BÂY GIỜ KIÊN CHỈ THUẦN VIẾT VỀ Đêm, BỞI
vì bây giờ chỉ có trong đêm thôi, anh mới hy vọng có thể
viết được một cái gì đấy thực sự là viết và thực sự là
của mình mình. Trong đêm mặc dù phải rượu vào triền
miên thì bản thân anh mới đủ sức để tỉnh táo nhưng
chính trong đêm, nhờ bóng tối mà trí nhớ của anh sáng
lên và tỉnh ra hơn bao giờ hết. Và cùng với trí nhớ là trí
tưởng tượng, là vốn sống, là hồn thơ, là cốt truyện...
Bà con dân phố dần dần rồi cũng quen với cái lối
chong đèn của Kiên. Vừa điên điên vừa dị hợm vừa
buồn thảm như là đèn đuốc của tà ma. Những tay
chuyên nghiệp ăn sương và những "tiên cô" đầu đường
xó chợ ở ven hồ Thuyền Quang thân ái đặt cho cái Oâ cửa
sổ kỳ quặc, tứ mùa sáng thâu canh của Kiên một biệt
danh rất hay là: Ngọn hải đăng Ha le? Còn anh thì dĩ
nhiên là "thằng cha gác đèn't. ê! ông anh gác đèn khỏe
chứ! Đêm rồi lách được nhiều chữ không? - Họ chào
anh thế và anh cười tủm chào đáp. Những hôm làm
việc trọn đêm, lúc mở cửa sổ ra đón ngọn gió lành buổi
tinh mơ anh thấy vui vui trong lòng khi từ đâu đó dưới
đường một '!mỹ nhân" vỉa hè ỡm Ơø huýt vọng lên một
tiếng sáo để chào hỏi và để chòng anh.
Trong bóng đêm khi vạn vật xung quanh chỉ còn là
những cái bóng, Kiên thấy mình gần gũi hơn với cuộc
đời Dường như bóng tối của giời đất khẳng định bóng
tối trong tâm hồn anh. Bây giờ thức trắng là sự thường
còn nói chung trừ phi say mèm chẳng hôm nào Kiên
vào giường trước hai giờ sáng. Đêm tối càng ngày càng
quý giá và càng ngày càng cần kíp hơn đối với anh. Ban
ngày giấc ngủ trái tự nhiên khô khốc, khó chịu như thể
chứa đầy sạn. Còn ban đêm khi mệt lả mà thiếp đi thì
thời gian hóa thành ngọn lửa âm ỉ đau nhói ruột anh,
đuổi anh ra khỏi giấc ngủ. Đôi khi anh nghĩ chỉ có cái
chết mới tạo được cảm giác yên nghỉ thực sự. Hồi bé
nghe có câu hát thế này: đời người chỉ có gang tay, đứa
nào hay ngủ chỉ còn nửa gang. . . Kiên biết rằng thời gian
của cuộc đời anh đang ruổi nước mã hồi. Anh chẳng sợ gì
cái chết. Cái chết không đáng sợ, chỉ buồn thôi và nó
trĩu nặng những dang dở cùng những nuối tiếc.
Cách đây không lâu, vào lúc rạng đông của một đêm
gần như thức trắng, cảm giác minh mẫn và sinh động
nhất về sự chết đã đến với Kiên. ấn tượng của lúc thoắt
lìa đời ấy rõ rệt và đậm nét đến nỗi không hiểu rồi đây
khi chính thức chầu giời anh có còn có lại ấn tượng đó
nữa hay không. Có thể nói rằng thực ra thì anh đã chết
rồi dù chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng mà đã chết!
Kiên vẫn nhớ như in. Đúng vào cái thời điểm một
phần ngàn tích tắc ấy, có một cái gì đó tự trong anh,
không rõ là cái gì, bình sinh vốn hư ảo, phi vật chất,
không thể nhận thức được đã thình lình ngưng sững
lại, kết rắn trở nên sắc nhọn và lạnh ngắt. Dường như
dấy chính là lý trí, một lý trí đã hóa đá. Nó chọc rất
nhanh vào anh một nhát vô hình. Sau một thoáng
lưỡng lự, toàn bộ sự sống chạy dồn cả về đó để thoát ra
khỏi anh một cách chầm chậm, im lìm và khôn cưỡng.
Sinh lực sụt xuống như mực nước trong một cái bình bị
rò ở đáy. êm như nhung Kiên lịm đi gục mặt xứng
bàn viết, cây bút rời khỏi tay lăn trên sàn. Thế nhưng
tuyệt nhiên không phải là sự ngất lịm thô rắn, nặng nề
như khi trúng đạn bị thương hoặc khi mê man bất tỉnh
vì sốt cao. Và có lẽ nó cũng không giống với trạng thái
khi người ta xuất thần. Nó vượt lên trên, nó là chưa
từng có, là trạng thái của mọi trạng thái, nó là quy luật
của mọi quy luật, nó là điểm hội tụ chót cùng của cuộc
sống. Nó là cái chết. Kiên biết.
Một dòng sông. Chưa từng bao giờ Kiên được thấy -
thấy, chứ không chỉ là mường tượng - cuộc đời mình
hiện thân thành một triền sông như thế. Còn bản thân
mình, thì anh thấy, đang đứng chon von trên mỏm bờ
cao dốc đứng lặng ngắm toàn cảnh đời mình đang mất
đi, đang trôi xa, đang vĩnh biệt chính mình. Trên dòng
ra đi về một hướng ấy của sự sống hiện lên một cách
tổng hòa, vừa xa mờ vừa mồn một rõ, sâu sắc và trọn vẹn
thế giới đời anh: từng khoảnh khắc, từng con người -
những con người mà gương mặt và số phận của họ giờ
đây ngoài anh chắc chẳng còn ai nhớ tới - từng sự kiện,
từng kỷ niệm, từng giọt nước đã họp thành con sông
không tên tuổi của anh.
Kiên nhìn thấy sân trường Bưởi buổi chiều cuối
xuân đầu hạ năm nào, những hàng cây râm mát bị đốn
hạ, mặt đất bị xẻ dọc ngang, bị đào hoắm xuống, thầy
hiệu trưởng chụp trên đầu cái mũ đồng của lính cứu
hỏa hào sảng khoa trương nói lớn lên rằng chính là
nước Mỹ sẽ bị hủy diệt trong cuộc chiến tranh này chứ
không phải chúng ta. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy, thầy
hét lên "chính cái em sẽ là những thiên thần trẻ tuổi
của cách mạng, các em sẽ cứu nhân loại" - Thầy ehỉ
mặt ai đó trong đám học trò lớp 10 đang tay gậy tay
gộc, súng gỗ, xẻng cuốc, hừng hực vẻ hùng dũng trẻ
con. Sững là đây mà chết cũng là đây, mọi người ầm ĩ
hát. Sát chát? Ai đó gào tướng lên... Thế nhưng, anh và
Phương, lại không có mặt trong cuộc mít tinh ba sẵn
sàng ấy. Hai đứa lẩn ra phía sau nhà bát giác ẩn vào
lùm cây sát mép Hồ Tây. Đằng xa, đường Cổ Ngư đỏ
ánh chiều và rực rỡ màu phượng vĩ. Ve sầu râm ran.
Kệ! - Phương nói, quỳ xuống sau lùm cây và cởi nhanh
áo ngoài. BỘ đồ tắm màu đen kiểu xưa không thấy các
cô ngày nay bận nữa nhưng thực sự là đẹp tuyệt và
nhất là thật liều lĩnh. Màu vải đen nhánh. Màu da
trắng lóa. Kiên sững người, muốn nhắm mắt lại trước
thân hình mềm mại của người bạn gái. Kệ, Phương nói
cười tươi, thích trí vì đã có gan trốn lao động, trơn mít
tinh và mặc áo tắm ở ngay trong trường. Kệ chiến
tranh kệ eác anh hùng trẻ tuổi và các anh hùng lớn
tuổi, ta bơi nhé, bơi thật xa tới thủy cung, tới chết đuối
cả hai thì thôi. Kệ. ôi, cái ngày tháng Tư nóng hổi,
nồng nàn. Những lần ôm xiết ngắn ngủi chếnh choáng
trong làn nước màu lục nhạt. Những sợi rong lập lờ.
Tiếng cá quẫy đuôi. Và khuôn mặt trắng mịn của
Phương nhòa trong nước, những chùm bong bóng hơi
thở, mái tóc ướt nặng, bờ vai, đôi chân dài, thân thiết,
tuyệt mỹ đến đau nhói trong lòng. . . Tiếng đồng ca từ
sân trường vang ra hồ. Kệ? - Phương la lên, cười lanh
lảnh. ánh tà buông, màu hồng đậm. Hai đứa bơi sóng
đôi mỗi lúc một xa bờ... khúc sông đời thanh lặng, êm ả
cuối cùng nhanh chóng trôi xa. Bắt đầu dằng dặc chặng
sông dài rực lửa. Bao nhiêu năm trời. Một cuộc chiến
tranh.
Ngay lập tức hiện lên trước mắt Kiên nhà ga Thanh
Hóa ngày ấy sau trận mưa bom, đang cuồn cuộn cháy.
Tất cả những gì cháy được và không cháy được đều
ngụt cháy. Từ đoàn tàu khách bị vật nghiêng đàn ông,
đàn bà, trẻ con ùa lên sân nhào chạy. Quần áo bùng
bùng lửa. Những cái bóng cụt đầu vừa chạy vừa vấp.
Tiếng máy bay, sầm sầm sập tới, sầm sầm đi qua. Bom
rơi chênh chếch trong nắng. Lần đầu tiên Kiên thấy
người bị giết, thấy sự dã man, thấy máu trào lênh láng.
Trời ơi, và từ đấy... cả thế hệ anh đã lao vào trận chiến
một cách hăng say, một cách hung dữ, đã làm đổ máu
mình, đổ máu người. Hàng đọi máu, sông máu. ập tới,
trực diện trận giáp lá cà kinh khủng dưới chân Ngọc Bơ
Rẫy. Quân lính hai bên xông vào nhau, thọc lưỡi lê,
phang báng súng. Những hình người toán loạn chạy
dịch dắc trên đầu ruồi súng máy rồi nhảy dựng lên.
Kiên thấy chính anh cầm súng lục bắn vào đầu ai đó,
phát đạn ru lô mạnh như bom nện trúng miệng người
ấy, nổ toác ra làm văng đi một phần khuôn mặt, con
mắt trái, gò má, quai hàm. A, a, a...! - Trời đất à à tiếng
kêu không rõ cười hay khóc. Chao ôi, đau đớn và cuồng
say, cái thời của anh, những con người trong thời của
anh. Những tháng năm kịch liệt và kinh khủng Mậu
Thân, sau Mậu Thân, mùa khô 72, thời sau hiệp định...
Những vùng đất cằn cỗi, chói chang, đau quặn. Mênh
mông một Tây Nguyên hung tàn, cuồn cuộn một mùa
bụi đỏ lấp trời. Yamơ, Đắc Đam, Sa Thầy, Ngọc Rỉnh
Rua, Ngọc Bờ Biêng, Chư eô Tông... Tàn bạo, yêu
thương hòa lẫn đau khổ, hạnh phúc đồng nhất. Tình
yêu thù hận. Nói nhiều, cười nhiều, hò hét, chửi rủa,
uống nhiều, khóc cũng nhiều. Và những ban mai,
những chiều tà, những đêm trường, chiến tranh chứa
chan đau khổ sống dậy trong lòng anh. Công Hơ Rinh
làng xưa, hoang tàn, đổ nát, vương vãi khắp nơi súng ống
với xương người. Và Diên Bình ngôi làng giải phóng chơ
vơ giữa thảo nguyên - sau một tuần bị pháo kích chỉ
còn tro than lẫn với thây người, và những linh hồn còn
tươi mới bay lên như sương mù dọc bờ Đắc PƠ Xi khi
tiểu đoàn Kiên hành quân qua làng.
Lay động màn sương khói của ký ức, Kiên đột nhiên
trông thấy lại rõ ràng kỳ lạ cái cảnh mình và Tạo "voi",
hai thằng quỳ bên khẩu Mã lai bắn xả vào dòng thác
tàn binh của trung đoàn 45 đang tháo chạy khỏi vùng
đất trống Phước An rìa ngoài Buôn Ma Thuộc. Khẩu
đại liên hóa điên, điên rồ ngốn vào bụng những băng
đạn đồng sáng loáng, khạc lửa tơi bời vào khối người
mất trí đang đổ xô tới như hàng ngàn cái bia thịt, rú
lên rũ rượi: ggòa, ggòa...? Run bần bật, lồng lộn trên cái
giá ba chân, hơi nước ngùn ngụt bốc lên từ hộp tản
nhiệt sôi réo. Kiên muốn ngừng bắn nhưng bàn tay
thần chết giữ rịt lấy tay anh. Dòng lính áo xám bị xe
tăng rượt dồn tới, dồn tới để chết chồng chất vì tay
Kiên. Không phải là bắn nữa mà là tàn sát. Chưa bao
giờ có nhiều xác người đến thế bày ra trước mắt Kiên.
Thôi? Tạo buông thõng băng đạn nhổm cả người lên, lay
vai Kiên, rối rít như van - Thôi, đừng bắn nữa. ối giời
ôi ? Thôi đi ai à . . .
Khẩu đại liên không được tiếp đạn, nhả loạt đạn
cuối cùng rồi im miệng. Cái chết đang điên cuồng ngấu
nghiến vụt chuyển sang như thể trò đùa: đám lính
ngụy người thì nằm rạp xuống người thì quỳ, hai tay
đưa cao lên giời, vừa vặn hai chiếc T54 xộc tới kịp quặt
ngang không đè chết ai nữa. Còn Tạo thì lại từ từ gập
người xuống, hai bàn tay ôm ngực như muốn đỡ lấy quả
tim, mắt dại đi tuồng như tràn đầy ngạc nhiên, ở nửa
lưng bên trái nở bùng rất nhanh một bông hoa máu.
Tất cả, tất cả, chẳng sót một chi tiết nào của toàn bộ
cuộc đời chiến đấu đã sống dậy lần cuối trước mắt Kiên,
vừa lần lượt vừa đồng hiện, vừa thoáng lướt vừa chậm
rãi trôi qua, đau đớn như một cuộc diễu hành tang lễ.
Và, bây giờ trên dòng trôi không ngừng uơn lượn và
gấp khúc của cuộc đời, Kiên thấy lan tới chỗ mỏm bờ
sông anh đang đứng làn nước mang rõ rệt hình bóng
của cái thời hiện tại, cái ngày hôm nay. Anh như nghe
thấy hồn mình buông một tiếng thở dài. âu là đã tới lúc
rồi anh tự nhủ và nhắm mắt lại, từ từ ngả người để
ngã, để thả rơi mình xuống.
Thốt nhiên khi cảm giác hụt hẫng cuối cùng sắp sửa
hứng trọn lấy anh thì từ phía bờ bên kia chợt cất lên
một tiếng kêu dài, gọi tên anh. "- Kiên! -Giọng buồn và
du dương, vang vọng: "... lên... lên...".
Kiên choàng mở mắt, và trước khi bừng tỉnh anh đã
kịp ngước nhìn sang bờ bên kia. Nhưng cũng chỉ kịp
thấy: Một đồng cỏ tím vô biên cuồn cuộn sóng lá và
sương mù, tịnh không một bóng người. Kiên cố níu
mình lại song không thể được nữa bởi anh đã hoàn toàn
tỉnh dậy.
Ai gọi nhỉ? - Một giọng dường như vô cùng thân
thuộc nhưng lại không hề có trong dòng ký ức của
thính giác. Có lẽ nhờ tiếng gọi ấy mà Kiên không chết, .
đã dứt ra khỏi dòng trôi của sự chết. Song bản thân
tiếng gọi ấy và cái bờ bên kia mênh mang mờ ảo như
một thiên đường vắng ngắt ấy là hiện thân cho cái gì,
có ý nghĩa gì thì có lẽ phải đến lần chết sau Kiên mới
hiểu nổi. Phải chăng đó là vang vọng của niềm nuối tiếc
cuộc sống, là hiện thân của những gì cuộc sống không thể
đạt tới những cái gì còn dang dở trong cuộc đời?
Cuộc đời là thế đấy, thật là rộng lớn, thật là dài lâu,
phong phú và sôi động đến vậy nhưng mà rồi rốt cuộc
vẫn thiếu đi, vẫn cứ hụt đi một cái gì đấy làm cho ai
nấy bước vào cõi chết đều thấy trong lòng canh cánh
một cái gì, vương vấp một cái gì như thể một món nợ
hay là như một nhiệm vụ chưa kịp hoàn thành. Với
Kiên, món nợ đó chính là thế giới hàm chứa trong cuộc
sống của anh. Cả một thế giới, một thời đại, một lịch sử
bị vùi xuống lòng sâu đất ẩm cùng với thân xác anh
chẳng phải là oan uổng và đáng nuối tiếc lắm sao?
Giá như có thể không cần phải ngủ, giá như có thể
không cần phải sống lấy lệ cuộc sống hàng ngày, giá
như toàn bộ lượng thời gian còn lại có thể chỉ để dành
cho duy nhất sự nghiệp bút nghiên, một sự nghiệp
không có mục đích nào khác ngoài định hình trên giấy
những giấc mơ quá khứ, những ám ảnh và những vang
âm sắp mai một của thời đã qua, thì tới ngày đã định
của số phận trở lại với mỏm bờ sông dốc đứng kia anh
sẽ nhẹ lòng hơn và thanh thản hơn biết bao khi xuống
với dòng nước đưa anh về cõi chết, nơi vô vàn linh hồn
thân thuộc đang đón chờ anh.
Nghĩa là . . . giờ đây ở chặng cuối này đời Kiên hầu
như đã thu hết về đêm. Ngọn đèn trên bàn viết chong
từ đầu tối tới hừng đông. So với cái bóng của anh trên
tường anh cũng bất động và lầm lì như thế, anh cũng
chỉ là một cái bóng. Một cái bóng đã mất hết năng lực
tồn tại thực tế nhưng chai rắn và ương ngạnh vẫn sống,
dựa vào sức lì dữ dội, dai dẳng của năng lượng ký ức.
Không phải ai cũng chịu đựng nổi một quá trình tự
cầm cố, tự giam mình vào đêm tối nặng nề và dai dẳng
như vậy. ở Kiên, ngoài sự thúc bách của những linh
cảm về cái chết đang kề tới, tài thức khuya còn là một
thiên hướng. Cái lối văn chương mất ngủ, văn chương
như thể tự thiêu của anh có nét bẩm sinh, dường như
nó là một thứ di căn, một thể biến tướng của chứng
mộng du và bệnh hão huyền di truyền theo đằng nội đã
nhập vào anh từ trước lúc lọt lòng. Như là cha của Kiên
chẳng hạn thì ông đã suốt đời hão huyền và mộng du.
Không phải là liên miên nhưng cũng chẳng phải họa
hoằn những đêm cha của Kiên trở thành không trọng
lượng, nhẹ bỗng như thể chỉ còn lại có linh hồn, lẳng
lặng rời khỏi giường, hiền lành và êm ả, chậm chậm
tịnh tiến, mắt nhắm nghiền, tay thả xuôi, du hành
khắp trong buồng, trong nhà, dọc hành lang, lên cầu
thang, xuống cầu thang, rồi nếu phải hôm cổng chính
chưa kịp đóng thì từ từ ông lướt mình trôi ra phố. Hà
Nội thùa đó tử tế và tốt bụng, người ta sẽ sàng nhường
lối cho ông già lạc nẻo, không ai xen ngang vào cõi
phiêu diêu bát ngát của ông, ngay cả bọn trẻ con cũng
không chọc phá ông, chúng chỉ trông chừng để giấc ngủ
không dưa ông xuống hồ Thuyền Quang. Nhưng hình
như mẹ anh thì không chịu đựng nổi những cơn xuất
thần hiền lành và thờ thẫn của cha anh. Hình như bà
coi đấy là nỗi nhục, là bằng chứng và về sự suy đồi và
về sự thất bại vô phương cứu vãn của cuộc đời cha anh.
"Một dòng họ quẫn trí", Kiên nhớ mẹ thường than thế,
một cách tổng quát như thế. Dĩ nhiên hồi ấy Kiên còn
quá bé nên trí nhớ của anh chỉ có giá một phần tư, song
vẫn có thể phỏng đoán rằng chính vẻ lững lờ lập dị kiểu
ma làm của cha đã góp phần buộc mẹ phải dứt bỏ cha
con anh. chuyện đó xảy ra thế nào, vào năm nào Kiên
chẳng nhớ. ấn tượng ngày mẹ ra đi mờ nhạt một cách
thảm hại. Kiên hoàn toàn hờ hững. Mẹ đi, đơn giản thế
thôi, vào một ngày nào đó trong những ngày tháng
lung linh tốt lành và buồn thảm của thời thơ ấu.
Bóng hình mẹ chỉ còn sơ sài ở vài tấm ảnh. Nhưng
những bức hình ấy chẳng giúp anh thấy lại được mẹ.
Trong ảnh, từ đáy thời gian mòn mỏi đã úa vàng, người
phụ nữ trẻ có khuôn mặt ghi lại nét mặt của mẹ dõi vào
anh một cái nhìn chẳng nói lên một điều gì hết, mọi
tình cảm như thể bị nuốt đi đâu cả, chỉ làm cho lòng
anh thêm mặc cảm về sự què quặt hiển nhiên của tâm
hồn mình. Còn hơn là một khuyết tật, trong Kiên rõ
ràng là có mầm bẩm sinh của độc ác, của thói nhẫn
tâm, khô rắn, lạnh lùng. Một sự trống rỗng bất hạnh
và tệ mật. Một lương tri không lành. Có lẽ anh lớn lên
chỉ với nhiều nhất là một phần hai nhân cách.
Thậm chí ngày mẹ ra đi mình có buồn không, có nhớ
không, anh cũng chả nhớ nổi nữa. Còn mẹ thì đã chia
tay với mình ra sao, đã an ủi dỗ dành thế nào, anh lại
càng không nhớ.
- Tôi là một đảng viên, mình ạ. Và tôi là một người
tri thức mới, tôi không đần, không đụt, điều đó mình
cần phải nhớ hộ tôi!
Đấy! Riêng cái câu như thể đánh đố ấy mà mẹ đã nói
khi trả lời một câu hỏi nào đó của cha anh trước lúc từ
giã thì anh lại nhớ. Hay là cái câu này, nghe là lạ
ngường ngượng: "Bây giờ con đã là đội viên thiếu niên,
ngày mai là vào đoàn, trở thành người đàn ông thực
thụ rồi còn gì. Nên phải cứng rắn dần lên con ạ?" - Đó,
câu nói như thế thì lại chẳng quên. Trong khi bao
nhiêu những điều căn dặn và cử chỉ âu yếm cuối cùng
của tình mẹ , trí nhớ của Kiên lại để cho mai một hết. . .
Mãi đến năm mười bảy tuổi, sắp tới ngày nhập ngũ rồi,
anh mới nghĩ rằng nên đi tìm để biết thêm về mẹ. Khi
ấy mẹ anh qua đời đã hơn năm năm.
Còn cha thì hầu như chưa bao giờ ông kể gì cho anh
nghe về mẹ. Hẳn là ông tránh, ông tránh cho ông.
Tránh nỗi đau khổ. Trong nhiều năm khả năng cam
chịu của ông đã giữ được cho hai cha con một đời sống
bình quân. Chỉ có điều hình như ông uống rượu và thả
mình nhiều hơn vào những cơn mộng du.
Đột nhiên ông suy sụp hẳn. Khi ấy Kiên đã học cấp
3, tương đối lớn và đã hiểu được nhiều. Tuy nhiên thật
khó mà hiểu được nỗi lòng của cha. Kiên thấy ông thôi
không đến làm việc ở viện bảo tàng nữa. ông không lọc
cọc đạp xe đèo giá vẽ đi thực cảnh nơi này nơi kia như
mọi năm. ông sử dụng tầng áp mái của chung cư để
làm xưởng họa và ông hầu như hoàn toàn giam mình
lên trên đó. ở trên đó ông âm thầm độc thoại và âm
thầm vẽ. Trong khí ẩm. Bụi bặm. Những con dơi loạng
choạng bay như trong hang núi. Kiên nghe người ta xì
xào rằng cha anh bị phê phán và bị đánh đổ, rằng bây
giờ ông là nhân vật bất mãn đáng ngờ, một tay khuynh
hữu. ông đang trở thành lẩm cẩm và kỳ quặc.
Mỗi lần đặt chân lên xưởng vẽ lòng Kiên lại ứ nghẹn
nỗi xót xa, mềm ái ngại đầy buồn bực. Những bức
tranh ma quái nhìn anh trong bóng tối lờ mờ. Mùi rượu
mạnh. Khói thuốc lá xanh nhờn. Cha ngồi thu mình
trên chiếc ghế tựa trước một giá vẽ phủ vải đen che bức
tranh đang vẽ dở.
- Ai đấy? - Nghe tiếng chân, ông ngẩng lên hỏi, giọng
khàn khàn.
- Con, con đưa cơm lên, cha xơi cơm đi.
Ơø - ông nói, rồi nặng nề ông lại nhìn xuống. Họa
hoằn ông mới được đôi lời với Kiên, thường là chẳng
đâu vào đâu Kiên đặt mâm cơm lên chõng. Ngày hai
bận anh đem cơm lên cho cha. Cơm canh đạm bạc. Đời
sống của hai cha con túng bấn. ĐỒ đạc bán dần, ngay
cả một số tư trang của mẹ để lại Kiên cũng phải lần
lượt cho đi ở nhà người. Từ lâu rồi không ai mua tranh
của cha. Từ lâu ông không tham gia trưng bày, triển
lãm gì nữa, giới hội họa đã quên ông.
Rồi cha sẽ cho ra đời một kiệt tác! - Trong những
cơn say mèm ông thường bất lực dậm dọa như thế.
Song, do những hạn chế về lập trường quan điểm, do
càng ngày càng xa lạ với tham mỹ của quần chúng
nhân dân lao động, ông đã biến hội họa của ông thành
những chân dung ma quỷ... Đại khái là người ta phê
phán ông như vậy. Kiên đọc thấy thế trong một tờ tạp
chí mỹ thuật thời đó.
Phải hạ tính vĩnh cửu xuống mà thêm chất phàm
tục vào? - Có lần Kiên bắt gặp cha mình đang giận dữ
quát vào mặt bức họa đang vẽ dở trên giá - Phải xác
định thành phần giai cấp cho sông núi? Họ dạy thế, vậy
bảo phải làm sao bây giờ, hả?
càng về sau này, dưới ánh mắt chạ anh toàn bộ cõi
đời như càng chuyển nhanh sang một thế giới khác,
ngả sang màu khác. Con người trong tranh của ông
rười rượi buồn, thân thể, mặt mày dài thượt, cộng với
vẻ câm lặng biến thành những cái bóng. Đã thế, màu
sắc của tranh lại dị thường. Trong tất cả những sáng
tác cuối đời của ông, dù sơn dầu hay bột mầu hay là
tranh lụa, dù là vẽ người, hay vẽ ngựa vẽ bò, vẽ cảnh
mưa hay cảnh nắng, ban mai hay ban tối, thành phố,
làng quê hay núi rừng, sông suối, và cả bầu trời, cả mặt
biển nữa, tất t8t đều được thể hiện, được phủ trong
chung quy là những sắc độ khác nhau của độc một màu
vàng, chỉ một màu vàng thôi không thêm màu nào
khác.
Trong tranh của cha Kiên: đàn ông, đàn bà, người
già, trẻ con nối nhau thành một dòng những hình nhân
héo vàng sống vu vơ giữa những miền không có thật
của cuộc đời, mỗi ngày một thêm lạc bước rời ra khỏi
cõi dương không ngoái nhìn lại, và chính eha của Kiên
là người sau cùng nhập vào dòng những hình nhân bi
thảm ấy.
Đấy là một thời kỳ nặng nề, mặc dù là mùa xuân.
Cha anh bảo là khác với mọi mùa xuân, mùa xuân này
giục ông từ bỏ gấp cuộc đời:
- Bằng tuổi con bây giờ, mỗi bận xuân sang, cha cứ
nghĩ: Đời mình còn được hưởng nhiều mùa xuân. Còn
nhiều. Và hạnh phúc. ánh sáng. Cảm hứng. Còn nhiều,
nhiều lắm . . .
Cha phải vào bệnh viện bằng xe cấp cứu khi Kiên
đang ở lớp. Từ bệnh viện người ta tin đến trường cho
Kiên. Khi anh đến, cha vừa tỉnh dậy. Người ta không
ngăn ông nói chuyện với con trai. Họ biết đây là những
lời nói cuối cùng, những lời trăn trối.
Tay cha hầu như không còn mạch nữa, lạnh ngắt
như đồng, thế mà thần thái của ông vẫn còn, giọng nói
yếu ớt nhưng không nhòa mịt, lú lẫn. Tâm hồn đầy lầm
lạc, đau đớn buồn và giàu nhạy cảm của ông mong
manh là thế mà sống vượt lên cả sinh mệnh. Lời trối
của ông chẳng trối được gì ngoài nỗi buồn và niềm mơ
mộng:
Thời của mẹ, của cha đã hết. Còn con... từ nay còn
một mình... phải gắng sống với thời của mình. Thời đại
mới rồi sẽ tới. Huy hoàng. Tráng lệ... không còn những
bất hạnh lớn lao nữa . . . Nhưng nỗi buồn thì không nguôi . . .
vẫn sẽ còn lại nỗi buồn... nỗi buồn truyền kiếp. eha
chẳng để lại dược gì cho con ngoài nó, nỗi buồn ấy...
Ngay cả những bức tranh eha cũng không để lại.
ông đã đốt hết toàn bộ kho tàng báu vật của suốt cuộc
đời không ngừng vẽ và vẽ. Đốt sạch không còn bức nào
trong cái đêm ông cảm thấy thần chết giục giã. Điều ấy
phải lâu sau Kiên mới biết. Còn lúc này, ngồi bên cha,
nghe cha nói những lời cuối cùng, mắt anh ướt ròng
nhưng hoàn toàn không hiểu nổi cha mình. Điều đã
' dằn vặt cha đến xương tủy là một cái gì vượt lên quá
xa, đối với đầu óc toàn những suy nghĩ đơn giản và non
nớt của Kiên, một cái gì hầu như thần bí. Và đã phải
mất đi biết bao năm tháng quý giá của cuộc đời, dần
dần anh mới phần nào cảm được nỗi đau lẫn vị đắng
cay trong những lời cuối cùng của cha, mới hiểu được
rằng dường như cha muốn trăn trối lại cho anh điều gì.
Nhớ lại những ngày ấy, nhớ đến cha đau lòng không
chịu nổi. Tình yêu đối với cha trỗi dậy muộn màng khía
vào tim anh. Anh nhớ lại tâm lý ngấm ngầm bực bội,
cái nhìn nặng trịch phê phán của mình đối với cha.
Nhất là, thậm chí anh đã từng hổ thẹn vì cha mình. Và
tất cả đã muộn: Tình yêu, sự tôn kính, lòng hiếu thảo,
ước mong được gần gũi, được hiểu biết về eha... Chỉ còn
nấm mồ đã được đắp điếm lên, những vòng hoa phủ kín
xung quanh và hương khói, nhang nến... Và: "Tội
nghiệp." - Người ta rì rầm vào tai anh. CÔ độc nặng
như gang. Và nỗi buồn đau, choáng ngợp. Dưới vòm trời
ảm đạm, buồn tênh, anh lặng lẽ khóc. ấy là mùa xuân
năm 1965, một mùa xuân lạnh giá. Lá rụng tả tơi,
quấn lấy gió, đuổi nhau trên đường.
mất mẹ từ tấm bé
không cha từ ấu thơ,
đứa trẻ chẳng mồ côi
lớn lên cùng thành phô'
trải qua thời chiên tranh...
đứa trẻ chẳng mồ côi...
Bài ca nghe thấy từ đời thùa nào, giờ đây vẫn thỉnh
thoảng vẳng lên trong mơ, hướng anh về lại với mùa
xuân ấy.
Đêm đó, lần đầu tiên, Hà Nội giữa canh khuya nổi
còi báo động. Còi trên đỉnh Nhà hát Lớn, còi từ hàng
phục đầu tầu trong ga Hàng CỎ thất thanh cùng hú lên
rợn người. Mặc dù đã được báo trước đây là diễn tập,
toàn thành phố vẫn rùng mình, lặng chết con tim đi
trong cả nỗi kinh hoàng lẫn cả niềm phấn kích trước
vang âm hùng tráng và hung gở của thời đại mới. Rồi
tiếng xô cửa sầm sầm. Tiếng chân rầm rầm lao đổ
xuống cầu thang. Tiếng loa phóng thanh giục giã khẩn
thiết: "Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý! Máy bay
địch...". Tiếng xe tuần tra lao phóng đi dọc lòng thành
phố vừa bất thần chết lịm ánh đèn.
Ngược hướng với mọi người, Kiên lần lên xưởng vẽ
trên tầng áp mái. Tối om, trống rỗng, ngàn ngạt bụi
bặm và vẫn còn thoảng mùi rượu, mùi thuốc vẽ hăng
hắc. Những con dơi nhỏ bay loạng choạng.
- Cha ơi? - Kiên gọi sẽ.
Trong đêm, ngôi nhà cùng eả thành phố lặng tờ tựa
hồ đã ngừng thở.
Bất chấp lệnh cấm ánh sáng, Kiên lần mò thắp lên
một ngọn nến. Anh đưa mắt nhìn xưởng vẽ. Chợt, sững
sờ, sửng sốt, anh cứng người lại. Lẽ nào... tất cả các bức
họa đâu cả rồi? Bức đang vẽ dở trên giá, những bức
lồng khung treo ở vách, và những bức cuộn lại xếp bừa
bộn trong góc đều đã biến mất như thể bị một phép ma
nào thổi phù di.
Thế là hết. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. hết rồi. Một
cái nhà mồ. Trước kia là eha nhưng bây giờ trong căn
áp mái này cuộc đời cha, bóng hình của cha và tất thảy
mọi dấu tích, mọi bằng chứng về sự tồn tại của ông đã
bị xóa sạch, bị thay thế bởi nó - cái chết, sự hư vô... Cha
đã rời bỏ thế giới này, ra đi lặng lẽ trong chuyến mộng
du vĩnh viễn mang theo cả những bức họa màu lá
rụng... ông chỉ để lại có anh thôi trong cuộc đời này.
Kiên suy nghĩ một cách bình tĩnh, thâm trầm tuồng
như anh lên đây là để tìm thấy cho chính mình ý nghĩ
ấy Lặng lẽ đẩy hé cánh cửa ngách anh bước ra sân
thượng.
ở đằng đông, cùng với tiếng còi báo yên, màn đêm
trên thành phố như được nới ra, cuồn cuộn dâng cao.
Giữa biển mây mù trùng trùng thoáng mở ra một vùng
sáng mờ. ấy là nơi đậu của vừng trăng trong cái đêm
bên bờ vực thẳm này. Kiên cúi đầu xuống. Nước mắt
bất ngờ và nóng rực. Phía xa xăm kia còn bao nhiêu
mùa xuân và năm tháng nữa. Mùa xuân này mới chỉ
bắt đầu thôi tuổi mười bảy của đời anh. Một thời kỳ
nặng nề. Mùa xuân 1965 lạnh giá.
Chính Phương là người biết rõ hơn ai hết về vụ hỏa
táng những bức tranh: "Một nghi lễ cuồng tín, man rợ,
dấy loạn" - Sau này, khi kể lại, Phương đã diễn tả như
thế và cách diễn tả ấy đi sâu vào tâm trí Kiên. Một
cuộn tự hành xác, một hình thức sám hối, quyết liệt
dưới ánh lửa nhưng rầu rĩ, im lìm, nửa lén lút. Chỉ một
mình Phương chứng kiến. Cả chung cư, kể cả Kiên,
chẳng ai biết gì.
Không biết là từ bao giờ, có thể là ngay từ khi còn
bé, giữa cô và cha của Kiên đã thầm lặng hình thành
một thứ tình cảm khó hiểu, không hẳn ra tình cha con,
bác cháu, cũng không phải là một thứ tình bạn vong
niên, nó mập mờ chạng vạng, như ánh chiều, vô hình
mà nặng trĩu như thể đồng ám thị. Tính cách lập dị, vẻ
mờ mịt trên khuôn mặt, những đêm dài mộng du,
những lời lẽ thốt lên từ vô thức, nghĩa là tất cả những
nét quái nhân không người nào chịu nổi của ông họa sĩ,
hình như lại rất gần gũi với bản chất tâm hồn Phương
từ thuở còn thơ. ông cũng rất thương cô bé, một tình
thương trầm mặc, buồn bã và không lời. Hai bác cháu
thường ngồi cạnh nhau hàng giờ, chẳng nói một lời.
Bình thường là một cô bé tươi rói, vui vẻ và táo tợn
Phương có thể ngồi lặng ngắm ông vẽ, nghe ông lầm
bầm độc thoại. CÔ như thể bị thu mất hồn.
Khi cô đã lớn và nhất là từ khi cha của Kiên quyết
lòng ẩn cư trên tầng áp mái thì cô thưa gặp ông hơn,
tuy vậy cô vẫn là người duy nhất ngoài Kiên lên thăm
xưởng vẽ. Vẫn chẳng nói gì nhiều hơn với cô song rõ
ràng là mỗi lần Phương lên chơi, cha Kiên vui hẳn. CÔ
xem ông làm việc, xem đi xem lại các bức tranh, rồi cô
mua rượu, mua thuốc lá cho ông, những thứ mà chẳng
bao giờ ông khiến Kiên, và nghe ông thỉnh thoảng lẩm
bẩm nói vài lời.
- Cháu rất đẹp! - ông khen, làm cô kinh hãi và bứt
rứt.
- Sắc đẹp của cháu không bình thường, - ông nói thế
khi Phương mới ehỉ mười sáu tuổi, như thể đe cô vậy -
Vẻ đẹp lạc thời và lạc loài... sẽ đau khổ đấy. Khổ lắm.
ông hẹn khi nào cô tròn mười bảy tuổi sẽ tặng cô
một chân dung sơn dầu. Phương rất hãi. CÔ sợ ông sẽ
để mặt cô dài thượt như mặt các nàng tiên thường thấy
trong tranh ông và sẽ cho cô một mái tóc như chùm
rong biển với nước da màu vỏ chanh. Nhưng, khi còn
gần ba tháng nữa Phương tròn mười bảy tuổi thì cha
Kiên qua đời.
Buổi tối hôm ấy khi ông nhờ cô nhóm lửa ở góc sân
thượng và giúp ông khuân hết tranh trong phòng ra để
đốt cho bằng sạch, cô không nghĩ là ông say, ông mất
trí mà lập tức hiểu ngay rằng ông sắp chết. Như thể là
ông tự vẫn trước đã rồi sau đấy mới lìa đời vậy. Song
Phương không gọi Kiên, không gọi ai hết - Có lẽ cô
thầm hiểu ý định của cha Kiên và dường như cô hoàn
toàn đồng ý với ông rằng, phải thế thôi, phải hủy, phải
chết, không còn cách nào khác.
Khi lửa táp, bén vào bức tranh đầu tiên. Phương run
hết cả người. Sợ cuống, hết hồn, cô không biết phải làm
gì Tuy nhiên chỉ chốc lát cô đã bị cuốn hút vào không
khí trang nghiêm ma quái dập dờn tỉnh mê của buổi lễ
tế thần. Kỳ ảo, huyền bí nhưng đích thực là một ác
mộng. Một niềm đam mê tà giáo. Choáng ngợp tâm hồn
Phương là vẻ bừng sáng tuyệt vọng của cái đẹp bùng
cháy lên. Và trong ánh lửa là sắc diện của con người tử
vì đạo: đau đớn, say cuồng, tột cùng hạnh phúc. Một
thứ hạnh phúc lộn ngược. Mãi mãi đời Phương còn bị
ấn tượng của đêm đó ám ảnh.
Dĩ nhiên không ai ngoài bản thân nhà họa sĩ hiểu
nổi ý chí tự hủy diệt ấy của ông. Cũng không thể biết vì
sao ông lại muốn chính Phương ehứ không phải Kiên
chứng kiến và chiêm ngưỡng điều đó. Phương đã không
hiểu ra. Song, về sau này, nhìn vào cuộc đời mình, cuộc
đời Kiên, nhìn lại tình yêu của hai đứa, Phương thấy
được tính chất tiên tri của cảnh tượng đêm ấy, một sự
linh ứng, một điềm báo trước, mặc dù không thực sự là
báo trước một cái gì.
Hôm đưa tang cha Kiên, cô đã định cho Kiên hay
chuyện xảy ra trong đêm trước khi cha anh qua đời
nhưng cô cảm thấy chưa đủ bình tâm, vả chăng cũng
không muốn anh bị thêm ngay những giằn vặt. Phải
mấy tháng sau Phương mới kể. ấy là vào đêm cuối
cùng của Kiên ở Hà Nội, trước hôm anh lên đường đi
chiến đấu. Cũng có thể nói được rằng đó là đêm cuối
cùng của thời trước chiến tranh trong cuộc đời hai đứa.
Trong cuộc đời Phương và Kiên, ấy là những ngày
tháng vĩnh hằng. Đấy là những tháng trời từ giã thời
niên thiếu dù sao cũng êm đềm, vô cùng trong sáng,
bình yên, đầy chay tịnh để rồi sau đó, khi giờ của số
phận đã điểm - Nói theo nghĩa đen - một bước nhập
thẳng lên đoàn tàu chiến tranh.
Từ ngày cha mất đi, Kiên lầm lì lớn lên, cao lớn và
cô độc Còn Phương - bạn từ thuở nhỏ của anh - mà ở
nhà thì phòng sát vách, ở lớp thì cùng một bàn, ngày
ngày đèo nhau đi họe - bước sang tuổi mười bảy đã vút
lên trở thành một sắc đẹp bừng cháy sân trường Bưởi.
Cả hai đứa đều hầu như không có bạn, bởi vì bạn bè
hầu như bị giạt ra hết. MỘ~ thứ tình cảm quá kinh
khủng ở tuô~i đó, một tình yêu non trẻ mà như là đã trải
qua máu lửa cùng tội lỗi, mà như đã ngậm hờn.
Từ lo lắng các thầy cũng phải nổi giận, mặc dù là các
thầy giáo của trường Chu Văn An. Chi đoàn phẫn nộ.
Dĩ nhiên là ở trường Bưởi muôn thuở hào hoa và bao
giờ cũng lãng mạn chuyện yêu đương ở lớp 9, 10 chẳng
bị coi là sự kinh khủng như ở nhiều trường phổ thông
khác song đến như Kiên và Phương thì quá đáng. Nhất
là khi đang dấy lên bao nhiêu ỉa phong trào, là đợt vận
động sôi réo nhiệt tình yêu nước. Ba sẵn sàng. Ba đảm
đang. Ba khoan: Khoan yêu, khoan...
Kể ra, giá khôn ngoan hơn, biết điều hơn, phục thiện
hơn thì đỡ, đằng này... mà Phương thì đẹp lồ lộ, hừng
hực, đẹp một cách liều lĩnh, nổi trội, đã chẳng lẫn đi
đâu được lại chẳng có ý thức nép mình. Còn Kiên thì
lầm lì, bướng bỉnh, đầy ương ngạnh.
- Nhưng chúng em có làm gì xấu đâu, có làm gì ảnh
hưởng đến người khác đâu? Tình bạn của chúng em là
việc riêng của chúng em, thưa thầy? - Vào thời buổi đó
cái lý như vậy thật là cùn.
Như hình bóng, hai đứa quấn nhau, như thể ở cạnh
nhau bao nhiêu cũng chẳng đã, như thể chỉ tấc gang
thời gian nữa thôi là mất nhau. Thậm chí đến đêm vẫn
còn dùng tín hiệu móc gõ vào tường để rỉ rả trò
chuyện với nhau. Rồi đương nhiên, kết cục phải tới đã
tới
Cái buổi chiều tháng tư ấy, ve sầu, hoa phượng...
thật đúng là chẳng sao mà cầm lòng được, rồi thì ra sao
thì ra. Mặc dù chiều hôm ấy lao động đào thầm nhưng
Phương đã chủ ý nên cô mặc bộ áo tắm bên trong. Xong
hầm, đến mục phát động thi đua, cô máy Kiên lẩn ra
hồ. Kệ! - CÔ cười - Kệ các anh hùng rơm hò hét. Tớ vừa
may một bộ áo tắm cực đẹp. Phải bơi!
Hai đứa nhoai ra rất xa bờ. Quay về thì đã tối.
Phương kiệt sức, hoàn toàn rã rời, phải bám vào Kiên
mới khỏi chìm. Mùa hè mà chẳng hiểu sao đêm ập
xuống thật nhanh. Sao sáng thả đầy trời, lấp lánh.
Kiên bế Phương trên tay bước lên bờ. Nước trên mình
nàng rỏ xuống ấm ấm. CỎ mát rượi. Còn anh, khỏe
mạnh và cường tráng biết bao, cái tuổi mười bảy ấy.
Phương mệt rũ, nằm lả trên cỏ, bàn tay nhỏ nhắn lọt
trong lòng bàn tay Kiên.
Em mệt quá - Phương nói thì thầm, khẽ cựa mình.
Lần đầu tiên cô xưng em với Kiên.
Sau lùm cây, trong bóng tối thẫm xanh hơi mát mặt
hồ, thay quần áo khô rồi, vẫn chưa muốn về, Kiên và
Phương tay nắm tay nằm bên nhau trên lớp cỏ êm. ở
xế trời Tây ánh tà kỳ thực vẫn chưa tắt hẳn, đọng lại
một ngửiđỏ vệt thành vệt dài thẳng như kẻ chỉ. Cái
vạch ấy dường như không sà thấp xuống mà cứ dâng
cao mãi. "Mặt trời mọc ở đằng Tây à?" - "Có lẽ pháo
sáng" - "Nếu thế thì phải có báo động" - Có khi chúng
mình không nghe thấy còi. Không thấy sao, tối đen,
yên ắng".
Hơn hai mươi năm đã qua. Quanh hồ đủ thứ đã đổi
thay, song thần thái của hồ là muôn thùa. Vẫn mênh
mang thế, vẫn bình yên, thong dong, lãng đãng thế và
đắm say thế. Với sương mờ ban mai. Với vừng ráng
chiều tà. Với rặng núi xa. Kiên chưa lần nào vào lại sân
trường xưa để vòng ra sau nhà bát giác tới lùm cây ấy,
bãi cỏ ấy. Anh chỉ từ rất xa, mé đường Thanh Niên mà
hướng nhìn về góc trường đó. Mặt hồ dường như ngước
nhìn anh bằng đôi mắt lấp lánh màu nâu của Phương,
với vẻ kỳ diệu và nỗi ngậm ngùi của tuổi thơ ấu, của
tình yêu đã qua di, đã xa vời vợi. Và những chiều ngồi
bên hồ bao giờ anh cũng ngồi nán lại cho đến khi vừng
ráng chỉ eòn đọng lại một ngửinhỏ chạy ngang trời. ấy
là ánh hồi quang của cái đêm hai mươi năm trước, bên
bờ hồ, sau lùm eây, trên bãi cỏ, phía góc trường...
Tối đen, yên ắng. Bóng tối trở nên lạnh. Đã đến lúc
phải về rồi, Kiên thầm nghĩ và phóng tay ngồi dậy.
Chẳng hiểu sao cậu cảm thấy một nỗi tiếc nuối cay
đắng, cảm thấy cái việc phải rời đây ra về là nặng nề
quá sức mình. Như thấu cảm được lòng Kiên, Phương
khẽ nói:
- Chẳng sợ đâu. Đằng nào cổng trường cũng đóng rồi.
Đợi tối khuya cụ lao công gà gật, ta trèo tường biến.
- Nhưng Phương không mệt à? - Kiên thấy giọng
mình như lạc đi - Không lạnh à?
- Có Phương đáp và hơi nhổm người lên, vòng tay
ôm lấy cổ Kiên kéo xuống.
Thoạt tiên, một cảm giác nhức nhối làm Kiên gai hết
người, run lên, gân cốt chùng xuống nhưng rồi sự chấp
nhận biến thành sức cuốn mãnh liệt lập tức ghì riết
anh, nuốt chặt anh vào thân hình mềm mại, thơm mát
và nóng hổi, chân thành và mù quáng, đầy cuồng bách
của Phương. Đó là một cái gì không thể ngờ được, như
thể tiếng sét, và hơn cả đau đớn, như thể đột ngột cất
lên một tiếng kêu tự đáy lòng. Và không phải là cái hôn
đầu tiên nhưng là nỗi da diết đầu tiên được khám phá
ra bên bờ hồ... Song, tất cả diễn ra chỉ trong khoảnh
khắc. Đột nhiên một ý chí sầm tối và. rắn đánh thức
nhói lên nói rằng anh không được, anh không thể,
rằng... ráng hết sức bình sinh Kiên tự giằng mình ra,
thả buông vòng tay đang dằn xiết Phương, ngồi chồm
dậy. Sự buông hẫng ấy làm Phương lặng đi. Mọi cảm
giác choáng loạn tản bay nhường chỗ cho sợ hãi và xấu
hổ. CÔ lăn tránh sang bên, gài nhanh hàng cúc áo sơ mi
che kín ngực rồi nhè nhẹ ngồi lên.
Sóng hồ dập dềnh, ì oạp vỗ vào bờ cỏ. Xa xa, từ chỗ
pháo đội cao xạ chất nổi trên đám bè neo sâu trong hồ
một hồi kẻng khuya chậm rãi dõng lên. Vị thần bảo hộ
cứu tinh cho sự trong trắng và trong sạch của đôi bạn,
chẳng là ai khác ngoài chính họ.
Gió thở dài. Im lặng lan xa. Hai người như thể vừa
từ đáy nước nổi bồng lên để rồi mỗi người bị cuốn dạt
ra mỗi ngả. Kiên đưa tay ra, run run nắm lấy cổ tay
Phương như muốn níu giữ cô.
- Kiên sợ phải không? - Phương dịch lại gần - Sợ
phải không ' Phương cũng sợ. . . Nhưng vì sợ mà chẳng
sợ gì nữa. . .
- Mình... - Kiên thì thầm ấp úng - Mình chẳng sợ ai.
Chỉ nghĩ là không nên... Mình đi. Mình có cuộc chiến
tranh của mình, còn Phương... Chúng mình mãi mãi có
trong nhau là hơn, phải không?
- ừ, thôi . . . - Phương thở dài - có điều Phương sợ nhất
là sẽ không bao giờ còn một tối nào như tối nay.
- Mình sẽ trở về! - Kiên nhấn mạnh.
- Nhưng bao lâu. Nghìn năm sau? Và anh không
ngh~ khi đó, anh khác và em cũng khác đi rồi. Hà Nội
cũng sẽ khác đi. Hồ Tây cũng khác. Thì sao?
Mình không nghĩ như thế. Tất nhiên là cảnh vật có
thể đổi khác, lòng không khác là được.
Cả hai cùng im lặng.
- Em nhìn thấy tương lai, - Phương nói - Đấy là sự
đổ nát. Sự thiêu hủy.
- Có thể. Nhưng chúng ta sẽ xây dựng lại.
- Anh ngốc lắm? Cha khác anh nhiều. Cha anh ấy.
- Đúng thế. Mình khác cha mình, nhưng...
- Phương hỏi câu này đừng giận nhé. Anh không yêu
cha phải không?
Kiên nhìn cô.
- Anh có nói chuyện với cha bao giờ không?
- Có chứ. Hỏi gì lạ thế Sao lại không. Nói nhiều
chuyện.
- Thế cha có nói vì sao cha chẳng muốn sống nữa
không Vì sao cha lại hủy tranh của cha không?
Không. ông chỉ nói với mình những chuyện khác.
Nhưng sao lại hủy? Mình không hiểu?
à, ừ nhỉ. Kiên đâu có biết chuyện ấy. Thế mà em
lại biết. Thế mà cha lại kể với em. Em gần với cha anh
chứ không phải với anh. Ngọn lửa thiêu đốt các bức
tranh, thiêu đốt cha và luôn cả đời em. Qua ánh lửa em
nhìn thấy tương lai...
- Cái gì? Phương bảo sao? Nói gì như điên vậy. Thử
nói rõ xem nào, Phương!
Kiên không hiểu. Nỗi xúc động của Phương là trạng
' thái xa lạ đối với anh, với câu chuyện của hai đứa đêm
nay, với mặt hồ này. Cũng chẳng liên quan đến việc
anh sắp lên đường chiến đấu, anh và Phương sắp phải
xa nhau. Phương nghĩ tới một cái gì ở ngoài tầm của anh.
- Từ ngày cha anh mất đi, em mới thực sự yêu anh
và mới hiểu vì sao yêu anh thế này - Phương nói trong
hơi thở như là tự nói với mình, hay đúng hơn như một
người nào khác đang nói với mình - em là đứa con gái
lạc thời và lạc loài... Anh lại là người con trai đúng
thời... Vậy mà tại sao chúng mình yêu nhau, yêu bất
chấp tất cả, bất chấp cả sự khác nhau quá lớn giữa hai
đứa? Anh có biết không?
- Thôi chúng mình về đi. Chúng mình... - Kiên sợ -
Chúng mình nói những chuyện gì ấy. Sao lại lạc thời?
Sao lại khác nhau?
Bây giờ thì em hiểu rằng - Phương vẫn thì thầm xa
vắng - Nếu cha anh là người cùng thời, là anh thì em sẽ
yêu cha anh chứ không phải là yêu anh. Kiên rùng
mình. Nhưng Phương không để anh nói, cô đặt dọc
ngón tay trỏ lên môi anh, nói tiếp:
Anh ít giống cha và càng ngày càng ít giống. Anh
say mê cuộc chiến tranh đến đứng ngồi không yên. Anh
không yêu mẹ, không yêu cha, không yêu tình yêu của
em. Anh khăng khăng: tôi đi chiến đấu, tôi là con người
trung thực, tôi trong sạch và tôi không muốn em bị nhơ
nhuốc. Không có gì mới cả?
Kiên buồn bực. Anh chẳng hiểu ra làm sao nữa cả.
Phương như thể đang lên đồng, như thể ăn phải nấm
độc mà nói nhảm.
- Phương hay nói chuyện với cha mình lắm phải
không? Cần nhớ rằng, cha mình có những ý nghĩ khó
hiểu và sai. Nhiều khi cha mình không thấy được
những giá trì cao đẹp của cuộc đấu tranh hiện nay. ông
ôm trong lòng toàn những câu chuyện đời nảo đời nào
để đánh giá ngày hôm nay. Mà tại sao chúng mình lại
nhằm đúng lúc này để nói những chuyện lạ lùng vậy?
- Bởi vì chẳng còn đêm nào như đêm nay. Chẳng còn
bao giờ nói được với nhau nữa. Bởi vì anh đi đường anh
thì em cũng đi đường em.
Nhưng mà Phương đi đâu? Còn ba tuần nữa là thi,
Phương phải vào đại học. Còn mình đi rồi sẽ trở về.
Anh thật lạ, - Phương thở dài - Chiến tranh, hòa
bình, vào đại học, đi bộ đội khác nhau lắm hay sao? Và
thế nào là cuộc đời tốt cuộc đời xấu? Tình nguyện đi bộ
đội ở tuổi mười bảy thì cao thượng hơn vào đại học ở
tuổi mười bảy hay sao? Đã thế Phương sẽ không thèm
vào đại học nữa.
Thế Phương đi đâu? '
- Đi vào chiến tranh xem nó ra sao?
- Có thể chỉ là sự khủng khiếp.
Có thể là sẽ chết nữa - Phương nói như mơ màng -
Khi đó sẽ ngủ, ngủ một giấc dài. Nhưng nếu chỉ có chết
không thôi thì có gì đáng để anh háo hức vậy. Em nghĩ
nó là hấp dẫn lắm. Em sẽ đi? Và anh thì thật ngốc.
Sao em? - Kiên ngạc nhiên.
Phương bật cười và bất chợt cô nghiêng mình ôm lấy
cổ Kiên vít đầu anh xuống áp vào ngực. Vuốt tóc anh,
cô bé mười bảy tuổi thì thầm, giọng mềm mại ấm áp:
Chẳng còn đêm nào như đêm nay nữa đâu. Anh
muốn hiến đời mình cho sự nghiệp gì đó, còn em thì
quyết định sẽ phung phí đời mình, sẽ hủy diệt nó trong
cuộc loạn ly này. Xem thử sau này em và anh có gặp lại
nhau ở một điểm không? Năm nay hai đứa cùng mười
bảy tuổi liệu sẽ gặp nhau, sống hoặc chết ở tuổi nào và
còn yêu, còn nhớ nhau không?
CÔ nâng mặt Kiên lên, hôn phớt đôi mắt, đôi môi rồi
lại áp mặt anh đã rực nóng vào ngực.
- Em yêu anh! Như yêu cha anh. Như em là chị là
mẹ của anh. Như em vẫn yêu anh từ xưa đến giờ. Từ
nay, từ tối nay, em là vợ anh. Em sẽ đi cùng với anh.
Em sẽ đưa anh tới cửa chiến tranh, xem nó ra sao. Cho
tới khi buộc phải chia lìa không cưỡng được thì thôi.
Nhưng khi đó hẵng hay. Còn tối nay chúng mình bên
nhau để bắt đầu đi vào cuộc chiến tranh oai hùng của
anh. Cho nên đừng cần cái gì khác ngoài em, đừng sợ
cái gì hết. Và nhất là đừng có sợ thay cho em. Hãy nhớ
là từ nay tới lúc đó, em là vợ của anh. Đừng sợ, Phương
của anh không điên, chưa điên.
Kiên run rẩy. Đêm hè mát rượi, mà trán và lưng
anh ướt mồ hôi. Tràn ngập nỗi sợ hãi và lòng thương
mến, anh xiết chặt eo Phương. Anh cảm thấy yếu đuối,
mờ mịt. Tình yêu. Sự tôn thờ quy phục. Anh không sợ.
Nhưng anh không thể. Anh không dám.
Phương khẽ nằm xuống kéo Kiên ngả xuống theo. CỎ
mát rượi, hơi sương, nhưng nền đất vẫn còn đọng hơi
ấm buổi chiều. Kiên gối đầu lên tay Phương, áp chặt
vào mình cô. Như một cậu bé.
Đúng là Phương không điên mà cô như là một người
chị, một người mẹ trẻ, cô lùa tay vào tóc anh vuốt nhè
nhẹ và thì thầm kể chuyện về người cha của anh. Mái
tóc hồi đó Phương để rất dài, xỏa rộng phủ lên mình
Kiên, ấm và thơm lạ lùng. Hé mắt nhìn qua làn tóc,
Kiên nhận thấy trăng hạ tuần đã lộ. Vừng trăng mỏng
và cong hiện ra rất nhanh ở rìa một khối mây đùn cao
trên đỉnh hồ. Rồi lập tức bị che khuất. Anh nhìn thấy
ánh lửa đập dờn như lửa ma trơi trên sân thượng. Cha
và Phương. Những bức tranh màu lá úa và màu vàng
như rơm. Những linh hồn được phóng thích ra khỏi
mặt vải. Giọng Phương đều đều, ngái ngủ hệt như
' giọng một người mẹ kể chuyện cổ tích trong màn. Kiên
không nhận thấy là mình đã bật mở hết cúc áo của
Phương cho tới khi hai bầu vú trắng phau bật ra. Vành
trăng lướt thoáng một dải sáng lên mặt hồ và bãi cỏ.
Phương nằm yên, không trở mình, có lẽ đã ngủ say.
Kiên không nhận thấy là miệng mình đã ngậm chặt lấy
đầu vú của Phương còn thành thạo hơn một chú bé con.
Anh mút nhè nhẹ thoạt tiên là như thế, như thuở mới
ra đời người ta bú. Nhưng rồi kế đó là một nỗi khát
khao kỳ quái thôi thúc, anh dùng cả sức mạnh của hai
bàn tay, cho dện lúc cảm nhận trong miệng cái vị ươn
ướt ngòn ngọt thoáng cả nỗi đau đớn mơ hồ như thể vị
ngọt từ giấc mơ của Phương thấm truyền sang...
Sáng hôm sau là buổi học cuối cùng. Khối lớp mười
nghỉ ôn thi. Còn Kiên nhận được giấy trưng binh khẩn
cấp, lên đường vào đầu tháng năm.
Cái đêm xa xăm ấy còn sống mãi. Chỉ cần giúp sức
một chút cho trí tưởng tượng là có thể thấy ngay lại
trong lòng cheo leo một vừng trăng neo ở rìa mây và
một mặt hồ đêm tối như cái hố mênh mông đen ngòm.
Và nhiều đêm trong giấc ngủ, giữa những cái chết, giữa
những đoạn ký ức đầy tai họa và đau khổ, anh thường
mơ thấy và cảm thấy lại vị ngọt của giọt sữa trinh nữ
đã cho anh sinh lực để trở thành người mạnh nhất,
nhiều hồng phúc nhất trong chiến tranh - Trở thành kẻ
sống sót.
Nhưng chính trong những năm chiến tranh, những
năm ở biệt trong Tây Nguyên, Kiên ít nghĩ ngợi, ít nhớ
nhung tới Phương như bây giờ. Cơ chế tự bảo vệ rất
mạnh của tuổi trẻ đời lính giữ cho người ta tránh được
những giằng xé triền miên của hồi ức. Đã ngủ là ngủ,
đã nghĩ là nghĩ đến hiện tình, đến cái trước mắt, cái
đang chờ ta ngay sau khúc ngoặt ở cửa rừng, ở bên kia
đèo, sau triền đồi... Khi hồi ức nổi cộm lên và trở nên
dai dẳng, không rũ bỏ được có nghĩa là ta đã suy sụp,
cảm thấy hết sức chịu đựng, cảm thấy tuyệt vọng vô
phương, thường là khi bị thương, hoặc rơi vào hoàn
cảnh bệnh hoạn đói khổ triền miên hoặc là một tình
thế bi thảm tương tự nào đó.
Kiên nhớ rằng trong suất mười năm đời lính B3 chỉ
có đôi ba lần nỗi nhớ Phương thật sự hóa thành ám
ảnh. Hình như lần đầu tiên là trên dọc đường hành
quân qua Lào, lần đầu bị thần trùng sốt rét vật. Rồi
một lần khác năm 69 bị thương, nằm ở Điều trị 8, vết
thương bốc mùi thối hoắc, cảm giác chờ chết, và sự
chập chờn nửa thực nửa hư gương mặt của cô y tá bị
câm có những nét giống Phương. Sự nhớ nhung khi
bùng lên thì thường là vô độ song cũng nặng trĩu
những cố gắng kìm nén và tự ức chế. Nó giống như một
cơn sốt. Như là hồi trung đội trinh sát "Nông trường 3"
nằm khàn ở thung lũng Gọi Hồn đánh bài tiến lên và
thưởng thức hồng ma, khi phát hiện ra cuộc tình bi
thảm đầy sàm báng và tuyệt vọng của đồng đội với ba
cô gái bị bỏ quên giữa rừng sâu bên kia núi, Kiên đêm
nào cũng mơ thấy Phương. Vì nhớ Phương, nhớ đến
tình yêu của mình mà Kiên đã không ngăn cấm những
mối hoang tình ấy, đồng thời tự cản mình lại để không
nhập cuộc. Hằng đêm, khi cánh trinh sát giấu anh rời
khỏi lán, bí mật băng rừng xuyên núi để đến với người
tình, Kiên như thể dõi theo như thể tham gia vào hạnh
phúc bất hạnh của họ bằng những giấc mộng yêu
đương mờ ảo bóng hình Phương, thấm thía ân ái nhưng
nhói buốt lên những tiên cảm đau đớn báo trước tai
họa. Khi bắt sống được những thám báo đã giết hại ba
cô gái của trại tăng gia, Kiên quyết định cho chúng
nhận cái chết theo kiểu chết tận mắt, chết tận tay, chết
nhìn thấy đáy huyệt. Vậy mà tới giây chót, móc tay vào
vòng cò rồi, lên súng rồi, anh lại tha tử hình chúng.
Chẳng phải vì những lời van xin, chẳng vì nỗi hoang
mang của đồng đội, mà bởi tự nhiên lúc đó anh chợt
nhớ tới Phương... "Anh sẽ giết nhiều người chứ?" "Sẽ
trở thành người hùng chứ?"... Hoàn toàn khó tin hoàn
toàn không đúng lúc, không ăn nhập gì với cảnh huống
lúc ấy, thế mà anh lại nghĩ đến nàng, nhớ lại lời nàng,
và thế là thôi, anh đã để cho lũ người đó được sống.
Nhưng tuyệt nhiên chẳng phải ỉa lượng khoan hồng
nào cả. Sự thể vô lý đến nỗi Kiên không dám kể, không
dám thú thực với ai, về sau này với Phương anh lại
càng không muốn nhắc tới chuyện đó.
Nhưng, lần anh bị thương nằm ở Điều trị 8, thì
Phương đến với anh không phải trong mơ, trong nhớ
nhung suy tưởng mà thực sự là bằng xương bằng thịt.
Dĩ nhiên là rơi vào tình cảnh rất khốn đốn, nên mới có
sự lú lẫn đến cao độ như vậy. ấy là vào đầu mùa mưa
năm 69: tiểu đoàn 27 của anh bị bao vây và bị tiêu diệt
ở truông Gọi Hồn. Kiên bò gần một ngày đêm trong
rừng, lết trên bùn, người thủng lỗ chỗ, trần truồng.
Những đồng đội thoát khỏi cuộc tàn sát đã gặp anh ở
góc rừng, họ khiêng anh cùng rút về hướng mặt trời sẽ
lặn. Anh tỉnh dậy ở Điều trị 8, tỉnh dậy vì đau đớn, vì
cảm giác tuyệt vọng thống khổ.
Điều trị 8 là một đội quân y tiều tụy, tả tơi đã bị
băm nát ra sau nhiều tháng trời không ngừng rút lui,
không ngừng bị vây hãm, bị dội bom, nã pháo; bác sĩ, y
tá thương binh lê lết khiêng cõng nhau về ẩn tạm
trong một rừng lồ Oâ tăm tối gần sát đất Miên. Thực ra
cảnh tượng và tình cảm chung của đội điều trị thế nào
Kiên chẳng hay biết, bởi vì suốt gần hai tháng trời
trước khi được đưa lên chữa chạy ở Viện 2 1 1 anh bị
nằm chôn trong một cái hầm mái bằng tối mờ mờ, ướt
át ri rỉ nước. Từ mạng sườn, từ bả vai, từ một vết
thương rất tởm giữa hai đùi mùi thịt thối nhức óc ở
người Kiên xông lên làm cho ngay cả muỗi cũng dạt bớt
ra khỏi hầm. Kiên triền miên hôn mê, chỉ thỉnh thoảng
mới tỉnh ra được một chút như để biết chắc hơn là
mình sắp chết, như để lấy thêm chút sức lực mà tiếp
tục mê man. Những lúc tỉnh dậy mở được mắt ra như
thế, bao giờ anh cũng mờ mờ thấy Phương đang ở trong
hầm với mình. Anh thều thào gọi tên nàng nhưng
Phương không đáp, chỉ mỉm cười và cúi sát xuống đặt
môi lên trán anh nhờn nhụa mồ hôi. Không hề nghĩ gì
cả, không băn khoăn tự hỏi, Kiên cảm nhận sự hiển
diện của Phương như là một hạnh phúc tất nhiên và
hầu như bình thản, cùng với tiếng mưa rơi, tiếng rừng
rền rĩ, tiếng đạn đại bác dội truyền trong lòng đất. Gầy
yếu võ vàng, da bọc xương, nàng vuốt ve anh với đôi
bàn tay đã trở nên thô thám. Và mặc dù trong hầm mờ
tối và mặc dù uế khí quánh đặc anh vẫn nom thấy ánh
nâu trong mắt nàng.
Phương? Anh thều thào, vật vã, đầu ngoẹo sang một
bên, răng nghiến lại, hơi thở như cào trong phổi. CÔ gái
nhẹ nhàng thay băng, lau rửa vết thương, dùng anh
gắp hết những con giòi ở những khoanh thịt đã rữa
trên người anh, quấn anh vào một cái chăn rách bươm
và buông màn xuống. Mặt Kiên rúm ró hơi giãn ra,
tuồng như anh cố mỉm cười với cô trước khi lại lịm đi...
Một thời gian sau Kiên tỉnh lại nhiều hơn và lâu hơn
trong gian nhà lán sáng sủa, khô ráo của Viện 211. Chỉ
eo điều không thấy Phương đến với anh nữa. Khi anh
hồi phục, được chuyển về lán thu dung để chờ xuất
viện, Kiên hỏi dò tin tức Phương ở đám thương binh đã
có nằm ở Điều trị 8, nhưng không ai biết ở đó có nữ y tá
nào tên Phương, người Hà Nội.
- Cậu lẫn đấy, - Một chiến thương cụt cả hai chân
bảo Kiên - Tớ với cậu cùng ở đó một thời gian với nhau
nhưng tớ không bị mê man như cậu nên tớ biết. Ngoài
bác sĩ chủ nhiệm và ba y tá nam, ở đội chỉ có một y tá
nữ thôi. Cậu lẫn với cô ta đấy. Nhưng cô bé không cải
chính được, cô bị câm mà. Hình như quê ở Đà Nẵng. Bị
dập thương nên câm. Phải rồi một cô gái mảnh dẻ, xinh
xắn hiền thảo. Phải rồi: mắt nâu? cậu mê lú mà vẫn
nhìn ra, giỏi thật' Nhưng eơ mà... cô bé chắt hy sinh
rồi. Thế cậu không biết à? Đợt thương binh nặng gồm
cả tớ với cậu vừa được tải thương chuyển đi được chừng
một hai giờ đồng hồ thì khu vực ấy bị B52 chần. Nghe
nói bị xóa sổ hoàn toàn. Bởi vì sau khi đổ bom chúng nó
tổ chức càn luôn.
- Tên cô y tá ấy anh có biết không?
Hình như là Liên. Liên hay Liễu gì đấy. Có khi nào
gọi tên đâu. Chỉ đồng chí ơi mấy lại em ơi thôi. Tội
nghiệp? Một cô gái xinh như thế mà lại bị câm.
Chuyện đấy Kiên cũng không kể với Phương. Nói
chung cả hai đều tránh hàn huyên về mười năm chiến
tranh của nhau. Tuy nhiên nhiều khi trông thấy
Phương tự dưng anh lại thấy trước mắt hiện ra những
kỷ niệm thời chiến của bản thân anh. Những nỗi đau.
Các trận đánh. Những hành động tử tế hay tồi tệ của
mình trong thời tuổi trẻ quân ngũ. Những sự kiện,
những hình ảnh chẳng liên quan gì tới Phương thế mà
nhờ nàng mà anh liên tưởng đến. Và thậm chí nếu có
đôi lúc bất chợt anh biết là mình vừa nhìn thấy, nghe
thấy một dư âm hay là một vang bóng rất rõ ràng của
quá khứ mà lại không thể nào hiểu nổi, không tài nào
nhớ ra thì điều đó nhất định là giọng nói, tiếng cười của
Phương, là tiếng hát, gương mặt, khóe nhìn của nàng,
là cái cách nàng đưa tay lên sửa tóc, là cái điệu nàng
quay đầu khi nhìn lại, là dáng đi mềm mại đung đưa
toàn thân của nàng.
Năm nay đã tứ tuần rồi, thế đấy, vậy mà ngọn lửa của
tình yêu, của niềm đam mê không mực thước từ những
ngày xa xưa vẫn rờn rợn cháy trong lòng anh. Mộng ảo
vẫn không ngừng đơm hoa tỏa hương hy vọng và tỏa
hương lú lẫn, tung bay những hạt phấn hoang đường.
Phương thì đã quyết tuyệt tình. Sau lần gặp gỡ sau
cùng với Kiên vào buổi tối đầu mùa đông vừa rồi, nàng
bỏ ra đi, không kịp tắt hết đèn trong phòng.
Mấy hôm ấy, tự nhiên Phương quyết định chấm dứt
những ngày vui triền miên kéo dài suốt mùa thu. Bầu
không khí âm ỉ hội hè như thể bị gió lạnh đầu mùa
cuốn vơ đi hết. Căn phòng của nàng mới đó còn tràn
hoan lạc giờ im lìm trống vắng. Khách khứa bao lâu
dập dìu, lặng biến đi cả như bị phù phép. Kiên không
ngạc nhiên. Hầu như năm nào chả thế, đang tung trời
chơi và phá, nàng lại thình lình như thể định đi tu. Nói
chung không có gì đáng để vui, để hả lòng, trái lại
những khi nàng lâm vào tình cảnh như thế, anh cảm
thấy tâm trạng mình nặng nề hơn cả khi tối tối phải
chịu đựng những gã bạn tình của nàng làm ầm ĩ bên đủ
thứ chuyện bên phòng nàng. Lạy Chúa, cuộc đời thị
dân xám xịt, chán ngắt sao mà cạn đến thế niềm vui.
Lạc thú nhớp nhơ, tả tơi, như giẻ rách và nghèo nàn
không khác gì bát cơm manh áo. Và cái cảnh buổi tối
mùa đông mưa, cảnh những người đàn ông rầu rĩ đứng
trước cánh cửa nàng đóng chặt, cài chốt bên trong, gõ
mãi, gõ mãi thi gan rồi lủi thủi lui, sa sầm buồn bã, còn
nàng thì một mình một bóng tự giam giữa bốn bức
tường, tuyệt vọng, chán chường, ê chề sầu thảm, làm
anh thắt cả ruột. Rồi anh sực nhớ hôm nay là sinh nhật
của nàng. Và cũng nhớ là đã lâu anh không sang thăm
nàng, không gặp gỡ, không trò chuyện gì, gần như là Ơ
hờ, lãnh đạm, mặc nàng với những thú vui mà anh biết
là nàng chán ngấy.
Kiên đi ra phố và trở về với một bó hoa hồng trên
tay. Dự định là sẽ rủ nàng đi ăn tiệm, anh mừng vì
thấy phố mình bị cúp điện. Như thế Phương càng
không muốn ru rú trong nhà. ~
Anh gõ cửa theo mật hiệu dành riêng cho anh để
nàng biết mà mở. Song cũng phải chờ kha khá mới
nghe chìa khóa xoay trong ổ. Cửa mở hé ra. Mùi thuốc
lá mùi nước hoa, và mùi cô nhắc. Anh bước vào. Tù mù
trên bàn một ngọn đèn dầu. Hóa ra là Phương đang có
khách. Một ông không còn trẻ. "Chào bác" - Kiên chào,
bắt tay ông ta. Một bàn tay rất thanh như là được chau
chuốt, da mỏng và khô, ấm ran, ngón dài, rất mảnh,
hết sức tao nhã như là bàn tay của ai khác chứ không
phải là của ông này, một người vô danh, dáng dấp tầm
thường, khuôn mặt héo, đầy vết nhăn, cặp mắt nhỏ
nheo nheo đùng đục, môi nhẽo, tóc hoa râm, râu cằm
nham nhở, vẻ nhu nhược và ủ dột. Có vẻ hơi mếch lòng,
ông ta ừ hữ trong họng, khẽ nghiêng đầu và như vội
vàng rụt tay về.
Xin cảm ơn anh, anh Kiên? - Phương nhận bó hoa,
nghiêng mình và đáp từ - Thế mà em lại quên mất
ngày của mình. Chỉ có anh, bao giờ cũng tốt với em. Aø
xin giới thiệu: Anh Phú - Họa sĩ. Và: Anh Kiên.
Kiên đứng. Im lặng. Phương đã ngồi xuống, lút sâu
trong ghế bành, hơi khuất ra khỏi vòng sáng dập dờn
yếu ớt của ngọn đèn. Cây đàn ghi ta của nàng để trên
mặt bàn.
à, anh Kiên này. Tiếc là em không theo chương
trình của mọi lần sinh nhật trước được. Thực tình thì
em cũng chẳng nghĩ tới cái ngày hôm nay nữa. Thứ lỗi
cho em nhé! Anh Kiên?
- Sao lại thế Em - ông khách cất tiếng, giọng ngực
rất trầm : Nếu đã thành lệ, nếu đã hẹn hò rồi thì chẳng
- Không, không mà anh. Anh đừng bận tâm, anh
Phú !
Kiên nhìn nhưng không gặp được mắt Phương. Anh
gật đầu một cái chào cả hai rồi quay ra, khép cửa lại
sau lưng. Về phòng, lụi cụi anh thắp đèn lên. - Thế
nào? - Anh thầm hỏi, băng qua với chính mình, và nhìn
chồng bản thảo. Chữ nghĩa nhảy nhót. Cổ anh nghẽn
nghẹn. Buồn thật, lại cái cảm giác ủy mị quen thuộc
ấy Sự bất lực nhức nhối. Nỗi buồn tiều tụy mà thấu
xương. Tuy vậy biết làm thế nào. eo ai lảng tránh được
chính mình. Đứng bên bàn, anh tướt mắt nhìn ra đêm
mưa ở cửa sổ. Những hạt mưa như ngậm chì, rơi xiêu
xiêu tả tơi lấm chấm lấm chấm đậu xuống, chảy trượt
đi run rẩy vẽ mãi, vẽ mãi những bức vẽ trong suốt lên
mặt kính lạnh ngắt. Lật đật, Kiên róc rượu tràn ly, hấp
tấp uống cạn. Anh ngồi xuống ghế, gạt chồng bản thảo
sang bên và đưa hai bàn tay ôm đầu.
Chợt sau lưng, cửa buồng kẹt mở. Phương. Nàng
bước vào rất nhẹ. Tới bên anh.
- Kiên? - Nàng thì thào, đứng sát vào anh và nhè nhẹ
vuốt tóc anh.
- Tội nghiệp anh - phương nói, cúi xuống hôn một
cái hôn mát rượi lên trán anh.
- Đừng buồn? - Kiên ngửng lên và nói ngớ ngẩn một
câu vớ vẩn nhất đời - Chúng mình không nên buồn nên
vui
Anh, em phải sang gặp anh. Anh không biết được
tất cả mọi điều đâu. Những điều mà một người đàn bà
như em phải trải qua. Em đang phải trả giá cho những
việc em đã làm. Em đã hư hỏng. Đôi khi em thấy mình
như con vật.
- Nhưng. . .
- Nhưng em không kìm lại được. Em không cầm lòng
lại được trước một cái gì hết. Em tự kết liễu đời mình,
có phải không? Kết liễu trong lạc thú và trong sự độc ác
đối với anh.
- Có dịp thì ai cũng độc ác được hết. Nhưng anh nghĩ
là chúng mình không bao giờ như thế với nhau. Còn
cuộc đời đời anh cũng thế, hết rồi. Nhưng cuộc sống
thì vẫn còn, vẫn phải sống. Cũng như em. Và Phương
ạ! - Anh sôi nổi kêu lên, cầm lấy tay nàng:
- Tại sao chúng mình không gạt bỏ hết đi để sống.
Sống bên nhau. Chỉ sống bên nhau, chỉ thế thôi!
- Thôi. Anh đừng nói như thế. Làm sao anh chịu nổi
cơ chứ?
- Chịu nổi. Anh khác nhiều rồi, em cũng biết đấy.
ôi Kiên! Lý ra thì mình đã có cuộc đời hạnh phúc
bên nhau. Nhưng nông nỗi vì đâu mà thế này, em cũng
chẳng biết nữa. Em không thể sống với anh như thế
được Chúng mình nên xa nhau, anh hiểu dúm cho em.
- Không thể làm gì được nữa hay sao?
- Không. Chỉ có cách xa nhau. Mãi mãi là cách duy
nhất. Mà anh đừng nhìn em như thế.
Kiên nhìn xuống. .
- Em gặp anh ấy tình cờ thôi, một tuần trước. Dĩ
nhiên không phải chỉ vì thế mà em quyết định. Bởi
cũng chưa thể quyết định gì.
- Thế vì gì? - Giọng Kiên như sẵng lên.
- Vì đấy là cách mà em có thể xa anh. Vì không thể
thế này được.
- Chúng mình đâu có gần nhau. Em ở phòng em với
công việc và sinh hoạt của em. Anh có là gì đâu. Đấy
không phải là lý do để em chạy theo một ông bố già!
Nếu cần đi thì anh sẽ đi. Chứ em đừng điên như thế.
Tất nhiên trừ phi em yêu ông ta.
- Già ư? Anh nghĩ xem em bao nhiêu tuổi, mười bảy
như hồi đó chăng?
Bao giờ em đi? - Kiên nói như muốn gạt lời Phương
định nói.
- Tối nay. Lát nữa? Và em muốn nói: chúng mình sẽ
không gặp lại nhau nữa đâu?
- Thật là đơn giản, dễ chịu. Như gập một cuốn sách
lại Một cuốn sách tồi. Phải không?
- ôi xin đừng nói thế. Xin đừng thế! ôi em khổ sở
quá Kiên ơi!
Họ cùng đứng dậy. Kiên bất ngờ ôm lấy Phương.
Người nàng run lên. Họ hôn nhau hồi lâu. Phương
đẩy anh ra. Họ lại hôn nhau.
Thôi. Đừng! - Phương rên lên.
Nàng bước đến cửa. Kiên lặng lẽ theo sau. Chợt
Phương xoay người lại, áp lưng vào cửa, nhìn thẳng vào
Kiên nói:
Kiên ơi! Rồi đây em sẽ sống ra sao, xử sự thế nào
cũng không tự biết được. Nhưng chắc rằng sẽ khó lòng
gặp lại nhau nữa, anh ạ... Hãy tha thứ cho em.
- Em yêu phải không?
- Kiên ơi! Em... em không yêu ai ngoài anh cả... còn
anh, anh còn yêu, còn yêu nổi em không?
Còn? - Kiên đáp.
Còn và mãi mãi còn. Đời anh chỉ có hai tình yêu
thôi. Một là mối tình của anh và Phương hồi trước
chiến tranh. Và sau chiến tranh là mối tình khác, cũng
giữa anh với nàng.
Nửa đêm Phương ra đi cùng ông ta. Kiên vẫn đang
đứng bên cửa sổ. Anh nghe rõ tiếng chân hai người.
Tiếng khóa cửa lạch xạch. Tiếng dịch chuyển va-li. Rồi
Phương tới trước cửa phòng anh. Hình như đút một cái
gì qua khe cửa. Sau cùng anh nghe thấy giọng nói nho
nhỏ của Phương vang lên vẻn vẹn:
Ta đi đi, anh?
Và họ đi. Đôi giày cao gót của Phương gõ khe khẽ.
Chân người đàn ông hơi kéo lết, đế giày mài trên hành
lang. Cầu thang nghiến răng ken két.
Trong chiếc phong bì nằm dưới khe cửa, có lá thư với
những dòng ngắn, vô cảm như một bức điện: Kiên ơi.
Em đi. Vĩnh biệt. Và điều đó tốt cho anh. Tốt cho em.
Chỉ xin anh một điều là hãy quên. Còn không xin gì
nữa cả. Chút thành công.
Kiên bước ra ngoài hành lang. Anh xốc cổ áo lên
bước xuống cầu thang và đi ra phố. Còn và mãi mãi
còn. Anh nghĩ.
vì bây giờ chỉ có trong đêm thôi, anh mới hy vọng có thể
viết được một cái gì đấy thực sự là viết và thực sự là
của mình mình. Trong đêm mặc dù phải rượu vào triền
miên thì bản thân anh mới đủ sức để tỉnh táo nhưng
chính trong đêm, nhờ bóng tối mà trí nhớ của anh sáng
lên và tỉnh ra hơn bao giờ hết. Và cùng với trí nhớ là trí
tưởng tượng, là vốn sống, là hồn thơ, là cốt truyện...
Bà con dân phố dần dần rồi cũng quen với cái lối
chong đèn của Kiên. Vừa điên điên vừa dị hợm vừa
buồn thảm như là đèn đuốc của tà ma. Những tay
chuyên nghiệp ăn sương và những "tiên cô" đầu đường
xó chợ ở ven hồ Thuyền Quang thân ái đặt cho cái Oâ cửa
sổ kỳ quặc, tứ mùa sáng thâu canh của Kiên một biệt
danh rất hay là: Ngọn hải đăng Ha le? Còn anh thì dĩ
nhiên là "thằng cha gác đèn't. ê! ông anh gác đèn khỏe
chứ! Đêm rồi lách được nhiều chữ không? - Họ chào
anh thế và anh cười tủm chào đáp. Những hôm làm
việc trọn đêm, lúc mở cửa sổ ra đón ngọn gió lành buổi
tinh mơ anh thấy vui vui trong lòng khi từ đâu đó dưới
đường một '!mỹ nhân" vỉa hè ỡm Ơø huýt vọng lên một
tiếng sáo để chào hỏi và để chòng anh.
Trong bóng đêm khi vạn vật xung quanh chỉ còn là
những cái bóng, Kiên thấy mình gần gũi hơn với cuộc
đời Dường như bóng tối của giời đất khẳng định bóng
tối trong tâm hồn anh. Bây giờ thức trắng là sự thường
còn nói chung trừ phi say mèm chẳng hôm nào Kiên
vào giường trước hai giờ sáng. Đêm tối càng ngày càng
quý giá và càng ngày càng cần kíp hơn đối với anh. Ban
ngày giấc ngủ trái tự nhiên khô khốc, khó chịu như thể
chứa đầy sạn. Còn ban đêm khi mệt lả mà thiếp đi thì
thời gian hóa thành ngọn lửa âm ỉ đau nhói ruột anh,
đuổi anh ra khỏi giấc ngủ. Đôi khi anh nghĩ chỉ có cái
chết mới tạo được cảm giác yên nghỉ thực sự. Hồi bé
nghe có câu hát thế này: đời người chỉ có gang tay, đứa
nào hay ngủ chỉ còn nửa gang. . . Kiên biết rằng thời gian
của cuộc đời anh đang ruổi nước mã hồi. Anh chẳng sợ gì
cái chết. Cái chết không đáng sợ, chỉ buồn thôi và nó
trĩu nặng những dang dở cùng những nuối tiếc.
Cách đây không lâu, vào lúc rạng đông của một đêm
gần như thức trắng, cảm giác minh mẫn và sinh động
nhất về sự chết đã đến với Kiên. ấn tượng của lúc thoắt
lìa đời ấy rõ rệt và đậm nét đến nỗi không hiểu rồi đây
khi chính thức chầu giời anh có còn có lại ấn tượng đó
nữa hay không. Có thể nói rằng thực ra thì anh đã chết
rồi dù chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng mà đã chết!
Kiên vẫn nhớ như in. Đúng vào cái thời điểm một
phần ngàn tích tắc ấy, có một cái gì đó tự trong anh,
không rõ là cái gì, bình sinh vốn hư ảo, phi vật chất,
không thể nhận thức được đã thình lình ngưng sững
lại, kết rắn trở nên sắc nhọn và lạnh ngắt. Dường như
dấy chính là lý trí, một lý trí đã hóa đá. Nó chọc rất
nhanh vào anh một nhát vô hình. Sau một thoáng
lưỡng lự, toàn bộ sự sống chạy dồn cả về đó để thoát ra
khỏi anh một cách chầm chậm, im lìm và khôn cưỡng.
Sinh lực sụt xuống như mực nước trong một cái bình bị
rò ở đáy. êm như nhung Kiên lịm đi gục mặt xứng
bàn viết, cây bút rời khỏi tay lăn trên sàn. Thế nhưng
tuyệt nhiên không phải là sự ngất lịm thô rắn, nặng nề
như khi trúng đạn bị thương hoặc khi mê man bất tỉnh
vì sốt cao. Và có lẽ nó cũng không giống với trạng thái
khi người ta xuất thần. Nó vượt lên trên, nó là chưa
từng có, là trạng thái của mọi trạng thái, nó là quy luật
của mọi quy luật, nó là điểm hội tụ chót cùng của cuộc
sống. Nó là cái chết. Kiên biết.
Một dòng sông. Chưa từng bao giờ Kiên được thấy -
thấy, chứ không chỉ là mường tượng - cuộc đời mình
hiện thân thành một triền sông như thế. Còn bản thân
mình, thì anh thấy, đang đứng chon von trên mỏm bờ
cao dốc đứng lặng ngắm toàn cảnh đời mình đang mất
đi, đang trôi xa, đang vĩnh biệt chính mình. Trên dòng
ra đi về một hướng ấy của sự sống hiện lên một cách
tổng hòa, vừa xa mờ vừa mồn một rõ, sâu sắc và trọn vẹn
thế giới đời anh: từng khoảnh khắc, từng con người -
những con người mà gương mặt và số phận của họ giờ
đây ngoài anh chắc chẳng còn ai nhớ tới - từng sự kiện,
từng kỷ niệm, từng giọt nước đã họp thành con sông
không tên tuổi của anh.
Kiên nhìn thấy sân trường Bưởi buổi chiều cuối
xuân đầu hạ năm nào, những hàng cây râm mát bị đốn
hạ, mặt đất bị xẻ dọc ngang, bị đào hoắm xuống, thầy
hiệu trưởng chụp trên đầu cái mũ đồng của lính cứu
hỏa hào sảng khoa trương nói lớn lên rằng chính là
nước Mỹ sẽ bị hủy diệt trong cuộc chiến tranh này chứ
không phải chúng ta. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy, thầy
hét lên "chính cái em sẽ là những thiên thần trẻ tuổi
của cách mạng, các em sẽ cứu nhân loại" - Thầy ehỉ
mặt ai đó trong đám học trò lớp 10 đang tay gậy tay
gộc, súng gỗ, xẻng cuốc, hừng hực vẻ hùng dũng trẻ
con. Sững là đây mà chết cũng là đây, mọi người ầm ĩ
hát. Sát chát? Ai đó gào tướng lên... Thế nhưng, anh và
Phương, lại không có mặt trong cuộc mít tinh ba sẵn
sàng ấy. Hai đứa lẩn ra phía sau nhà bát giác ẩn vào
lùm cây sát mép Hồ Tây. Đằng xa, đường Cổ Ngư đỏ
ánh chiều và rực rỡ màu phượng vĩ. Ve sầu râm ran.
Kệ! - Phương nói, quỳ xuống sau lùm cây và cởi nhanh
áo ngoài. BỘ đồ tắm màu đen kiểu xưa không thấy các
cô ngày nay bận nữa nhưng thực sự là đẹp tuyệt và
nhất là thật liều lĩnh. Màu vải đen nhánh. Màu da
trắng lóa. Kiên sững người, muốn nhắm mắt lại trước
thân hình mềm mại của người bạn gái. Kệ, Phương nói
cười tươi, thích trí vì đã có gan trốn lao động, trơn mít
tinh và mặc áo tắm ở ngay trong trường. Kệ chiến
tranh kệ eác anh hùng trẻ tuổi và các anh hùng lớn
tuổi, ta bơi nhé, bơi thật xa tới thủy cung, tới chết đuối
cả hai thì thôi. Kệ. ôi, cái ngày tháng Tư nóng hổi,
nồng nàn. Những lần ôm xiết ngắn ngủi chếnh choáng
trong làn nước màu lục nhạt. Những sợi rong lập lờ.
Tiếng cá quẫy đuôi. Và khuôn mặt trắng mịn của
Phương nhòa trong nước, những chùm bong bóng hơi
thở, mái tóc ướt nặng, bờ vai, đôi chân dài, thân thiết,
tuyệt mỹ đến đau nhói trong lòng. . . Tiếng đồng ca từ
sân trường vang ra hồ. Kệ? - Phương la lên, cười lanh
lảnh. ánh tà buông, màu hồng đậm. Hai đứa bơi sóng
đôi mỗi lúc một xa bờ... khúc sông đời thanh lặng, êm ả
cuối cùng nhanh chóng trôi xa. Bắt đầu dằng dặc chặng
sông dài rực lửa. Bao nhiêu năm trời. Một cuộc chiến
tranh.
Ngay lập tức hiện lên trước mắt Kiên nhà ga Thanh
Hóa ngày ấy sau trận mưa bom, đang cuồn cuộn cháy.
Tất cả những gì cháy được và không cháy được đều
ngụt cháy. Từ đoàn tàu khách bị vật nghiêng đàn ông,
đàn bà, trẻ con ùa lên sân nhào chạy. Quần áo bùng
bùng lửa. Những cái bóng cụt đầu vừa chạy vừa vấp.
Tiếng máy bay, sầm sầm sập tới, sầm sầm đi qua. Bom
rơi chênh chếch trong nắng. Lần đầu tiên Kiên thấy
người bị giết, thấy sự dã man, thấy máu trào lênh láng.
Trời ơi, và từ đấy... cả thế hệ anh đã lao vào trận chiến
một cách hăng say, một cách hung dữ, đã làm đổ máu
mình, đổ máu người. Hàng đọi máu, sông máu. ập tới,
trực diện trận giáp lá cà kinh khủng dưới chân Ngọc Bơ
Rẫy. Quân lính hai bên xông vào nhau, thọc lưỡi lê,
phang báng súng. Những hình người toán loạn chạy
dịch dắc trên đầu ruồi súng máy rồi nhảy dựng lên.
Kiên thấy chính anh cầm súng lục bắn vào đầu ai đó,
phát đạn ru lô mạnh như bom nện trúng miệng người
ấy, nổ toác ra làm văng đi một phần khuôn mặt, con
mắt trái, gò má, quai hàm. A, a, a...! - Trời đất à à tiếng
kêu không rõ cười hay khóc. Chao ôi, đau đớn và cuồng
say, cái thời của anh, những con người trong thời của
anh. Những tháng năm kịch liệt và kinh khủng Mậu
Thân, sau Mậu Thân, mùa khô 72, thời sau hiệp định...
Những vùng đất cằn cỗi, chói chang, đau quặn. Mênh
mông một Tây Nguyên hung tàn, cuồn cuộn một mùa
bụi đỏ lấp trời. Yamơ, Đắc Đam, Sa Thầy, Ngọc Rỉnh
Rua, Ngọc Bờ Biêng, Chư eô Tông... Tàn bạo, yêu
thương hòa lẫn đau khổ, hạnh phúc đồng nhất. Tình
yêu thù hận. Nói nhiều, cười nhiều, hò hét, chửi rủa,
uống nhiều, khóc cũng nhiều. Và những ban mai,
những chiều tà, những đêm trường, chiến tranh chứa
chan đau khổ sống dậy trong lòng anh. Công Hơ Rinh
làng xưa, hoang tàn, đổ nát, vương vãi khắp nơi súng ống
với xương người. Và Diên Bình ngôi làng giải phóng chơ
vơ giữa thảo nguyên - sau một tuần bị pháo kích chỉ
còn tro than lẫn với thây người, và những linh hồn còn
tươi mới bay lên như sương mù dọc bờ Đắc PƠ Xi khi
tiểu đoàn Kiên hành quân qua làng.
Lay động màn sương khói của ký ức, Kiên đột nhiên
trông thấy lại rõ ràng kỳ lạ cái cảnh mình và Tạo "voi",
hai thằng quỳ bên khẩu Mã lai bắn xả vào dòng thác
tàn binh của trung đoàn 45 đang tháo chạy khỏi vùng
đất trống Phước An rìa ngoài Buôn Ma Thuộc. Khẩu
đại liên hóa điên, điên rồ ngốn vào bụng những băng
đạn đồng sáng loáng, khạc lửa tơi bời vào khối người
mất trí đang đổ xô tới như hàng ngàn cái bia thịt, rú
lên rũ rượi: ggòa, ggòa...? Run bần bật, lồng lộn trên cái
giá ba chân, hơi nước ngùn ngụt bốc lên từ hộp tản
nhiệt sôi réo. Kiên muốn ngừng bắn nhưng bàn tay
thần chết giữ rịt lấy tay anh. Dòng lính áo xám bị xe
tăng rượt dồn tới, dồn tới để chết chồng chất vì tay
Kiên. Không phải là bắn nữa mà là tàn sát. Chưa bao
giờ có nhiều xác người đến thế bày ra trước mắt Kiên.
Thôi? Tạo buông thõng băng đạn nhổm cả người lên, lay
vai Kiên, rối rít như van - Thôi, đừng bắn nữa. ối giời
ôi ? Thôi đi ai à . . .
Khẩu đại liên không được tiếp đạn, nhả loạt đạn
cuối cùng rồi im miệng. Cái chết đang điên cuồng ngấu
nghiến vụt chuyển sang như thể trò đùa: đám lính
ngụy người thì nằm rạp xuống người thì quỳ, hai tay
đưa cao lên giời, vừa vặn hai chiếc T54 xộc tới kịp quặt
ngang không đè chết ai nữa. Còn Tạo thì lại từ từ gập
người xuống, hai bàn tay ôm ngực như muốn đỡ lấy quả
tim, mắt dại đi tuồng như tràn đầy ngạc nhiên, ở nửa
lưng bên trái nở bùng rất nhanh một bông hoa máu.
Tất cả, tất cả, chẳng sót một chi tiết nào của toàn bộ
cuộc đời chiến đấu đã sống dậy lần cuối trước mắt Kiên,
vừa lần lượt vừa đồng hiện, vừa thoáng lướt vừa chậm
rãi trôi qua, đau đớn như một cuộc diễu hành tang lễ.
Và, bây giờ trên dòng trôi không ngừng uơn lượn và
gấp khúc của cuộc đời, Kiên thấy lan tới chỗ mỏm bờ
sông anh đang đứng làn nước mang rõ rệt hình bóng
của cái thời hiện tại, cái ngày hôm nay. Anh như nghe
thấy hồn mình buông một tiếng thở dài. âu là đã tới lúc
rồi anh tự nhủ và nhắm mắt lại, từ từ ngả người để
ngã, để thả rơi mình xuống.
Thốt nhiên khi cảm giác hụt hẫng cuối cùng sắp sửa
hứng trọn lấy anh thì từ phía bờ bên kia chợt cất lên
một tiếng kêu dài, gọi tên anh. "- Kiên! -Giọng buồn và
du dương, vang vọng: "... lên... lên...".
Kiên choàng mở mắt, và trước khi bừng tỉnh anh đã
kịp ngước nhìn sang bờ bên kia. Nhưng cũng chỉ kịp
thấy: Một đồng cỏ tím vô biên cuồn cuộn sóng lá và
sương mù, tịnh không một bóng người. Kiên cố níu
mình lại song không thể được nữa bởi anh đã hoàn toàn
tỉnh dậy.
Ai gọi nhỉ? - Một giọng dường như vô cùng thân
thuộc nhưng lại không hề có trong dòng ký ức của
thính giác. Có lẽ nhờ tiếng gọi ấy mà Kiên không chết, .
đã dứt ra khỏi dòng trôi của sự chết. Song bản thân
tiếng gọi ấy và cái bờ bên kia mênh mang mờ ảo như
một thiên đường vắng ngắt ấy là hiện thân cho cái gì,
có ý nghĩa gì thì có lẽ phải đến lần chết sau Kiên mới
hiểu nổi. Phải chăng đó là vang vọng của niềm nuối tiếc
cuộc sống, là hiện thân của những gì cuộc sống không thể
đạt tới những cái gì còn dang dở trong cuộc đời?
Cuộc đời là thế đấy, thật là rộng lớn, thật là dài lâu,
phong phú và sôi động đến vậy nhưng mà rồi rốt cuộc
vẫn thiếu đi, vẫn cứ hụt đi một cái gì đấy làm cho ai
nấy bước vào cõi chết đều thấy trong lòng canh cánh
một cái gì, vương vấp một cái gì như thể một món nợ
hay là như một nhiệm vụ chưa kịp hoàn thành. Với
Kiên, món nợ đó chính là thế giới hàm chứa trong cuộc
sống của anh. Cả một thế giới, một thời đại, một lịch sử
bị vùi xuống lòng sâu đất ẩm cùng với thân xác anh
chẳng phải là oan uổng và đáng nuối tiếc lắm sao?
Giá như có thể không cần phải ngủ, giá như có thể
không cần phải sống lấy lệ cuộc sống hàng ngày, giá
như toàn bộ lượng thời gian còn lại có thể chỉ để dành
cho duy nhất sự nghiệp bút nghiên, một sự nghiệp
không có mục đích nào khác ngoài định hình trên giấy
những giấc mơ quá khứ, những ám ảnh và những vang
âm sắp mai một của thời đã qua, thì tới ngày đã định
của số phận trở lại với mỏm bờ sông dốc đứng kia anh
sẽ nhẹ lòng hơn và thanh thản hơn biết bao khi xuống
với dòng nước đưa anh về cõi chết, nơi vô vàn linh hồn
thân thuộc đang đón chờ anh.
Nghĩa là . . . giờ đây ở chặng cuối này đời Kiên hầu
như đã thu hết về đêm. Ngọn đèn trên bàn viết chong
từ đầu tối tới hừng đông. So với cái bóng của anh trên
tường anh cũng bất động và lầm lì như thế, anh cũng
chỉ là một cái bóng. Một cái bóng đã mất hết năng lực
tồn tại thực tế nhưng chai rắn và ương ngạnh vẫn sống,
dựa vào sức lì dữ dội, dai dẳng của năng lượng ký ức.
Không phải ai cũng chịu đựng nổi một quá trình tự
cầm cố, tự giam mình vào đêm tối nặng nề và dai dẳng
như vậy. ở Kiên, ngoài sự thúc bách của những linh
cảm về cái chết đang kề tới, tài thức khuya còn là một
thiên hướng. Cái lối văn chương mất ngủ, văn chương
như thể tự thiêu của anh có nét bẩm sinh, dường như
nó là một thứ di căn, một thể biến tướng của chứng
mộng du và bệnh hão huyền di truyền theo đằng nội đã
nhập vào anh từ trước lúc lọt lòng. Như là cha của Kiên
chẳng hạn thì ông đã suốt đời hão huyền và mộng du.
Không phải là liên miên nhưng cũng chẳng phải họa
hoằn những đêm cha của Kiên trở thành không trọng
lượng, nhẹ bỗng như thể chỉ còn lại có linh hồn, lẳng
lặng rời khỏi giường, hiền lành và êm ả, chậm chậm
tịnh tiến, mắt nhắm nghiền, tay thả xuôi, du hành
khắp trong buồng, trong nhà, dọc hành lang, lên cầu
thang, xuống cầu thang, rồi nếu phải hôm cổng chính
chưa kịp đóng thì từ từ ông lướt mình trôi ra phố. Hà
Nội thùa đó tử tế và tốt bụng, người ta sẽ sàng nhường
lối cho ông già lạc nẻo, không ai xen ngang vào cõi
phiêu diêu bát ngát của ông, ngay cả bọn trẻ con cũng
không chọc phá ông, chúng chỉ trông chừng để giấc ngủ
không dưa ông xuống hồ Thuyền Quang. Nhưng hình
như mẹ anh thì không chịu đựng nổi những cơn xuất
thần hiền lành và thờ thẫn của cha anh. Hình như bà
coi đấy là nỗi nhục, là bằng chứng và về sự suy đồi và
về sự thất bại vô phương cứu vãn của cuộc đời cha anh.
"Một dòng họ quẫn trí", Kiên nhớ mẹ thường than thế,
một cách tổng quát như thế. Dĩ nhiên hồi ấy Kiên còn
quá bé nên trí nhớ của anh chỉ có giá một phần tư, song
vẫn có thể phỏng đoán rằng chính vẻ lững lờ lập dị kiểu
ma làm của cha đã góp phần buộc mẹ phải dứt bỏ cha
con anh. chuyện đó xảy ra thế nào, vào năm nào Kiên
chẳng nhớ. ấn tượng ngày mẹ ra đi mờ nhạt một cách
thảm hại. Kiên hoàn toàn hờ hững. Mẹ đi, đơn giản thế
thôi, vào một ngày nào đó trong những ngày tháng
lung linh tốt lành và buồn thảm của thời thơ ấu.
Bóng hình mẹ chỉ còn sơ sài ở vài tấm ảnh. Nhưng
những bức hình ấy chẳng giúp anh thấy lại được mẹ.
Trong ảnh, từ đáy thời gian mòn mỏi đã úa vàng, người
phụ nữ trẻ có khuôn mặt ghi lại nét mặt của mẹ dõi vào
anh một cái nhìn chẳng nói lên một điều gì hết, mọi
tình cảm như thể bị nuốt đi đâu cả, chỉ làm cho lòng
anh thêm mặc cảm về sự què quặt hiển nhiên của tâm
hồn mình. Còn hơn là một khuyết tật, trong Kiên rõ
ràng là có mầm bẩm sinh của độc ác, của thói nhẫn
tâm, khô rắn, lạnh lùng. Một sự trống rỗng bất hạnh
và tệ mật. Một lương tri không lành. Có lẽ anh lớn lên
chỉ với nhiều nhất là một phần hai nhân cách.
Thậm chí ngày mẹ ra đi mình có buồn không, có nhớ
không, anh cũng chả nhớ nổi nữa. Còn mẹ thì đã chia
tay với mình ra sao, đã an ủi dỗ dành thế nào, anh lại
càng không nhớ.
- Tôi là một đảng viên, mình ạ. Và tôi là một người
tri thức mới, tôi không đần, không đụt, điều đó mình
cần phải nhớ hộ tôi!
Đấy! Riêng cái câu như thể đánh đố ấy mà mẹ đã nói
khi trả lời một câu hỏi nào đó của cha anh trước lúc từ
giã thì anh lại nhớ. Hay là cái câu này, nghe là lạ
ngường ngượng: "Bây giờ con đã là đội viên thiếu niên,
ngày mai là vào đoàn, trở thành người đàn ông thực
thụ rồi còn gì. Nên phải cứng rắn dần lên con ạ?" - Đó,
câu nói như thế thì lại chẳng quên. Trong khi bao
nhiêu những điều căn dặn và cử chỉ âu yếm cuối cùng
của tình mẹ , trí nhớ của Kiên lại để cho mai một hết. . .
Mãi đến năm mười bảy tuổi, sắp tới ngày nhập ngũ rồi,
anh mới nghĩ rằng nên đi tìm để biết thêm về mẹ. Khi
ấy mẹ anh qua đời đã hơn năm năm.
Còn cha thì hầu như chưa bao giờ ông kể gì cho anh
nghe về mẹ. Hẳn là ông tránh, ông tránh cho ông.
Tránh nỗi đau khổ. Trong nhiều năm khả năng cam
chịu của ông đã giữ được cho hai cha con một đời sống
bình quân. Chỉ có điều hình như ông uống rượu và thả
mình nhiều hơn vào những cơn mộng du.
Đột nhiên ông suy sụp hẳn. Khi ấy Kiên đã học cấp
3, tương đối lớn và đã hiểu được nhiều. Tuy nhiên thật
khó mà hiểu được nỗi lòng của cha. Kiên thấy ông thôi
không đến làm việc ở viện bảo tàng nữa. ông không lọc
cọc đạp xe đèo giá vẽ đi thực cảnh nơi này nơi kia như
mọi năm. ông sử dụng tầng áp mái của chung cư để
làm xưởng họa và ông hầu như hoàn toàn giam mình
lên trên đó. ở trên đó ông âm thầm độc thoại và âm
thầm vẽ. Trong khí ẩm. Bụi bặm. Những con dơi loạng
choạng bay như trong hang núi. Kiên nghe người ta xì
xào rằng cha anh bị phê phán và bị đánh đổ, rằng bây
giờ ông là nhân vật bất mãn đáng ngờ, một tay khuynh
hữu. ông đang trở thành lẩm cẩm và kỳ quặc.
Mỗi lần đặt chân lên xưởng vẽ lòng Kiên lại ứ nghẹn
nỗi xót xa, mềm ái ngại đầy buồn bực. Những bức
tranh ma quái nhìn anh trong bóng tối lờ mờ. Mùi rượu
mạnh. Khói thuốc lá xanh nhờn. Cha ngồi thu mình
trên chiếc ghế tựa trước một giá vẽ phủ vải đen che bức
tranh đang vẽ dở.
- Ai đấy? - Nghe tiếng chân, ông ngẩng lên hỏi, giọng
khàn khàn.
- Con, con đưa cơm lên, cha xơi cơm đi.
Ơø - ông nói, rồi nặng nề ông lại nhìn xuống. Họa
hoằn ông mới được đôi lời với Kiên, thường là chẳng
đâu vào đâu Kiên đặt mâm cơm lên chõng. Ngày hai
bận anh đem cơm lên cho cha. Cơm canh đạm bạc. Đời
sống của hai cha con túng bấn. ĐỒ đạc bán dần, ngay
cả một số tư trang của mẹ để lại Kiên cũng phải lần
lượt cho đi ở nhà người. Từ lâu rồi không ai mua tranh
của cha. Từ lâu ông không tham gia trưng bày, triển
lãm gì nữa, giới hội họa đã quên ông.
Rồi cha sẽ cho ra đời một kiệt tác! - Trong những
cơn say mèm ông thường bất lực dậm dọa như thế.
Song, do những hạn chế về lập trường quan điểm, do
càng ngày càng xa lạ với tham mỹ của quần chúng
nhân dân lao động, ông đã biến hội họa của ông thành
những chân dung ma quỷ... Đại khái là người ta phê
phán ông như vậy. Kiên đọc thấy thế trong một tờ tạp
chí mỹ thuật thời đó.
Phải hạ tính vĩnh cửu xuống mà thêm chất phàm
tục vào? - Có lần Kiên bắt gặp cha mình đang giận dữ
quát vào mặt bức họa đang vẽ dở trên giá - Phải xác
định thành phần giai cấp cho sông núi? Họ dạy thế, vậy
bảo phải làm sao bây giờ, hả?
càng về sau này, dưới ánh mắt chạ anh toàn bộ cõi
đời như càng chuyển nhanh sang một thế giới khác,
ngả sang màu khác. Con người trong tranh của ông
rười rượi buồn, thân thể, mặt mày dài thượt, cộng với
vẻ câm lặng biến thành những cái bóng. Đã thế, màu
sắc của tranh lại dị thường. Trong tất cả những sáng
tác cuối đời của ông, dù sơn dầu hay bột mầu hay là
tranh lụa, dù là vẽ người, hay vẽ ngựa vẽ bò, vẽ cảnh
mưa hay cảnh nắng, ban mai hay ban tối, thành phố,
làng quê hay núi rừng, sông suối, và cả bầu trời, cả mặt
biển nữa, tất t8t đều được thể hiện, được phủ trong
chung quy là những sắc độ khác nhau của độc một màu
vàng, chỉ một màu vàng thôi không thêm màu nào
khác.
Trong tranh của cha Kiên: đàn ông, đàn bà, người
già, trẻ con nối nhau thành một dòng những hình nhân
héo vàng sống vu vơ giữa những miền không có thật
của cuộc đời, mỗi ngày một thêm lạc bước rời ra khỏi
cõi dương không ngoái nhìn lại, và chính eha của Kiên
là người sau cùng nhập vào dòng những hình nhân bi
thảm ấy.
Đấy là một thời kỳ nặng nề, mặc dù là mùa xuân.
Cha anh bảo là khác với mọi mùa xuân, mùa xuân này
giục ông từ bỏ gấp cuộc đời:
- Bằng tuổi con bây giờ, mỗi bận xuân sang, cha cứ
nghĩ: Đời mình còn được hưởng nhiều mùa xuân. Còn
nhiều. Và hạnh phúc. ánh sáng. Cảm hứng. Còn nhiều,
nhiều lắm . . .
Cha phải vào bệnh viện bằng xe cấp cứu khi Kiên
đang ở lớp. Từ bệnh viện người ta tin đến trường cho
Kiên. Khi anh đến, cha vừa tỉnh dậy. Người ta không
ngăn ông nói chuyện với con trai. Họ biết đây là những
lời nói cuối cùng, những lời trăn trối.
Tay cha hầu như không còn mạch nữa, lạnh ngắt
như đồng, thế mà thần thái của ông vẫn còn, giọng nói
yếu ớt nhưng không nhòa mịt, lú lẫn. Tâm hồn đầy lầm
lạc, đau đớn buồn và giàu nhạy cảm của ông mong
manh là thế mà sống vượt lên cả sinh mệnh. Lời trối
của ông chẳng trối được gì ngoài nỗi buồn và niềm mơ
mộng:
Thời của mẹ, của cha đã hết. Còn con... từ nay còn
một mình... phải gắng sống với thời của mình. Thời đại
mới rồi sẽ tới. Huy hoàng. Tráng lệ... không còn những
bất hạnh lớn lao nữa . . . Nhưng nỗi buồn thì không nguôi . . .
vẫn sẽ còn lại nỗi buồn... nỗi buồn truyền kiếp. eha
chẳng để lại dược gì cho con ngoài nó, nỗi buồn ấy...
Ngay cả những bức tranh eha cũng không để lại.
ông đã đốt hết toàn bộ kho tàng báu vật của suốt cuộc
đời không ngừng vẽ và vẽ. Đốt sạch không còn bức nào
trong cái đêm ông cảm thấy thần chết giục giã. Điều ấy
phải lâu sau Kiên mới biết. Còn lúc này, ngồi bên cha,
nghe cha nói những lời cuối cùng, mắt anh ướt ròng
nhưng hoàn toàn không hiểu nổi cha mình. Điều đã
' dằn vặt cha đến xương tủy là một cái gì vượt lên quá
xa, đối với đầu óc toàn những suy nghĩ đơn giản và non
nớt của Kiên, một cái gì hầu như thần bí. Và đã phải
mất đi biết bao năm tháng quý giá của cuộc đời, dần
dần anh mới phần nào cảm được nỗi đau lẫn vị đắng
cay trong những lời cuối cùng của cha, mới hiểu được
rằng dường như cha muốn trăn trối lại cho anh điều gì.
Nhớ lại những ngày ấy, nhớ đến cha đau lòng không
chịu nổi. Tình yêu đối với cha trỗi dậy muộn màng khía
vào tim anh. Anh nhớ lại tâm lý ngấm ngầm bực bội,
cái nhìn nặng trịch phê phán của mình đối với cha.
Nhất là, thậm chí anh đã từng hổ thẹn vì cha mình. Và
tất cả đã muộn: Tình yêu, sự tôn kính, lòng hiếu thảo,
ước mong được gần gũi, được hiểu biết về eha... Chỉ còn
nấm mồ đã được đắp điếm lên, những vòng hoa phủ kín
xung quanh và hương khói, nhang nến... Và: "Tội
nghiệp." - Người ta rì rầm vào tai anh. CÔ độc nặng
như gang. Và nỗi buồn đau, choáng ngợp. Dưới vòm trời
ảm đạm, buồn tênh, anh lặng lẽ khóc. ấy là mùa xuân
năm 1965, một mùa xuân lạnh giá. Lá rụng tả tơi,
quấn lấy gió, đuổi nhau trên đường.
mất mẹ từ tấm bé
không cha từ ấu thơ,
đứa trẻ chẳng mồ côi
lớn lên cùng thành phô'
trải qua thời chiên tranh...
đứa trẻ chẳng mồ côi...
Bài ca nghe thấy từ đời thùa nào, giờ đây vẫn thỉnh
thoảng vẳng lên trong mơ, hướng anh về lại với mùa
xuân ấy.
Đêm đó, lần đầu tiên, Hà Nội giữa canh khuya nổi
còi báo động. Còi trên đỉnh Nhà hát Lớn, còi từ hàng
phục đầu tầu trong ga Hàng CỎ thất thanh cùng hú lên
rợn người. Mặc dù đã được báo trước đây là diễn tập,
toàn thành phố vẫn rùng mình, lặng chết con tim đi
trong cả nỗi kinh hoàng lẫn cả niềm phấn kích trước
vang âm hùng tráng và hung gở của thời đại mới. Rồi
tiếng xô cửa sầm sầm. Tiếng chân rầm rầm lao đổ
xuống cầu thang. Tiếng loa phóng thanh giục giã khẩn
thiết: "Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý! Máy bay
địch...". Tiếng xe tuần tra lao phóng đi dọc lòng thành
phố vừa bất thần chết lịm ánh đèn.
Ngược hướng với mọi người, Kiên lần lên xưởng vẽ
trên tầng áp mái. Tối om, trống rỗng, ngàn ngạt bụi
bặm và vẫn còn thoảng mùi rượu, mùi thuốc vẽ hăng
hắc. Những con dơi nhỏ bay loạng choạng.
- Cha ơi? - Kiên gọi sẽ.
Trong đêm, ngôi nhà cùng eả thành phố lặng tờ tựa
hồ đã ngừng thở.
Bất chấp lệnh cấm ánh sáng, Kiên lần mò thắp lên
một ngọn nến. Anh đưa mắt nhìn xưởng vẽ. Chợt, sững
sờ, sửng sốt, anh cứng người lại. Lẽ nào... tất cả các bức
họa đâu cả rồi? Bức đang vẽ dở trên giá, những bức
lồng khung treo ở vách, và những bức cuộn lại xếp bừa
bộn trong góc đều đã biến mất như thể bị một phép ma
nào thổi phù di.
Thế là hết. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. hết rồi. Một
cái nhà mồ. Trước kia là eha nhưng bây giờ trong căn
áp mái này cuộc đời cha, bóng hình của cha và tất thảy
mọi dấu tích, mọi bằng chứng về sự tồn tại của ông đã
bị xóa sạch, bị thay thế bởi nó - cái chết, sự hư vô... Cha
đã rời bỏ thế giới này, ra đi lặng lẽ trong chuyến mộng
du vĩnh viễn mang theo cả những bức họa màu lá
rụng... ông chỉ để lại có anh thôi trong cuộc đời này.
Kiên suy nghĩ một cách bình tĩnh, thâm trầm tuồng
như anh lên đây là để tìm thấy cho chính mình ý nghĩ
ấy Lặng lẽ đẩy hé cánh cửa ngách anh bước ra sân
thượng.
ở đằng đông, cùng với tiếng còi báo yên, màn đêm
trên thành phố như được nới ra, cuồn cuộn dâng cao.
Giữa biển mây mù trùng trùng thoáng mở ra một vùng
sáng mờ. ấy là nơi đậu của vừng trăng trong cái đêm
bên bờ vực thẳm này. Kiên cúi đầu xuống. Nước mắt
bất ngờ và nóng rực. Phía xa xăm kia còn bao nhiêu
mùa xuân và năm tháng nữa. Mùa xuân này mới chỉ
bắt đầu thôi tuổi mười bảy của đời anh. Một thời kỳ
nặng nề. Mùa xuân 1965 lạnh giá.
Chính Phương là người biết rõ hơn ai hết về vụ hỏa
táng những bức tranh: "Một nghi lễ cuồng tín, man rợ,
dấy loạn" - Sau này, khi kể lại, Phương đã diễn tả như
thế và cách diễn tả ấy đi sâu vào tâm trí Kiên. Một
cuộn tự hành xác, một hình thức sám hối, quyết liệt
dưới ánh lửa nhưng rầu rĩ, im lìm, nửa lén lút. Chỉ một
mình Phương chứng kiến. Cả chung cư, kể cả Kiên,
chẳng ai biết gì.
Không biết là từ bao giờ, có thể là ngay từ khi còn
bé, giữa cô và cha của Kiên đã thầm lặng hình thành
một thứ tình cảm khó hiểu, không hẳn ra tình cha con,
bác cháu, cũng không phải là một thứ tình bạn vong
niên, nó mập mờ chạng vạng, như ánh chiều, vô hình
mà nặng trĩu như thể đồng ám thị. Tính cách lập dị, vẻ
mờ mịt trên khuôn mặt, những đêm dài mộng du,
những lời lẽ thốt lên từ vô thức, nghĩa là tất cả những
nét quái nhân không người nào chịu nổi của ông họa sĩ,
hình như lại rất gần gũi với bản chất tâm hồn Phương
từ thuở còn thơ. ông cũng rất thương cô bé, một tình
thương trầm mặc, buồn bã và không lời. Hai bác cháu
thường ngồi cạnh nhau hàng giờ, chẳng nói một lời.
Bình thường là một cô bé tươi rói, vui vẻ và táo tợn
Phương có thể ngồi lặng ngắm ông vẽ, nghe ông lầm
bầm độc thoại. CÔ như thể bị thu mất hồn.
Khi cô đã lớn và nhất là từ khi cha của Kiên quyết
lòng ẩn cư trên tầng áp mái thì cô thưa gặp ông hơn,
tuy vậy cô vẫn là người duy nhất ngoài Kiên lên thăm
xưởng vẽ. Vẫn chẳng nói gì nhiều hơn với cô song rõ
ràng là mỗi lần Phương lên chơi, cha Kiên vui hẳn. CÔ
xem ông làm việc, xem đi xem lại các bức tranh, rồi cô
mua rượu, mua thuốc lá cho ông, những thứ mà chẳng
bao giờ ông khiến Kiên, và nghe ông thỉnh thoảng lẩm
bẩm nói vài lời.
- Cháu rất đẹp! - ông khen, làm cô kinh hãi và bứt
rứt.
- Sắc đẹp của cháu không bình thường, - ông nói thế
khi Phương mới ehỉ mười sáu tuổi, như thể đe cô vậy -
Vẻ đẹp lạc thời và lạc loài... sẽ đau khổ đấy. Khổ lắm.
ông hẹn khi nào cô tròn mười bảy tuổi sẽ tặng cô
một chân dung sơn dầu. Phương rất hãi. CÔ sợ ông sẽ
để mặt cô dài thượt như mặt các nàng tiên thường thấy
trong tranh ông và sẽ cho cô một mái tóc như chùm
rong biển với nước da màu vỏ chanh. Nhưng, khi còn
gần ba tháng nữa Phương tròn mười bảy tuổi thì cha
Kiên qua đời.
Buổi tối hôm ấy khi ông nhờ cô nhóm lửa ở góc sân
thượng và giúp ông khuân hết tranh trong phòng ra để
đốt cho bằng sạch, cô không nghĩ là ông say, ông mất
trí mà lập tức hiểu ngay rằng ông sắp chết. Như thể là
ông tự vẫn trước đã rồi sau đấy mới lìa đời vậy. Song
Phương không gọi Kiên, không gọi ai hết - Có lẽ cô
thầm hiểu ý định của cha Kiên và dường như cô hoàn
toàn đồng ý với ông rằng, phải thế thôi, phải hủy, phải
chết, không còn cách nào khác.
Khi lửa táp, bén vào bức tranh đầu tiên. Phương run
hết cả người. Sợ cuống, hết hồn, cô không biết phải làm
gì Tuy nhiên chỉ chốc lát cô đã bị cuốn hút vào không
khí trang nghiêm ma quái dập dờn tỉnh mê của buổi lễ
tế thần. Kỳ ảo, huyền bí nhưng đích thực là một ác
mộng. Một niềm đam mê tà giáo. Choáng ngợp tâm hồn
Phương là vẻ bừng sáng tuyệt vọng của cái đẹp bùng
cháy lên. Và trong ánh lửa là sắc diện của con người tử
vì đạo: đau đớn, say cuồng, tột cùng hạnh phúc. Một
thứ hạnh phúc lộn ngược. Mãi mãi đời Phương còn bị
ấn tượng của đêm đó ám ảnh.
Dĩ nhiên không ai ngoài bản thân nhà họa sĩ hiểu
nổi ý chí tự hủy diệt ấy của ông. Cũng không thể biết vì
sao ông lại muốn chính Phương ehứ không phải Kiên
chứng kiến và chiêm ngưỡng điều đó. Phương đã không
hiểu ra. Song, về sau này, nhìn vào cuộc đời mình, cuộc
đời Kiên, nhìn lại tình yêu của hai đứa, Phương thấy
được tính chất tiên tri của cảnh tượng đêm ấy, một sự
linh ứng, một điềm báo trước, mặc dù không thực sự là
báo trước một cái gì.
Hôm đưa tang cha Kiên, cô đã định cho Kiên hay
chuyện xảy ra trong đêm trước khi cha anh qua đời
nhưng cô cảm thấy chưa đủ bình tâm, vả chăng cũng
không muốn anh bị thêm ngay những giằn vặt. Phải
mấy tháng sau Phương mới kể. ấy là vào đêm cuối
cùng của Kiên ở Hà Nội, trước hôm anh lên đường đi
chiến đấu. Cũng có thể nói được rằng đó là đêm cuối
cùng của thời trước chiến tranh trong cuộc đời hai đứa.
Trong cuộc đời Phương và Kiên, ấy là những ngày
tháng vĩnh hằng. Đấy là những tháng trời từ giã thời
niên thiếu dù sao cũng êm đềm, vô cùng trong sáng,
bình yên, đầy chay tịnh để rồi sau đó, khi giờ của số
phận đã điểm - Nói theo nghĩa đen - một bước nhập
thẳng lên đoàn tàu chiến tranh.
Từ ngày cha mất đi, Kiên lầm lì lớn lên, cao lớn và
cô độc Còn Phương - bạn từ thuở nhỏ của anh - mà ở
nhà thì phòng sát vách, ở lớp thì cùng một bàn, ngày
ngày đèo nhau đi họe - bước sang tuổi mười bảy đã vút
lên trở thành một sắc đẹp bừng cháy sân trường Bưởi.
Cả hai đứa đều hầu như không có bạn, bởi vì bạn bè
hầu như bị giạt ra hết. MỘ~ thứ tình cảm quá kinh
khủng ở tuô~i đó, một tình yêu non trẻ mà như là đã trải
qua máu lửa cùng tội lỗi, mà như đã ngậm hờn.
Từ lo lắng các thầy cũng phải nổi giận, mặc dù là các
thầy giáo của trường Chu Văn An. Chi đoàn phẫn nộ.
Dĩ nhiên là ở trường Bưởi muôn thuở hào hoa và bao
giờ cũng lãng mạn chuyện yêu đương ở lớp 9, 10 chẳng
bị coi là sự kinh khủng như ở nhiều trường phổ thông
khác song đến như Kiên và Phương thì quá đáng. Nhất
là khi đang dấy lên bao nhiêu ỉa phong trào, là đợt vận
động sôi réo nhiệt tình yêu nước. Ba sẵn sàng. Ba đảm
đang. Ba khoan: Khoan yêu, khoan...
Kể ra, giá khôn ngoan hơn, biết điều hơn, phục thiện
hơn thì đỡ, đằng này... mà Phương thì đẹp lồ lộ, hừng
hực, đẹp một cách liều lĩnh, nổi trội, đã chẳng lẫn đi
đâu được lại chẳng có ý thức nép mình. Còn Kiên thì
lầm lì, bướng bỉnh, đầy ương ngạnh.
- Nhưng chúng em có làm gì xấu đâu, có làm gì ảnh
hưởng đến người khác đâu? Tình bạn của chúng em là
việc riêng của chúng em, thưa thầy? - Vào thời buổi đó
cái lý như vậy thật là cùn.
Như hình bóng, hai đứa quấn nhau, như thể ở cạnh
nhau bao nhiêu cũng chẳng đã, như thể chỉ tấc gang
thời gian nữa thôi là mất nhau. Thậm chí đến đêm vẫn
còn dùng tín hiệu móc gõ vào tường để rỉ rả trò
chuyện với nhau. Rồi đương nhiên, kết cục phải tới đã
tới
Cái buổi chiều tháng tư ấy, ve sầu, hoa phượng...
thật đúng là chẳng sao mà cầm lòng được, rồi thì ra sao
thì ra. Mặc dù chiều hôm ấy lao động đào thầm nhưng
Phương đã chủ ý nên cô mặc bộ áo tắm bên trong. Xong
hầm, đến mục phát động thi đua, cô máy Kiên lẩn ra
hồ. Kệ! - CÔ cười - Kệ các anh hùng rơm hò hét. Tớ vừa
may một bộ áo tắm cực đẹp. Phải bơi!
Hai đứa nhoai ra rất xa bờ. Quay về thì đã tối.
Phương kiệt sức, hoàn toàn rã rời, phải bám vào Kiên
mới khỏi chìm. Mùa hè mà chẳng hiểu sao đêm ập
xuống thật nhanh. Sao sáng thả đầy trời, lấp lánh.
Kiên bế Phương trên tay bước lên bờ. Nước trên mình
nàng rỏ xuống ấm ấm. CỎ mát rượi. Còn anh, khỏe
mạnh và cường tráng biết bao, cái tuổi mười bảy ấy.
Phương mệt rũ, nằm lả trên cỏ, bàn tay nhỏ nhắn lọt
trong lòng bàn tay Kiên.
Em mệt quá - Phương nói thì thầm, khẽ cựa mình.
Lần đầu tiên cô xưng em với Kiên.
Sau lùm cây, trong bóng tối thẫm xanh hơi mát mặt
hồ, thay quần áo khô rồi, vẫn chưa muốn về, Kiên và
Phương tay nắm tay nằm bên nhau trên lớp cỏ êm. ở
xế trời Tây ánh tà kỳ thực vẫn chưa tắt hẳn, đọng lại
một ngửiđỏ vệt thành vệt dài thẳng như kẻ chỉ. Cái
vạch ấy dường như không sà thấp xuống mà cứ dâng
cao mãi. "Mặt trời mọc ở đằng Tây à?" - "Có lẽ pháo
sáng" - "Nếu thế thì phải có báo động" - Có khi chúng
mình không nghe thấy còi. Không thấy sao, tối đen,
yên ắng".
Hơn hai mươi năm đã qua. Quanh hồ đủ thứ đã đổi
thay, song thần thái của hồ là muôn thùa. Vẫn mênh
mang thế, vẫn bình yên, thong dong, lãng đãng thế và
đắm say thế. Với sương mờ ban mai. Với vừng ráng
chiều tà. Với rặng núi xa. Kiên chưa lần nào vào lại sân
trường xưa để vòng ra sau nhà bát giác tới lùm cây ấy,
bãi cỏ ấy. Anh chỉ từ rất xa, mé đường Thanh Niên mà
hướng nhìn về góc trường đó. Mặt hồ dường như ngước
nhìn anh bằng đôi mắt lấp lánh màu nâu của Phương,
với vẻ kỳ diệu và nỗi ngậm ngùi của tuổi thơ ấu, của
tình yêu đã qua di, đã xa vời vợi. Và những chiều ngồi
bên hồ bao giờ anh cũng ngồi nán lại cho đến khi vừng
ráng chỉ eòn đọng lại một ngửinhỏ chạy ngang trời. ấy
là ánh hồi quang của cái đêm hai mươi năm trước, bên
bờ hồ, sau lùm eây, trên bãi cỏ, phía góc trường...
Tối đen, yên ắng. Bóng tối trở nên lạnh. Đã đến lúc
phải về rồi, Kiên thầm nghĩ và phóng tay ngồi dậy.
Chẳng hiểu sao cậu cảm thấy một nỗi tiếc nuối cay
đắng, cảm thấy cái việc phải rời đây ra về là nặng nề
quá sức mình. Như thấu cảm được lòng Kiên, Phương
khẽ nói:
- Chẳng sợ đâu. Đằng nào cổng trường cũng đóng rồi.
Đợi tối khuya cụ lao công gà gật, ta trèo tường biến.
- Nhưng Phương không mệt à? - Kiên thấy giọng
mình như lạc đi - Không lạnh à?
- Có Phương đáp và hơi nhổm người lên, vòng tay
ôm lấy cổ Kiên kéo xuống.
Thoạt tiên, một cảm giác nhức nhối làm Kiên gai hết
người, run lên, gân cốt chùng xuống nhưng rồi sự chấp
nhận biến thành sức cuốn mãnh liệt lập tức ghì riết
anh, nuốt chặt anh vào thân hình mềm mại, thơm mát
và nóng hổi, chân thành và mù quáng, đầy cuồng bách
của Phương. Đó là một cái gì không thể ngờ được, như
thể tiếng sét, và hơn cả đau đớn, như thể đột ngột cất
lên một tiếng kêu tự đáy lòng. Và không phải là cái hôn
đầu tiên nhưng là nỗi da diết đầu tiên được khám phá
ra bên bờ hồ... Song, tất cả diễn ra chỉ trong khoảnh
khắc. Đột nhiên một ý chí sầm tối và. rắn đánh thức
nhói lên nói rằng anh không được, anh không thể,
rằng... ráng hết sức bình sinh Kiên tự giằng mình ra,
thả buông vòng tay đang dằn xiết Phương, ngồi chồm
dậy. Sự buông hẫng ấy làm Phương lặng đi. Mọi cảm
giác choáng loạn tản bay nhường chỗ cho sợ hãi và xấu
hổ. CÔ lăn tránh sang bên, gài nhanh hàng cúc áo sơ mi
che kín ngực rồi nhè nhẹ ngồi lên.
Sóng hồ dập dềnh, ì oạp vỗ vào bờ cỏ. Xa xa, từ chỗ
pháo đội cao xạ chất nổi trên đám bè neo sâu trong hồ
một hồi kẻng khuya chậm rãi dõng lên. Vị thần bảo hộ
cứu tinh cho sự trong trắng và trong sạch của đôi bạn,
chẳng là ai khác ngoài chính họ.
Gió thở dài. Im lặng lan xa. Hai người như thể vừa
từ đáy nước nổi bồng lên để rồi mỗi người bị cuốn dạt
ra mỗi ngả. Kiên đưa tay ra, run run nắm lấy cổ tay
Phương như muốn níu giữ cô.
- Kiên sợ phải không? - Phương dịch lại gần - Sợ
phải không ' Phương cũng sợ. . . Nhưng vì sợ mà chẳng
sợ gì nữa. . .
- Mình... - Kiên thì thầm ấp úng - Mình chẳng sợ ai.
Chỉ nghĩ là không nên... Mình đi. Mình có cuộc chiến
tranh của mình, còn Phương... Chúng mình mãi mãi có
trong nhau là hơn, phải không?
- ừ, thôi . . . - Phương thở dài - có điều Phương sợ nhất
là sẽ không bao giờ còn một tối nào như tối nay.
- Mình sẽ trở về! - Kiên nhấn mạnh.
- Nhưng bao lâu. Nghìn năm sau? Và anh không
ngh~ khi đó, anh khác và em cũng khác đi rồi. Hà Nội
cũng sẽ khác đi. Hồ Tây cũng khác. Thì sao?
Mình không nghĩ như thế. Tất nhiên là cảnh vật có
thể đổi khác, lòng không khác là được.
Cả hai cùng im lặng.
- Em nhìn thấy tương lai, - Phương nói - Đấy là sự
đổ nát. Sự thiêu hủy.
- Có thể. Nhưng chúng ta sẽ xây dựng lại.
- Anh ngốc lắm? Cha khác anh nhiều. Cha anh ấy.
- Đúng thế. Mình khác cha mình, nhưng...
- Phương hỏi câu này đừng giận nhé. Anh không yêu
cha phải không?
Kiên nhìn cô.
- Anh có nói chuyện với cha bao giờ không?
- Có chứ. Hỏi gì lạ thế Sao lại không. Nói nhiều
chuyện.
- Thế cha có nói vì sao cha chẳng muốn sống nữa
không Vì sao cha lại hủy tranh của cha không?
Không. ông chỉ nói với mình những chuyện khác.
Nhưng sao lại hủy? Mình không hiểu?
à, ừ nhỉ. Kiên đâu có biết chuyện ấy. Thế mà em
lại biết. Thế mà cha lại kể với em. Em gần với cha anh
chứ không phải với anh. Ngọn lửa thiêu đốt các bức
tranh, thiêu đốt cha và luôn cả đời em. Qua ánh lửa em
nhìn thấy tương lai...
- Cái gì? Phương bảo sao? Nói gì như điên vậy. Thử
nói rõ xem nào, Phương!
Kiên không hiểu. Nỗi xúc động của Phương là trạng
' thái xa lạ đối với anh, với câu chuyện của hai đứa đêm
nay, với mặt hồ này. Cũng chẳng liên quan đến việc
anh sắp lên đường chiến đấu, anh và Phương sắp phải
xa nhau. Phương nghĩ tới một cái gì ở ngoài tầm của anh.
- Từ ngày cha anh mất đi, em mới thực sự yêu anh
và mới hiểu vì sao yêu anh thế này - Phương nói trong
hơi thở như là tự nói với mình, hay đúng hơn như một
người nào khác đang nói với mình - em là đứa con gái
lạc thời và lạc loài... Anh lại là người con trai đúng
thời... Vậy mà tại sao chúng mình yêu nhau, yêu bất
chấp tất cả, bất chấp cả sự khác nhau quá lớn giữa hai
đứa? Anh có biết không?
- Thôi chúng mình về đi. Chúng mình... - Kiên sợ -
Chúng mình nói những chuyện gì ấy. Sao lại lạc thời?
Sao lại khác nhau?
Bây giờ thì em hiểu rằng - Phương vẫn thì thầm xa
vắng - Nếu cha anh là người cùng thời, là anh thì em sẽ
yêu cha anh chứ không phải là yêu anh. Kiên rùng
mình. Nhưng Phương không để anh nói, cô đặt dọc
ngón tay trỏ lên môi anh, nói tiếp:
Anh ít giống cha và càng ngày càng ít giống. Anh
say mê cuộc chiến tranh đến đứng ngồi không yên. Anh
không yêu mẹ, không yêu cha, không yêu tình yêu của
em. Anh khăng khăng: tôi đi chiến đấu, tôi là con người
trung thực, tôi trong sạch và tôi không muốn em bị nhơ
nhuốc. Không có gì mới cả?
Kiên buồn bực. Anh chẳng hiểu ra làm sao nữa cả.
Phương như thể đang lên đồng, như thể ăn phải nấm
độc mà nói nhảm.
- Phương hay nói chuyện với cha mình lắm phải
không? Cần nhớ rằng, cha mình có những ý nghĩ khó
hiểu và sai. Nhiều khi cha mình không thấy được
những giá trì cao đẹp của cuộc đấu tranh hiện nay. ông
ôm trong lòng toàn những câu chuyện đời nảo đời nào
để đánh giá ngày hôm nay. Mà tại sao chúng mình lại
nhằm đúng lúc này để nói những chuyện lạ lùng vậy?
- Bởi vì chẳng còn đêm nào như đêm nay. Chẳng còn
bao giờ nói được với nhau nữa. Bởi vì anh đi đường anh
thì em cũng đi đường em.
Nhưng mà Phương đi đâu? Còn ba tuần nữa là thi,
Phương phải vào đại học. Còn mình đi rồi sẽ trở về.
Anh thật lạ, - Phương thở dài - Chiến tranh, hòa
bình, vào đại học, đi bộ đội khác nhau lắm hay sao? Và
thế nào là cuộc đời tốt cuộc đời xấu? Tình nguyện đi bộ
đội ở tuổi mười bảy thì cao thượng hơn vào đại học ở
tuổi mười bảy hay sao? Đã thế Phương sẽ không thèm
vào đại học nữa.
Thế Phương đi đâu? '
- Đi vào chiến tranh xem nó ra sao?
- Có thể chỉ là sự khủng khiếp.
Có thể là sẽ chết nữa - Phương nói như mơ màng -
Khi đó sẽ ngủ, ngủ một giấc dài. Nhưng nếu chỉ có chết
không thôi thì có gì đáng để anh háo hức vậy. Em nghĩ
nó là hấp dẫn lắm. Em sẽ đi? Và anh thì thật ngốc.
Sao em? - Kiên ngạc nhiên.
Phương bật cười và bất chợt cô nghiêng mình ôm lấy
cổ Kiên vít đầu anh xuống áp vào ngực. Vuốt tóc anh,
cô bé mười bảy tuổi thì thầm, giọng mềm mại ấm áp:
Chẳng còn đêm nào như đêm nay nữa đâu. Anh
muốn hiến đời mình cho sự nghiệp gì đó, còn em thì
quyết định sẽ phung phí đời mình, sẽ hủy diệt nó trong
cuộc loạn ly này. Xem thử sau này em và anh có gặp lại
nhau ở một điểm không? Năm nay hai đứa cùng mười
bảy tuổi liệu sẽ gặp nhau, sống hoặc chết ở tuổi nào và
còn yêu, còn nhớ nhau không?
CÔ nâng mặt Kiên lên, hôn phớt đôi mắt, đôi môi rồi
lại áp mặt anh đã rực nóng vào ngực.
- Em yêu anh! Như yêu cha anh. Như em là chị là
mẹ của anh. Như em vẫn yêu anh từ xưa đến giờ. Từ
nay, từ tối nay, em là vợ anh. Em sẽ đi cùng với anh.
Em sẽ đưa anh tới cửa chiến tranh, xem nó ra sao. Cho
tới khi buộc phải chia lìa không cưỡng được thì thôi.
Nhưng khi đó hẵng hay. Còn tối nay chúng mình bên
nhau để bắt đầu đi vào cuộc chiến tranh oai hùng của
anh. Cho nên đừng cần cái gì khác ngoài em, đừng sợ
cái gì hết. Và nhất là đừng có sợ thay cho em. Hãy nhớ
là từ nay tới lúc đó, em là vợ của anh. Đừng sợ, Phương
của anh không điên, chưa điên.
Kiên run rẩy. Đêm hè mát rượi, mà trán và lưng
anh ướt mồ hôi. Tràn ngập nỗi sợ hãi và lòng thương
mến, anh xiết chặt eo Phương. Anh cảm thấy yếu đuối,
mờ mịt. Tình yêu. Sự tôn thờ quy phục. Anh không sợ.
Nhưng anh không thể. Anh không dám.
Phương khẽ nằm xuống kéo Kiên ngả xuống theo. CỎ
mát rượi, hơi sương, nhưng nền đất vẫn còn đọng hơi
ấm buổi chiều. Kiên gối đầu lên tay Phương, áp chặt
vào mình cô. Như một cậu bé.
Đúng là Phương không điên mà cô như là một người
chị, một người mẹ trẻ, cô lùa tay vào tóc anh vuốt nhè
nhẹ và thì thầm kể chuyện về người cha của anh. Mái
tóc hồi đó Phương để rất dài, xỏa rộng phủ lên mình
Kiên, ấm và thơm lạ lùng. Hé mắt nhìn qua làn tóc,
Kiên nhận thấy trăng hạ tuần đã lộ. Vừng trăng mỏng
và cong hiện ra rất nhanh ở rìa một khối mây đùn cao
trên đỉnh hồ. Rồi lập tức bị che khuất. Anh nhìn thấy
ánh lửa đập dờn như lửa ma trơi trên sân thượng. Cha
và Phương. Những bức tranh màu lá úa và màu vàng
như rơm. Những linh hồn được phóng thích ra khỏi
mặt vải. Giọng Phương đều đều, ngái ngủ hệt như
' giọng một người mẹ kể chuyện cổ tích trong màn. Kiên
không nhận thấy là mình đã bật mở hết cúc áo của
Phương cho tới khi hai bầu vú trắng phau bật ra. Vành
trăng lướt thoáng một dải sáng lên mặt hồ và bãi cỏ.
Phương nằm yên, không trở mình, có lẽ đã ngủ say.
Kiên không nhận thấy là miệng mình đã ngậm chặt lấy
đầu vú của Phương còn thành thạo hơn một chú bé con.
Anh mút nhè nhẹ thoạt tiên là như thế, như thuở mới
ra đời người ta bú. Nhưng rồi kế đó là một nỗi khát
khao kỳ quái thôi thúc, anh dùng cả sức mạnh của hai
bàn tay, cho dện lúc cảm nhận trong miệng cái vị ươn
ướt ngòn ngọt thoáng cả nỗi đau đớn mơ hồ như thể vị
ngọt từ giấc mơ của Phương thấm truyền sang...
Sáng hôm sau là buổi học cuối cùng. Khối lớp mười
nghỉ ôn thi. Còn Kiên nhận được giấy trưng binh khẩn
cấp, lên đường vào đầu tháng năm.
Cái đêm xa xăm ấy còn sống mãi. Chỉ cần giúp sức
một chút cho trí tưởng tượng là có thể thấy ngay lại
trong lòng cheo leo một vừng trăng neo ở rìa mây và
một mặt hồ đêm tối như cái hố mênh mông đen ngòm.
Và nhiều đêm trong giấc ngủ, giữa những cái chết, giữa
những đoạn ký ức đầy tai họa và đau khổ, anh thường
mơ thấy và cảm thấy lại vị ngọt của giọt sữa trinh nữ
đã cho anh sinh lực để trở thành người mạnh nhất,
nhiều hồng phúc nhất trong chiến tranh - Trở thành kẻ
sống sót.
Nhưng chính trong những năm chiến tranh, những
năm ở biệt trong Tây Nguyên, Kiên ít nghĩ ngợi, ít nhớ
nhung tới Phương như bây giờ. Cơ chế tự bảo vệ rất
mạnh của tuổi trẻ đời lính giữ cho người ta tránh được
những giằng xé triền miên của hồi ức. Đã ngủ là ngủ,
đã nghĩ là nghĩ đến hiện tình, đến cái trước mắt, cái
đang chờ ta ngay sau khúc ngoặt ở cửa rừng, ở bên kia
đèo, sau triền đồi... Khi hồi ức nổi cộm lên và trở nên
dai dẳng, không rũ bỏ được có nghĩa là ta đã suy sụp,
cảm thấy hết sức chịu đựng, cảm thấy tuyệt vọng vô
phương, thường là khi bị thương, hoặc rơi vào hoàn
cảnh bệnh hoạn đói khổ triền miên hoặc là một tình
thế bi thảm tương tự nào đó.
Kiên nhớ rằng trong suất mười năm đời lính B3 chỉ
có đôi ba lần nỗi nhớ Phương thật sự hóa thành ám
ảnh. Hình như lần đầu tiên là trên dọc đường hành
quân qua Lào, lần đầu bị thần trùng sốt rét vật. Rồi
một lần khác năm 69 bị thương, nằm ở Điều trị 8, vết
thương bốc mùi thối hoắc, cảm giác chờ chết, và sự
chập chờn nửa thực nửa hư gương mặt của cô y tá bị
câm có những nét giống Phương. Sự nhớ nhung khi
bùng lên thì thường là vô độ song cũng nặng trĩu
những cố gắng kìm nén và tự ức chế. Nó giống như một
cơn sốt. Như là hồi trung đội trinh sát "Nông trường 3"
nằm khàn ở thung lũng Gọi Hồn đánh bài tiến lên và
thưởng thức hồng ma, khi phát hiện ra cuộc tình bi
thảm đầy sàm báng và tuyệt vọng của đồng đội với ba
cô gái bị bỏ quên giữa rừng sâu bên kia núi, Kiên đêm
nào cũng mơ thấy Phương. Vì nhớ Phương, nhớ đến
tình yêu của mình mà Kiên đã không ngăn cấm những
mối hoang tình ấy, đồng thời tự cản mình lại để không
nhập cuộc. Hằng đêm, khi cánh trinh sát giấu anh rời
khỏi lán, bí mật băng rừng xuyên núi để đến với người
tình, Kiên như thể dõi theo như thể tham gia vào hạnh
phúc bất hạnh của họ bằng những giấc mộng yêu
đương mờ ảo bóng hình Phương, thấm thía ân ái nhưng
nhói buốt lên những tiên cảm đau đớn báo trước tai
họa. Khi bắt sống được những thám báo đã giết hại ba
cô gái của trại tăng gia, Kiên quyết định cho chúng
nhận cái chết theo kiểu chết tận mắt, chết tận tay, chết
nhìn thấy đáy huyệt. Vậy mà tới giây chót, móc tay vào
vòng cò rồi, lên súng rồi, anh lại tha tử hình chúng.
Chẳng phải vì những lời van xin, chẳng vì nỗi hoang
mang của đồng đội, mà bởi tự nhiên lúc đó anh chợt
nhớ tới Phương... "Anh sẽ giết nhiều người chứ?" "Sẽ
trở thành người hùng chứ?"... Hoàn toàn khó tin hoàn
toàn không đúng lúc, không ăn nhập gì với cảnh huống
lúc ấy, thế mà anh lại nghĩ đến nàng, nhớ lại lời nàng,
và thế là thôi, anh đã để cho lũ người đó được sống.
Nhưng tuyệt nhiên chẳng phải ỉa lượng khoan hồng
nào cả. Sự thể vô lý đến nỗi Kiên không dám kể, không
dám thú thực với ai, về sau này với Phương anh lại
càng không muốn nhắc tới chuyện đó.
Nhưng, lần anh bị thương nằm ở Điều trị 8, thì
Phương đến với anh không phải trong mơ, trong nhớ
nhung suy tưởng mà thực sự là bằng xương bằng thịt.
Dĩ nhiên là rơi vào tình cảnh rất khốn đốn, nên mới có
sự lú lẫn đến cao độ như vậy. ấy là vào đầu mùa mưa
năm 69: tiểu đoàn 27 của anh bị bao vây và bị tiêu diệt
ở truông Gọi Hồn. Kiên bò gần một ngày đêm trong
rừng, lết trên bùn, người thủng lỗ chỗ, trần truồng.
Những đồng đội thoát khỏi cuộc tàn sát đã gặp anh ở
góc rừng, họ khiêng anh cùng rút về hướng mặt trời sẽ
lặn. Anh tỉnh dậy ở Điều trị 8, tỉnh dậy vì đau đớn, vì
cảm giác tuyệt vọng thống khổ.
Điều trị 8 là một đội quân y tiều tụy, tả tơi đã bị
băm nát ra sau nhiều tháng trời không ngừng rút lui,
không ngừng bị vây hãm, bị dội bom, nã pháo; bác sĩ, y
tá thương binh lê lết khiêng cõng nhau về ẩn tạm
trong một rừng lồ Oâ tăm tối gần sát đất Miên. Thực ra
cảnh tượng và tình cảm chung của đội điều trị thế nào
Kiên chẳng hay biết, bởi vì suốt gần hai tháng trời
trước khi được đưa lên chữa chạy ở Viện 2 1 1 anh bị
nằm chôn trong một cái hầm mái bằng tối mờ mờ, ướt
át ri rỉ nước. Từ mạng sườn, từ bả vai, từ một vết
thương rất tởm giữa hai đùi mùi thịt thối nhức óc ở
người Kiên xông lên làm cho ngay cả muỗi cũng dạt bớt
ra khỏi hầm. Kiên triền miên hôn mê, chỉ thỉnh thoảng
mới tỉnh ra được một chút như để biết chắc hơn là
mình sắp chết, như để lấy thêm chút sức lực mà tiếp
tục mê man. Những lúc tỉnh dậy mở được mắt ra như
thế, bao giờ anh cũng mờ mờ thấy Phương đang ở trong
hầm với mình. Anh thều thào gọi tên nàng nhưng
Phương không đáp, chỉ mỉm cười và cúi sát xuống đặt
môi lên trán anh nhờn nhụa mồ hôi. Không hề nghĩ gì
cả, không băn khoăn tự hỏi, Kiên cảm nhận sự hiển
diện của Phương như là một hạnh phúc tất nhiên và
hầu như bình thản, cùng với tiếng mưa rơi, tiếng rừng
rền rĩ, tiếng đạn đại bác dội truyền trong lòng đất. Gầy
yếu võ vàng, da bọc xương, nàng vuốt ve anh với đôi
bàn tay đã trở nên thô thám. Và mặc dù trong hầm mờ
tối và mặc dù uế khí quánh đặc anh vẫn nom thấy ánh
nâu trong mắt nàng.
Phương? Anh thều thào, vật vã, đầu ngoẹo sang một
bên, răng nghiến lại, hơi thở như cào trong phổi. CÔ gái
nhẹ nhàng thay băng, lau rửa vết thương, dùng anh
gắp hết những con giòi ở những khoanh thịt đã rữa
trên người anh, quấn anh vào một cái chăn rách bươm
và buông màn xuống. Mặt Kiên rúm ró hơi giãn ra,
tuồng như anh cố mỉm cười với cô trước khi lại lịm đi...
Một thời gian sau Kiên tỉnh lại nhiều hơn và lâu hơn
trong gian nhà lán sáng sủa, khô ráo của Viện 211. Chỉ
eo điều không thấy Phương đến với anh nữa. Khi anh
hồi phục, được chuyển về lán thu dung để chờ xuất
viện, Kiên hỏi dò tin tức Phương ở đám thương binh đã
có nằm ở Điều trị 8, nhưng không ai biết ở đó có nữ y tá
nào tên Phương, người Hà Nội.
- Cậu lẫn đấy, - Một chiến thương cụt cả hai chân
bảo Kiên - Tớ với cậu cùng ở đó một thời gian với nhau
nhưng tớ không bị mê man như cậu nên tớ biết. Ngoài
bác sĩ chủ nhiệm và ba y tá nam, ở đội chỉ có một y tá
nữ thôi. Cậu lẫn với cô ta đấy. Nhưng cô bé không cải
chính được, cô bị câm mà. Hình như quê ở Đà Nẵng. Bị
dập thương nên câm. Phải rồi một cô gái mảnh dẻ, xinh
xắn hiền thảo. Phải rồi: mắt nâu? cậu mê lú mà vẫn
nhìn ra, giỏi thật' Nhưng eơ mà... cô bé chắt hy sinh
rồi. Thế cậu không biết à? Đợt thương binh nặng gồm
cả tớ với cậu vừa được tải thương chuyển đi được chừng
một hai giờ đồng hồ thì khu vực ấy bị B52 chần. Nghe
nói bị xóa sổ hoàn toàn. Bởi vì sau khi đổ bom chúng nó
tổ chức càn luôn.
- Tên cô y tá ấy anh có biết không?
Hình như là Liên. Liên hay Liễu gì đấy. Có khi nào
gọi tên đâu. Chỉ đồng chí ơi mấy lại em ơi thôi. Tội
nghiệp? Một cô gái xinh như thế mà lại bị câm.
Chuyện đấy Kiên cũng không kể với Phương. Nói
chung cả hai đều tránh hàn huyên về mười năm chiến
tranh của nhau. Tuy nhiên nhiều khi trông thấy
Phương tự dưng anh lại thấy trước mắt hiện ra những
kỷ niệm thời chiến của bản thân anh. Những nỗi đau.
Các trận đánh. Những hành động tử tế hay tồi tệ của
mình trong thời tuổi trẻ quân ngũ. Những sự kiện,
những hình ảnh chẳng liên quan gì tới Phương thế mà
nhờ nàng mà anh liên tưởng đến. Và thậm chí nếu có
đôi lúc bất chợt anh biết là mình vừa nhìn thấy, nghe
thấy một dư âm hay là một vang bóng rất rõ ràng của
quá khứ mà lại không thể nào hiểu nổi, không tài nào
nhớ ra thì điều đó nhất định là giọng nói, tiếng cười của
Phương, là tiếng hát, gương mặt, khóe nhìn của nàng,
là cái cách nàng đưa tay lên sửa tóc, là cái điệu nàng
quay đầu khi nhìn lại, là dáng đi mềm mại đung đưa
toàn thân của nàng.
Năm nay đã tứ tuần rồi, thế đấy, vậy mà ngọn lửa của
tình yêu, của niềm đam mê không mực thước từ những
ngày xa xưa vẫn rờn rợn cháy trong lòng anh. Mộng ảo
vẫn không ngừng đơm hoa tỏa hương hy vọng và tỏa
hương lú lẫn, tung bay những hạt phấn hoang đường.
Phương thì đã quyết tuyệt tình. Sau lần gặp gỡ sau
cùng với Kiên vào buổi tối đầu mùa đông vừa rồi, nàng
bỏ ra đi, không kịp tắt hết đèn trong phòng.
Mấy hôm ấy, tự nhiên Phương quyết định chấm dứt
những ngày vui triền miên kéo dài suốt mùa thu. Bầu
không khí âm ỉ hội hè như thể bị gió lạnh đầu mùa
cuốn vơ đi hết. Căn phòng của nàng mới đó còn tràn
hoan lạc giờ im lìm trống vắng. Khách khứa bao lâu
dập dìu, lặng biến đi cả như bị phù phép. Kiên không
ngạc nhiên. Hầu như năm nào chả thế, đang tung trời
chơi và phá, nàng lại thình lình như thể định đi tu. Nói
chung không có gì đáng để vui, để hả lòng, trái lại
những khi nàng lâm vào tình cảnh như thế, anh cảm
thấy tâm trạng mình nặng nề hơn cả khi tối tối phải
chịu đựng những gã bạn tình của nàng làm ầm ĩ bên đủ
thứ chuyện bên phòng nàng. Lạy Chúa, cuộc đời thị
dân xám xịt, chán ngắt sao mà cạn đến thế niềm vui.
Lạc thú nhớp nhơ, tả tơi, như giẻ rách và nghèo nàn
không khác gì bát cơm manh áo. Và cái cảnh buổi tối
mùa đông mưa, cảnh những người đàn ông rầu rĩ đứng
trước cánh cửa nàng đóng chặt, cài chốt bên trong, gõ
mãi, gõ mãi thi gan rồi lủi thủi lui, sa sầm buồn bã, còn
nàng thì một mình một bóng tự giam giữa bốn bức
tường, tuyệt vọng, chán chường, ê chề sầu thảm, làm
anh thắt cả ruột. Rồi anh sực nhớ hôm nay là sinh nhật
của nàng. Và cũng nhớ là đã lâu anh không sang thăm
nàng, không gặp gỡ, không trò chuyện gì, gần như là Ơ
hờ, lãnh đạm, mặc nàng với những thú vui mà anh biết
là nàng chán ngấy.
Kiên đi ra phố và trở về với một bó hoa hồng trên
tay. Dự định là sẽ rủ nàng đi ăn tiệm, anh mừng vì
thấy phố mình bị cúp điện. Như thế Phương càng
không muốn ru rú trong nhà. ~
Anh gõ cửa theo mật hiệu dành riêng cho anh để
nàng biết mà mở. Song cũng phải chờ kha khá mới
nghe chìa khóa xoay trong ổ. Cửa mở hé ra. Mùi thuốc
lá mùi nước hoa, và mùi cô nhắc. Anh bước vào. Tù mù
trên bàn một ngọn đèn dầu. Hóa ra là Phương đang có
khách. Một ông không còn trẻ. "Chào bác" - Kiên chào,
bắt tay ông ta. Một bàn tay rất thanh như là được chau
chuốt, da mỏng và khô, ấm ran, ngón dài, rất mảnh,
hết sức tao nhã như là bàn tay của ai khác chứ không
phải là của ông này, một người vô danh, dáng dấp tầm
thường, khuôn mặt héo, đầy vết nhăn, cặp mắt nhỏ
nheo nheo đùng đục, môi nhẽo, tóc hoa râm, râu cằm
nham nhở, vẻ nhu nhược và ủ dột. Có vẻ hơi mếch lòng,
ông ta ừ hữ trong họng, khẽ nghiêng đầu và như vội
vàng rụt tay về.
Xin cảm ơn anh, anh Kiên? - Phương nhận bó hoa,
nghiêng mình và đáp từ - Thế mà em lại quên mất
ngày của mình. Chỉ có anh, bao giờ cũng tốt với em. Aø
xin giới thiệu: Anh Phú - Họa sĩ. Và: Anh Kiên.
Kiên đứng. Im lặng. Phương đã ngồi xuống, lút sâu
trong ghế bành, hơi khuất ra khỏi vòng sáng dập dờn
yếu ớt của ngọn đèn. Cây đàn ghi ta của nàng để trên
mặt bàn.
à, anh Kiên này. Tiếc là em không theo chương
trình của mọi lần sinh nhật trước được. Thực tình thì
em cũng chẳng nghĩ tới cái ngày hôm nay nữa. Thứ lỗi
cho em nhé! Anh Kiên?
- Sao lại thế Em - ông khách cất tiếng, giọng ngực
rất trầm : Nếu đã thành lệ, nếu đã hẹn hò rồi thì chẳng
- Không, không mà anh. Anh đừng bận tâm, anh
Phú !
Kiên nhìn nhưng không gặp được mắt Phương. Anh
gật đầu một cái chào cả hai rồi quay ra, khép cửa lại
sau lưng. Về phòng, lụi cụi anh thắp đèn lên. - Thế
nào? - Anh thầm hỏi, băng qua với chính mình, và nhìn
chồng bản thảo. Chữ nghĩa nhảy nhót. Cổ anh nghẽn
nghẹn. Buồn thật, lại cái cảm giác ủy mị quen thuộc
ấy Sự bất lực nhức nhối. Nỗi buồn tiều tụy mà thấu
xương. Tuy vậy biết làm thế nào. eo ai lảng tránh được
chính mình. Đứng bên bàn, anh tướt mắt nhìn ra đêm
mưa ở cửa sổ. Những hạt mưa như ngậm chì, rơi xiêu
xiêu tả tơi lấm chấm lấm chấm đậu xuống, chảy trượt
đi run rẩy vẽ mãi, vẽ mãi những bức vẽ trong suốt lên
mặt kính lạnh ngắt. Lật đật, Kiên róc rượu tràn ly, hấp
tấp uống cạn. Anh ngồi xuống ghế, gạt chồng bản thảo
sang bên và đưa hai bàn tay ôm đầu.
Chợt sau lưng, cửa buồng kẹt mở. Phương. Nàng
bước vào rất nhẹ. Tới bên anh.
- Kiên? - Nàng thì thào, đứng sát vào anh và nhè nhẹ
vuốt tóc anh.
- Tội nghiệp anh - phương nói, cúi xuống hôn một
cái hôn mát rượi lên trán anh.
- Đừng buồn? - Kiên ngửng lên và nói ngớ ngẩn một
câu vớ vẩn nhất đời - Chúng mình không nên buồn nên
vui
Anh, em phải sang gặp anh. Anh không biết được
tất cả mọi điều đâu. Những điều mà một người đàn bà
như em phải trải qua. Em đang phải trả giá cho những
việc em đã làm. Em đã hư hỏng. Đôi khi em thấy mình
như con vật.
- Nhưng. . .
- Nhưng em không kìm lại được. Em không cầm lòng
lại được trước một cái gì hết. Em tự kết liễu đời mình,
có phải không? Kết liễu trong lạc thú và trong sự độc ác
đối với anh.
- Có dịp thì ai cũng độc ác được hết. Nhưng anh nghĩ
là chúng mình không bao giờ như thế với nhau. Còn
cuộc đời đời anh cũng thế, hết rồi. Nhưng cuộc sống
thì vẫn còn, vẫn phải sống. Cũng như em. Và Phương
ạ! - Anh sôi nổi kêu lên, cầm lấy tay nàng:
- Tại sao chúng mình không gạt bỏ hết đi để sống.
Sống bên nhau. Chỉ sống bên nhau, chỉ thế thôi!
- Thôi. Anh đừng nói như thế. Làm sao anh chịu nổi
cơ chứ?
- Chịu nổi. Anh khác nhiều rồi, em cũng biết đấy.
ôi Kiên! Lý ra thì mình đã có cuộc đời hạnh phúc
bên nhau. Nhưng nông nỗi vì đâu mà thế này, em cũng
chẳng biết nữa. Em không thể sống với anh như thế
được Chúng mình nên xa nhau, anh hiểu dúm cho em.
- Không thể làm gì được nữa hay sao?
- Không. Chỉ có cách xa nhau. Mãi mãi là cách duy
nhất. Mà anh đừng nhìn em như thế.
Kiên nhìn xuống. .
- Em gặp anh ấy tình cờ thôi, một tuần trước. Dĩ
nhiên không phải chỉ vì thế mà em quyết định. Bởi
cũng chưa thể quyết định gì.
- Thế vì gì? - Giọng Kiên như sẵng lên.
- Vì đấy là cách mà em có thể xa anh. Vì không thể
thế này được.
- Chúng mình đâu có gần nhau. Em ở phòng em với
công việc và sinh hoạt của em. Anh có là gì đâu. Đấy
không phải là lý do để em chạy theo một ông bố già!
Nếu cần đi thì anh sẽ đi. Chứ em đừng điên như thế.
Tất nhiên trừ phi em yêu ông ta.
- Già ư? Anh nghĩ xem em bao nhiêu tuổi, mười bảy
như hồi đó chăng?
Bao giờ em đi? - Kiên nói như muốn gạt lời Phương
định nói.
- Tối nay. Lát nữa? Và em muốn nói: chúng mình sẽ
không gặp lại nhau nữa đâu?
- Thật là đơn giản, dễ chịu. Như gập một cuốn sách
lại Một cuốn sách tồi. Phải không?
- ôi xin đừng nói thế. Xin đừng thế! ôi em khổ sở
quá Kiên ơi!
Họ cùng đứng dậy. Kiên bất ngờ ôm lấy Phương.
Người nàng run lên. Họ hôn nhau hồi lâu. Phương
đẩy anh ra. Họ lại hôn nhau.
Thôi. Đừng! - Phương rên lên.
Nàng bước đến cửa. Kiên lặng lẽ theo sau. Chợt
Phương xoay người lại, áp lưng vào cửa, nhìn thẳng vào
Kiên nói:
Kiên ơi! Rồi đây em sẽ sống ra sao, xử sự thế nào
cũng không tự biết được. Nhưng chắc rằng sẽ khó lòng
gặp lại nhau nữa, anh ạ... Hãy tha thứ cho em.
- Em yêu phải không?
- Kiên ơi! Em... em không yêu ai ngoài anh cả... còn
anh, anh còn yêu, còn yêu nổi em không?
Còn? - Kiên đáp.
Còn và mãi mãi còn. Đời anh chỉ có hai tình yêu
thôi. Một là mối tình của anh và Phương hồi trước
chiến tranh. Và sau chiến tranh là mối tình khác, cũng
giữa anh với nàng.
Nửa đêm Phương ra đi cùng ông ta. Kiên vẫn đang
đứng bên cửa sổ. Anh nghe rõ tiếng chân hai người.
Tiếng khóa cửa lạch xạch. Tiếng dịch chuyển va-li. Rồi
Phương tới trước cửa phòng anh. Hình như đút một cái
gì qua khe cửa. Sau cùng anh nghe thấy giọng nói nho
nhỏ của Phương vang lên vẻn vẹn:
Ta đi đi, anh?
Và họ đi. Đôi giày cao gót của Phương gõ khe khẽ.
Chân người đàn ông hơi kéo lết, đế giày mài trên hành
lang. Cầu thang nghiến răng ken két.
Trong chiếc phong bì nằm dưới khe cửa, có lá thư với
những dòng ngắn, vô cảm như một bức điện: Kiên ơi.
Em đi. Vĩnh biệt. Và điều đó tốt cho anh. Tốt cho em.
Chỉ xin anh một điều là hãy quên. Còn không xin gì
nữa cả. Chút thành công.
Kiên bước ra ngoài hành lang. Anh xốc cổ áo lên
bước xuống cầu thang và đi ra phố. Còn và mãi mãi
còn. Anh nghĩ.
Vui sống cuộc đời giản dị !