<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 16:34:55Ngọc Lý>
.
NGUYỄN HOÀNG TUỆ ANH
Từ góc độ triết học,
bàn về một số vấn đề cơ bản
của văn học - nghệ thuật
phương Tây hiện đại

Từ thế kỷ XVII - XVIII những lý tưởng, những chuẩn mực và nguyên tắc của khoa học đã được xác lập trên nền tảng triết học bị thống trị bởi những ý tưởng của chủ nghĩa cơ giới. Từ đó chúng thâm nhập vào mọi lĩnh vực của xã hội. Lý trí được coi là tối thượng. Một quan niệm về chủ nghĩa tiến bộ được chiếu sáng bằng hào quang của lý trí, của trí tuệ và tri thức. Sự thống trị của chủ nghĩa duy lý tuy có đưa lại một nền văn minh sinh kỹ thuật cao, nhưng các cuộc khủng hoảng như chiến tranh, thất nghiệp, nghèo khổ càng ngày càng trở nên gay gắt. Hậu quả đáng sợ nhất của lý trí, của chủ nghĩa duy lý là ở chỗ, nó làm phi nhân con người, nhìn con người như một hiện tượng vật lý đơn thuần. Khoa học, tính duy lý của chính trị, của kinh tế không những không đáp ứng nhu cầu của con người mà còn chà đạp phũ phàng lên đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Văn học mới ra đời là sự phản ứng chủ nghĩa duy lý đó. Trên tinh thần của chủ nghĩa chống trí tuệ chủ nghĩa phi duy lý, nó đề ra nhiệm vụ duy trì, bảo tồn cuộc sống nội tâm, cuộc sống tâm linh của con người, mong con người không bị quy giản thành lý trí khô cằn và máy móc. Đi vào thế giới tâm linh, người ta còn đang loay hoay với nó thì lập tức lại thấy xuất hiện một trắc diện mới, cho nên trường phái văn học - nghệ thuật này chưa làm xong sứ mạng của mình thì trường phái khác đã ra đời. Có lẽ, trong lịch sử nghệ thuật của loài người chưa bao giờ chỉ trong mấy thập kỷ mà nhiều trào lưu xuất hiện nhộn nhịp như thế. Và cũng chưa bao giờ trong một thời gian không dài mà một hiện tượng văn học như chủ nghĩa hiện đại không chỉ có mặt ở Châu Âu mà còn lan toả sang nhiều Châu Lục khác, kể cả Việt Nam.
Triết học là bạn song hành với văn học cũng ra đời mạnh mẽ và do đó, ảnh hưởng rất đáng kể tới văn học. Nítsơ (Nietzsche) cho rằng mọi động cơ ý chí chỉ là hiện tượng bên ngoài, đằng sau đó là cuộc đấu tranh của những bản năng. ông đối lập với chủ nghĩa duy lý của Hêgen, vứt bỏ cái trừu tượng, sự bất lực của lý trí để đi vào thế giới dầy đặc, đóng kín của con người là cõi vô thức. Bécxông (Bergson) xem bản năng là cái được đúc nên từ chính hình thức của đời sống. Nó là một loại nhận thức và hành động được khơi lên, được cảm giác bởi một thứ giao cảm mà trí tuệ tức tư duy chỉ có thể phân tích và biểu hiện một cách máy móc. Người ta thấy trong "cuộc cách mạng Bécxông" cái phi duy lý từ lâu đã trở thành di sản của thơ ca. Sáclơ peglly (Charles Péguy) là nhà văn, nhà thơ và nhà lý luận tiếp tục phát huy chủ nghĩa Bécxông trong đương thời. Phơrớt (Freud) đã đưa phân tâm học của ông vượt qua phương pháp trị liệu của y học, làm lung lay tâm lý học cổ điển, thâm nhập mạnh mẽ vào văn học - nghệ thuật. Phân tâm học ứng dụng của Phơrớt đã khơi dậy trong văn chương sức mạnh của vô thức sâu thăm và cuồng say, những mơ tưởng vô thức như không bao giờ cạn kiệt. Người nghệ sĩ sáng tác là thực hiện sự thăng hoa để thoát khỏi lo âu của kiếp người.
Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa hiện đại và các trào lưu văn học trước đó là ở chỗ cho rằng nguồn gốc của văn học là ở “trái tim", ở "ý nghĩa". Mỗi nhà văn đi vào một mặt của cái thế giới tâm linh sâu thẳm. Đó là kết quả của sự nhận thức không phải do hiện thực "nhìn thấy" mà do "nghiệm sinh" của mỗi nhân vị, và từ đó, hiện thực kia bị thay đổi và được sắp xếp lại. Nghiệm sinh đỏ vọt lên tức thời, được sai khiến bởi "tâm lý của những chiều sâu”, tức bởi bản năng mà biểu hiện là vô thức.
Bôđơle (Baudelaire) cho rằng thơ mới [chủ yếu là thơ của chủ nghĩa lãng mạn và của Lơ Pácnáttle Parnasse) là thức ăn của lý trí hơn là sự say sưa của trái tim. Rằng, bản thân "hiện thực là xấu” giới tự nhiên chỉ là cuốn từ điển mà từ đó nhà thơ phải "tra ra", tìm ra "ý nghĩa" bằng "loại suy phổ quát", nhà thơ nhìn thế giới không phải ở chỗ nó hiện ra mà ở chỗ nó khải thị cho ta. Mỗi đối tượng đều gắn với sự chuyển động của trái tim, đều hiện ra cho chúng ta cái như một tượng trưng mang chiều sâu của cuộc sống. Véclen (Verlaine) cho rằng giống như trong âm nhạc, trong nghệ thuật thơ cũng sử dụng bút pháp "khơi gợi" chứ không "chỉ tên" và miêu tả, dẫn chúng ta tới những "cái bên kia rung động của tâm hồn”, của một "miền sáng tội, của một sự nhạy cảm lỏng, lập lờ, mờ mịt”. Từ chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện đại trong văn học đã phát triển đến đỉnh cao là chủ nghĩa siêu thực.
Theo Tuyên ngôn về chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện thực đã nhốt chặt thơ vào hiện thực, còn chủ nghĩa tượng trưng thì xa lánh cuộc sống, dừng lại ở cái bề ngoài. Chủ nghĩa siêu thực phải hoà nhập vào "thế giới thơ trọn vẹn", tức cái siêu thực, các sự vật được xem xét một cách hiện thể (ontique) chỉ có chế nó mới không đối lập mà gắn chặt như Bôđơle yêu cầu - vời "sự vận động trữ tình của tâm linh". Đó là chiều sâu của cái vô thức thể hiện ở mơ tưởng, ở tưởng tượng tự do. Như vậy là con người đã được “đặt ở trung tâm của thế giới", tức thế giới được xem xét theo cái nhìn của chủ thể nhận thức. Cái siêu thực như vậy vừa là hiện thực, vừa là mơ tưởng, vừa là thế giới, vừa là tinh thần. Chúng không phân cách nhau, không tương phản nhau mà là toàn vẹn, bởi vì chúng là cái siêu duy lý. Và chỉ có như vậy chúng mới đạt tới hiện thực tuyệt đối, tức hiện thực “một", hiện thực duy nhất. Mơ tưởng và hiện thực là hai trạng thái bề ngoài mâu thuẫn, nhưng chỉ là hiện thực tuyệt đối là siêu hiện thực.
Trong chủ nghĩa hiện đại, tiểu thuyết và thơ cùng phát triển theo một định hướng. Tiểu thuyết trong chủ nghĩa hiện đại không quan tâm tới ứng xử mà trước hết tới động cơ. Cho nên ở đây chẳng tìm thấy định luật nào của tâm lý học cổ điển cả, mà chỉ là những mổ xẻ tế vi ý thức của con người chưa từng có bằng những bàn tay vàng của H. Giếm (H.James) và M.Prâus (M. Proust). Gi.Gioixơ (J.Joyce), V.Uph (Wooff) đã lay động những cái còn ẩn nấp trong bóng tối - những cái không phải là những trạng thái ý thức có cấu trúc rõ rệt, mà là những đám tinh vân không hình, không ảnh hỗn tạp, dính dẻo trong những buổi đêm của tâm hồn" - đó là cõi vô thức.
Cùng hoà nhịp với chủ nghĩa hiện đại về văn học, trong nghệ thuật cũng diễn ra một sự đảo lộn lớn mà người ta gọi là cuộc khủng hoảng về sự hiểu biết cái thực tại. Giờ đây, người nghệ sĩ không tìm cách biểu hiện thực tại mà muốn đạt tới một chân lý vượt lên thực tại cảm tính. Trước hết, nghệ thuật tạo hình phải đối mặt ngay với cuộc khủng hoảng này. Giai đoạn đầu của việc đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa ấn tượng do Van Gốt (Van Gogh), Gauzin (Gauguin), Xêdanê (Cézanne) mở đường. Trong những năm 1905 -1915, từ đám tinh vân của nghệ thuật mới đã nảy sinh nhiều trào lưu như chủ nghĩa đã thú, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa trừu tượng. Trong lĩnh vực âm nhạc, từ những trào lưu hậu - Uếcnơ (Wagner), một sự đổi mới đáng kể được thực hiện bởi Béttốc ( Battok), Bêbaxi (Bebussy), Stravinxki (Stravinsky), nhất là bởi trường phái Viên đã hoàn toàn cắt đứt với những nguyên tắc truyền thống về điệu thức. Trong lĩnh vực sân khấu phải kể đến Háppơnning (Hap- pening) - người muốn thực hiện "sự cùng chung tương tác” giũa nghệ sĩ và công chúng.
Người ta cho rằng trong hơn ba thập kỷ, ở phương Tây đã xuất hiện "một nền văn hoá tiền phong", bởi vì văn học và nghệ thuật đã sánh đôi tạo ra một gương mặt mới lạ chưa hề có trong quá khứ. Trước hết, đó là sự tương hợp giữa âm nhạc, nghệ thuật tạo hình và văn học dứa trên sự gần gũi, sự hoà nhập trong một lý tưởng thẩm mỹ chung của chủ nghĩa tượng trưng hay chủ nghĩa biểu hiện nghệ thuật - chủ nghĩa có quan hệ với mọi hình thức biểu hiện nghệ thuật. Apôline (Apollinaire) được coi như người đứng ở ngã tư - nơi hợp lưu của thơ ca và các nghệ thuật khác - bênh vực cho nhưng phong trào nghệ thuật mới như chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa vị lai. Điaghilép (Di- aghilev) tập hợp những nghệ sĩ tiền phong của nhiều ngành để xây dựng vũ ba lê Nga, nhiều nét thẩm mỹ chung (thẩm mỹ về nhấn lệch, về đứt quãng) vừa bắt gặp ở chủ nghĩa dã thú, vừa ở âm nhạc của Satiơ (Sa-tie), hoặc trong tiểu thuyết của Gioixơ. Tóm lại lúc này chủ nghĩa hiện đại trong văn học và nghệ thuật không chỉ còn là sự sáng tạo đột xuất của một nghệ sĩ đơn độc nào đó, mà đã trở thành một hướng định "quốc tế” của các văn nghệ sĩ thuộc nền văn hoá Châu Âu, và nó đã đạt tới thời điểm báo hiệu sự xuất hiện một nền văn hoá mới mỗi lúc một rõ dần.
Bước sang thế kỷ XX, các trào lưu văn học - nghệ thuật thuộc chủ nghĩa hiện đại vẫn tiếp tục phát triển nhưng bắt đầu mờ dần, và một trào lưu triết học và văn học - nghệ thuật mới ra đời chiếm lĩnh diễn đàn tư tưởng ở phương Tây trong mấy thập kỷ trước khi bước hẳn vào xã hội hậu công nghiệp. Đó là phong trào của chủ nghĩa hiện sinh.
Nhờ hiện tượng học Đức do Étmơn Huxéc (Edmund Hesserl) khởi xướng mà chủ nghĩa hiện sinh mới có được quy chế của các học thuyết triết học. Ý tưởng cơ bản của hiện tượng học là ocn người hãy trở về với chính hiện tượng là trực giác tức thời. Theo nghĩa đó, con người không phải là “sinh vật có lý trí” theo nghĩa cổ điển, không phải do những liên hệ logic làm nên, không phải là một thành phần hay một động năng của một lôgốt của Hêgen. Người là một nhân vị, một cá nhân tự khẳng định, tự tạo nên mình, tự làm cho mình thành người, tự đưa lại ý nghĩa người cho mình thành người, tự đưa lại ý nghĩa người cho mình với những đặc thù chủ quan xa lánh mọi nỗ lực duy lý hoá. Tóm lại, người là một hiện sinh: hiện sinh là cái có trước bản chất, là tính thứ nhất, có nghĩa là chính nó là bản chất của con người trong kiếp sống của mình.
Chủ nghĩa hiện sinh đần dần lộ ra rằng việc “kín cửa" của con người cô đơn bị bao phủ bởi một chủ nghĩa "bi quan đen" không có triển vọng. Trong vở kịch Những bàn tay bẩn, người ta thấy Sác (Sartre ) bắt đầu do dự giữa tự do bên ngoài, tự do cá nhân và tự do cụ thể, tự do xã. hội. Ông tiếp nhận định đề của Cantơ (Kant) về tính phổ quát và ý tưởng của Mác về tha hoá xã hội. Chính trong khung cảnh ấy, ông đã có sự đánh giá nổi tiếng về triết học Mác rằng đó là "triết học mà không một triết học nào có thể vượt qua được". Và hình ảnh con người cô đơn "buồn thảm không có mầu hy vọng" đó không còn quá nặng nề khi chúng ta lại bắt gặp nó trong "văn học hậu hiện đại".
Trước sự suy đồi của những giá trị văn hoá do sự trào lên của chủ nghĩa duy lý và những hậu quả quá nặng nề do chiến tranh gây nên, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, lách phi lý cũng nổi lên (Ion-excô (lonesco), Báckét (Backett). Việc xoá bỏ hư cấu kịch chỉ là giai đoạn đầu dẫn tới xoá bỏ mọi hình thức hư cấu, để rồi đến những năm 50, phong trào "tiểu thuyết mới" ra đời như tìm lại con đường mà nhiều nhà văn như Gioixơ đã đi tìm những bước đầu.
1/3
Theo Tạp chí Triết học
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/My-hoc/Ban_ve_mot_so_van_de_co_ban_cua_van_hoc-nghe_thuat/1.viePortal
NGUYỄN HOÀNG TUỆ ANH
Từ góc độ triết học,
bàn về một số vấn đề cơ bản
của văn học - nghệ thuật
phương Tây hiện đại
Từ thế kỷ XVII - XVIII những lý tưởng, những chuẩn mực và nguyên tắc của khoa học đã được xác lập trên nền tảng triết học bị thống trị bởi những ý tưởng của chủ nghĩa cơ giới. Từ đó chúng thâm nhập vào mọi lĩnh vực của xã hội. Lý trí được coi là tối thượng. Một quan niệm về chủ nghĩa tiến bộ được chiếu sáng bằng hào quang của lý trí, của trí tuệ và tri thức. Sự thống trị của chủ nghĩa duy lý tuy có đưa lại một nền văn minh sinh kỹ thuật cao, nhưng các cuộc khủng hoảng như chiến tranh, thất nghiệp, nghèo khổ càng ngày càng trở nên gay gắt. Hậu quả đáng sợ nhất của lý trí, của chủ nghĩa duy lý là ở chỗ, nó làm phi nhân con người, nhìn con người như một hiện tượng vật lý đơn thuần. Khoa học, tính duy lý của chính trị, của kinh tế không những không đáp ứng nhu cầu của con người mà còn chà đạp phũ phàng lên đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Văn học mới ra đời là sự phản ứng chủ nghĩa duy lý đó. Trên tinh thần của chủ nghĩa chống trí tuệ chủ nghĩa phi duy lý, nó đề ra nhiệm vụ duy trì, bảo tồn cuộc sống nội tâm, cuộc sống tâm linh của con người, mong con người không bị quy giản thành lý trí khô cằn và máy móc. Đi vào thế giới tâm linh, người ta còn đang loay hoay với nó thì lập tức lại thấy xuất hiện một trắc diện mới, cho nên trường phái văn học - nghệ thuật này chưa làm xong sứ mạng của mình thì trường phái khác đã ra đời. Có lẽ, trong lịch sử nghệ thuật của loài người chưa bao giờ chỉ trong mấy thập kỷ mà nhiều trào lưu xuất hiện nhộn nhịp như thế. Và cũng chưa bao giờ trong một thời gian không dài mà một hiện tượng văn học như chủ nghĩa hiện đại không chỉ có mặt ở Châu Âu mà còn lan toả sang nhiều Châu Lục khác, kể cả Việt Nam.
Triết học là bạn song hành với văn học cũng ra đời mạnh mẽ và do đó, ảnh hưởng rất đáng kể tới văn học. Nítsơ (Nietzsche) cho rằng mọi động cơ ý chí chỉ là hiện tượng bên ngoài, đằng sau đó là cuộc đấu tranh của những bản năng. ông đối lập với chủ nghĩa duy lý của Hêgen, vứt bỏ cái trừu tượng, sự bất lực của lý trí để đi vào thế giới dầy đặc, đóng kín của con người là cõi vô thức. Bécxông (Bergson) xem bản năng là cái được đúc nên từ chính hình thức của đời sống. Nó là một loại nhận thức và hành động được khơi lên, được cảm giác bởi một thứ giao cảm mà trí tuệ tức tư duy chỉ có thể phân tích và biểu hiện một cách máy móc. Người ta thấy trong "cuộc cách mạng Bécxông" cái phi duy lý từ lâu đã trở thành di sản của thơ ca. Sáclơ peglly (Charles Péguy) là nhà văn, nhà thơ và nhà lý luận tiếp tục phát huy chủ nghĩa Bécxông trong đương thời. Phơrớt (Freud) đã đưa phân tâm học của ông vượt qua phương pháp trị liệu của y học, làm lung lay tâm lý học cổ điển, thâm nhập mạnh mẽ vào văn học - nghệ thuật. Phân tâm học ứng dụng của Phơrớt đã khơi dậy trong văn chương sức mạnh của vô thức sâu thăm và cuồng say, những mơ tưởng vô thức như không bao giờ cạn kiệt. Người nghệ sĩ sáng tác là thực hiện sự thăng hoa để thoát khỏi lo âu của kiếp người.
Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa hiện đại và các trào lưu văn học trước đó là ở chỗ cho rằng nguồn gốc của văn học là ở “trái tim", ở "ý nghĩa". Mỗi nhà văn đi vào một mặt của cái thế giới tâm linh sâu thẳm. Đó là kết quả của sự nhận thức không phải do hiện thực "nhìn thấy" mà do "nghiệm sinh" của mỗi nhân vị, và từ đó, hiện thực kia bị thay đổi và được sắp xếp lại. Nghiệm sinh đỏ vọt lên tức thời, được sai khiến bởi "tâm lý của những chiều sâu”, tức bởi bản năng mà biểu hiện là vô thức.
Bôđơle (Baudelaire) cho rằng thơ mới [chủ yếu là thơ của chủ nghĩa lãng mạn và của Lơ Pácnáttle Parnasse) là thức ăn của lý trí hơn là sự say sưa của trái tim. Rằng, bản thân "hiện thực là xấu” giới tự nhiên chỉ là cuốn từ điển mà từ đó nhà thơ phải "tra ra", tìm ra "ý nghĩa" bằng "loại suy phổ quát", nhà thơ nhìn thế giới không phải ở chỗ nó hiện ra mà ở chỗ nó khải thị cho ta. Mỗi đối tượng đều gắn với sự chuyển động của trái tim, đều hiện ra cho chúng ta cái như một tượng trưng mang chiều sâu của cuộc sống. Véclen (Verlaine) cho rằng giống như trong âm nhạc, trong nghệ thuật thơ cũng sử dụng bút pháp "khơi gợi" chứ không "chỉ tên" và miêu tả, dẫn chúng ta tới những "cái bên kia rung động của tâm hồn”, của một "miền sáng tội, của một sự nhạy cảm lỏng, lập lờ, mờ mịt”. Từ chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện đại trong văn học đã phát triển đến đỉnh cao là chủ nghĩa siêu thực.
Theo Tuyên ngôn về chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện thực đã nhốt chặt thơ vào hiện thực, còn chủ nghĩa tượng trưng thì xa lánh cuộc sống, dừng lại ở cái bề ngoài. Chủ nghĩa siêu thực phải hoà nhập vào "thế giới thơ trọn vẹn", tức cái siêu thực, các sự vật được xem xét một cách hiện thể (ontique) chỉ có chế nó mới không đối lập mà gắn chặt như Bôđơle yêu cầu - vời "sự vận động trữ tình của tâm linh". Đó là chiều sâu của cái vô thức thể hiện ở mơ tưởng, ở tưởng tượng tự do. Như vậy là con người đã được “đặt ở trung tâm của thế giới", tức thế giới được xem xét theo cái nhìn của chủ thể nhận thức. Cái siêu thực như vậy vừa là hiện thực, vừa là mơ tưởng, vừa là thế giới, vừa là tinh thần. Chúng không phân cách nhau, không tương phản nhau mà là toàn vẹn, bởi vì chúng là cái siêu duy lý. Và chỉ có như vậy chúng mới đạt tới hiện thực tuyệt đối, tức hiện thực “một", hiện thực duy nhất. Mơ tưởng và hiện thực là hai trạng thái bề ngoài mâu thuẫn, nhưng chỉ là hiện thực tuyệt đối là siêu hiện thực.
Trong chủ nghĩa hiện đại, tiểu thuyết và thơ cùng phát triển theo một định hướng. Tiểu thuyết trong chủ nghĩa hiện đại không quan tâm tới ứng xử mà trước hết tới động cơ. Cho nên ở đây chẳng tìm thấy định luật nào của tâm lý học cổ điển cả, mà chỉ là những mổ xẻ tế vi ý thức của con người chưa từng có bằng những bàn tay vàng của H. Giếm (H.James) và M.Prâus (M. Proust). Gi.Gioixơ (J.Joyce), V.Uph (Wooff) đã lay động những cái còn ẩn nấp trong bóng tối - những cái không phải là những trạng thái ý thức có cấu trúc rõ rệt, mà là những đám tinh vân không hình, không ảnh hỗn tạp, dính dẻo trong những buổi đêm của tâm hồn" - đó là cõi vô thức.
Cùng hoà nhịp với chủ nghĩa hiện đại về văn học, trong nghệ thuật cũng diễn ra một sự đảo lộn lớn mà người ta gọi là cuộc khủng hoảng về sự hiểu biết cái thực tại. Giờ đây, người nghệ sĩ không tìm cách biểu hiện thực tại mà muốn đạt tới một chân lý vượt lên thực tại cảm tính. Trước hết, nghệ thuật tạo hình phải đối mặt ngay với cuộc khủng hoảng này. Giai đoạn đầu của việc đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa ấn tượng do Van Gốt (Van Gogh), Gauzin (Gauguin), Xêdanê (Cézanne) mở đường. Trong những năm 1905 -1915, từ đám tinh vân của nghệ thuật mới đã nảy sinh nhiều trào lưu như chủ nghĩa đã thú, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa trừu tượng. Trong lĩnh vực âm nhạc, từ những trào lưu hậu - Uếcnơ (Wagner), một sự đổi mới đáng kể được thực hiện bởi Béttốc ( Battok), Bêbaxi (Bebussy), Stravinxki (Stravinsky), nhất là bởi trường phái Viên đã hoàn toàn cắt đứt với những nguyên tắc truyền thống về điệu thức. Trong lĩnh vực sân khấu phải kể đến Háppơnning (Hap- pening) - người muốn thực hiện "sự cùng chung tương tác” giũa nghệ sĩ và công chúng.
Người ta cho rằng trong hơn ba thập kỷ, ở phương Tây đã xuất hiện "một nền văn hoá tiền phong", bởi vì văn học và nghệ thuật đã sánh đôi tạo ra một gương mặt mới lạ chưa hề có trong quá khứ. Trước hết, đó là sự tương hợp giữa âm nhạc, nghệ thuật tạo hình và văn học dứa trên sự gần gũi, sự hoà nhập trong một lý tưởng thẩm mỹ chung của chủ nghĩa tượng trưng hay chủ nghĩa biểu hiện nghệ thuật - chủ nghĩa có quan hệ với mọi hình thức biểu hiện nghệ thuật. Apôline (Apollinaire) được coi như người đứng ở ngã tư - nơi hợp lưu của thơ ca và các nghệ thuật khác - bênh vực cho nhưng phong trào nghệ thuật mới như chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa vị lai. Điaghilép (Di- aghilev) tập hợp những nghệ sĩ tiền phong của nhiều ngành để xây dựng vũ ba lê Nga, nhiều nét thẩm mỹ chung (thẩm mỹ về nhấn lệch, về đứt quãng) vừa bắt gặp ở chủ nghĩa dã thú, vừa ở âm nhạc của Satiơ (Sa-tie), hoặc trong tiểu thuyết của Gioixơ. Tóm lại lúc này chủ nghĩa hiện đại trong văn học và nghệ thuật không chỉ còn là sự sáng tạo đột xuất của một nghệ sĩ đơn độc nào đó, mà đã trở thành một hướng định "quốc tế” của các văn nghệ sĩ thuộc nền văn hoá Châu Âu, và nó đã đạt tới thời điểm báo hiệu sự xuất hiện một nền văn hoá mới mỗi lúc một rõ dần.
Bước sang thế kỷ XX, các trào lưu văn học - nghệ thuật thuộc chủ nghĩa hiện đại vẫn tiếp tục phát triển nhưng bắt đầu mờ dần, và một trào lưu triết học và văn học - nghệ thuật mới ra đời chiếm lĩnh diễn đàn tư tưởng ở phương Tây trong mấy thập kỷ trước khi bước hẳn vào xã hội hậu công nghiệp. Đó là phong trào của chủ nghĩa hiện sinh.
Nhờ hiện tượng học Đức do Étmơn Huxéc (Edmund Hesserl) khởi xướng mà chủ nghĩa hiện sinh mới có được quy chế của các học thuyết triết học. Ý tưởng cơ bản của hiện tượng học là ocn người hãy trở về với chính hiện tượng là trực giác tức thời. Theo nghĩa đó, con người không phải là “sinh vật có lý trí” theo nghĩa cổ điển, không phải do những liên hệ logic làm nên, không phải là một thành phần hay một động năng của một lôgốt của Hêgen. Người là một nhân vị, một cá nhân tự khẳng định, tự tạo nên mình, tự làm cho mình thành người, tự đưa lại ý nghĩa người cho mình thành người, tự đưa lại ý nghĩa người cho mình với những đặc thù chủ quan xa lánh mọi nỗ lực duy lý hoá. Tóm lại, người là một hiện sinh: hiện sinh là cái có trước bản chất, là tính thứ nhất, có nghĩa là chính nó là bản chất của con người trong kiếp sống của mình.
Chủ nghĩa hiện sinh đần dần lộ ra rằng việc “kín cửa" của con người cô đơn bị bao phủ bởi một chủ nghĩa "bi quan đen" không có triển vọng. Trong vở kịch Những bàn tay bẩn, người ta thấy Sác (Sartre ) bắt đầu do dự giữa tự do bên ngoài, tự do cá nhân và tự do cụ thể, tự do xã. hội. Ông tiếp nhận định đề của Cantơ (Kant) về tính phổ quát và ý tưởng của Mác về tha hoá xã hội. Chính trong khung cảnh ấy, ông đã có sự đánh giá nổi tiếng về triết học Mác rằng đó là "triết học mà không một triết học nào có thể vượt qua được". Và hình ảnh con người cô đơn "buồn thảm không có mầu hy vọng" đó không còn quá nặng nề khi chúng ta lại bắt gặp nó trong "văn học hậu hiện đại".
Trước sự suy đồi của những giá trị văn hoá do sự trào lên của chủ nghĩa duy lý và những hậu quả quá nặng nề do chiến tranh gây nên, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, lách phi lý cũng nổi lên (Ion-excô (lonesco), Báckét (Backett). Việc xoá bỏ hư cấu kịch chỉ là giai đoạn đầu dẫn tới xoá bỏ mọi hình thức hư cấu, để rồi đến những năm 50, phong trào "tiểu thuyết mới" ra đời như tìm lại con đường mà nhiều nhà văn như Gioixơ đã đi tìm những bước đầu.
1/3
Theo Tạp chí Triết học
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/My-hoc/Ban_ve_mot_so_van_de_co_ban_cua_van_hoc-nghe_thuat/1.viePortal