Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Từ bến sông Thương (Hồi ký Anh Thơ) (trich) 🔒

0 trả lời, 2.030 lượt xem — Trang 1 / 1
TỪ BẾN SÔNG THƯƠNG
(Hồi ký của Anh Thơ)
Nhà xuất bản Văn học, Hà nội, 1986
Anh Thơ sinh 28-1-1918, mất 3-2005
Trích chương 5 (trang 94  105), Chương 11, 12 (trang 194  243)
Chương 5
(trang 94-105)
- Nguyễn Bính
Một hôm anh Ngọc, anh con ông bác tôi ở dưới phố Thọ Xương (thị xã Bắc Giang) lên Thùng Đấu, giấu bà tôi, đưa cho tôi một phong thư của thi sĩ B. một người cũng được giải thưởng thơ của Tự Lực Văn Đoàn trước tôi một năm. Một thi sĩ đang nổi liếng về những bài thơ tả tình quê, người quê của anh. Trong thơ anh hết lời ca ngợi tôi đã có những bài thơ ta thôn quê rất đẹp. Rồi ngỏ cảm tình của anh với tôi, người không hẹn mà thành đồng điệu. Anh hứa sẽ trao đổi những suy tư của anh về thơ, với tư cách là một người bạn chân thành.
Đọc thơ B., tôi rất xúc động vì lời lẽ thiết tha đầy tình cảm của một người, dẫu sao cũng đi trước tôi một bước. Lại thêm lòng cảm mến thơ anh đã lâu, tuy vậy tôi cũng ngại giao thiệp với anh, vì sợ bà tôi, sợ phép nhà nghiêm ngặt. Nhưng ông anh họ tôi thấy mình bỗng có vinh dự được một đương kim thi sĩ, nhờ làm môi giới cho em gái, nên anh sốt sắng giục tôi: “Phải trả lời người ta, vì “người ta” dẫu sao cũng nổi tiếng hơn mình, thế mà “người ta” đã hạ cố cầu thân với mình thì không nên im lặng mà bất lịch sự. Rồi anh hứa sẽ nhận thư cho tôi thì bà tôi không biết được. Với lại anh bảo tôi: “Có các cụ cổ hủ thì mới không công nhận tình giao hữu giữa trai gái; chứ mình là người thời mới, phải biết cái gì lợi ích cho mình thì mình làm. Anh chắc rằng em quen B. thì thơ em sẽ hay hơn”. Tôi nghe lời anh Ngọc, viết thư cảm ơn B., đồng thời ngỏ cảm tình với thơ anh, tỏ ý được kết bạn thơ với anh một hân hạnh, mong anh sẽ giúp đỡ tôi trên đường nghệ thuật lâu dài. B. nhận thơ tôi lập tức trả lời ngay.
Anh viết là anh rất hạnh phúc được là “bạn thơ” của tôi. Rồi anh gửi tập thơ của anh đã in tặng tôi, lại còn làm riêng thơ cho tôi nữa. Anh gọi tôi là “công chúa của thơ anh, khiến tôi vừa thích thú vừa tự hào.
Dần dần, thư B. đi vào tâm sự, anh than thở với tôi anh yêu mà chả được yêu (lúc đó anh đang viết truyện “Ngậm miệng” đăng từng kỳ trên báo về mối thất tình của anh). Tôi đọc, rất thương anh, thầm trách cô gái nào đã là anh đau khổ như vậy, thật là nhẫn tâm.
Chiều ấy tôi bỗng thấy nhớ anh tha thiết. Hay đúng hơn, nhớ thư anh, thương lời tâm sự của anh. Bỗng có tiếng gọi cổng (cổng nhà tôi bao giờ cũng đóng kín).
Ơn ra mở, Lệ Hoa tha thướt đi vào. Cô nàng được yêu có khác, cặp mắt tròn đen sáng ngời. Cặp môi tươi xưa kia rất kin đáo, nay vừa trông thấy tôi đã mở rộng nụ cười. Tôi mừng quá, đùa bạn:
- Sao mà Nàng thơ hôm nay đẹp và mới thế. Mới từ màu áo tím mới tinh, đẹp từ giải khăn san cứ phất phới như làn sương huyền ảo. Thảo nào mà Tiêu lang chả mê!
Lệ Hoa đập vào vai tôi một cái thân ái:
- Chưa bằng “ai” được người ta “mê” tặng thơ công khai trên báo đây. Muốn tử tế thì “xưng” hết ra! “Xưng” từ lúc tội mời bắt đầu, “xưng” cho tới bây giờ, lúc “người ta” phải nhắn nhe lên báo.
Rồi nàng đưa tờ Tiểu thuyết Thứ Năm có đăng một bài thơ để tặng “Nàng thơ áo trắng Sông Thương” và trừng mắt nhìn tôi:
- Thế là dấu nhé! Người ta vả Thanh Ngà có dấu mình không?
Tôi vội đón tờ báo ở trong tay Lệ Hoa hồi hộp đọc:
VẨN VƠ
Xa gửi nhà thơ áo trắng Sông Thương
Đã quyết không... không... được một ngày
Rồi yêu mất cả buổi chiều nay.
Chiều nay bướm trắng ra nhiều quá!
Không biết chiều mưa hay nắng đây?
Lâu nay tôi thấy ở lòng tôi,
Như có tơ vương đến một người.
Người ấy... nhưng mà tôi chả nói,
Tôi đành “ngậm miệng” nữa mà thôi.
Đọc được hai đoạn, tôi bâng khuâng đặt tờ báo xuống bàn, cho lòng được trấn tĩnh. Lệ Hoa chăm chăm theo dõi cử chỉ của tôi. Chị bỗng ôm vai tôi:
- Mừng bạn nhé! Không nói mình cũng biết rồi. Thôi thế là rất đẹp! Tất cả ba chúng mình đều được mãn nguyện, đều cùng có người yêu là thi sĩ. Nhưng đọc hết đi chứ?
Chị nâng tờ báo đưa cho tôi, nhưng tôi ngượng không muốn đọc. Bỗng lệ Hoa ngạc nhiên bảo tôi:
- Sao đoạn cuối lại buồn thế này!
- Chị đọc cho tôi nghe:
Oán đã bao ta hận đã nhiều
Cớ sao tôi vẫn chả thôi yêu?
Tôi đi mãi mãi con đường ấy
Qua lại luôn luôn sáng lại chiều?
Tôi tâm sự với bạn:
- Là vì mình chưa đáp lại tình yêu của thi sĩ. Mình còn nghi ngại. Ở đời thiếu gì người giả dối.
- Nhưng thi sĩ thì không giả dối được. Vì nói dối trong thơ là lộ tẩy ngay! Bài này chân thành đấy chứ!
- Nhưng mình sợ gia đình không bằng lòng, sợ các cụ cho là mình lãng mạn, tự do...
- Lãng mạn hay tự do cũng là đi tìm hạnh phúc. Miễn là yêu cho đứng đắn và đàng hoàng.
- Nhưng đứng đắn thế nào được, nếu không có người mối lái?
Lệ Hoa bật cười:
- Thế mà cũng gọi là con người có tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng? Mối lái cho tình yêu của những người như chúng ta là những vần thơ là tiếng sáo tha thiết và chân thành.
Nàng bỗng ngừng lại, hai má đỏ như quả đào Lạng Sơn, tôi được dịp lại trêu:
- Ai có được trái tim dễ rung động vì tiếng sáo chân thành kia, chứ tôi, thơ vẫn chưa đủ.
Lệ Hoa vội đánh trống lảng:
- Thôi, hãy kết luận chuyện Anh Thơ. Chúng mình chả đã từng nói với nhau “phi nghệ sĩ bất thành phu phụ”, thì bây giờ thì chúng mình yên phận rồi, còn Anh Thơ, chớ để hồn thơ lẻ loi mãi? Anh Thơ phải thấy dạo này bạn có bài thơ nào đâu?
Tôi phì cười:
- B. mà nghe Lệ Hoa nói thế này, chắc là anh chàng mang ơn bạn lắm. Hãy để mình nghĩ xem.
***
Cái tin Lệ Hoa tự tử như sét đánh ngang tai tôi. Vừa mới hôm nào Lệ Hoa còn còn rất đẹp, rất tươi cười, đùa yêu tôi về chuyện B., tại sao nàng lại tự tử? Nhưng trước khi tự tử cũng chẳng nói gì với chúng tôi. Vội vàng xin phép bà, tôi khoác chiếc áo dài, xuống nhà thương tỉnh thăm bạn.
Lệ Hoa vừa được xe vào phòng cấp cứu của bệnh viện để rửa ruột vì nàng uống dấm thang trộn thuốc phiện từ nửa đêm. Khi nàng giẫy giụa mạnh quá, bà chị biết nên đưa ngay đi bệnh viện. Bây giờ không ai được vào phòng cấp cứu, để bác sĩ tập trung cứu chữa.
Ngồi ở phòng đợi có đủ mặt tôi quen ở tao đàn Sông Thương. Anh Quỳ, chị Tú Phượng, Thanh Ngà, Đào Dương, Mộng Lan... ai nấy đều đưa khăn lau nước mắt thương Lệ Hoa. Ngoài các bạn thơ của nàng, còn những bạn cùng cân gạo với Lệ Hoa. Những ông phán toà sứ, ông giáo trường học tỉnh, bạn với anh Lệ Hoa. Những bà tham, bà đốc chủ các cửa hiệu, bạn hàng của chị Lệ Hoa. Những cụ cả, cụ Tư, cậu ấm, bạn với bố mẹ Lệ Hoa. Nghĩa là hầu hết những người có vai vế ở cái thị xã nhó bé này đều lần lượt kéo nhau đến bệnh viện tỉnh.
Thương Lệ Hoa cũng có, tò mò cũng có. Ở một tỉnh lẻ làm ăn nền nếp, mà lại xáy ra một vụ tự tử thì chỉ có tự tử về tình. Họ bàn tán, thầm thì, họ nói to lên những ý nghĩ trong đầu. Tuy rằng ai cũng có cô những cái chép miệng, thở dài thương xót Lệ Hoa. Riêng các bạn ở nhóm Anh Hoa là ngồi lặng lẽ. Tuy chưa hiểu nguyên nhân, tôi cũng kinh trọng sự lặng lẽ đó, đến ngồi trầm ngâm bên Thanh Ngà. Ngà có vẻ tư lự nhiều hơn cả. Chị suy nghĩ điều gì, có vẻ day dứt lắm. Thi sĩ Đào Dương bỗng hỏi:
- Đã đánh điện cho Quảng về chưa?
Tôi đã hơi hiểu lý do vì sao Lệ Hoa tự tử. Đã từ lâu tôi cảm thấy tình yêu đó có một cái gì chênh lệch. Quảng là một kỹ sư tương lai, đang học trường Cao đẳng Hà nội. Lệ Hoa chỉ là một cô gái bình thường, buôn bán ở tỉnh nhỏ. Tuy nàng có tài, có duyên nhưng thiếu một nhan sắc rực rỡ để xứng đáng với kỹ sư chăng, hoặc gia đình Lệ Hoa chỉ là một gia đình buôn bán nhỏ, không sang giàu bằng gia đình Thanh Ngà, nên thiếu môn đăng hộ đối? Tôi cứ ngồi hỏi thầm mình như vậy.
Chung quanh người ta vẫn thì thầm bàn tán. Nhiều bạn khen Lệ Hoa mới mười chín tuổi đầu, đã làm chủ một cửa hàng, tiện thu, chi kể hàng nghìn... Nàng là một con người thật nết na, thuỳ mị, biết kính trên nhường dưới. Lệ Hoa đã khéo buôn bán, lại khéo cả nấu nướng, bánh trái, cỗ bàn, may thêu, thôi thì đủ cả công dung ngôn hạnh, ít ai bì. Nhưng... đến chữ “nhưng” các bà hạ thấp giọng nói vào tai nhau, rồi chỉ nghe loáng thoáng họ kết tội sách báo lãng mạn, kết tội phong trào “vui vẻ trẻ trung” đã làm hại cả một cô gái đức hạnh, nền nếp nhất.
Bỗng dưng, cửa phòng cấp cứu hé mở. Một bà to béo thò khuôn mặt rất tròn đầm đìa nước mắt, một khuôn mặt rất giống Lệ Hoa nhưng già, xấu hơn, miệng vừa mếu, vừa cố gượng cười:
- Chúng tôi xin cảm tạ thịnh tình của quý ông, quý bà, anh, chị đã đến đây thăm hỏi em nó. Nhờ trời, nhờ nhờ bác sĩ, em nó có thể được cứu sống. Bây giờ thì chưa được phép tiếp ai vào thăm. Vậy gia đình “kính xin lỗi” tất cả quý vị và xin mời tất cả lại nhà. Khi nào em nó bình thường trở lại, xin đến từng nhà quý vị để cảm tạ những tấm thịnh tình.
Mặc dầu bà ấy đã nói thế, nhiều người vẫn chưa muốn ra về. Ai cũng muốn được nhìn tận mắt con người bất hạnh mà họ quan tâm. Có một số người lấy cớ thân tình, dúi quà bánh vào tay bà béo, có lẽ là chị Lệ Hoa và bước cả một chân vào phòng cấp cứu.
Nhưng bà ta đã thụt nhanh vào, đóng vội cánh cửa. Mọi người đành kéo nhau về.
Tôi định kéo Thanh Ngà lại hỏi chuyện, nhưng Thanh Ngà xua tay, bảo tôi hãy cứ về. Vì câu chuyện dài lắm, tôi đành ra về, lòng thương Lệ Hoa day dứt.
Giỏ mùa đông lại nổi lên, xao xác suốt dọc đường đi. Lá phượng vĩ vàng lăn tăn rụng xuống nón, xuống đầy vai áo trắng của tôi. Tự nhiên lòng bâng khuâng, tôi nhớ đến bốn câu thơ, ba đứa hoạ với nhau:
Gió thổi dài nỗi nhớ (Thanh Ngà)
Lá phượng lăn tăn (Anh Thơ)
Hẹn về cùng sương gió (Lệ Hoa)
Nàng thu ơi nhớ chăng? (Anh Thơ)
Nhân mối hận tình của Lệ Hoa, tôi bỗng nhớ đến mối tình của tôi với B. Tự thiên tôi thấy thương B. vì nghĩ Lệ Hoa yêu mà chỉ được người yêu lại. Còn mình, tuy nhận tình yêu, còn cứ bắt người yêu phải mối lái, đường hoàng mới cho gặp mặt. Có phải mình đã không tin người yêu chăng?” Nhỡ B. tự ái thi sao? Có lẽ cũng phải nhắn B. lên cho anh gặp mình. Kẻo đề anh khổ sở quá. Thư nào cũng có vết nước mắt nhòe rơi lên chữ, tôi vừa về đến nhà, đã thấy anh Ngọc chờ ở cổng, vẻ băn khoăn, sốt ruột. Anh nói nhỏ:
- B. từ Hà nội lên đây, đợi gặp cô cho được. Tôi đành hẹn anh ấy cứ ra bến Sông Thương. Cô nên đi với tôi cho anh ấy gặp, năm phút thôi.
Tôi bàng hoàng cả người. Nửa vui vì vừa nghĩ đến việc gặp B., nửa sợ phép nhà. Sợ nhất là mất giá trị của người con gái. Vì hẹn trai giữa bến giữa bờ, lỡ gặp người quen thì người ta cho mình là hạng người gì?
Đoán được tâm tư tôi, anh Ngọc nói:
- Hai người yêu nhau qua thư, và thơ thật cũng quá mơ mộng. Nay đã đến lúc phải gặp nhau, để bàn việc trăm năm. Anh sẽ hỏi kỹ về gia thế B. Rồi anh sẽ về tận nhà B. để điều tra. Nếu là một gia đình nền nếp, bác gái sẽ làm mối cho em.
Tôi ngượng chín cả người. Tuy trong thư tôi đã mạnh bạo nói thẳng chuyện yêu đương với B. Nhưng trực tiếp gặp người yêu thì cứ cảm thấy mình đã làm trái lễ giáo. Anh Ngọc không cho tôi chần chừ lâu, anh nói với bà tôi, là bác gái tôi muốn nhờ tôi xuống cắt cho bác cái áo. Rồi anh ta đẩy tôi đi:
- Mau lên, kẻo anh chờ em lâu rồi, bác đợi!
Gió may vẫn thổi dài suốt dọc đường đi. Trời hơi u ám, lòng tôi càng bâng khuâng - chả gì mình cũng có một đương kim thi sĩ lặn lội từ Hà Nội lên tìm. Chàng đang đứng đợi lên sông. Ôi! Người trong mộng người lý tưởng, người tôi yêu bằng cả trái tim thơ tha thiết. Tôi đang là nữ chúa ngự trong những vần thơ đẹp của chàng. Tôi lẩm nhẩm đọc bài thơ “Công chúa hoa và trạng nguyên nguyên bướm” của anh mới làm gửi chúng tôi:
Em ạ, ngày xưa vua nước bướm
Kén văn tài mở Điệp đăng khoa...
Và tôi lại nghĩ đến nỗi bất hạnh của Lệ Hoa. Chắc Lệ Hoa sống lại hẳn sẽ thù ghét đàn ông, tôi sẽ đọc những vần thơ “chung thuỷ” của B. để lấy lại lòng tin yêu đời cúa bạn. Rồi tôi như nhìn thấy hạnh phúc tương lai ngay trước mặt, với trí tưởng tượng sắp đặt của tôi. Sau khi chúng tôi gặp nhau bàn định rồi, B. sẽ về nhà lo việc cưới tôi. Chúng tôi sẽ nghiêm nhiên là một cặp vợ chồng tài tử, như ông Nguyễn Kiều và bà Đoàn Thị Điểm. Chúng tôi sẽ cùng làm chung một tập thơ tình yêu tập thơ ấy sẽ là giai thoại về tình yêu của chúng tôi và là một sự nghiệp lớn về văn học, đề lại muôn đời. Còn bây giờ thì... tôi trớ về với hiện tại. Tôi nhớ lại Cảnh Kim Trọng “lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng” gặp Thuý Kiều. Chàng là một thi sĩ thủ đô, hẳn là hết sức phong nhã, biết mọi kiểu cách lịch sự để quý yêu tôi và tự nhiên tôi thấy mặc cảm, vì mình dầu sao cũng chỉ là một cô gái quê.
Bỗng từ quán nước đầu cầu Sông Thương, một anh chàng thân hình lùn ngắn, cái đầu hơi to, sù lên những tóc, tay vất vội chiếc điếu cày đang hút dở, xông lại trước mặt tôi, nhe hai hàm răng đen cáu nhựa thuốc, cười sát mặt tôi:
- Ôi nàng thơ áo trắng! Ôi người đẹp Sông Thương! Tôi không thể đứng một mình dưới gốc cây gạo cô quạnh, đợi em được, phải ra đây đón em. Ôi em của tôi!
Rồi anh chàng cầm lấy tay tôi, không hề thấy nỗi sửng sốt bàng hoàng và sự hãi của tôi. Anh Ngọc sợ mọi người qua cầu để ý, vội nhắc khéo B.:
- Ta hãy ra khỏi đầu cầu đã!
Rồi anh tôi đẩy tôi lên trước, dắt tay B. đi sau. Có một cái gì như thất vọng, làm nghẹn cổ tôi. Ôi chàng Kim phong nhã! Ôi người tình lý tưởng, chàng thi sĩ hào hoa của Hà Nội đấy ư? Tự dưng tôi đứng phắt lại, bảo anh tôi đừng đi nữa. Anh tôi hiểu ý tôi, và cũng có vẻ khó chịu với thái độ sỗ sàng của tôi. Bỗng tôi thấy một niềm đau khổ tủi thân dâng đầy khoé mắt B. Tự nhiên tôi lại thấy thương B. Một tiếng trách thầm vang tự thâm tâm: “Cô có chuộng hình thức không? Anh chàng người có lùn, đầu có bù, răng có cáu nhựa thuốc, nhưng thơ anh hay, cô cũng đã yêu anh. Cô phải giữ lời hứa của cô”.
Rồi như một cái máy, tôi theo anh tôi ngồi xuống cạnh B. Dòng Sông Thương trong xanh chảy ngang trước mặt. nhưng tôi không muốn soi bóng tôi chung với bóng B. Một tiếng than dài, tự đáy lòng vọng lên:
“Đây là một người lạ! Lạ hoàn toàn từ hình thức đến tinh thần. Ta chưa bao giờ yêu con người này. Ta chỉ yêu thư và thơ. Ta thất vọng rồi. Ôi giấc mộng yêu đương của ta! Mộng lại hoàn là mộng!”
Tôi cứ thẫn thờ nhìn dòng nước với những nghĩ đen tối như vậy, không để ý đến anh Ngọc đang thăm dò gia thế của B. Lừa lúc anh tôi chạy xuống vệ sông. B. ngồi sát lại, bảo tôi:
- Tình yêu thi cần gì phải mối lái; cưới xin! Sao em không nghĩ yêu nhau thì theo nhau đã sao?
Chưa kịp để tôi trả lời, một cái hôn bất ngờ chộp lên má tôi. Tôi đứng phắt lên, thất thanh gọi anh tôi.
Anh tôi cũng đã nghe và nhìn thấy hành động của B. Nét mặt hầm hầm, anh bảo tôi:
- Về đi kẻo thấy lâu, bà lại mắng.
Rồi không thèm nói gì với B., anh tôi khoát tay và cùng tôi ra về. Dọc đường anh tôi lẩm bẩm:
- Thơ với người thật khác xa. Vô phúc mà em nghe lời anh ta, ít lâu anh ta chán rồi thi đời em chỉ có khổ nhục mà thôi. - Anh lắc đầu nói tiếp - Không trách các cụ rất sợ mấy anh làm văn, làm báo. Anh hỏi ra, anh ta chả có một nghề ngỗng gì. Chỉ có mấy câu thơ, thế thôi; cho nên cũng chả dám nghĩ cưới vợ đàng hoàng. Chỉ có phất phơ, nếu cô nào dại, mê theo B. khi B. chán thì chỉ có khổ vào thân.
Tôi cay đắng và gần như tủi nhục, thầy mình như rơi từ trên trời xuống đất. Nhớ lại lời bà, lời bố dạy: người tử tế, đứng đắn đâu có thế này May mà tôi vẫn thận trọng giữ gìn, không bao giờ hẹn hò, đi riêng với B...
Anh tôi lại nói:
- Cho dù anh ta có kiếm được người tử tế, mối lái đi nữa, anh chắc chú và bà cũng chẳng gả em cho anh ta đâu. Vì anh ta sống thật khác xa với nếp sống nhà mình.
Tôi thở dài:
- Em ngại B. thù em, lại đi kể lung lung thì phiền quá.
Anh tôi an ủi:
- Không ngại cô ạ. nếu có ai biết thi cũng đoán là cô yêu thơ chứ có biết B. bao giờ đâu. Chuyện mơ mộng của các cô gái mới lớn cũng vô tội thôi, em ạ.
Tôi vẫn buồn và lo.
Sau đó, B. làm nhiều bài thơ đau khổ, đăng lên các hảo khóc than. Rồi B. lại viết thư cho anh tôi, năn nỉ, xin giúp B. tìm mối manh nói với bổ tôi xin tôi làm vợ.
Anh tôi cảm động, lại dỗ dành tôi trở lại với B. Tôi thì lúc đó mang tâm trạng như Mị Nương xưa, vẫn rất thích những bài thơ tình B. tặng tôi thiết tha, nhưng lại cứ nghĩ đến cử chỉ thô bạo.
Sau đó B. còn lên Bắc Giang nhiều lần, nhưng chỉ dám đi qua cổng nhà tôi (đâu một lần đi với Tô Hoài, miệng không ngơi đọc những câu thơ tặng tôi). Anh ta cỏn gửi cả thư cho Thanh Ngà, ban đầu thì nhờ đưa cho tôi sau rồi cũng tán tỉnh cả Thanh Ngà, làm bạn tôi giận lây tôi. Đồng thời, củng một lúc, trên mấy tờ báo, tiểu thuyết Thứ Năm, Hà nội báo, B. liên tiếp than khóc mối tình lỡ dở với tôi, lại luôn luôn có thơ tặng các cô gái khác. Một hôm tôi đọc bài “Hà Nội ba mươi sáu phổ phường”:
Hà Nội ba mươi sáu phố phường
Lòng chàng có để một tơ vương
Chàng qua chiều ấy, qua chiều khác
Gặp lại đường đi một dặm đường
...
Đem bao hy vọng lúc ra đi
Chuốc lấy buồn thương lúc trỏ về
Lòng mỗi lần đi là bão táp
Mỗi lần là một cuộc phân ly.
...
Chàng đau đớn lắm cần vào môi
Răng cắn vào răng, lời nghẹn lời
Hờ hững làm sao, mê mẩn quá!
Trời ơi cứu vớt lấy hồn tôi
...
Chao ôi, yêu có ông trời cứu
Yêu có ông trời khoá được chân
Chàng lại đi về qua phố ấy
Mấy mươi lần nữa và vân vân...
Từ đó tôi rất thành kiến với các thi sĩ Hà Nội. Tôi nghĩ rằng: “họ chả yêu thật tình một ai, họ chỉ yêu có họ và yêu đề có những vần thơ yêu mà thôi! Ai dại dột đi tin mê những người làm vần thơ ấy là chết cả mộng lòng trong trắng”. Và tôi, tuy cay đắng vì vỡ mộng, nhưng lại mừng vì sớm thấy được sự tan vỡ của một cải bóng bay ngũ sắc, tuy đẹp lung linh, nhưng lại là chất bọt của xà phòng.
(Ngày nay, tôi nhận ra được thực chất của B. cũng như đa sồ thi sĩ thời trước cách mạng bị bế tắc trước cuộc sồng, nên chỉ có lối thoát vào tình yêu... Nhưng những cô gái con nhà nền nếp, sống với đạo đức phong kiến, lại pha một chút lãng mạn, lý tưởng hoả, thì không thể nào yêu được B. nên B. luôn luôn bị thất vọng, từ cô này tới cô khác, và phải tim quên ở tiệm bút, lầu xanh. Đó là nguyên nhàn chính khiến hai con người tuy làm thơ cả, nhưng không thể nào gặp được nhau)
Chương 11
Báo Đông Tây đã ra được số ba, đang chuẩn bị cho số bốn. Nhưng vì tái chánh eo hẹp, nên báo ra khòng được đều kỳ. Bài vở thì nghèo nàn, chỉ có tôi và Quỳnh Dao là cây bút chính. Quỳnh Dao bận chạy ngoài; còn một mình tôi đã phải làm thơ còn viết cả truyện ngắn, bài phê bình vân vân... Tự mình đọc cũng thấy nhạt lại thêm số lượng mỏng manh.
Mỗi khi qua của hàng sách báo, tôi thấy bìa tiểu thuyết thứ Năm, luôn luôn có ảnh những cô gái đẹp, tiểu thuyết thứ bảy thì in tên các tác giả nổi tiếng bằng mực màu rực rỡ. Báo “Ngày Nay” đàng hoàng với khổ rộng, giấy trắng, lại nhiều trang. Nhìn lại báo Đông Tây, khổ báo vừa nhỏ, giấy đã đen, chữ in lại bé, cứ riêng hình thức ấy, cũng không hấp dẫn được ai. Quỳnh Dao lo nghĩ, bàn với tôi:
- Mình cứ sổng bám vào anh chàng công tử nhà giàu ấy, thì nguy. Vì hắn đã làm chủ được gia tài của bố hắn đâu, tiền đưa mình làm báo, chỉ là tiền xén bớt của bố. Mình phải lo sao có nhiều đọc giả, thì chả cần Lưu Hồ. Với lại, tôi thấy mình làm báo mà chỉ có thơ, truyện ngắn và phê bình không thì chưa đủ. Ta phải làm phóng sự nữa. Phải có một phỏng sự dài, phải chọn một vấn đề hấp dẫn nhất. Cô nên suy nghĩ rồi chọn cho tôi một đề tài, ta sẽ cùng bàn.
- Nhưng ai sẽ đi viết phóng sự?
- Nữ thi sĩ Anh Thơ, kiêm phóng viên của báo Đông Tây, chứ còn ai?
Tôi nghĩ cũng chả còn ai đi viết được nữa, nhưng mới bước vào nghề báo, tôi đã biết thế nào được những thích thú của độc giả. Tự suy nghĩ hết một buổi, tôi thấy rằng báo mình là báo văn chương, thì phóng sự về đời sống gia đình riêng của các văn, thi sĩ chắc sẽ đáp ứng được sự tò mò của bạn đọc. Với lại ngẫm lòng ta ra lòng người, các độc giả bây giờ, phần đông là lứa tuổi thanh niên nam nữ bằng tuổi tôi cả. Chắc rằng không ít người thèm biết đến đến địa vị người làm vợ những nhà văn nổi tiếng. Nay viết một phóng sự về vợ những văn nghệ sĩ, chắc là sẽ được người đọc hoan nghênh.
Tôi đem những ý nghĩ ấy nói với Quỳnh Dao. Anh khen tôi thông minh, nhanh nhạy. Anh giao cho tôi làm một danh sách, những người tôi sẽ đến phỏng vấn, tôi bèn ngồi viết, bắt đầu từ bà Tản Đà, đến những bà vợ của các nhà văn ở Tự Lực Văn Đoàn, rồi đến vợ các nhà văn, nhà thơ đang nổi tiếng như Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Vỹ, Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan. Tôi lại nghĩ và viết ra bảng câu hỏi, gửi đến trước cho các bà để bà đọc, rồi suy nghĩ sẵn những câu trả lời cho tôi. Những câu hỏi ấy là:
1. Xin bà cho biết cuộc tình duyên của bà với nhà văn (hoặc nhà thơ) bắt đầu từ sự gặp gỡ nào? Ở đâu ông và bà tự do tìm đến nhau, rồi yêu nhau hay do gia đình làm hôn lễ.
2. Để có một sự nghiệp văn học nổi tiếng của ông nhà bây giờ, bà đã có những đóng góp gì cho sự nghiệp ấy?
3. Bà thích những lác phầm nào của ông? Ông đã viết về bà trong những bùi thơ, tập truyện nào?
4. Cuộc sống làm nội trợ cho nhà văn, có khác cuộc đời làm vợ của những ông chồng ở ngành khác, giới khác trong xã hội không?
5. Ông đã đem những vinh quang nào về cho bà?
Tôi đưa cho Quỳnh Dao đọc những câu hỏi ấy trước khi gửi đi. Quỳnh Dao thấy được cả, nhưng anh ghi cho tôi thêm một câu hỏi:.
6. Bà có nghĩ, có muốn rằng con gái bà sẽ lấy chồng nhà văn hoặc nghệ sĩ như bà mới có lạnh phúc không?
Cả sáu câu hỏi đó, được Quỳnh Dao tự tay dành máy và đề bi gởi đi. Mỗi phong thư gửi đến một bà, tôi đều hẹn ngày giờ đến gặp đề được nghe tâm tình của các bà. Họ đều vui vẻ trả lời và muốn tôi đến đúng hẹn. Chỉ có bà Nguyễn Tuân và bà Thạch Lam là viết thư xin khước từ vì hai người chồng không đồng ý cho hai bà trả lời những câu tôi đến phỏng vấn. Chưa chịu thôi, tôi viết thư thẳng đến hai ông xin phép cho được gặp các bà. Nguyễn Tuân không trả lời tôi, còn Thạch Lam thì viết tôi bằng một giọng khá gay gắt, là ông không muốn ai “nhúng mũi” vào chuyện riêng gia đình ông. Tôi đành phải gạch lên hai bà khỏi bản danh sách đi phỏng vấn.
- Tản Đà
Tôi sắp xếp thi giờ để đến nhà bà Tản Đà đầu tiên, vì ông là thi sĩ lớn vừa mất. Nghe Quỳnh Dao nói: “Tản Đà mở của hàng lẩy số tử vi ở Ngã Tư Sở”. Tôi đi tàu điện, tới một căn nhà thấp tối cảnh cửa hé mở, vừa gõ cửa nhè nhẹ đã có tiếng gắt gỏng từ bên trong: “Cứ đẩy cửa mà vào!”. Tôi bước vào, chiếc bàn thờ thi sĩ sừng sững giữa nhà, hai bên còn dặng đầy đầy câu đối phúng trắng lập loà. Một bà dáng cao lớn đang ngồi trước bàn thờ, giải khăn xô mới, còn bỏ thõng sau lưng, quay bộ mặt đầy son phấn, đôi mắt to sắc lạnh nhìn tôi. Tôi rụt rè hỏi:
- Thưa, tôi xin hỏi, có phải bà là bà Tản Đà không ạ?
Bộ mặt đầy son phấn cau có:
- Tôi là vợ ông Tản Đà đấy, cô hỏi gì? Ông ấy đã chết rồi, cô không biết sao?
Có lẽ bà chưa nhận được thư phỏng vấn của tôi chăng, tôi liền tự giới thiệu:
- Tôi là phóng viên báo Đông Tây, chúng tôi muốn có một phóng sự về đời sống các bà vợ nghệ sĩ. Tôi đã gửi thư đến trước, bà có nhận được không ạ?
- Nhận được, nhưng nhà báo các cô sao cứ thích tò mò muốn biết chuyện riêng tư của người ta thế! Cô tưởng làm vợ những người làm thơ thì giàu có, danh giá lắm sao?
Tôi đã thấy khó chịu, nhưng cố gắng bình tĩnh nói:
- Dạ ít ra thì thi sĩ Tản Đà cũng nổi tiếng, tức là cũng danh giá; suốt từ Bắc chí Nam và có thể nói tất cả xứ Đông Dương đều biết tài làm thơ của ông, vậy bà làm vợ ông phải là vinh dự lắm chứ ạ!
- Vinh dự à? Có phải tất cả mọi người đều thích ông ấy đâu! Thích những người làm thơ thì cô phải gần họ, phải ăn đời ở kiếp với họ, thì mới thấy họ chẳng bao giờ có tiền, mà có tiền cũng không để cho nó nóng túi. Người ta lên xe, xuống ngựa, nhà lầu xe hơi. Còn người làm thơ ấy à? Chỉ thấy rặt những chuyện ăn ăn uống uống. Ai lại người ta có quý mình, người ta mời đến ăn, cơm rượu, cung phụng tử tế, thế mà nhà gạch hoa của người ta, ông ấy dám cuốc lên trồng húng láng để lấy rau thơm ăn gỏi, nhấm rượu. Bồ mẹ tôi thật đã làm khổ cả đời tôi.
Bà cười nhạt, không thèm trả lời tôi quay phắt vào phía trong nhà quát gọi con cái bưng mâm cơm cúng ông ra. (Thi sĩ Tản Đà chết chưa được trăm ngày). Một mâm cơm cũng khá tươm tất, có rượu, có thịt, có cả một bát cá riêu. Tôi nhớ lại mấy bài viết về nghệ thuật ăn của ông Tản Đà. Muốn cố gây cảm tình với vợ nhà thi sĩ, để bà vui vẻ tiếp tôi hơn, tôi cất giọng, khen:
- Nhìn bát canh riêu cá quả tôi nhớ có một bài báo tả thi sĩ Tản Đà rất tức giận, khi ông thấy người học trò làm cá nấu riêu lại vứt mất bộ lòng. Ông bắt người học trò ấy phải soi đuốc tìm cho được bộ lòng, đề nấu canh lại, như vậy, có nghĩa là ông đa làm đúng cách thức của bà khi nấu riêu cả quá, để có một vị ngon đặc biệt hơn riêu cá khác, có phải không ạ?
Bà vẫn hằm hằm, ánh sáng long lanh trong đôi khuôn mắt to, đen bóng màu chì kẻ thẫm, càng thêm long lanh sắc lạnh:
- Ông ấy thích thì ông ấy làm mà nhắm. Tôi còn bận lo nuôi con cái, thì giờ đâu mà làm.
Thấy rằng có ở lại nữa, cũng chỉ bị bà “trút hận” vào mình, tôi đứng dậy chào bà. Bà chào lại tôi vẫn bằng ánh mát sắc lạnh ấy.
Sau này, tôi đã được nghe kể: Bà là con gái một quan huyện, bị gả cho một cậu ấm (ấm Hiếu) thi đã không đỗ, lại còn thơ thẩn, rượu chè, cho nên bà không thích. Tôi ra về, còn mang theo bai hình ảnh mâu thuẫn: một mái đầu chít trắng khăn tang. Một khuôn mặt đầy đặn, rực rỡ phấn son tuy nhan sắc đang đến độ quá chiều. Và một ánh mắt long lanh sắc lạnh, làm lạnh cả lòng người có thiện ý muốn gần bà.
Về đến toà báo Đông Tây, tôi nói với Quỳnh Dao:
- Tiền đầu bất lợi rồi, nữ phóng viên của báo Đông Tây bị người ta mắng như tát nước ấy, anh ạ. Vì tôi cũng ngốc thật cứ ngồi ca ngợi lấy chồng thi sĩ là vinh quang, là danh dự. Sự thật là vợ thi sĩ không hề thích cái nghề nghiệp nghèo khổ ẩy. Không biết các bà khác có giống bà Tản Đà không?
Quỳnh Dao cười như một chuyện khá thú vị, rồi anh động viên tôi:
- Một sự thực rất bay, sẽ làm thoả tri tò mò của bạn đọc. Cô cứ tiếp tục đi, biết đâu còn nhiều “sự thật” bất ngờ khác.
- Nhất Linh
Tôi thấy anh nói đúng, liền đến nhà bà Nhất Linh. Cũng như đa số thanh niên ngày ấy tôi rất thích tiều thuyết “Đôi bạn” của Nhất Linh. Tôi cho rằng truyện ấy vượt xa những truyện tả tình yêu tầm thường của các nhà văn khác. Vì không những Loan yêu Dũng trong trắng và rất ngây thơ. Dũng yêu Loan nhưng lại yêu cuộc đời hoạt động hơn là say mê lạc thú gia đình. Sau này theo cách mạng, tôi mới nhận thức được rằng tiểu thuyết “Đôi bạn” chỉ là tiểu thuyết lãng mạn của một nhà văn tiểu tư sản, vì những hành động của Dũng thời ấy chỉ là một thứ cách mạng cải lương.
Hôm đến bà Nhất Linh, tôi tưởng tượng vợ ông là cô Loan, một cô Loan ngây thơ, xinh đẹp. Nhà của nhà văn phải là một khu vườn rộng, mang đầy hương sắc thôn quê; và cô Loan áo trắng đang hái rau ngót dưới trời mưa. Nhưng ngược lại, bà Nhất Linh lại là một cửa hàng buôn bán đủ cả cau khô, cau tươi, và cô Loan lại là một bà tuổi đã nạ dòng, răng vẩu. mặc quần đen áo đen, dáng tất bật của một người đàn bà vất vả phải tự lo lắng gia đình nhiều. Thấy vẻ mặt ngạc nhiên đến sững sờ của tôi, bà cười, hàm răng trên như một mái hiên che khuất cả hàm răng dưới. Một miệng cười tươi đen nhánh, đượm vẻ dịu dàng, cởi mở và dễ thân.
- Xin lỗi cô, tôi phải vừa bán hàng, vừa tiếp khách; vì hôm nay tuy chủ nhật, nhưng nhà tôi và các cháu đều bận đi thăm khu nhà “Ánh sáng” ở bên Phúc xá nên chẳng có ai trông hàng, cô ạ.
Ngày ấy nhóm “Tự Lực Văn Đoàn” đang cùng với hai kiến trúc sư Luyện và Tiếp lo làm khu nhà “Ánh sáng” thay cho các nhà ổ chuột cho dân nghèo. Một cuộc cách mạng cải lương, nhưng tôi chưa hiểu, nên rất phục họ. Tôi hỏi bà Nhất Linh:
- Vậy thì ông vắng nhà luôn?
- Vâng, nếu nhà tôi không đi viết ở phỏng văn số 80 đường Quán Thánh, thì lại đi làm việc xã hội, nhưng ngày hai bữa cũng về nhà ăn cơm.
Rồi bà đặt trước tôi một chén chè, vui vẻ nói:
- Cô có gửi cho tôi mấy câu hỏi, nhưng tôi chưa suy nghĩ gì đến được, vì bận quá, cô ạ. Nào phải lo làm ăn buôn bán để có tiền nuôi bảy đứa con (Nhất Linh mà đã có bảy con). Lại thỉnh thoảng lo tiền cho nhà tôi tiêu. Mà nhà văn thì tiêu nhiều lắm cô ạ! Nào anh ấy tiếp đãi bạn bè, nào lo góp vốn ra báo, in sách. Lại còn lo cả việc dựng khu nhà “Ánh sáng” cho dân nghèo.
Tôi ngắt lời bà Nhất Linh:
- Thưa bà, tôi tưởng in sách, ra báo, đều có nhuận bút và lãi bản ra. Còn lo nhà cho dân nghèo thì có cuộc lạc quyên, và...
Bà văn cười, hay tại hàm răng vẩu của bà cứ chìa ra như cười:
- Lãi in sách, bán báo thi lại đập vào vốn, để mở rộng thêm. Còn các cuộc lạc quyên lo nhà cho dân nghèo, thì bây giờ mới bắt đầu. Mà mình đứng lên hô hào người ta, thì mình phải bỏ vốn trước đã. May mà nghề buôn cau của tôi cũng dễ kiếm lãi, mới giúp được nhà tôi có tiền mà lo các thứ.
- Vậy bà có quang vinh quang với một người chồng, là nhà văn nổi tiếng không ạ? Bà có đóng góp gì cho văn nghiệp của ông, không ạ? Bà thích cuốn tiểu thuyết nào của ông viết nhất. Bà được ông đề tặng tập truyện nào? Bà lấy ông có phải vì bà yêu văn của ông không?
Một tràng câu hỏi dồn đập của tôi làm bà Nhất Linh như bối rối. Tuy vậy, bà cũng bình tĩnh, thong thả trả lời từng câu:
- Tôi lấy nhà tôi là do hai bên cha mẹ có mối manh, dạm hỏi và cưới xin linh đình. Khi tôi về nhà chồng rồi, thì chỉ biết lo buôn bán đẻ gánh vác giang sơn nhà chồng; làm gì có thì giờ đọc sách, đọc báo ạ. Với lại sách báo là việc của đàn ông, đàn bà mình ngó vào làm gì.
Sự thật là như vậy! Vợ nhà văn cũng chỉ là một người đàn bà Việt Nam, tần tảo như bao nhiêu người đàn bà Việt Nam khác. Tôi thất vọng vì sự tưởng tượng của mình.
Có tiếng còi ô-tô, rồi một chiếc ô-tô rất lịch sự chạy đến đỗ trước cửa hàng. Một bày thiếu nữ, mặc quần áo kiểu lơ-muya, màu sắc rực rỡ như đàn bướm, phất phới, ùa vào cửa hàng. tiếng gọi ríu rít:
- Anh Nhất Linh ơi. đi thôi...
Bà Nhất Linh nhìn họ một cái nhìn “kẻ cả”, miệng vẫn cười:
- Anh ấy đi lúc sáng sớm rồi. Các cô xuống ngay khu nhà “Ánh sáng” thì sẽ gặp.
- Thế ạ! Thôi! Chúng cháu đi!
Họ gọi chồng là anh, mà lại xưng cháu với vợ. Tôi đang bỡ ngỡ thì bà Nhất Linh nói như phân trần.
- Đó là các cô trong ban quyền tiền của hội “Ánh sáng”. Các cô ấy thường xuyên đi làm việc với nhà tôi.
Bà lại cười một cái cười khó hiểu, không biết cười vì lự hào có một người nhưng mà nhiều cô trẻ săn đón, hay khó chịu vì sự suồng sã quá thân của các cô đối với nhà văn!
Một thoáng nghi ngờ qua óc tôi! Ông Nhất Linh có nhiều cô bạn trẻ đẹp thế này thì ông có còn yêu bà không! Hay là chỉ được ông coi là một cái “kho tiền” đề ông lấy của mà làm việc. Và có phải bà đã “góp tiền” làm nên sự nghiệp văn học và xã hội cho ông không? Thế thì ông phải quý là lắm chứ?
Sực nhớ đến chuyện bà Khái Hưng xin con bà Nhất Linh về nuôi, do Quỳnh Dao kể, tôi hỏi bà:
- Tôi có nghe ông bà đem cho bạn nuôi một con trai. Vậy bà có vui lòng về việc ấy không?
Như bị chạm đến niềm tâm sự sâu kín nhất của mình, bà Nhất Linh bỗng nắm chặt tay tôi, vẻ xúc động:
- Tôi phải chiều theo ý tốt của nhà tôi, vì anh Khái Hưng là bạn thân nhất của nhà tôi, mà lại không có con, trong khi chúng tôi có những bảy cháu. Nhà tôi xưa nay không bị phật ý bao giờ, cho nên tôi để cho nhà tôi toàn quyền..
Rồi bà nói như tự an ủi:
Được cái hai nhà như một và chị Khái Hưng rất nâng niu yêu quý cháu. Đôi mắt bà chớp chớp. Tôi chợt thấy đôi mắt bà đẹp quá! Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Ánh sáng vừa dịu vừa có một cái gì như sẵn sàng vì mọi người.
- Triệu (tên thằng cháu) là đưa con cưng nhắt của tôi. Vì cháu thông mình. mặt mũi lại rất giống bố cháu. Phải xa con, tôi nhớ cháu lắm. Được cái cháu cũng về nhà luôn, vì cháu rất yêu quý mẹ.
Đôi mi dài ông ả của bà rung động trước cặp mắt to long lanh. Tôi nhớ mãi mãi đôi mắt ấy. Cặp mắt có vẻ chịu đựng mọi hy mình, vì người thân yêu của mình. Cặp mắt của một người đàn bà Việt Nam cũ kỹ tảo tần, không ý thức được rằng những việc mình làm đã đóng góp cho sự nghiệp của chung không nhỏ.
***

Sau khi ở nhà bà Nhất Linh, tôi đến nhà Khái Hưng, ở tại tầng gác hai, nhà số 80 đường Quan Thánh. Khác hẳn cửa hàng bán cau có vẻ bình dân của nhà Nhất Linh, nhà Khái Hưng thoạt bước vào tôi có ngay cảm tưởng như đến nhà một vị đường quan. Từ chiếc bàn thờ, bộ sa lông, sập ngồi, đều bâng gỗ quý, khảm trai đánh bóng đến các đồ trang tri khác như đỉnh đồng, câu đối, hoành phi sơn son thếp vàng đều làm tôi choáng ngợp. Đặc biệt có một bà đài các, ngồi xếp bằng trên sập tôi đoán ngay là bà khái Hưng, với dáng người khô đét cứng, mỏng. Cái tạng của người đàn bà không con. Thấy tôi vào, bà đưa bàn tay - một bàn tay rất đẹp có những ngón dài thon thon, trắng muốt, đeo sơ sài một chiếc nhẫn bằng ngọc thạch mầu hoa thiên lý ở ngón tay đeo nhẫn cưới, càng làm tôn vẻ quý phải của bà. Bà mời tôi ngồi vào ghế, đoạn bà kéo vạt áo lụa dài Hà Đông cho thẳng, buông thõng một ống chân quần sa tanh trắng xuống chiếc hài thêu, vẻ muốn đứng lên, nhưng bà không phải đứng, cũng đưa được chén nước nóng vào tận tay tôi. Rồi bà ngồi lại, khoan thai, đĩnh đạc trả lời ngay những câu hỏi tôi đã hỏi bà trong thư gửi đến trước.
- Tôi lầy nhà tôi do hai bên cha mẹ cùng làm một tỉnh. Tôi bận lắm, bận mua ngọc quý, bán cho các bà lớn thượng thư, tuần phủ, thỉnh thoảng lại phải về coi trại ấp cho cụ lớn, mẹ tôi, nên chả lúc nào rỗi rãi để đọc chuyện của nhà tôi viết. Nhà tôi thương tôi hiểm hoi, nên nằn nì xin được đứa con trai cưng của ông bạn Nhất Linh, về cho tôi nuôi. Cháu ngoan ngoãn, thông minh, ẩy may mà có cháu không thì tôi buồn lắm...
Rồi bà khoe “chú Triệu” đã giúp chồng bà viết rất nhiều sách cho trẻ con. “Chú Triệu” yêu bà như mẹ ruột của chú. Chú còn nói lớn lên chú sẽ nối nghiệp của hai bổ (bố đẻ và bố nuôi). Rồi bà cười lớn, gọi chị vú dẫn một chú khoảng bảy, tám tuổi ra. Chú có cặp mắt giống mẹ đẻ (bà Nhất Linh) như tạc, nhưng người gầy ngẳng, lại giống mẹ nuôi. Chú chào tôi rất lễ phép, đoạn ôm cổ bà Khái Hưng, thỏ thẻ:
- Chiều nay mợ cho con đến Hàng Nón nhé. Hàng Nón là phố có nhà mẹ đẻ chú ở. Bà Khái Hưng bế con nuôi lên lòng, thủ thỉ. Bà quên trả lời tiếp những câu hỏi của tôi. Ngắm bà âu yếm đứa trẻ, tôi nghĩ đến tình yêu của nhà văn Khái Hưng, mặc dù bà không cô vẻ gì là Mai, là Liên, những cô gái bình dân, xinh đẹp, nhưng với bàn tay đẹp, trìu mến vuốt ve đứa con xin được của bạn chồng, tôi cũng thấy sự thương yêu của nhà văn đồi với vợ. Rồi tôi nghĩ đến câu phỏng vấn của tôi: bà có giúp gì cho sự nghiệp văn chương của chồng không? Bà Khái Hưng chưa trả lời tôi câu hỏi ấy, nhưng nhìn cung cách ăn ở đường bệ của bà, tôi lại nhớ đền những nhân vật bà án, bà tuần và các tiểu thư trong tiểu thuyết của Khái Hưng. Có lẽ bà đã giúp chồng thâm nhập được vào cái thế giới quý phái, trưởng giả ấy, nên các nhân vật của ông rất sống! Tôi lại tự cười thầm sự tưởng tượng của mình. Vì trước mắt tôi, vợ nhà văn không có gì cao xa hơn những người vợ khác. Nghĩa là các bà cũng chỉ tìm thấy được hạnh phúc bên đứa con thôi.
***
- Thế Lữ
Những văn sĩ của Tự Lực Văn Đoàn còn có Tú Mỡ và Thế Lữ (vì Thạch Lam không bằng lòng cho tôi phỏng vấn vợ, Hoàng Đạo thì còn độc thân), Thế Lữ thì luôn luôn thay đổi chỗ ở, tôi chưa tìm được nhà. Còn Tú Mỡ đúng là một nhà thơ hài hước nên khi tói gửi những câu phỏng vấn đến bà, thì ông thay bà làm luôn mấy câu thơ gửi trả lời tôi:
Lấy chồng là lấy chồng thôi
Tuy rằng “nước ngược” vẫn “xuôi” ân tình.
Văn ông, ông viết (có) một mình,
Rượu ngon nhắm tốt, tôi lo phần mình làm hiền thê...
Ai về thăm Láng thì về:
Vợ nhà văn chả khác gì vợ kẻ đàn ông!...
Tôi và Quỳnh Dao cười mãi về mấy câu trả lời hỏm hỉnh mà thân mật của nhà thơ Tú Mỡ. Tôi đã thấy ông trả lời thay bà, rất đầy đủ những câu phỏng vấn, nên không vào Láng nữa.
Nhưng còn bà Thế Lữ. Tôi trở đi trở lại từ đầu ô Yên Phụ, đến Láng mãi mới thấy được nhà thi sĩ ở ven hồ Tây. Đó là một căn nhà ngòi nhỏ, bề bộn sách báo và các tấm pa-nô quảng cáo cho gánh kịch Thế Lữ, tôi phải cố tìm đến được nơi ở của đôi vợ chồng nghệ sĩ, vì đó là đôi vợ chồng sống tất cả cho nghệ thuật. Dư luận Hà nội đang sôi nổi bàn tán, nhất là về Song Kim. Vì Song Kim là một cô giáo (mặc dầu là cô giáo dạy tư) phải nêu gương đạo đức, không nên lấy chồng người; nhất là không nên bỏ một nghề cao quý, mà đi vào trò xướng ca v.v... đấy là những lời bàn tán của mấy bà cũ kỹ, Còn đối với phải trẻ, thì câu chuyện Thế Lữ, Song Kim lại rất hấp dẫn; và ngay với riêng tôi cũng rất thích thú muốn được hiểu rõ cuộc sống của đôi vợ chồng say mê nghệ thuật ấy.
Song Kim ra đón tôi cùng với một chú chó con Nhật bản xinh xắn trên tay. Nụ cười chị mở rộng, có hai mũi dùi rất có duyên ở hai bên má, chị ân cần hỏi tôi:
- Anh Thơ tìm nhà mình vất vả lắm, phải không? Chúng mình cứ phải thay đòi chỗ ở luôn, vì không muốn để vợ anh ấy biết...
Một thoáng tư lự qua đôi mắt to đẹp, nhưng chị lại cười ngay:
- Cuộc hôn nhân của chúng mình ra ngoài khuôn khổ nên gặp nhiều khó khăn, phức tạp lắm. Tuy vậy, mình rất sung sướng mỗi khi lên sân khấu, đóng thành công được với của mình. Công chúng là một nguồn cổ vũ rất to lớn.
Rồi chị đưa tôi vào ngồi trên một chiếc giường nhỏ, đỡ chén nước chị mời trên tay, tôi bắt đầu phỏng vấn:
- Chị yêu anh Thế Lữ vì thơ hay vì kịch?
- Mình yêu anh ấy cả vì thơ lẫn vì kịch. Nhưng không phải chỉ yêu riêng Thế Lữ về lài năng đâu, mà mình còn yêu con người kịch sĩ lại có tâm hồn thơ, và một trái tim trẻ, sôi nổi (mặc dầu anh ấy đã năm con) nhiệt tình với cuộc sống...
- Nhưng riêng chị, chị có làm thơ không hay chị chỉ diễn kịch?
- Mình rất yêu thơ nhưng không có tài làm được thơ, mình chỉ diễn kịch. Được một đạo diễn có tài năng nâng đỡ, mình rất hạnh phúc vì mỗi ngày mình cẩm thấy tài năng mỗi phát triển lên. Điều đó khiến mình quên hết mọi chuyện. Anh Thơ cũ ng biết, sống ở thời buổi nảy, tư tưởng người ta còn nặng về lễ giáo cũ lắm; người ta chưa vượt được mọi khuôn sáo để vươn mình lê,. Mình sống khác người, có được sự tự hào, nhưng cũng phải trả một giá rất đắt. Vì chính mình, cũng vẫn còn những tư tưởng cũ, tự mình cứ dằn vặt mình luôn. Nhất là thấy những người thân yêu của mình (bố, mẹ, chị, em) bị ảnh hưởng không tốt vì cái hành động “quá mới” của mình.
Nhìn vẻ mặt tuy không đẹp của Song Kim, nhưng lại toát ra một vẻ cởi mở, chân tình, làm người ta dễ mến, và nhìn đến đôi chân tập tễnh của chị, tôi thấy Thế Lữ yêu Song Kim, quả là anh đã yêu tài năng và tlnh tình của chị hơn là yêu nhan sắc. Nhưng tôi không thất vọng như đã thất vọng về bà Nhất Linh và bà Khái Hưng. Vì các bà ấy chỉ đẹp có mỗi một đức tính “tất cả cho chồng con” như mọi người phụ nữ Việt Nam khác từ ngàn xưa. Còn Song Kim mới thật là người vợ lý tưởng, người vợ nghệ thuật của một nhà thơ kiêm kịch sĩ nổi tiếng..
Tôi hỏi thêm:
- Tôi chắc anh giúp chị phát triển được tài năng, thì ngược lại, chị cũng giúp anh được sự thành công cho các vở đã công diễn?
Song Kim khiêm tốn:
- Tôi chưa đóng góp gì được cho gánh kịch Thế Lữ, ngoài việc cứ tập luyện tay nghề, và nhất là sống thật chân thành với vai kịch của mình.
- Thế là đỏng góp quá nhiều rồi, còn gì nữa? Vì các vai chị đảm nhiệm, mà đóng không hay thì còn gì là sự thành công cả gánh kịch này!
Tôi định hỏi thêm về tương lai, sau khi dư luận đã quen với việc làm táo bạo của chị, thì chị có cần hợp pháp hoá cuộc tình duyên với anh Thế Lữ không? Tôi chưa kịp hỏi thì Song Kim như đoán ra được câu hỏi ấy, vui vẻ trả lời tôi:
- Sự thực thì những anh chị em văn nghệ có cặp mắt nhìn rộng rãi, không một ai lên án tôi. Họ hiểu rằng nếu chúng tôi có lỗi là lỗi gặp nhau quá muộn. Chớ tình yêu của chúng tôi, không phải là cuộc tình lãng mạn, bồng bột, nhất thời. Chúng tôi yêu nhau với mục đích được giúp dỡ nhau thăng tiến trên con đường nghệ thuật. Chúng tôi trao cho nhau trái tim, linh hồn và cả cuộc sồng. Dù con đường đi của chúng tôi còn lắm chông gai, trở ngại, Anh Thơ ạ.
Tôi xúc động trước những lời lẽ chân tình ấy. Vừa cảm phục, vừa mến yêu, tôi cầm tay chị... với một tình yêu cao đẹp, tôi mong và chúc Thế Lữ và Song kim sẽ vượt được hết chông gai thẳng tiến trên con đường nghệ thuật rực rỡ..
Chị cũng nắm chợt tay tôi miệng cười thân ái:
Tôi cũng mong và chúc Anh Thơ sẽ gặp được một mối tình vì nghệ thuật như chúng tôi.
***
Trở về tờ báo Đông Tây, tôi còn xúc động dạt dào vì mối tình Thế Lữ-Song Kim. Tôi kể chuyện lại cho Quỳnh Dao nghe, rồi tôi khẳng định:
- Tôi chắc hai người sẽ còn đi xa trên con đường nghệ thuật. Họ sẽ dẫn đầu cho nền kịch nói còn non trẻ của chúng ta...
Quỳnh Dao cũng xúc động:
- Làng văn, làng bảo đang bàn tán sôi nổi về cuộc tình duyên này. Họ lấy làm lạ vì Thế Lữ thì thiếu gì các cô trẻ đẹp yêu anh, vậy mà nhà nhà thơ lại đi yêu một cô giáo nghèo, không đẹp, có tật ở chân. Nhưng họ có biết đâu Song Kim đã rất đẹp, đẹp hơn nhiều các cô gái khác ở tư tưởng, ở hành động: tất cả cho nghệ thuật. Tôi thấy tôi cũng cần phải học tập ở họ.
Rồi Quỳnh Dao nhìn tôi như chế diễu:
- Cô đã thoả được ý muốn tò mò về vợ các nghệ sĩ chưa. Nếu chưa thì cô nên đi phỏng vấn một số các bà nữa, ngoài nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
- Bây giờ thì nên đến những ai nữa?
Quỳnh Dao không cần suy nghĩ, trả lời ngay:
- Về thơ thì cô nên đến thàm bà Nguyễn Vỹ, một người tuy thơ không hay, nhưng cũng được dư luận chú ý về cái trường “Bạch Nga” của ông ta. Về văn thì cô đến nhà Lê Văn Trương, một nhà văn người hùng, đang được dư luận chú và đang có sách bán chạy trên thị trường. Chả biết vợ con ông ta có thực sung sướng vì thế không? Còn về các ngành nghệ thuật khác tuỳ cô chọn, cũng nên đến thăm vài bà.
Tôi suy nghĩ rồi trả lời anh:
- Tôi sẽ theo ý anh, đến thăm ba bà Nguyễn Vỹ, Lê Văn Trương và Vũ Trọng Phụng. Còn ở ngành khác, tôi nghĩ chỉ nên thăm bà hoạ sĩ Tô Ngọc Vân. Lý do là hoạ sĩ đã vẽ cho tôi bốn bức phụ bản ở “Bức tranh quê” rất đẹp.
- Được đấy, vậy trong tuần này, cô cố gắng đến được cả ba bà để viết cho xong. Ta sẽ đăng vào số Xuân, mở đầu cho loạt bài phóng sự ấy.
***
- Vũ Trọng Phụng
Trong một căn nhà gạch nhỏ, bài trí sơ sài, tôi gặp nhà văn Vũ Trọng Phụng đang ngồi bên chiếc bàn gỗ tạp vừa ho, vừa viết, vừa mời tôi ngồi. Khuôn mặt chữ nhật của anh, so với tấm lưng khom và khuôn ngực lép thì có da, có thịt hơn. Anh trời khá tươi, đôi mắt sáng nhìn tôi một thoáng, rồi lại cúi xuống bàn viết.
- Xin lỗi cô, tôi đang sửa gấp một bản in thử để kịp cho thợ nhả in làm. Cô ngồi chơi tạm; đợi nhà tôi chắc cũng sắp về.
Anh chưa dứt lời, đã lại ho sù sụ. Người ta đồn anh mắc bệnh lao, nhưng nhìn da mặt anh vẫn còn chút hồng của máu. Tôi hỏi anh: Anh ho mệt thế, có thuốc gì uống đỡ được không?
Anh cười:
- Cô tính, cơm còn chả đủ ăn, tiền đâu mua thuốc? Tuy vậy mẹ và vợ tôi vẫn chạy chữa cho tôi.
Một cháu bẻ gái chừng hai tuổi, chập chững từ ngoài đi vào, miệng bập bẹ: “Bố! Bố!”. Tôi cúi xuống bế cháu. Cháu lạ tôi, nên chỉ nhìn mà không chịu theo. Vũ Trọng Phụng dừng tay viết, chạy ra bế con đặt lên lòng tôi, miệng dỗ dành:
- Cô yêu con đấy! Con chơi với cô cho bố làm việc nhé. Con của bố ngoan lắm mà.
Nhìn vẻ hiền từ, âu yếm con của anh, tôi chợt nhớ đến một nhân vật luôn luôn hằn học, căm giận người đời (Long ở trong tiểu thuyết “Giông tố” của anh), Tôi tò mò hỏi anh:
- Khi viết nhân vật Long, anh có phải là “người mẫu” không?
Vũ Trọng phụng cười, cái cười vừa độ lượng với sự tò mò của tôi, vừa nói như để lảng vấn đề:
- Cô quên mục đích của cô là đi phỏng vấn vợ, sao lại (phỏng vấn) chồng?
Tôi cũng cười:
- Thì chị đi vắng chưa về, với lại hỏi vợ cũng là để tìm hiểu người chồng, tìm hiểu cả hai, trong đời sống riêng của người nghệ sĩ.
- Chứ không phải tò mò muốn biết vợ nghệ sĩ sống có hạnh phúc không?
Ánh mắt sắc của anh, đã nhìn thẳng vào tâm can tôi, tôi thú thực:
- Tôi chỉ tò mò, theo sự tò mò chung của độc giả.
Vũ Trọng Phụng nghiêm trang nhìn tôi:
- Tôi nghĩ: cô thiếu gì vấn đề để viết phỏng sự Chẳng hạn một vấn đề bây giờ đang như là một bệnh dịch lan truyền giữa các cô gái tự tử “vì thất vọng trong tình yêu”. Nó đang là chuyện thời sự, mà những người, những ngòi bút phán xử, nên quan tâm tìm hiểu nguyên nhân và đặt một phương pháp giải quyết. Không nên như mấy tờ báo thi nhau đăng nhật ký cô Tuyết Hồng, mà chả giải quyết được gì (cô Tuyết Hồng là chị thi sĩ Đinh Hùng, vừa nhảy xuống hồ Gươm, tự tử vì không lấy được người mình yêu), tôi thành thật khuyên cô không nên viết về mót cái gì như sự đã rồi.
Tôi vội chộp lấy câu cuối của anh:
- Sao? Anh nói như là các bà lấy chồng nghệ sĩ là một chuyện đã rồi à?
- Tôi nói đúng như thế đấy cô ạ, ngay như nhà tôi rất ngoan ngoãn, lấy tôi là lấy một người con trai rất yêu mình, chứ không phải lấy danh vọng của một nhà văn, nhiều lúc tôi cứ cảm thấy nhà tôi lấy một người chồng không làm nghề văn, có lẽ cô ấy sẽ sung sướng hơn lấy tôi.
- Và anh định nói lấy nhà văn nghèo quá, nên thương chị chứ gì?
- Không những nghèo tiền, mà còn nghèo cả thời giờ săn sóc gia đình, thương yêu vợ con nữa. Cô nên biết tôi là người viết văn, nhưng rất sợ thuốc phiện và ghê tởm các cô đào, lại ít nổi “máu giang hồ” như một số nhà văn. Thế mà lúc nào cũng thiếu thì giờ để viết những cái mình đã xúc cảm, đã suy nghĩ, tôi cứ luôn luôn tiếc từng phút, từng giây phải bỏ giở trang viết, dù là những phút giây âu yếm vợ con. Cho nên tôi nghĩ: nhà văn muốn có một sự nghiệp, không nên có gia đình, vướng víu vợ con.
Một thú vị bất ngờ là tôi lại được Vũ Trọng Phụng tâm sự. Sự liên tưởng, khiến tôi nhớ đến một số bạn gái làm thơ như Thanh Ngà, Lệ Hoa, từ ngày có chồng là bặt hẳn tiếng thơ trên thi đàn. Tự nhiên, tôi cũng “tâm sự” với anh:
- Tôi nghĩ rằng: Nam giới dù sao cũng không phải trực tiếp sinh và nuôi con, lo nội trợ như phụ nữ thế mà anh còn thấy tiếc thì giờ, không trách được mấy bà nữ sĩ, viết văn, làm thơ hình như cũng chỉ có một thời, khi chồng con vào là hết sự nghiệp.
Vũ Trọng Phụng chỉ cười, rồi anh bế con khỏi lòng tôi và nói:
- Bây giờ quá trưa rồi, có lẽ cô để cho buổi khác, đến gặp nhà tôi vậy, vì có thể nhà tôi theo mẹ đi lễ phật, cầu sức khỏe cho tôi.
Rồi anh chép miệng:
- Chả biết phật có phù hộ cho không: rồi lại mất vào đấy hàng đồng là ít.
Anh nhìn tôi như xin lỗi:
- Chả mấy khi cô tới nhà, mà chỉ có được một chén chè mời cô, xin mời cô uống tạm chén nước sôi để nguội này.
Thấy anh có vẻ quá mệt, tôi đứng dậy chào anh để về. Vũ Trọng Phụng tiễn tôi bằng một tràng ho, và cố gật đầu đáp lễ khách.
***
Vũ Trọng Phụng mất vì bệnh ho lao, đã được một trăm ngày, tôi mới xuống Láng gặp được vợ anh. Nhìn người vợ goá trẻ, hai mắt trong trẻo, ngây thơ, cặp má tuy hơi hóp (có lẽ vì thiếu ăn, có thể vì thương chồng) nhưng da mặt vẫn trắng hồng, tay ôm đứa con thơ, cả hai đều chít khăn xô, lòng tôi thắt lại.
Nhớ đến hình ảnh Vũ Trọng Phụng, cúi khom khuôn ngực lép, vừa ho, vừa viết, vừa tiếp chuyện tôi. Anh mất thật đột ngột, vì hôm tôi đến, đôi mắt anh vẫn long lanh đầy sức sống. Bây giờ, chỉ còn ảnh anh trên bàn thờ. Vẫn khuôn mặt chữ nhật, vẫn miệng cười rất trẻ tươi, yêu đời, tôi nói với chị Phụng:
- May mà tôi lại được gặp anh (gặp lần đầu mà cũng là lần cuối). Chị cho tôi thắp một tuần hương viếng anh rồi chúng mình nói chuyện.
Bà mẹ anh từ dưới bếp đi lên, khuôn mặt, cặp mắt đầy vẻ nhẫn nại, chịu đựng. Cụ bảo con dâu:
- Mời cô ở lại cùng ăn trưa với nhà, rồi hãy nói chuyện, con ạ.
- Vâng, mẹ em đã có lòng thành, xin chị đừng từ chối...
Thấy cặp mắt ngây thơ của chị Phụng tha thiết nhìn tôi, tôi không nỡ phụ lòng chân thực của hai mẹ con chị. Tôi lại phía bàn thờ thắp bương và nhìn mâm cơm cúng nhà văn quá cố, chỉ có một quả trứng, một bát xu hào và bát cơm bằng gạo không được trắng lắm. Tôi cố nén xúc động, hỏi chuyện hai mẹ con chị Phụng:
- Anh Phụng mất đột ngột thế, cụ bà chị sống bằng gì ạ?
Bà mẹ nhà văn cười buồn:
- Ngay từ lúc em nó còn sống (cụ như quen miệng nói chuyện với các bạn của con, vì tôi năm ấy mới hai mươi mốt kém Vũ Trọng Phụng sáu tuổi) viết ngày, viết đêm cũng chả đủ nuôi thân nữa là, mẹ con tôi phải buôn bán vặt vãnh, hoặc khâu thuê vá mướn lần hồi...
Vẫn biết người viết văn, làm thơ thời này trường là nghèo, nhưng tôi vẫn buồn buồn, cám cảnh trước người mẹ già, vợ trẻ và con thơ của anh. Tôi nghĩ giá có một phường hội người cùng nghề, để giúp đỡ nhau trong cơn hoạn nạn thì đẹp biết bao.
Bà mẹ nhà văn đã quá cố, đặt bát cơm mới xới ở nồi vào tay tôi ân cần nói:
- Tôi biết làm cái nghề viết lách thì nghèo nhưng con tôi nó thích thế, nên tôi cũng chiều. Kể nếu nó chịu đi dậy học cho trường nhà nước, thì lương bổng cũng đủ nuôi mẹ và vợ con.
Vợ nhà văn đang ngồi bón cơm cho con, nghe mẹ chồng nói vậy, cặp mắt dài trong trẻo của chị bỗng chớp chớp, rồi mấy hạt lệ rơi ướt cả cặp má hóp, hồng hồng.
- Anh ấy cứ sợ tôi không chịu được cảnh nghèo khổ, nhưng mẹ tôi đẻ tôi ra cũng ở cảnh nhà quê nghèo, quen sống làm lụng vất và, rau cháo cũng xong. Khi tôi được về làm dâu, mẹ chồng tôi có để tôi phải vất vả đâu. Chỉ có mỗi một việc nuôi con và chăm chồng, thế mà anh ấy nỡ bỏ tôi anh ấy đi...
Chị khóc lên thành tiếng, bà mẹ bỗng nghiêm giọng:
- Sao con vô ý, vô tứ thế! Mời khách ăn cơm, mà cứ ngồi khóc như thế thì ai cỏn nuốt trôi được, hả con!
Chị lau nước mắt, ôm chặt lấy con:
- Xin lỗi chị, em còn vụng dại lắm, mẹ và chồng em khi cỏn sồng, cứ phải bảo ban em từng ly, từng tý một.
Tôi tranh thủ hỏi vào vấn đề:
- Anh có kể chuyện với tôi là anh chị yêu nhau rồi anh nói với cụ hỏi chị cho anh, vậy trước khi lấy anh chị có biết anh là nhà văn rất nổi tiếng không?
Đôi mắt ngây thơ bỗng sáng lên:
- Có chị ạ, em rất thích những chuyện chồng em viết. Nhất là chuyện cô Mịch. Chuyện có thật đấy chị ạ. Ông chủ đồn điền nào đó, ở đâu miền ngược, đi ô-tô qua làng em, bị hỏng xe, phải đỗ lại để chữa. Ông ấy trong thấy cô Mịch đẹp, lôi ngay lên xe. Họ giàu mà đểu cáng lắm. Em và nhà em rất ghét nhà giàu.
- Sau khi anh chết, chị có nghĩ đưa in lại những sách của anh viết không?
Bà mẹ vội đỡ lời con dâu:
- Chuyện ấy còn phải nhờ anh em bạ hữu của Phụng giúp đỡ cô ạ - con vợ nó trẻ dại lắm, biết được gì đâu.
Chị Phụng trẻ thơ thật. Tôi nhìn cặp mắt trong đen còn mọng nước mắt, nhìn cặp má, tuy gầy vẫn hồng luồng, nhìn bàn tay trắng, nhỏ âu yếm xúc từng thìa cơm cho con, sự liên tưởng khiến tôi nhớ đến những nhân vật nữ của nhà văn. Chị có là một “mẫu” nhân vật nào không? Nhưng sự thật, trừ cô Mịch quê mùa, còn nhân vật của anh là những Hằng, những Tuyết, những Huyền... tất cả đều là “tiểu thư con nhà giàu thành phố. Tôi hỏi chị:
- Lúc còn sống, có nhiều bạn gái ở tỉnh thành yêu văn có đến chơi không hả chị?
Chị hồn nhiên trả lời:
- Chả biết nhà em có gặp cô nào ở đâu không, chứ ở nhà thì chỉ biết chiều vợ và chăm con. Bạn bè đến rủ đi hát, đi hút, đều bị nhà em từ chối...
Bà mẹ nói chêm:
- Các bác, các anh ấy chỉ bảo con tôi lành lắm, cô ạ!
Tôi buột miệng:
- Nhưng trong văn chương thì anh ấy chả “lành” đâu, cụ ạ!
Lần đầu tiên cụ cười:
- Nào ai biết được “ma ăn cỗ”. Tuy vậy, nó yêu chiều vợ con nó lắm.
Chị Phụng tiếp luôn lời mẹ chồng:
- Em xin nói thật với chị. Em tuy đầu còn xanh, tuổi còn trẻ, và em chỉ có một mụm con gái, nhưng em cũng nguyện suốt đời thờ phụng chồng, nuôi con, phụng dưỡng mẹ em, thay chồng em. Vì không thể tim được ai tốt, và yêu em bằng anh Phụng.
Chị bỗng tươi tỉnh nhìn con.
- Bé Hằng lớn lên em sẽ cho chảu nối nghề nghiệp của bố, sẽ viết nhiều chuyện hay, sống nghèo như bố.
Thật là một tuyên ngôn chí tình, khiến người nghe xúc động từ đáy lòng.
Đã đến giờ ra về, tôi đứng lên chào bà mẹ. Chị Phụng bế con trên tay, tiễn tôi ra tận bến tàu điện. Tàu chạy rồi, tôi cỏn nhìn lại người goá phụ trẻ, đầu quấn khăn xô, ôm nép đứa con thơ vào vai, đứng lặng mãi bên đường như một người vọng phu hoá đá.
***
- Lê Văn Trương
Tôi hỏi đến nhà Lê Văn Trương còn gian khổ hơn khi tìm đến nhà Thế Lữ. Nghe người ta nói bà ở Bạch Mai; tôi hỏi khắp cả xóm lao động ấy, một bà bảo tôi là là Lê Văn Trương mới dọn lên Láng. Tôi lại đi lên Láng hỏi mãi mới được người ta chỉ đến một ngõ nhỏ; từ cổng trông vào, tôi thấy một thiếu phụ, đầu búi tóc kiểu Sài Gòn, đang lúi húi rửa rau hay vo gạo, bên một lũ trẻ con lố nhố, ở giữa sân. Tôi dặng hắng. người thiếu phụ ấy ngửng đầu lên. Một gương mặt bầu bầu, trắng đẹp, tuy hơi già ngẩng lên. Rồi một thân hình dong dỏng, cân đối và gọn ghẽ, không có dáng sồ sề của người đàn bà đông con, đứng lên. Không đợi chị hỏi, tôi tự giới thiệu và nói:
- Tôi là Anh Thơ, muốn được gặp bà Lê Văn Trương.
- Tôi đây, cô ạ!
Bà rứt ra khỏi chùm con, chạy ra nắm tay tôi niềm nở:
- Tôi có được ba cháu đưa thư của cô... Mời cô quá bộ vào căn nhà nghèo của tôi nào.
Nhà bà nghèo thật. Suốt ba gian vách đất, mái tranh thông thống, không có buồng the đồ đạc gì ngoài cái chõng tre và một giây quẫn áo cũ vắt lòng thòng. Bỗng bà cười:
- Nhà nghèo không có gì, mà tôi thì lại rất giàu cô ạ! Giàu con ấy mà?
Lũ trẻ líu ríu đến bám trước, bám sau mẹ. Bà cố rứt ra khỏi chùm con:
- Thằng lớn vo nốt gạo đi cho mẹ, rồi lấy gạo thêm nếu cả cơm mời ô. Vì từ Hà nội xuống đây, cũng đến bữa rồi. Cô phải ăn bữa cơm nghèo với mẹ con tôi...
Rồi bà cười cởi mở:
- Tôi rất thèm bạn, thèm có người tâm sự, nhưng không đi đâu được với lũ quỷ sứ này.
Bà lại líu ríu:
- Cô cũng có duyên nghèo với tôi. Hôm qua có thịt thì chả được tiếp cô. Hôm nay chỉ của tép rang và rau muống luộc thôi thì lại có khách.
Bà nói với một thái độ rất chân thành, niềm nở, khiến tôi không nỡ từ chối lời mời của bà. Tôi bế thằng bé nhỏ nhất của bà lại ngồi lên bếp, nôi với bà:
- Đã thế, chị đừng coi em như khách. Nào, ta vừa sửa soạn nấu cơm, vừa nói chuyện; chắc chị đã đọc những câu hỏi của em?
Bà Lê Văn Trương vui vẻ ngồi xuống bên rò rau muống đang nhặt giở, nói như xin lỗi:
- Lũ cháu cô còn giở cả; đến bữa mà chưa được ăn, cô sẽ sốt ruột vì sự “háu đói” của chúng đấy.
Rồi bà vừa tiếp tục nhặt rau, vừa nói:
- Tôi nghĩ cô nào còn chưa chồng, chớ nên mơ tưởng lấy văn sĩ. Họ nghèo tiền đã đành, nhưng lại giàu tình nhân quá lắm. Ngay như ông Lê Văn Trương nhà tôi, tuy rất yêu vợ, thương con được tiền in cuốn sách nào, đều đưa cho tôi tất cả. Nhưng nghề nghiệp của anh ấy là phải được yên tĩnh mới suy nghĩ và viết lách được. Nhất là anh ấy luôn luôn phải tiếp các độc giả đến thăm tỏ tình mến phục, để anh ấy được động viên. Nên ở đâu anh ấy cũng thuê riêng một nhà làm phòng viết và tiếp bạn.
Rồi vô tình hay hữu ý, chị bỗng kể khổ với tôi:
- Ôi mà những người đọc tiểu thuyết của anh ấy toàn là những cô gái mới lớn. Họ kéo đến phòng viết của nhà tôi thường ngày. Cô nào xinh xắn, thông minh thì anh ấy nhận làm con đỡ đầu. Nhưng con “đỡ đầu” mà lại ở chung, ăn chung, ngủ chung cả với bố có khi lai đi chung một xe cao-su về Hà nội nhẩy đầm, hoặc đi coi chiếu bóng với nhau suốt đêm. Tôi chả già rồi mà, lại còn vướng cả một lũ quỷ này.
Tôi buột miệng hỏi một câu ngớ ngẩn:
- Thế các cô ấy có đến thăm chị không ạ!
Chị cười như chế giễu sự ngốc nghếch của tôi:
- Cô nào chưa biết “phòng viết” của anh ấy, thì mới lại đây hỏi tôi. Tôi cũng chỉ cho biết nhà, tử tế. Có khi thấy họ nói ở xa đến, tôi cũng mời ăn cơm. Tôi chả ghen tuông gì với họ. Với lại, nhà tôi bảo, người ta có yêu mình thì mới mua sách của mình đọc. Quả thật, các cô ấy phục nhà tôi lắm. Quyển nào ra cũng thấy các cô ấy ca ngợi, và mua về hàng chồng, có lẽ để tặng cả bà con, bạn bè nữa.
- Thế riêng chị, chị có thích chuyện của anh viết không ạ? Chị “mê” đọc quyển nào nhất?
Chị lại nhìn tôi bằng ánh mắt chế giễu:
- Cô thử có một đứa con thôi, cũng đủ bận cả ngày. Đằng này, tôi có những sáu đứa, lại toàn con trai. Làm sao tôi có thì giờ, ngoài việc đi chợ, nấu ăn, tắm rửa, giặt giũ cho chúng.
- Thế chị không phải nấu ăn cho anh à?
- Ít khi nhà tôi về ăn cùng tôi. Nhà tôi còn bận tiếp đãi các cô ấy ở ngoài hiệu cao lâu mà. Kể nhà tôi cũng tốn tiền đấy! Nhưng tôi cũng chả biết tốn đến ngần nào, chỉ biết tháng tháng, anh ấy đưa về cho tôi một món đủ để mua gạo và thức ăn cho các cháu, không phải vay ai là được rồi.
Chị cứ miệng nói tay làm thoăn thoắt, hết rửa rau, lại vo gạo, lại nhóm bếp nấu nướng. Lũ con chạy như cờ lông công. Đứa lấy củi, đứa xách nước. đứa dọn mâm. Chúng vừa làm vừa thụi nhau, đá nhau rồi lại mách mẹ. Khi cơm đã chín, tép đã rang, rau đã xào xong, chị bưng mâm đặt giữa nền nhà, rồi ngồi chia phần vào sáu cái tô to, đưa cho sáu con. Xong chị mới xới cơm và tiếp thức ăn cho tôi:
- Cô bảo, tôi cứ tối mắt, tối mũi về chúng thế này, làm gì có thì giờ ngó đến cỏng việc viết lách của nhà tôi. Nhiều khi nghe các cô khen quyển này, quyển nọ của ba cháu; tôi cũng muốn đọc thử coi. Nhưng cứ động cầm đến cuốn sách, mắt đã díu lại buồn ngủ. Nhà tôi cũng có khi cao hứng, kể với tôi về câu chuyện anh viết, nhưng đầu óc tôi còn bận tính và chia món tiền của ba cháu đưa, sao cho vừa đủ việc ăn tiêu trong tháng, mà thức ăn thì cứ ngày một đắt lên.
Rõ ràng chị Lê Văn Trương cũng chỉ là một người vợ người mẹ kiểu cũ, mặc dù chị còn khá đẹp, đủ để làm nguồn cảm hứng cho ông chồng. Với lũ con to, khỏe, sạch sẽ, với niềm hạnh phúc được săn sóc, nuôi nấng chúng cũng nói lên tất cả lẽ sống của chị ở đó rồi. Tôi thấy còn hỏi chị thêm nữa là thừa.
Trước khi từ biệt chị, tôi thành thực khen chị:
- Anh ấy sáng tác ra những cuốn sách khỏe, chị cũng sáng tác ra một lũ con thật khỏe; thế là bình đẳng và hạnh phúc rồi.
***
Lần đầu tiên đến nhà một hoạ sĩ nổi tiếng tài hoa, tôi để ý quan sát phòng vẽ của anh Tô Ngọc Vân: nào tranh trên tường, nào tranh trong khung, nào tranh để cả trên mặt nền nhà. Bút vẽ, hộp thuốc màu, những cuộn giấy to để ở góc nhà, và những trang giấy đã lồng khung chờ hoạ sĩ. Đặc biệt có một thiếu nữ đẹp mũm mĩm như búp bê, hai má đó hồng hồng ngồi cạnh một bà miệng hơi vẩu trạc ba mươi tuổi, nhan sắc trung bình. Hoạ sĩ chỉ bà, giới thiệu với tôi:
- Nhà tôi đó, cô phỏng vấn gì, xin cứ tự nhiên.
Rồi hoạ sĩ lại trỏ cô thiếu nữ má hồng nói thêm:
- Đây là “người mẫu” của tôi, đang vẽ giở...
Chị Tô Ngọc Vân tươi cười, nhìn cô “người mẫu” một cách thân mến:
- Cô đây đã từng “làm mẫu” cho nhiều bức hoạ của nhà tôi.
Nhưng lại sao bà phải “ngồi kèm người mẫu” của hoạ sĩ. Như đoán được mối nghĩ thầm kín của tôi, hoạ sĩ cười:
- Nhả tôi tuy không vẽ, nhưng rất hiểu và biết những chi tiết gì cần nêu lên tranh. Cho nên tuy có “người mẫu đẹp” nhưng ý kiếu của nhà tôi góp cho tôi vẽ cũng rất hay cô ạ.
Nhìn nét mặt hiền hậu và đôi mắt to thông mình của bà, tôi thấy lời hoạ sĩ có phần đúng. Tự nhiên tôi thấy vui và tự hào với vai trò của bà, đã nói lên sự đóng góp và động viên cho sự nghiệp nghệ thuật của ông.
Mở đầu câu chuyện, tôi nói với hoạ sĩ:
- Bốn bức minh hoạ của anh đã làm tôn lên rất nhiều giá trị cho tập thơ “Bức tranh quê”. Tiện đây, tôi xin chân thành cảm ơn anh.
Vợ hoạ sĩ cười:
Tôi phải đi tìm cho được một cô gái “thật quê” cho anh vẽ đấy. Một cô gái mập mạp, khoẻ mạnh, lại nhí nhảnh, nghịch ngợm. Một cô gái Lim trăm phần trăm, cô ạ. Hoạ sĩ tay vẫn vẽ đều, nhưng cũng tham gia vào câu chuyện:
- Chắc cô muốn biết vợ hoạ sĩ có khác gì vợ các người khác, phải không? Cũng có khác mà cũng không, cô ạ. Mình nói cho cô ấy biết đi!
Chị Tô Ngọc Vân cười, hàm răng vẫn rất tươi:
- Cái khác so với những người, hay những bạn học cùng trường của nhà tôi, thì hoạ sĩ bao giờ cũng rất nghèo cô ạ. Tuy nhà tôi nhờ bán được tranh, nên không đến nỗi nghèo lắm (tôi nhìn căn nhà hai tầng, bài trí khá đẹp của anh chị) và... và phải biết chồng mình, vì muốn vẽ đẹp nên cần phải gần gũi những người đẹp, mình đừng có làm gì cản trở việc gần gũi ấy. Phải giúp chồng an tâm, để hết tâm hồn vào việc vẽ, đừng có bận một ý nghĩ nho nhỏ, buồn phiền nào vì vợ. Tôi đã làm thế; chúng tôi sống rất hoà thuận, vợ chồng thật tương kính như tân, cô ạ.
Tôi nhìn đôi mắt to, cô riềm mi dậm của vợ hoạ sĩ sáng lên một ánh trong trẻo. Tôi tin lời chị, bỗng thấy cảm tình với người đàn bà tuy không đẹp, nhưng lại được chàng yêu quý hơn những người đẹp khác. Vì lúc đó ở cạnh chị, cô người mẫu có vẻ như một con “búp bê” vô tri, vô giác. Tôi lại nhìn người trong tranh với người ngoài, thấy khác hẳn. Nhất là đôi mắt hoạ sĩ vẽ, đôi mắt có ánh trong trẻo, đầy hạnh phúc, đôi mắt của người vợ quý yêu. Và tôi bỗng thấy việc vợ hoạ sĩ ngồi kèm người mẫu của chồng không khó chịu tí nào. Tôi nói với cả hai anh chị:
- Có lẽ bức tranh đẹp của anh hôm nay là bức tranh gia đình hạnh phúc. Nếu tôi biết vẽ, tôi sẽ sao lại nguyên bán, với tay bút âu yếm của anh, với nét cười và mắt nhìn hiền hậu của chị.
Cả hai anh chị đều cười. Cô “người mẫu” cũng cười. Hoạ sĩ nói:
- Cảm ơn nữ thi sĩ, tôi mong bức tranh tôi vẽ hôm nay sẽ vào thơ của cô, và sẽ biến thơ cô thành “bức tranh” cũng như “bức tranh quê” này.
***
- Nguyễn Vỹ
Từ nhà hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, tôi tìm đến nhà thi sĩ Nguyễn Vỹ ở phố Hàng Bạc. Đã từ lâu, đọc thơ Bạch Nga, nghe chuyện Mộng Sơn, tôi vẫn tưởng tượng Nguyễn Vỹ là một chàng thì nhân, thanh nhã. Nhưng khi đền nhà, thì đó là một anh chàng béo phệ, cởi trần, mắt lại đeo kính, đang ngồi giữa hai người đàn bà, một gày đét, khắc khổ, tay cầm một cái búa nhỏ, đang gõ vàng quỳ; một tươi đẹp mũm mĩm, lay ôm một con chó nhỏ. Thi sĩ thấy khách vào, vừa vội vàng mặc áo vừa trỏ bà gầy đét đang ngồi đập vàng quỳ, giới thiệu với tôi:
- Đây là nhà tôi: madame Nguyễn Vỹ.
Rồi tay anh tiếp tục trỏ sang phía người đẹp:
- Đây là một nữ độc giả đặc biệt của tôi.
Rồi anh nói với vợ:
- Mình ngồi tiếp cô Anh Thơ, vì cô cần phỏng vấn riêng mình. Còn anh, xin đưa cô bạn đi chơi một lát.
Lúc đó, bà Nguyễn Vỹ mới rời tay búa, đứng dậy, lại bên chiếc bàn gỗ tạp, rót nước vào một cái chén sứ cũ vàng cáu nước chè, mời tôi:
- Cô xơi nước, rồi tôi sẽ nói hết. Đấy “họ” lại đi rồi.
Bà vừa cười nhạt, vừa chỉ tay theo thi sĩ đang sánh đôi cùng cô bạn đọc “đặc biệt” ra cửa. Tôi hỏi:
- Chắc thi sĩ có nhiều nữ độc giả đến chơi?
Bà vẫn cười nhại.
- Còn phải nói! Vi cô nào mới lớn, chả thích thơ tình!
- Thế bài thơ tình thi sĩ tặng chị, chắc chị phải thích?
Bà lắc đầu:
- Ôi dào! Thơ với thẩn gì tôi. Suốt ngày đi nhận vàng về, lại suốt ngày ngồi đập, nuôi báo chồng, để chồng lại đi đú đởn với gái. Cái thân tôi thật là cái thân tội cô ạ!
- Tại sao chị chịu vậy!
- Chả chịu vậy, thì cô bảo còn làm thế nào? Anh ấy có kiếm ra được đồng nào đâu! Tôi phải làm suốt ngày để nuôi anh ấy (cô đó là vợ bé đấy). Tôi chỉ yêu cầu trước mặt tôi anh chị đú đởn vừa vừa chứ! Cũng phải nghĩ đến sự buồn tủi của người vợ già chứ! Thế mà họ có thôi đâu! Cứ như là trẻ con một lũ ấy.
- Thế chị lấy anh cô phải vì yêu thơ anh không?
- Đâu phải thế! Tại bố mẹ tôi gả tôi cho anh ấy chứ! Các cụ cứ nghĩ người học đến tú tài Tây rồi, thì phải danh giá và làm ra được nhiều tiền của. Đấy cô xem, có tiền của thì nhà cửa đã không thế này.
Tôi nhìn cảnh nhà thi sĩ, cỏn trống trải, nghèo nàn hơn nhà chị Lê Văn Trương. Nhà chị Lê Văn Trương còn ấm cúng, vì có lũ trẻ rộn rã. Còn nhà này thi sĩ và người đẹp đi rồi, còn trơ một người đàn bà héo hắt với chiếc búa con và chiếc mùi xoa nhỏ, buộc túm ít hạt vàng, có lẽ là phương tiện sinh sống độc nhất của người trường phái thơ Bạch Nga.
Tưởng tượng với thực tế thật khác xa.
Khi tôi về, kể chuyện với Quỳnh Dao, anh nhìn tôi nói đùa:
- Cô liệu mà tả chân kẻo lại làm “vỡ mộng” tất cả các cô gái đang ôm giấc mộng tình với thi sĩ.
Tôi cũng cười, nói với anh:.
- Và cũng “vỡ mộng” cả tác giả thiên phông sự này. Khi cô ta háo hức nghĩ rằng làm lâm vợ các “văn nghệ sĩ” là vinh quang và hạnh phúc lắm.
Chương 12
Số báo Tết và Xuân 1943, chúng tôi rất rỗi rãi. Một hôm Quỳnh Dao nói:
- Chúng mình phải đi thăm một số nhà văn, nhà thơ, nhà xuất bản Hà Nội, cô ạ. Báo chúng mình rất cần những trợ bút có tiếng tăm, để tăng thêm uy tín với độc giả. Chủng mình lại là những nhà thơ tỉnh lẻ về đây, cũng cần giao tiếp với các văn nhân thi sĩ Hà Nội xem họ sống và viết ra sao. Cô có thấy ta nên làm việc đó không?
Đã từ lâu tôi cũng có ý định muốn làm quen với các nữ thi sĩ nổi tiếng ở Hà Nội, nay Quỳnh Dao cũng có ý ấy, tôi vui vẻ nói với anh:
- Việc mời thêm những người có tiếng tăm làm trợ bút cho báo mình, cùng với việc làm quen vở các văn nhân, thi sĩ Hà nội, đều rất cần. Ý tôi trước hết, hãy tìm đến thăm các nữ thi sĩ đã.
Quỳnh Dao cười:
- Cô thật có giới tính, tôi xin theo ý muốn của cô. Vậy ta nên đến thi sĩ nào trước?
- Chị Vân Đài, anh ạ. Nghe nói nhà chị ở phía Hồ Tây, nhân thể ta ra ngoại thành du xuân luôn thể.
- Được đấy.
Quỳnh Dao vào dặn vợ con ăn cơm trước. Sau đó, chúng tôi đi tầu điện từ Giám ngược lên Bờ Hồ. Hà nội đang rực rỡ trong ngày Xuân mới. Đã mùng sáu tết rồi mà cửa hàng, cửa hiệu chưa mở hết. Nhưng đường phố vẫn rộn rịp người. Những áo nhung đủ màu, những áo len ấm áp, những giải khăn san phấp phới như cánh bướm bên những bồn hoa cúc, hoa đào. Trời lại nắng ấm nhìn cô nào cô ấy má ửng hồng. Tự nhiên tôi nhìn vào cửa kình tàu điện, xem má mình có hồng không. Quỳnh Dao thì mê đắm cả hoa lẫn người lướt qua ô cửa tàu điện.
- Vân Đài
Tầu dừng trước cửa chùa Quan Thánh. Chúng tôi đi bộ lên phía Quảng Bá. Tìm được ngay nhà chị Vân Đài ở đầu Hồ Tây. Đôi cánh của trúc khép hờ, bên một cây liễu rủ. Quỳnh Dao khẽ đẩy một bên cánh cổng; tôi nhìn vào, thoáng thấy một bà beo béo mặc chiếc áo cánh cũn cỡn, đang đứng sai bảo gì người nhà. Một chú “tiểu đồng” thấy có khách, vội chạm ra. Quỳnh Dao lịch sự lấy danh thiếp của anh và của tôi đưa cho chú. Chú vụt chạy vào rồi lại chạy ra: tay khép cánh cổng, miệng nói:
- Bà tôi “bận”, ông bà hãy chờ một lát. Chúng tôi chờ đến năm phút, hết nhìn mặt hồ mênh mông, lại nhìn bóng liễu lao xao trước nắng. Quỳnh Dao khó chịu:
- Nữ sĩ gì mà bất lịch sự, bắt khách chờ đợi lâu thế!
Bản tính hay phản ứng những sự đụng chạm đến giới mình, tôi nói:
- Chính vì lịch sự, nên người ta phải có thời gian sửa soạn tiếp mình chứ!
Như in lời tôi, cánh cổng chợt mở rộng. Cái bà to béo tôi thấy lúc nẫy, đã súng sính trong chiếc ki-mô-nô sặc sỡ. Bà khá đẹp, khuôn mặt bầu bầu, làn da trắng mịn dưới lớp phấn, môi son đỏ tươi. Đặc biệt đôi mắt một mí rất mơ màng. Chiếc ki-mô-nô- rất ăn với dáng người khoẻ mạnh, mà vẫn mềm mại hệt như một “thiếu phụ Nhật Bản” quý tộc.
Quỳnh Dao đưa một khoé mắt lạ phía tôi, giễu cợt sự cầu kỳ của nữ sĩ. Chị Vân Đài lờ đi trước cái nhìn ấy, niềm nở bảo chúng tôi:
- Xin lỗi hai bạn phải chờ lâu, xin mời vào.
Chị hướng dẫn chúng tôi vào phòng khách của chị. Một bộ xa-lông kiểu tây đồ sộ chiếm gần hết gian phòng. Một làn giấy cũng đồ sộ không kém, trên để nhiều sách báo tiếng Pháp, một tủ búp-phê đầy cốc và rượu Tây. Đặc biệt ở một góc phòng, dưới cành bích đào một pho tượng bán thân bằng đá trắng, tạc một khuôn mặt thiếu nữ hình trái xoan, đầu đội chiếc mũ tháp nhọn, rất đẹp. Thấy tôi ngắm nghía mãi pho tượng ấy, chị Vân Đài nói:
- Đó là tượng một vũ nữ Cao Miên; hồi nhà tôi làm Chủ sự giây thép bên đó, được người ta tặng đấy. Cô có thấy đẹp không?
Chị vừa nói vừa đẩy tôi vào chiếc đi-văng đệm nhung êm ái. Rồi chị hướng về Quỳnh Dao, đã lọt thỏm tấm thân bé nhỏ của anh vào chiếc ghế đổ sộ giữa phòng. Chị ân cần hỏi thi sĩ có được bao nhiêu thơ. Báo Đông Tây của thi sĩ đã được bao nhiêu cây bút tiếng tăm cộng tác. Chị khen phụ bản số Tết, số Xuân in đẹp. Nhưng chị bình phẩm thơ tôi:
- Cô Anh Thơ vẫn không thoát được con mắt khách quan khi nhìn cảnh vật nhỉ? Tại sao giữa một ngày xuân tươi đẹp “beau printemps” một thiếu nữ hai mươi tuổi lại không rung động tình xuân.
Tôi chưa kịp nói gì, chị đã nhìn sang Quỳnh Dao:
- Thơ là tình cảm, là phải làm rung động người đọc. Tiện đây xin được đọc bài tôi mới làm, nói về tâm tình người Xuân nữ.
Rồi chị đọc luôn:
XUÂN NỮ
Đầy vườn ríu rít tiếng chim vang
Âu yếm ôm Xuân nắng dịu dàng
Mỗi nụ như tô thêm sắc thắm
Mỗi cây như nhuốm một mầu vàng

Xuân sắc muôn màu náo nức tươi
Gió như ngừng thổi, nước ngừng trôi...
Hồn em ngây ngất trong say đắm,
Ôm ấp tình Xuân giữa gió cười.

Cảm thấy lòng em tựa giỏ hoa.
Xuân về, quyến rũ bướm ong qua.
Đời em như trải trong không khí
Đầy những mùi thơm, những giọng ca.

Rồi như nắng ấm toả trong sương
Em khóc vì em thất đượm buồn
Quỳ xuống hôn Xuân trên cỏ có biếc
Lòng em rạo rực nỗi yêu đương!
Nhìn chị đọc thơ, hai mắt mơ màng, miệng son tươi sáng, đúng là một “Xuân nữ” đang rộn rực nỗi yêu đương... Tôi bồng bột thổi lên:
- Thơ chị trẻ và tình cảm quá. Nếu biết trước, em sẽ xin chị cho in vào số Xuân.
Quỳnh Dao thì ngồi cười, lặng lẽ, không bình phẩm một lời. Chị Vân Đài nhìn tôi, vui vẻ:
- Đó, cô thấy chưa? Ta nên đi sâu vào tâm tư hơn là nhìn ngoại cảnh. Cô có tài tả cảnh thật, nhưng cảnh phải có người.
Chị lại hướng vào Quỳnh Dao:
- Tôi tiếc cô Anh Thơ ít học quý. Giá cô đọc được thơ Pháp như La-mác-tin, như Bô-đơ-le, và thơ Đường như của Lý Thái Bạch, của Lạc Tân Vương thì chắc thơ cô còn hay hơn nữa. Rồi chị lại hướng vào tôi”
- Chác bà chị ta xưa như Đoàn thị Điểm, bà huyện Thanh Quan, đều là những nhà uyên thâm nho học. Đoàn thị Điểm còn dạy được nhiều học trò thi đỗ Đại khoa. Vì người làm thơ phải très brillant, nghĩa là phải thật thông minh, tri thức.
Qunh Dao đỡ lời tôi:
- Tôi thấy chị Vân Đài nói cũng đúng là nhà thơ phải có tri thức, nhưng tôi còn thấy thêm là nhà thơ trước hết phải có tri thức về nghề thơ của mình. Theo tôi biết, cô Anh Thơ rất hiểu nghề nghiệp cô làm đấy, chị ạ.
Tôi thấy không cần gì phải nói thêm về việc tôi tự học và làm thơ thế nào, tôi nói sang, chuyện khác:
- Chị còn bài thơ Xuân nào mới hơn bài vừa đọc không? Chị cho em một bài, vì Đông Tây còn ra tiếp số Xuân nữa.
quỳnh Dao nói rõ thêm:
- Cô Anh Thơ là người giữ mục thơ của báo Đông Tây, nên cô ấy muốn dành cho nữ giới cả một mùa Xuân đấy, chị ạ.
Tự nhiên chị Vân Đài kéo ghế lại gần tôi, niềm nở:
- Ai ngờ một cô gái quê, lại đảm đang cả một thi đàn của tờ tuần báo văn chương Hà Nội, thế thì cô hẳn nhận được nhiều thơ gửi đăng lắm? Chắc thế nào cũng có chuyện “mê nàng bao nhiêu người làm thơ”.
Chị liếc nhìn Quỳnh Dao một cách ý nghĩa. Quỳnh Dao điềm nhiên nói:
- Khi nào có thời giờ, mời chị ghé qua toà báo Đông Tây chọn hộ cô Anh Thơ một chàng, trong số các chàng “mê nàng làm thơ”, vì vợ tôi cứ kêu cô Anh Thơ khó lỉnh quá.
- Khó tính hay bản tính khô khan.
Thấy chị cố ý xoáy vào nét khác biệt của thơ tôi với thơ thời thượng, tôi tự ái:
- Người ta chưa hiểu nhau thì không nên nhận xét nhau vội chị ạ, mỗi người sống một cách mà! Chị không thấy nói: mỗi nhà thơ phải có cách viết riêng của mình ư?
Chừng hối hận về thái độ kém lịch sự của mình, chị Vân Đài hỏi lảng:
- Madame Quỳnh Dao có làm thơ không?
Tôi nhìn chị, cười mỉm:
- Không làm thơ, nhưng chị Quỳnh Dao là nàng thơ số một của thi sĩ. Nếu có thời giờ, chị lại chơi toà báo Đông Tây, chị sẽ thấy một nữ sinh rất ngây thơ suốt ngày nàng chỉ nhảy giây ở ngay sân toà báo, để sửa dáng đi cho đẹp thích ý muốn của thi sĩ. Nhìn nàng không ai có thể ngờ một thiếu phụ đã có hai con. Đó là một nguồn cảm hứng, yêu đời vô tận của thi sĩ Quỳnh Dao.
Chừng đã yên tâm về mối ngờ vực của mình, chị Vân Đài cười vui vẻ:
- Tôi còn có một bài thơ mới nữa. Nhưng mới về nội dung, mà hình thức là thơ Đường. Vì tôi vẫn thích làm thơ theo luật Đường. Cô Anh Thơ xem có lấy in được không nhé.
Chị vừa nói, vừa chạy vào phòng trong lấy đưa tôi một bản đánh máy. Tôi chưa kịp đọc, bỗng có tiếng đàn ông oang oang từ phía cổng:
- Đi săn mà chẳng được con chim nào, mua được mớ cá đặc biệt ngon, tươi ở Hồ Tây đây, Má nó ra má xem, nên nấy hay rán.
Chị Vân Đài vui vẻ, nháy mắt bảo chúng tôi:
- Nhà tôi đấy!
Rồi chị nói to:
- Làm gì ngon là tuỳ tài “làm bếp giỏi” của ba nó. Tôi còn đang bận tiếp khách thơ đây!
Có khách thơ à? Xin lỗi khách, tôi phải tuân theo lệnh phu nhân đi vào bếp vậy.
Tiếng nói cười vui vẻ của chồng chị Vân Đài, tự nhiên làm thay đổi hẳn cái không khí xã giao giữa chúng tôi. Chị Vân Đài nói:
Ở nhà này đã có một cái lệ: hễ khách thơ mà tới nhất định phải ở ăn cơm, vì nhà tôi rất sẵn sàng thay tôi làm bếp. Vậy anh và cô đừng về vội, mấy khi từ nội thành ra tới đây? Chúng mình còn phải đọc thơ cho nhau nghe chứ!
Tôi không muốn ở lại, Quỳnh Dao nể nhiệt tình của chủ nhân, nên bảo tôi:
- Thôi ở lại cô ạ, xem vợ chồng nhà thơ nữ có khác gì với vợ chồng nhà thơ nam không?
Chị Vân Đài bỗng vui hẳn lên:
- Ừ, có thế chú. Nhất là có Anh Thơ phải ở lại để rút kinh nghiệm cho cuộc sống hạnh phúc lương lai chứ. Thôi các bạn đọc thơ tôi đi.
Chị bỗng cởi phăng chiếc ki-mônô, vắt vội vào cửa, hiện nguyên hình cái thân thể beo béo, tròn tròn, trong chiếc áo cũn cỡn. chạy vụt xuống bếp.
Quỳnh Dao lại đưa mắt hỏm hỉnh nhìn tôi, nhưng tôi vội gạt ngay ý nghĩ chám biếm của anh:
Chị Vân Đài thế mà có những nét thật hồn nhiên, tôi lại thích chị như vậy.
***
- Ngân Giang
Sau khi ở nhà chị Vân Đài về, tôi cứ nghĩ: mình không đẹp, không diện, không nói được tiếng Pháp, mình vẫn quê mùa thật, nên thấy ngại đến các nhà nữ sĩ Hà Nội, Quỳnh Dao nghe tôi nói vậy, anh bỗng hơi gắt:
- Cô nghĩ thế là tự mình hạ thấp giá trị của mình đấy. Nữ sĩ Sông Hồng hay Sông Thương không thành vấn đề mà vấn đề là thơ có hay không. Tôi nói thật, cô đừng giận tôi chứ thơ các nữ sĩ Hà Nội chưa thoát khỏi khuôn sáo đâu.
Tôi ngắt luôn lời anh:
- Thôi thôi, tôi còn lạ gì đầu óc các anh, lúc nào cũng thấy phụ nữ là “xoàng”, dầu sao, tôi vẫn quý tâm hồn các chị.
- Nếu cô quý tâm hồn các chị, thì nên đi thăm các chị chứ?
- Đi thì đi!
Vì vậy chúng tôi tiếp tục đến Ngân Giang. Nhà chị ở ngay thành phố nên chúng tôi đi bộ đến. Sau khi gõ cửa, Quỳnh Dao nói đùa:
- Khéo không lại phải chờ nữ thi sĩ mặc ki-mô-nô ra đón khách mất.
Tôi chưa kịp nói gì thì đã có ngay mót cô hầu gái rất xinh ra mở cửa, mời chúng tôi lên gác, qua những chậu trồng cây cúc, cây đào, cày mai, toàn loại chậu sứ Giang Tây, đủ màu óng ánh. Chúng tôi vừa tới cửa lầu đã như ngập vào một làn hương trầm ngào ngạt, cùng với tiếng ngâm thơ trong trẻo: “Nhớ thương vòng ngọc lỏng tay ngà”, rồi một nàng tóc bay lả lướt, chân dận hải thêu kim tuyến màu hồng, xuất hiện trước bức bình phong bằng đá, có khắc những dòng thơ chữ Hán. Miệng nàng cười mở rộng, ánh lên một sợi vàng nhỏ xen kẽ hàm răng trắng như ngọc.
- Mình đang nghĩ giở bài thơ tương tư, Quỳnh Dao, Anh Thơ vào đây?
Cách tiếp đón và xưng hô thân mật, khiến chúng tôi tự nhiên được ngay. Quỳnh Dao nói:
- Câu thơ Ngân Giang vừa ngâm hay quá. Tương tư ai mà đến nỗi “chiếc vòng ngọc phải lỏng cổ tay ngà”? Chọn chữ đẹp thật!
Tự nhiên tôi nhớ đến câu:
Chợt nghe hai tiếng bên đường
Rụng rời tay ngọc, xuyến vàng rộng thênh
Ở Tây sương ký, trong bụng thầm phục Ngân Giang đã học được ở người xưa, lại áp dụng thơ xưa vào thơ mình một cách thật sáng tạo.
Ngân Giang cười, vẫn miệng cười mở rộng, có hai lúm đồng tiền mũi dùi xinh nhỏ dùi vào ở hai bên má tròn có cái cằm hơi lẹm.
- Có biết ai diễm phúc được Ngân Giang tương tư không? Người bạn đồng hương của Anh Thơ đấy.
- Thi sĩ kiêm chủ trại Bàng Bá Lân phái không? - Nói rồi Quỳnh Dao liếc Ngân Giang. - Người gần, cùng một bến Sông Hồng lại không tương tư, đi tương tư tận người ở bến Sông Thương xa lắc.
Ngân Giang cũng đưa ánh mắt sắc liếc lại Quỳnh Dao:
- Rõ khéo! Người gần lúc nào gặp chả được, người xa thì cách núi, cách sông, mới phải tương tư chứ?
Vãn nghe đồn Ngân Giang sống phóng túng, thường làm thơ đùa cợt các tao nhân, mặc khách và cũng không thiếu gì dư luận khen, chê nàng. Hôm nay được thấy tận mắt, tôi lấy làm phục nàng, nói chuyện tương tư thẳng với nam giới mà không ngượng.
Ngân Giang mời chúng tôi vào, ngồi lên hai chiếc đôn sứ, còn nàng bước lên chiếc sập gụ chân quỳ, có trải đệm gấm hồng. Tà áo lụa ngà, trải xoả xung quanh nàng ngồi trước hộp gương trang điểm. Chỉ thấy phút, làn tóc đen đã cuốn lên từng múi như mây, đôi mày được tô đen thêm, hình vòng cung trên đôi mắt to long lanh, ươn ướt, ánh sắc loáng như dao. Da nàng đen ròn, được phủ lên mặt lớp phấn mịn hồng, rất hấp dần người nhìn. Chung quanh, nào lọ sứ cổ cắm bông mai, nào tranh thuỷ mạc của Tàu, có cả tranh Phật bà quan âm đang cầm phấn trần, đứng trên mây. Đặc biệt, có một bức tranh lớn vẽ Quan Công đang cầm một thanh long dao, ruổi ngựa qua cầu. Ngân Giang nhìn vẻ chăm chú của tôi, cắt nghĩa:
- Đây là Quan Công đang chạy trốn Tào Tháo, Vì Tào Tháo muốn mua chuộc ông, nên cứ ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, tiếp đãi rất trân trọng. Nhưng Quan Công không muốn phụ tình “Vườn đào kết nghĩa” với Lưu Bị; Quan Công lảng xa Tào Tháo.
Quỳnh Dao lại cười:.
- Sao nữ sĩ lại thích Quan Công thế?
Ngân Giang lại nguýt dài:
- Người trung hậu, ai chả quý! Nhất là tình bạn của các ông kết nghĩa “vườn đào” đẹp như thơ.
- Vậy Ngân Giang có làm thơ về bức tranh này không?
- Thiếu gì chuyện làm thơ. Ngay với tâm tình mình, làm cũng chưa hết, cần gì đề tài ngoài.
Rồi tự ngắm mình trong gương một lần nữa, đoạn Ngân Giang nhìn Quỳnh Dao:
- Ngân Giang vừa ốm khỏi, chỉ sợ mình xấu đi, nhưng soi gương cũng không đến nỗi, phải không? Để mình “tức cảnh” ngay cho Quỳnh Dao nghe nhé. Rồi nàng vừa nghĩ vừa ngâm:
Sớm nay ma bệnh lánh đi rồi
Ngồi trước gương xưa bỗng mỉm cười
Mắt vẫn lồng sao ngời ngợi sáng
Mặt còn khuôn nguyệt dịu dàng tươi.
Làn môi thắm nở trong son đượm
Mái tóc huyền buông trước gió lơi
Đã tưởng đất đen vùi má phấn
Nào ngờ non nước vẫn còn tôi.
Quỳnh Dao gật gù khen:
- Câu kết khá, dùng được hai hình tượng tương phản là đất đen và má phấn, còn câu đối thật chỉnh:
Mắt vẫn lồng sao ngời ngợi sáng
Mặt còn khuôn nguyệt dịu dàng tươi.
Người ta ca ngợi người ta hết cả chữ đẹp rồi, làm cho ngòi bút nam nhi đến phải chịu.
Ngân Giang cười hào hứng.
- Ngân Giang có mười bài “Xuân mong đợi” sẽ gửi đăng báo để các thi nhân hoạ vần, xin đọc bài đầu để hai thi sĩ nghe:
XUÂN MONG ĐỢI
Có biếc xanh rờn, liễu óng tơ
Lối mòn rải rác cánh hoa mơ
Cung đàn thôn vắng say trăng nước
Tiếng hát sông khuya nhớ bến bờ,
Trăng lạnh lùng soi hồn lạc lõng
Gió hiu hắt thổi mộng bơ vơ
Người đi cát bụi ngoài muôn dặm
Mây núi cây rừng lộng ý thơ.
Nàng đang say sưa đọc, chúng tôi cũng đang say sưa nghe. Bỗng có tiếng quát to từ dưới nhà:
- Sen, bây giờ là mấy giờ mà chưa cơm nước gì cả? Mợ đâu?
- Dạ thưa ông, mợ con đang có khách.
- Lại khách thơ thẩn phải không? Lên gọi ngay mợ xuống.
Quỳnh Dao đưa mắt nhìn tôi. Ngân Giang cắn đôi môi thắm:
- Ông chồng hay ghen của tôi đã đi làm về đấy. Nhưng không sao. Ít ra ông ta cũng nể nữ sĩ hơn.
Thấy cũng hết hứng nghe thơ, chúng tôi đứng dậy. Ngân Giang gượng cười:
- Xin lỗi hai thi sĩ nhé. Ấy cũng bởi cái số Ngân Giang khổ sở thế, gặp phải ông chồng...
Nàng còn cố đọc thêm hai câu:
Cũng bởi trời già trao phận bạc
Cho nên tuổi trẻ ngán ngày xanh.
Quỳnh Dao vội nói:
- Thôi, Ngân Giang! Chúng tôi nên về, hẹn khi khác sẽ đến nghe thơ.
Nhớ đến nhiệm vụ tìm cộng tác viên cũng là gỡ bí cho Ngân Giang, tôi nói to, cố ý cho anh chàng dưới nhà nghe thấy:
- Vậy chị nhớ nhé, chép ngay bài thơ nào thích nhất, gửi cho chúng tôi.
Rồi hai chúng tôi xuống gác. Anh chàng cố ý quay đi lánh mặt; tôi và Qunh Dao cũng “lờ” đi, ra khỏi nhà. Quỳnh Dao thở một cách khoan khoái:
- Hú vía! Chắc nàng thơ hay có bạn trai đến xướng hoạ thơ tình, nên anh chồng mời ghen tuông một cách bất lịch sự như thế.
Tôi thấy bất bình:
- Sao Ngân Giang lại chịu đựng nổi một ông chồng như thế? Thật phí cả tài sắc một thời.
Quỳnh Dao cười hóm hỉnh:
- Anh chồng này là thứ hai đấy. Nếu cứ ghen tuông mãi thế, chắc Ngân Giang cũng đến bỏ thôi. Lại còn có cớ mà làm thơ than phận bạc.
- Và các thi sĩ nam nhi nhà các anh, lại thi nhau hoạ lại để thương nàng và rồi nói xấu nàng.
Quỳnh Dao phân trần:.
- Không ai nói xấu Ngân Giang đâu! Họ chỉ nói tới cuộc sống phóng túng của nàng thôi. Tôi thì tôi tiếc cho cái tài mẫn tiệp của nàng.
Tôi không nói gì thêm, nhưng cũng như Quỳnh. Dao, tôi thầy tiềng tiếc cho tài thơ của Ngân Giang. Chưa được đi sâu tìm hiểu cuộc sống và tâm tư của nàng, nhưng tôi cũng thấy có cái gì phù phiếm ở người nữ sĩ tài sắc này. Sau tôi cứ suy nghĩ, băn khoăn: tài ấy, thõng mình ấy, nàng phải làm, phải hiến cho một cái gì cao đẹp hơn chứ nhỉ! Nhưng chính tôi cũng không hiểu cái cái “đẹp” ấy thật rõ ràng như thế nào, vì chính tôi cũng đang đi tìm vào cái “hướng thật cao đẹp” ấy cho thơ mình.
***
- Vũ Ngọc Phan
Từ bến tàu điện ấp Thái Hà đến Vũ-gia-trang thăm anh Vũ Ngọc Phan và chị Hằng Phương, Quỳnh Dao vừa đi, vừa nói với tôi:
- Hồi báo ra số đầu, tôi có đến mời anh chị Vũ Ngọc Phan cộng tác. Họ sống giữa một biệt thự rất nên thơ, họ yêu nhau rất mực, rồi cô sẽ thấy một đôi uyên ương thật lý tưởng.
- Khác hẳn đôi “uyên ương” Ngân Giang và chồng chứ?
- Lẽ tất nhiên khác xa. Anh Vũ Ngọc Phan vừa dịch sách, vừa làm chủ báo Hà Nội, vừa viết phê bình. Chị Hằng Phương thì vừa làm thơ, vừa làm những bữa cơm thật “tuyệt tác” đãi bạn chồng, bạn thơ. Nhiều anh em trẻ thường kéo đến chị, không khí ở đấy vừa thân tình, vừa đầm ấm.
Tới chưa kịp hỏi thăm gì, bỗng có tiếng reo:
- A Quỳnh Dao! Hãy tới đầu cầu này cùng chúng tôi ngắm tơ liễu xuân, xanh non trong nắng đẹp đã.
Tiếp treo là một nhịp cười ròn vui trẻ. Một thiếu phụ chừng ba mươi, tóc vấn trần, mặt đẹp một cánh đầy đặn, phúc hậu. Đứng hên chị, một ông cũng cỡ tuổi ấy nhưng dáng người nhỏ nhắn, thư sinh. Cả hai đang đứng trên cầu một con sông máng, dưới bóng liễu xanh, cùng hướng cái nhìn vui tươi, thân ái về phía chúng tôi.
Quỳnh Dao nói:
- Anh chị ấy đấy!
Rồi cười to:
- Chúng tôi định khoảng ba giờ chiều mới tới thăm anh chị. Nhưng sáng nay đẹp trời, tôi muốn để cô Anh Thơ được thấy hạnh phúc của một đôi giai nhân trong văn chương, giữa một ngày xuân, nên đến sớm hơn giờ hẹn.
Chị Hằng Phương chạy lại nắm tay tôi:
- Cô Anh Thơ phải không? Cô có thấy “Bức tranh quê” Hà nội này đẹp khỏng tôi tiếc không có tài tả cảnh. Nếu có, tôi cũng làm một tập “những bức tranh ngoại thành” đấy.
Vừa nói, chị vừa dắt tôi vào cổng Vũ-gia-trang. Từ dáng liễu xanh thướt tha bên cửa, đến sắc hoa hồng, hoa đào trong vườn, quanh phòng khách, đều sáng lên mùa xuân tươi đầm ấm. Một cô gái khoảng mười ba, mười bốn tuổi, mặt trái soan, má trắng muốt như ngọc, không bợn một tí gì, bưng khay trà ra, chị Hằng Phương giới thiệu:
- Con gái đầu của tôi đấy, cháu Giáng Hương, lại thích vẽ hơn là làm thơ.
Cô gái cúi đầu mỉm cười, rồi lặng lẽ rút lui. Anh Vũ Ngọc Phan ân cần đặt một chén trà trước mặt tôi:
- Thơ cô thật khác lạ, rồi tôi sẽ có bài phê bình đấy.
Chị Hằng Phương cười ròn.
- Thiếu gì bài phê bình thơ cô Anh Thơ? Chưa chi anh đã doạ “quý khách” của tôi thế. Mà tôi khuyên Anh Thơ, đừng nghe các nhà phê bình nhiều. Tự mình thích cái gì thì mình làm cái ấy, không ai hướng tốt cho mình bằng mình.
Tôi vội nói:
- Nghe được nhiều ý kiến cũng rất có lợi chị ạ. Nhất là ý kiến của một nhà chuyên phê bình như anh.
Anh Vũ Ngọc Phan cười:
- Chỉ sợ sau khi nghe ý tôi rồi, cô sẽ không thích thú gì đọc tôi nữa.
Chị Hằng Phương cắt ngang lời anh:
- Thôi để chúng tôi nói chuyện thơ với nhau. Anh Thơ ạ, mình cũng có một quê hương để làm thơ. Nhưng thơ mình đầy tình cảm nhớ thương chứ không khách quan như của Anh Thơ đâu, để mình đọc Anh Thơ nghe nhé.
Quỳnh Dao chêm vào:
- Trước khi đọc thơ về quê hương, chị hãy đọc những bài thơ chị tặng anh, cho cô Anh Thơ nghe mà học tập chị ạ. Vì cô ấy rất thiếu thơ tình.
Chị Hằng Phương cũng cười:
- Thơ tình thì thiếu gì. Nhưng tôi muốn tỏ một hướng “đồng điệu” với tác giả “Bức tranh quê” Tôi xin đọc đoạn giữa bài thơ của tôi, vì đoạn trên không có gì giống cô Anh Thơ.
Rồi chị đọc luôn:
Anh đưa em đến vườn đào,
Màu tươi, sắc thắm em nào dám chê.
Nhưng em vẫn nặng làng quê,
Nhớ thương cảnh cũ bốn bề núi non
Nhớ nơi làng xóm con con
Nhớ thương cây quế, chon von đỉnh đồi
Bạn xưa, nhớ yến tha mồi,
Cảnh xưa én đỗ trong hồi còn thơ.
Giọng chị Hằng Phương là giọng ở miền Trung, có âm ngọt dịu đầy tình cảm, thơ chị lại chân thành, không có hình ảnh và những chữ sáo mòn. Tôi thấy mến ngay được chị:
- Cảnh quê chị tả trong thơ thật đơn giản mà đẹp, tình cảnh lại tha thiết nhớ thương. Điểm này thơ chị thật hơn em, em phải học chị mới được.
Nhà phê bình, chồng chị nói:
- Mỗi nhà thơ có một cách làm cô ạ, không nên để ảnh hưởng người khác nào thơ mình.
Chị Hằng Phương bỗng kêu to:
- Gần trưa rồi. Cô và anh phải ở lại ăn cơm với vợ chồng tôi.
Không kịp để tôi nói gì, chị vừa nói, vừa đứng lên đi ngay vào nhà sau. Anh Vũ Ngọc Phan đưa mắt âu yếm nhìn theo vợ, rồi nói:
- Cô cứ ngồi chơi, nhà tôi làm cơm nhanh lầm.
Rồi anh ân cần hỏi Quỳnh Dao và tôi về công việc của toà báo Đông Tây. Quỳnh Dao xin anh một bài phê bình về bất cứ một tác phẩm nào. Rồi Quỳnh Dao hỏi nhà phê bình họ Vũ về thơ của mình. Tôi ngồi, chăm chú nghe hai người nói chuyện. Khoảng gần một giờ, người nhá đã bưng cơm lên. Chị Hằng Phương kéo ghế ngồi cạnh tôi. Chị gắp vào bát tôi một món, rồi nói:
- Đây là món gà “xé phay” của miền Nam quê tôi, mời cô nếm thử.
Lần đầu tiên được ăn món lạ: thịt gà xé nhỏ, trộn với hành tây, rau răm và nước mắm chua, ngọt. Tôi ăn thật ngon, vì cái vị thanh thanh không ngán, rồi nói với chị:
- Trước khi đến đây, Quỳnh Dao đã ca ngợi chị: không những thơ hay, lại làm bếp giỏi. Em cần phải học chị nhiều.
- Chưa làm bếp giỏi được như chị Vân Đài đâu!
Chị Hằng Phương gắp thêm thức ăn cho tôi, rồi tiếp:
- Thế cô đã đến thăm chị Vân Đài chưa? Đến Ngân Giang chưa? Có ba chị em mình làm thơ ở Bắc kỳ, còn Nam kỳ thì ít quá, chỉ có mình cô Mộng Tuyết, còn thì toàn là thi sĩ đàn ông.
Anh Vũ Ngọc Phan nói:
- Thế mới là của hiếm, mà có hiếm mới quý. Rồi tôi sẽ lần lượt “phê cả bốn nàng thơ nhé. Hai chị em có đồng ý không?
Chị Hằng Phương nhìn chồng rất âu yếm, rồi hướng sang tôi:
- Nhờ có anh ấy phê bình, thơ tôi không mắc phải vòng khuôn sáo cũ, cô ạ. Cô cũng nên kiếm lấy một nhà phê bình, không gì đẹp bằng vợ chồng giúp đỡ được nhau, cùng chi hướng với nhau.
Quỳnh Dao vui vẻ nói:
- Vậy chị phải giới thiệu ngay cho có Anh Thơ một nhà phê bình trẻ. Cô Anh Thơ lại rất “kỵ” thi sĩ chị ạ.
Anh Vũ Ngọc Phan ân cần:
- Theo tôi, vợ chồng cùng làm một nghề cũng tốt, mà khác nghề nhau, cũng chả sao. Miễn là lấy được người tôn trọng sự nghiệp của mình.
Chị Hằng Phương nhìn tôi thương mến:
- Cô có suy nghĩ về vấn đề hạnh phúc riêng không? Hay có bao nhiêu thời giờ dồn cả cho thơ. Người phụ nữ có tài cũng khó lấy chồng đấy. Vì đàn ông vốn ích kỷ và tự cao, tự đại lắm kìa.
- Cũng tuỳ đàn ông!
Cả anh Vũ Ngọc Phan và Quỳnh Dao cùng đồng thanh thốt lên. Tôi nói lảng:
- Em chưa có thời giờ, chị ạ. Và lại, cũng không có gì phải vội vàng mà.
______________________


0