Hình ảnh Nhân Mã trong mỗi con người
Nhân mã- Một trong những hình tượng đặc sắc của thần thoại Hy Lạp. Trong chiêm tinh học phương Tây, Nhân Mã là một chòm sao chiếu mạng thuộc Hoàng Đạo. Những người thuộc cung Nhân Mã thường có cá tính mạnh, luôn khao khát tự do. Bởi vậy, thuở nhỏ, tôi vẫn mường tượng về hỉnh ảnh của những con nhân mã hùng dũng, tay giương cao cung tên, bốn vó ngựa như bay trên sóng cỏ của thảo nguyên bao la. Khi tôi lớn lên, hình ảnh oai hùng của những chiến binh Nhân Mã mờ dần đi. Cho tới khi tôi được đọc cuốn tiểu thuyết “Con nhân mã trong vườn” của Moacyr Sliar, những con Nhân Mã lại trở về trong trí tưởng tượng của tôi, đẹp hơn, gần gũi hơn và mang trên lưng những khát vọng tự do của nhân loại.
Câu chuyện kể về cuộc đời của Guedali Tartakowsky, một con Nhân Mã Do Thái sinh ra trong một gia đình của những người Nga di cư sang Rio Grande do Sul . Nửa trên là người, nửa dưới là ngựa, Guedali mang trong mình mặc cảm về một thân thể dị dạng, sống trong sự cô đơn giữa gia đình, luôn lẩn trốn những con người “đích thực”. Guedali phải từ bỏ cuộc sống cộng đồng, giữa gia đình để trở về với thiên nhiên hoang dã, tìm một cuộc sống tự do. Trên con đường phiêu lưu của mình, Guedali gặp Tita, một con nhân mã cái. Hai Nhân Mã yêu nhau, lấy nhau. Họ tìm đến một bác sĩ thiên tài ở Châu Phi để phẫu thuật chỉnh hình, biến bốn vó ngựa thành cặp chân người. Cuộc phẫu thuật thành công, họ trở thành hai con người bình thường và sống cuộc sống bình thường. Nhưng Guedali vẫn luôn mơ về tiếng đập cánh của những con ngựa thần, vẫn mơ về những ngày phi nước đại ngoài bãi biển. Guedeli đã tìm lại bác sĩ thiên tài với mong muốn được quay về với hình dạng của con nhân mã. Một sự cố đã xảy ra trước buổi phẫu thuật. Trong phòng thí nghiệm của bác sĩ có một con nhân sư cái, Lolah. Con nhân sư cái đem lòng yêu Guedali. Khi bác sĩ đang tiến hành cuộc phẫu thuật, Lolah đã tấn công ông bác sĩ, ngăn ông khỏi ca mổ ghép. Người trợ lý của bác sĩ dùng súng bắn chết con nhân sư. Kết thúc truyện là cuộc sống thanh bình của Guedali bên vợ con và những người bạn. Họ cười nhạo câu chuyện về Nhân Mã như một căn bệnh hoang tưởng của Guedali và bấy giờ chính Guedali cũng băn khoăn, nghi ngờ liệu có phải mình đã từng là một con Nhân Mã hay không nữa.
Khi còn là một con Nhân Mã, Guedali phải sống trong sự cô đơn, dị biệt và luôn khát khao được trở thành người.
Nửa người, nửa ngựa, Guedali là một quái thai trong con mắt của người đời. Khi mới ra đời, cha mẹ anh không giấu nổi sự hãi hùng khi nhìn thấy đứa con dị dạng. Họ xấu hổ về đứa con của mình, phải che giấu, cố giữ bí mật về Guedali trong nông trại của mình. Càng lớn, Guedali càng khao khát có một người bạn để cùng vui chơi trên đồng cỏ. Guedali tưởng tượng về Peri lúc nhìn thấy một thằng bé người Indian lạc vào nông trại. Nỗi cô đơn ấy bắt nguồn từ việc tự ý thức được sự khác biệt của bản thân so với cộng đồng. Mà nhân loại thường độc ác và chẳng dễ gì thông cảm với những kẻ khác mình. Trong sự cô đơn, vẫn thấp thoáng nét kiêu hãnh của con Nhân Mã: “Nét nó được lắm, tóc và mắt đều nâu, rất xinh.” Sự kiêu hãnh của kẻ cô đơn ẩn chứa trong tiếng đàn vĩ cầm của Guedali: “Tôi muốn chơi vĩ cầm. Tôi kéo đàn trên những sườn đồi, trong những đầm lầy với bộ móng ngập trong nước lạnh giá, trong những bụi rậm nơi lá cây rụng xuống hông và dính vào bộ da ướt át của tôi.” Nỗi cô đơn của Guedali đã biến thành mặc cảm khi anh phải theo gia đình tới sống ở thành phố. Trong thành phố, Guedali hàng ngày nhìn trộm một cô gái qua kính viễn vọng. Anh đã viết những bức thư tình dù biết sẽ chẳng bao giờ cô gái đọc được. “Nàng có thấy tôi không? Từ cái sân trời ấy? Nàng có ưa cái bộ mặt của tôi sau lần màn cửa này không? Tôi chạy ù ra chỗ cái gương soi. Không, tôi đâu có xấu xí gì. Mái tóc bờm xờm dễ coi, đôi mắt đẹp, mũi thẳng, cái miệng đầy đặn rõ nét. Chỉ có vài nốt trứng cá trên trán. Tôi thực sự là một chàng trẻ tuổi đẹp trai. Nhưng bên dưới, nhân mã, nhân mã, nhân mã không thể cứu vãn được.” Tơi đây, sự tuyệt vọng trong cô đơn được đẩy tới đỉnh cao. Chỉ có khi tương tư một cô gái, người đàn ông mới nhận thức được tới tận cùng của sự cô đơn. Tới khi ôm trong lòng nỗi thất tình, Guedali mới thấy rằng sự kiêu hãnh về vẻ đẹp trai của mình chẳng thể cứu vãn nổi cái hình hài dị dạng nửa người, nửa ngựa và chắc chắn cô gái chàng yêu sẽ hét lên khi nhìn thấy thân hình ấy. Bấy giờ, Guedali đành phải bỏ thành phố ra đi để tìm về với thiên nhiên, với sự tự do, thoát khỏi căn phòng quen thuộc để lãng quên người con gái. Sự cô đơn chỉ chấm dứt khi Guedali gặp Tita, một con Nhân Mã cái và tìm thấy sự đồng cảm.
Trên hành trình đơn độc của mình, Guedali luôn tìm đủ mọi cách để trở thành người. Gặp một gánh xiếc, Guedali đã phải nói dối rằng thân hình con Nhân Mã là một thân hình giả, rằng cái thân ngựa là người em trai “vừa câm vừa điếc, mặt nó còn bị bỏng hết” và anh trở thành thành viên của gánh xiếc. Nói dối để được làm việc, được sống, tức là Guedali đang khao khát một cuộc sống như con người thực thụ. Sống trong lời nói dối ấy, Guedali “bắt đầu nghĩ rằng mình đã có chỗ đứng trong xã hội loài người. Có móng ngựa hay không móng ngựa, có đuôi hay không có đuôi cũng vậy thôi.” Anh tự an ủi mình trong “tiếng cười của khán giả và tình bạn của đồng nghiệp”. Nhưng thật đáng buồn vì tất cả những cái mà Guedali cho là hạnh phúc ấy chỉ bởi vì những người xung quanh anh cho rằng anh cũng giống họ. Hạnh phúc được xây bằng ảo tưởng cũng mau chóng tan vỡ. Guedali là một con nhân mã nên không thoát nổi những ham muốn bản năng. Anh thèm muốn bà chủ gánh xiếc và trong một đêm, anh không giữ nổi sự thèm muốn ấy nữa, và đã lộ ra mình là một con Nhân Mã thật. Sự sợ hãi của bà ta đẩy Guedali trở về với thực tế về mối mặc cảm dị biệt và anh lại phi đi, rời bỏ xã hội loài người. Hoá ra một kẻ dị biệt không thể chung sống với cộng đồng. Điều ấy thúc đẩy Guedali phải trở thành con người. Điều ấy bắt anh phải liều mạng đánh đổi cuộc sống của mình để có được hình hài con người. Tham gia vào cuộc phẫu thuật cắt bỏ bộ vó ngựa, Guedali có thể chết, nhưng nỗi thèm muốn được sống như con người còn mạnh hơn cả cái chết. Cũng giống như Marquez trong “Trăm năm cô đơn”, Scliar đã khẳng định một điều rằng con người sợ cô đơn, sợ sự dị biệt còn hơn cả cái chết và luôn cố gắng để thoát khỏi nỗi cô đơn tức là tự biến mình giống kẻ khác. Để rồi khi trở thành người, cặp vợ chồng Guedali và Tita vẫn lo sợ con người phát hiện ra họ từng là những con nhân mã.
Phải chăng ẩn chứa trong sự cô đơn và thèm muốn đuợc làm người của Nhân Mã, Scliar đã khắc hoạ tình trạng của người Do Thái trong lòng xã hội Mỹ Latin nói riêng và trên thế giới nói chung. Người ta vẫn khinh miệt người Do Thái và người Do Thái vẫn luôn tranh đấu để xoá bỏ cái khác biệt chủng tộc của họ. Tuy nhiên, tôi tin rằng tầng nghĩa ẩn đằng sau hình ảnh Nhân Mã còn sâu xa hơn thế nữa. Chẳng phải ngẫu nhiên Scliar để cho người mẹ của Guedali luôn nằm mơ thấy tiếng vỗ cánh của con ngựa thần khi thụ thai anh, và cũng chẳng phải vô cớ, tác giả lại viết về những chuỗi ngày tự do của Guedali đẹp tới vậy.
Ngay từ đầu chuyện, Scliar đã viết: “ Tôi sẽ không nói gì đến những con ngựa riêng tư đang phi nước đại bên trong mỗi chúng ta, tôi không biết chúng có tồn tại hay không.” Vậy thì hình ảnh con Nhân Mã thực chất là biểu tượng của sự khát khao tự do. Hình ảnh con Nhân Mã Guedali phi nước đại giữa thảo nguyên, hay trong đêm khuya vắng lặng cứ trở đi trở lại trong câu chuyện. Thứ âm thanh của vó ngựa cứ trở đi trở lại trong đầu Guedali khi anh đã là một con người, khi anh nằm trong vòng tay của vợ hay bất kỳ một người đàn bà nào khác. Phải chăng anh đang tiếc nhớ cái phần ngựa mà anh đã tìm mọi cách để bỏ đi? Phát hiện ra người vợ Tita của mình ngoại tình với con Nhân Mã trẻ tuổi Ricardo, Guedali đã điên cuồng tìm đến ông bác sĩ để phẫu thuật trở lại làm Nhân Mã. Ý muốn thành Nhân Mã lần này tượng trưng cho ham muốn tìm lại phần bản năng của con người đương đại. Trong tiến trình lịch sử của loài người, con người tìm đủ mọi cách, mọi giáo lý, mọi tiện nghi để trút bỏ phần “con”, để rồi khi nhận thấy sự tù túng của cuộc sống văn minh, họ lại muốn tìm lại cái phần súc vật đó. Rõ ràng Scliar mỉm cười đầy mỉa mai cho thân phận của con người: “Một con nhân mã, sau bao nhiêu nỗ lực, đã trở thành một con người; sau đó, hắn bị một cuộc khủng hoảng và quyết định lại trở thành một con nhân mã; rồi thì hắn lại không bếit có thực là hắn muốn thành con nhân mã nữa hay không; trong khi đó, hắn gặp một con nhân sư rồ dại muốn hắn phải biến thành một con nhân sự đực! Thật nực cười! Mất trí kiểu thần thoại!” Liệu có phải con người chỉ tìm được tự do khi quay trở về với phần “con” mà họ vẫn ghê tởm và muốn tiêu diệt bằng được? Tiếc rằng khi đã trở thành người một cách hoàn hảo thì không thể trở lại làm Nhân Mã được nữa. Cuộc phẫu thuật đã không diễn ra và những người xung quanh Guedali tìm đủ mọi cách để thuyết phục anh rằng anh đang hoang tưởng mình là một con Nhân Mã: “Và quả là một khối u não- Tita nói- Khổng lồ! Ông bác sĩ nói chưa bao giờ thấy khối u to đêế thế ở đúng vị trí ấy và với một hình dạng lạ lùng đến thế… Khối u. Một cái khối u có chức năng khiến người ta phải tưởng tượng mình là một con nhân mã.” Xã hội loài người không cho một thành phần trong nó được cái quyêề khác biệt. Bởi vậy Scliar không giấu nổi sự xót xa để Guedali tự nhủ với lòng: “Tôi vẫn còn coi mình là một con nhân mã, nhưng là một con nhân mã đang mỗi lúc một teo đi, mộ con nhân mã mini, một con nhân mã micrô. Thậm chí con vật hư đốn này lại còn chạy trốn tôi, muốn phi nước đại ở đâu đó làm sao tôi biết được. Có lẽ tốt hơn hết là thả cho nó đi, chấp nhận thực tại mà họ đang muốn áp đặt lên tôi: rằng tôi là một con người, rằng những con vật thật thoại đã từng ghi dấu ấn sâu đậm lên cuộc đời tôi thực ra là không tồn tại, chẳng có nhân mã, chẳng có nhân sư, chẳng có ngựa bay nào hết.” Phải, con người mãi mãi không thể quay về với lối sống bản năng, hoang dã được nữa và đành lòng từ bỏ tự do. Nhưng bi kịch của con người đó là vẫn khát khao vươn tới tự do “Như con ngựa có cánh sắp cất vó bay lên về phía những ngọn núi hoan lạc vĩnh hằng, về phía bộ ngực của Abraham, như con ngựa với những bộ móng đang nhảy múa, sẵn sàng phi nước đại qua thảo nguyên, như con nhân mã ở trong vườn, sẵn sàng nhảy qua tường rào để tìm kiếm tự do.”
Trong Triết học Phương Đông, Trang Tử luôn mơ tưởng về hình ảnh của một con chim bằng nương theo gió lốc bay giữa vạn dặm; cho tới chủ nghĩa hiện sinh, triết lý đề cao con người cá nhân; rõ ràng rằng con người luôn khao khát tự do, luôn muốn mình “là Một, là Riêng, là Thứ Nhất”, sẵn sàng tạo ra sự khác biệt với đồng loại để đạt được sự tự tại trong hành động. Trong những năm 50 của thế kỷ XX, ở Tây Âu xuất hiện mốt sống hiện sinh mà người ta vẫn gọi là hippy và bối cảnh của câu chuyện “Con Nhân Mã trong Vườn” tương ứng với khoảng thời gian này. Ảnh hưởng ít nhiều của chủ nghĩa hiện sinh, bằng bút pháp hiện thực huyền ảo đặc sắc, Scliar đã nêu lên bi kịch của mỗi con người: Luôn muốn gạt bỏ bản năng để thành người, nhưng khi thành người lại muốn tự do, muốn trở về với phần “con”, và để rồi lại bị lôi tuột trở lại với xã hội loài người. Như vậy, thực sự, sự phát triển của nhân loại không phải dựa trên sự mâu thuẫn giai cấp mà là sự đấu tranh giữa bản năng và lý trí, giữa “con” và “người”. Chắc chẵn, con người vĩnh viễn sẽ chỉ là con người, không bao giờ có thể trở thành “Người” được bởi trong mỗi chúng ta vẫn ẩn chứa một con Nhân Mã Guedali Tartakowsky.
Nhân mã- Một trong những hình tượng đặc sắc của thần thoại Hy Lạp. Trong chiêm tinh học phương Tây, Nhân Mã là một chòm sao chiếu mạng thuộc Hoàng Đạo. Những người thuộc cung Nhân Mã thường có cá tính mạnh, luôn khao khát tự do. Bởi vậy, thuở nhỏ, tôi vẫn mường tượng về hỉnh ảnh của những con nhân mã hùng dũng, tay giương cao cung tên, bốn vó ngựa như bay trên sóng cỏ của thảo nguyên bao la. Khi tôi lớn lên, hình ảnh oai hùng của những chiến binh Nhân Mã mờ dần đi. Cho tới khi tôi được đọc cuốn tiểu thuyết “Con nhân mã trong vườn” của Moacyr Sliar, những con Nhân Mã lại trở về trong trí tưởng tượng của tôi, đẹp hơn, gần gũi hơn và mang trên lưng những khát vọng tự do của nhân loại.
Câu chuyện kể về cuộc đời của Guedali Tartakowsky, một con Nhân Mã Do Thái sinh ra trong một gia đình của những người Nga di cư sang Rio Grande do Sul . Nửa trên là người, nửa dưới là ngựa, Guedali mang trong mình mặc cảm về một thân thể dị dạng, sống trong sự cô đơn giữa gia đình, luôn lẩn trốn những con người “đích thực”. Guedali phải từ bỏ cuộc sống cộng đồng, giữa gia đình để trở về với thiên nhiên hoang dã, tìm một cuộc sống tự do. Trên con đường phiêu lưu của mình, Guedali gặp Tita, một con nhân mã cái. Hai Nhân Mã yêu nhau, lấy nhau. Họ tìm đến một bác sĩ thiên tài ở Châu Phi để phẫu thuật chỉnh hình, biến bốn vó ngựa thành cặp chân người. Cuộc phẫu thuật thành công, họ trở thành hai con người bình thường và sống cuộc sống bình thường. Nhưng Guedali vẫn luôn mơ về tiếng đập cánh của những con ngựa thần, vẫn mơ về những ngày phi nước đại ngoài bãi biển. Guedeli đã tìm lại bác sĩ thiên tài với mong muốn được quay về với hình dạng của con nhân mã. Một sự cố đã xảy ra trước buổi phẫu thuật. Trong phòng thí nghiệm của bác sĩ có một con nhân sư cái, Lolah. Con nhân sư cái đem lòng yêu Guedali. Khi bác sĩ đang tiến hành cuộc phẫu thuật, Lolah đã tấn công ông bác sĩ, ngăn ông khỏi ca mổ ghép. Người trợ lý của bác sĩ dùng súng bắn chết con nhân sư. Kết thúc truyện là cuộc sống thanh bình của Guedali bên vợ con và những người bạn. Họ cười nhạo câu chuyện về Nhân Mã như một căn bệnh hoang tưởng của Guedali và bấy giờ chính Guedali cũng băn khoăn, nghi ngờ liệu có phải mình đã từng là một con Nhân Mã hay không nữa.
Khi còn là một con Nhân Mã, Guedali phải sống trong sự cô đơn, dị biệt và luôn khát khao được trở thành người.
Nửa người, nửa ngựa, Guedali là một quái thai trong con mắt của người đời. Khi mới ra đời, cha mẹ anh không giấu nổi sự hãi hùng khi nhìn thấy đứa con dị dạng. Họ xấu hổ về đứa con của mình, phải che giấu, cố giữ bí mật về Guedali trong nông trại của mình. Càng lớn, Guedali càng khao khát có một người bạn để cùng vui chơi trên đồng cỏ. Guedali tưởng tượng về Peri lúc nhìn thấy một thằng bé người Indian lạc vào nông trại. Nỗi cô đơn ấy bắt nguồn từ việc tự ý thức được sự khác biệt của bản thân so với cộng đồng. Mà nhân loại thường độc ác và chẳng dễ gì thông cảm với những kẻ khác mình. Trong sự cô đơn, vẫn thấp thoáng nét kiêu hãnh của con Nhân Mã: “Nét nó được lắm, tóc và mắt đều nâu, rất xinh.” Sự kiêu hãnh của kẻ cô đơn ẩn chứa trong tiếng đàn vĩ cầm của Guedali: “Tôi muốn chơi vĩ cầm. Tôi kéo đàn trên những sườn đồi, trong những đầm lầy với bộ móng ngập trong nước lạnh giá, trong những bụi rậm nơi lá cây rụng xuống hông và dính vào bộ da ướt át của tôi.” Nỗi cô đơn của Guedali đã biến thành mặc cảm khi anh phải theo gia đình tới sống ở thành phố. Trong thành phố, Guedali hàng ngày nhìn trộm một cô gái qua kính viễn vọng. Anh đã viết những bức thư tình dù biết sẽ chẳng bao giờ cô gái đọc được. “Nàng có thấy tôi không? Từ cái sân trời ấy? Nàng có ưa cái bộ mặt của tôi sau lần màn cửa này không? Tôi chạy ù ra chỗ cái gương soi. Không, tôi đâu có xấu xí gì. Mái tóc bờm xờm dễ coi, đôi mắt đẹp, mũi thẳng, cái miệng đầy đặn rõ nét. Chỉ có vài nốt trứng cá trên trán. Tôi thực sự là một chàng trẻ tuổi đẹp trai. Nhưng bên dưới, nhân mã, nhân mã, nhân mã không thể cứu vãn được.” Tơi đây, sự tuyệt vọng trong cô đơn được đẩy tới đỉnh cao. Chỉ có khi tương tư một cô gái, người đàn ông mới nhận thức được tới tận cùng của sự cô đơn. Tới khi ôm trong lòng nỗi thất tình, Guedali mới thấy rằng sự kiêu hãnh về vẻ đẹp trai của mình chẳng thể cứu vãn nổi cái hình hài dị dạng nửa người, nửa ngựa và chắc chắn cô gái chàng yêu sẽ hét lên khi nhìn thấy thân hình ấy. Bấy giờ, Guedali đành phải bỏ thành phố ra đi để tìm về với thiên nhiên, với sự tự do, thoát khỏi căn phòng quen thuộc để lãng quên người con gái. Sự cô đơn chỉ chấm dứt khi Guedali gặp Tita, một con Nhân Mã cái và tìm thấy sự đồng cảm.
Trên hành trình đơn độc của mình, Guedali luôn tìm đủ mọi cách để trở thành người. Gặp một gánh xiếc, Guedali đã phải nói dối rằng thân hình con Nhân Mã là một thân hình giả, rằng cái thân ngựa là người em trai “vừa câm vừa điếc, mặt nó còn bị bỏng hết” và anh trở thành thành viên của gánh xiếc. Nói dối để được làm việc, được sống, tức là Guedali đang khao khát một cuộc sống như con người thực thụ. Sống trong lời nói dối ấy, Guedali “bắt đầu nghĩ rằng mình đã có chỗ đứng trong xã hội loài người. Có móng ngựa hay không móng ngựa, có đuôi hay không có đuôi cũng vậy thôi.” Anh tự an ủi mình trong “tiếng cười của khán giả và tình bạn của đồng nghiệp”. Nhưng thật đáng buồn vì tất cả những cái mà Guedali cho là hạnh phúc ấy chỉ bởi vì những người xung quanh anh cho rằng anh cũng giống họ. Hạnh phúc được xây bằng ảo tưởng cũng mau chóng tan vỡ. Guedali là một con nhân mã nên không thoát nổi những ham muốn bản năng. Anh thèm muốn bà chủ gánh xiếc và trong một đêm, anh không giữ nổi sự thèm muốn ấy nữa, và đã lộ ra mình là một con Nhân Mã thật. Sự sợ hãi của bà ta đẩy Guedali trở về với thực tế về mối mặc cảm dị biệt và anh lại phi đi, rời bỏ xã hội loài người. Hoá ra một kẻ dị biệt không thể chung sống với cộng đồng. Điều ấy thúc đẩy Guedali phải trở thành con người. Điều ấy bắt anh phải liều mạng đánh đổi cuộc sống của mình để có được hình hài con người. Tham gia vào cuộc phẫu thuật cắt bỏ bộ vó ngựa, Guedali có thể chết, nhưng nỗi thèm muốn được sống như con người còn mạnh hơn cả cái chết. Cũng giống như Marquez trong “Trăm năm cô đơn”, Scliar đã khẳng định một điều rằng con người sợ cô đơn, sợ sự dị biệt còn hơn cả cái chết và luôn cố gắng để thoát khỏi nỗi cô đơn tức là tự biến mình giống kẻ khác. Để rồi khi trở thành người, cặp vợ chồng Guedali và Tita vẫn lo sợ con người phát hiện ra họ từng là những con nhân mã.
Phải chăng ẩn chứa trong sự cô đơn và thèm muốn đuợc làm người của Nhân Mã, Scliar đã khắc hoạ tình trạng của người Do Thái trong lòng xã hội Mỹ Latin nói riêng và trên thế giới nói chung. Người ta vẫn khinh miệt người Do Thái và người Do Thái vẫn luôn tranh đấu để xoá bỏ cái khác biệt chủng tộc của họ. Tuy nhiên, tôi tin rằng tầng nghĩa ẩn đằng sau hình ảnh Nhân Mã còn sâu xa hơn thế nữa. Chẳng phải ngẫu nhiên Scliar để cho người mẹ của Guedali luôn nằm mơ thấy tiếng vỗ cánh của con ngựa thần khi thụ thai anh, và cũng chẳng phải vô cớ, tác giả lại viết về những chuỗi ngày tự do của Guedali đẹp tới vậy.
Ngay từ đầu chuyện, Scliar đã viết: “ Tôi sẽ không nói gì đến những con ngựa riêng tư đang phi nước đại bên trong mỗi chúng ta, tôi không biết chúng có tồn tại hay không.” Vậy thì hình ảnh con Nhân Mã thực chất là biểu tượng của sự khát khao tự do. Hình ảnh con Nhân Mã Guedali phi nước đại giữa thảo nguyên, hay trong đêm khuya vắng lặng cứ trở đi trở lại trong câu chuyện. Thứ âm thanh của vó ngựa cứ trở đi trở lại trong đầu Guedali khi anh đã là một con người, khi anh nằm trong vòng tay của vợ hay bất kỳ một người đàn bà nào khác. Phải chăng anh đang tiếc nhớ cái phần ngựa mà anh đã tìm mọi cách để bỏ đi? Phát hiện ra người vợ Tita của mình ngoại tình với con Nhân Mã trẻ tuổi Ricardo, Guedali đã điên cuồng tìm đến ông bác sĩ để phẫu thuật trở lại làm Nhân Mã. Ý muốn thành Nhân Mã lần này tượng trưng cho ham muốn tìm lại phần bản năng của con người đương đại. Trong tiến trình lịch sử của loài người, con người tìm đủ mọi cách, mọi giáo lý, mọi tiện nghi để trút bỏ phần “con”, để rồi khi nhận thấy sự tù túng của cuộc sống văn minh, họ lại muốn tìm lại cái phần súc vật đó. Rõ ràng Scliar mỉm cười đầy mỉa mai cho thân phận của con người: “Một con nhân mã, sau bao nhiêu nỗ lực, đã trở thành một con người; sau đó, hắn bị một cuộc khủng hoảng và quyết định lại trở thành một con nhân mã; rồi thì hắn lại không bếit có thực là hắn muốn thành con nhân mã nữa hay không; trong khi đó, hắn gặp một con nhân sư rồ dại muốn hắn phải biến thành một con nhân sự đực! Thật nực cười! Mất trí kiểu thần thoại!” Liệu có phải con người chỉ tìm được tự do khi quay trở về với phần “con” mà họ vẫn ghê tởm và muốn tiêu diệt bằng được? Tiếc rằng khi đã trở thành người một cách hoàn hảo thì không thể trở lại làm Nhân Mã được nữa. Cuộc phẫu thuật đã không diễn ra và những người xung quanh Guedali tìm đủ mọi cách để thuyết phục anh rằng anh đang hoang tưởng mình là một con Nhân Mã: “Và quả là một khối u não- Tita nói- Khổng lồ! Ông bác sĩ nói chưa bao giờ thấy khối u to đêế thế ở đúng vị trí ấy và với một hình dạng lạ lùng đến thế… Khối u. Một cái khối u có chức năng khiến người ta phải tưởng tượng mình là một con nhân mã.” Xã hội loài người không cho một thành phần trong nó được cái quyêề khác biệt. Bởi vậy Scliar không giấu nổi sự xót xa để Guedali tự nhủ với lòng: “Tôi vẫn còn coi mình là một con nhân mã, nhưng là một con nhân mã đang mỗi lúc một teo đi, mộ con nhân mã mini, một con nhân mã micrô. Thậm chí con vật hư đốn này lại còn chạy trốn tôi, muốn phi nước đại ở đâu đó làm sao tôi biết được. Có lẽ tốt hơn hết là thả cho nó đi, chấp nhận thực tại mà họ đang muốn áp đặt lên tôi: rằng tôi là một con người, rằng những con vật thật thoại đã từng ghi dấu ấn sâu đậm lên cuộc đời tôi thực ra là không tồn tại, chẳng có nhân mã, chẳng có nhân sư, chẳng có ngựa bay nào hết.” Phải, con người mãi mãi không thể quay về với lối sống bản năng, hoang dã được nữa và đành lòng từ bỏ tự do. Nhưng bi kịch của con người đó là vẫn khát khao vươn tới tự do “Như con ngựa có cánh sắp cất vó bay lên về phía những ngọn núi hoan lạc vĩnh hằng, về phía bộ ngực của Abraham, như con ngựa với những bộ móng đang nhảy múa, sẵn sàng phi nước đại qua thảo nguyên, như con nhân mã ở trong vườn, sẵn sàng nhảy qua tường rào để tìm kiếm tự do.”
Trong Triết học Phương Đông, Trang Tử luôn mơ tưởng về hình ảnh của một con chim bằng nương theo gió lốc bay giữa vạn dặm; cho tới chủ nghĩa hiện sinh, triết lý đề cao con người cá nhân; rõ ràng rằng con người luôn khao khát tự do, luôn muốn mình “là Một, là Riêng, là Thứ Nhất”, sẵn sàng tạo ra sự khác biệt với đồng loại để đạt được sự tự tại trong hành động. Trong những năm 50 của thế kỷ XX, ở Tây Âu xuất hiện mốt sống hiện sinh mà người ta vẫn gọi là hippy và bối cảnh của câu chuyện “Con Nhân Mã trong Vườn” tương ứng với khoảng thời gian này. Ảnh hưởng ít nhiều của chủ nghĩa hiện sinh, bằng bút pháp hiện thực huyền ảo đặc sắc, Scliar đã nêu lên bi kịch của mỗi con người: Luôn muốn gạt bỏ bản năng để thành người, nhưng khi thành người lại muốn tự do, muốn trở về với phần “con”, và để rồi lại bị lôi tuột trở lại với xã hội loài người. Như vậy, thực sự, sự phát triển của nhân loại không phải dựa trên sự mâu thuẫn giai cấp mà là sự đấu tranh giữa bản năng và lý trí, giữa “con” và “người”. Chắc chẵn, con người vĩnh viễn sẽ chỉ là con người, không bao giờ có thể trở thành “Người” được bởi trong mỗi chúng ta vẫn ẩn chứa một con Nhân Mã Guedali Tartakowsky.
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh