm nhất tề nhấc chén cất đũa.
Mặt trời chênh chếch chiếu vào đầu rạp, các mâm chỉ còn bát không, (ria không.
Bằng một giọng nói chững chạc, ông trường họ Trần tỏ ra người rất thạo việc: Xin mời bà con ăn trầu, uống nước, rồi thì ai vào việc ~y 'đ~ 'cho. Xem chứng công việc hãy cò lị nhiề~l ,l~ Tà phải làm gấp mới được! Bao nhiêu mâm cỗ ăn tàn lần lượt bị đưa xuống khu sân bếp, Để nhường các chiếu trong rạp cho những đìa trầu cau khô và những đoàn ấm tay dựng nước chè xanh.
Tiệc trầu nước không đầy một khắc. Mọi người Oà ạt đứng lên.
Lúc này công việc càng rộn rịp.
Ơù đằng sau nhà những người vật trâu bò reo ầm ĩ.
Ơû trong rạp, có một đoàn dao thớt ký cốc băm thịt, băm xương.
Và Ơù trước sân, máy chục chiếc chày huỳnh huỵch nện xuống đáy cối đá đại.
Mót đám vàng vàng đỏ đỏ nghễu nghện tử nhà dưới 'tlcn lên nhà trên. ĐÓ là các thứ xôi gấc, xôi dành và xôi lá diễn đóng trong những chiếc "mâm' dàng" sơn son.
Góp vào đó, mói mâm thêm một cái sỏ lợn, hoặc cái.'lăm" lợn, một nậm rượu và một (ra trầu.
ông trướng họ Trần xúng xính trong chiếc áb tế màu lam cụng kính đi theo mấy mâm xôi thịt để thay mặt cố ông lễ yết các nơi đinh, chùa, văn chỉ, ~à các nhà thờ đại tôn, tiểu tôn. ~ Vọng canh đầu cổng 'tùng tùng mấy tiếng trống báo. Tiếp đến một tràng tháo nổ liên thanh. 1 Hai mâm cau tươi đưa hai ông bạn thân của cố ông đến mừng quan.'nghè.
Bằng một dáng bộ ung dung, cố ông từ trên ghế ngựa quang dầu khoan thai thò chân xuống đất.
Ngài sẽ sàng xỏ chân vào giày và trịnh trọng bước ra đầu thềm. Rồi vái một vái gần sát mặt đất, cố ông cung kính mời quí khách lên thẳng nhà trên.
Trống cái ngoài cổng lại điểm mấy tiếng giật giọng.
Một lũ cai tổng, phó tổng, lý dịch các xã trong tổng, lố nhố theo mấy bao chè .sinh hậu và một hòm pháo bàn đào khúm núm tiên vào trong rạp.
Mấy lông quan họ còn đương vồn vã mời khách vào ghế, và mấy ông khách hàng tổng còn đang đưa đẩy nhường nhau ngồi trên, thì Ơû ngoài cổng lại có mấy tiếng trống cái báo hiệu.
Theo hình thế cua đám rồng rắn, một bọn chừng bốn mươi người kéo dài từ cổng vào sân với chiếc khay vuông có để vài bức câu đối nhiễu đỏ.
Giờ này mà đi, trống báo luôn luôn không dứt, khách đến mỗi lúc mỗi nhiều. Bọn này ngồi chưa yên ghế, bọn khác đã rầm rập kéo vào. Mấy ông quan họ chuyên việc tiếp khách, ai nấy nhễ nhại mồ hôi. những cậu học trò bé con cuống cẳng chạy không kịp nước để khách dấp giọng.
Trên chiếc án trước thềm, chè, pháo, cau tươi chất đầy như quả non bộ. hến con công, câu đối vóc nhiễu, treo khắp vách, cát tường.
Những cỗ giò, nem, ninh, mọc kế tiếp nhau từ phía cỗ đệ lên. Khách khứa lục đục vào tiệc. Bọn nào đến trước ăn trước, bọn nào đến sau ăn sau.
Mâm này bưng ra, mâm kia bưng vào. Trong rạp cũng như trong nhà, không lúc nào không có vài mâm ăn uống. ' Trời gần tối, khách đã hơi vãn. Hồi trống thu khỏng của điếm canh vừa tan, những cây bạch lạp, những quả đèn lồng, những đĩa dầu trong các quang tre lần lượt theo nhau bắt lửa. Ngoài sân, trong rap~ ánh sáng rực rỡ như ban ngày.
ông trướng họ Trần cởi tấm áo lam trao cho người nhà cất đi rồi gọi lý trưởng, phó lý đến hỏi: Thế nào, những đồ hành ngơi(l) ngày mai, các thầy sắp sửa đủ chưa? Ly trưởng nhanh nhầu: Trình cụ, chúng con sắm sửa đâu đấy cả rồi.
Phó lý lễ phép nói thêm: Trình cụ, còn thiếu hai cái cán cờ tứ linh, vì bị mọt gấy, chúng con đã tìm đôi sào phơi dùng tạm: - Những ai đi rước? Cắt cử xong chưa? Bẩm đã! Tất cả hơn một trăm suất, toàn là người lảng, chúng con không dám cắt đến ông nào trong quan họ.
ông trưởng họ Trần hơi cau lông mày: Cái đó là lẽ tất nhiên. Việc khác, dân làng cũng không được phép cắt người quan họ đi rước, huống chi việc này... Thế các thầy có dặn những người vào việc phải ăn mặc cho tử tế không ' Bẩm có? Chúng con đã bắt dân làng đều mặc áo đỏ và thắt dải lưng màu xanh. Ai không có sẵn thì phải đi mượn.
ông trưởng họ Trần ra bộ vừa ý: L~ Phải cho trang trọng một chút mới được...
Còn có hàng tổng, hàng huyện trông vào. Không nên cẩu thả để cho người ta chê cười làng mình.
Một người tuần phu Ơû cổng đi vào, chắp tay đến đứng dưới thềm: Trình cụ, phường chèo đã đến.
ông trưởng họ Trần ~lgẫm nghĩ giây lát: Ra bảo chúng nó cứ ngồi ngoài ấy. Lúc nào có người ra gọi sẽ vào.
Rồi, chỉ tay ra thẳng gian rạp chính giữa, ông ấy nhìn mặt lý trưởng, phó lý: - Bây giờ, công việc đã thư, các thày hãy sai đứa nào thu xếp chỗ này, để cho phường chèo vào hát một lúc.
Lý trưởng, phó lý sung sướng như lính lệ được chuyến sai, họ dạ một tiếng rất gọn vạ cùng đem theo lệnh của ông trưởng quan họ xuống nẻo nhà dưới loan báo cho bọn trai làn~ơ.
Qua một hồi dọn dẹp, kê cúng, gian rạp chính giữa nghiễm nhiên thành một sân khấu lâm thời.
Trống chầu trên thềm thủng thẳng điểm bốn,' năm tiếng.
Chứng hơn mười người phưởng chèo theo đôi hòm vuông lố nhố tiến vào.
Trẻ con đua nhau hò reo. Trong rạp ồn ào như đám vỡ chợ.
Sau khi mấy bộ quần áo đã vắt lên sợi dây thừng chăng suốt hai chiếc cột rạp, để ngăn cho nửa gian rạp thành một căn buồng, hộp 'phấn, hộp son và những mũ bạc, mũ vàng, mũ lông công, mũ cánh chuồn, la liệt bày ra nắp hòm mặt án.
Trống 'rung. MÕ điểm nhát gừng. Phèng phèng, chũm chọe đồng thời nổi lên.
Trò bắt đầu diễn.
Trước rạp, sau rạp và hai bên rạp, người đứng chật như nêm cối. ~ Hết một hồi trống dạo trò, cả đám đều im phăng phắc để nhìn bộ miệng người kép giáo đầu đương mấp máy Ơû 'sau một chiếc quạt giấy.
Đánh sạt một cái, cái quạt bị cụp hẳn lại, người kép lây hết gân mặt gân cổ, gân môi để ngân cho giọng thật dài: - Nhớ thuở xưa tích cũ, có một chàng trai tên gọi Lưl~ Bình...
Mọi người xôn xao bảo nhau: ~ - Aø họ !ảm trò "Tây Dương nghĩa phụ'.
Đêm càng khuya, trò càng xô xát, khán giả càn~ơ nô nức. Người ta vỗ tay cười reo khi nghe anh hê cắt nghĩa "đại phong" là lọ tương. Và người ta tỏ vẻ ái ngại thương xót, khi thấy Lưu Bình lắc đầu nhăn mặt tí.ước bát cơm thiu và quả cà mốc của nhà Dương Lễ.
Nửa đêm, trò vừa hết vở. Khán giả ồn ào giải tán sau một hồi trống tan trò. ông trưởng họ Trần oai vệ ra lệnh cho bọn lý trưởng, phó lý: Bây giở nửa giờ tý rồi, sang giờ sửu .thì phải khởi hành.. Các thầy giục họ bưng mâm để_ ehạ xơi rượu, không thì trễ quá

1 ) Đ~ rư(~ đám r Ĩ C)

chương II

Lại một lân nữa, ruột ran cô Thúy không kìm được sự hồi hộp. Và cái hôi hộp lần này có lẽ còn mạnh hơn mấy lần trước nhiều lắm.
Trí nhớ của cô còn in rành rành. Cách đây vựa đúng một năm, bấy giờ cô mới có mười chín tuổi.
Cái đêm sắp sửa thắng quần thắng áo để đi làm người nội trợ cho cậu khóa Trần Đằng Long, tim cô đã bị một phen rung động.
Song lúc ấy cô chỉ tự thấy bẽn lẽn và cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn những cảnh tượng đầu tiên và những câu nói thứ nhất của mình trong khi bắt đầu giáp mặt người bạn trăm năm. Thế mà thôi.
Rồi đến hồi cuối tháng một năm ngoái, khi được tin chồng cô đỗ cử nhân, bụng cô lại -nôn nao lần nữa.
Nhưng cái địa vị của một cô cử vẫn không thay đổi hoàn cảnh của một cô' khóa, cho nên lúc này Ơû trong lòng cô chỉ có một sự sung sướng êm đềm, nó ' không bắt cô kích thích nhiều quá.
Lần này khác hẳn. Tuy quãng đường từ cô cử lên đến cô nghè,cũng không lạ hơn quãng đường tử cô khóa lên đến cô cử, nhưng cái khó nghĩ cho cô là cuộc vinh qui ngày mai.
Bởi vì tử thuở tấm bé đến giở, chưa từng thấy người con gái nào được cái vinh hạnh như mình, và chưa được rõ cái quang cảnh ấy ra sao, cho nên óc cô cứ phải loanh quanh suy tính: " Không biết chốc nữa mình sẽ phải 'ngồi thế nào, phải đứng thế nào, và phải ăn nói thế nào cho đúng điệu bộ một bà tiến sĩ?" Hỏi mãi, cô vẫn không tìm thấy câu trả lời Trống canh ngoài điếm chợt điểm ba tiếng muốn báo để cô biết cái giờ lên đường sắp đến nơi rồi. Khêu rõ ngọn 'đèn trên quang, cô vội xổ đầu ra chái Mái tóc mấy lần rẽ đi rẽ lại, mà khi ngó vào trong gương, đường ngôi trên trán vẫn chưa được nga~7' cô đương băn khoăn, muốn sứa thêm cho nó thật chỉnh, ngoài rạp vừa nổi hồi trống tan trò. CỐ h~ Ơ ngoài bước vào, giục cô sang phòng bên kia cùng an cơm tạm.
Theo lời mẹ chồng, cô vội bỏ gương, bỏ lược đi ra.
Sau khi điểm tâm bằng một ớ a xôi và hai bát chè_, cô lại sang phòng bên này. BỔ cau, têm trầu, giờ gói thuốc lá quấn vài chục điếu, rồi cô xệp cả vào cái tráp tròn sơn son, và thêm vào đó ít cánh hoa hồng, hoa huệ.
Nhà dưới, làng xóm ăn uống đã xong. Ai nấy tấp nập đi lấy cán cờ, cán quạt và tìm đòn võng.
Trông ngực khi ấy lại càng đập mạnh, cô vội mở rương lấy hết mấy bộ quần áo mới ra thay. .Quần cũng như áo, các cái đêu vừa như in, chỉ tiếc đôi giầy vân hài .khí chật, làm cho hai bàn chân cô đều thửa một ngón chân út.
Ngoài rạp, chiêng,. trống xen nhau thôi thúc hết một hồi thứ nhất, cố ông, cố bà đã cho gọi cô ra đứng chờ sẵn trên thềm. Bốn chiếc võng đào, đòn cong, mui luyện cũng đã chực Ơû dưới sân. Đợi cho dứt hồi chiêng trống thứ hai, thì ba chiếc' võng cũng hạ thấp xuống, cô và cố ông, cố bà mỗi người bước lên một võng. Chiêng trống điểm thêm một hồi và ba tiếng nữa, tức thì bốn đôi đèn lồng dân đường cho bốn chiếc võng tử tử tiến ra ngoài cổn~ơ.
Cái võng bỏ.không ra trước rồi đến võng cố ông, rồi (đến dõng cố bà, rồi đến võng của cô nghè. Cuối cùng thì bọn trai làng khiêng vác cờ quạt tàn lọng.
Ra khỏi cổng nhà, chiêng.trống lại im, lọng vẫn cụp cờ vẫn cuốn, cả đám lần lần tiến trong bóng cây âlp thầm. Nếu không có tiếng nói' chuyện rầm rầm và mấy ngọn đèn le lói, có khi nhiều người sẽ ngờ là toán kỳ binh kéo đi đánh úp chỗ nào.
Tới đầu địa phận, xa trông trước mặt, thấy có bóng. người lố nhố trong đám ánh lửa vàng vàng.
Ai nấy đều biết ngay rằng: đó là những người hàng tổng cũng đi dự vào cuộc rước ấy.
Mấy người đàn anh trong bọn dân phu hàng tổng cung kính vái chào hai cố và bà nghè. Hai toán người này liền nhập vào làm một, rồi cùng thắng đường trẩy đi.
Lần này là lần đầu tiên trai làng Văn khoa được làm những kẻ đồng hương với quan nghè, cho nên mỗi người đêu nhận thấy mình vinh dự hơn hết những người các làng khác. trong tổng. HỌ tự coi họ là chủ, còn những người kia là những kẻ phục dịch.
Trời gần sáng. Trên đường đi đã rõ bóng người.
Trong bọn dân làng Văn khoa, một ông vác cờ ngoảnh lại nhìn lũ hàng tổng, rồi mỉm cười và nói với người bên cạnh: .
Thảo nào người ta vẫn bảo: "Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng". Coi vậy!..., đỗ đến ông nghè cũng có sướng thật. Cả tổng đều phải đi rước! Đến ông vác lọng nối lởi: - ấy là bây ~ơiở đã giảm hơn xưa nhiều lắm...
Hôm qua, tôi thấy các cụ nói rằng: ngày xưa, trong đời nhà Lê nhà liếc gì đó, mỗi khi có một ông nghè mới đỗ, hàng tổng, hàng huyện, đều phải đem cờ đem quạt đến tận kẻ chợ mà đón. Nhưng từ năm Gia Long nguyên niên mà đi, kẻ chợ dời vào Thuận Hóa, người Bấc tới đó xa quá, các quan sợ làm phiền lân, cho nên ehỉ bắt rước tử tỉnh nhà trở về mà thôi.
Rồi ông vác tàn nói xen: - Phái rồi. Tôi cũng nghe nói thuở xưa ông nghè Dai lắm. ~lễ mà đỗ lên một cái thì là nội những ruộng đất trong tổng muốn cắm chỗ nào cũng được Chẳng những căm đâu dân chịu đấy, mà lại còn được hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà cho nữa, thế mới sướng chứ! Và ông cầm eờ vắt lại: CÓ thế thật đấy. Tháng trước , khi được tin mừng Ơû kinh đô báo về, cô nghè có cho gọi tôi vào dọn nhà cửa, sân vườn. Gần trưa, các cậu học trò về hệt, cô ông.bảo.tôi lên thềm nhà học quạt nước.
Lúc ấy, tôi thấy cố nói với cụ trưởng họ thê này: " Làng K.Q.Đ. Ơû .cạnh đường xứ, chỗ gân sông đông, trước kia là đất làng Vân. Về sau có ông họ Đinh - cố có nói tên nhưng tôi quên mất - có ôn họ Đình Ơù K.Q.Ĩ. thi đỗ tiến sĩ, mới cắm khu đất ấy làm dinh. Rồi thì những kẻ tôi tớ cũng theo đến ớ mà ớ. Dần dần thành ra một cái làng Xem thế thì biết cái chuyện "hàng huyện làm công,_ hàng tổng làm nhà" mà trong phương ngôn đã nói là chuyện có thật . . . ? Cả tụi chép miệng ra ý tiếc rẻ: - Hoài của? Nếu như lệ ấy còn đến ngày nay, có lẽ chúng mình cũng được đi theo quan nghè để lập thêm làng Văn khoa nữa.
Câu chuyện đương còn tiếp tục/ bên đường chợt có dãy quán bán quà. Theo lời cố ông Ơû trên đưa xuống, hàng' tổng đều được dừng lại tạm nghỉ.
Bước chân ra đi từ đầu canh ba đến giờ, bọll phu hàng tổng chừng đã thấy đói. HỌ kéo Oà vào khắp các quán, kẻ có tiền ăn quà ăn bánh, kẻ không tiền thì giở cơm nắm ra chấm với muối ông.
Lúc ấy mặt trời đã lên độ hai con sào, trên đường, ngoài khách đi chợ, loáng thoáng có vài bọn đi xem.
Bọn phu hàng tổng. mỗi người vừa kịp uống một hớp nước, hút một điếu thuốc thì đã được lệnh cử bọ.
Chuyến này là lượt trở đi, chưa cần phải giữ nghi vệ. Người đi vẫn quãng thưa quãng mau, cờ quạt tàn, ' lọng vẫn nghiêng ngả, ngả nghiêng, cái chổng đầu lên, cái chúc đầu xuống.
Vào khoảng nứa buổi thì tới eửa tỉnh.
Hàng phố lố nhố kéo nhau ra xem. ' Ngày trước những ông nghè mới, sau khi Ơû kinh, lĩnh cờ biền về thẳng tỉnh nhà để vào lễ quan tổng đốc đều phải ra luôn nhà trọ, rồi thì hàng tổng đến đó rước về.
Nhưng quan tổng đốc bây giờ là bậc hiếu học, thấy ông tân khoa Trần Đằng Long trẻ tuổi, linh lợi, ngài càng yêu mến, nên mới phá cách mà lưu ông ấy Ơû lại trong dinh và đã phi trát về huyện, sức các dân xã phải vào trong dinh đốc-bộ mà đón.
Theo lệnh ấy, võng, lọng, cờ quạt, ' cứ việc nghênh ngang tiến vào cứa thành.
Đến cổng dinh quan tổng đốc, cố ông, cố bà và cô nghè xuống võng đi bộ.
Giữa mấy tiếng trống báo rất hùng dũng của bọn lính canh trên chòi, một người đội tuần lật đật Ơû trong chạy ra. 'Cố ông, cổ bà và cô nghè sửa lại khăn áo cho thật tề chỉnh để theo hắn đi vào trong dinh.
Làng tổng xúm lại từng tốp ngồi lê ngồi la Ơû 'các bãi cỏ ngoài dinh, kẻ ăn trầu, người hút thuốc vặt. Cờ quạt võng lọng, dựa Ơû bên đường ngổn ngang. ' Nửa giờ sau, giữa lúc dân phu đang vây quanh chĩnh nước chè tươi và chiếc điếu cày, thình lình mấy ông bô lão đều quay vào phía cửa dinh, ai nấy cong lưng vái một vái cực kỳ trịnh trọng. ' Quan nghè đã đi với eố ông Ơû trong dinh ra. Cả bọn hàng tổng răm rắp đứng lên, ai vào công việc của người ấy.
Bốn chiếc đòn võng ghếch đầu ven 'tưởng cũng như số nhiều cờ quạt, tàn, lọng đều được nhấc ra một cách vội vàng.
Các võng đều chế theo kiểu bát cống, mỗi cái phải tám người khiêng.
Với chiếc nón dấu đội đầu và bõ áo xanh nẹp đỏ, phủ tấm ban kiên màu đỏ, tất ' cả ba mươi hai người phu cõng nhất tề đỡ tay vào các đầu đòn để hạ cho mấy chiếc võng thấp gần mặt đất.
luống những ông nghè bầng giấy mà hàng nam đến rằm tháng tám, người ta (ẩn thấy Ơû cỗ 'trông trăng quan nghè đi ủng đen, mang xiêm xanh, bận áo thụng lam và đội mũ cánh chuồn lóng lánh (.,Thì đây tr~ xuống. những đoạn in nga là do chúng tòi ìx) sung thiên báo thới ~ụ nam l~ Những đt'ạn đú trong sách trước đây bi kiêm duyệt tháp hò ịl'(..[)) ' những bông hoa bạc. Sau khi vị tân khoa ấy đã bệ vê bước chân lên võng và. ng()i chống tay vào chiếc gồi xếp đặt Ơû đầu võng, cố ông, cố bà, lần lượt trèo vào võng mình. .
Sau rốt đến lượt cô nghè.
Với hai gò má đỏ bứng như muốn biểu lộ một cái tâm trạng nửa mừng nửa thẹn, cô này' nhìn trộm bộ điệu lên võng .của chồng và của cha chồng, mẹ chồng. 1 Rồi sè sẽ xếch cao hai ống quần linh và rón rén cất cái gót của chiếc vân hài,cô ghé ngồi vào chỗ mép võng để co hai chân lên võng.
~íấy chục người nhất tề nâng các đòn võng lên vai và đứng im lặng chở nghe hiệu lệnh.
Đám rước lúc ấy bắt đầu sắp thành hàng ngũ.
Đầu quân .là lá cờ đỏ có thêu bố~l chữ "nhất giáp tiến sĩ .
Rồi đến bốn chiếc lọng vàng nghiêng đầu vào nhau che cho mấy chữ "ân tứ vinh qui" đề giữa tấm biển sơn son chung quanh có lớp riềm nhiễu đỏ. ' Rồi đến một chiếc trống đánh đu dưới cây đòn gỗ bắc dọc trên vai hai người dân phu. ' Kề đó, ông thủ hiệu trống luôn luôn tỏ vẻ oai vệ bằng bộ mũ tế, áo tế, cái dùi trống chênh chếch gục đầu vào ngực và đôi hia đen xúng xính dưới hai ống quần màu "dúm".
Tiếp đó, bốn cậu bé con đứng ra bốn góc để chiếm lấy một khu đất vuông vắn như hình bàn cờ. Cả bốn, ai cũng như nấy. áo đỏ, dải lưng xanh, xà cạp màu xanh, tay trái chống vào cạnh sườn, tay phải vác lá cờ phất khuôn khổ vừa bằng vuông yếm.
Rồi đến ông cầm trống khẩu.
Rồi ~n võng của quan nghè.
Đi kèm:ở hai bên võng, hai người rước đôi lọng xanh chóp bạc, hững hờ giương Ơû cạnh mui võng.
Và thêm vào đó, bên hà~v một người vác chiếc quạt lông, bên kia, một ông lê mễ cắp cái tráp sơn đen và xách một chiếc điêu ống xe trúc.
Sau võng, phấp phới năm lá cờ vuông, đủ cả năm sắc xanh, đỏ, vàng, trắng và tím. Đứng đúng như năm cái chấm Ơù mặt "ngữ' của con thò lò, năm ông vác cờ đi giây tâu, mặc áo nhiễu điều, đội mũ đuôi én, và đều khum nh tròn hai tay để giữ lấy cây cán cờ cắm trên chiếc cối gỗ đeo Ơû trước bụng.
Rồi đến ông cầm kiểng đồng.
Rồi đến võng của bà nghè.
Bằng tấm áo lụa màu hồng điều và vòng khăn nhiễu màu cánh chả vấn kiểu vành dây, hai người con gái rón rén đi hầu cạnh võng để vác cây quạt lá vả và bưng cái quả sơn son.
Cũng như võng của quan nghè, võng của bà nghè cũng được hộ vệ bằng đôi lọng xanh, chi kém có cái chóp bạc.
Rồi đến võng của cố ông.
Rồi đến võng của cố bà.
Rồi đến mấy ông bô lão khúm núm trong những tấm áo thụng màu lam.
Rồi đến các thứ kèn trống đàn sáo.
Rồi đến một dãy chừng bốn, năm chục lá cờ sắp theo hàng m('t, cái nọ cách cái kia độ vài ba thước.
Cuối cùng thì là hai người khiêng chiêng.
ông thủ hiệu chiêng phục sức và điệu bộ không khác ông chủ hiệu trống, cũng áo tế, cũng mũ tế, cũng đôi hia đen, và chiếc dùi dựa luôn luôn múa Ơû cửa tay áo thụng.
Với chiếc lôa đồng vác vai, lý trưởng Văn khoa và nhiều chức dịch hàng tổng tung tăng chạy từ đầu nọ đến đầu kia, để làm cho hết phận sự những người dẹp đám.
Sau ba hồi trống cái gióng nhau với những tiếng chiêng bu bu, tiếp đến một hồi trống khẩu đi đôi với hôi kiểng đồng, đám rước lục tục theo con đường cũ đi ra,đàn sáo kèn nhị nổi lên inh ỏi.
Ra khỏi cổng thành độ vài chục bước, ông chủ hiệu trống thình lình thúc ba tiếng trống díp nhau, để ra hiệu cho hết.mọi người đều phải dừng lại. Rồi thì một tay chống thẳng vào sườn, người"giữ hiệu lệnh của đám rước" đó khoan thai lui xuống năm bước.Và dang hai chân theo hình chứ "bát", ông ấy múa chiếc dùi trống tiến lên năm bước để ~lện luôn vào mặt trống mấy tiếng tùng tùng. .
Dứt hồi tùng tùng thứ nhất, bốn cậu bé con cầm bốn lá cờ phất đồng thời quay mình đánh thót và cùng chầu mặt vào nhau. Sau hôi tùng tùng thứ hai, cả bấy nhiêu cậu nhất tề múa tít lá cờ trong tay để chạy cho hết chiều ngang của mặt đường cái, người Ơù bên tá xông sang phía hữu, người Ơû bên hữu xông sang phía tà.
Luôn 'hồi tùng tùng thứ ba, các cậu lại đều quay tròn ngọn cờ và răm rắp lui vè chỗ cũ. Đến hồi tùng tùng thứ tư, cờ lại múa bốn cậu lại.cùng bước vào giữa đường. Rồi ai nấy đều cúi đầu xuống để phất lá cờ qua mặt và hứ một tiếng thật dài... Thệ rồi, mỗi một tiếng tùng là một cái phất cờ, và mỗi cái phất cờ lại một tiếng "hứ". Vừa đú bốn lượt "tùng hứ", ông thủ hiệu trống dõng dạc điểm thưa dùi tróng để ra lệnh cho các câu đó lùi lại chỗ đứng lúc nãy và quay mặt nhìn lên tiên quân.
Chiêng trống lại thủng thẳng đánh từng tiếng một, đám rước lại lần lần tiên lên.
Đi hết con đường trong tỉnh, mặt trời vừa lên đến thẳng đính đầu. Cả một khu vực mông mênh của bầu trời đều bị nhuộm thành màu vàng chói.
Người đi trên đường luôn luôn ngửi thấy mùi khét.
Cờ vuông, cờ chéo, hết thảy rũ rượi như lũ ấp mồ.
Dân phu hàng tổng ai nấy sắc mặt đỏ gay, mồ hôi thấm ra ngoài áo. Chừng đã khó chịu với sự nóng nực, mấy người đi đâu sè sẽ giục nhau bước rảo cho chóng đến nhà. Nhưng ông thủ hiệu trống cố muốn kéo cho công việc của mình thêm dài, chốc chốc lại tiến ngũ bộ, thoái ngũ bộ, dang cánh tay múa dùi, nháy trống, để diên một trận "tùng hứ", làm cho cá đám đều phải dửng lại.
Trời cứ nắng, chiêng trống cứ tùng tùng, bu bu...
đàn sáo kèn nhị cứ thi nhau xuống chìm lên bổng.
Thiên hạ đi xem đông như nước chảy. Nón sơn chen với nón lá, yếm âó lấp ló trong đám áo the.
Người ta dắt nhau. Người ta co nhau. Người ta du nhau, đẩy thau. Người ta lội bì bỏm dưới ruộng lúa chiêm và l~ tót vót trên các cành đa, cành gạo.
Thân đường chật hẹp không đủ chỗ chứa. Đằng đầu cũng như đằng cuội, chen chúc những người là người. CỜ quạt võng lọng đều phải ùn lại như một toán quân bị 'hãm.
Lý trưởng Văn khoa hùng dũng kề loa vào miện~r Bớ hai bên hàng xứ! Dẹp ra để quan lớn tí...ẩy! Tiếng "trẩy" như bị dính Ơù miệng loa. NÓ đã xoắn lại như vành trôn ốc và kéo dài ra như một sợi thừng. Đít loa"ngoáy" tròn độ năm sáu vòng, vẫn chưa tốn~ơ cho đi hết dư hướng của nó. Những người đứng gân đều phải chối tai. Cả một góc trời như bị xé toạc.
Hàng xứ vẫn đâu đóng đấy, hình như không ai nhúc nhích.
ông lý của làng quan nghè lại phái trợn mắt phùng mang để "bớ hàng xứ" lân nữa.
Cũng vẫn thế. Đường đi cứ bị ngăn cản như thưởng.
Mấy ông tuần phu liền xắn tay áo chạy suốt hai bên dọc đường, và sẵn roi mây trong tay, họ vụt túi bụi một lượt.
Đám đông tức thì dồn dập như một lớp sóng.
Nglrởi nọ xô người kia,cố cướp lấy đường mà chạy.
Bà già, trẻ con ngã sấp ngã ngửa Ơû các bờ ruộng.
Mặt trời' chênh chếch về tây. Đường về đã hết chừng hai phần ba. Vòm trời thỉnh thoảng điếm có bóng râm. ánh nắng dần dần êm dịu. Tiếp đó, một trận gió nồm tứ dưới đồng chiêm nhẹ nhàng đưa lên. Cả đám đều tỉnh người ra. Những con róng phượng trong.các cờ quạt hết thảy lồng lộng múa nhảy như muốn theo tiếng đàn sáo cùng bay tít lên mây lanh.
-ô kìa ông nghè! Oâ kìa bà nghè! Tiếng reo giật giọng thình linh bật lên giữa hồi chiếng trống vang lửng. Trăm nghìn con mắt đố dồn vào đám lọng xanh đi trước.
Mấy bức mành mành cánh sáo đã quấn lên sát mui võng lúc nào.Thiên hạ được dịp xem mặt cả nhà quan nghè. ít kẻ nói đến cô ông, cốlbà. Người ta chăm chú nhìn vào cô nghè nhiều' nhất.
Trước sự chỉ trỏ của hàng xứ, cô nghè vẫn ra vẻ e lệ sượng sùng, tuy trong bụng cô đã eảm thấy vinh dự cực điếm.
Luôn luôn cô phải nhai trầu phúng phính, vì sợ để cái mồm không dễ hóa ra người vô duyên. Và, luôn luôn cô phải cầm gương lên soi, vì sợ cốt trầu chảy ra ngoài mép. CÓ lúc muốn tỏ ra bộ chín chắn, cô ~ơiả vở n~ơắm những cánh hồng con' bướm trong chiếc quạt tâu. Rồi có lúc muốn. làm ra người nhanh nhầu, cô lại đưa mắt nhìn ngược nhìn xuôi, nhìn tứ con cò bay trên lưng trời, nhìn đến con trâu ăn cỏ Ơû dưới bờ lúa.
Hai gối ngồi xếp tè he đã mỏi, nhiều lúc. đã thấy chuột bó. Nhưng cô không dám duỗi ra, e rằng duỗi dài hai chân, không phải. bộ điệu của người sang trọng.
Cái bang dưới nhìn đái lâu quá nó đã phát tức anh ách.Mấy lần cô toan bảo phu hạ võng để mình đi đái nhưng rồi cô đều phải thôi. Bởi vì cô không biết rằng: bà nghè theo chồng vinh quy có thể xuống võng đi đái được không. Và cô lại còn sợ rằng: trong đám người xem đông nghịt thế này, thì đứng vào đâu Không lẽ việc ấy cung bắt hàng tổng dẹp chỗ. . .
Bóng xê chiều.
Nắng nhạt dần.
Trên đường đã thấy hơi mát. Người đi xem lại càng đông thêm.
Đoàn võng lọng của hai vợ chồng ông ngh~ \ ứa qua một quãng ngã tư, thì Ơù cạnh dường bóng có tiếng kêu tru tréo: ' -Chị làm sao thế? .Chị Ngọc! ( hí I;ỉm sa(' tht~ Chị Ngọc! Oi trời ơi! ơi các ông, các bà íli! Cứu (chị tôi với! Chị tôi làm sao thế này! Tiếng kêu cấp bách phát ra một cá('h thình lình, làm cho chiêng trông đàn sáo tự nhiên im bặt, cá người đi rước lẫn người đi xem tự nhiên (đứng lại. lụt người con gái trạc hai mươi tuổi đương nam sóng sượt trên bãi cỏ của con đường ngang, đâu tóc rũ rượi, li,ti mắt nhắm nghiền, bọt mép đùn ra trắng xóa. Và một người nữa, cũng con gái, tuổi chừng mười lăm, mười sáu trở vê, đương ôm lấy đầu người nà~v vừa lay vừ~ kêu. Rồi Ơû cạnh đó, đôi thúng lô và đôi tay nải lổng chổng lăn xuống vệ đường.
Nhưng người Ơû gần cuống quít xúm !ai cáp cứu, kẻ rằng nâng cô ấy dậy, người bảo cứ ớ( cô ấy nằm yên. Mấy bà lão già vâm véo giục nhau dái ra loàn tay lấy nước xoa vào mặt và đổ ~ào miệng cô gái phải cảm.
CÔ gái phải cảm vẫn bất tính nhân sự Tiếng gọi chị và tiếng kêu cứu của người em ~án ai!ri lúc một thêm luông cuộng, hình như đâu lưtĩi đã bị hu lại.
Lúc ấy cô nghè và.cố ông, cố bà tus có dừng vong nhìn ra, nhưn~t ai nấy đêu giữ bò mặt than nhiên.
Riêng có quan nghè xem ~T hởi thất cảm động, ngài gọi lý trương trăn khoa đến cạnh mà hfji: CÓ phái cô Ngọc văn toán giấp\' bút \'(ì các riu ~dt Ơû Chợ Tông ~ấv không? l~ ' trướng lê phép: - Bám phải.
Quan nghè chỉ tay ra nẻo cây đa cạnh đường mà -Thầy chạp đến bảo mấy mụ dàn bà làm phúc cùng cực cô àv v(ìo chỗ mát kia! Ai lại đế cho ngư('ỉ ta nam phơi dưới nắng như vậy? Tội nghiệp! Trống lại thúc. Chiêng lại khua. Dàn sáo lại đua nhau réo rắt.
I)~m rước lần lần tiến về đường !áng Văn khoa.
con dường đã dược cả làng trau chuốt từ sáng hôm qua và đã nằm chờ quan nghè một đêm và một ngày rươi.


chương III

Đêm qua, trời lai nực hơn mấy đêm trước, Vận Hạc không thể .ngồi vên xem sách. 'Với một chiếc gối và một chiếc chiếu, chàng lủng củng đối chỗ khắp cả khu vực trong nhà. để tìm một nơi mát mẻ.
nhưng trong bầu nung nấu của trời .tháng năm, đâu cũng như đâu, ngọn cây, ngọn côi đêu đứng chăm chắm, không đâu có một tí gió. Ơù thềm ra sân, Ơû sân ra vườn, rồi Ơû vườn ra bờ ao, mỗi chỗ chàng chỉ trải chiếu nằm được giây lát, liền thấy hơi nóng như Ơû gần chiếu bốc lên, lại phải cuốn chiếu cắp gối chạy đi nơi khác, y như một người hóa dại.
Mãi đến "gà gáy thứ hai", trời mới hơi dịu, ngoài sân, ngoài vườn, hơi sương tỏa ra mù mù chàng bèn vào buông học, ngả lưng trên một chiếc ghế ngựa, thiu thiu nhắm mắt. Mới chợp đi được một lúc, thì một tiếng kẹt cửa đã làm cho chàng thức dậy.
Trời vừa sáng rõ.
Mấy con chim sẻ ríu rít kêu trên giàn hoa.
Cánh cửa mở to, một cậu học trò và chiếc nón son úp .ở sau lưng theo chân thằng nhỏ khép nép bước đến trước á.n thư, vái một vái, rồi đặt một chiếc phong bì lên án: - Thưa bác, thầy con sai con trình bác ái thư.
Cậu ấy lui ra, khoanh đứng tựa vào cửa.
Sau một cái ngáp thật dài, chàng oằn oại ngồi dậy bằng một điệu mệt nhọc. Rồi chàng cầm lây phong thư và mở ra đọc: Trình trước văn kỷ anh Đào Vân Hạc.
ĐỘ này chắc Anh để hết thì giờ (vào (iệc 'quyết hl~oa ' , cho nên sao lthàllg cả tình bè bạn.
Hơn một tháng nay, không được gặp anh, cỗ kiệll 'đã móc, bàn cờ đõ bị cát bụi phủ đầy. Tôi ~ẫn khao khát tôn nhan, nhl~ llíc nắng cạn khao khát ~ rậ n in t[a rà o c ấy. .
,Nay nhâll dậy sớm, la thăm vườn hoa thấy một giò la!I bạch ngọ( mới nở, sự khao khát ấy lại càng bồll cồn.
Vậy xill anh hãy phí một chút quang âm, t~lm dời gót ngọc đến thíp lềl~ tranh; ta cùng xem hoa ~ nghe chim hót, để tiêu ngày dài của mùa hè.
Tôi đương quét lối "hoa rằng" đợi anh, mong rằng anh đến ngay cho.
Hoa sen đltơng llờ, kính chúc v~m an. Còn nhiều chuyện khác, để lúc gặp nhau sẽ nói.
Sao Tl~ế Ơû ngôi Qúy Dậu. trước tết Hạ chí năm ngày ( * ) Đệ NG~L~ỄN KHẮC MÁN hái thư.
Đọc xong, chàng để mảnh thư xuống án mỉm cười và nhìn vào mặt cậu học trò kia: Cháu về thưa với thầy rằng: bác bảo cho người mua rượu và làm đồ chén ngay đi. Bác sẽ sang BÁU' Dạ một tiếng rất lễ phép, cậu học trò ấy lại vái Vân Hạc một vái rồi ra.
Vần Hạc đứng dậy ra sân, chàng vừa múc nước rửa mặt vừa lẩm bẩm nghĩ thầm: "Hôm nay anh ' *J Thư này nguyên vản bảng ch~ Hán. Tiếc rằng dịch ra quốc âm chưa đư(lc hệt nghĩa. hạn đọc lưt~ng eht).
chàng tự nhiên cao hứng thế này, chắc có việc gì quan hệ. Ta phải sang ngay kẻo hắn mong đợi".
Rồi chàng lững thững trở vào buồng học sắm sứa khăn áo. ' Thằng nhỏ lệch kệch để lên án thư bộ khay chén và ấm nước sôi; đặt 'trên mảnh gỗ có chuôi như cái bê đựng vôi của thợ nề.
Chàng vừa pha nước vừa lẩm bẩm đoán thứ câu chuyện chốc nữa Khắc Mẫn sẽ nói với mình. Nhưng mà không sao đoán' được. Là vì tử trước đến giờ, Ơû giữa hai người không có việc gì có thể dùng làm manh mối cho sự suy nghĩ.
Uống tần ấm nước, chàng liền cắp nón ra cổng.
Ngoài đồng, người làm đã đông. Trên các ruộng nước đục, lổm chồm những mô đất cày, trâu bò đang gò lưng tôm kéo bửa theo hiệu lệnh hùng dũng của tiếng "vặt diệt". / Mặt trời lên khỏi ngọn tre, chàng mới đến làng Bình ' Khê, chỗ dạy học của Nguyên Khắc Mẫn , cái làng chỉ cách chỗ Ơû của chàng độ một thôi đường.
Lớp học buổi sáng chưa xong, trong nhà Khắc Mẫn tiếng ê a vẫn còn ầm ĩ.
Chàng vừa bước vào khỏi cổng, Khắc lẫn lật đật đứng dậy đón chào bằng dáng điệu vô vàn và đon đả.
Những tiếng ê a trong nhà tự nhiên im bặt. Một lũ học trò lố nhố đứng dậy với những khóm hồng mao ngất nghểu trên đâu. Rồi cậu nào cậu áy chắp tay vái như bổ củi: - Lạy bác ạ! - Lạy bác ạ! Gần hai chục tiếng "lạy bác" lao xao theo nhau thành một dây dài, khiến cho Vân Hạc lia lịa gật đầu không kịp. Chàng phải xua tay ngăn lại: - Các cậu cứ ngồi yên mà học.
Cả bọn học trò lần lượt n~ơồi xuống. Rồi thì những tiếng ê a lại thi nhau nôi lên.
Khắc Mẫn vui vẻ mời Vân Hạc ngồi vào bộ phản chính ~tiưa, cái phản cao nhất các phản trong nhà.
Thầy se sàng mở nắp giỏ, róc một chén nước chè nụ đưa đến trước mặt Vân Hạc. Mùi hoa sói theo làn khói nước bay lên ngạt ngào.
Khắc Mẫn vừa cười tủm tỉm vừa hỏi: - Đêm qua huynh ông đã đi hát nhà trò, thế mà không rủ tiểu đệ đi với? Với Khắc Mẫn, Vân Hạc tuỵ kém đến hai chục tuổi nhưng vẫn được nhận là bạn vong niên, cho nên mỗi lúc nói chuyện, hết sức' suồng sã, không cần phải giữ ý tứ. Hai người vẫn thường gọi nhau là anh, có khi đến mày tao nữa. Lần này tự nhiên thấy Khắc Mẫn tôn mình là huynh ông, Vân Hạc không khỏi ngạc nhiên, song chàng cũng cứ làm lơ và vẫn trả lởi như lối mọi ngày: - Ai bảo anh thế? Khắc Mẫn ra vẻ đắc ý: Nếu không đi hát, làm sao huynh ông ngủ đến bạch nhật chưa dậy? Vân Hạc chừng không chịu nổi cái lối kiểu cách của bạn, chàng liền nói nửa thật nứa bỡn: - Nếu anh không vứt hai tiếng huynh ông vào lọ mắm thối của anh, thì tôi đứng dậy lập tức, không thèm nói với anh một câu nào nữa.
Khắc Mẫn bèn cười khì khì: Thế thì đêm qua anh đi hát với những thằng nào, phải thú tội ngay đi đã! Vân Hạc uống cạn chén nước rồi đáp: - Chẳng đi hát với thằng nạo cả. Vì lúc chập tối nực quá, mãi tới gần sáng mọi ngủ, cho nên dậy trưa. ánh bảo đương lúc trời nắng như nung thế này, ai có động dại mà chui đầu vào nhà trò? Khắc Mẫn vẫn cười giòn giã: - Té ra anh bị ngờ oan. Thế mà tử nãy đến giờ, tôi cứ oán anh đi chơi không rủ anh em.
Một cậu học trò cắp sách đứng lên với đôi ống mũi thập thò bò xuống gần miệng, song song đo nhau như đôi ngà voi. Khép nép tựa lưng vào tấm cánh cửa, cậu ấy nói bằng tiếng mũi: - Thưa thầy xin đọc! ' Khắc Mẫn sẽ giương đôi mắt: Hãy đi hỉ mũi đi đã! CÓ một bài học, đọc đi đọc lại mấy lần không trơn. Ngày mai còn mà thế nữa, thì mày chết đòn! Hình như sợ rằng bước đi chỗ khác, mấy chữ trong bụng sẽ bị rơi mất, cậu ấy hến giơ tay áo quệt ngan~ơ lỗ mũi, cho "ngòi mũi" nguệch sang một bên, rồi cất giọng ề à: "Hỗn mang chi sơ, 'Vị phân thiên địa.
'!Bàn cổ thủ xuất.
"Thủy phán âm dương..." vữa dứt hai tiếng "âm dương", cậu ấy sung sướng như đã trút được gánh nặng trên vai, liền kết một câu gọn tách: Thưa thầy 'ăn hết.
Rồi cậu ấy nhanh nhầu lui ra, nhường tấm cánh cửa cho một cậu khác tựa hồng mao vào. Sau khi đã chiếu lệ xin phép thầy đồ, cậu này đãng hắng ba tiếng để đưa Ơ cuống họng ra một "câu' ngắc ngứ": "Thiên tử trọng hiền hào, "Văn chương giáo nhĩ tào.
Nhai mãi hai chữ "nhĩ tào" đến bốn, năm lượt, cậu bé đáng thướng vẫn không nghĩ ra được câu tiếp theo.
Trước cái cau mày dữ dội của thầy đồ; cậu đó như đã hết cả hồn vía, sắc mặt tự nhiên tái đi và cứ đứng im, không thể đọc nốt và cũng không dám cựa quậy, chẳng khác một pho tượng gỗ. Vân Hạc có ý thương hại con trẻ, muốn cho cậu ta thoát được ngọn rọi thị oại của Khắc Mẫn, chàng vội nhắc: Đọc luôn đi chứ! "Vạn ban...!".
Giống như ' con ếch đớp được cái hoa mướp, cậu đó mừng rỡ đớp lấy hai tiếng "vạn ban" và tiếp: "Vạn ban giải hạ phẩm. ' "Duy hữu độc thư cao".
Và cũng thêm vào đó bốn tiếng "thưa thầy xin hết", cậu bé đáng thương y.úi vẻ đi đến chỗ ngồi của mình.
Vân Hạc lẩm bẩm nghĩ thầm: "Không hiểu vì sao người ta lại cứ bắt tội trẻ con phải học những sách quái gở? Những đứa độ tám, chín. tuổi, mới vỡ lòng được vài bốn tháng, còn biết đời "hỗn mang" là cái gì, kẻ "hiền hào" là người như thế nào, vậy mà chúng nó cứ phải học cho thuộc lòng, thật .là một sự khổ cho con trẻ" . ~ Mối dây tư tưởng của' chàng còn đương vẩn vơ, chợt thấy Khắc Mẫn quát lớn: -Vẫn chưa đứa nào đi mài son à? Một cậu học trò lễ phép tiến đến bên cạnh án thư, để bưng 'lấy chiếc nghiên son và đem ra .sân; Rồi vục luôn đĩa son vào đám bèo tấm trong cái bể cạn trồng cây si con, cậu đó múc lấy chửng lưng ớ a nước và liên ngồi thụp xuống sân. Ngón chân cái bên phải đè vào miệng ớ a phía trong và ngón tay cái bên trái giữ .lấy miệng ớ a phía ngoài, cậu bé ngoan ngoãn mắm môi,câm hòn son xoay tít trong vòng trôn ớ a.
Bèo tấm bị nghiền nát biến. Nước trong đĩa hóa ra một chất đo đỏ và đặc như keo. Cậu ấy lễ phép bưng 'vào trong nhà rồi 'đặt lên mặt án thư.
Cả lũ học trò mở sách chồn~ơ làm một chồng giao cho một cậu đệ lên cạnh cái ông bút trên án.
Khắc Mẫn mở tủ lấy ra một pho sách trao cho Vân Hạc và nói: BỘ sách này quý lắm, tôi mới mượn được của một chú khách. Anh coi đi. Để tôi chấm sách cho chúng nó học. Rồi sau ta sẽ nói chuyện.
Vân Hạc' vội đón tập sách và sẽ hé mở để coi những chữ in Ơû mép các tờ. Tưởng là gì, té ra bộ truyện "Bình sơn lãnh yến .
Chàng đặt cả tập xuống chiếu và nhìn ra bọ li học trò: Cậu nào có sách tô thì đem vào đây để ta viết ch( mà tô.
Khắc Mẫn ngạc nhiên: Sao anh không dọc? "Tứ tài tử" đây mà! Hay lầm ~lnh ạ! \,ân lạc mỉm cười : Tôi đã coi từ năm lên mười tuổi rồi. NÓ cũng xoàng xoàng vậy thôi! ' Khắc Mẫn ra ý bẽn lẽn: - Thế thì anh viết giúp tôi mấy cái phóng vậy.
Rồi thầy ngoảnh mặt vào bọn học trò trồng trộng : Phóng của chúng bay lèm nhèm cả rồi, phải không? Đem giấy đem bút để bác viết cho mỗi đứa mót cái.
Mấy cậu thi nhau "vâng ạ". Rồi họ chọn bút, mài mực, tháo sách lấy giấy đưa lên trước mặt Vân Hạc.
Liền đó, học trò chia làm hai toán. Một toán vây quanh án thư, nhòm thầy chấm sách. Một toán nữa vịn vai nhau đứng Ơû đâu phản để xelll ông khách viết phóng.
Chồng sách trên án chấm xong, phóng của Vân Hạc cũng viết được năm, sáu cái. Khắc Mẫn cầm lấy tập Phóng bày ra mặt chiếu, ngắm đi ngắm lại từng tờ, và khen tâm tắc: -Chữ anh tốt thật, nét sắc như cắt và tươi như hoa.
Rồi thầy lại tiếp: -Văn hay chữ tốt như anh, thế mà . thi cứ hỏng mãi, có lẻ chỉ tại cái tội láo quá. Nếu anh chừa được cái láo, tôi chắc là sẽ đỗ ngay.
Vân Hạc chỉ cười ngặt nghẽo, không trả lời.
Khắc Mẫn xếp tập phóng lại, phân phát cho lũ học trò và giục: - Đem sách ra mà học đi! .
Tức thì cả đám học trò mỗi người vác một cuốn sách nhốn nháo chạy quanh cùng nhà: cậu này tựa vào cạnh cột, câu kia ghé lên bậc cửa, một vài cậu nữa quì gối xuống đất để ngồi chầu lên tấm phản của thầy. ~ Một sạp ê a theo nhau nổi lên. Trong nhà ồn ào như đám chẵn lẻ.
Những câu "thưa thầy chứ gì", luôn luôn thúc vào lỗ tai Khắc Mẫn, Khiến thầy cứ phải quay bên nọ, ngoảnh bên kia, mỏi miệng trả lời không kịp.
Nhiều lúc Vân Hạc phải bảo giúp.
Tiếng học dần dần uể oải. Dãy phản bên cạnh xen vào mấy tiếng ấm óe. Một cậu học trò với bộ mặt bò nhếch bò nhác tiến đến trước án thư : Thưa thầy anh Thận chen con! Khắc Mẫn chỉ tay và quát: Thằng Thận ra đây! Ra ngay đây! .
Cậu học trò nữa suýt soát đứng dậy.Y' đến cạnh án thư và núc hai tay vào nhau như thây phù thủy bắt quyết: Thưa thầy anh ấy beo con. # Sẵn cây roi mây nằm chờ trên án, Khắc Mẫn không kịp phân xử, phạt luôn mỗi cậu mấy roi. Cái roi như cũng thính ra oai với lũ trẻ con, mỗi lân được giáng hạ vào đầu vào cổ hai kẻ bị tội, nó lại kêu một tiếng đánh "vút" . Hai cậu bé con . so vai, rụt cổ, van như tế sao, vẻ mặt không còn sắc máu.
Khắc Mẫn hằm hè tuyên án: - lọc không học. Chỉ chòng nhau. Sao mà những của khó dạy làm vậy! Thôi cho ra phản. Mỗi đứa ngồi riêng một xó. ' Hai cậu ấy mếu máo lui ra. Lại một cậu khác khép nép tiến vào: - Thưa thầy hôm qua anh ất ra đường chửi nhau đế cho chúng nó...
Khắc Mẫn đương cơn thịnh nộ, liền dồn: Chúng nó làm gì? Cậu đó rụt rè ra bộ sợ hãi: Chúng nó chửi thầy ạ! Vân 'Hạc phì cười và hỏi: - Chúng nó chửi thầy thế nào? Phải nói lại cho thầy nghe chức Khắc Mẫn cũng cười và ngó sang phía Vân Hạc: - Anh đừng chơi cái.kiểu ấy! Chỉ tổ hư cho trẻ con.
Rồi thầy phát cậu học trò: - Tứ rày muốn sống không được mách nhảm! Nếu còn mách nhảm sẽ được đủ một trăm roi.
Trước sự lườm nguýt của chúng- bạn, cậu ấy len lét trở ra, 'rồi bẽn lẽn ngồi vào chỗ cũ.
Khắc Mẫn ra lệnh cho các học trò: - Đứa nào thuộc bài vào mà kể đi! .
MÂY cậu nhỏ tuổi láu táu đem sách đến trước mặt thầy, rồi thì các cậu chen nhau, đẩy nhau, tranh nhau kể trước.
Cuộc kể nghĩa bắt đầu. Những tiếng ê a Ơû hai gian bên cạnh đều phải hạ xuống thành tiếng lầm rầm, đế cho mấy cậu bên này cắt nghĩa chứ "chi" là 'chưng", chữ "ky" là "thửa".
Vân Hạc đứng đậy ra sân đúng đinh dạo thăm hoa cảnh Bóng nắng vừa đến nửa thềm, cuộc kế nghĩa đã xong. Khắc Mẫn lúi húi đưa ngọn bút son vào tập sách tô, sách phóng và sách câu đối, bài đoạn.
Vân Hạc thình linh trở vào vừa cười vừa hói: -Giò lan bạch ngọc mới nở Ơû đâu? l~ọa rụng anh quét đổ vào chỗ nào? Sao tôi không thấy? Khắc Mẫn ngơ ngác: . - Mùa này làm gì có lan, lây đâu ra hoa mà rụng hề thì sao trong thư, anh lại dám nói ỉa "thấy lan nở" và "quét hoa rụng"? - Thì cũng nói thé cho đẹp câu văn, cần gì phải có hoa, có lan mới được? Tôi thấy cổ nhân thường thường viết như vậy cả.
Vân Hạc khôi hài; .
Nhưng tôi không thích .kiểu đó. Nếu anh còn chơi với tôi, thì phải chừa lôi văn sáo bã ấy đi.
Hai người cùng phá lên cười. .
Buổi học đến đây là hết. Các cậu học trò tật) nập khách của thầy bằng như g ái ạv không ngoảnh Oå phản của thầy đồ, rồi nó lé phép đi ra. .
ông chủ với bộ khăn áo chỉnh tề và một .nai rượu cầm tay, lật đật từ trên nhà khách đi xuống.
Sẽ sàng (1ế nai rượu vào chỗ cạnh mâm, ông ấy gãi tai n(')i lan lỉ(ìc: Kht'ng má~ khi ông sang chơi đáy với thầy đồ tui tai rát làm làm hán hạnh. Gọi là có' chén rượu anh,li l~ltll òng x!li t(!in.
\ :ilì ll'ị( c'tm !III và mời.ông ta cùng ngồi đòng rư(ju ~t'll mình. Nhưng ông ấy nhất định từ chối, ~ì d;t .ul ('~m từ lúc thợ cày đánh trâu ra đông.
l~úl óng (ì~ cáo biệt lên nhà trên. Để mặc thầy dù tiélJ (Jng khách.
ljư(jng rư(ru Khắc Mẫn tuy không. theo kịp \Tân 1 lạ(., song ~ì (ỉ vào ngôi chủ, lê phép trắt thầy cứ phải nhấc ch~in lèn lại đặt chén xuống, thỉnh thoáng nhấp cho ư~t mt)i. ~u~ trài lân chén .t(!c, chén thù,.những chu~éll thi ct~ vàn thương đã thấy càn cạn. Khắc Mẫn bỗng l(ìm r~ bộ nghiêm nghị và hỏi: Nàng nay anh 'bao nhiêu tuổi'? \Tán I Iạc triết thầy bắt đầu vào đề, nhưng chàng \rẫn tra lại một cách thán nhiên: Il'ìm hai' tuổi rồi, anh ạ! Khác '\lăn tiếp) theo một câu văn hoa: Cáu th!l lá thàm đã định thá vào ngòi nào hay chưa'? l~l ( hứa dám nghĩ gì đến chuyện đó.
l~h~c Màn róc (.ho Vân lạc một chén rượu đầ.y, rôl tháp ~ừ~ ~ườl ~rừa nói: - \TẠ~ thì tôi kính mừng anh.
tan 1 lạc ngư ngác: lừng ~t~ eái ~rì? Anh hãy nói cho tói biết.
l~ha~ .\l.trì cưtli ~ tiệp: Anh biết cô Ngọc đấy chứ! - CÓ phải cái cô vẫn bán giấy bút Ơû chợ Kim Bảng đó không? - Phải đó. .
Tôi biết lắm, cô ấy năm nay độ mười tám tuổi, con ông đồ Vân Trình chứ gì? - Phải rồi! Nhưng anh có chịu cô ấy là bậc tuyệt sắc hay không/ - Vùng khác không biết thế 'nào. Nội trong vùng này, có lẽ tôi chưa thấy ai đẹp hơn người ấy.
Nhưng anh hỏi tôi như vậy để làm gì? - Là vì cô ấy sắp sửa làm người gánh gạo cho anh đi học. Tôi muôn biết trước ý anh đối với cô ta như thế nào? Vân Hạc vội vàng xua tay: Anh đứng nói vậy mang tiếng. Hình như trước kia cô ta đã nhận trầu cau của anh nghè Long đấy mà.
Khắc Mẫn róc thêm rượu vào chén Vân Hạc rồi nói: - Phải. Có! Năm xưa cụ đồ Văn Khoa đã có cậy mối đến hỏi cô ấy cho ông nghè Long. ĐÓ là glrợng theo ý muốn của ông ta. Thực ra cụ ông, cụ bà đều không thuận cả. Các cụ cho rằng hồng nhan phần nhiều bạc 'mệnh, nếu lấy cô ấy về làm nàng dâu, tất nhiên sau này sẽ không hay cho con trai mình.
Vì vậy, các cụ cứ dùng dằng mãi không cưới. Nhân được một nglrởi thày số đoán rằng cô ấy với ông nghè Long khắc tuổi, không lấy được nhau, các cụ mới cả quyết thôi không đi sêu cô này, rồi mượn người sang hỏi cô Thúy. Vậy thì bây giờ cô ấy với ông nghè Long eo dính dáng gì nữa đâu mà anh phải kiềng? vân Hạc nói giọng nghiêm trang: - Đành rằng thế. Nhưng chúng mình với anh nghè Long là chỗ đồng song, thì dẫu cho cô ta không lấy anh ta đi nữa, chúng ta cũng vẫn phải coi như vợ người bạn, không nên \nói chuyện bông đùa mà đem cô ấy ra làm đầu đề, thì trông thấy nghè Long, mặt mũi sẽ ra thế nào? Khác Mẫn cũng đổi ra vẻ đứng đắn: - Tôi nói thật đấy. Không phải nói đùa. Anh đứng tướng rằng nếu anh lây cô Ngọc sẽ là bất nghĩa với ông nghè Long. Câu chuyện không như thế đâu. Giả sử anh chịu kết duyên với cô ấy, thì ông nghè Long cảm ơn anh lắm.
Vân Hạc chưa kịp nói sao, Khắc Mẫn lại tiếp: - Anh có nghe chuyện cô Ngọc phải gió trong khi gặp ông nghè Long vinh quy hay không? Vân hạc lắc đầu: - Tôi không nghe biết gì cả. .
Khắc Mân gật đầu: .- Ưø tôi cũng đoán rằng anh chưa biết. Nếu anh có biết chuyện đó, chắc anh sẽ thương cô ấy vô cùng.
Vân Hạc điểm một nụ cười: - Anh định múa cái mép ông mối để kiếm chè của tôi chăng? Khó lắm. Cái giọng mối lái, tôi chán lắm rồi. Chúng ta hãy nói chuyện khác.
Khắc Mẫn nói giọng nghiêm nghị: - Tôi không thèm chè của anh. Và cũng không phải là kẻ môi lái. Nhưng tôi nói để anh biết rằng: cái mối nhân duyên giữa anh với cô Ngọc đã có một ông tơ hồng sẽ xe cho anh. Dù anh muốn chối 45 cũng không thể được. ' Vân Hạc có ý nửa ngờ nứa tin: - ông tơ hồng ấy là ông nào thế? Anh thử nói cho tôi nghe.
Khắc Mẫn mỉm cười: - Anh đã muốn nghe rồi ư? Tôi không nói vội.
Nếu anh muốn nghe, đêm nay phải ngủ lại đây với tôi Bây giờ chúng ta cứ việc đánh chén đi đã. Bữa rượu hôm nay chính là cái tiệc đầu tiên của tôi mtìng anh.
Vân Hạc cố gặng lần nữa, Khắc Mẫn chỉ đáp một câu rất vắn: Thầy? Thầy chứ còn ai!

chương 4

Đến nay vợ chồng ông đồ Vân Trình mới thật khói lo. ' Tháng trước, khi được tin cô Ngọc đi chợ về đến giữa đường bị cảm, cả hai ông bà đều hết hồn. vía.
không kịp khóa tráp, khóa tủ, ông đồ vơ vội lấy lọ thuốc gió giắt vào trong ai nh, bà đồ thì dặn láng giêng hã~v coi nhà giùm, rồi cùng hỏa tốc đến cái ngã tư gân chợ Kim Bảng.
Bấy giờ cô Ngọc đã được đem lại bãi cỏ dưới bóng rợp của một cây đa. Sắc. mặt vẫn xám mét.
Chân tay không động đậy. Nếu trên ngực không còn thoi thóp thở, thì chẳng khác người chết rồi.
Bà đồ mếu máo kêu khóc, hú hồn vía vang một khu đồng. ông đồ rẽ ràng trao lọ thuốc gió cho cô Bích, con gái thứ hai của ông, và bảo cô này mở gánh hàng lây đĩa đựng trầu, xin ít nước tiểu mài với những viên thuốc ấy. Rồi hai ông bà dùng lược ghè miệng cd Ngọc đổ vào và xoa khắp cả mình mẩy cô âv.
Mặt trời tà tà, có Ngọc tỉnh dần, nhưng vẫn loáng choạn~ơ không đứng dậy được. Chở khi hết nắng, ông đô mới thuê hai người gánh hai gánh hàng để bà đồ và cô Bích cùng dìu cô Ngọc về nhà. .
Đêm ấ~7 và ngày hôm sau, CÔ Ngọc mây lân ngất đi, gọi mãi mới tỉnh. Và lúc tính dậy, thỉnh thoảng lại cứ nói mê nói sảng, khi thì xưng là cô thám, khi thì xưng là cộ bảng, y như một người ma. làm Thầy t~luốc đổi bốn năm ông, b~ toán cúng cấp, lễ bái chẳng thiếu đâu, bệnh trạng vẫn đâu đóng đấy.
Kết cục, ông đồ phải mời cụ bảng Tiên Kiều thăm


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>seahawk1</b> -- <b>7.7.2004 0:16:20 </b> &gt;>
MS thân,

SH1 nhận sửa lều chõng. Để tiện MS scan đến đâu nếu được mail bản text thô đến cho SH để SH down xuống chỉnh dần. Dạo này cũng không bận lắm nên cũng đã cố xong được bộ "Nỗi buồn chiến tranh." Nếu có thời gian nên kêu gọi lần nữa mọi người tham gia sửa trong một topic riêng như SH đã định làm một lần (thật tiếc chỉ trông đợi vào nhiệt tình thôi, giá có nhiều người bớt chút thời gian chat để tham gia thì hay quá). Việc đưa cả lều chõng và PTKKGL lên thư quán làm SH rất phấn chấn, coi như chúng ta đã bắt đầu khởi động được một chút đề nghị trước đây SH có nêu ra một lần. Mong MS tiếp tục. Trong giới hạn có thể, Sh sẵn sàng tham gia tối đa.

Bản lều chõng có khá nhiều lỗi không luận ra được từ, SH trong khi sử cứ tạm theo bối cảnh sửa sao cho đọc lên hợp lý. Trước khi đưa vào TQ MS có thể xem qua một lần đối chiếu với nguyên bản để sửa lại những chỗ "phóng tác" của SH thì SH xin cảm ơn
[:D]

seahawk1
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
Đăng nhập để trả lời
0
MS vừa tìm ra một phương pháp chỉnh dòng rất nhanh rồi ! SH1 không cần phải chỉnh dòng nữa ! đề ms làm cho, bạn chỉ sửa chính tả dùm mình là được rồi ! [:D]

từ lần sau mình sẽ đưa bản đã chỉnh dòng lên, bạn chỉ cần sủaw chính tả dùm là được


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Mọt Sách

MS vừa tìm ra một phương pháp chỉnh dòng rất nhanh rồi ! SH1 không cần phải chỉnh dòng nữa ! đề ms làm cho, bạn chỉ sửa chính tả dùm mình là được rồi ! [:D]

từ lần sau mình sẽ đưa bản đã chỉnh dòng lên, bạn chỉ cần sủaw chính tả dùm là được

Có độc chiêu mới MS post lên cho anh em học hỏi cái coi!

Cu?c thi thi?t k? m?u l?ch nam 2005 t? ngày 13/06/2004 - 13/11/2004
Đăng nhập để trả lời
0
Thực ra thì cũng chẳng có gì ghê gớm ! [;)]

chỉ có điều khi scan và nhận dạng xong bản text bao giờ cũng xuống hàng y như trong sách, (cái VNDOCR demo này dở hơn cái OminipagePro ở chỗ đó) làm cho người hiệu đính rất mệt, ngoài sửa chính tả ra còn phải chỉnh dòng nữa, mà hầu hết là vẫn bị sót nhiều, mỗi lần đưa lên ms tui đều phát hiện ra vô số chỗ, Bực mình lắm, nên cố tìm tòi coi có cách gì làm nhanh hơn không? đỡ mệt cho người hiệu đính thì họ mới có hứng thú tham gia !

Mấy hôm nay hết tiền mua bia, ! [:(] không có uống nên đầu óc nó cũng có tỉnh táo ra đôi chút, nên tôi nhận thấy rằng khi save dưới dạng html thì các hàng được xuống dòng bằng tag &lt;br&gt; hoặc&lt;p&gt;&lt;/p&gt; những chỗ nào thực sự xuống hàng bao giờ cũng có một trong những dấu sau nằm sau cùng :

dấu "chấm". dấu Than ! dấu hỏi? dấu : hoặc dấu " còn những chỗ xuống hàng không đúng thì không có những dấu này

xem dưới dạng View Source thì bạn sẽ thấy như sau:

. &lt;br&gt; , : &lt;br&gt; , ! &lt;br&gt; , ? &lt;br&gt; , " &lt;br&gt;

dậy thì đơn giản rồi, nếu trên máy bạn có cài một chương trình text nào đó ( trên máy tôi cài Untra Edit version 10 )

tôi chỉ việc bấm maus phải vô trang web có chứa nội dung text cần chỉnh dòng, chọn View Source, trên máy tôi nó sẽ gọi thằng untra edit ra và chứa Source của trang đó, tôi vào marco tạo cho nó một marco mới mang tên "chinhdong" chẳng hạn sau đó vô seach thay tất cả
. &lt;br&gt; = . &lt;z&gt; ,
: &lt;br&gt; = : &lt;z&gt; ,
! &lt;br&gt; = ! &lt;z&gt; ,
? &lt;br&gt; = ? &lt;z&gt; ,
" &lt;br&gt; = " &lt;z&gt; ,

thay &lt;br&gt; = trống trơn

thay &lt;z&gt; = &lt;br&gt;

nhớ lại cái marco đó, lần sau chỉ việc gọi cái marco đó ra là xong

rồi bây giờ save nó xuống thành một file *.html

gọi cái file đó ra bằng internet Explorer.

Thực ra thì cũng chẳng có gì là hay , nhưng cái khó ló cái khôn, vẫn còn nhanh hơn gấp vạn lần chỉnh bằng tay.
Nếu bạn nào có phương pháp hay hơn xin chỉ giáo cho mọi người học tập.

cám ơn ! [:D]


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>seahawk1</b> -- <b>8.7.2004 15:13:31 </b> &gt;>
MS thân,

SH đã cố hết sức sửa chính tả phần đầu của "Lều chõng", nhưng vẫn còn 5 chỗ chịu không đủ "công lực" để "hoá giải", những chỗ này SH đã đánh dấu chữ đậm. Nếu có điều kiện trước khi post lên TQ MS chịu khó đối chiếu với nguyên bản để sửa lại, thà chậm mà đúng với nguyên tác còn hơn sau này nhỡ có ai đọc người ta bảo mình "xiên toạc" thì mất uy tín TQ. Rất tiếc ko thể làm tốt hơn.[8D]

seahawk1









Ngày nay nghe đến hai từng "Lều Chõng", có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những từ ấy từ biệt chúng ta mà đi tới chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, "Lều" "Chõng" đã làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta tán khoe là "bốn nghìn năm văn hiến". Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nhà nước, những ông ở nơi tuyến thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám "lều chõng" mà ra.
Lều chõng với nước Việt Nam chẳng khác một đôi tạo vật đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hay vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa. Rồi lại chúng nó đã đưa nước Việt Nam đến chỗ diệt vong. Với chúng, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài kinh qua nhiều cảnh tượng kỳ quái, khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rụng rời hồn vía.

NGÔ TẤT Tố.

Thời vụ số 109 ra ngày 10-3-1939.

I

Gần nửa tháng rồi, trong làng Văn khoa, lúc nào cũng náo nức, rộn rịp như sắp kéo hội. Đình trung điếm sở cũng như quán nước hàng quà chỉ làm chỗ hội họp của các ông già, bà già và những cây gậy trúc mũi sắt, những gói trầu cau lớn bằng cái đấu. Chuyện mới, chuyện cũ luôn luôn theo những bãi cốt trầu, những làn khói thuốc đồng thời tuôn ra và nổ như bỏng rang. Ông này nhắc làng mình thật được hướng đình. Ông kia đoán họ Trần kết ngôi mộ tổ. Bà này bảo cụ đồ phúc đức hiền hậu,chịu khó lễ các đền chùa. Bà kia khen cô nghè tốt nết đủ điều, biết phân biệt kẻ trên người dưới.
Cái hoa gạo nở đầu tháng giêng đã được tán là điềm tốt. Con khanh khách kêu trên các đình giữa ngày khai hạ, cũng được tôn là tin mừng. Câu chuyện tuy duy nhất chỉ quanh quẩn có thế, nhưng sự nô nức đã bắt người ta cứ phải chiếu đi chiếu lại bàn tán hết ngày ấy sang ngày khác, đầu làng cuối làng, thường có những tiếng cười nói rầm rầm. Hôm nay lại càng tấp nập hơn nữa. . . .
Tử lúc trời mới sáng rõ, một hồi mõ đã tiệp tiếng vang của ba hồi trống cái khua động góc trời trên đình. Với chiếc dải lưng lụa đỏ bỏ múi sang cạnh sườn, lý trưởng không khác phó lý, trương tuần, tung tăng vác tay thước chạy nhào từ đình đến điếm. Giữa một hồi tí u của những tiếng hiệu ốc đi đôi với dịp hiệu sừng, người ở các xóm kéo ra tíu tít. Chỗ này vài chục đàn ông đi với mai, thuổng, xẻng, cuốc gậy nạng và câu liêm; chỗ kia mươi người đàn bà và những quang, thúng, sảo, sọt lủng lẳng dưới đầu đòn gánh. Một toán lại một toán. Một lũ lại một lũ. Ống quần xắn trên đầu gối, gấu váy kéo lên đến nửa bụng chân, các toán, các lũ lần lượt tiến vào sân đình.
Một bầu ồn ào chiếm cả khu đinh và điếm. Mặt trời từ trên ngọn tre xuyên sang mái đình tưng bừng đón tiếng chào của đàn chim sẻ. Ánh sáng lóng lánh chiếu trên núm quả dành của đôi đồng trụ cửa đình.
Cái ồn ào mỗi lúc một lớn. Chĩnh nước chè khô đã bị mấy chục bát đàn vục cạn. Hai thùng cau khô để đó dần dần biến thành đống bã trầu tàn. Hết thảy các toán, các lũ nhất tề đứng dậy. Như một đạo quân ra trận, mấy trăm con người rầm rập kéo ra đầu làng và vui vẻ tiến thẳng đến đoạn đường cùng tận địa giới.
Theo mệnh lệnh của ông lý, ông phó, ông trương, dân phu bát đầu sang sửa từ đầu địa phận trở về. Các bầu tát nước đều được bồi đắp phẳng phiu. Những đám cỏ gấu ven đường đều bị giẫy sạch và hắt xuống ruộng. Người tá cắt hết những cây vẩy ốc bám vào ven thành. Người ta giật hết những cái ánh tre khum khum rủ trên đường cái. Người ta quét hết những đông cặn rác kinh niên bừa bãi khắp các đầu ngõ ven đường. Hương lý vẫn thúc giục vội vã. Tù và vẫn rúc từng hồi dài từ xóm này đến xóm kia. Trời dần dần nóng thêm. Mấy trăm bộ mặt đỏ như đồng tụ mồ hôi đổ ra bóng nhoáng. Nhưng cái oi bức của tiết đầu hạ vẫn không ngăn nổi sự nô nức của đám người làm việc hết lòng.
Gần đến nửa buổi, bao nhiêu khúc đường khấp khểnh, gồ ghề đều trở nên những dải đất óng mượt như tấm lụa mới. Những tiếng cười nói vui như ngày tết, lại đưa các toán, các lũ dân phu lần lượt trở về sân đình.
Một tuần trầu nước vừa tàn, lý trưởng đứng trên thềm đình dõng dạc nói xuống:
- Trưa lắm rồi! Xin « chạ" đi rửa chân tay và cất đồ đạc. Rồi "chạ" đến luôn nhà quan tân khoa để còn làm rạp, kê phản, sắp sửa đũa bát mâm nồi, kẻo nữa không kịp?
Một buổi ồn ào dồn dập trong đám đông, đàn ông, đàn bà, lẻ tẻ ai về nhà nấy. Trương tuần cắt lũ tuần phu canh cổng làng. Lý trưởng, phó lý và tất cả những hạng đàn anh lật đật kéo vào nhà ông nghè mới. Ở đây, từ đầu cổng cho đến xó bếp toàn lả những vẻ vui mừng. Các ông, bà, cô, cậu trong quan họ đầ họp tấp nập. Trên chiếc ghế ngựa quang dầu kê ở gian giữa, cố ông bắt chân chữ "ngũ", ngồi bằng điệu bộ rất đắc ý. Phía dãy phản ở gian bên cạnh, ông trưởng họ Trần thong thả đưa chiếc quạt thước phẩy mấy chòm râu trắng xóa, bàn định các việc sẽ đến trong ngày mai.
Ngoài sân, cố bà cũng như cô nghè, tất tả chạy ngược chạy xuôi, vừa sắp sửa các thứ đồ dùng, vừa cắt đặt việc này việc khác. Sau mấy cái vái cung kính dâng khắp các cố ông, cố bà và các vị già lão, lý trưởng, phó lý và bọn trùm trưởng ghé ngồi vào hàng ghế cuối cùng. Dân làng kéo đến môi lúc mỗi đông. Từ nhà dưới đến nhà trên, kẻ đứng, người ngồi, lố nhố như một khu chợ. Theo lởi cắt cử của các vị tôn trưởng, những người "làm giúp" tới tấp đi tìm công việc. Mượn mâm, mượn nồi, mượn bát đĩa và gánh nước đô đầy các chum, các vại, đó là phận sự của đàn bà. Còn phe đàn ông thì chia ra thành hai ban: một ban chôn tre, dựng rạp, kê phản, kê ghế, sắp đặt các đồ bài trí, một ban nữa vào chuồng bắt lợn, làm gấp mấy chục mâm dấm ghém để kịp làng xóm họ mạc ăn tạm bữa trưa.
Công việc bắt đầu túi bụi. Tiếng người hò thét, tiếng mâm bát đụng nhau, hòa với tiếng lợn kêu ì éc ngoài vườn làm thành cái vọng ầm ầm của một đình đám to lớn. Hơi lửa trong bếp hợp với hơi người các nơi càng tăng thêm sức nóng của trời hè. Đúng trưa, cỗ bàn làm xong, hai tòa rạp lớn cũng vừa lợp kín. Những chiếc chiếu hoa dài thườn thượt như lá cót đại lần lượt phủ kín các dãy giường phản từ trong nhà ra ngoài sân. Hàng mấy chục mâm rau nộm thịt mỡ chất đầy trong những bát đàn, đĩa đàn, la liệt đặt khắp các nhà các rạp.
- Xin mời bà con hãy đi xơi cơm kẻo đói. Các việc để đó ăn xong rồi ta hay làm.
Lời nói chia ông trưởng họ Trần không kém tiếng hò của ông đại tướng đứng đầu ba quân, nó có sức mạnh khiên cho mọi người răm rắp đứng dậy. Đàn ông với đàn ông, đàn bà với đàn bà, bốn một, tám hai làng xóm, họ mạc tự ý rủ nhau, tiện chiếu nào ngồi vào chiếu ấy. Mâm này gọi rượu, mâm kia gọi cơm, rồi mấy mâm khác vâm véo giục lấy nước canh nước mắm. Lối đi chật hẹp trong mấy gian rạp thành chỗ chen nhau của người ra vào.
Giống như lớp tằm ăn rỗi, một loạt năm sáu chục mâm nhất tề nhấc chén cất đũa. Mặt trời chênh chếch chiếu vào đầu rạp, các mâm chỉ còn bát không, đĩa không. Bằng một giọng nói chững chạc, ông trường họ Trần tỏ ra người rất thạo việc:
- Xin mời bà con ăn trầu, uống nước, rồi thì ai vào việc ấy đi cho. Xem chừng công việc hãy còn nhiều lắm. Ta phải làm gấp mới được!
Bao nhiêu mâm cỗ ăn tàn lần lượt bị đưa xuống khu sân bếp, để nhường các chiếu trong rạp cho những đìa trầu cau khô và những đoàn ấm tay đựng nước chè xanh. Tiệc trầu nước không đầy một khắc. Mọi người ồ ạt đứng lên.
Lúc này công việc càng rộn rịp. Ở đằng sau nhà những người vật trâu bò reo ầm ĩ. Ở trong rạp, có một đoàn dao thớt ký cốc băm thịt, băm xương. Và ở trước sân, mấy chục chiếc chày huỳnh huỵch nện xuống đáy cối đá đại. Một đám vàng vàng đỏ đỏ nghễu nghện tử nhà dưới bếp lên nhà trên. ĐÓ là các thứ xôi gấc, xôi dành và xôi lá diễn đóng trong những chiếc "mâm dàng" sơn son.
Góp vào đó, mỗi mâm thêm một cái sỏ lợn, hoặc cái "lăm" lợn, một nậm rượu và một đĩa trầu. Ông trướng họ Trần xúng xính trong chiếc áo tế màu lam cụng kính đi theo mấy mâm xôi thịt để thay mặt cố ông lễ yết các nơi đinh, chùa, văn chỉ, và các nhà thờ đại tôn, tiểu tôn. Vọng canh đầu cổng 'tùng tùng' mấy tiếng trống báo. Tiếp đến một tràng pháo nổ liên thanh. Hai mâm cau tươi đưa hai ông bạn thân của cố ông đến mừng quan nghè. Bằng một dáng bộ ung dung, cố ông từ trên ghế ngựa quang dầu khoan thai thò chân xuống đất. Ngài sẽ sàng xỏ chân vào giày và trịnh trọng bước ra đầu thềm. Rồi vái một vái gần sát mặt đất, cố ông cung kính mời quí khách lên thẳng nhà trên.
Trống cái ngoài cổng lại điểm mấy tiếng giật giọng. Một lũ cai tổng, phó tổng, lý dịch các xã trong tổng, lố nhố theo mấy bao chè sinh hậu và một hòm pháo bàn đào khúm núm tiến vào trong rạp. Mấy ông quan họ còn đương vồn vã mời khách vào ghế, và mấy ông khách hàng tổng còn đang đưa đẩy nhường nhau ngồi trên, thì ở ngoài cổng lại có mấy tiếng trống cái báo hiệu.
Theo hình thế của đám rồng rắn, một bọn chừng bốn mươi người kéo dài từ cổng vào sân với chiếc khay vuông có để vài bức câu đối nhiễu đỏ. Giờ này mà đi, trống báo luôn luôn không dứt, khách đến mỗi lúc mỗi nhiều. Bọn này ngồi chưa yên ghế, bọn khác đã rầm rập kéo vào. Mấy ông quan họ chuyên việc tiếp khách, ai nấy nhễ nhại mồ hôi. những cậu học trò bé con cuống cẳng chạy không kịp nước để khách dấp giọng.
Trên chiếc án trước thềm, chè, pháo, cau tươi chất đầy như quả non bộ. Liễn con công, câu đối vóc nhiễu, treo khắp vách, khắp tường. Những cỗ giò, nem, ninh, mọc kế tiếp nhau từ phía cỗ đệ lên. Khách khứa lục đục vào tiệc. Bọn nào đến trước ăn trước, bọn nào đến sau ăn sau. Mâm này bưng ra, mâm kia bưng vào. Trong rạp cũng như trong nhà, không lúc nào không có vài mâm ăn uống.
Trời gần tối, khách đã hơi vãn. Hồi trống thu không của điếm canh vừa tan, những cây bạch lạp, những quả đèn lồng, những đĩa dầu trong các quang tre lần lượt theo nhau bắt lửa. Ngoài sân, trong rạp ánh sáng rực rỡ như ban ngày. Ông trướng họ Trần cởi tấm áo lam trao cho người nhà cất đi rồi gọi lý trưởng, phó lý đến hỏi:
- Thế nào, những đồ hành ngơi ngày mai, các thầy sắp sửa đủ chưa?
Lý trưởng nhanh nhầu:
- Trình cụ, chúng con sắm sửa đâu đấy cả rồi.
Phó lý lễ phép nói thêm:
- Trình cụ, còn thiếu hai cái cán cờ tứ linh, vì bị mọt gấy, chúng con đã tìm đôi sào phơi dùng tạm.
- Những ai đi rước? Cắt cử xong chưa?
- Bẩm đã! Tất cả hơn một trăm suất, toàn là người làng, chúng con không dám cắt đến ông nào trong quan họ.
Ông trưởng họ Trần hơi cau lông mày:
- Cái đó là lẽ tất nhiên. Việc khác, dân làng cũng không được phép cắt người quan họ đi rước, huống chi việc này... Thế các thầy có dặn những người vào việc phải ăn mặc cho tử tế không?
- Bẩm có. Chúng con đã bắt dân làng đều mặc áo đỏ và thắt dải lưng màu xanh. Ai không có sẵn thì phải đi mượn.
Ông trưởng họ Trần ra bộ vừa ý:
- Phải cho trang trọng một chút mới được... Còn có hàng tổng, hàng huyện trông vào. Không nên cẩu thả để cho người ta chê cười làng mình.
Một người tuần phu ở cổng đi vào, chắp tay đến đứng dưới thềm:
- Trình cụ, phường chèo đã đến.
Ông trưởng họ Trần ngẫm nghĩ giây lát:
- Ra bảo chúng nó cứ ngồi ngoài ấy. Lúc nào có người ra gọi sẽ vào.
Rồi, chỉ tay ra thẳng gian rạp chính giữa, ông ấy nhìn mặt lý trưởng, phó lý:
- Bây giờ, công việc đã thư, các thày hãy sai đứa nào thu xếp chỗ này, để cho phường chèo vào hát một lúc.
Lý trưởng, phó lý sung sướng như lính lệ được chuyến sai, họ dạ một tiếng rất gọn và cùng đem theo lệnh của ông trưởng quan họ xuống nẻo nhà dưới loan báo cho bọn trai làng.
Qua một hồi dọn dẹp, kê cúng, gian rạp chính giữa nghiễm nhiên thành một sân khấu lâm thời. Trống chầu trên thềm thủng thẳng điểm bốn, năm tiếng. Chừng hơn mười người phường chèo theo đôi hòm vuông lố nhố tiến vào. Trẻ con đua nhau hò reo. Trong rạp ồn ào như đám vỡ chợ. Sau khi mấy bộ quần áo đã vắt lên sợi dây thừng chăng suốt hai chiếc cột rạp, để ngăn cho nửa gian rạp thành một căn buồng, hộp 'phấn, hộp son và những mũ bạc, mũ vàng, mũ lông công, mũ cánh chuồn, la liệt bày ra nắp hòm mặt án.
Trống rung. Mõ điểm nhát gừng. Phèng phèng, chũm chọe đồng thời nổi lên. Trò bắt đầu diễn. Trước rạp, sau rạp và hai bên rạp, người đứng chật như nêm cối. Hết một hồi trống dạo trò, cả đám đều im phăng phắc để nhìn bộ miệng người kép giáo đầu đương mấp máy môi sau một chiếc quạt giấy. Đánh sạt một cái, cái quạt bị cụp hẳn lại, người kép lấy hết gân mặt gân cổ, gân môi để ngân cho giọng thật dài:
- Nhớ thuở xưa tích cũ, có một chàng trai tên gọi Lưu Bình...
Mọi người xôn xao bảo nhau:
- À họ làm trò "Tây Dương nghĩa phụ".
Đêm càng khuya, trò càng xô xát, khán giả càng nô nức. Người ta vỗ tay cười reo khi nghe anh hề cắt nghĩa "đại phong" là lọ tương. Và người ta tỏ vẻ ái ngại thương xót, khi thấy Lưu Bình lắc đầu nhăn mặt trước bát cơm thiu và quả cà mốc của nhà Dương Lễ.
Nửa đêm, trò vừa hết vở. Khán giả ồn ào giải tán sau một hồi trống tan trò. Ông trưởng họ Trần oai vệ ra lệnh cho bọn lý trưởng, phó lý:
- Bây giờ nửa giờ tý rồi, sang giờ sửu thì phải khởi hành.. Các thầy giục họ bưng mâm để chạ xơi rượu, không thì trễ quá.


II

Lại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi hộp. Và cái hồi hộp lần này có lẽ còn mạnh hơn mấy lần trước nhiều lắm. Trí nhớ của cô còn in rành rành. Cách đây vừa đúng một năm, bấy giờ cô mới có mười chín tuổi. Cái đêm sắp sửa thắng quần thắng áo để đi làm người nội trợ cho cậu khóa Trần Đằng Long, tim cô đã bị một phen rung động. Song lúc ấy cô chỉ tự thấy bẽn lẽn và cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn những cảnh tượng đầu tiên và những câu nói thứ nhất của mình trong khi bắt đầu giáp mặt người bạn trăm năm. Thế mà thôi. Rồi đến hồi cuối tháng một năm ngoái, khi được tin chồng cô đỗ cử nhân, bụng cô lại nôn nao lần nữa. Nhưng cái địa vị của một cô cử vẫn không thay đổi hoàn cảnh của một cô khóa, cho nên lúc này ở trong lòng cô chỉ có một sự sung sướng êm đềm, nó không bắt cô kích thích nhiều quá. Lần này khác hẳn. Tuy quãng đường từ cô cử lên đến cô nghè,cũng không lạ hơn quãng đường từ cô khóa lên đến cô cử, nhưng cái khó nghĩ cho cô là cuộc vinh qui ngày mai.
Bởi vì từ thuở tấm bé đến giở, chưa từng thấy người con gái nào được cái vinh hạnh như mình, và chưa được rõ cái quang cảnh ấy ra sao, cho nên óc cô cứ phải loanh quanh suy tính: " Không biết chốc nữa mình sẽ phải ngồi thế nào, phải đứng thế nào, và phải ăn nói thế nào cho đúng điệu bộ một bà tiến sĩ?" Hỏi mãi, cô vẫn không tìm thấy câu trả lời. Trống canh ngoài điếm chợt điểm ba tiếng muốn báo để cô biết cái giờ lên đường sắp đến nơi rồi. Khêu rõ ngọn đèn trên quang, cô vội xổ đầu ra chải. Mái tóc mấy lần rẽ đi rẽ lại, mà khi ngó vào trong gương, đường ngôi trên trán vẫn chưa được ngay. Cô đương băn khoăn, muốn sửa thêm cho nó thật chỉnh, ngoài rạp vừa nổi hồi trống tan trò. Cố bà ở ngoài bước vào, giục cô sang phòng bên kia cùng ăn cơm tạm.
Theo lời mẹ chồng, cô vội bỏ gương, bỏ lược đi ra. Sau khi điểm tâm bằng một đĩa xôi và hai bát chè, cô lại sang phòng bên này. Bổ cau, têm trầu, giở gói thuốc lá quấn vài chục điếu, rồi cô xếp cả vào cái tráp tròn sơn son, và thêm vào đó ít cánh hoa hồng, hoa huệ.
Nhà dưới, làng xóm ăn uống đã xong. Ai nấy tấp nập đi lấy cán cờ, cán quạt và tìm đòn võng. Trông ngực khi ấy lại càng đập mạnh, cô vội mở rương lấy hết mấy bộ quần áo mới ra thay. Quần cũng như áo, các cái đều vừa như in, chỉ tiếc đôi giầy vân hài khí chật, làm cho hai bàn chân cô đều thừa một ngón chân út.
Ngoài rạp, chiêng, trống xen nhau thôi thúc hết một hồi thứ nhất, cố ông, cố bà đã cho gọi cô ra đứng chờ sẵn trên thềm. Bốn chiếc võng đào, đòn cong, mui luyện cũng đã chực ở dưới sân. Đợi cho dứt hồi chiêng trống thứ hai, thì ba chiếc võng cũng hạ thấp xuống, cô và cố ông, cố bà mỗi người bước lên một võng. Chiêng trống điểm thêm một hồi và ba tiếng nữa, tức thì bốn đôi đèn lồng dẫn đường cho bốn chiếc võng tử tử tiến ra ngoài cổng.
Cái võng bỏ không ra trước rồi đến võng cố ông, rồi đến dõng cố bà, rồi đến võng của cô nghè. Cuối cùng thì bọn trai làng khiêng vác cờ quạt tàn lọng.
Ra khỏi cổng nhà, chiêng.trống lại im, lọng vẫn cụp cờ vẫn cuốn, cả đám lần lần tiến trong bóng cây âm thầm. Nếu không có tiếng nói chuyện rầm rầm và mấy ngọn đèn le lói, có khi nhiều người sẽ ngờ là toán kỳ binh kéo đi đánh úp chỗ nào. Tới đầu địa phận, xa trông trước mặt, thấy có bóng người lố nhố trong đám ánh lửa vàng vàng. Ai nấy đều biết ngay rằng: đó là những người hàng tổng cũng đi dự vào cuộc rước ấy.
Mấy người đàn anh trong bọn dân phu hàng tổng cung kính vái chào hai cố và bà nghè. Hai toán người này liền nhập vào làm một, rồi cùng thẳng đường trẩy đi. Lần này là lần đầu tiên trai làng Văn khoa được làm những kẻ đồng hương với quan nghè, cho nên mỗi người đêu nhận thấy mình vinh dự hơn hết những người các làng khác trong tổng. Họ tự coi họ là chủ, còn những người kia là những kẻ phục dịch. Trời gần sáng. Trên đường đi đã rõ bóng người. Trong bọn dân làng Văn Khoa, một ông vác cờ ngoảnh lại nhìn lũ hàng tổng, rồi mỉm cười và nói với người bên cạnh:
- Thảo nào người ta vẫn bảo: "Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng". Coi vậy!..., đỗ đến ông nghè cũng có sướng thật. Cả tổng đều phải đi rước!
Đến ông vác lọng nối lời:
- Ấy là bây giờ đã giảm hơn xưa nhiều lắm... Hôm qua, tôi thấy các cụ nói rằng: ngày xưa, trong đời nhà Lê nhà liếc gì đó, mỗi khi có một ông nghè mới đỗ, hàng tổng, hàng huyện, đều phải đem cờ đem quạt đến tận kẻ chợ mà đón. Nhưng từ năm Gia Long nguyên niên mà đi, kẻ chợ dời vào Thuận Hóa, người Bắc tới đó xa quá, các quan sợ làm phiền dân, cho nên chỉ bắt rước từ tỉnh nhà trở về mà thôi.
Rồi ông vác tàn nói xen:
- Phải rồi. Tôi cũng nghe nói thuở xưa ông nghè oai lắm. Hễ mà đỗ lên một cái thì là nội những ruộng đất trong tổng muốn cắm chỗ nào cũng được. Chẳng những cắm đâu dân chịu đấy, mà lại còn được hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà cho nữa, thế mới sướng chứ!
Và ông cầm cờ vắt lại:
- Có thế thật đấy. Tháng trước , khi được tin mừng ở kinh đô báo về, cô nghè có cho gọi tôi vào dọn nhà cửa, sân vườn. Gần trưa, các cậu học trò về hết, cố ông bảo tôi lên thềm nhà học hầu nước. Lúc ấy, tôi thấy cố nói với cụ trưởng họ thế này: " Làng K.Q.Đ. ở cạnh đường xứ, chỗ gân sông đông, trước kia là đất làng Vân. Về sau có ông họ Đinh - cố có nói tên nhưng tôi quên mất - có ồn họ Đinh ở K.Q.Đ. thi đỗ tiến sĩ, mới cắm khu đất ấy làm dinh. Rồi thì những kẻ tôi tớ cũng theo đến mà ở. Dần dần thành ra một cái làng. Xem thế thì biết cái chuyện "hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà" mà trong phương ngôn đã nói là chuyện có thật . . .
Cả tụi chép miệng ra ý tiếc rẻ:
- Hoài của! Nếu như lệ ấy còn đến ngày nay, có lẽ chúng mình cũng được đi theo quan nghè để lập thêm làng Văn khoa nữa.
Câu chuyện đương còn tiếp tục bên đường chợt có dãy quán bán quà. Theo lời cố ông ở trên đưa xuống, hàng tổng đều được dừng lại tạm nghỉ. Bước chân ra đi từ đầu canh ba đến giờ, bọn phu hàng tổng chừng đã thấy đói. Họ kéo ồ vào khắp các quán, kẻ có tiền ăn quà ăn bánh, kẻ không tiền thì giở cơm nắm ra chấm với muối vừng.
Lúc ấy mặt trời đã lên độ hai con sào, trên đường, ngoài khách đi chợ, loáng thoáng có vài bọn đi xem. Bọn phu hàng tổng mỗi người vừa kịp uống một hớp nước, hút một điếu thuốc thì đã được lệnh cử bộ. Chuyến này là lượt trở đi, chưa cần phải giữ nghi vệ. Người đi vẫn quãng thưa quãng mau, cờ quạt tàn, lọng vẫn nghiêng ngả, ngả nghiêng, cái chổng đầu lên, cái chúc đầu xuống. Vào khoảng nửa buổi thì tới cửa tỉnh. Hàng phố lố nhố kéo nhau ra xem. Ngày trước những ông nghè mới, sau khi ở kinh, lĩnh cờ biền về thẳng tỉnh nhà để vào lễ quan tổng đốc đều phải ra luôn nhà trọ, rồi thì hàng tổng đến đó rước về.
Nhưng quan tổng đốc bây giờ là bậc hiếu học, thấy ông tân khoa Trần Đằng Long trẻ tuổi, linh lợi, ngài càng yêu mến, nên mới phá cách mà lưu ông ấy ở lại trong dinh và đã phi trát về huyện, sức các dân xã phải vào trong dinh đốc bộ mà đón.
Theo lệnh ấy, võng, lọng, cờ quạt, ' cứ việc nghênh ngang tiến vào cửa thành. Đến cổng dinh quan tổng đốc, cố ông, cố bà và cô nghè xuống võng đi bộ. Giữa mấy tiếng trống báo rất hùng dũng của bọn lính canh trên chòi, một người đội tuần lật đật ở trong chạy ra. Cố ông, cổ bà và cô nghè sửa lại khăn áo cho thật tề chỉnh để theo hắn đi vào trong dinh.
Làng tổng xúm lại từng tốp ngồi lê ngồi la ở các bãi cỏ ngoài dinh, kẻ ăn trầu, người hút thuốc vặt. Cờ quạt võng lọng, dựa ở bên đường ngổn ngang. Nửa giờ sau, giữa lúc dân phu đang vây quanh chĩnh nước chè tươi và chiếc điếu cày, thình lình mấy ông bô lão đều quay vào phía cửa dinh, ai nấy cong lưng vái một vái cực kỳ trịnh trọng.
Quan nghè đã đi với cố ông từ trong dinh ra. Cả bọn hàng tổng răm rắp đứng lên, ai vào công việc của người ấy. Bốn chiếc đòn võng ghếch đầu ven tường cũng như số nhiều cờ quạt, tàn, lọng đều được nhấc ra một cách vội vàng. Các võng đều chế theo kiểu bát cống, mỗi cái phải tám người khiêng. Với chiếc nón dấu đội đầu và bõ áo xanh nẹp đỏ,
phủ tấm ban kiên màu đỏ, tất cả ba mươi hai người phu cõng nhất tề đỡ tay vào các đầu đòn để hạ cho mấy chiếc võng thấp gần mặt đất. Giống những ông nghè bầng giấy mà hàng nam đến rằm tháng tám, người ta vẫn thấy ở cỗ trông trăng quan nghè đi ủng đen, mang xiêm xanh, bận áo thụng lam và đội mũ cánh chuồn lóng lánh những bông hoa bạc. Sau khi vị tân khoa ấy đã bệ vệ bước chân lên võng và ngồi chống tay vào chiếc gối xếp đặt ở đầu võng, cố ông, cố bà, lần lượt trèo vào võng mình. .
Sau rốt đến lượt cô nghè. Với hai gò má đỏ bứng như muốn biểu lộ một cái tâm trạng nửa mừng nửa thẹn, cô này nhìn trộm bộ điệu lên võng của chồng và của cha chồng, mẹ chồng. Rồi sè sẽ xếch cao hai ống quần lĩnh và rón rén cất cái gót của chiếc vân hài,cô ghé ngồi vào chỗ mép võng để co hai chân lên võng. Mấy chục người nhất tề nâng các đòn võng lên vai và đứng im lặng chở nghe hiệu lệnh.
Đám rước lúc ấy bắt đầu sắp thành hàng ngũ. Đầu quân là lá cờ đỏ có thêu bốn chữ "nhất giáp tiến sĩ" . Rồi đến bốn chiếc lọng vàng nghiêng đầu vào nhau che cho mấy chữ "ân tứ vinh qui" đề giữa tấm biển sơn son chung quanh có lớp riềm nhiễu đỏ. Rồi đến một chiếc trống đánh đu dưới cây đòn gỗ bắc dọc trên vai hai người dân phu. Kề đó, ông thủ hiệu trống luôn luôn tỏ vẻ oai vệ bằng bộ mũ tế, áo tế, cái dùi trống chênh chếch gục đầu vào ngực và đôi hia đen xúng xính dưới hai ống quần màu "dúm". Tiếp đó, bốn cậu bé con đứng ra bốn góc để chiếm lấy một khu đất vuông vắn như hình bàn cờ. Cả bốn, ai cũng như nấy, áo đỏ, dải lưng xanh, xà cạp màu xanh, tay trái chống vào cạnh sườn, tay phải vác lá cờ phất khuôn khổ vừa bằng vuông yếm. Rồi đến ông cầm trống khẩu. Rồi đến võng của quan nghè. Đi kèm ở hai bên võng, hai người rước đôi lọng xanh chóp bạc, hững hờ giương ở cạnh mui võng. Và thêm vào đó, bên này một người vác chiếc quạt lông, bên kia, một ông lê mễ cắp cái tráp sơn đen và xách một chiếc điếu ống xe trúc.
Sau võng, phấp phới năm lá cờ vuông, đủ cả năm sắc xanh, đỏ, vàng, trắng và tím. Đứng đúng như năm cái chấm ở mặt « ngũ » của con thò lò, năm ông vác cờ đi giầy tầu, mặc áo nhiễu điều, đội mũ đuôi én, và đều khum tròn hai tay để giữ lấy cây cán cờ cắm trên chiếc cối gỗ đeo ở trước bụng. Rồi đến ông cầm kiểng đồng. Rồi đến võng của bà nghè.
Bằng tấm áo lụa màu hồng điều và vòng khăn nhiễu màu cánh chả vấn kiểu vành dây, hai người con gái rón rén đi hầu cạnh võng để vác cây quạt lá vả và bưng cái quả sơn son. Cũng như võng của quan nghè, võng của bà nghè cũng được hộ vệ bằng đôi lọng xanh, chỉ kém có cái chóp bạc.
Rồi đến võng của cố ông. Rồi đến võng của cố bà. Rồi đến mấy ông bô lão khúm núm trong những tấm áo thụng màu lam. Rồi đến các thứ kèn trống đàn sáo. Rồi đến một dãy chừng bốn, năm chục lá cờ sắp theo hàng một, cái nọ cách cái kia độ vài ba thước. Cuối cùng thì là hai người khiêng chiêng. Ông thủ hiệu chiêng phục sức và điệu bộ không khác ông chủ hiệu trống, cũng áo tế, cũng mũ tế, cũng đôi hia đen, và chiếc dùi dựa luôn luôn múa ở cửa tay áo thụng.
Với chiếc loa đồng vác vai, lý trưởng Văn Khoa và nhiều chức dịch hàng tổng tung tăng chạy từ đầu nọ đến đầu kia, để làm cho hết phận sự những người dẹp đám.
Sau ba hồi trống cái gióng nhau với những tiếng chiêng bu bu, tiếp đến một hồi trống khẩu đi đôi với hôi kiểng đồng, đám rước lục tục theo con đường cũ đi ra, đàn sáo kèn nhị nổi lên inh ỏi. Ra khỏi cổng thành độ vài chục bước, ông chủ hiệu trống thình lình thúc ba tiếng trống díp nhau, để ra hiệu cho hết mọi người đều phải dừng lại. Rồi thì một tay chống thẳng vào sườn, người giữ hiệu lệnh của đám rước đó khoan thai lui xuống năm bước. Và dang hai chân theo hình chứ "bát", ông ấy múa chiếc dùi trống tiến lên năm bước để nện luôn vào mặt trống mấy tiếng tùng tùng. Dứt hồi tùng tùng thứ nhất, bốn cậu bé con cầm bốn lá cờ phất đồng thời quay mình đánh thót và cùng chầu mặt vào nhau. Sau hôi tùng tùng thứ hai, cả bấy nhiêu cậu nhất tề múa tít lá cờ trong tay để chạy cho hết chiều ngang của mặt đường cái, người ở bên tả xông sang phía hữu, người ở bên hữu xông sang phía tả. Luôn hồi tùng tùng thứ ba, các cậu lại đều quay tròn ngọn cờ và răm rắp lui về chỗ cũ. Đến hồi tùng tùng thứ tư, cờ lại múa bốn cậu lạicùng bước vào giữa đường. Rồi ai nấy đều cúi đầu xuống để phất lá cờ qua mặt và hứ một tiếng thật dài.Thế rồi, mỗi một tiếng tùng là một cái phất cờ, và mỗi cái phất cờ lại một tiếng "hứ". Vừa đú bốn lượt "tùng hứ", ông thủ hiệu trống dõng dạc điểm thưa dùi trống để ra lệnh cho các cậu đó lùi lại chỗ đứng lúc nãy và quay mặt nhìn lên tiên quân.
Chiêng trống lại thủng thẳng đánh từng tiếng một, đám rước lại lần lần tiên lên. Đi hết con đường trong tỉnh, mặt trời vừa lên đến thẳng đỉnh đầu. Cả một khu vực mông mênh của bầu trời đều bị nhuộm thành màu vàng chói. Người đi trên đường luôn luôn ngửi thấy mùi khét. Cờ vuông, cờ chéo, hết thảy rũ rượi như lũ ấp mồ. Dân phu hàng tổng ai nấy sắc mặt đỏ gay, mồ hôi thấm ra ngoài áo. Chừng đã khó chịu với sự nóng nực, mấy người đi đâu sè sẽ giục nhau bước rảo cho chóng đến nhà. Nhưng ông thủ hiệu trống cố muốn kéo cho công việc của mình thêm dài, chốc chốc lại tiến ngũ bộ, thoái ngũ bộ, dang cánh tay múa dùi, nháy trống, để diễn một trận "tùng hứ", làm cho cá đám đều phải dừng lại. Trời cứ nắng, chiêng trống cứ tùng tùng, bu bu... đàn sáo kèn nhị cứ thi nhau xuống chìm lên bổng. Thiên hạ đi xem đông như nước chảy. Nón sơn chen với nón lá, yếm áo lấp ló trong đám áo the. Người ta dắt nhau. Người ta co nhau. Người ta du nhau, đẩy thau. Người ta lội bì bỏm dưới ruộng lúa chiêm và leo tót vót trên các cành đa, cành gạo. Thân đường chật hẹp không đủ chỗ chứa. Đằng đầu cũng như đằng cuối, chen chúc những người là người. Cờ quạt võng lọng đều phải ùn lại như một toán quân bị hãm. Lý trưởng Văn khoa hùng dũng kề loa vào miệng : « Bớ hai bên hàng xứ! Dẹp ra để quan lớn tr...ẩy! »
Tiếng "trẩy" như bị dính ở miệng loa. Nó đã xoắn lại như vành trôn ốc và kéo dài ra như một sợi thừng. Đít loa"ngoáy" tròn độ năm sáu vòng, vẫn chưa tuôn cho đi hết dư hướng của nó. Những người đứng gân đều phải chối tai. Cả một góc trời như bị xé toạc. Hàng xứ vẫn đâu đứng đấy, hình như không ai nhúc nhích. Ông lý của làng quan nghè lại phái trợn mắt phùng mang để "bớ hàng xứ" lân nữa. Cũng vẫn thế. Đường đi cứ bị ngăn cản như thường. Mấy ông tuần phu liền xắn tay áo chạy suốt hai bên dọc đường, và sẵn roi mây trong tay, họ vụt túi bụi một lượt. Đám đông tức thì dồn dập như một lớp sóng. Người nọ xô người kia,cố cướp lấy đường mà chạy. Bà già, trẻ con ngã sấp ngã ngửa ở các bờ ruộng. Mặt trời chênh chếch về tây. Đường về đã hết chừng hai phần ba. Vòm trời thỉnh thoảng điếm có bóng râm. Ánh nắng dần dần êm dịu. Tiếp đó, một trận gió nồm tứ dưới đồng chiêm nhẹ nhàng đưa lên. Cả đám đều tỉnh người ra. Những con rồng phượng trong các cờ quạt hết thảy lồng lộng múa nhảy như muốn theo tiếng đàn sáo cùng bay tít lên mây xanh.
- Ô kìa ông nghè!
- Ô kìa bà nghè!
Tiếng reo giật giọng thình lình bật lên giữa hồi chiếng trống vang lừng. Trăm nghìn con mắt đổ dồn vào đám lọng xanh đi trước. Mấy bức mành mành cánh sáo đã quấn lên sát mui võng lúc nào.Thiên hạ được dịp xem mặt cả nhà quan nghè. Ít kẻ nói đến cố ông, cố bà. Người ta chăm chú nhìn vào cô nghè nhiều nhất.
Trước sự chỉ trỏ của hàng xứ, cô nghè vẫn ra vẻ e lệ sượng sùng, tuy trong bụng cô đã cảm thấy vinh dự cực điểm. Luôn luôn cô phải nhai trầu phúng phính, vì sợ để cái mồm không dễ hóa ra người vô duyên. Và, luôn luôn cô phải cầm gương lên soi, vì sợ cốt trầu chảy ra ngoài mép. Có lúc muốn tỏ ra bộ chín chắn, cô giả vờ ngắm những cánh hồng con bướm trong chiếc quạt tầu. Rồi có lúc muốn. làm ra người nhanh nhẩu, cô lại đưa mắt nhìn ngược nhìn xuôi, nhìn từ con cò bay trên lưng trời, nhìn đến con trâu ăn cỏ ở dưới bờ lúa. Hai gối ngồi xếp tè he đã mỏi, nhiều lúc đã thấy chuột bó. Nhưng cô không dám duỗi ra, e rằng duỗi dài hai chân, không phải bộ điệu của người sang trọng.
Cái bụng dưới nhịn đái lâu quá nó đã phát tức anh ách. Mấy lần cô toan bảo phu hạ võng để mình đi đái nhưng rồi cô đều phải thôi. Bởi vì cô không biết rằng bà nghè theo chồng vinh quy có thể xuống võng đi đái được không. Và cô lại còn sợ rằng trong đám người xem đông nghịt thế này, thì đi vào đâu. Không lẽ việc ấy cũng bắt hàng tổng dẹp chỗ. . .
Bóng xế chiều. Nắng nhạt dần. Trên đường đã thấy hơi mát. Người đi xem lại càng đông thêm. Đoàn võng lọng của hai vợ chồng ông nghè vừa qua một quãng ngã tư, thì ở cạnh đường bỗng có tiếng kêu tru tréo:
- Chị làm sao thế? Chị Ngọc! Chị làm sao thế. Chị Ngọc! Ối trời ơi! Ối các ông, các bà ơi! Cứu chị tôi với! Chị tôi làm sao thế này!
Tiếng kêu cấp bách phát ra một cách thình lình, làm cho chiêng trông đàn sáo tự nhiên im bặt, cả người đi rước lẫn người đi xem tự nhiên đứng lại. Một người con gái trạc hai mươi tuổi đương nằm sóng sượt trên bãi cỏ của con đường ngang, đâu tóc rũ rượi, hai mắt nhắm nghiền, bọt mép đùn ra trắng xóa. Và một người nữa, cũng con gái, tuổi chừng mười lăm, mười sáu trở về, đương ôm lấy đầu người này vừa lay vừa kêu. Rồi ở cạnh đó, đôi thúng lô và đôi tay nải lổng chổng lăn xuống vệ đường.
Những người ở gần cuống quít xúm lại cấp cứu, kẻ rằng nâng cô ấy dậy, người bảo cứ để cô ấy nằm yên. Mấy bà lão già vâm véo giục nhau đái ra lòng bàn
tay lấy nước xoa vào mặt và đổ vào miệng cô gái phải cảm. Cô gái phải cảm vẫn bất tính nhân sự Tiếng gọi chị và tiếng kêu cứu của người em gán mỗi lúc một thêm luống cuống, hình như đâu lưỡi đã bị líu lại. Lúc ấy cô nghè và cố ông, cố bà tuy có dừng võng nhìn ra, nhưng ai nấy đều giữ bộ mặt thản nhiên.
Riêng có quan nghè xem chừng cũng thấy cảm động, ngài gọi lý trưởng Văn Khoa đến cạnh mà hỏi:
- Có phải cô Ngọc vẫn bán giấy bút ở Chợ Kim Bảng không?
Lý trưởng lễ phép:
- Bẩm phải.
Quan nghè chỉ tay ra nẻo cây đa cạnh đường mà bảo:
- Thầy chạy đến bảo mấy mụ đàn bà làm phúc cùng vực cô ấy vào chỗ mát kia! Ai lại để cho người ta nằm phơi dưới nắng như vậy? Tội nghiệp!
Trống lại thúc. Chiêng lại khua. Dàn sáo lại đua nhau réo rắt. Đám rước lần lần tiến về đường làng Văn Khoa. Con đường đã được cả làng trau chuốt từ sáng hôm qua và đã nằm chờ quan nghè một đêm và một ngày trời.


III

Đêm qua, trời lại nực hơn mấy đêm trước, Vân Hạc không thể ngồi yên xem sách. Với một chiếc gối và một chiếc chiếu, chàng lủng củng đổi chỗ khắp cả khu vực trong nhà để tìm một nơi mát mẻ nhưng trong bầu nung nấu của trời tháng năm, đâu cũng như đâu, ngọn cây, ngọn cối đều đứng chăm chắm, không đâu có một tí gió. Từ thềm ra sân, từ sân ra vườn, rồi từ vườn ra bờ ao, mỗi chỗ chàng chỉ trải chiếu nằm được giây lát, liền thấy hơi nóng như từ gầm chiếu bốc lên, lại phải cuốn chiếu cắp gối chạy đi nơi khác, y như một người hóa dại.
Mãi đến "gà gáy thứ hai", trời mới hơi dịu, ngoài sân, ngoài vườn, hơi sương tỏa ra mù mù chàng bèn vào buồng học, ngả lưng trên một chiếc ghế ngựa, thiu thiu nhắm mắt. Mới chợp đi được một lúc, thì một tiếng kẹt cửa đã làm cho chàng thức dậy. Trời vừa sáng rõ. Mấy con chim sẻ ríu rít kêu trên giàn hoa. Cánh cửa mở to, một cậu học trò và chiếc nón son úp ở sau lưng theo chân thằng nhỏ khép nép bước đến trước án thư, vái một vái, rồi đặt một chiếc phong bì lên án:
- Thưa bác, thầy con sai con trình bác cái thư.
Cậu ấy lui ra, khoanh đứng tựa vào cửa. Sau một cái ngáp thật dài, chàng oằn oại ngồi dậy bằng một điệu mệt nhọc. Rồi chàng cầm lấy phong thư và mở ra đọc:
“Trình trước văn kỷ anh Đào Vân Hạc.
Độ này chắc anh để hết thì giờ vào việc quyết đoạt thủ khoa , cho nên sao lãng cả tình bè bạn. Hơn một tháng nay, không được gặp anh, cỗ kiệu đã mốc, bàn cờ đã bị cát bụi phủ đầy. Tôi vẫn khao khát tôn nhan, như lúc nắng cạn khao khát trận mưa rào. Nay nhân dậy sớm, ra thăm vườn hoa thấy một giò lan bạch ngọc mới nở, sự khao khát ấy lại càng bồn chồn. Vậy xin anh hãy phí một chút quang âm, tạm dời gót ngọc đến túp lều tranh, ta cùng xem hoa nghe chim hót, để tiêu ngày dài của mùa hè.
Tôi đương quét lối "hoa trắng" đợi anh, mong rằng anh đến ngay cho.
Hoa sen đương nở, kính chúc vạn an. Còn nhiều chuyện khác, để lúc gặp nhau sẽ nói.
Sao Tuế ở ngôi Qúy Dậu, trước tết Hạ chí năm ngày ( * )

Đệ Nguyễn Khắc Mẫn

Bái thư.”

Đọc xong, chàng để mảnh thư xuống án mỉm cười và nhìn vào mặt cậu học trò kia:
- Cháu về thưa với thầy rằng: bác bảo cho người mua rượu và làm đồ chén ngay đi. Bác sẽ sang bây giờ.
Dạ một tiếng rất lễ phép, cậu học trò ấy lại vái Vân Hạc một vái rồi ra. Vân Hạc đứng dậy ra sân, chàng vừa múc nước rửa mặt vừa lẩm bẩm nghĩ thầm: "Hôm nay anh chàng tự nhiên cao hứng thế này, chắc có việc gì quan hệ. Ta phải sang ngay kẻo hắn mong đợi".
Rồi chàng lững thững trở vào buồng học sắm sửa khăn áo. Thằng nhỏ lệch kệch để lên án thư bộ khay chén và ấm nước sôi; đặt trên mảnh gỗ có chuôi như cái bê đựng vôi của thợ nề. Chàng vừa pha nước vừa lẩm bẩm đoán thử câu chuyện chốc nữa Khắc Mẫn sẽ nói với mình. Nhưng mà không sao đoán được. Là vì từ trước đến giờ, ở giữa hai người không có việc gì có thể dùng làm manh mối cho sự suy nghĩ. Uống tàn ấm nước, chàng liền cắp nón ra cổng.
Ngoài đồng, người làm đã đông. Trên các ruộng nước đục, lổm chồm những mô đất cày, trâu bò đang gò lưng tôm kéo bửa theo hiệu lệnh hùng dũng của tiếng "vặt diệt".
Mặt trời lên khỏi ngọn tre, chàng mới đến làng Bình Khê, chỗ dạy học của Nguyên Khắc Mẫn , cái làng chỉ cách chỗ ở của chàng độ một thôi đường. Lớp học buổi sáng chưa xong, trong nhà Khắc Mẫn tiếng ê a vẫn còn ầm ĩ. Chàng vừa bước vào khỏi cổng, Khắc Mẫn lật đật đứng dậy đón chào bằng dáng điệu vồn vã đon đả.
Những tiếng ê a trong nhà tự nhiên im bặt. Một lũ học trò lố nhố đứng dậy với những khóm hồng mao ngất nghểu trên đâu. Rồi cậu nào cậu nấy chắp tay vái như bổ củi:
- Lạy bác ạ!
- Lạy bác ạ!
Gần hai chục tiếng "lạy bác" lao xao theo nhau thành một dây dài, khiến cho Vân Hạc lia lịa gật đầu không kịp. Chàng phải xua tay ngăn lại:
- Các cậu cứ ngồi yên mà học.
Cả bọn học trò lần lượt ngồi xuống. Rồi thì những tiếng ê a lại thi nhau nổi lên. Khắc Mẫn vui vẻ mời Vân Hạc ngồi vào bộ phản chính giữa, cái phản cao nhất các phản trong nhà. Thầy sẽ sàng mở nắp giỏ, rót một chén nước chè nụ đưa đến trước mặt Vân Hạc. Mùi hoa sói theo làn khói nước bay lên ngạt ngào. Khắc Mẫn vừa cười tủm tỉm vừa hỏi:
- Đêm qua huynh ông đã đi hát nhà trò, thế mà không rủ tiểu đệ đi với?
Với Khắc Mẫn, Vân Hạc tuy kém đến hai chục tuổi nhưng vẫn được nhận là bạn vong niên, cho nên mỗi lúc nói chuyện, hết sức suồng sã, không cần phải giữ ý tứ. Hai người vẫn thường gọi nhau là anh, có khi đến mày tao nữa. Lần này tự nhiên thấy Khắc Mẫn tôn mình là huynh ông, Vân Hạc không khỏi ngạc nhiên, song chàng cũng cứ làm lơ và vẫn trả lời như lối mọi ngày:
- Ai bảo anh thế?
Khắc Mẫn ra vẻ đắc ý:
- Nếu không đi hát, làm sao huynh ông ngủ đến bạch nhật chưa dậy?
Vân Hạc chừng không chịu nổi cái lối kiểu cách của bạn, chàng liền nói nửa thật nứa bỡn:
- Nếu anh không vứt hai tiếng huynh ông vào lọ mắm thối của anh, thì tôi đứng dậy lập tức, không thèm nói với anh một câu nào nữa.
Khắc Mẫn bèn cười khì khì:
- Thế thì đêm qua anh đi hát với những thằng nào, phải thú tội ngay đi đã!
Vân Hạc uống cạn chén nước rồi đáp:
- Chẳng đi hát với thằng nào cả. Vì lúc chập tối nực quá, mãi tới gần sáng mọi ngủ, cho nên dậy trưa. Anh bảo đương lúc trời nắng như nung thế này, ai có động dại mà chui đầu vào nhà trò?
Khắc Mẫn vẫn cười giòn giã:
- Té ra anh bị ngờ oan. Thế mà từ nãy đến giờ, tôi cứ oán anh đi chơi không rủ anh em.
Một cậu học trò cắp sách đứng lên với đôi ống mũi thập thò bò xuống gần miệng, song song đo nhau như đôi ngà voi. Khép nép tựa lưng vào tấm cánh cửa, cậu ấy nói bằng tiếng mũi:
- Thưa thầy xin đọc!
Khắc Mẫn sẽ giương đôi mắt:
- Hãy đi hỉ mũi đi đã! Có một bài học, đọc đi đọc lại mấy lần không trơn. Ngày mai còn mà thế nữa, thì mày chết đòn!
Hình như sợ rằng bước đi chỗ khác, mấy chữ trong bụng sẽ bị rơi mất, cậu ấy liền giơ tay áo quệt ngang lỗ mũi, cho "ngòi mũi" nguệch sang một bên, rồi cất giọng ề à:
"Hỗn mang chi sơ,
Vị phân thiên địa.
Bàn cổ thủ xuất.
Thủy phán âm dương..."
vừa dứt hai tiếng "âm dương", cậu ấy sung sướng như đã trút được gánh nặng trên vai, liền kết một câu gọn tách:
- Thưa thầy xin hết.
Rồi cậu ấy nhanh nhầu lui ra, nhường tấm cánh cửa cho một cậu khác tựa hồng mao vào. Sau khi đã chiếu lệ xin phép thầy đồ, cậu này đãng hắng ba tiếng để đưa ở cuống họng ra một câu ngắc ngứ:
"Thiên tử trọng hiền hào,
"Văn chương giáo nhĩ tào.
Nhai mãi hai chữ "nhĩ tào" đến bốn, năm lượt, cậu bé đáng thương vẫn không nghĩ ra được câu tiếp theo. Trước cái cau mày dữ dội của thầy đồ; cậu đó như đã hết cả hồn vía, sắc mặt tự nhiên tái đi và cứ đứng im, không thể đọc nốt và cũng không dám cựa quậy, chẳng khác một pho tượng gỗ. Vân Hạc có ý thương hại con trẻ, muốn cho cậu ta thoát được ngọn roi thị oai của Khắc Mẫn, chàng vội nhắc:
- Đọc luôn đi chứ! "Vạn ban...!".
Giống như con ếch đớp được cái hoa mướp, cậu đó mừng rỡ đớp lấy hai tiếng "vạn ban" và tiếp:
"Vạn ban giải hạ phẩm
"Duy hữu độc thư cao".
Và cũng thêm vào đó bốn tiếng "thưa thầy xin hết", cậu bé đáng thương vui vẻ đi đến chỗ ngồi của mình.
Vân Hạc lẩm bẩm nghĩ thầm: "Không hiểu vì sao người ta lại cứ bắt tội trẻ con phải học những sách quái gở? Những đứa độ tám, chín. tuổi, mới vỡ lòng được vài bốn tháng, còn biết đời "hỗn mang" là cái gì, kẻ "hiền hào" là người như thế nào, vậy mà chúng nó cứ phải học cho thuộc lòng, thật .là một sự khổ cho con trẻ".
Mối dây tư tưởng của chàng còn đương vẩn vơ, chợt thấy Khắc Mẫn quát lớn:
-Vẫn chưa đứa nào đi mài son à?
Một cậu học trò lễ phép tiến đến bên cạnh án thư, để bưng lấy chiếc nghiên son và đem ra sân. Rồi vục luôn đĩa son vào đám bèo tấm trong cái bể cạn trồng cây si con, cậu đó múc lấy chừng lưng đĩa nước và liên ngồi thụp xuống sân. Ngón chân cái bên phải đè vào miệng đĩa phía trong và ngón tay cái bên trái giữ lấy miệng đĩa phía ngoài, cậu bé ngoan ngoãn mắm môi, cầm hòn son xoay tít trong lòng trôn đĩa. Bèo tấm bị nghiền nát biến. Nước trong đĩa hóa ra một chất đo đỏ và đặc như keo. Cậu ấy lễ phép bưng vào trong nhà rồi đặt lên mặt án thư.
Cả lũ học trò mở sách chồng làm một chồng giao cho một cậu đệ lên cạnh cái ông bút trên án. Khắc Mẫn mở tủ lấy ra một pho sách trao cho Vân Hạc và nói:
- Bộ sách này quý lắm, tôi mới mượn được của một chú khách. Anh coi đi. Để tôi chấm sách cho chúng nó học. Rồi sau ta sẽ nói chuyện.
Vân Hạc vội đón tập sách và sẽ hé mở để coi những chữ in ở mép các tờ. Tưởng là gì, té ra bộ truyện « Bình sơn lãnh yến » .
Chàng đặt cả tập xuống chiếu và nhìn ra bọn học trò:
- Cậu nào có sách tô thì đem vào đây để ta viết cho mà tô.
Khắc Mẫn ngạc nhiên:
- Sao anh không đọc? "Tứ tài tử" đây mà! Hay lắm anh ạ!
Vân lạc mỉm cười :
- Tôi đã coi từ năm lên mười tuổi rồi. Nó cũng xoàng xoàng vậy thôi!
Khắc Mẫn ra ý bẽn lẽn:
- Thế thì anh viết giúp tôi mấy cái phóng vậy.
Rồi thầy ngoảnh mặt vào bọn học trò trồng trộng :
- Phóng của chúng bay lèm nhèm cả rồi, phải không? Đem giấy đem bút để bác viết cho mỗi đứa một cái.
Mấy cậu thi nhau "vâng ạ". Rồi họ chọn bút, mài mực, tháo sách lấy giấy đưa lên trước mặt Vân Hạc. Liền đó, học trò chia làm hai toán. Một toán vây quanh án thư, nhòm thầy chấm sách. Một toán nữa vịn vai nhau đứng ở đâu phản để xem ông khách viết phóng. Chồng sách trên án chấm xong, phóng của Vân Hạc cũng viết được năm, sáu cái. Khắc Mẫn cầm lấy tập phóng bày ra mặt chiếu, ngắm đi ngắm lại từng tờ, và khen tâm tắc:
- Chữ anh tốt thật, nét sắc như cắt và tươi như hoa.
Rồi thầy lại tiếp:
- Văn hay chữ tốt như anh, thế mà thi cứ hỏng mãi, có lẽ chỉ tại cái tội láo quá. Nếu anh chừa được cái láo, tôi chắc là sẽ đỗ ngay.
Vân Hạc chỉ cười ngặt nghẽo, không trả lời. Khắc Mẫn xếp tập phóng lại, phân phát cho lũ học trò và giục:
- Đem sách ra mà học đi!
Tức thì cả đám học trò mỗi người vác một cuốn sách nhốn nháo chạy quanh cùng nhà: cậu này tựa vào cạnh cột, câu kia ghé lên bậc cửa, một vài cậu nữa quì gối xuống đất để ngồi chầu lên tấm phản của thầy. Một sạp ê a theo nhau nổi lên. Trong nhà ồn ào như đám chẵn lẻ. Những câu "thưa thầy chữ gì", luôn luôn thúc vào lỗ tai Khắc Mẫn, khiến thầy cứ phải quay bên nọ, ngoảnh bên kia, mỏi miệng trả lời không kịp. Nhiều lúc Vân Hạc phải bảo giúp. Tiếng học dần dần uể oải. Dãy phản bên cạnh xen vào mấy tiếng ấm óe. Một cậu học trò với bộ mặt bò nhếch bò nhác tiến đến trước án thư :
- Thưa thầy anh Thận chen con!
Khắc Mẫn chỉ tay và quát:
- Thằng Thận ra đây! Ra ngay đây!
Cậu học trò nữa suýt soát đứng dậy đi đến cạnh án thư và núc hai tay vào nhau như thầy phù thủy bắt quyết:
- Thưa thầy anh ấy beo con.
Sẵn cây roi mây nằm chờ trên án, Khắc Mẫn không kịp phân xử, phạt luôn mỗi cậu mấy roi. Cái roi như cũng thích ra oai với lũ trẻ con, mỗi lần được giáng hạ vào đầu vào cổ hai kẻ bị tội, nó lại kêu một tiếng đánh "vút" . Hai cậu bé con so vai, rụt cổ, van như tế sao, vẻ mặt không còn sắc máu. Khắc Mẫn hằm hè tuyên án:
- Học không học. Chỉ chòng nhau. Sao mà những của khó dạy làm vậy! Thôi cho ra phản. Mỗi đứa ngồi riêng một xó.
Hai cậu ấy mếu máo lui ra. Lại một cậu khác khép nép tiến vào:
- Thưa thầy hôm qua anh Ất ra đường chửi nhau để cho chúng nó...
Khắc Mẫn đương cơn thịnh nộ, liền dồn:
- Chúng nó làm gì?
Cậu đó rụt rè ra bộ sợ hãi:
- Chúng nó chửi thầy ạ!
Vân Hạc phì cười và hỏi:
- Chúng nó chửi thầy thế nào? Phải nói lại cho thầy nghe chứ.
Khắc Mẫn cũng cười và ngó sang phía Vân Hạc:
- Anh đừng chơi cái kiểu ấy! Chỉ tổ hư cho trẻ con.
Rồi thầy phát cậu học trò:
- Tứ rày muốn sống không được mách nhảm! Nếu còn mách nhảm sẽ được đủ một trăm roi.
Trước sự lườm nguýt của chúng bạn, cậu ấy len lét trở ra, rồi bẽn lẽn ngồi vào chỗ cũ. Khắc Mẫn ra lệnh cho các học trò:
- Đứa nào thuộc bài vào mà kể đi!
Mấy cậu nhỏ tuổi láu táu đem sách đến trước mặt thầy, rồi thì các cậu chen nhau, đẩy nhau, tranh nhau kể trước. Cuộc kể nghĩa bắt đầu. Những tiếng ê a ở hai gian bên cạnh đều phải hạ xuống thành tiếng lầm rầm, để cho mấy cậu bên này cắt nghĩa chứ "chi" là 'chưng", chữ "ky" là "thửa". Vân Hạc đứng đậy ra sân đủng đỉnh dạo thăm hoa cảnh. Bóng nắng vừa đến nửa thềm, cuộc kể nghĩa đã xong. Khắc Mẫn lúi húi đưa ngọn bút son vào tập sách tô, sách phóng và sách câu đối, bài đoạn. Vân Hạc thình linh trở vào vừa cười vừa hỏi:
- Giò lan bạch ngọc mới nở ở đâu? Hoa rụng anh quét đổ vào chỗ nào? Sao tôi không thấy?
Khắc Mẫn ngơ ngác:
- Mùa này làm gì có lan, lây đâu ra hoa mà rụng.
- Thế thì sao trong thư, anh lại dám nói là "thấy lan nở" và "quét hoa rụng"?
- Thì cũng nói thế cho đẹp câu văn, cần gì phải có hoa, có lan mới được? Tôi thấy cổ nhân thường thường viết như vậy cả.
Vân Hạc khôi hài :
- Nhưng tôi không thích .kiểu đó. Nếu anh còn chơi với tôi, thì phải chừa lối văn sáo bã ấy đi.
Hai người cùng phá lên cười. Buổi học đến đây là hết. Các cậu học trò tật) nập khách của thầy bằng như g ái ạv không ngoảnh vào phản của thầy đồ, rồi nó lễ phép đi ra. Ông chủ với bộ khăn áo chỉnh tề và một nai rượu cầm tay, lật đật từ trên nhà khách đi xuống. Sẽ sàng để nai rượu vào chỗ cạnh mâm, ông ấy gãi tai nói lan lỉ(ìc:
- Không mấy khi ông sang chơi đây với thầy đồ tôi thấy rất làm hân hạnh. Gọi là có chén rượu nhạt nh,li l~ltll òng x!li t(!in.
Vân Hạc và Khắc Mẫn mời.ông ta cùng ngồi uống rượu với mình. Nhưng ông ấy nhất định từ chối, vì d;t .ul ('~m từ lúc thợ cày đánh trâu ra đồng. Rồi ông chủ cáo biệt lên nhà trên. Để mặc thầy thù tiếp ông khách.
Lượng ruợu Khắc Mẫn tuy không theo kịp Vân Hạc, song vì ở vào ngôi chủ, lễ phép bắt thầy cứ phải nhấc chén lên lại đặt chén xuống, thỉnh thoáng nhấp cho ướt môi. Sau vài lần chén tạc, chén thù, những chuyện thi cử văn chương đã thấy càn cạn. Khắc Mẫn bỗng làm ra bộ nghiêm nghị và hỏi:
- Năm nay anh bao nhiêu tuổi?
Vân Hạc biết thầy bắt đầu vào đề, nhưng chàng vẫn trả lời một cách thản nhiên:
- Hăm hai tuổi rồi, anh ạ!
Khác Mẫn tiếp theo một câu văn hoa:
- Câu thơ lá thắm đã định thả vào ngòi nào hay chưa?
- Tôi chưa dám nghĩ gì đến chuyện đó.
Khắc Mẫn rót cho Vân Hạc một chén rượu đầy, rồi thầy vừa cười vừa nói:
- Vậy thì tôi kính mừng anh.
Vân Hạc ngơ ngác:
- Mừng tôi cái gì? Anh hãy nói cho tôi biết.
Khắc Mẫn cười hỏi tiếp:
- Anh biết cô Ngọc đấy chứ ?
- Có phải cái cô vẫn bán giấy bút ở chợ Kim Bảng đó không?
- Phải đó.
- Tôi biết lắm, cô ấy năm nay độ mười tám tuổi, con ông đồ Vân Trình chứ gì?
- Phải rồi! Nhưng anh có chịu cô ấy là bậc tuyệt sắc hay không?
- Vùng khác không biết thế nào. Nội trong vùng này, có lẽ tôi chưa thấy ai đẹp hơn người ấy. Nhưng anh hỏi tôi như vậy để làm gì?
- Là vì cô ấy sắp sửa làm người gánh gạo cho anh đi học. Tôi muôn biết trước ý anh đối với cô ta như thế nào?
Vân Hạc vội vàng xua tay:
- Anh đứng nói vậy mang tiếng. Hình như trước kia cô ta đã nhận trầu cau của anh nghè Long đấy mà.
Khắc Mẫn rót thêm rượu vào chén Vân Hạc rồi nói:
- Phải. Có! Năm xưa cụ đồ Văn Khoa đã có cậy mối đến hỏi cô ấy cho ông nghè Long. Đó là gượng theo ý muốn của ông ta. Thực ra cụ ông, cụ bà đều không thuận cả. Các cụ cho rằng hồng nhan phần nhiều bạc mệnh, nếu lấy cô ấy về làm nàng dâu, tất nhiên sau này sẽ không hay cho con trai mình. Vì vậy, các cụ cứ dùng dằng mãi không cưới. Nhân được một người thày số đoán rằng cô ấy với ông nghè Long khắc tuổi, không lấy được nhau, các cụ mới cả quyết thôi không đi sêu cô này, rồi mượn người sang hỏi cô Thúy. Vậy thì bây giờ cô ấy với ông nghè Long có dính dáng gì nữa đâu mà anh phải kiềng?
Vân Hạc nói giọng nghiêm trang:
- Đành rằng thế. Nhưng chúng mình với anh nghè Long là chỗ đồng song, thì dẫu cho cô ta không lấy anh ta đi nữa, chúng ta cũng vẫn phải coi như vợ người bạn, không nên nói chuyện bông đùa mà đem cô ấy ra làm đầu đề, thì trông thấy nghè Long, mặt mũi sẽ ra thế nào?
Khác Mẫn cũng đổi ra vẻ đứng đắn:
- Tôi nói thật đấy. Không phải nói đùa. Anh đứng tưởng rằng nếu anh lây cô Ngọc sẽ là bất nghĩa với ông nghè Long. Câu chuyện không như thế đâu. Giả sử anh chịu kết duyên với cô ấy, thì ông nghè Long cảm ơn anh lắm.
Vân Hạc chưa kịp nói sao, Khắc Mẫn lại tiếp:
- Anh có nghe chuyện cô Ngọc phải gió trong khi gặp ông nghè Long vinh quy hay không?
Vân Hạc lắc đầu:
- Tôi không nghe biết gì cả. .
Khắc Mẫn gật đầu:
.- Ừ tôi cũng đoán rằng anh chưa biết. Nếu anh có biết chuyện đó, chắc anh sẽ thương cô ấy vô cùng.
Vân Hạc điểm một nụ cười:
- Anh định múa cái mép ông mối để kiếm chè của tôi chăng? Khó lắm. Cái giọng mối lái, tôi chán lắm rồi. Chúng ta hãy nói chuyện khác.
Khắc Mẫn nói giọng nghiêm nghị:
- Tôi không thèm chè của anh. Và cũng không phải là kẻ môi lái. Nhưng tôi nói để anh biết rằng: cái mối nhân duyên giữa anh với cô Ngọc đã có một ông tơ hồng sẽ xe cho anh. Dù anh muốn chối cũng không thể được.
Vân Hạc có ý nửa ngờ nửa tin:
- Ông tơ hồng ấy là ông nào thế? Anh thử nói cho tôi nghe.
Khắc Mẫn mỉm cười:
- Anh đã muốn nghe rồi ư? Tôi không nói vội. Nếu anh muốn nghe, đêm nay phải ngủ lại đây với tôi. Bây giờ chúng ta cứ việc đánh chén đi đã. Bữa rượu hôm nay chính là cái tiệc đầu tiên của tôi mừng anh.
Vân Hạc cố gặng lần nữa, Khắc Mẫn chỉ đáp một câu rất vắn:
- Thầy? Thầy chứ còn ai!

IV

Đến nay vợ chồng ông đồ Vân Trình mới thật khỏi lo. Tháng trước, khi được tin cô Ngọc đi chợ về đến giữa đường bị cảm, cả hai ông bà đều hết hồn. vía. Không kịp khóa tráp, khóa tủ, ông đồ vơ vội lấy lọ thuốc gió giắt vào trong mình, bà đồ thì dặn láng giêng hãy coi nhà giùm, rồi cùng hỏa tốc đến cái ngã tư gần chợ Kim Bảng. Bấy giờ cô Ngọc đã được đem lại bãi cỏ dưới bóng rợp của một cây đa. Sắc mặt vẫn xám mét. Chân tay không động đậy. Nếu trên ngực không còn thoi thóp thở, thì chẳng khác người chết rồi. Bà đồ mếu máo kêu khóc, hú hồn vía vang một khu đồng. Ông đồ rẽ ràng trao lọ thuốc gió cho cô Bích, con gái thứ hai của ông, và bảo cô này mở gánh hàng lấy đĩa đựng trầu, xin ít nước tiểu mài với những viên thuốc ấy. Rồi hai ông bà dùng lược ghè miệng cô Ngọc đổ vào và xoa khắp cả mình mẩy cô ấy. Mặt trời tà tà, cô Ngọc tỉnh dần, nhưng vẫn loạng choạng không đứng dậy được. Chờ khi hết nắng, ông đồ mới thuê hai người gánh hai gánh hàng để bà đồ và cô Bích cùng dìu cô Ngọc về nhà. Đêm ấy và ngày hôm sau, cô Ngọc mấy lần ngất đi, gọi mãi mới tỉnh. Và lúc tính dậy, thỉnh thoảng lại cứ nói mê nói sảng, khi thì xưng là cô thám, khi thì xưng là cô bảng, y như một người ma làm. Thầy thuốc đổi bốn năm ông, bói toán cúng cấp, lễ bái chẳng thiếu đâu, bệnh trạng vẫn đâu đóng đấy. Kết cục, ông đồ phải mời cụ bảng Tiên Kiều thăm.
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn SH1 nhiều lắm ! được rùi mà bạn đánh dấu như vậy thiệt hay ! mình sẽ so sánh với nguyên bản và sửa lại sau. chính ra cũng nên scan một bản PDF để các bạn có thể so sánh, nhưng mình scan bằng chính vndocr nên lười scan lại lắm ![:D]


Chương 4 (tiếp theo)


IV

Đến nay vợ chồng ông đồ Vân Trình mới thật khỏi lo. Tháng trước, khi được tin cô Ngọc đi chợ về đến giữa đường bị cảm, cả hai ông bà đều hết hồn. vía. Không kịp khóa tráp, khóa tủ, ông đồ vơ vội lấy lọ thuốc gió giắt vào trong mình, bà đồ thì dặn láng giêng hãy coi nhà giùm, rồi cùng hỏa tốc đến cái ngã tư gần chợ Kim Bảng. Bấy giờ cô Ngọc đã được đem lại bãi cỏ dưới bóng rợp của một cây đa. Sắc mặt vẫn xám mét. Chân tay không động đậy. Nếu trên ngực không còn thoi thóp thở, thì chẳng khác người chết rồi. Bà đồ mếu máo kêu khóc, hú hồn vía vang một khu đồng. Ông đồ rẽ ràng trao lọ thuốc gió cho cô Bích, con gái thứ hai của ông, và bảo cô này mở gánh hàng lấy đĩa đựng trầu, xin ít nước tiểu mài với những viên thuốc ấy. Rồi hai ông bà dùng lược ghè miệng cô Ngọc đổ vào và xoa khắp cả mình mẩy cô ấy. Mặt trời tà tà, cô Ngọc tỉnh dần, nhưng vẫn loạng choạng không đứng dậy được. Chờ khi hết nắng, ông đồ mới thuê hai người gánh hai gánh hàng để bà đồ và cô Bích cùng dìu cô Ngọc về nhà. Đêm ấy và ngày hôm sau, cô Ngọc mấy lần ngất đi, gọi mãi mới tỉnh. Và lúc tính dậy, thỉnh thoảng lại cứ nói mê nói sảng, khi thì xưng là cô thám, khi thì xưng là cô bảng, y như một người ma làm. Thầy thuốc đổi bốn năm ông, bói toán cúng cấp, lễ bái chẳng thiếu đâu, bệnh trạng vẫn đâu đóng đấy. Kết cục, ông đồ phải mời cụ bảng Tiên Kiều thăm mạch và bốc thuốc cho, các chứng mới lui dần.
ĐỘ này cô ấy đã gần bằng cũ. Tuy mặt mũi hãy còn xanh xao, nhưng tinh thần thì đã sảng khoái như thường. ~ Tử mấy bữa trước, cô thấy trong mình không còn tật bệnh gì. nữa, đã xin đi chợ bán hàng, kẻo nữa nghỉ lâu mất khách. Nhưng mà ông, bâ sợ cô chưa được thật khỏe, xông pha .gió máy có thể lại bị phải lại cho nên ~tthất định bắt cô cứ phải Ơû luôn trong nhà, không được đi lại dưới ánh nắng. Thậm chí cô muốn ngâm sợi, đánh suốt, dệt nốt cái "cửi" còn dở, ông bà cũng không bằng lòng, vì sợ để cô vầy nước thì độc.
Chiều lòng cha mẹ, cô vẫn hết sức kiêng khem.
Nhưng phải cả ngày quanh quẩn trong mấy gian nhà như tù giam lỏng, thì ai mà không buồn?
Nhiều lúc cô muốn nhắm mắt cố ngủ, cho khỏi nghĩ vẩn nghĩ vơ. Song ngủ mãi cũng chán con mắt, không thể nào mà chợp đi được.' Rồi thì những mối tư tưởng luẩn quẩn Ơû đâu nó lại kéo đến như mớ . bòng bong, gỡ không ra, dứt đi không được.
Nhất là những khi vừa mới thiu thiu, chợt bị con muỗi vo ve bên tai phải tỉnh dậy, thì trong mình cô tự thấy một trận bàng hoàng khó tả, nghĩ mãi không biết mình đương nằm Ơû chỗ nào.
CÔ rất thèm người nói chuyện. Nhưng đương mùa chợ búa cày cấy, chị em chúng bạn ai có việc nấy, không ai.được thìa thì giở để đến trò chuyện với cô Cho đến cô Bích, người em tin cậy cua cô, cũng phải mải miết đi chợ, tứ sáng đến tối, không .
được thư nhàn mấy khi. Thành ra ban ngày cũng như ban đêm, ngủ đi thì thôi, hễ bửng mắt ra, cô lại thấy mình một mình vò vọ. Vì thế, cô cứ phải mượn cuộn Kim Vân Kiều làm bạn giải buồn.
Quyển sách như cũng biết ỡm Ơø trêu ngươi. Mỗi khi cô mớ nó r'a, nếu không đụng phải đoạn Kim Trọng ~ặp Thúy Kiều, thì lại trúng vào chỗ Thúy lều cật len sang nhà Kim Trọng. ' Tll)' rã llg cô t~ ân hết sức trấn tĩnh, nhưng mà coi dếl~ llln[ng câll.
Sóng tình hồ đã xiêu xiêu ' Xem ~rol~g âll yếm có nhiều/ lả lơi..." Hay là ; ~ Tóc tơ căl~ t'ặn tấm lòng Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương" .
Thì trong bụl~g cô bổi hổi, bồi hồi, hình như có ~ ất nollg nóllg bốc lên Ơû ngực và cổ. Tức thì cô liệng qt~yển chuyện xl~ống giường ~à nằm vắt tay lên trán để đun tư tưởng đến chỗ mơ màng xa xăm.
Sáng nay lúc. cô băng mình trở dậy, bỗng chốc ' hai mắt nháy .rối, vuốt mãi nó cũng không thuần.
Rồi khi cô ăn cơm xong, vào buồng, lại một con nhện thình lình sa thẳng xuống chỗ trước mặt. CÔ toan vồ lấy để xem #nó là nhện vàng hay nhện trắng, nhưng con vật ấy nhanh quá, cô vớ chưa lập, nó. đã đánh đu sợi tơ của nó và bò lên gần xà nhà mất rồi.
"Điềm gì mà lạ thế này. Lành hay gở?". Câu hỏi quanh quẩn đi lại Ơû trong óc. NÓ bắt cô phải phân vân hồi hộp, đứng ngồi không yên.
Lật đầu giường lấy cuốn Truyện Kiều, cô hé mở ra để xem đằng nào là đầu, đằng nào là cuối. Rồi hai bàn tay chắp lại một cách cung kính, cô đưa cuốn sách lên tận ngang mặt, đặt nghiêng "bụng sách" vào thẳng sống mũi và khấn lầm rầm:
"Lạy ' vua Tứ hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiện Thúy Kiều, tên tôi là Hoàng Thị Ngọc, Ơû làng tân Trình, thành tâm xin cô một quẻ...'!
Vừa dứt tiếng quẻ, cô liền ngừng lại và chỉ mấp máy hai môi, không biết là nói những gì.
Dứt hồi thì thầm, cô bấm một ngón tay cái vào giữa cuốn sách rồi giở ra xem. Ngón tay cái của cô trúng vào chỗ này:
"Bó thân về với triều đình, !'Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
'áo xiêm đùm bọc lấy nhau, "Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi".
Đọc đi đọe lại mấy lần, cô vẫn không hiểu nàng Kiều bảo mình cái gì! ' -Hay là mình không thành tâm, cho nên cô Kiều không ứng?
-Thì lại bói lại quẻ nữa xem sao?
Một lần nữa, cuốn sách bị cô đưa lên ngang trán và làm đúng những công việc vừa rồi. Rồi cô nhìn theo chỗ ngón tay đã bấm. NÓ là cái gì?
,,Vội vàng sắm sửa lễ công "Kiệu hoa cất gió đuốc hồng ruồi sao.
"Bày hàng cổ vũ xôn xao, ,,Song song đưa tới trướng đào sánh đôi".
Mặt cô tự nhiên thấy nóng bừn.g bửng. Ruột gan cô tự nhiên bồn cồn như bị lửa đột. Không kịp suy 50 nghĩ ý nghĩa của mấy câu đó, cô liền lăn đùng xuống giường và thở hừng hực như người say nắng.
Cảnh' tượng của đám vinh qui hôm nọ thình lình lại hiện trước mắt Kìa 'lá cờ vàng phấp phới trước gió. Kìa cái biển gỗ sơn son thếp vàng chói lọi dưới ánh mặt trời. Rồi một chàng trẻ tuổi cố nghiêng chiếc mũ hoa vàng cười nụ với người bên đường.
Rói một cô con gái không lấy gì làm xinh, đang õng ẹo ngôi trong chiếc võng mành mành cánh sáo.
Rồi... vô số là thứ khác nữa.
Giống như con chuồn chuồn trong mắt những người chực giở, những cảnh tượng ấy cứ dính liền với con mắt cô, xua tay nó không đi, nhắm mắt lại nó càng rõ rệt.
"Số kiếp mình thật không ra gì... Cờ đã đến tay, ai ngờ lại về kẻ khác:..!' CÔ không định nghĩ như thế. Nhưng mấy câu ấy nó cứ vơ vẫn kéo đến và trở đi trở lại mãi mãi trong trí.
Mặt mỗi lúc một nóng thêm, gan ruột mỗi lúc mỗi bồn cồn thêm, rồi thì cô thấy xâm xâm tối mặt như lúc sắp sửa phải cảm độ trước.
Em đi chợ đây chị ạ! Chị có mua gì hay không?
Tiếng nói thỏ thẻ thình lình tử cửa kéo vào, làm cô mở bửng mắt ra.
CÔ Bích vừa đến cạnh giường với bộ mặt nhí nhảnh và tiếp:
Chị làm sao mà mặt đỏ bửng lên thế?
CÔ ngồi vùng đậy mà đáp:
Không biết làm sao tử lúc ăn cơm đến giờ, tự nhiên chị thấy hầm hập như người sắp phát sốt ấy em ạ~ Em hãy ra bể múc cho chị một bát nước mưa.
-Chết nỗi! Chị uống nước mưa có độc cho không?
-Không độc đâu. Chị xót ruột lắm, chị muốn uống một bát nước mưa cho mát. Em cứ múc vào đây cho chị. Giấu đi, đừng để thầy mẹ trông thấy.
Ngoan ngoãn, cô Bích trở ra. Một lát, cô ấ~ l~ón rén trở vào với. một bát nước trong như nước suối.
Sẽ sàng đón lấy bát nước của em, cô Ngọc uống òng ọc một hơi. Nước vào đến đau, ruột gan thấy mát đến đấy.
CÔ Bích nhanh nhầu cất gánh đi chợ, để lại cho chị cả một gian phòng tịch mịch và những luồng tư tưởng vẩn vơ.
CÔ toan đứng dậy ra sân để cho dứt những cái nghĩ ngợi quanh quẩn. Nhưng khi cầm gương lên soi thây hai má còn đỏ bừng bừng, cô lại vớ lấy quyển Kiều rồi sẽ nghiêng mình xuống giường.
Song cô không coi, cuộn sánh vẫn úp trên ngực, hai mắt cô vẫn lờ đờ nhìn lên mái nllà.
"Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang ' điểm má hồng răng đen...". Nghĩ vậy rồi cô lại tự gạt đi: ' Sao ta lại tơ tưởng mãi nhưng chu ện của người? Oâ hay, con đã mọc răng, nói năng chi nữa.
Thôi, trăm đường tránh chẳng phải số, số có tự nhiên sẽ có, nếu số không có, câu cung chả được, hơi đâu mà...". rồi cô quả quyết ngồi dậy và lại cầm gương lên soi Ngoài cổng có tiếng gậy chống lộc cộc, cô vội nhô đầu nhìn ra.
Cụ bảng Tiên Kiều đương đủng đỉnh bước vào trong cổng với chiếc gậy trúc và một cậu bé con xách cái túi gấm theo sau.
52 Lật đật cô vội r~ sân đuối chó và cúi đầu chào cụ bảng:
- Lạy bác ạ?
Cái nón dứa trên đâu sẽ gật 'một cái, cụ bảng tơi tá cười hỏi: ' - Con Ngọc đấy à? Mày đã bằng cũ chưa cháu?
Thầy có Ơû nhà đẩy chứ?
Lê phép, cô đáp:
- Thưa bác,. cháu đã gần được bằng cũ. Thầy cháu có nhà đấ~ ạ.
Rồi cô nhanh nhầu đứng ra một bên, để giữ cho con chó xôm khỏi sủa.
ông đô Vân Trình vừa Ơû trong nhà bước ra. Hai ngài vái nhau một cái cực kỳ long trọng, rồi cùng đi vào trong thềm.
Sau khi đã hạ chiếc nón 'dứa trao cho cậu học trò treo lên trên vách, cụ bảng mở túi lấy vuông khăn mặt lau qua những giọt mồ hôi trên trán, rồi cụ ngồi luôn vào phản, vừa cầm cái quạt phe phẩy, vừa cất cái giọng sang sảng:
- Nóng quá, tôi đi đã sớm, thế mà còn thấy bức bối khó chịu. Nếu chậm lát nữa, có lẽ phải lăn ra đường. . . !
ông đồ cung ghé vào phản và nói một cách vui vẻ:
Bác nhiều hơn tôi năm tuổi, nhưng xem ý còn mạnh hơn tôi. Chính tồi bây giờ đi sang bên bác, nhiều khi đã thấy mỏi chân, phải nghỉ đến hai ba chỗ. Nếu.tôi bằng tuổi bác, có lẽ sẽ không đi được từ đây đến làng Tiên Kiều.
Cụ bảng tươi cười:
- ừ, tôi văn biết bây giờ bác ~ã ngại đi. Sáng nay, tôi toan cho người mời bác sang chơi nói chuyện. Nhưng sợ bác vẫn biếng đi, nên tôi lại phải cố sang. ' Cụ đồ vội hỏi:
Bác đã có chuyện gì lạ!
Cụ bảng vẫn cười:
- Lạ thì không lạ. Nhưng nó cũng không phải là một việc thường.
Việc gì vậy? ' - Tôi muốn đưa ông thám, ông bảng đến nhà cho bác.
CÔ Ngọc vừa xách siêu nước lên đến đầu thềm.
Thoảng nghe câu đó, hai má tự nhiên đỏ bừng. Bẽn lẽn đưa siêu nước cho cậu bé con đi theo cụ báng, và nhờ cậu ấy nhóm lò' đun hộ, cô liền thụt vào trong buồng.
Cụ đồ ngay thật hỏi lại cụ bảng:
-ông bảng nào? ông thám nào? Bao giờ thì họ lại dây?
Cụ bảng cười giòn khanh khách.
- Thong thả, chuyện đó hãy gác lại đó, để lúc uống rượu sẽ hay. Bây giờ chúng tb uống nước rồi thưởng một vài ván cờ cái đã. ' LÒ nước đã nỏ. Cậu tiểu đồng quen lệ mọi ngày.
nhắc bàn cờ và túi quân cờ trên vách đạt lên trên an.
Cụ đồ hạ bàn cờ xuống phản, vừa đổ quân cờ ra bày, vừa ngâm:
"Kỳ cục tiêu tường hạ, "Tôn tửu lạc dư xuân" 54 Rồi cụ lại tán?
- I~ai câu ấy thế mà hay đấy. Trong lúc nóng nực này chỉ đánh cờ là có thể quên sự oi bức.
Siêu nước đã sôi, cậu nhỏ rón rén tráng qua cái ậm da chu, bỏ chè, chế nước, róc ra chén tống và chuyên vào hai chén con, rồi đệ cả bộ bàn chè lên ấn.
Hai cụ rung đùi thưởng cái hương thơm mát của chè đầu xuân.
Cuộc giải khát đã đi hết tuần thứ ba, các cụ bắt đầu quay vào bàn cờ.
CÔ Ngọc vẫn nằm thủ hiểm trong buồng chờ nghe những lời cụ bảng sẽ nói.
Sư im lặng của gian buồng và sự hồi hộp trong quả tim bắt cô suy nghĩ đến câu cụ bảng mới nói vừa rồi: ~CƠù sao bác báng lại nói đột ngột như vậy? Hay là thác ấy đa biết tâm sự của mình rồi chăng! Không có lẽ Cứ như em Bích kể lại, thì hôm nọ, trong lúc nói mê, nói sảng, mình cũng xưng là cô thám, cô bảng luôn luôn. Nhưng đó chẳng qua là tiếng nói của kẻ bị mất trí khôn, chắc không .ai để ý..." Thế rồi, mồ hôi toát ra, cô tự thấy mình xấu hổ như đã làm một điều vô ý trước đám đông người. Ơ nhà ngoài, cuộc cờ đến lúc xô xát tiếng cười giòn ~ơiã xen lẫn với tiếng quân cờ chí chát đụng nhau, khiên cô dứt hẳn được sự nghĩ ngợi lấn quẩn.
Bóng nóng đã ra đến cột giàn hoa, trong buồnbJ nóng như cái hầm, cô toan đứng dậy ra vườn hóng mát, chợt trông đến cái quả trầu, cô mới nhớ ra tự nậy đến giờ, quên chưa t~m trâu..Sẽ sàng ngồi dậy, cô đi lấy dao bổ cau rọc trầu, têm mấy chục miếng xệp vào cơi, rồi đưa cạu nhó đặt giùm lên chỗ hai cụ.
Bà đồ đi chợ đã về.
Nhanh nhầu cô ra đón thúng đế mẹ vào chào cụ bảng, rồi cô xuống bếp sửa soạn đô rượu.
Theo ý bà đồ, thì cô còn phải kiêng nước, kiêng lửa vài ba ngày nữa cho được thật khỏi. Nay vì trong nhà có khách, trời cũng đã trưa, sợ rằng một mình lủng củng, hoặc giả cơm khách trễ quá, nên bà đành để con gái mó vào những việc lặt vặt.
Cuộc cờ trên nhà đã hết hai ván, đồ chén cũng vừa làm xong. Vì nhà không có đầy tớ, cô phải rón rén lên dọn bàn cờ, rồi để mâm rượu vào đó, và bảo cậu nhỏ sang bên buồng học ăn cơm.
Sau khi cụ bảng đã gửi lời cô xuống chào bà đồ, hai cụ cùng quay vào mâm.
Chén rượu đã róc một lần thứ nhất, bà đồ vui vẻ Ơû nhà dưới lên để đáp lễ lại lời chào của ông bạn chí thân với chồng.
Cụ bảng chỉ vào chiếc ghế bên cạnh và nói:
Mời bác hãy ngồi lên đây xơi nước, tôi có cât~ chuyện muốn nói với cả bác trai bác gái.
Rồi cụ nhìn vào ông đồ:
Con Ngoé năm nay mười chín tuổi rồi ~lt~ll không?
ông đồ ra vẻ ngạc nhiên:
Cháu nó mới có mười tám.
Cụ bảng lẩm nhẩm bấm đốt ngón tay:
Được? Mười tám lại còn tốt hơn mười chín.
Uống cạn chén rượu, cụ .tiệp:
- Bác đã có biết tư H(~c~ học trò tôi chứ?
56 ông đồ lắc đầu:
- Tôi chỉ nghe tiếng anh ta, chứ không rõ lắm.
CÓ phải tên hắn là Đào Vân Hạc đó không) - Phải đó! ' ~ Anh ta người Ơû đâu nhỉ?
Hắn Ơù Quốc Oai. Con trai út cụ cống Đào Nguyên đấy mà. Trong học trò tôi, có hắn linh lợi hơn cả. Vì tình thân với cả hai bên, tôi muốn nói ' với hai bác gả con cháu Ngọc cho hắn.
Vừa cầm nai rượu tự róc vào chén của mình, cụ bảng vừa thêm:
- Nếu như hai bác muốn cho con cháu được làm cô thám, cô bảng, thì ngoài hắn rạ, chắc không có người nào hơn. Tôi nói thế, không phải quá khen học trò của tôi. Kể ra, cái tài thám, bang, thiên hạ vẫn không thiếu gì, nhưng phần nhiều họ đã cao tuổi hoặc là họ quen cố chấp câu nệ, không ai được hoạt bát như hắn.
ông đồ ra . vẻ tơi tả:
Bây giở bác nói tôi mới nhớ ra. Trong kỳ bình văn Ơû trường bác hồi đầu năm ngoái, tôi đã xem qua quyên của anh ta. Kể thì anh ta cũng là một tay đại tài, tôi không chê một điều gì. Nhưng việc gả bán cho cháu thì tôi nhường quyền bà nó.
Rồi ông quay sang bên phía bà đồ:
- Thế nào? Yù bà ra sao, thì nói với bác.
Bà đồ rẽ ràng:
Cụ cống~mất rồi, thưa bác?
- Phải, cụ ấy mất từ lúc tư Hạc còn nhỏ.
Bà đồ ra ý ngần ngại:
Trên cụ cống cũng là một nhà danh vọng Ơù tỉnh đoài với nhà tôi thật là môn đương hộ đối.
Tôi chỉ hiếm một điều rằng: chúng tôi hiếm hoi, ch được hai đứa cháu gái, muôn gả chồng cho nó Ơû chỗ gần nhà, để khi mẹ con đi lại cho tiện...
Cụ bảng nói vui như tết: ' - Điều đó bác không quản ngại. Từ đây lên đến quê hắn, vừa .đi vừa về, chỉ hệt độ già nứa ng~v, có gì là xa. Nếu bác sợ xa, thì tôi bắt hắn phải đến gửi rể. Việc này tự tôi chủ trương tất cả... Bởi thấy nó là mối lương duyên nên tôi muôn cướp quyên . của ông tơ hồng xem sao!
Bà đồ không còn lẽ gì từ chối, liền chuyển câu chuyện sang cho ông đồ.
- Nếu thế thì xin tùy ý thầy cháu. Thầy cháu bằng lòng, tôi cũng xin vâng lời bác.
ông đồ khôi hài:
- Khéo lắm. Tôi dưa cho bà,.bà lại còn dưa cho tôi.
Rồi ông róc rượu vào chén cụ bảng và tiếp:
- Con tôi cũng như con bác. Tùy bác muôn ~á cho ai thì gả. Quyên ông tơ hồng bác còn muôn cướp huống chi quyền tôi. CÓ điêu tôi muôn bác hãy thong thả, để tôi bảo qua với cháu.
Cụ bảng vẫn cười:
- CỐ nhiên cũng phải hỏi ý nó chứ. Nhưng tôi xem chúng nó cũng ngoan ngoãn dễ bảo, tôi nói phắc nó phải nghe. Vậy xin bác hãy cho gọi nó ra đây để tôi bảo thẳng với nó.
Nãy giờ, cô Ngọc vẫn ngồi im lặng trong buí~ng, không dám đánh tiếng. Khi nghe cụ bang nói đến 58 câu đó,.cô liền cất lẻn đi xuống nhà dưới. Bà đồ theo xuống tận nơi, và nói một cách ngọt ngào:
Con lên nhà khách, bác báng muốn hỏi gì con đấy.
CÔ Ngọc đỏ mặt tía tai, và nói một cách nũng nịu:
~ Thòi ct-)n chả lên.
Bà đồ túm tỉm cười nụ :
Bác loang muốn làm mối mày cho anh khóa I~ac, học trò của bác â~ có thuận thì lên mà nói với bác.
CÔ Ngọc gục đầu xuống gối và sẽ thỏ thẻ:
- Tùy thầy, tùy mẹ, con không biết.
Rồi cô e lệ đứng dậy và đi sang nhà hàng xóm.
Bà đồ lại lên nhà khách nói với cụ bảng:
- Thưa bác, cháu nó xấu hổ, không đám lên ạ!
Cụ bảng lại cười:
Thối được. NÓ xấu hổ tức là nó đã thuận đấy.
Vậy thì hai bác nhận lời cho tôi đi thôi. .
Bà đồ cáo' biệt đi xuống nhà dưới. Hai cụ gật gù đánh chén mãi đến quá trưa mới xong. CÔ Ngọc vẫn còn núp bên hàng xóm chưa về. Cậu nhỏ người nhà cụ bảng phải dọn mâm bát và lấy tăm nước.
Mặt trời tà tà, cụ bảng mới từ biệt ra về. Trước khi đứng dậy, cụ còn dặn lại ông đồ:
- ĐỘ mấy bữa nữa, tôi sẽ lại sang nói chuyện với bác.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Mọt Sách</b> -- <b>8.7.2004 18:11:24 </b> &gt;>
Một hồi gà gáy âm ô, làm cho Vân Hạc giật mình thức giấc. ' Ngọn đèn trên _quang lù mù sắp tắt, đọi dầu đã gần cạn khô. Không muốn làm phiền thằng nhỏ, chàng tự đứng lên róc dầu vào đèn, và dụi cái tàn đỏ ối Ơû đầu sợi bấc. Rồi chàng mở cửa ra sân.
Trăng chưa lặn. ánh vàng chênh chếch nhòm vào giàn hoa. Những bóng cây nhài, cây mộc dương leo lên thềm. Mặt thềm khoang khua như một bức tranh thủy mặc.
Trời hãy còn sớm. Trống ngoài điếm mới điểm canh tư. Các nhà láng giềng vẫn ỉm phăng phắc.
Chàng toan vào phòng n~ơủ thêm. Xịch nhớ hôm náy là kỳ bình văn, phải đến .trường .sớm hơn mọi ngày, ngủ nữa, e rằng quá giấc, quá trưa, thì đi không kịp. Chàng bèn súe miệng, rửa mặt, rồi một mình đủng đỉnh dạo dưới bóng trăng.
Trong đám ánh trăng trong vắt, thỉnh thoảng điểm một luồng gió hiu hiu, hết thảy bóng cây trước sân đều bị rung động. Chàng bỗng tưởng đến cái cảnh Trương Sinh đợi Thôi Oanh Oanh trong truyện Tây Sương liền ngâm:
"Đãi nguyệt Tày sương hạ.
',Nghênh phong hộ bán khai.
,'Cách tường hoa ảnh động.
,'Nghi thị ngọc nhân lai".
Thế rồi hình ảnh cô Ngọc tức thì hiện ra trong óc Chàng khen ông đồ Vân Trình cũng khéo tìm 60 chữ đạt tên cho con. Với cái nước da trắng nõn, với cái khuôn mặt trái xoan và cái dáng bộ yểu điệu, nàng thật đáng gọi là ngọc nhân lắm.
Chàng nhớ những hôm qua chợ Kim Bảng, tình cờ nhìn hàng nàng, bao giờ nàng cũng tươi như bông hoa, và không bao giờ mà nàng có vẻ ngoa ngoắt, trai lơ như bọn con gái kẻ chợ. Chàng tự cho rằng: mình lấy được lòng, tức là danh sĩ sánh với giai nhân, chăng kém gì những cặp vợ chồng trong tiểu thuyết.
Nhưng chàng lại băn khoăn rằng: trước kia nàng đã đính hôn với Trần Đằng Long, thì với chàng, nàng đã là vợ chưa cưới của một người bạn. Bây giờ nêu chàng kết du~vêll với nàng, hoặc giả cũng bị thiên hạ chê cười Rồi chàng tự an ủi rằng: việc này do Ơû cụ bảng ép chàng, không phải tự chàng mà ra. Một người đạo mạo nghiêm nghị và yêu chàng, quý chàng như cụ bảng Tiên Kiều, không lẽ lại dạy học trò làm điều trái với danh ~ơiáo? Song chàng vẫn không hiểu vì sao cụ bảng lại cô ghép nàng với chàng, vì sao hôm nọ, trong khi khuyên chàng lấy nàng, cụ lại bảo rằng:
nếu chàng bằng lòng cưới nàng làm vợ, tức là cứu cái đời nàng, tức là làm ơn cho Trần Đằng Long? "Hay là nàng với nghè Long ngày xưa đã có ~ờl ám muội?" Chàng nghĩ như thế, rồi chàng lại tự hôi hận, cho là mình đã vô lễ với nàng. Chàng tin nàng là con nhà gia giáo, không khi nào lại làm những việc bất chính.
Mặt trăng thì tử luồn vào bóng mây, bầu trời dần dần vẫn đục Chàng bèn lững thững bước vào trong phòng. Vừa đi, chàng vừa lẩm bẩm một mình CÓ lẽ vợ chồng là duyên số thật. ù, xưa kia mình tuy biết nàng, nhưng vẫn chàng hề n~ơhĩ đến nàng. Thế mà từ bữa nghe đồ Mẫn nói, nhất là từ bữa nghe cụ bảng nói đến giờ, không phút nào mà ta quên nàng. Cái đó mới lạ cho chứ! Không biết trong những lúc này, nàng có nghĩ gì đến ta không(' Chắc có! Ta nhớ nàng,. tất nhiên nàng.cũng nhớ ta, nếu như cụ bảng đã ngó cho nàng biết cái ý định của cụ.
Trời sáng, Vân Hạc cắp nón vừa ra đến cổng, thì gặp Khắc Mẫn. Hai chàng liền sánh vai cùng tới trường học.
Trong các lò "rèn đúc nhân tài" bấy giờ, trường của cụ bảng Tiên Kiều là lớn hơn hết. Trú ra mươi cậu đồng sinh là những con cháu trong nhà, học trò cụ bảng chỉ có hai lớp đại tập và trung tập.
Trung tập hàng ngày phải đến nghe sách, hàng tuần phải học làm văn. Còn đại tập thì mỗi tháng tập văn hai kỳ. Kể cả đại tập và trung tập, học trò trong trường có tới gần ba trăm người.
Vân Hạc và Khắc Mẫn đi đến cửa trường thì các cậu học trò trung tập cũng vừa kéo đến. .
Sau những chiếc nón sơn quai chuỗi lần lượt úp lên các tường, cả mấy trăm người nghiêm trang ngồi sắp hàng Ơû các dãy ghế.
Cụ bảng còn Ơû nhà trong chưa ra.
Một cậu học trò bé con chạy đến rỉ tai Vân Hạc:
Thầy bảo anh bình văn xong rồi, phải Ơû lại đây, để thầy còn dặn gì đấy.
Rồi thì học trò đại tập lục tục đến dần.
Rồi thì, năm gian tiền tế thênh thang như năm gian đình dần dần hiện ra quang cảnh chật hẹp, kẻ ngồi người đứng lố nhố khắp trong nhà ngoài thềm.
Trống cái thong thá điểm một hồi ba tiếng.
62 Học trò trên các phản ghế hết thảy trở lại hàng lối nghiêm chinh. ' Lai cậu l~hỏ tuổi lễ mễ bưng điếu bưng tráp và mang ~ió ấm, khan chét đặt lên án thư.
Những tiếng thì thầm xôn xao nhất tề im bặt. Cụ b~n~ Où nhà trong ra với một bộ khăn áo chỉnh tề. Trên c(íc l~han ghế, học trò răm rắp đứng dậy khắp lượt.
Khoán th~i cụ ngồi vào tấm .ghế sau chiếc án thư và mơ n~p tráp lấy gói thuốc lá .ra cuộn. Tất ea học trò- lại cùng răm rắp ngồi xuống. Một cậu nhó tuổi lê phép đến trước án thư sẽ bưng bộ đồ đánh lứa ra thềm .
Qua nlòt hồi kỳ cạch của hòn đá lửa đập vào thỏi sắt, lứa Ơû trong đá đã bắt ra lớp bùi nhùi trong cái hộp gỗ và bén vào đó, cậu ấy rón rén.
nhón lây một ít bùi nhùi có lửa, tiếp vào mồi giấy, phì phò th~i cho thành ngọn,.để châm sang sợi ruột gà và châm lứa vào mồi thuốc lá đã cuộn, cụ bảng ra hiệu cho các học trò đọc sách.
Một câu trung tập cung kính đệ một chồng sách in lên án. ' Bằng một câu xin phép rất lễ độ và mấy tiếng đằng hắng rất dõng dạc, một cậu tốt giọng nhanh nhẹn mớ sách ra đọc.
Tất cả học trò cặm cụi mở sách ra coi.
Theo lệ hàng ngày, mỗi buổi đều đọc đủ ba thứ sách: kinh. i.truyện và sử.
Hôm nay bắt đầu đọc Kinh dịch, rồi đến sách Trung dung rồi đến cuốn Tống sử.
~ỗl khi đọc hết bài cái, bài bàn của một chương Lào trong sách, cả trường im lặng như tờ. Mấy trăm con.mắt đều chăm chỉ ngó vào cuốn sách của .
mình. Mấy trăm lỗ tai đều bình tĩnh đợi nghe lời giảng của thầy.
Bằng cái giọng sang sảng như tiếng chuông đồng, cụ bảng giảng rất rành mạch tử nghĩa đen đến nghĩa bóng, tứ nghĩa gần đến nghĩa xa, cụ chỉ rõ ràng lời bàn nào là phải, lời bàn nào là quấy.
Cụ nói như róc vào tai học trò.
Khi giảng đến hào lục tam của quẻ Khôn Kinh dịch, cụ đặt nồi thuốc xuống án và hỏi một cách sửng sốt:
- Các anh nghe chương này có thấy gì không Các cậu học trò đều không trả lời, vì không hiếu ý cụ hỏi ra sao.
Cụ liền nhìn v~ cuốn sách và cất cao giọng:
"Lục tam, hàm chương khả trinh, "Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung't' Và cụ lại gặng:
- Các anh tưởng nó có đúng với điệu lục bát trong các ca dao của ta hay không/ Rồi cầm mồi thuốc hút thêm một hơi, cụ vữa rung đùi vữa tiếp:
- Tron~ơ kinh, truyện, sử, mỗi bộ đều có một câu lục bát. Ơ kinh là câu ấy rồi, còn Ơû truyện thì là câu gì?
Các cậu học trò cố sức lục hết trí nhớ để tìm lấy câu trả lời. Nhưng không ai nói câu nào. Cụ vuột chòm râu bạc phơ và ngâm:
"Phù thủy, nhất thước chi đa.
"Cập kỳ bất trắc ngoan đà giao long..." 64 Rôl cụ lại hỏi:
- ~ phải cáu ấy Ơû sách Trung dung, các anh mới đọc liệm qua đó không? Sao mà chóng quên vậy? Nếu như t~rll cho (1ỗ đ(ìt, được sang sứ Tầu, các anh sẽ đối đáp 1 ~l'l s ~o cho khỏi nhục đến quân mệnh!
( :ìc câu học trỏ đều cúi gầm mặt, tỏ ra dáng bộ ~ ì 1 l~ à 1 .
~ ngửng một lát rồi thêm:
- Còn câu Ơù sử, chắc chắn các anh cũng không thế nhớ. Và cụ ngân giọng:
~ĐEá sĩ Sái Xác hữu công, "Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình..." Rồi cụ ngẩng lên nhìn các học trò và nói:
Các anh thử giở cuốn Tống Cao Tôn mà xem, câu đó Ơû ngay đầu sách đấy mà.
Các câu học trò im lặng phục thầy là bậc nhớ sách Cụ bảng mở giỏ, róc một chén nước nhấp giong, rồi cụ cắt nghĩa:
- Cũng vì có mấy câu đó cho nên tử xưa đến nay ~tã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc Ơù kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời mã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cun~ơ phải có một điệu hát.
Néu bảo điệu hát lục bát gộc Ơû kinh, truyện và sứ, thì sao Ơû Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bâ~v giờ mình cũng hãy ha~ r~lng thế, đ~ rồi kê cứu dân dần, không nên vội ~ ~ng bới t)ác~ I~èt cuộc chuồn phiếm, một cậu học trò thay lượt cậu trước đọc cuốn Thung dung. Rồi một cậu nữa lại tiếp cậu này đọc cuốn Tống sử.
Mặt trời đã cao, cuộc nghe sách của học trò trung tập mới hết. Lúc 'này học trò đại tập đã đến đông đủ. Trong năm gian nhà ngột những hơi người.
Cụ bảng tạm nghỉ để quạt cho ráo mồ hôi.
Học trò lác đác đứng dạy ra sân hóng mát.
Khắc Mẫn dắt Vân Hạc và mấy người nữa đến ngồi dúm dúm Ơû dưới gốc'nhãn, rồi họ thi nhau bắt Vân Hạc phải đọc những bài văn của chàng trong kỳ này cho họ nghe trước. .
Một cậu học trò đủng đỉnh đến trước Vân Hạc nhìn chàng bằng con mắt ranh mảnh và tủm tỉm cười.
Vân Hạc đoán là hắn đã hiểu biết việc riêng của mình, liền hỏi:
Mày cười cái gì, thằng Cung Người ấy 'vẫn cười:
Mai kia tao sẽ cho mày bài thơ.
Vân Hạc cũng cười:
- Được! CÓ giỏi mày cứ làm! Nếu thơ không hay, tao sẽ nọc cổ đánh cho ba chục.
Ngoài cổng có tiếng cười nói giòn giã. Một lũ nón dứa quai lụa bạch lần lượt từ cổng tiến vào trong sân. CÁ~ cụ nghè, cử, bạn thân của cụ bảng và là sơ khảo, phúc khảo của các quyên tập đến dự bình văn.
Cụ bảng lật đật đứng dậy đón khách.
Sau mấy cái vái trịnh trọng rước mấy ông khách lên thềm, cụ bảng vui vẻ nói:
66 ~ Chết chứa nắng quá! Các bác đi sớm ít nưa, có mát hơn không?
Cụ nghè ~uvnh Lâm chỉ vào cụ cử Liên Trì và đáp:
- Nếu trôi không cố phá đám, thì ông' lão này còn llgól ngất ngưởng với nai rượu thuốc, chứ đã chịu (11 ~lo ~âu.
( i' cư I~iên Trì mỉm cười đế đưa hai câu thơ cổ:
Bách niên tam vạn lục thiên nhật, 'Nhất ẩm tu khuynh tam bách bôi".
Các cụ cùng ngồi lên chiếc phản-giữa. Ai nấy phì phạch quạt lây quạt để. Nhưng vẫn không ai chịu bo khăn áo Cụ bảng phai sai hai cậu bé con cầm đoi quạt lông đứng hai đầu phản phây vào.
~iel. ba tuần chè tầu, cụ bảng lục lại tập văn của học trò ~à chọn mấy quyển được bình để riêng một chồng.
hôm nay là kỳ tứ lục: một bài chiếu và một bài biểu. Tất cả độ hơn mười quyển được đọc. Chỉ có mọt. quyến của Đào Vân Hạc dấu sơ dấu phúc phê ưư, dấu ngoại phê "bình", và năm quyển nữa ba dấu đều phê ?'bình", được đọc từ đầu đến cuối. Còn các quyến khác, hoặc "bình thứ", hoặc "thứ mác" chí được đọc lỏi từng đoạn. Những quyển được đọc, mặt quyển đều có đế một chữ "bình". Những đoạn được đọc thì Ơû cạnh các dòng chữ đều có đánh dấu bằng "chấm mắt ngỗng". Soạn xong tập quyển, cụ bảng cầm trao cho mấy ông bạn:
~ Các bác coi lại, Nếu có quyển nào không đáng cho đọc, thì xin bỏ đi.
. MỐI cụ đón lấy vài quyển, coi qua một lượt, rồi - Được cả không có quyển nào phải loại.
Cụ nghè Quỳnh Lâm cầm quyến của Đào Vân Hạc chìa hỏi cụ bảng:
Quyển này chúng tôi đã phê "ưư' cả, sao hác lại đánh xuống "bình't?
Cụ bảng rẽ ràng đáp:
- "Bình" là phải! Các bác cho "ưư' cũng khí quá đáng. Vả lại hắn còn ít tuổi, phải cần mài đũa cái tính hiếu thắng. Nếu như kỳ nào cung "ưư', e đằng hắn sẽ coi mình là thánh là trạng, không chịu học hành, ấy là có hại cho hắn.
Rồi cụ trông xuống đám học trò ngồi cạnh - Trưa lắm rồi, ai lên đem quyển xuống đọc đi chứ!
Khắc Mẫn lễ phép đứng lên và tiến đến trước án thư. Cụ nghè Quỳnh Lâm đưa cho thầy cuốn văn của Đào Vân Hạc và dặn:
- đọc quyển này trước!
Khắc Mẫn lĩnh quyển văn đi xuống chỗ cũ. Mài mực, tẩm một ngòi bút thật đẫm. Một tay cầm bút, một tay. cầm quyển, thầy bắt đầu đọc bài chiếu trước. Tất. cả họe trò đều giở một tập giấy bán đặt lên đầu gối. Tai nghe văn, tay thì viết lla viết lia.
Văn đọc đến đâu, họ phải cố viết cho kịp đến đây.
Chữ thảo một lối lòi tói như sợi xích chót / Với một giọng vừa kêu vừa trong, Khắc Mẫn đọc rất dại dễ, gãy gọn, từ đoạn nọ đến đoạn kia, mạch lạc cực kỳ phân minh. Nhất là những lúc lên giọng, xuống giọng, tiếng thày càng réo rắt dịp dàng, khiến cho câu văn càng nổi.
Cái nhà chứa gần ba trăm con người lúc ấy có 68 vẻ nghiêm tĩnh của một tòa cổ miếu. Ngoài tiếng bình vàn chua Khắc Mẫn và tiếng khen hay của các kháo quan, co hồ không còn có gì khác nữa.
loét bài chiếu đọc đến bài biểu. Mở đầu hai' câu 'phục ~l", (ụ cứ Liên Trì và cụ nghè Quỷnh Lâm li I ít gluc điếm, giục khuyên. Khắc Mẫn miệng đọc tay chàm: mắt thì nhìn vào quyển văn, cuống ~l~lít như n~l~r~l phường trò vừa hát vừa phải đánh tiếng gò mó.
Đọc xong quyển của Vân. Hạc, cụ bảng lại bảo tạm nghl~ đ~ các học trò uổng nước và hút thuốc lào Nhưng người viết chậm, tranh nhau mượn quyên Văn I~l~c để họ chép lại những đoạn lúc nãy phải bỏ cách quãng vì viết không kịp. Như quên cả sự oi bức, nbollời ta xúm nhau đến hơn chục người ngó vào quyên văn.
Cụ Ilghè Quỳnh Lâm sai người lấy chiếc ghế đẩu bắc Ơû bên cạnh, gọi Vân Hạc cho ngồi Ơû đó, tự mình róc một chén nước trao cho Vân I~ạc, và cụ tấm tắc khen ngợi:
- Văn cậu khá lắm! ĐỖ đến nơi rồi. Cậu phải cố đi, khoa hương n~ì~ hã~ lấy cho bác cái thủ'khoa, rồi hội sau thì lấy cho bác cái đình nguyên nữa. Tiền trình của cạu có co tiễn d~l, bác lấy làm mừng!
\ràn Hạc chỉ lễ phép đón lấy chén nước, không dám tr~ lời, vì chàng không biết trả lời thế nào.
Cụ nghè quay mặt sang phía cụ bảng và thêm:
May được người con nôi nghiệp, bác cống Đào Nguyên tuy mật cũng như còn sống.
Cụ báng ~lgần ngừ lắc đầu:
Tôi chưn dám chác như vậy. Là vì văn chương của hắn tuy có lỗi lạc, nhưng vẫn không khỏi có chỗ cầu kỳ sính tài, lại thường vượt ra ngoài qui củ Nếu ~7ặp quan trường thì hắn 'có thê đỗ cao.
Nhưng nêu không gặp, tất nhiên sẽ bị hỏng tuột; Bao giờ hắn chìa được cái tật ấy, thì mới có thể chắc được!
Rồi cụ gọi các học trò và hỏi:
- Các anh nghe quyển Vân Hạc thế nào? CÓ thấy cái bệnh gì không?
Hết thảy im lặng, không có ai đáp. Cụ tiếp:
Văn chương anh ta tuy cũng khá/ đấy, nhưng phải cái tật rất lớn là có nhiều đoạn rắc rối, bướng bỉnh, không chịu theo đúng khuôn phép. ĐÓ là một điều tối kỵ trong các lối văn cử nghiệp, nhất là thể văn tứ lục.
Cụ cử Liên Trì nói xen:
Phải! Văn chương cầu thị bất cầu kỳ, nếu quá cầu kỳ tất nhiên không lợi trường ốc. Bởi vì, trong lúc quan trường chấm văn, người ta chấm như ăn cướp, một khắc phải chấm đến mấy chục quyển, còn thì giở đâu mà nghĩ n~ơấm nghĩ nghía cho mình? Thói thưởng hễ mà dâu "sơ!' đã chấm thế nào, ấy là dấu "phúc", dấu ~ơiám" lại chấm thế ấy, nếu như mình đặt một câu câu kỳ, hoặc là ý nghĩa quá ư sâu xa, mà trong lúc vội vàng, ông sơ khảo không kịp hiểu hết, ông ấy sổ cho vài chiếc và phê cho một chữ "liệt'!, thì rồi những ông phúc khảo, giám khảo cũng lại sổ theo, và cũng phê cho vài chữ "liệt" nữa. Cái quyển đã đến ba "liệt!', ông phân khảo khó lòng mà giám phê "bình" phê "ưư'.
Thế là hỏng oan chứ gì.
70 ~ Cụ nghè Quỳnh Lâm nối lời:
ấy, Cụ Nguyễn Công Hoàn ngày xưa suốt đời thi hỏng cũng chỉ vì có tật ấy.
Hồi cụ quay ra hỏi các học trò:
Các thầy đã nghe chuyện cha con cụ Nguyễn dành nhau về một câu tứ lục hay chưa?
~TAø không đợi học trò trả lời, cụ kể:
Cụ Nguyễn Công Hoàn là bậc danh sĩ đời Lê, ~ấn hay, học rất uẩn súc, chỉ phải cái tật đặt cậu cầu kỳ, thành ra thi mãi không đô. ông Nguyễn Công Lân là con, sức học tuy còn kém cụ rất xa, nhưng mà văn chương hoạt bát, ngoài hai mươi tuổi đã đỗ hương cống, rồi lại đỗ luôn tiến sĩ. Khoa ấy, tôi không nhớ là khoa nào, ông Lân đã làm chủ khảo, Cụ Nguyễn vẫn còn cắp quyển đi thi, và cung lại hỏng như trước...
Nói đến đấy, cụ nghè ngửng lại, để uống hớp nước nhấp giọng, rồi tiếp: .
Thế rồi đến khi việc trường đã xong, ông Lân về nhà thăm. cha. Đầu tiên, cụ Nguyễn hỏi ngay:
~khoa~ảy có được quyển nào khá không("'. ông con ngay' thật thưa r.ằng: "Có một quyển khá, chỉ vì phải câu tứ lục thất niêm., không thể lấy đỗ". Cụ Nguyễn 1 ền gặng. "Câu tứ' túe ấy thế nào? CÓ nhớ không?" ông con thưa rằng có nhớ và đọc như vầy:
lưu hành chi hóa tự tây đông, nam bắc vô tư bất phụ.
"Tạo tựu chi công tự Cảo Mân, Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng" .
"Rồi thì ông ấy lại tiếc ngậm ngùi mà rằng: nếu như câu dưới, họ đảo hai chữ "Cảo Mân" ra làm "Mân Cảo", cho đúng niêm luật, thì hai câu ấy ha.y biết chửng nào". Cụ Nguyễn không đợi cho con hết lời, vác gậy phang luôn chừng vài chục gậy. Và cụ nghiến răng n~rhiên lợi, chửi mắng tàn. nhẫn. Cụ bảo ôn~ơ con .dột nát như thế mà đi chấm trường, chôn sông biết bao nhiêu người...".
Cụ nghè lại nhìn học trò và hỏi:
Các thầy có biết tại sao cụ Nguyễn phải đánh một ông chủ khảo như vậy?
Học trò còn đương im lặng suy nghĩ, cụ nghè lại tự cắt nghĩa:
Thì ra hai câu tứ lục ấy chính của cụ Nguyễn, ý cụ đặt như thế này:
'Lưu hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc vô tư bất phục, !'Tạo tựu chi công tự Cảo, Mân Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng".
Học trò nghe rồi, ai nấy sung sướng như nghĩ ra một điều mới lạ. Cụ cử Liên Trì nói thêm:
Nếu như nghĩ một chút, chắc ai. cũng nhận thấy rằng: trong hai cấu đó, câu trên tất phải ngắt đến chứ "Tây", câu dưới tất phải ngắt đến chữ "Cảo" Chứ nếu chấm như kiểu ông Lân, một đằng ngắt đến chứ "Đông", một đằng ngắt đến chữ !,Mân" thì không có nghĩa gì cả. Bởi vì nhà Chu khởi Ơû phương Tây, đóng kẻ chợ Ơû đất Cảo, người ta chỉ có thể nói: "Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây, các phương Đông Nam Bắc đâu đâu cũng phục . cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, các xứ Mân Kỳ Phong đều cũng dấy theo!'. Chứ ai lại nói: "Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây phương Đông... cái công 72 đắp dựng gây từ xứ Cảo, xứ Mân?" Nhưng vì bốn chữ Tây Đông Nam Bắc và bốn chữ Cảo Mân Kỳ Phong đặt liên với nhau, trong lúc vòi vàng, câu trên người ta ngắt đến chữ Đông, thì câu dưới người ta cũng lại ngắt đến chữ Mân, như thế, phăng nhưng thất niêm mà còn vô nghĩa nữa chứ!
ấy đó là văn chương cầu kỳ có hại như vậy. Các thầy nên biết mà tránh.
Dứt mạnh hiểu dụ của cụ cử, mấy cậu nhỏ tuổi ngoan ngơ~n tiệp tuần chè tầu thứ hai.
Công việc bình văn lại sốt sắng đi theo thứ tự cua no.
Lần này cụ bảng cho đọc đến quyển của Bùi Đốc Cung, cái người trêu ghẹo Vân Hạc lúc nãy.
Văn của Đốc Cung tuy không suất sắc bằng của Vân Hạc, nhưng cũng vào bậc học cứng, lời 'tươi và kêu như chuông, các cụ sơ khảo, phúc khảo luôn phen 'được".
Gần trưa, tan cuộc bình văn.
Cụ bảng giở dần tập quyển còn lại trên án, gọi tên từng người học trò, quyển của người nào trao trả người ấy.
BỘ điệu khác nhau của từng người trong lúc lĩnh quyên như muốn tỏ cho kẻ ngoài biết sự hơn kém cua các học trò. CÓ ông hớn hở tươi cười với cái "thứ mác" con con. Cũng có ông vội vàng gấp. tư quyển văn và bỏ vào túi một cách vội vàng để giấu cho kín cái "liệt" hay cái "thứ cộc" Ơû mặt quyển.
Chồng quyền trên án phân phát đã hết, học trò lũ lượt cắp nón đi ra, để lại một mình Vân Hạc vì có lời dặn của cụ bảng phải đợi Ơû đó.
Mấy cậu nhỏ tuổi rón rén lấy chậu vẩy nước, quét cho sạch cát bụi và những bã điếu, tàn đóm trong năm gian nhà. Nhà trường dần trở lại quang cảnh thanh vắng như một nơi toàn thạch. Bao nhiêu ánh nắng đều bị ngăn lại trên đám lá um tùm của mấy cây nhãn và giàn thiên lý trước thềm, trong nhà lúc nào cũng mát rời rợi.
Sau nhà có tiếng lạch cạch.
Một mâm/đồ rượu ngất nghểu ngự trên đầu anh bếp tử tử tiến vào phản giữa.
Cụ bảng mời mấy ông bạn uống rượu và cho Vân Hạc bắc ghế ngồi hầu bên cạnh.
Cụ eử Liên trì quay lại mâm rượu và nói khôi hài:
- Hữu tửu thực tiên sinh soạn, hữu sự đệ tử phục kỳ lão.
Rồi cụ cầm luôn bầu rượu đưa cho Vân Hạc để chàng róc ra các chén. ' Các cụ cất chén khắp lượt. Vân Hạc vẫn rụt rè giữ lễ chưa dám uống. Cụ nghè Quỳnh Lâm nhất định bắt chàng phải uống. và cũng nói giọng khỏi hài.
,'Đương nhân bất nhượng ư sư". Cụ Khổng đã dạy như thế, cái đức "nhân" còn không nhường thầy, huống chi một vài chén rượu lại phải sợ thầy hay sao? Cậu cứ uống. Làm đấng tài trai, cân ljhải ngang tàng mới được, không nên e lệ như bọn con gái.
Cụ cử Liên Trì mỉm cười:
ấy, họ cũng chí làm gái Ơû trước mặt chúng mình đỏ thôi. Khi mà ngồi cạnh nhà trò, tôi chắc mép ấy phái hết hàng hũ.
Vân Hạc giã vờ cúi mặt để giấu cái bõ buồn cười 74 của mình. Rồi chàng xin phép các cụ và nhắc chén rượu nhấp một hớp nhỏ.
Cụ bang bắt đầu đem chuyện nhân duyên của chàng nói cho mấy cụ kia nghe và thêm:
Sở dĩ tôi phải ra công khuôn xếp việc này, cũng vì áy náy cái cảnh vợ chồng anh đồ Vân Trình vầ thương con bé cái Ngọc. Các bác có lẽ chưa rõ đâu đuôi. Con bé ấy trước kia đã nhận lấy Trần Đãng Long, về sau không hiểu vì sao bên này lại thôi không cưới. Thế rồi cái hôm nghè Lòng vinh qui, con Ngọc tình cờ đi qua, nó tiếc cái ngôi bà nghè đến nỗi ngất đi như đứa ngộ gió. Tôi đã chữa bệnh cho nó, phải dùng đến hơn mười thang "khai uất" mới khỏi. Nhưng khỏi là khỏi tạm thời mà thôi, nêu không lấy được người chồn~ơ vừa ý thì có ngày nó sẽ phát điên phát rồ. Vợ chông bác đồ Vân Trình chỉ được hai đứa . con gái, nó là lớn, nếu nó mà hỏng một đởi, thì cảnh già của ông bà ấy cũng đau đớrl lắm. Bởi Vậy, tôi phải tình nguyện đi làm mối chồng cho nó.
Cụ nghè, cụ cử tấm tắc khen là mối lương duyên và khuyên Vân Hạc nên mau mau lo việc cưới hỏi, không nên để chậm. .
Cụ bảng ngắt lời:
Cái đó đã Ơû tôi cả, không việc gì đến hắn.
Rồi cụ nhìn sang Vân Hạc:
~ Hôm qua thầy cũng cất công sang chơi ông Vân Trình nói về chuyên này. ông đồ, bà đồ đều bằng lòng. Công việc thê là song. Ngày mai anh phải vê quê thưa với bác cống và anh ca, anh hai...
Vân Hạc hết sức giữ cho vẻ mạt tự nhiên, chàng chỉ im lặng mà nghe và thỉnh thoảng điểm một tiếng dạ rất khẽ, chứ không nói đi nói lại.
Cụ bảng lại ngó mặt chàng:
- Nhưng phải gửi rê kia đấ~v. Vì bác đồ gái chê quê nhà anh Ơû xa quá, có y ngân ngừ không thuận, nên thầy phải hứa như thế.
Cụ nghè Quỳnh Lâm tạt ngang: _ - Thế thì cậu khóa sướng bằng vua Thuận mất rồi. Nhưng mà cháu có muốn học ông Thuận, chỉ nên học đến cái chỗ gửi rẻ ấy thôi, chớ có học hơn.
Để cho vợ chồng bác đồ Vân Trình kiếm lấy người rể nứa chứ.
Cả nhà cười ầm, làm cho Vân Hạc xấu hổ đỏ mặt.
Lâu lâu cụ bảng lại quay sang phía Vân Hạc:
- Còn một điều này, thầy phải nói trước để cho anh liệu: cái chí con Ngọc nó chỉ thích làm bà thám, bà bảng chứ không phải nó muôn làm cô khóa quèn. Vì thế, khi nó nói mê nói sảng, luôn ?
luôn tự .xưng mình là cô thám, cô bảng. Rồi khi vợ chồng lấy nhau, anh phải nghĩ vào chỗ đó, làm sao cho khỏi phụ lòng cháu tôi thì làm.
Cả nhà lại cùng cười vang.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Mọt Sách</b> -- <b>8.7.2004 18:15:13 </b> &gt;>
Ơø nhà ngoài, mấy bàn tài tổ tôm đã tan. HỌ mạc tới tấp giục nhau ai vào việc nấy. Đàn ông bắt nốt con lợn làm thịt. Đàn bà đi thắng đường, vo gạo, sắp sửa nấu chè thổi xôi. ông đồ bà đồ cũng đã trở dậy để sai bảo mấy cậu học trò đun nước quét nhà và nhờ mấy bà cụ già bổ cau têm trầu.
CÔ Ngọc vẫn còn núp Ơû trong buồng chưa ra.
I~ôm nay cô chỉ phân vân hồi hộp, chứ không sốt ruột như những hôm trước.
Trước kia, từ bữa ông đồ bà đồ chịu lời cụ bảng Tiên Kiều thuận gả cô cho Đào Vân Hạc, cô. đã tự thấy nhân duyên của mình cũng không đến nỗi hẩm hiu. Tuy rằng trước mặt chị em chúng bạn, cô vẫn chê Vân Hạc là cốc láo, là kiết xác mồng tơi, và có khi cao hứng, cô còn thề rằng nhất. định đi tu chứ không lấy chàng, và cũng không lấy người nào, nhưng thực ra,' với chàng, cô đã mãn nguyện vô hạnh Là vì trong con mắt cô, không có người nào hơn chàng, cả đến nghè Long cũng còn kém chàng rất xa.' ' Chàng rất đứng đắn nhưng không lù đù.
Chàng tát mình trai, nhưng không có tính bợm bãi.
Những lúc .cô ngồi bán hàng Ơû chợ Kim Bảng, thưởng cô hàng lũ học trò đi qua, phần nhiều họ đều ăn nói cl~n ô, hoặc là con mắt nhìn ngược nhìn xuôi chập chối như quạ đậu chuồng lợn, riêng có Vân Hạc lúc nào cũng giữ vẻ tự nhiên dù miệng chàng vẫn tươi như h~a, tiếng .nói của chàng vẫn có duyên và rất dễ nghe. Đáng để cho cô vùa lòng hơn nữa là cái tài hoa cua chàng. Tuy rằng cô chưa khi nào hỏi ai, nhưng danh tiếng chàng đã khét cả tỉnh Hà Nội, nó vẫn luôn luôn bay đến tai cô một cách vô tình.
CÔ biết văn chàng không ưu thì bình, không bao giở phải xuống bình thú. CÔ biết trong ba bốn trăm học trò cụ bảng Tiên Kiều, chàng là một người thứ nhất, không ai đè nổi. CÔ biết các ông bạn của cụ bảng Tiên Kiều đều phục chàng có tài thám, báng, sức học hơn hẳn nghè Long, tuy chàng đã ba khoa thi hương không đỗ. Tóm/ lại, người chàng, nết chàng, tài học của chàng, bấy nhiêu cái đã làm cho cô bôn chồn sung sướng mỗi khi nghĩ đến ngày mình làm vợ chàng. CÔ tin đời cô sẽ có một lần cũng như cộ Thúy, chẫm chệ ngồi trên chiếc võng mành mành cánh sáo, để hàng tổng hàng xã rước đi rước vê. CÔ lại tiếc rằng: ông thám, ông bảng vẫn chỉ lâ hàng tiến sĩ, dù chàng có đỗ thám hoa, bảng nhỡn, cô cũng không hơn cô Thúy bao nhiêu. .
Nhưng cũng có lúc tự cô lại thấy chán nản buồn bã. Là vì cô nhớ năm trước eo người thầy bói đoán rằng số cô ' trắc trở về đường nhân duyên, quả nhiên sau đó đã xảy ra việc bên nhà nghè Long bỏ cô không cưới. Bây giờ cái việc cô với Vân Hạc mới là lởi của cụ bảng nói với ông đồ bà đồ, chưa đâu vào đâu, khắc đâu sau này lại. không có kẻ bàn ra nói vào... Song cô cũng chưa đến nỗi thất vọng. Bởi vì cô chắc cụ bảng Tiên Kiều là bậc người lớn, cụ đã nói sao, phải đúng như vậy, không khi nào có chuyện trẻ con như vợ chồng ông đồ Văn Khoa.
Tuy rằng những khi đi chợ tình cờ giáp mặt Vân Hạc, cô thường giả vờ nhìn đi đằng khác, như không để ý đến chàng, nhưng mà trong lúc bước chân ra đi, cô lại mong được gặp chàng đê thử ngắm lại dáng bộ chàng bây giờ ra sao. Tuy rằng nhưng lúc ngôi với chị em chúng bạn, bị họ đem Vân Hạc ra làm đầu đề chế cô, giễu cô, cô vẫn xấu hố đỏ mặt, có lần đã phải phát cáu với họ nhưng mà chính cô lại muốn được họ chế mình, giễu mình như thế, và nề.u không thế, thì câu chuyện của họ sẽ không được cô để vào lỗ tai. Cái phút hồi . hộp thứ nhất của cô hồi ấy là bữa cô vừa Ơû chợ về, bà đồ bảo cho cô biết cụ bảng Tiên Kiều đã xin ấn định ngày đi trầu cau. Bấy giờ cô không có can đảm để hỏi "thầy mẹ đã nhận lời chưa", nhưng cô chỉ mong được nghe bà đồ nói rằng: "Ta đã nhận lời rồi đấy". Thế rồi tứ lúc ăn hỏi, xin cưới mà đi, sự bồn chồn Ơû trong bụng cô lại cứ mỗi ngày mỗi tiến. Với cô lúc ấy, một ngày tức là một năm. Cái thời gian tử cuối tháng sáu đến đầu tháng tám, chỉ có hơn ba chục ngày, nhưng Ơû cô nó đã dài như ba chục năm. .Hàng ngày óc cô luôn luôn phải làm tính trì, hết một ngày thì cô rút đi một ngày, hết hai ngày thì cô rút đi hai ngày, nhưng cái chuỗi ngày chưa tới vẫn như không ngắn chút nào.
Những đêm mưa ngâu rả rích, giọt mưa lách tách rơi xuống đầu thềm, và những buổi chiều gió thu hiu hắt thổi quanh nhà, bóng tà man mác in trên lá cây đều là những cái thì khắc khó chịu cho cô hơn hết.
Bây giờ những ngày sốt ruột ấy nó đã như nước chảy chậm, dần dần tiêu hết đi rồi. Cái giờ mà cô chờ đợi, đương sắp ~ứa tới. Chỉ một lúc nữa thì đến giờ ngọ, họ nhà trai sẽ sang đón dâu. Từ trưa hôm qua mà đi người cô lúc nào cũng thấy rạo rực, nhất là những lúc nghe tiếng bà con làm giúp, thi nhau gọi mình là cô dâu.
Không phải cô thẹn vê sự trêu cợt của họ. Hơn một tháng nay, người ta đùa cô, chế cô đã nhiều, cô ca ỉu quen rồi. Lúc này, trước sự ỡm Ơø của mọi người, cô đã thừa đủ can đảm để mà đâm ỳ ra đó.
Vậy mà không biết làm sao hai tiếng cô dâu lại có sức mạnh mầu nhiệm, mỗi khi lọt vào tai cô.
(B! kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thllộc) Cả đêm hôm qua, cô chỉ ngủ đi nửa giờ. Nhiều lúc cô đã cố nằm nhắm mắt, nhưng không thế ngủ được những tiếng đi lại huỳnh huỵch và nhưng tiếng nói chuyện xôn xao của một đình đám linh đình bắt cô phải để tất cả tâm trí vào cảnh tượng đêm mai. Trong phút này, cái tiếng đêm mai đã phải đổ ra đêm nay, óc cô vẫn cứ bộn rộn vê cảnh tượng đó "Đúng trưa mới bắt đầu Ơû đây ra đi, nhanh lắm cũng phải đến nhá nhem mới tới Đào Nguyên. Thế thì cuộc lễ tơ hồng sẽ vào ban tối". CÔ tính như thế, và cô cho rằng như thế càng hay, vì lễ tơ hồng ban tối, sẽ khỏi trơ trẽn như các đám khác làm lê ban ngày. CÔ lại tiếc tử trước đến giờ mình không để ý đến các đám cưới của người trong họ. Không rõ trong lúc ngồi với chú rể mà ăn mâm co chúng ông tơ hồng, cô dâu có phải uống rượu hay không?
Nếu có thì uống mấy chén? Và cô cân nhác đến tiếng xưng hô của mình phải dùng trong cái phút ấy không biết khi thoạt giáp mặt Vân Hạc, mình nên gọi 'tanh chàng ta" là gì, bằng mình hay bằng anh? Rồi cô nghĩ luôn đến những 'cử chỉ, lễ độ và những câu chuyện sẽ nói trong khi vợ chồng bắt ~O đầu ngồi đối với nhau. CÔ không hiểu rằng cái lúc hãy còn ăn uống, mình nên tha~v bộ áo ngoài, hay cứ nặc nguyên như trước. Thể rồi hai má thấy nóng lỏi hổi.
(Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thllộc~ Tiếng kêu giật giọng của con lợn đương bị chọc tiết, chói lói thúc vào lỗ tai, làm cô phải dứt hẳn mạch tư tưởng.
Một người chị họ đi qua cửa buồng, vừa cười vừa nói the thé:
Gớm cllứa! CÔ dâu bây giờ vẫn chưa thèm dậy.
Ngủ gì mà ngủ kỹ thế.
(Bị ~l'ém duyệt bỏ hồi Pháp thllộc) CÔ chưa nói sao, người ấy mở mành nhòm vào buồng và giục:
- Thôi đi. Ngủ độ bấy nhiêu cũng đủ. Dậy đi thôi. Mặt trời đã xỏ vào mắt kia kìa. Dậy xem gạo để đâu đong 'cho chúng tôi nấu. cơm.
CÔ liền trả lời bằng giọng cố thây:
Em còn định ngủ thẳng đến trưa, nhưng chị đã nói thì em xin thôi.
Rồi cô oằn oại ngồi dậy.
Trái với thưởng lệ mỗi ngày, hôm nay cô không chải đầu không soi gương, chỉ quấn lại qua loa cái vành khàn vân, rồi cô bạo dạn mở cửa bước ra.
Mấy người em họ đua nhau chế giễu:
- Thưa clli đã dậy ạ!
~ Sao chị không cố ngủ thêm lúc nứa?
CÔ mỉm cười và vẫn bây bả:
Công việc đã có các dì làm hộ. Tôi cần phải ngủ để lấy lưng cho đêm nay chứ! Nhưng mà còn đời các dì nữa đấy. Chỉ sợ sau này các dì lại té bằng hai tôi thôi.
Đủng đỉnh ra bể, cô toan múc nước rửa mặt.
Không. biết bụng cô nghĩ ngợi ra sao, thau nước múc rồi lại bỏ không rửa. Lững. thừng cô xuồng nhà bếp và ngồi thụt vào đám mây người con gái.
Nhà trên, nhà dưới, công việc dao thớt vẫn được tiến hành một cánh tấp nập.
Mặt trời lên khỏi ngọn cây, một loạt độ vài chục mâm vữa xong. Sau khi cái sỏ lợn đã đệ ra đình nộp cheo, và mấy mâm thịnh soạn đã bưng đi cúng nhà thờ, họ mạc rộn rã bảo nhau ăn uống, đê một lát nữa còn phải làm cỗ thết họ nhà trai.
CÔ cũng ghé vào với các chị em, ăn lếu ấn láo một vài lưng cơm. Rồi lại lẩn vào trong đám đàn bà con gái, ngồi dụi, ngồi dò lúc tựa vào lưng người này, lúc gục vào vai người kia, đê giấu cho kín cái vẻ khác thường trên mặt.
Gần trưa, một cậu học trò bé con lúc nãy bỉ cắt ra mòng Ơû nẻo đầu làng,. tất tả chạy về nói với ~ng đồ là họ nhà trai đã đến. Quang cảnh trong nhà mới càng túi bụi.
Người ta thúc mấy cậu này .quạt nỏ hoả lò cho nước chóng sôi. Người ta sai mây cậu ~ia lấy chiếc phất trần phẩy qua dãy chiếu cạp điều cho sịch cát bụi. Người ta bắt hai cô con gái bưng hai (lúa trầu ra tận ngã ba đón họ nhà .trai.
cô Ngọc vẫn cố ngồi lý dưới bếp để làm ra bộ thạo dạn.
Một lát sau, ngoài cổng nghe có tiếng người ồn ào tiếp luôn đến tiếng trẻ con cười reo:
- Chú rể đã đến!
Mảy cô con gái lở tờ kéo ra nạp sau tường hoa cạnh cổng, đế chờ xem mặt chú rể.
Bấy giờ cô mới lật đật chạy vội lên buông. lúc ấy mọi người đổ xô cả ra phía cổng, Ơû chỗ cửa buồng không có người nào, cô bèn khép cánh cửa lại rồi đứng sau cửa nhìn ra.
Đám con nít xúm xít Ơû phía sau cổng, tự nhiên giạt ra hai bên, rồi cùng chắp tay vái như bổ củi:
~ Lạy cụ ạ!
- IJẠy cụ ạ?
Với một bó hương nghi ngút cầm tay, cụ bảng Tiên Kiều xúng xính khoác áo thụng lam đi trước, rồi đến cụ cử Liên Trì. Rồi đến mấy ông cụ già.
Rồi đến mấy 'bà cụ già. Rồi đến một toán con gái.
Rồi đến một bọn con trai. Rồi đến một lu bưng tráp xách điếu, với mấy người phu khiêng võng.
CÔ Ngọc chăm chăm nhìn không chớp mắt, chủ ý chí định coi thử Vân Hạc ăn mặc có lịch sự không.
Nhưng chàng đứng lấp vào đoàn nón dứa lố nhố, cô không thê trông được rõ.
Thình lình một tiếng pháo nổ. Cả bọn nhà trai ùn lại khu giữa sân. Rồi đó những tiếng đì đùng tiếp nhau đi một hồi dài. Xác pháo bắn ra tứ tung, khói bốc đen ngòm, mùi thuốc pháo đưa vào 'trong nhà khét lẹt. Khi ấy mặt cô càng nóng, bụng cô càng thấy nôn nao, cô phải lẻn vào trong giường, ngôi im.
HỌ nhà trai lục tục tiến lên nhà trên. Cụ nghè Quỳnh Lâm, cụ cử Mai Đình và các ông bạn của .ông đồ Ơù bên nhà học vừa sang. ' Các cụ vái nhau một lượt, rồi cụ cử Mai Đình nhìn vào cụ bảng Tiên Kiều, cụ cử Liên Trì mà nói:
- Té ra chúng ta hôm nay chia làm hai cánh.
Các bác ăn về cánh nhà trai, chúng tôi thì ăn vê cánh nhà gái. Cụ cử Liên Trì mỉm cười:
Phải Tôi cũng biết các anh ăn về bên chắc. Cụ cử Mai Đình cũng cười và tiệp:
- Chứ ai có dại mà đi ăn về bên lép như các ngài.
Cụ bảng Tiên Kiều nói chen: ~ - Tôi can các anh đứng bẻ tay bụt llgày Tărn. CỖ bàn có thiếu gì giò nem!...
Một trận cười rộ kết liễu cho cuộc bông đùa, quan viên hai họ chen nhau ngồi vào các ghế.
Tuồn trà đầu tiên đã đoạn. Cụ ' bảng nó'í với quan họ nhà gái cho người đưa rể đi lễ mâ~7 nơi cần lễ.
Một cậu phòng của nhà trai mở tráp lấy chiếc áo tấc trao cho Vân Hạc.
Mấy chục cặp mắt trong đám đồng thời đ~ xô vào chàng rể mới.
Vân Hạc tuy đã trơ trẽn, nhưng cũng không khỏi xấu l~ổ khi phải khoác tấm áo lùng thùng vào mình đe đi với bọn phù rể theo người nhà gái dế ri đường đến mấy nhà thờ.
Những (-ô con gái rõ mặt chú rể thi nhau bàn tán bình phẩm; kẻ chê chú rể xấc lấc, người khen 84 chú rể giỏi trai.
Bà đô tung tăng chạy lên chạy xuống, dòng dả chị em bè bạn cô Ngọc sắp sửa quần áo để đi đưa dâu. ' Một lát sau, chú rể lại về với bọn phù rể.
Bà cống lễ phép đứng dậy nói với cụ bảng xin mời ông đô bà đồ ngồi lên cho chú rể làm lễ. Cả hai ông bà nhất đính không nhận. Bà cống nhất định chèo kéo. Một bên cố nài, một. bên cố chối, . câu . chuyện giằng co một hồi. lâu. Kết cục cuộc ấp tốn phải nhường chỗ cho mấy mâm cỗ và mấy nai rượu.
Sau khi đã thay phiên nhau mời chào quan viên hai họ vào tiệc, ông đô lánh sang nhà họe, bà đồ cũng đi giục giã mấy người làm giúp bưng mâm để những ông, bà, cô, cậu phải đi đưa dâu uống rượu; rồi bà vào báo cô Ngọc cùng ngồi với các chị em ăn cơm luôn thể.
Bóng nắng chấm giọt, nhà trong nhà ngoải ăn uống đêu xong.
Cụ bảng sai người đi mời ông đồ bà đồ tới đó để xin đón dâu Những người vào việc võng cáng điêu tráp tấp nập sắp sứa đồ đạc. Mấy bà cụ già trong họ cùng giục cô Ngọc đứng lên thay đổi quần áo.
Nhưng cô bây giờ tự nhiên lại thấy bẽn .lẽn xấu hổ, nấn ná cô cứ ngồi ỳ với bọn chị em. Mấy bà cụ già nóng ruột, thúc dục đến bốn năm lần, bấy giờ cô m(íi liều tình đứng dậy ra sân. Sau khi đã múc chậu nước lau qua mặt mũi, cô vào trong .buông, mớ rương lây gói quần mới, áo mới, và chiếc quai thao mới, ~bó cả ra giường. Rồi cô lật chiếu đâu giường cầm ìấv chiếc gương Tư mã, nhưng lại ra bộ 85 ngượng ngùng nửa muốn soi, nửa không muôn soi.
Những người bạn gái xúm lại, ~é xổ khăn, người chải đầu, người rẽ đường ngôi, rồi người lấy chiếc khăn nhiễu tam giang của cô mới mua; nắn nót vấn vào cho cô. Mặc họ vần mình như vần dưa, cô không nói năng gì cả.
Ngoài sân lạch tạch một trọng pháo nổ. Quan họ nhà trai đã tan một tuân trầu nước cuối cùng. Bà cống Đào Nguyên, cụ bảng Tiên Kiều có lời cáo từ.
Rồi thì mọi người rục rịch đứng dậy vái chào ông đồ bà đồ và bước xuống sân. Cụ nghè Quỷnh Lâm, cụ cử Mai Đình và mấy ông già bà già dự cuộc đưa dâu, cùng đi luôn với họ nhà trai ra cổng.
CÔ Ngọc vẫn còn lúng túng trong buồng, chưa chịu thay' đổi quần áo.
Mấy bà nhiều tuổi trong họ phát cáu:
- Không phải là việc trẻ con mà cứ làm nũng! Thế nào gọi là ngày lành tháng tốt? Một năm mới được một ngày. Một ngà~v mới được một .giờ. Liệu mà sắm sửa mau lên, sắp hết giờ ngọ rồi đấy. Nếu đi lúc nào cũng được thì ai còn xem giờ làm gì?
CÔ Ngọc đỏ bừng hai má và trả lời bằng giọng buồn rầu:
- Các bà mắng cháu oan quá. Nào cháu có làm nũng đâu! Nhưng mà ...
CÔ không nói nữa và đứng phắt dậy, cởi hết cả lớp quần áo đương mặc, để thay một lượt áo mới váv mới. Rồi cô khẽ nâng chiếc gương Tư mã ngắm lại dung nhan của mình, cái tuổi xuân đương dậy thì, thêm có tơ lụa trang điểm, cố nhiên vẻ yêu kiều phải rực rỡ hơn ngày thường. CÔ 'cố giữ nguyên s~íc mặt cho khỏi tươi cười, đế giàu kín cái hớn hớ của sư đắc v.
Cllị em thi nhau nói giễu: .
~ẹp rồi! Đáng là cô thám, cô báng lắm rồi.
I.h~l đi đi chứ. Đêm có khuya ngày có rạng!
( Oâ không trả lời. Ngó ra cửa buồng cô bảo Bích lấ~ chiếc chiếu trái ra giữa thềm. Rồi mới ông đồ lj~ .đỏ ngồi trên phản, cô rón rén bước . vào trong ciỉlếu sụp xuống lạy cha lạy mẹ mỗi người một lạy.
ông đô vân thản nhiên như thưởng. .Nhưng bà đồ coi bộ rất là cảm động, nước mắt dấp dính trong hai khóe mắt. Sẽ lau nước mắt, bà gượng làm bộ vui ve:
- Thôi con đi đi? Kẻo nữa hai họ chờ đợi, Mẹ đã nói với cu báng, bà cống rồi đấy. Ngày mai cơm nước.
xong rồi, vợ chồng lại cùng về đây với thầy mẹ.
CÔ Ngọc cũng rưng rưng hai hàng nước mắt. Uể oái xỏ chân vào đôi dép cong, rồi cô thơ thẩn đứng dậy, toan qua.v vào buồng. Mấy cô phù dâu đứng đợi đã lâu, có ý nóng ruột, họ liền lấy chiếc nón thúng quai thao trao tay cho cô và giục:
~ Đi đi! Chùng chình mãi! Chị bắt anh ấy chờ dện bao giờ?
đlèm nhiên, cô đặt chiếc nón lên đầu và buồn bã bước chân xuống thềm, rồi đi lẫn vào giữa đám con gái đó~ Cái nón chênh chếch chúc về phía trước, hết sức giàu kín đôi má hồng hồng của cô, cái má đang bị nóng hổi ve sự rạo rực trong tim phổi.
Ngoài lường quan viên hai họ vẫn thúng thẳng vừa di vừa ~lợi~ ~a khói cồng làng, dâu rể và các ông già, bà già 87 lần lượt lên võng. Những cô con gái và những cậu con trai răm rắp đi bộ theo sau.
Nắng tây gay gắt rọi xuống đồng lúa xanh non, như muốn thúc đám cưới đi cho rảo bước. .
Ngồi trên võng, nhìn lên những người đi trước, cô sực nhớ đến câu chuyện mà mình bói được độ nọ:
',Vội vàng sắm sửa lễ công.
"Kiệu hoa đón gió, đuốc hồng ruổi sao.
Bài hàng cổ vũ xôn xao.
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi '.
CÔ mỉm cười và tự hói mình: có lẽ bốn câu âs ứng vào cái việc hôm nay đây rồi. Rồi cô luôn/nghĩ bốn câu nữa mà cô cũn~ơ bói được trong hôm ấy và cô tự hỏi: không hiểu bôn câu này là ý làm sao?


VII

ánh nắng nhạt của trời tháng chín đã phá tan lớp sương mù bắt đầu in xuống mặt đất. Cánh đồng lúa chín tưng bừng biến thành làn biển sắc vàng.
Hơi sương đọng lại ban đêm còn đâm đìa trên lá cây và lóng lánh trên ngọn cỏ.
Dáng bộ vui vẻ của một người đương được hả dạ, cô Ngọc - bây giờ eo thể gọi là cô khóa Hạc - tung tăng đi trên bở đê với chiếc thúng nhói cắp dưới sườn. Chốc chốc cô lại quay đâu vê phía cổng làng để ngó xem chồng ra chưa.
Nhưng mà chàng vẫn chưa ra.
Thủng thẳng bước một, cô dạo tới một gốc cây đa ven đê. Và lật chiếc nón khua sơn nhôi bạc đặt ngửa 88 xuống một đám cỏ, cô để cái thúng lên trên. Rồi vén váy áo cho khỏi lòa xòa, cô vào một đoạn rễ đ~cạnh đó và giở thúng lấy kim chỉ và miếng mụn nhiễu, cô vừa khâu túi vừa đợi chồng. ' Sau cái đêm đuốc hoa phòng động, cô về quê chồng lân này là h~i.
Bởi vì từ khi xong lễ lại mặt, Vân Hạc đâ cho người sang nhà trọ dọn hết sách vở' đồ đạc sang nhà ông đô Vân Trình, để cùng cô hưởng cuộn đoàn viên, cho nên cô dù đã đi lấy chồng, nhưng vẫn được Ơû nhà với cha với mẹ.
Vợ chồng ông đồ cũng muốn cho cô trọn đạo làm dâu. Cho nên cách đó ít bữa, ông bà lại bắt Vân Hạc đưa cô về làng Đào Nguyên để thăm bà cống và đi chào các ông chú bà bác trong họ.
CÔ Ơû nhà chồng chỉ có hai đêm một ngày, thì bà cống Đào Nguyên giục cả vợ lẫn chồng phải sang Vân Trình. Là vì năm đó, hương thi có kỳ ân khoa, bà sợ con trai nấn ná Ơû nhà, hoặc giả lại sao nhãng về việc đèn sách. Chiều ý mẹ Vân Hạc phải đi ngay. .
Năm gian nhà khách của ông đồ Vân Trình lúc ấy đã thành ra giang sơn riêng của vợ chồng cô.
Với cái giang sơn ấy, đời cô hơn một tháng nay, có thể nói là đây nhưng thi vị. N~ơày thì đi chợ bán hàng, tối về cô lại dệt cửi._ Buông cửi của cô đối nhau với buồng học của Vân Hạc. Những lúc đêm khuya nhà vắng, bóng trăng vằng vặc rọi trước thềm, chàng học, cô thì dệt vải, tiếng đọc sách giòn giã xen với những nhịp đều /đặn của tiếng ác kêu, khiến cô luôn luôn cảm thấy cái sung sướng êm đềm của đời tuổi trẻ vô 10 vô lự.
Nhưng mà ehí cô không phải có thế, cô còn muốn được hơn nữa.
Bây giờ kỳ thi sắp tới. Chỉ còn cách năm ngày nữa, chàng phải trẩy trường. Vì vậy ông bà đồ bảo chứng và cô phải về Đào Nguyên để sửa lễ thờ.
Vân Hạc tuy vẫn không thích việc đó, nhưng vì chiều lòng ông nhạc, bà nhạc, chàng cũng không muốn tứ chối.
Sáng nay cô và chàng ăn cơm sớm hơn mọi ngày.
Đáng lẽ hai người cùng đi một lúc, nhưng vì vợ chồng mới cưới cô vẫn chưa hết cái tính xấu hổ, sợ rằng đi đôi với chồng lại bị chị em chê cười. Cho nên cô mới dặn chàng đi sau để mình đi trước, ra khỏi cổng làng cô sẽ vừa đi vừa đợi.
Dưới bóng rợp mát của cây đa, mắt cô tuy nhìn vào mũi chỉ đường kim, nhưng bụng cô vẫn để cả vào lời người thầy bói mà cô bói trong phiên chợ trước:
'!Người ta vẫn đồn lão thầy bói đó đoán quẻ hay lắm. Hắn bảo tháng này mình có tin mừng, chắt anh chàng ta thế nào cũng đỗ. Vả lại cụ bảng Tiên Kiều, cu nghè Quỳnh Lâm và nhiều cụ khác đều nói quyệt rằng anh ta phải đỗ kia mà. Nhưng, anh ta đỗ ngay, mình cũng không thích. Vợ chống lấy nhau mới già một tháng, mà chồng đã đỗ, thiên hạ sẽ bảo mình không có công nuôi chồng đi học ngày nào. ước gì anh ta hỏng vài khoa nữa, rồi sau hãy đỗ để mình nuôi hắn cho thiên hạ biết tay". Nhưng rồi cô lại gạt đi mà rằng: "Sao mình nghĩ dại dột như thế? Gì thì gì, chứ chồng đỗ sớm vẫn có sướng hơn. Thi hương đã vậy, lại còn thi hội. Nếu khi mình đã con bận con mọn, vác đôi vú Oä ệ mà lên ngồi võng vinh qui, có lẽ không thú gì nữa".
90 Cái túi khâu đã gần xong, vẫn chưa thấy bóng Vân Hạc. CÔ toan đứng dậy trở về, thì trong cổng làng một chiếc nón dứa vừa nhô ra dưới bóng nắng.
Nhìn cái dáng điệu nhanh nhảu và ~thẹ nhàng của người đội nón, cô nhận đích là chồng mình, tức thì cô lại ngồi xuống để khâu cho xong cái túi.
bóng nắng lan đến gốc đa.
Trận gió hiu hiu thổi qua đồng lúa.
Những bông lúa chín lướt theo chiều gió cồn cộn như một lớp sóng vàng.
Tiếng hát đưa liềm của mấy cô thợ ~ơặt thi nhau lên bổng xuống chìm, réo rắt trong cánh đông bát ngát.
Trước cảnh tượng bao la man mác, cô dừng mũi kim, mơ màng nhìn ra đám chân trời xa xa.
~ Làm gì mà thơ thẩn vậy?
Tiếng hỏi thình lình dội vào bên tai, khiến cô giật mình quay lại. Vân Hạc đã sừng sững đứng Ơû đằng sau với một nụ cười. Chàng tiếp:
- Đợi lâu thế hẳn nóng ruột lắm đấy nhỉ?
CÔ cũng mỉm cười và đáp:
Không nóng ruột. Chỉ tính quay về đấy thôi.
Trang điểm những gì mà Ơû nhà bây giở mới đi?
Vừa nói, cô vừa thu xếp cái thúng, rồi cô uốn vai, vặn mình, uể oải đứng dậy.
Vợ chồng liền sánh vai nhau vtìa đi vừa nói những chuyện tầm phơ. Con đường tuy xa, nhưng chàng vẫn luôn đi về , cô thì hàng ri.gảy đi chợ đã quen, cho nên ai nấy cũng không thây mỏi lâm.
Mặt trời ~ gần đến đỉnh đầu, cổng làng Đào Nguyên lù lù hiện ra Ơû trước mặt. CÔ toan lùi lại để chồng vào trước. Nhưng chàng bảo cô cứ việc cùng đi, không phải e lệ gì cả.
Hai người mới nhô đầu vào cổng nhà, lũ cháu thi nhau cười reo: ' - ấy a, chú tư, thím tư đã về!
Rồi chúng đua nhau lạy chú, lạy thím và chúng xúm xít xung quanh, đứa này nắm tay, đứa kia níu lấy vạt áo của thím. Xoa đầu chúng nó khắp lượt, cô và chàng vui vẻ đi vào trước thềm. Bà cống đang Ơû trong nhà mừng rỡ bước ra. CÔ và chàng cùng cung kính chào. Bà cống tươi cười:
Ưø các con đã về đấy ư? Đẻ đang có ~r mong đợi.
Nếu như hôm nay chúng bay không vê, thì có lẽ ngày mai đẻ phải cho người đi gọi.
Vân Hạc sửng sốt :
Thưa đẻ có việc gì ạ?
Bà cống vội đáp:
Không! CÓ việc gì đâu. Vợ chồng hãy vào trong nhà mà nghỉ. Đi đường lúc nắng có mệt lắm không CÔ Ngọc lễ phép:
Thưa đẻ, cũng không nắng lắm. Vì Ơû trên đường có gió luôn luôn.
Rồi cô.nhẹ nhàng lên thềm và sai một đứa cháu lớn đi xuống.nhà dưới lấy cho cái ớ a. Sau khi đã giở thúng lấy mấy chiếc bánh cốm bày lên trên ớ a, bưng đến trước chỗ bà cống, mời bà xơi nước, cô đem gói kẹo phân phát cho lũ trẻ con. Mấy người chị dâu nghe tiếng vợ chồng chú tư đã về, ai nấy đon đả chạy lên chào hỏi. Trong nhà vui như ngày tết.
~ Hết một lượt chuyện hàn huyên, Vân Hạc đứng dây tung tăng vừa đi bách bộ trong nhà vừa hỏi mấ~ người chị dâu: ' Anh cả đi đâu không thấy? Anh hai, anh tú độ này có về nhà không? ' . ' Bà cống đón lời:
- Bác cá sang chơi bên Bắc, mới đi sáng nay.
Còn anh hai và anh tú thì hơn tháng na~v, không về đến nhà. I~ôm qua hai anh có nhắn về rằng : hễ con có về, thì con cứ việc sửa lễ ra thờ. Từ nay đến hôm trây trường, các anh ấy không về nữa. Vì thế, đẻ cứ mong ngóng vợ chồng nhà mày. ' Con cũng đã toan không về. Nhưng vì mẹ con bên kia giục mãi, con cũng ne~òng, nên phải nghe lời Lễ ~nãi, khoa nào cũng lễ, hỏng vẫn hoàn hỏng.
Quỷ thần có giúp cho mình đâu, mà mình cứ phải cúng các ông ấy?
Vừa nói Vân Hạc vừa ngồi xuống ghế, vớ lấy cái điếu sai cháu châm lửa hút thuốc. Bà cống ra bộ không ưng lời con, vội gắt: ' Cái thằng ăn nói hay chứ! Làm người thì phải kính trọng quỷ thần. Cúng ngài không phải chỉ cốt đê ngại phù hộ. Mày dốt thì mày hỏng, trách gì quy thần? Nếu như cúng mà được đỗ, ai còn phải học làm gì.
Co Ngọc tiếp lời mẹ chồng:
ấy Ơù bên kia anh ấy cũng cứ nói bướng như thế. Mẹ con khuyên mãi mới chịu về đấy.
Vân Hạc mỉm cười : ~ - Thì cứ cúng, tôi có ngăn cản gì đâu. Nhưng .
thưa đẻ phải để đến ngày mai chứ?
Bà cống rẽ ràng trả lời:
- Gà gạo tao đã mua sẵn cả rồi. Nhưng cũng phải chờ đến sáng mai mới sửa. Việc lễ lạt không nên sửa vào buổi chiều. ' Một đứa cháu gái với bộ mặt 'nhễ nhại mồ hôi, xách ' một siêu nước tử dưới nhà . bếp lên thềm. eổ Ngọc nhanh nhầu chạy ra đón lấy. Rồi cô súc ấm, tráng chén, pha mấy chén nước, đệ đến trước mặt bà cống. bà cống cầm chồng bánh cốm đưa cho cô va n01:
- con đem bóc ra, để cái bác uống nước cho vui.
Chị tú chạy lại đón lấy chồng bánh và nói:
- Để con bóc cho. Thím nó chưa biết bát đũa để đâu.
Rồi thì chị cầm lấy mấy cái bánh đi xuống nhà dưới. Bà cống vui vẻ bảo chị cả, chị .hai cùng sang bên ấy uống nước với mình. Với mấy chị này, bà chỉ là người nàng hầu của bố chõng, nhưng lúc ấy cái bà vợ cả, vợ hai cụ cống đều mất. Bà được là chủ của gia đình. Cái nết hiên tứ đứng đắn của bà, đã làm cho những người dâu con cụ cống đều phải kính trọng yêu mến như một người mẹ. Đôi với bà, họ giữ rất đúng lễ phép, thường thường không ai ngồi đôi cùng bà bao giờ. Vì vây, bây giờ bà tuy mới họ, họ vẫn nhất định từ chối:
- Bà mặc chúng con.
Chị tú đã bưng mâm bánh Ơû nhà dưới lên, rón rén đặt xuống bên cạnh bà cống. Một lần nữa, bà lại dục các chị dâu sang đó ăn bánh. Nể lời bà, chị hai liên đến bưng lấy một ớ a, đem sang dãy phản bên này.
Bà cống lại gọi lũ cháu vào quanh phản mình, rồi bà xắn bánh, xóc cho mỗi đứa một miệng.
Cái tiệc đơn sơ cử hành trong một bầu không khí đầm ấm khiến cho cô Ngọc nô nức mừng thầm về nền phúc đức nhà chồng. Và cô không khỏi băn khoăn cho cảnh vắng vẻ của nhà mình. ' Xong bữa nước, trời vừa đúng trưa. Chị cả, chị hái, ải đi làm việc nấy. CÔ và chị tú cùng xuống l~êp nấu cơm.
Mặt trời tà tà, cô vào xin phép .bà cống cho mình và mấy đưa cháu nhỏ đi thăm mấy ông chú bác và vài chị em trong họ. Lân la hết nhà này đến nhà khác, khi cô trở về thì trời vừa tối.
Trong nhà hãy còn đầy những khách khứa, bà con trong họ nghe tin Vân Hạc mới về, người ta rủ nhau đến chơi để hói thăm về chuyện thi cử của chàng.
Mặc chồng tiếp khách Ơû nhà trên, cô xuống nhà dưới, ngồi chuyện văn với mấy người chị dâu.
Một lát sau khách khứa về hết. Vân Hạc cũng cùng đi chơi với họ. Bà cống cho gọi cô và mấy người kia lên cả trên nhà. Rồi bà bắt cô thắp đèn, đem truyện phật bà Quan âm kể cho cả nhà cùng nghe. ' Lâu nay bà vẫn thèm nghe truyện ấy, nhưng mà không có ai kể. Vả lại, bà vẫn nghe nói dâu mình biết chữ, nhưng bà chưa tin, nên muôn thử xem cô có biết chữ thật không.
Thây cô đọc được trôi chảy, đúng vần, dứt mạch, không bỉ ngắc ngứ chỗ nào, thì bà rất lấy làm mừng.
Chị hai như cũng ngạc nhiên về sự thông thái của em dâu, ngơ ngẩn nét mặt sẽ hỏi :
Thím đi học được bao nhiêu năm?
CÔ bấm đốt rồi đáp:
- Tám năm tất cả. Em đi học từ năm lên sáu. Vì thầy mẹ em hiếm hoi, lúc đẻ em, thầy mẹ em không xâu lỗ tai. Đến năm em lên sáu tuổi thầy mẹ em lại bắt em để hồng mao, mặc quần trắng, giả làm con trai, học chun~lớp với hẹ~ trò trẻ con.
Em học lẽo đẽo đến năm đã mười bốn tuổi, phải đi chợ coi hàng cho mẹ em, bấy giờ mới nghỉ.
Chị em tươi cười hỏi tiếp.
- Thế thím đã đọc được những sách gì?
CÔ thỏ thẻ trả lơi:
Cũng như những học trò con trai, vỡ lòng em học Tam tự kinh, rồi đến Sơ lọc vấn tân, rồi đến Minh .đạo gia huấn, rồi đến ấu học ngũ ngôn thi, rồi đến Hiếu kinh, rồi đến Luận ngữ chính văn.
Năm em mười tuổi, thày em mới cho em học kinh Lễ, nhưng chỉ học thiên Khúc~lễ, và thiên Nữ tắc mà thôi. Hết hai thiên ấy, mỗi ngày em chỉ được viết một tờ phóng .và học mấy bài thơ trong quyển Đường thi. Vì lúc ấy mà đi, ngày nào em cũng phải đánh ống, đánh suốt, tập nghề dệt vải.
Chị cả ra bộ tần ngần:
- Thuở nhỏ tôi cũng đi học như thím, nhưng chỉ học đến quyển Hiếll kinh thì thôi Thế mà bây giờ không nhớ một chữ nào cả. Tôi tối dạ quá. ~ Đêm đã khuya, bà cống thấy mình hơi mệt. Cuộc kể truyện bị tan giữa lúc nhiều người còn thèm.
Chị cả , chị hai, chị tú rục nịch ai vào _ buồng . riêng của nây. Những đứa cháu nhỏ chầu chực từ tối đến giờ tranh nhau đòi được ngủ với thím tư. Vân Hạc vẫn chưa về. Bà cống bảo cô đem cả lũ cháu vào trong phòng mình cùng ngủ.
vừa lạ nhà, lại vừa băn khoăn không biết chồng mình bê tha Ơû đâu, cô trằn trọc đến hết canh.'ba mới chợp mắt được một lác. Mấy con gà trống phành phạch vỗ': cánh thi nhau gáy Ơû sau nhà, làm cô giật mình thức giấc. Ngoài sân đã thấy có tiếng nồi xanh lạch cạch và tiếng vo gạo sàn sạt. Những người chị dâu đã dậy làm việc cả rồi. CỐ nhiên cô cũng không thể nằm nữa. Sợ đông giấc ngủ cua mẹ chồng, cô sẽ rón rén xuống đất và sẽ ngỏ ' cửa ra sân để cùng các chị bắc chõ thổi xôi, đun nư~lc làm thịt gà. .
Bấy giờ Vân Hạc mới về. ' CÔ toan hỏi chồng đi đâu suốt đêm. Nhưng sợ mấy người chị dâu cười mình ghen bóng ghèn gió., nên cô lại thôi.
Trời rạng ' đông, tiếng gà. giục giã gáy dồn. _ Bà cộng trở dậy và xuống ngồi ở, nhà bếp xem sóc công việc: .
Sáng rõ. Xôi, gà đều chín. Các thức cơm canh cũng vừa làm xong. Theo lởi dặn của bả cống, cơm canh để cúng Ơû nhà, cò~l xôi gà thì đem cúng đình và cúng nhà 'thở đại tôn. Sau khi hai chõ xôi' và.
hai con gà được đóllg~ ~lảm hai mâm bà bảo cô Ngọc sắp đủ trầu rượt vào' đó và đi 'lấy hai ' l'ỏ~ìg hoa hồng cắm vào hai cái mỏ gà, rồi cho người nhà bưng đi.
Bởi vắng anh cả, Vân Hạc phải chỉnh đốn khăn áo để thắp đèn hương khấn cụ. Rồi chàng đi theo hai mâm xôi gà đi ra đình lễ thánh và vào nhà thờ đại tôn lễ Tổ.
Bà cống dặn với:
- Con nhớ nói với ông tử, ông trưởng khấn cho anh hai, anh tú nữa đấy.
Vân Hạc tủm tỉm cười nụ: ' ' Vâng, con đã nhớ. Nhưng không biết. con chỉ lễ đủ phận con hay phải lễ thay cả hái anh ấy?
Bà cống cau mày:
đứng nói trẻ con! Việc quỷ thần không phải chuyện đùa.
Vân Hạc im lặng ra cổng. Bà cống cung kính đến trước bàn thờ, rẽ ràng ngồi xuống chiếc sập kê liền hương án, sẽ xổ. nữa vành khăn vấn, hạ xuống ngang.với sống mũi, và chìa hai tay nâng vành khăn ấy cho nó khòng khòng Ơû trước hai mắt, bà vừa lê vừa khấn ông cốn~ơ phù hộ các con khoa này thi cứ cho may. Một hôi lầm rầm đã dứt mạch bằng ba cái gật đầu trịnh trọng, bà nghiêm. trang quay' ra bảo các nàng dâu cùng vào lễ thầy và đi đánh thức lũ trẻ trở dậy, để cho chúng nó lễ ồng.' Ngoài cổng có tiếng chó sủa. Cả nhà đồng thời ngo ra.
Cụ Năm, chú ruột Vân Hạc, lù lù chống gậy bước vào trong cổng với hai quan tiền vắt vai.
Chị hai tất tá chạy ra trông chó và đón ông chú vào thềm.
Bà cống chào hỏi bằng giọng vui vẻ:
- ông đem tiền đi đâu? Hay định cho cháu đấy chăng? .
Cụ Năm lễ phép trả lời:
Vâng' Cái l~ghĩa làm chú thì phải thế chức Rồi cụ đặt hai quan tiền xuống chức án th~r giữa đôi tràng kỷ và tiệp:
(J8 Thưa bác, anh tư đi đâu? Bác đã cúng ông cóng chưa đày?
Bà cống đáp :
Cháu nó ra đình lễ t~lở. Tôi khấn ông cháu rồi ạ!
Cụ Năm lật đật đến trước bàn thở và nói :
Xin vái ông anh vậy thôi, mỏi lắm, không lê được nữa. ~ ' Rồi cụ chắp tay cúi đầu, yáí luôn ' năm cái: ~ .
vân Hạc vừa về, chàng mời ông chú sang.- ~gồ~ . Oâ bên tràng kỷ. Róc một chén- nước đệ . đến trước mặt cụ Năm, rồi chàng chắp tay đứng' hầu b(m cạnh:
Cụ Năm cầm chén nước lên và hỏi:
Hôm nào thì anh trẩy trưởng) Thưa chú hai nhăm tháng này!
- Mồng một tháng sau đã phải vào trưỡng, ' mà đến hai nhăm tháng này !nới đi, e rằng chậm quá, anh nên đi sớm thì hơn. Bởi vì tới nơi còn phải đì tìm nhà trọ ỷà phái sắp . sửa các đồ cần dùng. Xong rồi cũng phải nghỉ ngơi vài -ngày .cho tinh. thần khoan khoái, thì khi viết văn môi được linh lợi. .
- Thưa chú, đồ đạc cháu đã sắp sàn Ơû nhà, còn ' nhà trọ thì cháu đã có chỗ quen mọi năng,. không. '..
phải tìm nữa. Hai nhăm tháng này đi cũng ca. ~ ' Cụ Năm chỉ tay vào hai quan tiền:
- Nếu được thế thì hay lắm. Đây chú đỡ cho vài quan, đề khi tới trưởng mà cho ... nhà trò.
Bà cống nói xen:
- Chết nỡir Sao ông lại nuông cháu quá như vậy!
Cụ Năm vừa cười vừa nói:
- Chẳng nuông cũng đến thế thôi! Ai theo chân mà giữ chúng nó!
Rồi cụ quay sang Vân Hạc :
Nhưng chơi thì chơi, cũng phải 'để bụng vào việc thi cử mới được, ch~ có lu ' bù thái quá. Bây giờ chú đã già rồi, nghiệp nhà trông vào các anh: Các anh còn đương niên thiếu lực cường, phải cố nối lấy gia thanh, đứng có lẹt đẹt như chú. Hễ khi tới trưởng, có gặp anh hai, anh tú, cũng bảo chú dặn như vậy.
Vân Hạc vâng lởi, rồi xách cả hai quan tiền đem đặt satíg 'phả~l bên kia.
Ngoài cổng lại có .bóng người thập thò, chị cả vội vàng chạy ra đón tiếp. Bả bác, bà thím , bà cô, một lũ lô nhô tiến vào trong sân. Sau khi đã chào bà cống, .cụ Năm và ghé ngôi vào chiếc phản cạnh, mỗi bà mở bọc giở ra một chuỗi tiền đen và bảo Vân Hạc:
Nghe tin anh sắp trẩy trưởng, gọi là thế, chúng ' tôi mỗi người giúp anh một quan để anh thêm tiền ' đò giang.
Vân Hạc chưa kịp nói sao thì một bọn nữa độ năm sáu người, vừa họ nội, vừa họ ngoại, lũ lượt kéo đến.
Cũng như các bà kia, những người này cũng đem tiền đến cho Vân Hạc: người một hai quan, người năm bảy tiền. Vân Hạc cảm ơn khắp lượt rồi chàng vừa cười vtìa nói ; .
Giả sử mỗi tháng đi thi một lần, thì trong một năm, tôi có thể cưới được một người vợ nữa.
Rồi chàng thu xếp các món tiền dó chồng làm 1 đống.
Hai người nhà dưng cỗ đì cúng lúc nãy đã đội cỗ trở về, bà cống giục các nàng dâu sắp sửa mâm bát để mời họ mạc uống rượu. đàn bà con gái hết thảy đều chối là mới ăn cơm xong. Chỉ có đàn ông nhận lời.
Chừng nửa buổi bữa rượu mới tan. họ mạc lẻ tẻ ra về với câu ân cần chúc cho Vân Hạc khoa này nhất cử.
Trông thấy chiều trời đã trưa, bà cống liền sai cô Ngọc đem cả số tiền bà con giúp đỡ, lấy mo bó làm hai bó. Rồi bà thúc giục con dâu, con trai phải về Vân Trình vì ngày mai còn phải lễ thờ Ơû bên ấy nữa.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
IV

Đến nay vợ chồng ông đồ Vân Trình mới thật khỏi lo. Tháng trước, khi được tin cô Ngọc đi chợ về đến giữa đường bị cảm, cả hai ông bà đều hết hồn. vía. Không kịp khóa tráp, khóa tủ, ông đồ vơ vội lấy lọ thuốc gió giắt vào trong mình, bà đồ thì dặn láng giêng hãy coi nhà giùm, rồi cùng hỏa tốc đến cái ngã tư gần chợ Kim Bảng. Bấy giờ cô Ngọc đã được đem lại bãi cỏ dưới bóng rợp của một cây đa. Sắc mặt vẫn xám mét. Chân tay không động đậy. Nếu trên ngực không còn thoi thóp thở, thì chẳng khác người chết rồi. Bà đồ mếu máo kêu khóc, hú hồn vía vang một khu đồng. Ông đồ rẽ ràng trao lọ thuốc gió cho cô Bích, con gái thứ hai của ông, và bảo cô này mở gánh hàng lấy đĩa đựng trầu, xin ít nước tiểu mài với những viên thuốc ấy. Rồi hai ông bà dùng lược ghè miệng cô Ngọc đổ vào và xoa khắp cả mình mẩy cô ấy. Mặt trời tà tà, cô Ngọc tỉnh dần, nhưng vẫn loạng choạng không đứng dậy được. Chờ khi hết nắng, ông đồ mới thuê hai người gánh hai gánh hàng để bà đồ và cô Bích cùng dìu cô Ngọc về nhà. Đêm ấy và ngày hôm sau, cô Ngọc mấy lần ngất đi, gọi mãi mới tỉnh. Và lúc tính dậy, thỉnh thoảng lại cứ nói mê nói sảng, khi thì xưng là cô thám, khi thì xưng là cô bảng, y như một người ma làm. Thầy thuốc đổi bốn năm ông, bói toán cúng cấp, lễ bái chẳng thiếu đâu, bệnh trạng vẫn đâu đóng đấy. Kết cục, ông đồ phải mời cụ bảng Tiên Kiều thăm mạch và bốc thuốc cho, các chứng mới lui dần.
Độ này cô ấy đã gần bằng cũ. Tuy mặt mũi hãy còn xanh xao, nhưng tinh thần thì đã sảng khoái như thường. Từ mấy bữa trước, cô thấy trong mình không còn tật bệnh gì. nữa, đã xin đi chợ bán hàng, kẻo nữa nghỉ lâu mất khách. Nhưng mà ông, bà sợ cô chưa được thật khỏe, xông pha gió máy có thể lại bị cảm lại cho nên nhất định bắt cô cứ phải ở luôn trong nhà, không được đi lại dưới ánh nắng. Thậm chí cô muốn ngâm sợi, đánh suốt, dệt nốt cái "cửi" còn dở, ông bà cũng không bằng lòng, vì sợ để cô vầy nước thì độc. Chiều lòng cha mẹ, cô vẫn hết sức kiêng khem. Nhưng phải cả ngày quanh quẩn trong mấy gian nhà như tù giam lỏng, thì ai mà không buồn?
Nhiều lúc cô muốn nhắm mắt cố ngủ, cho khỏi nghĩ vẩn nghĩ vơ. Song ngủ mãi cũng chán con mắt, không thể nào mà chợp đi được. Rồi thì những mối tư tưởng luẩn quẩn ở đâu nó lại kéo đến như mớ bòng bong, gỡ không ra, dứt đi không được. Nhất là những khi vừa mới thiu thiu, chợt bị con muỗi vo ve bên tai phải tỉnh dậy, thì trong mình cô tự thấy một trận bàng hoàng khó tả, nghĩ mãi không biết mình đương nằm ở chỗ nào.
Cô rất thèm người nói chuyện. Nhưng đương mùa chợ búa cày cấy, chị em chúng bạn ai có việc nấy, không ai.được thìa thì giở để đến trò chuyện với cô. Cho đến cô Bích, người em tin cậy của cô, cũng phải mải miết đi chợ, từ sáng đến tối, không được thư nhàn mấy khi. Thành ra ban ngày cũng như ban đêm, ngủ đi thì thôi, hễ bửng mắt ra, cô lại thấy mình một mình vò vọ. Vì thế, cô cứ phải mượn cuốn Kim Vân Kiều làm bạn giải buồn. Quyển sách như cũng biết ỡm ờ trêu ngươi. Mỗi khi cô mở nó ra, nếu không đụng phải đoạn Kim Trọng gặp Thúy Kiều, thì lại trúng vào chỗ Thúy Kiều cất lẻn sang nhà Kim Trọng. Tuy rằng cô đã hết sức trấn tĩnh, nhưng mà coi đến những câu:
”Sóng tình hồ đã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có nhiều lả lơi..."
Hay là:
“ Tóc tơ căl~ t'ặn tấm lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương" .
Thì trong bụng cô bổi hổi, bồi hồi, hình như có ~ ất nong nóng bốc lên ở ngực và cổ. Tức thì cô liệng quyển chuyện xuống giường và nằm vắt tay lên trán để đưa tư tưởng đến chỗ mơ màng xa xăm.
Sáng nay lúc cô băng mình trở dậy, bỗng chốc hai mắt nháy rối, vuốt mãi nó cũng không thuần. Rồi khi cô ăn cơm xong, vào buồng, lại một con nhện thình lình sa thẳng xuống chỗ trước mặt. Cô toan vồ lấy để xem nó là nhện vàng hay nhện trắng, nhưng con vật ấy nhanh quá, cô vớ chưa kịp, nó đã đánh đu sợi tơ của nó và bò lên gần xà nhà mất rồi.
"Điềm gì mà lạ thế này. Lành hay gở?". Câu hỏi quanh quẩn đi lại ở trong óc. Nó bắt cô phải phân vân hồi hộp, đứng ngồi không yên.
Lật đầu giường lấy cuốn Truyện Kiều, cô hé mở ra để xem đằng nào là đầu, đằng nào là cuối. Rồi hai bàn tay chắp lại một cách cung kính, cô đưa cuốn sách lên tận ngang mặt, đặt nghiêng "bụng sách" vào thẳng sống mũi và khấn lầm rầm:
"Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, tên tôi là Hoàng Thị Ngọc, ở làng Vân Trình, thành tâm xin cô một quẻ...”
Vừa dứt tiếng quẻ, cô liền ngừng lại và chỉ mấp máy hai môi, không biết là nói những gì. Dứt hồi thì thầm, cô bấm một ngón tay cái vào giữa cuốn sách rồi giở ra xem. Ngón tay cái của cô trúng vào chỗ này:
"Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm đùm bọc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi".
Đọc đi đọc lại mấy lần, cô vẫn không hiểu nàng Kiều bảo mình cái gì!
- Hay là mình không thành tâm, cho nên cô Kiều không ứng?
- Thì lại bói lại quẻ nữa xem sao?
Một lần nữa, cuốn sách bị cô đưa lên ngang trán và làm đúng những công việc vừa rồi. Rồi cô nhìn theo chỗ ngón tay đã bấm. Nó là cái gì?
”Vội vàng sắm sửa lễ công
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng ruổi sao.
Bày hàng cổ vũ xôn xao,
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi".
Mặt cô tự nhiên thấy nóng bừng bừng. Ruột gan cô tự nhiên bồn cồn như bị lửa đột. Không kịp suy nghĩ ý nghĩa của mấy câu đó, cô liền lăn đùng xuống giường và thở hừng hực như người say nắng. Cảnh tượng của đám vinh qui hôm nọ thình lình lại hiện trước mắt. Kìa lá cờ vàng phấp phới trước gió. Kìa cái biển gỗ sơn son thếp vàng chói lọi dưới ánh mặt trời. Rồi một chàng trẻ tuổi cố nghiêng chiếc mũ hoa vàng cười nụ với người bên đường. Rồi một cô con gái không lấy gì làm xinh, đang õng ẹo ngôi trong chiếc võng mành mành cánh sáo. Rồi... vô số là thứ khác nữa.
Giống như con chuồn chuồn trong mắt những người chực giở, những cảnh tượng ấy cứ dính liền với con mắt cô, xua tay nó không đi, nhắm mắt lại nó càng rõ rệt. "Số kiếp mình thật không ra gì... Cờ đã đến tay, ai ngờ lại về kẻ khác..” Cô không định nghĩ như thế. Nhưng mấy câu ấy nó cứ vơ vẫn kéo đến và trở đi trở lại mãi mãi trong trí.
Mặt mỗi lúc một nóng thêm, gan ruột mỗi lúc mỗi bồn cồn thêm, rồi thì cô thấy xâm xâm tối mặt như lúc sắp sửa phải cảm độ trước.
- Em đi chợ đây chị ạ! Chị có mua gì hay không?
Tiếng nói thỏ thẻ thình lình tử cửa kéo vào, làm cô mở bửng mắt ra. Cô Bích vừa đến cạnh giường với bộ mặt nhí nhảnh và tiếp:
- Chị làm sao mà mặt đỏ bừng lên thế?
Cô ngồi vùng đậy mà đáp:
- Không biết làm sao từ lúc ăn cơm đến giờ, tự nhiên chị thấy hầm hập như người sắp phát sốt ấy em ạ. Em hãy ra bể múc cho chị một bát nước mưa.
- Chết nỗi! Chị uống nước mưa có độc cho không?
- Không độc đâu. Chị xót ruột lắm, chị muốn uống một bát nước mưa cho mát. Em cứ múc vào đây cho chị. Giấu đi, đừng để thầy mẹ trông thấy.
Ngoan ngoãn, cô Bích trở ra. Một lát, cô ấy rón rén trở vào với một bát nước trong như nước suối. Sẽ sàng đón lấy bát nước của em, cô Ngọc uống òng ọc một hơi. Nước vào đến đau, ruột gan thấy mát đến đấy. Cô Bích nhanh nhầu cất gánh đi chợ, để lại cho chị cả một gian phòng tịch mịch và những luồng tư tưởng vẩn vơ.
Cô toan đứng dậy ra sân để cho dứt những cái nghĩ ngợi quanh quẩn. Nhưng khi cầm gương lên soi thây hai má còn đỏ bừng bừng, cô lại vớ lấy quyển Kiều rồi sẽ nghiêng mình xuống giường. Song cô không coi, cuốn sách vẫn úp trên ngực, hai mắt cô vẫn lờ đờ nhìn lên mái nhà.
"Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen...". Nghĩ vậy rồi cô lại tự gạt đi: “Sao ta lại tơ tưởng mãi nhưng chuyện của người? Ơ hay, con đã mọc răng, nói năng chi nữa.”
Thôi, trăm đường tránh chẳng phải số, số có tự nhiên sẽ có, nếu số không có, cầu cung chả được, hơi đâu mà...". rồi cô quả quyết ngồi dậy và lại cầm gương lên soi. Ngoài cổng có tiếng gậy chống lộc cộc, cô vội nhô đầu nhìn ra. Cụ bảng Tiên Kiều đương đủng đỉnh bước vào trong cổng với chiếc gậy trúc và một cậu bé con xách cái túi gấm theo sau. Lật đật cô vội ra sân đuổi chó và cúi đầu chào cụ bảng:
- Lạy bác ạ?
Cái nón dứa trên đầu sẽ gật một cái, cụ bảng tơi tả cười hỏi:
- Con Ngọc đấy à? Mày đã bằng cũ chưa cháu? Thầy có ở nhà đấy chứ?
Lễ phép, cô đáp:
- Thưa bác, cháu đã gần được bằng cũ. Thầy cháu có nhà đấy ạ.
Rồi cô nhanh nhẩu đứng ra một bên, để giữ cho con chó xồm khỏi sủa. Ông đô Vân Trình vừa ở trong nhà bước ra. Hai ngài vái nhau một cái cực kỳ long trọng, rồi cùng đi vào trong thềm. Sau khi đã hạ chiếc nón dứa trao cho cậu học trò treo lên trên vách, cụ bảng mở túi lấy vuông khăn mặt lau qua những giọt mồ hôi trên trán, rồi cụ ngồi luôn vào phản, vừa cầm cái quạt phe phẩy, vừa cất cái giọng sang sảng:
- Nóng quá, tôi đi đã sớm, thế mà còn thấy bức bối khó chịu. Nếu chậm lát nữa, có lẽ phải lăn ra đường. . .
Ông đồ cung ghé vào phản và nói một cách vui vẻ:
- Bác nhiều hơn tôi năm tuổi, nhưng xem ý còn mạnh hơn tôi. Chính tôi bây giờ đi sang bên bác, nhiều khi đã thấy mỏi chân, phải nghỉ đến hai ba chỗ. Nếu tôi bằng tuổi bác, có lẽ sẽ không đi được từ đây đến làng Tiên Kiều.
Cụ bảng tươi cười:
- Ừ, tôi vẫn biết bây giờ bác đã ngại đi. Sáng nay, tôi toan cho người mời bác sang chơi nói chuyện. Nhưng sợ bác vẫn biếng đi, nên tôi lại phải cố sang.
Cụ đồ vội hỏi:
- Bác đã có chuyện gì lạ!
Cụ bảng vẫn cười:
- Lạ thì không lạ. Nhưng nó cũng không phải là một việc thường.
- Việc gì vậy?
- Tôi muốn đưa ông thám, ông bảng đến nhà cho bác.
Cô Ngọc vừa xách siêu nước lên đến đầu thềm. Thoảng nghe câu đó, hai má tự nhiên đỏ bừng. Bẽn lẽn đưa siêu nước cho cậu bé con đi theo cụ bảng, và nhờ cậu ấy nhóm lò đun hộ, cô liền thụt vào trong buồng. Cụ đồ ngay thật hỏi lại cụ bảng:
- Ông bảng nào? Ông thám nào? Bao giờ thì họ lại đây?
Cụ bảng cười giòn khanh khách.
- Thong thả, chuyện đó hãy gác lại đó, để lúc uống rượu sẽ hay. Bây giờ chúng ta uống nước rồi thưởng một vài ván cờ cái đã.
Lò nước đã nỏ. Cậu tiểu đồng quen lệ mọi ngày nhắc bàn cờ và túi quân cờ trên vách đạt lên trên án. Cụ đồ hạ bàn cờ xuống phản, vừa đổ quân cờ ra bày, vừa ngâm:
"Kỳ cục tiêu tường hạ, "Tôn tửu lạc dư xuân."
Rồi cụ lại tán:
- Hai câu ấy thế mà hay đấy. Trong lúc nóng nực này chỉ đánh cờ là có thể quên sự oi bức.
Siêu nước đã sôi, cậu nhỏ rón rén tráng qua cái ấm da chu, bỏ chè, chế nước, rót ra chén tống và chuyên vào hai chén con, rồi đệ cả bộ bàn chè lên án. Hai cụ rung đùi thưởng cái hương thơm mát của chè đầu xuân. Cuộc giải khát đã đi hết tuần thứ ba, các cụ bắt đầu quay vào bàn cờ. Cô Ngọc vẫn nằm thủ hiểm trong buồng chờ nghe những lời cụ bảng sẽ nói. Sư im lặng của gian buồng và sự hồi hộp trong quả tim bắt cô suy nghĩ đến câu cụ bảng mới nói vừa rồi. “Cớ sao bác bảng lại nói đột ngột như vậy? Hay là bác ấy đã biết tâm sự của mình rồi chăng! Không có lẽ cứ như em Bích kể lại, thì hôm nọ, trong lúc nói mê, nói sảng, mình cũng xưng là cô thám, cô bảng luôn luôn. Nhưng đó chẳng qua là tiếng nói của kẻ bị mất trí khôn, chắc không .ai để ý..." Thế rồi, mồ hôi toát ra, cô tự thấy mình xấu hổ như đã làm một điều vô ý trước đám đông người. Ở nhà ngoài, cuộc cờ đến lúc xô xát tiếng cười giòn giã xen lẫn với tiếng quân cờ chí chát đụng nhau, khiên cô dứt hẳn được sự nghĩ ngợi lấn quẩn.
Bóng nóng đã ra đến cột giàn hoa, trong buồng nóng như cái hầm, cô toan đứng dậy ra vườn hóng mát, chợt trông đến cái quả trầu, cô mới nhớ ra từ nãy đến giờ, quên chưa têm trâu.Sẽ sàng ngồi dậy, cô đi lấy dao bổ cau rọc trầu, têm mấy chục miếng xệp vào cơi, rồi đưa cậu nhỏ đặt giúp lên chỗ hai cụ. Bà đồ đi chợ đã về. Nhanh nhảu cô ra đón thúng để mẹ vào chào cụ bảng, rồi cô xuống bếp sửa soạn đồ rượu. Theo ý bà đồ, thì cô còn phải kiêng nước, kiêng lửa vài ba ngày nữa cho được thật khỏi. Nay vì trong nhà có khách, trời cũng đã trưa, sợ rằng một mình lủng củng, hoặc giả cơm khách trễ quá, nên bà đành để con gái mó vào những việc lặt vặt.
Cuộc cờ trên nhà đã hết hai ván, đồ chén cũng vừa làm xong. Vì nhà không có đầy tớ, cô phải rón rén lên dọn bàn cờ, rồi để mâm rượu vào đó, và bảo cậu nhỏ sang bên buồng học ăn cơm. Sau khi cụ bảng đã gửi lời cô xuống chào bà đồ, hai cụ cùng quay vào mâm. Chén rượu đã rót một lần thứ nhất, bà đồ vui vẻ ở nhà dưới lên để đáp lễ lại lời chào của ông bạn chí thân với chồng. Cụ bảng chỉ vào chiếc ghế bên cạnh và nói:
- Mời bác hãy ngồi lên đây xơi nước, tôi có câu chuyện muốn nói với cả bác trai bác gái.
Rồi cụ nhìn vào ông đồ:
- Con Ngọc năm nay mười chín tuổi rồi phải không?
Ông đồ ra vẻ ngạc nhiên:
- Cháu nó mới có mười tám.
Cụ bảng lẩm nhẩm bấm đốt ngón tay:
- Được! Mười tám lại còn tốt hơn mười chín.
Uống cạn chén rượu, cụ tiếp:
- Bác đã có biết Tư Hạc học trò tôi chứ?
Ông đồ lắc đầu:
- Tôi chỉ nghe tiếng anh ta, chứ không rõ lắm. Có phải tên hắn là Đào Vân Hạc đó không?
- Phải đó!
- Anh ta người ở đâu nhỉ?
- Hắn ở Quốc Oai. Con trai út cụ cống Đào Nguyên đấy mà. Trong học trò tôi, có hắn linh lợi hơn cả. Vì tình thân với cả hai bên, tôi muốn nói với hai bác gả con cháu Ngọc cho hắn.
Vừa cầm nai rượu tự róc vào chén của mình, cụ bảng vừa thêm:
- Nếu như hai bác muốn cho con cháu được làm cô thám, cô bảng, thì ngoài hắn ra, chắc không có người nào hơn. Tôi nói thế, không phải quá khen học trò của tôi. Kể ra, cái tài thám, bảng, thiên hạ vẫn không thiếu gì, nhưng phần nhiều họ đã cao tuổi hoặc là họ quen cố chấp câu nệ, không ai được hoạt bát như hắn.
Ông đồ ra vẻ tơi tả:
- Bây giờ bác nói tôi mới nhớ ra. Trong kỳ bình văn ở trường bác hồi đầu năm ngoái, tôi đã xem qua quyển của anh ta. Kể thì anh ta cũng là một tay đại tài, tôi không chê một điều gì. Nhưng việc gả bán cho cháu thì tôi nhường quyền bà nó.
Rồi ông quay sang bên phía bà đồ:
- Thế nào? Ý bà ra sao, thì nói với bác.
Bà đồ rẽ ràng:
- Cụ cống mất rồi, thưa bác?
- Phải, cụ ấy mất từ lúc Tư Hạc còn nhỏ.
Bà đồ ra ý ngần ngại:
- Trên cụ cống cũng là một nhà danh vọng ở tỉnh Đoài với nhà tôi thật là môn đương hộ đối. Tôi chỉ hiềm một điều rằng chúng tôi hiếm hoi, chỉ được hai đứa cháu gái, muôn gả chồng cho nó ở chỗ gần nhà, để khi mẹ con đi lại cho tiện.
Cụ bảng nói vui như tết:
- Điều đó bác không quản ngại. Từ đây lên đến quê hắn, vừa đi vừa về, chỉ hết độ già nửa ngày, có gì là xa. Nếu bác sợ xa, thì tôi bắt hắn phải đến gửi rể. Việc này tự tôi chủ trương tất cả. Bởi thấy nó là mối lương duyên nên tôi muốn cướp quyền của ông tơ hồng xem sao!
Bà đồ không còn lẽ gì từ chối, liền chuyển câu chuyện sang cho ông đồ.
- Nếu thế thì xin tùy ý thầy cháu. Thầy cháu bằng lòng, tôi cũng xin vâng lời bác.
Ông đồ khôi hài:
- Khéo lắm. Tôi đưa cho bà, bà lại còn đưa cho tôi.
Rồi ông rót rượu vào chén cụ bảng và tiếp:
- Con tôi cũng như con bác. Tùy bác muốn gả cho ai thì gả. Quyền ông tơ hồng bác còn muôn cướp huống chi quyền tôi. Có điều tôi muôn bác hãy thong thả, để tôi bảo qua với cháu.
Cụ bảng vẫn cười:
- Cố nhiên cũng phải hỏi ý nó chứ. Nhưng tôi xem chúng nó cũng ngoan ngoãn dễ bảo, tôi nói phắc nó phải nghe. Vậy xin bác hãy cho gọi nó ra đây để tôi bảo thẳng với nó.
Nãy giờ, cô Ngọc vẫn ngồi im lặng trong buồng, không dám đánh tiếng. Khi nghe cụ bảng nói đến câu đó, cô liền cất lẻn đi xuống nhà dưới. Bà đồ theo xuống tận nơi, và nói một cách ngọt ngào:
- Con lên nhà khách, bác bảng muốn hỏi gì con đấy.
Cô Ngọc đỏ mặt tía tai, và nói một cách nũng nịu:
- Thôi con chả lên.
Bà đồ tủm tỉm cười nụ :
- Bác bảng muốn làm mối mày cho anh khóa Hạc, học trò của bác ấy, có thuận thì lên mà nói với bác.
Cô Ngọc gục đầu xuống gối và sẽ thỏ thẻ:
- Tùy thầy, tùy mẹ, con không biết.
Rồi cô e lệ đứng dậy và đi sang nhà hàng xóm. Bà đồ lại lên nhà khách nói với cụ bảng:
- Thưa bác, cháu nó xấu hổ, không đám lên ạ!
Cụ bảng lại cười:
- Thôi được. Nó xấu hổ tức là nó đã thuận đấy. Vậy thì hai bác nhận lời cho tôi đi thôi.
Bà đồ cáo biệt đi xuống nhà dưới. Hai cụ gật gù đánh chén mãi đến quá trưa mới xong. Cô Ngọc vẫn còn núp bên hàng xóm chưa về. Cậu nhỏ người nhà cụ bảng phải dọn mâm bát và lấy tăm nước.
Mặt trời tà tà, cụ bảng mới từ biệt ra về. Trước khi đứng dậy, cụ còn dặn lại ông đồ:
- Độ mấy bữa nữa, tôi sẽ lại sang nói chuyện với bác.

V

Một hồi gà gáy âm ô, làm cho Vân Hạc giật mình thức giấc. Ngọn đèn trên quang lù mù sắp tắt, đọi dầu đã gần cạn khô. Không muốn làm phiền thằng nhỏ, chàng tự đứng lên rót dầu vào đèn, và dụi cái tàn đỏ ối ở đầu sợi bấc. Rồi chàng mở cửa ra sân.
Trăng chưa lặn. Ánh vàng chênh chếch nhòm vào giàn hoa. Những bóng cây nhài, cây mộc dương leo lên thềm. Mặt thềm khoang khua như một bức tranh thủy mặc.
Trời hãy còn sớm. Trống ngoài điếm mới điểm canh tư. Các nhà láng giềng vẫn im phăng phắc.
Chàng toan vào phòng ngủ thêm. Sực nhớ hôm nay là kỳ bình văn, phải đến trường sớm hơn mọi ngày, ngủ nữa, e rằng quá giấc, quá trưa, thì đi không kịp. Chàng bèn súc miệng, rửa mặt, rồi một mình đủng đỉnh dạo dưới bóng trăng.
Trong đám ánh trăng trong vắt, thỉnh thoảng điểm một luồng gió hiu hiu, hết thảy bóng cây trước sân đều bị rung động. Chàng bỗng tưởng đến cái cảnh Trương Sinh đợi Thôi Oanh Oanh trong truyện Tây Sương liền ngâm:
"Đãi nguyệt Tây sương hạ.
Nghênh phong hộ bán khai.
Cách tường hoa ảnh động.
Nghi thị ngọc nhân lai".
Thế rồi hình ảnh cô Ngọc tức thì hiện ra trong óc Chàng khen ông đồ Vân Trình cũng khéo tìm chữ đặt tên cho con. Với cái nước da trắng nõn, với cái khuôn mặt trái xoan và cái dáng bộ yểu điệu, nàng thật đáng gọi là ngọc nhân lắm. Chàng nhớ những hôm qua chợ Kim Bảng, tình cờ nhìn hàng nàng, bao giờ nàng cũng tươi như bông hoa, và không bao giờ mà nàng có vẻ ngoa ngoắt, trai lơ như bọn con gái kẻ chợ. Chàng tự cho rằng mình lấy được nàng, tức là danh sĩ sánh với giai nhân, chăng kém gì những cặp vợ chồng trong tiểu thuyết.
Nhưng chàng lại băn khoăn rằng trước kia nàng đã đính hôn với Trần Đằng Long, thì với chàng, nàng đã là vợ chưa cưới của một người bạn. Bây giờ nếu chàng kết duyên với nàng, hoặc giả cũng bị thiên hạ chê cười. Rồi chàng tự an ủi rằng việc này do ở cụ bảng ép chàng, không phải tự chàng mà ra. Một người đạo mạo nghiêm nghị và yêu chàng, quý chàng như cụ bảng Tiên Kiều, không lẽ lại dạy học trò làm điều trái với danh giáo? Song chàng vẫn không hiểu vì sao cụ bảng lại cô ghép nàng với chàng, vì sao hôm nọ, trong khi khuyên chàng lấy nàng, cụ lại bảo rằng nếu chàng bằng lòng cưới nàng làm vợ, tức là cứu cái đời nàng, tức là làm ơn cho Trần Đằng Long? "Hay là nàng với nghè Long ngày xưa đã có gì ám muội?" Chàng nghĩ như thế, rồi chàng lại tự hối hận, cho là mình đã vô lễ với nàng. Chàng tin nàng là con nhà gia giáo, không khi nào lại làm những việc bất chính.
Mặt trăng thì tử luồn vào bóng mây, bầu trời dần dần vẩn đục. Chàng bèn lững thững bước vào trong phòng. Vừa đi, chàng vừa lẩm bẩm một mình. “Có lẽ vợ chồng là duyên số thật. Ừ, xưa kia mình tuy biết nàng, nhưng vẫn chẳng hề nghĩ đến nàng. Thế mà từ bữa nghe đồ Mẫn nói, nhất là từ bữa nghe cụ bảng nói đến giờ, không phút nào mà ta quên nàng. Cái đó mới lạ cho chứ! Không biết trong những lúc này, nàng có nghĩ gì đến ta không? Chắc có! Ta nhớ nàng, tất nhiên nàng cũng nhớ ta, nếu như cụ bảng đã ngỏ cho nàng biết cái ý định của cụ.”
Trời sáng, Vân Hạc cắp nón vừa ra đến cổng, thì gặp Khắc Mẫn. Hai chàng liền sánh vai cùng tới trường học.
Trong các lò "rèn đúc nhân tài" bấy giờ, trường của cụ bảng Tiên Kiều là lớn hơn hết. Trừ ra mươi cậu đồng sinh là những con cháu trong nhà, học trò cụ bảng chỉ có hai lớp đại tập và trung tập. Trung tập hàng ngày phải đến nghe sách, hàng tuần phải học làm văn. Còn đại tập thì mỗi tháng tập văn hai kỳ. Kể cả đại tập và trung tập, học trò trong trường có tới gần ba trăm người. Vân Hạc và Khắc Mẫn đi đến cửa trường thì các cậu học trò trung tập cũng vừa kéo đến.
Sau những chiếc nón sơn quai chuỗi lần lượt úp lên các tường, cả mấy trăm người nghiêm trang ngồi sắp hàng ở các dãy ghế. Cụ bảng còn ở nhà trong chưa ra. Một cậu học trò bé con chạy đến rỉ tai Vân Hạc:
- Thầy bảo anh bình văn xong rồi, phải ở lại đây, để thầy còn dặn gì đấy.
Rồi thì học trò đại tập lục tục đến dần. Rồi thì, năm gian tiền tế thênh thang như năm gian đình dần dần hiện ra quang cảnh chật hẹp, kẻ ngồi người đứng lố nhố khắp trong nhà ngoài thềm.
Trống cái thong thá điểm một hồi ba tiếng.
Học trò trên các phản ghế hết thảy trở lại hàng lối nghiêm chinh. Hai cậu nhỏ tuổi lễ mễ bưng điếu bưng tráp và mang giỏ ấm, khay chén đặt lên án thư.
Những tiếng thì thầm xôn xao nhất tề im bặt. Cụ bảng từ nhà trong ra với một bộ khăn áo chỉnh tề. Trên các phản ghế, học trò răm rắp đứng dậy khắp lượt.
Khoán thai cụ ngồi vào tấm ghế sau chiếc án thư và mở nắp tráp lấy gói thuốc lá ra cuộn. Tất cả học trò lại cùng răm rắp ngồi xuống. Một cậu nhó tuổi lễ phép đến trước án thư sẽ bưng bộ đồ đánh lửa ra thềm .
Qua một hồi kỳ cạch của hòn đá lửa đập vào thỏi sắt, lửa ở trong đá đã bắt ra lớp bùi nhùi trong cái hộp gỗ và bén vào đó, cậu ấy rón rén nhón lấy một ít bùi nhùi có lửa, tiếp vào mồi giấy, phì phò thổi cho thành ngọn, để châm sang sợi ruột gà và châm lửa vào mồi thuốc lá đã cuộn, cụ bảng ra hiệu cho các học trò đọc sách.
Một câu trung tập cung kính đệ một chồng sách in lên án. Bằng một câu xin phép rất lễ độ và mấy tiếng đằng hắng rất dõng dạc, một cậu tốt giọng nhanh nhẹn mở sách ra đọc.
Tất cả học trò cặm cụi mở sách ra coi.
Theo lệ hàng ngày, mỗi buổi đều đọc đủ ba thứ sách: kinh, truyện và sử.
Hôm nay bắt đầu đọc Kinh dịch, rồi đến sách Trung dung rồi đến cuốn Tống sử. Mỗi khi đọc hết bài cái, bài bàn của một chương nào trong sách, cả trường im lặng như tờ. Mấy trăm con.mắt đều chăm chỉ ngó vào cuốn sách của mình. Mấy trăm lỗ tai đều bình tĩnh đợi nghe lời giảng của thầy. Bằng cái giọng sang sảng như tiếng chuông đồng, cụ bảng giảng rất rành mạch từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, từ nghĩa gần đến nghĩa xa, cụ chỉ rõ ràng lời bàn nào là phải, lời bàn nào là quấy. Cụ nói như rót vào tai học trò. Khi giảng đến hào lục tam của quẻ Khôn Kinh dịch, cụ đặt nồi thuốc xuống án và hỏi một cách sửng sốt:
- Các anh nghe chương này có thấy gì không.
Các cậu học trò đều không trả lời, vì không hiếu ý cụ hỏi ra sao. Cụ liền nhìn vào cuốn sách và cất cao giọng:
- "Lục tam, hàm chương khả trinh. Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”
Và cụ lại gặng:
- Các anh tưởng nó có đúng với điệu lục bát trong các ca dao của ta hay không? Rồi cầm mồi thuốc hút thêm một hơi, cụ vừa rung đùi vừa tiếp:
- Trong kinh, truyện, sử, mỗi bộ đều có một câu lục bát. Ở kinh là câu ấy rồi, còn ở truyện thì là câu gì?
Các cậu học trò cố sức lục hết trí nhớ để tìm lấy câu trả lời. Nhưng không ai nói câu nào. Cụ vuột chòm râu bạc phơ và ngâm:
"Phù thủy, nhất thước chi đa.
"Cập kỳ bất trắc ngoan đà giao long..."
Rồi cụ lại hỏi:
- Phải câu ấy ở sách Trung dung, các anh mới đọc hôm qua đó không? Sao mà chóng quên vậy? Nếu như trời cho đỗ đạt, được sang sứ Tầu, các anh sẽ đối đáp làm sao cho khỏi nhục đến quân mệnh!
Các câu học trỏ đều cúi gầm mặt, tỏ ra dáng bộ bẽ bàng . Cụ ngửng một lát rồi thêm:
- Còn câu ở sử, chắc chắn các anh cũng không thể nhớ.
Và cụ ngân giọng:
”Đế sĩ Sái Xác hữu công,
"Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình..."
Rồi cụ ngẩng lên nhìn các học trò và nói:
- Các anh thử giở cuốn Tống Cao Tôn mà xem, câu đó ở ngay đầu sách đấy mà.
Các câu học trò im lặng phục thầy là bậc nhớ sách. Cụ bảng mở giỏ, rót một chén nước nhấp giong, rồi cụ cắt nghĩa:
- Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.
Hết cuộc chuyệnn phiếm, một cậu học trò thay lượt cậu trước đọc cuốn Trung dung. Rồi một cậu nữa lại tiếp cậu này đọc cuốn Tống sử. Mặt trời đã cao, cuộc nghe sách của học trò trung tập mới hết. Lúc này học trò đại tập đã đến đông đủ. Trong năm gian nhà ngột những hơi người. Cụ bảng tạm nghỉ để quạt cho ráo mồ hôi.
Học trò lác đác đứng dạy ra sân hóng mát.
Khắc Mẫn dắt Vân Hạc và mấy người nữa đến ngồi túm tụm ở dưới gốc nhãn, rồi họ thi nhau bắt Vân Hạc phải đọc những bài văn của chàng trong kỳ này cho họ nghe trước. Một cậu học trò đủng đỉnh đến trước Vân Hạc nhìn chàng bằng con mắt ranh mảnh và tủm tỉm cười. Vân Hạc đoán là hắn đã hiểu biết việc riêng của mình, liền hỏi:
- Mày cười cái gì, thằng Cung?
Người ấy vẫn cười:
- Mai kia tao sẽ cho mày bài thơ.
Vân Hạc cũng cười:
- Được! Có giỏi mày cứ làm! Nếu thơ không hay, tao sẽ nọc cổ đánh cho ba chục.
Ngoài cổng có tiếng cười nói giòn giã. Một lũ nón dứa quai lụa bạch lần lượt từ cổng tiến vào trong sân. Các cụ nghè, cử, bạn thân của cụ bảng và là sơ khảo, phúc khảo của các quyển tập đến dự bình văn.
Cụ bảng lật đật đứng dậy đón khách.
Sau mấy cái vái trịnh trọng rước mấy ông khách lên thềm, cụ bảng vui vẻ nói:
- Chết chửa nắng quá! Các bác đi sớm ít nữa, có mát hơn không?
Cụ nghè Quỳnh Lâm chỉ vào cụ cử Liên Trì và đáp:
- Nếu tôi không cố phá đám, thì ông lão này còn ngồi ngất ngưởng với nai rượu thuốc, chứ đã chịu đi cho đâu.
Cụ cử Liên Trì mỉm cười đế đưa hai câu thơ cổ:
”Bách niên tam vạn lục thiên nhật,
Nhất ẩm tu khuynh tam bách bôi".
Các cụ cùng ngồi lên chiếc phản giữa. Ai nấy phì phạch quạt lấy quạt để. Nhưng vẫn không ai chịu bỏ khăn áo Cụ bảng phải sai hai cậu bé con cầm đôi quạt lông đứng hai đầu phản phẩy vào.
Cạn ba tuần chè tầu, cụ bảng lục lại tập văn của học trò và chọn mấy quyển được bình để riêng một chồng.
Hôm nay là kỳ tứ lục: một bài chiếu và một bài biểu. Tất cả độ hơn mười quyển được đọc. Chỉ có một quyển của Đào Vân Hạc dấu sơ dấu phúc phê ưu, dấu ngoại phê "bình", và năm quyển nữa ba dấu đều phê “bình", được đọc từ đầu đến cuối. Còn các quyển khác, hoặc "bình thứ", hoặc "thứ mác" chỉ được đọc lỏi từng đoạn. Những quyển được đọc, mặt quyển đều có đề một chữ "bình". Những đoạn được đọc thì ở cạnh các dòng chữ đều có đánh dấu bằng "chấm mắt ngỗng". Soạn xong tập quyển, cụ bảng cầm trao cho mấy ông bạn:
- Các bác coi lại. Nếu có quyển nào không đáng cho đọc, thì xin bỏ đi.
Mỗi cụ đón lấy vài quyển, coi qua một lượt, rồi:
- Được cả không có quyển nào phải loại.
Cụ nghè Quỳnh Lâm cầm quyển của Đào Vân Hạc chìa hỏi cụ bảng:
- Quyển này chúng tôi đã phê "ưu” cả, sao bác lại đánh xuống "bình”?
Cụ bảng rẽ ràng đáp:
- "Bình" là phải! Các bác cho "ưu” cũng khí quá đáng. Vả lại hắn còn ít tuổi, phải cần mài dũa cái tính hiếu thắng. Nếu như kỳ nào cũng "ưu”, e rằng hắn sẽ coi mình là thánh là trạng, không chịu học hành, ấy là có hại cho hắn.
Rồi cụ trông xuống đám học trò ngồi cạnh:
- Trưa lắm rồi, ai lên đem quyển xuống đọc đi chứ!
Khắc Mẫn lễ phép đứng lên và tiến đến trước án thư. Cụ nghè Quỳnh Lâm đưa cho thầy cuốn văn của Đào Vân Hạc và dặn:
- Đọc quyển này trước!
Khắc Mẫn lĩnh quyển văn đi xuống chỗ cũ. Mài mực, tẩm một ngòi bút thật đẫm. Một tay cầm bút, một tay. cầm quyển, thầy bắt đầu đọc bài chiếu trước. Tất cả học trò đều giở một tập giấy bán đặt lên đầu gối. Tai nghe văn, tay thì viết lia viết lịa. Văn đọc đến đâu, họ phải cố viết cho kịp đến đây. Chữ thảo một lối lòi tói như sợi xích chó. Với một giọng vừa kêu vừa trong, Khắc Mẫn đọc rất dại dễ, gãy gọn, từ đoạn nọ đến đoạn kia, mạch lạc cực kỳ phân minh. Nhất là những lúc lên giọng, xuống giọng, tiếng thày càng réo rắt dịp dàng, khiến cho câu văn càng nổi.
Cái nhà chứa gần ba trăm con người lúc ấy có vẻ nghiêm tĩnh của một tòa cổ miếu. Ngoài tiếng bình văn của Khắc Mẫn và tiếng khen hay của các khảo quan, cơ hồ không còn có gì khác nữa.
Hết bài chiếu đọc đến bài biểu. Mở đầu hai câu “phục dĩ", cụ cử Liên Trì và cụ nghè Quỷnh Lâm rối rít giục điểm, giục khuyên. Khắc Mẫn miệng đọc tay chép, mắt thì nhìn vào quyển văn, cuống quít như người phường trò vừa hát vừa phải đánh tiếng gõ mõ.
Đọc xong quyển của Vân. Hạc, cụ bảng lại bảo tạm nghỉ để các học trò uổng nước và hút thuốc lào. Những người viết chậm, tranh nhau mượn quyển Vân Hạc để họ chép lại những đoạn lúc nãy phải bỏ cách quãng vì viết không kịp. Như quên cả sự oi bức, ngườii ta xúm nhau đến hơn chục người ngó vào quyển văn.
Cụ nghè Quỳnh Lâm sai người lấy chiếc ghế đẩu bắc ở bên cạnh, gọi Vân Hạc cho ngồi ở đó, tự mình rót một chén nước trao cho Vân Hạc, và cụ tấm tắc khen ngợi:
- Văn cậu khá lắm! Đỗ đến nơi rồi. Cậu phải cố đi, khoa hương này hãy lấy cho bác cái thủ khoa, rồi hội sau thì lấy cho bác cái đình nguyên nữa. Tiền trình của cạu có cơ viễn đạt, bác lấy làm mừng!
Vân Hạc chỉ lễ phép đón lấy chén nước, không dám trả lời, vì chàng không biết trả lời thế nào. Cụ nghè quay mặt sang phía cụ bảng và thêm:
- May được người con nối nghiệp, bác cống Đào Nguyên tuy mất cũng như còn sống.
Cụ báng ngần ngừ lắc đầu:
- Tôi chưa dám chắc như vậy. Là vì văn chương của hắn tuy có lỗi lạc, nhưng vẫn không khỏi có chỗ cầu kỳ sính tài, lại thường vượt ra ngoài qui củ. Nếu gặp quan trường thì hắn có thể đỗ cao. Nhưng nếu không gặp, tất nhiên sẽ bị hỏng tuột. Bao giờ hắn chừa được cái tật ấy, thì mới có thể chắc được!
Rồi cụ gọi các học trò và hỏi:
- Các anh nghe quyển Vân Hạc thế nào? Có thấy cái bệnh gì không?
Hết thảy im lặng, không có ai đáp. Cụ tiếp:
- Văn chương anh ta tuy cũng khá đấy, nhưng phải cái tật rất lớn là có nhiều đoạn rắc rối, bướng bỉnh, không chịu theo đúng khuôn phép. Đó là một điều tối kỵ trong các lối văn cử nghiệp, nhất là thể văn tứ lục.
Cụ cử Liên Trì nói xen:
- Phải! Văn chương cầu thị bất cầu kỳ, nếu quá cầu kỳ tất nhiên không lợi trường ốc. Bởi vì, trong lúc quan trường chấm văn, người ta chấm như ăn cướp, một khắc phải chấm đến mấy chục quyển, còn thì giờ đâu mà nghĩ ngấm nghĩ nghía cho mình? Thói thường hễ mà dấu "sơ” đã chấm thế nào, ấy là dấu "phúc", dấu “giám" lại chấm thế ấy, nếu như mình đặt một câu cầu kỳ, hoặc là ý nghĩa quá ư sâu xa, mà trong lúc vội vàng, ông sơ khảo không kịp hiểu hết, ông ấy sổ cho vài chiếc và phê cho một chữ "liệt”, thì rồi những ông phúc khảo, giám khảo cũng lại sổ theo, và cũng phê cho vài chữ "liệt" nữa. Cái quyển đã đến ba "liệt”, ông phân khảo khó lòng mà giám phê "bình" phê "ưu”. Thế là hỏng oan chứ gì.
Cụ nghè Quỳnh Lâm nối lời:
- Ấy, cụ Nguyễn Công Hoàn ngày xưa suốt đời thi hỏng cũng chỉ vì có tật ấy.
Hồi cụ quay ra hỏi các học trò:
- Các thầy đã nghe chuyện cha con cụ Nguyễn dành nhau về một câu tứ lục hay chưa?
Rồi không đợi học trò trả lời, cụ kể:
- Cụ Nguyễn Công Hoàn là bậc danh sĩ đời Lê, văn hay, học rất uẩn súc, chỉ phải cái tật đặt cậu cầu kỳ, thành ra thi mãi không đỗ. Ông Nguyễn Công Lân là con, sức học tuy còn kém cụ rất xa, nhưng mà văn chương hoạt bát, ngoài hai mươi tuổi đã đỗ hương cống, rồi lại đỗ luôn tiến sĩ. Khoa ấy, tôi không nhớ là khoa nào, ông Lân đã làm chủ khảo, cụ Nguyễn vẫn còn cắp quyển đi thi, và cũng lại hỏng như trước...
Nói đến đấy, cụ nghè ngừng lại, để uống hớp nước nhấp giọng, rồi tiếp: .
- Thế rồi đến khi việc trường đã xong, ông Lân về nhà thăm cha. Đầu tiên, cụ Nguyễn hỏi ngay:
”Khoa này có được quyển nào khá không?”. Ông con ngay thật thưa rằng: "Có một quyển khá, chỉ vì phải câu tứ lục thất niêm., không thể lấy đỗ". Cụ Nguyễn liền gặng. "Câu tứ lục ấy thế nào? Có nhớ không?" Ông con thưa rằng có nhớ và đọc như vầy:
”Lưu hành chi hóa tự tây đông, nam bắc vô tư bất phụ.
"Tạo tựu chi công tự Cảo Mân, Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng" .
Rồi thì ông ấy lại tiếc ngậm ngùi mà rằng: “Nếu như câu dưới, họ đảo hai chữ "Cảo Mân" ra làm "Mân Cảo", cho đúng niêm luật, thì hai câu ấy hay biết chừng nào". Cụ Nguyễn không đợi cho con hết lời, vác gậy phang luôn chừng vài chục gậy. Và cụ nghiến răng nghiến lợi, chửi mắng tàn nhẫn. Cụ bảo ông con dốt nát như thế mà đi chấm trường, chôn sống biết bao nhiêu người...".
Cụ nghè lại nhìn học trò và hỏi:
- Các thầy có biết tại sao cụ Nguyễn phải đánh một ông chủ khảo như vậy?
Học trò còn đương im lặng suy nghĩ, cụ nghè lại tự cắt nghĩa:
- Thì ra hai câu tứ lục ấy chính của cụ Nguyễn, ý cụ đặt như thế này:
”Lưu hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc vô tư bất phục,
Tạo tựu chi công tự Cảo, Mân Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng".
Học trò nghe rồi, ai nấy sung sướng như nghĩ ra một điều mới lạ. Cụ cử Liên Trì nói thêm:
- Nếu như nghĩ một chút, chắc ai cũng nhận thấy rằng: trong hai cấu đó, câu trên tất phải ngắt đến chứ "Tây", câu dưới tất phải ngắt đến chữ "Cảo". Chứ nếu chấm như kiểu ông Lân, một đằng ngắt đến chứ "Đông", một đằng ngắt đến chữ “Mân" thì không có nghĩa gì cả. Bởi vì nhà Chu khởi ở phương Tây, đóng kẻ chợ ở đất Cảo, người ta chỉ có thể nói: "Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây, các phương Đông Nam Bắc đâu đâu cũng phục . Cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, các xứ Mân Kỳ Phong đều cũng dấy theo”. Chứ ai lại nói: "Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây phương Đông... cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, xứ Mân?" Nhưng vì bốn chữ Tây Đông Nam Bắc và bốn chữ Cảo Mân Kỳ Phong đặt liền với nhau, trong lúc vội vàng, câu trên người ta ngắt đến chữ Đông, thì câu dưới người ta cũng lại ngắt đến chữ Mân, như thế, chẳng những thất niêm mà còn vô nghĩa nữa chứ! Ấy đó là văn chương cầu kỳ có hại như vậy. Các thầy nên biết mà tránh.
Dứt mạnh hiểu dụ của cụ cử, mấy cậu nhỏ tuổi ngoan ngãn tiệp tuần chè tầu thứ hai. Công việc bình văn lại sốt sắng đi theo thứ tự cua nó. Lần này cụ bảng cho đọc đến quyển của Bùi Đốc Cung, cái người trêu ghẹo Vân Hạc lúc nãy. Văn của Đốc Cung tuy không xuất sắc bằng của Vân Hạc, nhưng cũng vào bậc học cứng, lời tươi và kêu như chuông, các cụ sơ khảo, phúc khảo luôn khen “được".
Gần trưa, tan cuộc bình văn.
Cụ bảng giở dần tập quyển còn lại trên án, gọi tên từng người học trò, quyển của người nào trao trả người ấy.
Bộ điệu khác nhau của từng người trong lúc lĩnh quyển như muốn tỏ cho kẻ ngoài biết sự hơn kém cua các học trò. Có ông hớn hở tươi cười với cái "thứ mác" con con. Cũng có ông vội vàng gấp tư quyển văn và bỏ vào túi một cách vội vàng để giấu cho kín cái "liệt" hay cái "thứ cộc" ở mặt quyển. Chồng quyển trên án phân phát đã hết, học trò lũ lượt cắp nón đi ra, để lại một mình Vân Hạc vì có lời dặn của cụ bảng phải đợi ở đó.
Mấy cậu nhỏ tuổi rón rén lấy chậu vẩy nước, quét cho sạch cát bụi và những bã điếu, tàn đóm trong năm gian nhà. Nhà trường dần trở lại quang cảnh thanh vắng như một nơi toàn thạch. Bao nhiêu ánh nắng đều bị ngăn lại trên đám lá um tùm của mấy cây nhãn và giàn thiên lý trước thềm, trong nhà lúc nào cũng mát rời rợi.
Sau nhà có tiếng lạch cạch.
Một mâm đồ rượu ngất nghểu ngự trên đầu anh bếp từ từ tiến vào phản giữa. Cụ bảng mời mấy ông bạn uống rượu và cho Vân Hạc bắc ghế ngồi hầu bên cạnh. Cụ cử Liên trì quay lại mâm rượu và nói khôi hài:
- Hữu tửu thực tiên sinh soạn, hữu sự đệ tử phục kỳ lão.
Rồi cụ cầm luôn bầu rượu đưa cho Vân Hạc để chàng rót ra các chén. Các cụ cất chén khắp lượt. Vân Hạc vẫn rụt rè giữ lễ chưa dám uống. Cụ nghè Quỳnh Lâm nhất định bắt chàng phải uống. và cũng nói giọng khôi hài:
- ”Đương nhân bất nhượng ư sư". Cụ Khổng đã dạy như thế, cái đức "nhân" còn không nhường thầy, huống chi một vài chén rượu lại phải sợ thầy hay sao? Cậu cứ uống. Làm đấng tài trai, cần phải ngang tàng mới được, không nên e lệ như bọn con gái.
Cụ cử Liên Trì mỉm cười:
- Ấy, họ cũng chí làm gái ở trước mặt chúng mình đó thôi. Khi mà ngồi cạnh nhà trò, tôi chắc mép ấy phái hết hàng hũ.
Vân Hạc giả vờ cúi mặt để giấu cái bộ buồn cười của mình. Rồi chàng xin phép các cụ và nhắc chén rượu nhấp một hớp nhỏ. Cụ bảng bắt đầu đem chuyện nhân duyên của chàng nói cho mấy cụ kia nghe và thêm:
- Sở dĩ tôi phải ra công khuôn xếp việc này, cũng vì áy náy cái cảnh vợ chồng anh đồ Vân Trình vầ thương con bé cái Ngọc. Các bác có lẽ chưa rõ đâu đuôi. Con bé ấy trước kia đã nhận lấy Trần Đãng Long, về sau không hiểu vì sao bên này lại thôi không cưới. Thế rồi cái hôm nghè Lòng vinh qui, con Ngọc tình cờ đi qua, nó tiếc cái ngôi bà nghè đến nỗi ngất đi như đứa ngộ gió. Tôi đã chữa bệnh cho nó, phải dùng đến hơn mười thang "khai uất" mới khỏi. Nhưng khỏi là khỏi tạm thời mà thôi, nêu không lấy được người chồng vừa ý thì có ngày nó sẽ phát điên phát rồ. Vợ chông bác đồ Vân Trình chỉ được hai đứa con gái, nó là lớn, nếu nó mà hỏng một đời, thì cảnh già của ông bà ấy cũng đau đớn lắm. Bởi vậy, tôi phải tình nguyện đi làm mối chồng cho nó.
Cụ nghè, cụ cử tấm tắc khen là mối lương duyên và khuyên Vân Hạc nên mau mau lo việc cưới hỏi, không nên để chậm. Cụ bảng ngắt lời:
- Cái đó đã ở tôi cả, không việc gì đến hắn.
Rồi cụ nhìn sang Vân Hạc:
- Hôm qua thầy cũng cất công sang chơi ông Vân Trình nói về chuyên này. Ông đồ, bà đồ đều bằng lòng. Công việc thế là xong. Ngày mai anh phải về quê thưa với bác cống và anh cả, anh hai...
Vân Hạc hết sức giữ cho vẻ mặt tự nhiên, chàng chỉ im lặng mà nghe và thỉnh thoảng điểm một tiếng dạ rất khẽ, chứ không nói đi nói lại. Cụ bảng lại ngó mặt chàng:
- Nhưng phải gửi rể kia đấy. Vì bác đồ gái chê quê nhà anh ở xa quá, có ý ngần ngừ không thuận, nên thầy phải hứa như thế.
Cụ nghè Quỳnh Lâm tạt ngang:
- Thế thì cậu khóa sướng bằng vua Thuấn mất rồi. Nhưng mà cháu có muốn học ông Thuấn, chỉ nên học đến cái chỗ gửi rể ấy thôi, chớ có học hơn. Để cho vợ chồng bác đồ Vân Trình kiếm lấy người rể nữa chứ.
Cả nhà cười ầm, làm cho Vân Hạc xấu hổ đỏ mặt. Lâu lâu cụ bảng lại quay sang phía Vân Hạc:
- Còn một điều này, thầy phải nói trước để cho anh liệu: cái chí con Ngọc nó chỉ thích làm bà thám, bà bảng chứ không phải nó muôn làm cô khóa quèn. Vì thế, khi nó nói mê nói sảng, luôn luôn tự xưng mình là cô thám, cô bảng. Rồi khi vợ chồng lấy nhau, anh phải nghĩ vào chỗ đó, làm sao cho khỏi phụ lòng cháu tôi thì làm.
Cả nhà lại cùng cười vang.

VII

Ở nhà ngoài, mấy bàn tài tổ tôm đã tan. Họ mạc tới tấp giục nhau ai vào việc nấy. Đàn ông bắt nốt con lợn làm thịt. Đàn bà đi thắng đường, vo gạo, sắp sửa nấu chè thổi xôi. Ông đồ bà đồ cũng đã trở dậy để sai bảo mấy cậu học trò đun nước quét nhà và nhờ mấy bà cụ già bổ cau têm trầu.
Cô Ngọc vẫn còn núp ở trong buồng chưa ra. Hôm nay cô chỉ phân vân hồi hộp, chứ không sốt ruột như những hôm trước. Trước kia, từ bữa ông đồ bà đồ chịu lời cụ bảng Tiên Kiều thuận gả cô cho Đào Vân Hạc, cô đã tự thấy nhân duyên của mình cũng không đến nỗi hẩm hiu. Tuy rằng trước mặt chị em chúng bạn, cô vẫn chê Vân Hạc là cốc láo, là kiết xác mồng tơi, và có khi cao hứng, cô còn thề rằng nhất. định đi tu chứ không lấy chàng, và cũng không lấy người nào, nhưng thực ra, với chàng, cô đã mãn nguyện vô cùng. Là vì trong con mắt cô, không có người nào hơn chàng, cả đến nghè Long cũng còn kém chàng rất xa. Chàng rất đứng đắn nhưng không lù đù. Chàng tát mình trai, nhưng không có tính bợm bãi. Những lúc cô ngồi bán hàng ở chợ Kim Bảng, thường có hàng lũ học trò đi qua, phần nhiều họ đều ăn nói chớt nhả, hoặc là con mắt nhìn ngược nhìn xuôi chập chối như quạ đậu chuồng lợn, riêng có Vân Hạc lúc nào cũng giữ vẻ tự nhiên dù miệng chàng vẫn tươi như hoa, tiếng nói của chàng vẫn có duyên và rất dễ nghe. Đáng để cho cô vừa lòng hơn nữa là cái tài hoa của chàng. Tuy rằng cô chưa khi nào hỏi ai, nhưng danh tiếng chàng đã khét cả tỉnh Hà Nội, nó vẫn luôn luôn bay đến tai cô một cách vô tình.
Cô biết văn chàng không ưu thì bình, không bao giờ phải xuống bình thú. Cô biết trong ba bốn trăm học trò cụ bảng Tiên Kiều, chàng là một người thứ nhất, không ai đè nổi. Cô biết các ông bạn của cụ bảng Tiên Kiều đều phục chàng có tài thám, bảng, sức học hơn hẳn nghè Long, tuy chàng đã ba khoa thi hương không đỗ. Tóm lại, người chàng, nết chàng, tài học của chàng, bấy nhiêu cái đã làm cho cô bồn chồn sung sướng mỗi khi nghĩ đến ngày mình làm vợ chàng. Cô tin đời cô sẽ có một lần cũng như cô Thúy, chẫm chệ ngồi trên chiếc võng mành mành cánh sáo, để hàng tổng hàng xã rước đi rước vê. Cô lại tiếc rằng ông thám, ông bảng vẫn chỉ là hàng tiến sĩ, dù chàng có đỗ thám hoa, bảng nhỡn, cô cũng không hơn cô Thúy bao nhiêu.
Nhưng cũng có lúc tự cô lại thấy chán nản buồn bã. Là vì cô nhớ năm trước eo người thầy bói đoán rằng số cô trắc trở về đường nhân duyên, quả nhiên sau đó đã xảy ra việc bên nhà nghè Long bỏ cô không cưới. Bây giờ cái việc cô với Vân Hạc mới là lời của cụ bảng nói với ông đồ bà đồ, chưa đâu vào đâu, chắc đâu sau này lại không có kẻ bàn ra nói vào. Xong cô cũng chưa đến nỗi thất vọng. Bởi vì cô chắc cụ bảng Tiên Kiều là bậc người lớn, cụ đã nói sao, phải đúng như vậy, không khi nào có chuyện trẻ con như vợ chồng ông đồ Văn Khoa.
Tuy rằng những khi đi chợ tình cờ giáp mặt Vân Hạc, cô thường giả vờ nhìn đi đằng khác, như không để ý đến chàng, nhưng mà trong lúc bước chân ra đi, cô lại mong được gặp chàng để thử ngắm lại dáng bộ chàng bây giờ ra sao. Tuy rằng nhưng lúc ngôi với chị em chúng bạn, bị họ đem Vân Hạc ra làm đầu đề chế cô, giễu cô, cô vẫn xấu hổ đỏ mặt, có lần đã phải phát cáu với họ nhưng mà chính cô lại muốn được họ chế mình, giễu mình như thế, và nếu không thế, thì câu chuyện của họ sẽ không được cô để vào lỗ tai. Cái phút hồi hộp thứ nhất của cô hồi ấy là bữa cô vừa ở chợ về, bà đồ bảo cho cô biết cụ bảng Tiên Kiều đã xin ấn định ngày đi trầu cau. Bấy giờ cô không có can đảm để hỏi "thầy mẹ đã nhận lời chưa", nhưng cô chỉ mong được nghe bà đồ nói rằng: "Ta đã nhận lời rồi đấy". Thế rồi tứ lúc ăn hỏi, xin cưới mà đi, sự bồn chồn ở trong bụng cô lại cứ mỗi ngày mỗi tiến. Với cô lúc ấy, một ngày tức là một năm. Cái thời gian từ cuối tháng sáu đến đầu tháng tám, chỉ có hơn ba chục ngày, nhưng với cô nó đã dài như ba chục năm. Hàng ngày óc cô luôn luôn phải làm tính trì, hết một ngày thì cô rút đi một ngày, hết hai ngày thì cô rút đi hai ngày, nhưng cái chuỗi ngày chưa tới vẫn như không ngắn chút nào. Những đêm mưa ngâu rả rích, giọt mưa lách tách rơi xuống đầu thềm, và những buổi chiều gió thu hiu hắt thổi quanh nhà, bóng tà man mác in trên lá cây đều là những cái thì khắc khó chịu cho cô hơn hết. Bây giờ những ngày sốt ruột ấy nó đã như nước chảy chậm, dần dần tiêu hết đi rồi. Cái giờ mà cô chờ đợi, đương sắp sửa tới. Chỉ một lúc nữa thì đến giờ ngọ, họ nhà trai sẽ sang đón dâu. Từ trưa hôm qua mà đi người cô lúc nào cũng thấy rạo rực, nhất là những lúc nghe tiếng bà con làm giúp, thi nhau gọi mình là cô dâu.
Không phải cô thẹn vê sự trêu cợt của họ. Hơn một tháng nay, người ta đùa cô, chế cô đã nhiều, cô đã quen rồi. Lúc này, trước sự ỡm ờ của mọi người, cô đã thừa đủ can đảm để mà đâm ỳ ra đó. Vậy mà không biết làm sao hai tiếng cô dâu lại có sức mạnh mầu nhiệm, mỗi khi lọt vào tai cô. (Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc). Cả đêm hôm qua, cô chỉ ngủ đi nửa giờ. Nhiều lúc cô đã cố nằm nhắm mắt, nhưng không thế ngủ được. Những tiếng đi lại huỳnh huỵch và nhưng tiếng nói chuyện xôn xao của một đình đám linh đình bắt cô phải để tất cả tâm trí vào cảnh tượng đêm mai. Trong phút này, cái tiếng đêm mai đã phải đổi ra đêm nay, óc cô vẫn cứ bộn rộn vê cảnh tượng đó. "Đúng trưa mới bắt đầu ở đây ra đi, nhanh lắm cũng phải đến nhá nhem mới tới Đào Nguyên. Thế thì cuộc lễ tơ hồng sẽ vào ban tối". Cô tính như thế, và cô cho rằng như thế càng hay, vì lễ tơ hồng ban tối, sẽ khỏi trơ trẽn như các đám khác làm lễ ban ngày. Cô lại tiếc từ trước đến giờ mình không để ý đến các đám cưới của người trong họ. Không rõ trong lúc ngồi với chú rể mà ăn mâm cỗ cúng ông tơ hồng, cô dâu có phải uống rượu hay không? Nếu có thì uống mấy chén? Và cô cân nhắc đến tiếng xưng hô của mình phải dùng trong cái phút ấy không biết khi thoạt giáp mặt Vân Hạc, mình nên gọi « anh chàng ta » là gì, bằng mình hay bằng anh? Rồi cô nghĩ luôn đến những cử chỉ, lễ độ và những câu chuyện sẽ nói trong khi vợ chồng bắt đầu ngồi đối diện với nhau. Cô không hiểu rằng cái lúc hãy còn ăn uống, mình nên thay bộ áo ngoài, hay cứ mặc nguyên như trước. Thể rồi hai má thấy nóng hôi hổi. (Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc). Tiếng kêu giật giọng của con lợn đương bị chọc tiết, chói lói thúc vào lỗ tai, làm cô phải dứt hẳn mạch tư tưởng. Một người chị họ đi qua cửa buồng, vừa cười vừa nói the thé:
- Gớm chửa! Cô dâu bây giờ vẫn chưa thèm dậy. Ngủ gì mà ngủ kỹ thế.
(Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc) Cô chưa nói sao, người ấy mở mành nhòm vào buồng và giục:
- Thôi đi. Ngủ độ bấy nhiêu cũng đủ. Dậy đi thôi. Mặt trời đã xỏ vào mắt kia kìa. Dậy xem gạo để đâu đong cho chúng tôi nấu cơm.
Cô liền trả lời bằng giọng cố thây:
- Em còn định ngủ thẳng đến trưa, nhưng chị đã nói thì em xin thôi.
Rồi cô oằn oại ngồi dậy.
Trái với thưởng lệ mỗi ngày, hôm nay cô không chải đầu không soi gương, chỉ quấn lại qua loa cái vành khăn vấn, rồi cô bạo dạn mở cửa bước ra. Mấy người em họ đua nhau chế giễu:
- Thưa chị đã dậy ạ!
- Sao chị không cố ngủ thêm lúc nữa?
Cô mỉm cười và vẫn bây bả:
- Công việc đã có các dì làm hộ. Tôi cần phải ngủ để lấy lưng cho đêm nay chứ! Nhưng mà còn đời các dì nữa đấy. Chỉ sợ sau này các dì lại bằng hai tôi thôi.
Đủng đỉnh ra bể, cô toan múc nước rửa mặt. Không biết bụng cô nghĩ ngợi ra sao, thau nước múc rồi lại bỏ không rửa. Lững. thững cô xuống nhà bếp và ngồi thụt vào đám mấy người con gái.
Nhà trên, nhà dưới, công việc dao thớt vẫn được tiến hành một cánh tấp nập.
Mặt trời lên khỏi ngọn cây, một loạt độ vài chục mâm vừa xong. Sau khi cái sỏ lợn đã đệ ra đình nộp cheo, và mấy mâm thịnh soạn đã bưng đi cúng nhà thờ, họ mạc rộn rã bảo nhau ăn uống, để một lát nữa còn phải làm cỗ thết họ nhà trai.
Cô cũng ghé vào với các chị em, ăn lếu ăn láo một vài lưng cơm. Rồi lại lẩn vào trong đám đàn bà con gái, ngồi dụi, ngồi dò lúc tựa vào lưng người này, lúc gục vào vai người kia, đê giấu cho kín cái vẻ khác thường trên mặt.
Gần trưa, một cậu học trò bé con lúc nãy bị cắt ra ngóng ở nẻo đầu làng,tất tả chạy về nói với ông đồ là họ nhà trai đã đến. Quang cảnh trong nhà mới càng túi bụi.
Người ta thúc mấy cậu này quạt nỏ hoả lò cho nước chóng sôi. Người ta sai mấy cậu kia lấy chiếc phất trần phẩy qua dãy chiếu cạp điều cho sạch cát bụi. Người ta bắt hai cô con gái bưng hai cơi trầu ra tận ngã ba đón họ nhà .trai.
Cô Ngọc vẫn cố ngồi lý dưới bếp để làm ra bộ bạo dạn. Một lát sau, ngoài cổng nghe có tiếng người ồn ào tiếp luôn đến tiếng trẻ con cười reo:
- Chú rể đã đến!
Mấy cô con gái lở tờ kéo ra nạp sau tường hoa cạnh cổng, đế chờ xem mặt chú rể.
Bấy giờ cô mới lật đật chạy vội lên buông. Lúc ấy mọi người đổ xô cả ra phía cổng, ở chỗ cửa buồng không có người nào, cô bèn khép cánh cửa lại rồi đứng sau cửa nhìn ra.
Đám con nít xúm xít ở phía sau cổng, tự nhiên giạt ra hai bên, rồi cùng chắp tay vái như bổ củi:
- Lạy cụ ạ!
- Lạy cụ ạ !
Với một bó hương nghi ngút cầm tay, cụ bảng Tiên Kiều xúng xính khoác áo thụng lam đi trước, rồi đến cụ cử Liên Trì. Rồi đến mấy ông cụ già. Rồi đến mấy bà cụ già. Rồi đến một toán con gái. Rồi đến một bọn con trai. Rồi đến một lũ bưng tráp xách điếu, với mấy người phu khiêng võng.
Cô Ngọc chăm chăm nhìn không chớp mắt, chủ ý chí định coi thử Vân Hạc ăn mặc có lịch sự không. Nhưng chàng đứng lấp vào đoàn nón dứa lố nhố, cô không thể trông được rõ.
Thình lình một tiếng pháo nổ. Cả bọn nhà trai ùn lại khu giữa sân. Rồi đó những tiếng đì đùng tiếp nhau đi một hồi dài. Xác pháo bắn ra tứ tung, khói bốc đen ngòm, mùi thuốc pháo đưa vào trong nhà khét lẹt. Khi ấy mặt cô càng nóng, bụng cô càng thấy nôn nao, cô phải lẻn vào trong giường, ngồi im.
Họ nhà trai lục tục tiến lên nhà trên. Cụ nghè Quỳnh Lâm, cụ cử Mai Đình và các ông bạn của ông đồ ở bên nhà học vừa sang. Các cụ vái nhau một lượt, rồi cụ cử Mai Đình nhìn vào cụ bảng Tiên Kiều, cụ cử Liên Trì mà nói:
- Té ra chúng ta hôm nay chia làm hai cánh. Các bác ăn về cánh nhà trai, chúng tôi thì ăn vê cánh nhà gái. Cụ cử Liên Trì mỉm cười:
- Phải. Tôi cũng biết các anh ăn về bên chắc.
Cụ cử Mai Đình cũng cười và tiếp:
- Chứ ai có dại mà đi ăn về bên lép như các ngài.
Cụ bảng Tiên Kiều nói chen:
- Tôi can các anh đừng bẻ tay bụt ngày rằm. Cỗ bàn có thiếu gì giò nem!...
Một trận cười rộ kết liễu cho cuộc bông đùa, quan viên hai họ chen nhau ngồi vào các ghế.
Tuần trà đầu tiên đã đoạn. Cụ bảng nói với quan họ nhà gái cho người đưa rể đi lễ mấy nơi cần lễ. Một cậu phòng của nhà trai mở tráp lấy chiếc áo tấc trao cho Vân Hạc. Mấy chục cặp mắt trong đám đồng thời đổ xô vào chàng rể mới. Vân Hạc tuy đã trơ trẽn, nhưng cũng không khỏi xấu hổ khi phải khoác tấm áo lùng thùng vào mình để đi với bọn phù rể theo người nhà gái dẫn đường đến mấy nhà thờ.
Những cô con gái rõ mặt chú rể thi nhau bàn tán bình phẩm; kẻ chê chú rể xấc lấc, người khen chú rể giỏi trai.
Bà đồ tung tăng chạy lên chạy xuống, dóng dả chị em bè bạn cô Ngọc sắp sửa quần áo để đi đưa dâu. Một lát sau, chú rể lại về với bọn phù rể. Bà cống lễ phép đứng dậy nói với cụ bảng xin mời ông đồ bà đồ ngồi lên cho chú rể làm lễ. Cả hai ông bà nhất định không nhận. Bà cống nhất định chèo kéo. Một bên cố nài, một bên cố chối, câu chuyện giằng co một hồi. lâu. Kết cục cuộc ấp tốn phải nhường chỗ cho mấy mâm cỗ và mấy nai rượu.
Sau khi đã thay phiên nhau mời chào quan viên hai họ vào tiệc, ông đồ lánh sang nhà học, bà đồ cũng đi giục giã mấy người làm giúp bưng mâm để những ông, bà, cô, cậu phải đi đưa dâu uống rượu; rồi bà vào báo cô Ngọc cùng ngồi với các chị em ăn cơm luôn thể.
Bóng nắng chấm giọt, nhà trong nhà ngoài ăn uống đêu xong.
Cụ bảng sai người đi mời ông đồ bà đồ tới đó để xin đón dâu. Những người vào việc võng cáng điếu tráp tấp nập sắp sứa đồ đạc. Mấy bà cụ già trong họ cùng giục cô Ngọc đứng lên thay đổi quần áo.
Nhưng cô bây giờ tự nhiên lại thấy bẽn lẽn xấu hổ, nấn ná cô cứ ngồi ỳ với bọn chị em. Mấy bà cụ già nóng ruột, thúc giục đến bốn năm lần, bấy giờ cô mới liều tình đứng dậy ra sân. Sau khi đã múc chậu nước lau qua mặt mũi, cô vào trong buồng, mở rương lấy gói quần mới, áo mới, và chiếc quai thao mới, bỏ cả ra giường. Rồi cô lật chiếu đầu giường cầm lấy chiếc gương Tư mã, nhưng lại ra bộ ngượng ngùng nửa muốn soi, nửa không muốn soi.
Những người bạn gái xúm lại, kẻ xổ khăn, người chải đầu, người rẽ đường ngôi, rồi người lấy chiếc khăn nhiễu tam giang của cô mới mua; nắn nót vấn vào cho cô. Mặc họ vần mình như vần dưa, cô không nói năng gì cả.
Ngoài sân lạch tạch một tràng pháo nổ. Quan họ nhà trai đã tan một tuần trầu nước cuối cùng. Bà cống Đào Nguyên, cụ bảng Tiên Kiều có lời cáo từ.
Rồi thì mọi người rục rịch đứng dậy vái chào ông đồ bà đồ và bước xuống sân. Cụ nghè Quỷnh Lâm, cụ cử Mai Đình và mấy ông già bà già dự cuộc đưa dâu, cùng đi luôn với họ nhà trai ra cổng.
Cô Ngọc vẫn còn lúng túng trong buồng, chưa chịu thay đổi quần áo. Mấy bà nhiều tuổi trong họ phát cáu:
- Không phải là việc trẻ con mà cứ làm nũng! Thế nào gọi là ngày lành tháng tốt? Một năm mới được một ngày. Một ngày mới được một giờ. Liệu mà sắm sửa mau lên, sắp hết giờ ngọ rồi đấy. Nếu đi lúc nào cũng được thì ai còn xem giờ làm gì?
Cô Ngọc đỏ bừng hai má và trả lời bằng giọng buồn rầu:
- Các bà mắng cháu oan quá. Nào cháu có làm nũng đâu! Nhưng mà ...
Cô không nói nữa và đứng phắt dậy, cởi hết cả lớp quần áo đương mặc, để thay một lượt áo mới váy mới. Rồi cô khẽ nâng chiếc gương Tư mã ngắm lại dung nhan của mình, cái tuổi xuân đương dậy thì, thêm có tơ lụa trang điểm, cố nhiên vẻ yêu kiều phải rực rỡ hơn ngày thường. Cô cố giữ nguyên sắc mặt cho khỏi tươi cười, đế giàu kín cái hớn hở của sư đắc ý.
Chị em thi nhau nói giễu: .
- Đẹp rồi! Đáng là cô thám, cô bảng lắm rồi. Thôi đi đi chứ. Đêm có khuya ngày có rạng!
Cô không trả lời. Ngó ra cửa buồng cô bảo Bích lấy chiếc chiếu trải ra giữa thềm. Rồi mời ông đồ bà đồ ngồi trên phản, cô rón rén bước vào trong chiếu sụp xuống lạy cha lạy mẹ mỗi người một lạy. Ông đồ vẫn thản nhiên như thưởng. Nhưng bà đồ coi bộ rất là cảm động, nước mắt dấp dính trong hai khóe mắt. Sẽ lau nước mắt, bà gượng làm bộ vui vẻ:
- Thôi con đi đi? Kẻo nữa hai họ chờ đợi. Mẹ đã nói với cụ bảng, bà cống rồi đấy. Ngày mai cơm nước xong rồi, vợ chồng lại cùng về đây với thầy mẹ.
Cô Ngọc cũng rưng rưng hai hàng nước mắt. Uể oải xỏ chân vào đôi dép cong, rồi cô thơ thẩn đứng dậy, toan quay vào buồng. Mấy cô phù dâu đứng đợi đã lâu, có ý nóng ruột, họ liền lấy chiếc nón thúng quai thao trao tay cho cô và giục:
- Đi đi! Chùng chình mãi! Chị bắt anh ấy chờ đến bao giờ?
Điềm nhiên, cô đặt chiếc nón lên đầu và buồn bã bước chân xuống thềm, rồi đi lẫn vào giữa đám con gái đó. Cái nón chênh chếch chúc về phía trước, hết sức giấu kín đôi má hồng hồng của cô, cái má đang bị nóng hổi về sự rạo rực trong tim phổi.
Ngoài đường quan viên hai họ vẫn thúng thẳng vừa đi vừa đợi. Ra khỏi cổng làng, dâu rể và các ông già, bà già lần lượt lên võng. Những cô con gái và những cậu con trai răm rắp đi bộ theo sau.
Nắng tây gay gắt rọi xuống đồng lúa xanh non, như muốn thúc đám cưới đi cho rảo bước. Ngồi trên võng, nhìn lên những người đi trước, cô sực nhớ đến câu chuyện mà mình bói được độ nọ:
« Vội vàng sắm sửa lễ công.
Kiệu hoa đón gió, đuốc hồng ruổi sao.
Bài hàng cổ vũ xôn xao.
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi. »
Cô mỉm cười và tự hỏi mình: có lẽ bốn câu ấy ứng vào cái việc hôm nay đây rồi. Rồi cô liền nghĩ tới bốn câu nữa mà cô cũng bói được trong hôm ấy và cô tự hỏi: không hiểu bôn câu này là ý làm sao?



VII

Ánh nắng nhạt của trời tháng chín đã phá tan lớp sương mù bắt đầu in xuống mặt đất. Cánh đồng lúa chín tưng bừng biến thành làn biển sắc vàng. Hơi sương đọng lại ban đêm còn đâm đìa trên lá cây và lóng lánh trên ngọn cỏ. Dáng bộ vui vẻ của một người đương được hả dạ, cô Ngọc - bây giờ có thể gọi là cô khóa Hạc - tung tăng đi trên bờ đê với chiếc thúng nhói cắp dưới sườn. Chốc chốc cô lại quay đâu về phía cổng làng để ngó xem chồng ra chưa. Nhưng mà chàng vẫn chưa ra. Thủng thẳng bước một, cô dạo tới một gốc cây đa ven đê. Và lật chiếc nón khua sơn nhôi bạc đặt ngửa xuống một đám cỏ, cô để cái thúng lên trên. Rồi vén váy áo cho khỏi lòa xòa, cô vào một đoạn rễ đ~cạnh đó và giở thúng lấy kim chỉ và miếng mụn nhiễu, cô vừa khâu túi vừa đợi chồng. Sau cái đêm đuốc hoa phòng động, cô về quê chồng lần này là hai.
Bởi vì từ khi xong lễ lại mặt, Vân Hạc đã cho người sang nhà trọ dọn hết sách vở đồ đạc sang nhà ông đô Vân Trình, để cùng cô hưởng cuộn đoàn viên, cho nên cô dù đã đi lấy chồng, nhưng vẫn được ở nhà với cha với mẹ. Vợ chồng ông đồ cũng muốn cho cô trọn đạo làm dâu. Cho nên cách đó ít bữa, ông bà lại bắt Vân Hạc đưa cô về làng Đào Nguyên để thăm bà cống và đi chào các ông chú bà bác trong họ.
Cô ở nhà chồng chỉ có hai đêm một ngày, thì bà cống Đào Nguyên giục cả vợ lẫn chồng phải sang Vân Trình. Là vì năm đó, hương thi có kỳ ân khoa, bà sợ con trai nấn ná ở nhà, hoặc giả lại sao nhãng về việc đèn sách. Chiều ý mẹ Vân Hạc phải đi ngay.
Năm gian nhà khách của ông đồ Vân Trình lúc ấy đã thành ra giang sơn riêng của vợ chồng cô. Với cái giang sơn ấy, đời cô hơn một tháng nay, có thể nói là đây nhưng thi vị. Ngày thì đi chợ bán hàng, tối về cô lại dệt cửi. Buồng cửi của cô đối nhau với buồng học của Vân Hạc. Những lúc đêm khuya nhà vắng, bóng trăng vằng vặc rọi trước thềm, chàng học, cô thì dệt vải, tiếng đọc sách giòn giã xen với những nhịp đều đặn của tiếng ác kêu, khiến cô luôn luôn cảm thấy cái sung sướng êm đềm của đời tuổi trẻ vô tư vô lự.
Nhưng mà chí cô không phải có thế, cô còn muốn được hơn nữa. Bây giờ kỳ thi sắp tới. Chỉ còn cách năm ngày nữa, chàng phải trẩy trường. Vì vậy ông bà đồ bảo chàng và cô phải về Đào Nguyên để sửa lễ thờ. Vân Hạc tuy vẫn không thích việc đó, nhưng vì chiều lòng ông nhạc, bà nhạc, chàng cũng không muốn từ chối.
Sáng nay cô và chàng ăn cơm sớm hơn mọi ngày. Đáng lẽ hai người cùng đi một lúc, nhưng vì vợ chồng mới cưới cô vẫn chưa hết cái tính xấu hổ, sợ rằng đi đôi với chồng lại bị chị em chê cười. Cho nên cô mới dặn chàng đi sau để mình đi trước, ra khỏi cổng làng cô sẽ vừa đi vừa đợi. Dưới bóng rợp mát của cây đa, mắt cô tuy nhìn vào mũi chỉ đường kim, nhưng bụng cô vẫn để cả vào lời người thầy bói mà cô bói trong phiên chợ trước. Người ta vẫn đồn lão thầy bói đó đoán quẻ hay lắm. Hắn bảo tháng này mình có tin mừng, chắt anh chàng ta thế nào cũng đỗ. Vả lại cụ bảng Tiên Kiều, cụ nghè Quỳnh Lâm và nhiều cụ khác đều nói quyệt rằng anh ta phải đỗ kia mà. Nhưng, anh ta đỗ ngay, mình cũng không thích. Vợ chống lấy nhau mới già một tháng, mà chồng đã đỗ, thiên hạ sẽ bảo mình không có công nuôi chồng đi học ngày nào. Ước gì anh ta hỏng vài khoa nữa, rồi sau hãy đỗ để mình nuôi hắn cho thiên hạ biết tay". Nhưng rồi cô lại gạt đi mà rằng: "Sao mình nghĩ dại dột như thế? Gì thì gì, chứ chồng đỗ sớm vẫn có sướng hơn. Thi hương đã vậy, lại còn thi hội. Nếu khi mình đã con bận con mọn, vác đôi vú ộ ệ mà lên ngồi võng vinh qui, có lẽ không thú gì nữa".
Cái túi khâu đã gần xong, vẫn chưa thấy bóng Vân Hạc. Cô toan đứng dậy trở về, thì trong cổng làng một chiếc nón dứa vừa nhô ra dưới bóng nắng. Nhìn cái dáng điệu nhanh nhảu và nhẹ nhàng của người đội nón, cô nhận đích là chồng mình, tức thì cô lại ngồi xuống để khâu cho xong cái túi.
Bóng nắng lan đến gốc đa.
Trận gió hiu hiu thổi qua đồng lúa.
Những bông lúa chín lướt theo chiều gió cồn cộn như một lớp sóng vàng.
Tiếng hát đưa liềm của mấy cô thợ gặt thi nhau lên bổng xuống chìm, réo rắt trong cánh đông bát ngát.
Trước cảnh tượng bao la man mác, cô dừng mũi kim, mơ màng nhìn ra đám chân trời xa xa.
- Làm gì mà thơ thẩn vậy?
Tiếng hỏi thình lình dội vào bên tai, khiến cô giật mình quay lại. Vân Hạc đã sừng sững đứng ở đằng sau với một nụ cười. Chàng tiếp:
- Đợi lâu thế hẳn nóng ruột lắm đấy nhỉ?
Cô cũng mỉm cười và đáp:
- Không nóng ruột. Chỉ tính quay về đấy thôi.
- Trang điểm những gì mà ở nhà bây giờ mới đi?
Vừa nói, cô vừa thu xếp cái thúng, rồi cô uốn vai, vặn mình, uể oải đứng dậy. Vợ chồng liền sánh vai nhau vừa đi vừa nói những chuyện tầm phơ. Con đường tuy xa, nhưng chàng vẫn luôn đi về , cô thì hàng ngày đi chợ đã quen, cho nên ai nấy cũng không thấy mỏi lắm.
Mặt trời gần đến đỉnh đầu, cổng làng Đào Nguyên lù lù hiện ra ở trước mặt. Cô toan lùi lại để chồng vào trước. Nhưng chàng bảo cô cứ việc cùng đi, không phải e lệ gì cả. Hai người mới nhô đầu vào cổng nhà, lũ cháu thi nhau cười reo:
- Ấy , chú tư, thím tư đã về!
Rồi chúng đua nhau lạy chú, lạy thím và chúng xúm xít xung quanh, đứa này nắm tay, đứa kia níu lấy vạt áo của thím. Xoa đầu chúng nó khắp lượt, cô và chàng vui vẻ đi vào trước thềm. Bà cống đang ở trong nhà mừng rỡ bước ra. Cô và chàng cùng cung kính chào. Bà cống tươi cười:
- Ừ các con đã về đấy ư? Đẻ đang cố mong đợi. Nếu như hôm nay chúng bay không vê, thì có lẽ ngày mai đẻ phải cho người đi gọi.
Vân Hạc sửng sốt :
- Thưa đẻ có việc gì ạ?
Bà cống vội đáp:
- Không! Có việc gì đâu. Vợ chồng hãy vào trong nhà mà nghỉ. Đi đường lúc nắng có mệt lắm không.
Cô Ngọc lễ phép:
- Thưa đẻ, cũng không nắng lắm. Vì ở trên đường có gió luôn luôn.
Rồi cô nhẹ nhàng lên thềm và sai một đứa cháu lớn đi xuống.nhà dưới lấy cho cái đĩa. Sau khi đã giở thúng lấy mấy chiếc bánh cốm bày lên trên đĩa, bưng đến trước chỗ bà cống, mời bà xơi nước, cô đem gói kẹo phân phát cho lũ trẻ con. Mấy người chị dâu nghe tiếng vợ chồng chú tư đã về, ai nấy đon đả chạy lên chào hỏi. Trong nhà vui như ngày tết.
Hết một lượt chuyện hàn huyên, Vân Hạc đứng dây tung tăng vừa đi bách bộ trong nhà vừa hỏi mấy người chị dâu:
- Anh cả đi đâu không thấy? Anh hai, anh tú độ này có về nhà không?
Bà cống đón lời:
- Bác cả sang chơi bên Bắc, mới đi sáng nay. Còn anh hai và anh tú thì hơn tháng nay không về đến nhà. Hôm qua hai anh có nhắn về rằng : hễ con có về, thì con cứ việc sửa lễ ra thờ. Từ nay đến hôm trẩy trường, các anh ấy không về nữa. Vì thế, đẻ cứ mong ngóng vợ chồng nhà mày.
- Con cũng đã toan không về. Nhưng vì mẹ con bên kia giục mãi, con cũng chiều lòng, nên phải nghe lời. Lễ mãi, khoa nào cũng lễ, hỏng vẫn hoàn hỏng.
Quỷ thần có giúp cho mình đâu, mà mình cứ phải cúng các ông ấy?
Vừa nói Vân Hạc vừa ngồi xuống ghế, vớ lấy cái điếu sai cháu châm lửa hút thuốc. Bà cống ra bộ không ưng lời con, vội gắt:
- Cái thằng ăn nói hay chứ! Làm người thì phải kính trọng quỷ thần. Cúng ngài không phải chỉ cốt để ngài phù hộ. Mày dốt thì mày hỏng, trách gì quỷ thần? Nếu như cúng mà được đỗ, ai còn phải học làm gì.
Co Ngọc tiếp lời mẹ chồng:
- Ấy ở bên kia anh ấy cũng cứ nói bướng như thế. Mẹ con khuyên mãi mới chịu về đấy.
Vân Hạc mỉm cười :
- Thì cứ cúng, tôi có ngăn cản gì đâu. Nhưng thưa đẻ phải để đến ngày mai chứ?
Bà cống rẽ ràng trả lời:
- Gà gạo tao đã mua sẵn cả rồi. Nhưng cũng phải chờ đến sáng mai mới sửa. Việc lễ lạt không nên sửa vào buổi chiều.
Một đứa cháu gái với bộ mặt nhễ nhại mồ hôi, xách một siêu nước từ dưới nhà bếp lên thềm. Cô Ngọc nhanh nhầu chạy ra đón lấy. Rồi cô súc ấm, tráng chén, pha mấy chén nước, đệ đến trước mặt bà cống. Bà cống cầm chồng bánh cốm đưa cho cô va nói:
- Con đem bóc ra, để các bác uống nước cho vui.
Chị tú chạy lại đón lấy chồng bánh và nói:
- Để con bóc cho. Thím nó chưa biết bát đũa để đâu.
Rồi thì chị cầm lấy mấy cái bánh đi xuống nhà dưới. Bà cống vui vẻ bảo chị cả, chị .hai cùng sang bên ấy uống nước với mình. Với mấy chị này, bà chỉ là người nàng hầu của bố chồng, nhưng lúc ấy các bà vợ cả, vợ hai cụ cống đều mất. Bà được là chủ của gia đình. Cái nết hiền tứ đứng đắn của bà, đã làm cho những người dâu con cụ cống đều phải kính trọng yêu mến như một người mẹ. Đối với bà, họ giữ rất đúng lễ phép, thường thường không ai ngồi đôi cùng bà bao giờ. Vì vây, bây giờ bà tuy mới họ, họ vẫn nhất định từ chối:
- Bà mặc chúng con.
Chị tú đã bưng mâm bánh ở nhà dưới lên, rón rén đặt xuống bên cạnh bà cống. Một lần nữa, bà lại giục các chị dâu sang đó ăn bánh. Nể lời bà, chị hai liền đến bưng lấy một đĩa, đem sang dãy phản bên này.
Bà cống lại gọi lũ cháu vào quanh phản mình, rồi bà xắn bánh, xóc cho mỗi đứa một miếng.
Cái tiệc đơn sơ cử hành trong một bầu không khí đầm ấm khiến cho cô Ngọc nô nức mừng thầm về nền phúc đức nhà chồng. Và cô không khỏi băn khoăn cho cảnh vắng vẻ của nhà mình. Xong bữa nước, trời vừa đúng trưa. Chị cả, chị hai, ai đi làm việc nấy. Cô và chị tú cùng xuống bếp nấu cơm.
Mặt trời tà tà, cô vào xin phép bà cống cho mình và mấy đứa cháu nhỏ đi thăm mấy ông chú bác và vài chị em trong họ. Lân la hết nhà này đến nhà khác, khi cô trở về thì trời vừa tối.
Trong nhà hãy còn đầy những khách khứa, bà con trong họ nghe tin Vân Hạc mới về, người ta rủ nhau đến chơi để hói thăm về chuyện thi cử của chàng.
Mặc chồng tiếp khách ở nhà trên, cô xuống nhà dưới, ngồi chuyện văn với mấy người chị dâu. Một lát sau khách khứa về hết. Vân Hạc cũng cùng đi chơi với họ. Bà cống cho gọi cô và mấy người kia lên cả trên nhà. Rồi bà bắt cô thắp đèn, đem truyện phật bà Quan âm kể cho cả nhà cùng nghe. Lâu nay bà vẫn thèm nghe truyện ấy, nhưng mà không có ai kể. Vả lại, bà vẫn nghe nói dâu mình biết chữ, nhưng bà chưa tin, nên muốn thử xem cô có biết chữ thật không.
Thây cô đọc được trôi chảy, đúng vần, dứt mạch, không bị ngắc ngứ chỗ nào, thì bà rất lấy làm mừng.
Chị hai như cũng ngạc nhiên về sự thông thái của em dâu, ngơ ngẩn nét mặt sẽ hỏi :
- Thím đi học được bao nhiêu năm?
Cô bấm đốt rồi đáp:
- Tám năm tất cả. Em đi học từ năm lên sáu. Vì thầy mẹ em hiếm hoi, lúc đẻ em, thầy mẹ em không xâu lỗ tai. Đến năm em lên sáu tuổi thầy mẹ em lại bắt em để hồng mao, mặc quần trắng, giả làm con trai, học chung lớp với học trò trẻ con. Em học lẽo đẽo đến năm đã mười bốn tuổi, phải đi chợ coi hàng cho mẹ em, bấy giờ mới nghỉ.
Chị em tươi cười hỏi tiếp :
- Thế thím đã đọc được những sách gì?
Cô thỏ thẻ trả lời:
- Cũng như những học trò con trai, vỡ lòng em học Tam tự kinh, rồi đến Sơ lọc vấn tân, rồi đến Minh đạo gia huấn, rồi đến ấu học ngũ ngôn thi, rồi đến Hiếu kinh, rồi đến Luận ngữ chính văn. Năm em mười tuổi, thày em mới cho em học kinh Lễ, nhưng chỉ học thiên Khúc lễ, và thiên Nữ tắc mà thôi. Hết hai thiên ấy, mỗi ngày em chỉ được viết một tờ phóng và học mấy bài thơ trong quyển Đường thi. Vì lúc ấy mà đi, ngày nào em cũng phải đánh ống, đánh suốt, tập nghề dệt vải.
Chị cả ra bộ tần ngần:
- Thuở nhỏ tôi cũng đi học như thím, nhưng chỉ học đến quyển Hiếu kinh thì thôi Thế mà bây giờ không nhớ một chữ nào cả. Tôi tối dạ quá.
Đêm đã khuya, bà cống thấy mình hơi mệt. Cuộc kể truyện bị tan giữa lúc nhiều người còn thèm. Chị cả , chị hai, chị tú rục nịch ai vào buồng riêng của người nấy. Những đứa cháu nhỏ chầu chực từ tối đến giờ tranh nhau đòi được ngủ với thím tư. Vân Hạc vẫn chưa về. Bà cống bảo cô đem cả lũ cháu vào trong phòng mình cùng ngủ.
Vừa lạ nhà, lại vừa băn khoăn không biết chồng mình bê tha ở đâu, cô trằn trọc đến hết canh ba mới chợp mắt được một lát. Mấy con gà trống phành phạch vỗ cánh thi nhau gáy ở sau nhà, làm cô giật mình thức giấc. Ngoài sân đã thấy có tiếng nồi xanh lạch cạch và tiếng vo gạo sàn sạt. Những người chị dâu đã dậy làm việc cả rồi. Cố nhiên cô cũng không thể nằm nữa. Sợ động giấc ngủ cua mẹ chồng, cô sẽ rón rén xuống đất và sẽ ngỏ cửa ra sân để cùng các chị bắc chõ thổi xôi, đun nước làm thịt gà.
Bấy giờ Vân Hạc mới về. Cô toan hỏi chồng đi đâu suốt đêm. Nhưng sợ mấy người chị dâu cười mình ghen bóng ghen gió, nên cô lại thôi. Trời rạng đông, tiếng gà giục giã gáy dồn. Bà cống trở dậy và xuống ngồi ở, nhà bếp xem xét công việc.
Sáng rõ. Xôi, gà đều chín. Các thức cơm canh cũng vừa làm xong. Theo lời dặn của bà cống, cơm canh để cúng ở nhà, còn xôi gà thì đem cúng đình và cúng nhà thờ đại tôn. Sau khi hai chõ xôi và hai con gà được đóng làm hai mâm, bà bảo cô Ngọc sắp đủ trầu rượu vào đó và đi lấy hai bông hoa hồng cắm vào hai cái mỏ gà, rồi cho người nhà bưng đi.
Bởi vắng anh cả, Vân Hạc phải chỉnh đốn khăn áo để thắp đèn hương khấn cụ. Rồi chàng đi theo hai mâm xôi gà đi ra đình lễ thánh và vào nhà thờ đại tôn lễ tổ. Bà cống dặn với:
- Con nhớ nói với ông từ, ông trưởng khấn cho anh hai, anh tú nữa đấy.
Vân Hạc tủm tỉm cười nụ:
- Vâng, con đã nhớ. Nhưng không biết. con chỉ lễ đủ phận con hay phải lễ thay cả hai anh ấy?
Bà cống cau mày:
- Đừng nói trẻ con! Việc quỷ thần không phải chuyện đùa.
Vân Hạc im lặng ra cổng. Bà cống cung kính đến trước bàn thờ, rẽ ràng ngồi xuống chiếc sập kê liền hương án, sẽ xổ. nửa vành khăn vấn, hạ xuống ngang với sống mũi, và chìa hai tay nâng vành khăn ấy cho nó khòng khòng ở trước hai mắt, bà vừa lễ vừa khấn ông cống phù hộ các con khoa này thi cử cho may. Một hồi lầm rầm đã dứt mạch bằng ba cái gật đầu trịnh trọng, bà nghiêm. trang quay ra bảo các nàng dâu cùng vào lễ thầy và đi đánh thức lũ trẻ trở dậy, để cho chúng nó lễ ông. Ngoài cổng có tiếng chó sủa. Cả nhà đồng thời ngó ra.
Cụ Năm, chú ruột Vân Hạc, lù lù chống gậy bước vào trong cổng với hai quan tiền vắt vai.
Chị hai tất tả chạy ra trông chó và đón ông chú vào thềm. Bà cống chào hỏi bằng giọng vui vẻ:
- Ông đem tiền đi đâu? Hay định cho cháu đấy chăng? .
Cụ Năm lễ phép trả lời:
- Vâng. Cái nghĩa làm chú thì phải thế chứ.
Rồi cụ đặt hai quan tiền xuống chức án thư giữa đôi tràng kỷ và tiếp:
- Thưa bác, anh tư đi đâu? Bác đã cúng ông cống chưa đấy?
Bà cống đáp :
- Cháu nó ra đình lễ tổ. Tôi khấn ông cháu rồi ạ!
Cụ Năm lật đật đến trước bàn thở và nói :
- Xin vái ông anh vậy thôi, mỏi lắm, không lễ được nữa.
Rồi cụ chắp tay cúi đầu, vái luôn năm cái. Vân Hạc vừa về, chàng mời ông chú sang ngồi ở bên tràng kỷ. Rót một chén nước đệ đến trước mặt cụ Năm, rồi chàng chắp tay đứng hầu bên cạnh. Cụ Năm cầm chén nước lên và hỏi:
- Hôm nào thì anh trẩy trường.
- Thưa chú hai nhăm tháng này!
- Mồng một tháng sau đã phải vào trường, mà đến hai nhăm tháng này mới đi, e rằng chậm quá, anh nên đi sớm thì hơn. Bởi vì tới nơi còn phải đì tìm nhà trọ và phái sắp sửa các đồ cần dùng. Xong rồi cũng phải nghỉ ngơi vài ngày cho tinh thần khoan khoái, thì khi viết văn mới được linh lợi. .
- Thưa chú, đồ đạc cháu đã sắp sẵn ở nhà, còn nhà trọ thì cháu đã có chỗ quen mọi năm,. Không phải tìm nữa. Hai nhăm tháng này đi cũng vừa.
Cụ Năm chỉ tay vào hai quan tiền:
- Nếu được thế thì hay lắm. Đây chú đỡ cho vài quan, đề khi tới trường mà cho ... nhà trò.
Bà cống nói xen:
- Chết nỗi. Sao ông lại nuông cháu quá như vậy!
Cụ Năm vừa cười vừa nói:
- Chẳng nuông cũng đến thế thôi! Ai theo chân mà giữ chúng nó!
Rồi cụ quay sang Vân Hạc :
- Nhưng chơi thì chơi, cũng phải để bụng vào việc thi cử mới được, chớ có lu bù thái quá. Bây giờ chú đã già rồi, nghiệp nhà trông vào các anh: Các anh còn đương niên thiếu lực cường, phải cố nối lấy gia thanh, đứng có lẹt đẹt như chú. Hễ khi tới trường, có gặp anh hai, anh tú, cũng bảo chú dặn như vậy.
Vân Hạc vâng lời, rồi xách cả hai quan tiền đem đặt sang phản bên kia.
Ngoài cổng lại có bóng người thập thò, chị cả vội vàng chạy ra đón tiếp. Bà bác, bà thím , bà cô, một lũ lô nhô tiến vào trong sân. Sau khi đã chào bà cống, cụ Năm và ghé ngồi vào chiếc phản cạnh, mỗi bà mở bọc giở ra một chuỗi tiền đen và bảo Vân Hạc:
- Nghe tin anh sắp trẩy trường, gọi là chúng tôi mỗi người giúp anh một quan để anh thêm tiền đò giang.
Vân Hạc chưa kịp nói sao thì một bọn nữa độ năm sáu người, vừa họ nội, vừa họ ngoại, lũ lượt kéo đến. Cũng như các bà kia, những người này cũng đem tiền đến cho Vân Hạc: người một hai quan, người năm bảy tiền. Vân Hạc cảm ơn khắp lượt rồi chàng vừa cười vừa nói :
- Giả sử mỗi tháng đi thi một lần, thì trong một năm, tôi có thể cưới được một người vợ nữa.
Rồi chàng thu xếp các món tiền đó chồng làm một đống.
Hai người nhà bưng cỗ đì cúng lúc nãy đã đội cỗ trở về, bà cống giục các nàng dâu sắp sửa mâm bát để mời họ mạc uống rượu. Đàn bà con gái hết thảy đều chối là mới ăn cơm xong. Chỉ có đàn ông nhận lời. Chừng nửa buổi bữa rượu mới tan. Họ mạc lẻ tẻ ra về với câu ân cần chúc cho Vân Hạc khoa này nhất cử. Trông thấy chiều trời đã trưa, bà cống liền sai cô Ngọc đem cả số tiền bà con giúp đỡ, lấy mo bó làm hai bó. Rồi bà thúc giục con dâu, con trai phải về Vân Trình vì ngày mai còn phải lễ thờ ở bên ấy nữa.





(Như lần trước, MS chú ý xem lại những chỗ chữ in đậm)[;)]
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
Đăng nhập để trả lời
0