Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những người cha trong văn học Việt

25 trả lời, 870 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-15 20:13:34Ngọc Lý>
.


Cha là sóng, là sông, là biển lớn
Dựng quanh con bát ngát tấm yêu thương
Ngày cha mẹ chan hòa niềm vui mới
Tạo nên con một sức sống khôn cùng


Tiếng con khóc gửi vai cha gánh nặng
Vì con cha tất tả gánh non sông
Từ thôn Đoài vượt núi tới thôn Đông
Giữ mái lá giữ ruộng vườn cha cố
Một lòng son dành dụm mãi cho con


Kìa người cha đang cày sâu cuốc bẫm
Kìa người cha giăng chài lưới ra khơi
Cha dạy cho con tiếng nói đầu đời
Cha liều mạng cho con còn nhân tính


Ngày người cha gục ngã giữa non sông
Con hãy nhận lời yêu thương trầm thống
Vươn vai lên hỡi người con Phù Đổng
Nhận tình cha giữ vững giống Tiên Rồng



Sắp đến ngày Vinh danh Cha, tôi mời các bạn cùng thắp nén hương đến Cha Ông chúng ta, những người đã dựng nước, giữ nước, và truyền lại cho chúng ta bao tinh khí bất khuất để sống còn và phát triển, bằng những áng thơ văn đầy tâm huyết trong văn học Việt.

Trong dịp xem phim Mùa Len Trâu, tôi chợt nhìn ra một điều. Đó là sức sống mạnh mẽ mà nhân ái của người cha Việt đi lên từ biển - giòng giống Rồng.

Phim Mùa Len Trâu đã dựng lại cảnh dân Việt sống trong vùng đồng ruộng lúa nước, mỗi năm lũ lụt tràn ngập đất đai cây cỏ, con người lại phải trôi dạt tìm một vùng đất cao hơn để sống tạm. Trong thời gian này, người Việt ven biển đã sống một cuộc đời du mục. Đi qua các cánh đồng nước, tranh nhau một miếng đất cao mà sống. Với hoàn cảnh ấy, xã hội dựa vào sức sống của người đàn ông. Người cha. Một sức sống mãnh liệt mà bền bỉ, và luôn luôn quan tâm đến sự bảo tồn đời sống với tâm thức nông nghiệp.

Người đàn ông Việt của biển có tình cảm dồi dào như sóng nước, sống theo điệu nhạc trăng gió thiên nhiên, nên rất giàu tình yêu và có thiên khiếu văn chương, thi phú.

Khác hẳn với cách sống du mục từ vùng thảo nguyên, dựa trên sự săn thú và giết chóc, đốt phá, nếp sống "du mục nước" này tạo ra những người đàn ông với tâm thức trọng nông, luôn luôn quan tâm đến sự bảo tồn đời sống, quý cây cỏ và sinh vật.

Đó chính là Người Cha Việt Nam đến từ Biển: Bất khuất mà Nhân hậu, Dũng mãnh mà Lãng mạn, Đa tình mà Chung tình, và luôn mang trong lòng một Mối Tình Lớn: Tình Yêu Nước.

Đó là hình dáng của Lạc Long Quân, người Bố Rồng từ biển.

Đó là hình dáng Trần Hưng Đạo, rất dũng mãnh mà khoan hòa, chiến thắng giặc lừng lẫy trên biển cả, nhưng lại rất nhân ái.

Đó là hình ảnh Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi khi chia tay tại Ải Nam Quan, để sau này Nguyễn Trãi lẫy lừng trong chiến thắng chống quân Minh với Bình Ngô Đại Cáo.

Đó là hình ảnh một Nguyễn Thái Học, một Lý Đông A, một Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Phan Khôi và nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Tường Tam,. và bao anh hùng liệt sĩ khác, từ ngàn năm trước cho đến bây giờ, đã dồn bao tâm huyết viết thành trang sử văn học đến tận hôm nay...

Kính mời các bạn cùng với tôi,
trân trọng tấm lòng bao la như biển của người Cha Việt,
góp vào đây các hình ảnh Cha trong Văn học Việt,
nhân ngày Vinh Danh Cha.

Chúc tất cả các bạn đang hay sắp làm Cha, thật hãnh diện và hạnh phúc với vai trò cao quý nhất của cuộc đời, thần tượng hạng nhất trong mắt con của bạn, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Chúc các bạn còn Cha được tận hưởng tình yêu thương che chở của người, và những bạn không còn cha bên cạnh, như tôi, thấm thía tấm tình sâu đậm và bao tâm huyết Cha đã trao truyền cho chúng ta, để luôn muốn gọi: "Bố ơi, về đây giúp chúng con"...



Ngọc Lý


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 21:33:49Ngọc Lý>
.





Mộ Vua Lý Thái Tổ
Người xây dựng một nền văn hóa Việt đặc sắc




Văn Miếu được khởi xây từ thời Hậu Lý

Lý Thái Tổ và Các Vua Nhà Hậu Lý
Đại Việt Sử Thi









Đền thờ

Lý Thường Kiệt


Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.






.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-15 20:39:47Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-15 10:40:16Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-15 20:57:13Ngọc Lý>
.



Hoàng đế Lê Thánh Tông khởi xướng
và cho lập Bia tiến sỹ lần đầu tiên
ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám vào năm 1484

Lê Thánh Tông
và Văn Học thời Hậu Lê


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-15 21:15:02Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 00:18:53Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 00:09:26Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-15 23:29:47Ngọc Lý>
.






(cám ơn Lý Lạc Long đã chỉ hộ chỗ sai.)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 03:15:13Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-16 23:19:07Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-28 21:53:15Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-16 23:47:47Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 09:28:30Ngọc Lý>
.


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 06:04:43Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 09:31:58Ngọc Lý>
.


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-21 00:44:32Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 22:19:23Ngọc Lý>
.




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-21 16:40:42Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-21 21:33:28Ngọc Lý>
.


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 19:19:17Ngọc Lý>
.



.
Đăng nhập để trả lời
0
[image][/image]http://images.google.com.vn/images?q=tbn:oVJhXqsrbjwGGM:bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/vietnamese/c1695/2005/08/n7857/hochiminh_s.jpg[image][/image]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-27 13:47:44Ngọc Lý>
.
(Tiếp tay với Mèo Con Thông Minh bài Nguyễn Trường Tộ nè.Xin bấm vào tựa bài để đọc thêm chi tiết.)



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-01 18:47:28Ngọc Lý>
.



Thiền sư Vạn Hạnh - Lý đông A -Huỳnh Phú Sổ

Tiến Sĩ Lý Khôi Việt




Tại sao cuộc cách mạng dân tộc Nhân chủ đã họp nhất thành một dòng cách mạng toàn diện và nhất quán? Bởi vì đã có ít nhất ba con người Việt kỳ vĩ đã họp nhất đưa cuộc cách mạng dân tộc và cuộc cách mạng nhân chủ. Ba con người đó là Thiền sư Vạn Hạnh, Lý đông A và Huỳnh Phú Sổ.

Tuy cách nhau 10 thế kỷ, nhưng họ đã gặp nhau, và qua sự gặp gỡ này, cuộc cách mạng dân tộc và nhân chủ đã trở thành một dòng cách mạng toàn diện và nhất quán. Cũng như thiền sư Vạn Hạnh, Lý đông A và Huỳnh Phú Sổ đã gặp nhau vì cùng chung một tuệ giác, một linh thức, một thần trí, một hùng tâm. đó là tuệ giác Phật, linh thức Phật, thần trí Việt và hùng tâm Việt.

... Sang đến thế kỷ 20, sau thiền sư Vạn Hạnh hơn 900 năm, Việt Nam đã thấy xuất hiện ba nhân vật lớn là Phan Bội Châu, Lý đông A và Huỳnh Phú Sổ. Nhưng Phan Bội Châu chỉ đi trên con đường dân tộc và chỉ đi được một đoạn đường khai phá. Sự nghiệp của Phan Bội Châu để lại bây giờ là một tiết tháo Việt, một kinh nghiệm cách mạng Việt, và một niềm thương cảm cho mọi người Việt. đi sau, nhưng cao lớn hơn Phan Bội Châu là Huỳnh Phú Sổ và Lý đông A.

Huỳnh Phú Sổ, một nhà cách mạng dân tộc, người sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo, là một thiền sư tuyệt hảo. Nhưng Huỳnh Phú Sổ đã mang tâm thức và hình tướng cư sĩ của Duy Ma Cật, của Tuệ Trunhg đã "tùy tục" đã đi vào đời, đã sống giữa thế gian bụi bặm đau khổ để cứu dân, cứu nước. Lý đông A, một nhà cách mạng dân tộc, sáng lập chủ thuyết Duy Dân và đảng Duy Dân, cũng là một thiền sư, đã ở chùa và mặc áo nâu sồng trong nhiều năm, nhưng rồi cũng xông pha vào cuộc đời gió bụi để thực hiện cuộc cách mạng dân tộc nhân chủ. Dưới ách thống trị của thực dân pháp, đất nước bị nô lệ, dân tộc lầm than, đau khổ, Lý đông A đã ôm mộng giải phóng quê hương và đã "cởi áo cà sa mặc chiến bào", lên đường lớn cấp cứu và giải phóng dân tộc. Nhưng Lý đông A vẫn tự nguyện với lòng rằng ngày nào làm tròn giấc mộng ấy thì sẽ trở lại hang sâu nhập niết bàn:

Làm tròn giấc một tiền sinh ấy,
Vào đến hang sâu nhập Niết Bàn.
Lý đông A


Vì mang nợ nước thù nhà, Huỳnh Phú Sổ vũng một tâm thức và sống trong cùng một thời đại với Lý đông A, cũng đã "cởi áo cà sa mặc chiến bào" để lên đường ra trận giải phóng đất nước. Nhưng cũng như Lý đông A, Huỳnh Phú Sổ tự nguyện ngày nào tan giặc sẽ trở về mái chùa xưa, sống đời đạo hạnh giải thoát:

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha
đền xong nợ nước thù nhà
Thiền môn trở gót Phật đà Nam Mô...

Huỳnh Phú Sổ


Cùng một tuệ giác Phật, một tâm thức Phật, một thần trí Việt, một hùng tâm Việt, Huỳnh Phú Sổ và Lý đông A cùng hùng tráng ra đi trên con đường cách mạng dân tộc nhân chủ và tiếp nối được con đường siêu việt mà thiền sư Vạn Hạnh đã đi trước đó gần 10 thế kỷ, đồng thời đã mở ra được cho tất cả chúng ta một cuộc hành trình cách mạng thế nhập toàn diện tinh thần Việt Nam và tinh thần Phật giáo.

Huỳnh Phú Sổ và Lý đông A đều vừa là nhà tư tưởng, vừa là nhà hành động. Nhưng đối với Huỳnh Phú Sổ, tư tưởng cách mạng dân tộc nhân chủ, từ suối nguồn Việt Nam và đạo Phật đã được thể hiện qua thi ca, đặc biệt là thơ lục bát, một thể thơ Việt Ođ65c sáng và tuyệt vời nhất, diễn tả được sức sống vô cùng vô tận không bao giờ dứt của giống nòi; vì vậy nên đã đi thẳng vào muôn lòng, thấm sâu vào nhân gian. "Lập ngôn" bằng thơ, dễ thích hợp và đi sâu vào quần chúng bình dân, mặt khác Huỳnh Phú Sổ về mặt hành động, đã đi vào việc "Lập Giáo" để bám rễ, phát triển, và duy trì sâu rộng, lâu dài trong lòng dân tộc. ông đã thành công trong việc khai sinh Phật Giáo Hòa Hảo, là một tôn giáo dân tộc, dân tộc trinh nguyên và trong trắng, với hơn hai triệu tín đồ nhiệt thành, trung kiên. đó là một trong những lực lượng dân tộc hùng nhất và đáng tôn kính nhất.

Còn Lý đông A, tư tưởng cách mạng dân tộc nhân chủ đã được thể hiện qua cách "Lập thuyết" bằng hệ thống hóa và triết lý hóa tư tưởng dân tộc nhân chủ thành một bộ triết thuyết Duy Dân. Về mặt hành động, Lý đông A đã lựa chọn con đường "Lập đảng" và đã khai sinh đại Việt Duy Dân đảng, một đảng cách mạng dân tộc chân chính, và đó cũng là một trong những đảng cách mạng có tiết tháo và khí phách nhất.

Vạn Hạnh cũng như Huỳnh Phú Sổ và Lý đông A đều là những người dân tộc và nhân chủ, và đều là những người phát khởi trào lưu cách mạng dân tộc nhân chủ trong thời đại của họ. Nhưng Vạn Hạnh cao siêu nhất, đã không qua con đường Lập giáo hay Lập đảng, cũng không đi con đường Lập ngôn hay Lập thuyết, mà đã hành động một cách vô ngôn, vô tác, vô hình, vô tướng, vô công, vô danh, nên sự nghiệp của Vạn Hạnh để lại đã trùm cả dân tộc, sông núi, ngự trị cả dòng sinh mệnh Việt Nam và có giá trị trong hàng ngàn hay hàng vạn năm. Bởi vì sự nghiệp Vạn Hạnh đã trở thành sự nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, Huỳnh Phú Sổ, thấm nhuần tinh thần đông phương, lại sống trong buổi giao thời, nên đã tùy duyên đi vào con đường lập ngôn và lập giáo theo một phương thức thích hợp với truyền thống Việt Nam. Bởi vậy sự nghiệp của Huỳnh Phú Sổ tuy không vĩ đại như sự nghiệp Vạn Hạnh nhưng đó cũng là một sự nghiệp lớn có giá trị trong hàng trăm năm hay hàng ngàn năm. Còn Lý đông A, Tuy cũng thấm nhuần kỹ thuật Tây phương, lại trẻ tuổi hơn và có chu du ở nước ngoài, nên đã đi vào con đường lập thuyết là lập đảng. Tuy không thể nào so sánh được với Vạn Hạnh và tuy không thành công như Huỳnh Phú Sổ, nhưng đó cũng là một sự nghiệp lớn có giá trị hàng chục hay hàng trăm năm.

Tuy khác nhau trong hình tướng và trong mức độ thành tựu, nhưng Vạn Hạnh, Huỳnh Phú Sổ, Lý đông A đều là những con người Việt Nam vĩ đại đã tụ hội và tổng hợp một cách độc sáng, xuất chúng suối nguồn văn hóa Việt Nam và suối nguồn văn hóa Phật giáo (bao gồm tâm thức, tinh thần, tư tưởng và truyền thống...). Suối nguồn văn hóa Việt Nam có một tên khác gọi là Dân Tộc, và suối nguồn văn hóa Phật Giáo có một tên khác gọi là Nhân chủ. Bởi vậy, ta gọi cuộc cách mạng của Vạn Hạnh, của Huỳnh Phú Sổ, của Lý đông A là cuộc cách mạng dân tộc nhân chủ.

Con đường cách mạng toàn diện nhất quán này suốt hàng chục năm qua đã không ngừng được tiếp nối và triển khai bởi những người mang tâm thức Việt và ý thức Phật, dù họ đứng ở bất cứ vị thế nào và trong hình tướng nào.

Trên cuộc hành trình trở về Đông phương, ta đã gặp đức Phật, trên cuộc hành trình trở về Việt Nam, ta đã gặp Vạn Hạnh, Huỳnh Phú Sổ, Lý đông A. Và qua họ ta đã thấy cuộc hành trình Cách mạng Dân tộc Nhân chủ. đây chính là con đường của quá khứ vinh quang, của hiện tại vướt thoát và của tương lai tất thắng. Vừa là tất thắng của Việt Nam đối với những thế lực phi Việt, vừa là tất thắng của Con người Nhân chủ đối với những thế lực phi nhân.

Và đây không phải chỉ là chiến thắng của riêng Việt Nam, mà là chiến thắng của toàn nhân loại, không phải chiến thắng một thời, mà là chiến thắng muôn ngàn năm...



Lý Khôi Việt

Trích từ 2.000 năm Việt Nam & Phật Giáo


http://phathocvienpghh.net/BoTatHuynhPhuSoPhuLuc.htm
Đăng nhập để trả lời
0
.


Huỳnh Phú Sổ và chúng ta
Tiến sĩ Lý Khôi Việt




Với cái nhìn khách quan, tác giả Lý Khôi Việt không nhìn Huỳnh Giáo Chủ như vị Giáo Chủ của một tôn giáo, mà như một nhà cách mạng, một nhà văn hóa, một nhân vật lịch sử. Cho nên tác giả đã áp dụng lối viết lịch sử, kêu đúng tục danh (Huỳnh Phú Sổ) cũng như các nhà viết sử viết "Thích Ca" mà không viết "đức Phật" theo như lời xưng tụng của tín đồ Phật giáo.

Điều này có thể khác với tinh thần tôn kính tuyệt đối của anh em tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đối với đức Huỳnh Giáo Chủ, nhưng trên bình diện văn hóa và lịch sử, ngời tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vẫn tôn trọng tư tưởng khách quan của giới bên ngoài và hoan hỉ đón nhận các quan điểm khách quan đối với Phật Giáo Hòa Hảo.



* * *



Phương trời văn hóa chính trị Việt Nam trong suốt hàng ngàn năm chỉ thấy và chỉ đối diện với mặt trời Trung Hoa. Phật giáo, từ đầu thế kỷ thứ nhất, mang đến hương hoa vi diệu của phương trời văn hóa ấn độ, nhưng do quá trình du nhập được Trung Hoa hóa, và Việt hóa, nên đã không tạo thành một ngoại lệ của quy luật địa lý chính trị và lịch sử văn hóa này.

Nhưng đến nửa sau của thế kỷ 19, tình thế đã hoàn toàn đổi khác. Với sự suy tàn toàn diện của Trung Hoa và sự xuất hiện đầy quyền lực của đế quốc thực dân Pháp, phương trời văn hóa và khoa học kỹ thuật. đến thế kỷ thứ 20, mặt trời Nhật Bản xuất hiện chói chang cả một phương trời đông á.

Từ nửa sau của thế kỷ 20 Hoa Kỳ và Liên Xô đã là hai mặt trời lớn khống chế và điều động cả bầu trời thế giói [ Bài viết năm 1986. Từ đầu thế kỷ 21, vai trò của Trung quốc đang lớn dần thay vào sự sụp đổ của vị trí Liên Xô trên trường thế giới- NL] Sự xuất hiện của nhiều cường quốc trên thế giới vùng Đông Á đi đôi như bóng với hình với thảm cảnh Việt Nam trở thành vùng đất tranh giành xâu xé của các đế quốc. ảnh hưởng và ách thống trị của các cường quốc càng đè nặng trên đất nước Việt Nam thì xu thế hướng về các cường quốc để làm tay sai, hay để vận động đấu tranh cứu nước càng mạnh mẽ. Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, xu thế xuất dương cầu học và cầu viện đã trở thành một xu thế rất phổ quát, tất nhiên của tầng lớp trí thức và của giới cách mạng Việt Nam dù thuộc bất cứ khuynh hướng, màu sắc nào. Và xu thế đó, cực thịnh trong suốt cả thế kỷ, đi song song với sự cực thịnh của các đế quốc và các chế độ tay sai tại Việt Nam. Và ngày nay, xu thế vượt biển, vượt biên cũng là một xu thế toàn thịnh đi song song với tình trạng vong thân và vong bản của toàn thể quốc dân Việt nam.

Phan Bội Châu, Cường Để khai mở vùng trời văn hóa chính trị thế giới bằng cách xuất dương qua Tàu, Nhật, Xiêm, Phan Chu Trinh cũng đến Tàu, Nhật, và Pháp; Nguyễn An Ninh, Hồ Hữu Tường, Nhất Linh đi Pháp; Hồ Chí Minh đi Pháp, đi Anh, đi Nga, rồi về lại Tàu; Ngô đình Diệm đi Bỉ, đến Hoa Kỳ... Xuất dương cầu học hay cầu viện, đó là một giấc mơ, một cuộc hành hương cách mạng và hành trình đi vào quyền lực. Có nhiều người khác, không thực hiện được những cuộc du hành trên thế giới bằng tư tưởng, bằng những lý thuyết, những ý thức hệ và những mô hình đấu tranh. Nguyễn Thái Học hướng về Quốc Dân đảng Trung Hoa với Tam Dân Chủ Nghĩa, Trương Tử Anh với mô hình quốc xã và lý thuyết quốc gia xã hội đang nổi dậy mãnh liệt ở ý, ở đức, và Nhật. Và cả một lớp thanh niên trí thức bình tĩnh hướng về chủ nghĩa Mác Xít của Cộng Sản đệ Tam, chủ nghĩa Trotsky của Cộng sản đệ tứ hay Chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội của các quốc gia Tây Ấu, trong suốt các thập niên 30, 40, 50... rồi đến các thế hệ thanh niên của thập niên 60, 70; ở miền Nam thì mơ đi Tây, đi Mỹ, ở miền Bắc thì mơ đi Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, đông đức. Và cao điểm là của thập niên 75-85 với làn sóng vượt biên ồ ạt, ai cũng muốn ra đi để thoát khỏi cảnh tù túng, đói rách trên quê hương, ai cũng tưởng mình sẽ làm được một cái gì khi đến Tây, đến Mỹ, ai cũng mơ đến hải ngoại, đến quốc tế. Và hầu như coi đó là con đường duy nhất để giải quyết những bế tắc của cá nhân cũng như của đất nước.

Nhưng có một người, một thanh niên chỉ mới 20 tuổi đã không đi trong thời thượng đó, đã đảo ngược lại xu thế đó và đã không còn ôm những giấc mơ, những mộng tưởng ở bất cứ một phương trời nào ngoài phương trời của quê hương Việt Nam. Sau Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh gần 40 năm, chàng thanh niên 20 tuổi đã khai sáng một cuộc hành hương mới, đã bắt đầu một cuộc hành trình mới, khác xa chúng ta và siêu vượt qua chúng ta.

Chàng thanh niên 20 tuổi của chúng ta đã không đến Quảng Châu, Tokyo, hay Ba Lê, Hoa Thịnh đốn. Chàng đã lội ngược dòng với thời thượng; để đi về núi Cấm, núi Thất Sơn. Không đến những thủ đô của đông phương và Tây phương, chàng cũng không bắt chước những tư tưởng, ý hệ của thế giới, dù là Ấu hay á. Những ngôn ngữ của thời đại: dân quyền, duy tân, những chủ thuyết của thể kỷ: cộng sản, tư bản, tam dân, quốc xã đối với chàng là những gì xa lạ và không cần thiết. Vì chàng đã đi, đã đến, đã sống trọn vẹn trong truyền thống Việt Nam mà tinh hoa cốt tủy là truyền thống Phật Trúc Lâm Yên Tử nhập thế đời Trần, và truyền thống đạo Phật Bửu Sơn Kỳ Hương bàng bạc khắp nhân gian miền Nam.

Không đến những thủ đô văn hóa chính trị của thế giới mà chỉ về miền núi Cấm, núi Thất Sơn, thủ đô tâm linh của đất nước hiển linh. đó là một điều độc đáo. Không chạy theo những chủ thuyết, ý thức thời thượng mà chỉ trở về và phục sinh truyền thống Trúc Lâm Yên Tử và Bửu Sơn Kỳ Hương, đó đã là điều vi diệu. Và hơn thế nữa, chàng thanh niên 20 tuổi của chúng ta khác hẳn những nhà trí thức và cách mạng đương thời chỉ hướng về tầng lớp thị dân và tầng lớp Tây Phương hóa, chàng đã đi vào nông thôn và đi đến quảng đại quần chúng nông dân, một tuyệt đại đa số của quốc dân Việt Nam. Hy hữu, tuyệt vời hơn nữa là chàng đã ra giảng cho nhân gian con đường tu thân và cứu nước không phải bằng học thuyết, chủ nghĩa, bằng lý luận, sách vở, bằng truyền đơn hay súng đạn mà bằng thơ lục bát, thể thơ mang đầy hồn dân tộc và dễ dàng đi vào muôn lòng nhân gian.

Khác hẳn với những nhà cách mạng đương thời, sau lưng có cường quốc, có ý thức hệ, có tổ chức có phương tiện, có vũ khí, sau lưng chàng chỉ có một truyền thống ngàn năm, những người nông dân chân lấm tay bùn và sức mạnh duy nhất là những vần thơ lục bát.

Và kết quả và sự nghiệp của chàng và những nhà văn hóa hay chính trị khác trong thế kỷ này ra sao?

Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh để lại những gì? Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh có mấy người theo? đảng Cộng Sản Việt Nam có tồn tại thêm được 50 năm nữa không?

Nhưng chàng thanh niên 20 tuổi của chúng ta đã phục sinh huy hoàng truyền thống ngàn năm của dân tộc, xây dựng một tôn giáo với hai triệu tín đồ, phát động một cuộc cách mạng tôn giáo, văn hóa, giáo dục, chính trị và xã hội rộng lớn và có kết quả hữu hiệu, lâu dài. Sự nghiệp của chàng đã trở thành một phần sự nghiệp Việt Nam và vì vậy, đã trở nên bất tử.

Chàng thanh niên 20 tuổi hy hữu và vĩ đại như thế là ai vậy? Chính chàng là Huỳnh Phú Sổ, Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, lãnh tụ của đảng Dân Chủ Xã Hội Việt Nam, một nhà văn hóa và một người cách mạng lạ lùng, hy hữu, ngàn năm mới có một vài vĩ nhân như thế.

Nói đến Huỳnh Phú Sổ và chúng ta, có nghĩa là nói đến những kinh nghiệm, những bài học mà Huỳnh Phú Sổ đã để lại cho chúng ta, đã trao truyền cho chúng ta.

- Trở về với truyền thống dân tộc, truyền thống Phật giáo nhập thế Trúc Lâm Yên Tử và Bửu Sơn Kỳ Hương, lấy đó làm nền tảng để hòa giải và tổng hợp những tinh hoa của bốn phương nhân oại, đó là một di chúc văn hóa chính trị lớn nhất mà Huỳnh Phú Sổ, cũng như Nguyễn Trãi, như Vạn Hạnh đã truyền dạy cho chúng ta.

- Trở về núi Cấm, núi Thất Sơn với quê hương đất nước, với hồn thiêng sông núi, với vùng trời tâm linh vi diệu trong tình trạng vong thân mất gốc trầm trọng của cả dân tộc, là nguồn gốc của mọi thàm họa, đó là một lờn nhắn nhủ thiết tha, thành khẩn mà Huỳnh Phú Sổ và tiền nhân qua bao đời lịch sử đã nhắc nhở chúng ta.

- Lấy quảng đại nông dân làm chủ lực đấu tranh và làm đối tượng để giáo dục và phụng sự, giữa cái xu thế chạy theo ngoại lai và bám vào thị hiếu của tầng lớp thị dân day tầng lớp được ưu đãi ở hải ngoại, đó là một kinh nghiệm mà chúng ta phải học tập và áp dụng.

- Lấy đạo và thơ để nâng cao dân trí và tổ chức quần chúng trong một thời đại duy lý, bạo động và sa đọa, đó là cả một bài học lớn mà chúng ta phải thấm nhuần và đem vào hành động.

- Lấy truyền thống dân tộc làm chủ đạo, lấy sức dân làm chủ lực, lấy một đường lối trung dung, thực tiễn, và một tinh thần khai phóng hòa hợp để đoàn kết toàn dân, đó là kim chỉ nam hành động cho tất cả chúng ta ngày nay.

Chỉ ở trên đời chưa đến 27 tuổi và chỉ vào hành động sáu năm mà Huỳnh Phú Sổ đã để lại một sự nghiệp lớn như vậy, đã dạy cho chúng ta nhiều bài học vô giá như vậy thì thử hỏi trong năm ngàn năm lịch sử Việt Nam, có ai trẻ tuổi như Huỳnh Phú Sổ mà đã cống hiến nhiều cho dân tộc, cho tổ quốc bằng Huỳnh Phú Sổ.

Tất cả những kẻ đã chạy theo ngoại bang, tất cả những ý thức hệ ngoại lai đã làm được gì cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu không là tàn phá thêm đất nước và gây thêm đau khổ cho dân tộc. Tiếc thay Huỳnh Phú Sổ đã ra đi quá sớm, thời gian quá ngắn ngủi để có thể cống hiến nhiều hơn nữa cho Việt Nam. Nhưng Huỳnh Phú Sổ đã không thất bại.

Con đường trở về với nông dân để khai thị, giáo dục và cải thiện đời sống của nông dân là con đường không bao giờ thất bại.

Con đường đưa nhân dân và đưa vào ý thức hệ dân tộc, dân chủ để chống đế quốc và độc tài là một con đường không bao giờ thất bại.

So với tất cả những nhà cách mạng đương thời, Huỳnh Phú Sổ là người thành công lớn nhất và để lại sự nghiệp cao nhất. Chỗ đứng của Huỳnh Phú Sổ trong văn học, chính trị và lịch sử Việt Nam là một chỗ đứng độc đáo và chói sáng.

Lịch sử sẽ nói đến Huỳnh Phú Sổ như nói đến một Martin Luther, người canh tân Thiên Chúa giáo và khai sáng đạo Tin Lành, của Việt Nam. Huỳnh Phú Sổ đã canh tân Phật giáo, đã nối tiếp và phục sinh truyền thống đạo Phật nhập thế, sinh động của phái Trúc Lâm Yên Tử và Bửu Sơn Kỳ Hương. Lịch sử sẽ nói đến Huỳnh Phú Sổ như người sáng lập của đảng Dân Chủ Xã Hội Việt Nam, đảng tổng hợp và dung hòa những ý hệ xung đột trên thế giới.

Và cuối cùng lịch sử sẽ nói về thơ Huỳnh Phú Sổ như nói về thơ Vạn Hạnh, thơ Lý Thường Kiệt, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn đình Chiễu, Phan Bội Châu. Từ bài thơ "Sá chi suy thịnh việc đời, Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành" của Quốc sư Vạn Hạnh, đến bài "Nam Quốc sơn hà Nam đế cư" của đại tướng Lý Thường Kiệt, qua các thơ, kệ của các thiền sư Lý Trần, đến thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn đình Chiễu, Phan Bội Châu, Lý đông A, Huỳnh Phú Sổ, đó là một giòng thơ Việt Nam linh thiêng, liên tục và bất tận, giòng thơ ngàn năm chở đạo và cứu nước của một dân tộc nhân nghĩa và anh hùng.

Huỳnh Phú Sổ đã không xuất dương du học, hay vượt biển như chúng ta, nên Huỳnh Phú Sổ không ra đi mà chỉ trở về, trở về với truyền thống, với nông thôn, với tinh hoa cốt tủy của dân tộc. Và cuộc hành trình trở về của Huỳnh Phú Sổ đã góp phần hoàn thành sự nghiệp Việt Nam giữa sự phá hoại và phản bội sự nghiệp Việt Nam của những kẻ đã hành hương đến Mạc Tư Khoa hay Hoa Thịnh đốn.

Sự thành công rực rỡ, kỳ diệu của Huỳnh Phú Sổ không có nghĩa là sự ra đi của chúng ta là vô ích hay không cần thiết. Huỳnh Phú Sổ bị Cộng Sản ám hại và những người thừa kế Huỳnh Phú Sổ bị các chế độ chống cộng đàn áp, tiêu diệt không một chút nào có nghĩa là ý thức quốc gia đã thắng ý thức giáo phái, hay chính quyền trung ương đã thắng sự phân hóa, ly khai của địa phương, mà chỉ có nghĩa những kẻ dựa vào ngoại bang đã tạm thời thắng thế những người chỉ dựa vào dân tộc, những kẻ có ý hệ và súng đạn cũng như sự hậu thuẫn và kỹ thuật của thế giới đã tạm thời thắng thế những người không vận dụng và sử dụng được những sức mạnh và võ khí này.

Sự ra đi của chúng ta có sứ mạng linh thiêng là hoàn thành những gì mà Huỳnh Phú Sổ chưa hoàn tất, là thực hiện những gì mà Huỳnh Phú Sổ chỉ mới ước mơ: là sự chiến thắng của Việt Nam đối với những thế lực phi Việt, là xây dựng một nước Việt Nam tự do, công bằng, và nhân đạo, độc lập, hòa bình với mọi nước và mọi người sống trong hòa hợp, yêu thương.

Để thực hiện lý tưởng cao cả và di chúc linh thiêng này, không phải của riêng Huỳnh Phú Sổ mà của cả triệu người Việt Nam yêu nước khác đã chết, chúng ta phải học hỏi, thấm nhuần truyền thống, tinh hoa của dân tộc, không ngừng nuôi dưỡng ý thức trở về và kiên trì đấu tranh cho một ngày về, đồng thời học tập, làm chủ những kỹ thuật hiện đại của thế giới và vận động thế giới hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta.

50 năm nữa, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ chẳng còn và chẳng ai nhắc đến; nhưng 1.000 năm nữa, hình bóng của Huỳnh Phú Sổ, cũng như hình bóng của Vạn Hạnh, của Nguyễn Trãi, vẫn bát ngát bao la giữa đất trời, sông núi Việt Nam.

50 năm nữa, những kinh điển Mác Xít phủ đầy bụi sẽ nằm chết cứng trong các viện bảo tàng và chẳng ai thèm đọc; nhưng 10 thế kỷ nữa thơ Huỳnh Phú Sổ, cũng như thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến vẫn còn mênh mông ca hát trong luôn lòng Việt Nam.

Chúng ta chào đón và vinh danh Huỳnh Phú Sổ không phải như chào đón và vinh danh một vị Giáo Chủ mà là chào đón và vinh danh một đạo hữu, một chí hữu và một chiến hữu.

Đạo hữu của đạo Phật nhập thế mà hiện đại hóa.

Chí hữu của lý tưởng dân chủ xã hội.

Và chiến hữu của cuộc chiến đấu chống đế quốc và độc tài.

Huỳnh Phú Sổ bất tử trong ý thức và hành động cứu người cứu nước của tất cả chúng ta.

Núi Thất Sơn vẫn nổ vang rền từng giờ từng phút mỗi khi chúng ta vẫn còn sống, chiến đấu và phụng sự trong tinh thần Huỳnh Phú Sổ.

Huỳnh Phú Sổ chính là tất cả chúng ta, tất cả những người Việt Nam yêu nước mang tinh thần tự do, khai phóng, và nhân bản đi vào hành động giải cứu và phát triển Việt Nam.

Cũng như Vạn Hạnh, như Nguyễn Trãi, Huỳnh Phú Sổ không bao giờ chết. Vạn Hạnh, Nguyễn Trãi và Huỳnh Phú Sổ chỉ hóa thân thành chúng ta, những Vạn Hạnh, những Nguyễn Trãi, những Huỳnh Phú Sổ của thời đại hôm nay.



Tiến sĩ Lý Khôi Việt

Trích tập san
Thanh Niên Hành động
số 9, tháng 7&8 –86
(Trích từ PGHH Trong Dòng Sinh Mệnh Dân Tộc).

http://phathocvienpghh.net/BoTatHuynhPhuSoPhuLuc.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Ngày lễ Cha, rủ các bạn cùng đọc lại và thêm vào lọat bài này:
 
Cha là sóng, là sông, là biển lớn
Dựng quanh con bát ngát tấm yêu thương
Ngày cha mẹ chan hòa niềm vui mới
Tạo nên con một sức sống khôn cùng


Tiếng con khóc gửi vai cha gánh nặng
Vì con cha tất tả gánh non sông
Từ thôn Đoài vượt núi tới thôn Đông
Giữ mái lá giữ ruộng vườn cha cố
Một lòng son dành dụm mãi cho con


Kìa người cha đang cày sâu cuốc bẫm
Kìa người cha giăng chài lưới ra khơi
Cha dạy cho con tiếng nói đầu đời
Cha liều mạng cho con còn nhân tính


Ngày người cha gục ngã giữa non sông
Con hãy nhận lời yêu thương trầm thống
Vươn vai lên hỡi người con Phù Đổng
Nhận tình cha giữ vững giống Tiên Rồng


Sắp đến ngày Vinh danh Cha, tôi mời các bạn cùng thắp nén hương đến Cha Ông chúng ta, những người đã dựng nước, giữ nước, và truyền lại cho chúng ta bao tinh khí bất khuất để sống còn và phát triển, bằng những áng thơ văn đầy tâm huyết trong văn học Việt.

Trong dịp xem phim Mùa Len Trâu, tôi chợt nhìn ra một điều. Đó là sức sống mạnh mẽ mà nhân ái của người cha Việt đi lên từ biển - giòng giống Rồng.

Phim Mùa Len Trâu đã dựng lại cảnh dân Việt sống trong vùng đồng ruộng lúa nước, mỗi năm lũ lụt tràn ngập đất đai cây cỏ, con người lại phải trôi dạt tìm một vùng đất cao hơn để sống tạm. Trong thời gian này, người Việt ven biển đã sống một cuộc đời du mục. Đi qua các cánh đồng nước, tranh nhau một miếng đất cao mà sống. Với hoàn cảnh ấy, xã hội dựa vào sức sống của người đàn ông. Người cha. Một sức sống mãnh liệt mà bền bỉ, và luôn luôn quan tâm đến sự bảo tồn đời sống với tâm thức nông nghiệp.

Người đàn ông Việt của biển có tình cảm dồi dào như sóng nước, sống theo điệu nhạc trăng gió thiên nhiên, nên rất giàu tình yêu và có thiên khiếu văn chương, thi phú.

Khác hẳn với cách sống du mục từ vùng thảo nguyên, dựa trên sự săn thú và giết chóc, đốt phá, nếp sống "du mục nước" này tạo ra những người đàn ông với tâm thức trọng nông, luôn luôn quan tâm đến sự bảo tồn đời sống, quý cây cỏ và sinh vật.

Đó chính là Người Cha Việt Nam đến từ Biển: Bất khuất mà Nhân hậu, Dũng mãnh mà Lãng mạn, Đa tình mà Chung tình, và luôn mang trong lòng một Mối Tình Lớn: Tình Yêu Nước.

Đó là hình dáng của Lạc Long Quân, người Bố Rồng từ biển.

Đó là hình dáng Trần Hưng Đạo, rất dũng mãnh mà khoan hòa, chiến thắng giặc lừng lẫy trên biển cả, nhưng lại rất nhân ái.

Đó là hình ảnh Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi khi chia tay tại Ải Nam Quan, để sau này Nguyễn Trãi lẫy lừng trong chiến thắng chống quân Minh với Bình Ngô Đại Cáo.

Đó là hình ảnh một Nguyễn Thái Học, một Lý Đông A, một Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Phan Khôi và nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Tường Tam,. và bao anh hùng liệt sĩ khác, từ ngàn năm trước cho đến bây giờ, đã dồn bao tâm huyết viết thành trang sử văn học đến tận hôm nay...

Kính mời các bạn cùng với tôi,
trân trọng tấm lòng bao la như biển của người Cha Việt,
góp vào đây các hình ảnh Cha trong Văn học Việt,
nhân ngày Vinh Danh Cha.

Chúc tất cả các bạn đang hay sắp làm Cha, thật hãnh diện và hạnh phúc với vai trò cao quý nhất của cuộc đời, thần tượng hạng nhất trong mắt con của bạn, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Chúc các bạn còn Cha được tận hưởng tình yêu thương che chở của người, và những bạn không còn cha bên cạnh, như tôi, thấm thía tấm tình sâu đậm và bao tâm huyết Cha đã trao truyền cho chúng ta, để luôn muốn gọi: "Bố ơi, về đây giúp chúng con"...


Ngọc Lý
 
 
Đăng nhập để trả lời
0