Diễn Đàn » Sách - Tài Liệu Đông Y

400 câu hỏi nữ giới cần biết

78 trả lời, 10.338 lượt xem — Trang 1 / 3
Chương 1: Vệ sinh sinh lý nữ giới

1. Nữ giới có những đặc điểm sinh lý gì?

Sự hoạt động của nội tạng cơ thể người, nam nữ cơ bản giống nhau, nhưng về hệ thống sinh dục mà nói, nam nữ có sự khác nhau rõ ràng. Trước hết về giải phẫu, nữ giới có tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng (hai cái sau cũng gọi là phần phụ) mà nam giới không có. Trong đó, tử cung là một bộ máy sinh dục quan trọng.

Tử cung bình thường có hình dạng như quả lê lộn ngược hơi dẹt trước sau, nằm ở chính giữa bụng dưới, phía trước là bàng quang, phía sau là trực tràng, đầu dưới thông với âm đạo, nó có thể sản sinh kinh nguyệt, mang thai, đồng thời là cơ quan trọng yếu sinh ra thai nhi, ống dẫn chứng là hai đường ống dẫn nhỏ cong, bắt đầu từ hai góc tử cung, thông với khoang tử cung, đầu ngoài tự do di động tách ra, cửa thông với khoang hình phễu là nơi tinh trùng và trứng kết hợp với nhau, rồi dẫn trứng hoặc trứng đã thụ tinh đến khoang tử cung.

Buồng trứng nằm ở hai bên phải trái, có hình bầu dục dẹt, là bộ máy sinh dục của nữ giới, có thể sản sinh ra trứng và chất kích thích, không chỉ quan hệ đến kinh nguyệt, thai ngén, đồng thời có quan hệ mật thiết đến nội tiết của thân thể.

Về sinh lý, nữ giới khác nam giới ở chỗ có kinh nguyệt, rụng trứng, mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa. Nói chung, con gái khoảng 14 tuổi thì bắt đầu có kinh nguyệt, khoảng cách của ngày thứ nhất giữa hai lần kinh nguyệt được gọi là một chu kỳ kinh nguyệt, nói chung là từ 28 đến 30 ngày; mỗi lần kinh nguyệt ra từ 3 đến 5 ngày; lượng kinh mỗi ngày hành kinh trung bình là 50 mi, ít thì có 10 - 20 ml, nhiều thì 100 ml, máu kinh nguyệt không đông, hơi có mùi tanh, màu sắc nói chung đỏ sẫm.

Trước và sau khi có kinh nguyệt, phụ nữ thường cảm thấy vú nở ra, chân tay mỏi, ăn uống không ngon, tinh thần khó chịu hoặc kích động, đây là hiện tượng sinh lý bình thường. Những thay đổi sinh lý mang tính chu kỳ này của nữ giới, là kết quả của nội tiết tố buồng trứng tác động vào cơ thể.

Trứng rụng cũng là một đặc điểm sinh lý của nữ giới, vào khoảng từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 16 của chu kỳ kinh nguyệt, thường mỗi tháng chỉ có một trứng chín, hai buồng trứng thay nhau rụng trứng, cũng có thể do một bên buồng trứng liên tục rụng trứng, trứng rụng tạo điều kiện để thụ thai. Sau khi có kinh nguyệt thì có khả năng sinh con, khi nam nữ giao hợp nhau, trứng thụ tinh, bắt đầu mang thai. Về mặt lâm sàng lấy 28 ngày làm một tháng thai ngén, thời kỳ thai ngén kéo dài 10 tháng tất cả là 40 tuần lễ.

Trong cả kỳ thai ngén, về mặt sinh lý nữ giới có hàng loạt thay đổi. Hệ thống sinh dục chủ yếu lấy tử cung làm chính, không những thể tích tử cung tăng lên, mà hình dạng cũng thay đổi không ngừng, từ hình quả lê dẹt biến thành hình cầu, sau khi mang thai 3 tháng, lại từng bước kéo dài thành hình bầu dục. Vú cũng dần dần lớn thêm, núm vú cũng thâm dần.

Thời kỳ cuối mang thai, vú có ngậm sữa non. Đồng thời với sự biến đổi của hệ thống sinh dục, sự biến đổi của các hệ thống toàn thân cũng rất rõ ràng, gánh nặng của quả tim tăng lên, cho nên tim thường có độ nhẹ to mập; do sự gia tăng của dung lượng máu vượt quá mức gia tăng của số tế bào máu, do vậy dẫn đến thiếu máu mang tính sinh lý rõ ràng. Khả năng bài tiết của thận cũng có thay đổi. Chủ yếu biểu hiện ở chỗ đái nhiều và có bệnh đái albumin hoặc đái đường mang tính sinh lý. Thậm chí khớp xương và dây chằng trở nên nhão, mềm! Giúp cho mức độ hoạt động tăng lên và đường kính xương chậu tăng lớn, có lợi cho việc sinh con.

Đến thời kỳ sau khi sinh con, tức là thời gian từ khi nhau thai ra đến lúc bộ máy sinh dục khôi phục nguyên trạng, nói chung 6 đến 8 tuần lễ. Trong giai đoạn này, đại đa số sản phụ cảm thấy mệt mỏi cần được nghỉ ngơi, mồ hôi ra nhiều, có những sản phụ nóng sốt trong vòng 24 tiếng đồng hồ, nhưng nhiệt độ cơ thể phần nhiều dưới 38oC. Trong âm đạo tiết ra thứ nước như nước ối ngày càng nhiều trong 3 ngày đạt tới đỉnh cao, nước có màu hồng tươi, sau đó nước giảm dần, màu sắc cũng biến nhạt dần, nói chung nước ra kéo dài khoảng 20 ngày. Sản phụ sau khi sinh con do tử cung co lại có thể gây nên đau ở vùng bụng, gọi là co thắt. Triệu chứng đau này từ 3 đến 4 ngày rồi tự nhiên hết đau.

Sau khi sinh con 2 đến 3 ngày, vú to ra và trở nên cứng, nhiệt độ cơ thể có lúc cũng tăng cao, và bắt đầu có sữa non chảy ra, lúc này cảm thấy vú căng và đau, nhưng cho con bú sẽ nhanh chóng hết đau. Sữa của người mẹ lúc đầu có màu trắng ngà, sau chuyển thành trắng. Trong thời gian cho con bú, nói chung kinh nguyệt ngừng, chỉ có cá biệt một số phụ nữ còn có kinh nguyệt. Qua thời kỳ sau khi sinh con 6 đến 8 tuần lễ là cơ bản khôi phục trạng thái trước khi mang thai.

Từ những điều tóm tắt nêu trên, có thể thấy rằng đặc điểm sinh lý của phụ nữ là rất phức tạp, hiểu biết những đặc điểm này để giữ gìn vệ sinh, bảo đảm sức khỏe phụ nữ là điều rất cần thiết và bổ ích.
----> healthy books <---------

 
Đăng nhập để trả lời
0
2. Đời sống sinh lý nữ giới chia làm mấy giai đoạn? Có đặc điểm gì?

Nữ giới từ khi sinh ra đến lúc già, là một quá trình tiệm tiến. Nói chung, có thể chia làm 5 giai đoạn: thời kỳ niên thiếu, thời kỳ dậy thì, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ mãn kinh, thời kỳ già, nhưng không có ranh giới rõ ràng. Tuổi tác của các giai đoạn, do ảnh hưởng của các yếu tố như di truyền, tình hình phát dục, môi trường và khí hậu xung quanh, tình hình dinh dưỡng... mà có đôi chút khác biệt.

1.Thời thiếu niên

Từ mới sinh đến 12 tuổi thì trước 7 tuổi là giai đoạn đầu của thời niên thiếu, sau 7 tuổi là giai đoạn cuối của thời niên thiếu. Giai đoạn đầu của thời niên thiếu, thân thể phát triển khá nhanh, nhưng bộ máy sinh dục chưa phát dục. Âm đạo dài hẹp, thường bị mỏng, không có nếp gấp, trong tế bào không có đường Glucose, trong âm đạo độ acid thấp, sức chống cảm nhiễm yếu. Tử cung rất nhỏ, buồng trứng dài mảnh, noãn bào cũng không phát dục, con trai con gái ngoài bộ máy sinh dục ra, các mặt khác không phân biệt là mấy.

Giai đoạn cuối của thời niên thiếu, tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động, xúc tiến xu hướng phân hóa giới tính và sự trưởng thành. Thân thể phát triển khá nhanh, bộ máy sinh dục dần dần phát dục. Bắt đầu từ 10 tuổi, các cơ quan sinh dục như tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng... vốn ở khoang bụng, đã sa xuống trong khoang xương chậu. Buồng trứng biến thành hình tròn, to hơn trước, noãn bào cũng dần dần phát dục, nhưng không chia tách. Đặc trưng nữ giới cũng rõ dần. Lớp mỡ dưới da bắt đầu tích tụ dần ở ngực, vai, hông làm cho các bộ phận này căng phồng lên. Do buồng trứng phát dục dần, nội tiết tố tăng nhiều, vú cũng bắt đầu phát dục, bầu vú rắn lại và cảm giác hơi sưng đau. Sau đó chuyển sang thời kỳ dậy thì.

2. Thời kỳ dậy thì

Từ khi xuất hiện kinh nguyệt đến khi bộ máy sinh dục phát triển đầy đủ, quãng thời gian này gọi là thời kỳ dậy thì, nói chung là từ 13 đến 18 tuổi. Đặc điểm sinh lý của thời kỳ này là cùng với việc cả cơ thể lớn lên nhanh chóng, quá độ đi dần tới sự hoàn thiện, bộ máy sinh dục và đặc trưng giới tính cũng phát triển rõ nét.

Về bộ máy sinh dục, âm hộ bắt đầu to ra, môi lớn của âm hộ trước kia vốn phẳng lì nay trở nên béo ra và dày lên, môi nhỏ của âm hộ cũng to ra và có màu thâm, âm đạo dài và rộng hơn, màng âm đạo dày lên và có nếp gấp; tử cung phát triển to, đặc biệt là thân tử cung to lên rất nhiều, chiếm 2/3 toàn bộ tử cung; ống dẫn trứng cũng to hơn, đỡ cong; buồng trứng lớn lên rõ rệt và bắt đầu có nang noãn chín, đến lúc đó thì kinh nguyệt xuất hiện.

Sự xuất hiện kinh nguyệt là cái mốc quan trọng đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ dậy thì. Nhưng do chức năng của buồng trứng vẫn chưa được kiện toàn, nên sau khi thấy kinh lần đầu tiên, kinh nguyệt còn thất thường trong một giai đoạn nữa. Về đặc trưng giới tính, bầu vú phát triển rõ hơn, núm vú to; xương chậu lớn rộng hơn, lớp mỡ dưới da dầy lên, các bộ phận như mông, ngực, vai... trở nên tròn, đẫy, khiến cơ thể nổi rõ dáng vẻ riêng biệt của nữ giới. Ngoài những điều đó ra, tính cách của nữ tính cũng nổi rõ hơn; mọi hành động, ham thích và tình cảm... đều khác nam giới.

3. Thời kỳ trưởng thành

Thường bắt đầu từ tuổi 18, cũng có thể kéo dài đến 30 tuổi. Trong thời kỳ này, bộ máy sinh dục của nữ giới trưởng thành hoàn toàn đầy đủ, đặc trưng nữ giới phát triển rõ hơn. Cũng trong thời kỳ này buồng trứng đã đi vào giai đoạn rụng trứng và nội tiết tố Estrogen (chất kích thích giới tính) theo một chu kỳ nhất định.

Các bộ phận của bộ máy sinh dục và cặp vú, thậm chí toàn bộ cơ thể đều có những thay đổi mang tính chu kỳ. Chu kỳ này được gọi là chu kỳ giới tính. Cái rõ nhất của chu kỳ giới tính là kinh nguyệt xuất hiện theo định kỳ thời gian, và có trách nhiệm sinh ra thế hệ sau. Đặc điểm trong khoảng 25 đến 35 tuổi là độ tuổi có khả năng sinh con mạnh nhất, sau đó thì yếu dần.

4. Thời kỳ tuổi mãn kinh

Đây là giai đoạn quá độ từ thời kỳ trưởng thành về giới tính bước vào tuổi già, là một thời kỳ quá độ mà chức năng buồng trứng của người phụ nữ suy thoái dần cho đến hết, biểu hiện rõ nhất là tắt kinh. Người phụ nữ thường tắt kinh ở độ tuổi 45 đến 52 tuổi, tuổi bình quân là 48 tuổi. Độ dài ngắn của thời kỳ không giống nhau, có thể từ mấy tháng đến mấy năm. Trong thời gian đó, chức năng của buồng trứng giảm dần, nang noãn không thể phát triển thành trứng chín, cũng không rụng trứng.

Đại đa số phụ nữ, do chức năng của buồng trứng suy giảm dần, hệ thống thần kinh thực vật của cơ thể có thể điều tiết và làm thay chức năng, mà không bị chứng bệnh gì. Nhưng có khoảng 10 đến 30% phụ nữ do không thể thích nghi được mà bị rối loạn chức năng thần kinh thực vật, mắc các hiện tượng tổng hợp của thời kỳ tuổi mãn kinh.

5. Tuổi già

Bắt đầu từ tuổi 50 đến tuổi 55, là giai đoạn buồng trứng mất tác dụng và mọi hiệu năng nội tiết của cơ thể nhìn chung đều hạ thấp xuống: Lúc này tử cung tóp lại, buồng trứng teo nhỏ không thể có hành kinh nữa, nếp gấp trong màng âm đạo biến mất, vú xệ xuống. Đồng thời cơ thể cũng có những thay đổi có tính già lão, chẳng hạn như lông tóc ngả bạc, lớp mỡ dưới da không còn, da dẻ không còn căng như trước và bắt đầu nhăn nheo, răng bắt đầu rụng, có người còn còng lưng, biểu hiện ra một loạt đặc trưng của sự già yếu.

-----> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
3. Hệ thống sinh dục của nữ giới gồm những bộ phận nào ?

Hệ thống sinh dục của nữ giới gồm có hai bộ phận trong và ngoài.

1. Bộ máy sinh dục ngoài

Bộ máy sinh dục ngoài còn được gọi là âm hộ, là bộ phận lộ ra bên ngoài của bộ máy sinh dục nữ, bao gồm vùng mu, môi lớn môi bé, âm vật, tiền đình, tuyến lớn tiền đình và màng trinh… Một đệm tổ chức mỡ dày lên ở phía trên khớp mu, sau khi dậy thì lông mọc lên che phủ trên bề mặt, gọi là vùng mu. Do vùng mu kéo dài xuống phía dưới, tạo thành hai nếp gấp to của da và mỡ ở phía trong háng, gọi là môi lớn. Khi ở trong trạng thái không hưng phấn, hai môi lớn khép lại, có tác dụng bảo vệ âm đạo và niệu đạo. Môi nhỏ là hai nếp gấp da màu phấn hông ở phía trong môi lớn, ở đây phân bố rất nhiều dây thần kinh, khá nhạy cảm.

Ở phụ nữ chưa kết hôn thì môi nhỏ khép lại, có tác dụng bảo vệ âm đạo và bộ máy sinh dục bên trong cơ thể, ở đầu trên giữa hai môi nhỏ, có một bộ phận nhô lên cương cứng và xốp dạng như hạt đậu to, có nhiều dây thần kinh, rất nhạy cảm, hưng phấn mạnh về giới tính, là bộ phận quan trọng gây ra những hưng phấn giới tính. Vùng có hình quả trám nằm giữa hai môi bé được gọi là tiền đình. Phía trước là âm vật, phía sau là dây chằng âm vật. Trong vùng này còn có lỗ niệu đạo, lỗ âm đạo và tuyến lớn tiền đình (còn gọi là tuyến Bartholin). Tuyến lớn tiền đình nằm ở đằng sau môi lớn, phân bố ở hai bên, có lỗ thông vào khoảng giữa môi bé và màng trinh, bằng hạt đậu, khi giao hợp tiết ra chất dính nhầy, có tác dụng bôi trơn cửa âm đạo. Ở chỗ giáp ranh giữa cửa âm đạo và tiền đình, có một lớp màng mỏng hình tròn hoặc hình bán nguyệt có một lỗ nhỏ ở giữa gọi là màng trinh. Sau khi kết hôn, màng trinh bị phá rách mà tạo thành vết rách của màng trinh. Cũng có những nữ thanh niên chưa giao hợp lần nào nhưng do hoạt động quá mạnh và bị ngoại thương mà cũng rách màng trinh.

2. Bộ máy sinh dục trong

Bộ máy sinh dục trong là bộ phận nội tạng của bộ máy sinh dục, bao gồm âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Âm đạo là một ống cơ đi từ bộ phận sinh dục ngoài vào tới tử cung. Đầu dưới thông với phía sau tiền đình của âm đạo, đầu trên bọc xung quanh cổ tử cung, thành trước dài khoảng 7 đến 9 cm, thành sau dài khoảng 10 đến 12 cm. Thành âm đạo có rất nhiều nếp gấp và các sợi dây dọc có sức đàn hồi nên có sức co giãn rất lớn. Thành âm đạo lại có nhiều chùm tĩnh mạch, nên khi bị tổn thương cục bộ thì dễ chảy máu hoặc tụ máu. Màng nhày của âm đạo chịu ảnh hưởng của nội tiết tố oestrogen, nhưng lại thay đổi mang tính chu kỳ. Khi giao hợp, các mạch máu xung quanh âm đạo được xung nạp dồi dào, chất nhầy tiết ra làm trơn âm đạo. Âm đạo là ống dẫn tinh trùng vào, thoát máu hành kinh ra ngoài và sinh ra thai nhi, và cũng là bộ phận giao hợp.

Tử cung là một khoang cơ rỗng, nằm lọt giữa khoang chậu có hình giống quả lê đặt ngược, phần đầu dưới nhỏ hẹp là cổ tử cung, thông với âm đạo. Phần đầu trên to dày gọi là đáy tử cung, đoạn giữa là thân tử cung, hai sừng tử cung ở hai bên thông với ống dẫn trứng. Chiều dài tử cung của người thành niên vào khoảng 7,5 cm rộng 5 cm, dày 2,5 cm, nặng khoảng 50 gam. Bề mặt phía trong của khoang tử cung có một lớp màng nhầy, gọi là niêm mạc tử cung. Do ảnh hưởng chất kích thích của buồng trứng, niêm mạc tử cung biến đổi theo chu kỳ, tự bong ra thành kinh nguyệt. Cho nên nói, tử cung là nơi sinh ra kinh nguyệt và mang thai cho đến khi thai lớn đủ tháng đủ ngày, ống dẫn trứng (hay còn gọi là vòi Fallôpe) là một cặp đường ống nhỏ dài mà cong, đầu trong thông với tử cung, đầu ngoài tự do di động, có vòi thông với khoang hình phễu, gần với buồng trứng, ống dài khoảng 8 đến 12 cm. Vai trò của ống dẫn trứng là nhận trứng rụng từ buồng trứng, giúp trứng có cơ hội thụ tinh và đưa trứng vào làm tổ trong khoang tử cung.

Buồng trứng nằm ở mặt sau của dây chằng rộng treo hai bên tử cung, có hình dạng giống như quả chà là (tức là hình bầu dục dẹt) ở đầu dưới của ống dẫn trứng. Buồng trứng là tuyến sinh dục của nữ. Tuy nó không nặng đến 5 hoặc 6 gam, nhưng lại là nơi sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra nội tiết tố oestrogen. Hoạt động bình thường của buồng trứng có quan hệ tới chức năng sinh con và sinh lý của cuộc đời phụ nữ.

-------> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
4. Có những dị tật gì thường thấy ở âm hộ và âm đạo?

Âm hộ và âm đạo là bộ phận cấu thành bộ máy sinh dục nữ, những dị tật người ta thường thấy ở chúng là: màng trinh đóng kín, vách ngăn ngang âm đạo, vách ngăn dọc âm đạo và không có đường âm đạo bẩm sinh…

Thông thường, màng trinh nữ có một lỗ nhỏ ở giữa, lỗ có hình tròn hoặc hình bán nguyệt, hoặc hình cánh hoa. Nếu lỗ màng trinh quá nhỏ hoặc tạo thành dạng xốp thì không những máu hành kinh khó thoát ra ngoài mà thường gây khó khăn cho việc giao hợp sau khi cưới. Màng trinh đóng kín, được gọi là màng trinh không có lỗ, tục ngữ gọi là “thạch nữ” (tức “cô gái rắn như đá”), là một dạng dị tật thường thấy của bộ máy sinh dục.

Do màng trinh bít kín cửa âm đạo, sau khi có hành kinh lần đầu tiên, máu kinh không thể thoát ra ngoài, mà tích lại trong tử cung. Nếu máu tích quá nhiều có thể chảy vào buồng trứng và chảy vào ổ bụng. Những cô gái bị tật này đều không thấy hành kinh khi dậy thì, sau đó dần dần xuất hiện tình trạng thấy đau ở bụng dưới, theo chu kỳ mỗi tháng và cùng với sự chuyển dời của thời gian, bụng dưới không những càng ngày càng đau dữ dội thậm chí còn nổi cục, hơn nữa còn kèm theo những triệu chứng như toàn thân khó chịu, đau đầu, bí tiện (bí đại tiện), đi đái liên tục…

Khi bác sĩ kiểm tra, có thể phát hiện thấy bộ phận màng trinh là một màng dày có màu tím thẫm, chọc thủng màng trinh có thể hút ra dung dịch máu có màu nâu sẫm hoặc màu đen đóng kín cũng không thể sinh hoạt tình dục được. Khi phát hiện thấy các tình trạng nêu trên đi đến bệnh viện đề nghị bác sĩ rạch màng trinh theo hình “X”.

Trên lâm sàng vách ngăn của âm đạo cũng là một trường hợp ngẫu nhiên, phần lớn nằm ở đoạn trên của âm đạo. Nếu vị trí vách ngăn ngang hơi thấp, phạm vi tương đối rộng, có thể làm cho âm đạo bị đóng kín hoặc đóng kín một phần, vì thế ảnh hưởng đến việc giao hợp, và có thể xuất hiện những triệu chứng tương tự như màng trinh bị bịt kín.

Còn nếu vị trí vách ngăn ngang hơi cao, mà vách ngăn của âm đạo lại có lỗ, thì thường không có triệu chứng gì và có thể có thai được, nhưng khi sinh con có thể làm ảnh hưởng đến việc thoát ra của thai nhi, gây sinh con khó.

Còn về trường hợp vách ngăn dọc của âm đạo, thường hình thành hai âm đạo (âm đạo kép) ở một chỗ hoặc ở suốt cả âm đạo, tử cung cũng có thể có hai tử cung. Có lúc vách ngăn dọc của âm đạo có thể gây khó khăn cho việc sinh con hoặc bị rách chảy máu. Đối với hai dị tật này của âm đạo, dùng phẫu thuật cắt bỏ vách ngăn ngang hoặc vách ngăn dọc là biện pháp chữa trị duy nhất.

Còn đối với những người không có đường âm đạo bẩm sinh, thường đồng thời không có tử cung hoặc tử cung quá nhỏ. Nếu tử cung phát dục bình thường, thì kinh nguyệt không chảy ra nổi, vì máu tích lại trong tử cung, có thể gây nên đau bụng dưới.

Nếu việc tử cung phát dục bất thường, phần lớn do không có kinh nguyệt hoặc không có cách nào làm tình được thì cần tiến hành thăm khám, đa số là áp dụng cách chữa phẫu thuật tạo hình âm đạo.

-------> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
6. Tử cung hay có những dị tật gì?

Tử cung là nơi sinh ra kinh nguyệt, mang thai và cũng là cơ quan quan trọng để sinh con. Tử cung phát triển bất bình thường không những gây nhiều ảnh hưởng về sinh lý cho phụ nữ mà có khi còn là nguyên nhân gây nên tình trạng không có con. Vậy thì, tử cung thường có những dị tật gì? Có thể chia ra làm hai loại:

Một là tử cung phát triển thiếu, trường hợp này gồm:

1. Không có tử cung bẩm sinh: Đa số những người mắc bệnh này thường kèm theo cả không có âm đạo, nhưng buồng trứng vẫn phát triển bình thường vì vậy đặc trưng giới tính vẫn phát triển tốt.

2. Tử cung teo nhỏ: Tử cung rất nhỏ, chỉ từ 1 đến 3 cm, phần lớn không có niêm mạc, vì thế không có kinh nguyệt.

3. Tử cung phát triển không hoàn thiện: Tức tử cung nhỏ hơn bình thường, cổ tử cung lại dài, lượng kinh nguyệt ít, thường là nguyên nhân gây nên tình trạng không thụ thai.

Hai là tử cung không phát triển thừa, bao gồm:

1. Tử cung kép: Tức có hai tử cung cùng tồn tại.

2. Hai cổ tử cung: Tức đáy tử cung lõm xuống, tạo thành hình hai sừng, đồng thời có hai cổ tử cung.

3. Tử cung hai sừng, một cổ tử cung: Tức chỉ tử cung có hai sừng, nhưng chỉ có một cổ tử cung.

4. Tử cung có vách ngăn dọc: Hình dáng bên ngoài của tử cung bình thường, nhưng có một vách ngăn dọc chia cổ tử cung và khoang tử cung ra làm hai nửa.

5. Tử cung một sừng: Tử cung chỉ phát triển một sừng về một phía, tử cung chỉ có một ống dẫn trứng, còn một ống không phát triển.

6. Tử cung có sừng phụ: Tức sừng tử cung ở một bên phát triển thêm một sừng phụ dị dạng, tử cung sừng phụ này không thông với tử cung.

Do những dị tật này của tử cung, thường làm cho kinh nguyệt thất thường hoặc dẫn đến vô sinh, dù có thai nghén cũng dễ bị sảy. Nếu thai nhi có trưởng thành đầy đủ thì do hình dáng đặc thù của tử cung, sức co bóp của tử cung kém, nên thai bị ngược hoặc tỷ lệ thai lưu, không ra được khá cao.

7. Vì sao buồng trứng phát triển không đầy đủ?

Sự phát triển không hoàn chỉnh của buồng trứng là nguyên nhân thường gặp của chứng vô sinh ở nữ giới, dẫn đến chứng bệnh buồng trứng không thực hiện đầy đủ chức năng do sự phát triển của nó bị cản trở. Chẳng hạn như mất sự điều hòa cân bằng giữa khâu não - tuyến yên - buồng trứng, u tuyến yên, các chất dinh dưỡng cao không tốt, có bệnh mãn tính (như kết hạch), bị hết bệnh này sang bệnh khác (ví dụ như chức năng tuyến giáp trạng bị giảm đi hoặc quá mức bình thường, bệnh đái đường, rối loạn chức năng tuyến thượng thận…). Tất cả đều có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển không bình thường của buồng trứng, thậm chí gây trở ngại cho chức năng của tuyến sinh dục. Ngoài ra, những bệnh của bản thân buồng trứng (như buồng trứng non, sớm suy giảm chức năng buồng trứng, buồng trứng đa nang, u buồng trứng) do buồng trứng không thể phát triển đầy đủ có thể gây ảnh hưởng rõ rệt đến sự bài tiết oestrogen và chức năng rụng trứng của buồng trứng.

Khi gặp phải những trường hợp trên, trước tiên phải kiểm tra nội tiết tố, thông qua kiểm tra xác định nội tiết tố oestrogen (còn gọi là chất kích thích giới tính) trong nước tiểu, phenol trong nước tiểu người có thai để tìm hiểu xem các nội tiết tố được tiết ra như thế nào, nhằm đoán ra khả năng rụng trứng của buồng trứng. Trước mắt, vẫn chưa có biện pháp trực tiếp để kiểm tra liệu buồng trứng có khả năng rụng trứng hay không, mà phải trải qua một số những quan sát gián tiếp, xác định nhiệt độ cơ thể một cách có cơ sở vẫn thường áp dụng trên lâm sàng, kiểm tra chất nhầy ở cổ tử cung, kiểm tra tổ chức sống của niêm mạc tử cung. Nếu những kiểm tra này cho thấy không có hiện tượng rụng trứng thì có thể chuẩn đoán là chức năng buồng trứng không hoàn thiện.

-----> healthy books <------

 
Đăng nhập để trả lời
0
8. Tử cung có những thay đổi sinh lý gì trong cuộc đời người phụ nữ?

Sau khi thai nhi nữ ra khỏi bụng mẹ, tử cung và màng nhầy tử cung của nó đã có sự phát triển ở một mức độ nhất định.

Đầu giai đoạn thơ ấu, tử cung bé gái nằm trong khoang bụng, gần với mép trên xương chậu. Thể tích tử cung rất nhỏ, cổ tử cung cũng khá dài chiếm 2/3 toàn bộ chiều dài tử cung, lớp cơ của tử cung cũng rất mỏng, toàn bộ vẫn ở trong tình trạng trẻ thơ.

Sau khi 7 tuổi, tử cung dần dần kéo xuống phía xương chậu. Bắt đầu từ tuổi dậy thì, thân tử cung to lên rõ rệt, do sự phát triển của buồng trứng sản sinh ra các oestrogen (chất kích thích giới tính) đã làm cho niêm mạc tử cung thay đổi có chu kỳ. Sự thay đổi này cho thấy rằng về việc bong ra và phục hồi màng nhầy tử cung có tính chu kỳ, kinh nguyệt bắt đầu xuất hiện.

Đến thời kỳ trưởng thành đầy đủ về giới tính, cũng đã phát triển hoàn thiện, có hình dáng giống như một quả lê đặt ngược, đầu trên khá to rộng thì là thân tử cung, đầu dưới nhỏ hẹp hình trụ tròn là cổ tử cung. Thân tử cung tương xứng với 5 khớp cùng ghép lại, xương cụt cũng gồm 4 hoặc 5 khớp cụt. Xương cùng và xương cụt liên kết với nhau thành khớp cùng cụt nhờ dây chằng, khớp này có tính hoạt động cao.

Khi sinh con, khớp cùng cụt có thể di chuyển ra phía sau giúp cho cửa ra của khung chậu được mở rộng ra ở cả đằng trước và đằng sau, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh con tự nhiên. Giữa hai tai của xương hông và xương cùng có khớp cánh chậu, phạm vi hoạt động của khớp này khá hẹp. Giữa các bộ phận của khung chậu đều có hai đôi dây chằng chắc chắn, một là dây chằng đầu khớp xương cùng đoạn nối giữa xương cùng cụt và đầu khớp xương u ngồi. Bốn kết cấu xương này được nối liền với nhau làm một nhờ dây chằng, xương sụn và các đầu khớp tạo thành khung xương chậu.

Khung xương chậu nữ giới là chỗ chứa bộ máy sinh dục của người phụ nữ tức tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng, đồng thời cũng là nơi trú ngụ của bộ máy tiết niệu tức bàng quang. Thứ tự sắp xếp của những cơ quan này trong khung xương chậu như sau: phía trước xương chậu là bàng quang và niệu đạo, ở giữa là buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo, phía sau là trực tràng. Kết cấu chắc chắn của khung xương chậu có tác dụng bảo vệ các cơ quan nội tạng này và cổ tử cung là tỷ lệ 2:1. Lớp cơ của tử cung cũng dày hẳn lên, dày nhất là 0,8 cm.

Trong thời gian thai nghén, các mạch máu ở cổ tử cung tăng lên, máu nạp bị yếu đi và có màu sẫm (màu máu cá); trong ống tử cung tiết ra đầy chất nhầy, bịt kín cửa sổ tử cung, thành vật chướng ngại chống vi khuẩn xâm nhập vào khoang tử cung. Sau khi nghén, tử cung to dần theo sự lớn lên của thai nhi, số mạch máu trong tử cung tăng lên. Sau khi phình to lên, tử cung trở nên mềm hơn, tử cung có hình dạng giống như quả bóng tròn và sự nhạy cảm về giới tính bị yếu đi. Sau 3 tháng, tử cung lại biến thành hình trụ tròn, đồng thời lớp cơ thành tử cung cũng giầy hơn, trọng lượng nặng hơn, trọng lượng tử cung khi thai nghén đủ tháng tăng gấp 20 đến 25 lần tử cung chưa có thai (tử cung lúc bình thường nặng khoảng 40 gam).

Sau khi sinh con, tử cung co lại, hồi phục dần đến độ bình thường. Việc xung máu, thủy thũng của cổ tử cung có từ trước khi sinh con dần dần hồi phục lại. Cửa cổ tử cung của sản phụ sau khi sinh con đã mất đi hình dạng ban đầu mà trở thành vết nứt ngang.

Sau khi bước vào tuổi mãn kinh, biểu hiện nổi bật là kinh nguyệt rối loạn, thường xuyên bế kinh, cuối cùng tắt kinh. Trong thời kỳ tắt kinh, tử cung và cổ tử cung co tóp lại. Lúc này niêm mạc tử cung cũng không bong ra theo chu kỳ nữa, vì vậy cũng không còn kinh nguyệt.

-----> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
9. Buồng trứng có những chức năng nào? Cơ năng buồng trứng chịu ảnh hưởng của những yếu tố gì?

Buồng trứng là tuyến sinh dục của phụ nữ. Nó có thể sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra chất kích thích oestrogen, vì thế nó có chức năng sinh dục và nội tiết.

Về chức năng sinh dục, phụ nữ đang ở độ tuổi sinh con, ngoài những tháng mang thai và nuôi con bằng sữa ra, cứ mỗi tháng một lần, buồng trứng lại có những thay đổi mang tính chu kỳ và rụng tế bào trứng, thời gian rụng trứng thường vào khoảng từ ngày 14 đến ngày 16 của chu kỳ kinh nguyệt. Tế bào trứng là do nang noãn trong buồng trứng tiết ra và rụng xuống. Trong sự phát dục của nhiều nang noãn, thường chỉ có một nang noãn tăng trưởng đến độ chín, vì thế mỗi tháng chỉ có một quả trứng chín. Sau khi rụng trứng, trứng sống được vài giờ. Lúc đó, nếu trứng đi vào ống dẫn trứng và gặp tinh trùng thì thụ tinh thành bào thai.

Về chức năng nội tiết, trong quá trình thay đổi theo chu kỳ của buồng trứng, buồng trứng còn đồng thời tiết ra 3 loại hormon giới tính, đó là nội tiết tố oestrogen, progesteron và một lượng cực ít hormon giống đực. Những nội tiết tố này có tác dụng quan trọng đối với các tác phủ của cơ thể.

Buồng trứng là tuyến sinh dục của phụ nữ. Việc phát triển bình thường chức năng của nó chịu ảnh hưởng của vỏ đại não, hạ khâu não và tuyến yên. Chúng ta biết rằng, thùy trước của tuyến yên tiết ra hai loại hormon gây ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng, một loại là hormon kích thích nang noãn chín, một loại khác là hormon tạo thành hoàng thể. Loại hormon đầu thúc đẩy nang noãn phát dục lớn đến chín, tác dụng chủ yếu của loại hormon sau là thúc đẩy rụng trứng. Hạ khâu não mang những ước số phóng thích các loại tuyến nội tiết, điều tiết tuyến yên tác động đến việc tiết ra nội tiết tố oestrogen. Thế nhưng tác dụng đưa trở lại của chức năng buồng trứng cũng có ảnh hưởng nhất định đối với lớp vỏ đại não, hạ khâu não và tuyến yên.

Từ đó ta thấy rằng, khi môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của cơ thể có những thay đổi, gây cản trở đối với bất cứ khâu nào của lớp vỏ đại não, hạ khâu não, tuyến yên và buồng trứng, thì đều dẫn đến rối loạn chức năng buồng trứng.

10. Ống dẫn trứng có những chức năng gì?

Ống dẫn trứng được chia ra làm 4 phần tính từ trong ra ngoài, bao gồm đoạn kẽ hở, đoạn eo, đoạn ổ nang và đoạn vòi loa. Trên thành ống dẫn trứng, có lớp cơ trơn, phẳng và có tế bào có nhung mao. Sự co bóp của lớp cơ trơn này sẽ làm cho ống dẫn trứng di chuyển, nhu động từ đầu xa đến đầu gần. Lông mao của tế bào có nhung mao cũng chuyển theo hướng từ ngoài vào tử cung. Những kết cấu này đã quyết định chức năng buồng trứng, tức hứng lấy trứng từ buồng trứng rụng xuống, giúp trứng có cơ hội thụ tinh và đưa trứng xuống khoang tử cung, làm tổ trên niêm mạc tử cung, phát triển thành bào thai.

------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
11. Xương chậu được cấu tạo như thế nào? Trong xương chậu nữ giới có những cơ quan nội tạng gì?

Khung chậu của nữ giới do xương cùng, xương cụt và xương hông cấu tạo thành. Giữa 4 tấm xương cánh chậu có khớp cứng và có dây chằng hoặc xương sụn nối lại với nhau. Trong đó xương hông lại do xương cánh chậu, ụ ngồi và khớp mu tạo thành được nối bằng xương sụn, gọi là khối liên kết khớp mu, khi sinh con, khối liên kết này hơi nới lỏng ra, tạo điều kiện cho thai nhi chui ra.

12. Sau khi chào đời, bé gái có những đặc trưng gì?

Một bé gái vừa chào đời, ngoài những đặc điểm giống như bé trai là cơ thể còn chưa phát triển, các cơ quan còn chưa hoàn thiện ra, lại mang những đặc trưng riêng của giới bé.

Trước tiên, điều đó được thể hiện ở bộ phận sinh dục ngoài, toàn bộ bộ phận sinh dục hiện ra bên ngoài có hình hơi tròn, môi âm hộ lớn dày lên, môi âm hộ bé khá to và dày so với của người lớn, sự phát triển của âm vật càng to không theo một tỷ lệ nào. Như vậy, tổ chức của bộ phận sinh dục ngoài âm hộ hơi múp lên. Còn bộ phận bên trong của bộ máy sinh dục, là âm đạo thì chỉ là một đường ống hẹp và dài, màng da trên của âm đạo có nhiều lớp tế bào xếp lên nhau. Mấy tuần sau lớp tế bào ở lớp da trên của âm đạo mỏng ra. Tử cung của bé gái lúc này rất nhỏ, thân tử cung chiếm 1/3, cổ tử cung chiếm 2/3, lớp cơ của tử cung cũng rất mỏng, ống dẫn trứng cong, hơn nữa rất nhỏ, lớp cơ rất mỏng. Buồng trứng nhỏ và dài, nằm sát dây chằng rộng, có mầu phấn hồng hơi phớt trắng, mặt trơn bóng. Vị trí của tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng đều nằm trong khoang bụng, chỉ đến khi bé gái khoảng 10 tuổi thì mới bắt đầu xuống vùng xương chậu.

Ngoài đặc trưng về bộ phận sinh dục ra, có bé gái khi còn ở trong bụng mẹ, do bị nội tiết tố oestrogen của người mẹ ngấm vào trong cơ thể, khiến màng tử cung thay đổi nên sau khi sinh ra, hệ thống tuần hoàn máu tách ra khỏi cơ thể mẹ, lượng kích thích tố trong máu bị giảm đi, dẫn đến tình trạng, có máu chảy ở cửa âm đạo, làm bố mẹ kinh sợ. Tình trạng này gọi là tình trạng thấy kinh giả, có thể kéo dài từ 1 đến 2 ngày, thường thì máu ra không nhiều, có thể tự cầm, không cần phải tác động gì. Ngoài ra, do chịu tác động của chất kích thích của hormon từ cơ thể mẹ, tuyến sữa cũng có thể bị cương lên, thậm chí có tí “sữa” từ 8 đến 10 ngày sau khi sinh, hai ba tuần sau thì hết, không cần phải xử lý. Xin chớ nặn bóp gì, để tránh nhiễm trùng.

13. Vì sao không được bó lưng, thít ngực trẻ em gái?

Có những ông bố bà mẹ đã cho bé gái mặc những chiếc áo bó lưng, thít ngực để trang điểm cho con mình, đặc biệt ở một số vùng nông thôn miền núi, do chịu ảnh hưởng tư tưởng phong kiến, sợ bé gái có cặp vú to dày khó hấp dẫn mà đã bắt bé gái mặc những chiếc áo chật khít để bó ngực. Đây là một tập tục xấu, rất nguy hại. Bởi vì trẻ em đang ở trong giai đoạn phát triển, bộ xương mềm, lồng ngực nhỏ, xương sườn thẳng đuỗn, nếu thít chặt tất sẽ hạn chế và làm ảnh hưởng đến sự phát triển của lồng ngực và khả năng hoạt động của phổi, thậm chí còn làm cho xương ngực biến thành hình dị dạng. Theo thống kê của các nhà y học, việc bó ngực còn có thể làm cho tỷ lệ phát bệnh ung thư ở phổi tăng lên khá cao. Ngoài ra việc thít chặt ngực còn làm cho cặp vú lép kẹp, đặc biệt là làm cho đầu vú bị tụt sâu vào trong. Do đầu vú quá nhỏ, bầu vú phát triển không đầy đặn, không những sẽ gây khó khăn cho việc nuôi con cái sau này khi làm mẹ mà còn gây viêm tuyến sữa do sữa tắc.

Bó eo lưng cũng là một tập quán rất không hay. Nếu bó eo lưng quá chặt, khoang bụng sẽ vì thế mà nhỏ đi, co hẹp lại, áp lực trong bụng tức đẩy lên, có thể làm cho vị trí các mạch máu ở thận, lá lách, gan, dạ dày, ruột. v.v… bị di dịch, khiến khả năng hoạt động bị hạn chế, máu không lưu thông, gây ảnh hưởng đến các chức năng. Chẳng hạn như làm cho việc thở bằng bụng bị cản trở, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của lá phổi, khiến phổi không lấy đủ được lượng ôxy cần thiết cung cấp cho cơ thể do lượng hoạt động của cả buồng phổi bị ảnh hưởng. Mặt khác, nếu dạ dày không phồng to lên được, không những có thể ảnh hưởng đến việc dẫn thức ăn từ miệng xuống, đồng thời cũng có thể làm cho sự co bóp của dạ dày bị hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động tiêu hóa. Ngoài những điều đã nêu ở trên ra, nếu bó eo lưng quá chặt, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của khung xương chậu, khiến xương chậu bị hẹp hoặc bị dị dạng, sẽ gây khó khăn cho việc sinh nở. Vì vậy, xin đừng bó eo lưng, thít ngực bé gái.

------> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 2: Tuổi dậy thì

14. Đặc trưng tuổi dậy thì là gì?

Đặc trưng giới tính thứ hai là chỉ sau khi nam hoặc nữ đến tuổi dậy thì, do sự phát triển của tuyến sinh dục khác nhau nên có sự khác biệt nhau hẳn thể hiện ở hình dáng cơ thể, giọng nói, tuyến sữa, xương chậu, bắp thịt, lông tóc, lớp mỡ dưới da… Có sự khác biệt này là do kết quả của hormon giống đực của nam giới tiết ra và do tác động của oestrogen và progesteron (hormon giống cái và hormon thụ thai) của nữ giới. Đặc điểm của đặc trưng giới tính thứ hai của nam giới và nữ giới là:

1.Về thể trạng: Nam giới thì phát triển về cơ thể, hai vai to, rộng dần ra cùng với sự lớn lên của cơ thể, phía trên cơ thể nở nang, phía dưới thon lại; nữ giới thì có hình dáng bên ngoài đầy đặn, đầy đủ, phần giữa cơ thể thì to ra.

2.Về giọng nói: Khi đến tuổi dậy thì, yết hầu ở cổ nam giới nổi lên, dây thanh đới to rộng thêm, giọng bị vỡ ra, nghe khô và ồm; nữ giới thì không có yết hầu, dây thanh đới dài và hẹp, cho nên tiếng thanh mà sắc.

3.Về lớp mỡ dưới da: Các tổ chức cơ bắp của nam giới rất phát triển còn nữ giới thì lớp mỡ dưới da dày lên.

4.Về lông tóc: Sau khi dậy thì, do tác dụng của các hormon, các loại lông tơ ở âm hộ, lông nách đều mọc. Ở nam giới, ria mép dần dần xuất hiện, lông ở bộ phận sinh dục mọc kéo dài đến phía trên, nữ giới không có râu, lông ở bộ phận sinh dục rất ít, chủ yếu mọc ở phía trên âm hộ.

5.Về xương chậu: Xương chậu nữ giới phát triển to ra và rộng ra còn xương chậu của nam giới thì nhỏ và hẹp.

6. Về tuyến sữa: Đối với nữ giới, đầu vú mọc trước, sau đó bầu vú phát triển to dần, xung núm vú có quầng sữa khá sâu; ở nam giới, không có sự phát triển rõ nét về vú.

Y học gọi những đặc trưng thể hiện ở sự phát triển trên, các bộ phận nói trên là “đặc trưng giới tính thứ hai”.

15. Thế nào là dậy thì sớm?

Thường đến tuổi 11, 12, tuyến sinh dục của bé gái bắt đầu phát triển và dần dần xuất hiện những đặc trưng của nữ giới như cơ thể phát triển đầy đặn, khung xương chậu to và rộng ra, cơ thể lớn vọt lên, mọc lông ở âm hộ và nách, cặp vú nổi rõ dần và bắt đầu có kinh nguyệt.

Thế nhưng có một số bé gái lại xuất hiện những đặc trưng giới tính này ở thời kỳ trước 10 tuổi. Hiện tượng phát triển sớm này, chúng ta gọi là “dậy thì sớm”. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng “dậy thì sớm” này thường có liên quan tới di truyền của gia đình, không ảnh hưởng tới sức khỏe từ nay về sau. Nhưng cũng có số ít trường hợp là do các khối u của hệ không nội tiết gây ra, như u tuyến yên, khối u tuyến thượng thận và khối u buồng trứng… Những trường hợp này phải kịp thời sớm đến bệnh viện để chữa trị.

Hiện nay, có một số nguyên nhân nữa cũng cần phải chú ý, đó là cho trẻ ăn, uống thuốc bổ, các chất bổ quá liều lượng cũng khiến trẻ dậy thì sớm. Những chất bổ này có tác dụng làm thức dậy chức năng giới tính, khiến trẻ dậy thì sớm, người bị nặng còn có thể có những biến đổi về trạng thái và phát sinh các bệnh khác nên các bậc làm cha làm mẹ cần chú ý.

------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
16. Khi nào bắt đầu dậy thì? Cần chú ý những gì trong thời kỳ dậy thì?

Thời kỳ dậy thì bắt đầu từ lúc xuất hiện những dấu hiệu dậy thì của tuổi trẻ cho đến khi chức năng sinh dục phát triển đầy đủ nhất, thường trong khoảng từ 11 tuổi, 12 tuổi đến 17, 18 tuổi. Người ta thường lấy việc xuất hiện kinh nguyệt ở thanh niên gái làm cái mốc bước vào thời kỳ dậy thì. Thời kỳ dậy thì là một giai đoạn tiến vọt trong quá trình phát triển của cuộc đời, cũng là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển lớn lên. Trong thời kỳ này, cơ thể lớn lên nhanh chóng, bộ máy sinh dục và chức năng giới tính cũng được hoàn thiện dần, tinh thần và tâm lý có những thay đổi tương đối lớn. Giữ được sự khỏe mạnh của cơ thể và tinh thần trong thời kỳ này là mấu chốt quyết định thể trạng, thể chất của cuộc đời con người. Vậy cần chú ý những gì trong giai đoạn dậy thì?

1. Cần ăn uống hợp lý: Do cơ thể phát triển nhanh chóng trong giai đoạn dậy thì nên nhu cầu về dinh dưỡng, đặc biệt là nhu cầu về chất albumin và nhiệt lượng tăng lên rất nhiều. Nếu không đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cơ thể thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, cho nên về mặt ăn uống, ngoài việc phải ăn nhiều những thức ăn có chứa chất albumin ra còn phải chú ý bổ sung các loại vitamin và chất khoáng, ăn uống đa dạng nhiều chủng loại hợp lý, khắc phục những thói quen không tốt như ăn kiêng, ăn một thức ăn…

2. Làm tốt vệ sinh cá nhân: Chính là tạo một thói quen tốt về sinh hoạt cá nhân, sắp xếp hợp lý việc sinh hoạt, công tác và học tập, tham gia các hoạt động luyện tập và giải trí một cách đúng mức, đảm bảo ngủ đủ.

3. Khắc phục những trở ngại về tâm lý: Thời kỳ dậy thì là một thời kỳ quá độ quan trọng về phát triển tâm lý, lại là một giai đoạn quan trọng phát triển trí lực, hình thành thế giới quan, cộng với sự gia tăng những hoạt động độc lập trong xã hội nên dễ dàng bị ảnh hưởng của môi trường xung quanh, tư tưởng thì sôi nổi, tình cảm dễ bị dao động, có lúc khiến tầm nhìn, lúc thì tự cao tự đại, lúc thì bi quan thất vọng, vì thế phải nỗ lực học tập, cần phải quan sát xã hội, tìm hiểu xã hội, xây dựng cho mình một nhân sinh quan đúng đắn, khắc phục những trở ngại về tâm lý, giúp cho bản thân lành mạnh đi đến thời kỳ phát triển chín đủ của con người.

4. Hiểu rõ những kiến thức sinh lý bộ máy sinh dục: Trong giai đoạn dậy thì, bộ máy sinh dục có những thay đổi rất lớn, đặc trưng của giới tính cũng ngày càng thể hiện ra một cách rõ nét. Lúc này nên tìm hiểu kỹ càng những vấn đề như giải phẫu và sinh lý của bộ máy sinh dục, xử lý đúng đắn những hiện sinh lý như khí hư, kinh nguyệt xuất hiện trong giai đoạn dậy thì và cả những vấn đề về yêu đương và hôn nhân, để điều hòa sinh hoạt và học tập của bản thân, giúp cho hệ thống sinh dục của bản thân được phát triển khỏe mạnh.

Tóm lại, bước vào giai đoạn dậy thì, chỉ cần bạn quan sát kỹ mình thì sẽ nhận thức đúng mình. Trong quá trình nhận thức về bản thân mình nên đặt ra những biện pháp hữu hiệu thì có thể bảo đảm được sự trưởng thành khỏe mạnh của giai đoạn dậy thì.

------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
17.Tâm lý trong giai đoạn dậy thì có những đặc điểm nào?

Trong giai đoạn dậy thì, con người có những biến đổi rất lớn cả về phát triển cơ thể hình dáng hay sinh lý, cả về phát triển tinh thần hay tâm lý. Trong thời kỳ này, do cơ thể đang đi dần đến sự phát triển đầy đủ, hoàn thiện và do ảnh hưởng của nội tiết, khiến môi trường bên trong của cơ thể khác hẳn với thời niên thiếu; lại do sự tiếp xúc với xã hội của thanh niên ngày càng nhiều lên, khiến môi trường bên ngoài của cơ thể cũng có những thay đổi rõ rệt. Như vậy, về mặt tinh thần tâm lý của nữ thanh niên trong giai đoạn này có những đặc điểm sau:

1. Do sự phát triển đầy đủ của giới tính khiến cho nữ thanh niên cảm thấy e thẹn, rụt rè hoặc luôn luôn lo lắng. Đó là: Khi bước vào thời kỳ dậy thì, do có những thay đổi về cơ thể của bản thân, khá nhiều nữ thanh niên cảm thấy rất không tự nhiên, chẳng hạn lồng ngực nở nang, cặp vú to lớn, béo ra, cặp mông to ra… Đây vốn là vẻ đẹp khỏe mạnh của tuổi thanh xuân, nhưng có một số nữ thanh niên lại vì thế mà cảm thấy ngượng ngùng vì vậy đã bó lưng, thít ngực, thậm chí không muốn mặc quần áo mùa hè, sợ quần áo mỏng làm lộ rõ cơ thể của mình. Còn một số nữ thanh niên khác thì lại phiền não ủ rũ vì cơ thể gầy yếu, lồng ngực phẳng lì, cặp vú chưa phát triển, sợ mình có bệnh, lo không lọt được vào mắt bạn trai…

2. Việc xuất hiện của kinh nguyệt và những chứng bệnh có liên quan tới kinh nguyệt đã làm cho tinh thần các nữ thanh niên căng thẳng, hoảng hốt, lo buồn: Bởi khi thấy có kinh nếu không có sự chỉ bảo hướng dẫn trước của người lớn tuổi, các cháu gái lớn sẽ hoang mang không biết làm thế nào. Còn những chứng bệnh có liên quan đến kinh nguyệt, chẳng hạn như chứng căng thẳng trước khi có kinh, chứng thống kinh (đau bụng dữ dội khi hành kinh) và kinh nguyệt không đều… đều là những việc mà những nữ thanh niên chưa hề trải qua, hơn nữa lại xấu hổ không muốn hỏi người khác, bởi thế càng làm cho họ rối loạn trong thời kỳ quá độ đến lúc giới tính được trưởng thành đầy đủ.

3. Cảm thấy thần bí trước mối quan hệ của hai giới tính nam và nữ : Do tuyến sinh dục ngày càng phát dục đầy đủ, dưới tác dụng của nội tiết tố oestrogen và hormon nội tiết khác, khiến các cô gái có những thay đổi rất lớn trong nhận thức về giới tính và khác giới tính. Trong thời kỳ này, sức chú ý và hứng thú của các bé gái lớn tuổi lúc ban đầu thường chỉ dành cho bạn cùng giới, sau đó chuyển sang bạn khác giới. Thế nhưng khi đứng trước bạn khác giới, các cô thường cẩn thận, e thẹn rụt rè, có thể có lúc muốn quan sát bạn khác giới học biểu hiện một cái gì đó trước mặt bạn khác giới, do vậy họ luôn sống trong mâu thuẫn giữa lòng kiêu hãnh và ý muốn theo đuổi, giữa sơ và thân. Cùng với sự tăng lên của tuổi tác, thậm chí các cô gái còn có những ham muốn giới tính một cách mông lung. Điều này cũng không có gì là lạ.

4. Có tính độc lập và tính không ổn định về tâm lý tinh thần: Cùng với sự trưởng thành về tuổi tác và phạm vi tiếp xúc với người và vật ngày càng rộng lớn, khi đến tuổi dậy thì, các cô gái thường khát khao có tính độc lập nhiều hơn nữa, không thích bố mẹ và ngưòi khác can dự vào việc của mình quá nhiều. Họ rất muốn chi phối tất cả mọi việc, do vậy biểu hiện về tính cách thường có phần cố chấp và bướng bỉnh, hầu như bất cứ việc gì cũng đều muốn tham gia chủ trương của mình vào. Thế nhưng do vẫn chưa độc lập về kinh tế, vẫn phải dựa vào bố mẹ và gia đình, cộng với những hạn chế về kiến thức và sự từng trải, lúng túng trước những khó khăn khi phải đối phó với mọi phức tạp ở xung quanh nên thường xuất hiện tâm lý mâu thuẫn giữa tính độc lập và sự dựa dẫm. Ngoài ra, do sự điều tiết về thần kinh trong giai đoạn dậy thì không được cân bằng, có nhiều mâu thuẫn đan xen nhau về mặt tâm lý tinh thần, do đó có lúc thì tỏ ra quá thừa nhiệt tình mà thiếu sự bình tĩnh, có lúc lại trầm tĩnh kiêu ngạo một cách cô độc không thèm để ý đến người khác; lúc nói lúc cười, thoắt một cái là đã khóc, tâm trạng không đủ vững vàng, thường hay thái quá khi hưng phấn và kiềm chế.

5. Thần kinh thực vật chưa ổn định: Do tác dụng điều tiết của thần kinh thực vật chưa được ổn định kiện toàn nên có mặt biểu hiện không được ăn khớp phù hợp với hoạt động của các bộ phận trong cơ thể, ví dụ như, có cô gái động tác y hệt con trai, mạnh tay mạnh chân. Một mặt khác còn có biểu hiện dễ hoảng hốt, không bình tĩnh khi có việc xảy ra, nói chuyên với người lạ, người khác giới thì đỏ mặt, tim đập thình thịch có lúc có những tình cảm và hành vi khó hiểu không thể kiềm chế được mình.

Xuất phát từ những đặc điểm trên, người ta có thể thấy rằng: đặc điểm tâm lý của các cô gái trong giai đoạn dậy thì được bộc lộ ra trên nhiều mặt. Hiểu được những đặc điểm này, các bậc làm cha làm mẹ, thày giáo và toàn xã hội đều phải tập trung quan tâm đến các cháu, có những hướng dẫn đúng đắn, sẽ rất giúp ích cho sự trưởng thành khỏe mạnh về giới tính của nữ thanh niên.

-------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
18. Bầu vú dậy thì chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào?

Sự dậy thì của bầu vú bắt đầu đồng thời với sự phát dục của tuyến sinh dục, vì thế nó có quan hệ chặt chẽ với sự điều tiết của các hormon tuyến sinh dục. Đó là:

1. Nội tiết tố oestrogen: Tác dụng của loại hormon này là kích thích sự sinh trưởng của mạch dẫn tuyến sữa, đảm bảo cho tuyến sữa bước đầu được phát triển.

2. Nội tiết tố progesteron: Tác dụng của nó là kích thích sự sinh trưởng của các màng xốp của tuyến sữa, giúp cho tuyến sữa được phát triển đầy đủ.

3. Một số nội tiết tố tuyến yên và chất kích thích do cuống rốn tiết ra. Qua thí nghiệm trên động vật thì người ta thấy rằng, những động vật đã bị cắt bỏ tuyến yên, đã làm cho nội tiết tố oestrogen và nội tiết tố progesteron không có tác dụng giúp cho tuyến sữa phát triển đầy đủ. Thí nghiệm này đã chứng minh rằng, một số nội tiết tố nào đó do tuyến yên tiết ra có tác dụng quan trọng đối với việc phát triển bình thường của tuyến sữa, chẳng hạn như chất sinh ra sữa và hormon sinh trưởng do tuyến yên tiết ra có thể thúc đẩy trực tiếp đối với sự phát triển bình thường của tuyến sữa.

Nhìn chung, sự điều tiết bình thường của các nội tiết tố trên là sự đảm bảo quan trọng cho sự phát triển của cặp vú, nếu bị một số bệnh làm rối loạn sự điều tiết của các hormon đó, thì sự phát triển của bầu vú tất sẽ bị ảnh hưởng.

19. Chú ý như thế nào đến việc ăn uống và chất dinh dưỡng trong giai đoạn dậy thì?

Thời kỳ thanh niên, đặc biệt là từ khoảng 11, 12 tuổi đến 17, 18 tuổi, là thời kỳ đỉnh cao của sự tăng trưởng cơ thể, tất cả đều có những thay đổi ghê gớm từ ngoại hình đến nội tạng, từ các chức năng từ bản thân cơ thể đến phương pháp hoạt động.

Vào thời kỳ đó, mọi bộ phận trong cơ thể đều đua nhau phát triển, lớn lên, đi đến hoàn thiện dần, hoạt động của trí não và thể lực căng thẳng, nặng nề và phức tạp, lượng tiêu hao vật chất, dinh dưỡng lớn, đòi hỏi nhiều. Có nghiên cứu cho thấy rằng nhu cầu nhiệt lượng của thanh niên so với người thành niên phải tăng từ 25 đến 50%. Cho nên cần chú ý đến ăn uống và dinh dưỡng trong thời kỳ dậy thì đảm bảo được nhu cầu sinh hoạt, học tập và công tác, đồng thời cung cấp lượng dự trữ vật chất cho cơ thể đáp ứng cho nhu cầu cơ thể đang lớn lên rất nhanh. Xét về thành phần dinh dưỡng, chất sống albumin là tối quan trọng đối với thanh niên, bởi sự phát triển của các khí quan, sự dự trữ “nguyên liệu”, chủ yếu đều bắt nguồn từ chất sinh dục, khả năng đề kháng bệnh tật và hoạt động của hệ thống thần kinh cao cấp đều có liên quan đến chất sống albumin. Vì thế về mặt ăn uống, phải ăn thêm nhiều trứng, cá, thịt và các loại đậu. Đường là nguồn nhiệt lượng chính, đường có được là do các món ăn chính (cơm, bánh mì…) tạo ra, nhưng một số lương thực phụ ( như ngô, khoai…) của món ăn chính lại mang ít đường hơn so với lương thực chính (là bột mì trắng và gạo…). Vì vậy phải ăn kết hợp cả lương thực phụ với lương thực chính, điều này rất có ích cho việc bổ sung lượng đường cần thiết cho cơ thể.

Trong giai đoạn dậy thì, nhu cầu đòi hỏi về vitamin A, D vó vai trò quan trọng đối với việc phát triển bộ xương. Vitamin B, C có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển. Về nhu cầu chất khoáng, lượng can xi, phốt pho, chất sắt mà cơ thể đòi hỏi trong giai đoạn này là lớn nhất. Can xi và phốt pho là nguyên vật liệu tạo xương, sắt là thành phần chủ yếu của tế bào máu. Sự phát triển của cơ bắp, việc tăng dung lượng máu đều cần đến những thức ăn chứa nhiều can xi. Nữ thanh niên mỗi tháng cho một lần hành kinh sẽ mất đi từ 15 đến 30 g sắt, cho nên có thể thấy rằng, việc bổ sung sắt cho cơ thể là vô cùng quan trọng.

Bởi vậy, để đảm bảo hấp thu đủ các chất dinh dưỡng này, không những phải chú ý đến chất lượng và chủng loại bữa ăn mà còn phải chú ý đến thói quen vệ sinh của việc ăn uống, không thẻ ăn theo kiểu bữa nhịn, bữa ăn, càng không thể mang thói quen không hay là chỉ ăn một thứ mình thích nếu không sự phát triển cơ thể sẽ bị hạn chế do thiếu một số chất dinh dưỡng nào đó. Cho nên phải ăn được tất cả các loại thức ăn, không được chỉ ăn một loại, các thức ăn ngon cũng không có đủ toàn bộ các chất dinh dưỡng. Rau là loại thức ăn giàu vitamin và khoáng chất, hãy nuôi dưỡng thành thói quen thích ăn rau, ăn uống bừa bãi không những không thể hấp thụ được hết chất dinh dưỡng trong thức ăn mà còn dẫn đến bệnh tật. Do đó, phải sắp xếp điều độ ngày 3 bữa ăn vừa đầy đủ lại vừa tiết kiệm thì mới hợp vệ sinh dinh dưỡng. Vào chu kỳ kinh nguyệt, việc tăng cường bổ sung chất dinh dưỡng lại còn quan trọng hơn, thế nhưng không cần dùng nhiều thuốc bổ. Bởi vì việc ăn uống tốt đã có thể đáp ứng được yêu cầu của cơ thể.

Điều cuối cùng vẫn cần nhắc đến, đó là lượng nước cho cơ thể. Nước là chất nuôi dưỡng không thể thiếu được cho cơ thể con người. Thanh niên đang lớn thì 70% trọng lượng cơ thể là do nước tạo thành. Càng trẻ tuổi, cơ thể càng đòi hỏi nhiều nước. Vì thế, uống đủ nước, cũng rất quan trọng đối với việc trưởng thành, bài tiết chất thải của thanh thiếu niên.

-------> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
20. Kinh nguyệt phát sinh như thế nào?

Các cháu gái đến tuổi dậy thì, buồng trứng phát triên rất nhanh.Cứ qua một chu kỳ 28 đến 30 ngày, sẽ có một số trứng, phát triển nhưng thường chỉ có một trứng chín. Nang noãn trứng chín này tiết ra nội tiết tố oestrogen và làm rụng trứng. Nội tiết tố oestrogen có thể kích thích làm dầy màng tử cung. Sau khi rụng trứng, vỏ bên ngoài của nang noãn trứng chín biến thành một vật gọi là “hoàng thể” (tức kích thích tố màu vàng tiết ra từ buồng trứng mỗi lần rụng trứng), đồng thời tiết ra nội tiết tôêstrogen và progesteron. Tác dụng chủ yếu của các loại hormon này là tiếp tục làm dầy niêm mạc tử cung.

Nếu trứng đã rụng không gặp tinh trùng, cũng có nghĩa là không thụ thai thì 14 ngày sau “hoàng thể” (tức kích thích tố màu vàng) tự co lại, không tái sản sinh ra nội tiết tố oestrogen và nội tiết tố progesteron nữa, niêm mạc tử cung bèn tự bong ra. Việc bong ra của các niêm mạc tử cung tất sẽ gây ra sự phá vỡ của mạch máu. Lúc đó , những mảnh niêm mạc bị bong ra sẽ chảy ra khỏi âm đạo cùng với máu, đây chính là kinh nguyệt.

Sau khi hành kinh, lại có những nang noãn khác phát triển và chín ở buồng trứng, tiếp tục tiét ra nội tiết tố oestrogen và rụng trứng, lại làm dày niêm mạc tử cung nếu trứng rụng không có cơ hội thụ tinh, niêm mạc tử cung lại bị khô héo bong ra và chảy máu, đây là một lần kinh nguyệt. Do quy luật rụng trứng của buồng trứng cứ khoảng một tháng một lần, vì vậy tử cung mỗi tháng một lần chảy máu, cho nên gọi là kinh nguyệt. Tuy vậy, cá biệt có người cứ 3 tháng hay 6 tháng mới thấy kinh một lần, chỉ cần theo đúng chu kỳ thì vẫn bình thường.

21. Đặc điểm của kinh nguyệt bình thường là thế nào?

Kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý bình thường của cơ thể con người, trừ thời gian trong khoảng hai, ba năm sau khi bắt đầu có kinh nguyệt, do chức năng của buồng trứng chưa được phát triển hoàn thiện, việc hành kinh vẫn chưa đi vào chu kỳ đều đặn ra thì trong thời gian hai, ba mươi năm từ sau tuổi dậy thì đến trước khi hết kinh, kinh nguyệt tất phải đi theo một quy luật.

Vậy thì, kinh nguyệt bình thường cần có những đặc điểm gì? Trước tiên, phải có một chu kỳ kinh nguyệt tương đối ổn định. Cái gọi là “ chu kỳ”, chính là chỉ khoảng thời gian giữa 2 ngày đầu hành kinh của hai lần kinh nguyệt. Phần lớn chu kỳ kinh nguyệt bình thường là từ 28 đến 30 ngày, có thể di dịch lên trước hoặc chậm lại mấy ngày. Chu kỳ kinh nguyệt trong khoảng từ 21 đến 35 ngày, hơn nữa khá cố định, cũng được coi là hiện tượng bình thường. Sau khi kinh nguyệt đã đi vào quy luật, số ngày hành kinh của mỗi lần, tức “ kỳ kinh” cũng khá ổn định, thường từ 3 đến 7 ngày. Nếu chỉ có một hai ngày là sạch hoặc 8, 9 ngày vẫn chưa hết thì là hiện tượng không bình thường. Lượng máu hành kinh là tổng lượng máu chảy ra của kinh nguyệt mỗi tháng, thông thường khoảng từ 50 đến 60 mililít, nhưng rất khó xác định được lượng máu hành kinh mỗi lần. Thường chỉ đoán sơ bộ qua giấy thấm. Nếu một ngày thay từ 3 đến 5 lần giấy lót thì là bình thường. Những ngày hành kinh ra nhiều nhất là ngày thứ 2 và thứ 3. Chất máu kinh nguyệt bình thường cũng có đặc điểm riêng. Do bản thân máu kinh nguyệt là sự lẫn lộn của một số màng tử cung bị bong ra, chất dính của cổ tử cung và các chất tiết ra cửa âm đạo trong máu sạch nên về màu sắc có phần hơi tối, hơi dính và có một số mảnh nhỏ, khó đông thành cục. Nếu máu đỏ tươi và đông thành cục, đó là hiện tượng không bình thường. Trong thời gian hành kinh, thường không có gì khác biệt lắm, phần lớn là có mỏi lưng một chút, bụng dưới hơi căng hoặc cương đau ngực, táo bón, đau đầu… vào trước kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, nhưng không gây ảnh hưởng đến công tác và học tập hàng ngày.

-----> healthy books <-----

 
Đăng nhập để trả lời
0
22. Nên chú ý gì trong kỳ kinh nguyệt?

Từ lúc bắt đầu thời kỳ dậy thì, việc có kinh nguyệt là hiện tượng bình thường của phụ nữ. Thế nhưng, cơ thể có biết bao nhiêu thay đổi, chẳng hạn như sự hưng phấn của đại não bị giảm đi, vì thế dễ mệt mỏi rã rời, không những thế sức đề kháng bệnh tật của cơ thể cũng bị giảm sút nên dễ bị cảm mạo phong hàn và mắc một số bệnh khác. Đồng thời, một số khả năng phòng chống nào đó của bộ máy sinh dục tạm thời bị phá hoại, ví dụ như việc bong niêm mạc tử cung tạo nên diện sát thương, chất dính diệt khuẩn có tính a xít trong âm đạo bị máu hành kinh xối loãng đi, cửa tử cung lại hơi hé mở, rất dễ bị vi khuẩn xâm nhập vào. Nếu không chú ý giữ gìn khi hành kinh, rất có thể mắc các bệnh kinh nguyệt hoặc viêm bộ phận sinh dục, thậm chí còn bị nhiễm mang tính toàn thân, vì vậy cần chú ý điều dưỡng giữ gìn khi hành kinh.

Cần chú ý mấy điểm sau:

1. Chú ý vệ sinh khi hành kinh: Trước tiên, băng giấy vệ sinh và băng lót phải sạch sẽ. Băng giấy vệ sinh bán trên thị trường đều đã được khử trùng, có thể mua về dùng nhưng phải chú ý thay thường xuyên. Sau một lần dùng băng lót hành kinh, phải giặt sạch sẽ, phơi khô dưới ánh nắng mặt trời, sau đó cất giữ cẩn thận. Ngoài ra, phải giữ sạch âm hộ, tốt nhất là dùng nước ấm rửa sạch âm hộ sau mỗi lần thay băng vệ sinh, nhưng chớ ngâm cửa mình vào trong chậu, để tránh nước bẩn vào trong âm đạo. Trong kỳ kinh nguyệt còn phải cấm sinh hoạt giới tính, tắm bồn và bơi lội.

2. Giữ tâm trạng vui vẻ: Bởi vì não và thần kinh có vai trò quan trọng trong việc điều tiết kinh nguyệt, cho nên cần chú ý giữ được trạng thái tinh thần thật tốt trong kỳ kinh nguyệt , giữ cho tâm trạng vui vẻ, lạc quan và ổn định, tránh bị xáo động và căng thẳng quá độ nếu không sẽ gây ảnh hưởng đến chức năng điều tiết của lớp vỏ đại não, khiến kinh nguyệt không đều.

3. Chú ý giữ gìn cho ấm: Việc giữ ấm khi đang hành kinh, nhất là giữ ấm cho nửa dưới của cơ thể là điều quan trọng. Tránh tắm, rửa chân, gội đầu… bằng nước lã, bởi vì sự tác động của sự quá lạnh sẽ làm cho các huyết quản trong tử cung co lại, có thể khiến cho lượng máu hành kinh xuất ra ít đi hoặc đột ngột tắt đi, đồng thời cũng dễ bị cảm.

4. Lao động thích hợp: Cần chú ý nghỉ ngơi và đảm bảo ngủ đầy đủ trong kỳ kinh nhưng lao động vừa phải. Bởi vì, công tác và các hoạt động ngoài cơ thể mà được tham gia một cách thích hợp, có thể làm tăng sự tuần hoàn của máu trong khoang chậu, từ đó giảm nhẹ các triệu chứng như mỏi thắt lưng, đau lưng… Thế nhưng các công việc lao động chân tay quá nặng nề sẽ dẫn đến tình trạng máu hành kinh ra quá nhiều hoặc ra dầm dề không ngớt.

5. Điều chỉnh bữa ăn: Khi đang hành kinh, phải ăn những món ăn đảm bảo độ tươi, giàu dinh dưỡng mà dễ tiêu hóa, để giúp ích cho việc bổ sung chất dinh dưỡng; nếu ăn nhiều rau, uống nhiều nước sôi, để giữ cho đại tiện dễ dàng, giảm bớt lượng máu đầy trong khoang bụng, nhưng phải tránh ăn quá nhiều các thức ăn có tính chất kích thích như cay… để tránh làm cho kinh ra không đều hoặc phát sinh một số bệnh khác.

------> healthy books <------

 
Đăng nhập để trả lời
0
23. Lần hành kinh đầu tiên xảy ra vào lúc nào? Hành kinh sớm hay muộn có quan hệ gì tới sức khỏe?

Phụ nữ thường bắt đầu hành kinh vào độ tuổi từ 13 đến 16 tuổi, nhưng cũng có người hành kinh sớm ở độ tuổi 11 đến 12, có người thì mãi đến 16 hoặc 17 tuổi mới có kinh. Nhìn chung, người ta thấy rằng, bắt đầu hành kinh ở độ tuổi từ 11 đến 18 tuổi đều nằm trong trạng thái bình thường.

Việc có kinh lần đầu tiên ở độ tuổi sớm hay muộn đều chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Nó không những có liên quan tới khả năng kinh tế, tình trạng dinh dưỡng, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của khí hậu, sức khỏe. Chẳng hạn như người sống ở xứ lạnh sẽ có kinh chậm hơn người sống ở xứ nóng. Người có sức khỏe thì thấy kinh đúng độ tuổi. Người có thể chất yếu, dinh dưỡng kém, mắc bệnh mãn tính hoặc tâm trạng hay u uất đều có kinh muộn. Các cô gái nông thôn thấy kinh lần đầu tiên ở độ tuổi muộn hơn tuổi của các cô gái ở thành phố một chút. Mẹ có kinh sớm thường thì con gái cũng có kinh sớm, điều này đủ chứng minh rằng tuổi có kinh lần đầu tiên cũng liên quan tới cả di truyền.

Những điều đã nêu ở trên, trừ những người có bệnh và dinh dưỡng không tốt ra còn đều thuộc loại bình thường, không có ảnh hưởng gì tới sức khỏe của cơ thể. Nếu thấy kinh quá sớm hoặc quá muộn, chẳng hạn như bé gái thấy kinh trước 8 tuổi hoặc 18 tuổi rồi mà vẫn chưa có kinh lần đầu tiên thì tuyệt đại đa số những trường hợp đó đều không bình thường, cần đến ngay bệnh viện để kiểm tra, xử lý thích đáng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

14. Nên giữ gìn sức khỏe như thế nào trong lần có kinh đầu tiên?

Lần có kinh đầu tiên là dấu hiệu báo cho thiếu nữ bước vào thời kỳ dậy thì. Do sự điều tiết của các hormon tuyến sinh dục trong cơ thể, đã dẫn đến một loạt thay đổi về sinh lý cơ thể. Để giữ gìn sức khỏe vệ sinh trong giai đoạn này phải chú ý đến việc giáo dục vệ sinh sinh lý giai đoạn dậy thì trước. Sau khi các cháu bước vào thời kỳ dậy thì, người mẹ và các thầy cô giáo trong nhà trường nên kịp thời truyền thụ các kiến thức vệ sinh sinh lý cho các cháu, giúp chúng có một nhận thức đúng đắn về kinh nguyệt, đồng thời học cách xử lý đúng.

Nếu dùng băng lót vải màn thì phải chú ý giặt sạch phơi nắng, nếu dùng băng giấy vệ sinh thì phải thay thường xuyên. Nếu mỏi lưng thì dùng túi cát ấp vào thắt lưng. Nếu cương đầy bụng dưới thì uống nước gừng đường, để tránh tình trạng do thấy máu hành kinh ra đột ngột mà có những lo lắng sợ hãi không cần thiết, ảnh hưởng đến tâm trạng tinh thần, thậm chí còn làm cho kinh nguyệt mất bình thường, dẫn đến mắc bệnh kinh nguyệt.

Hai là phải tránh những thói quen không hay ở thời kỳ dậy thì, do bộ máy sinh dục dần dần được hoàn thiện, bắt đầu có những rung động về giới tính, lúc này thường hay xảy ra tật “thủ dâm” (tức dùng tay kích thích bộ phận sinh dục), mới đầu tuy phần lớn đều là ngẫu nhiên, không có nguy hại lớn đến cơ thể, nhưng nếu tạo thành thói quen xấu sẽ khiến cho đại não ở trong trạng thái hưng phấn cao độ, mãi như vậy, đại não sẽ cũng có xu hướng muốn nghỉ ngơi, mệt mỏi, thậm chí suy yếu do hưng phấn quá độ. Lúc này, con người cảm thấy tinh thần ủ rũ, buồn bã, trí nhớ kém, đầu nặng nề, choáng váng, tối mất ngủ, ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe, công tác và học tập.

Vậy nên người mẹ và các cô giáo phải kịp thời giảng giải cho các cháu hiểu một số kiến thức có liên quan tới giới tính, hiểu rõ sự nguy hại của việc “thủ dâm”, tích cực tham gia vào các hoạt động xã giao nam nữ bình thường, tạo cho mình hứng thú, sự ham thích và nghỉ ngơi đúng giờ giấc, ra sức rèn luyện thân thể, không nên xem tiểu thuyết rẻ tiền và phim tình dục, xây dựng quan niệm yêu đương và quan niệm đạo đức đúng đắn thì sẽ giúp các cháu tránh được có những thói quen xấu.

------> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
25. Sự rụng trứng xảy ra như thế nào?

Nữ giới trong độ tuổi sinh con, trong buồng trứng có khoảng 2 vạn nang noãn nguyên thủy, nhưng trong suốt cuộc đời của một người phụ nữ chỉ có 400 đến 500 nang noãn phát triển thành trứng chín, số nang noãn còn lại phát triển đến một chừng mực nhất định rồi tự thoái hóa đi. Trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt, thông thường chỉ có một nang noãn phát triển thành trứng chín, nang noãn đó tiếp cận dần dần với bề mặt buồng trứng, rồi lồi ra, cuối cùng nang noãn chỉ còn cách khoang bụng một lớp màng mỏng tức màng nang. Do áp lực bên trong của nang noãn và ảnh hưởng phân giải chất xúc tác albumin trong dịch nang noãn, nang noãn bèn phá vỡ màng nang ở chỗ lồi ra, thế là tế bào trứng tách khỏi nang noãn, đi vào khoang bụng của tử cung, đó chính là trứng rụng.

Thời gian rụng trứng thường ở giữa hai kỳ kinh. Trứng có thể rụng lần lượt từ hai buồng trứng, cũng có thể rụng liên tục ở một bên, trứng rụng sẽ được vòi trứng đưa vào ống dẫn trứng, nếu trứng gặp tinh trùng ở thân ống dẫn trứng thì thụ thai, nếu trong 24 tiếng đồng hồ vẫn chưa được thụ tinh thì trứng bắt đầu thay đổi tính chất.

26. Tự đoán kỳ rụng trứng như thế nào?

Trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt, người phụ nữ có một lần rụng trứng. Tự đoán kỳ rụng trứng như thế nào, bạn có thể lựa chọn mấy biện pháp sau:

1. Cách suy tính từ giữa chu kỳ kinh nguyệt:

Sau kỳ kinh nguyệt, trong điều kiện hạ khâu não, tuyến yên, trục buồng trứng bình thường, nang noãn chủ yếu chỉ tiết ra nội tiết tố oestrogen, khiến lượng oestrogen trong cơ thể tăng dần lên và lên đến mức cao trước khi rụng trứng.

Dưới tác dụng của nội tiết tố oestrogen, niêm mạc tử cung mọc dầy lên, như một lớp vữa trát trên tường. Sau khi rụng trứng, nang noãn tiết ra hoàng thể (một chất kích thích tố màu vàng được tiết ra từ buồng trứng sau mỗi lần rụng trứng), chủ yếu tiết ra nội tiết tố progestin (còn gọi là chất hoàng thể) và một lượng rất ít nội tiết tố oestrogen. Do tác dụng của nội tiết tố progestin, khiến niêm mạc tử cung được phát triển theo chu kỳ. Hai tuần sau khi trứng rụng, hoàng thể co lại, niêm mạc tử cung bong ra, khiến tử cung xuất huyết, như vậy đã đến kỳ kinh nguyệt.

Có thể thấy rằng rụng trứng là “tuyến môi giới trung gian” của chu kỳ kinh nguyệt, thường xảy ra vào giữa hai chu kỳ kinh nguyệt, tức là vào ngày thứ 14 và 16 trước khi có kỳ kinh tiếp theo. Việc đoán ra kỳ rụng trứng qua cách tính bắt đầu từ giữa chu kỳ kinh, thường là khá chính xác đối với những người thấy kinh đều đặn.

2. Cách đo nhiệt độ cơ bản của cơ thể

Nhiệt độ cơ bản của cơ thể là nhiệt độ đo được vào sáng sớm mỗi ngày hoặc sau 5 tiếng đồng hồ ngủ yên giấc, tỉnh dậy rồi mà vẫn chưa làm bất cứ việc gì. Trong tình hình bình thường, nhiệt độ cơ thể sau kỳ kinh nguyệt thường tụt xuống, đặc biệt là nhiệt độ cơ thể trong những ngày rụng trứng lại càng thấp, nhưng sau khi rụng trứng, do tác dụng làm nóng của nội tiết tố progesteron, nhiệt độ cơ bản của cơ thể tăng lên từ 0,3 - 0,5 độ C so với trước khi rụng trứng, kéo dài liên tục như thế từ 11 - 16 ngày, chỉ trước kỳ kinh sau một ngày hoặc ngày đầu tiên của kỳ kinh thì nhiệt độ cơ thể mới hạ xuống.

Vì vậy các bác sĩ gọi tuyến nối liền nhiệt độ cơ bản của cơ thể mỗi ngày từ nhiệt độ cao - đến nhiệt độ thấp trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường là “nhiệt độ cơ thể hai pha”. Nhìn chung, trứng rụng vào trước lúc nhiệt độ cơ bản của cơ thể sẽ tăng lên hoặc vào thời điểm nhiệt độ hạ xuống một chút trước khi nhiệt độ cơ bản của cơ thể tăng lên hoặc vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình nhiệt độ cơ bản của cơ thể tăng từ thấp lên cao.

3. Cách quan sát chất nhầy cổ tử cung

Chất nhầy cổ tử cung cũng chịu ảnh hưởng của kích thích tố giới tính, nó do hệ thống các tuyến trong cổ tử cung tiết ra. Lượng nhầy, tính chất và trạng thái của nó, kết tinh chất nhầy thay đổi theo sự biến đổi của kích thích tố giới tính, trong chu kỳ kinh nguyệt. Sau chu kỳ kinh nguyệt, nội tiết tố oestrogen tăng lên, chất nhầy cũng nhiều hơn, trước khi rụng trứng chất nhầy lại càng nhiều, có màu trong suốt, chất loãng như lòng trắng trứng gà có thể chảy dài thành sợi, chiều dài có thể tới 10 cm, được gọi là phản ứng kéo sợi.

Căn cứ vào những đặc trưng này của chất nhầy cổ tử cung, qua cảm giác hoặc qua quan sát trạng thái, tính chất của chất nhầy khi đi tiểu tiện hoặc lấy chất nhầy ở cửa âm hộ dính vào đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ mà kéo ra, có thể dự tính được liệu đã đến kỳ rụng trứng hay chưa. Những biện pháp đã nêu ở trên, đều có ý nghĩa nhất định đối với việc dự đoán kỳ rụng trứng, nhưng rất khó đoán ra ngày chính xác. Để đoán được tương đối chính xác, có thể tiến hành kết hợp cả ba phương pháp, cũng có thể đến bệnh viện nhờ bác sĩ xác định giúp lượng kích tố giới tính trong máu hoặc quan sát bằng kính hiển vi những chất tiết ra ở âm đạo và chất nhầy ở cửa tử cung, giúp tính ra ngày rụng trứng.

------> healthy books <------------

 
Đăng nhập để trả lời
0
27. Rụng trứng có ý nghĩa thế nào?

Sinh con có kế hoạch là điều kiện phải có để loài người tồn tại và phát triển. Mặc dù có rất nhiều nhân tố liên quan đến việc sinh con nhưng rụng trứng là điều kiện tiên quyết vì có rụng trứng mới có khả năng thụ thai, còn không rụng trứng thì không có khả năng sinh con. Cho nên nắm vững kỳ rụng trứng của mình cũng như nắm chiếc chuông sinh mạng của con mình. Sau khi rụng trứng, có thể sống tiếp từ 12 đến 24 tiếng đồng hồ, trong môi trường thích hợp có thể sống 24 - 28 tiếng. Để đạt được mục đích sinh con, nên động phòng giao hợp vào đúng kỳ rụng trứng, như vậy khả năng trứng gặp được tinh trùng có xác suất cao hơn, khả năng thụ thai cũng cao hơn.

Ngược lại, để tránh thụ thai có thể sinh hoạt tình dục trong thời gian trước và sau kỳ rụng trứng khá xa, như vậy giúp cho trứng không thể gặp được tinh trùng, từ đó đạt được mục đích tránh thai. Cái gọi là tránh thai “ thời kỳ an toàn” chính là vì điều này. Thuốc tránh thai đang được ứng dụng hiện nay, cơ bản là để ghìm việc rụng trứng, từ đó đạt được mục đích tránh thai. Do vậy có thể thấy rằng, nếu buồng trứng không rụng trứng, tự nhiên sẽ mất đi khả năng sinh con, do đó sẽ dẫn đến chứng vô sinh.

Không chỉ như thế, việc buồng trứng không rụng trứng còn gây nên sự rối loạn của các nội tiết tố, dẫn đến sự biến đổi thất thường của niêm mạc tử cung, gây ra sự chảy máu có tính chức năng của tử cung mà không có rụng trứng, vì thế dẫn đến sự đau khổ buồn rầu về tinh thần và tổn hại về sức khỏe của người phụ nữ. Cho nên, khi phát hiện thấy chức năng buồng trứng có tật, phải kịp thời tìm bác sĩ điều trị.

28. Làm thế nào xác định được nhiệt độ cơ bản của cơ thể?

Gọi tắt nhiệt độ cơ bản của cơ thể là BT. Trong thời gian suốt một ngày đêm, nhiệt độ cơ bản của cơ thể của một người chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và hoạt động trong cơ thể mà bị xáo trộn. Để tách khỏi những ảnh hưởng bên trong và bên ngoài cơ thể, sáng sớm mỗi ngày tỉnh dậy, không làm bất cứ việc gì cả, không uống nước, không ăn sáng, lấy nhiệt kế ngậm vào mồm 3 - 5 phút, sau khi đọc rõ số chỉ trên nhiệt kế thì ghi số liệu vào biểu mẫu kẻ sẵn.

Khi đo nhiệt kế phải chú ý điều kiện cơ bản, bởi vì việc đứng dậy, hoạt động ăn sáng, nói chuyện v.v… đều có thể ảnh hưởng đến nhiệt độ cơ bản của cơ thể. Thông thường, nhiệt độ cơ bản của cơ thể vào buổi sáng sớm biến động rất ít trong khoảng thời gian 3 - 6 giờ, nhưng biến đổi khá lớn vào tầm từ 3 đến 7 giờ chiều. Vì vậy, những người làm việc vào buổi trưa và ban đêm, cần phải ghi rõ thời gian trên tờ biểu mẫu nhiệt độ để tham khảo.

Nếu ban ngày quá mệt mỏi cũng gây ảnh hưỏng đến nhiệt độ cơ bản của cơ thể trong ngày hôm sau, chẳng hạn như cảm cúm, đau bụng đi ngoài, mất ngủ, uống rượu. Nếu trong chu kỳ kinh nguyệt thấy có các hiện tượng khác thường như đau bụng dưới trong thời gian ngắn, âm đạo ra máu nhỏ giọt, khí hư (tức bạch đối) bỗng nhiên ra rất nhiều… thì nên thuyết minh rõ trong biểu mẫu nhiệt độ.

Trên biểu mẫu nhiệt độ, tọa độ ô cột dọc là số độ của nhiệt độ cơ thể. Mỗi một ô vuông là 0,1 độ C, để thấy rõ hơn, có thể lấy mỗi ô vuông thay cho 0,05 độ. Tọa độ ô ngang là ngày và ngày chu kỳ kinh nguyệt, mỗi ô vuông là một ngày. Hằng ngày ghi số độ đo được của nhiệt độ cơ bản của cơ thể vào trong ô vuông bằng các điểm chấm tròn.

Vào kỳ kinh, ghi theo dõi vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cho đến ngày cuối cùng của kỳ kinh, sau đó nối tuần tự các chấm nhỏ lại, sẽ tạo được chuỗi nhiệt độ cơ bản của cơ thể. Đồng thời với việc ghi lại nhiệt độ cơ thể, hãy dùng ký hiệu chữ “x” đánh dấu những ngày hành kinh lại, ngày ra nhiều thì đánh hai dấu “xx”, ngày ra ít thì “chấm tròn”. Như vậy đã làm xong biểu đồ nhiệt độ cơ bản của cơ thể một cách hoàn chỉnh. Ngoài ra, để so sánh tình hình của mấy chu kỳ kinh liền nhau nên ghi mỗi chu kỳ thành một hàng.

------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
29. Nhiệt độ cơ bản của cơ thể phản ánh những vấn đề gì?

Qua việc đo nhiệt độ cơ bản của cơ thể, có thể biết được buồng trứng có rụng trứng hay không và chuẩn đoán có thai sớm hay không?

Trong tình hình bình thường, nhiệt độ cơ bản của cơ thể phụ nữ ở độ tuổi sinh con thì từ khoảng giữa của nửa chu kỳ kinh về trước thường khá thấp, dao động giữa 36,2 độ C - 36,7 độ C.

Nhiệt độ cơ bản của cơ thể của ngày rụng trứng có thể hạ xuống một chút. Sau khi trứng rụng, dưới tác dụng làm nóng của những chất nội tiết tố progesteron tiết ra không qua hệ thống thần kinh trung ương, đã làm cho nhiệt độ cơ bản của cơ thể đột nhiên hoặc từ từ tăng lên trong 24 tiếng đồng hồ hoặc trong mấy ngày, thông thường có thể tăng 0,3 - 0,6 độ C, nhưng không nhỏ hơn 0,3 độ C và kéo dài liên tục từ ngày 14 đến 16 của chu kỳ kinh, ít nhất không dưới ngày thứ 12. Vào ngày hành kinh đầu tiên hoặc trước ngày hành kinh một hai ngày của kỳ kinh nguyệt sau, nhiệt độ của cơ thể lại hạ xuống, cho nên tuyến nối liền nhiệt độ cơ bản của cơ thể trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường là thấp - cao, tạo nên một “hình sin”, còn gọi là “nhiệt độ (cơ thể) hai pha”.

Nếu buồng trứng không rụng trứng, trong cơ thể không có nội tiết tố progesteron thì nhiệt độ cơ bản của cơ thể luôn luôn ở mức khá thấp, được gọi là (nhiệt độ cơ thể một pha). Vì vậy qua việc đo nhiệt độ cơ bản của cơ thể có thể biết được trong cơ thể có nội tiết tố progesteron hay không, cũng gián tiếp cho ta biết rằng trứng có rụng hay không, hay sau khi rụng trứng chức năng của hoàng thể tốt hay xấu. Nếu đang ở trong tình trạng chữa bệnh thì cũng ghi lại, vẫn phản ánh được hiệu quả chữa trị.

Mặt khác, nếu đã thụ tinh sau khi rụng trứng, hoàng thể không co lại mà hình thành hoàng thể thai nghén việc tiết ra nội tiết tố progesteron càng được tăng cường, do đó nhiệt độ cơ thể không những không hạ thấp, ngược lại liên tục duy trì ở mức khá cao, thường trong khoảng từ 36,8 độ C đến 37 độ C hoặc có thể cao hơn một chút. Nếu nhiệt độ cơ bản của cơ thể bắt đầu tăng lên từ ngày rụng trứng, 18 ngày sau vẫn chưa tụt xuống nên nghi là có khả năng có thai, còn nếu nhiệt độ cơ thể vẫn ở mức cao từ 20 ngày trở lên thì chắc chắn có thai. Có thể thấy rằng việc đo nhiệt độ cơ bản của cơ thể còn có thể giúp cho ta đoán được mình có thai hay không?

Chương 3: Thai nghén

30. Thế nào là thụ tinh? Điều kiện cơ bản của việc thụ tinh là gì?

Thụ tinh là quá trình kết hợp giữa tinh trùng và trứng. Quá trình này được biểu hiện ở chỗ: sau khi trứng tách ra khỏi buồng trứng, qua vòi của ống dẫn trứng đi vào ổ bụng thân tử cung lúc đó nếu có tinh trùng đi vào trong cơ thể, qua cổ tử cung vào tử cung, đến ống dẫn trứng và gặp trứng kết hợp thành một tế bào mới - tức phôi thai. Chúng ta gọi quá trình này là thụ tinh. Thụ tinh là một quá trình sinh lý phức tạp, tất phải có đủ các điều kiện sau:

1. Đường ống sinh dục thông suốt

Đây là điều kiện phải có của việc thụ tinh, nếu không tinh trùng không có cách nào gặp được trứng, tất yếu sẽ không có thai. Nếu phía nữ bị viêm ống dẫn trứng mạn tính, ống dẫn trứng bị bít lại không thông, tinh trùng cũng không có cách nào gặp được trứng, có nghĩa là không thể thụ tinh được.

2. Tinh trùng, trứng bình thường

Đối với phía nữ mà nói, buồng trứng phải rụng trứng một cách bình thường. Đối với nam giới, tinh dịch phải bình thường. Tinh dịch tiết ra trong mỗi lần phóng tinh của nam giới khỏe mạnh có số lượng từ 2 - 5 ml, mỗi ml mang 100 triệu tinh trùng. Nếu mỗi ml mang ít hơn 60 triệu tinh trùng, thì tỷ lệ thụ tinh thấp, nếu dưới 4 triệu tinh trùng thì khó thụ tinh. Vì khi thụ tinh, dù chỉ có một tinh trùng đi vào gặp trứng, nhưng tất phải có hàng trăm triệu tinh trùng tham gia và quá trình phá hoại noãn. Đồng thời trong quá trình đi từ âm đạo qua tử cung vào ổ hình phễu của ống dẫn trứng rất nhiều tinh trùng bị chết trên đường đi, hơn nữa trong tinh dịch có tinh trùng khỏe có tinh trùng yếu, thường số tinh trùng hoạt động mạnh chỉ chiếm khoảng 60%, cộng thêm năng lượng vật chất dự trữ của tinh trùng khá ít, cho nên số tinh trùng chính thức đến được chỗ thụ tinh phần lớn là còn rất ít, khi tinh dịch quá ít thì khả năng thụ thai càng ít.

3. Thời gian giao hợp thỏa đáng, thích hợp

Vì trứng rụng ra từ buồng trứng thường chỉ có khả năng thụ tinh trong khoảng 12 - 24 tiếng đồng hồ, lúc này gặp được tinh trùng thì thụ tinh dễ nhất, nếu không trứng dần dần thoái hóa rồi chết. Khả năng thụ tinh của tinh trùng thường chỉ có thể kéo dài 1 - 2 ngày, thời gian dài ra, khả năng thụ tinh bị giảm đi hoặc teo mất, làm chết tinh trùng. Cho nên muốn có thai, phải lựa chọn thời gian thích hợp để giao hợp

-----> healthy books <------

 
Đăng nhập để trả lời
0
31. Tinh trùng hoạt động trong đường sinh dục nữ như thế nào?

Tinh trùng có khả năng vận động. Khi giao hợp, đại bộ phận tinh dịch phóng vào cuối âm đạo và cửa cổ tử cung. Trong điều kiện bình thường, mấy phút sau tinh trùng đã chui vào đến ống cổ tử cung. Mỗi lần phóng tinh có hàng trăm triệu con tinh trùng được xuất ra, phần lớn số tinh trùng này bị mất khả năng hoạt động hoặc chết trong dung dịch âm đạo có tính acid, số còn lại vào được cửa cổ tử cung sẽ tham gia tiếp vào quá trình thụ tinh.

Sau khi qua kì kinh nguyệt, chất nhầy ở cổ tử cung ít đi và có độ keo dính, chất dinh dưỡng mang theo ít, đồng thời có khá nhiều bạch tế bào, tinh trùng rất khó qua được chất nhầy này. Vào thời gian trước khi rụng trứng, chất nhầy ở cổ tử cung chuyển sang thể loãng, lượng cũng tăng lên, trong chất nhầy đó có chứa nhiều chất dinh dưỡng. Chất dinh dưỡng này cung cấp cho tinh trùng những năng lượng cần thiết, duy trì hoạt động của tinh trùng, giúp cho tinh trùng vào tiếp.

Cuối kỳ rụng trứng, chất nhầy cổ tử cung đặc lại, chất dinh dưỡng giảm đi, lại không thích hợp cho tinh trùng đi qua, cho nên thời kỳ rụng trứng là thời kỳ thích hợp nhất cho tinh trùng đi vào. Khi tinh trùng đi qua cổ tử cung, sau khi vào được tử cung, nhờ tác dụng co bóp của thành tử cung và sự vận chuyển của dung dịch khoang tử cung, tinh trùng nhanh chóng vào đến đáy tử cung, qua cửa của ống dẫn trứng đi vào trong ống dẫn trứng. Tế bào của lớp da trên của ống dẫn trứng có lông tơ, số lông này chuyển động theo hướng ngả từ vòi ống vào trong khoang tử cung.

Thế nhưng đặc tính của tinh trùng là chuyển động ngược, thế là những tinh trùng vào đến ống dẫn trứng bèn chuyển động vào đầu xa của ống dẫn trứng, thường ở chỗ khoảng 1/3 phía ngoài của ống dẫn trứng, tức ở chỗ ổ hình phễu và gặp trứng ở đó, như vậy có thể kết hợp với trứng mà thụ tinh. Một sinh mạng mới cũng được bắt đầu từ đó. Nhìn chung mà nói, sau khi giao hợp khoảng 1 tiếng đồng hồ thì vào đến khoang tử cung, thêm 1 tiếng đồng hồ nữa là vào đến ống dẫn trứng, có thể rất nhanh.

32. Trứng đã thụ tinh làm tổ trong tử cung như thế nào?

Sau khi trứng thụ tinh trong ống dẫn trứng, bèn trở thành trứng thụ tinh, còn được gọi là phôi thai. Do sự vận động của lông tơ màng dính trong ống dẫn trứng và sự nhu động của cơ thịt thành ống, giúp trứng thụ tinh di chuyển dần về khoang tử cung sau, khi thụ tinh khoảng 4 - 5 ngày thì trứng về đến khoang tử cung.

Khi trứng thụ tinh về đến khoang tử cung, do tế bào không ngừng phân chia, lúc đó đã hình thành phôi thai, và tiết ra một loại dung môi có thể phân giải chất sống albumin, chất dung môi này sẽ phá rách niêm mạc tử cung, đưa phôi thai hút về phía niêm mạc và dần dần lún sâu vào. Đồng thời niêm mạc tử cung của cơ thể mẹ nhanh chóng tăng trưởng, khiến vết rách trên bề mặt niêm mạc liền lại nhanh chóng, lúc này cả phôi thai được bao bọc trong niêm mạc tử cung. Cả quá trình này được Y học gọi là “làm tổ” hoặc “cấy vào”.

 
Đăng nhập để trả lời
0
33. Làm thế nào lựa chọn thời cơ thụ thai tốt nhất?

Mỗi cặp vợ chống trẻ đều hy vọng sinh được một đứa con khỏe mạnh, thông minh, hoạt bát. Để thực hiện được nguyện vọng này, nắm bắt được thời cơ tốt nhất của việc thụ thai là vô cùng quan trọng. Thông thường, những nữ thanh niên chưa tròn 20 tuổi tuy bộ máy sinh dục đã phát triển đầy đủ, nhưng các bộ phận trên cơ thể vẫn đang trong giai đoạn phát triển.

Nói rõ hơn, thời kỳ thanh niên chính là thời kỳ tinh thần sức lực dồi dào, trí nhớ tốt, ý chí ham học hỏi muốn hiểu biết cao, là thời kỳ tốt nhất để nỗ lực phấn đấu học tập, cố gắng công tác. Nếu yêu đương sinh con quá sớm, tất phải tăng thêm gánh nặng, làm phân tán tinh thần sức lực ảnh hưởng đến công tác và học tập.

Đứng ở góc độ Y học, kết hôn sớm, sinh con sớm không có lợi cho sức khỏe cơ thể mẹ. Theo các tài liệu thống kê thì thấy rõ, trẻ bị dị tật bẩm sinh do những sản phụ chưa đầy 20 tuổi sinh ra cao hơn 50% so với số trẻ bị tật này sinh ra ở các bà mẹ 25 - 35 tuổi. Nhưng kết hôn muộn, sinh con muộn cũng bị hạn chế. Tốt nhất không nên kết hôn ở tuổi quá 30, càng không nên để quá tuổi 35. Người sinh con ở độ tuổi 35 trở lên, Y học xếp vào loại “sản phụ sinh con lần đầu cao tuổi”. Phụ nữ tuổi cao, không những tế bào trứng bị lão hóa mà dễ bị nhiễm độc của bệnh tật, bị ảnh hưởng của sự thay đổi hormon, của những kích thích vật lý và hóa học v.v…khiến trứng trong cơ thể giảm số lần phân chia mà phát sinh những điều khác, bào thai được hình thành sau khi thụ tinh sẽ sinh ra bị bệnh nhiễm sắc thể, chẳng hạn như trẻ ngu đần bẩm sinh chính là do tuổi này mang lại.

Vậy thì bao nhiêu tuổi là tuổi sinh con tốt nhất?

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng sinh con ở độ tuổi 25 - 29 tuổi là thích hợp nhất. Tỷ lệ ngôi thai khác thường và tỷ lệ phẫu thuật của những sản phụ sinh con lần đầu ở nhóm tuổi này thấp hơn so với sản phụ ở các nhóm tuổi khác. Tỷ lệ phát sinh các chứng tổng hợp của bệnh cao huyết áp khi thai nghén cũng thấp. Có thể thấy rằng việc lựa chọn sinh con ở độ tuổi sinh con tốt nhất có lợi cho sức khỏe của cơ thể mẹ và các con. Thứ nữa, khi đang mắc một số bệnh thì không nên có thai, chẳng hạn như một trong hai bên nam hoặc nữ đang mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh kết hạch, thiếu máu, bệnh đái đường, cao huyết áp, viêm âm đạo, các bệnh có sốt v.v…Khi cơ thể ở trong tình trạng này, việc thụ thai có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng của tinh trùng, trứng và sự phát triển của phôi thai.

Khi phía nữ mắc các bệnh tim, gan, thận v.v… thì không thích hợp với việc thụ thai, bởi sẽ làm chậm sự phát triển của thai, thể trạng thấp, trí lực kém, thậm chí sinh con non hoặc chết lưu trong tử cung.

Thứ ba, không nên thụ thai sau khi uống rượu. Các thầy thuốc Đông y nói rằng “Tửu hậu bất nhập phòng” (tức không được động phòng sau khi uống rượu) là có lý, vì tinh rượu sẽ làm cho phôi thai phát triển kém, khiến thể lực, trí tuệ của trẻ bị sa sút. Trong những tết lễ hay kỳ nghỉ phép, những đứa trẻ được thụ thai sau những trận uống rượu điên cuồng hầu như đều là những đứa trẻ thiểu năng. Ngoài uống rượu ra, hút thuốc lá, uống cà phê v.v…đều có thể dẫn thai nhi đến chỗ bị dị tật. Tốt nhất là một năm trước khi định có con, hai bên bố mẹ đều cai thuốc lá, bỏ rượu. Một trong hai bên nam nữ làm việc ở các phòng gây mê, phòng phẫu thuật, phòng phóng xạ và ở nhiệt độ cao, kể cả những người tiếp xúc với chất độc, khi có những stress lớn trong cuộc sống, chẳng hạn như: bị điều khỏi cương vị cũ thì phải sau 3 - 6 tháng mới nên có thai.

Thứ tư, phải có một môi trường tốt để thụ thai. Môi trường trong hàm ý này có nghĩa là sức khỏe phải khỏe mạnh, tinh thần sức lực dồi dào, tâm trạng vui vẻ.

Ngoài một số nội dung đã nêu ở trên, các bác sĩ còn đề xuất rằng, không nên có thai trong 3 tháng mới kết hôn, không những sự mệt mỏi của giai đoạn tân hôn đã được hồi phục mà tình cảm cũng vui vẻ, ngày sinh hoạt tình dục cũng đi vào nề nếp, cuộc sống giữa hai bên đã thích hợp với nhau. Chính lúc này, lựa chọn việc giao hợp vào thời kỳ rụng trứng và sau ngày thứ 14 trước khi có kinh là rất dễ thụ thai. Nói một cách xác đáng là việc giao hợp vào trước khi rụng trứng hay sau khi rụng trứng là thời cơ tốt nhất để thụ thai. Còn đối với hoàn cảnh bên ngoài, như địa điểm, mùa khí hậu, thời tiết v.v… đều hết sức quan trọng.

Theo phân tích của các nhà Y học, mùa hè nóng nực không thích hợp cho việc thụ thai, vì lúc đó nhiệt độ nóng cao, việc ăn uống và ngủ nghỉ đều thất thường, thể lực và tinh thần đều sa sút, vì thế chất lượng tế bào được sinh sản lúc đó cũng bị ảnh hưởng nhất định. Nghiên cứu gần đây của các nhà khí tượng sinh vật cho thấy rõ, kết qua những đứa trẻ được sinh ra trong điều kiện nhiệt độ ngoài phòng khoảng 20 độ C đều có thân thể khỏe mạnh, trí lực của những đứa trẻ được mang thai và sinh ra trong tháng giá rét cao hơn trí lực của những đứa trẻ mang thai và sinh ra trong tháng nóng. Có tài liệu thống kê cho thấy trong số những nhân vật tương đối có thành tựu, phần lớn đều là những người được mẹ của họ mang thai trong giá lạnh hoặc trong xuân sớm.

------> healthy books <------

 
Đăng nhập để trả lời
0
34. Cần chú ý những gì trước khi thụ thai?

Để giữ gìn sức khỏe cho đời sau, ngoài việc lựa chọn thời cơ mang thai tốt nhất ra, trước khi có bầu còn cần phải chú ý mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, chú ý dinh dưỡng ăn uống. Trước khi thụ thai, hai vợ chồng phải chú ý dinh dưỡng ăn uống, nên thường xuyên ăn các thức ăn có lượng albumin cao và nhiều vitamin, đặc biệt là những thức ăn có nhiều sinh tố A và C là những thành phần không thể thiếu được của cơ thể con người, là nền tảng vật chất của việc sinh con trong tương lai. Đồng thời còn phải ăn nhiều hoa quả có tác dụng rửa sạch đường ruột, bổ sung vitamin.

Thứ hai, tăng cường rèn luyện thân thể. Thường xuyên tham gia một số vận động điền kinh, kiên trì đi bộ ra ngoài vào sáng sớm và buổi tối, đến những nơi có môi trường trong lành để hít thở không khí tươi mới, tham gia hoạt động giải trí phù hợp. Như vậy vừa rèn luyện sức khỏe, lại vừa bồi dưỡng tâm lý sâu sắc, chức năng tác dụng điều khiển hệ thống thần kinh.

Thứ ba, tránh phát sinh bệnh tật. Trước khi thụ thai, phòng chống để khỏi mắc nhiều bệnh tật, nhất là một số bệnh có tính nhiễm độc như bệnh sởi, cảm cúm v.v… vì khả năng nhiễm độc của các bệnh này có thể làm cho thai nhi bị dị tật.

Thứ tư, cấm hút thuốc, uống rượu, lạm dụng thuốc… Thuốc lá, rượu đều là những thứ bất lợi cho tế bào sinh sản còn việc lạm dụng thuốc thường làm cho thai nhi bị dị hình. Chẳng hạn như uống các loại thuốc nội tiết của nữ có thể làm cho thai nhi bị nữ hóa, uống các loại thuốc nội tiết của nam có thể làm cho thai nhi bị nam hóa. Đối với các vật có chất độc và có khả năng phóng xạ thì cũng phải hết sức tránh. Cuối cùng, chính là phải giữ được môi trường sạch sẽ và tinh thần sức lực dồi dào khi giao hợp. Khi giao hợp, môi trường phải thật yên tĩnh, tập trung tinh lực, chủ động phối hợp với nhau, như vậy mới có thể giúp cho việc sinh con được tốt đẹp.

35. Có những hiện tượng gì để có thể biết được đã mang thai?

Sau khi người phụ nữ mang thai, cùng với sự hình thành của bào thai và sự phát triển của thai nhi, tất yếu sẽ gây ra cho người mẹ một loạt thay đổi. Những biến đổi này khiến người phụ nữ có thai sinh ra một số cảm giác, hình thành các hiện tượng đặc trưng cho sự có thai. Tắt kinh là một trong những đặc trưng quan trọng đầu tiên của việc mang thai. Đối với một người phụ nữ khỏe mạnh đã lập gia đình, nếu kinh nguyệt trước kia luôn luôn bình thường, trong những điều kiện không đặc biệt (chẳng hạn như tinh thần bị kích thích, mệt mỏi và suy kiệt quá độ v.v…) bỗng nhiên kỳ kinh lên tới 40 ngày mà vẫn chưa thấy kinh trước tiên phải nghĩ tới khả năng có thai. Nếu tắt kinh trong khoảng 6 tuần, kèm theo choáng đầu, mệt mỏi, háo nhủ, ăn uống thất thường, buồn nôn, nôn oẹ v.v…sáng sớm ngủ dậy sau khi bắt đầu hoạt động càng thể hiện nhiều hơn thì triệu chứng có thai lại càng rõ.

Thứ hai là vú căng to. Sau khi thai nghén do sự kích thích của các nội tiết tố là oestrogen và progesteron, bầu vú to dần lên, căng đau đầu vú chạm vào là đau, thể hiện rõ nhất ở lần thai nghén đầu tiên.

Thứ ba là sắc tố da xạm đi. Điều này thể hiện ở đầu vú và màu sắc núm vú, ở hai bên má có thể có vết xạm đối xứng. Chính giữa bụng dưới có thể có “vân thai” màu sẫm. Vân thai của phụ nữ có thai lần đầu tiên là màu tím hồng. Vân thai của phụ nữ đã qua một lần sinh nở có màu trắng.

Thứ tư là đái nhiều. Trong thời kỳ đầu mang thai, số lần đi tiểu cũng có thể nhiều hơn lúc bình thường, những xuất hiện đái buốt mà không phải bị viêm nhiễm ở vào hệ tiết niệu, điều này chủ yếu là do tử cung to lên đè vào bàng quang mà có. Nếu xác định được nhiệt độ cơ bản của cơ thể, có thể thấy rằng nhiệt độ cơ thể đã tăng lên sau khi rụng trứng và không hề giảm xuống, đó cũng là một trong những đặc trưng của thai nghén. Nếu bạn biết bắt mạch thì thấy hiện tượng mạch đập nhanh. Nếu một người phụ nữ đã có chồng thấy có những biểu hiện trên thì phải nghĩ đến là mình đã có thai, nên kịp thời đến bệnh viện kiểm tra để xác định thêm.

------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
36. Bắt đầu mang thai hay có những triệu chứng gì?

Phụ nữ đã có thai, khoảng một nửa số người có hiện tượng buồn nôn, nôn oẹ và đau nửa đầu ở những mức độ khác nhau trong thời kỳ mới có thai. Đồng thời kèm theo các triệu chứng, choáng đầu, mệt mỏi rã rời, thèm nhủ và chán ăn… Theo y học, những hiện tượng này thường được gọi là phản ứng thai sớm, tức là hiện tượng nghén khi bắt đầu có thai. Những hiện tượng này thường xuất hiện trong khoảng thời gian có thai đã được 6 - 12 tuần. Chẳng hạn như buồn nôn, nôn oẹ hay xảy ra vào lúc sáng sớm và khi đói bụng, hơn nữa lại không chịu được những mùi vị như mùi mỡ và các mùi vị đặc biệt khác nếu không, lập tức nôn ngay. Nhiều người thích ăn của chua và những thứ thanh đạm hợp khẩu vị, có một số người lúc thì thích ăn cái này, lúc lại muốn ăn thứ khác, ăn được một chút lại bỏ. Những hiện tượng này, phần lớn diễn ra trong khoảng 3 tháng là hết.

37. Có mấy biện pháp chuẩn đoán thai sớm?

Sau khi phụ nữ có thai, thường xuất hiện tình trạng tắt kinh và có những biểu hiện có thai. Những biểu hiện này, thường có thể giúp cho việc chuẩn đoán có thai trong thời gian đầu, nhưng tuyệt không phải là những căn cứ hết sức chắc chắn mà còn phải kết hợp phân tích tổng hợp mấy biện pháp sau thì việc chuẩn đoán mới có thể không có sai sót. Đó là:

1. Kiểm tra phụ khoa: Nếu quả thật có thai sớm thì qua kiểm tra, có thể phát hiện thấy âm đạo, cổ tử cung trở nên mềm mại và có màu xanh tái. Tử cung từ chỗ xẹp xuống biến thành hình tròn và dần phồng to lên, cổ tử cung dường như không nối liền với thân tử cung…

2. Quan sát bầu vú: Bắt đầu từ tuần thứ tư sau khi có thai, tuyến sữa bắt đầu cương to, có thể sờ thấy thân tuyến sữa, đầu vú và núm vú ngày càng thâm lại, đồng thời nổi rõ những tĩnh mạch màu xanh trên bề mặt bầu vú. Nếu bóp đầu vú ra, có lúc có thể thấy có dung dịch nước màu vàng chảy ra.

3. Chuẩn đoán hỗ trợ: Có rất nhiều phương pháp chuẩn đoán hỗ trợ, biện pháp hay dùng nhất là thử ếch. Cách thử này đơn giản, dễ làm. Dương tính giả rất thấp. Tỷ lệ chuẩn xác có thể đạt 95 - 98%. Ngoài ra có thể dùng các biện pháp như xác định độ miễn dịch phóng xạ của các chất nội tiết tuyến sinh dục, kiểm tra chất nhầy cổ tử cung, đo nhiệt độ cơ bản của cơ thể, thử hoàng thể và kiểm tra sóng siêu thanh B.

38. Vì sao phải xét nghiệm thai bằng nước tiểu sáng sớm? Làm thế nào giữ thật tốt nước tiểu sáng sớm?

Khi trứng thụ tinh vào làm tổ trong tử cung bèn sinh ra một chất nội tiết tố mới, điều đó có nghĩa là màng nhung mao (hay còn gọi là màng lông) thúc đẩy nội tiết tố tuyến sinh dục, giúp cho bào thai sinh trưởng và làm tổ. Sau 45 ngày thai nghén, chất nội tiết tố này được tiết ra ngày càng nhiều, làm tăng nồng độ có trong cơ thể và có thể thải ra ngoài qua nước tiểu. Cho nên kiểm tra bằng nước tiểu trên lâm sàng có thể chuẩn đoán thai sớm.

Nước tiểu sáng sớm, sau khi được lưu giữ khá lâu trong cơ thể, thường khá đậm đặc, khiến nồng độ chất nội tiết tuyến sinh dục được tiết ra khá cao, dễ đạt được mức xét nghiệm thấp nhất, nâng cao được tỷ lệ dương tính đã kiểm tra. Vì vậy khi xét nghiệm nên lấy nước tiểu buổi sáng sớm. Cách lấy và bảo quản như sau:

Trước khi đi ngủ phải đi tiểu, để nước tiểu do cơ thể tiết ra sau đó được giữ trên người trên 6 tiếng đồng hồ. Ngoài điều đó ra, tốt nhất nên uống ít nước, ra ít mồ hôi, cách làm cho nước tiểu đậm đặc hơn. Sáng sớm hôm sau đi giải cho ra trước một ít nước tiểu, sau đó đi nốt phần còn lại cho vào chiếc lọ nhỏ sạch sẽ đưa lọ nước tiểu đến phòng hóa nghiệm kiểm tra. Để đảm bảo độ chính xác của việc xét nghiệm, khi lấy nước tiểu, phải chú ý rửa thật sạch lọ. Nếu âm đạo bị xuất huyết hoặc ra nhiều bạch đới, tốt nhất nên đi giải trực tiếp vào lọ, để tránh nhiễm bẩn.

------> healthy books <------

 
Đăng nhập để trả lời
0
39. Có thai mấy tháng thì có thể nghe thấy tiếng tim thai?

Hệ thống tuần hoàn của thai nhi lớp phôi giữa hình thành và bắt đầu phát triển rất sớm. Thế nhưng tiếng tim thai còn gọi là “tim thai” thường phải đến tuần thứ 18 hay tuần thứ 20 mới nghe được. Tiếng tim thai gần giống tiếng “tịch tà” của đồng hồ, tốc độ rất nhanh, mỗi phút đập 120 - 160 lần, vang rõ. Tỷ số lần đập của tim thai vào giữa thời gian có thai đập nhanh hơn vào cuối kỳ, có lúc mỗi phút có thể đập trên 160 lần. Trước khi thai được 6 tháng, sẽ nghe được tiếng tim thai ở chính giữa hoặc khoảng phía dưới rốn. Sau khi thai được 6 tháng thì có thể kiểm tra rõ ngôi thai, căn cứ vào tiếng tim thai đã nghe thấy để đoán ngôi thai, thường nghe thấy rõ nhất ở đằng lưng của thai nhi. Trên lâm sàng, nhờ nghe tim thai có thể biết được tình hình của thai nhi ở trong tử cung, đồng thời cũng giúp cho việc phán đoán ngôi thai và số thai. Nếu tần số đập của tim thai luôn luôn bình thường, đột nhiên tăng nhanh, mỗi phút đập vượt quá 160 lần hoặc chậm đến 120 lần hoặc từ mạnh chuyển sang yếu hoặc lúc nhanh lúc chậm không đều thì phải lập tức đến ngay bệnh viện điều trị.

40. Có thai bao nhiêu lâu thì thai máy? Số lần thai máy có ý nghĩa gì?

Sau khi người phụ nữ mang thai, phôi thai lớn dần trong tử cung.

Khi mang thai đến tuần thứ 8 thì bào thai đã mang hình người. Đã có thể nhìn thấy mắt, tai, miệng, mũi ở phần đầu. Lúc đó thai nhi đã có thể hoạt động. Nhưng do hoạt động rất khẽ và yếu. Người mẹ không thể cảm thấy được, chỉ có thông qua siêu âm mới thấy được.

Khi thai được khoảng 16 tuần (4 tháng), tử cung phồng to lên khá nhanh, lượng nước ối cũng nhanh chóng nhiều lên. Hệ thống xương tứ chi của thai nhi phát triển khá hơn, giúp cho sức hoạt động của thai nhi mạnh hơn, khiến người mẹ có thể cảm thấy thai máy, cứ như có vật gì đang đội lên ở bụng dưới. Thời gian mang thai tăng dần, thai máy ngày càng rõ.

Khi được khoảng 7 - 8 tháng, có lúc người mẹ sẽ cảm thấy có bàn tay bàn chân nhỏ đang đạp trong bụng. Nếu chú ý quan sát kỹ lưỡng việc thai máy thì sẽ thấy nó có tính quy luật nhất định. Thường trong một tiếng đồng hồ thì thai máy 3 - 5 lần, trong 12 tiếng đồng hồ có thể máy tới trên 30 - 40 lần.

Thế nhưng thai máy sớm hay muộn còn do sự khác nhau của từng người. Thông thường những phụ nữ sinh con so thường thấy thai máy muộn hơn những phụ nữ sinh con dạ. Nhưng khi có thai đã được năm, sáu tháng, vẫn không thấy thai máy thì phải đi bệnh viện kiểm tra. Bởi vì thai có máy hay không, yếu hay khỏe và số lần thai máy nhiều hay ít là những tiền tố quan trọng phản ánh một số bệnh lý khác thường trong cơ thể mẹ và chức năng của nhau thai bị gây trở ngại, kể cả việc thai nhi bị thiếu ôxy mạn tính. Chẳng hạn như, có thể mẹ mắc bệnh viêm phổi trên diện rộng trong thời gian mang thai, do thiếu ôxy trong cơ thể, tim đập nhanh lên, thở gấp, sự cung cấp máu của thai nhi bị khó khăn, thì biểu hiện ra ngoài là thấy thai máy không yên ổn. Nếu như tâm trạng người mẹ bị xáo động, quá sợ hãi buồn rầu có thể làm tăng những chất hóa học có trong mạch máu, dễ gây hại đến hệ thống thần kinh và mạch máu của tim, khiến tần số và cường độ máy của thai bỗng tăng gấp mấy lần. Điều này hiển nhiên là đã gây ra những ảnh hưởng không tốt cho sự tăng trưởng bình thường của thai nên có những biện pháp xử lý ngay, khắc phục và chấn chỉnh lại những nhân tố không hay này, để giúp cho thai nhi sinh trưởng và phát triển được tốt.

Nếu số lần thai máy giảm ít đi, số lần máy (hay đạp) hàng ngày tụt xuống, trong 12 tiếng đồng hồ chỉ đạp dưới 10 lần hoặc hoàn toàn không còn nghe thấy gì nữa thì chứng tỏ thai thiếu ôxy rất nghiêm trọng, phải phá thai để cứu mẹ.

------> healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
41. Làm thế nào để đoán được số tháng có thai theo vòng bụng to nhỏ?

Bắt đầu từ khi trứng thụ tinh vào làm tổ trong niêm mạc tử cung cho đến thai lớn lên đủ tháng đủ ngày và được sinh ra, tổng cộng tất cả khoảng 40 tuần, cũng chính là thời gian 280 ngày. Trong một thời gian kéo dài này cùng với sự lớn lên của thai nhi, tử cung cũng dần dần to lên. Qua thực tiễn một thời gian dài, người ta phát hiện thấy, vòng bụng to hay nhỏ có quan hệ tỷ lệ nhất định với số tháng mang thai. Vì thế trên lâm sàng có thể thông qua quan sát vòng bụng to nhỏ để đoán thai được bao nhiêu tháng. Điều này rất có ý nghĩa đối với những phụ nữ có thai mà kinh nguyệt không đều.

Thông thường mà nói, đến cuối tháng thai nghén thứ nhất của người phụ nữ, tử cung to bằng quả trứng; hết tháng thứ 2 tử cung to bằng quả trứng ngỗng. Đầy 3 tháng, tử cung to bằng nắm tay người lớn, có thể sờ thấy ở bụng dưới, cuối tháng thứ 4, tử cung to bằng đầu đứa trẻ mới sinh, đáy tử cung cao hơn khớp mu từ 2 đến 3 đốt ngón tay; hết tháng thứ 5, đáy tử cung nhô lên cách dưới rốn 2 đốt ngón tay, tròn 6 tháng đáy tử cung ngang bằng rốn; cuối tháng thứ 7 đáy tử cung nhô lên trên rốn 2 đốt; hết tháng thứ 8 đáy tử cung nổi cao hơn rốn chút nữa; 9 tháng, đáy tử cung tụt xuống 2 đốt ngón tay; tháng thứ 10, do đầu thai chúc xuống, đáy tử cung lại cao bằng độ cao tháng thứ 8. Thông qua sự to nhỏ của vòng bụng mà tính ra số tháng có thai, đây chỉ là cách tính sơ bộ. Bởi vì điều kiện sống, chế độ dinh dưỡng của từng phụ nữ khác nhau, khiến tốc độ sinh trưởng phát triển của thai nhi cũng khác nhau nên vòng bụng mỗi phụ nữ đang mang thai đều có sự khác nhau.

Để tính số tháng có thai một cách chính xác, tốt nhất nên nhớ kỹ ngày hành kinh lần cuối trước khi bạn mang thai. Kết hợp với những hiện nghén, ngày thai máy để tính ra số tháng mang thai.

42. Phụ nữ mang thai có những đặc điểm sinh lý gì?

Để thích ứng với nhu cầu sinh trưởng phát triển của thai nhi và để chuẩn bị tốt cho việc sinh con, nuôi con bằng sữa, sau khi người phụ nữ có thai, hệ thống sinh dục và các bộ phận trên toàn thể cơ thể người mẹ đều có những thay đổi tương ứng theo như:

1. Bộ máy sinh dục

Chủ yếu là tử cung cùng với sự lớn lên của thai nhi, tử cung to dần lên, đến gần ngày sinh nở, trọng lượng của riêng tử cung từ 30 gam tăng lên đến 1,0 kg, to gấp 33 lần; sức chứa cũng tăng lên đến 4000 - 5000 mililít, tăng trên 500 lần so với lúc bình thường. Đồng thời số lượng mạch máu trong tử cung cũng tăng lên nhiều, vì vậy lưu lượng máu chuyển vận trong tử cung phải tăng gấp 4 - 6 lần so với lúc bình thường, vị trí tử cung dần dần được nâng cao. Sau 3 tháng có thai, có thể sờ thấy tử cung ở phía trên khớp mu. Khi được 5 - 6 tháng, tử cung cao ngang rốn; 9 tháng, tử cung cao hơn rốn một ít. Ngoài những điều đó ra, để thích ứng với sự tăng trưởng của thai nhi, niêm mạc tử cung cũng có những biến đổi rất rõ rệt. Trong tế bào mang nhiều thành phần dinh dưỡng phong phú, trở thành “màng xác”. Còn về cổ tử cung và âm đạo, sự sung huyết rõ hơn và trở nên mềm mại trong thời kỳ mang thai. Vào tháng cuối của thời kỳ thai nghén, cổ tử cung dần dần co lại và biến đi, để khi sinh nở thai nhi chui ra được.

2. Bầu vú

Do tác động các nội tiết tố nữ khi người mẹ mang thai, bầu vú căng to rõ rệt tuyến sữa và nang tuyến phát triển, tổ chức đệm kết xung huyết, vú phình to, núm vú thâm lại, sắp đến kỳ sinh nở thì đầu vú tiết ra một ít sữa non màu vàng.

3. Hệ thống mạch máu tim

Để thích ứng với việc lưu lượng máu tăng lên trong tử cung và nhau thai, bắt đầu từ sau khi thai được 3 tháng, tổng lượng máu trong cơ thể mẹ dần dần tăng lên. Đến cuối thời gian mang thai, đã tăng lên khoảng 30% số máu so với lúc bình thường. Do lượng tăng lên lại là bộ phận dịch thể trong máu, khiến hồng cầu tăng lên khá ít, vì thế dễ gây ra tình trạng “ thiếu máu có tính sinh lý trong thời kỳ có thai”. Hơn nữa, do tử cung ngày càng lớn to lên, thậm chí làm cho mô hoành cách bị nâng lên, tim bị đẩy lên phía trên, sang trái. Đồng thời, do tổng lượng máu tăng lên, cũng làm cho tim phải gánh nặng thêm, cho nên trong thời kỳ có thai, tim thường to lên, đập nhanh hơn, lượng máu được đưa ra từ tim trong mỗi phút tăng lên 50% so với bình thường. Do tim có chức năng thay thế, tuy phải gánh thêm nhiều, nhưng vẫn bình thường. Nhưng nếu trước kia có bệnh thì khi có thai tim sẽ phải hoạt động quá nặng, chỉ có thể làm cho bệnh nặng thêm.

----------> healthy books <--------------

 
Đăng nhập để trả lời
0
42. Phụ nữ mang thai có những đặc điểm sinh lý gì? (tiếp)

4. Về huyết áp

Không có sự thay đổi lớn đối với những trường hợp mang thai bình thường, khi gần đến ngày sinh nở thì có thể cao hơn một chút. Thế nhưng huyết áp tối thiểu không nên vượt quá huyết áp cơ bản 40 mmHg, huyết áp tối đa không nên vượt quá 20 mmHg.

5. Hệ hô hấp

Lượng ôxy cần cho thời kỳ mang thai và lượng carbonic (CO2) thải ra ngoài đều tăng nên phổi phải làm việc nhiều. Đồng thời, do mô hoành cách bị đẩy lên vì tử cung ngày càng to lớn nên khoang ngực bị hẹp lại. Vì vậy, người phụ nữ thường hay thở gấp.

6. Hệ tiêu hóa

Phần lớn số phụ nữ có thai đều có phản ứng nghén trong thời gian đầu khi mới mang thai như chán ăn, buồn nôn, nôn oẹ… Do acid trong dạ dày tiết ra ít, sự nhu động của thành ruột kém nên họ hay đầy bụng và táo bón. Ngoài ra, gan cũng phải hoạt động nặng hơn trong thời kỳ có thai.

7. Hệ triết niệu

Khi có thai, do cả mẹ cả con thay nhau bài tiết nên thận phải hoạt động nhiều. Lưu lượng máu trong thận và lượng lọc của tiểu cầu thận tăng 30 - 50% so với trước khi có thai. Nếu vượt quá khả năng hấp thụ nặng nề của tiểu cầu thận, có thể gây ra “đái đường có tính sinh lý” trong thời kỳ có thai. Dưới tác dụng của nội tiết tố progesteron, sức căng của ống dẫn nước tiểu kém, nhu cầu chậm, cộng thêm với việc bàng quang bị tử cung đè lên, nước tiểu thải ra không hết, vì thế dễ bị viêm nhiễm hệ tiết niệu. Trong thời gian đầu có thai, tử cung to lên, đẩy bàng quang lên phía trên và đè lên bàng quang, vì vậy hay đi giải nhiều sau khi tử cung phồng to lên, lên cao đến khoang bụng, đỡ đè lên bàng quang làm giảm bới số lần đi giải. Cuối thời gian mang thai, do đầu thai nhi chúc xuống đè vào bàng quang, số lần đi giải lại tăng lên.

8. Hệ nội tiết

Trong thời gian có thai, khí quan, nội tiết đều có những thay đổi rõ rệt về kết cấu và cơ năng. Thuỳ trước của tuyến yên rộng gấp 2 -3 lần so với bình thường, có lần cao quá mức bình thường, vì vậy kích thích các tuyến nội tiết của toàn thân lên cao quá mức theo. Tuyến giáp trạng tăng 30 - 40% so với bình thường, chúng ta thường thấy cổ người phụ nữ có thai to lên là do nguyên nhân này. Do tuyến giáp trạng to lên nên cơ thể người phụ nữ cũng theo đó to lớn lên. Các bộ phận khác nhu tuyến thận, tuyến giáp trạng phụ cũng tăng theo.

9. Hệ thần kinh

Trong thời gian có thai, do sự thay đổi của hệ thần kinh, người mẹ có thể có nhiều thay đổi về trạng thái thần kinh chẳng hạn như buồn nôn, nôn mửa, háo ngủ, vị giác và tâm trạng không ổn định.

10. Da dẻ

Khi có thai, sắc tố da thường sẫm lại, nhất là ở xung quanh đầu vú, âm hộ, đường sọc chính giữa rốn phía dưới rốn hai bên mũi, má thường có vết xạm. Có người sau khi sinh con xong vẫn chưa sạch hết xạm do tuyến mồ hôi và tuyến mỡ của da tiết ra nhiều hơn, móng tay và lông tóc mọc nhanh. Trên bề mặt lớp da thành bụng, bầu vú và dọc hai bên đùi ngoài, có nhiều vết rạn của da, khi mới có thì mang màu hồng tím, khi cũ thì có màu trắng.

11. Bộ xương và dây chằng

Trọng lượng tử cung khi có thai làm cho trọng tâm cơ thể đổ về phía trước. Để giữ cân bằng, đầu và vai người mẹ phải ngả về phía sau, vì thế tạo nên “ hình dáng đàn bà chửa”. Sự thay đổi của dây chằng chỉ yếu do các dây chằng khớp và các bộ phận gắn với khung chậu lỏng ra, giúp cho xương chậu hoạt động dễ dàng, dễ mở ra cho thai nhi chui ra khi sinh con. Cá biệt có trường hợp, do dây chằng quá rão, có thể gây nên đau khớp, gây cản trở cho hành động, không thể đứng lâu hay đi lâu, hiện tượng này càng gần đến tháng sinh con càng thấy rõ, sau khi sinh con mới hồi phục được.

12. Trọng lượng cơ thể

Khi mới có thai, do ăn uống thất thường nên trọng lượng cơ thể thường bị giảm sút. Nhưng sau 4 tháng, cơ thể bắt đầu tăng cân. Tính đến tháng sinh con, có thể tăng 10-14 kg, bình quân mỗi tuần tăng 0,5 kg. Nếu trọng lượng cơ thể tăng quá nhanh hoặc trọng lượng cơ thể tăng quá ít là không bình thường.

---------> healthy books <----------

 
Đăng nhập để trả lời
0
44. Vì sao người đang mang thai dễ mắc bệnh?

Khi có thai, ngoài những nhu cầu của bản thân cần thay thế những cái cũ bằng cái mới, người phụ nữ còn phải đáp ứng một lượng tiêu hao ngày càng tăng của thai nhi, vì thế nhu cầu dinh dưỡng đòi hỏi ngày càng nhiều một khi bổ sung không đủ thì sẽ khiến cho cơ thể có những thay đổi phức tạp. Dù những thay đổi này thuộc những thay đổi có tính sinh lý, phần lớn người mang thai cũng có thể qua được dễ dàng, Nhưng những thay đổi phức tạp này cũng đem lại nhiều nhân tố bất lợi cho nhiều phụ nữ, tạo điều kiện cho nhiều bệnh tật phát sinh.

Ví dụ như, để cung cấp đủ lượng máu cho thai nhi, tổng lượng máu trong cả cơ thể người mẹ ngày càng nhiều lên, màng dính ở mũi dày lên, việc phù thũng dễ làm cho các chất độc bệnh có tính lây. Tử cung to lên sẽ đè lên bàng quang ống dẫn nước tiểu… gây nên các chứng viêm của hệ tiết niệu. Dưới tác dụng của nội tiết tố Progesteron, các khớp xương chậu và dây chằng lỏng ra, thường dẫn đến chứng đau lưng và đau khớp.

Nếu trong cơ thể có những bệnh mạn tính, sau khi có thai sẽ tăng nặng hơn. Ví dụ như trước kia mắc bệnh tim, sau khi có thai, do tim phải làm việc nhiều hơn, không những sẽ làm cho bệnh tim đột phát mà có lúc còn làm cho sức tim suy kiệt. Nếu mắc bệnh thận, vì sự biến đổi của chức năng thận, sẽ làm cho chức năng thận mạn tính hoạt động kém. Từ đó có thể thấy, tuy việc sinh con là thiên chức của nữ giới, nhưng có thai lại gây nên rất nhiều nhân tố bất lợi cho phụ nữ. Vì thế phải hiểu rõ những trường hợp này, giữ gìn sức khỏe cho người mẹ trong thời kỳ có thai, để phòng hoạ khi chưa xảy ra mới có thể giúp cho người mẹ dễ dàng qua được thời kỳ mang thai.

45. Cần chú ý giữ vệ sinh như thế nào trong thời kỳ có thai?

Trong thời kỳ mang thai, người phụ nữ sống trong điều kiện sinh lý riêng, vì thế để giữ gì sức khỏe cả mẹ lẫn con, tất phải chú ý giữ vệ sinh cá nhân, bao gồm:

1. Về lao động: Thông thường, trong thời gian có thai cũng như khi bình thường, có thể tham gia lao động và công tác bình thường, nhưng phải tránh những lao động chân tay quá nặng nhọc, tránh quỳ lâu, đứng lâu hoặc cúi khom lưng quá. Những phụ nữ làm việc lao động chân tay, sau 7 tháng có thai, có thể giảm bớt cường độ lao động cho thật thích hợp, bảo vệ phần bụng, chớ để va chạm bị thương, để tránh bị sinh con non hoặc đứt cuống rốn.

2. Về mặt vận động: Đi bộ hàng ngày có tác dụng rất tốt đối với việc tăng cường sức cơ và thúc đẩy sự thay thế các chất cũ bằng chất mới trong cơ thể nên tránh những vận động mạnh, chẳng hạn như chạy thi, nhảy cao. Nên giảm bớt việc đi du lịch đường dài, để đề phòng sảy thai và sinh non.

3. Về giấc ngủ: Cơ thể người phụ nữ có chửa phải gánh vác khá nặng nề nên dễ mệt mỏi, cần được ngủ và nghỉ ngơi đầy đủ. Ngoài thời gian ngủ 8 - 9 tiếng đồng hồ một ngày ra, tốt nhất nên có 1- 2 tiếng đồng hồ ngủ buổi trưa. Nhiệt độ nóng lạnh trong nhà phải thích hợp, không khí phải trong lành, thoáng.

4. Ăn mặc: Quần áo của người có thai phải luôn luôn sạch sẽ, ấm áp, rộng rãi dễ chịu, không được bó thít ở ngực, không được thắt lưng quá chặt, để tránh làm ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn máu và sự hoạt động cũng như phát triển của thai nhi.

5. Về làn da: Trong thời gian có thai, tuyến mồ hôi và tuyến mỡ dưới da tiết ra nhiều bạch đới (khí hư), do đó phải chú ý giữ gìn cơ thể sạch sẽ, chịu khó tắm rửa cơ thể và âm hộ, hay thay quần áo, giữ sạch làn da, để giúp cho da bài tiết dễ, khi tắm phải múc nước dội hoặc lau cọ người, không được ngâm người trong bồn tắm hay trong chậu, để tránh nước bẩn vào trong âm đạo.

6. Bầu vú: Sau khi có thai, bầu vú to dần lên, có thể mặc áo coóc-xê, nhưng không được mặc quá chật. Bắt đầu từ tháng thứ 5, phải lấy nước ấm và xà phòng rửa sạch bầu vú và đầu vú, lau cậy sạch những ghét bẩn, vẩy khô tích ở đầu vú, sau đó xoa một ít dầu mỡ lên, để da mỡ màng mềm mại mà tăng thêm độ dẻo dai, nhằm giúp cho bầu vú chịu được sự háu ăn của đứa trẻ sau khi sinh, tránh được tình trạng nứt đầu vú. Nếu đầu vú tụt vào sâu, có thể lấy một tay ấn bầu vú xuống, tay kia khẽ kéo đầu vú ra ngoài, dần dần đầu vú sẽ nhô ra, để cho trẻ dễ bú.

7. Về việc đi đại tiện: Trong thời gian có thai nên tạo thành thói quen đi đại tiện hàng ngày không nên giảm bớt lượng vận động, vì sức căng và sức nhu động của đường ruột bị yếu đi sẽ dẫn đến tình trạng táo bón. Để điều tiết sinh hoạt, làm cho tinh thần sảng khoái, người mẹ nên tham gia một số hoạt động giải trí thích hợp.

----------> healthy books <----------

 
Đăng nhập để trả lời
0
46. Khi đang mang thai nên giữ gìn sức khỏe như thế nào?

Khi người phụ nữ có thai, cùng với sự sinh trưởng phát triển của thai nhi, trong cơ thể người mẹ có một loạt thay đổi. Vì sức khỏe của người mẹ, hãy làm tốt công tác bảo vệ sức khỏe, để thích ứng với những thay đổi này. Về phương diện hô hấp, để chống thủy thũng, sưng màng dính của khí quản, mũi họng…dẫn đến cảm cúm nên chú ý ăn mặc phù hợp theo mùa, không nên để mặc nóng quá hoặc lạnh quá, tích cực tham gia các hoạt động chân tay nhẹ nhàng, chống bị cảm cúm. Để cải thiện tình trạng mô hoành cách bị thai đẩy lên cao, phần dưới của phổi bị ép phải dịch lên, khoang ngực bị thu hẹp lại, dẫn đến tình trạng thở gấp, khoang màng phổi không thông suốt, do vậy không được thắt eo lưng chặt, càng không được mặc áo bó ngực, khi nằm có thể gối cao đầu.

Về phương diện tiêu hóa, tùy theo đặc điểm từng người trong thời gian thai nghén, việc ăn uống phải thanh đạm mà giàu chất dinh dưỡng, ăn ít và ăn nhiều bữa. Nếu vì bụng to lên, bị tử cung đè vào mà làm cho lượng acid trong dạ dày bị dồn ngược lên trên, khiến họng và thượng phúc (bụng trên) bị nóng, có thể uống một ít thuốc dạ dày có tính kiềm. Nếu chưa kịp mua thuốc, có thể thay bằng nửa cốc sữa.

Ngoài ra, do ít hoạt động, đường ruột hay bị đầy hơi và sức co bóp yếu, dễ gây đầy bụng và táo bón, vì thế nên ăn nhièu rau, hoa quả, mới đièu hòa được đường ruột và dạ dày. Về phương diện tuần hoàn máu nên ăn nhiều thưc ăn có chất sắt như gan, lòng đỏ trứng v.v…để tăng lượng hồng cầu trong máu. Nếu do tim phải hoạt động quá nhiều, thấy tim hoảng hốt, nhảy loạn xạ nên thường xuyên ăn nhãn nhân hạt táo chua có thể giúp cho tỳ khỏe lên.

Hơn nữa, do thai nhi dài ra và tử cung ngày càng to lên đè vào đường trở về của tĩnh mạch xương chậu, khiến máu của tĩnh mạch chi dưới khi chảy về bị cản trở. Khi hai bên đùi non và bắp chân xuất hiện những đoạn tĩnh mạch căng phồng, có thể ăn nhẹ nhàng, chẳng hạn như đi tất căng hoặc mặc quần mỏng sát người v.v…

Nếu máu chảy về tĩnh mạch chi dưới, khó khăn nếu đứng quá lâu, cổ chân bị xuống máu (phù to) cách tốt nhất là ngồi bệt xuống, chân gác cao lên, có thể giúp cho máu ở chân chảy trở về hòa vào vòng tuần hoàn của cơ thể.

Nếu tử cung tiếp nhận một lượng máu cung cấp lớn nhưng máu cấp cho chi dưới và xương sống lại quá ít, khi thấy mệt mỏi nên chú ý nghỉ ngơi và ngủ cho đầy đủ. Về phương diện tiết niệu nếu xét nghiệm nước tiểu, thấy trong nước tiểu, có albumin và đường, nên thường ăn các loại thuốc như câu khởi tử thì sẽ giúp cho việc làm giảm albumin và đường.

Về làn da và tuyến mồ hôi, sau khi có thai, do có sự thay đổi của các nội tiết tố trong cơ thể, tuyến mồ hôi tiết ra nhiều nên người phụ nữ có thai thường thấy có nhiều mồ hôi. Lớp mỡ dưới da cũng dày lên, tóc cảm thấy có nhiều dầu hơn, vì vậy nên chú ý thường xuyên gội đầu, lau người, giữ sạch đầu tóc và làn da.

Về bầu vú, cùng với sự tiến triển của thai, bầu vú dần dần lớn lên và căng to, đầu vú tiết ra một số chất và dễ bị kết tụ tích bẩn lại, cho nên lúc đó phải thường xuyên lau rửa bầu vú và đầu vú, giữ cho vú sạch sẽ. Có thể mặc áo coóc-xê nhưng phải điều chỉnh cho vừa, rộng rãi mới thích hợp, không được nén chặt bầu vú. Nếu đầu vú bị tụt sâu vào thì trên các coóc xê nên lót thêm một cái nịt vú, để thúc cho đầu vú lồi ra.

Tóm lại, sau khi có thai, trong cơ thể người phụ nữ có thai thay đổi rất nhiều, nhưng chỉ cần quan sát cặn kẽ, làm tốt việc giũ gìn sức khỏe thì sẽ an toàn vượt qua thời kỳ có thai.

 
Đăng nhập để trả lời
0
47. Tâm lý người phụ nữ mang thai có ảnh hưởng gì đối với việc mang thai và sinh con?

Mang thai và sinh con là giai đoạn quan trọng trong cuộc sống người phụ nữ sau khi lập gia đình. Nó cũng giống như việc có kinh và việc tắt kinh, đều gây nên những biến đổi tâm lý đặc trưng, chẳng hạn như trong thời kỳ có thai do lượng nội tiết tố Progesteon tăng lên, đã làm cho người phụ nữ có thai chú ý đến sự thay đổi của cơ thể mình nhiều hơn mà bớt hứng thú với chồng, hơn nữa tâm trạng lại bất ổn, dễ bị kích động, cáu gắt, đặc biệt đòi hỏi người khác quan tâm đến mình v.v…

Còn về thái độ đối việc mang thai, do có những cá tính cụ thể và môi trường hoàn cảnh khác nhau mà có thái độ không giống nhau. Đại đa số phụ nữ đều vui sướng khi có thai và tích cực chuẩn bị cho đứa con ra đời, nhưng đối với một số phụ nữ, việc mang thai lại là một gánh nặng khó đảm đương, do cuộc sống có nhiều điều bất tiện, gây ra tâm sợ hãi lo lắng. Có phụ nữ sợ sinh con ra quái thai, quá lo lắng cho tình hình phát triển của thai nhi có được bình thường không? Có người hết sức mong mỏi sinh được một đứa con trai, để giành được sự quan tâm đặc biệt và những tình cảm tốt đẹp của người thân xung quanh mình. Có người muốn sinh con nhưng lại sợ có con sẽ phải gánh nặng thêm trong công tác, học tập và cuộc sống. Có người sợ đau khi sinh con, chảy máu khi sinh con, vì thế tâm lý mâu thuẫn chồng chất, thậm chí căng thẳng, sợ hãi, lo lắng, mất ngủ v.v…

Sự biến đổi của những tâm lý này của người có thai đều sẽ gây nên những ảnh hưởng không tốt cho việc mang thai và sinh con. Thông thường nếu người mẹ có tâm trạng vui vẻ, bên trong cơ thể cân bằng thì những thay đổi đó không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi và việc sinh con được diễn ra bình thường. Nếu lo lắng, sợ hãi, không những làm rối loạn quá trình thay thế trong cơ thể người mẹ, làm bên trong cơ thể bị mất cân bằng mà còn làm cho thai nhi bị xáo động không yên. Nếu tình trạng này cứ kéo dài mà không dứt được thì sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của thai nhi, nếu nặng thì sẽ gây ra những khiếm khuyết bẩm sinh cho trẻ. Đến khi sinh con, do quá ưu tư lo lắng, tinh thần căng thẳng cao độ, cơ thể gầy sút nhiều thì sẽ làm cho tử cung không còn sức co bóp, cửa tử cung không mở, kéo dài thời gian sinh con hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng như băng huyết sau khi sinh con. Từ đó thấy rằng, tâm lý người phụ nữ có thai đều có ảnh hưởng quan trọng đến việc mang thai và sinh con, cho nên mỗi một người mẹ đều nên nắm lấy một số kiến thức có liên quan đến việc mang thai và sinh con.

48. Trong thời gian mang thai nên nằm ngủ ở tư thế nào?

Nhìn chung, vào giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của thời kỳ mang thai, thai nhi trong tử cung khá bé, khi ngủ dù nằm nghiêng hay nằm ngửa đều được, không cần phải nằm theo một tư thế riêng biệt nào. Nhưng đến giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai, vị trí nằm của người mẹ có ảnh hưởng quan trọng đối với sức khỏe của cơ thể mẹ và sự an nguy của thai nhi. Bởi vì trong giai đoạn này, cùng với sự lớn vọt của thai nhi, làm cho thể tích, dung tích của tử cung to hẳn lên rõ rệt, do đó các tạng phủ mạch máu của tử cung và xung quanh cũng có những thay đổi kèm theo. Nếu ngủ hay nghỉ ngơi theo tư thế nằm ngửa trong giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai, tất yếu sẽ làm cho tử cung đang nặng sẽ đè lên động mạch chủ ở vùng bụng, từ đó sẽ làm cho áp lực của động mạch của tử cung bị hạ thấp xuống, ảnh hưởng đến tuần hoàn máu của tử cung, do đó việc cấp máu cho thai nhi sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, gây khó khăn cho việc cung cấp dinh dưỡng cho thai nhi và việc thải các chất thay thế. Lượng cung cấp máu cho tử cung bị giảm đi, sẽ làm thiếu máu ở nhau thai, vì thế sẽ dẫn đến tình trạng nhau thai tiết ra một lượng lớn thận tố, sau khi chất này hòa vào tuần hoàn máu của cơ thể mẹ, sẽ làm cho áp lực động mạch của cơ thể mẹ tăng cao, có thể gây ra chứng cao huyết áp tổng hợp cho thai.

Vậy thì lúc đó, người mẹ nên ngủ ở tư thế nào cho phù hợp? Căn cứ vào cơ chế tuần hoàn máu nói trên và quan sát thực tiễn lâm sàng, tốt nhất người mẹ nên ngủ ở tư thế nghiêng sang trái. Bởi vì tư thế nằm này có thể hiệu chỉnh được việc xoay sang phải của tử cung, có thể làm giảm bớt sức đè của tử cung, đối với động mạch chủ ở bụng và động mạch xương chậu, cải thiện tuần hoàn máu, làm tăng lượng cung cấp máu cho thai, giúp cho thai sinh trưởng và phát triển tốt. Ngoài ra, tư thế nằm nghiêng sang trái còn có thể làm giảm sức đè lên tĩnh mạch khoang trái, giữ lưu lượng máu về tim được nhiều hơn, cải thiện tác dụng của mạch máu tim, làm cho lợi tiểu, khiến lượng nước tiểu tăng lên, làm giảm hoặc mất các chứng bệnh của chứng tổng hợp tĩnh mạch chi dưới.

Đối với những phụ nữ có chứng bệnh cao huyết áp khi mang thai, việc nằm ở tư thế nằm nghiêng sang trái trong 24 tiếng đồng hồ có thể làm lợi tiểu được 1361 = 2722 mililít. Những người bị bệnh nặng mà nằm nghiêng sang trái, thể trọng có thể giảm từ 1,2 đến 1,8 kg, huyết áp hạ thấp xuống tùy theo những mức độ khác nhau, rất có lợi cho việc chữa trị các chứng bệnh cao huyết áp khi mang thai. Nếu bụng người mẹ quá to, khi nằm nghiêng sang trái thấy khó khăn, cũng có thể nằm ngửa, dùng gối hoặc vỏ chăn cuộn lại lót vào phía hông bên phải cho cao lên khoảng 15 - 20 centimét, như vật có được hiệu quả như của tư thế nằm nghiêng bên trái. Vậy là, không những bảo đảm được việc tuần hoàn máu cho cơ thể mẹ mà còn giúp ích cho việc điều trị các chứng bệnh kèm theo đồng thời cũng đảm bảo bài tiết các chất thải và dẫn các chất dinh dưỡng mà thai nhi cần, tạo cho thai nhi một môi trường sống thật tốt.

--------< healthy books <-------

 
Đăng nhập để trả lời
0
49. Người phụ nữ mang thai có thể tham gia những hoạt động gì?

Sau khi có thai, cơ thể người mẹ có một loạt thay đổi sinh lý, phần lớn những phụ nữ khỏe mạnh bình thường đều thích ứng được với những thay đổi này, thế nhưng cũng nên sắp xếp hợp lý sinh hoạt của mình, mới có thể đảm bảo được sức khỏe cho người mẹ và thai nhi. Thế nhưng có một số phụ nữ lại không phải như vậy. Một khi họ có thai, là họ sợ này sợ nọ, thậm chí dứt khoát chỉ nằm trên giường mà không chịu dậy. Hơn nữa có người chẳng chú ý gì cả, làm bất cứ một công việc nào, kỳ thực hai cách làm này đều không đúng.

Thông thường mà nói, trong thời kỳ mang thai một cách bình thường, có thể lao động và công tác như thường lệ, nhưng phải chú ý: Không được làm những công việc ở trên cao, ở nơi có nhiệt độ cao và ở dưới nước ngầm, nên tránh những động tác cúi khom lưng, tránh những công việc có cường độ lao động mạnh và có độ rung lớn. Đối với nhưng công việc có tiếp xúc với chất độc hoặc có khí độc thì phải kịp thời điều động sang làm công việc khác, để tránh sảy thai hoặc gây ra những dị tật cho thai nhi. Vận động thích hợp có thể thúc đẩy sự thay thế nhau trong cơ thể. Chẳng hạn như tập thể dục, đi bộ hay làm những công việc bình thường trong nhà thì đều nên làm, nhưng không được làm những việc đòi hỏi vận động mạnh như đi du lịch đường dài. Để tránh vận động quá độ làm cho thai bị nghiêng xóc khiến thai nhi bị tổn thương. Sau khi thai được bốn tháng, không nên đi xe đạp nữa. Khi thai tròn 8 tháng, vùng xung quanh bụng càng ngày càng to, tim càng ngày càng phải làm việc nhiều hơn nên phải giảm nhẹ cường độ lao động. Do trọng tâm cơ thể đổ về phía trước, dễ bị ngã, cho nên cũng nên cẩn thận khi làm những việc vặt hàng ngày trong nhà, ví dụ như: phơi quần áo ở chỗ cao, đạp máy khâu.

Lúc này nên đi bộ là phù hợp, nhưng cũng không nên để mệt mỏi quá. Ngoài ra nên thường xuyên nghe âm nhạc, xem múa, rất có lợi cho việc thư giãn thần kinh và giúp ngủ ngon.

50. Phụ nữ có thai nên chú ý ăn những thức ăn gì?

Chất dinh dưỡng là những thứ mà người có thai cần rất nhiều. Ngoài nhu cầu đáp ứng cho việc thay thế bình thường trong cơ thể, việc phát triển của bầu vú, tử cung, nhau thai và sức lực cần cho khi sinh đều đòi hỏi được bổ sung vượt mức, đồng thời còn phải đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của thai nhi, cho nên mỗi ngày người phụ nữ có thai phải đảm bảo hấp thu được 28 gam chất albumin; thấp hơn mức này sẽ gây ra sinh con non hoặc chết. Đặc biệt trong thời gian có thai 3 - 4 tháng, đúng vào thời kỳ đại não thai nhi phát triển nhất, người phụ nữ có thai càng phải bổ sung một lượng lớn chất albumin hơn nên phải ăn nhiều thức ăn giàu chất albumin như cá, trứng, thịt nạc…

Ngoài chất albumin ra, việc bổ sung các chất như canxi, phốt pho, sắt và các loại vitamin đều khá quan trọng. Thiếu canxi và phốt pho sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển bộ xương, răng , cơ bắp, thần kinh của thai nhi. Phốt pho có rất nhiều trong sữa, đậu thịt… nên chú ý bổ sung bằng cách ăn các thức ăn này. Công dụng chủ yếu của sắt là tạo hồng cầu cho máu, thiếu sắt sẽ dẫn đến bệnh thiếu máu, làm giảm chất albumin trong hồng cầu, hơn nữa lượng chất sắt cần cho người phụ nữ có thai cũng cao hơn lượng chất sắt cần cho người bình thường, vì vậy việc bổ sung đủ lượng sắt cần thiết cho cơ thể là điều vô cùng quan trọng. Trong gan của động vật chứa rất nhiều sắt, ngoài ra trong lòng đỏ trứng gà, lá rau xanh, các loại đậu đỗ cũng chứa nhiều, cho nên về mặt ăn uống nên chú ý đến số lượng ăn các loại thực phẩm này. Các chất vitamin, đặc biệt là việc bổ sung vitamin D cũng rất quan trọng, bởi vì vitamin D không những có thể giúp cho việc hấp thụ Canxi mà còn có thể bổ sung cho việc thiếu dinh dưỡng mà phần lớn là thiếu vitamin ở phụ nữ có thai.

Để đảm bảo cho việc cung cấp đủ các thành phần dinh dưỡng này, người phụ nữ có thai cần chú ý ăn những thức ăn sau:

1.Ăn nhiều thức ăn thô, ít ăn các loại bột gạo tinh chế vì trong các loại bột ngô, kê… có chứa nhiều vitamin B và chất albumin hơn so với gạo tẻ và bột mì trắng.

2. Ăn nhiều rau và quả tươi, không những có thể cung cấp đủ nhu cầu của cơ thể về vitamin A, C, chất canxi và chất sắt mà còn có thể chống táo bón, nhưng phải chú ý cách nấu rau, không được nấu lâu quá.

3. Ăn các loại ngũ cốc, ăn lạc… Trong các loại lương thực và thực phẩm này, có chứa một lượng lớn chất albumin, vitamin D, C, chất sắt và canxi, lại có thể cung cấp một phần chất béo.

4. Bổ xung một lượng thích hợp một lượng cá, thịt nạc, trứng…, nhất là vào những tháng cuối của thời kỳ có thai, lại càng cần thiết. Vì những thức ăn này, đặc biệt là các loại trứng rất giàu chất albumin, canxi, phốt pho và các loại vitamin.

5. Bớt ăn mặn và các thức ăn nóng có tính kích thích. Việc bớt ăn mặn có thể chống được phù thũng và cao huyết áp. Các thức ăn có tính kích thích như hạt tiêu, ớt, rượu, chè đặc rất có hại cho sự phát triển của thai. Ngoài ra, việc phơi nắng nhiều có thể giúp cho cơ thể sản sinh ra vitamin D, đảm bảo cho bộ xương thai nhi phát triển.

----------> healthy books <--------

 
Đăng nhập để trả lời
0
51. Khi mang thai có sinh hoạt tình dục được không?

Khi đã có thai, cả hai vợ chồng nên cùng quan tâm, đặc biệt là sinh hoạt tình dục thời kỳ có thai nên được hạn chế cho thật phù hợp với những thay đổi của thời kỳ này. Thời gian đầu khi có thai từ 1-3 tháng, nhau thai còn chưa phát dục trong tử cung, phôi thai sống bám trong tử cung của cơ thể mẹ lỏng lẻo, sự hưng phấn tình dục có thể làm cho tử cung xung huyết và co bóp, có kha năng gây xảy thai. Lúc này cần tuyệt đối tránh sinh hoạt tình dục.

Thời gian giữa, khi có thai 4-6 tháng, nhau thai đã phát triển xong. Người mẹ không bị nghén nữa, việc ăn uống cũng đã trở lại bình thường, việc sinh hoạt tình dục trong thời gian này không gây hại mấy đến thai nhi. Nhưng phải chú ý, không được sinh hoạt quá lâu, quá nhiều lần. Mặt khác do bụng người phụ nữ có thai ngày càng to, khi sinh hoạt tình dục cần hết sức chú ý đến tư thế, tránh đè lên tư cung trong bụng.

Đến thời kỳ cuối khi mang thai 7-9 tháng, lúc này người mẹ cơ bản không có đòi hỏi về tình dục, âm hộ bắt đầu to lên, âm đạo và màng dính tử cung mềm ra và xung huyết, rất dễ bị tổn thương, nhất là âm đạo và tử cung càng cao dễ chảy máu hơn mà việc giao hợp lại dễ đưa vi khuẩn vào đường sinh con, gây nên viêm nhiễm khi sinh con và sau khi sinh con.

Tháng cuối cùng của thời kỳ thai nghén, việc sinh hoạt tình dục vẫn có thể dẫn đến những nguy hiểm như sinh con non, vỡ nước ối và thai chết lưu. Vì thế nên tránh hẳn sinh hoạt tình dục vào những tháng cuối.

52. Giữ gìn bầu vú trong thời kỳ có thai như thế nào?

Vú là cơ quan nuôi sữa sau khi sinh con, có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển bình thường của đứa trẻ, vì vậy cần phải giữ gìn sự khỏe mạnh của bầu vú thật tốt trong giai đoạn có thai.

Mỗi một quả vú có từ 15-20 tuyết sữa, có lỗ thông với đầu vú. Mỗi tuyến lại chia thành hai bộ phận là nang tuyết và ống dẫn. Nang tuyết tiết ra sữa, đưa qua ống dẫn sữa ra ngoài. Giữa các tuyết sữa có nhiều tổ chức sơ, đệm và mỡ, bề mặt được một lớp da bao bọc. Sau khi có thai, thân tuyết sữa bắt đầu lớn lên, bầu vú cương to dần, tuyết mỡ dưới da xung quanh vú cũng bắt đầu to phì ra. Lúc này không được nặn, bóp bầu vú, khi ngủ phải nằm nghiêng hay nằm ngửa, nằm sấp sẽ làm cho bầu vú bị đè ép. Thời kỳ này không được mặc áo trong quá chặt, càng không được bó ngực.

Cho đến những tháng cuối của thời kỳ có thai, bầu vú to hẳn lên, bắt đầu chảy xuống cũng không được thắt chặt coóc xê, để tránh làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tuyết sữa, hoặc làm tắc tuyến sữa khiến tuyến sữa không thông sau khi sinh con. Hơn nữa nên thường xuyên tắm, thay áo trong, giữ sạch bầu vú đặc biệt là trước khi sinh con khoảng ba bốn tháng phải thường xuyên rửa bầu vú bằng nước ấm, lấy khăn bông có xà phòng cọ nhẹ những ghét bẩn trên da rồi rửa sạch. Như vậy vừa giữ vệ sinh cho bầu vú, đồng thời làm tăng sức bền của bề mặt lớp da núm vú để chịu được những lần mút sữa của trẻ. Nếu đầu vú tụt sâu vàp trong, khi cọ rửa, có thể lấy tay kéo nhẹ đầu vú ra ngoài. Những đầu vú tụt sâu thường tích nhiều ghét bẩn, có thể rửa sạch trước những chất nhầy bẩn, làm cho đầu vú mềm đi. Sau đó lấy nước ấm và xà phòng cọ sạch.

Trong thời gian mang thai, nếu thấy đầu vú có những thay đổi bên ngoài hoặc bị đau khác thường nên kịp thời tìm bác sĩ chữa trị. Cấm không được chữa lung tung gây ảnh hưởng đến việc nuôi trẻ bằng sữa mẹ. Ngoài ra cũng cần phải nhắc nhở rằng, có người thấy vú mình nhỏ bèn xoa thuốc phong nhũ xương, có người thấy vú to bèn uống thuốc giảm béo, dù là thuốc phong nhũ xương hay thuốc giảm béo đều chứa một lượng chất kích thích nhất định, dùng không đúng sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của tuyến vú, cho nên không được dùng.

----------> healthy books <---------

 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»