Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đời Kỹ nữ (Memoires of a geisha) 🔒

43 trả lời, 7.536 lượt xem — Trang 1 / 2
Minh đang có 26 chương của truyện này, do mình đánh máy chơi (và sẽ có tiết tục cho đến khi hết truyện). Mình thấy VNTQ chưa có truyện này nên cũng muốn gởi cho các bạn đưa vào thư viện. Nhưng mình không biết cách nào là tốt nhất, một là mình gởi nguyên documents file cho một ai đó để đăng lên hay là mình gởi từng chương một qua mục này. Cho mình biết cách nào là thuận tiện nhất cho các bạn nhé
thân ái
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-10 04:29:36Chuột lắc>
Chào mừng bạn tumbleweed đến với VNTQ [sm=ex5.gif] và chân thành cám ơn bạn đã có nhã ý đóng góp tác phẩm Đời kỹ nữ. Thư quán mới chỉ có bản tiếng Anh của tác phẩm này, còn bản tiếng việt thì chưa có bạn ạ. Nếu bạn post truyện này lên, thì còn gì bằng [sm=10_point.gif]
Bạn có thể post trực tiếp tác phẩm đó ngay trong topic này. Hoặc nếu bạn không có thời gian thì gởi mail hay gởi thư riêng cho các mod để các mod post lên giùm bạn.
Chúc bạn thành công.
P/S (kem đánh răng [:D]): Email, PM nằm trong hồ sơ cá nhân của mod đó bạn. Mà hồ sơ cá nhân thì bạn chỉ cần click vào nick người bạn muốn gởi thư.
Thân mến [sm=rose.gif]
***
0
post lên đi bạn ơi, mình đang mún đọc nè. thanks
Giá trị cuộc sống nằm ở chỗ khi sinh ra bạn khóc trong khi mọi người cười, còn khi mất đi bạn cười còn mọi người thì khóc
0
Mình cũng muốn đọc nè. Mình đang tìm mãi mà không thấy đó. Cảm ơn bạn nhiều.
Đợi gì một giấc mơ hoang....
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-19 11:10:35Chuột lắc>
ĐỜI KỸ NỮ
ATHUR GOLDEN
Người dịch: Văn Hòa – Kim Thủy
Nhà xuất bản Văn Học


Truyện đang được đưa vào thư viện.
Cám ơn bạn tumbleweed đã góp sức cho thư quán.
Mong bạn sớm hoàn thành tác phẩm để mình khiêng hết vào thư viện.[:)]
@ Thuychi: Bạn Chi mến, nhờ bạn hiệu đính gấp truyện này nhé!!! Bạn đọc đang nóng lòng lắm đó! Cám ơn sự giúp sức của Thuychi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 04:36:27Chuột lắc>
CHƯƠNG 3

Truyện đang được đưa vào thư viện.
Cám ơn bạn tumbleweed đã góp sức cho thư quán.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 04:35:12Chuột lắc>
CHƯƠNG 4

Suốt mấy ngày đầu tiên ở ngôi nhà xa lạ này, tôi cứ nghĩ tôi mất tay mất chân mà đừng mất gia đình và nhà cửa, chắc tôi ít đau đớn hơn thế này. Tôi nghĩ chắc đời tôi sẽ không bao giờ được trở lại như trước. Tôi cứ nghĩ đến cảnh đau đớn khổ sở của mình, và ngày này qua ngày khác, tôi tự hỏi không biết khi nào tôi mới có thể gặp lại chị Satsu. Tôi không có cha có mẹ - thậm chí không có cả quần áo tôi thường mặc. Tuy nhiên điều làm cho tôi kinh ngạc nhất là sau mấy tuần trôi qua, tôi đã sống còn. Tôi nhớ một lần tôi lau chén bát trong nhà bếp, bỗng thấy mình mất tinh thần, tôi ngừng công việc đang làm để nhìn đăm đăm vào hai tay mình một hồi lâu, vì tôi không tin được kẻ đang lau khô chén bát này lại chính là tôi.
Bà Mẹ đã nói với tôi nếu tôi chịu khó làm việc và biết xử sự thì vài tháng sau tôi sẽ được học tập nghề geisha. Như Bí Ngô đã cho tôi biết, bắt đầu học tập có nghĩa là đi đến trường học ở một khu vực khác tại Gion để học các môn như âm nhạc, múa và nghệ thuật phục vụ trà. Tất cả các cô gái học để trở thành geisha đều cùng học tại trường này. Tôi nghĩ khi tôi được phép đi học, chắc thế nào tôi cũng tìm ra Satsu, cho nên sau tuần đầu tiên, tôi quyết chí sẽ ngoan ngoãn vâng lời như con bò đi theo sợi dây xâu ở mũi, với hy vọng Mẹ sẽ sớm cho phép tôi đến trưlờng học tập.
Hầu hết những việc làm của tôi đều đơn giản. Buổi sáng, tôi dọn dẹp nệm trải trên nền nhà, lau chùi nền nhà, quét dọn hành lang đất, v..v.. Thỉnh thoảng người ta sai tôi ra tiệm thuốc để mua thuốc ghẻ cho bà bếp, hay đến tiệm tạp hóa mua bánh tráng gạo cho Dì, món ăn Dì rất thích. May mắn thay cho tôi là công việc lau chùi nhà vệ sinh đều do các chị người làm lớn tuổi đảm trách. Mặc dù đã cố làm việc hết mình, tôi vẫn không gây được ấn tượng tốt như lòng tôi mong đợi, vì công việc lặt vặt nhiều quá tôi làm không xuể, và chuyện khó khăn này đa số đều do Bà Ngoại gây ra.
Việc chăm sóc bà không phải là nhiệm vụ của tôi – theo Dì cho tôi biết như thế. Nhưng khi bà gọi, tôi không thể không chạy đến được, vì bà là người có quyền hạn hơn bất kỳ ai ở trong ngôi nhà này. Chẳng hạn, một hôm tôi đang mang trà lên cho Mẹ thì bà gọi lớn:
- Con bé đâu rồi? Bảo nó lên đây cho tao!
Tôi phải để khay trà xuống, vội vã chạy lên. Bà đang ăn trưa.
- Mày không thấy phòng này quá nóng hay sao? – Bà nói sau khi tôi đã quỳ xuống chào bà – Đáng ra mày phải vào đây để mở cửa sổ cho tao chứ.
- Cháu xin lỗi, thưa bà. Cháu không biết bà nóng.
- Nhìn tao thế này mà không nóng à?
Bà ta đang ăn cơm, vài hạt cơm dính vào môi dưới. Tôi thấy bà ta có vẻ ham ăn chứ không có vẻ gì nóng nảy hết, nhưng tôi vẫn đi đến cửa sổ để mở cửa ra. Khi vừa mở, một con ruồi liền bay vào, bay vù vù quanh mâm cơm của bà.
- Mày làm sao thế này? – Bà ta nói, đưa đôi đầu đũa xua con ruồi đi. – Mấy đứa ở khi mở cửa không để ruồi bay vào.
Tôi xin lỗi và nói để tôi đi lấy cái cây đập ruồi.
- Đập ruồi vào thức ăn của tao à? Không được. Không được làm thế! Mày đứng đây đuổi ruồi cho tao ăn.
Thế là tôi phải đứng đấy trong khi bà ta ăn cơm, và nghe bà kể đủ chuyện. Khi tôi được phép ra ngoài thì trà của Mẹ đã nguội, không thể mang đến cho bà uống được. Thế là cả bà đầu bếp và Mẹ đều tức tối.
Thực ra thì bà không thích ở một mình. Thậm chí khi vào phòng vệ sinh, bà cũng cần có Dì đứng ngoài cửa, nắm hai tay bà để bà ngồi xuống cho vững. Mùi hôi nồng nặc khiến Dì phải ngẩng đầu lui thật xa. Tôi không làm công việc ghê tởm này, nhưng bà thường gọi tôi đến đấm bóp, trong khi bà rửa lỗ tai với cái ly bạc nhỏ. Công việc đấm bóp này rất khổ chứ không nhẹ nhàng gì. Lần đầu tiên bà cởi áo kéo xuống quá vai, tôi như muốn phát bệnh, vì da ở vai và ở cổ bà xù xì và vàng khè như da gà còn sống. Sau này tôi mới biết bà bị như thế là do đã thoa thứ phấn trắng gọi là “Đất Sét Trung Hoa” có pha chì. Không chỉ có một mình bà Ngoại bị như thế mà ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thế giới lần II người ta vẫn còn thấy nhiều bà già da ở cổ thụng xuống vàng khè.
Khoảng ba tuần sau ngày tôi vào nhà dạy kỹ nữ, một hôm tôi lên lầu dọn dẹp phòng của Hatsumono trễ hơn thường khi. Mặc dù tôi không gặp cô ta vì cô ta rất bận rộn, nhưng tôi vẫn rất sợ Hatsumono. Tôi sợ nếu cô ta gặp tôi một mình, sẽ có lắm chuyện không hay xảy ra, cho nên tôi cố lau chùi phòng của cô ta vào giờ cô rời khỏi nhà để đi học múa. Rủi thay, sáng hôm ấy bà Ngoại sai tôi làm nhiều việc lặt vặt mãi cho đến gần trưa mới xong.
Phòng của Hatsumono rộng hơn các phòng khác trong nhà, diện tích tính ra còn rộng hơn ngôi nhà của tôi ở Yoroido. Tôi thấy thắc mắc về điều này thì có một chị giúp việc cho biết rằng phòng này trước đây có đến bốn cô geisha ở nhưng giờ chỉ còn một mình Hatsumono mà thôi. Tuy sống một mình nhưng cô ta rất bừa bộn. Hôm ấy, khi vào phòng cô ta, ngoài những đồ đạc để lung tung như mọi khi, còn có cái giá gỗ móc áo kimono nằm ngã dưới đất. Ngay khi tôi dựng cái giá lên, cánh của xịch mở, tôi quay lại thì thấy Hatsumono đang đứng đó.
- Ồ thì ra cô – cô ta nói – Tôi nghe tiếng động cứ ngỡ đấy là chuột hay cái gì đấy. Thì ra cô đang dọn dẹp phòng của tôi. Có phải cô là người có bổn phận sắp xếp lại các lọ đồ trang sức của tôi không? Tại sao cô tha thiết làm việc ấy thế?
- Tôi xin lỗi, thưa bà – Tôi đáp – Tôi chỉ nhích chúng ra để lau bụi ở dưới thôi.
- Nhưng nếu cô đụng vào chúng, chúng sẽ lây mùi hôi của cô. Rồi thì các ông sẽ nói “Này cô Hatsumono, tại sao cô có mùi hôi của cô gái ngu dốt ở làng đánh cá như thế?” Tôi nghĩ chắc cô biết điều đó chứ, phải không? Nhưng cô hãy lập lại cho chắc ăn. Tại sao tôi không muốn cô đụng đến các đồ trang điểm của tôi?
Tôi nghẹn ngào không thốt lên lời. Nhưng cuối cùng tôi cũng đáp:
- Vì chúng sẽ có mùi hôi như tôi.
- Rất tuyệt. Và các ông sẽ nói gì?
- Họ sẽ nói: Ồ cô Hatsumono, cô có mùi hôi như cô gái ở làng đánh cá.
- Hừ…Tôi không thích cái điệu cô nói như thế. Nhưng thôi cho qua. Tôi không biết tại sao con gái ở các làng đánh cá có mùi hôi như thế. Ngày hôm kia cô chị xấu xí của cô có đến đây tìm cô, cô ta cũng có mùi hôi như cô vậy.
Nãy giờ tôi luôn luôn nhìn xuống sàn nhà, nhưng khi nghe Hatsumono nói thế, tôi liền ngước mắt nhìn thẳng vào cô ta để xem cô ta có nói thật hay không.
- Cô kinh ngạc lắm hả? – Cô ta nói – Tôi nói cô ta có đến đây phải không? Cô ta muốn nhờ tôi báo cho cô biết hiện cô ấy đang ở đâu. Có lẽ cô ta muốn cô đến tìm cô ta rồi hai chị em cùng nhau bỏ trốn…
- Cô Hatsumnono…
- Cô muốn tôi nói cho cô biết hiện cô ta đang ở đâu phải không? Tốt, cô rất muốn biết. Khi nào tôi thấy tiện, tôi sẽ cho cô biết. Bây giờ thì hãy ra khỏi đây.
Tôi không dám không vâng lời, nhưng trước khi bước ra khỏi phòng, tôi nghĩ có lẽ tôi nên cố thuyết phục cô ta.
- Thưa cô Hatsumono, tôi biết cô không thích tôi – tôi nói – Nếu cô có lòng tốt nói cho tôi biết, tôi xin hứa sẽ không làm phiền cô nữa đâu.
Khi nghe tôi nói thế, Hatsumono lộ vẻ sung sướng ra mặt, cô ta đi về phía tôi. Thú thật, chưa bao giờ tôi thấy một phụ nữ nào trông hấp dẫn như thế. Đàn ông đi ngoài đường thường dừng lại, lấy thuốc trên miệng ra để nhìn cô ta. Tôi tưởng cô ta sẽ đến nói nhỏ bên tai tôi, nhưng sau khi đứng mỉm cười trước mặt tôi một lát, cô ta đưa tay tát vào mặt tôi.
- Tao đã bảo mày đi ra khỏi phòng tao kia mà – Cô ta nói.
Tôi quá sửng sốt không biết phải phản ứng ra sao. Nhưng chắc tôi đã lảo đảo bước ra khỏi phòng, vì sau đó tôi ngồi gục xuống sàn ván ở hành lang, hai tay ôm mặt. Ngay khi đó, cửa phòng của Mẹ mở ra. Bà đến đỡ tôi đứng lên và nói:
- Hatsumono! Cô làm gì Chiyo thế này?
- Nó tính chuyện bỏ trốn đấy Mẹ ạ. Tôi đánh nó cho mẹ là hay nhất. Tôi nghĩ chắc Mẹ quá bận rộn công việc nên không đánh nó được.
Mẹ gọi một chị giúp việc, bảo chị ta đi lấy vài lát gừng tươi rồi dẫn tôi vào phòng bà, để tôi ngồi xuống và bà nói tiếp cuộc điện thọai bị bỏ dở. Chiếc máy điện thoại duy nhất trong nhà dùng để gọi ra ngoài khu Gion được gắn trên tường ở phòng bà, không ai được phép dùng nó hết. Bà để ống nghe nằm nghiêng trên kệ, và khi bà lấy lên lại để nói, bà bóp mạnh mấy ngón tay múp míp vào ống nghe, như muốn vắt cho nó ra nước.
- Xin lỗi – bà nói vào ống nghe, giọng the thé – Hatsumono lại đánh người làm trong nhà.
Trong mấy tuần đầu ở nhà dạy kỹ nữ này, tôi cảm thấy có cảm tình với Mẹ một cách vô cớ - như thể con cá được người dánh cá tháo lười câu ra khỏi miệng. Có lẽ vì hàng ngày tôi chỉ thấy bà vài phút khi tôi lau chùi phòng bà. Bà lúc nào cũng có mặt ở đấy, ngồi nơi bàn, thường với cuốn sổ kế toán mở ra trước mắt, mấy ngón tay lia lịa hất các hạt tính bằng ngà trên cái bàn tính Trung Hoa. Bà bận bịu tính tóan cả ngày, và phòng bà lại lộn xộn bừa bãi hơn cả phòng của Hatsumono nữa. Hễ mỗi khi bà ta dằn mạnh cái ống vố xuống bàn là từng đám tro và thuốc bay ra trên mặt bàn, và bà cứ để mặc chúng ở đấy. Bà không muốn ai đụng đến tấm nệm ngủ của bà, thậm chí không ai thay vải trải nệm, cho nên căn phòng bốc lên mùi vải dơ, còn các tấm màn giấy che cửa sổ dơ bẩn kinh khủng vì bị khói thuốc bám vào, khiến cho căn phòng thêm u tối .
Trong khi Mẹ nói chuyện trên điện thoại, chị gia nhân mang đến nhiều lát gừng mới cắt để tôi đắp lên chỗ bị Hatsumono đánh. Vì cửa phòng cứ mở ra đóng lại, khiến con chó nhỏ Takku của Mẹ thức dậy, con chó có bộ mặt xấu xí và tính tình hung dữ. Nó chỉ có ba việc phải làm: sủa, ngáy và cắn người nào muốn nựng nó. Sau khi chị ở đi ra rồi, con Taku đến nằm phía sau lưng tôi. Đây là trò ma giáo của nó, vì nó muốn nằm như thế để tôi có sơ ý dẫm lên nó, và thế là nó có cớ để cắn tôi. Tôi cảm thấy khi ấy tôi như con chuột bị nhốt trong phòng đóng kín cửa, vì tôi ngồi giữa Mẹ và Takku. Cuối cùng Mẹ gác điện thoại, đến ngồi vào bàn. Bà nhìn tôi, cặp mắt vàng khè, bà nói:
- Bây giờ nghe tao cho rõ, bé. Có lẽ mày đã nghe Hatsumono nói đùa. Vì nó có thể trốn thoát, nhưng mày thì không thể trốn được. Tao muốn biết tại sao nó đánh mày?
- Cô ấy muốn tôi ra phòng của cô ấy, thưa Mẹ - tôi đáp - Tôi rất ân hận.
Mẹ bảo tôi nói lại bằng giọng Kyoto cho đúng, việc này đối với tôi thật khó, khi tôi nói lại rõ ràng cho bà hài lòng, bà nói:
- Tao nghĩ chắc mày không hiểu công việc của mày ở đây. Tất cả chúng tao đều nghĩ đến một việc duy nhất thôi – đó là làm sao chúng tao giúp Hatsumono trở thành một geisha thành công. Ngay cả Bà Ngoại nữa. Bà có vẻ khó khăn với mày thật đấy, nhưng suốt ngày bà chỉ nghĩ đủ cách để giúp đỡ Hatsumono.
Tôi không hiểu Mẹ muốn nói cái gì. Thật tình mà nói, tôi không thể tin được bà có thể thuyết phục ai tin rằng Bà Ngoại có ý đồ giúp đỡ ai đó.
- Nểu người có quyền hành ở đây như Bà Ngoại mà còn làm việc cật lực cả ngày để giúp công việc của Hatsumono được thuận lợi dễ dàng hơn, thì tao nghĩ mày cũng phải làm việc cật lực mới được.
- Vâng thưa Mẹ, con sẽ tiếp tục làm việc cật lực.
- Tao không muốn thấy mày làm cho Hatsumono bực mình thêm lần nữa. Con bé kia tránh đường cô ấy, thì mày cũng phải làm như thế.
- Vâng thưa Mẹ. Nhưng trước khi đi, con có thể hỏi Mẹ được không? Con chỉ muốn biết hiện chị con ở đâu mà thôi. Con chỉ muốn gởi cho chị ấy lời nhắn thôi.
Miệng của Mẹ rất kỳ lạ, nó to chành ành trên mặt, lúc nào cũng hả ra, nhưng bây giờ bà nghiến hai hàm răng lại với nhau như thể bà muốn tôi nhìn vào miệng bà. Đấy là kểu cười của bà, nhưng mãi cho đến khi bà phát ra tiếng ho tôi mới biết bà cười, vì khi cười bà giống như là đang ho.
- Làm sao tao nói cho mày biết chuyện ấy được? – Nói xong bà ta phá ra cười vài lần nữa rồi hươ tay ra dấu bảo tôi ra khỏi phòng.
Khi tôi đi ra, bà Dì đang đứng đợi tôi ở ngoài hành lang gần cầu thang để sai bảo tôi làm việc. Bà đưa tôi cái xô nước, bảo tôi leo lên cái thang bắt qua cánh cửa sập lên tận mái nhà. Ở đấy có bể nước để trên mấy cái trụ gỗ để hứng nước mưa. Nước mưa chảy xuống theo trọng lực để xối phòng vệ sinh ở tầng hai ở gần phòng Mẹ, vì lúc ấy chúng tôi chưa có hệ thống nước máy. Mấy hôm trước, vì trời khô ráo không có nước mưa, mà phòng vệ sinh lại hôi hám. Cho nên công việc của tôi là xách nước lên đổ vào thùng để bà Dì xối rửa phòng vệ sinh vài lần cho sạch.
Ngói trên mái nhà buổi trưa nóng như lửa. Trong khi đổ nước vào thùng, tôi không thể nào không nghĩ đến nước hồ lạnh ở làng ven biển quê tôi. Tôi mới tắm trong hồ chỉ cách đây mấy tuần thế mà bây giờ tôi cảm thấy đã lâu lắm rồi. Dì bảo tôi nhổ cỏ giữa các khe ngói trước khi tụt xuống. Tôi nhìn hơi nóng hầm hập phả lên khắp thành phố và nhìn các ngọn đồi bao quanh chúng tôi như những bức tường bao quanh nhà tù. Tôi nghĩ có lẽ đâu đó dưới một trong những mái nhà này, chị tôi đang làm công việc lặt vặt như tôi. Tôi mải nghĩ đến chị ấy nên sơ ý va phải thùng nước làm cho nước bắn ra, chảy xuống đường.
Khoảng một tháng sau khi tôi đến nhà dạy kỹ nữ, Mẹ bảo đã đến lúc tôi bắt đầu đến trường học. Sáng hôm sau tôi phải theo Bí Ngô đến trường để giới thiệu với các giáo viên. Sau đó, Hatsumono sẽ đưa tôi đến một nơi có tên gọi là Phòng Hộ Tịch, nơi tôi chưa hề nghe nói đến, và đến xế chiều, tôi sẽ xem cô ta trang điểm và mặc áo kimono. Đấy là tục lệ trong nhà dạy kỹ nữ dành cho một cô gái, vào ngày cô ta bắt đầu luyện nghề, để quan sát nàng geisha bề trên chuẩn bị trang phục.
Khi Bí Ngô nghe tin cô ta sẽ dẫn tôi đến trường vào sáng hôm sau, cô ta rất căng thẳng. Cô ta nói với tôi:
- Bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để ra đi ngay khi bạn vừa thức dậy. Nếu đến trễ, chúng ta sẽ ê mặt đấy.
Sáng nào tôi cũng thấy cô ta vội vã ra khỏi nhà khi trời còn sớm tinh mơ và mỗi khi ra đi, cô ta đều có vẻ như muốn khóc. Thực vậy, mỗi khi nghe tiếng guốc gỗ của cô ta đi qua ngoài cửa sổ nhà bếp, là tôi cảm thấy như nghe cô ta khóc. Cô ta không thuộc hết bài học, thực ra là không hiểu hết. Cô ta đến nhà dạy kỹ nữ trước tôi gần sáu tháng, thế mà cô ta chỉ bắt đầu học nghề quãng một tuần sau khi tôi đến. Ngày nào khi đi học về vào lúc giữa trưa, cô ta đi thẳng vào khu gia nhân, trốn ở đấy để không ai thấy cô buồn.
Bí Ngô đợi tôi ngoài cửa ngỏ, vẻ bồn chồn lo lắng. Tôi vừa xỏ chân vào giầy thì Bà Ngoại gọi tôi vào phòng.
- Không! – Bí Ngô hoảng hốt nói, mặt cô ta xịu xuống, ỉu xìu. – Tôi lại đến trễ nữa mất! Ta cứ đi, giả vờ như không nghe thấy bà ấy gọi!
Tôi muốn làm theo lời Bí Ngô nói, nhưng Bà Ngoại đã hiện ra nơi ngưỡng cửa, nhìn tôi qua hành lang phía trước nhà. Nhưng bà chỉ giữ tôi lại mươi mười lăm phút thôi, tuy nhiên mắt Bí Ngô đã đầy cả nước. Khi chúng tôi ra đi, Bí Ngô đi thật nhanh khiến tôi phải chạy theo mới kịp.
- Mụ già kia quá độc ác! – Cô ta nói - Bạn nhớ rửa tay với nước muối sau khi chà xát cổ cho bà ta.
- Tại sao phải làm thế?
- Mẹ tôi thường nói “Ma quỷ đụng đâu là gieo họa đến đấy.” Và tôi thấy quả thật như thể. Mẹ tôi đã vướng phải vào một con quỷ một buổi sáng khi đi ngoài đường, vì thế mà bà chết. Nếu bạn không rửa tay cho sạch, bạn sẽ biến thành đồ già nua quắt queo như Bà Ngoại thôi.
Bí Ngô và tôi cùng tuổi và cùng hoàn cảnh giống nhau, nên tôi nghĩ nếu có thể, chắc chúng tôi thường nói chuyện với nhau. Nhưng công việc trong nhà làm cho quá bận rộn, thậm chí không cùng ăn chung với nhau nữa. Bí Ngô ăn trước vì cô ta cấp bậc cao hơn tôi trong nhà này. Tôi biết Bí Ngô đến trước tôi chỉ sáu tháng như tôi đã nói. Nhưng tôi biết rất ít về cô ta. Cho nên tôi hỏi :
- Bí Ngô này, có phải bạn ở Kyoto không? Nghe giọng nói của bạn, tôi nghĩ bạn phải là người ở đây.
- Tôi sinh ra ở Sapporo, nhưng mẹ tôi chết khi tôi lên năm. Bố tôi gởi tôi đên đây để sống với ông cậu. Năm ngoái cậu tôi thất nghiệp, và tôi vào đây.
- Tại sao bạn không chạy về Sapporo lại?
- Bố tôi gặp tai hoạ và chết hồi năm ngoái rồi. Tôi không chạy về đấy được. Tôi không có đâu để đi hết.
- Khi tôi tìm ra được chị tôi – tôi nói - bạn có thể đi với tôi. Chúng ta cùng chạy trốn.
Tôi nghĩ Bí Ngô gặp cảnh khó khăn trong việc học tập này, cho nên chắc cô ta sẽ sung sướng khi nghe tôi đề nghị như thể. Nhưng cô ta không nói gì hết. Chúng tôi đã đến Đại lộ Shijo và lặng lẽ băng qua đường. Ngày ấy Bekku dẫn tôi và Satsu từ nhà ga qua đây, con đường này rất đông đúc. Bây giờ trời còn sáng sớm, tôi chỉ thấy xa xa một chiếc tàu điện và lác đác vài chiếc xe đạp. Khi chúng tôi qua đến bên kia đường, chúng tôi đi theo một con đường hẹp, rồi bỗng Bí Ngô thình lình dừng lại .
- Cậu tôi là người rất tốt – cô ta nói - Trước khi cậu đưa tôi đến đây cậu đã nói với tôi những lời cuối cùng như thể này “Con gái có đứa thông minh, có đứa ngu đần. Cháu dễ thương đấy, nhưng cháu cũng ngu đần. Cháu không thể tự mình xoay sở để sống ở đời được đâu. Cậu sẽ gởi cháu đến một nơi mà người ta bảo cháu làm theo ý họ. Cháu hãy làm theo lời họ. Cháu sẽ được chăm sóc mãi mãi.” Cho nên, nếu bạn muốn bỏ trốn, bạn cứ đi. Còn tôi, tôi đã tìm ra nơi để sống rồi. Tôi sẽ làm việc cật lực để họ không đuổi tôi đi. Tôi thà chịu gian khổ còn hơn để mất cơ hội trở thành geisha như Hatsumono.
Nói đến đây Bí Ngô dừng lại, cô ta đưa mắt nhìn cái gì đấy ở dưới đất phía sau lưng tôi rồi thốt lên:
- Ôi lạy trời , Chiyo! Thấy cái này bạn không thèm sao?
Tôi quay người và thấy chúng tôi đứng trước cửa ngõ một nhà dạy kỹ nữ khác. Trên kệ bên trong cửa có một cái am nhỏ thờ thần, có để cúng bánh ngọt. Tôi tự hỏi không biết có phải Bí Ngô nhìn các thứ này không, nhưng mắt cô ta cúi nhìn xuống đất. Tôi nhìn theo con đường lát đá chạy vào cửa trong, tôi chỉ thấy vài cây dương xỉ và một ít rêu bám vào bám trên đá thôi chứ chẳng có gì hết. Rồi bỗng mắt tôi nhìn thấy vật ấy. Một cái xiên gỗ dùng nướng thịt còn dính một miếng mực nướng cháy đen nằm dưới đất phía bên ngoài cửa ngõ, ngay bên mép đường. Ban đêm có người đẩy xe đi bán thịt nướng. Mùi thịt nướng ăn với tương làm cho tôi thèm nhỏ rãi, vì tôi tớ như chúng tôi thường được ăn cơm với dưa chua, mỗi ngày được ăn một bữa cháo, và mỗi tháng hai lần được ăn vài con cá nhỏ kho khô. Thế nhưng trông miếng mực nướng dưới đất, tôi chẳng thấy thèm chút nào hết. Hai con ruồi bò quanh trên miếng mực như thể chúng đang dạo chơi trong công viên.
Bí Ngô có khả năng mập rất nhanh nếu được ăn uống đầy đủ. Tôi thường nghe bụng cô ta sôi ào ào vì đói, như tiếng cánh cửa khổng lồ mở toang ra. Thế nhưng tôi không tin là cô ta định ăn miếng mực nướng này, vì tôi thấy mắt cô ta đảo lên đảo xuống trên đường xem có ai đang đến gần không.
- Bí Ngô – tôi nói - nếu bạn đói, bạn lấy bánh ngọt trên kệ mà ăn. Ruồi bu trên miếng mực rồi .
- Tôi to lớn hơn ruồi – cô ta đáp - vả lại ăn bánh ngọt sẽ xúc phạm đến thần linh. Đấy là đồ cúng mà.
Nói xong, cô ta cúi xuống, lấy cái xiên nướng thịt lên.
Quả thật tôi đã lớn lên ở một nơi mà trẻ con quen thói ăn bất cứ cái gì còn sống. Và tôi xác nhận có lần tôi đã ăn một con dế khi tôi lên bốn hay lên năm gì đấy nhưng tôi ăn là vì bị lừa. Nhưng khi nhìn Bí Ngô đứng ngắm cái xiên thịt nướng trên tay đất bụi trên đường dính vào miếng mực, ruồi bu quanh…cô tả thổi mạnh vào miếng mực để xua chúng đi nhưng chúng chỉ chạy quanh miếng mực cố bám cứng vào đấy.
- Bí Ngô, bạn không ăn cái đấy được đâu – tôi nói – ăn cái đấy chẳng khác nào liếm lưỡi trên đường đá!
- Liếm đá trên đường có gì hại đâu? – Cô ta nói.
Nói xong, Bí Ngô quỳ xuống thè lưỡi liếm một cái trên mặt đường. Nếu tôi không thấy chuyện này thì chắc không bao giờ tin được. Tôi há miệng nhìn, sửng sốt. Khi Bí Ngô đứng lên lại, vẻ mặt cô ta như thể chính cô cũng không tin nổi việc mình vừa mớii làm. Nhưng cô ta lấy tay lau miệng, nhổ nước bọt vài lần, rồi đưa miếng mực vào miệng, cắn giữa hai hàm răng và lôi cái xiên ra.
Chắc miếng mực nướng dai lắm, vì Bí Ngô nhai mãi suốt thời gian chúng tôi đi lên dốc đồi đến chiếc cổng gỗ của khu vực nhà trường. Tôi cảm thấy lòng nôn nao khi bước chân vào, vì khu vườn quá rộng. Quanh chiếc hồ nuôi nhiều cá chép, người ta trồng loại cây trường xuân và thông uốn để làm cảnh. Bên kia hồ ở chỗ hẹp nhất, có kê một miếng đá phẳng. Hai bà già mặc kimono đang đứng ở đó, trên tay cầm dù hoa để che nắng buổi sớm. Còn tòa nhà, lúc đó tôi không biết nhiều, nhưng bây giờ tôi nhớ chỉ có một phần nhỏ trong đó dùng làm trường học. Phần khu nhà khổng lồ phía sau trường học dùng làm nhà hát Kaburenjo – nơi cứ mỗi khi mùa xuân đến là giới geisha ở Gion trình diễn Vũ điệu Cố đô.
Bí Ngô vội vã đi vào cửa một dãy nhà gỗ mà tôi tưởng là khu nhà ở của gia nhân, nhưng hóa ra đấy là nhà trường. Ngay khi vừa bước vào cửa, tôi đã ngửi thấy mùi trà lá khô, bây giờ cứ mỗi lần nhớ tới buổi đi học đầu tiên ấy là lòng tôi thắt lại. Tôi cởi giày để vào ngăn kệ gần chỗ tôi đứng. Nhưng Bí Ngô chận tôi lại, có luật bất thành văn ở đây về việc sử dụng các ngăn ở trên kệ này. Trong số học viên ở đây thì Bí Ngô là người mới nhập môn nên cô ta phải leo lên cất giày ở ngăn trên cao nhất. Và hồi ấy tôi là người mới đi học lần đầu nên tôi thuộc hạng bét, tôi phải để giầy phía ngăn trên của cô ta.
Mặc dù trên kệ mới chỉ có mấy đôi giầy, nhưng Bí Ngô vẫn nói với tôi:
- Khi leo lên kệ, bạn cẩn thận đừng đạp lên giày của người khác. Nếu bạn đạp lên giày của cô nào mà họ biết, họ trách mắng bạn không chịu nổi đâu.
Tôi thấy phía trong nhà trường cũ kỹ và bụi bặm như ngôi nhà bỏ hoang. Cuối hành lang dài tôi thấy một nhóm khoảng bảy tám cô gái đang đứng. Thấy họ, tôi bỗng giật mình hốt hoảng, vì tôi cứ tưởng có một cô là chị Satsu, nhưng khi họ quay lại nhìn chúng tôi, tôi thất vọng vì không phải. Tất cả đều có một kiểu tóc, kiểu ngắn gọn của các cô geisha tập sự. Họ nhìn tôi với ánh mắt như thể họ là những người từng trải ở Gion nhiều hơn Bí Ngô và tôi.
Đến giữa hành lang, chúng tôi đi vào phòng học, phòng rộng rãi xây theo kiểu cổ truyền của Nhật Bản Trên một bức vách có treo một tấm bảng lớn, trên bảng có những cái móc, một vài cái móc có treo những tấm bảng nhỏ bằng gỗ trên bảng, viết tên học viên bằng chữ thật đậm màu đen. Khả năng đọc và viết của tôi còn yếu, tôi có đi học ở Yoroido vào buổi sáng, và khi đến Kyoto, tôi chỉ được học với bà Dì một giờ vào buổi chiều, nhưng tôi cũng đọc được vài tên. Bí Ngô đến lấy tấm bảng có tên cô ta để trong cái hộp trên chiếu rồi móc vào một trong những cái móc đó. Chắc anh cũng biết đấy, tấm bảng trên vách là sổ đăng ký điểm danh.
Sau đó chúng tôi đi đến các phòng học khác để đăng ký môn học khác nữa của Bí Ngô, cách đăng ký cũng giống nhau. Cô ta phải học bốn môn buổi sáng: đàn Shamisen, múa, nghệ thuật phục vụ trà và hát loại nhạc mà chúng tôi gọi là Nagawta. Bí Ngô rất bối rối, bực bội vì cô ta là học viên đến sau cùng so với các học viên khác trong lớp, đến nỗi khi chúng tôi về nhà để ăn sáng, cô ta thắt khăng quàng quanh áo thật mạnh. Nhưng khi chúng tôi mang giày vào, chúng tôi thấy một cô gái khác cỡ tuổi chúng tôi chạy băng qua vườn vào trường, tóc tai bù xù. Thấy thế Bí Ngô có vẻ bình tĩnh hơn trước.
Chúng tôi ăn một tô cháo rồi vội vã quay trở lại trường ngay để Bí Ngô chuẩn bị học đàn Shamisen. Cô ta quỳ ở cuối lớp để ráp cây đàn. Nếu người nào chưa từng thấy cây đàn Shamisen, thì chắc họ rất thích thú khi thấy loại đàn này. Có người gọi là đàn ghi ta Nhật Bản, nhưng thực tế nó nhỏ hơn đàn ghi ta nhiều. Đàn có cổ nhỏ bằng gỗ, trên đầu có ba núm vặn lớn để lên dây. Thân đàn bằng gỗ mỏng, trên mặt thùng căng bằng da mèo như cái trống. Cây đàn có thể tháo rời ra thành từng mảnh để bỏ vào hộp hay túi xách để mang đi cho tiện. Bí Ngô ráp đàn rồi đàn, miệng thè lưỡi ra. Tôi rất tiếc phải nói rằng lỗ tai của cô ta rất tệ, những nốt nhạc cô đánh ra ồm ồm, lộn xộn như chiếc thuyền lắc lư trên sóng, không đúng với điệu nhạc người ta yêu cầu cô phải đàn. Một lát sau phòng học đông đúc, cô nào cô nấy ôm đàn trên tay, ngồi rải rác trong phòng như các viên kẹo sô cô la để đều trong hộp. Tôi cứ nhìn ra cửa, lòng mong sao thấy Satsu bước vào, nhưng vẫn không có chị.
Một lát sau cô giáo đi vào. Cô giáo là một bà già nhỏ nhắn, giọng lanh lảnh. Tên cô là cô Mizumi. Trước mắt cô, chúng tôi gọi cô như thể, nhưng họ của cô Mizumi, đọc lên nghe gần như Nezami, mà nezami có nghĩa là “chuột”. Nhưng sau lưng cô, chúng tôi gọi cô là Nezami, cô Chuột.
Cô Chuột quỳ xuống trên nệm, quay mặt xuống lớp và nhìn học viên với nét mặt nghiêm nghị. Khi học viên cùng cúi chào và chúc tụng cô xong, cô chỉ nhìn họ không nói một tiếng. Cuối cùng, cô nhìn lên tấm bảng trên vách và gọi tên học sinh đầu tiên.
Cô gái đầu tiên này có vẻ tự tin. Sau khi lên trước lớp, cô ta cúi chào cô giáo rồi bắt đầu đàn. Vài phút sau cô Chuột bảo cô ngừng lại, phê bình rất gay gắt về khả năng của cô ta, rồi cô khép quạt lại, vẫy tay đuổi cô gái về chỗ. Cô gái cám ơn, lại cúi chào và đi về chỗ. Cô Chuột lại gọi học sinh tiếp theo.
Các học sinh tiếp tục lên đàn hơn một giờ thì đến phiên Bí Ngô. Tôi thấy Bí Ngô lo sợ ra mặt và quả nhiên cô ta đàn hỏng bét, cái gì cũng sai. Trước hết cô Chuột chặn cô ta lại, lấy cây đàn giúp cô ta lên dây cho đúng. Rồi Bí Ngô đàn lại, nhưng các học viên ngơ ngác nhìn nhau vì họ không biết cô ta đang chơi bài gì. Cô Chuột đấm tay xuống bàn, ra lệnh cho họ phải nhìn tới phía trước, rồi cô giáo lấy quạt đánh nhịp cho Bí Ngô đàn theo. Nhưng cũng chẳng được gì cho nên cuối cùng cô Chuột phải nắm tay Bí Ngô để hướng dẫn cho cô ta đàn, nhất là cái cách cầm miếng gẩy đàn. Cô giáo gần như là bẻ gãy ngón tay của Bí Ngô khi tập cho cô cầm miếng gẩy đàn cho đúng cách, cuối cùng cô giáo đành thả tay ra, để miếng gẩy đàn rơi xuống chiếu, vẻ chán nản. Bí Ngô lượm lên rồi vừa khóc cô ta vừa quay về chỗ ngồi.
Sau chuyện này tôi mới hiểu tại sao Bí Ngô rất lo lắng về việc mình là học sinh sau cùng. Vì sau Bí Ngô là đến phiên cô gái tóc tai bờm xờm chạy đến trường lúc chúng tôi trở về nhà ăn sáng. Cô ta ra trước lớp, cúi người chào. Cô Chuột nạt cô ta:
- Đừng mất công chào hỏi làm gì! Nếu sáng nay cô đừng ngủ dậy trưa, thì chắc cô đã đến đúng giờ để học rồi.
Cô gái xin lỗi và bắt đầu đàn, nhưng cô giáo không thèm để ý đến. Cô ta chỉ nói:
- Sáng nào cô cũng ngủ dậy trưa. Làm sao tôi dạy cho cô được khi cô không thèm bận tâm đến đăng ký học đúng giờ như những cô khác? Đi về chỗ đi. Tôi không muốn dạy cho cô nữa.
Lớp học bãi. Bí Ngô dẫn tôi ra trước cửa phòng, chúng tôi cúi chào cô Chuột. Bí Ngô nói:
- Cháu xin phép giới thiệu với cô đây là Chiyo. Cháu xin cô rộng lòng chỉ dạy cho cô ấy vì cô ấy tài hèn sức mọn.
Bí Ngô không có ý ngạo tôi, vì đây là cách ăn nói của mọi người khi họ muốn tỏ ra mình lễ phép. Chính mẹ tôi cũng thường nói năng như thế.
Cô Chuột không nói gì một lát, cô nhìn tôi rồi cuối cùng cô lên tiếng:
- Cháu trông thông minh đấy. Nhìn cháu ta cũng biết. Có lẽ rồi cháu cũng giúp được chị cháu học tập đấy.
Dĩ nhiên cô ta nói Bí Ngô là chị tôi.
- Mỗi sáng hãy đến móc tên lên bảng cho sớm – cô nói tiếp – Hãy giữ im lặng trong lớp. Tôi không tha thứ việc nói chuyện trong lớp đâu! – Và cô nhìn ra phía trước - Nếu cháu nghe lời như thế, ta sẽ cố sức dạy cho cháu.
Nói xong cô giáo bảo chúng tôi đi chỗ khác.
Khi đi giữa hành lang các lớp học, tôi cứ nhìn xem có Satsu không, nhưng không thấy chị ấy đâu hết. Tôi bắt đầu lo sợ rằng có lẽ không bao giờ tôi gặp lại chị ấy, và khi ấy mặt tôi quá buồn rầu đến nỗi một giáo viên sắp dạy cho lớp hoc đã bảo mọi người im lặng rồi cất tiếng hỏi tôi:
- Này cô kia, cô lo lắng gì thế?
- Ồ thưa bà không, tôi chỉ sơ ý cắn phải môi – tôi đáp, và để chứng minh cho mọi người thấy, - vì khi ấy các cô chung quanh đang quay mặt nhìn tôi – tôi cắn mạnh vào môi cho tươm máu.
Trong các môn học khác của Bí Ngô, tôi thấy không khí nhẹ nhàng dễ chịu hơn môn học đàn vừa rồi. Trong lớp múa chẳng hạn, các học viên đều múa tập thể, không có ai đứng ngoài xem. Vả lại Bí Ngô múa không đến nỗi tệ, mặc dù các di chuyển của cô ta chưa được mềm mại, hài hòa. Sau đó là môn hát, môn này đối với cô ta có vẻ khó khăn vì thính giác của cô ta rất tệ, nhưng ở lớp này tất cả các học viên đều hát chung cho nên Bí Ngô có thể che dấu yếu điểm của mình bằng cách há miệng rất to mà hát thì nho nhỏ.
Cứ cuối mỗi môn học là Bí Ngô giới thiệu tôi với giáo viên. Một giáo viên hỏi tôi:
- Cô ở cùng nhà dạy kỹ nữ với Bí Ngô phải không?
- Dạ phải, thưa bà, ở nhà dạy kỹ nữ Nitta – Nitta là họ của Bà Ngoại, của Mẹ và của Dì.
- Thế là cô ở cùng chỗ với cô Hatsumono rồi .
- Dạ thưa bà. Hiện giờ Hatsumono là geisha duy nhất trong nhà.
- Tôi sẽ ra sức dạy cho cô hát để cô cũng trở thành geisha như ai!
Nói xong cô giáo cười ha hả như thể là cô nói đùa, rồi cô ta ra dấu cho chúng tôi đi chỗ khác.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 05:05:50Chuột lắc>
CHƯƠNG 5

Chiều hôm ấy Hatsumono dẫn tôi đến Phòng Hộ Tịch ở Gion. Tôi cứ tưởng phòng này lớn lắm, nhưng té ra chỉ gồm mấy phòng âm u trải nệm rơm ở tầng hai của trường học, chật ních bàn ghế và sổ sách kế tóan, mùi thuốc lá hôi hám khắp nơi. Một người nhân viên nhìn chúng tôi sau màn khói và gật đầu mời chúng tôi vào phòng sau. Ở đây, tại một cái bàn chất đầy giấy tờ hồ sơ, một người đàn ông rất to lớn ngồi phía sau bàn, chưa bao giờ tôi thấy người nào to lớn như thế. Lúc ấy tôi không biết, nhưng ông ta đã một thời làm võ sĩ đô vật. Ông ta không phải là tay đô vật có hạng cho nên không có tên tuổi lưu lại hậu thế, nhưng ông ta vẫn thích được người ta gọi cái tên ông dùng lúc còn lên võ đài, đó là ông Awajiumi. Vài nàng geisha giản lược bớt tên ông thành Awaji, biệt danh của ông ta.
Khi chúng tôi đi vào, Hatsumono tỏ ra rất duyên dáng. Lần đầu tiên tôi thấy cô ta làm thế, cô ta chào ông ấy:
- Chào anh Awaji, - Nhưng cách cô ta kéo dài âm tiết ở giữa khiến cho tôi phải ngạc nhiên.
Giọng nói của cô nghe như mắng ông ta. Khi nghe giọng cô, ông ta để bút xuống, hai cái má nâng cao lên tận tai, đó là kiểu cười của ông ta.
- Chà…chào cô Hatsumono – ông ta đáp - nếu cô đẹp hơn tí nữa chắc tôi phải độn thổ mất.
Giọng nói ông ta nghe khao khao, vì giới võ sĩ đô vật thường bị hư thanh quản do họ tông đầu vào cổ nhau.
Awajiumi to như con hải mã, nhưng ông ta ăn mặc rất sang, ông mặc chiếc áo kimono có sọc nhỏ. Ông ta phụ trách chi tiêu tiền bạc ở Gion, và trong số tiền bạc này, có một ít chảy vào túi của ông. Không thể nói đây là hành động ăn trộm, mà phải nói là do quy chế như thế. Vì Awajiumi có vị trí quan trọng như thế, cho nên giới geisha muốn có lợi thì phải làm cho ông ta được hạnh phúc, nên ông ta nổi tiếng là người hào hoa phong nhã, áo quần bảnh bao.
Hatsumono và Awajiumi nói chuyện với nhau một hồi lâu, rồi cô nói với ông ta rằng cô đến để đăng ký cho tôi vào học. Quả Awajiumi chưa nhìn đến tôi, nên khi nghe cô ta nói, ông quay cái đầu khổng lồ sang nhìn tôi. Nhìn một lát, bỗng ông ta đứng dậy đến mở một khung sáng trên cửa sổ bọc giấy cho ánh sáng tràn vào nhiều hơn.
- Trời, chắc mắt tôi mờ rồi – ông ta nói – Đáng ra cô nên cho tôi biết sớm hơn rằng cô đem người đẹp đến đăng ký chứ. Cặp mắt cô ta có màu gương.
- Gương à? – Hatsumono hỏi – Gương không có màu đâu anh Awaji ơi.
- Dĩ nhiên nó có chứ, đó là màu xám long lanh. Khi người ta nhìn vào gương, người ta chỉ thấy bóng họ, nhưng tôi thì thấy được màu mắt đẹp của họ.
- Thế ư? Màu ấy đối với tôi không đẹp. Có lần tôi trông thấy người ta vớt lên một người đàn ông chết trôi, cái lưỡi của ông ta trông giống như màu mắt của cô ta.
- Có lẽ cô ta đẹp nên cô không thấy được màu mắt đẹp của cô ta đấy thôi – Awajiumi nói, mở sổ ra và cầm bút trên tay – Mà thôi, bây giờ ta đăng ký cho cô bé nào, Chiyo phải không? Chiyo, cho tôi biết cô họ gì và nơi sinh.
Ngay khi tôi nghe những lời này, trước mắt tôi hiện ra cảnh chị Satsu đứng nhìn ông Awaijiumi, lòng bồi hồi lo sợ. Chắc chị ấy đã ở trong phòng này vào một lúc nào đấy; nếu tôi phải đến đăng ký thì chắc chắn chị ấy cũng phải đăng ký.
- Họ tôi là Sakamoto - tôi đáp - Tôi sinh ở thị trấn Yoroido. Thưa ngài, chắc ngài đã nghe dến họ này một lần rồi, vì người ấy là chị tôi, tên Satsu, có phải không ạ?
Tôi tưởng Hatsumono tức giận khi nghe tôi nói thế nhưng tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy cô ta có vẻ thích thú khi nghe tôi hỏi.
- Nếu cô ta lớn hơn cô, chắc cô ta đã phải đăng ký rồi – Awajiumi đáp – Nhưng tôi không gặp cô ta. Tôi đoán chắc cô ấy không ở tại khu vực Gion này.
Bây giờ nụ cười của Hatsumono đối với tôi thật có ý nghĩa; cô ta đã biết trước ông Awaijiumi sẽ nói như thế. Nếu trước đây tôi còn nghi ngờ chuyện cô ta nói đến chị tôi, thì bây giờ tôi tin chắc chứ không nghi ngờ gì nữa. Ở Kyoto có nhiều khu vực huấn luyện geisha, nhưng tôi không biết hết, chắc Satsu ở trong một khu vực nào đấy, tôi quyết phải tìm cho ra.
Khi tôi trở về nhà, Dì đang đứng đợi tôi để dẫn tôi đến nhà tắm ở cuối đường. Tôi đã đến đấy rồi, nhưng những lần trước tôi chỉ đi với các chị giúp việc lớn tuổi thôi, họ thường đưa cho tôi cái khăn tắm nhỏ và miếng xà phòng, rồi ngồi xổm trên nền lát ngói mà tắm chung với nhau. Dì thì tử tế hơn, Dì quỳ xuống và kỳ lưng cho tôi. Tôi lấy làm lạ là bà không giữ ý tứ gì hết, cặp vú dài thõng đung đưa qua lại như dây chỉ và hai cái chai. Thậm chí bà còn tình cờ quẹt vú vào vai tôi hai ba lần.
Tắm xong bà dẫn tôi về nhà, mặc cho tôi chiếc kimono lụa đầu tiên, chiếc áo màu xanh sáng sủa có những đám cỏ màu lục ở gấu áo và hoa màu vàng nhạt chung quanh tay áo và trên ngực. Rồi bà dẫn tôi lên lầu đến phòng của Hatsumono. Trước khi vào phòng, bà dặn dò tôi thật kỹ rằng đừng quấy rầy Hatsumono hay đừng làm gì khiến cho cô ta nổi giận. Khi ấy tôi không hiểu việc này, nhưng bây giờ tôi biết lý do tại sao bà lo lắng đến thế. Chắc anh biết, khi thức dậy vào buổi sáng, geisha cũng như mọi phụ nữ khác thôi. Chỉ khi nào ngồi trước gương để tô son điểm phấn thật cẩn thận thì khi ấy mới thành geisha.
Vào phòng tôi được chỉ ngồi bên cạnh Hatsumono, xa cách khoảng một cánh tay ở phía sau cô ta, ngồi ở đây tôi có thể thấy mặt của cô ta trong tấm gương nhỏ trên bàn trang điểm. Cô ta quỳ trên nệm, mặc chiếc áo dài vải bó sát hai vai, và lượm lên nửa tá bàn chải hóa trang các loại. Có cái rộng như cái quạt, có cái trông như chiếc đũa có đính một dúm lông mềm ở mút. Cuối cùng cô ta quay qua đưa tôi xem.
- Đây là bàn chải của tôi – cô ta nói – Và cô có nhớ cái này không? - Cô ta lấy ở ngăn kéo bàn trang điểm ra một cái lọ nhỏ đựng một thứ bột rất trắng, cô ta huơ huơ cái lọ trên không cho tôi thấy. – Đây là đồ hóa trang mà tôi đã dặn dò cô không được đụng đến.
- Tôi không đụng đến cái lọ ấy đâu – tôi nói.
Cô ta hít hít cái lọ đậy kín nắp nhiều lần và nói:
- Không, tôi tin cô không đụng đến - Đoạn cô ta để cái lọ xuống và lấy lên ba chiếc đũa dùng tô màu. Cô ta xòe bàn tay ra cho tôi thấy các thứ ấy.
- Thứ này dùng tô màu, cô nhìn cho kỹ đi.
Tôi lấy một chiếc đũa tô màu lên xem. Đũa to bằng ngón tay của một đứa trẻ sơ sinh, nhưng cứng và láng như đá, cho nên nó sẽ không để lại trên da tôi màu sắc gì hết. Một đầu đũa được bọc bằng một miếng lá bạc mỏng dùng để xoa các vết lốm đốm trên mặt.
Hatsumono lấy ra một cái que khác mà tôi thấy giống như một nhánh củi bị đốt cháy ở đầu.
- Đây là thanh củi khô lấy ở cây ngô đồng, rất dễ thương – cô ta nói – dùng để vẽ lông mày. Và đây là sáp – cô ta mở gói giấy lấy ra hai thanh sáp đã dùng một nửa cho tôi xem.
- Bây giờ cô đã biết tại sao tôi đưa cho cô xem những thứ này chưa?
- Để tôi học cách cô trang điểm ra sao.
- Trời ơi, không phải! Tôi đưa cho cô xem để cô thấy rằng không có chuyện ảo thuật dính dáng vào đây. Cô thật quá tội nghiệp! Vì chuyện này có nghĩa là chỉ trang điểm thôi không đủ để biến cô Chiyo tội nghiệp thành một tuyệt thế giai nhân.
Hatsumono quay mặt nhìn vào gương và vừa hát nho nhỏ vừa mở nắp cái lọ kem màu vàng nhạt. Chắc anh không tin khi nghe tôi nói thứ kem này được làm bằng phân của chim sơn ca, nhưng sự thực là thế. Thời ấy, nhiều cô geisha dùng nó để làm kem bôi mặt vì người ta tin rằng chất này rất tốt cho da; nhưng nó rất đắt đến nỗi Hatsumono chỉ dám chấm vài chấm quanh mắt và miệng mà thôi. Rồi cô ta ngắt một chút nơi thỏi sáp, bóp trong hai ngón tay cho mềm rồi thoa lên mặt lên cổ và lên ngực. Cô ta lau hai bàn tay vào một miếng giẻ một lát cho thật sạch, rồi lấy cái bàn chải lớn thấm vào dĩa nước cho ướt, xát lên chất hóa trang cho đến khi chất đó nhão ra trắng toát. Cô ta phết chất nhão này lên mặt lên cổ nhưng chừa cặp mắt cũng như vùng quanh môi và mũi. Nếu anh đã thấy trẻ con cắt những cái lỗ trên giấy để làm mặt nạ, thì anh sẽ tưởng tượng ra được mặt Hatsumono như thế đấy, cho đến khi cô ta thấm ướt cái bàn chải nhỏ hơn để tô vẽ lên các chỗ còn hổng ấy. Sau đó trông cô ta như thể bị té úp mặt vào thùng bột gạo, vì mặt cô trắng hếu. Trông cô giống như con quỷ, nhưng dù thế, tôi vẫn ganh với cô ta và thấy xấu hổ. Vì tôi biết vài giờ nữa thôi, đàn ông sẽ say sưa nhìn vào mặt cô ta, còn tôi ở nhà, người rịn mồ hôi nhớp nhúa và tầm thường.
Sau đó cô ta thấm ướt cái đầu que tô màu, phết son lên hai má. Suốt tháng đầu tiên ở trong nhà dạy kỹ nữ, tôi đã nhìn thấy cô ta trang điểm nhiều lần rồi; hễ bất cứ khi nào nhìn lén được cô ta là tôi nhìn, miễn không lộ liễu là được. Tôi để ý thấy cô ta thay đổi màu sắc trên hai má, tùy vào màu áo kimono cô ta mặc hôm đó. Chuyện này không có gì lạ, nhưng có điều là khi ấy tôi không biết, mà phải nhiều năm sau tôi mới rõ là cô hay chọn màu đỏ nhiều hơn các màu khác. Tôi không thể nói tại sao cô ta thích màu ấy, nhưng màu này thường được người ta nghĩ đến màu máu. Nhưng Hatsumono không điên, cô ta biết cách tô điểm mày mặt cho xinh đẹp.
Khi cô ta tô son xong, cô ta vẫn chưa có lông mày hay môi. Sau đó cô để mặt mình trắng như cái mặt nạ kỳ lạ như thế và nhờ bà Dì vẽ hộ cho sau gáy của cô. Nếu anh cần biết tôi xin cho anh biết đôi điều về cái cổ của người đàn bà Nhật. Số là đàn ông Nhật thường thích cái cổ và bụng của đàn bà Nhật Bản, như kiểu người đàn ông phương Tây thích chân phụ nữ vậy. Vì thế giới geisha thường mặc áo kimono có cổ thật thấp phía đàng sau, đến nỗi để lộ ra mấy đốt xương sống phía trên hết. Tôi nghĩ việc này giống như phụ nữ ở Paris mặc váy ngắn vậy. Bà Dì tô lên cổ của Hatsumono một cái hình được gọi là Sanbon-ashi, nghĩa là ba chân. Cái hình trông rất vui vì người ta có cảm giác như thể họ đang nhìn làn da cổ qua ba cái cọc nhỏ vót nhọn của cái hàng rào sơn trắng. Phải đợi đến mấy năm sau tôi mới hiểu ra hình vẽ này có hiệu quả gợi dục nơi đàn ông, nhưng nhìn chung thì nó giống như người phụ nữ nhìn ra bên ngoài qua những kẽ hở của ngón tay mình. Thực ra người geisha để trống mép da chạy quanh chân tóc của mình để chứng tỏ hành động hóa trang của mình là việc nhân tạo, chẳng khác gì cái mặt nạ người ta đeo trong vở kịch thần Noh. Khi người đàn ông ngồi bên cạnh cô ta, thấy cái mặt của cô trang điểm giống như cái mặt nạ ông ta liền khao khát được trông thấy làn da thật bên dưới.
Trong lúc Hatsumono rửa bàn chải , cô ta nhìn mặt tôi trong gương nhiều lần. Cuối cùng cô ta nói:
- Tôi biết cô nghĩ gì rồi. Cô nghĩ cô sẽ không bao giờ đẹp như thế này. Đấy, sự thật là như thế.
Bà Dì lên tiếng đáp.
- Tôi báo cho cô biết là có người cho rằng Chiyo đẹp gái đấy.
- Thì cũng như có người thích mùi cá thối đấy thôi. – Hatsumono nói. Xong cô ta ra lệnh cho chúng tôi ra ngoài để cô ta thay áo lót.
Bà Dì và tôi ra đứng ở khoảng trống đầu cầu thang, nơi ông Bekku đang đứng đợi gần bên tấm gương cao soi được cả người, trông ông ta giống cái hôm ông dẫn tôi và Satsu vào đây. Tuần đầu sống ở nhà dạy kỹ nữ tôi mới hiểu nghề của ông không phải là lôi các cô gái ra khỏi nhà của họ, mà ông là thợ may hàng ngày ông đến đây để giúp Hatsumono mặc kimono cho đẹp.
Chiếc áo mà Hatsumono sẽ mặc tối ấy được treo trên giá gần tấm gương. Bà Dì đứng vuốt ve cái áo cho đến khi Hatsumono đi ra, trên người chỉ mặc cái áo lót màu rỉ thật đẹp, trang trí bằng hình những chiếc lá màu vàng đậm. Lúc ấy những việc xảy ra tiếp theo không làm cho tôi quan tâm lắm vì bộ áo kimono phức tạp sẽ làm cho những ai không quen mặc cảm thấy bối rối. Nhưng nếu việc mặc áo được giải thích rõ ràng thì cũng rất hay.
Thoạt tiên anh phải hiểu rằng một bà nội trợ và một cô geisha mặc áo kimono rất khác nhau. Khi bà nội trợ mặc kimono, bà ta sẽ dùng đủ thứ chêm để cái áo khỏi chụm vào nhau khó coi, và kết quả của việc chêm này là làm cho người bà ta thẳng đuột như cái cột đình. Nhưng geisha mặc kimono thường không cần chêm, và việc làm cho áo không bị chụm lại không phải là vấn đề khó khăn. Cả bà nội trợ và cô geisha trước hết phải cởi áo ra rồi vấn quanh hông một dung lụa; chúng tôi gọi dung lụa này Koshimaki - lụa vấn hông. Tiếp theo họ mặc ra bên ngoài váy lót kimono cụt tay, áo này mặc sát vào eo, rồi các thứ chêm trong như những cái gối nhỏ có dây xung quanh để buộc chúng vào người cho chắc. Trường hợp Hatsumono thì khác, vì người cô ta mảnh mai, hông nhỏ, mà cô ta đã quen mặc kimono nhiều năm rồi, nên cô ta không dùng các miếng chêm.
Cho nên tất cả những thứ mặc thêm vào người ấy, phải cho thật kín khi mặc áo ngoài vào. Nhưng cái áo tiếp theo, cái áo lót, thực ra không hẳn là áo lót. Khi cô gái geisha biểu diễn múa hay thỉnh thỏang đi ngoài đường, cô ta có thể đưa tay trái nâng áo kimono cho khỏi vướng. Khi ấy họ sẽ để lộ chiếc áo lót ra từ đầu gối trở xuống, cho nên hình trang trí trên chiếc áo lót cũng phải phù hợp với hình trên chiếc kimono. Và cái cổ lót cũng được để lộ ra ngoài, y như cổ áo sơ mi của đàn ông khi họ mặc đồ vest vậy. Công việc của bà Dì là phải khâu cổ áo mỗi ngày vào chiếc áo lót nào mà Hatsumono định mặc, rồi sáng hôm sau tháo ra để giặt sạch. Các geisha đang học nghề mang cổ áo màu đỏ, nhưng dĩ nhiên Hatsumono không phải là geisha đang học nghề, cổ áo cô ta màu trắng.
Khi Hatsumono ra khỏi phòng, cô ta mang đủ thứ trên người như tôi vừa nói – nhưng chúng tôi không thấy gì hết ngoài cái áo lót, áo này có dây buộc chặt quanh eo, ngoài ra cô ta mang đôi vớ trắng mà chúng tôi gọi là tabi, vớ có nút cài dọc theo một bên rất sít sao. Như thể cô ta chỉ còn đợi ông Bekku mặc áo kimono ra bên ngoài nữa thôi. Nhìn cảnh ông Bekku mặc áo cho cô ta, người ta mới hiểu tại sao vai trò của ông ta là cần thiết. Áo kimono có chiều dài bằng nhau, nên ngoại trừ những ai thật cao mới mặc vừa, còn người khác khi mặc vào, phải xếp bớt lên ở dưới chiếc khăn quàng lưng. Khi ông Bekku xếp vải thừa lên ở eo và buộc sợi dây cho nó đứng yên tại chỗ, ta không thấy có chỗ nào phồng lên hết. Thảng hoặc có chỗ nào phồng lên, ông uốn chỗ này, nắn chỗ kia sao cho chỗ gấp phẳng phiu mới thôi. Khi ông ta làm xong, chiếc áo ôm sát vào cơ thể mỹ miều của cô Hatsumono.
Ông Bekku là thợ may, nên ông còn phải buộc thắt lưng nữa, công việc này không đơn giản như người ta tưởng. Dải thắt lưng của Hatsumono dài gấp hai lần giải thắt lưng của người đàn ông cao lớn, và rộng bằng vai của phụ nữ. Khi quấn quanh eo, nó phủ kín từ xương ngực cho đến qua lỗ rốn. Nhiều người không biết, cứ tưởng dải thắt lưng chỉ được buộc từ đàng sau như sợi dây, không phải thế. Cả nửa tá dây và móc được sử dụng để giữ cho giải thắt lưng đứng yên ở vị trí cố định, và có rất nhiều đồ đệm để hình thành cái gút. Ông Bekku phải mất nhiều phút để buộc giả thắt lưng cho Hatsumono. Khi ông ta làm xong, giải thắt lưng không có một nếp nhăn, dày và nặng trịch.
Hôm ấy khi đứng ở cầu thang, tôi biết rất ít về việc này, nhưng tôi nhớ ông Bekku đã buộc dây và căng vải áo với vẻ rất nhiệt tình, và Hatsumono chỉ có việc giang hai tay ra, và nhìn trong gương. Nhìn cô ta, tôi cảm thấy khổ sở và ghen tị. Áo kimono của cô ta được thêu màu nâu và vàng. Phía dưới eo, hình con nai được thêu màu nâu đậm đang húc mũi vào đám lá vàng sẫm trong rừng. Chiếc thắt lưng có màu mận, xen kẽ những sợi chỉ bạc. Khi ấy tôi chưa biết, nhưng bộ trang phục của cô ta có giá tiền bằng cả năm lương của một cảnh sát viên hay một nhân viên nhà hàng. Thế nhưng khi nhìn Hatsumono đứng đấy, khi cô ta quay người để soi mình vào gương, anh mới biết, có nhiều tiền chưa chắc đã tạo ra được một phụ nữ đẹp lộng lẫy như thế được.
Công việc còn lại là trang sức trên mặt, trên tóc. Bà Dì và tôi theo Hatsumono vào phòng, cô quỳ xuống trước bàn trang điểm, lấy ra cái hộp sơn mài nhỏ đựng son tô môi. Cô ta dùng bàn chải nhỏ để tô môi. Thời trang lúc ấy là không tô son ở môi trên, để cho môi dưới trông đầy hơn. Cái mặt phết trắng tạo cho người ta cảm giác hiếu kỳ, nếu cô geisha tô hết cả hai môi, miệng cô ta sẽ giống như hai lát cá ngừ lớn. Thế cho nên các geisha chỉ thích tô môi có hình trề ra một tí, để nó có vẻ như đóa violet chớm nở. Nhưng trường hợp này chỉ có nàng geisha nào có môi trề mới tô được – mà số này thì ít – cho nên họ thường tô môi với hình tròn. Nhưng như tôi đã nói, thời trang lúc ấy chỉ là tô môi dưới nên Hatsumono cũng làm thế.
Sau đó Hatsumono lấy que gỗ ngô đồng ra, cái que mà cô ta đã cho tôi thấy trước đó, cô ta quẹt diêm đốt cháy một đầu, que gỗ cháy vài giây, cô ta thổi tắt đi rồi dùng đầu ngón tay bóp nguội và nhìn vào gương, tô đầy que cháy thành than lên lông mày. Cặp lông mày có màu xám nhạt rất đẹp. Xong xuôi, cô ta đến tủ chọn đồ trang sức ở tóc, gồm cái kẹp bằng đồi mồi và kim cài tóc có đính ở đầu kim một chùm ngọc thật tuyệt. Khi cài lên tóc xong, cô ta bôi nước hoa ra sau gáy, rồi nhét chai nước hoa có hình lép vào khăn quàng lưng để phòng khi cần dùng. Cô ta còn nhét cái quạt xếp gọn vào dây lưng và để khăn tay vào trong ống tay áo bên phải. Xong, cô ta quay qua nhìn tôi. Cô ta nhếch mép cười như hồi nãy, và ngay cả bà Dì cũng phải thở dài, vì Hatsumono khi ấy thật tuyệt vời.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 06:39:52Chuột lắc>
CHƯƠNG 6

Cho dù chúng tôi có nghĩ thế nào về Hatsumono, cô ta vẫn như bà hoàng trong nhà kỹ nữ, vì cô làm ra tiền cho cả nhà sinh sống. Vì là bà hoàng nên mỗi tối khi cô ta về khuya mà thấy lâu đài của mình tối tăm và gia nhân đều ngủ hết thì cô ta có quyền bất bình. Nghĩa là cô ta về nhà mà quá say không cởi nút vớ ra được, thì phải có người đến cởi cho cô; và nếu đói bụng, chắc cô ta không xuống bếp để làm thức ăn như là món Uboshomi Ochazuke chẳng hạn, vì đây là món ăn qua loa cô ta rất thích, gồm có cơm nguội với mận dầm dấm, ăn xong uống với trà nóng. Thực ra thì trong nhà chúng tôi rất thường ăn món này. Công việc chờ để đón nàng geisha về nhà là công việc dành cho “lính mới ” trong nhà - thường là người mới tập sự làm geisha. Khi tôi bắt đầu đến trường, lính mới trong nhà là tôi. Thường thường Bí Ngô và hai chị giúp việc lớn tuổi đều ngủ khò trước nửa đêm từ lâu, họ ngủ trên tấm nệm trải trên sàn nhà, cách hành lang trước nhà chừng một thước, nhưng tôi phải quỳ ở ngoài hành lang gần cửa, cố thức để đón cô ta, nhiều khi khuya đến gần hai giờ sáng. Phòng của Bà Ngọai ở gần đấy, khi ngủ bà để đèn sáng và cánh cửa hé mở. Một đường ánh sáng chiếu lên tấm nệm trống không của tôi, khiến tôi nghĩ đến ngày trước khi chị Satsu và tôi đi khỏi nhà không lâu, khi ấy tôi thường nhìn ra phòng sau, nơi mẹ tôi nằm ngủ. Bố tôi đã lấy lưới đánh cá phủ lên màn giấy để làm cho căn phòng tối đi nhưng tôi thấy quá âm u ảm đạm nên tôi mở hé một cánh cửa sổ, và ánh mặt trời chiếu lên nệm mẹ tôi nằm một đường sáng, làm lộ rõ bàn tay xanh xao ầy gò của bà. Khi nhìn ánh sáng vàng vọt tữ phòng Bà Ngọai chiếu lên tấm nệm của tôi, tôi phân vân tự hỏi không biết mẹ tôi còn sống hay không. Mẹ tôi và tôi rất giống nhau cho nên tôi nghĩ nếu mẹ tôi chết, chắc thế nào tôi cũng biết, nhưng dĩ nhiên, tôi không có cách nào để hỏi cho ra.
Một đêm khi mùa thu bắt đầu trở lạnh, tôi đang gật gù dựa người vào cột nhà thì bỗng tôi nghe tiếng cửa ngòai cổng xịch mở. Nếu Hatsumono thấy tôi ngủ gục, thế nào cô ta cũng tức giận, nên tôi cố hết sức để giữ cho mình tỉnh táo. Nhng khi cửa trong nhà mở, tôi kinh ngạc thấy một người đàn ông mặc áo khoác công nhân rộng thùng thình, theo kiểu cổ truyền có dây buộc ở bụng và măc quần nhà quê - mặc dù ông ta không có vẻ gì là công nhân hay nhà quê – hiện ra. Tóc ông ta chải dầu láng bóng theo kiểu tân thời, và ông ta để bộ râu râm rì trong có vẻ trí thức. Ông ta khom người xuống, nắm lấy đầu tôi trong hai tay, nhìn đăm đăm vào mặt tôi. Ông ta thì thào nói bên tai tôi:
- Trời ơi cô đẹp quá! Tên cô là gì?
Tôi đoán chắc ông ta là công nhân nhưng tôi không hiểu tại sao ông ta đến đây khuya khoắt như thế này. Tôi lo sợ không muốn trả lời, nhưng tôi cũng nói cho ông ta biết, rồi ông thè lưỡi thấm ướt đầu ngón tay và sờ vào má tôi – thì ra ông lấy sợi lông mi dính ở đấy.
- Yoko còn ở đây không? – ông ta hỏi.
Yoko là người thiếu nữ hàng ngày làm việc tại đây từ giữa trưa cho đến khuya, cô ta ngồi trực điện thọai tại phòng của tôi tớ. Vào thời ấy, nhà kỹ nữ và các phòng trà ở Gion liên lạc với nhau bằng hệ thống điện thoại riêng biệt, và Yoko là người bận rộn nhất trong nhà, vì cô ta phải trả lời điện thoại để ghi chép công việc làm ăn của Hatsumono vào sổ, có khi có những giao kèo với những buổi tiệc lớn tiệc nhỏ tổ chức từ sáu tháng cho đến một năm sau. Thường khi, Hatsumono không thực hiện đầy đủ theo kế họach đến sáng hôm trước, cho nên buổi tối là điện thoại ở các phòng trà gọi đến tới tấp cho biết khách hàng muốn cô ta ghé lại đấy nếu cô ta có thì giờ. Nhưng tối ấy điện thoại không reo nhiều và tôi nghĩ có lẽ Yoko đã ngủ như tôi vậy. Người đàn ông không đợi tôi trả lời, ông ta ra dấu bảo tôi im lặng rồi đi theo hành lang đất đến phòng của tôi tớ.
Sau đó tôi nghe tiếng Yoko xin lỗi – vì cô ta đã đi ngủ thật - rồi cô ta nói chuyện với nhân viên tổng đài điện thoại một hồi lâu. Cô ta phải nối đường dây với nhiều phòng trà khác nhau mới tìm ra được Hatsumono ở đâu, để nhắn lại cho cô ta biết rằng diễn viên kịch nghệ Kabuki tên Onoe Shikan đã đến thành phố rồi. Lúc ấy tôi không biết chuyện này, nhưng thật ra không có Onoe Shikan gì hết, đấy chỉ là mật mã.
Sau đấy Yoko ra về. Cô ta không bận tâm về việc có người đàn ông đang ngồi đợi trong phòng tôi tớ, cho nên tôi nghĩ tôi cũng không nên nói cho ai biết về chuyện này. Chuyện tôi không nói thế mà hóa hay, vì hai mươi phút sau Hatsumono về đến nhà, cô ta dừng lại ở hành lang trước nhà và nói với tôi:
- Tôi chưa có hành động gì làm hại đến cô hết đấy nhé. Nhưng nếu cô nói với ai là có một người đàn ông đến đây, hay thậm chí nói tôi về nhà sớm hơn mọi khi, thì tình hình sẽ thay đổi hoàn toàn đấy.
Cô ta đứng nhìn tôi đăm đăm khi nói như thế và khi cô ta đưa tay vào ống tay áo để lấy cái gì đấy, mặc dù ánh sáng lờ mờ, tôi cũng thấy cánh tay trước của cô ta ửng đỏ. Cô ta đi vào phòng tôi tớ, đóng cửa lại. Tôi nghe có tiếng nói chuyện rì rầm rồi cả nhà im lặng. Thỉnh thoảng tôi nghe như có tiếng thút thít hay tiếng rên nho nhỏ nhưng tôi không biết có ai khác nghe thấy các thứ tiếng ấy không. Tôi không biết họ làm gì trong ấy, nhưng tôi nghĩ chắc họ làm cái trò như chị tôi kéo áo tắm lên quá vai cho anh chàng Sugi nghịch ngợm. Và tôi có cảm giác vừa ghê tởm vừa hiếu kỳ, thậm chí tôi nghĩ nếu tôi được phép đi khỏi vị trí của tôi, tôi cũng không đi.
Khoảng một tuần một lần, Hatsumono và ông bạn của cô ta – thì ra ông ta là ông chủ tiệm mì sợi gần đấy - đến nhà kỹ nữ, vào phòng đầy tớ và đóng cửa lại. Họ còn gặp nhau nhiều lần ở các nơi khác nữa. Tôi biết được thế là vì Yoko thường được ông ta nhờ nhắn tin, thỉnh thỏang tôi nghe được. Tất cả các người giúp việc trong nhà đều biết Hatsumono làm gì. Nhưng vì cô ta có nhiều quyền đối với chúng tôi quá, nên không ai dám nói cho Mẹ hay Bà Ngọai hay Dì biết. Khi Hatsumono có bồ và thỉnh thoảng mang anh ta về nhà như thế, chắc thế nào cô ta cũng gặp phải chuyện khó khăn. Thời gian cô ta ở với người tình thì không có thu nhập, thậm chí cô ta phải vắng mặt ở các buổi tiệc hay các phòng trà, nơi mà cô ta hái ra tiền. Ngoài ra bất kỳ một người đàn ông giàu có nào xuất ra một số tiền lớn để bao cô ta trong thời hạn lâu ngày, thế nào họ cũng nghĩ xấu về cô, và họ sẽ thay đổi ý kiến nếu họ biết cô ta đang gian díu với anh chàng chủ hàng mì sợi.
Một đêm khi tôi vừa ra giếng ở ngoài sân uống nước, khi vào nhà tôi bỗng nghe cửa mở và có tiếng đấm mạnh vào khung cửa. Rồi tôi nghe tiếng nói ồm ồm vang lên:
- Kia kìa Hatsumnono, cô làm mọi người thức dậy…
Tôi không hiểu tại sao Hatsumono liều mạng đem bạn trai về nhà kỹ nữ như thê, mặc dù có lẽ làm thế cô ta sẽ khoái hơn. Nhưng trước đó chưa bao giờ cô ta tỏ ra quá bất cẩn để gây ra ồn ào như thế. Tôi vội vã về chỗ, quỳ xuống; một lát sau Hatsumono đi vào hành lang trước, tay ôm hai gói giấy. Rồi tiếp theo, một geisha khác bước vào, cô này quá cao đến nỗi phải cúi đầu khi đi qua cửa. Khi cô ta đứng thẳng lên và nhìn xuống tôi, tôi thấy mặt cô ta dài còn hai môi thì dày trịch. Không ai có thể cho cô ta là đẹp được.
- Đây là con ở mạt rệp của chúng tôi – Hatsumono nói – Nó có tên hẳn hoi, nhưng chị cứ gọi nó là “cô bé ngốc” .
- Này Cô bé ngốc – cô geisha nói – đi kiếm đồ gì uống cho chị cả mày và tao có được không?
Cái giọng ồm ồm tôi nghe được là của cô ta chứ không phải của ông bồ Hatsumono.
Thường khi Hatsumono thích uống loại rượu sakê đặc biệt gọi là Amakuchi - lọai rượu nhẹ và ngọt. Nhưng lọai rượu này chỉ được cất vào mùa đông và bây giờ trong nhà đã hết. Cho nên tôi rót hai ly bia đem ra cho họ, Hatsumono và cô bạn đã đi ra sân sau, họ mang guốc gỗ và đứng trong hành lang đất. Tôi thấy hai người đã say mà bạn của Hatsumono có đôi bàn chân thật bự, nên khi đi đôi guốc gỗ của chúng tôi, cô ta đi rất khó khăn, khiến hai người phá ra cười. Chắc anh còn nhớ tôi đã nói cho anh biết bên hành lang đất còn có một hành lang lát gỗ chạy ra sân sau. Hatsumono để hai gói giấy trên hành lang gỗ ấy và khi cô ta định mở ra một gói thì tôi mang bia đến.
- Tao không thèm uống bia – cô ta nói rồi đổ hết hai ly bia đi.
- Mình thích uống bia – cô bạn nói, nhưng trễ quá rồi –sao bạn lại đổ bia của mình đi?
- Thôi yên lặng đi, Korin – Hatsumono đáp - Chị khỏi cần uống thêm nữa làm gì. Bây giờ nhìn cái này mà xem, chị sẽ chết giấc vì sung sướng khi trông thấy!
Nói đến đây Hatsumono tháo dây một gói giấy rồi trải ra trên nền ván của hành lang một chiếc kimono thật đẹp, nền áo có màu lục nhạt không đều nhau, trên nền vẽ một cây nho có những chiếc lá đỏ. Áo may bằng một thứ lụa hảo hạng – nhưng hợp cho mùa hè, mà bây giờ trời đã sang thu, mặc không hợp. Bạn của Hatsumono, Korin, ngẩn ngơ nhìn cái áo, chị há hốc mồm kinh ngạc, miệng nuốt nước miếng ừng ực. Hai người lại phá ra cười. Tôi thấy đã đến lúc xin phép rút lui, nhưng Hatsumono nói:
- Khoan đi, Cô bé ngốc – Xong cô ta quay qua cô bạn và nói - Chị Korin, đến lúc vui rồi đấy. Chị đoán thử xem chiếc kimono này là của ai nào?
Korin còn đang ho sặc sụa, nhưng khi có thể nói được, cô ta trả lời:
- Ước chi nó là của tôi!
- Không phải, nó là của cô gái geisha mà cả hai chúng ta đều ghét cay ghét đắng trên đời này.
- Ồ, Hatsumono, chị là thiên tài! Nhưng tại sao chị lại có áo của Satoka?
- Tôi đâu có nói đây là áo của Satoka? Tôi muốn nói đến cô Hoàn Hảo kìa.
- Ai?
- Cô “Tôi là người giỏi nhất thiên hạ” đấy. Cô ấy đấy.
im lặng một hồi rồi Korin nói:
- Cô Mameha hả? Trời đất, đấy là áo của Mameha mà tôi nhìn không ra! Làm sao chị có được áo của cô ta?
- Cách đây it hôm, tôi có để quên đồ ở nhà hát Kaburenjo trong lúc diễn tập. – Hatsumono đáp – Khi trở lại để tìm, bỗng tôi nghe có tiếng như tiếng rên dưới chân cầu thang. Tôi nghĩ “Lẽ nào lại thế? Thế thì quá vui rồi còn gì?” Khi tôi bò xuống, bật đèn lên, chị hãy đoán thử những ai đang hôn nhau nằm dưới nền nhà như hai hạt cơm dính vào nhau?
- Thật khó tin. Mameha à?
- Đừng điên! Cô ta quá đoan chính không làm việc ấy đâu. Đó là con ở của cô ta, nó nằm với thằng bảo vệ nhà hát. Tôi nghĩ nó sẽ làm bất cứ cái gì tôi sai bảo để tôi khỏi nói lại cho chủ nó biết, cho nên sau đó tôi tìm nó, bảo nó lấy cho tôi cái áo kmono của Mameha cho tôi. Nó khóc khi tôi miêu tả cái áo mà tôi muốn có.
- Còn cái gói kia là gì? – Korin hỏi , chỉ vào cái gói thứ hai trên hành lang, đang còn dây buộc.
- Cái này tôi bảo nó xuất tiền túi của nó ra mà mua cho tôi, và bây giờ nó thuộc về tôi.
- Tiền túi à? Nó là loại con ở gì mà có tiền mua áo kimono?
- Ờ, nó nói nó không mua, nhưng nó đào đâu ra được cái áo này thì tôi không biết. Dù sao thì Cô bé ngốc cũng phải đem những cái áo này cất vào trong nhà kho cho tôi.
- Thưa cô Hatsumono, tôi không được phép vào nhà kho – tôi liền trả lời .
- Nếu mày muốn biết chị mày ở đâu thì tối nay đừng để cho tao nói lần thứ hai. Tao đã có dự kiến cho mày rồi. Sau đó mày có thể hỏi tao một câu, tao sẽ trả lời cho.
Thú thật tôi không tin cô ta, nhưng dĩ nhiên Hatsumono có khả năng làm cho tôi gánh chịu mọi thống khổ nếu cô ta muốn cho nên tôi chỉ còn nước vâng lời mà thôi.
Cô ta ấn cái áo kimono – gói trong giấy dày – vào tay tôi rồi dẫn tôi đi ra phía nhà kho ở cuối sân. Cô ta mở cửa nhà kho rồi quẹt diêm lên. Tôi thấy các kệ chất vải trải trên nệm, gối, cùng nhiều tủ khóa kín và vài cái nệm xếp lại. Hatsumono nắm cánh tay tôi rồi chỉ cái thang ở sát vách.
- Áo kimono cất ở trên ấy - cô ta nói.
Tôi leo lên, mở cánh cửa đẩy bằng gỗ ra. Kho trên này không có kệ như ở tầng dưới . Nhưng dọc theo vách sắp những cái rương sơn mài màu đỏ, cái này chồng lên cái kia cao đến tận trần nhà. Một lối đi hẹp chạy giữa hai dãy rương, cuối lối đi có cửa sổ lá sách phủ màn giấy cho thoáng khí. Ánh sáng trong kho cũng lờ mờ như ở dưới, nhưng có phần sáng hơn chút đỉnh, cho nên khi tôi bước vào trong, tôi có thể đọc được những chữ khắc màu đen vào trước rương. Đại loại như thế này:
Kata Komon, Ro - mẫu in khuôn lụa dệt nổi, rồi, Kuromonstuki Awase – áo dạ hội lót bông. Thú thật là khi ấy tôi đọc không hiểu hết các chữ viết, nhưng tôi cố tìm cái rương có tên của Hatsumono để trên cao hết, phải khó khăn lắm tôi mới bê xuống được. Nhưng trong rương chỉ có vài cái kimono thôi, nên tôi để cái gói kimono vào dễ dàng và bê cái rương đặt vào chỗ cũ. Vì hiếu kỳ, tôi mở vội vài cái rương khác ra xem, một cái chất đầy áo kimono, có đến 15 cái là ít, và những rương khác cũng chất đầy áo như thế. Nhìn kho chất đầy rương đựng áo kimono như thế, tôi bỗng hiểu ra tại sao Bà Ngoại lại sợ hỏa hoạn đến vậy. Số áo kimono trong kho này trị giá bằng tài sản hai làng Yoroido và Senzuru cộng lại như chơi. Và sau này tôi biết thêm là hầu hết áo có giá trị đắt nhất được cất ở một chỗ khác nữa. Số áo ở đây chỉ được các geisha tập sự mặc thôi, và vì Hatsumono không mặc nữa nên chúng được cất vào kho cho thuê để được bảo quản tốt hầu sau này đem ra dùng lại .
Khi tôi xuống, Hatsumono đã lên phòng cô ta để lấy cái nghiên mực, và thỏi mực xạ cùng cây bút lông để viết. Tôi nghĩ cô ta muốn viết vài lời gì đấy để bỏ vào trong chiếc áo kimono khi cô ta xếp lại. Cô ta đã nhỏ vài giọt nước giếng vào trong nghiên mực và cô ngồi xuống trên hành lang gỗ để mài mực. Khi nước trong nghiên đã đủ đậm, cô chấm đầu bút lông vào rồi vuốt lên thành nghiên, để cho mực thấm hết vào bút mà không giọt ra ngoài, rồi cô ta để bút vào tay tôi, đưa tay tôi lên chiếc kimono và nói:
- Tập viết đi, bé Chiyo.
Áo kimono của geisha có tên Mameha – lúc ấy tôi chưa bao giờ nghe nói đến cô ta – là một tác phẩm nghệ thuật. Người ta dệt hình một cây nho từ dưới lai áo cho đến bụng thật đẹp, hình dệt bằng chỉ màu xoắn vào nhau như những sợi dây cáp nhỏ. Hình dệt trên vải, nhưng nhìn vào ta thấy như một cây nho thật, tôi có cảm giác tôi có thể sờ vào thân cây được, và nếu muốn, tôi có thể nhổ cây nho lên khỏi mặt đất. Những ngọn lá ôm quanh thân cây có vẻ như lá thật bị thời tiết mùa thu làm cho phai màu khô héo đang ngả sang màu vàng.
- Tôi không viết được đâu, thưa cô Hatsumono - Tôi thét lên.
- Xấu hổ thế bé cưng - bạn cô ta nói với tôi – vì nếu cô làm cho cô Hatsumono nói lại lần nữa thì chắc cô sẽ hết hy vọng tìm ra chị cô.
- Ồ im đi, Korin. Chiyo đã biết cô ta sẽ làm những gì tôi bảo cô ta làm. Cô Ngốc ơi, viết chữ gì lên áo đi, chữ gì cũng được, tôi cóc cần.
Khi ngọn bút lông chạm vào chiếc kimono, Korin quá bị kích thích đến nỗi cô ta thét lên và tiếng thét đã làm cho một chị giúp việc thức dậy, chị ta chạy ra hành lang, khăn quấn đầu tụt xuống và áo ngủ xộc xệch quanh người. Hatsumono dậm mạnh chân xuống nền nhà và làm ra vẻ nhào đến đánh chị ta, làm chị ta nhanh chân chạy vào buồng trở lại. Korin đau khổ khi thấy tôi hạ những nét bút vụng về lên mặt lụa có màu lục nhạt, cho nên Hatsumono chỉ cho tôi phải viết chỗ nào và viết cái gì. Những chữ cô ta đọc cho tôi viết chẳng có nghĩa gì hết, Hatsumono sáng tạo nghệ thuật theo trường phái riêng của cô ta. Sau đó cô ta xếp áo kimono lại, gói vào giấy và buộc dây. Cô ta và Korin đi ra cửa, mang giày sơn mài vào. Khi họ mở cửa, Hatsumono bảo tôi đi theo.
- Thưa cô Hatsumono, nếu tôi đi ra khỏi cửa mà không có phép, Mẹ sẽ rất tức và…
- Tao cho mày phép – Hatsumono cắt ngang lời tôi – Chúng ta đi trả áo kimono kia mà, đừng chần chừ bắt tao đợi.
Tôi chỉ còn nước mang guốc vào rồi đi theo cô ta ra đường hẻm rồi đi theo con đường phố chạy dọc theo con sông nhỏ Kirakawa. Vào thời ấy đường phố và đường hẻm vẫn còn lát đá rất đẹp. Chúng tôi đi dưới ánh trăng qua chừng một khu phố, bên cạnh hàng anh đào rũ cành trên dòng nước đen, rồi di qua một cây cầu để vào một khu vực khác của Gion mà tôi chưa biết. Bờ sông lát đá, phần lớn đều phủ rêu. Dọc bờ sông, các phòng trà và nhà kỹ nữ ở sát nhau và quay lưng ra phía sông tạo thành một bức tường. Tôi nghe tiếng cười của một nhóm đàn ông và các cô geisha. Chắc trong các phòng trà ấy có chuyện gì vui lắm vì tiếng cười càng lúc càng to cho đến khi tiếng cười tắt hết chỉ còn lại tiếng đàn Shamisen tưng tưng vang lên ở tiệc vui khác. Bỗng tôi nghĩ rằng vùng Gion này là nơi vui chơi cho một số người. Tôi tự hỏi không biết chị Satsu có ở một trong những đám tiệc vui ấy không, mặc dù khi tôi đến phòng đăng ký hộ tịch Gion, ông Awajiumi đã nói với tôi chị không có mặt ở Gion.
Một lát sau Korin và Hatsumono dừng lại trước một cánh cửa gỗ. Hatsumono nói với tôi:
- Mày đem cái áo này lên lầu đưa cho chị giúp việc ở đấy. Hay là nếu cô Hòan Hảo ra mở cửa, mày đưa nó cho cô ta. Đừng nói gì hết, chỉ đưa nó cho cô ta mà thôi. Chúng tao ở đây canh chừng mày.
Nói xong, cô ta để cái gói giấy vào tay tôi, còn Korin kéo cửa mở ra, những bậc thang bằng gỗ dẫn lên một chỗ tối tăm. Tôi run lên vì quá sợ. Tôi đi lên đến giữa cầu thang thì dừng lại. Bỗng tôi nghe Korin nói to trong họng ở phía dưới chân cầu thang:
- Đi đi con kia, không ai ăn thịt mày đâu, trừ phi mày trở xuống với cái kimono trong tay. Khi ấy chắc chúng tao sẽ xơi mày. Đúng không Hatsumono?
Hatsumono chỉ thở dài không nói. Korin cố giương mắt nhìn tôi trong bóng to6’i , nhưng Hatsumono, đứng cao không quá vai Korin, chỉ đứng cắn móng tay mà không lưu tâm đến gì hết. ngay khi ấy, mặc dù đang lo sợ, tôi vẫn không thể không nhìn thấy Hatsumono quá đẹp. Có thể cô ta độc ác như con nhện, nhưng thái độ cô ta đứng cắn móng tay trông thật tuyệt vời, tuyệt hơn bất cứ cô geisha nào đứng như thế để chụp ảnh. Sự tương phản giữa cô ta với Korin giống như đá bên vệ đường với đá quý để làm đồ trang sức. Mặc dù Korin có mái tóc hợp thời trang, có đồ trang sức đẹp đẽ, và mặc áo kimono vừa vặn gọn gàng, nhưng trông cô ta vẫn kệch cỡm, trong khi đó, Hatsumono mặc áo kimono như thể là da thịt của cô.
Lên đến chỗ đầu cầu thang, tôi quỳ xuống trong bóng tối và gọi lớn:
- Xin vui lòng mở cửa.
Tôi đợi nhưng chẳng thấy ai ra. Korin nói vọng lên:
- Gọi to lên, họ không nghe mày đâu.
Tôi gọi to hơn:
- Xin làm ơn mở cửa.
- Xin đợi một lát.
Tôi nghe có tiếng trả lời nho nhỏ và một lát sau cửa mở. Cô gái quỳ ở phía bên kia cửa không lớn hơn Satsu, nhưng gầy gò và nhát gan như con chim. Tôi đưa cho chị ta cái kimono gói trong giấy dày, cô ta rất ngạc nhiên, miễn cưỡng đưa tay lấy.
- Ai thế, cô Asami? - Tiếng hỏi phát ra từ trong nhà.
Tôi thấy cây đèn lồng để trên cái kệ xưa đang cháy ở bên tấm nệm mới trải vải. Tấm nệm là của nàng geisha Mameha, tôi có thể nói như thế là vì vải trải nệm cứng dòn và chăn lụa đẹp đẽ cùng cái takamakura “gối cao” đều giống y như những thứ mà Hatsumono thường dùng. Thực ra đấy không phải là cái gối , mà là cái bệ gỗ có chỗ oằn xuống để tựa cổ lên đó, đây là kiểu gối cho các geisha nằm ngủ để khỏi làm hư mái tóc đẹp đi.
Chị giúp việc không trả lời, nhưng chị mở cái gói giấy ra và cầm chiếc kimono nghiêng qua nghiêng lại trước ánh sáng để nhìn cho rõ. Khi cô ta thấy mực xạ làm bẩn áo, cô ta há hốc mồm kinh ngạc rồi đưa tay bịt mồm lại. Nước mắt tuôn ra hai má, rồi đồng thời có giọng nói cất lên:
- Chị Asami, ai thế?
- Ồ không, thưa cô – chị giúp việc trả lời.
Tôi thấy ái ngại cho chị khi chị vội vã lấy tay áo lau nước mắt. Trong khi chị đưa tay kéo cửa đóng lại, tôi nhìn vào cô chủ. Tôi liền hiểu ra ngay tại sao Hatsumono gọi cô là cô Hoàn Hảo. Khuôn mặt trái xoan thật tuyệt, như mặt con búp bê, mịn màng, thanh tú như đồ sứ, ngay cả khi không hóa trang. Cô ta đi đến phía cửa, cố nhìn xuống phía dưới chân cầu thang, nhưng tôi không thấy cô ta được nữa vì chị giúp việc đã kéo cửa đóng lại rồi.
Sáng hôm sau khi đi học xong về nhà, tôi thấy Mẹ, Bà Ngọai và bà Dì cùng ngồi trong phòng khách ở tầng dưới. Tôi nghĩ chắc họ đang bàn về chuyện cái kimono, và đúng thế, ngay lúc Hatsumono vừa từ ngoài đường đi vào, một người giúp việc đến báo cho Mẹ, bà bước ra hành lang, chặn Hatsumono lại trước khi cô ta lên thang lầu. Bà nói:
- Sáng nay cô Mameha và chị giúp việc của cô ta có đến thăm ta.
- Ồ thưa Mẹ, con biết Mẹ muốn nói gì rồi. Con rất ngao ngán về chuyện cái kimono ấy. Con đã cố ngăn không để Chiyo vấy mực lên đấy mà không kịp! Chắc nó tưởng cái áo ấy là của con. Con không biết tại sao nó ghét con từ ngày nó tới đây đến giờ như thế. Chắc nó nghĩ làm hỏng cái áo kimono đẹp đẽ sẽ khiến cho con đau khổ.
Bấy giờ thì bà Dì tuôn ra hành lang, bà nói lớn:
- Matte mashita!
Tôi hiểu câu nói rất rõ. Câu nói có nghĩa “chúng tôi chờ cô!” Nhưng tôi không hiểu bà ta muốn nói gì. Thật vậy, đây là câu nói có nhiều ý nghĩa. Vì câu này thường được khán giả la lên khi một đại minh tinh xuất hiện trong vở kịch của Kabuki.
- Thưa Dì, bộ Dì nghĩ con có ý định làm hỏng cái áo kimono ấy sao? – Hatsumono hỏi - Tại sao con phải làm vậy chứ?
- Ai cũng biết cô ghét Mameha – Dì trả lời – cô ghét người nào thành công hơn cô.
- Nói thế tức là con thương Dì vì Dì thất bại, phải không ạ?
- Thôi dẹp chuyện ấy đi - Mẹ lên tiếng – Bây giờ hãy nghe tôi nói Hatsumono. Chắc cô cũng biết không ai ngu để tin chuyện của cô đâu. Tôi không thích những ai có tính xấu ở trong nhà này, ngay cả cô. Tôi rất kính nể cô Mameha. Tôi không muốn thấy những chuyện như thế này xảy ra nữa. Về phần chiếc kimono, có người phải trả tiền để đền cho người ta. Đêm qua tôi không biết chuyện xảy ra như thế nào, nhưng chuyện ai cầm bút viết lên đấy thì đã quá rõ ràng rồi. Chị giúp việc đã thấy con bé cầm bút, vậy con bé phải trả thôi - Mẹ nói xong đút ống vố vào miệng.
Đến đây Bà Ngoại đi ra khỏi phòng và lớn tiếng gọi chị giúp việc bảo đem cây roi tre đến cho bà.
- Chiyo có nhiều nợ rồi – bà Dì nói – không lý gì bắt nó phải trả thêm nợ của Hatsumono.
- Chúng ta nói đến chuyện này thế là đủ rồi – Bà Ngọai đáp – con bé phải bị đánh và buộc trả tiền chiếc áo kimono, thế thôi. Cái roi tre đâu rồi?
- Để tôi đánh nó cho – bà Dì nói – Tôi không muốn khớp xương bà sưng lên lại , Bà Ngoại à. Chiyo đến đây.
Bà Dì đợi người giúp việc đem roi đến rồi dẫn tôi xuống sân. Bà ta quá giận, lỗ mũi phồng lên to hơn mọi khi, và cặp mắt nhíu lại như hai nắm tay. Từ ngày tôi đến nhà này, tôi đã cẩn thận không làm gì sai phạm để bị đánh đòn. Bỗng tôi cảm thấy nóng, đá trên lối đi trong sân dưới chân tôi lờ mờ. Nhưng thay vì đánh tôi, bà Dì dựng cây roi tre vào vách nhà kho rồi cúi người hỏi nhỏ tôi:
- Cháu đã làm gì Hatsumono? Cô ấy cố ý hãm hại cháu. Chắc phải có lý do gì, hãy nói cho ta nghe.
- Xin thú thật với Dì, cô ấy đối xử với cháu như thế này từ ngày cháu mới đến. Cháu không biết cháu đã làm gì.
- Bà Ngọai gọi Hatsumono là con điên, nhưng cháu nhớ, cô ta không điên đâu. Nếu cô ta muốn hại sự nghiệp của cháu, cô ta sẽ làm đấy. Bất cứ cái gì cháu làm mà có thể làm cho cô ta nổi giận, cháu phải chấm dứt.
- Nói thật với Dì, cháu không làm gì hết.
- Cháu đừng tin cô ta, ngay cả những việc mà cô ta muốn giúp cháu. Cô ta đã làm cho cháu mắc nợ quá nhiều không sao trả xuể.
- Cháu không hiểu, cháu nợ cái gì ạ?
- Cái trò làm hỏng kimono sẽ làm cho cháu mắc nợ, món nợ quá lớn cho cháu. Ta nói mắc nợ là nợ thế đấy.
- Nhưng…làm sao cháu trả được?
- Khi cháu hành nghề geisha, cháu sẽ trả số nợ ấy cho nhà kỹ nữ, cùng các thứ nợ khác, nợ ăn uống, nợ học tập, nếu cháu bệnh họan, tiền trả cho bác sĩ. Tất cả cháu đều phải trả. Bộ cháu không thấy Mẹ cứ ngồi cả ngày ghi chép những con số vào sổ đấy à? Cháu lại còn nợ nhà kỹ nữ số tiền họ bỏ ra mua cháu nữa.
Qua nhiều tháng ở Gion, tôi đã mường tượng ra cảnh tiền trao tay trước khi Satsu và tôi bị lôi ra khỏi nhà. Tôi thường nghĩ đến câu chuyện tôi đã nghe giữa ông Tanaka và bố tôi, và câu mà bà Loay Hoay đã nói về tôi và chị Satsu, bà đã nói chúng tôi “xứng đáng”. Tôi buồn rầu tự hỏi không biết ông Tanaka đã chấm mút bao nhiêu khi làm trung gian để bán chúng tôi, và bán chúng tôi với giá bao nhiêu. Nhưng không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện tôi phải trả lại tiền người ta đã bỏ ra để mua tôi.
- Cháu chỉ trả lui khi cháu đã làm geisha trong một thời gian dài. – bà Dì nói tiếp – và khi cháu thất bại không thành geisha được như ta, thì cháu sẽ không bao giờ trả hết nợ. Có phải cháu muốn tương lai của cháu cũng như ta không?
Bỗng tôi cảm thấy tôi chẳng cần lưu tâm đến tương lai.
- Nếu cháu muốn làm hỏng đời cháu ở Gion, có hàng chục cách để làm – Dì nói tiếp – Cháu có thể tìm cách chạy trốn. Khi cháu làm thế, Mẹ sẽ xem cháu là vốn đầu tư sai lầm, bà ta sẽ không bỏ thêm tiền vào kẻ mà cứ chực có cơ hội là bỏ trốn. Tức là cháu sẽ không được đi học nữa, mà không được đi học thì cháu sẽ không thành geisha được. Hay là cháu không được giáo viên lưu tâm, họ sẽ không dạy cho cháu những điều cần thiết. Hay là cháu lớn lên xấu xí như ta. Khi Bà Ngọai mua ta từ mẹ ta, ta không có nhan sắc, bà đánh ta trối chết vì tội gì đấy khiến ta bị gãy xương chân. Lúc ấy ta chấm dứt nghề geisha. Vì thế hôm nay ta muốn tự tay ta đánh cháu chứ không để Bà Ngoại làm.
Bà dẫn tôi vào hành lang gỗ, bắt tôi nằm sấp xuống. Tôi không quan tâm đến việc bà có đánh tôi hay không, vì tôi thấy hoàn cảnh của tôi quá bi đát rồi. Mỗi lần cây roi nện xuống, tôi nhổm người lên và khóc thật to. Tôi mường tượng ra bộ mặt xinh đẹp của Hatsumono đang tươi cười nhìn tôi. Khi trận đòn chấm dứt, bà Dì để mặc tôi đấy cho tôi khóc. Một lát sau tôi cảm thấy sàn ván của hành lang rung rinh, vì có chân người đi tới, tôi ngồi dậy và thấy Hatsumono đang đứng nhìn tôi.
- Này Chiyo, nếu cô tránh đường cho tôi đi, tôi rất cám ơn cô.
- Cô Hatsumono, cô đã hứa chỉ chỗ chị tôi ở để tôi đi tìm - tôi nói với cô ta như thế.
- Đúng thế - cô ta cúi mặt xuống sát mặt tôi. Tôi tưởng cô ta sẽ nói rằng tôi chưa làm đầy đủ công việc cho cô ta, rằng khi nào cô ta sai tôi làm việc nhiều hơn nữa, cô ta sẽ nói cho tôi biết. Nhưng cô ta không nói thế.
- Chị mày ở trong một Jorou-ra có tên là Tutsuyo – cô ta nói - nằm trong quận Miyagawa-cho, ở phía nam Gion.
Khi nói xong cô ta đạp nhẹ vào tôi và tôi né sang một bên tránh đường cho cô ta đi.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 08:18:01Chuột lắc>
CHƯƠNG 7


Trước đấy tôi chưa bao giờ nghe nói đến từ Jorou-ya, cho nên ngay sáng hôm sau, khi bà Dì làm rớt khay kim chỉ xuống nền nhà ở hành lang trước, và bà bảo tôi giúp bà lượm lên, tôi liền hỏi bà:
- Thưa Dì, nhà Jorou-ya là nhà gì thế?
Bà Dì không trả lời mà tiếp tục cuốn một cuộn chỉ.
- Nhà gì thế, thưa Dì? – Tôi tiếp tục hỏi.
- Đó là loại nhà dành cho Hatsumono nếu cuối cùng nó đáng bị vào đấy.
Bà chỉ nói thế và không hề có ý định nói thêm điều gì nữa cho nên tôi đành phải biết chừng đó thôi.
Câu trả lời như thế là không rõ ràng gì hết, nhưng tôi nghĩ chắc Satsu gặp phải hoàn cảnh còn đau đớn hơn tôi nữa. Cho nên tôi quyết định là ngay khi có cơ hội, tôi sẽ tìm đến cái chỗ có tên Tatsuyo đó liền. Nhưng khổ thay, vì tôi làm hỏng áo kimono của Mameha, nên tôi bị phạt phải ở trong nhà 50 ngày. Tôi chỉ được phép đi học khi có Bí Ngô đi kèm theo, nhưng tôi không được phép đi ra ngoài để làm vài công việc lặt vặt do người trong nhà sai. Tôi nghĩ, nếu tôi muốn, tôi có thể chạy ra ngoài bất cứ lúc nào nhưng tôi biết làm như thế là điên. Trước hết là tôi không biết đường để tìm đến nhà Tatsuyo, rồi điều đáng sợ nhất là ngay khi biết tôi ra ngoài, thế nào người ta cũng phái ông Bekku hay ai đấy đi tìm tôi. Cách đây mấy tháng có một cô giúp việc ở nhà kỹ nữ bên cạnh trốn đi, sáng hôm sau là cô ta bị bắt về. Họ đánh cô ta rất tàn bạo suốt mấy ngày liền, tiếng la khóc của cô ta nghe rất rùng rợn. Nhiều khi tôi phải lấy tay bịt lỗ tai để khỏi phải nghe.
Tôi thấy chỉ còn cách đợi cho hết thời gian 50 ngày rồi hẵng hay. Trong thời gian này tôi cố tìm cách để trả thù Hatsumono và Bà Ngoại vì họ đã đối xử với tôi quá độc ác. Với Hatsumono, tôi trả thù bằng cách cứ mỗi khi người ta sai tôi quét phân chim bồ câu trên các lối đi lát gạch ở trong sân, là tôi lấy một ít phân để trộn vào kem đánh mặt của cô ta. Kem đánh mặt của cô ta đã có trộn phân chim sơn ca rồi, như tôi đã nói với anh, cho nên trộn phân bồ câu có thể không làm hại gì đến da mặt của cô ta, nhưng làm thế tôi thấy vui vui trong lòng. Còn Bà Ngọai, tôi trả thù bằng cách lấy giẻ chùi toa lét lau vào bên trong áo ngủ của bà ta, rồi tôi rất vui sướng khi thấy bà ngửi cái áo rồi tỏ vẻ khó chịu, nhưng bà ta vẫn mặc. Chẳng bao lâu sau tôi nhận ra bà đầu bếp biết việc tôi làm, bà ta trừng phạt tôi thêm ngoài việc làm hỏng áo kimono - mặc dù không ai yêu cầu bà ta làm thế - là cắt phần cá khô mỗi tháng hai lần trong khẩu phần ăn của tôi. Tôi không nghĩ ra được cách gì để trả thù bà ta cho đến một hôm tôi thấy bà ta cầm một cái chày đuổi theo một con chuột trên hành lang. Bà ta còn ghét chuột hơn cả mèo nữa. Cho nên tôi quét phân chuột dưới móng nhà chính đem rải khắp trong nhà bếp. Thậm chí có một hôm tôi lấy chiếc đũa thọc một lỗ dưới đáy bao gạo, khiến bà ta phải moi hết các thứ trong các tủ ra để tìm kiếm bọn gặm nhấm.
Một buổi tối, khi tôi thức để đợi Hatsumono, bỗng tôi nghe có tiếng điện thoại reo, và sau đó một lát, Yoko bước ra, leo lên thang lầu. Khi chị ta đi xuống, chị ta cầm theo cái đàn Shamisen của Hatsumono, cái đàn tháo rời để trong hộp sơn mài. Chị ta nói với tôi:
- Cô đem cái đàn này đến phòng trà Mizuki. Hatsumono đánh cá thua, phải hát và đệm đàn Shamisen theo. Tôi không biết cô ta nghĩ sao mà lại không dùng đàn của phòng trà. Tôi sợ cô ta bể dĩa vì lâu rồi cô ta không đụng đến cây đàn.
Rõ ràng Yoko không biết chuyện tôi bị giam lỏng trong nhà, và chuyện này cũng không đáng ngạc nhiên, chị ta không được phép rời khỏi phòng gia nhân, vì sợ khi có điện thoại gọi đến, không có ai trả lời, và ngoài ra chị ta cũng không được tham dự mọi sinh hoạt trong nhà kỹ nữ. Tôi lấy cây đàn và chị ta mặc áo khoác kimono để chuẩn bị về nhà ngủ. Sau khi nghe chị ta chỉ đường để đến phòng trà Mizuki, tôi ra cửa mang giày, lòng bồi hồi lo sợ có người ngăn lại. Các chị giúp việc và Bí Ngô - kể cả ba bà già - đều ngủ hết. còn Yoko chỉ ít phút nữa thôi là ra về. Tôi cảm thấy cuối cùng cơ hội tìm ra chị tôi đã đến.
Tôi nghe có tiếng sấm và trời có vẻ sắp mưa. Cho nên tôi vội vã đi nhanh, qua mặt từng đám đàn ông và geisha. Nhiều người nhìn tôi với ánh mắt nghi ngại, vì thời ấy có nhiều người, đàn ông cũng như đàn bà, làm nghề mang đàn thuê. Họ thường là những người lớn tuổi, không có con nít làm nghề này. Cho nên tôi nghĩ có lẽ có nhiều người thấy tôi đi qua, họ nghĩ tôi đã ăn trộm đàn của ai.
Khi tôi đến phòng trà Mizuki, trời bắt đầu mưa, nhưng vì mặt tiền của nhà hàng quá sang cho nên tôi sợ không dám bước vào. Trước ngõ vào có treo một bức màn, nhìn xuyên qua bức màn, tôi thấy những bức tường sơn màu vàng cam, dưới chân tường áp gỗ mun. Một con đường lát đá được chùi bóng lộn dẫn đến một cái bình lớn cắm nhiều cành thích uốn lượn vào nhau, lá thích mùa thu có màu đỏ óng ánh. Cuối cùng, tôi lấy can đảm bước qua bức màn nhỏ. Đến gần bình hoa, tôi thấy một lối đi thoáng đãng rẽ về một bên, nền nhà lát đá granit láng bóng. Tôi nhớ khi đó tôi quá đỗi ngạc nhiên không phải chỉ vì lối vào phòng trà đẹp mà thôi, tôi còn ngạc nhiên khi thấy con đường dẫn vào cửa phòng trà cũng đẹp. Tôi nghĩ có lẽ đây là lần đầu tiên tôi trông thấy một phòng trà của Nhật đẹp tuyệt vời như thế. Phòng trà không phải là nơi để uống trà, mà là nơi các ông đến để vui chơi giải trí bên các nàng geisha.
Khi tôi đi đến phía cửa, cánh cửa mở ra. một cô giúp việc quỳ trên nền nhà phía trong cửa, nền nhà cao hơn ngoài, cô ta nhìn tôi, chắc cô ta đã nghe tiếng giầy gỗ của tôi gõ lộp cộp trên nền nhà nên cô mở cửa ra. Cô ta mặc một cái áo kimono màu xanh đậm đẹp, áo có hình trang trí đơn giản màu xám. Nếu cách đây một năm, chắc tôi sẽ tưởng cô ta là cô tiểu chủ của ngôi nhà đẹp lộng lẫy này, nhưng bấy giờ sau những tháng sống ở Gion, tôi nhận ra chiếc kimono trên người cô - mặc dù đẹp hơn bất kỳ áo của ai ở Yoroido – quá giản dị không hợp với giới geisha hay với cô chủ của phòng trà. Và dĩ nhiên kiểu tóc của cô ta cũng tầm thường, thế nhưng cô ta vẫn sang hơn tôi nhiều, cho nên cô ta nhìn tôi với vẻ khinh khỉnh.
- Đi ra phía sau – cô ta nói.
- Cô Hatsumono nhờ tôi…
- Đi ra phía sau! – Cô ta lặp lại và đưa tay kéo cửa đóng lại trước mặt tôi, không đợi tôi trả lời.
Bây giờ mưa đã lớn, cho nên tôi chạy theo con đường nhỏ bên hông phòng trà. Khi tôi đến lối vào ở phía sau, cửa mở ra, và cũng chính cô giúp việc ấy quỳ ở đấy đợi tôi. Cô ta không nói một tiếng mà chỉ lấy cây đàn trên tay tôi.
- Thưa cô, tôi xin phép hỏi cô một việc này được không? Nhờ cô chỉ đường đến quận Miyagawa được không ạ?
- Tại sao cô muốn đến đấy?
- Tôi đi lấy đồ.
Cô ta nhìn tôi với vẻ hồ nghi, nhưng rồi cô ta cũng chỉ cho tôi đường đi dọc theo bờ sông cho đến khi đi quá nhà hát Minamiza là đến quận Miyagawa.
Tôi định đứng dưới mái nhà núp cho đến khi trời hết mưa. Khi tôi đứng nhìn quanh, tôi thấy bên cạnh tôi có chiếc hàng rào thưa, nhìn qua hàng rào, tôi thấy chái nhà bên cạnh. Trước nhà là khu vườn thật đẹp và nhà có cửa sổ bằng kính. Trong căn phòng lát thảm rơm mỹ lệ tràn ngập ánh sáng màu cam đang diễn ra cảnh một buổi tiệc gồm nhiều đàn ông và geisha, họ ngồi quanh một cái bàn lớn, trước mặt họ là những chén uống rượu sake và ly uống bia. Hatsumono cũng có mặt tại đấy, một ông già mắt kèm nhèm hình như đang kể chuyện. Hatsumono có vẻ đang thích thú vì cái gì đấy, nhưng chắc không phải về câu chuyện ông già đang kể. Cô ta nhìn vào một geisha khác, cô này ngồi quay lưng lại phía tôi, tôi sực nhớ đến lần tôi và con gái ông Tanaka, Kumiko, nhìn vào phòng trà và tôi có một cảm giác nặng nề, cảm giác mà tôi đã có, khi đứng trước những ngôi mộ của gia đình của người vợ đầu của bố tôi, như thể lòng đất đã lôi tôi xuống. Ý nghĩ ấy hiện ra trong óc tôi và lớn lên mãi, cho đến khi tôi không thể nào làm ngơ được nữa. Tôi muốn xua đuổi ý nghĩ ấy ra khỏi trí óc tôi, nhưng tôi không có khả năng ngăn cản nó xâm chiếm lấy trí óc tôi, giống như không thể ngăn cản gió thổi vậy. Cho nên tôi đi lui, ngồi phịch xuống ở bậc đá ngay lối vào, dựa lưng lên cửa mà khóc. Tôi không thể ngăn được trí óc tôi nghĩ đến ông Tanaka. Ông ta đã lôi tôi ra khỏi mẹ tôi và cha tôi rồi bán tôi đi làm nô lệ, bán chị tôi vào chỗ còn tệ hơn nữa. Tôi đã cho ông ta là người tốt. Tôi đã nghĩ ông ta là người có học, người lịch sự. Tôi mới thật ngu ngốc làm sao! Tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ quay trở về Yoroido được nữa, hay nếu có về được, chắc cũng chỉ để nói với ông Tanaka rằng tôi rất ghét ông ta.
Cuối cùng khi tôi đứng lên lấy tà áo ướt lau mắt thì trời đã hết mưa, chỉ còn sương mù. Đá lát đường óng ánh vàng dưới ánh sáng của đèn lồng. Tôi đi lui qua khu vực Taminaga-cho, ở Gion, đến nhà hát Minamiza, nhà hát lợp ngói thật khổng lồ, khiến cho tôi tưởng đấy là tòa lâu đài vào cái ho6m ông Bekku đưa tôi và chị Satsu từ ga xe lửa đến. Chị giúp việc ở phòng trà Mizuki đã dăn tôi đi theo mé bờ sông, qua nhà hát Minamiza, nhưng con đường đến nhà hát thì hết. Cho nên phải đi theo con đường phía sau Minamiza. Sau khi đi qua một vài khu phố, tôi đến một nơi không có đèn đường, và gần như vắng người. Lúc ấy tôi không biết, nhưng đường xá vắng vẻ như thế là vì tình trạng đại suy thoái đang diễn ra, vào lúc khác chắc khu Miyagawa-cho này có thể sầm uất hơn cả Gion nữa. Tối hôm ấy tôi thấy vùng này rất buồn.
Mặt tiền các nhà đều bằng gỗ giống như ở Gion, nhưng khu vực này không có cây, không có sông như sông Shirakawa, không có những cửa ngõ đẹp đẽ. Ánh sáng duy nhất trong các nhà chiếu ra tù những bóng đèn tròn nơi các cửa mở rộng, ở đấy có các bà già ngồi trên ghế đẩu, thường có hai ba phụ nữ ở bên cạnh họ, tôi nghĩ các phụ nữ này là geisha ở ngoài đường. Họ mặc kimono và mang nữ trang trên tóc giống geisha, nhưng thắt lưng của họ buộc đàng trước chứ không phải ở phía sau. Tôi chưa bao giờ thấy thế và không hiểu việc này, nhưng đấy là dấu hiệu cho biết họ là gái điếm. Đàn bà mà phải mang khăn quàng lưng vào rồi tháo ra suốt đêm thì chẳng cần phải bận tâm buộc ra phía sau làm gì cho phí công.
Với sự giúp đỡ của các phụ nữ này, tôi tìm ra được nhà Tatsuyo nằm trong một hẻm cụt cùng với ba nhà khác nữa. Tất cả đều có bảng hiệu treo trước cửa. Tôi không thể nào tả hết cảm xúc của tôi khi thấy tấm bảng mang chữ Tatsuyo, nhưng tôi cũng xin nói là người tôi dường như bị căng thẳng quá sức, đến nỗi tôi như muốn nổ tung ra. Trước cửa vào nhà Tatsuyo có một bà già ngồi trên ghế đẩu, đang nói chuyện với người phụ nữ còn trẻ cũng ngồi trên ghế đẩu phía bên kia con hẻm, nhưng đúng ra là chỉ có bà già nói mà thôi. Chị ta ngồi tựa lưng vào khung cửa, chiếc áo dài màu xám thụng xuống hở hang một phần, còn chân thì đi đôi hài, đây là lọai hài bện bằng rơm một cách thô tháp, kiểu hài người ta thường thấy ở Yoroido chứ không phải loại hài sơn mài đẹp đẽ mà Hatsumono thường mang với áo kimono. Điều đáng nói hơn nữa là bà già để chân trần chứ không phải mang hài lụa bít tất chân láng lẫy. Thế mà bà ta vẫn chìa hai bàn chân có móng chân lởm chởm ra trước như thể bà tự hào về các móng chân của mình, muốn cho người ta nhìn và chiêm ngưỡng.
- Xin nói cho chị biết - bà ta nói - chỉ ba tuần nữa thôi, tôi không trở về đâu. Cô chủ hy vọng tôi về, nhưng tôi sẽ không về. Chị biết không, con dâu tôi sẽ chăm sóc tôi chu đáo. Nó không linh lợi nhưng nó làm việc cần mẫn. Chị đã gặp nó chưa?
- Nếu có gặp chắc tôi cũng không nhớ - chị đàn bà ngồi bên kia trả lời – cô con gái đang muốn nói chuyện với bà kia kìa. Bà không thấy à?
Nghe thế, bà già quay qua nhìn tôi. Bà ta không nói gì nhưng bà hất đầu ra dấu cho tôi muốn nói gì thì nói đi.
- Thưa bà - tôi nói – xin bà cho biết ở đây có cô gái nào tên là Satsu không ạ?
- Không có ai tên là Satsu hết – bà ta đáp.
Tôi quá hồi hộp không biết nói gì thêm nữa, nhưng bỗng nhiên tôi thấy bà già có vẻ lo sợ vì khi ấy có một người đàn ông đi qua, bước về phía cửa ra vào. Bà ta nhổm người dậy, hai tay chống lên đầu gối, cúi chào nhiều lần và miệng nói:
- Hân hạnh đón tiếp ngài!
Khi ông ta vào nhà rồi, bà ta ngồi xuống ghế lại và chìa hai bàn chân ra đàng trước như cũ.
- Tại sao cô còn ở đây? – bà già hỏi tôi – Tôi đã nói không có ai là Satsu ở đây mà.
- Có đấy bà ơi - chị đàn bà trẻ ở bên kia đường nói vọng sang – Cô Sukiyo của bà đấy. Tôi nhớ tên cũ của cô ta là Satsu.
- Có thể đúng thế - bà già đáp – nhưng tôi không cho Satsu gặp cô gái này. Tôi không muốn gặp rắc rối mà không có xơ múi gì.
Tôi không hiểu bà ta muốn nói gì, phải đợi đến khi chị đàn bà kia nói rằng tôi có vẻ không có đồng xu nào dính túi, tôi mới hiểu. Và quả chị ta nói đúng như thế. Một xu – có giá trị bằng một phần trăm đồng Yen - thời ấy vẫn còn thông dụng, nhưng một xu không đủ mua ngay cả một ly nước lã. Chưa bao giờ tôi có được một đồng trong tay từ khi tôi đến Kyoto. Khi đi làm những công việc lặt vặt, tôi chỉ nói với chủ các tiệm ghi số tiền thiếu nợ cho nhà kỹ nữ Nitta.
- Nếu bà cần tiền – tôi nói với bà ta – Satsu sẽ trả cho bà.
- Tại sao cô ta phải trả?
- Vì tôi là em của chị ấy.
Bà ta ra dấu bảo tôi đến gần rồi nắm lấy cánh tay tôi, quay quanh tôi và nói với chị ngồi bên kia:
- Chị nhìn con bé này này. Nó như thế này mà là em của con Sukiyo à? Con Sukiyo mà đẹp thế này thì nhà mình sẽ tấp nập khách nhất thành phố. Mày nói láo rồi mày ơi – Nói xong bà ta đẩy tôi lui ra.
Phải nói là tôi rất hốt hoảng, nhưng tôi nghĩ mình phải mạnh dạn mới được, tôi đã đến đây rồi, không thể bỏ cuộc chỉ vì lý do người đàn bà này không tin tôi. Cho nên tôi xấn tới, cúi chào bà ta lại và nói:
- Thưa bà, nếu tôi nói láo, tôi thật có lỗi với bà. Nhưng tôi không nói láo, Sukiyo là chị của tôi, xin bà làm ơn nói với chị ấy là có Chiyo đang ở đây, thế nào chị ấy cũng trả công cho bà.
Câu nói của tôi đã có hiệu nghiệm, vì bà già quay qua phía chị kia:
- Chị vào nói giúp cho tôi với, đêm nay chị rảnh. Vả lại cái cổ tôi khó chịu quá. Tôi ngồi đây canh chừng con bé này.
Chị đàn bà đứng dậy đi vào trong nhà. Tôi nghe tiếng chân chị bước lên cầu thang rồi một lát sau chị đi xuống. Chị ta nói:
- Sukiyo đang có khách. Khi nào xong việc, sẽ có người báo cho chị ta xuống.
Bà già bảo tôi đến ngồi trong bóng tối xa cửa để không ai trông thấy. Tôi không biết thời gian trôi qua bao lâu, tôi hết sức lo sợ có người trong nhà kỹ nữ phát hiện ra việc tôi vắng mặt. Tôi có lý do để ra ngoài, mặc dù lý do nào cũng đủ để làm cho Mẹ tức giận, nhưng tôi không được ở ngoài lâu. Cuối cùng người đàn ông đi ra, tay đang xỉa răng. Bà già đứng dậy, cúi chào, cám ơn ông ta đã đến. Và rồi tôi được nghe giọng nói vui vẻ nhất mà từ hồi đến Kyoto tôi mới được nghe lại:
- Bà gọi tôi à, thưa bà?
Chính là giọng nói của Satsu.
Tôi vùng đứng dậy, chạy đến chỗ chị đứng gần nơi ngưỡng cửa. Da chị xanh tái, ngả màu xám – nhưng có lẽ vì chị mặc cái kimono màu vàng và đỏ lòe lọet. Môi chị tô lọai son màu nhạt giống như lọai Mẹ xài, chị buộc thắt lưng ở phía trước giống như những người phụ nữ tôi thấy khi trên đường tới đây. Tôi cảm thấy hân hoan khi thấy chị, lòng quá sung sướng đến nỗi tôi nhào đến ôm chầm lấy chị. Và Satsu thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc, rồi đưa tay che lấy miệng.
- Bà chủ sẽ bất bình tôi đấy nhé – bà già nói.
- Đợi tôi một lát – Satsu nói với bà rồi đi vào trong nhà, lát sau chị trở ra, ấn vào tay bà mấy đồng xu, như muốn nói với bà rằng chị xin phép dẫn tôi vào cái phòng trống ở dưới.
- Nếu cô nghe tôi ho – bà già nói - tức là bà chủ đến. Bây giờ thì đi nhanh lên.
Tôi đi theo Satsu vào hành lang tối lờ mờ của nhà thổ Tatsuyo. Ánh đèn trong nhà màu đỏ quạch, có mùi như mùi mồ hôi. Bên dưới cầu thang có một cánh cửa lùa đã trật ra ngoài đường khe, Satsu kéo mạnh mới mở cửa ra được và phải khó khăn mới đóng lại được. Chúng tôi đang ở trong một căn phòng nhỏ trải thảm rơm, phòng chỉ có một cửa sổ có màn che. Ánh sáng từ bên ngoài lọt vào chỉ đủ cho tôi thấy thân hình của Satsu mà không thấy rõ mặt chị.
- Ôi Chiyo, - chị thốt lên rồi đưa tay cào lên mặt. Hay tôi nghĩ chị cào mặt cũng nên vì tôi không thấy rõ. Phải mất một lát tôi mới biết chị khóc, cho nên tôi không làm sao giữ cho nước mắt khỏi trào ra được.
- Em xin lỗi chị, Satsu - tôi nói - lỗi này do em.
Nhưng nói gì thì nói, chúng tôi cũng nhào tới ôm chầm lấy nhau trong bóng tối. Tôi thấy chị gầy đi. Chị vuốt tóc tôi y như xưa kia mẹ tôi vuốt khiến cho nước mắt càng tuôn ra như suối trên mặt tôi.
- Đừng ồn, Chiyo - chị khẽ nói - Mặt chị áp sát vào mặt tôi, khi nói, chị phả ra hơi thở có mùi hăng hăng - nếu bà chủ biết có em đến đây, chị sẽ bị ăn đòn. Tại sao lâu như thế này em mới đến?
- Ôi Satsu, em xin lỗi! Em biết chị có đến nhà kỹ nữ.
- Đã mấy tháng rồi.
- Con đàn bà chị nhắn là một quái vật. Nó để thật lâu mới nói cho em biết chị ở đâu.
- Chị phải chạy trốn thôi, Chiyo à, chị không thể ở đây lâu được nữa.
- Em sẽ đi với chị!
- Chị giấu tờ lịch tàu chạy dưới thảm rơm ở trên lầu, chị đã ăn cắp đủ tiền rồi, để trả cho bà Kishino. Bà ta bị đánh mỗi khi có ai chạy trốn. Bà ta sẽ để cho chị đi nếu chị trả tiền cho bà ta…
- Bà Kishino là ai thế?
- Là mụ già ngồi ở cửa trước. Bà ta sắp đi rồi. Chị không biết ai sẽ thay chân bà ta. Chị không thể đợi lâu hơn nữa! Chỗ này quá khủng khiếp! Chiyo, đừng để đến nỗi phải đến một chỗ như thế này! Thôi bây giờ em nên về đi, bà chủ sắp đến rồi.
- Khoan đã, khi nào chúng ta chạy trốn?
- Đợi chị trong góc ấy, đừng làm ồn. Chị phải đi lên lầu đã.
Tôi làm theo lời chị. Trong lúc chị ở trên lầu, tôi nghe bà già trước cửa chào một người đàn ông, rồi có tiếng chân bước lên cầu thang nghe thình thịch. Lát sau có tiếng chân vội vã đi xuống rồi cửa mở ra. Tôi sợ hãi, nhưng người mở cửa là Satsu, trông chị xanh xao. Chị nói:
- Thứ ba ta đi. Chúng ta sẽ trốn đi vào khuya thứ ba, còn năm ngày nữa. Có người đàn ông đến tìm chị..
- Đợi một chút Satsu, chúng ta gặp nhau ở đâu? Vào giờ nào?
- Chị không biết. Lúc một giờ sáng. Chị không biết ở đâu.
Tôi đề nghị gặp nhau ở gần nhà hát Minamiza, nhưng chị cho rằng ở đấy dễ bị người ta trông thấy. Chúng tôi đồng ý gặp nhau tại một chỗ bên kia sông, đối diện với nhà hát.
- Bây giờ chị phải đi - chị Satsu nói.
- Chị Satsu này, nhỡ em không đi được thì sao? Hay là nhỡ chúng ta không gặp được nhau thì sao?
- Ráng đến đấy, Chiyo, chị chỉ có một dịp may mà thôi! Chị sẽ đợi em cho đến lúc không đợi được nữa. Bây giờ em về đi, trước khi bà chủ về nhà. Nếu bà ta bắt gặp em ở đây, chị sẽ không bao giờ trốn đi được.
Tôi muốn nói với chị rất nhiều chuyện, nhưng chị đã kéo tôi ra hành lang và đóng cửa lại. Tôi muốn đứng lại nhìn chị đi lên lầu, nhưng bà già ngoài cửa nắm cánh tay tôi lôi tôi ra ngoài đường tối .
Tôi chạy một mạch từ Miyagawa về nhà,và tôi mừng khi thấy nhà cửa yên lặng như khi tôi ra đi. Tôi lẻn vào quỳ trong ánh sáng lờ mờ của hành lang trước, lấy tay áo lau mồ hôi ở trán, ở cổ, và cố lấy lại hơi thở bình thường. Tôi ngồi yên, lòng mừng rỡ vì không ai biết tôi mới đi đâu về. Nhưng bỗng tôi nhìn vào cửa phòng của gia nhân, thấy cửa hé mở có thể chuồi cánh tay qua lọt, tôi cảm thấy lạnh người. Không ai để cửa như thế bao giờ. Ngoại trừ vào những lúc trời nóng, người ta mới hé cửa ra như thế. Khi tôi nhìn vào trong, tôi nghe có tiếng xột xọat. Tôi hy vọng đấy là con chuột, vì nếu không phải chuột thì là Hatsumono với ông bạn trai của cô ta ở trong đó. Bỗng tôi ước gì tôi đừng đi đến Miyagawa, tôi ước gì nếu được đi ngược lại thời gian để tôi có thể cản lại được ước muốn đến đó của mình. Tôi đứng dậy và nhẹ bước đi trên hành lang đất, lòng bồi hồi lo sợ, cuống họng khô khốc như đất khô. Khi đến cửa phòng của tôi tớ, tôi nhìn vào qua khe hở. Tôi không thấy rõ ở bên trong. Vì thời tiết ẩm ướt nên chị Yoko đốt lò than sớm hơn, lò than để trên nền nhà, bây giờ chỉ còn đỏ một ít, và trong ánh sáng lờ mờ do lò than chiếu ra, tôi thấy có cái gì nho nhỏ, trắng bạc đang cọ quậy. Khi thấy thế suýtt nữa tôi đã thét lên vì tôi nghĩ đấy là con chuột, cái đầu nó nhúc nhích như nó đang gậm vào vật gì đó. Tôi còn kinh hoàng khi nghe có tiếng phát ra như tiếng nó đang cắn, tiếng kêu lắc cắc rì rầm. Hình như nó đang đứng trên vật gì đó mà cắn, tôi không thể nhận ra vật đó là cái gì. Chìa ra phía tôi, có hai bó gì mà tôi nghĩ chắc là hai bó vải cuộn tròn lại, tôi liền nghĩ con chuột đang cắn ở giữa hai cuộn vải, cắn đến đâu vải văng sang hai bên đến đấy. Chắc nó cắn vải của chị Yoko để trong phòng chứ gì. Tôi định đóng cửa lại vì sợ con chuột sẽ chạy ra phía tôi để ra hành lang thì bỗng tôi nghe có tiếng đàn bà rên. Rồi bỗng từ phía bên kia chỗ con chuột đang cắn, tôi thấy cái đầu của Hatsumono ngẩng lên, nhìn về phía tôi. Tôi vội thụt đầu lui khỏi cửa. Vật mà tôi nghĩ là hai cuốn vải, là hai chân của cô ta. Và vật tôi tưởng là con chuột không phải là chuột. Đấy là bàn tay của ông bồ cô ta thò ra ngoài tay áo.
- Cái gì thế? – Tôi nghe giọng của ông ta cất lên – Có người ở ngoài ấy à?
- Không có gì hết – Hatsumono đáp nhỏ.
- Có ai ngoài ấy.
- Không, không có ai hết. Em tưởng có nghe cái gì đấy, nhưng không có ai hết.
Tôi nghĩ chắc chắn Hatsumono đã thấy tôi. Nhưng đương nhiên cô ta không muốn để cho ông bồ cô ta biết. Tôi vội về chỗ quỳ xuống, cảm thấy hoảng sợ như vừa bị xe điện tông vào người. Tôi nghe tiếng nói, tiếng trong phòng tôi tớ, chốc chốc vẳng ra, rồi im lặng hẳn. Cuối cùng, khi Hatsumono và ông bồ cô bước ra hành lang, ông ta nhìn tôi và nói:
- Con này ở đây kia mà. Khi anh đến không có nó.
- Ồ đừng để ý đến nó. Đêm nay nó quá tệ, không được phép ra khỏi nhà mà nó vẫn ra. Em sẽ trị tội nó cho nó biết.
- Thế là có người rình chúng ta rồi. Tại sao em nói láo với anh?
- Anh Koichi, sao tối nay anh lại có vẻ lo sợ đến thế?
- Thấy nó mà em cứ tỉnh bơ như thế à? Chắc em biết nó ở đây nhìn ta cả buổi.
Ông bồ của Hatsumono bước ra hành lang trước, dừng lại nhìn tôi một lát rồi mới bước ra khỏi cửa. Tôi ngồi yên cúi mặt nhìn xuống nền nhà, nhưng tôi cảm thấy mặt nóng ran. Hatsumono bước qua tôi đến giúp ông ta mang giày vào. Tôi nghe cô ta nói với ông bằng một giọng van lơn cầu khẩn mà tôi chưa từng nghe bao giờ.
- Koichi, xin anh bình tĩnh. Em không biết đêm nay có gì làm cho anh lo sợ! Ngày mai đến lại…
- Anh không muốn gặp em ngày mai.
- Em không thích anh bắt em chờ lâu. Em sẽ đến gặp anh bất cứ nơi nào anh hẹn, ngay cả dưới gầm cầu.
- Anh không có nơi nào để hẹn gặp em được. Vợ anh canh chừng anh rất gắt.
- Vậy thì đến đây lại. Chúng ta có phòng của tôi tớ đấy.
- Phải, nếu cô muốn chúng ta bị dòm vào và bị rình rập! Thôi, Hatsumono, để tôi đi. Tôi muốn về nhà.
- Xin đừng giận em, anh Koichi. Em không biết tại sao anh quyết định như thế. Anh trở lại nhé, hứa đi, ngày khác cũng được.
- Ngày khác tôi cũng không đến đâu. Tôi nói rồi.
Tôi nghe tiếng cửa mở ra rồi đóng lại, một lát sau, Hatsumono vào lại hành lang trước, đứng nhìn vu vơ xuống nền nhà. Cuối cùng cô ta quay nhìn tôi, lấy tay lau cặp mắt ươn ướt rồi nói với tôi:
- Này Chiyo, mày đã đi thăm con chị xấu xí của mày phải không?
- Dạ, thưa cô Hatsumono – tôi đáp.
- Rồi mày về đây để rình tao! – Hatsumono nói thật lớn khiến cho một chị giúp việc lớn tuổi tỉnh dậy, chị ta chống tay nhổm dậy nhìn chúng tôi. Hatsumono nạt chị - Ngủ lại đi, con mẹ già ngốc – Chị giúp việc lắc đầu nằm xuống lại.
- Thưa cô Hatsumono, tôi sẽ làm bất cứ điều gì cô muốn, tôi không muốn phải bị rắc rối với Mẹ.
- Dĩ nhiên mày phải làm bất cứ điều gì tao muốn, chuyện này khỏi bàn! Mà mày đang gặp chuyện rắc rối rồi.
- Tôi phải đem đàn đến chỗ cô kia mà.
- Mày đi hơn một giờ. Mày đi tìm con chị mày, và bọn mày vạch kế hoạch để chạy trốn. Bộ mày tưởng tao ngốc à? Rồi mày về đây rình tao.
- Xin cô tha lỗi – tôi nói – Tôi tưởng không phải cô ở trong phòng. Tôi tưởng đấy là…
Tôi muốn nói tôi tưởng đấy là con chuột, nhưng tôi nghĩ chắc cô ta không tin tôi.
Cô ta nhìn tôi một hồi rồi đi lên lầu, về phòng. Khi xuống lại, cô ta cầm cái gì trong tay.
- Mày muốn chạy trốn với chị mày phải không? – cô ta nói – làm thế là hay đấy. Mày ra khỏi nhà này sớm chừng nào tốt cho tao chừng đó. Có người cho tao là không có lòng từ tâm, nhưng sự thật không đúng như thế. Nghĩ đến chuyện mày và con bò cái mập ú ấy chạy đi tìm đất sống, bơ vơ ngoài đời, tao cảm thấy thương xót. Nhưng mày đi ra khỏi đây càng sớm càng tốt cho tao. Hãy đứng lên.
Tôi đứng lên nhưng lòng tôi sợ cô ta làm gì hại đến tôi. Cô ta nắm vật gì đấy trong tay và cô ta muốn nhét nó vào dưới khăn quàng lưng của tôi, nhưng khi cô ta bước tới, tôi liền thụt lui.
- Này xem – cô ta nói và mở tay ra – số tiền nhiều chưa bao giờ tôi thấy, nhưng tôi không biết bao nhiêu – Tao lấy tiền ở phòng tao để cho mày. Mày phải cám ơn tao. Cứ lấy đi, mày cứ đi khỏi Kyoto, đừng bao giờ để tao gặp lại là mày trả ơn tao rồi.
Bà Dì đã dặn tôi đừng tin Hatsumono, ngay cả khi cô ta đề nghị giúp tôi. Nhưng khi tôi nhớ ra cảnh cô ta ghét tôi như thế nào, tôi bèn nghĩ cô ta làm thế này không phải để giúp tôi mà cô ta muốn tống khứ tôi đi khỏi đây. Khi cô ta nhét nắm bạc vào dưới thắt lưng tôi, tôi đứng yên cho cô ta nhét. Tôi cảm thấy mấy móng tay láng bóng của cô ta xước trên da thịt tôi. Cô ta quay người tôi lai để buộc dây thắt lưng cho thật chặt để tiền khỏi rớt ra, rồi cô ta bắt đầu làm công việc kỳ lạ nhất. Cô ta quay tôi lại để nhìn vào mặt tôi rồi đưa tay đánh vào một bên đầu tôi, nhìn tôi với ánh mắt nghiêm khắc. Tôi chợt nghĩ hành động của Hatsumono là âm mưu gì đây chứ không tốt lành gì, như con rắn độc rình mồi để cắn. Rồi trong lúc tôi đang bàng hòang, cô ta nghiến răng, chụp lấy đầu tóc của tôi, giận dữ day đầu tôi, kéo tôi quỳ xuống đất và miệng la lên. Tôi không biết có chuyện gì xảy ra, nhưng liền sau đó, cô ta kéo tôi đứng lên, lôi tôi lên cầu thang, vừa đi vừa day đầu tôi. Cô ta giận dữ hét vào mặt tôi, còn tôi, tôi cũng la hét thật lớn đến nỗi nếu người đi ngoài đường nghe được cũng không có gì ngạc nhiên.
Khi chúng tôi lên đến đầu cầu thang, Hatsumono đấm cửa phòng Mẹ và gọi lớn. Mẹ liền mở cửa ra ngay, vừa buộc dây thắt lưng vừa tức tối nhìn chúng tôi:
- Hai đứa bay làm cái gì thế? – Bà ta nói.
- Đồ nữ trang của tôi! Hatsumono đáp – Chính cái con ngốc này! – Nói xong cô ta đánh tôi. Tôi chỉ còn việc cuộn người lại thành một đống trên nền nhà khóc lóc van xin cô ta dừng tay cho đến khi Mẹ đến can cô ta ra. Ngay lúc ấy bà Dì đến với Bà trên đầu cầu thang.
- Ôi Mẹ, - Hatsumono nói – tối nay khi trên đường về nhà, con thấy ai như con Chiyo đứng nói chuyện với một người đàn ông ở cuối đường hẻm. Con cứ nghĩ không có chuyện gì xảy ra, vì con biết kẻ ấy không thể là nó được. Nó không được phép ra khỏi nhà kỹ nữ. Nhưng khi con lên phòng của con, con thấy cái hộp đồ đựng nữ trang của con bị xáo tung. Con liền chạy xuống vừa lúc thấy Chiyo đưa cái gì cho gã đàn ông kia. Nó định chạy trốn, nhưng con bắt nó lại được.
Mẹ im lặng một hồi lâu nhìn tôi.
- Gã đàn ông bỏ đi – Hatsumono nói tiếp – Nhưng con chắc Chiyo đã bán đồ nữ trang của con để dồn tiền. Nó có ý định bỏ trốn khỏi nơi đây, Mẹ à, con nghĩ thế, mặc dù chúng ta đối xử với nó rất tốt.
- Được rồi , Hatsumono - Mẹ nói - thế là đủ rồi. Cô và bà Dì vào phòng cô tìm xem mất thứ gì.
Khi chỉ còn một mình tôi với Mẹ, tôi nói nhỏ:
- Thưa Mẹ, không phải thế đâu…Hatsumono ở trong phòng gia nhân với bồ của cô ấy. Cô ta tức tối vì con biết chuyện này nên cô ta bịa đặt ra. Con không lấy gì của cô ây hết!
Mẹ không nói, tôi cứ ngỡ bà không nghe tôi nói. Một lát sau Hatsumono đi ra, nói rằng cô ta mất một cái ghim hoa dùng cài trước dải thắt lưng.
- Mất cái ghim hoa bằng bích ngọc, Mẹ à – cô ta nói rồi khóc lóc như một diễn viên – Nó đã bán cái ghim ngọc ấy cho gã đàn ông khủng khiếp kia! Đúng là cái ghim hoa của con! Ai ngờ nó nỡ ăn trộm cái ấy của con!
- Soát nó xem! – Mẹ nói.
Lúc tôi còn nhỏ chừng sáu tuổi, có lần tôi xem con nhện giăng lưới trong góc nhà. Trước khi con nhện giăng xong lưới, một con muỗi bay qua lưới và mắc vào bẫy.Con nhện thoạt tiên không để ý mà vẫn tiếp tục công việc giăng lưới của mình. Khi làm xong nó mới bò đến trên những ngón chân nhọn của mình và cắn con muỗi cho đến chết. Khi tôi ngồi trên nền nhà lát ván nhìn Hatsumono đưa mấy ngón tay thanh tú vào người tôi, tôi nghĩ tôi đã mắc vào cái mạng nhện do cô ta giăng ra. Tôi không biết phải giải thích làm sao về số tiền nằm trong giải thắt lưng của tôi. Khi cô ta lấy tiền ra, Mẹ cầm lấy và đếm.
- Mày quả là đồ điên mớii đem cái ghim hoa ngọc bích bán với số tiền ít ỏi như thế này- Mẹ nói với tôi - Thật quá ít! Mày phải trả lại với giá nhiều hơn thế này.
Bà nhét số tiền vào trong áo ngủ rồi nói với Hatsumono:
- Đêm nay cô đưa bạn trai vào nhà kỹ nữ.
Nghe thế Hatsumono giật mình kinh ngạc, nhưng cô ta vẫn ngoan cố hỏi lại:
- Cái gì đã làm cho Mẹ có cái ý nghĩ ấy, thưa Mẹ?
Im lặng một lúc rồi Mẹ nói với bà Dì:
- Nắm hai tay nó lại.
Bà Dì nắm hai tay Hatsumono và đứng sau lưng cô ta để giữ chặt cô ta lại, trong lúc Mẹ mở rộng tà áo của Hatsumono ngang đùi chân. Tôi nghĩ thế nào Hatsumono cũng kháng cự lại nhưng không, cô ta chỉ đứng yên. Cô ta nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng trong khi Mẹ vén dung lụa Koshimaki (lụa quấn quanh mông) lên đẩy banh hai đầu gối cô ta rộng ra. Rồi Mẹ đưa tay thọc vào giữa hai chân cô ta, và khi bà lôi bàn tay ra, mấy ngón tay bà ướt, bà thoa ngón tay cái và các ngón kia vào với nhau một lúc, rồi bà ngửi. Sau đó bà giang tay đánh vào mặt Hatsumono, một đường ươn ướt dính trên mặt cô ta.

Đã hiệu đính

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 08:39:30Chuột lắc>
CHƯƠNG 8

Hatsumono không phải là người duy nhất tức tôi thôi, ngày hôm sau Mẹ ra lệnh cắt khẩu phần cá khô của tất cả gia nhân trong nhà vì tội để cho bồ của Hatsumono vào nhà. Tôi nghĩ nếu tôi không ăn cắp phần ăn của gia nhân, thì chắc họ không tức tôi, riêng phần Bí Ngô, khi cô ta nghe Mẹ ra lệnh như thế, cô ta khóc ròng. Thú thật mà nói, tôi không khó chịu khi thấy mọi người đều tức giận tôi, cũng như không đau khổ khi phải mang thêm nợ cái ghim hoa mà tôi không bao giờ thấy. Cuộc sống khó khăn chỉ làm cho quyết tâm chạy trốn của tôi mạnh thêm.
Tôi nghĩ Mẹ không tin tôi lấy cái ghim cài ở dây lưng nhưng bà sẽ mua cái ghim khác tính vào tiền nợ của tôi để làm vừa lòng Hatsumono. Thế nhưng bà biết tôi ra ngoài là có phép, vì chị Yoko đã xác nhận điều này. Khi tôi nghe Mẹ ra lệnh khóa cửa trước để tôi khỏi ra ngoài, tôi cảm thấy cuộc đời tôi thế là hỏng bét. Làm sao tôi thoát ra khỏi nhà cho được? Chìa khóa do bà Dì giữ và ba ta đeo nơi cổ khi đi ngủ. Còn việc ngồi bên cửa ban đêm giao cho Bí Ngô, khi nào Hatsumono về nhà thì Bí Ngô đánh thức bà Dì dậy để mở cửa.
Hằng đêm khi đi nằm ngủ tôi suy nghĩ kế hoạch nhưng mãi cho đến thứ hai, tức là còn một đêm nữa đến ngày hẹn với Satsu để cùng nhau chạy trốn, tôi vẫn chưa nghĩ ra cách nào để thoát ra khỏi nhà. Tôi quá nản đến nỗi bỏ bê công việc trong nhà, các gia nhân la mắng tôi chùi sàn nhà không sạch, quét hành lang không xong. Cả buổi chiều thứ hai, tôi giả vờ ngồi nhổ cỏ ở ngoài sân, thực ra tôi chỉ ngồi để suy nghĩ tìm cách trốn thóat. Rồi một gia nhân sai tôi chùi sàn gỗ trong phòng gia nhân, nơi Yoko đang ngồi bên chiếc bàn điện thọai, và nhờ thế mà có chuyện đặc sắc xảy ra. Tôi vắt cái giẻ nhúng nước lên sàn nhà, nhưng thay vì nước chảy ra cửa như tôi tưởng, nước lại chảy ngược vào phòng.
- Chị Yoko nhìn kìa - tôi nói - nước chảy ngược lên đồi.
Dĩ nhiên nước không chảy lên đồi. Tôi tưởng nó như thế thôi. Tôi quá kinh ngạc khi nghĩ thế, cho nên tôi vắt thêm nước và nhìn nó chảy vào trong góc. Tôi không biết tại sao nó xảy ra như thế, nhưng tôi chắc nó sẽ chảy ra thang lầu, lên tầng hai, rồi theo cái thang bắt lên cửa trập, lên mái nhà bên cạnh cái thùng hứng nước mưa.
Mái nhà! Tôi bàng hoàng khi nghĩ đến mái nhà, tôi quên hết mọi việc chung quanh; và khi điện thọai reo, tôi hoảng hốt la lên. Tôi không biết khi lên mái nhà tôi sẽ làm gì, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ tìm được cách leo xuống đường và đến chỗ hẹn với chị Satsu.
Tối hôm sau, khi đi ngủ, tôi giả vờ ngáp lấy ngáp để và thả mình lên nệm như bao gạo. Mọi người chắc nghĩ tôi sẽ ngủ khì trong nháy mắt, nhưng thật ra tôi phải cố hết sức để khỏi ngủ. Tôi nằm im hình dung khuôn mặt của bố tôi khi thấy tôi hiện ra nơi ngưỡng cửa, và cả mẹ tôi nữa. Nhưng hễ nghĩ đến mẹ là nước mắt tôi chảy ra.
Cuối cùng các gia nhân nằm xuống nệm bên cạnh tôi còn Bí Ngô ngồi vào vị trí đợi Hatsumono. Tôi nghe tiếng Bà Ngoại tụng kinh, và cánh cửa hé mở tôi tình cờ thấy bà đang thay áo ngủ. Tôi kinh hoàng khi thấy thân hình bà vì chỗ nào cũng nhão nhọet, xệ xuống. Tôi không biết bà đang nghĩ gì, và phân vân không biết bà ta có bước vào đời như tôi không. Nếu có thì chẳng có gì khác biệt giữa bà và một bé gái cứng đầu như tôi. Con người khi gặp nhiều gian khổ thường thay đổi tính tình. Tôi nhớ rất rõ có một lần ở Yoroido, một đứa con trai xô tôi nhào vào một bụi gai ở bên hồ. Trong lúc vạch lối để chui ra, tôi đã nổi điên cắn vào thân cây. Nếu một vài phút đau khổ đã làm tôi tức tối đến thế thì thử hỏi sống nhiều năm sẽ ra sao?
Nếu tôi không quyết định chạy trốn, tôi sẽ sống trong cảnh kinh hòang khổ đau đang chờ tôi ở Gion. Chắc chắn sự khổ đau sẽ đẩy số phận tôi giống như số phận của Bà Ngoại. Nhưng tôi hy vọng khi nghĩ đến ngày mai tôi có thể quên hết những kỷ niệm ở Gion. Tôi đã biết cách leo lên mái nhà, cũng như tôi sẽ biết cách leo xuống đường. Bây giờ tôi chỉ cầu may trong bóng tối. Ngay cả khi tôi tụt xuống được mà không bị thương tích gì, thì việc đó chỉ là việc bắt đầu đi vào chốn gian nan. Tuy nhiên cuộc sống ở Gion phải vật lộn bao nhiêu thì cuộc sống sau khi chạy trốn cũng là cảnh vật lộn gay gắt bấy nhiêu. Thế giới này quá độc ác, làm sao tôi vượt qua được? Tôi nằm trên nệm lòng lo buồn một hồi, tự hỏi không biết tôi có đủ nghị lực để làm việc này không, nhưng Satsu đang đợi tôi, chị ấy biết cách hành động.
Một lát sau Bà Ngọai ngủ yên trong phòng. Các gia nhân đã ngáy khò. Tôi giả vờ trở mình sang một bên để xem Bí Ngô đang làm gì, cô ta quỳ trên nền nhà không xa chỗ tôi nằm là mấy. Tôi không thấy rõ mặt cô ta nhưng tôi có cảm giác là cô ta đang ngủ gục. Tôi đã có ý định đợi cho cô ta ngủ thật say, nhưng tôi không muốn mất thêm thì giờ nữa, vả lại Hatsumono có thể trở về bất cứ khi nào. Tôi nhẹ nhàng ngồi dậy, bụng nghĩ nếu ai thấy tôi ngồi dậy, tôi sẽ đến nhà cầu rồi trở về ngay. Nhưng không ai để ý đến tôi cả. Cái áo dài tôi sẽ mặc vào sáng mai được xếp để trên nền nhà gần đấy. Tôi lấy cái áo rồi đi đến chân cầu thang.
Đến phòng của Mẹ, tôi đứng lại lắng nghe một lát. Bà thường không ngáy khi ngủ cho nên tôi không biết chắc bà đã ngủ chưa, ngoại trừ bà nói chuyện điện thọai hay gây ra tiếng động gì đấy. Thực ra phòng bà không hòan toàn im lặng vì con chó Taku của bà thở khò khè khi ngủ. Nghe càng lâu tôi càng thấy tiếng thở khò khè của nó như giống như tiếng ai đang gọi tên tôi “Chiyo! Chiyo!” Khi tôi chưa biết chắc Mẹ đã ngủ, tôi không muốn lẻn ra khỏi nhà, cho nên tôi định đẩy cửa nhìn vào thử. Nếu bà thức, tôi sẽ nói tôi nghe có người gọi tôi. Giống Bà Ngoại, Mẹ ngủ để đèn sáng trên bàn cho nên khi tôi mở cửa cái rắc và nhìn vào, tôi thấy hai gót chân nứt nẻ của bà thò ra ngoài chăn. Con Taku nằm giữa hai chân bà, cái ngực nhô lên xẹp xuống, phát ra tiếng khò khè như tiếng gọi tên tôi.
Tôi đóng cửa lại rồi đứng thay áo ở trong hành lang có cầu thang. Vật duy nhất mà tôi quên là đôi giày - tôi quyết phải mang đôi giày theo khi chạy trốn, điều này cho anh biết tôi đã thay đổi ra sao từ mùa hè. Nếu Bí Ngô không quỳ ở hành lang trước, chắc tôi đã đi lấy đôi giày gỗ dùng để đi trên hành lang đất. Thay vào đó tôi đã lấy đôi dép dùng đi vào nhà vệ sinh trên lầu. Đối dép có chất lượng rất tồi . chỉ có một quai da nằm trên để giữ chân cho chặt. Điều bất tiện là đôi dép quá to, nhưng tôi chẳng còn đôi nào khác mà chọn.
Sau khi đóng sập cửa lại một cách lặng lẽ, tôi nhét cái áo ngủ dưới thùng hứng nước mưa, rồi cố đứng dạng chân trên con lươn mái nhà, tôi cảm thấy sợ, tiếng người nói ở dưới đường có vẻ như từ một nơi rất xa. Nhưng tôi không có thời gian để lo sợ vì bất cứ lúc nào cũng có thể có một chị giúp việc hay thậm chí bà Dì hay Mẹ, nhảy qua cửa trập để tìm tôi. Tôi nắm đôi dép trên tay để chúng khỏi rớt rồi đi theo trên con lươn, việc đi trên mái nhà thật khó khăn chứ không phải như tôi tưởng. Ngói trên con lươn rất dày, những lớp ngói gối lên nhau nên đi rất tiện nhưng tôi phải đi rất chậm vì ngói va vào nhau kêu lắc cắc. Tiếng kêu vang xa tận các mái nhà bên cạnh.
Tôi phải đi mất nhiều phút mới tới được phía bên kia của mái nhà kỹ nữ của chúng tôi. Mái nhà bên cạnh thấp hơn mái nhà của chúng tôi một bậc. Tôi leo xuống mái nhà ấy, dừng lại một lát để tìm lối xuống đường; mặc dù trăng sáng, tôi chỉ thấy bóng tối vây quanh. Mái nhà quá cao và quá xuôi, tôi không thể tính đến chuyện tuột xuống. Tôi không biết mái nhà bên cạnh có dễ tuột xuống hay không, tôi bắt đầu hoảng sợ. Nhưng tôi cứ tiếp tục đi từ mái nhà này sang mái nhà khác cho đến lúc tôi trông thấy một cái sân lộ thiên. Nếu tôi đi đến được ống xối, tôi có thể tuột theo ống xối để đến một chỗ mà tôi nghĩ là nhà tắm. Từ trên mái nhà tắm, tôi có thể trèo xuống sân một cách dễ dàng.
Tôi không muốn rơi xuống giữa sân nhà người ta một chút nào hết. Tôi biết chắc đây là sân của một nhà kỹ nữ, tất cả nhà trong khu này đều là nhà dạy kỹ nữ. Có khả năng trước cửa nhà này có người ngồi đợi nàng geisha đi về, và họ sẽ thộp cổ tôi vì tôi là kẻ trốn chạy. Và nếu cổng nhà họ cũng khóa như cổng nhà tôi thì sao? Nếu có lối thoát nào khác thì không đời nào tôi chọn đường xuống sân nhà này.
Tôi ngồi trên con lươn một hồi lâu để nghe động tịnh gì dưới sân hay không. Tôi chỉ nghe tiếng cười nói ngoài đường mà thôi. Tôi không biết khi tuột xuống sân, tôi sẽ gặp cái gì trong đấy, nhưng tôi nghĩ tôi phải đi nhanh cho rồi kẻo người trong nhà tôi phát hiện ra việc tôi bỏ trốn. Nếu tôi lo sợ cho hành động của tôi có hại đến tương lai của tôi, thì chắc tôi còn đủ thì giờ men theo con lươn đi trở lui, về lại nhà kỹ nữ của tôi vẫn còn kịp. Nhưng tôi không có ý định quay lui. Khi ấy tôi là đứa bé quyết chọn con đường phiêu lưu mạo hiểm.
Tôi bước chân xuống mái nhà, người đung đưa trên mái nghiêng, hai tay níu vào con lươn, tôi hỏang sợ nhận ra rằng mái nhà qúa nghiêng chứ không như tôi tưởng. Tôi cố bước lui thật nhanh, nhưng không được. Hai tay tôi bận nắm hai chiếc dép nên không bấu chặt vào con lươn được, chỉ dùng khuỷu tay để kẹp nó thôi. Tôi thấy tôi đang lâm nguy vì tôi không thể leo trở lại lên con lươn được nữa. Đúng lúc ấy tôi thấy mình trượt dài trên mái nhà, không làm sao trì lại được. Mới đầu tôi còn trượt chầm chậm, và tôi hy vọng xuống tận dưới mái nhà tôi sẽ gặp chái nhà uốn cong lên chặn tôi lại . Nhưng khi trượt chân, một tấm ngói bị chân tôi hất ra, chạy trên mái nhà lanh canh rồi rớt xuống sân vỡ toang phát ra tiếng kêu to. Rồi một chiếc dép văng ra khỏi tay tôi, lăn qua mặt tôi. Tôi nghe chiếc dép rơi xuống sân đánh bạch một tiếng, và rồi tôi nghe nhiều tiếng đáng sợ hơn, tiếng chân người chạy trên hành lang ra sân!
Nhiều lần tôi đã nhìn những con ruồi đậu trên tường hay trên trần nhà như thể chúng đậu trên mặt đất bằng phẳng. Tôi không biết chúng đậu được là vì chân chúng có hấp khẩu hay là vì chúng nhẹ, nhưng khi tôi nghe tiếng chân người ở dưới, là tôi nghĩ đến việc bám chặt vào mái ngói như con ruồi và tôi phải làm ngay tức khắc. Nếu không, chỉ trong vài giây nữa thôi là tôi sẽ nằm một đống dưới sân liền. Tôi cố bấu mấy ngón chân, ấn mạnh hai cùi tay và đầu gối vào mái ngói. Trong lúc cố gắn làm thế, tôi đã phạm một sai lầm đáng tiếc là thả nốt chiếc dép kia cho rơi xuống để ấn mạnh hai lòng bàn tay trên mái nhà. Lòng bàn tay tôi chắc ướt mèm mồ hôi, cho nên khi tôi ấn chúng xuống, tôi lại càng trượt nhanh hơn nữa. Tôi thấy mình trượt vo vo, rồi thình lình mái nhà không còn dưới bụng tôi nữa.
Bỗng tôi không nghe gì nữa mà cảm thấy tất cả đều im lặng đến rợn người. Khi tôi rơi xuống, tôi còn kịp mường tượng trong óc cảnh một phụ nữ bước ra ngòai sân, nhìn xuống viên ngói vỡ nát rồi nhìn lên mái nhà, đúng lúc thấy tôi từ trên trời rơi xuống ngay đầu bà, nhưng dĩ nhiên những điều tôi nghĩ đã không xảy ra. Khi rơi xuống, tôi quay tròn rồi rơi nghiêng xuống đất. Tôi có cảm giác là tôi đưa tay lên che đầu, nhưng tôi rơi xuống quá mạnh đến nỗi choáng váng đầu óc. Tôi không biết là người đàn bà đang đứng ở đâu, thậm chí không biết bà ta có đứng ở trong sân khi tôi rơi xuống không. Nhưng chắc bà ta đã thấy tôi từ trên mái nhà lăn xuống, vì khi tôi nằm choáng váng trên mặt đất, tôi nghe bà ta nói:
- Trời ơi! Trời mưa con gái!
Ôi, tôi muốn vùng dậy chạy trốn nhưng không được. Một bên người tôi đau nhừ. Dần dần tôi biết có hai người đàn bà đang quỳ bên tôi. Một người cứ nói lui nói tới cái gì đấy, nhưng tôi không hiểu được. Họ nói chuyện với nhau rồi bê tôi khỏi mặt sân rêu và để tôi ngồi trên hành lang gỗ. Tôi chỉ nhớ một phần câu chuyện của họ:
- Thưa bà, tôi đã nói rồi, nó rơi từ trên mái nhà xuống.
- Tại sao nó mang dép dùng trong nhà vệ sinh theo? Có phải mày lên đó để đi vệ sinh không bé con? Mày có nghe tao nói không? Thật là nguy hiểm. May mà mày không tan xác khi rơi xuống như thế này.
- Chắc nó có nghe, nói đi bé con!
Nhưng tôi không nói được gì hết, tôi chỉ nghĩ đến việc bây giờ chắc Satsu đang đợi tôi ở chỗ đợi đối diện với nhà hát Minamiza, và chắc không bao giờ tôi có mặt ở đấy được.
Người ta bảo người giúp việc đi gõ cửa từng nhà để hỏi nhà nào nuôi tôi, tôi khi tôi nằm một đống, bàng hoàng ngơ ngác. Tôi khóc ấm ức trong lòng, ôm một cánh tay, vì nó đau kinh khủng, rồi bỗng thình lình tôi bị lôi đứng lên và bị tát vào mặt:
- Đồ điên! Con điên! – tiếng nói đay nghiến và tôi thấy bà Dì đứng trước mặt tôi, vẻ tức giận, rồi bà kéo tôi ra khỏi nhà kỹ nữ, đi về nhà chúng tôi. Khi đến nhà, bà đẩy tôi đứng tựa vào cửa gỗ rồi tát tôi nữa.
- Mày biết mày đã làm gì không? – bà ta hỏi nhưng tôi không đáp – Mày nghĩ gì thế? Đấy mày tự hủy hoại mày đời mày vì những chuyện ngu ngốc! Đồ điên! Con điên!
Tôi không ngờ bà Dì lại giận dữ đến như thế. Bà ta lôi tôi vào sân, đẩy tôi nằm sấp trên hành lang ván. Tôi khóc ròng vì tôi biết việc gì sắp xảy ra rồi. Nhưng lân này thay vì đánh tôi lấy lệ như lần trước, bà Dì xối nước lên áo tôi để cây roi đánh vào đau hơn, rồi bà ra sức đánh tôi thật mạnh đến nỗi tôi muốn hụt hơi. Khi đánh xong, bà ném roi xuống đất và lật ngửa tôi ra, bà nói lớn:
- Bây giờ thì mày không bao giờ thành geisha được nữa. Tao đã dặn mày đừng làm như thế này rồi! Và bây giờ thì tao hay người nào cũng không thể làm gì giúp mày được.
Tôi không nghe những lời bà nói thêm nữa, vì những tiếng la thảm thiết của Bí Ngô đã vang lên ở đàng kia hành lang. Bà Ngoại đang đánh Bí Ngô vì tội không canh chừng tôi.
Thì ra tôi bị gãy cánh tay khi rơi xuống trong sân nhà ấy. Sáng hôm sau, bác sĩ đến đưa tôi đi bệnh viện gần đấy. Khi tôi được đưa về nhà với cánh tay băng bột thì trời đã xế chiều. Tôi đang đau nhức, nhưng Mẹ gọi tôi đến phòng bà ngay. Bà nhìn tôi một hồi lâu, một tay vỗ vỗ con chó Taku, một tay cầm ống vố trên miệng. Cuối cùng bà ta hỏi:
- Mày có biết tao đã trả cho mày bao nhiêu không?
- Không, thưa bà – tôi đáp – Nhưng chắc bà sẽ nói bà đã trả nhiều hơn giá trị của tôi.
Tôi biết trả lời như thế này là hỗn. Tôi nghĩ thế nào Mẹ cũng tát tôi vì tội nói hỗn, nhưng tôi đã lo quá dáng. Tôi cảm thấy đời tôi sẽ không bao giờ gặp được điều may mắn. Mẹ nghiến răng ho vài tiếng, nhưng đấy là kiểu cười lạ đời của bà.
- Mày nói đúng! – bà nói – Đáng ra mày chỉ đáng giá nửa yen thôi. Đấy, tao cứ tưởng mày thông minh, nhưng té ra mày ngu đần không biết cái gì hết.
Bà ta hút thuốc một lát rồi tiếp:
- Tao đã trả 75 yen để mua mày. Rồi mày làm hỏng cái áo kimono, ăn cắp ghim hoa, rồi bây giờ làm gãy tay khiến tao phải chi tiền thuốc men bác sĩ, số tiền này tao sẽ cộng vào số nợ của mày. Cộng thêm tiền ăn tiền học nữa, và sáng nay tao nghe bà chủ ở đàng nhà Tatsuyo ở quận Miyagawa-cho, cho biết con chị mày đã chạy trốn. Bà ấy chưa trả hết nợ cho tao. Tao cộng thêm số tiền này vào nợ của mày, nhưng tao nghĩ việc này có nghĩa lý gì không, mày đã biết tiền nợ của mày quá nhiều không làm sao trả được.
Thế là chị Satsu đã trốn được. Cả ngày tôi cứ phân vân thắc mắc, và bây giờ tôi đã có câu trả lời. Tôi muốn mừng cho chị ấy, nhưng không thể được.
- Tao cứ nghĩ mày sẽ trả lại cho tao sau mười lăm năm làm geisha – bà ta nói tiếp – nếu mày thành công được trong nghề này. Nhưng ai dám đầu tư đồng nào nữa vào một đứa chạy trốn?
Tôi không biết trả lời ra sao, cho nên tôi nói với Mẹ là tôi rất ân hận. Nãy giờ bà nói với tôi rất tử tế, nhưng khi nghe tôi xin lỗi, bà ta liền để ống vố lên bàn, bạnh hàm xai ra - tôi nghĩ vì tức giận – khiến cho tôi có cảm giác bà giống con thú sắp vồ mồi.
- Mày mà ân hận à? Tao là đồ điên mới đầu tư quá nhiều vào mày ngay từ ngày đầu như thế. Có lẽ mày là con giúp việc đắt giá nhất ở Gion! Nếu tao bán xương mày được để lấy lại vốn thì tao róc xương mày ra ngay bây giờ!
Nói xong bà bảo tôi ra khỏi phòng rồi bỏ ống vố vào miệng lại.
Khi ra khỏi phòng bà ta, môi tôi run lên, nhưng tôi cố giữ bình tĩnh, vì Hatsumono đang đứng trên chỗ đầu cầu thang. Ông Bekku đang đợi để buộc giải thắt lưng cho cô ta tôi khi bà Dì đang đứng trước mặt Hatsumono, cầm cái khăn nhỏ trong tay, nhìn vào mặt cô ta.
- Rồi, bị vấy dơ hết rồi – bà Dì nói – Tôi không làm thêm được nữa. Cô cứ khóc cho đủ rồi trang điểm lại từ đầu.
Tôi hiểu ngay lý do tại sao Hatsumono khóc. Anh bồ của cô ta không gặp cô ta, bây giờ cô bị cấm không được đem ông ta đến đây. Tôi biết chuyện này từ sáng hôm kia và tôi biết chắc Hatsumono sẽ đổ lỗi hết chuyện này lên đầu tôi. Tôi cố đi nhanh xuống thang lầu trước khi cô ta kịp thấy tôi, nhưng quá trễ rồi. Cô ta giật cái khăn trên tay bà Dì, ra dấu gọi tôi đến. Tôi không muốn đến, nhưng làm sao không nghe lời cô ta cho được!
- Cô không có việc gì với Chiyo hết – bà Dì nói với cô ta – Vào phòng mà trang điểm đi.
Hatsumono không đáp, mà kéo tôi vào phòng cô ta rồi đóng cửa lại. Cô ta nói với tôi:
- Tao đã bỏ công nhiều ngày để tìm cách làm hại đời mày, nhưng bây giờ mày chạy trốn, thế là mày đã làm việc ấy thay tao! Tao vui mừng khôn xiết! Tao cứ đợi đến lúc tao làm cho được việc ấy.
Thật là quá thô bạo đối với tôi, nhưng tôi vẫn cúi chào Hatsumono rồi đẩy cửa đi ra mà không đáp lại. Cô ta có thể đánh tôi vì hành động này, nhưng cô ta chỉ đi theo tôi ra ngoài và nói tiếp:
- Nếu mày thắc mắc không biết số phận con ở suốt đời sẽ ra sao, thì mày nên hỏi bà Dì cho biết! Mày và bà ấy bây giờ giống như hai đầu mút của một sợi dây. Bà ấy bị gãy xương hông, còn mày gãy xương tay. Có lẽ có ngày trông mày như một người đàn ông, y như bà Dì vậy!
- Thôi, thôi Hatsumono – Bà Dì nói – Hãy tỏ ra có lòng thương xót chúng tôi một chút chứ.
Nhớ lại thời tôi chừng năm sáu tuổi, thời không bao giờ tôi dám nghĩ đến Kyoto, tôi có quen một đứa con trai trong làng tên Noboru. Tôi thấy cậu ấy dễ thương, nhưng cậu ta mở miệng nói cái gì, tất cả bọn trẻ đều không thèm chú ý. Cho nên Noboru thường ngồi bệt xuống đất mà khóc. Những tháng tiếp sau ngày trốn thoát thất bại của tôi, tôi thấy cuộc sống của tôi cũng giống như Noboru vậy, vì chẳng ai trong nhà thèm nói gì với tôi hết ngòai việc ra lệnh cho tôi làm việc. Bà Mẹ thường xem tôi như khói thuốc của bà, vì bà có nhiều việc quan trọng để lo nghĩ. Nhưng bây giờ tất cả gia nhân trong nhà, cả bà đầu bếp và Bà Ngọai, đều làm như thế.
Suốt cả mùa đông lạnh như cắt năm ấy tôi cứ phân vân không biết Satsu ra sao, mẹ và bố tôi ra sao. Đêm nào khi nằm ngủ tôi cũng đau đớn lo âu, tôi cảm thấy lòng trống vắng như thể thế giới này chỉ là một gian phòng khổng lồ vắng bóng người. Để an ủi mình, tôi nhắm mắt tưởng tượng tôi đang đi trên con đường bên chân núi đá ven biển ở Yoroido. Tôi nhớ con đường này rất rõ và tôi hình dung ra trước mắt cảnh tôi đang thong dong về nhà trên con đường ấy như thể tôi và Satsu đã trốn thóat được. Tôi tưởng tượng ra cảnh tôi nắm tay chị Satsu đi về phía ngôi nhà ngà say – nhưng sự thật trước đây chưa bao giờ tôi muốn nắm tay Satsu lần nào- lòng nghĩ đến chuyện chúng tôi sẽ được sống sum họp với bố mẹ thêm một thời gian nữa. Tôi chưa bao giờ dám tưởng tượng ra việc về lại nhà tôi, có lẽ vì tôi sợ sẽ chứng kiến cảnh thực tế xảy ra tại đấy, nhưng dù sao thì việc tưởng tượng đi trên con đường về nhà cũng làm cho tôi an ủi được phần nào. Rồi thỉnh thỏang tôi nghe tiếng ho của một gia nhân nằm gần bên tôi, hay tiếng càu nhàu của Bà Ngọai theo gió thỏang tới, và chính lúc ấy, mùi nước biển ở quê nhà tan biến đi mất, đất lổm chổm trên đường dưới chân tôi hóa thành vải trải nệm, và tôi thấy mình trơ trọi một mình nơi đất khách quê người.
Khi mùa xuân đến, hoa anh đào nở rộ khắp công viên Maruyama, và không ai ở Kyoto muốn nói đến chuyện gì khác hết. Hatsumono bận rộn hơn thường khi lúc ban ngày, vì cô ta đi tham dự các buổi tiệc thưởng hoa. Cứ mỗi buổi chiều thấy cô ta chuẩn bị đi dự tiệc là tôi ghen tị. Tôi đã bắt đầu hết hy vọng về chuyện một đêm thức dậy thì thấy Satsu lẻn vào nhà kỹ nữ của tôi để cứu tôi, hay là hết hy vọng có ngày tôi sẽ được tin tức của gia đình tôi ở Yoroido. Rồi một buổi sáng khi Mẹ và Dì sửa sọan cho Bà Ngọai đi du xuân, tôi xuống thang lầu bỗng một gói hàng để trên nền nhà ở hàng lang phía trước nhà. Đấy là cái hộp dài bằng cánh tay tôi, gói trong giấy dày và buộc bằng gai bện. Tôi nghĩ đây không phải là công việc của tôi, nhưng vì quanh đấy không có ai, nên tôi đến đọc tên và địa chỉ viết thật lớn trên mặt gói hàng. Tên và địa chỉ như thế này:
Sakamoto Chiyo
Tại Nita kayodo
Gion Tominaga-cho
Thành phố Kyoto, quận Kyoto
Tôi qúa kinh ngạc đến nỗi tôi đứng sững một hồi lâu, tay bịt miệng và tôi nghĩ mắt tôi khi ấy chắc trợn tròn như hai cái tách trà. Dưới mấy con tem là địa chỉ của người gởi, người gởi là ông Tanaka. Tôi không biết trong gói có cái gì, nhưng nhìn tên ông Tanaka trên bao, chắc anh cho là quá vô lý, nhưng thật tình khi ấy tôi hy vọng rằng có lẽ ông ta nhận ra việc gởi tôi đến đây là một lỗi lậm và bây giờ ông gởi đến cho tôi cái gì đấy để tôi dùng nó mà mua lại tự do ra khỏi nhà kỹ nữ. Tôi không tưởng tượng được cái gói như thế này lại có thể giúp một cô gái thoát khỏi cảnh nô lệ, tôi gặp cảnh đau buồn nên cứ tưởng tượng ra thế thôi. Nhưng thật tình tôi tin rằng khi cái gói này được mở ra, cuộc đời tôi cũng được đổi thay.
Tôi đang tính xem phải làm gì thì bà Dì trên lầu đi xuống, bà đẩy tôi ra xa cái gói hàng, mặc dù tên tôi ghi trên đó. Tôi muốn mở cái gói ra ngay, nhưng bà sai tôi đi lấy dao để cắt dây thừng và thủng thỉnh tháo dây buộc cái gói ra. Dưới giấy gói là một lớp vải bao quanh được khâu lại bằng chỉ khâu lưới đánh cá. Một chiếc phong bì ghi tên tôi được khâu vào một góc bao. Bà Dì cắt chiếc phong bì ra rồi xé lớp vải bọc để lộ ra một cái hộp gỗ sơn đen. Tôi rất nôn nóng muốn biết có gì trong cái hộp nhưng khi bà Dì và tôi mở nắp hộp ra, tôi bỗng cảm thấy nặng nề khó chịu. Vì trong hộp, nằm giữa lớp vải trắng xếp nếp là những chiếc thẻ bài vị tên người chết mà tôi đã thấy để trên bàn thờ ở ngôi nhà ngà say của chúng tôi. Có hai thẻ, mà trước đây tôi chưa thấy, trông mới hơn những thẻ khác và có pháp danh mới lạ viết trên đó mà tôi không hiểu nghĩa. Tôi lo sợ không biết tại sao ông Tanaka gởi cái thư này đến cho tôi.
Bỗng bà Dì để cái hộp có những chiếc bài vị xếp ngay ngắn trong đó lên nền nhà. Bà lấy bức thư trong phong bì ra đọc. Tôi đứng yên chờ đọi, lòng lo sợ không dám nghĩ đến cái gì hết. Cuối cùng bà Dì thở dài, nắm tay tôi dẫn vào phòng khách. Khi tôi quỳ xuống nơi bàn, hai tay tôi run lên trên hai đùi chân, có lẽ vì tôi cố gắng để giữ trí óc khỏi nghĩ đến những điều khủng khiếp. Có lẽ đây là dấu hiệu hy vọng khi thấy ông Tanaka gởi những tấm bài vị đến cho tôi. Phải chăng gia đình tôi sẽ chuyển đến ở tại Kyoto, và chúng tôi sẽ mua cái bàn thờ mới để sắp các bài vị lên mà thờ? Hay có lẽ Sasu yêu cầu người ta gởi các bài vị này đến cho tôi vì chị ấy sắp trở về? Và rồi tiếng bà Dì cắt đứt dòng suy tưởng của tôi:
- Chiyo, ta đọc cho cháu nghe bức thư do một người đàn ông tên là Tanaka viết – bà nói bằng giọng trầm trầm, chậm rãi. Tôi như muốn hụt hơi khi thấy bà trải tờ giấy trên mặt bàn.
Chiyo thân mến,
Hai mùa đã trôi qua kể từ ngày cô rời khỏi Yoroido và chẳng bao lâu nữa cây cối sẽ đâm chồi nảy lộc, đâm hoa kết trái. Cảnh hoa nở hoa tàn nhắc cho chúng ta biết rồi ra ai trong chúng ta cũng phải chết.
Là người xuất thân trong cảnh mồ côi, kẻ hèn này rất đau xót khi báo cho cô biết một tin rất buồn. Sau tuần sau ngày cô ra đi để sống cuộc đời mới ở Kyoto, nỗi đau đớn của người mẹ đáng kính của cô đã đến chỗ chấm dứt, và chỉ vài tuần sau, người cha đáng kính của cô cũng từ giã cõi đời này. Kẻ hèn này hết sức đau xót trước sự mất mát này của cô và hy vọng cô an tâm vững tin rằng thi hài của song thân cô đều được an táng hẳn hoi tại nghĩa trang làng. Lễ cầu siêu cho hai người đã được tổ chức tại đền Hoko-ji ở Senzuru, thêm vào đó các bà ở Yoroido đã tụng kinh cầu nguyện cho họ. Kẻ hèn này tin chắc cả hai bố mẹ cô được lên cõi cực lạc.
Việc học tập của người geisha mới vào nghề rất gian khổ. Tuy nhiên, kẻ hèn này rất mến mộ những ai chịu đựng gian khổ để trở thành những nhà nghệ sĩ vĩ đại. Cách đây mấy năm tôi có đến thăm Gion, tôi được hân hạnh xem những màn múa xuân và sau đó đi dự tiệc ở phòng trà, cảnh diễn ra còn để trong lòng tôi ấn tượng sâu sắc. Cô Chiyo, tôi cảm thấy rất sung sướng khi thấy cô có được chỗ đứng bình an trong cuộc đời này, và mong sao cô thoát khỏi cảnh khổ đau trong những năm bấp bênh bất định. Kẻ hèn này đã sống khá lâu để chứng kiến được hai thế hệ trẻ con trưởng thành, kinh nghiệm cho thấy rằng hiếm khi loại chim bình thường mà sinh ra được giống thiên nga. Con thiên nga nào ỷ lại sống trong tổ của cha mẹ đều sẽ bị tiêu vong, cho nên kẻ nào có sắc có tài đểu phải khổ công luyện tập mới tìm được con đường vinh quang trên cõi đời này.
Chị cô, Satsu, đã về Yoroido vào cuối mùa thu vừa qua, nhưng cô ấy đã bỏ đi biệt tích với con trai ông Sugi. Ông Sugi rất mong mỏi thấy lại đứa con thân yêu trong lúc ông còn sống, cho nên ông ta yêu cầu cô vui lòng báo cho ông ta biết ngay, nếu cô có tin tức gì về chị cô.
Thân ái chào cô,
Tanaka Ichiro.
Trước khi bà Dì đọc xong bức thư nước mắt đã chảy ra trên mặt tôi đầm đìa như nước phụt ra trên ấm nước sôi. Dĩ nhiên khi nghe tin bố mẹ mất ai mà không đau đớn. Nhưng khi nghĩ đến chuyện cả bố lẫn mẹ đều qua đời để lại tôi một mình, vì khi biết chị tôi cũng đã biến mất…tôi liền cảm thấy mình như chiếc bình vỡ không đứng vững được. Tôi lại còn như bị lạc lõng trong căn phòng này nữa.
Chắc anh cho tôi quá thơ ngây vì tôi cứ mãi hy vọng mẹ tôi vẫn còn sống suốt nhiều tháng trời. Nhưng thực ra tôi không mấy hy vọng. Tôi hy vọng là vì tôi muốn có cái gì đấy để bám vào mà sống. Bà Dì rất tốt với tôi trong khi tôi cố chịu đựng nhiều đau khổ. Bà ta cứ nói mãi với tôi:
- Ráng lên, Chiyo, ráng lên. Sống trong cuộc đời này, chúng ta ai cũng phải cố ráng hết.
Khi tôi đã bình tĩnh có thể nói lại được, tôi yêu cầu bà ta hãy để các bài vị ấy nơi nào tôi không thấy, và nhờ bà cúng bái giúp – vì công việc này sẽ làm cho tôi đau khổ thêm. Nhưng bà từ chối, bà nói rằng quay lưng lại với tổ tiên như thế thật đáng xấu hổ. Bà giúp tôi để các bài vị trên cái kệ gần chân cầu thang lầu, ở đấy tôi có thể cầu nguyện vào mỗi sáng. Bà nói:
- Cháu Chiyo, cháu đừng quên tổ tiên. Họ là những gì còn lại thuộc thời thơ ấu của cháu.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 08:59:21Chuột lắc>
CHƯƠNG 9

Vào dịp lễ sinh nhật thứ 65 của tôi, một người gởi đến cho tôi một bài báo mà bà ta đã tìm thấy ở đâu đó, bài báo có nhan đề “Hai mươi nàng geisha vĩ đại nhất trước đây ở Gion”. Hay có lẽ là ba mươi nàng geisha gì đấy, tôi không nhớ rõ. Nhưng tôi có tên trong danh sách đó với một dòng ngắn viết về tôi, trong đó cho rằng tôi sinh ra ở Kyoto – dĩ nhiên điểm này là sai. Tôi còn xin cam đoan với anh rằng tôi không phải là một người trong số hai mươi geisha vĩ đại nhất nữa, có người sai lầm giữa cái vĩ đại với cái họ nghe nói đến. Nhưng dù sao, nếu ông Tanaka không viết thư báo cho tôi biết bố mẹ tôi đã mất và có lẽ không bao giờ tôi gặp lại chị tôi nữa, thì chắc tôi đã may mắn không trở thành nàng geisha không có gì đáng hãnh diện vì nàng là nàng geisha không được hạnh phúc.
Chắc anh còn nhớ có lần tôi đã nói với anh rằng khi tôi gặp ông Tanaka lần đầu là buổi chiều tuyệt nhất của đời tôi, mà cũng là buổi chiều tệ hại nhất. Có lẽ không cần giải thích tại sao lại là một buổi chiều tệ hại nhất, nhưng chắc anh thắc mắc tại sao tôi có thể nghĩ rằng đã có điều tuyệt vời xảy đến. Quả đúng là cho đến khi ấy, ông Tanaka chỉ mang lại cho đời tôi đau khổ mà thôi, thế nhưng ông ta đã làm thay đổi chân trời của tôi. Chúng ta sống trên đời giống như nước chảy xuống một ngọn đồi, đều chảy theo một hướng cho đến khi chúng ta gặp phải cái gì đấy buộc chúng ta phải rẽ sang một hướng khác. Nếu tôi không gặp ông Tanaka, thì đời tôi chỉ là một dòng nước chảy từ ngôi nhà ngà say cho đến biển. Khi ông ta xô tôi về chỗ xa lạ, ông đã thay đổi tất cả. Nhưng bị đẩy vào thế giới xa lạ không giống hẳn như rời bỏ gia đình của mình. Khi nhận được thư của ông Tanaka, tôi đã sống ở Gion hơn sáu tháng, thế mà trong thời gian ấy, tôi chưa bao giờ từ bỏ lòng tin rằng một ngày nào đó tôi sẽ có cuộc sống ở đâu đó tốt đẹp hơn, với người thân yêu trong gia đình. Tôi chỉ sống ở Gion một nửa, còn nửa kia tôi sống trong các giấc mơ sẽ về lại nhà. Cho nên có thể nói những giấc mơ nhiều khi rất nguy hiểm, chúng như ngọn lửa âm ỉ, và nhiều khi thiêu rụi hoàn toàn chúng ta.
Suốt những ngày còn lại của mùa xuân, và cả mùa hè sau ngày tôi nhận được bức thư, tôi thấy mình như đứa trẻ lạc trong cái hồ bị sương mù bao phủ. Ngày nối ngày trôi qua trong một cảnh vô vị. Tôi chỉ nhớ cái được cái mất, nỗi khổ và lòng lo sợ triền miên ngự trị trong tôi. Khi mùa đông tới, tôi chỉ biết ngồi trong phòng gia nhân để nhìn tuyết rơi lặng lẽ ngòai sân. Tôi tưởng tượng ra cảnh bố tôi ho nơi chiếc bàn đơn độc trong ngôi nhà lạnh lẽo của chúng tôi, và mẹ tôi quá gầy trên chiếc nệm đến nỗi thân hình của bà không làm cho chiếc nệm xẹp xuống được tí nào. Tôi đi ra ngòai sân để giải sầu, nhưng sao khó quá.
Rồi mùa xuân lại về. Lúc ấy là tháng tư, hoa anh đào lại nở, chuyện lạ xảy đến đúng một năm sau ngày tôi nhận được thư của ông Tanaka. Tôi đã được 12 tuổi, đã bắt đầu trổ mã, mặc dù Bí Ngô vẫn còn vẻ bé bỏng. Người tôi phát triển theo chiều cao nhiều hơn. Thân hình vẫn còn gầy và thẳng đuột như cái que thêm một hai năm nữa, nhưng mặt tôi đã mất vẻ con nít. Cằm và gò má đã rõ nét trên khuôn mặt nở nang và cặp mắt có hình trái hạnh đào. Trước đây, mỗi khi ra đường , đàn ông không nhìn tôi, nhưng bây giờ mỗi khi tôi đi qua họ, họ đều nhìn tôi.
Không hiểu sao mà vào một buổi sáng sớm tháng tư, tôi thức dậy sau một giấc mơ kỳ lạ nhất, trong giấc mơ tôi đã gặp một người đàn ông có râu. Râu của ông ta rất rậm như thể ông ta muốn che dấu nét mặt của ông ta đi. Ông ta đứng trước mặt tôi, nói cái gì đấy mà tôi không nhớ được, rồi thình lình ông ta kéo cái màn giấy trên cửa sổ bên cạnh ông, làm phát ra một tiếng cạch lớn. Tôi giật mình thức dậy, nghĩ rằng tôi đã nghe có tiếng động trong phòng. Những người giúp việc thở dài trong giấc ngủ. Bí Ngô nằm yên lặng, cái mặt tròn vạnh lún xuống trên gối. Tôi thấy mọi vật không có gì thay đổi nhưng tôi có một cảm giác khác lạ. Tôi cảm thấy như thể tôi chìm vào một thế giới đã thay đổi phần nào so với thế giới mà tôi đã thấy vào đêm trước – nhất là khi nhìn ra ngòai qua chính cái cửa cổ đã được mở ra trong giấc mộng.
Tôi không lý giải được ý nghĩa của hiện tượng này. Sáng hôm ấy tôi cứ nghĩ mãi về giấc mơ đến nỗi đầu óc tôi kêu ù ù như con ong bị nhốt trong cái thẩu. Và rồi chuyện ấy hiện ra trong trí óc tôi, chuyện mà tôi không bao giờ nghĩ đến kể từ khi tôi đặt chân tới Kyoto.
Sau khi chia tay chị tôi vài hôm, vào một buổi chiều, người ta sai tôi đi giặt giẻ lau nhà. Bỗng một con bướm bay đến đậu vào tay tôi, tôi hất nó đi, nghĩ rằng nó sẽ bay di, nhưng thay vì bay đi, nó lại văng ra như hòn đá rồi rớt xuống sân, nằm trên mặt đất. Tôi không biết nó đã chết khi từ trên rơi xuống hay là tôi đã giết nó, nhưng hình ảnh con vật bé nhỏ nằm chết làm tôi xúc động. Tôi ngắm hình hoa văn xinh đẹp trên hai cánh của nó rồi tôi gói nó vào miếng giẻ và giấu nó dưới móng nhà.
Từ đó tôi không nghĩ đến con bướm này nữa, nhưng một hôm tôi nhớ đến nó, tôi đến quỳ xuống nhìn dưới móng nhà tìm nó. Rất nhiều chuyện trong đời tôi đã thay đổi, ngay cả thái độ tôi nhìn đời, nhưng khi tôi mở miếng giẻ gói con bướm ra, nó vẫn còn hình hài một con bướm rất đẹp y như cái ngày mà tôi chôn nó xuống mộ. Giá mà đời tôi y như những ngày tôi mới đến Kyoto.
Khi nghĩ thế, đầu óc tôi quay cuồng như cơn lốc. Tôi nghĩ rằng con bướm và tôi như hai thái cực. Cuộc đời tôi biến hóa như dòng suối , thay đổi hoài; nhưng con bướm trông không thay đổi gì hết. Trong lúc suy nghĩ, tôi đưa tay đụng vào thân hình mượt mà của nó, lập tức nó biến thành một nhúm tro mà không gây ra một tiếng động, thậm chí không thấy được cảnh nó sụm xuống thành một đống tro. Tôi quá sửng sốt đến độ thốt ra một tiếng kêu ngạc nhiên. Trí óc tôi quay cuồng, tôi cảm thấy mình đang ở trung tâm của cơn bão. Tôi thả tay cho miếng vải liệm bé xíu và nhúm tro rơi xuống đất. Bây giờ tôi đã hiểu điều gì làm cho tôi hoang mang cả buổi sáng. Mùi xú uế trong không khí đã hết, quá khứ đã qua rồi, bố mẹ tôi đã chết, tôi không thể làm gì được để thay đổi tình thế này. Nhưng tôi cứ tưởng tôi không đi tiếp được. Tôi không biết chuyện này đối với anh có ý nghĩa gì không, nhưng tôi thấy tôi đã quay một vòng nhìn sang hướng khác, hướng về phía tương lai. Và bây giờ vấn đề đặt ra cho tôi là cái tương lai ấy sẽ như thế nào.
Ngay khi câu hỏi ấy hiện ra trong óc tôi, tôi biết chắc chắn một điều là nội trong ngày hôm ấy thôi, thế nào tôi cũng thấy dấu hiệu lạ. Vì thế mà trong giấc mơ tôi thấy người đàn ông râu rậm mở cửa sổ. Ông ta như nói với tôi rằng “Hãy đợi điều xảy ra cho cô. Vì cái điều mà cô thấy sẽ là tương lai của cô.”
Tôi đang loay hoay như chưa kịp suy nghĩ điều gì thêm thì có tiếng bà Dì gọi tôi:
- Này Chiyo, lại đây.
Tôi đi trên hành lang đất như người mộng du. Khi ấy chắc tôi sẽ không ngạc nhiên nếu bà Dì nói với tôi như thế này “Cháu muốn biết về tương lại của cháu như thế nào phải không? Được rồi, hãy lắng tai nghe cho kỹ…” Nhưng thay vì nói thế, bà đưa cho tôi hai vật trang sức trên tóc gói trong một miếng lụa vuông màu trắng, bà nói:
- Đem các thứ này đến cho Hatsumono. Có trời mà biết đêm qua có chuyện gì xảy đến cho cô ta. Cô ta về nhà với đồ trang sức của người khác. Chắc cô ta say quá vì uống nhiều sake hơn mọi khi. Đến trường hỏi cô ta và của ai thì trả lại cho họ.
Khi tôi lấy các món nữ trang, bà Dì đưa thêm cho tôi một mẩu giấy ghi những việc lặt vặt khác phải làm. Bà bảo tôi làm xong việc là phải về nhà ngay.
Mang đồ trang sức của người khác về nhà có lẽ không có gì kỳ cục, nhưng thực ra mang những thứ ấy cũng giống như mang đồ lót của người khác về nhà vậy. Giới geisha không gội đầu hàng ngày, chắc anh biết, vì họ sợ hư mái tóc. Cho nên vật trang sức trên tóc rất kiêng kỵ, ngay cả bà Dì mà cũng không muốn đụng đến những thứ ấy. Cho nên bà phải lấy một miếng lụa vuông để lót tay. Bà gói các thứ ấy rồi đưa cho tôi, cho nên nó giống như cái gói đựng xác con bướm đêm mà tôi cầm cách đấy mấy phút. Dĩ nhiên điềm báo hiệu nào rõ ràng quá cũng làm cho ta sửng sốt. Tôi đứng yên nhìn gói đồ trên tay bà Dì mãi cho đến lúc bà nói:
- Trời ơi! Cầm lấy mà đi đi chứ!
Sau đó khi trên đường đến trường, tôi mở cái gói ra xem một lần nữa. Một vật là cái lược sơn mài đen có hình như hình mặt trời lặn, chung quanh mặt trời là những đóa hoa bằng vàng, vật kia là một thanh gỗ vàng, hai đầu có hai hột ngọc được đính vào một quả cầu nhỏ màu hổ phách.
Tôi đứng đợi ngoài cổng trường cho đến khi tiếng chuông reo lên báo hiệu giờ tan học. Các cô mặc áo màu xanh trắng ào ra khỏi lớp. Hatsumono thấy tôi trước khi tôi kịp nhìn thấy cô ta, cô cùng đi với một geisha khác, cả hai tiến về phía tôi. Chắc anh thắc mắc tại sao cô ta còn đến trường, cô ta là một vũ công thành thạo và biết hết các môn cần thiết mà một geisha phải biết. Nhưng ngay cả những geisha có tiếng tăm cũng vẫn tiếp tục học những bài học nâng cao về bộ môn múa để áp dụng trong nghề, thậm chí có những geisha năm sáu chục tuổi vẫn đến trường để học hỏi thêm.
- Này chị, nhìn kìa – Hatsumono nói với bạn – tôi tưởng đấy là cây sậy. Cây sậy cao lêu đêu! - Đấy là kiểu cô ta chọc quê tôi, vì tôi cao hơn cô ta đến một lóng tay.
- Bà Dì sai tôi đến đây, thưa cô – tôi nói - để hỏi đêm qua cô đã cầm nhầm những thứ này của ai.
Nụ cười tắt trên môi Hatsumono, cô ta giật cái gói trên tay tôi và mở ra xem.
- Trời đất! Đồ này không phải của tôi! Cô lấy các thứ này ở đâu?
- Ồ chị Hatsumono – cô geisha kia nói - chị không nhớ à? Trong lúc chị và Kanako giỡn cợt với ông Chánh án Uwazumi, hai người đã tháo nữ trang trên tóc ra. Chắc Kanako đã mang đồ nữ trang của chị, còn chị thì mang đồ của cô ta về nhà.
- Tởm quá - Hatsumono nói - chị có biết Kanako gội đầu khi nào không? Vả lại nhà của cô ấy gần nhà chị, nhờ chị đem về cho cô ta giúp tôi, được không? Nhờ chị nói với cô ta rằng tôi sẽ đến lấy các món đồ của tôi và cô ta chớ có xài các thứ ấy.
Cô geisha kia lấy các thứ trang sức và bỏ đi.
Hatsumono nói với tôi:
- Này Chiyo, khoan hãy đi đã. Có chuyện này tôi muốn nói với cô, hãy nhìn cô gái đàng kia kìa, cô gái đang đi qua cổng đấy. Tên cô ta là Ichikimi.
Tôi nhìn Ichikimi, nhưng Hatsumono có vẻ như không có gì thêm để nói về cô ta, tôi bèn nói:
- Nhưng tôi không biết cô ấy.
- Dĩ nhiên là không, cô ta không có gì đặc biệt đáng chú ý, chỉ là đồ ngu ngốc vụng về như con què. Nhưng cô sẽ rất ngạc nhiên khi biết cô ta sắp thành geisha còn cô thì không bao giờ.
Tôi thấy Hatsumono không thể tìm ra được điều gì để nói với tôi độc ác hơn điều cô đã nói. Từ một năm rưỡi nay tôi đã bị giao công việc nặng nhọc như một con ở. Tôi cảm thấy đời tôi đang đi theo một con đường vô định. Tôi không muốn thành geisha, nhưng tôi cũng không muốn làm tôi tớ mãi. Tôi đứng trong vườn của trường học một lúc lâu, nhìn các cô gái cùng tuổi với tôi chuyện trò vui vẻ với nhau khi họ đi qua trước mặt tôi. Chắc họ trở về nhà ăn trưa, nhưng đối với tôi, họ đi từ một công việc quan trọng này đến một việc quan trọng khác trong một cuộc sống có mục đích, còn tôi thì trái lại , tôi phải quay về với công việc lau chùi các viên đá trong sân, làm những công việc quá hèn hạ. Khi trong vườn hết người, tôi lo sợ nghĩ rằng đây là cái điềm báo trước mà tôi chờ đợi – nó báo cho biết các cô gái kia ở Gion sẽ tiến lên và để tôi lại đàng sau. Cái ý nghĩ này khiến tôi khiếp sợ, làm cho tôi không thể ở lại trong vườn một mình được nữa. Tôi đi vào đại lộ Shijo, rồi đi qua con sông Kamo. Những tấm bích chương khổng lồ nơi nhà hát Minamiza, quảng cáo buổi trình diễn vở kịch của Kabuki vào chiều ấy có tên Shirabaku. Đây là vở kịch nổi tiếng nhất của chúng tôi mặc dù lúc ấy tôi không biết gì về Kabuki hết. Từng đoàn người bước lên thềm vào rạp hát. Ở đây, tôi thấy cuộc sống sôi động diễn ra quanh tôi. Tôi vội vã đi ra khỏi đại lộ, rẽ vào một con đường khác chạy dọc bờ sông Shirakawa, nhưng ngay ở đây, các ông và các nàng geisha cũng đi tấp nập, cuộc đời của họ có mục đích để hướng đến. Để khỏi đau đớn khi nhìn thấy cảnh tượng này, tôi đi ra phía bờ suối Shirakawa, nhưng độc ác thay, ngay cả nước trong dòng suối cũng đang chảy đến một nơi nào đấy có mục đích – nó chảy về phía sông Kamo rồi từ đó đổ ra vịnh Osaka và vào Nội hải . Hình như ở đâu cũng có điều mách bảo có điều gì đó đang chờ đợi tôi. Tôi đứng tựa lưng vào bức tường đá nhỏ bên dòng suối mà khóc. Tôi là hòn đảo bị bỏ rơi ở giữa đại dương, không quá khứ cũng không tương lai. Tôi cứ nghĩ ở đây không có bóng người, bỗng tôi nghe có tiếng đàn ông cất lên:
- Trời ơi ai lại đau khổ khi cuộc đời tươi đẹp như thế này.
Thường thường đàn ông đi trên phố Gion không có ai thèm để ý đến tôi, nhất là khi tôi đang khóc như một kẻ điên khùng như thế này. Nếu ông ta thấy, chắc không đời nào ông ta nói với tôi, trừ phi ra lệnh cho tôi tránh đường cho ông ta đi, hay đại lọai như thế. Thế nhưng ông ta đã nói với tôi, mà còn nói một cách rất tử tế. Ông ta nói với tôi như người thân quen – có lẽ như nói với con gái của một người bạn tốt. Bỗng dưng tôi thấy trước mắt tôi như có một thế giới khác hiện ra, khác với thế giới mà tôi đang sống, một thế giới mà nơi đó tôi được đối xử công bằng, thậm chí với lòng tốt nữa - một thế giới mà người cha không đem bán đứa con gái đi. Tiếng ồn ào huyên náo của những người đang sống có mục đích bỗng nhiên dừng lại, hay ít ra tôi không quan tâm đến. Và khi tôi ngước mắt nhìn người đàn ông đã nói với tôi, tôi có cảm giác sự khổ đau của tôi biến đâu mất.
Tôi rất sung sướng miêu tả ông ta cho anh nghe, nhưng tôi chỉ nói một cách đơn giản thôi - bằng cách nói cho anh nghe về một cái cây mọc trên bờ núi đá ven biển ở Yoroido. Thân cây này trơn láng vì gió, vì mưa, và khi tôi lên bốn hay năm gì đấy, một hôm tôi thấy trên thân cây có hình thù giống khuôn mặt một người đàn ông. Khuôn mặt hơi nghiêng về một bên nhìn tôi đăm chiêu. Khuôn mặt nhìn tôi như người đàn ông tự tin về vị trí của ông ta trên cõi đời này, như cái cây rất tự tin về vị trí của nó vậy. Đường nét trên khuôn mặt ấy có vẻ trầm tư, tôi mường tượng ra đấy là khuôn mặt của Đức Phật.
Người đàn ông nói với tôi trên đường hôm ấy có khuôn mặt rộng và trầm tĩnh như thế, và có điểm đặc biệt hơn nữa là nét mặt ông ta rất hài hòa, thanh khiết. Tôi có cảm giác ông ta sẽ đứng đấy cho đến khi tôi hết đau khổ. Ông ta vào khoảng 45 tuổi, mái tóc muối tiêu chải ngược ra sau. Nhưng tôi không thể nhìn ông ta lâu được, ông ta có vẻ quá sang trọng đối với tôi, khiến cho tôi đỏ mặt, quay đi nhìn chỗ khác.
Hai thanh niên đứng một bên ông, bên kia là một cô geisha. Tôi nghe nàng geisha bình tĩnh nói với ông:
- Này, cô ta chỉ là con ở thôi! Có lẽ khi đi làm công việc, cô ta vấp ngón chân vào đá. Em nghĩ sẽ có người nào đấy đến giúp cô ta.
- Cô Izuko, - ông ta nói - ước gì cô có lòng nhân từ.
- Buổi trình diễn sắp bắt đầu rồi, ông Chủ tịch à. Ông không nên phí thời giờ…
Trong lúc đi làm các công việc lặt vặt ở Gion, tôi thường nghe đàn ông được gọi bằng chức phận như Trưởng phòng, hay thỉnh thoảng Phó giám đốc, nhưng hiếm có ai được gọi là ông Chủ tịch. Thường thì những ai được gọi là Chủ tịch đều có đầu hói, ra đường đi nghênh ngang và có cả đám nhân viên lau chau đi theo sau. Người đàn ông trước mặt tôi rất khác xa với các ông Chủ tịch thường thấy, ngay cả một cô gái ít kinh nghiệm về cuộc đời như tôi, tôi cũng còn thấy thế.
- Chắc cô nói nếu tôi dừng lại đây để giúp cô ta là phí thì giờ vô ích chứ gì? – ông Chủ tịch nói.
- Ồ phải – cô geisha nói – ta đâu còn thì giờ nhiều để nói chuyện tầm phào. Chúng ta đã trễ xem màn đầu rồi.
- Này cô Izuko, chắc chắn có lúc cô đã lâm vào tình trạng như cô bé này. Cô đừng quả quyết cuộc đời của một geisha lúc nào cũng đơn giản. Tôi nghĩ giới các cô…
- Em mà lâm vào tình cảnh như cô gái này à? Ông Chủ tịch, bộ ông muốn nói em phải phơi mặt ra ngoài đường sao?
Nghe thế, ông Chủ tịch quay qua hai thanh niên đi bên cạnh yêu cầu họ đưa Izuko đến nhà hát trước. Họ chào ông rồi bước đi, còn ông nán lại với tôi. Ông ta nhìn tôi một hồi lâu nhưng tôi không dám nhìn lại ông. Cuối cùng tôi nói:
- Thưa ngài, cô ấy nói thế đúng đấy. Tôi chỉ là một con điên. Xin ngài đừng vì tôi mà đến trễ.
- Cô hãy đứng yên một lát xem – ông ta nói.
Tôi không dám không vâng lời ông ta, nhưng tôi không biết ông muốn gì. Thì ra ông chỉ lấy khăn trong túi áo lau để những hạt cát dính trên mặt tôi. Đứng gần bên ông, tôi ngửi thấy mùi phấn thơm trên làn da láng lẩy của ông, việc này khiến tôi nhớ lại ngày người cháu trai của Hoàng đế Taisho đến thăm làng đánh cá của chúng tôi. Ông ta chỉ có việc bước ra khỏi xe hơi, đi đến con vịnh nhỏ, rồi đi lui, gật đầu chào đám đông quỳ trước mặt ông ta, trên người mặc bộ âu phục, - bộ âu phục tôi thấy lần đầu – vì tôi đã nhìn vào ông, mặc dù không được phép. Tôi còn nhớ bộ râu mép của ông được chăm sóc rất kỹ, không giống tóc tai của dân trong làng, bờm xờm như cỏ dại mọc bên đường. Trước đó chưa có một nhân vật quan trọng nào đến làng chúng tôi hết. Tôi nghĩ lúc đó mọi người đều cảm thấy xúc động trước vẻ cao quý của người cháu của Hoàng đế.
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những việc mà chúng ta không hiểu, vì chúng ta chưa bao giờ thấy những việc giống như thế. Việc ông Chủ tịch tốt với tôi cũng là một chuyện như vậy. Sau khi lau cát và nước mắt trên mặt tôi, ông nâng cằm tôi lên và nói:
- Cô em xinh đẹp như thế này…chẳng có gì trên đời này làm cho cô phải xấu hổ hết. Thế mà cô sợ không dám nhìn vào tôi. Hẳn người ta đối xử với cô độc ác quá, hay là cuộc đời quá độc ác.
- Tôi không biết thưa ngài – tôi đáp, nhưng dĩ nhiên ông ta nói quá đúng.
- Chúng ta không mấy ai gặp được người tốt trên đời này như lòng mình mong muốn – ông ta nói rồi nheo mắt một lát như thể nói tôi hãy suy nghĩ về điều ông ta vừa nói.
Tôi chỉ muốn nhìn lâu vào làn da mặt mịn màng của ông ta một lần nữa, với bộ lông mày rậm, hàng lông mi mướt như nhung trên cặp mắt dịu dàng, nhưng giữa hai chúng tôi có một cái hố ngăn cách về xã hội thật lớn. Cuối cùng tôi nhìn lên, nhưng tôi thẹn thùng quay mặt đi chỗ khác rất nhanh, đến nỗi chắc ông không thể nào biết được tôi đã nhìn vào mắt ông. Nhưng làm sao tôi có thể miêu tả được những cái tôi đã thấy lúc ấy? Ông ta nhìn tôi như người nhạc sĩ nhìn nhạc cụ của mình trước khi bắt đầu chơi nhạc, với vẻ thành thạo và tự chủ. Tôi cảm thấy ông ta hiểu tôi như thể tôi là một phần thể của ông. Tôi ước ao được làm nhạc cụ cho ông biết bao!
Bỗng ông thọc tay vào túi lấy ra cái gì đấy.
- Cô em thích mận ngọt hay dâu? – ông ta hỏi .
- Ngài nói gì? Ngài muốn nói…ăn à?
- Hồi nãy tôi có gặp người bán hàng rong, bán xi rô đá bào. Hồi còn nhỏ tôi rất thích ăn thứ ấy, nhưng khi đã trưởng thành rồi mới được ăn. Cô hãy cầm lấy một đồng tiền để mua một ly mà ăn. Cô lấy luôn cái khăn của tôi để lau mặt sau khi ăn xong – ông ta nói xong, bỏ đồng tiền vào giữa cái khăn, gói lại thành một gói, và đưa cho tôi.
Từ lúc gặp ông Chủ tịch, tôi quên chuyện tôi đang chờ đợi dấu hiệu báo cho biết tương lai của tôi. Nhưng khi tôi thấy cái gói trong tay, nó giống gói vải liệm con bướm, tôi nghĩ cuối cùng tôi đã gặp dấu hiệu báo trước tương lai. Tôi cầm lấy cái gói, cúi người chào cám ơn ông ta, cố nói cho ông ta biết tôi rất biết ơn ông – nhưng tôi nghĩ những lời tôi nói ra không bộc lộ hết đầy đủ tình cảm biết ơn của tôi lúc ấy. Tôi không cám ơn vì ông ta cho tôi đồng tiền, cũng không cám ơn việc ông ta đứng lại để giúp tôi, mà tôi cám ơn là vì...ờ, vì việc mà tôi không biết bây giờ tôi có thể giải thích được không. Tôi nghĩ vì ông đã chỉ cho tôi thấy rằng bên cạnh sự độc ác vẫn còn cái gì đấy ta có thể tìm được trong thết gian này.
Tôi nhìn ông đi mà lòng đau như cắt – nhưng là một nỗi đau dễ chịu , nếu có loại đau như thế. Tôi muốn nói rằng nếu anh được sống một buổi tối thú vị hơn bất cứ buổi tối nào khác, thì chắc thế nào anh cũng thấy buồn khi buổi tối thú vị ấy chấm dứt. Trong cuộc gặp gỡ ngăn ngủi với ông Chủ tịch, tôi đã thay đổi từ một cô gái lạc lõng trước cuộc đời trống rỗng thành một cô gái có cuộc sống có mục đích. Điều này nghe có vẻ khó tin nhưng với tôi nó là sự thật.
Khi ông Chủ tịch đã đi khỏi tầm mắt của tôi, tôi chạy ra phố tìm người bán đá bào rong. Hôm ấy trời không nóng, và tôi cũng không thích đá bào, nhưng tôi muốn ăn để cuộc gặp gỡ của tôi với ông Chủ tịch được lâu bền. Vì thế tôi mua một ly giống hình nón có đá bào và xirô dâu và đến ngồi trên mặt tường để ăn. Hương vị xirô thơm tho, dịu ngọt, tôi nghĩ thế vì lòng tôi rất hưng phấn. Nếu tôi là nàng geisha Izuko, tôi nghĩ, có lẽ ông Chủ tịch đã ở với tôi. Tôi không nghĩ đến việc ganh tị với người geisha. Bây giờ tôi đã hiểu điều mà tôi không nhận thấy, tôi phải là geisha. Bây giờ tôi thấy điều này như là con đường dẫn đến một cái gì đấy. Nếu tôi nghĩ đúng về tuổi của ông Chủ tịch, thì có lẽ ông ta không quá 45. Nhiều geisha thành công rực rỡ vào tuổi 20, cô geisha Izuko có lẽ không quá 25. Tôi còn bé, gần 12…nhưng trong 12 năm nữa, tôi sẽ 24 tuổi. Và khi ấy ông Chủ tịch được bao nhiêu? Chắc lúc ấy ông không già hơn ông Tanaka bây giờ.
Đồng bạc ông ta cho tôi uống một ly xirô không hết. Người bán hàng rong thối lại cho tôi ba đồng bạc loại khác. Thoạt tiên tôi định cất lại, để khi khác dùng, nhưng bỗng tôi nghĩ cách để dùng chúng vào việc quan trọng hơn.
Tôi ra đại lộ Shijo, đi về cuối đường nằm ở phía Nam của Gion, ở đấy có một ngôi đền thờ thần. Tôi bước lên bậc thềm, lòng quá lo sợ không dám bước dưới chiếc cổng đền xây hai tầng có mái đầu hồi, nhưng tôi cũng cứ đi. Qua một cái sân rải sỏi đi lên những bậc cấp khác, tôi đi qua cổng chính vào đền. Tôi đến thùng pháp sương ném mấy đồng bạc còn lại vào thùng – số tiền tôi có thể dùng để trốn khỏi Gion – và chắp tay vái ba lần trước các tượng thần, báo với các ngài tôi đến đây để cầu nguyện. Mắt nhắm nghiền, hai tay chắp vào nhau, tôi cầu nguyện thần phò hộ cho tôi trở thành geisha. Tôi nguyện sẽ cố gắng khổ luyện, chịu đựng gian nan, để có cơ may lôi cuốn được sự chú ý của một người như ông Chủ tịch.
Khi tôi mở mắt ra, tôi nghe tiếng xe cộ chạy trên đại lộ Higashi Oji, gió vẫn thổi rì rào trong hàng cây. Không có gì thay đổi. Còn việc thần linh có nghe tôi cầu nguyện hay không, tôi không biết. Tôi nhét cái khăn của ông Chủ tịch vào trong áo, mang theo về nhà kỹ nữ.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 09:29:07Chuột lắc>
CHƯƠNG 10

Mấy tháng sau, vào một buổi sáng, trong khi chúng tôi thay áo lót lụa mỏng mặc khi trời nóng bằng loại áo lót dày hơn cho mùa đông, bỗng tôi ngửi thấy mùi khét rất khó chịu bay ra tận ngõ vào, tôi vội thả cả đống áo quần trên tay xuống. Mùi khét từ phòng Bà Ngoại bay ra. Tôi chạy lên lầu tìm bà Dì vì tôi biết ngay đã có chuyện không ổn xảy ra. Bà Dì ba chân bốn cẳng chạy xuống, phát hiện ra Bà Ngoại nằm chết trên nền nhà, chết với tư thế rất kỳ cục.
Trong nhà chỉ có Bà Ngoại mới có lò sưởi điện. Đêm nào bà cũng dùng, ngoại trừ mùa hè. Bây giờ là tháng 9, chúng tôi đã thay áo lót mặc mùa hè, cho nên bà dùng lò sưởi lại. Nói thế không có nghĩa là trời đã lạnh, chúng tôi thay áo mỏng mặc áo dày theo lịch chứ không phải theo thời tiết ngoài trời, và Bà Ngoại cũng dùng lò sưởi như thế. Bà đã dựa vào lịch mà làm một cách phi lý, có lẽ vì trước đây bà đã chịu lạnh khổ sở rất nhiều rồi.
Bà Ngoại có thói quen là sáng nào cũng vấn sợi dây điện quanh lò rồi đẩy lò vào sát vách. Nhiều lần như thế khiến cho hơi nóng của lò làm cháy phần bọc ngoài của dây điện, để thòi dây đồng ở trong ra, cho nên khi sờ vào dây sẽ bị điện giật.
Cảnh sát cho biết sáng ấy khi bà đụng vào sợi dây điện, bà bị điện giật chết ngay tức khắc. Khi bà nhào xuống nền nhà, mặt bà úp lên mặt kim loại nóng bỏng. Vì thế mới có mùi khét lẹt như thế. May cho tôi là tôi không thấy bà sau khi bà chết, ngoại trừ hai cái chân. Tôi đứng ngoại cửa nhìn vào chỉ thấy hai chân bà khẳng khiu bọc trong tấm lụa nhăn nhúm.
Sau khi Bà Ngoại mất được hai tuần, chúng tôi rất bận rộn, không những vì phải lau chùi nhà cửa cho thật sạch – vì theo đạo thờ thần linh, thì tử khí là mùi ô uế nhất trong tất cả các mùi hôi – mà còn chuẩn bị nhà cửa để tiếp khách đến viếng. Chúng tôi phải sắp xếp các đèn cầy, khay cúng cơm, treo lồng đèn ngòai cổng, bàn uống trà, khay để tiền do khách phúng điếu và đủ thứ việc lặt vặt khác. Chúng tôi quá bận rộn đến nỗi một buổi tối bà đầu bếp ngã bệnh, phải mời bác sĩ đến, nhưng thật ra bà ta ngã bệnh là vì đêm trước bà ta ngủ không quá hai giờ, cả ngày thì đứng, và ăn chỉ một tô cháo trắng. Tôi cũng rất ngạc nhiên là Mẹ chi tiền không tiếc để đền Chion tổ chức tụng kinh cầu siêu cho Bà Ngoại và mua những bình sen của người lo tống táng – những việc quá tốn kém trong thời buổi đại suy thoái. Mới đầu tôi tự hỏi phải chăng Bà Ngoại là người quá đạo hạnh khiến cho Mẹ phải đau xót như thế, nhưng về sau tôi mới nhận ra như thế này: sẽ có nhiều người ở Gion sẽ đến nhà chúng tôi để phúng điếu Bà Ngoại, rồi sau đó sẽ đến dự lễ ma chay ở đền. Mẹ phải tỏ ra mình là người trọng lễ nghĩa.
Suốt mấy ngày, tất cả mọi người ở Gion đều đến nhà của chúng tôi, hay hình như thế thì phải. Chúng tôi phải dọn trà bánh cho mọi người dùng. Mẹ và Dì tiếp đón các bà chủ của các phòng trà và nhà dạy kỹ nữ, cũng như đón một số người giúp việc có quen biết với Bà Ngoại, họ lại còn tiếp các chủ tiệm buôn, những người làm tóc giả và thợ uốn tóc, hầu hết những người này đều là đàn ông, và dĩ nhiên họ đón rất nhiều geisha. Những geisha lớn tuổi thì biết Bà Ngọai từ thời bà còn hành nghề geisha, nhưng những geisha còn trẻ thì chưa bao giờ nghe nói đến bà, họ đến là để tỏ lòng tôn kính với Mẹ - hay có những người đến là vì họ có liên hệ này nọ với Hatsumono.
Công việc của tôi trong những ngày bận rộn này là mời khách vào phòng khách, nơi đây Mẹ và Dì đang ngồi đợi. Khoảng cách từ cửa cho đến phòng khách chỉ có vài bước thôi, nhưng khách không thể vào phòng một cách dễ dàng, và ngoài ra, tôi phải nhớ kỹ giày nào là của ai, vì tôi có bổn phận mang giày họ vào để trong phòng gia nhân cho rộng chỗ ở trước cửa, và đên khi họ về tôi phải mang ra cho họ. Thoạt tiên tôi rất khó nhớ. Tôi không được nhìn thẳng vào mặt khách vì như thế là vô phép vô tắc, nhưng chỉ nhìn sơ qua thôi, tôi khó mà nhớ cho được. Cho nên cuối cùng, tôi phải nhìn kỹ vào áo kimono để nhớ.
Khoảng vào chiều hôm thứ hai hay thứ ba của lễ tang, tôi thấy một chiếc kimono xuất hiện trên ngưỡng cửa, chiếc kimono làm tôi ngơ ngác vì nó quá đẹp, đẹp nhất trong số khách đên viếng. Chiếc áo có màu tối vì người mặc đến dự lễ tang – nền vải màu đen – nhưng các hình trang trí trên áo có màu lục và màu vàng bao quanh lai áo và tà áo, khiến cho cái áo trông rất đẹp. Tôi nghĩ nếu các bà các cô, vợ con của ngư phủ ở làng Yoroido, trông thấy, chắc họ sẽ hết sức kinh ngạc. Người khách có mang theo một cô hầu khiến tôi nghĩ bà ta chắc là chủ phòng trà hay chủ một nhà kỹ nữ nào đó, vì rất ít cô nàng geisha nào bỏ ra nhiều tiền để mua người hầu như thế. Trong khi cô ta nhìn vào bàn thờ thần ở cửa ra vào, tôi chợt nghĩ đến bức tranh cuốn treo trong phòng bà Dì, trên bức tranh vẽ hình người kỹ nữ bằng mực Tàu từ thời Hán cách đây một ngàn năm. Cô ta không sắc sảo như Hatsumono nhưng nét mặt cô ta trông hoàn hảo đến nỗi không thể nào chê vào đâu được. Và bỗng nhiên tôi nhận ra cô ta là ai.
Chính là Mameha, nàng geisha có chiếc kimono mà Hatsumono đã ra lệnh cho tôi làm hỏng.
Việc làm hỏng chiếc kimono của cô ta không phải lỗi của tôi, thế nhưng tôi vẫn muốn độn thổ để cô ta khỏi trông thấy mình. Tôi cúi đầu thật thấp khi mời cô và người hầu vào phòng khách. Tôi nghĩ chắc cô ta không nhận ra tôi, vì khi tôi đem áo trả cho cô, cô không nhìn thấy mặt tôi, mà cho dù cô ta có thấy đi nữa, thì thời gian trôi qua đã hai năm rồi. Người giúp việc theo hầu cô ta bây giờ không giống cô gái lấy áo kimono vào đêm ấy, và hơn nữa khi ấy cô ta đầy nước mắt. Khi cúi chào họ ở phòng khách để đi lui ra ngoài, tôi thấy lòng nhẹ nhõm.
Hai mươi phút sau, khi Mameha và chị hầu chuẩn bị ra về, tôi tìm giày của họ, sắp trước cửa vào, đầu vẫn cúi thấp, và lòng lo sợ như hồi nãy. Khi chị hầu kéo cửa mở ra, tôi cảm thấy điều lo sợ đã qua. Nhưng thay vì đi ra, Mameha cứ đứng ở cửa. Tôi bắt đầu lo. Tôi sợ trí óc của tôi không điều khiển được cặp mắt, vì mặc dù tôi không muốn ngước lên nhìn mà cặp mắt vẫn tự động ngước lên. Tôi hoảng khi thấy Mameha đang nhìn tôi.
- Này bé, em tên gì? – Cô ta hỏi, với giọng nói mà tôi cho là rất nghiêm nghị.
Tôi nói cho cô ta biết tôi tên Chiyo.
- Đứng lên một lát xem nào, Chiyo. Tôi muốn xem em cho biết.
Tôi đứng dậy theo lời cô ta yêu cầu nhưng mà giá tôi có tài biến hóa để biến mất, tôi sẽ làm ngay.
- Đứng yên, tôi muốn xem em một lát – cô ta lại nói – Em làm gì như đứng không vững thế?
Tôi ngẩng đầu lên, nhưng không ngước mắt. Khiến cho Mameha thở dài, biểu tôi ngước mắt nhìn cô ta.
- Cặp mắt tuyệt quá! – Cô ta thốt lên – Tôi mơ có cặp mắt như thế này quá! Này Tatsumi, cô gọi màu mắt này là màu gì?
Chị hầu quay vào trong cửa, nhìn tôi và đáp:
- Thưa cô, màu xanh xám.
- Tôi cũng thấy thế. Này, cô biết có bao nhiêu con gái ở Gion này có cặp mắt như thế này?
Tôi không biết Mameha nói với tôi hay với Tatsumi, nhưng không ai trả lời. Cô nhìn tôi, nét mặt rất kỳ lạ - chú ý tập trung vào cái gì đấy trên mặt tôi. Rồi cô ta chào ra về, và tôi thấy nhẹ cả người.
Lễ an táng Bà Ngọai được tổ chức va khoảng tuần sau, thầy bói chọn giờ vào buổi sáng. Sau đó, chúng tôi thu dọn nhà cửa lại cho ngăn nắp, nhưng có nhiều thay đổi, bà Dì chuyển xuống ở tại phòng Bà Ngọai, còn Bi Ngô – bây giờ đã tập sự làm geisha khá lâu rồi – lên ở phòng bà Dì ở tầng hai. Nhà có thêm hai gia nhân mới, họ ở tuổi trung niên và rất khỏe mạnh. Kể ra thì Mẹ nuôi thêm người cũng lạ, nhưng nhà kỹ nữ mà người như thế này là ít, sở dĩ lâu nay ít là vì Bà Ngoại không chịu được cảnh đông đúc trong nhà.
Việc thay đổi cuối cùng là Bí Ngô được miễn làm những công việc lặt vặt. Cô ta được dành nhiều thì giờ để luyện tập những bộ môn mà geisha cần biết. Thường thường các cô không được dành nhiều thì giờ như thế, nhưng Bí Ngô học hành chậm chạp nên cô ta cần có thêm nhiều thời gian hơn. Thỉnh thoảng tôi nhìn cô ta quỳ trên hành lang gỗ tập đàn, cái lưỡi thè ra một bên mệng như muốn liếm cái má cho sạcn. Mỗi khi nhìn thấy nhau, cô ta mỉm cười với tôi một cách dịu hiền và tử tế. Thế nhưng tôi thấy khó mà chịu đựng sự kiên nhẫn trong cuộc sống, sự kiên nhẫn nặng trĩu, bắt ta đợi chờ cánh cửa tương lai mà mãi không hé mở, trông mong mãi một cơ may xảy đến. Nhiều đêm khi đi ngủ, tôi lấy chiếc khăn của ông Chủ tịch cho tôi, mở ra ngửi mùi phấn thơm. Tôi cố xua đuổi tất cả những hình bóng khác ra khỏi đầu óc, mà chỉ giữ lại hình ảnh của ông ta, giữ lại cảm giác nắng ấm trên mặt tôi và bức tường đá nơi tôi ngồi khi gặp ông ta. Ông ta là vị Bồ đề Đạt ma có ngàn tay sẽ giúp tôi. Tôi không tưởng tượng được sự giúp đỡ của ông ta sẽ ra như thế nào, nhưng tôi cầu nguyện sự giúp đỡ đó mau đến.
Sau ngày Bà Ngoại chết được một tháng, một hôm, chị giúp việc mới đến tìm tôi báo cho tôi biết có khách đứng đợi ngòai cửa. Hôm ấy là một buổi chiều tháng mười mà lại nóng thật kỳ la, người tôi nóng chảy mồ hôi ướt mèm, vì tôi dùng máy hút bụi quay tay để làm vệ sinh mấy chiếc chiếu cói trên phòng mới của Bí Ngô, cái phòng của bà Dì trước đây, Bí Ngô có thói quen ăn vụng bánh tráng ngô trên lầu, cho nên chiếu thảm phải làm vệ sinh luôn. Tôi lấy khăn ướt lau qua người rồi chạy xuống nhà dưới, thấy một thiếu nữ đứng ở trước cửa, mặc kimono gia nhân. Tôi quỳ xuống cúi chào chị ta. Chỉ khi tôi nhìn chị ta lần thứ hai, tôi mới nhận ra chị là người hầu thoe Mameha đến nhà chúng tôi mấy tuần trước đây. Thấy chị ta ra dấu cho tôi bước ra ngoài cửa, tôi bèn mang guốc vào, đi theo chị ta ra đường.
- Chiyo, thỉnh thoảng cô có đi làm những công việc lặt vặt ở ngoài không? – Chị ta hỏi.
Chuyện tôi bỏ trốn đã qua lâu rồi, cho nên tôi không bị nhốt trong nhà nữa. Tôi không biết tại sao chị ta lại hỏi thế, nhưng tôi cũng trả lời tôi có đi.
- Tốt – chị ta đáp –cô thu xếp để chiều mai đi ra ngoài làm việc lặt vặt lúc ba giờ và đến gặp tôi tại chiếc cầu vồng nhỏ bắc qua suối Karakawa.
- Thưa chị vâng – tôi đáp – nhưng xin phép hỏi chị lý do để làm gì ạ?
- Ngày mai sẽ biết, được không? – chị ta đáp, lỗ mũi hơi nhăn lại khiến cho tôi tự hỏi không biết có phải chị ta trêu chọc tôi hay không.
Tôi không mấy vui khi nghe chị hầu của Mameha yêu cầu tôi gặp chị ta,vì tôi nghĩ có lẽ chị ta gọi tôi đên đấy để cho Mameha mắng tôi vì việc tôi đã làm. Nhưng dù thế, ngày hôm sau tôi nói Bí Ngô sai tôi đi làm công việc ở ngoài, một công việc không cần phải gấp lắm. Cô ta sợ gặp chuyện rắc rối, nhưng sau khi nghe tôi hứa sẽ tìm cách trả ơn, cô ta liền bằng lòng. Vì thế vào khoảng ba giờ, cô ta gọi tôi:
- Chiyo ơi, làm ơn đi mua cho tôi vài sợi dây đàn và vài tạp chí viết về Kabuki được không? – Cô ta được lệnh phải đọc tạp chí về Kabuki để trau giồi kiến thức. Rồi tôi nghe giọng cô ta cất lên to hơn - Được không, thưa Dì?
Nhưng bà Dì không đáp vì bà đang ngủ trưa trên lầu.
Tôi ra khỏi nhà kỹ nữ, đi dọc theo suối Shirakawa đến cầu vồng bắc ngang qua khu vực Motoyoshi-cho, quận Gion. Vì thời tiết đẹp, ấm áp cho nên một số đàn ông sánh vai cùng các geisha đi dạo chơi, ngắm nhìn anh đào rũ ngọn xõa những chùm hoa xuống nước. Trong khi đứng đợi bên cầu, tôi ngắm nhìn một tốp du khách nước ngòai đến tham quan ngắm cảnh ở quận Gion nổi tiếng. Họ trông rất kỳ lạ, đàn bà thì mũi to, áo dài và tóc màu sáng, đàn ông thì quá cao và quá tự tin, đi giày có gót cao gõ lóc cóc trên vỉa hè. Một người đàn ông chỉ tôi cho những người khác thấy, ông ta nói tiếng ngọai quốc và tất cả những người khác quay qua nhìn tôi. Tôi cảm thấy luống cuống, giả vờ tìm kiếm cái gì dưới đất để che mặt đi.
Cuối cùng chị hầu của Mameha tới, và trong lúc tôi đang lo sợ, chị ta dẫn tôi đi qua cầu, dọc theo con suối đến đúng cổng nhà mà Hatsumono và Korin đưa chiếc kimono cho tôi và bảo tôi đi lên lầu. Thật bất công là sau một thời gian dài mà việc như thế này lại xảy đến cho tôi một lần nữa, gây cho tôi thêm nhiều phiền phức. Nhưng khi chị hầu đẩy cửa mở ra, tôi bước lên than lầu ánh sáng lờ mờ. Lên đến đầu cầu thang, chúng tôi tháo giầy ra và đi vào phòng.
- Thưa cô, Chiyo đã đến - chị hầu nói lớn.
Rồi tôi nghe tiếng Mameha từ phòng sau vọng ra:
- Tốt, cám ơn Tatsumi.
Chị hầu dẫn tôi đến chiếc bàn gần cửa sổ, tôi quỳ xuống trên một chiếc nệm và cố giữ vẻ bình tĩnh. Lát sau một cô hầu khác mang cho tôi một tách trà- thì ra Mameha có hai cô hầu chứ không phải một. Tôi không ngờ lại được chủ nhà mời trà như thế này. Chưa bao giờ có chuyện này xảy ra kể từ ngày tôi được mời ăn cơm ở nhà ông Tanaka cách đây mấy năm, tôi cúi người chào chị ta, uống vài hớp cho đúng phép xã giao. Sau đó tôi ngồi một hồi lâu không biết làm việc gì khác ngoài việc lắng nghe tiếng nước chảy róc rách từ các nguồn nước cao đổ xuống suối Shirakawa ở ngòai.
Căn hộ của Mameha không lớn nhưng cực kỳ sang trọng, thảm trải sàn rất đẹp và còn mới, chúng có màu vàng lục rực rỡ và thơm mùi rơm. Nếu anh đã nhìn kỹ một chiếc thảm rơm, chắc anh thấy quanh tấm thảm có viền vải, thường là bằng vải đen hay vải lanh đen, nhưng chiếu ở đây được viền bằng lụa có hoa văn màu lục và vàng. Trong một hốc tường gần đấy có treo một bức trướng chữ viết rất đẹp, đó là quà tặng cho Mameha của nhà thư pháp nổi tiếng Matsudaira Koichi. Dưới bức trướng, trên cái bệ trong hốc, những cành hoa hồng dại nở rộ được cắm trong cái dĩa cạn có hình lập thể màu đen tuyền.
Tôi thấy cái dĩa rất kỳ lạ , nhưng thực ra đấy là quà do Yoshida Sakuhei tặng cho Mameha, ông ta là nhà chế tạo gốm sứ theo trường phái Seteguro vĩ đại, tác phẩm này sau chiến tranh thế giới lần thứ hai trở thành tài sản quý báu của quốc gia.
Cuối cùng Mameha từ phòng sau bước ra, mặc chiếc áo kimono kem có hình vẽ ở lai áo rất đẹp. Trong khi cô ta đi đến bàn, tôi quay người, cúi chào thật thấp, rồi khi đến bàn, cô ta quỳ đối diện với tôi, uống một hớp trà do chị hầu mới bưng ra, rồi cô nói:
- Nào..Chiyo? Tại sao cô không nói cho tôi biết chiều nay làm sao cô rời được nhà kỹ nữ? Tôi chắc bà Nitta không thích gia nhân đi làm công việc riêng vào giữa ngày như thế này.
Thật tôi không ngờ cô ta hỏi như thế. Tôi không biết nói sao, mặc dù tôi biết không trả lời rất cù lần. Mameha nhấp trà, nhìn tôi với vẻ mặt nhân ái trên khuôn mặt trái xoan hòan hảo. Cuối cùng cô ta nói:
- Chắc cô nghĩ tôi sẽ mắng cô chứ gì. Nhưng tôi chỉ muốn biết việc cô đến đây có gặp phải chuyện gì rắc rối không.
Tôi nhẹ người khi nghe cô ta nói thế. Tôi đáp:
- Thưa cô không. Tôi được sai đi mua tạp chí Kabuki và dây đàn Shamisen.
- Ồ tốt, tôi có nhiều các thứ ấy – cô ta nói, rồi gọi chị hầu bảo đi lấy một ít các thứ ấy đem đến để trước mặt tôi trên bàn – Khi cô về nhà, cô cứ việc đem về và không ai biết cô đi đâu. Bây giờ cho tôi biết vài chuyện nhé. Khi tôi đến nhà kỹ nữ của cô để phúng điếu, tôi có thấy một cô gái bằng tuổi cô.
- Chắc là Bí Ngô đấy. Có phải cái cô mặt tròn không?
Mameha hỏi tôi tại sao gọi cô ta là Bí Ngô, tôi giải thích cho cô nghe. Nghe xong cô ta bật cười.
- Cô Bí Ngô này, cô ta và Hatsumono sống với nhau ra sao?
- Thưa cô, theo tôi thì Hatsumono xem Bí Ngô chẳng hơn gì cái lá phất phơ ngoài kia.
- Có phải Hatsumono cũng đối xử với cô như thế không?
Tôi mở miệng định nói, nhưng tôi không biết nói gì. Tôi biết về Mameha rất ít, bây giờ nói xấu Hatsumono cho người ngoài nghe thì quả không đúng đắn. Mameha hình như hiểu được tâm trạng của tôi, vì cô nói:
- Cô khỏi cần trả lời. Tôi biết Hatsumono đối xử với cô ra sao rồi, đối xử như con rắn trước miếng mồi, tôi nghĩ như thế đấy.
- Xin phép hỏi cô, ai nói với cô như thế ạ?
- Không ai nói với tôi hết – cô ta đáp – Hatsumono và tôi biết nhau từ khi tôi lên sáu và cô ta lên chín. Khi người ta nhìn một sinh vật có tính xấu trong một thời gian dài như thế, thì chuyện biết sinh vật ấy hành động như thế nào không còn là chuyện lạ lùng khó hiểu.
- Tôi không biết tôi đã làm gì khiến cho cô ta ghét tôi như thế.
- Dễ hiểu Hatsumono như dễ hiểu con mèo thôi. Con mèo thấy sung sướng nằm phơi nắng ngoài sân khi không có những con mèo khác bên cạnh. Nhưng nếu nó thấy có những con mèo khác chọc mũi vào đĩa thức ăn của nó…Đã có ai kể cho cô nghe chuyện Hatsumono xua đuổi cô Hatsuoki ra khỏi quận Gion chưa?
Tôi bảo chưa nghe ai nói hết.
- Hatsuoki là một cô gái rất xinh đẹp – Mameha kể - cô ta là bạn thân của tôi. Cô ta và Hatsumono là chị em. Nghĩa là hai người được cùng một geisha huấn luyện, người geisha nổi tiếng này là Tomihatsu, khi ấy bà đã già rồi. Hatsumono không ưa Hatsuoki, khi hai người tập sự làm geisha, cô ta không chịu được việc để cho Hatsuoki làm đối thủ của mình. Cho nên cô ta phao tin khắp Gion rằng có người đã thấy Hatsuoki làm chuyện đồi bại với một cảnh sát. Dĩ nhiên chuyện này không có thực. Nếu Hatsumono đi khắp Gion để kể chuyện này thì chẳng ai tin. Ai cũng biết Hatsumono ghen tị với Hatsuoki. Cho nên cô ta đã làm như thế này, bất cứ khi nào cô ta gặp một người quá say – một geisha hay là một người hầu, hay bất kỳ một người đàn ông nào đến thăm Gion, người nào cũng được – cô ta đều rỉ tai câu chuyện bịa về Hatsuoki cho họ nghe để ngày hôm sau người nghe không nhớ ra Hatsumono là người kể. Chẳng bao lâu sau, cô Hatsuoki tội nghiệp bị mang tiếng xấu, và Hatsumono chỉ cần sử dụng một vài mẹo vặt nữa thôi là loại được Hatsuoki.
Tôi cảm thấy nhẹ người khi nghe có người khác nữa ngoài tôi đã bị Hatsumono đối xử quá dã man như thế.
- Cô ta không chịu được cảnh có đối thủ - Mameha nói tiếp – đấy là lý do cô ta đối xử với cô như thế đấy.
- Thưa cô, chắc Hatsumono không xem tôi là một đối thủ. Tôi không phải là đối thủ của cô ấy như vũng nước không thể là đối thủ của đại dương.
- Trong các phòng trà ở Gion thì có lẽ không. Nhưng trong nhà dạy kỹ nữ của cô thì…cô không lấy làm lạ tại sao bà Nitta không nhận Hatsumono làm con sao? Nhà kỹ nữ Nitta hẳn là nhà giàu nhất ở Gion không có người thừa kế. Khi nhận Hatsumono làm con, không những bà Nitta giải quyết được vấn đề khó khăn này, mà bà ta còn giữ hết của cải của Hatsumono cho nhà dạy kỹ nữ, không cho Hatsumono một đồng ten nào, mà Hatsumono là một geisha rất thành công! Chắc cô nghĩ là bà Nitta, người ham tiền như những người khác, muốn nhận cô ta làm con từ lâu rồi. Hẳn phải có lý do gì đấy chính đáng bà ta mới không làm thế, cô không thấy thế hay sao?
Trước đây chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện này, nhưng sau khi nghe Mameha nói, tôi cảm thấy tôi đã hiểu ra lý do. Tôi đáp:
- Nhận Hatsumono làm con chẳng khác nào thả con hổ ra khỏi chuồng.
- Chắc đúng thế. Tôi nghĩ bà Nitta biết rõ việc nhận Hatsumono làm con sẽ dẫn bà ta đến đâu, thế nào cô ta cũng tìm cách loại bà mẹ ra. Nhưng dù sao, Hatsumono cũng là kẻ thiếu kiên nhẫn. Tôi không tin cô ta có thể nuôi một con dế trong lồng mây. Sau một vài năm, có thể cô ta sẽ bán số kimono của nhà kỹ nữ rồi rút lui. Cô Chiyo, đấy là lý do Hatsumono ghét cay ghét đắng cô. Còn cô Bí Ngô, tôi không tin là Hatsumono sợ bà Nitta nhận cô ta làm con.
- Cô Mameha, chắc cô còn nhớ cái kimono của cô bị làm hỏng…
- Chắc cô sẽ nói cô là người làm vấy mực lên áo.
- Dạ phải, thưa cô. Mặc dù tôi biết cô thừa hiểu Hatsumono âm mưu việc này, nhưng tôi cứ hy vọng có ngày tôi sẽ xin lỗi cô vì việc ấy.
Mameha nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không biết cô ta nghĩ gì, nhưng cuối cùng cô ta nói:
- Nếu cô muốn thì cứ xin lỗi đi.
Tôi xích lui khỏi cái bàn rồi cúi người xuống thật thấp tận chiếu, nhưng trước khi tôi nói lên lời xin lỗi, Mameha liền chặn tôi lại. Cô ta nói:
- Giá cô là một nông dân đến thăm Kyoto thì cúi người chào như thế là quá đẹp. Nhưng vì cô muốn trở thành người có giáo dục, cô phải làm như thế này này. Hãy nhìn tôi này, xích lui xa cái bàn thêm chút nữa. Được rồi, quỳ xuống đấy, bây giờ thẳng hai tay ra và để đầu ngón tay lên chiếu ở trước mặt cô. Chỉ đầu ngón tay thôi, không cả bàn tay. Cô đừng xòe ngón tay ra, tôi còn thấy khoảng hở giữa mấy ngón. Tốt, để lên chiếu…hai tay…đấy. Giờ thì đẹp rồi. Cúi người thật thấp, nhưng giữ cổ cho thật thẳng, đừng để đầu gục xuống như thế. Trời đất ơi, đừng đè lên hai tay, nếu không cô sẽ giống đàn ông! Thế là tốt. Bây giờ cô hãy làm lại xem.
Tôi cúi chào cô ta như thế một lần nữa, và nói là tôi rất ân hận vì đã góp phần làm hỏng chiếc áo kimono đẹp của cô.
- Áo kimono ấy đẹp phải không? Thôi, bây giờ ta quên chuyện ấy đi. Tôi muốn biết tại sao cô không tập luyện thành geisha nữa. các giáo viên đều nói cô học hành rất giỏi, rồi bỗng nhiên cô bỏ học. Đúng ra cô phải học tiếp để có sự nghiệp rạng rỡ ở Gion mới đúng. Tại sao bà Nitta không cho cô học tiếp?
Tôi kể cho cô nghe chuyện nợ nần của tôi, kể cả nợ cái áo kimono và chiếc ghim hoa mà Hatsumono vu cho tôi lấy. Sau khi nghe tôi kể xong, cô ta nhìn mãi tôi một lát mới nói:
- Cô chưa kể hết cho tôi nghe chuyện của cô. Căn cứ vào số nợ của cô, tôi nghĩ bà Nitta rất mong muốn cô trở thành geisha. Làm người hầu chắc không bao giờ cô trả hết nợ cho bà ấy.
Khi nghe thế, tự dưng tôi cụp mắt nhìn xuống vì cảm thấy xấu hổ, Mameha có vẻ như hiểu được ý nghĩ trong đầu óc tôi, cô hỏi:
- Có phải cô đã tìm cách chạy trốn không?
- Phải , thưa cô – tôi đáp – tôi có người chị, chúng tôi bị sống cách biệt nhau nhưng chúng tôi cố tìm cách gặp nhau. Chúng tôi hẹn nhau vào một đêm để cùng chạy trốn…nhưng tôi bị rớt từ trên mái nhà xuống gẫy tay.
- Từ mái nhà! Chắc cô nói đùa! Có phải cô leo lên mái nhà để nhìn Kyoto cho được bao quát không?
Tôi giải thích cho cô ta nghe tại sao tôi làm thế, rồi tôi nói tiếp:
- Tôi nghĩ tôi thật điên khùng, bây giờ Mẹ không đầu tư xu nào vào việc học tập của tôi vì bà sợ tôi lại bỏ trốn một lần nữa.
- Còn lắm chuyện đáng lo hơn thế nữa. Một cô gái chạy trốn làm bà chủ nhà mang tiếng xấu. Dân ở Gion sẽ nghĩ như thế này “Trời đất, mụ ấy làm gì mà để tôi tớ trong nhà bỏ trốn hết!” Thế đấy, đại loại là như vậy. Nhưng Chiyo này, bây giờ cô tính sao? Tôi thấy hình như cô không muốn làm cô hầu suốt đời.
- Ồ thưa cô, tôi muốn làm gì để chuộc lại lỗi lầm của mình. Đã hơn hai năm trôi qua rồi, tôi kiên nhẫn chờ đợi cơ hội mở ra cho tôi, và tôi hy vọng cơ hội sẽ đến.
- Kiên nhẫn đợi chờ không hợp với cô đâu. Tôi thấy cô là người có mạng thủy, mà nước không bao giờ chờ đợi. Nó biến dạng, chảy khắp nơi, tìm những xó xỉnh không ai ngờ để chảy tới. Nó tìm cái lỗ tí ti trên mái nhà hay dưới đáy thùng để chảy qua. Nước là yếu tố đa năng nhất trong ngũ hành, rõ ràng như vậy. Nó cuốn đất đi, dập tắt lửa, làm cho sắt rỉ và mục ra. Ngay cả gỗ, là yếu tố quan trọng trong ngũ hành, cũng không thể sống được nếu không có nước mang thức ăn đến cho nó. Thế mà cô không biết lợi dụng sức mạnh ấy trong cuộc đời ư?
- Thưa cô, có chứ. Chính hình ảnh nước chảy đã làm tôi nảy ra ý định trốn thoát qua mái nhà.
- Tôi biết cô thông minh lanh lợi, Chiyo à, nhưng tôi nghĩ hành động ấy không được thông minh lắm. Những người có mạng thủy không phải muốn chảy đi đâu thì chảy, mà chúng ta phải chảy theo dòng đời chúng ta đang sống.
- Tôi thấy tôi là con sông chảy vấp phải con đê, và con đê ấy chính là Hatsumono.
- Phải, đúng thế đấy – cô ta đáp, nhìn tôi một cách bình tĩnh – nhưng có lúc sông phải đẩy con đê văng đi.
Ngay từ khi tôi mới đến nhà cô ta, tôi tự hỏi không biết cô ta gọi tôi đến làm gì. Tôi cứ nghĩ bụng, chắc là chuyện chiếc áo kimono, nhưng bấy giờ tôi thấy không phải chuyện ấy mà là có chuyện gì khác. Chắc Mameha có ý định dùng tôi để trả thù Hatsumono. Tôi thấy rõ ràng hai người kình địch nhau, tại sao Hatsumono làm hỏng chiếc kimono của Mameha cách đây hai năm. Rõ ràng Mameha chờ đợi đến lúc thích hợp để trả thù, và bây giờ cô ta đã tìm ra đúng lúc. Cô ta sẽ dùng tôi đóng vai cây sậy lấn át những cây khác ra khỏi vườn. Cô ta không chỉ trả thù không thôi đâu, nếu tôi không lầm thì cô ta muốn loại hẳn Hatsumono.
- Nhưng dù sao – Mameha nói tiếp - nếu bà Nitta không để cho cô tiếp tục học tập thì chẳng có gì thay đổi.
- Tôi không mấy hy vọng thuyết phục được bà.
- Bây giờ cô đừng lo vấn đề thuyết phục, cô hãy lo tìm được đúng lúc thích hợp để làm việc ấy.
Tôi đã học được nhiều bài học ở trường đời, nhưng tôi không biết kiên nhẫn - thậm chí không đủ kiên nhẫn để tìm hiểu câu nói “tìm được đúng lúc thích hợp” của Mameha có ý nghĩa gì. Tôi nói với cô rằng nếu cô giúp tôi ý kiến để nói, thì ngày mai tôi sẽ nói với Mẹ.
- Chiyo này, ở đời mà làm việc tùy tiện sẽ không thành công. Làm việc gì cô cũng phải biết cách tìm cho đúng lúc thích hợp và nơi thích hợp. Con chuột muốn chọc tức con mèo không phải lúc nào muốn chạy ra khỏi hang thì chạy. Cô có biết cách tra cứu niên lịch không?
Tôi không biết anh đã thấy cuốn niên lịch bao giờ chưa. Mở cuốn lịch ra, lật từng trang người ta sẽ tìm thấy nhiều biểu đồ phức tạp và nhiều câu tối nghĩa. Giới geisha rất mê tín, như tôi đã nói với anh rồi. Bà Dì và bà Mẹ, ngay cả bà nấu bếp hay người giúp việc, hiếm khi làm việc gì mà không mở lịch ra xem ngày, cho dù chỉ để mua một đôi giày thôi. Nhưng tôi không bao giờ tra cứu lịch.
- Thảo nào mà cô gặp toàn chuyện không may – Mameha nói – Có phải cô chạy trốn mà không xem ngày tốt không?
Tôi nói cho cô biết chị tôi quyết định ngày ra đi khi nào chúng tôi đi được. Mameha muốn biết ngày tôi chạy trốn, tôi cho cô ta biết đó là thứ ba tuần cuối của tháng 10 năm 1929, chỉ có mấy tháng sau ngày Satsu và tôi bị lôi ra khỏi nhà.
Mameha sai chị hầu lấy cuốn niên lịch ra, sau khi hỏi tuổi tôi - tuổi thân – cô ta xem kỹ các biểu đồ rồi đọc cả một trang sách nói về công việc khái quát trong tháng. Cuối cùng cô ta đọc:
- Thời điểm thất lợi nhất. Phải tuyệt đối tránh kim, thức ăn lạ và đi xa. - đến đây cô ta dừng lại để nhìn tôi – Đi xa! Cô nghe không. Ngoài ra lịch còn cho biết cô phải tránh các thứ sau đây nữa; “tắm vào giờ Dậu”, “đổi áo mới ”, “thành lập cơ sở mới ”, và hãy nghe câu này này “đổi nơi cư trú” - đọc đến đây Mameha gấp sách lại nhìn tôi – cô có lưu tâm đến những chuyện như thế này không?
Nhiều người không tin chuyện bói toán như thế này, nhưng nếu khi ấy anh có mặt ở đấy để chứng kiến cảnh xảy ra tiếp theo, tôi chắc lòng nghi ngờ của anh sẽ tiêu tan ngay. Mameha hỏi tuổi của chị tôi và tra cứu lịch để xem vận mạng cho chị ấy. Xem một lát, cô ta nói:
- Đây nhé, sách có nói “ngày tốt, có thể chuyển dịch tí chút”, có lẽ không phải là một ngày tốt để làm việc động trời như là chạy trốn, nhưng cũng là ngày tốt hơn so với các ngày khác trong tuần hay là tuần tới. Và còn điều này nữa mới đáng ngạc nhiên, sách còn nói “ngày tốt để di chuyển theo hướng Hoàng đạo”. Mameha đọc xong, cô ta lấy bản đồ, tìm làng Yoroido, làng nằm ở phía Đông Bắc Kyoto, hướng này quả là hướng Hoàng đạo. Satsu có tra cứu niên lịch. Chị ấy có lẽ tra cứu niên lịch để xem ngày ra đi lúc để tôi ngồi một mình trong phòng dưới chân cầu thang ở nhà thổ Tatsuyo. Và có lẽ chị đã làm đúng: chị trốn được còn tôi thì không.
Chính lúc ấy tôi mới hiểu ra - tôi dốt nát làm sao! Không những trong kế họach chạy trốn mà còn trong tất cả mọi thứ khác nữa. Tôi không hiểu mọi vật trên đời này có liên quan mật thiết với nhau. Không phải chỉ theo đúng hướng Hoàng đạo như tôi vừa đề cập mà thôi. Con người chúng ta chỉ là một phần tử trong một thực thể to lơn hơn nhiều. Khi chúng ta đi, chúng ta có thể đạp nát một con bọ hay là gây xáo trộn không khí để cho một con ruồi không thể bay đến chỗ nó mong muốn. Nếu chúng ta lấy cái ví dụ đó để áp dụng cho chúng ta là sâu bọ, còn thế giới to lớn hơn là chúng ta thì rõ ràng những thế lực to lớn hơn chúng ta đã gây ảnh hưởng lên đời sống chúng ta rất dễ, chẳng khác nào chúng ta gây ảnh hưởng lên sâu bọ. Vậy chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải dùng bất cứ phương pháp nào để hiểu được sự vận hành của vũ trụ quanh ta, hiểu được thời gian ta hành động, để ta khỏi chiến đấu chống lại dòng vận hành ấy mà chỉ theo chúng thôi.
Mameha lại mở lịch ra xem, lần này cô ta chọn nhiều ngày trong số những ngày tiếp theo để chọn ngày tốt dùng trong công việc. Tôi hỏi tôi có nên nói với bà Mẹ vào một trong những ngày đó không, và tôi nên nói ra sao cho đúng.
- Tôi không có ý định khuyên cô đích thân đi nói với bà Nitta – cô ta đáp – bà ta sẽ bác bỏ yêu cầu của cô ngay. Nếu tôi là bà ta, tôi cũng sẽ làm thế. Vì bà ta biết không có ai ở Gion muốn làm chị cả của cô hết.
Nghe cô ta nói, tôi rất buồn. Tôi hỏi :
- Cô Mameha,vậy thì tôi nên làm gì?
- Chiyo, cô nên về nhà kỹ nữ của cô thôi. Và đừng có nói cho ai biết việc tôi đã nói chuyện với cô.
Nói xong, cô ta nhìn tôi với ánh mắt khuyên tôi nên cúi chào xin phép ra về ngay, và tôi đã làm thế. Tôi rất hoang mang bối rối , đến nỗi khi ra về tôi quên lấy các tờ tạp chí Kabuki và mấy sợi dây đàn mà Mameha cho tôi. Người hầu của cô phải mang tất cả chạy ra đường đưa cho tôi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 09:48:04Chuột lắc>
CHƯƠNG 11

Tôi cần phải nói rõ cho anh biết cái từ “chị cả” mà Mameha đã nói đến, mặc dù khi ấy chính tôi cũng không hiểu. Khi cô gái nào được phép chuẩn bị tập sự geisha, đều phải thiết lập quan hệ với một geisha dày dặn kinh nghiệm. Mameha có nói đến chị cả của Hatsumono, nàng geisha tiếng tăm Tomihatsu. Khi bà ta huấn luyện cho Hatsumono thì bà đã già rồi, nhưng không phải các chị cả khi nào cũng phải lớn tuổi hơn người geisha họ huấn luyện nhiều. Bất kỳ người geisha nào cũng có thể làm chị cả cho các cô nhỏ tuổi hơn, miễn là họ chỉ cần lớn tuổi hơn một ngày cũng được.
Khi hai cô đã gắn bó với nhau như chị em, họ thực hiện một nghi lễ như nghi lễ đám cưới vậy. Sau đó họ xem nhau như chị em trong một gia đình, gọi nhau là “chị cả” và “em út”. Có geisha không thể đóng vai của mình một cách nghiêm trang như ý muốn, nhưng nếu người chị cả nào làm công việc đứng đắn, sẽ trở thành hình ảnh quan trọng nhất trong cuộc đời của người geisha trẻ. Cô ta sẽ thực hiện được nhiều điều hơn nữa ngoài những việc chỉ bảo đảm cho em út học đúng cách giả vờ làm bối rối và cười khi đàn ông kể chuyện tục tĩu, hay là chỉ giúp cô ta chọn đúng thứ sáp thoa mặt trước khi hóa trang. Cô ta còn phải làm cho cô em út biết cách thu hút sự chú ý của những người mà cô ta cần biết. Cô làm công việc này bằng cách dẫn cô em đi khắp quận Gion, giới thiệu cô em với những bà chủ phòng trà đứng đắn, giới thiệu với người làm đầu tóc giả dùng vào các buổi trình diễn trên sân khấu, với các người chủ các nhà hàng ăn uống quan trọng…
Thật sự có rất nhiều việc phải làm. Nhưng công việc gíới thiệu cô em út khắp Gion trong thời gian ban ngày, mới chỉ là nửa công việc của người chị cả. Vì quận Gion giống như một ngôi sao lờ mờ sẽ trở nên rực rỡ sau khi mặt trời lặn. Ban đêm, người chị cả phải dẫn cô em út đi theo mình để vui chơi giải trí, để giới thiệu cô em với khách và người bảo trợ mà cô ta đã thỏa thuận trong những năm qua. Cô ta sẽ nói với họ “Ồ, ông đã gặp cô em út của tôi chưa? Vui lòng cố nhớ đến tên cô ta nhé, vì cô ta sắp thành đại minh tinh rồi! Và vui lòng cho phép cô ta gọi ông vào dịp ông đến thăm Gion sau này” – dĩ nhiên có vài người trả phí tổn cao để có buổi tối nói chuyện với cô gái 14 tuổi, thực tế thì người khách này có thể không gọi cô em út vào dịp đến chơi sau. Nhưng người chị cả và bà chủ phòng trà sẽ tiếp tục đẩy cô ta đến với khách cho tới khi ông ta gọi. Nếu tình hình không xuôi, vì lý do gì đấy mà ông ta không thích…thì thôi, còn trường hợp ông ta thích, có lẽ ông ta sẽ nhận làm người bảo trợ cho cô, y như ông ta là chị cả của cô ta vậy.
Đảm nhiệm vai trò chị cả thường cho ta cảm giác như mang bao gạo đi lui đi tới qua thành phố. Bởi vì người em út không những lệ thuộc vào chị cả như người hành khách lệ thuộc vào chiếc tàu họ đi, mà khi cô em có hành vi không tốt, chính người chị cả phải gánh lấy trách nhiệm. Lý do khiến cho người geisha đã thành đạt và bận bịu nhận lãnh chuyện rắc rối cho cô em út, là vì moi người ở Gion đều có lợi khi người tập sự geisha thành công. Người tập sự có lợi là trả được nợ của mình, và nếu gặp may, cô ta có thể trở thành tình nhân của một người giàu có. Người chị cả có lợi bằng cách nhận một phần tiền thu nhập của cô em – cũng như các bà chủ các phòng trà nơi mà cô gái đến giải trí cho khách. Ngay cả người làm tóc giả, cửa tiệm bán đồ trang sức, và các tiệm bánh kẹo mà cô geisha tập sự thỉnh thoảng đến mua quà tặng cho các người bảo trợ cô ta...có thể họ không trực tiếp nhận tiền của cô gái, nhưng họ có lợi ở chỗ cô geisha thành công thu hút khách đến Gion để xài tiền.
Công bằng mà nói, mọi việc của cô em út đều phụ thuộc vào người chị cả. Thế nhưng có vài cô khó tìm được người chị cả. Người geisha cóc cuộc sống ổn định không muốn mất tiếng tăm của mình bằng cách nhận một cô em út mà cô ta cho là buồn bã hay nhận một cô mà cô ta nghĩ các ông bảo trợ của mình không thích. Mặt khác, bà chủ nhà dạy kỹ nữ đã đầu tư một số tiền lớn vào việc huấn luyện cho người tập sự, sẽ không ngồi yên để đợi cô geisha buồn bã nào đến đề nghị dạy cho cô ta. Kết quả là, nàng geisha thành đạt đưa ra yêu cầu quá sức bà ta chịu được. Người thì bà ta từ chối không chấp nhận, người thì bà không thể…đây là lý do khiến cho Mẹ nghĩ rằng không có nàng geisha nào ở Gion bằng lòng đóng vai chị cả của tôi, giống như ý kiến của Mameha.
Trở lại thời tôi mới đến nhà dạy kỹ nữ, có lẽ Mẹ có ý định để cho Hatsumono – có thể là người đàn bà ném đá dấu tay – nhưng hầu như người tập sự nào cũng tỏ ra sung sướng khi được làm em út cô ta. Hatsumono đã làm chị cả ít ra cũng cho hai nàng geisha trẻ có tiếng ở Gion. Thay vì hành hạ họ như hành hạ tôi, cô ta lại đối xử rất tốt. Chính cô ta chọn người làm em út và cô ta làm thế là vì tiền. Cho nên giao cho Hatsumono làm chị cả của tôi để chỉ hưởng thêm vài đồng là thất sách, vì làm thế chẳng khác nào giao cho con chó dẫn con mèo ra đường, không chóng thì chầy con chó cũng cắn con mèo thôi. Mẹ có thể buộc Hatsumono làm chị cả của tôi – không những chỉ vì Hatsumono ở trong nhà kỹ nữ của chúng tôi mà còn vì cô ta có quá ít áo kimono và phải lệ thuộc vào số áo của nhà kỹ nữ. Nhưng tôi không tin có thế lực nào trên đời này có thể bắt buộc Hatsumono huấn luyện tôi một cách đúng đắn. Tôi tin chắc vào ngày cô ta được yêu cầu đưa tôi đến phòng trà Mizuki để giới thiệu tôi với bà chủ ở đấy, thay vì dẫn tôi đến đấy, thế nào cô cũng đưa tôi ra bờ sông và nói “Hỡi sông Kamo, người có muốn gặp em út không?” rồi đẩy tôi xuống sông.
Còn việc nghĩ đến có người geisha khác lãnh nhiệm vụ huấn luyện tôi…thì, chắc cô ta phải đối đầu với Hatsumono. Ít người nào ở Gion có can đảm dám làm như thế.
Sau ngày tôi gặp Mameha vài tuần, một hôm gần trưa khi tôi đang hầu trà cho Mẹ tiếp khách trong phòng khách thì bà Dì đẩy cửa mở ra.
- Tôi xin lỗi làm gián đọan – bà Dì nói – không biết chị có vui lòng xin lỗi khách một lát được không, chị Kayoko – Kayoko là tên thật của Mẹ, nhưng hiếm khi chúng tôi nghe tên này trong nhà – chúng ta có khách đợi ngoài cửa.
Khi nghe thế, Mẹ nhìn Dì cười, bà nói:
- Dì ơi, chắc Dì có chuyện buồn phải không, nên mới vào báo có khách đến. Dì làm như tôi tớ trong nhà bận lắm đến nỗi Dì phải làm công việc của chúng.
- Tôi nghĩ chắc chị thích nghe tôi báo khách của chúng ta là Mameha.
Tôi đã bắt đầu lo cuộc gặp gỡ của tôi với Mameha chẳng đi đến đâu. Nhưng bây giờ bỗng nghe cô ta đến đây…Trời, máu chạy rần rật trên mặt tôi nóng phừng phừng. Căn phòng im lặng một hồi, rồi khách của Mẹ lên tiếng:
- Cô Mameha..thôi, tôi xin kiếu từ, nhưng ngày mai bà nhớ cho tôi biết cô ta có chuyện gì.
Tôi thừa lúc khách của Mẹ ra về để lẻn ra ngoài. Rồi khi ra ngoài hành lang trước, tôi nghe Mẹ nói chuyện với Dì, chuyện mà tôi không ngờ đến. Bà gõ ống vố vào cái gạt tàn thuốc mà bà đã mang theo từ trong phòng khách ra, và khi bà đưa cái gạt tàn cho tôi, bà nói:
- Này Dì, đến đây sửa lại tóc cho tôi một chút
Trước đây tôi chưa bao giờ thấy bà quan tâm đến dung nhan của mình. Đúng là bà mặc áo thật sang, nhưng mắt bà kèm nhèm như cá ươn thối, và đúng là bà xem tóc của mình như kiểu tàu hỏa xem ống khói của nó: ống khói chỉ là vật nằm trên chóp tàu mà thôi.
Trong khi Mẹ ra đón khách ở cửa, tôi đứng chùi cái gạt tàn thuốc trong phòng gia nhân. Tôi cố lắng tai nghe Mameha và Mẹ nói gì, đến nỗi tôi không thấy ngạc nhiên khi hai lỗ tai đau nhừ vì căng thẳng.
Mẹ lên tiếng trước:
- Tôi xin lỗi phải để cô chờ lâu, cô Mameha. Được cô đến thăm thật hân hạnh biết bao!
Rồi Mameha đáp:
- Thưa bà Nitta, mong bà tha lỗi vì ghé nhà bà đột ngột như thế này…
Câu chuyện tiếp theo tẻ nhạt như thế một hồi. Việc tôi ráng sức để nghe kết quả câu chuyện chẳng khác nào người đàn ông ráng bò lên đỉnh đồi toàn đá.
Cuối cùng hai người đi qua hành lang trước để vào phòng khách. Tôi hết sức muốn nghe câu chuyện của họ đến nỗi tôi lấy cái giẻ lau nhà ở phòng gia nhân ra chùi nền nhà ở hành lang trước phòng khách. Thường khi bà Dì không cho phép tôi làm việc ở đấy khi có khách ở trong phòng, nhưng chính bà cũng bận nghe lén như tôi. Khi chị hầu rót trà xong đi ra, Dì đứng sang một bên để khỏi bị thấy và giữ cửa hé mở một chút để nghe cho rõ. Hai người nói rất nhỏ, và vì quá chú ý lắng tai để nghe, tôi hầu như không chú ý đến những gì xảy ra chung quanh, và kết quả là bỗng tôi bắt gặp ánh mắt của Bí Ngô đang nhìn vào mặt tôi. Cô ta đang quỳ đánh bóng sàn nhà, mặc dù tôi đã làm rồi và cô ta được miễn làm công việc lặt vặt trong nhà.
- Mameha là ai thế? – cô ta hỏi nhỏ tôi.
Rõ ràng cô ta đã nghe các gia nhân bàn tán với nhau, tôi thấy họ ngồi túm tụm với nhau trên hành lang đất, gần bên lối đi lát gỗ.
- Cô ta và Hatsumono là hai người kình địch nhau – tôi đáp – là người có áo kimono mà Hatsumono sai tôi vấy mực vào.
Bí Ngô có vẻ như sắp muốn hỏi gì nữa, nhưng bỗng tôi nghe Mameha nói:
- Thưa bà Nitta, tôi mong bà tha lỗi cho, vì tôi đã quấy rầy công việc của bà, nhưng vì tôi muốn nói chuyện với bà một chút về cô hầu Chiyo của bà.
- Ô đừng – Bí Ngô thốt lên, và nhìn vào mắt tôi để tỏ ý lo lắng, sợ tôi sắp gặp rắc rối.
- Con Chiyo của chúng tôi tính tình hư hỏng – Mẹ đáp – tôi hy vọng nó không làm phiền cô.
- Không, không phải thế. Mấy tuần rồi, tôi không thấy cô ấy đến trường. Thỉnh thoảng tôi có gặp cô ta trên hành lang…mới hôm qua, tôi đoán chắc cô ấy bị bệnh nặng. Tôi vừa mới làm quen với một ông bác sĩ rất giỏi. Tôi xin phép được mời ông ta đến khám cho cô ấy có được không?
- Cô thật tốt, nhưng chắc cô lầm với cô gái khác rồi. Cô không thể gặp Chiyo ở trên hành lang nhà trường được. Nó đã thôi học hai năm rồi.
- Có phải chúng ta đang nói đến cô ấy không? Cô ấy rất đẹp, cặp mắt màu xanh xám hấp dẫn.
- Nó có cặp mắt khác thường. Nhưng chắc có hai cô gái như thế ở Gion. Ai mà biết được!
- Tôi tự hỏi không biết có phải thời gian đã hai năm trôi qua từ khi tôi gặp cô ấy ở đấy không. Có lẽ cô ấy đã gây cho tôi ấn tượng mạnh khiến tôi có cảm giác như mới gần đây. Thưa bà Nitta, xin phép hỏi bà, cô ấy có khỏe không?
- Ồ khỏe, khỏe như cái cây đang lớn và nếu tôi nói không ngoa thì cô ta rất ngang bướng.
- Thì ra cô ta thôi học lâu rồi à? Kỳ lạ nhỉ?
- Đối với một geisha trẻ trung có tiếng như cô, tôi nghĩ Gion là nơi dễ sống. Nhưng cô biết đấy, thời buổi khó khăn, tôi không thể đầu tư tiền bạc vào bất kỳ ai được. Khi tôi nhận ra con Chiyo không xứng hợp…
- Tôi tin chắc chúng ta đang nói đến hai cô gái khác nhau rồi – Mameha nói – Thưa bà Nitta, tôi không tin rằng một nhà kinh doanh khôn ngoan như bà mà lại gọi Chiyo là người không xứng hợp.
- Cô có tin chắc tên cô ấy là Chiyo không? – Mẹ hỏi.
Không ai nghĩ có chuyện như thế, nhưng khi hỏi xong, bà ta đứng dậy, đi qua căn phòng nhỏ. Lát sau bà mở cửa và thấy Dì đang áp tai vào cửa để lắng nghe. Dì tránh sang một bên, tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra, và tôi đoán Mẹ cũng giả vờ không thấy Dì, và bà chỉ nhìn vào tôi và nói:
- Chiyo-Chan, vào đây một lát.
Khi tôi đóng cửa, đến quỳ trên chiếu để chào, Mẹ đã trở về ngồi lại ở bàn:
- Chiyo của chúng tôi đấy – Mẹ nói.
- Đúng là cô gái tôi nghĩ đến – Mameha nói – cô Chiyo, cô mạnh khỏe chứ? Tôi sung sướng khi thấy cô mạnh khỏe như thế này. Tôi vừa mới nói với bà Nitta, tôi rất lo cho sức khỏe của cô. Nhưng trông cô khỏe quá.
- Ồ, thưa cô, tôi rất khỏe – tôi đáp.
- Cám ơn con, Chiyo – Mẹ nói với tôi. Tôi cúi người chào để xin lui ra, nhưng trước khi tôi đứng dậy, Mameha nói:
- Thưa bà Nitta, cô ta thật đẹp. Xin thưa với bà, nhiều lần tôi có ý định đến xin phép bà cho cô ấy làm em út của tôi. Nhưng bây giờ biết cô ta không còn luyện tập…
Chắc Mẹ kinh ngạc khi nghe thế, vì mặc dù bà đã đưa tách trà lên miệng để uống, nhưng bà dừng lại nửa chừng và ngồi bất động trong suốt thời gian tôi ra khỏi phòng. Tôi vừa trở về chỗ cũ trên nền hành lang mới nghe bà cất tiếng đáp:
- Cô Mameha, một geisha nổi tiếng như cô…cô có thể có học trò tập sự ở Gion làm em út rất dễ.
- Đúng là nhiều người thường yêu cầu tôi nhận họ làm em út. Nhưng hơn một năm nay, tôi không nhận người nào làm em út hết. Chắc bà nghĩ đang thời buổi đại suy thoái khủng khiếp như thế này, khách làng chơi sẽ thưa bớt, nhưng thực ra, tôi chưa bao giờ quá bận rộn như bây giờ. Tôi nghĩ người giàu vẫn cứ giàu, ngay cả thời buổi như thế này.
- Bây giờ họ cần vui chơi giải trí hơn bao giờ hết – Mẹ đáp – nhưng cô nói…
- À, chuyện tôi nói ư? Thì chẳng có gì khác. Chắc tôi không nên dông dài làm mất thì giờ của bà nữa. Tôi rất sung sướng khi thấy Chiyo khỏe mạnh trở lại.
- Vâng, rất khỏe, Nhưng thưa cô Mameha, xin cô nán lại một lát rồi hãy về. Cô vừa nói cô có ý định nhận Chiyo làm em út à?
- Phải, nhưng cô ấy đã thôi tập luyện từ lâu rồi. Vả lại, tôi tin chắc bà có lý do chính đáng khi quyết định không cho cô ấy học tiếp. Tôi không dám mạn đàm đến quyết định của bà.
- Thật khổ là thời buổi bây giờ người ta phải buộc lòng làm những việc ngoài ý muốn của mình. Tôi không thể để cho nó luyện tập tiếp được. Tuy nhiên, thưa cô Mameha, nếu cô thấy nó có tiềm năng, tôi nghĩ tiền bạc cô bỏ ra đầu tư cho nó, thê nào cô cũng được đền bù xứng đáng.
Mẹ đang cố lợi dụng Mameha, không có geisha nào trả tiền học phí cho em út của mình hết.
- Tôi rất muốn đầu tư, nhưng đang lúc đại suy thoái…
- Có lẽ tôi phải cố tìm ra cách để giải quyết – Mẹ nói – Nhưng Chiyo là đứa rất cứng đầu và nợ rất nhiều. Tôi nghĩ, nếu nó trả lại được, quả là điều hết sức ngạc nhiên.
- Cô gái đẹp như thế mà ngạc nhiên à? Phải nói nếu cô ta không trả được nợ mới là ngạc nhiên.
- Dù sao cũng còn những chuyện phiền phức trong cuộc sống hơn cả tiền bạc phải không? Ai cũng muốn giúp đỡ một cô gái như Chiyo hết, tôi có thể tìm cách để đầu tư thêm vào nó, chỉ vào việc học thôi, xin cô hiểu cho như thế. Nhưng việc đầu tư này sẽ đi đến đâu?
- Tôi biết nợ của Chiyo lớn đấy. Song tôi tin cô ta sẽ trả hết vào năm cô ta hai mươi tuổi.
- Hai mươi? – Mẹ thốt lên – Tôi không tin cô gái nào ở Gion làm được việc ấy. Mà đang lúc gặp thời khó khăn…
- Phải, đúng là đất nước đang ở trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
- Theo tôi thì đầu tư vào Bí Ngô có lẽ an toàn hơn, dù sao trong trường hợp của Chiyo, với người chị cả như cô, nợ của nó sẽ gia tăng trước khi trả dần được.
Mẹ không nói đến học phí của tôi, mà bà nói đến phí tổn bà phải trả cho Mameha. Một geisha tầm cỡ như Mameha hưởng phần lợi tức của em út lơn hơn một geisha bình thường.
- Thưa cô Mameha, - Mẹ nói tiếp - nếu cô còn thì giờ nán lại, tôi xin đưa ra một đề nghị như thế này cô nghe có được không. Nếu cô Mameha danh tiếng nói rằng Chiyo sẽ trả hết nợ vào năm 20 tuổi, làm sao tôi không tin? Đương nhiên một cô gái như Chiyo sẽ không thành công nếu không có một người chị cả như cô, thế nhưng nhà kỹ nữ của chúng tôi bây giờ gặp nhiều khó khăn, tôi không thể đưa với cô những điều kiện mà cô thường được người ta đề nghị. Cho nên tôi chỉ có thể đề nghị trả cho cô một nửa số tiền công cô lấy của người khác khi nào Chiyo có lợi tức.
- Hiện giờ tôi có nhiều người đưa ra những đề nghị rất rộng rãi – Mameha nói - Nếu tôi nhận cô ta làm em út, tôi không thể nào giảm bớt tiền công được.
- Tôi chưa nói hết, cô Mameha. Đây là đề nghị của tôi, quả thật tôi chỉ có đủ khả năng trả cho cô một nửa số tiền công cô lấy của người khác. Nhưng nếu Chiyo tìm cách trả hết nợ cho tôi vào năm 20 tuổi, như cô tiên kiến, thì tôi sẽ trả hết phần còn lại kia cho cô, cộng thêm tiền phụ trội ba mươi phần trăm nữa. Chắc cô sẽ kiếm được nhiều tiền thêm dài dài.
- Còn nếu đến năm 20 tuổi mà Chiyo không trả được hết nợ?
- Trường hợp này tôi xin lỗi thưa trước là cả hai chúng ta đều lỗ thôi. Nhà kỹ nữ chúng tôi chắc không thể trả nổi tiền phí tổn chúng tôi mắc nợ cô được.
Im lặng một lát rồi Mameha thở dài.
- Thưa bà Nitta, tôi rất dốt tính toán, nhưng nếu tôi hiểu không lầm thì bà muốn tôi nhận lãnh một nhiệm vụ mà bà nghĩ có thể bất khả thi, vì tiền phí tổn ít hơn thể lệ rất nhiều. Nhiều cô ở Gion muốn làm em út tôi, đã đưa ra những điều kiện khích lệ hơn nhiều. Chắc tôi phải từ chối đề nghị của bà thôi.
- Cô nói đúng - Mẹ đáp – ba mươi phần trăm quả thấp thật, nhưng nếu cô thành công, tôi sẽ trả cho cô gấp đôi.
- Nhưng nếu tôi thất bại thì không có gì hết.
- Xin cô đừng nghĩ đến chuyện không có gì. Một phần phí tổn của Chiyo sẽ được trả đền cho cô. Nhà kỹ nữ chỉ không thể trả cho cô số tiền phụ trội mà thôi.
Tôi nghĩ Mameha sẽ trả lời không, nhưng cô ta nói:
- Tôi muốn biết củ thể số nợ của Chiyo bao nhiêu.
- Để tôi lấy sổ kế toán cho cô xem - Mẹ đáp.
Tôi không nghe hai người nói thêm gì nữa vì khi ấy bà Dì không muốn để tôi nghe lén thêm nên sai tôi đi làm một số công việc lặt vặt ở ngoài. Suốt buổi chiều tôi nôn nao bồn chồn vì không biết câu chuyện giữa hai người ra sao. Nếu Mẹ và Mameha không thỏa thuận được với nhau, tôi sẽ sống mãi cuộc đời của một đứa hầu gái y như con rùa vẫn là con rùa.
Khi tôi về lại nhà, Bí Ngô vẫn quỳ trên hành lang gỗ ngoài sân, gảy đàn Shamisen rất ồn. Khi thấy tôi, cô ta có vẻ mừng rỡ gọi tôi đến:
- Kiếm cớ mà vào phòng Mẹ - cô ta nói – Bà ấy ngồi trong phòng suốt cả buổi chiều với cái bàn tính. Mình đóan bà muốn nói chuyện với bạn đấy. Xong việc, chạy xuống đây ngay báo cho mình biết với.
Tôi nghĩ đây là một ý kiến hay. Một trong những công việc lặt vặt tôi làm là mua thuốc xức ghẻ cho bà bếp, nhưng tiệm thuốc hết thuốc, cho nên tôi định lên lầu xin lỗi Mẹ về việc đi mua không có thuốc. Dĩ nhiên bà chẳng quan tâm đến chuyện này, thậm chí có lẽ bà còn không biết chuyện tôi được đi sai làm công chuyện bên ngoài. Nhưng ít ra tôi cũng có cớ để vào phòng bà.
Thì ra khi ấy Mẹ đang nghe kịch trên radio. Mọi khi nếu tôi vào phòng bà như thế, bà ta sẽ vẫy tôi vào và tiếp tục nghe radio. Nhưng hôm nay tôi ngạc nhiên thấy bà tắt radio, gấp sổ lại khi thấy tôi bước vào. Tôi cúi người chào và đến quỳ trước bàn.
- Trong khi cô Mameha đến đây – bà nói – tao thấy mày chùi sàn nhà ở hành lang trước. Mày có nghe tao và cô ấy nói chuyện phải không?
- Không thưa Mẹ, trên mặt sàn có vết xước, Bí Ngô và con cố sức để chùi cho hết.
- Tao chỉ mong sao cho mày thành một geisha tốt chứ không thành một đứa nói láo – bà nói và cười nhưng vì không lấy ống vố ra khỏi miệng, nên bà thổi vào ống vố khiến cho tàn thuốc trong bầu thép văng ra ngoài. Một số tàn thuốc còn cháy bay xuống áo kimono của bà. Bà liền để ống vố lên bàn, đưa tay hất lấy hất để tàn thuốc ra khỏi áo, và khi thấy áo không bị hề hấn gì, bà có vẻ mừng ra mặt.
- Này Chiyo – bà nói tiếp – mày đã ở đây hơn một năm rồi.
- Thưa Mẹ, hơn hai năm.
- Trong thời gian này tao không để ý đến mày. Thế mà hôm nay có một nàng geisha như Mameha đến nói là muốn làm chị cả của mày. Tao thấy khó hiểu quá!
Theo chỗ tôi biết thì Mameha muốn trả thù Hatsumono hơn là muốn giúp tôi. Nhưng tôi không thể nói như thế với Mẹ. Tôi định trả lời Mẹ rằng tôi không biết lý do tại sao Mameha quan tâm đến tôi, nhưng chưa kịp nói, cửa phòng của Mẹ mở ra, và giọng nói của Hatsumono cất lến:
- Xin lỗi Mẹ, con không biết Mẹ đang mắng con ở!
- Nó sắp không phải là con ở nữa rồi - Mẹ đáp – hôm nay chúng ta có người khách đến thăm, chuyện này chắc làm cho cô quan tâm đấy.
- Phải, con nghe Mameha có đến để vớt con cá tuế trong bể nước ra – Hatsumono nói. Cô ta bước tới quỳ trước bàn, quỳ gần đến nỗi tôi phải nhích ra xa để đủ chỗ cho hai người.
- Mameha lấy cớ gì đấy cho rằng Chiyo sẽ hoàn lại số tiền nợ vào năm nó hai mươi tuổi.
Hatsumono quay mặt về phía tôi. Nhìn nụ cười của cô ta, người ta có thể nghĩ đấy là nụ cười nhân hậu của người mẹ thương con. Nhưng cô ta đã nói như thế này:
- Thưa Mẹ, có lẽ được, nếu Mẹ bán nó cho nhà thổ…
- Thôi Hatsumono, tôi không mời cô vào đây để nghe chuyện này. Tôi muốn biết vừa rồi cô đã làm gì khiêu khích cô ta?
- Có lẽ con đã làm cho cô Hoàn Hảo cảm thấy thua sút khi đi ngoài đường thì có, chứ làm việc gì khác thì không.
- Cô ta có ý đồ gì đấy. Ta muốn biết ý đồ của cô ta.
- Thưa Mẹ, chẳng có gì bí mật. Cô ta chỉ muốn đuổi kịp con bằng cách dùng cô Bé Ngốc.
Mẹ không trả lời, bà có vẻ suy ngẫm về điều Hatsumono vừa nói. Cuối cùng bà ta nói:
- Có lẽ cô ta nghĩ Chiyo sẽ thành công hơn Bí Ngô, và muốn kiếm ra được nhiều tiền ở nó. Nếu thế thì ai mà có thể trách cô ta được?
- Thưa Mẹ, thực ra Mameha không cần Chiyo để kiếm nhiều tiền đâu. Bộ Mẹ nghĩ là vô cớ mà cô ta chịu bỏ thì giờ ra huấn luyện một con bé đang ở cùng nhà kỹ nữ với con sao? Mameha muốn lập quan hệ với con chó của Mẹ, nếu cô ta nghĩ việc này giúp cô ta loại con ra khỏi Gion.
- Thôi thôi Hatsumono, tại sao cô ta lại muốn lọai cô ra khỏi Gion?
- Vì con đẹp hơn. Có phải cô ta cần có lý do chính đáng không? Cô ta muốn làm nhục con bằng cách nói với mọi người “Ồ, xin mời gặp cô em út của tôi. Cô ta đang sống cùng nhà với Hatsumono đấy. Nhưng cô ta là viên ngọc quý cho nên họ muốn phó thác cô ấy cho tôi để dìu dắt?"
- Tôi không tin Mameha làm thế - Mẹ nói, hơi thở hổn hển.
- Nếu cô ta nghĩ có thể làm cho Chiyo trở thành một geisha giỏi hơn Bí Ngô, - Hatsumono nói tiếp – cô ta sẽ thất vọng cho mà xem, nhưng con vui mừng khi thấy Chiyo mặc áo kimono đi dạo phố. Đây là cơ hội ngàn vàng cho Bí Ngô. Có khi nào Mẹ thấy cảnh con mèo con chụp bắt quả bóng ở sợi dây chưa? Bí Ngô sẽ trở thành xuất sắc sau khi được rèn luyện đầy đủ.
Mẹ có vẻ thích được như thế vì bà nhếch mép như muốn cười.
Ta không biết rồi sẽ có ngày được huy hòang như thế không. Sáng hôm nay khi ta thức dậy thì thấy hai đứa con gái vô dụng đang sống trong nhà kỹ nữ. Giờ đây chúng sẽ chiến đấu với nhau, dưới sự dìu dắt của hai geisha sáng chói nhất Gion

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 10:36:39Chuột lắc>
CHƯƠNG 12



Đã hiệu đính
Truyện đã được đưa vào thư viện.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 10:55:04Chuột lắc>
CHƯƠNG 13

Suốt mùa xuân năm 1934, sau khi tôi đã luyện tập được hai năm, Hatsumono và Mẹ quyết định đã đến lúc cho Bí Ngô làm lễ chính thức trở thành geisha tập sự. Dĩ nhiên không ai nói cho tôi biết chuyện ấy, vì Bí Ngô đã được lệnh không được nói chuyện với tôi, còn Hatsumono và Mẹ thì không đời nào bỏ thì giờ nghĩ đến một việc như thế này. Tôi phát hiện ra việc này là vào một buổi chiều Bí Ngô bỗng ra khỏi nhà, rồi vào lúc chập tối cô ta trở về với mái tóc kiểu của một geisha tập sự - kiểu tóc được gọi là momoware, có nghĩa là “trái đào nứt”. Khi tôi thấy cô ta bước vào nhà, tôi cảm thấy đau đớn vì thất vọng và ganh tị. Cô ta không nhìn tôi, có lẽ cô ta nghĩ rằng việc khởi đầu làm geisha của cô đã tác động mạnh đến tôi. Với mái tóc chải ra sau thành hình một quả cầu từ hai bên thái dương rất đẹp, chứ không buộc lại sau gáy như mọi khi, cô ta trông ra vẻ là một thiếu nữ mặc dù khuôn mặt của cô ta vẫn còn non choẹt. Từ nhiều năm nay, cô ta và tôi thường ganh tị với các cô có mái tóc đẹp như thế. Bây giờ Bí Ngô sắp ra ngoài đời như geisha, còn tôi phải ở lại trong nhà, mù tịt về cuộc sống mới của cô ta.
Rồi đến ngày Bí Ngô mặc áo kimono của geisha tập sự lần đầu tiên cùng với Hatsumono đi đến phòng trà Mizuki để làm lễ ràng buộc hai người với nhau như chị em. Mẹ và Dì cũng đi, nhưng tôi thì không được. Tôi chỉ được đứng cùng họ trên hành lang trước nhà cho đến khi Bí Ngô từ trên lầu đi xuống có các chị hầu theo sau. Cô ta mặc chiếc kimono màu đen lộng lẫy, có huy hiệu của nhà kỹ nữ Nitta, và thắt chiếc khăn quàng lưng màu mận và vàng, mặt cô ta được tô trắng lần đầu tiên. Chắc anh nghĩ với đồ nữ trang trên tóc, và đôi môi tô đỏ choét, trông cô ta hãnh diện và xinh đẹp, nhưng tôi thấy cô ta có vẻ lo lắng nhiều hơn. Cô ta đi rất khó khăn vì áo quần lộng lẫy của người geisha tập sự rằng cồng kềnh. Mẹ đưa máy ảnh cho Dì, bảo Dì ra ngoài để chụp ảnh Bí Ngô khi cô được đánh đá lửa sau lưng để cầu may lần đầu tiên. Tất cả chúng tôi ở lại trong hành lang để khỏi bị dính hình vào ảnh. Các chị hầu nắm chặt tay của Bí Ngô trong khi cô xỏ chân vào giày gỗ cao mà chúng tôi gọi là okobo, lọai giày các geisha tập sự thường mang. Rồi Mẹ đến đứng sau lưng Bí Ngô, chụp một tấm ảnh với tư thế như là bà sắp đánh đá lửa, mặc dù trên thực tế lúc nào Dì hay một người hầu làm việc ấy. Khi chụp ảnh xong, Bí Ngô bước ra cửa, đi vài bước rồi quay nhìn lui. Những người khác đều đi ra ngoài với cô ta, nhưng tôi là người cô ta nhìn đến, vẻ mặt cô ta như muốn nói cô rất buồn trước tình thế xoay vần như thế này.
Cuối ngày ấy, Bí Ngô có tên geisha mới là Hatsumitjo. Từ “Hat” xuất phát từ Hatsumono và mặc dù tên mới này có thể giúp Bí Ngô hưởng được đôi chút danh tiếng của Hatsumono, nhưng thực tế cô ta không được như thế. Anh biết không, rất ít người biết tên geisha của cô, mà họ cứ gọi cô ta là Bí Ngô như trước.
Tôi rất nôn nóng muốn kể cho Mameha nghe chuyện nhập môn của Bí Ngô, nhưng cô ấy trong thời gian vừa qua rất bận rộn công việc, thường đi Tokyo theo lời yêu cầu của ông danna, và kết quả là chúng tôi không gặp nhau gần sáu tháng trời. Thêm vài tuần nữa trôi qua, cô ấy mới cho gọi tôi đến nhà cô ấy. Khi tôi bước vào nhà, chị hầu há hốc mồm sửng sốt, rồi một lát sau, Mameha từ phòng sau bước ra, cô ta cũng há hốc mồm sửng sốt. Tôi không biết cái gì làm cho họ kinh ngạc như thế. Rồi khi tôi quỳ xuống chào họ, nói tôi rất hân hạnh được gặp lại cô ta, thì cô ta không chú ý đến lời chào của tôi mà quay qua nói với chị hầu:
- Trời ơi, chị Tatsumi, lâu quá rồi phải không? Tôi đã không nhận ra cô ấy.
- Tôi mừng khi nghe cô nói thế, thưa cô – chị Tatsumi đáp – Tôi tưởng mắt tôi bị gì mà tôi không thấy rõ.
Khi ấy tôi tự hỏi không biết họ nói với nhau về cái gì. Nhưng rõ ràng trong sáu tháng không gặp nhau, tôi đã thay đổi quá nhiều mà tôi không nhận ra. Mameha bảo tôi quay đầu qua bên này rồi qua bên kia, miệng cứ lặp đi lặp lại “trời ơi, cô ta lớn xồ ra thành thiếu nữ rồi!”, rồi bỗng Tatsumi lôi tôi đứng lên, lôi hai tay tôi giang ra, chị dùng bàn tay đo eo, đo mông tôi rồi nói:
- Tốt rồi, chắc cô mặc kimono vừa văn rồi, và mang vớ cũng vừa rồi – tôi nghĩ chị nói thế là để khen mừng, vì khi chị nói, mặt chị lộ vẻ hân hoan sung sướng.
Cuối cùng Mameha sai chị Tatsumi dẫn tôi ra phòng sau, mặc kimono vào cho tôi. Tôi mặc áo vải xanh trắng khi đến đây, chiếc áo tôi mặc đi học sáng nay, nhưng chị Tatsumi đã thay cho tôi chiếc kimono bằng lụa màu xanh đậm, có in hình những chiếc bánh xe nhỏ màu vàng tươi và đỏ. Đây không phải là chiếc kimono đẹp nhất, nhưng khi tôi nhìn vào tấm gương lớn trong khi chị Tatsumi buộc dải thắt lưng màu lục nhạt quanh bụng tôi, tôi thấy ngoại trừ mái tóc thường, tôi có thể xem mình như một nàng geisha tập sự chuẩn bị đi dự tiệc. Khi ra khỏi phòng, tôi cảm thấy tự hào và tôi nghĩ thế nào Mameha cũng há hốc mồm ra mà nhìn, hay có cử chỉ ngạc nhiên. Nhưng cô chỉ đứng dậy, nhét cái khăn nhỏ vào ống tay áo, rồi đi ra cửa, mang đôi hài sơn màu lục vào chân và quay lại nhìn tôi:
- Rồi chưa? – cô hỏi – có đi không?
Tôi không biết chúng tôi đi đâu nhưng tôi cảm thấy rất sung sướng khi nghĩ đến chuyện được cùng Mameha đi ra phố cho mọi người thấy. Chị hầu đem ra cho tôi một đôi hài sơn mài có màu xám nhạt. Tôi mang hài vào rồi đi theo Mameha xuống cầu thang âm u. Chúng tôi đi ra đường, một bà già cúi thấp người chào Mameha, rồi bà quay qua phía tôi, bà cũng chào tôi như thế. Tôi ngẩn người sửng sốt vì chưa có ai chú ý đến tôi ở ngoài đường như thế này. Ánh mặt trời chói chang làm tôi hoa mắt, khiến tôi không biết bà ta có quen biết gì với tôi không. Nhưng tôi chào trả trước khi bà ta đi tiếp. Tôi nghĩ có lẽ bà ta là một trong các cô giáo của tôi, nhưng chỉ một lát sau, chuyện như thế lại diễn ra nữa, lần này là một geisha trẻ tôi thường mến mộ, nhưng trước đây chưa bao giờ cô ta nhìn đến tôi.
Hình như tất cả mọi người chúng tôi gặp trên đường đều nói đôi lời với Mameha, hay ít ra cũng cúi chào cô, rồi sau đó họ gật đầu hay cúi chào tôi. Nhiều lần tôi dừng lại để chào trả, thành ra tôi đi tụt ra sau Mameha vài bước. Cô ấy thấy tôi đi đứng khó khăn, liền dẫn tôi vào một con hẻm yên tĩnh để dạy cho tôi cách đi. Cô ấy nói rằng tôi đi lúng túng như thế là vì tôi chưa biết cách chuyển động nửa người phía trên riêng rẽ với nửa người phía dưới. Khi tôi chào ai, tôi phải dừng bước. Cô ấy nói:
- Chậm bước là cách biểu lộ lòng kính nể rồi. Càng chậm chừng nào càng tỏ ra mình kính nể chừng nấy. Cô có thể dừng lại để chào giáo viên của cô, nhưng đôi với những người khác, đừng có dừng lại làm gì, vì như thế biết khi nào cô mới đi đến nơi. Cô cứ bước chậm lại một chút, sao cho vạt áo kimono phất phơ là được. Khi người đàn bà đi, làm sao cho người ta có cảm giác đấy là làn sóng lăn tăn tỏa vào bờ cát.
Tôi đi lui đi tới trong đường hẻm như Mameha đã chỉ dẫn, cô ấy nhìn thẳng vào chân tôi để xem vạt áo kimono có phất phơ hay không. Khi Mameha thấy tôi đã làm được, bấy giờ chúng tôi mới đi ra ngoài đường phố lại.
Tôi thấy việc chào hỏi của chúng tôi đều theo một hay hai cách giản dị mà thôi. Khi chúng tôi gặp các cô geisha trẻ, thường thường các cô ấy đi chậm lại hay thậm chí có cô dừng hẳn lại để cúi chào Mameha thật thấp, và Mameha đáp lại bằng vài tiếng chào và gật nhẹ đầu, rồi cô geisha trẻ quay mặt nhìn tôi vẻ ngạc nhiên, lúng túng cúi chào, tôi phải chào trả, cúi người thấp hơn – vì tôi là người hạng thấp nhất trong số những người tôi gặp. Thế nhưng khi chúng tôi gặp một bà trung niên hay già, Mameha chào trước, rồi bà kia chào trả với vẻ kính cẩn, nhưng không cúi thấp như Mameha và sau đó, bà nhìn khắp người tôi rồi gật nhẹ đầu. Tôi luôn luôn đáp lễ bằng cách cúi người thật thấp trong khi hai chân vẫn bước.
Chiều hôm đó tôi kể cho Mameha nghe chuyện nhập môn của Bí Ngô, và mấy tháng sáu đó, tôi cứ mong sao cho cô ta nói đã đến lúc tôi bắt đầu tập sự làm geisha. Thế nhưng mùa xuân qua, rồi mùa hè đến, tôi vẫn không nghe cô ấy nói gì hết. Trái với cuộc sống hấp dẫn của Bí Ngô, tôi chỉ biết học tập và làm việc nhà, cũng như gặp Mameha chừng 15, 20 phút vào những buổi chiều khác trong tuần. Thỉnh thoảng tôi ngồi trong nhà cô ấy để nghe cô dạy những điều tôi cần biết, nhưng phần nhiều cô bảo tôi mặc áo kimono của cô rồi dẫn tôi đi khắp quận Gion, khi thì đi làm những việc lặt vặt, khi thì ghé vào nhà của người bói toán, khi thì đến tiệm người làm tóc giả. Thậm chí khi trời mưa, và cô ấy không có việc gì làm ngoài phố, chúng tôi cũng chống dù để đi từ tiệm buôn này đến nhà hàng khác để xem khi nào có loại nước hoa từ Ý nhập vào, hay là hỏi xem chiếc kimono sửa xong chưa, mặc dù kỳ hạn người thợ nhận sửa chưa đến ngày.
Mới đầu, tôi nghĩ có lẽ Mameha dẫn tôi đi như thế để cô ấy có thể dạy cho tôi nhiều chuyện như tư thế đi đứng cho đúng cách – vì cô ấy thường lấy quạt đánh vào lưng tôi để sửa dáng đứng của tôi cho thẳng hơn – và dạy cách xử thế với mọi người. Mameha hình như quen biết với tất cả mọi người, và luôn luôn dừng lại để cười chào họ, chúc tụng họ, thậm chí cả với những người hầu hèn hạ nhất, vì cô ấy cho rằng chính nhờ những người này cô ấy mới được cao sang, mới được nhiều người trọng vọng. Nhưng một hôm khi chúng tôi từ trong một tiệm sách bước ra, bỗng tôi nhận ra ý nghĩa của công việc cô ấy làm trong bấy lâu nay. Thật ra, cô ấy quan tâm đến việc đi đến tiệm sách hay đến tiệm người làm tóc giả, hay là đi đến tiệm người bán văn phòng phẩm. Việc đi mua sắm lặt vặt không phải là việc quan trọng, vả lại, cô ấy có thể sai gia nhân đi mua lúc nào không được. Cô ấy chỉ đi như thế cốt để cho mọi người ở Gion thấy chúng tôi đi với nhau trên phố. Cô ấy trì hoãn ngày nhập môn cho tôi là để mọi người có thì giờ chú ý đến tôi thôi.
Vào một buổi chiều tháng mười nắng ráo, chúng tôi ra khỏi nhà của Mameha, đi dọc theo bờ con suối Shirakawa, nhìn lá hoa anh đào rơi bay phất phới trên mặt nước. Rất nhiều người khác đi dạo như chúng tôi, và chắc chắn cũng đoán được là tất cả mọi người đều chào hỏi Mameha. Hầu như người nào chào Mameha, họ cũng đều chào tôi.
- Cô thấy cô cũng được mọi người biết hết không? – Cô ta hỏi.
- Em nghĩ, nếu con cừu mà đi theo người đẹp Mameha, người ta cũng chào nó.
- Đem cô so với cừu thì cũng lạ đấy. Nhưng thực ra tôi đã nghe nhiều người hỏi về cô gái có cặp mắt xám xinh đẹp. Họ không biết tên cô, nhưng chuyện này chẳng quan trọng. Dù sao thì người ta cũng sắp hết gọi cô là Chiyo rồi.
- Có phải cô Mameha muốn nói…
- Tôi muốn nói tôi đã hỏi ông Waza – đây là tên ông thầy bói của cô – ông ta cho biết ngày mùng ba tháng 11 là ngày tốt để làm lễ nhập môn cho cô.
Mameha dừng lại nhìn tôi vì tôi đứng sững như trời trồng, cặp mắt mở to bằng cái bánh tráng. Tôi không reo lên hay vỗ tay, nhưng tôi quá sung sướng đến nỗi nói không lên lời. Cuối cùng tôi cúi chào Mameha và cám ơn cô ấy.
- Cô sẽ thành một geisha xinh đẹp – cô ấy nói – nhưng nếu cô biết dùng con mắt để nói lên tư tưởng của mình thì chắc cô sẽ thành một geisha tuyệt vời hơn nữa.
- Em không biết dùng con mắt để biểu lộ tư tưởng ra sao.
- Con mắt là cơ quan biểu cảm nhất trên thân thể người ta. Nhất là cặp mắt của cô. Cô hãy đứng dậy để tôi chỉ cho cô thấy.
Mameha đến góc đường, để tôi đứng yên một mình trên con đường hẻm. Một lát sau cô ta đi tới, đi qua trước mặt tôi, mắt nhìn sang một bên. Tôi có cảm giác cô ấy sợ có chuyện gì xảy ra nếu cô nhìn về phía tôi.
- Nếu cô là đàn ông, cô sẽ nghĩ gì? – cô ta hỏi.
- Em nghĩ là cô lo đến chuyện tránh né em nên cô không nghĩ đến chuyện gì hết.
- Có khả năng tôi nhìn vào các vòi nước nằm dọc theo nền nhà không?
- Cho dù cô nhìn vào đấy thì em vẫn nghĩ cô tránh để khỏi nhìn vào em.
- Chính đấy là điều tôi đề cập đến. Cô gái nào có nét nhìn nghiêng đẹp thì đừng bao giờ “cố tình” dùng nó để biểu lộ sự bất bình của mình cho đàn ông thấy. Nhưng đàn ông sẽ nhìn vào mắt cô và tưởng cô nói với họ cái gì đấy bằng mắt, mặc dù cô không nói. Bây giờ cô hãy nhìn tôi lần nữa.
Mameha lại đi đến đầu góc đường rồi đi quay lại về phía tôi, nhưng lần này mắt cô nhìn xuống đất, cô đi với thái độ mơ mộng. Rồi khi đi đến gần tôi, mắt cô ấy ngước lên nhìn tôi một lát rồi vội vã quay đi. Phải nói là tôi cảm thấy như bị điện giật, nếu tôi là đàn ông chắc tôi nghĩ rằng cô ấy quá xúc động, phải quay mắt đi để che giấu cảm xúc.
- Nếu tôi nói lên được điều gì với đôi mắt bình thường của tôi – cô ấy nói với tôi – thì chắc cô còn nói được nhiều hơn nữa bằng đôi mắt của cô. Nếu cô dùng mắt để làm cho đàn ông hồn xiêu phách lạc, xỉu ngay tại đây trên đường, chắc tôi cũng không ngạc nhiên.
- Cô Mameha, nếu em có khả năng làm cho đàn ông hồn xiêu phách lạc, em nghĩ em sẽ sẵn sàng làm ngay cho cô xem.
- Tôi cam đoan cô làm được. Được rồi, ta thỏa thuận như thế này nhé, nếu cô dùng mắt để chặn được một người đàn ông đang đi trên đường, tôi sẽ làm lễ nhập môn cho cô ngay.
Tôi rất nóng lòng được làm lễ nhập môn, đến nỗi nếu Mameha thách tôi dùng mắt nhìn cho cây đổ xuống, e tôi cũng cố sức làm. Tôi yêu cầu cô ấy đi với tôi trong khi tôi thử với vài người đàn ông, cô ấy chịu liền. Người đầu tiên tôi gặp là một ông già rất già, đến nỗi trông ông ta như cái áo kimono bọc xương. Ông ta chống gậy đi chầm chậm trên đường, cặp kính lấm bụi lờ mờ đến nỗi nếu ông ta đi va vào góc nhà chắc cũng không làm tôi ngạc nhiên. Ông ta không chú ý gì đến tôi cho nên chúng tôi đi tiếp đến đại lộ Shijo. Chẳng bao lâu sau tôi thấy hai thương gia mặc âu phục, nhưng tôi cũng không gặp may. Tôi nghĩ họ đã nhận ra Mameha. Hay có lẽ họ cho cô ấy đẹp hơn tôi, vì họ không rời mắt khỏi cô ấy.
Tôi sắp bỏ cuộc thì tôi thấy một thanh niên khỏang 20 tuổi làm công việc đi giao hàng, anh ta đang bê một cái khay chất đầy các hộp đựng cơm trưa. Vào thời ấy, một số nhà hàng ăn uống ở Gion bán cơm hộp giao tận nơi, và vào buổi chiều họ cho một thanh niên đi lấy hộp không về. Thường thường hộp được chất vào cần xé rồi người đi lấy hộp hoặc là xách trên tay hoặc là buộc vào xe đạp. Tôi không hiểu tại sao anh thanh niên này lại dùng cái khay. Nhưng anh ta đã đến gần rồi, đang đi về phía tôi. Mameha nhìn anh ta và nói với tôi:
- Làm cho anh ta rớt khay đi.
Tôi đang phân vân không biết có phải cô ấy nói đùa không, thì bỗng cô đi rẽ sang con đường bên cạnh.
Tôi không tin một cô gái 14 tuổi – hay một phụ nữ bằng tuổi tôi, lại có thể dùng cách nhìn một thanh niên để cho anh ta làm rớt vật đang cầm trên tay, tôi nghĩ việc như thế này chỉ xảy ra trên màn ảnh hay trong tiểu thuyết mà thôi. Nếu hôm ấy tôi không thấy được hai điểm đáng lưu ý thì chắc tôi đã bỏ cuộc không thử làm gì. Trước hết anh thanh niên nhìn tôi hau háu như con mèo thấy chuột, và điểm thứ hai, hầu hết đường xá ở Gion không có lề đường, nhưng con đường tôi đang đi thì lại có, và anh chàng giao hàng đang đi giữa đường, không xa lề đường mấy. Nếu tôi tìm cách ép anh ta, thế nào anh ta cũng phải đi lấn vào lề đường rồi ép vào lề và làm cái khay rớt xuống. Tôi cúi xuống nhìn dưới đất trước mặt tôi, cố bắt chước như Mameha đã làm lúc nãy. Rồi tôi ngước mắt lên nhìn vào mặt anh ta một lát, đoạn quay mắt đi. Sau vài bước, tôi lại làm như thế một lần nữa. Lần này anh ta nhìn tôi đăm đăm, quên phứt cái khay trên tay, cũng như quên phứt lề đường dưới chân. Khi đến gần anh ta, tôi đi vào bên trong, đến gần sát bên anh đến nỗi anh ta không thể tiếp tục đi thẳng mà phải lấn vào để tránh đường, vừa đi vừa nhìn tôi, thế là anh ta vấp phải lề đường, té xuống một bên và làm rớt cái khay, các hộp đựng đồ ăn văng tung tóe ra. Tôi không làm sao khỏi cười cho được! Và tôi vui mừng thấy anh chàng thanh niên kia cũng cười. Tôi giúp anh ta lượm hộp lên, cười mỉm với anh trước khi anh cúi chào, anh cúi thật thấp, thấp hơn bất kỳ người đàn ông nào cúi chào tôi trước đó, rồi anh ta đi tiếp.
Một lúc sau tôi gặp Mameha, cô ấy thấy hết. Cô ta nói:
- Tôi nghĩ bây giờ cô em đã sẵn sàng để làm lễ nhập môn như lòng mong mỏi bấy lâu của cô rồi.
Nói xong, cô ấy dẫn tôi đi qua đại lộ chính, tới nhà của ông Waza, thầy tướng số của cô, yêu cầu ông ta chọn ngày tốt để làm lễ nhập môn, cũng như đến đền để cáo lễ trước thần linh, định giờ để làm tóc, cũng như định giờ để tổ chức nghi lễ cho tôi và Mameha kết làm chị em.
Đêm đó tôi không ngủ được. Điều mà tôi ao ước từ lâu nay cuối cùng đã đến khiến lòng tôi rạo rực biết bao! Nghĩ đến chuyện mặc áo đẹp mỹ miều và ra mắt trước mặt các ông ở trong phòng là đủ làm cho lòng bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi. Mỗi lần nghĩ đến chuyện này, tôi cảm thấy bải hoải chân tay. Tôi tưởng tượng tôi đang ở trong phòng trà, mở cửa căn phòng trải thảm rơm. Đàn ông quay đầu nhìn tôi, và dĩ nhiên tôi thấy ông Chủ tịch trong số họ. Thỉnh thoảng tôi tưởng tượng chỉ có mình ông trong phòng, không mặc âu phục mà mặc nhật phục như đàn ông thường mặc vào buổi tối để nghỉ ngơi thư giãn. Ông bưng tách rượu sake, mấy ngón tay láng lẩy như gỗ đánh bóng, và điều tôi mong muốn nhất trần đời là được rót rượu cho ông trong khi ông ngước mắt nhìn tôi, bốn mắt gặp nhau.
Tôi chưa quá 14 tuổi, nhưng tôi thấy mình như đã sống hai cuộc đời. Cuộc đời thì chưa bắt đầu, nhưng cuộc đời cũ thì đã chấm dứt rồi. Ngày ấy khi nhận được tin buồn từ gia đình, tâm hồn tôi lạnh lẽo như cảnh tuyết phủ vào mùa đông. Còn giờ đây vào cái đêm trước ngày làm lễ nhập môn, tâm hồn tôi như một vườn hoa đang bắt đầu đơm hoa kết trái, và giữa mảnh vườn ấy hiện ra một bức tượng. Đó là hình ảnh nàng geisha mà tôi ao ước.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 11:26:51Chuột lắc>
CHƯƠNG 14

Tôi đã nghe nói tuần lễ để cô geisha tập sự chuẩn bị làm lễ nhập môn giống như thời gian khi con sâu biến thành con bướm. Lời ví von nghe thật hay nhưng tôi không hiểu tại sao người ta lại ví như thế. Bởi con sâu bướm chỉ việc làm kén rồi ngủ một giấc trong kén, còn tôi thì trải qua một tuần mệt bở hơi tai. Đầu tiên, tôi phải làm tóc theo kiểu nàng geisha tập sự, kiểu “trái đào nứt”. Vào thời ấy ở Gion có nhiều thợ làm tóc, Mameha thường làm tóc tại một nơi rất đông khách. Tôi phải đợi gần hai giờ mới đến phiên mình. Mùi tóc bẩn tràn ngập cả phòng. Kiểu tóc lộng lẫy của giới geisha lúc bấy giờ quá cầu kỳ và tốn kém đến nỗi không ai đi làm một tuần quá một lần. Vì thế tóc của họ cũng hôi ngay cả khi họ rẩy nước hoa lên tóc.
Cuối cùng đến phiên tôi, đầu tiên người thợ làm tóc để đầu tôi tựa lên cái bồn gội lớn, với tư thế đó, tôi cảm thấy như ông ta sắp sửa chặt đầu tôi. Rồi ông ta xối nước ấm và xát xà phòng lên đầu tôi. Từ “xát” chưa đủ để miêu tả hết công việc của ông ta, vì mấy ngón tay của ông cào cấu vào da đầu tôi như người nông dân cào đất ruộng của họ vậy. Nhìn lại thời ấy, tôi hiểu lý do tại sao. Gàu trên đầu là vấn đề khó khăn nhất của người geisha, không có gì làm cho họ mất vẻ hấp dẫn bằng, và không có gì làm cho mái tóc của họ dơ bẩn bằng. Người thợ làm tóc đã có lý do chính đáng để làm thế, nhưng sau một lát, đầu tôi ê ẩm đến phát khóc. Nhưng ông thợ vẫn nói:
- Nếu cô thấy muốn khóc thì cứ khóc, cô hiểu lý do tại sao tôi để đầu cô lên bồn gội rồi.
Tôi nghĩ đây là lời nói đùa rất ý nhị vì sau khi nói xong, ông ta cười ha hả.
Khi đã gội đầu xong, ông ta bảo tôi ngồi lên mép chiếu, lấy cái lược gỗ chải lên tóc tôi cho đến khi cổ tôi đau nhừ vì phải ghì lại mỗi khi ông ta kéo lược trên tóc tôi. Cuối cùng, khi thấy tóc thẳng thớm rồi, ông ta chải dầu hoa trà lên tóc, làm cho mái tóc thơm ngát. Tôi sợ chưa hết các giai đoạn gay cấn, và quả vậy, ông ta lấy thỏi sáp ra. Mặc dù tóc đã chải dầu hoa trà thơm lừng, nhưng khi thoa sáp vào tóc, ông ta phải dùng thanh sắt nóng cho sáp mềm ra. Quả con người là con vật thông minh, cho nên người thiếu nữ mới chịu ngồi yên để cho người khác chải sáp vào tóc mà chỉ biết khóc lặng lẽ thôi. Nếu người ta làm thế cho một con chó, thế nào nó cũng cắn cho toạc tay ra.
Khi tóc đã thoa sáp đều rồi, người thợ làm tóc chải tóc phía trước ra sau, rồi chải cả đầu tóc lên thành một cái núi lớn, trông như cái gối để găm kim trên đỉnh đầu. Khi nhìn từ phía sau, cái gối găm kim này có đường nứt ở giữa như bị chẻ ra làm hai, vì thế mà kiểu tóc này có tên là “trái đào nứt”.
Mặc dù tôi đã để kiểu tóc "trái đào nứt" này nhiều năm, nhưng vẫn còn một thứ tôi không biết, mãi cho đến một thời gian sau mới có người cho tôi hay. Đó là cái nùi – mà tôi gọi là cái gối găm kim – được thành hình bằng cách vấn tóc quanh một miếng vải. Ở phía sau nùi nơi có chỗ nứt, người ta thấy miếng vải lòi ra. Miếng vải có thể có hình vẽ hay màu sắc, nhưng của người geisha tập sự thường là màu đỏ, ít ra cũng phải một thời gian sau mới thay đổi. Một buổi tôi có người đàn ông nói với tôi:
- Hầu hết các cô gái còn thơ ngây không biết kiểu tóc “trái đào nứt” có ý nghĩa khêu gợi như thế nào đâu. Cô hãy tưởng tượng có người đàn ông đi sau lưng cô geisha, những ý nghĩ tục tĩu nảy ra trong óc anh ta, khiến anh ta muốn thực hiện những ý nghĩ đó. Rồi anh ta thấy mái tóc “trái đào nứt” trên đầu cô ta, mái tóc có một miếng vải đủ lớn nằm trong một cái khe…cô nghĩ đến cái gì?
À, tôi không nghĩ đến cái gì hết, tôi nói với ông ta.
- Cô không sử dụng trí tưởng tượng à?
Một lát sau tôi hiểu ra, đỏ mặt e thẹn, thấy thế ông ta cười khà.
Trên đường trở về nhà, tôi quên phắt da đầu đau nhức như đất sét quên chuyện người thợ dùng dụng cụ để nắn nó thành đồ gốm sứ. Mỗi lần tôi nhìn bóng tôi trong tủ kính ở các tiệm hàng, tôi cảm thấy tôi trở thành một người rất nghiêm trang, không còn bé bỏng nữa mà đã trở thành thiếu nữ. Khi tôi về đến nhà kỹ nữ, bà Dì khen lấy khen để kiểu tóc của tôi. Ngay cả Bí Ngô cũng không chịu được, cô đến nhìn tôi một lần, ánh mắt khâm phục, nhưng chắc Hatsumono sẽ giận lắm nếu cô ta biết được. Còn anh có biết phản ứng của Mẹ ra sao không? Bà nhón chân để nhìn cho kỹ - vì tôi đã cao hơn bà – rồi phàn nàn rằng có lẽ tôi nên đến tiệm làm tóc của Hatsumono hơn là tiệm của Mameha.
Cô geisha tập sự nào mới đầu cũng rất hãnh diện vì mái tóc của mình, nhưng ba bốn ngày sau là họ bắt đầu đâm ghét. Vì chắc anh đã biết, khi làm tóc xong về nhà, cô ta mệt phờ người, sẽ nằm lăn ra ngủ khì, kê đầu lên gối, thế nào đầu tóc cũng xẹp xuống. Khi thức dậy, cô ta phải đến tiệm làm tóc lại ngay. Cho nên cô geisha tập sự phải học cách để giữ mái tóc cho khỏi hư. Cô ta sẽ không dùng cái gối bình thường nữa, mà dùng cái gối đặc biệt gọi là Takamakura, loại gối tôi đã nói cho anh biết rồi. Cái gối này có hình như cái nôi để cho ta tựa gáy lên đấy. Mặc dù trên gối có chêm một lớp vỏ trấu, nhưng cổ vẫn đau nhừ như kê trên đá. Cô gái nằm ngủ, mái tóc sẽ hở lên trên, nhưng khi thức dậy, có thể cô ta di chuyển đầu sao đó khiến cho mái tóc chạm vào chiếu khiến nó xẹp đi. Trường hợp của tôi, bà Dì đã giúp tôi tránh khỏi tình trạng này bằng cách để một cái khay bột gạo dưới mái tóc của tôi, khi ngủ mà đầu tôi gục ra sau thì tóc sẽ chạm lên bột gạo, bột dính vào sáp sẽ làm hư mái tóc. Cho nên tôi phải cố giữ đầu cao lên khi ngủ. Tôi đã thấy cảnh Bí Ngô phải trải qua thử thách này. Bây giờ đến phiên tôi. Mỗi khi thức dậy vào buổi sáng thấy tóc bị hư, tôi phải đến xếp hàng ở tiệm làm tóc đợi đến phiên bị hành hạ.
Chiều nào trong tuần chuẩn bị làm lễ nhập môn của tôi, bà Dì cũng mặc cho tôi áo quần đủ bộ của một geisha tập sự và tập cho tôi đi lui đi tới trên hành lang đất trong nhà kỹ nữ để tôi quen dần. Mới đầu rất khó đi, tôi cứ sợ ngã nhào ra phía sau. Thiếu nữ thường mặc áo có nhiều trang trí hơn người già, nghĩa là màu sắc sặc sỡ hơn, vải màu mè hơn, nhưng chiếc khăn quàng bụng cũng dài hơn. Người phụ nữ đứng tuổi thắt khăn quành phía sau theo kiểu mà chúng tôi gọi là “nút trống”, vì cái nút có hình một cái hộp nhỏ gọn gàng, cái nút này không cần nhiều vải lắm. Nhưng các cô còn trẻ vào khoảng hai mươi, họ quàng dải thắt lưng theo kiểu văn nghệ hơn. Trong trường hợp nàng geisha tập sự, kiểu này là kiểu thời trang hấp dẫn nhất thường được gọi là dải darari – “dải lủng lẳng” – được bím thành cái nút cao lên tận đầu xương bả vai, và đầu mút dải lủng lẳng gần phết đất. Áo kimono không cần phải có màu sáng, nhưng dải thắt lưng hầu như luôn luôn có màu sắc tươi sáng. Khi người geisha tập sự đi trước mắt anh trên đường phố, anh không để ý đến cái áo kimono mà chú ý đến dải thắt lưng lủng lẳng óng ánh sáng – với một phần cái kimono ở trên hai vai và hai bên vạt áo. Để có được như thế này, dải thắt lưng phải dài, dài bằng chiều dài cả căn phòng. Nhưng không phải chiều dài của dải thắt lưng làm cho cô geisha khó mặc, mà chính trọng lượng mớii làm cho cô ta khó khăn, vì nó được làm bằng gấm thêu nặng nề.
Ngoài dải thắt lưng nặng nề, cái áo kimono cũng nặng vì hay tay áo quá rộng. Khi người mặc dang hai tay ra, tay áo thụng xuống làm thành hai cái túi. Cái túi thụng này chúng tôi gọi là furi, người geisha tập sự phải mặc áo tay thụng này một thời gian. Nếu không cẩn thận, cô ta có thể để tay áo lên mặt đất, và khi múa cô ta rất dễ dẫm chân lên nó, nên cô ta phải nhớ cẩn thận vấn chúng lên nhiều lần để khỏi vướng.
Nhiều năm sau, nhà khoa học danh tiếng của trường đại học Kyoto, trong một đêm quá say đã nói về bộ y phục của cô geisha tập sự như thế này “Loài khỉ ở Trung Phi được xem là loài linh trưởng điển hình nhất, nhưng tôi nghĩ cô geisha tập sự ở Gion có lẽ là loại linh trưởng có màu sắc tươi sáng hơn hết!”
Cuối cùng ngày Mameha và tôi làm lễ kết tình chị em đã đến. Tôi tắm rửa từ sớm, mặc quần áo. Bà Dì giúp tôi hóa trang và sửa sang mái tóc. Vì sáp và chất hóa trang phủ lên da tôi, tôi thấy mặt tôi chẳng còn cảm giác gì hết. Mỗi lần tôi sờ vào má, tôi chỉ cảm thấy nằng nặng nơi ngón tay. Tôi làm thế nhiều lần quá khiến bà Dì cứ phải làm hóa trang lại. Sau khi nhìn vào gương, tôi thấy một người hiện ra rất xa lạ. Tôi thấy trong gương là một cô gái khác đang nhìn tôi. Cô ta đang điểm trang tuyệt mỹ của một geisha. Đôi môi đỏ tươi trên khuôn mặt trắng toát, hai má phớt hồng. Tóc trang điểm bằng hoa lụa và nữ trang có hình chùm lúa. Cô ta mặc kimono đen có huy hiệu của nhà kỹ nữ Nitta, từ dưới lai áo một con rồng thêu uốn mình vươn lên tận giữa hai đùi chân. Cái bờm thêu bằng chỉ có màu đỏ rất tươi, móng và răng của nó màu bạc và mắt màu vàng, vàng thật. Không làm sao tôi ngăn được nước mắt khỏi trào ra, tôi phải nhìn lên trần nhà để nước mắt khỏi trào xuống má. Trước khi ra khỏi nhà, tôi lấy cái khăn của ông Chủ tịch cho, nhét vào dưới dải thắt lưng để cầu may.
Bà Dì đi theo tôi đến tận nhà Mameha, tôi bày tỏ lòng biết ơn cô ấy, xin hứa sẽ kính trọng cô ấy. Rồi cả ba chúng tôi đến đền thờ Gion, ở đây Mameha và tôi vỗ tay xin cáo trước thần linh là chúng tôi sắp làm lễ kết tình chị em. Tôi cầu nguyện thần linh gia hộ cho chúng tôi rồi tôi nhắm mắt, cám ơn thần linh đã ban cho tôi điều tôi ước vọng từ ba năm nay, đó là trở thành geisha.
Lễ kết tình chị em được tở chức tại phòng trà Ichiriki, có lẽ đây là phòng trà nổi tiếng nhất tại Nhật. Nổi tiếng tại vì ở đây có một võ sĩ đạo danh tiếng ẩn náu vào những năm đầu thập niên 70. Hầu hết các phòng trà ở Gion đều nằm khuất sau mặt đường, ngoại trừ cổng vào đơn sơ, nhưng phòng trà Ichiriki nằm ngay mặt tiền, nó tọa lạc trên một góc đường đông đúc ở đại lộ Shijo, có tường bao quanh sơn màu hồng nhạt, với mái ngói che tường. Nơi này trông giống một lâu đài.
Đến họp mặt với chúng tôi có hai người em út của Mameha và bà Mẹ nữa. Khi chúng tôi gặp nhau ở vườn ngoài, một người hầu dẫn chúng tôi vào tiền sảnh rồi đi theo một hành lang thật đẹp chạy ngoằn ngoèo dẫn đến một căn phòng nhỏ trải thảm nằm phía sau nhà hàng. Chưa bao giờ tôi thấy đồ đạc quanh phòng sang trọng và đẹp như thế này. Đồ đạc bằng gỗ bóng láng, tường trát vữa láng mịn. Phòng ngát mùi thơm của phấn kuroyaki – một lọai phấn thơm làm từ gỗ thơm xay nhỏ có màu xám. Đây là lọai phấn thơm cổ truyền, ngay cả Mameha là người geisha có đầu óc bảo thủ cũng ưa loại nước hoa của Tây phương hơn. Nhưng nhà hàng Ichiriki vẫn thích lọai hương thơm kuroyaki, loại mùi hương đã được nhiều thế hệ geisha xử dụng. Ngay cả tôi bây giờ cũng còn giữ lại một ít trong cái chai gỗ, mỗi khi ngửi đến, tôi lại nhớ tới ngày hôm ấy.
Buổi lễ có bà chủ phòng trà Ichiriki đến dự, bà ta chỉ ở khoảng 10 phút. Một chị hầu mang đến một cái khay đựng nhiều tách sake, Mameha và tôi cùng uống chung. Tôi uống 3 hớp ở một tách rồi đưa cho Mameha, cô ấy uống ba hớp. Chúng tôi tiếp tục như vậy với ba tách rựơu, thế là xong. Kể từ khi ấy, tôi không còn là Chiyo nữa, tôi là nàng geisha tập sự có tên là Sayuri. Trong tháng đầu học nghề, nàng geisha trẻ này được xem là người “thực tập”, không được trình diễn múa hay giải trí với khách mà không có người chị cả, và chỉ làm việc ít thôi, còn thì đều dùng để quan sát và học hỏi. Riêng cái tên Sayuri của tôi, Mameha đã hội ý với người thầy bói khá lâu mới tìm ra được. Âm thanh của cái tên không thành vấn đề, mà ý nghĩa của nó mới quan trọng, cũng như các nét viết của cái tên – vì các nét viết của cái tên này mới đáng kể. Từ “Sa” trong tên tôi có nghĩa là “cùng nhau”, “Yu” có nghĩa là cung Dậu – cung này để quân bình ngũ hành trong người tôi và “Ri” có nghĩa là “hiểu biết” . Ông thầy bói đã tìm ra cái tên sao cho dung hòa với tên của Mameha, nhưng không có tên nào tốt có thể mang lại may mắn cho tôi được.
Tôi nghĩ Sayuri là một tên đẹp, nhưng cái tên cho tôi cảm giác kỳ lạ là con bé Chiyo không còn nữa. Sau khi làm lễ xong, chúng tôi vào phòng khác để ăn “Cơm đỏ”, cơm nấu gạo trộn đậu đỏ. Tôi xúc cơm ăn mà lòng không cảm thấy bất ổn, không mấy vui. Bà chủ phòng trà hỏi tôi một câu, khi nghe bà gọi tôi là “Sayuri”, tôi nhận ra có cái gì đấy làm cho tôi hoang mang bối rối. Tôi cảm thấy con bé có tên Chiyo từng chạy chân không từ hồ về nhà ngà say không còn nữa. Thay vào đó là cô gái có tên Sayuri với khuôn mặt trắng toát và đôi môi màu đỏ.
Mameha đã có kế hoạch chiều hôm đó dẫn tôi đi khắp Gion để giới thiệu với các bà chủ phòng trà và chủ nhà dạy kỹ nữ mà cô ấy có liên hệ làm ăn quen biết. Nhưng khi ăn trưa xong, cô ấy không dẫn tôi đi mà dẫn tôi vào một căn phòng của nhà hàng Ichiriki và bảo tôi ngồi xuống. Dĩ nhiên người geisha không ngồi trong khi mặc kimono, cái thế mà chúng tôi gọi là ngồi có lẽ những người khác gọi là quỳ. Khi tôi ngồi xuống, cô ấy nhăn mặt bảo tôi ngồi lại. Cái áo cồng kềnh khiến tôi phải đứng lên ngồi xuống nhiều lần mới đúng được quy cách. Mameha đưa tôi một thứ trang sức nhỏ có hình quả bầu, và chỉ cho tôi cách đeo nữ trang vào thắt lưng cho nó lủng lẳng. Trái bầu nhỏ, nhẹ khiến cô geisha phải chú ý đến thân hình nặng nề của mình, nhiều cô nhờ vào thứ này giữ cho mình khỏi bị té xuống.
Mameha nói chuyện với tôi một lát, rồi khi chúng tôi sắp sửa ra đi, cô ấy bảo tôi rót cho cô ấy một tách trà. Bình trà hết nước, nhưng cô bảo cứ giả làm như rót trà thật. Cô ấy muốn nhìn cách tôi giữ tay áo cho khỏi vướng ra sao khi rót trà. Tôi tin tôi biết cách và cố sức làm, nhưng Mameha tỏ ra không hài lòng cách làm của tôi.
- Cô rót tách của ai trước tiên? – cô ấy hỏi.
- Của chị! – tôi đáp.
- Trời ơi! Em không cần quan tâm đến chị, em cứ xem chị là ai đấy, chị là đàn ông hay đàn bà?
- Đàn ông.
- Tốt. Rót cho chủ một tách.
Tôi làm theo lời cô ấy, Mameha ngẩng mặt nhìn theo tay áo của tôi khi tôi đưa ra để rót trà.
- Tại sao cô thích làm như thế? – cô ấy hỏi – vì nếu cô đưa cánh tay quá cao như thế trông có vẻ hớ hênh.
Tôi rót lại với cánh tay hạ thấp. Lần này cô ấy giả vờ ngáp và quay qua nói chuyện với một cô geisha tưởng tượng đang ngồi ở phía bên kia.
- Em nghĩ chị đã cho em biết chị chán nản – tôi hỏi – tại sao em rót trà mà chị tỏ ra chán nản như thế?
- Vì cô không muốn tôi nhìn lên tay áo của cô, nhưng làm thế không có nghĩa là cô đoan trang. Đàn ông chỉ quan tâm đến một chuyện mà thôi. Cô hãy tin tôi đi, rồi cô sẽ hiểu những điều tôi nói. Có có thể làm cho họ sung sướng bằng cách để cho họ tin rằng họ được cô cho phép nhìn vài nơi trên thân thể của cô mà không ai có thể nhìn được. Nếu người geisha tập sự mà hành động như cô vừa rồi – rót trà như người hầu rót – thì anh chàng ngồi với cô sẽ mất hết hy vọng. Làm thử lại đi, nhưng trước hết cô phải đưa cánh tay cô cho tôi xem.
Tôi kéo tay áo lên tận khuỷu tay và đưa cánh tay ra cho cô ấy xem. Cô ấy nắm tay tôi, quay qua quay về, nhìn trên nhìn dưới.
- Cánh tay cô tuyệt đẹp, làn da thật tuyệt. Cô nên làm sao cho người đàn ông nào ngồi bên cạnh cô ít ra cũng có dịp trông thấy tay cô một lần.
Tôi tiếp tục rót trà lại nhiều lần, cho đến khi Mameha thấy hài lòng, tức là khi tôi kéo tay áo sao cho để lộ cánh tay một cách tự nhiên chứ không phải có ý đồ như thế. Nếu tôi xăn tay áo lên tận khuỷu tay, tôi sẽ trông lố bịch buồn cười, nên phải làm ra vẻ tình cờ mà kéo lên, đồng thời kéo sao cho ống tay áo rộng hở ra chừng vài ngón tay ở cổ tay, để họ có thể nhìn vào cánh tay. Mameha nói cái phần đẹp nhất của cánh tay là ở bên dưới, cho nên tôi phải cầm bình trà thế nào để cho đàn ông họ thấy dưới cánh tay hơn là ở phía trên.
Cô ấy yêu cầu tôi làm lại một lần nữa, lần này tôi giả vờ rót trà cho bà chủ phòng trà Ichiriki. Tôi để lộ cánh tay theo kiểu cô ấy nói, nhưng Mameha liền nhăn mặt.
- Trời đất, tôi là phụ nữ - cô ấy nói – tại sao cô lại để lộ cánh tay như thế? Làm thế không sợ tôi giận hay sao?
- Giận ư?
- Cô biết tôi nghĩ sao không? Cô phô bày ra trước mặt tôi vẻ đẹp trẻ trung của cô, trong lúc tôi già nua. Trừ phi cô làm thế để thỏa lòng kiêu căng…
- Sao gọi là kiêu căng?
- Tại sao cô có ý đồ để cho tôi xem phía dưới cánh tay cô? Làm thế giống như cô để cho tôi xem phim trong đùi chân của cô. Nếu tôi nhìn vào những nơi ấy thì hay quá rồi. Nhưng để cho tôi xem những nơi ấy là có ý đồ kiêu căng!
Tôi rót thêm vài lần nữa, cho đến khi tôi thành thạo các phương pháp thích hợp như cô ấy chỉ vẽ. Khi Mameha thấy đã vừa ý, cô ấy nói hai chúng tôi cùng đi ra phố.
Tôi đã ăn mặc đúng kiểu của người geisha tập sự nhiều giờ rồi. Bây giờ tôi phải tập đi khắp Gion với đôi giày mà chúng tôi gọi là okobo. Giày cao và làm bằng gỗ, với dây giày sơn màu rất đẹp ôm lấy bàn chân. Nhiều người cho rằng đi giày này rất lịch sự, vì nó có hình thuôn thuôn như miếng chêm, cho nên phần đế giày hẹp bằng nửa phần trên mặt giày. Nhưng tôi thấy đi giày này rất khó khăn. Tôi cảm thấy như mang hai mái nhà dưới chân.
Mameha và tôi ghé khoảng hai mươi phòng trà và nhà kỹ nữ, nhưng nơi nào chúng tôi cũng chỉ dừng lại vài phút thôi. Thường thường có người hầu ra mở cửa, và Mameha lịch sự yêu cầu gặp bà chủ, rồi bà chủ đến. Mameha nói với bà ta “Tôi muốn giới thiệu với bà cô em út của tôi, cô Sayuri” – rồi tôi cúi chào thật thấp và nói “Thưa bà, trăm sự nhờ bà” – bà chủ và Mameha sẽ nói chuyện với nhau vài phút, rồi chúng tôi kiếu từ. Vài nơi, chúng tôi được mời uống trà, chúng tôi nán lại chừng năm phút. Nhưng tôi sợ uống nhiều nước nên chỉ thấm môi vào tách rồi thôi. Mặc kimono mà phải vào phòng vệ sinh là cả một vấn đề khó khăn, tôi chưa đủ kinh nghiệm trong việc này.
Đi chừng một giờ là tôi thấy mệt rồi, nhưng tôi phải cố gắng hết sức để khỏi lộ vẻ mệt mỏi của mình khi đi với cô ấy. chúng tôi phải đi nhiều nơi mới được. Vào thời ấy, tôi đoán có chừng ba bốn chục phòng trà hạng nhất ở Gion và hàng trăm loại nhì. Dĩ nhiên chúng tôi không đi hết được, chúng tôi đến chừng 15 hay 16 phòng trà hạng nhất, những nơi mà Mameha thường đến để giải trí. Còn các nhà kỹ nữ thì có đến hàng trăm nhà, nhưng chúng tôi chỉ đến vài nơi mà Mameha có quan hệ mật thiết thôi.
Sau ba giờ chiều, chúng tôi hoàn tất. Tôi muốn về ngay nhà để ngủ một giấc, nhưng Mameha đã có kế họach buổi tối rồi. Tôi phải tham gia cuộc vui lần đầu với nhiệm vụ của một nàng geisha tập sự.
- Đi tắm đi – cô ấy nói với tôi – chắc cô ra mồ hôi nhiều rồi, và phần trang điểm không còn tốt nữa.
Hôm ấy là một ngày mùa thu nóng bức, mà tôi thì làm việc cật lực.
Trở về nhà kỹ nữ, bà Dì giúp tôi cởi áo và bà thương tình để cho tôi ngủ khoảg nửa giờ. Bà Dì đã có thái độ tử tế lại với tôi, vì tôi đã hết mắc phải những lỗi lầm ngu ngốc và tương lai có vẻ sáng sủa hơn Bí Ngô. Ngủ dậy, tôi vội đi tắm liền. Đúng 5 giờ tôi đã mặc áo quần và trang điểm xong. Chắc anh biết tôi rất kích thích vì tôi đã từng thấy Hatsumono cũng như Bí Ngô trải qua những giờ khắc như bây giờ. Tối hôm đó rất quan trọng đôi với tôi vì đây là lần đầu tiên tôi đến dự buổi đại tiệc được tổ chức tại Khách sạn Quốc tế Kansai. Đại tiệc là những buổi tiệc chính thức rất long trọng, khách ngồi sát nhau thành hình chữ U trong căn phòng lớn trải thảm, khay đồ ăn để trên bàn trước mặt họ. Các nàng geisha có mặt ở đây để giúp vui, đi quanh giữa phòng – nghĩa là họ di chuyển bên trong dãy khay thức ăn có hình chữ U, họ đến trước mặt khách, quỳ xuống rót rượu sake và nói chuyện vài phút. Công việc này không mấy hấp dẫn, và vai trò người geisha tập sự như tôi lại càng kém phần hấp dẫn hơn vai trò của Mameha nữa. Tôi đi lè kè bên cô ấy như cái bóng. Mỗi khi cô ấy giới thiệu mình, tôi cũng tự giới thiệu như thế, cúi chào rất thấp và nói:
- Tôi là Sayuri, mới tập sự, xin ra mắt quý ông – sau đó tôi không nói gì nữa và cũng không ai nói gì với tôi.
Đến cuối buổi tiệc, cửa một bên phòng mở ra, Mameha và một nàng geisha khác xuất hiện, trình diễn một vở múa có tên là Chi - Yo no Tomo – nghĩa là “bạn bè vĩnh cửu”. Vở múa rất hay, diễn tả cảnh hai người phụ nữ thân thiết gặp nhau sau một thời gian xa cách. Đàn ông vừa xỉa răng vừa xem, họ là nhân viên điều hành một công ty lớn sản xuất van cao su, hay là sản xuất cái gì đại loại như thế, họ tụ họp đến Kyoto để dự buổi liên hoan hàng năm. Tôi tin chắc không ai trong số họ phân biệt được sự khác nhau giữa vũ với mộng du. Nhưng phần tôi, tôi rất thích thú. Giới geisha ở Gion thường dùng cái quạt khi múa rất tài tình. Mới đầu cô ấy đóng quạt lại, quay một vòng, vừa quay vừa vẫy cái quạt uyển chuyển như để diễn tả dòng nước đang chảy qua. Rồi cô ấy xòe quạt ra, biến nó thành cái tách để cho người cùng múa rót rượu sake cho cô ấy uống. Vở múa không những đẹp về hình thức mà còn gây ấn tượng bởi tiếng đàn Shamisen điêu luyện.
Buổi tiệc chính thức thường không kéo dài lâu hơn hai tiếng đồng hồ. Cho nên đến khoảng 8 giờ, chúng tôi ra đường lại. Tôi định quay qua cám ơn Mameha và chúc cô ấy ngủ ngon thì bỗng cô nói với tôi:
- Tôi định để cô về nhà ngủ, nhưng trông cô còn có vẻ hăng hái quá, cho nên tôi đưa cô đến phòng trà Komoriya. Đến đấy, cô sẽ được nếm mùi loại tiệc không chính thức đầu tiên. Chúng ta có thể giới thiệu cô với mọi người ở đấy.
Tôi không thể nói tôi quá mệt không muốn đi nữa, cho nên tôi chỉ biết im lặng đi theo cô ấy thôi.
Khi trên đường đến đấy, Mameha nói cho tôi biết người đứng ra tổ chức buổi tiệc này là người điều hành Phòng trà quốc gia ở Tokyo. Ông ta biết hết những nàng geisha nổi tiếng ở hầu hết các khu geisha trên nước Nhật, thế nhưng khi nào Mameha giới thiệu tôi với ông ta, dù ông ta rất thân mật, tôi cũng không nên mong ông ta nói chuyện với tôi nhiều. Nhiệm vụ duy nhất của tôi là luôn luôn giữ cho mình đẹp đẽ và linh lợi. Cô ấy báo cho tôi hay:
- Cô hãy cố hết sức đừng để cho cô có vẻ không được mắt.
Chúng tôi đi vào phòng trà, người hầu dẫn chúng tôi lên một căn phòng ở tầng hai. Khi Mameha quỳ xuống để mở cửa, tôi không dám nhìn thẳng vào trong, nhưng tôi vẫn có thể thấy được bảy tám người đàn ông đang ngồi trên nệm quanh một chiếc bàn với bốn người geisha. Chúng tôi chào rồi vào trong phòng, và sau khi vào rồi, chúng tôi quỳ xuống trên chiếu để đóng cửa – vì đây là cách geisha vào phòng. Chúng tôi chào các nàng geisha trước, như Mameha đã dặn, rồi chào chủ nhân, bà ta ngồi ở góc bàn, sau đó mới chào khách.
- Kìa cô Mameha – một nàng geisha nói – cô đến vừa đúng lúc để kể cho chúng tôi nghe chuyện ông làm tóc giả Konda.
- Ôi, trời ơi! Tôi không nhớ tí nào hết – Mameha đáp và mọi người cười vang, tôi không hiểu họ cười cái gì. Mameha dẫn tôi đi quanh bàn để quỳ bên cạnh bà chủ. Tôi đã quỳ một bên.
- Thưa ông Giám đốc, xin phép ông cho tôi giới thiệu cô em út của tôi – cô ấy nói với ông ta.
Đây là dấu hiệu bảo tôi cúi người chào, xưng tên và xin ông Giám đốc bỏ lỗi. Ông ta có vẻ rất nóng tính, cặp mắt lồ lộ, người trông yếu đuối. Ông ta không thèm nhìn đến tôi mà chỉ gảy tàn thuốc vào cái gạt tàn đã đầy ở trước mặt và nói:
- Chuyện về cái anh chàng làm tóc giả Konda là chuyện gì thế? Các cô cứ nhắc đến chuyện đó suốt cả buổi tối mà không ai kể hết.
- Thú thật là tôi không biết! – Mameha nói.
Cô geisha khác lên tiếng:
- Như thế tức là chị ấy quá bối rối nên không kể được thôi. Nếu chị ấy không kể được, chắc tôi phải kể.
Các ông có vẻ thích nghe kể, nhưng Mameha lại thở dài.
- Trong lúc nghe kể, tôi mời Mameha một tách sake cho cô ấy bình tĩnh – ông Giám đốc nói rồi rửa cái tách của mình trong tô nước đặt giữa bàn, cái tô nước đặt ở đấy dùng để làm việc ấy - rồi đưa cho cô.
- Chuyện như thế này –cô geisha kia nói – anh chàng Konda là thợ làm tóc giả giỏi nhất ở Gion, hay ít ra mọi người đều nói thế. Mameha thuê anh ta làm tóc đã nhiều năm rồi. Quý vị biết không, chị ấy luôn luôn có mái tóc giả tuyệt vời nhất. Cứ nhìn vào chị ấy là quý vị sẽ thấy.
Mameha nhăn mặt giả vờ giận dữ một cách khôi hài.
- Cô ấy có nụ cười nhạo quá tuyệt! - một ông nói.
- Trong một buổi trình diễn – cô kia nói tiếp – người làm tóc giả luôn luôn đứng sau sân khấu để giúp các cô thay y phục. Thường thường trong khi cô thay áo, thế nào cũng có thứ bị tuột ra, và rồi thình lình …lộ ngực ra, hay là lộ ra một dúm lông! Quý vị chắc biết những việc như thế này thế nào cũng xảy ra. Thế nhưng…
Một ông lên tiếng:
- Tôi làm việc ở ngân hàng đã nhiều năm. Vậy mà tôi lại muốn làm anh chàng làm tóc giả quá!
- Có nhiều chuyện đáng biết hơn là chuyện lo nhìn các cô hở hang. Thế nhưng Mameha luôn luôn hàng động đoan trang, chị ấy ra sau cái màn để thay đồ…
- Để tôi kể chuyện này cho – Mameha cắt ngang lời cô kia - Chị thế nào cũng gán cho tôi cái tên không hay. Tôi không phải đoan trang đâu. Konda thường nhìn tôi không ngớt, nên tôi đã mang vào tấm màn chắn. Cũng lạ là cái anh chàng Konda này không chọc một lỗ nơi màn để nhìn sang.
- Tại sao thỉnh thoảng cô không để anh ta nhìn một chút? – ông Giám đốc cắt ngang lời cô – Nhìn một chút cô có đau đớn gì đâu?
- Tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện đấy – Mameha đáp – ông nói đúng, thưa ông Giám đốc, nhìn một chút đâu có thiệt hại gì đâu. Có lẽ bây giờ ông muốn chúng tôi để cho ông nhìn một chút phải không?
Nghe thế mọi người trong phòng cười ồ. Khi mọi người đã yên lặng trở lại, ông Giám đốc bèn đứng dậy, tháo chiếc dải nơi thắt lưng ông ta ra.
- Để tôi làm việc này xem sao - ông ta nói với Mameha – nếu cô cho tôi xem một lát.
- Tôi không đề nghị với ông như thế - Mameha đáp.
- Cô thế là hẹp hòi quá.
- Người không hẹp hòi không làm geisha được – Mameha nói - họ chỉ làm người bảo trợ cho geisha thôi.
- Vậy thì thôi, chẳng sao - ông Giám đốc nói rồi ngồi xuống. Phải nói là tôi thấy nhẹ người khi ông ta ngồi xuống, vì mặc dù tất cả những người khác có vẻ vui thích, nhưng tôi lại rất bối rối .
- Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? – Mameha hỏi – À, đến chỗ một hôm tôi mang cái màn che vào, tôi nghĩ nhờ cái màn mà tôi khỏi bị Konda quấy rầy. Nhưng có một lần khi đi vệ sinh xong, tôi vội vã quay về, tôi không thấy anh ta ở đâu hết. Tôi hoảng hồn, vì tôi cần đầu tóc giả để diễn màn sắp đến, nhưng sau đó tôi tìm thấy anh ta ngồi trên cái thùng kê sát bên tường, trông có vẻ rất yếu và người toát đầy mồ hôi. Tôi tự hỏi không biết có phải anh ta bị đau tim hay không. Anh ta để cái đầu tóc giả bên cạnh, và khi thấy tôi, anh ta xin lỗi, rồi sau đó giúp tôi đội tóc giả lên. Sau buổi diễn ngày hôm đó, anh ta đưa cho tôi một mẩu giấy viết…
Đến đây, Mameha ngập ngừng không nói hết câu. Cuối cùng một ông lên tiếng hỏi:
- Sao? Tờ giấy viết gì?
Mameha lấy tay che mắt. Cô ấy quá bối rối nên không thể tiếp tục kể được. Mọi người trong phòng phá lên cười .
- Được rồi, để tôi kể cho qúy vị nghe tờ giấy viết gì - một cô geisha lên tiếng - tờ giấy viết có nội dung đại khái như thế này “Cô Mameha thân mến, cô là nàng geisha đẹp nhất ở Gion. Sau khi cô đội đầu tóc giả của tôi, tôi rất lấy làm sung sướng, tôi cứ giữ mãi trong phòng làm việc của tôi, ngày nào tôi cũng úp mặt vô trong đó để ngửi mùi tóc của cô. Nhưng hôm nay cô đi vào phòng vệ sinh, cô đã cho tôi hưởng những giây phút sung sướng nhất trong cuộc đời tôi. Trong khi cô ở trong phòng, tôi núp ngoài cửa, những âm thanh tuyệt vời khiến người ta cảm thấy ngứa ngáy, nghe còn hay ho thú vị hơn nước suối reo…”
Đám đàn ông phá ra cười vang khiến cô geisha phải dừng lại không nói tiếp được.
- Những âm thanh tuyệt vời khiến tôi cảm thấy ngứa ngáy, còn hay ho thú vị hơn cả tiếng nước suối reo..
- Anh ta không nói theo cách đó đâu – Mameha nói – anh ta viết như thế này “Những âm thanh tuyệt vời khiến người ta cảm thấy ngứa ngáy; còn hay ho thú vị hơn cả tiếng suối reo khiến cho tôi phồng ra, căng lên khi nghĩ đến thân thể lõa lồ của cô”
- Rồi anh ta nói với chị ấy rằng – cô geisha kia nói tiếp – sau đó anh ta không thể đứng nổi vì quá bị kích thích, và anh ta hy vọng một ngày nào đó anh ta sẽ được trải qua những giây phút sung sướng như thế nữa.
Dĩ nhiên mọi người cười vang, và tôi cũng giả vờ cười. Nhưng thật ra tôi cảm thấy thật khó tin những người đàn ông này – những người đã trả tiền rất đáng kể để đến ngồi ở đây với đám phụ nữ mỹ miều mặc áo đẹp đẽ đắt tiền – muốn nghe những câu chuyện loại bọn trẻ con ở Yoroido đã kể. Trong thâm tâm, tôi cứ tưởng họ sẽ nói những chuyện về văn chương, về kịch nghệ Kabuki hay những chuyện gì đại loại như thế. Và dĩ nhiên ở Gion đã có những buổi tiệc như thế này, và đây là buổi tiệc đầu tiên với loại vui đùa theo kiểu con nít của tôi.
Trong khi mọi người nghe câu chuyện của Mameha, người đàn ông ngồi bên cạnh tôi đưa tay lau chùi cái mặt dơ bẩn của mình và ít chú ý đến câu chuyện. Khi mọi người đã yên lặng, ông ta đưa mắt nhìn tôi một lát rồi hỏi:
- Mắt cô có phải khác biệt lạ thường không? Hay là tôi say quá hóa cuồng?
Có lẽ ông ta đã quá say, nhưng tôi nghĩ không nên nói thật với ông ta như thế. Nhưng tôi chưa kịp trả lời thì ông ta đã cau mày, rồi đưa tay gãi đầu thật mạnh khiến cho một lớp bụi tuyết thật mỏng bay xuống hai vai. Thì ra chính vì thế mà ông ta được mọi người ở Gion gọi là ông “Mưa tuyết”, vì ông ta có nhiều gàu. Ông ta có vẻ như đã quên câu hỏi, hay có lẽ không đợi tôi trả lời, vì ông ta hỏi sang tuổi của tôi. Tôi nói cho ông ta biết tôi 14 tuổi.
- Chưa bao giờ tôi thấy một cô gái 14 tuổi mà lớn như cô. Này, cầm cái này – ông nói và đưa cái tách sake uống hết rượu cho tôi.
- Ồ, không được thưa ngài – tôi đáp – vì tôi chỉ mới tập sự… - Đây là câu nói mà Mameha đã dạy cho tôi nói, nhưng ông Mưa tuyết không chịu nghe, ông ta cứ cầm cái tách không cho đến khi tôi lấy cái tách, rồi ông bưng bình rượu để rót cho tôi.
Tôi không được phép uống sake vì geisha tập sự - nhất là người mới hoc việc – phải tỏ ra mình còn bé bỏng. Nhưng tôi không thể không vâng lời ông ta. Tôi bưng cái tách không đưa ra, nhưng trước khi rót rượu, ông ta đưa tay gãi đầu, tôi khiếp sợ khi thấy một ít bụi gàu rơi vào tách. Ông Mưa Tuyết rót đầy tách rồi nói với tôi:
- Nào uống đi, uống nhiều vào.
Tôi cười nhìn ông ta, tư từ đưa tách lên môi – vì không biết làm gì nữa – bỗng thật nhờ trời, Mameha cứu tôi:
- Sayuri, hôm nay là ngày đầu của cô ở Gion, không được để say - cô ấy nói nhưng cô ấy cũng không muốn làm phật lòng ông Mưa Tuyết – chỉ nhấp cho ướt môi là đủ rồi.
Tôi làm theo lời cô ấy, chỉ nhấp ướt môi. Khi tôi nói ướt môi thôi, tức là tôi mím môi thật chặt đến đau cả miệng, rồi đưa môi lên tách sake cho đến khi tôi cảm thấy rượu chạm vào vành môi. Rồi tôi vội vàng để tách xuống và nói:
- Chà chà! Tuyệt quá!
Vừa nói vừa đưa tay lấy cái khăn trong dải thắt lưng. Tôi cảm thấy nhẹ người khi chấm cái khăn lên môi và tôi sung sướng mà nói rằng ông Mưa tuyết không chú ý đến, vì ông ta đang nhìn tách rượu trên bàn trước mặt ông. Một lát sau ông ta đưa tách rượu lên môi uống một hơi cạn, rồi ông đứng lên, xin phép đi vào phòng vệ sinh.
Người geisha tập sự phải đưa người đàn ông đi phòng vệ sinh và trở về với họ, nhưng không ai yêu cầu người mới vào nghề làm như thế. Khi không có geisha tập sự trong phòng, các ông thường phải đi một mình đến phòng vệ sinh hay thỉnh thoảng một geisha đi theo ông ta. Nhưng ông Mưa Tuyết cứ đứng yên nhìn tôi cho đến khi tôi nhận ra ông ta đang chờ tôi đứng lên.
Tôi không biết đường trong phòng trà Komoriya, nhưng ông Mưa Tuyết thì biết. Tôi đi theo ông ta dọc theo hành lang. Ông ta bước sang một bên trong khi tôi mở cửa phòng vệ sinh cho ông. Sau đó tôi đứng trên hành lang đợi ông ta, tôi nghe có tiếng người đi lên cầu thang, nhưng tôi không lưu tâm đến việc ấy. Lát sau ông Mưa Tuyết đi ra, chúng tôi về lại phòng. Khi vào, tôi thấy một geisha khác nữa vào nhập tiệc cùng đi có cô geisha tập sự. Họ quay lưng ra phía cửa, cho nên tôi không thấy mặt họ cho đến khi tôi theo ông Mưa Tuyết đi vòng qua bên kia bàn để ngồi vào chỗ cũ. Chắc anh biết tôi hết sức kinh ngạc khi nhìn thấy họ, vì bên kia bàn là người phụ nữ mà tôi rất muốn lẩn tránh. Đấy là Hatsumono, cô ta cười nhìn tôi, bên cạnh là Bí Ngô.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 11:56:13Chuột lắc>
CHƯƠNG 15

Khi Hatsumono sung sướng, cô ta cười như mọi người khác, và khi cô ta sắp làm cho người khác đau khổ, cô ta lại càng sung sướng hơn bao giờ hết. Cho nên cô ta đã cười rất rạng rỡ khi nói:
- Ôi trời ! Cuộc hội ngộ mới tình cờ làm sao! Gặp người tập sự! Thật tôi không nên nói hết chuyện này, vì nói ra chắc sẽ làm con người khốn khổ này bối rối.
Tôi mong Mameha cáo từ, đưa tôi ra ngoài, nhưng cô ấy chỉ nhìn tôi, ánh mắt âu lo. Chắc cô ấy nghĩ để Hatsumono ở lại đây với các ông kia mà ra đi tức là bỏ ngôi nhà đang cháy mà chạy, cho nên chúng tôi ở lại để tìm cách làm giảm bớt thiệt hại.
- Thật vậy, tôi nghĩ không có gì khó khăn hơn công việc của người geisha mới vào nghề tập sự geisha - Hatsumono nói – cô có nghĩ thế không, Bí Ngô?
Bấy giờ Bí Ngô đã tập sự được sáu tháng, tôi nhìn cô ta cố gây thiện cảm, nhưng cô ta nhìn vào mặt bàn, hai tay để trên lòng. Tôi đã biết tính cô ta, khi thấy chóp mũi cô ta nhăn lại là tôi hiểu cô ta đang buồn.
- Dạ phải, thưa bà – cô ta đáp.
- Đây là thời gian khó khăn nhất đời - Hatsumono nói tiếp – Tôi còn nhớ tôi gặp nhiều chuyện khó khăn hết sức. Cô mới vào nghề à, tên cô là gì?
May thay tôi khỏi phải trả lời vì Mameha đã lên tiếng.
- Chị nói thời gian mới vào nghề của chị khó khăn là đúng, chị Hatsumono à. Tuy nhiên chị là người vụng về nhất.
- Tôi muốn nghe phần cuối câu chuyện - một ông nói.
- Và để làm cho cô mới vào nghề này bối rối à? - Hatsumono nói - nếu ông hứa khi ông nghe hết chuyện này, ông không nghĩ đến cô gái tội nghiệp kia, tôi sẽ kể cho ông nghe. Ông phải cam đoan ông sẽ hình dung ra cô gái khác mới được.
Ngón đòn độc ác quỷ quyệt của Hatsumono rất tài tình. Đàn ông không thể hình dung được câu chuyện xảy ra cho tôi hồi nãy, nhưng bây giờ chắc thế nào họ cũng hình dung ra được.
- Để xem nào, tôi nói đến đâu rồi – Hatsumono tiếp tục - Ồ, phải rồi , tôi nói đến cô mới vào nghề này…Tôi không nhớ tên cô ta nhưng tôi có thể cho cô ta một cái tên để quý vị khỏi lẫn lộn cô ta với cô gái tội nghiệp này. Này cô mới vào nghề, cô tên gì?
- Thưa bà, Sayuri - tôi đáp.
Mặt tôi nóng phừng phừng vì căng thẳng, đến nỗi nếu đồ mỹ phẩm trên mặt tôi tan ra, chảy thành giọt xuống áo chắc tôi cũng không ngạc nhiên.
- Sayuri, tên đẹp quá, nhưng tên này không hợp với cô. Thôi được, chúng ta gọi cô mới vào nghề trong chuyện là Mayuri. Chuyện như thế này, một hôm tôi đi trên đại lộ Shijo với Mayuri, trên đường đi đến nhà chị cả của cô ta. Bỗng có cơn gió thật mạnh nổi lên, loại gió làm cho cửa sổ rung loảng xoảng, và cô Mayuri tội nghiệp chưa có kinh nghiệm trong việc mặc kimono. Cô ta nhẹ như chiếc lá và hai ống tay áo rộng đồ sộ như hai cánh buồm. Khi chúng tôi qua đường, bỗng cô ta biến mất, tôi nghe phía sau có tiếng nho nhỏ thốt lên như là “a…a…” nhưng rất yếu ớt.
Đến đây Hatsumono quay qua nhìn tôi.
- Giọng tôi không được lớn, cô hãy nói cho tôi nghe tiếng “a…a…” đi nào.
Trời, tôi biết làm gì hơn? Tôi cố sức nói.
- Không, không, nói hơn thế nữa. Nhưng mà thôi, khỏi cần. – Hatsumono quay sang người đàn ông ngồi bên cạnh thì thào – cô ta không sáng dạ, phải không? – cô ta lắc đầu rồi nói tiếp – khi tôi quay lui, cô Mayuri tội nghiệp bị gió thổi bay lui phía sau tôi độ một khu phố, hai tay hai chân múa may như con bọ nằm ngửa, múa cẳng lên không. Tôi cười muốn bể bụng, nhưng thình lình cô ta chạy ra khỏi lề đường, đi vào một ngã tư đông đúc vừa khi một chiếc xe hơi phóng tới. Nhờ trời, cô ta bị gió thổi bay lên nắp đậy máy xe! Hai chân chổng ngược lên …và không biết quý vị có tưởng tượng được cảnh này không, gió thổi tốc áo kimono cô ta lên! Và thôi, tôi khỏi cần kể cho quý vị biết chuyện gì đã xảy ra.
- Cô phải kể ra mới được – một ông lên tiếng nói.
- Ông không có óc tưởng tượng à? – cô ta đáp – gió thổi lật ngược áo của cô ta lên khỏi hông. Cô ta không muốn người ta nhìn thấy phần thân thể lõa lồ, cho nên để giữ gìn sự đoan chính của mình, cô ta quay người, giang hai chân ra, và phần kín đáo áp vào kính chắn gió trước mặt anh tài xế…
Đám đàn ông bây giờ rất háo hức, kể cả ông Giám đốc, ông ta gõ cái tách rượu trên bàn như súng máy.
- Đúng, thưa ông Giám đốc – Hatsumono nói – cô gái chỉ là người mới vào nghề. Tuồng như anh tài xế không thấy gì hết. Tôi muốn nói quý vị có thể tưởng tượng ra phần kín của cô gái đang ngồi ở bên kia bàn không? – Dĩ nhiên cô ta nói đến tôi – Có lẽ cô ta không khác gì một em bé.
- Con gái nhiều lúc mới có 11 tuổi đã có lông rồi - một ông nói.
- Cô mấy tuổi rồi bé Sayuri? – Hatsumono hỏi.
- Mười bốn tuổi, thưa bà – tôi đáp, giữ thái độ rất lễ phép – nhưng đã gần tròn 14.
Các ông có vẻ rất thích chuyện này và nụ cười của Hatsumono trở nên gay gắt.
- Mười bốn à? Hoàn hảo biết bao. Và dĩ nhiên là cô không có lông…
- Ồ có chứ, có rất nhiều – Tôi đưa tay vỗ lên mái tóc trên đầu.
Tôi nghĩ làm thế là một hành động khôn ngoan, nhưng xem ra không phải thế. Các ông cười to hơn cả khi họ cười vì nghe câu chuyện của Hatsumono. Hatsumono cũng cười, tôi nghĩ vì cô ta không muốn tỏ ra chuyện cười đùa này nhắm vào cô ta.
Khi mọi người hết cười, tôi và Mameha ra về. Chúng tôi không cần phải đóng cửa vì khi đó chúng tôi cũng nghe Hatsumono cáo từ ra về. Cô ta và Bí Ngô đi theo chúng tôi xuống cầu thang.
- Này chị Mameha – Hatsumono nói - chuyện quá vui! Tôi nghĩ tại sao chúng ta không cùng nhau giải trí thường xuyên nhỉ.
- Phải, chuyện thật vui – Mameha đáp – tôi cũng thích cảnh cùng nhau ta vui chơi sau này.
Nói xong Mameha nhìn tôi với ánh mắt rất thoải mái. Cô ấy vui thích khi nghĩ đến cảnh Hatsumono bị làm cho đau khổ.
Tối đó, sau khi tắm rửa lau chùi hóa trang xong, tôi ra đứng ở hành lang trước để trả lời các câu hỏi của bà Dì về công việc trong ngày. Thì Hatsumono từ ngoài đường đi vào, cô ta đến đứng trước mặt tôi. Thường khi cô ta không về sớm như thế, nhưng khi tôi thấy mặt cô ta hằm hằm là tôi biết ngay cô ta về để đụng độ với tôi. Thậm chí cô ta không thèm cười nụ cười nham hiểm nữa, mà hai môi mím lại trông rất dữ dằn. Cô ta đứng trước mặt tôi một lát, rồi giang tay đánh vào mặt tôi. Trước khi cô ta giang tay đánh vào mặt tôi, tôi chỉ thấy hai hàm răng cô ta nghiến vào nhau như chuỗi ngọc.
Tôi quá kinh ngạc, không nhớ chuyện gì đã xảy ra sau đó. Nhưng tôi nhớ là bà Dì và Hatsumono cãi nhau, vì câu sau cùng tôi nghe Hatsumono nói là:
- Nếu con này còn làm mất mặt tôi trước mặt mọi người nữa, tôi sẽ đánh vào má bên kia của nó.
- Tôi làm mất mặt chị như thế nào đâu? – tôi hỏi cô ta.
- Mày quá hiểu điều tao muốn nói rồi, khi tao nói tao không biết mày có lông chưa, thì mày đã làm cho tao trông như đồ điên. Tao mang ơn mày một việc, bé Chiyo à. Tao hứa tao sẽ trả cho mày trong một ngày gần đây thôi.
Hình như Hatsumono đã bớt giận khi đánh được tôi, cho nên cô ta bỏ ra khỏi nhà, Bí Ngô đang đợi cô ta ở ngoài đường để cúi chào cô ta.
Chiều hôm sau tôi kể lại chuyện này cho Mameha nghe, nhưng cô ấy không quan tâm đến.
- Có gì khó khăn đâu? – Mameha nói - nhờ trời Hatsumono không để lại dấu gì trên mặt cô là được. Cô tin là cô ấy sẽ rất đau đớn khi nghe cô nói, phải không?
- Em chỉ sợ những chuyện sẽ xảy ra sau này mà thôi.
- Đừng lo, nếu gặp cô ấy chúng ta sẽ bỏ ra về. Chắc bà chủ sẽ ngạc nhiên khi thấy chúng ta mới vào tiệc mà đã về liền, nhưng làm thế tốt hơn là tạo cho Hatsumono có lợi để làm nhục cô. Vả lại, nếu chúng ta đụng phải cô ta, đấy cũng là điều may mắn.
- Thật không, chị Mameha? Em không hiểu tại sao đụng phải cô ta lại là điều may mắn.
- Nếu Hatsumono buộc chúng ta phải rời vài phòng trà, thì chúng ta sẽ ghé vào các tiệc vui khác. Cô sẽ được mọi người ở Gion biết đến nhanh chóng hơn.
Lời khuyên của Mameha làm cho tôi yên tâm. Thật vậy, sau đó mỗi khi chúng tôi đi đâu ở Gion, tôi hy vọng sau một đêm dài vui chơi giải trí, tôi sẽ được hân hoan sung sướng khi lau chùi mỹ phẩm trên mặt đi. Nơi ghé vào đầu tiên của tôi là hai buổi tiệc mừng một diễn viên điện ảnh trẻ, anh ta có vẻ chưa quá 18 tuổi mà trên đầu không còn một sợi tóc, thậm chí không có cả lông mi, lông mày. Anh ta tiếp tục nổi tiếng trong vài năm sau nữa, nhưng nổi tiếng chỉ vì cách chọn con đường chết. Anh ta tự sát bằng gươm sau khi giết một cô hầu bàn ở Tokyo. Nhưng dù sao tôi cũng thấy anh ta rất lạ lùng cho đến khi tôi thấy anh ta cứ nhìn tôi mãi, tôi đã sống rất cô đơn trong nhà kỹ nữ, cho nên thấy anh ta chú ý đến mình, tôi rất sung sướng. Chúng tôi ngồi với nhau hơn một giờ và không thấy Hatsumono xuất hiện. Tôi hy vọng sự mơ ước thành công của tôi sẽ thành hiện thực.
Tiếp theo, chúng tôi ghé vào một buổi tiệc do ông Viện trưởng viện đại học Kyoto tổ chức. Mameha đến nói chuyện với một người đàn ông đã lâu cô không gặp, để tôi lại một mình. Còn một chỗ duy nhất nơi bàn tôi phải ngồi là cạnh một ông già mặc sơ mi trắng dơ dáy, có lẽ ông ta khát qúa vì ông ta uống bia liên tục, ngoại trừ khi ông ta ợ. Tôi quỳ bên cạnh ông ta và định tự giới thiệu thì cửa bật mở. Tôi đoán chị hầu vào, nhưng té ra là Hatsumono và Bí Ngô đang quỳ ngoài cửa.
- Ôi trời ơi! – tôi nghe Mameha nói chuyện với người đàn ông mà cô ấy đang tiếp – đồng hồ của ông đúng không?
- Rất đúng – ông ta đáp – chiều nào tôi cũng so với đồng hồ ngoài ga xe lửa.
- Chắc tôi và Sayuri phải chịu thất lễ. Xin cáo biệt thôi. Chúng tôi đã trễ hẹn ở chỗ khác cách đây nửa giờ rồi.
Nói xong chúng tôi đứng lên bước ra khỏi phòng ngay sau khi Hatsumono và Bí Ngô vào.
Khi chúng tôi rời khỏi phòng, Mameha kéo tôi vào một phòng trống. Trong căn phòng lờ mờ tối , tôi không thấy rõ nét mặt cô ấy, ngoài khuôn mặt trái xoan xinh đẹp và cái vương miện rực rỡ đội trên đầu. Nếu tôi không thấy rõ cô ấy thì cô ấy cũng không thấy rõ nét mặt của tôi, mặt tôi khi ấy thụng xuống bởi chán nản và thất vọng, vì tôi cảm thấy lo sợ không bao giờ thoát khỏi tay Hatsumono.
- Sáng nay cô đã nói gì với con mụ quái đản ấy? – Mameha hỏi tôi.
- Thưa chị, không nói gì hết!
- Thế tại sao mụ ấy biết chúng ta ở đây?
- Chính em cũng không biết chúng ta sẽ đến đây, làm sao em có thể nói cho chị ta biết?
- Chị hầu của tôi biết mấy chỗ hẹn của tôi, nhưng tôi không tin. Thôi được, chúng ta sẽ đến dự một buổi tiệc khó có ai biết được. Naga Teruomi vừa được chỉ định điều khiển giàn nhạc Tokyo Philharmomic vào tuần trước. Chiều nay anh ta đã đến thành phố để mọi người có cơ hội chúc mừng. Tôi không muốn đi, nhưng Hatsumono sẽ không đến đấy đâu.
Chúng tôi băng qua đại lộ Shijo, rẽ vào một con đường nhỏ ngát mùi rượu sake và khoai chiên. Một tràng cười từ trên các cửa sổ tầng hai bay xuống tận chỗ chúng tôi, đèn đuốc sáng choang lên. Vào trong một cô hầu dẫn chúng tôi lên một phòng ở tầng hai, chúng tôi thấy người nhạc trưởng đang ngồi trong đó, mái tóc thưa chải dầu bóng láng, mấy ngón tay mân mê tách rượu sake với vẻ tức tối. Những người đàn ông kia đang chơi trò uống rượu đấu với hai cô geisha. Nhưng người nhạc trưởng không tham gia với họ. Ông ta nói chuyện với Mameha một lát, rồi yêu cầu cô múa một vở múa. Tôi nghĩ là ông ta chẳng thiết gì đến múa may, và ông yêu cầu thế để chấm dứt cái trò thách đấu uống rượu, hòng lôi các vị khách đến để tâng bốc ông ta. Ngay khi người hầu mang đàn Shamisen đến cho cô geisha, thì cửa phòng mở - ngay trước khi Mameha đứng vào tư thế múa – và anh nghĩ anh biết tôi sắp nói cho anh nghe ai sẽ đi vào phòng rồi. Chính là Hatsumono và Bí Ngô, họ như hai con chó lẽo đẽo đi theo chúng tôi.
Chính anh hình dung được cảnh Hatsumono và Mameha cười với nhau ra sao rồi. Người ta tưởng hai người vui mừng khi gặp nhau, nhưng thật ra, tôi nghĩ, Hatsumono cười vì sung sướng, vì đã tìm ra chúng tôi, còn Mameha thì…nụ cười của cô ấy như che giấu sự tức giận trong lòng. Trong khi cô ấy múa, tôi thấy hàm xai của cô ấy bạnh ra, hốc mũi phập phồng. Khi múa xong, cô ấy không đến bàn mà nói ngay với ông nhạc trưởng:
- Xin cám ông đã cho phép chúng tôi ghé vào chơi. Tôi nghĩ bây giờ quá trễ rồi...Sayuri và tôi xin cáo lỗi…
Tôi không làm sao tả hết cho anh nghe vẻ hả hê trên khuôn mặt của Hatsumono khi chúng tôi đi ra ngoài. Tôi theo Mameha xuống cầu thang. Khi đến bậc thang cuối cùng, cô ấy dừng lại chờ. Cuối cùng một cô hầu chạy ra hành lang trước để xem chúng tôi đi ra – chính cô hầu đã dẫn chúng tôi lên lầu hồi nãy.
- Nhiệm vụ người hầu của cô sao mà khó khăn quá nhỉ - Mameha nói với cô ta – có lẽ cô muốn nhiều thứ mà tiền thì lại ít, không đủ chi tiêu chứ gì? Mà này, cô cho tôi biết số tiền cô vừa kiếm được cô sẽ tiêu vào việc gì.
- Thưa bà, tôi không có tiền gì hết – chị ta đáp. Nhưng cứ nhìn cách chị ta sượng sùng, tôi biết chị ta nói láo.
- Hatsumono hứa sẽ cho cô bao nhiêu tiền?
Bỗng chị hầu cụp mắt nhìn xuống sàn nhà. Bây giờ tôi mới hiểu ra Mameha muốn nói cái gì. Sau đó một lát, chúng tôi biết Hatsumono đã hối lộ cho ít ra là một gia nhân trong các phòng trà hạng nhất ở Gion. Họ có nhiệm vụ gọi cho Yoko – cô gái giữ điện thọai ở nhà kỹ nữ của chúng tôi – để báo Mameha và tôi đến dự tiệc ở đâu. Dĩ nhiên là khi ấy tôi không biết chuyện Yoko có dính líu vào đấy, nhưng Mameha đã đoán đúng khi cho rằng chị hầu ở phòng trà này đã gởi tin cho Hatsumono biết.
Chị hầu không dám ngước mắt nhìn lên Mameha. Thậm chí khi Mameha đỡ cằm chị ta lên, chị vẫn nhìn xuống như thể hai mắt có đeo hai viên chì. Khi chúng tôi rời khỏi phòng trà, chúng tôi nghe tiếng của Hatsumono từ trên cửa sổ vọng xuống – vì cửa ngõ hẹp nên tiếng gì cũng vang vọng xuống đấy hết.
- Phải, tên cô ta là gì? – Hatsumono hỏi.
- Sayuri – một người đàn ông nói.
- Không phải Sayoko mà là Sayuri – người khác nói.
- Tên ấy đúng đấy – Hatsumono trả lời – nhưng cô ta trông rất ngượng ngập, biết nói sao với ông! Cô ta trông cũng xinh…
- Tôi chưa tiếp xúc nhiều với cô ta – một ông nói – nhưng cô ta rất đẹp.
- Cặp mắt rất kỳ lạ - một geisha nói.
- Quý vị có biết tôi nghe một ông mới đây nói sao về cặp mắt của cô ta không? – Hatsumono nói – ông ta nói cặp mắt có màu sắc như màu của con giun chết.
- Giun chết…Tôi chưa bao giờ nghe ai nói có màu gì giống như màu giun chết hết.
- Thôi, để tôi kể chuyện về cô ấy cho quý vị nghe – Hatsumono nói tiếp – nhưng quý vị phải hứa là không nói lại cho ai biết chuyện này. Cô ta có bệnh truyền nhiễm, ngực cô ta như ngực bà già, chảy xuống và nhăn nheo, thật khiếp! Tôi đã có lần thấy cô ta trong phòng tắm.
Mameha và tôi đã dừng lại để nghe, nhưng khi nghe đến chuyện này, cô ấy đẩy nhẹ tôi đi và chúng tôi cùng ra khỏi đường hẻm. Mameha đứng lại một lát, nhìn lên nhìn xuống trên đường rồi nói:
- Tôi đã suy tính chúng ta đi đâu, nhưng…tôi không tìm ra chỗ nào hết. nếu con mẹ ấy đã tìm ra chúng ta ở đây, thì chắc cũng sẽ tìm ra chúng ta ở chỗ khác trong Gion. Bây giờ cô hãy về nhà đã, đợi cho đến khi ta tìm ra kế hoạch rồi hãy hay.
Mấy năm sau ngày xảy ra những chuyện tôi vừa mới kể cho anh nghe, đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ. Vào một buổi chiều trong thời gian xảy ra chiến tranh này, trong một buổi tiệc tổ chức dưới tàn cây thích, một ông sĩ quan rút súng ra khỏi bao, để trên chiếc chiếu rơm để hù dọa tôi. Tôi nhớ khẩu súng đẹp đã làm cho tôi kinh ngạc. Ánh thép màu xám láng lẩy, những đường cong hài hòa tuyệt hảo, báng súng bằng gỗ dầu nổi vân thật nhiều. Nhưng khi tôi nghĩ đến mục đích giết người của khẩu súng, tôi thấy khẩu súng hết đẹp.
Sau khi tôi bị Hatsumono tìm cách phá bước đường vào đời của tôi, dưới mắt tôi, cô ta chẳng khác nào khẩu súng tàn bạo mà đẹp đẽ đấy cả. Nói thế không có nghĩa là trước đó cô ta không tàn bạo. Nhưng trước đó tôi thường ganh với sắc đẹp của cô ta, còn bây giờ thì không. Trong khi đáng ra hàng đêm tôi được đi đến các buổi đại tiệc và ngoài đại tiệc tôi còn có thể đến dự từ 10 đến 15 nơi có tiệc nhỏ, thì tôi phải ngồi ở nhà, tập múa và tập đàn. Khi Hatsumono đi qua hành lang trước mặt tôi, mặc quần áo lộng lẫy, mặt tô trắng toát trên nền áo màu sẫm y như mặt trăng trong một đêm có sương mờ, tôi nghĩ ngay cả người mù chắc cũng biết cô ta đẹp. Thế nhưng tôi chỉ cảm thấy căm thù cô ta, tai tôi nghe rõ tiếng trái tim mình đập thình thịch.
Trong mấy ngày sau đó, tôi được Mameha gọi đến nhà cô ấy nhiều lần. Mỗi lần đến là tôi hy vọng cô ta cho tôi biết đã tìm ra cách tránh được Hatsumono, nhưng cô ấy chỉ nhờ tôi đi làm những công việc lặt vặt mà cô không tin vào người giúp việc. Một buổi chiều, tôi hỏi cô ấy đã tìm ra được biện pháp gì cho tôi chưa, cô ấy đáp:
- Tôi nghĩ cô cứ ở nhà một thời gian đi đã. Tôi mong sao cô có quyết tâm cao để hủy diệt con mẹ đàn bà độc ác ấy đi! Nhưng trong khi chưa có kế hoạch, cô không nên theo tôi đi khắp Gion làm gì.
Dĩ nhiên tôi rất buồn khi nghe cô ấy nói như thế, nhưng Mameha đã nói đúng. Hành động phá phách của Hatsumono sẽ làm cho tôi trở thành lố bịch dưới mắt các ông các bà ở Gion, cho nên tốt hơn hết là tôi nên tạm ở nhà.
May thay, Mameha là người giỏi xoay sở, cô ấy đã tìm cách liên hệ các nơi an toàn để thỉnh thoảng đưa tôi đến đấy. Hatsumono có thể cô lập tôi ở Gion, nhưng cô ta không thể cô lập tôi khỏi thế giới bên ngoài Gion. Khi Mameha rời khỏi Gion đi xa để thực hiện hợp đồng, cô ấy thường mời tôi đi theo. Tôi đã theo cô ấy đến Kobe bằng xe lửa một ngày, ở đấy Mameha cắt băng khánh thành một nhà máy mới. Vào dịp khác, tôi theo cô ấy để tháp tùng ông Cựu giám đốc công ty điện báo và điện thoại Nippon đi tham quan Kyoto một vòng bằng xe hơi màu đen. Chuyến đi này đã gây cho tôi một ân tượng thật sâu sắc. Vì đây là lần đầu tiên tôi thấy Kyoto rộng rãi nằm ngoài ranh giới quận Gion nhỏ bé của chúng tôi không kể đến lần đầu tiên đi xe hơi của tôi. Trong những năm sống ở đây, tôi không hề biết là có nhiều người sống rất cơ cực cho đến khi xe của chúng tôi chạy theo bờ sông xuôi Nam, tôi thấy những người đàn bà dơ bẩn cho con bú dưới gốc cây, dọc theo đường rầy xe lửa, còn đàn ông thì ngồi xổm nhổ cỏ dại, chân đi dép rơm rách tả tơi. Tôi không nói ở Gion không có người nghèo, nhưng tôi thấy những nông dân ở đây quá nghèo đến độ không thèm tắm rửa. Tôi không bao giờ tin rằng tôi, đứa nô lệ bị Hatsumono đối xử độc ác rằng khủng khiếp – đã sống cuộc sống tương đối may măn qua giai đọan đại suy thoái kinh tế. Nhưng hôm ấy tôi nhận ra đấy là sự thật.
Một hôm tôi ở trường học về đã gần trưa, tôi thấy có tờ giấy báo tôi đem đồ trang điểm đến nhà Mameha gấp. Khi tôi đến nơi, ông Ichoda, thợ may giống như ông Bekku, đang ở trong phòng sau, buộc dải thắt lưng cho Mameha trước tấm gương soi lớn.
- Trang điểm nhanh lên – Mameha nói với tôi – tôi đã để sẵn áo kimono của cô ở phòng bên kia rồi.
Nhà của Mameha rộng lớn đúng tiêu chuẩn nhà cửa ở Gion. Ngoài phòng chính ra, rộng đến sáu chiếc chiếu cói, cô ấy còn có hai phòng nhỏ hơn, phòng thay áo quần rộng gấp hai lần phòng gia nhân, và một phòng cô ấy ngủ. Trong phòng ngủ, tấm nệm mới trải vải xong, trên nệm, chị giúp việc đã để sẵn chiếc áo kimono cho tôi. Tôi kinh ngạc khi thấy tấm nệm. Vải trải nệm không phải vải mà Mameha đã ngủ đêm trước, vì vải còn láng mướt mịn màng như tuyết mới rơi. Tôi vừa thay chiếc áo vải tôi mang theo đến, vừa phân vân thắc mắc việc này. Khi tôi bắt đầu trang điểm, Mameha nói cho tôi nghe lý do tại sao cô ấy gọi tôi đến.
- Ông Nam tước đã trở về thành phố - cô ấy nói – ông ấy sẽ đến ăn cơm trưa tại đây. Tôi muốn cô gặp ông ấy.
Tôi chưa có cơ hội để nói về ông Nam tước, nhưng Mameha nói ông Nam tước tức là ông Nam tước Matsunaga Tsuneyoshi – ông danna của cô ấy. Ở nước Nhật chúng tôi bây giờ không còn nam tước, bá tước gì nữa, nhưng trước đại chiến lần 2, chúng tôi vẫn còn, và ông Nam tước Matsunaga này là một trong số những người giàu nhất. Gia đình ông ta làm chủ một trong số những nhà ngân hàng lớn của nước Nhật và rất có ảnh hưởng đến nền tài chính của Nhật. Nguyên thủy, người anh cả của ông ta thừa hưởng danh hiệu Nam tước, nhưng ông ấy bị ám sát trong thời gian làm bộ trưởng tài chính trong nội các của thủ tướng Inukai. Danna của Mameha khi ấy đã ngoài ba mươi, không những thừa hưởng chức Nam tước mà còn thừa hưởng tất cả tài sản của người anh, kể cả ngôi nhà đồ sộ ở Kyoto nằm không xa Gion bao nhiêu. Vì công việc kinh doanh, nên ông ta phải ở lại Tokyo nhiều hơn, và cũng còn nhiều việc khác nữa níu chân ông lại đây –vì mấy năm sau tôi biết được chuyện ông ta có tình nhân khác nữa, ở trong khu geisha tại Tokyo. Vài đàn ông giàu có mới có geisha làm tình nhân, nhưng ông Nam tước Matsunaga Tsunegoshi có đến hai tình nhân.
Khi tôi biết ông danna của Mameha sẽ ở chơi cả buổi chiều với cô ấy, tôi mới hiểu ra lý do tại sao nệm trong phòng ngủ trải vải mới.
Tôi vội thay áo mà Mameha đã để sẵn cho tôi – chiếc áo lót màu lục non, còn chiếc kimono có màu nâu đỏ và màu vàng, dưới lai có in hình hàng cây thông. Lúc ấy, một chị hầu của Mameha vừa từ nhà hàng ăn trở về, mang theo cái hộp sơn mài lớn đựng thức ăn trưa cho ông Nam tước. Thức ăn đựng trong đĩa và tô, dùng ăn liền như trong nhà hàng vậy. Dĩa lớn nhất đựng hai con cá ướp muối nướng nằm áp bụng lên dĩa như đang bơi theo dòng nước. Một bên để hai con cua nhỏ hấp hơi, lọai cua lột vỏ. Một hàng muối rắc dọc theo mép dĩa sơn đen làm cho người ta nghĩ chúng bò qua mặt cát.
Mấy phút sau ông Nam tước đến. Tôi nhìn qua khe cửa hở thấy ông ta đứng trên đầu cầu thang để cho Mameha cởi giây giày. Cảm giác đầu tiên của tôi là ông ấy giống như trái hạnh đào hay là trái hồ đào, vì ông ta nhỏ và tròn quay, với nét mặt thô tháp và nặng nề, nhất là quanh hai mắt. Thời ấy để râu là hợp thời trang, nên ông Nam tước để một số lông dài và mềm trên mặt mà tôi nghĩ ông ta cho đó là bộ râu, nhưng tôi thì thấy số lông ấy giống như đám rau thơm rải trên đĩa thức ăn, hay là đám rong biển nhỏ thường được trộn rải rác vào trong cơm.
- Ô Mameha, anh mệt quá! – tôi nghe ông ta nói – anh ghét tàu hỏa chạy lâu như thế này quá!
Cuối cùng ông tuột chân ra khỏi giày, đi qua phòng, bước chân ngắn và nhanh. Từ sáng sớm, người thợ may của Mameha đã mang vào phòng chiếc ghế bành lớn và tấm thảm Ba tư lấy từ phòng chứa đồ nằm bên kia hành lang, ông ta đã kê ghế và lót thảm gần bên cửa sổ. Ông Nam tước ngồi xuống đấy, nhưng chuyện gì xảy ra sau đó tôi không thể nói được vì chị hầu của Mameha đã đến bên tôi, cúi chào xin lỗi rồi nhẹ đẩy cánh cửa để đóng lại, ngăn cách phòng chính với phòng thay áo quần.
Tôi ngồi trong phòng thay áo quần của Mameha suốt một giờ hay hơn nữa trong khi chị hầu đi vào đi ra phục vụ bữa ăn cho ông Nam tước. Thỉnh thoảng tôi nghe Mameha nói nho nhỏ nhưng chủ yếu là ông Nam tước nói. Có lúc tôi tưởng ông ta nổi giận với Mameha nhưng cuối cùng khi nghe đầu đủ câu chuyện tôi mới hiểu rằng ông ta chỉ phàn nàn về một người đàn ông mà ông ta đã gặp vào ngày hôm trước, yêu cầu ông một sự việc riêng tư khiến cho ông tức giận. Cuối cùng bữa ăn xong, chị hầu đem tách trà ra, và Mameha gọi tôi. Tôi bước ra quỳ xuống trước mặt ông Nam tước, cảm thấy người căng thẳng – vì trước đây chưa bao giờ tôi gặp một nhà quý tộc như thế này. Tôi cúi người chào, xin ông bỏ lỗi, lòng nghĩ rằng có lẽ thế nào ông ta cũng phải nói cái gì với tôi. Nhưng ông ta có vẻ cứ nhìn quanh căn phòng, không mảy may chú ý đến tôi.
- Mameha – ông ta nói – bức tranh cuốn mà em thường treo trong góc tường kia ra sao rồi? Đấy là bức tranh tàu vẽ cái gì đấy…xem ra đẹp hơn các bức hiện em đang treo.
- Thưa Nam tước, bức tranh cuốn ở đấy là bài thơ do chính tay của Matsudaira Koichi viết. Bức cuốn treo ở đấy đã gần 4 năm nay.
- Bốn năm à? Thế không phải bức tranh tàu treo ở đấy khi anh đến vào tháng trước sao?
- Không phải…Nam tước đâu có cho em cái vinh dự đón anh đến thăm trong gần ba tháng nay.
- Thảo nào mà anh cảm thấy quá mệt mỏi. Anh thường nói anh phải đi Kyoto nhiều hơn nữa, nhưng cứ việc này rồi việc khác níu kéo anh. Nhìn vào bức tranh cuốn anh vừa nói đến, anh không tin bức tranh đã treo ở đấy 4 năm từ khi anh nhìn thấy nó.
Mameha gọi chị hầu vào, sai chị lấy bức tranh cuốn ở trong tủ. Tôi có nhiệm vụ mở bức tranh ra, tay tôi run run đến nỗi tôi để bức tranh trượt khỏi tay khi tôi đưa lên cho ông xem.
- Hãy cẩn thận, cô em – ông ta nói.
Tôi quá sức bối rối đến nỗi sau khi cúi người xin lỗi, tôi không thể nào không nhìn lui nhìn tới mãi vào mặt ông để xem ông có giận không. Trong khi tôi giữ bức tranh cho ông xem, tưởng chừng như ông nhìn tôi nhiều hơn là nhìn bức tranh, nhưng ánh mắt không phải ánh mắt khiển trách. Một lát sau tôi nhận ra đấy là ánh mắt hiếu kỳ, và chính vì thế tôi lại cảm thấy lúng túng hơn nữa.
- Bức tranh này trông đẹp hơn bức tranh em treo ở hốc tường nhiều, Mameha à – ông nói, nhưng ông vẫn có vẻ cứ nhìn vào tôi, và khi tôi nhìn ông ta, ông ta không chịu quay mắt đi – dù sao thì thư pháp cũng đã xưa lắm rồi – ông ta nói tiếp – em nên hạ cái bức trên hốc tường ấy xuống và treo bức tranh phong cảnh này lên.
Mameha không có lựa chọn nào khác ngoài việc làm theo lời yêu cầu của ông ta, thậm chí cô ấy còn làm ra vẻ như thể cô cho ý kiến của ông ta là chính xác. Khi chị hầu và tôi treo xong bức tranh, và cuốn bức kia lại, Mameha gọi tôi đến để hầu trà cho ông Nam tước. Từ hốc tường nhìn vào, chúng tôi tạo thành cái thế ba chân – Mameha, ông Nam tước, và tôi. Nhưng dĩ nhiên Mameha và ông Nam tước nói chuyện với nhau, còn phần tôi, tôi không làm gì cả ngòai việc chỉ quỳ ở đấy, cảm thấy mình như người ngòai cuộc, như con bồ câu ở trong tổ chim ưng. Trước đây tôi nghĩ tôi có thể xứng đáng ngồi cùng ông Nam tước, nhưng bây giờ tôi không thể không nhận ra một lần nữa rằng tôi không đáng gì hết mà chỉ là một con bé ngu ngốc từ một làng đánh cá đến. Nếu Hatsumono mà có quyền hành, thế nào cô ta cũng đè đầu tôi xuống, bất kỳ người đàn ông nào đến thăm Gion, chắc cũng sẽ không đến gần tôi đâu. Tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ gặp lại ông Nam tước Matsunaga, cũng như không bao giờ tôi gặp lại ông Chủ tịch. Có thể nào Mameha không nhận ra hoàn cảnh vô vọng của tôi và để tôi chết dần chết mòn trong nhà kỹ nữ như chiếc kimono cũ nhưng còn đẹp, người ta treo làm kiểu trong tiệm. Ông Nam tước – người mà tôi bắt đầu nhận ra có tính nóng nảy – nghiêng mình cào cái dấu gì đấy trên mặt Mameha, hành động của ông nhăc tôi nhớ đến bố tôi vào cái ngày tôi thấy ông lần cuối cùng, hôm ấy ông cũng lấy móng tay xoi bụi nằm trong các khe hở trên bàn. Tôi tự hỏi bố tôi sẽ nghĩ gì nếu ông thấy tôi quỳ ở đây trong nhà của Mameha, mặc chiếc áo đắt tiền hơn bất cứ thứ gì mà ông thấy, với ông Nam tước ngồi trước mặt tôi cùng nàng geisha danh tiếng nhất nước Nhật ngồi bên cạnh. Tôi thật không xứng với những gì ở quanh tôi. Nhưng bỗng tôi nghĩ đến chiếc áo lụa mỹ miều trên người tôi, tôi có cảm giác tôi có thể bị đắm đuối vào cái đẹp. Ngay khi ấy, cái đẹp đã làm cho tôi sững sờ kinh ngạc như chính nỗi buồn đã dày vò tôi.

Đã hiệu đính
0
Tiếp tục cho đến hết nha bạn, mình cảm ơn bạn trước!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 05:43:07Chuột lắc>
CHƯƠNG 16

Một buổi chiều khi Mameha và tôi đi qua cầu đại lộ Shijo để mua đồ nữ trang cài tóc ở quận Pontocho – vì Mameha không thích các cửa hàng bán nữ trang ở Gion – bỗng cô ấy dừng lại. Dưới cầu, một chiếc thuyền máy cũ kỹ đang phì phạch chạy qua, tôi tưởng Mameha muốn dừng lại để tránh khói đen nơi chiếc tàu phun ra, nhưng sau một lát cô ấy quay qua nhìn tôi với vẻ mặt thật khó hiểu.
- Có chuyện gì, chị Mameha? – tôi hỏi.
- Tôi phải nói cho cô nghe chuyện này, vì cô chỉ nghe người ngoài nhà cô nói cho biết thôi – cô ấy đáp – Cô bạn Bí Ngô của cô vừa nhận được phần thưởng dành cho geisha tập sự. Người ta còn nghĩ chắc cô ấy sẽ được nhận lần thứ hai nữa.
Mameha muốn nói đến phần thưởng dành cho người tập sự đạt thành tích cao nhất trong tháng trước. Bày ra phần thưởng như thế cũng kỳ lạ thật, nhưng có lý do rất tốt. Việc khuyến khích các cô tập sự đạt thành tích cao như thế là giúp họ đi vào khuôn phép của người geisha sẽ được đánh gía cao nhất ở Gion – nghĩa là, những người kiếm ra lợi tức nhiều không những cho họ thôi mà còn cho mọi người nữa.
Nhiều lần, Mameha đã tiên đoán là Bí Ngô phải phấn đấu vài năm mới thành được nàng geisha chỉ có khách tạm bợ và xoàng xỉnh, không có khách giàu có. Đây là chuyện tương lai đáng buồn, và tôi vui mừng khi nghe Bí Ngô đã phấn đấu tốt hơn thế. Nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy xót xa trong dạ, Bí Ngô đã thành geisha tập sự giỏi nhất ở Gion rồi, trong khi đó tôi vẫn còn chìm trong bóng tối. Khi tôi tự hỏi không biết tương lai của tôi sẽ ra sao, cảnh vật chung quanh bỗng trở nên ủ dột buồn rầu.
Tôi đứng yên trên cầu, nghĩ đến chuyện thành công của Bí Ngô, và điều làm cho tôi ngạc nhiên nhất, là cô ta đã xoay sở để vượt lên trên cô gái duyên dáng có tên là Raiha, cô này đã đạt được phần thưởng vào những tháng trước đây. Mẹ của Raiha là một geisha nổi tiếng và bố cô ta là con một gia đình có tiếng tăm nhất nước Nhật, giàu nứt đố đổ vách. Mỗi khi Raiha đi qua trước mặt tôi, tôi cảm thấy mình như tôm như tép, còn cô ta như cá kình cá ngạc. Làm sao Bí Ngô loại bỏ cô ta ra được? Có lẽ Hatsumono đã thúc đẩy cô ta phấn đấu ngay từ ngày mới nhập môn, thúc đẩy quá sức đến nỗi gần đây cô ta gầy đi, mặt mày hốc hác. Nhưng cho dù Bí Ngô có cố gắng đến đâu đi nữa, làm sao cô ta nổi tiếng hơn Raiha được?
- Này, này, thôi đi – Mameha nói – đừng buồn rầu như thế. Đáng ra cô phải vui mới phải.
- Dạ phải, em ích kỷ quá – tôi đáp.
- Tôi không muốn nói như thế đâu. Hatsumono và Bí Ngô sẽ trả giá rất đắt cho phần thưởng học viên này. Trong vòng năm năm nữa, sẽ chẳng ai nhớ Bí Ngô là ai hết.
- Theo em, mọi người sẽ nhớ vì cô ta đã vượt qua Raiha.
- Không ai vượt qua Raiha hết. Có thể Bí Ngô đã kiếm được nhiều tiền trong tháng qua, nhưng Raiha vẫn là người học viên giỏi nhất ở đây. Đến đây, tôi sẽ giải thích cho cô nghe.
Mameha dẫn tôi vào phòng trà ở Pontocho và bảo tôi ngồi xuống.
Mameha nói:
- Ở Gion, người geisha nổi tiếng nhất thường làm sao để đảm bảo cô em út của mình kiếm được tiền nhiều hơn người khác – nếu cô ta dám liều để phạm đến danh tiếng của mình. Lý do khiến cho họ có thể mang tiếng là đã viết nhiều hóa đơn các Ohana, tức là lệ phí chơi hoa. Ngày xưa, cách đây khỏang 100 năm, mỗi lần nàng geisha đến một buổi tiệc để giúp vui, bà chủ phòng trà đốt một que nhang lâu một giờ - gọi là một Ohana, hay là “hoa”. Lệ phí cho geisha tính trên số bao nhiêu que nhang đã đốt cháy khi cô ta ra về.
Giá tiền một Ohana thường do văn phòng đăng ký hộ tịch Gion ấn định. Trong thời gian tôi làm tập sự, giá ấy là 3 yen, nghĩa là giá bằng 2 chai rượu. Nghe ra có vẻ nhiều, nhưng một geisha không nổi tiếng kiếm một giờ một Ohana, thì cuộc sống rất khó khăn. Có lẽ cô ta ngồi cả buổi tối bên lò than để đợi người hẹn, thậm chí khi cô ta đắt khách đi nữa, cô ta cũng không kiếm được mỗi đêm quá 10 yen, với số tiền kiếm ra như thế cô ta không làm sao có đủ để trả nợ. Trong khi tiền bạc đổ vào Gion như nước, cô ta chỉ như con sâu rúc rỉa bộ xương thú – so với Hatsumono và Mameha, hai người này dường như những con sư tử đánh chén khi mới hạ con thú, không những vì họ đêm nào cũng có người hẹn suốt đêm, mà họ còn tính tiền rất cao nữa. Trường hợp Hatsumono, cô ta tính một Ohana chỉ trong 15 phút chứ không phải một giờ, còn Mameha…Ồ, không có ai ở Gion giống cô ấy hết, cô ấy tính một Ohana chỉ trong năm phút thôi.
Dĩ nhiên không có cô geisha nào hưởng hết số tiền mình kiếm được, ngay cả Mameha cũng không. Phòng trà nơi cô ta kiếm ra tiền hưởng một phần, rồi một phần nhỏ hơn nộp cho hội geisha, và một phần trả cho người thợ may, và một phần cho hệ thống điều hành, kể cả lệ phí phải trả cho nhà kỹ nữ nào lo việc sổ sách cho cô ta và giới thiệu khách hò hẹn. Có lẽ cô ta chỉ còn giữ lại chừng hơn một nửa số tiền mình kiếm được. Thế nhưng nếu đem so với một geisha không nổii tiếng thì đây là cả một số tiền lớn, người geisha không nổi tiếng, sẽ bám sâu dần vào cái hố tối tăm của cuộc sống.
Còn sau đây là cách thức một geisha như Hatsumono có thể làm cho người em út có vẻ thành công hơn thực chất của cô ta.
Thoạt tiên, nàng geisha nổi tiếng ở Gion được đón tiếp nồng hậu ở khắp các buổi tiệc, và họ chỉ ghé lại các nơi trong vòng 5 phút mà thôi. Khách của cô ta vẫn sung sướng trả phí tổn, mặc dù cô ta chỉ chào hỏi rồi đi. Họ biết lần sau họ đến Gion, cô ta sẽ cùng ngồi với họ lâu hơn, làm cho họ được thích thú hơn. Trái lại, người tập sự không thể bỏ đi tùy tiện như thế. Vai trò của họ là thiết lập mối dây liên hệ. Cho đến khi họ trở thành geisha thành thạo vào năm 18 tuổi, họ không được đi từ tiệc này sang tiệc khác nhiều nơi. Nhưng họ phải ở lại lâu hơn một giờ, và chỉ điện thoại về cho nhà kỹ nữ của mình để hỏi người chị cả ở đâu, rồi cô ta đến phòng trà khác để được giới thiệu với khách mới khác. Trong khi người chị có thể ghé vào 20 nơi có tiệc trong một đêm, thì cô tập sự chỉ ghé được không quá 5 nơi. Nhưng Hatsumono không làm theo quy tắc này, cô ta đi đâu là dẫn Bí Ngô đi theo đấy.
Cho đến khi được 16 tuổi, người geisha tập sự tính nửa Ohana một giờ. Nếu Bí Ngô ở tại chỗ tiệc nào chỉ 5 phút thôi, bà chủ vẫn ghi vào hóa đơn số tiền giống như cô ta đã ở đấy một giờ tròn. Ngoài ra, không ai nghĩ đến chuyện Bí Ngô chỉ ở tại đó có 5 phút. Có lẽ các ông cho qua chuyện Hatsumono đem cô em út đến dự trong chốc lát một đêm, hay hai đêm là cùng. Nhưng sau một thời gian, chắc thế nào họ cũng thắc mắc tại sao cô ta quá bận đến nỗi không ở lại lâu được, và tại sao cô em út không ở lại như nhiệm vụ yêu cầu cô ta phải làm thế. Lợi tức của Bí Ngô có thể cao – có lẽ cao đến ba hay bốn Ohana trong một giờ, nhưng thế nào cô ta cũng phải trả giá về tai tiếng của mình, và Hatsumono cũng thế.
- Hành động của Hatsumono như thế thật quá liều lĩnh – Mameha kết luận – cô ta làm thế chỉ hại cho Bí Ngô thôi. Và chắc cô biết lý do tại sao cô ta làm thế, phải không?
- Em không biết, chị Mameha à.
- Cô ta muốn Bí Ngô có uy tín để bà Nitta nhận làm con nuôi. Nếu Bí Ngô được nhận làm con nuôi, tương lai của cô ta sẽ được đảm bảo, và tương lai của Hatsumono cũng vậy. Nói tóm lại, Hatsumono là chị của Bí Ngô, bà Nitta chắc không đuổi cô ta ra khỏi nhà. Cô có hiểu những điều tôi nói không? Nếu Bí Ngô được nhận làm con, cô sẽ không bao giờ thoát nợ Hatsumono, trừ phi chính cô là người bị tống cổ đi.
Tôi cảm thấy lạnh người như sóng biển bị mây che hết ánh mặt trời.
- Cho nên tôi mong sao cô thành người tập sự nổi tiếng sớm – Mameha nói tiếp – nhưng chắc có lẽ Hatsumono cản đường chúng ta rất nhiều.
- Dạ phải, cô ta sẽ làm thế!
- Mà thôi, không lo, ít ra cô đã biết cách làm cho đàn ông vui rồi. Cô may mắn đã gặp ông Nam tước, không biết Hatsumono đã biết chuyện này chưa, nhưng nói thật ra – nói đến đây bỗng cô ấy dừng lại.
- Thưa cô sao ạ?
- Ồ thôi, Sayuri, không sao. Tôi quả điên khi nói thật cho cô nghe.
Tôi rất buồn khi nghe cô ấy nói thế. Có lẽ Mameha đã nhận ra tâm trạng của tôi cho nên cô ấy nói tiếp:
- Cô sống cùng nhà với Hatsumono phải không? Bất cứ tôi nói cho cô nghe cái gì, cô ta cũng có thể biết.
- Thưa chị Mameha, nếu em có cái gì khiến cho chị nghi ngờ như thế, thì xin chị tha lỗi cho. Chị có thể tin rằng khi em về nhà, em kể hết các chuyện cho Hatsumono nghe sao?
- Tôi không lo chuyện cô sẽ làm như thế. Con chuột không bị mèo ăn thịt vì khí nó chạy qua chỗ mèo ngủ và đánh thức mèo dậy. Chắc cô biết Hatsumono có tài xoay sở ra sao rồi, Sayuri, cô phải tin tôi đi.
- Vâng thưa chị - tôi không còn biết phải đáp ra làm sao nữa.
- Tôi sẽ nói cho cô biết một chuyện – Mameha nói, nghiêng người tới một chút, tôi rất kinh ngạc khi thấy cô ấy làm thế - Tôi và cô sẽ đến một nơi hẹn trong hai tuần nữa tại một nơi mà Hatsumono không tìm ra được.
- Em xin hỏi ở đâu được không?
- Không được! Thậm chí tôi sẽ không nói cho cô biết khi nào nữa. Chỉ chuẩn bị tinh thần thôi. Khi đến lúc, cô sẽ biết những gì cô muốn.
Chiều ấy khi trở về nhà, tôi trốn lên lầu để xem niên lịch. Trong hai tuần sắp đến có nhiều ngày tốt để xuất hành. Một ngày đúng vào thứ tư sắp đến, ngày này hợp cho việc đi về phía Tây, có lẽ Mameha có kế hoạch đưa tôi đi khỏi thành phố. Ngày khác đúng vào thứ hai tiếp theo đó, ngày này đúng vào dịp Đại An – ngày tốt nhất trong tuần sáu ngày của đạo Phật. Cuối cùng, ngày chủ nhật kế tiếp, lịch có ghi một đọan rất lạ lùng “Sự quân bình giữa cái tốt và cái xấu sẽ mở cửa số phận”, câu này nghe hấp dẫn hơn cả.
Vào ngày thứ tư, tôi không nghe tin gì của Mameha hết. Mấy ngày sau, cô ấy gọi tôi đến nhà cô – vào ngày cuốn lịch của tôi nói là ngày xấu. Nhưng chỉ có bàn thảo về sự thay đổi trong lớp dạy nghi thức phục vụ trà ở trường. Sau đó, suốt cả một tuần trôi qua tôi không nhận được tin tức gì của cô ấy hết. Rồi vào trưa ngày chủ nhật, tôi nghe cửa nhà kỹ nữ mở ra, tôi để đàn xuống trên hành lang gỗ, nơi tôi đã tập đàn khỏang một giờ rồi và chạy ra cửa. Tôi tưởng sẽ gặp chị người hầu của Mameha, nhưng đấy là người ở tiệm thuốc Bắc mang thuốc đến cho bà Dì chữa bệnh thấp khớp. Sau khi người hầu lớn tuổi của chúng tôi lấy gói thuốc, tôi định trở lại với cây đàn Shamisen thì bỗng tôi chú ý thấy anh chàng giao thuốc có ý muốn nói chuyện với tôi. Anh ta nắm trên tay miếng giấy, nhưng có ý chỉ muốn để cho mình tôi thấy nó thôi. Chị hầu định kéo cửa đóng lại, nhưng anh ta nói với tôi:
- Thưa cô, tôi xin lỗi làm phiền cô, cô làm ơn ném miếng giấy này giúp tôi được không? – chị hầu thấy việc này có vẻ kỳ quặc, nhưng tôi đã lấy miếng giấy, giả vờ ném vào phòng gia nhân. Tờ giấy có ghi lời nhắn, không ký tên nhưng đúng nét chữ của Mameha “Xin phép bà Dì mà đi. Nói với bà tôi có việc nhờ cô làm giúp ở nhà tôi và đến gấp trong vòng không quá một giờ. Đừng để cho ai biết cô đi đâu”.
Tôi nghĩ Mameha cẩn thận như thế này là rất tế nhị, nhưng dù sao thì hiện bà Mẹ đang ăn cơm trưa với một người bạn, còn Hatsumono và Bí Ngô đã đi đến điểm hẹn buổi chiều rồi. Trong nhà chỉ còn bà Dì và gia nhân. Tôi lên phòng Dì, thấy Dì đang trải tấm vải dày lên nệm để ngủ trưa. Trong khi tôi nói, bà đứng run run trong chiếc áo ngủ. Khi nghe Mameha gọi tôi, bà không hỏi đến để làm gì. Bà chỉ vẫy tay cho phép tôi đi, rồi chui vào dưới chăn để ngủ.
Khi tôi đến nhà Mameha, cô ấy bận đi đến điểm hẹn buổi sáng chưa về, nhưng chị hầu đưa tôi vào phòng thay áo quần để làm hóa trang, rồi sau đó mang bộ kimono đã soạn sẵn cho tôi. Tôi đã quen cảnh mặc kimono của Mameha, nhưng đây là chuyện hy hữu, vì ít có người geisha nào cho mượn áo của mình như thế. Hai người bạn ở Gion có thể đổi áo cho nhau trong một vài đêm, nhưng hiếm khi một geisha có lòng tốt với em út như thế này. Quả vậy, Mameha rất mất công vì tôi, cô ấy không mặc những cái áo có tay dài như thế này, cô phải lấy áo từ nhà kho cho tôi. Tôi tự hỏi không biết cô ấy có nghĩ đến chuyện đòi trả lui hay không.
Chiếc kimono cô soạn ra cho tôi hôm ấy là chiếc áo đẹp nhất – áo bằng lụa màu vàng cam in hình thác nước màu bạc chảy từ đầu gối xuống đến mặt biển xanh ngắt. Cái thác tuôn ra từ mõm núi đá có màu nâu, dưới chân núi đá là cánh rừng thấp nhỏ được thêu bằng chỉ màu. Tôi không biết, nhưng chiếc áo này mọi người ở Gion đều biết, người ta nhìn chiếc áo, có lẽ họ sẽ nghĩ đến Mameha. Tôi nghĩ rằng khi cho phép tôi mặc áo này, chắc cô ấy muốn truyền cái tinh hoa của mình sang cho tôi.
Sau khi ông Itchoda buộc dải thắt lưng cho tôi – dải màu gạch và nâu đậm có điểm chỉ vàng – tôi sửa lại mặt hóa trang lần cuối và cài nữ trang lên tóc. Tôi nhét cái khăn tay của ông Chủ tịch – tôi thường mang theo mỗi khi rời nhà – vào dải thắt lưng, rồi đứng soi trước gương lớn. Tôi há hốc mồm kinh ngạc. Tôi quá kinh ngạc khi nghĩ đến chuyện Mameha có ý đồ biến tôi thành người quá đẹp như thế này, nhưng khi cô ấy về đến nhà, cô ấy còn làm tăng thêm vẻ đẹp của tôi lên nữa bằng cách cô thay cho mình chiếc áo kimono bình dị xinh xắn. Cái áo có màu khoai mì, phủ những đường sọc màu xám nhạt, còn dải thắt lưng có hình những viên kim cương màu đen giản dị trên nền màu xanh đậm. Cô ấy có nét đẹp kín đáo của viên ngọc trai như mọi khi, nhưng lúc chúng tôi ra đường, các phụ nữ cúi chào Mameha đều đưa mắt nhìn tôi.
Từ đền thần ở Gion, chúng tôi đi xe kéo theo hướng Bắc chừng nửa giờ, đến một khu vực của Kyoto mà tôi chưa hề biết. Trên đường đi, Mameha nói cho tôi biết chúng tôi đến dự buổi biểu diễn đô vật, chúng tôi xem như khách của ông Iwamura Ken, người sáng lập ra Công thấy sản xuất đồ điện Iwamura ở Osaka – công ty đã sản xuất lò sưởi điện làm chết bà ngoại. Cánh tay phải của ông Iwamura là ông Nobu Toshisazu, ông này làm quản lý cho công ty cũng đến dự. Nobu là người hâm mộ môn đô vật và đã tiếp tay giúp tổ chức buổi biểu diễn chiều hôm ấy.
- Tôi báo trước cho cô biết – cô ấy nói với tôi – cái ông Nobu ấy…trông đặc biệt lắm. Khi gặp ông ta, cô phải cư xử sao để gây ấn tượng với ông ta – nói xong, cô ấy nhìn tôi như muốn nói rằng nếu tôi không làm được như thế, cô ấy sẽ hết sức thất vọng.
Còn về việc Hatsumono, chúng tôi khỏi lo, vì vé vào xem cuộc biểu diễn đã bán hết mấy tuần trước rồi.
Cuối cùng chúng tôi xuống xe ở trong khuôn viên của trường đại học Kyoto. Mameha dẫn tôi đi theo con đường đất có hai hàng thông nhỏ hai bên. Những ngôi nhà xây theo kiểu Tây phương hai bên đường chúng tôi đi qua đều đóng cửa kín mít, cửa sổ lồng kính nhỏ vuông vức và khung cửa bằng gỗ sơn. Nhìn cảnh nhà cửa ở khu đại học, tôi mới nhận ra Gion là quê hương thân thiết của tôi. Chung quanh tôi có nhiều thanh niên da dẻ láng mướt, mái tóc chải rẽ, có người mặc quần áo dây treo cho khỏi tuột. Họ có vẻ lạ lùng ngạc nhiên khi thấy Mameha và tôi đi qua, thậm chí họ còn nói đùa với nhau nữa. Sau đó chúng tôi đi qua một cánh cổng sắt có một đám người già và một số phụ nữ, có cả vài cô geisha nữa. Kyoto có ít chỗ có thể dùng biểu diễn đô vật ở trong nhà được và ở đại học Kyoto dùng nhà biểu diễn cũ của trường để tổ chức. Nhà này bây giờ không còn nữa, nhưng lúc ấy, nó đứng chen lẫn trong đám nhà xây theo kiểu Tây phương trông giống như một ông già còm cõi mặc áo kimono đứng giữa đám thương gia tân tiến. Ngôi nhà giống cái hộp khổng lồ, mái nhà có vẻ không được vững chãi, nhưng tôi nghĩ nó như cái nắp đậy vừa cái bình trà méo mó. Những cánh cửa khổng lồ nằm một bên đã bị hư hỏng nhiều, gỗ cong queo bung ra khỏi khung sắt. Vẻ hư hỏng xấu xí của ngôi nhà này khiến tôi nhớ lại ngôi nhà ngà say của tôi, và bỗng nhiên tôi cảm thấy buồn.
Khi tôi bước lên bậc thềm đá để vào nhà, tôi trông thấy hai cô geisha đi qua sân rải sỏi, tôi cúi người chào họ. Họ gật đầu chào lại tôi, và một cô nói gì đấy với cô kia. Tôi thấy chuyện này lạ lùng quá, bèn nhìn kỹ họ hơn. Bỗng tim tôi đập nhanh, một cô là Korin, bạn của Hatsumono. Tôi cúi chào cô ta lần nữa vì tôi đã nhận ra cô ta, và tôi cố mỉm cười. Khi họ quay nhìn chỗ khác, tôi thì thào với Mameha:
- Chị Mameha, em vừa thấy người bạn của Hatsumono!
- Tôi không tin Hatsumono có bạn.
- Chị Korin đấy, chị ấy vừa mới ở đây, với một số các cô geisha khách nữa.
- Tôi biết Korin. Tại sao cô quá lo về cô ta? Cô ta có thể làm gì được?
Tôi không trả lời, nhưng nếu Mameha không lo thì tại sao tôi phải lo sợ làm gì.
Cái gây cho tôi ấn tượng mạnh nhất khi bước vào nhà biểu diễn là khoảng trống khổng lồ chạy lên tận mái nhà, dưới mái nhà, ánh sáng chiếu xuống qua các khung cửa sổ có màn che nằm cao trên đầu chúng tôi. Tiếng người ồn ào vang lên trong khoảng không gian khổng lồ ấy, với khói từ các lò nướng bánh bột gạo từ bên ngòai bay vào. Giữa nhà có một mô đất vuông vức nơi dùng làm chỗ cho các nhà đô vật tranh tài, trên mô đất có mái che theo kiểu mái đền thờ thần. một ông thầy tu đi quanh trên mô đất, tụng kinh cầu phú,c phất qua phất lại cái phương trượng co ‘trang hòang những dải giấy hình xoắn ốc.
Mameha dẫn tôi đến hàng chỗ ngồi ở phía trước, ở đấy chúng tôi tháo giày ra, đi vớ có xẻ ở đầu ngón chân trên một mép ván gỗ nhỏ. Những người tổ chức đã có mặt trong dãy ngồi này rồi, nhưng tôi không biết ai hết cho đến khi có một người đưa tay vẫy gọi Mameha, tôi hiểu ngay đó là ông Nobu. Tôi cũng hiểu lý do tại sao Mameha đã dặn dò trước với tôi về vẻ ngòai của ông ta. Ngay cả khi nhìn ông ta từ xa, tôi cũng thấy mặt ông như cây đèn cầy bị hơ chảy. Ông ta đã bị cháy phỏng mặt đâu đó từ lâu rồi, toàn bộ bề ngoài của ông ta trông rất thê thảm, tôi không thể tưởng tượng được sự đau đớn mà ông ta đã gánh chịu khi mới xảy ra tai nạn. Tôi đang lo lắng về chuyện gặp Korin, thì bây giờ lại lo thêm về chuyện sẽ gặp Nobu. Thế nào tôi cũng có những hành động thiếu bình tĩnh mất thôi. Khi đi sau Mameha, tôi chỉ chú ý đến một người đàn ông rất lịch sự ngồi bên cạnh ông Nobu trên chiếu rơm, ông ta mặc áo kimono có sọc. Khi tôi để mắt tới người đàn ông này, tôi bỗng thấy lòng tôi lặng đi một cách lạ lùng. Ông ta đang nói chuyện với người ngồi bên cạnh, nên tôi chỉ thấy phía sau đầu của ông ta mà thôi. Nhưng trông ta quá quen đến nỗi bỗng tôi không còn chú ý đến cái gì chung quanh nữa hết. Tôi nghĩ đến người tôi quen biết ở chỗ khác, không phải ở trong nhà biểu diễn này. Tôi đang loay hoay suy diễn thì bỗng trong óc tôi nảy ra hình ảnh của người đàn ông quay nhìn tôi trên đường làng của quê nhà.
Và tôi nhớ ra: đấy là ông Tanaka!
Ông ta đã thay đổi ra sao, tôi không thể miêu tả được. Tôi nhìn ông ta đưa tay vuốt mái tóc hoa râm và sững sờ kinh ngạc trước mấy ngón tay vuốt tóc một cách duyên dáng mềm mại. Tại sao tôi thấy cách vuốt tóc của ông ta có nét đặc biệt khiến tôi phải nhìn vào ông ta nhỉ? Có lẽ tôi bị chóa mắt khi nhìn ông ta và tôi cảm thấy hoang mang. Phải, trên đời này nếu người nào tôi ghét nhất, thì đó chính là ông Tanaka, tôi phải nhắc nhở mình nhớ lấy điều này. Tôi sẽ không đến quỳ bên ông ta và nói “Kìa ông Tanaka, tôi thật sự hân hạnh được gặp lại ông. Cái gì đã mang ông đến Kyoto thế này?” Nhưng thay vì làm thế, tôi sẽ tìm cách chứng tỏ cho ông ta thấy tôi nghĩ sao về ông ta, mặc dù điều ấy là một việc mà một geisha tập sự không được phép làm. Thật ra trong những năm vừa qua, tôi nghĩ đến ông Tanaka rất ít. Thế nhưng tôi thề với lòng mình là sẽ không đối xử tử tế với ông ta, nếu buộc lòng phải rót rượu sake cho ông ta, tôi sẽ rót tràn ra chân ông ta. Nếu buộc lòng phải cười với ông ta, tôi sẽ cười với nụ cười tôi thường thấy trên mặt Hatsumono, và rồi tôi sẽ nói “Ồ, ông Tanaka, mùi cá tanh rích.. Khi ngồi bên ông làm tôi nhớ nhà!” Chắc ông ta sẽ hết sức bàng hoàng sửng sốt! Hay có lẽ tôi sẽ nói như thế này “Kìa ông Tanaka, trông ông tuyệt vời quá!” Thế nhưng thật ra khi tôi nhìn kỹ vào ông ta, vì bây giờ tôi đã đến gần chỗ ông ta ngồi, quả trông ông tuyệt vời thật, tuyệt vời hơn bao giờ hết. Mameha vừa đến chỗ ông ta, cô ta quỳ xuống cúi người chào. Bỗng ông ta quay đầu nhìn lui, và đó là lần đầu tiên tôi nhìn vào khuôn mặt rộng, xương gò má sắc sảo…nhất là hai hàng mi, sít lại ở hai đuôi mắt, mượt mà thẳng thớm. Bỗng gió thổi và tôi là đám mây được gió cuốn đi.
Ông ta quen với tôi, đương nhiên, trên vài phương diện nào đó, ông ta còn quen hơn cả chính hình ảnh của tôi trong gương. Nhưng ông ta không phải là ông Tanaka, ông ta chính là ông Chủ tịch.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 04:32:16Chuột lắc>
CHƯƠNG 17

Tôi chỉ mới gặp ông Chủ tịch trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, nhưng tôi đã để dành rất nhiều thời gian để mơ tưởng đến ông ta. Ông ta là bài ca tôi chỉ được nghe một lần, nhưng bài ca ấy cứ được hát lại mãi trong trí óc tôi. Thế nhưng những nốt nhạc đã thay đổi theo từng giai đoạn của thời gian – nghĩa là tôi đã nghĩ đến chuyện trán ông cao thêm, tóc hoa râm của ông thưa bớt. Khi tôi thấy ông, tôi thoáng sợ không biết ông có thật sự phải là ông Chủ tịch không, nhưng tôi lại cảm thấy yên ổn trong lòng ngay, tôi tin chắc tôi đã tìm ra được ông.
Trong khi Mameha chào hai người đàn ông, tôi đứng phía sau đợi đến phiên mình chào họ. Nếu như khi tôi cất tiếng chào mà giọng tôi nghe như tiếng giẻ lau sàn nhà thì sao nhỉ? Nobu, với những vết sẹo thê thảm, nhìn tôi đăm đăm, nhưng tôi không biết ông Chủ tịch có để ý đến tôi hay không, tôi quá rụt rè, không dám nhìn về phía ông ta. Khi Mameha ngồi vào chỗ, vuốt chiếc kimono trên đầu gối cho phẳng, tôi thấy ông Chủ tịch nhìn tôi với ánh mắt mà tôi nghĩ là có vẻ hiếu kỳ. Hai chân tôi cóng lại vì máu đã dồn hết lên mặt.
- ông Chủ tịch Iwamura, ông quản lý Nobu – Mameha giới thiệu – đây là em út của tôi, Sayuri.
Tôi nghĩ chắc anh có nghe nói đến tên tuổi nổi tiếng của Iwamura Ken, nhà sáng lập ra công ty chế tạo đồ điện Iwamura. Và có lẽ anh cũng có nghe tiếng của Nobu Toshikazu. Có lẽ trên nước Nhật không có ai hùn hạp làm ăn nổi tiếng hơn sự hùn hạp của họ. Họ như thân với rễ trong cùng một cây, hay là như đền thờ với cái cổng ở đàng trước. Ngay như tôi, một cô gái mới có 14 tuổi, mà cũng nghe nói đến họ. Nhưng tôi không ngờ chính Iwamura Ken là người đàn ông tôi đã gặp bên bờ suối Shirakawa. Tôi quỳ xuống cúi chào họ, nói những lời như mọi khi. Khi chào nói xong, tôi đến quỳ bên chỗ còn rộng ở giữa họ. Nobu nói chuyện với người đàn ông bên cạnh, trong khi ông Chủ tịch, ngồi phía bên kia của tôi, bàn tay ôm tách trà không để trên đầu gối, Mameha nói chuyện với ông ta, tôi bưng bình trà nhỏ lên, giữ tay áo cho khỏi vướng để rót trà. Tôi ngạc nhiên thấy ông Chủ tịch đưa mắt nhìn vào cánh tay của tôi. Dĩ nhiên tôi rất muốn biết ông ta nhìn thấy cánh tay tôi ra sao. Có lẽ vì ánh sáng trong nhà lờ mờ nên phía dưới cánh tay tôi loang loáng sáng như bề mặt của viên ngọc mịn màng, và có màu ngà đẹp đẽ. Không có nơi nào trên cơ thể tôi đẹp bằng nơi ấy. Tôi thấy ông Chủ tịch không hề nhấp nháy mắt, vì ông ta cứ nhìn đăm đăm vào cánh tay tôi, nên tôi không hạ tay xuống. Rồi bỗng Mameha im lặng. Tôi nghĩ chắc cô ấy ngừng nói chuyện vì ông Chủ tịch cứ chăm chú nhìn vào cánh tay tôi, thay vì nói chuyện với cô ấy. Rồi tôi bỗng nhận ra sự thật trước mắt.
Mới trước đó một lát, tôi cảm thấy mình duyên dáng, nhưng bây giờ tôi vội vàng xin lỗi và để bình trà xuống. Mameha cười và nói:
- Ông Chủ tịch, chắc ông thấy cô ấy là người cương quyết như thế nào rồi. Nếu trong bình còn giọt nước nào, chắc Sayuri đã rót cho ông rồi.
- Cái áo kimono cô em út của cô mặc đẹp quá, Mameha à – ông Chủ tịch nói – nếu tôi nhớ không lầm, thì cô đã mặc cái áo này trong thời gian tập sự phải không?
Nếu tôi còn nghi ngờ người đàn ông này có phải đúng là ông Chủ tịch không, thì bây giờ khi nghe giọng ông ta nói, giọng tử tế quen thuộc, tôi không còn nghi ngờ gì nữa.
- Tôi nghĩ có thể tôi có mặc – Mameha đáp – nhưng ông Chủ tịch đã thấy tôi mặc quá nhiều kimono khác nhau trong nhiều năm qua, cho nên tôi nghĩ ông không thể nhớ hết được.
- Phải, tôi không khác mọi người khác. Sắc đẹp gây cho tôi ấn tượng mạnh. Khi nói đến các nhà đô vật, tôi không thể nói người nào đẹp hơn người nào.
Mameha nghiêng người tới trước mặt ông Chủ tịch và nói nhỏ với tôi:
- Ý của ông Chủ tịch muốn nói là ông không thích môn đô vật.
- Thôi, Mameha – ông ta nói – nếu cô muốn tôi gặp chuyện rắc rối với Nobu thì…
- Thưa ông Chủ tịch, ông Nobu đã biết sở thích của ông từ lâu rồi.
- Nhưng cũng không nên nói ra. Sayuri này, có phải đây là lần đầu tiên cô xem đô vật không?
Tôi đã đợi cơ hội để nói với ông ta, nhưng trước khi tôi lên tiếng thì bỗng có tiếng rầm thật lớn vang lên làm ngôi nhà rung rinh, khiến cho tất cả chúng tôi đều giật mình. Mọi người im lặng, chúng tôi quay đầu nhìn, nhưng chẳng có gì ngoài cánh cửa lớn đóng lại. một lát sau, chúng tôi nghe tiếng bản lề cửa kêu răng rắc rồi thấy cánh cửa thứ hai từ từ mở ra, cánh cửa do hai võ sĩ đô vật đẩy mở ra. Nobu quay đầu khỏi tôi để nhìn tới chỗ ấy, tôi không thể nào không nhìn vào cái vết sẹo khủng khiếp do lửa đốt ở bên mặt và trên cổ ông ta, và vết sẹo trên lỗ tai làm tai ông biến dạng. Rồi tôi thấy cánh tay áo khoác của ông ta trống trơn. Nãy giờ tôi bận bịu nên không để ý đến cánh tay, cánh tay áo được xếp gấp lên, ghim vào vai bằng một cây ghim thật dài.
Nếu anh không biết, tôi xin kể chuyện Nobu bị thương cho anh nghe. Khi ông ta làm trung úy trong Hải quân Nhật, ông ta bị thương trong một vụ đánh bom ngoài Seoul vào năm 1910, khoảng thời gian Triều tiên bị sáp nhập vào Nhật. Khi tôi gặp ông ta, tôi không biết gì về hành động anh hùng của ông hết – mặc dù câu chuyện này đã được cả nước Nhật biết đến. Nếu ông ta không hợp tác với ông Chủ tịch để rồi sau đó trở thành quản lý của công ti sản xuất đồ điện Iwamura, thì có lẽ chuyện ông là anh hùng trong chiến tranh đã bị rơi vào quên lãng. Nhưng vì ông hợp tác với Iwamura, cho nên những vết thương khủng khiếp của ông đã làm cho câu chuyện thành công của ông được mọi người chú ý hơn, và hai người thường được nhắc nhở tới luôn.
Tôi không biết nhiều về lịch sử - vì nhà trường tôi học thường chỉ dạy cho chúng tôi nghệ thuật – nhưng tôi biết chính phủ Nhật nắm quyền kiểm soát hết Triều tiên vào lúc chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Nhật, và mấy năm sau chính phủ Nhật quyết định sáp nhập nước Triều tiên vào đế chế Nhật đang lớn mạnh. Tôi biết người dân Triều tiên không thích chuyện này. Nobu sang đó như là một lực lượng nhỏ giữ quyền kiểm soát. Một buổi chiều, ông ta đi theo vị sĩ quan chỉ huy đi thăm một ngôi làng gần Seoul. Khi trở về đến chỗ buộc ngựa, đơn vị tuần tra bị tấn công. Khi họ nghe tiếng tạc đạn nổ khủng khiếp, vị chỉ huy cố leo xuống một giao thông hào, nhưng ông ta già rồi và chậm chạp như một con ốc sên bò trên đá. Nobu chạy đến để giúp ông, nhưng vì ông sĩ quan chỉ huy qúa chậm chạp, nên quả tạc đạn bay đến nổ trên đầu ông. Quả tạc đạn nổ giết chết ông sĩ quan chỉ huy và làm cho Nobu bị thương nặng. Khi ở bệnh viện ra, Nobu mất cánh tay trái ở trên khuỷu tay.
Lần đầu tiên tôi thấy ống tay áo ghim lên, tôi hoảng hốt quay mặt đi chỗ khác. Trước đó tôi chưa bao giờ thấy người nào mất tay mất chân – mặc dù khi còn nhỏ đã thấy người phụ tá của ông Tanaka mất đầu ngón tay. Trong trường hợp của ông Nobu, nhiều người cho rằng một cánh tay chưa ghê lắm, mà chính cá vết thương ở da mới ghê gớm. Thật khó mà miêu tả hết vẻ ghê tởm trên da mặt của ông, và có lẽ quá độc ác khi muốn miêu tả ra. Tôi chỉ xin lặp lại một câu của geisha miêu tả về ông ta như thế này mà thôi “mỗi lần tôi nhìn vào mặt ông ta, tôi cứ nghĩ đến củ khoai lang nướng phồng trong lò lửa”.
Khi những cánh cửa khổng lồ đã đóng lại, tôi quay qua phía ông Chủ tịch để trả lời câu hỏi của ông. Vì là tập sự, nếu tôi muốn, tôi được phép ngồi yên lặng như một giỏ hoa, nhưng tôi quyết không để cho cơ hội này trôi qua. Cho dù tôi chỉ gây cho ông ta chút ít ấn tượng thôi, như bàn chân của em bé để lên nền đất, thì ít ra đây cũng là bước khởi đầu của tôi.
- Ông Chủ tịch hỏi có phải đây là lần đầu tiên em xem đô vật không – tôi nói – đúng thế đấy, và nếu được ông Chủ tịch giảng giải cho biết đôi điều về môn võ này thì em sẽ hết sức cám ơn ông.
- Nếu cô em muốn biết môn võ này đấu như thế nào – ông Nobu nói – cô nên nói với tôi thì tốt hơn. Tên cô em là gì, cô tập sự? Hồi nãy trong phòng ồn quá tôi nghe không rõ.
Tôi quay khỏi ông Chủ tịch với vẻ rất khó khăn như đứa bé đang đói bụng quay khỏi đĩa thức ăn.
- Tôi tên là Sayuri, thưa ngài – tôi đáp.
- Cô là em út của Mameha, tại sao cô không là “Mame” này nọ? – Nobu nói tiếp – không phải lấy tên kiểu ấy là cái tục lệ điên khùng của các cô hay sao?
- Dạ phải, thưa ngài. Nhưng tất cả các tên có chữ “Mame” theo lời ông thầy bói đều không được tốt cho tôi.
- Thầy bói! – Nobu nói với vẻ khinh bỉ - có phải ông ta là người đã chọn tên cho cô không?
- Tôi là người chọn tên ấy – Mameha đáp – thầy bói không chọn tên mà họ chỉ cho biết tên ấy có thích hợp hay không thôi.
- Mameha – Nobu nói tiếp – một ngày nào đó cô sẽ trưởng thành và không nghe những chuyện điên khùng như thế nữa.
- Thôi, thôi, Nobu – ông Chủ tịch nói – người nào nghe anh nói chắc đều nghĩ rằng anh là người tân tiến nhất nước Nhật, nhưng tôi chưa thấy ai tin vào số mệnh như anh cả.
- Mỗi người đều có số phận của mình. Nhưng có ai cần đến thầy bói để tìm ra số phận của mình không? Có phải tôi phải đến người đầu bếp để hói xem tôi có đói hay không à? – Nobu nói – nhưng dầu sao, Sayuri là một cái tên đẹp – mặc dù tên đẹp và người đẹp thường không đi đôi với nhau.
Tôi thấy phân vân không biết câu nói vừa rồi của ông ta có phải hàm ý như thế này không – “Mameha, cô đã chọn cô em út xấu quá!” – hay là có nghĩa gì đại loại như thế. Nhưng may thay ông ta nói tiếp:
- Trường hợp này tên và người đều đi đôi với nhau. Tôi nghĩ cô ta còn đẹp hơn cả cô nữa, cô Mameha à.
- Ông Nobu! Đàn bà không ai muốn nghe mình không phải là người đẹp nhất.
- Nhất là cô hả? Này, cô phải tập cho quen đi thì vừa. Cô ấy có đôi mắt rất đẹp. Sayuri, cô quay mặt cho tôi nhìn cặp mắt cô lần nữa đi.
Tôi không thể nhìn xuống chiếu được, vì Nobu muốn nhìn mắt tôi. Tôi cũng không thể nhìn thẳng vào mặt ông ta liền, vì như thế có vẻ tự phụ quá. Cho nên tôi phải từ từ nhìn quanh như thể đang tìm cái gì, rồi đưa mắt nhìn vào chỗ dưới cằm ông ta. Nếu tôi có thể bắt cặp mắt đừng thấy, chắc tôi sẽ làm liền, vì nét mặt của ông Nobu như bức tượng nắn bằng đất sét tồi. Chắc anh nhớ khi ấy tôi chưa biết chuyện đã gây cho khuôn mặt ông ta trở thành xấu xí như thế. Khi tôi tự hỏi chuyện gì đã xảy ra cho ông ta, tôi cảm thấy lòng nặng nề kinh khủng.
- Cặp mắt cô lung linh tỏa sáng một cách kỳ diệu – ông ta nói.
Ngay lúc ấy, cánh cửa nhỏ thông với hành lang bật mở, một người đàn ông đi vào, ông ta mặc áo kimono rất đặc biệt và đội cái mũ vải cao màu đen, trông như thể ông ta từ trong bức tranh của Hoàng triều bước ra. Ông ta đi vào con đường đi ở giữa, dẫn đầu đoàn đô vật khổng lồ, họ phải khom người xuống để đi qua ngưỡng cửa.
- Này cô em, cô biết gì về môn đô vật không? – Nobu hỏi tôi.
- Thưa ngài, chỉ biết võ sĩ đô vật khổng lồ như cá voi thôi – tôi đáp – có một người làm việc ở phòng đăng ký hộ tịch ở Gion trước đây đã từng là võ sĩ đô vật.
- Chắc cô muốn nói đến Awajiumi. Anh ta ngồi kia kìa – Nobu đưa tay chỉ về một bậc ngồi khác, nơi có Awajiumi đang ngồi, ông ta đang cười về chuyện gì đấy với Korin đang ngồi bên cạnh. Chắc cô ta nhìn thấy tôi, vì cô ta mỉm cười rồi nghiêng người sang nói gì đó với Awajiumi, ông này bèn nhìn sang phía chúng tôi.
- Anh ta không phải là đô vật giỏi – Nobu nói – anh thích dùng vai để húc đối thủ. Anh chàng ngốc, không bao giờ thắng ai mà lại bị gãy xương đòn gánh nhiều lần.
Khi ấy các nhà đô vật đã vào hết trong nhà, họ đứng quanh dưới mô đất. Người ta xướng tên từng người một, và họ leo lên bệ, đứng xếp hàng thành một vòng tròn nhìn ra khán giả. Sau đó, khi họ đi ra bên ngòai, để cho những võ sĩ đô vật phía bên kia đi vào. Nobu nói với tôi:
- Sợi dây có hình tròn trên mặt đất là ranh giới võ đài. Người đô vật nào bị đẩy ra ngòai trước, hay là chạm người xuống đất trước, chạm bất cứ cái gì ngòai hai bàn chân là thua. Nghe thì dễ, nhưng làm sao cô đẩy nổi một con người khổng lồ như thế qua sợi dây?
- Chắc tôi phải lẻn ra sau lưng ông ta, rồi lấy mõ đánh lên cho ông ta sợ mà phải chạy ra ngài.
- Hãy nói năng cho nghiêm túc – Nobu nói.
Tôi không nghĩ đó là cách ăn nói khôn ngoan, nhưng tôi nghĩ đây là nỗ lực đầu tiên của tôi để nói đùa với đàn ông cho vui. Tôi cảm thấy lúng túng, không biết nói gì nữa. Bỗng ông Chủ tịch cúi người qua phía tôi.
- Ông Nobu không đùa bỡn về chuyện đô vật – ông bình tĩnh nói.
- Tôi không đùa bỡn ba loại chuyện quan trọng trong đời sống – Nobu nói – đó là đô vật, kinh doanh và chiến tranh.
- Trời đất, theo tôi thì đây cũng là loại nói đùa thôi – Mameha nói – ông không thấy ông đã mâu thuẫn với mình sao?
- Nếu cô đã thấy cảnh một trận chiến – Nobu nói với tôi – hay cảnh đấu tranh tôi một buổi họp về kinh doanh, cô có biết cái gì sẽ xảy ra không?
Tôi không biết ông ta muốn gì, nhưng cứ theo giọng ông ta nói, thì có lẽ ông ta muốn tôi nói không.
- Ồ, tôi không biết gì hết – tôi trả lời.
- Đúng thế. Và cô cũng không biết cái gì xảy ra trong đô vật nữa. Cho nên, cô có thể cười câu nói đùa của Mameha hay là lắng nghe tôi nói để hiểu rõ ý nghĩa của vấn đề.
- Ông ấy đã cố dạy tôi nhiều năm rồi – ông Chủ tịch nói với tôi – nhưng tôi là người học trò rất dốt.
- Ông Chủ tịch là người rất thông minh – Nobu đáp – ông ấy là học sinh dốt về đô vật vì ông không lưu tâm đến môn này thôi. Chiều nay ông ấy không muốn đến đây đâu, nhưng vì ông rộng lượng chấp nhận lời đề nghị của tôi để công ty Iwamura bảo trợ cho buổi biểu diễn này.
Liền sau đó hai đội làm xong các nghi thức lên võ đài. Hai nghi thức tiếp theo rất long trọng, đó là giới thiệu người Yokozuna của mỗi đội. Người yokozuna là người có cấp bậc cao nhất trong đô vật, Nobu giảng cho tôi nghe rằng cấp bậc này “y như vị trí của Mameha ở Gion vậy”. Đương nhiên tôi phải tin ông ta, nhưng nếu Mameha chỉ ở trong buổi tiệc nửa chừng rồi bỏ về như các ông yokozuna này lên võ đài trong chốc lát, thì thế nào cô ấy cũng không được mời lại lần nữa. người yokozuna thứ hai có thân hình thấp lùn và có khuôn mặt rất đáng chú ý – không phải bự thịt mà rắn rỏi như đá, hàm xai bạnh ra khiến tôi nghĩ đến mũi thuyền đánh cá vuông vức. Khán giả vỗ tay hoan hô đinh tai nhức óc. Tên ông ta là Miyagiyama, và nếu anh biết về môn đô vật, chắc anh hiểu lý do tại sao người ta hoan hô nhiệt liệt đến thế.
- Chưa bao giờ tôi thấy một người đô vật nào vĩ đại như thế - Nobu nói với tôi.
Trước khi các trận đấu bắt đầu, người giới thiệu chương trình tuyên bố danh sách phần thưởng dành cho người thắng. Nobu Toshikaza, quản lý công ty điện Iwamura, tặng thưởng một số tiền khá lớn. Khi nghe tuyên bố tin này, ông ta có vẻ bực mình, nói:
- Đồ điên! Tiền này đâu phải của tôi, mà của công ty điện Iwamura, ông Chủ tịch, tôi xin lỗi nhé. Tôi xin gọi người đến bảo xướng ngôn viên đính chính lại.
- Khỏi đính chính, Nobu. Cứ xem như tôi nợ anh rất nhiều, việc này quá nhỏ.
- Ông Chủ tịch quá rộng lượng – Nobu nói – tôi rất cám ơn – nói xong ông ta đưa tách uống sake cho ông Chủ tịch rót đầy, và hai người cụng tách.
Khi cặp vô địch đầu tiên lên võ đài, tôi cứ tưởng trận đấu sẽ bắt đầu ngay. Nhưng không, họ dành 5 phút hay nhiều hơn nữa để rảy muối trên nền võ đài, rồi ngồi xổm xuống, nghiêng người qua một bên rồi đưa một chân lên cao và dậm xuống đất. Chốc chốc họ thu mình lại như sẵn sàng tấn công, quắc mắt nhìn nhau, nhưng ngay khi tôi tưởng họ tấn công thì bỗng một người đứng lên, đi bốc một nắm muối khác. Cuối cùng khi tôi nghĩ chưa đến họ tấn công thì họ xáp vào nhau. Họ nhào vào nhau, nắm dải thắt lưng của nhau, nhưng chỉ trong nháy mắt, một người đẩy người kia mất thăng bằng nhào xuống, và thế là trận đấu kết thúc. Khán giả vỗ tay hoan hô nhưng Nobu lắc đầu chê trách.
Trong những trận tiếp theo, tôi cảm thấy một tai tôi dính vào óc, một tai dính vào tim, vì một tai tôi nghe ông Nobu nói, mà những điều ông nói rất hay, nhưng tai kia tôi lại nghe ông Chủ tịch nói chuyện với Mameha khiến tôi bị chia trí.
Hơn một giờ trôi qua như thế, rồi bỗng tôi chợt thấy có cái gì màu tươi sáng ở bên chỗ ngồi của Awajumi động đậy. Vật ấy là một đóa hoa lụa màu vàng cam nhúc nhích trên mái tóc người phụ nữ khi chị ta quỳ gối ngồi vào chỗ ngồi. Thoạt tiên tôi nghĩ đấy là Korin, tôi tưởng cô ta đã thay kimono. Nhưng nhìn kỹ, tôi thấy không phải Korin mà là Hatsumono.
Gặp cô ta ở đây quả là một điều tôi không ngờ đến. Tôi cảm thấy thót người lên như dẫm phải dây điện. Dĩ nhiên việc cô ta tìm cách làm nhục tôi chỉ là vấn đề thời gian, thậm chí ở đây, trong ngôi nhà khổng lồ này, giữa hàng trăm người. Tôi cóc cần cô ta chọc quê tôi trước mặt đám đông, nếu xảy ra việc ấy, nhưng tôi không chịu đựng được cảnh khi thấy mình như đồ hèn trước mặt ông Chủ tịch. Cuống họng tôi nóng ran như lửa đốt, thậm chí tôi không thể giả vờ nghe ông Nobu nói về cặp đô vật khác đang leo lên võ đài. Khi tôi nhìn qua Mameha, cô ấy nháy mắt qua phía Hatsumono rồi nói:
- Thưa ông Chủ tịch, xin mạn phép ông, tôi xin lỗi ra ngoài một lát. Và tôi nghĩ Sayuri cũng muốn ra ngoài một lát.
Cô ấy đợi cho đến khi Nobu nói xuống chuyện rồi tôi theo cô ấy ra ngoài.
- Ôi chị Mameha, mụ ta như quỷ sứ! – tôi nói.
- Korin rời khỏi đây hơn một giờ rồi. Chắc cô ta đi tìm Hatsumono để báo cho cô ta biết mà đến đây. Cô em phải hãnh diện về việc này mới đúng, vì Hatsumono đã cất công đến đây để quấy phá cô.
- Em không chịu được cảnh cô ta sẽ làm nhục em trước mắt ..ờ, trước mắt những người này.
- Nhưng nếu cô ta làm gì để cho cô ta thấy hả dạ thì chắc cô ta sẽ để cho cô yên, phải không?
- Chị Mameha, chị vui lòng …đừng để em lúng túng.
Chúng tôi đi qua sân, đến gần nhà vệ sinh, nhưng thay vì chúng tôi bước lên tầng cấp vào phòng vệ sinh, thì Mameha dẫn tôi đến một con đường nhỏ cách xa đấy một đoạn để không ai nghe được, và cô ta bảo:
- Ông Nobu và ông Chủ tịch đã bảo trợ cho tôi nhiều năm nay. Chỉ có trời mới biết ông Nobu gay gắt với những người ông ta không ưa ra sao, nhưng ông ta rất trung thành với bạn như người hầu cận của lãnh chúa trung thành với chủ, và cô sẽ không bao giờ gặp được người đàn ông nào đáng tin như ông ta đâu. Cô có biết Hatsumono hiểu rõ những chuyện đáng quý này không? Khi cô ta nhìn Nobu, cô ta chỉ thấy ông ta là “ông thằn lằn” thôi. Cô ta gọi ông ta thế đấy, và sẽ nói như thế này này “chị Mameha, đêm qua tôi thấy chị với ông thằn lằn đấy! Ôi trời đất, trông chị bết quá. Tôi nghĩ chị mất mặt vì ông ta đấy” – đại loại như thế. Bây giờ tôi không cần lưu tâm đến việc cô nghĩ sao về ông Nobu. Với thời gian, cô sẽ thấy ông ta là người tốt như thế nào. Nhưng nếu Hatsumono nghĩ rằng cô quá thích ông Nobu, thế nào cô ta cũng để cho cô yên thân.
Tôi không biết phải trả lời ra sao khi nghe cô ấy nói như thế. Thậm chí tôi cũng chưa biết tính sao về những việc cô ấy yêu cầu tôi phải làm.
- Ông Nobu đã nói chuyện với cô về đô vật cả buổi chiều – cô ấy nói tiếp – mọi người đều nghĩ cô mến ông ta. Bây giờ cô hãy tiếp tục làm thế để cho Hatsumono hả dạ. Hãy làm cho cô ta nghĩ rằng cô mê ông ta hơn bất cứ ai hết. Cô ta sẽ nghĩ đây là chuyện khôi hài đáng cười. Có lẽ cô ta còn muốn cô ở lại Gion để làm trò cười cho cô ta nữa.
- Nhưng thưa chị Mameha, làm sao em làm cho Hatsumono nghĩ em đã mê mẩn ông ấy được?
- Nếu cô không tìm ra cách để làm được một việc như thế thì tôi đã không huấn luyện cô đúng đắn rồi – cô ấy trả lời.
Khi chúng tôi trở lại chỗ ngồi, Nobu đang nói chuyện với người ngồi bên cạnh. Tôi không thể cắt ngang câu chuyện của họ, nên tôi giả vờ chăm chú xem các võ sĩ đô vật trên võ đài đang chuẩn bị giao đấu. Khán giả trở nên cuồng nhiệt hơn, không phải chỉ có Nobu nói chuyện thôi. Tôi rất muốn quay qua hỏi ông Chủ tịch có nhớ chuyện cách đây mấy năm ông đã tỏ ra có lòng tốt với một cô bé…nhưng dĩ nhiên tôi không thể nói chuyện như thế. Ngoài ra nếu Hatsumono thấy tôi chú ý đến ông ta, thì tình hình sẽ trở nên rất tai hại.
Một lát sau Nobu quay qua tôi và nói:
- Những trận đấu này quá tẻ nhạt. Đợi đến khi Mijagiyama thi đấu, chúng ta mới thấy tài năng thật sự.
Tôi thấy đây là cơ hội để tôi tỏ ra mê mẩn ông ta. Tôi đáp:
- Nhưng các trận em vừa xem rất ấn tượng, thưa ông. Và những điều ông nói cho em biết thật quá hấp dẫn, em không thể tưởng tượng ra được chuyện gì có thể hay hơn thế.
- Đừng ngớ ngẩn – Nobu nói – không có tay đô vật nào trong số vừa rồi đáng sánh với Miyagiyama đâu.
Tôi nhìn qua vai Nobu, thấy Hatsumono ngồi ở tầng đằng xa. Cô ta đang nói chuyện với Awajiumi và làm ra vẻ không nhìn về phía tôi.
- Em muốn hỏi ông một câu ngốc nghếch này – tôi nói – tại sao một người đô vật nhỏ con như Miyagiyama lại có thể trở thành một nhà đô vật vĩ đại nhất?
Nếu khi ấy anh thấy mặt tôi, thế nào anh cũng nghĩ không có vấn đề gì làm cho tôi quan tấm đến hơn vấn đề về đô vật này. Tôi cảm thấy mình kỳ cục, giả vờ chăm chú vào chuyện vặt vãnh, nhưng những người thấy chúng tôi khi ấy, chắc ai cũng nghĩ rằng chúng tôi đang tâm sự mật thiết với nhau. Tôi sung sướng mà nói rằng chính vào lúc ấy, tôi thấy Hatsumono đang quay đầu về phía tôi.
- Miyagiyama trông nhỏ con vì những người khác quá mập mà thôi – Nobu nói – những ông ta rất tự phụ về tầm vóc của mình. Chiều cao và trọng lượng của ông ta được đăng trên báo chính xác cách đây mấy năm, thế nhưng ông ta thấy nhục. Nên để cho người bạn lấy tấm ván đánh trên đầu, rồi ngốn một bụng khoai lang với nước, và đi đến tòa báo để chứng minh cho họ thấy họ sai lầm.
Tôi phải cười khi nghe Nobu nói đến bất cứ cái gì – nghĩa là tôi phải làm cho Hatsumono hài lòng. Nhưng thật ra, nghĩ đến cảnh Miyagiyama nhắm mắt đợi tấm ván phang xuống đầu, làm sao mà không cười được! Tôi cứ mường tượng hình ảnh ấy trong óc và cười ngặt nghẽo khiến cho Nobu cuối cùng cũng cười theo. Trước mắt Hatsumono, chúng tôi có vẻ như đôi bạn thân thiết nhất đời, vì tôi thấy cô ta vỗ tay có vẻ khoan khoái.
Lát sau, tôi bèn nghĩ ra một ý, giả vờ xem Nobu là ông Chủ tịch, mỗi lần ông ta nói, tôi không để ý đến giọng cáu kỉnh gay gắt của ông ta, mà cố tưởng tượng ra đấy là giọng nói dịu dàng của ông Chủ tịch. Dần dần tôi có thể nhìn vào môi ông ta, cố loại ra khỏi óc hình ảnh đôi môi nhợt nhạt trên khuôn mặt đầy sẹo, hình dung ra đấy là môi của ông Chủ tịch, và mỗi câu nói của ông ta là lời của ông Chủ tịch nói với tôi. Đôi lúc tôi có cảm giác như mình không phải đang ngồi trong nhà biểu diễn mà đang ở trong một căn phòng yên tĩnh, quỳ một bên ông Chủ tịch. Khi ấy tôi cảm thấy mình hạnh phúc một cách lạ lùng. Như quả bóng tung lên trên không, đứng yên bất động một lát rồi mới rơi xuống. Tôi cảm thấy mình treo lơ lửng trên không trong trạng thái yên ổn phi thời gian. Khi tôi nhìn quanh phòng, tôi chỉ thấy sắc đẹp của những thanh gỗ khổng lồ và ngửi mùi thơm của bánh bột gạo. Tôi cứ ngỡ tình trạng sung sướng này không bao giờ chấm dứt, nhưng bỗng nhiên tôi lên tiếng nói cái gì đấy mà tôi không nhớ được. Và Nobu đáp:
- Cô nói gì thế? Chỉ có đồ điên mới nghĩ đến chuyện ngu dốt như thế.
Nụ cười tắt trên môi tôi ngay lập tức như cái vật buộc đầu sợi dây rơi xuống ngay khi dây bị cắt. Nobu nhìn đăm đăm vào mắt tôi. Dĩ nhiên Hatsumono ngồi xa chúng tôi, nhưng tôi vẫn còn cảm thấy cô ta đang nhìn chúng tôi. Rồi tôi nghĩ rằng nếu một nàng geisha hay một cô tập sự đang rơm rớm nước mắt trước một người đàn ông, thử hỏi có ai mà không động lòng? Có lẽ tôi đã xin lỗi khi nghe ông ta trả lời gay gắt, nhưng tôi đã cố tưởng tượng ra chính ông Chủ tịch đã nói với tôi, nên môi tôi bỗng run run, tôi cúi đầu làm ra vẻ mình bé bỏng.
Tôi ngạc nhiên khi nghe Nobu hỏi:
- Tôi đã làm cho cô đau khổ, phải không?
Giả vờ hít mũi thút thít đôi với tôi chẳng khó khăn gì, Nobu cứ nhìn tôi một lát nữa rồi mới nói:
- Cô thật có duyên!
Tôi nghĩ chắc ông ta định nói thêm gì nữa, nhưng ngay lúc ấy Miygiyama bước vào nhà thi đấu và đám đông la hét hoan hô rầm rĩ.
Miyagiyama và nhà đô vật kia, tên là Saho, quần thảo nhau trên võ đài một hồi lâu, họ bốc muối ném lên nền đất, hay là dậm chân thình thịch như các võ sĩ trước đã làm. Mỗi lần họ thu mình lại nhìn nhau, tôi cứ tưởng hai tảng đá lớn trơn láng sắp sửa nhào vào nhau. Miyagiyama hơi chồm tới trước một chút so với Saiho, ông này cao và nặng hơn nhiều. Tôi nghĩ khi họ xông vào nhau, thế nào ông Miyagiyama tội nghiệp kia cũng bị té ngửa ra sau, tôi không tin có ai có thể đẩy Saiho ra ngoài sợi dây kia được; họ đứng vào thế tấn công. Bỗng Nobu nói nhỏ vào tai tôi:
- Thế Hataki Komi! Ông ta sắp dùng thế Hataki Komi. Nhìn vào mắt ông ta tôi biết!
Tôi làm theo lời Nobu nói, nhưng tôi chỉ thấy Miyagiyama không nhìn vào Saiho. Tôi nghĩ chắc Saiho không thích bị đối thủ coi thường như thế này, vì ông ta quắc mắt nhìn đối thủ dữ tợn như một con thú. Thịt hai bên má quá dầy và bự nên cái đầu ông ta trông như trái núi nhỏ, và vì tức giận nên mặt ông ta đỏ rần. Nhưng Miyagiyama vần ra vẻ như không thèm chú ý đến ông ta.
- không còn lâu nữa đâu! – Nobu nói nhỏ với tôi.
Và quả vậy, lần thu mình tiếp theo, Saiho tấn công.
Nhìn Miyagiyama chồm người tới trước như hồi nãy, ai cũng nghĩ ông ta sẽ phóng mình vào đối thủ, nhưng không, ông ta dùng sức mạnh của Saiho để gượng người đứng tấn. Rồi nhanh như chớp, ông ta xoay người như cánh cửa xoay, tay ông ta chụp vào gáy của Saiho. Trong khi ấy thân hình nặng nề của Saho nhào tới trước như người ngã nhào từ trên cầu thang xuống, Miyagiyama đem hết sức đẩy mạnh đối thủ tới trước, Saiho văng qua khỏi sợi dây và nhào xuống. Tôi kinh ngạc thấy hòn núi người bay qua khỏi mép ụ võ đài, văng vào hàng ghế đầu của khán giả. Mọi người nhanh chân chạy tránh chỗ, nhưng khi xong xuôi, một người đàn ông đứng lên, thở hổn hển vì vai ông ta bị Saiho táng vào.
Cuộc chạm trán chỉ kéo dài một giây, chắc Saiho cảm thấy nhục nhã thất bại, vì ông chỉ cúi đầu chào chiếu lệ như những người thua cuộc trước đó, rồi đi ra khỏi đấu trường trong khi khán giả vẫn còn hò hét hoan hô.
- Đấy – Nobu nói với tôi – thế ấy gọi là Hataki komi.
- Thật kỳ lạ - Mameha nói, vẻ thẫn thờ. Thậm chí cô ấy không nói ra hết ý nghĩ của mình nữa.
- Cái gì mà thật kỳ lạ? – ông Chủ tịch hỏi cô ấy.
- Điều Miyagiyama làm đấy. Chưa bao giờ tôi thấy một việc như thế này.
- Phải. Dân đô vật thường làm được như thế.
- Ờ, việc này khiến cho tôi nghĩ…- Mameha nói.
Sau đó, khi trên đường về lại Gion, Mameha quay qua nói với tôi rất hăng say trên xe kéo:
- Anh chàng đô vật ấy đã gợi cho tôi một ý rất kỳ diệu. Hatsumono không biết được ý này đâu. Cô ta đã bị hỏng cẳng rồi. Và nếu cô ta có tìm ra được thì cũng đã quá trễ rồi.
- Ồ chị Mameha, chị đã có kế hoạch rồi phải không? – tôi hỏi – xin chị vui lòng cho em biết đi.
- Cô tin bây giờ tôi nói cho cô biết à? Ngay cả người hầu thân tín của tôi, tôi cũng không nói. Cô chỉ có việc hãy làm cho Nobu chú ý đến cô là được. Mọi việc đều phụ thuộc vào ông ta, và vào một ông khác nữa.
- Ông khác nào thế?
- Một người cô chưa gặp. Bây giờ ta đừng nói đến chuyện này nữa! Tôi nói thế có lẽ hơi nhiều rồi, hôm nay cô gặp ông Nobu thật quá tuyệt vời. Ông ta có thể là người cứu tinh của cô đấy.
Tôi phải thú nhận khi nghe cô ấy nói như thế, tôi cảm thấy đau nhói trong lòng. Nếu tôi có được một vị cứu tinh, tôi muốn người ấy là ông Chủ tịch, chứ không ai khác.
Thế là tôi biết được nguồn gốc ông Chủ tịch, cho nên ngay tối hôm đó, tôi gặp được tờ báo nào là tôi đọc liền, hy vọng sẽ biết thêm về ông ta. Trong vòng một tuần, tôi thu lượm được cả một chồng báo cất trong phòng tôi, khiến cho bà Dì nhìn tôi như thể tôi là đồ mất trí. Tôi đọc thấy có vài bài viết về ông, nhưng chỉ nói phớt qua, chứ không có bài nào cho tôi biết những tin tức mà tôi muốn biết. Thế nhưng, tôi tiếp tục thu nhập bất kỳ tờ báo nào thòi ra ở trong sọt rác, cho đến một hôm tôi tìm thấy một gói bao sau một phòng trà. Lục tìm trong gói báo này, tôi thấy một số báo phát hành cách đây 2 năm có nói đến công ty điện Iwamura.
Thì ra công ty điện Iwamura làm lễ kỷ niệm thứ 20 vào năm 1931. Tôi kinh ngạc khi nghĩ đến việc này, vì khi tôi gặp ông Chủ tịch bên bờ suối Shirakawa đúng vào tháng này. Nếu trên các tờ báo mà tôi xem có đăng ảnh của ông ta, thế nào tôi cũng nhận ra. Thế là tôi có ngày để tìm, tôi tìm các bài báo viết về buổi lễ kỷ niệm này. Hầu hết các số báo viết về công ty đều nằm trong đống đồ tạp nham từ nhà kỹ nữ phía trước bên kia đường vứt ra sau ngày bà ngoại của bên nhà ấy mất.
Ông Chủ tịch sinh năm 1890, theo chỗ tôi biết, nghĩa là khi tôi gặp ông ta lần đầu, mặc dù tóc đã hoa râm, nhưng ông chỉ mới trên 40 một chút. Ngày hôm ấy, tôi cứ nghĩ ông chỉ là chủ tịch một công ty xoàng xĩnh, nhưng tôi đã lầm. Theo các bài báo viết thì công ty Iwamura không lớn bằng công ty Osaka, đối thủ chính của công ty Iwamura ở phía Tây nước Nhật. Nhưng ông Chủ tịch và ông Nobu được nhiều người biết tiếng hơn cả các ông thủ trưởng của nhiều công ty lớn hơn, là vì nhờ sự hợp tác làm ăn nổi tiếng của họ. Tóm lại công ty Iwamura được xem là công ty có óc sáng tạo và có tiếng tăm hơn.
Năm 17 tuổi, ông Chủ tịch đến làm việc cho một công ty đồ điện nhỏ ở Osaka. Chẳng bao lâu sau, ông ta giám sát một toán nhân viên lắp đặt giây điện cho các xí nghiệp trong khu vực. Lúc ấy nhu cầu về ánh sáng đèn điện trong nhà và trong các xí nghiệp càng ngày càng cao, tối nào ông Chủ tịch cũng thiết kế một loại dụng cụ dùng hai bóng đèn cho một ổ cắm thay vì một bóng đèn mà thôi. Tuy nhiên ông Giám đốc công ty không muốn thiết kế và chế tạo loại này, cho nên vào năm 22 tuổi, năm 1912, sau khi đã cưới vợ một thời gian ngắn, ông Chủ tịch ra riêng thành lập công ty của mình.
Tình hình khó khăn kéo dài mấy năm, đến năm 1914, công ty mới của ông Chủ tịch ký được hợp đồng thi công lắp ráp dây điện cho một tòa nhà mới trong khu quân sự Osaka. Khi ấy Nobu vẫn còn trong quân đội, vì thương tích chiến tranh trên người nên ông khó tìm được việc. Ông được giao nhiệm vụ giám sát công trình của công ty Iwamura, ông và ông Chủ tịch nhanh chóng trở thành bạn bè, và khi ông Chủ tịch đề nghị giao cho ông đảm trách một số công việc của công ty vào năm sau, ông liền nhận lời.
Tôi càng đọc nhiều về sự hợp tác làm ăn của họ, tôi càng hiểu tại sao hai người gắn bó với nhau như keo sơn như thế. Hầu hết các bài báo đều có in tấm hình của hai người, ông Chủ tịch mặc bộ đồ vét hợp thời trang bằng len dày, tay cầm cái ổ cắm điện bằng sứ cắm hai bóng điện, sản phẩm đầu tiên của hãng họ. Ông ta làm ra vẻ như có ai đấy vừa đưa ổ cắm điện cho ông ta, và ông chưa biết phải làm gì với cái thứ này. Miệng ông hơi hé mở, để lộ hai hàm răng trắng, nhìn vào ống kính với cặp mắt ham he, như thể ông sắp sửa ném cái ổ cắm đi. Trái lại Nobu đứng bên cạnh ông, thấp hơn ông nửa cái đầu, mặt cau có, bàn tay duy nhất nắm chặt lại để bên hông, ông ta mặc áo khoác mỏng và quần vải sọc. Cái mặt sẹo hoàn toàn vô cảm và cặp mắt sùm sụp. ông Chủ tịch trông đáng là cha của Nobu, có lẽ vì tóc của ông đã hoa râm và dáng của ông to cao, mặc dù ông chỉ lớn hơn Nobu hai tuổi. Các bài báo viết rằng trong khi ông Chủ tịch có trách nhiệm về sự phát triển của công ti thì Nobu có nhiệm vụ quản lý điều hành công ty. Nobu tuy là người ít nổi bật hơn và đảm trách công việc ít quan trọng hơn, nhưng ông ta đã làm việc rất tốt đến nỗi ông Chủ tịch thường tuyên bố với mọi người rằng nếu không nhờ tài năng của Nobu thì công ty không vượt qua được nhiều cơn khủng hoảng. Chính Nobu đã mang đến cho công ty một nhóm đầu tư và cứu công ty khỏi bị suy sụp vào đầu những năm 1920. Ông Chủ tịch thường nói “tôi nợ Nobu một món nợ mà tôi không thể nào trả được.”

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 05:10:40Chuột lắc>
CHƯƠNG 18

Nhiều tuần trôi qua, một hôm tôi nhận được giấy báo đến nhà Mameha vào chiều hôm sau. Lúc này tôi đã quen mặc áo kimono vô giá do chị hầu của Mameha mang ra cho tôi, nhưng khi tôi đến, chị hầu đưa ra một chiếc áo kimono lụa dùng mặc mùa thu, có màu đỏ tươi và vàng, trên áo có in hình những chiếc lá tung bay nhảy múa trên cánh đồng cỏ úa. Bỗng tôi giật mình khi trông thấy một đường rách ngay phía sau áo, rộng đủ chuồi lọt hai ngón tay. Mameha chưa về, nhưng tôi cầm cái áo ra nói cho chị người hầu biết:
- Này chị Tatsumi, thật đáng tiếc…nhưng chiếc áo kimono này hỏng rồi .
- Không sao đâu thưa cô, chỉ cần khâu lại là xong. Cô chủ mượn cái áo này sáng nay ở nhà Kỹ nữ cuối đường.
- Chắc cô ấy không biết - tôi nói – tôi sợ cô ấy cho rằng tôi đã làm hỏng chiếc áo này.
- Ồ, cô ấy đã biết cái áo rách rồi – Tatsumi đáp - thực ra cái áo lót cũng rách và rách cùng một chỗ…
Tôi đã mặc cái áo lót màu kem vào rồi, nghe thấy thế, tôi đưa tay ra sau sờ vào chân. Tôi thấy Tatsumi nói đúng.
- Năm ngoái, cô geisha tập sự vô ý làm chỗ ấy móc vào đinh – Tatsumi nói tiếp – nhưng rõ ràng cô chủ muốn cô mặc cái áo đấy đấy.
Tôi thấy thật vô lý nhưng vẫn làm theo lời Tatsumi. Một lát sau Mameha về, trong khi cô sửa sang lại khuôn mặt, tôi hỏi cô lý do. Cô ấy đáp:
- Cô mặc cái áo ấy cho phù hợp với kế hoạch của tôi. Hai người đàn ông có ảnh hưởng quan trọng trong tương lai của cô. Cô đã gặp Nobu cách đây mấy tuần rồi, còn người đàn ông kia đi xa có việc mới về, nhưng nhờ cái áo kimono rách này mà cô sắp gặp ông ta. Cái anh chàng đô vật ấy đã gợi cho tôi một ý thật tuyệt vời! Tôi không thể đợi lâu để xem phản ứng của Hatsumono ra sao khi cô từ cõi chết trở về. Cô có biết ngày hôm kia cô ta đã nói với tôi ra sao không? Cô ta cám ơn tôi mấy cũng không đủ, vì tôi đã đưa cô đến xem buổi biểu diễn đô vật. Cô ta nói rằng công lao của cô ta đến đấy chỉ để nhìn cô đắm đuối say mê ông Thằn Lằn, thật rất xứng đáng. Tôi tin rằng cô ta sẽ để cho cô yên thân khi cô giải trí cho ông ấy, nhưng có thể thỉnh thoảng cô ta ghé đến một tí để xem cho biết. Thật vậy, khi có cô ta bên cạnh, cô nói chuyện thân mật với ông Nobu càng nhiều càng tốt. Nhưng trái lại, cô không được nói một tiếng nào về người đàn ông mà cô sẽ gặp chiều nay.
Khi nghe thế, tôi đau đớn tận tâm can, ngay cả khi tôi làm ra vẻ hài lòng với những điều cô ấy vừa nói, vì anh biết không, người đàn ông sẽ không bao giờ gian díu ân ái với người geisha là tình nhân của người hợp tác làm ăn thân cận với họ. Mới trước đó vài tháng, một buổi chiều trong buồng tắm, tôi nghe một thiếu nữ an ủi người kia, cô này vừa được tin vị danna mới của mình sẽ là người liên doanh cùng với người đàn ông mà cô ta mơ ước. Tôi không muốn rồi đây tôi cũng lâm vào tình cảnh như cô ấy.
- Thưa chị - tôi nói – em xin phép hỏi chị được không? Có phải kế hoạch của chị là rồi đây ông Nobu sẽ là danna của em không?
Mameha dừng tay trang điểm, hạ cái bàn chải xuống, nhìn tôi trong gương với ánh mắt mà tôi nghĩ là nó có thể sẽ chặn đứng cả một đòan tàu, rồi cô ấy trả lời :
- Ông Nobu là người tốt. Có phải cô nghĩ rằng có người danna như ông ấy là nhục nhã không?
- Dạ không, thưa chị. Em không nghĩ thế. Em chỉ phân vân…
- Rất tốt. Vậy tôi có hai điều muốn nói với cô. Điều thứ nhất, cô là cô gái mới có 14 tuổi và chưa có tiếng tăm gì hết. Cô rất may mắn để trở thành một nàng geisha với đầy đủ uy tín để cho một người đàn ông như ông Nobu tính đến chuyện đưa ra đề nghị làm danna của cô. Thứ hai, ông Nobu chưa bao giờ tìm được một nàng geisha nào làm cho ông ta vừa ý để làm tình nhân. Nếu cô là người đầu tiên, tôi nghĩ đấy là điều cô phải đáng tự hào.
Tôi cảm thấy mặt nóng bừng như đang đứng bên bếp lửa. Mameha nói rất đúng, nhớ lại những chuyện đã xảy ra cho tôi trong những năm qua, tôi phải cho là mình may mắn khi gây được sự chú ý của một người như ông Nobu. Nếu Nobu mà tôi còn chưa với tới được, thì chắc người như ông Chủ tịch chắc tôi cũng chẳng bao giờ với tới được. Khi gặp lại ông ta trong buổi biểu diễn đô vật, tôi đã tưởng cuộc đời tôi sắp sửa lên hương, nhưng bây giờ nghe Mameha nói, tôi có cảm tưởng mình đang ngụp lặn trong biển sầu.
Tôi vội vã mặc áo rồi Mameha dẫn tôi đi đến nhà kỹ nữ nơi cô ấy sống cho đến ngày cô ta ra ở riêng cách đây sáu năm. Khi đến cửa, chúng tôi được một chị hầu lớn tuổi ra đón chào, chị ta chép môi, lắc đầu rồi nói:
- Chúng tôi mới gọi điiện đến bệnh viện. Hôm nay bác sĩ sẽ về nhà lúc 4 giờ. Bây giờ ba giờ rưỡi rồi đấy.
- Chúng tôi sẽ gọi điện đến cho ông ta trước khi chúng tôi đi, chị Kazuko à - Mameha đáp - Tôi nghĩ ông ta đang đợi tôi.
- Tôi hy vọng thế. Để cho cô gái chảy máu lâu thì quá tàn ác.
- Ai chảy máu thế? – tôi hoảng hồn hỏi.
Nhưng chị hầu chỉ nhìn tôi mà thở dài rồi dẫn chúng tôi lên cầu thang đến một hành lang nhỏ ở tầng hai có nhiều người đang đứng. Trong một khoảng hẹp chỉ trải vừa hai chiếc chiếu rơm, có không những Mameha, tôi và chị hầu, mà còn có thêm ba thiếu nữ khác nữa và một người đầu bếp cao gầy, mặc cái tạp dề cứng ngắc. Tất cả đều nhìn tôi với vẻ mặt lo lắng, ngoại trừ bà đầu bếp, bà ta vắt trên vai cái khăn lớn và mài con dao, loại dao dùng chặt đầu cá. Tôi cảm thấy mình như lát cá thu mà người bán hàng vừa giao, vì tôi hiểu ra bây giờ tôi sẽ là người bị làm cho chảy máu.
- Chị Mameha …- tôi nói.
- Này Sayuri, tôi biết cô sắp nói gì rồi - cô ấy nói với tôi và tôi chỉ biết lắng nghe, nghẹn họng không biết nói gì được nữa - trước khi tôi làm chị cả của cô, có phải cô đã hứa sẽ làm bất cứ cái gì tôi yêu cầu không?
- Nếu em biết những điều chị yêu cầu bao gồm cả việc cắt lá gan…
- Không ai cắt lá gan của cô đâu – bà đầu bếp nói, giọng như muốn trấn an tôi, nhưng chẳng làm tôi yên tâm.
- Sayuri, chúng ta sẽ cắt trên da cô một vết nhỏ - Mameha nói – chỉ một vết nhỏ thôi để cô có thể đến bệnh viện, khi đó mới gặp được ông bác sĩ ấy. Cô có nhớ người đàn ông tôi đã nói đến với cô không? Ông ta là bác sĩ.
- Tôi không thể giả vờ đau đầu được à?
Tôi thật tình nói thế, nhưng hình như mọi người cho đó là câu nói đùa, vì họ phá ra cười, ngay cả Mameha.
- Sayuri – Mameha đáp – tất cả chúng tôi đều muốn công việc của cô được bảo đảm. chúng tôi chỉ cần một vết nhỏ chảy máu, đủ cho ông bác sĩ bằng lòng đến khám cho cô.
Ngay khi ấy bà đầu bếp đã mài dao xong, đến đứng trước mặt tôi, rất bình tĩnh như thể bà sắp giúp tôi làm công việc trang điểm, nhưng lạy trời, bà lại nắm cây dao trên tay. Kazuko, chị hầu lớn tuổi đưa tay mở cổ áo tôi ra. Tôi bắt đầu cảm thấy hốt hoảng, nhưng may thay Mameha lên tiếng nói:
- Chúng ta cắt trên chân.
- Đừng ở chân – Kazuko nói - ở cổ trông hấp dẫn hơn.
- Sayuri – Mameha nói – làm ơn quay người để cho chị Kazuko trông thấy chỗ rách ở sau áo kimono của cô.
Khi tôi quay người theo lời cô ấy bảo xuống, Mameha lại tiếp tục:
- Này chị Kazuko, nếu cắt ở cổ mà không cắt ở chân thì làm sao chúng ta giải thích vết rách này ở đàng sau áo của cô ấy?
- Tại sao lại ghép hai chuyện lại với nhau? Cô ấy mặc áo kimono bị rách và bị rách da ở cổ thôi.
- Tôi không hiểu tại sao chị Kazuko cứ nói huyên thuyên chuyện này để làm gì – bà bếp lên tiếng – cô Mameha, cứ nói cho tôi biết cô muốn tôi cắt cô ta ở đâu, tôi sè làm cho.
Nghe thấy thế đáng ra tôi nên mừng mới phải, nhưng tôi lại đâm lo.
Mameha sai cô hầu trẻ đi lấy chiếc đũa dùng để to son môi, rồi thọc qua chỗ rách trên áo kimono của tôi, vạch một dấu phía sau chân tôi ở trên cao.
- Chị cắt một đường ở đấy cho tôi – Mameha nói với bà đầu bếp.
Tôi mở miệng định nói, Mameha đã bảo tôi:
- Sayuri, bây giờ cô hãy nằm im. Nếu cô làm chậm trễ công việc thêm nữa, tôi sẽ giận đấy.
Nếu nói tôi muốn vâng lời cô ấy là tôi nói láo nhưng dĩ nhiên tôi không được làm thế. Tôi đành nằm lên tấm khăn trải giường trên sàn ván, nhắm mắt lại trong khi Mameha kéo áo tôi lên tận mông.
- Nên nhớ là vết cắt nếu cần sâu thêm thì phải cắt lại lần nữa – Mameha nói – bắt đầu cứ cắt cạn thôi.
Khi tôi cảm thấy mũi dao đụng vào chân, tôi cắn môi chờ đợi. Tôi cứ sợ mình sẽ thét lên, mặc dù tôi không muốn mình làm thế. Tôi cảm thấy mũi dao ấn xuống rồi Mameha nói:
- Như thế không được, chị mới rạch ngoài lớp da thôi mà.
- Trông giống như hai cái môi – Kazuko nói với bà đầu bếp – chị mới rạch một đường ngay giữa dấu son môi đỏ, trông như đôi môi. Ông bác sĩ sẽ cười chết.
Mameha đồng ý lau sạch vết son để bà đầu bếp có thể thấy rõ vết cắt và làm tiếp. Rồi tôi cảm thấy mũi dao ấn mạnh xuống một lần nữa.
Tôi là người rất yếu bóng vía khi thấy máu. Chắc anh còn nhớ tôi kể chuyện tôi bị rách môi ngày tôi gặp ông Tanaka rồi. Cho nên chắc anh hình dung được cảnh lúc ấy ra sao khi tôi quay người nhìn thấy một dòng máu chảy ngoằn ngoèo xuống chân, chảy lên cái khăn lớn mà Mameha đang cầm để hứng giọt máu xuống phía trong đùi tôi. Tôi liền cảm thấy hoa mắt, choáng váng đầu óc khiến tôi không nhớ sau đó chuyện gì đã xảy ra. Chắc tôi được dìu ra xe kéo, hay là xe gì đấy để đi bệnh viện. Lúc đến gần bệnh viện, Mameha mới lay đầu tôi, để cho tôi tỉnh táo. Cô ấy nói:
- Bây giờ nghe tôi nói đây. Chắc cô đã nghe nhiều lần người ta nói người tập sự phải gây ấn tượng mạnh lên các geisha khác, vì họ sẽ là những người giúp đỡ cô trong nghề, và đừng bận tâm về những điều đàn ông nghĩ cái gì. Bây giờ hãy quên hết những chuyện ấy đi. Trong trường hợp của cô, chúng ta không làm theo cách ấy! Tương lai của cô phụ thuộc vào hai người đàn ông, tôi đã nói rồi. Và cô sắp gặp người thứ hai. Cô phải gây ấn tượng thật mạnh lên ông ấy. Cô có nghe tôi nói không?
- Dạ nghe, thưa chị, em nghe không sót lời nào – tôi nói nho nhỏ.
- Khi người ta hỏi cô tại sao cô bị toạc chân, cô trả lời là cô mặc kimono đi vào phòng tắm và bị té vào vật gì đấy rất sắc. cô không biết vật ấy là cái gì,vì khi ấy cô bị ngất xỉu. Cô muốn miêu tả chuyện cô té xuống ra sao tùy cô, nhưng nói làm sao nghe có vẻ hợp lý là được. và làm ra vẻ bị xây xẩm khi chúng ta đi vào. Bây giờ làm thế tôi xem nào.
Tôi ngẩng đầu ra sau, nhắm nghiền mắt lại. tôi tưởng làm thế là đạt yêu cầu nhưng Mameha không hài lòng.
- Tôi không nói làm như chết. Tôi nói làm như bộ xây xẩm thôi. Như thế này này.
Mameha mở mắt nhìn lờ đờ như thể không định thần được, cặp mắt như không nhìn vào đâu hết và bàn tay áp lên má giống như cô sắp xỉu. Cô bảo tôi bắt chước làm cho giống vẻ mặt của cô cho đến khi cô ấy hài lòng mới thôi. Khi người lái xe dìu tôi vào bệnh viện, tôi làm theo lời cô ấy dặn. Mameha đi kèm bên tôi, kéo áo tôi khi phía bên này, khi phía bên kia sao cho tôi trông vẫn còn khêu gợi.
Chúng tôi đi qua hai cánh cửa xoay bằng gỗ rồi hỏi ông giám đốc bệnh viện, Mameha nói ông ta đang đợi chúng tôi. Một người y tá dẫn chúng tôi đi theo một hành lang dài đến một căn phòng bụi bặm, có kê cái bàn gỗ và tấm bình phong đơn giản chắn ngang cửa sổ. Trong khi chúng tôi chờ đợi, Mameha lấy cái khăn vấn quanh chân tôi vất vào sọt rác.
- Nhớ đấy Sayuri – cô ta thì thào – chúng ta cần ông bác sĩ thấy cô thơ ngây và đang bị xây xẩm. Nằm xuống đi và làm bộ yếu đuối mệt mỏi.
Tôi làm theo lời cô ấy không mấy khó khăn. Một lát sau cửa mở và ông bác sĩ Cua đi vào. Dĩ nhiên tên thật của ông ta không phải là Cua, nhưng nếu anh nhìn thấy ông ta, thế nào anh cũng cho rằng cái tên đấy thật thích hợp, vì hai vai ông ta rút vào nhau, hai khuỷu tay khùynh ra. Nếu ông ta nghiên cứu về cua thì chẳng mất công đi đâu xa, mà chỉ lấy mình để làm mẫu là được. Thậm chí khi đi, ông ta còn chìa một vai về phía trước, như con cua bò ngang vậy. Ông ta để râu mép và có vẻ rất mừng rỡ khi gặp Mameha, nhưng chỉ để lộ sự mừng rỡ trên ánh mắt ngạc nhiên hơn là trên nụ cười.
Bác sĩ Cua là người ngăn nắp, cẩn thận. Khi ông đóng cửa, ông quay tay nắm để cho cái then khỏi phát ra tiếng ồn, rồi ấn mạnh vào cửa để xem cửa đã đóng chưa. Sau khi đóng cửa xong, ông ta lấy trong túi áo ra một cái hộp, ông cẩn thận mở hộp ra, như thể ông sợ nếu không cẩn thận, đồ trong hộp sẽ văng ra ngoài ngay. Nhưng đó chỉ là một cặp kính đeo khác. Khi đã thay cặp kính xong, ông bỏ cặp kính kia vào hộp, bỏ hộp vào túi áo và vuốt áo cho thẳng thắn. Cuối cùng ông ta nhìn tôi và gật nhẹ đầu. Mameha liền lên tiếng:
- Thưa bác sĩ, xin lỗi đã quấy rầy bác sĩ. Nhưng Sayuri đang có trước mắt tương lai tươi sáng, thế mà hiện cô ta đang gặp rủi ro vì bị rách chân! Có khả năng cô ấy sẽ bị mang sẹo, bị nhiễm trùng, nguy hiểm khác nữa. Nên tôi nghĩ ông là người duy nhất có thể chữa trị được cho cô ấy thôi.
- Đúng thế - bác sĩ Cua đáp – có lẽ tôi phải xem qua vết thương cho biết.
- Tôi biết Sayuri rất yếu bóng vía khi nhìn thấy máu, bác sĩ à – Mameha nói – tốt nhất nên để cô ấy quay mặt đi chỗ khác, để cho ông dễ dàng khám vết thương phía sau đùi cô ta.
- Tôi hiểu. Tôi nhờ cô yêu cầu cô em nằm sấp trên bàn khám, có được không?
Tôi không hiểu tại sao bác sĩ Cua không hỏi tôi, nhưng để tỏ ra vâng lời, tôi đợi cho đến khi Mameha nói với tôi. Rồi ông bác sĩ kéo áo tôi lên đến tận mông, lấy vải hay cái gì đấy nhúng nước sát trùng lau lên chân tôi rồi nói:
- Cô Sayuri, vui lòng nói cho tôi biết tại sao cô lại bị thương như thế này.
Tôi hít vào một hơi dài, làm như có vẻ vẫn còn quá yếu, rồi mới trả lời:
- Dạ, khó nói quá, nhưng sự thật là chiều nay tôi uống quá nhiều nước trà…
- Sayuri vừa mới làm tập sự - Mameha nói chen vào – tôi dẫn cô ấy đi giới thiệu với mọi người ở Gion, đương nhiên mọi người đều mời cô ấy uống trà.
- Phải, đương nhiên là thế - bác sĩ Cua đáp.
- Cho nên – tôi nói tiếp – tôi cảm thấy cần phải …ờ, chắc ông biết…
- Uống trà nhiều thì phải đi tiểu thôi – bác sĩ nói.
- Ồ, cám ơn bác sĩ. Đúng ra thì nói “phải đi tiểu” thôi chưa đủ. Vì khi ấy tôi thấy trước mắt tôi mọi vật đều quay cuồng, nói thế chắc ông hiểu…
- Sayuri – Mameha lên tiếng – nói cho bác sĩ nghe chuyện xảy ra như thế nào thôi.
- Dạ xin lỗi – tôi đáp – tôi muốn nói khi ấy tôi chóng mặt nên thấy phòng vệ sinh không rõ… cho nên khi đến đấy…tôi loay hoay lo giữ chiếc kimono cho khỏi vướng, và thế là tôi đã mất thăng bằng, nên té xuống. Khi té như vậy, chân tôi đâm phải một cái gì rất sắc. Tôi không biết vật ấy là cái gì, vì khi đó tôi đã ngất xỉu.
- Cũng lạ là khi cô ngất xỉu, cô không đi tiểu ra ngoài – ông bác sĩ nói.
Khi ấy tôi đang nằm sấp, hai tay đỡ mặt lên khỏi mặt bàn vì sợ bị bẩn phần hóa trang, và nói trong khi bác sĩ nhìn sau đầu tôi. Nhưng khi ông bác sĩ Cua nói như thế, tôi quay đầu nhìn Mameha. May thay cô ấy nghĩ ra một ý nhanh hơn tôi, cô ấy vội trả lời:
- Sayuri muốn nói rằng cô ấy mất thăng bằng khi cố đứng lên sau khi ngồi xổm để tiểu.
- Ra thế - bác sĩ nói – vết thương bị vật gì rất sắc cắt phải. Có lẽ cô ấy nhào lên trên kính vỡ hay miếng sắt mỏng.
- Dạ phải, có lẽ vật ấy rất sắc – tôi nói – sắc như dao!
Ông bác sĩ Cua không nói gì nữa. Ông rửa vết thương rất nhẹ tay như thể ông sợ làm tôi đau, rồi sau đó ông dùng nước oxy già để lau máu khô trên chân tôi. Cuối cùng ông nói vết thương chỉ cần thoa kem và băng lại là được. ông ta dặn dò tôi cách chăm sóc vết thương trong vài ngày tiếp theo. Dặn xong, ông kéo áo tôi xuống, tháo cặp kính trên mắt ra như thể ông sợ dùng nhiều quá kính sẽ vỡ mất.
- Rất tiếc cô đã làm hỏng chiếc áo đẹp – ông ta nói – nhưng tôi rất mừng là vì có cơ hội này tôi mới gặp cô. Mameha biết tôi rất quan tâm đến những khuôn mặt mới.
- Ồ không, thưa bác sĩ, chính tôi mới sung sướng được hân hạnh gặp ông – tôi đáp.
- Có lẽ tôi sẽ gặp lại cô vào một buổi tối gần đây ở phòng trà Ichiriki.
- Nói thật ra, thưa bác sĩ – Mameha nói – Sayuri là của báu, chắc ông cũng thấy thế. Cô ấy có rất nhiều người hâm mộ cho nên tôi cố giữ cô ấy khỏi đến phòng trà Ichiriki chừng nào hay chừng nấy. Có lẽ chúng tôi nên đến thăm ông ở phòng trà Sharao thì hơn, có phải thế không?
- Được, tôi cũng thích phòng trà ấy – bác sĩ Cua đáp. Rồi ông ta lặp lại cái thủ tục thay kính đeo mắt để ông ta có thể nhìn vào cuốn sổ nhỏ ông ta lấy ra từ túi áo – tôi sẽ đến đấy…xem nào…cách đây hai hôm nữa. Tôi hy vọng gặp các cô ở đấy.
Mameha hứa chắc chắn với ông ta rằng chúng tôi sẽ ghé vào đấy rồi chúng tôi cáo từ ra về.
Ngồi trên xe kéo về lại Gion, Mameha nói rằng tôi đã làm rất tốt.
- Nhưng thưa chị Mameha, em có làm gì đâu?
- Ồ thế à? Thế cô không trông thấy cái trán của ông bác sĩ ra sao à?
- Em chẳng thấy gì hết ngoài cái bàn khám trước mặt em.
- Này nhé, trong khi ông bác sĩ lau máu trên chân cô, trán ông ta lấm tấm mồ hôi như thể chúng ta đang ở giữa mùa nóng. Nhưng trong phòng khi ấy trời không nóng, phải không?
- Dạ, phải.
- Đấy, vì sao thế? - cô ấy thốt lên.
Tôi không biết cô ấy muốn nói đến cái gì, hay đúng ra tôi không biết cô ấy dẫn tôi đến gặp ông bác sĩ với mục đích gì, nhưng tôi không dám hỏ . Vì cô ấy đã nói rằng sẽ không cho tôi biết trước kế hoạch của cô ấy. Rồi khi người phu kéo đưa chúng tôi qua cầu ở đại lộ Shijo, Mameha chấm dứt câu chuyện ở nửa chừng.
- Sayuri này, chắc cô biết khi mặc cái áo kimono này, mắt cô rất tuyệt vời. Màu đỏ tươi và màu vàng…làm cho mắt cô sáng long lanh như ánh bạc! Ôi trời ơi! Không biết tại sao tôi không nghĩ ra ý này sớm hơn! Này bác phu! – cô gọi lớn – chúng ta đã đi qua rồi. Cho chúng tôi xuống chỗ này thôi.
- Cô đã bảo đến Gion Tominaga kia mà, thưa cô. Tôi không hạ càng xe xuống ở giữa cầu được.
- Bác hoặc là để chúng tôi xuống, hoặc kéo chúng tôi qua cầu rồi kéo ngược lại. Nói trắng ra, tôi thấy bác chẳng cần nhọc công làm gì.
Bác phu xe hạ càng xe xuống tại chỗ, tôi và Mameha bước ra khỏi xe. Một số xe đạp đi qua rung chuông inh ỏi nhưng Mameha chẳng tỏ vẻ quan tâm tí nào. Tôi nghĩ cô ấy rất tự tin vào địa vị của mình, chuyện cản trở lưu thông do cô ấy gây như thế đối với cô ấy chỉ là chuyện nhỏ, chẳng ai phiền phức gì hết. Cô ấy cứ thủng thỉnh như không có việc gì xảy ra, móc chiếc ví lụa ra và đếm từng xu để trả tiền xe. Rồi cô ấy dẫn tôi đi lui qua phía bên kia cầu nơi chúng tôi vừa mới đi qua.
- Chúng ta sẽ đến phòng vẽ của Uchida Kosaburo - cô ấy nói - ông ta là họa sĩ có tiếng, thế nào ông ta cũng thích cặp mắt của cô, tôi nghĩ thế. Rồi cô sẽ thấy thỉnh thoảng ông ta có hơi lơ đãng. Còn phòng vẽ của ông ta thì rất lộn xộn. Có thể phải mất một thời gian ông ta mới để ý đến cặp mắt của cô, nhưng cô cứ nhìn vào ông ta để cho ông ta thấy.
Tôi đi theo Mameha qua mấy con đường rẽ cho đến khi tới một con hẻm nhỏ. Cuối con đường này là một cái cổng của đền thờ Thần màu đỏ nhạt, nhỏ và nằm giữa hai ngôi nhà. Qua khỏi cổng, chúng tôi đi qua nhiều phòng triển lãm nhỏ, đến chân một cầu thang bằng đá, có hai hàng cây hai bên. Trời đã sang thu nên lá cây đổi màu óng ánh. Gió thoảng đưa hơi lạnh như nước từ con đường hầm nhỏ ẩm ướt ở dưới chân cầu thang lên, tôi có cảm giác như mình đang đi vào một thế giới xa lạ. Tôi nghe có tiếng rào rào như tiếng thủy triều tràn lên bãi cát, nhưng nhìn kỹ té ra đấy là tiếng nước chảy do một người đàn ông đang quét nước trên đầu cầu thang, ông ta đứng quay lưng về phía chúng tôi, tay cầm cây chổi.
- Chào ông Uchida - Mameha lên tiếng - ông không có ai để dọn dẹp nhà cửa à?
Người đàn ông trên đầu cầu thang đứng giữa nắng, cho nên khi ông quay lại nhìn chúng tôi, có thể ông không trông rõ chúng tôi đang đứng dưới bóng cây. Tuy nhiên tôi thấy ông ta rất rõ. Ông có vẻ kỳ cục lạ đời. Một nốt ruồi khổng lồ nằm bên khóe miệng giống như dính một miếng thức ăn, hai hàng lông mày rậm như hai con ngài bò từ trên tóc xuống nằm ngủ tại đấy. Cái gì trên người ông ta cũng lộn xộn, mất trật tự. Không chỉ mái tóc thôi, mà cả cái áo kimono ông ta mặc cũng nhàu nhò trông như ông ta mặc đi ngủ tối hôm trước.
- Ai đấy? - ông ta hỏi.
- Uchida! Quen nhau nhìều năm rồi mà ông vẫn không nhận ra được giọng của tôi à?
- Dù các người là ai, mà nếu có muốn chọc giận tôi thì hãy cút đi ngay tức khắc. Tôi bận, không rảnh đâu. Nếu các người không cho tôi biết các người là ai, tôi sẽ ném cái chổi này vào mặt đấy!
Nếu ông Uchida cắn cái mụn nốt ruồi rồi phun vào mặt chúng tôi, thì việc ông ta tức giận chẳng làm tôi ngạc nhiên. Nhưng Mameha cứ đi tiếp lên cầu thang và tôi đi theo cô ấy, nhưng tôi cẩn thận đi sau lưng cô để nhỡ ông ta có ném cái chổi thì cô hứng lấy.
- Ông tiếp khách như thế sao ông Uchida? – Mameha nói khi lên đến đoạn cầu thang có ánh nắng.
Uchida nhìn vào mặt cô.
- Thì ra là cô. Tại sao cô không xưng danh tánh như mọi người ? Này, cầm cái chổi quét cầu thang đi. Không ai được vào nhà tôi khi tôi chưa thắp nhang. Một con chuột khác của tôi đã chết, nhà cửa hôi hám như có thây ma.
Mameha có vẻ thích thú khi nghe ông ta nói, cô ấy đợi cho đến khi Uchida đi khỏi mới dựng cái chổi vào trong một góc.
- Có khi nào cô bị mụt nhọt chưa? - cô ấy nói nhỏ với tôi – khi công việc của Uchida không trôi chảy, ông ta lâm vào tình trạng rất khủng khiếp. Người ta phải làm cho ông ta bớt căng thẳng, như ngắt cái mụt nhọt đi để cho ông ta bình tĩnh trở lại. Nếu người ta làm gì cho ông ấy tức giận, ông ấy sẽ uống rượu và chỉ có hại mà thôi.
- Thế ông ấy có nuôi chuột trong nhà à? – tôi hỏi nhỏ - ông ấy vừa nói có một con chuột nữa bị chết…
- Trời đất, không có. Ông ta để mực dính khắp nơi, chuột đến ăn rồi ngộ độc chết. Tôi đã cho ông ta cái thùng để bỏ mực vào đấy, nhưng ông ta không dùng đến.
Cánh cửa bỗng bật mở - vì ông đạp cho nó mở toang ra – rồi ông bước ra. Mameha và tôi tháo giày ra đi vào nhà. Nhà chỉ là căn phòng rộng theo kiểu nhà ở nông trại. Tôi thấy nhang cháy ở trong góc phòng nhưng chưa có hiệu quả gì, vì mùi chuột chết nồng nặc hôi như có ai trét phân vào mũi tôi. Căn phòng còn bừa bãi lộn xộn hơn cả phòng của Hatsumono nữa, bút vẽ vứt rải rác khắp nơi, cái thì gãy, cái thì mòn, những khung vẽ lớn bằng gỗ vẽ tranh thủy mặc còn lở dở chưa xong. Ở giữa cảnh ngổn ngang lộn xộn này là tấm đệm làm giường ngủ với chăn mền dính đầy mực, và khi tôi quay qua ông để xem sao thì ông ta nhìn tôi và hỏi:
- Cô nhìn cái gì thế?
Mameha nói:
- Ông Uchida, xin giới thiệu với ông đây là cô em của tôi, Sayuri. Chúng tôi đi từ Gion đến đây để hân hạnh được gặp ông.
Đường đi từ Gion đến đây không xa lắm, nhưng dù sao tôi cũng qùy xuống chiếu thực hiện thủ tục cúi chào, xin Uchida miễn lỗi, mặc dù tôi không tin ông ta nghe được tiếng nào của Mameha nói với ông.
- Tôi đã có một ngày đẹp cho đến tận bữa ăn trưa – ông ta nói - rồi thấy chuyện xảy ra như thế này đây!
Uchida đi qua phòng lấy một cái khung gỗ. Trên khung, đính bằng kim găm một bức phác thảo vẽ một người phụ nữ nhìn từ phía sau, cô ta nhìn nghiêng và tay cầm cái dù. Nhưng một con mèo rõ ràng dẫm chân vào mực rồi bước lên bức vẽ, để lại dấu chân trên đó. Con mèo đang cuộn mình nằm ngủ giữa đống quần áo dơ.
- Tôi mang con mèo vào để bắt chuột, thế mà nhìn kìa! – ông ta nói tiếp – tôi định ném nó đi đấy.
- Ồ, nhưng dấu chân con mèo đẹp quá – Mameha nói – tôi nghĩ nó làm tăng giá trị của bức tranh. Sayuri, cô nghĩ sao?
Tôi có ý định không nói gì vì Uchida có vẻ buồn chán khi nghe ý nghĩ của Mameha, nhưng bỗng tôi nghĩ rằng cô ấy muốn “ngắt cái mụt nhọt” mà cô đã gây nên đi. Cho nên tôi lấy giọng hết sức thân ái mà nói:
- Tôi ngạc nhiên thấy cái dấu chân mèo mới hấp dẫn làm sao. Tôi nghĩ con mèo là giống vật có máu họa sĩ.
- Tôi biết tại sao ông không thích con mèo – Mameha tiếp tục – ông ganh với tài năng của nó.
- Tôi ganh à? – Uchida hỏi – con mèo ấy không phải là họa sĩ. Nếu nó có tài năng gì, thì đấy là tài năng của quỷ sứ.
- Xin tha lỗi cho tôi, ông Uchida – Mameha đáp – Tùy ông thôi. Nhưng xin ông cho tôi biết có phải ông định vứt bức tranh ấy đi hay không? Vì nếu ông vứt, xin ông vui lòng cho tôi. Treo nó trong phòng tôi đẹp chán đi chứ, phải không Sayuri?
Khi nghe thấy thế, Uchida lột tấm tranh ra khỏi khung.
- Cô thích bức tranh phải không? Được rồi , tôi tặng cô hai món quà. – nói xong ông ta xé bức tranh ra làm hai đưa cho Mameha và nói tiếp – đây là một, và đây là một nữa. Bây giờ cô hãy đi ra khỏi đây!
- Tôi ước gì ông đừng làm thế - Mameha nói – đây là bức tranh đẹp nhất chưa từng có của ông.
- Đi ra khỏi đây!
- Ô ông Uchiđa, tôi không thể đi ra khỏi được! Nếu tôi không dọn dẹp ngăn nắp nhà cửa cho ông một tí trước khi ra về, thì chắc tôi không phải là bạn của ông.
Nghe thế, Uchida bước nhanh ra khỏi nhà, để cửa mở. Chúng tôi thấy ông ta đá cái chổi mà Mameha đã để dựa vào một góc, và tí nữa thì trượt chân té nhào khi ông đi xuống tầng cấp ẩm ướt. Chúng tôi dọn dẹp phòng vẽ của ông gần nửa giờ mới thấy ông về, thái độ bình tĩnh hơn, y như Mameha đã tiên đoán. Ông ta chưa trở lại trạng thái mà tôi có thể gọi là vui vẻ, ngoài ra, ông ta có thói quen cứ nhai vào cái nốt ruồi bên cạnh miệng nên trông ông ta có vẻ lo âu rầu rĩ. Tôi đoán chắc ông ta cảm thấy ân hận vì thái độ đối xử với chúng tôi hồi nãy, vì ông không nhìn thẳng vào hai chúng tôi. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi nhận thấy ông chẳng chú ý đến mặt của tôi chút nào hết, nên Mameha nói với ông ta:
- Ông không nhận ra Sayuri là người đẹp à? Ông không thèm nhìn đến cô ấy hay sao?
Tôi nghĩ cô ấy nói như thế là hết nước, nhưng Uchida chỉ liếc mắt nhìn thoáng tôi như quét vụn bánh mì trên bàn. Mameha có vẻ rất thất vọng. Ánh chiều tà đã ngả bóng, nên cả hai chúng tôi đứng dậy ra về. Cô ấy cúi chào lấy lệ và nói lời tạm biệt. Khi chúng tôi đi ra ngoài, tôi không thể nào không dừng một lát để ngắm cảnh hoàng hôn, bầu trời sau những cánh đồng xa xa nhuốm màu gạch và màu hồng trông tươi đẹp như màu chiếc kimono đẹp - thậm chí còn đẹp hơn, vì chiếc áo kimono có đẹp đến đâu đi nữa thì màu sắc của nó cũng không nhuốm lên tay mình được. Trái lại ánh mặt trời lúc hoàng hôn đã rót lên tay tôi đủ màu sắc như cầu vòng. Tôi đưa hai bàn tay lên trong ánh chiều hôm và ngắm nhìn một lúc:
- Chị Mameha, chị nhìn kìa.
Tôi nói với cô ấy nhưng cô ấy tưởng tôi nói về cảnh hoàng hôn, cô quay đầu lại nhìn với vẻ lãnh đạm. Ông Uchida đứng bất động nơi ngưỡng cửa, vẻ mặt chăm chú, tập trung, một tay lồng vào trong mái tóc đốm bạc. Nhưng ông ta không nhìn cảnh hoàng hôn. Ông ta nhìn tôi.
Nếu anh thấy được bức tranh thủy mặc lừng danh của Uchida Kosaburo về người thiếu nữ đang đứng trong trạng thái ngây ngất, cặp mắt long lanh…Ừ, ngay từ đầu ông ta đã nhất quyết giữ cảnh ông ta thấy vào chiều hôm ấy. Quả tôi không tin nổi ông ta. Tôi không ngờ cái bức tranh đẹp tuyệt vời như thế lại có thể căn cứ vào hình ảnh cô gái đứng ngây ngô nhìn vào hai bàn tay mình trong ánh hoàng hôn.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 06:31:40Chuột lắc>
CHƯƠNG 19

Cái tháng mà tôi gặp lại ông Chủ tịch, và gặp ông Nobu, ông bác sĩ Cua, và Uchida Kosaburo, là tháng huy hoàng, khiến tôi có cảm giác mình là con dế nuôi trong lồng mây đã thoát ra ngoài được. Lần đâu tiên trong đời, mỗi đêm khi đi ngủ, tôi tin tưởng rằng tôi có thể là cho một số người ở Gion chú ý đến. Tôi vẫn chưa biết kế họach của Mameha như thế nào, hay là không biết kế hoạch của cô ấy dẫn tôi đến chỗ thành công ra sao, hay không biết khi đã là geisha thành công rồi, tôi có gặp lại ông Chủ tịch nữa không. Nhưng mỗi đêm tôi nằm trên đệm, tôi ép cái khăn của ông ta cho vào má, lòng bồi hồi nhớ lại cuộc hội ngộ của tôi với ông ta.
Mấy tuần trôi qua không có người nào nhắn gởi gì hết, Mameha và tôi bắt đầu thấy lo. Nhưng cuối cùng, vào một buổi sáng, người thư ký ở công ti điện Iwamura điện thoại đến cho phòng trà Ichiriki để yêu cầu tôi đến gặp họ vào buổi tối ở đó. Mameha vui mừng khi nghe tin này, vì cô ấy hy vọng lời mời là của ông Nobu. Tôi cũng vui mừng, tôi hy vọng đấy là lời mời của ông Chủ tịch. Cuối ngày hôm đó, trong khi có sự hiện diện của Hatsumono, tôi báo với bà Dì tôi sẽ đi giải trí cho ông Nobu và yêu cầu bà giúp tôi chọn một bộ kimono. Tôi ngạc nhiên khi thấy Hatsumono đến giúp tôi một tay, tôi nghĩ rằng nếu có người lạ nhìn thấy chúng tôi, thế nào người đó cũng tin chúng tôi sống rằng hòa thuận trong một gia đình. Hatsumono không cười khích, không nói châm biếm, mà tỏ ra rất thành tâm. Tôi đoán chắc bà Dì cũng kinh ngạc như tôi. Chúng tôi đều đồng ý tôi sẽ mặc cái áo kimono màu lục nhạt có hình vẽ những chiếc lá bạc và đỏ son, và dải thắt lưng màu xám điểm chỉ vàng. Hatsumono hứa sẽ ghé vào chơi xem Nobu và tôi cùng mua vui giải trí với nhau.
Tối hôm đó tôi quỳ trên hành lang gỗ của phòng trà Ichiriki, cảm thấy rằng vận may đã dẫn tôi đến giây phút này. Tôi nghe những tiếng cười nho nhỏ, lòng tự hỏi không biết trong đó có tiếng cười của ông Chủ tịch hay không, và khi tôi mở cửa, tôi thấy ông ngồi ở đầu bàn, còn ông Nobu thì ngồi quay lưng ra phía tôi. Trời, tôi quá mê mẩn trước nụ cười của ông Chủ tịch, nhưng đấy chỉ là dư vị của nụ cười hồi nãy, quá mê mẩn đến nỗi tôi phải cố giữ mình để khỏi cười lại với ông. Trước hết tôi chào Mameha, rồi chào mấy cô geisha khác trong phòng, và sau cùng là chào sáu hay bảy người đàn ông. Khi tôi đứng lên, tôi đi thẳng đến chỗ ông Nobu như Mameha đã dặn. Thế nhưng tôi phải quỳ sát bên ông ta hơn dự kiến của tôi, vì bỗng thình lình ông ta dằn cái tách rượu sake xuống bàn vẻ tức tối và ngồi ra xa tôi một chút. Tôi xin lỗi, nhưng ông ta không thèm để ý, còn Mameha thì cau mày. Suốt thời gian còn lại, tôi nghĩ vẩn vơ đủ thứ. Sau đó khi chúng tôi cùng ra về, Mameha nói với tôi:
- Ông Nobu rất dễ giận. về sau cô nhớ cẩn thận đừng để cho ông ta giận.
- Em xin lỗi, thưa chị. Rõ ràng ông ta không thích em như chị tưởng.
- Ồ, ông ta có thích cô. Nếu ông ta không thích cô ngồi một bên, cô đã rời khỏi tiệc trong nước mắt rồi. Thỉnh thoảng tính khí của ông ta có vẻ kỳ cục, nhưng khi cô đã quen, cô sẽ thấy ông ta là người tốt.
Tôi được công ty Iwamura mời đến phòng trà Ichiriki lại trong tuần ấy và nhiều lần trong những tuần tiếp theo – và có lúc không có Mameha. Cô ấy dặn tôi đừng ở lâu quá, vì sợ tôi trông có vẻ thua sút những cô khác, cho nên sau khoảng một giờ là tôi chào xin cáo lỗi ra về, như thể tôi bận đến dự một tiệc khác. Thường thường khi tôi mặc áo để đi trong những buổi tối này, Hatsumono bắn ý là cô sẽ ghé lại chơi, nhưng không bao giờ cô ta đến. Rồi một buổi chiều khi tôi không nghĩ đến chuyện này nữa, cô ta báo cho tôi biết tối ấy cô ta có thì giờ rảnh, nên chắc chắn cô ta sẽ đến.
Chắc anh hình dung được khi ấy tôi rất lo lắng, nhưng sự việc xảy ra lại còn tồi tệ hơn thế nữa. Vì khi tôi đến phòng trà Ichiriki, chỉ vỏn vẹn có hai geisha khác nữa và bốn người đàn ông. Nếu Hatsumono đến mà thấy tôi đang tiếp ông Chủ tịch và không có Nobu thì sao? Tôi chưa biết tính như thế nào thì bỗng cửa xịch mở, tôi quá hoảng hốt khi thấy Hatsumono quỳ ngoài hành lang.
Cách duy nhất của tôi phải làm là tỏ vẻ buồn rầu như thể trong công ti này không có ai ngoài Nobu có thể làm cho tôi quan tâm. Có lẽ phương pháp này mới giúp được tôi trong đêm ấy, nhưng may thay, chỉ mấy phút sau, Nobu đến. Ngay khi Nobu vào phòng, là Hatsumono tươi cười, nụ cười duyên dáng, đôi môi mọng đỏ như những giọt máu ứa ra bên mép vết thương. Nobu ngồi vào bàn xong là lập tức Hatsumono bảo tôi rót rượu cho ông ta, giọng nói dịu dàng thân mến. Tôi đến ngồi bên cạnh ông ta, cố tỏ ra vui mừng sung sướng khi được hầu rượu cho ông ta. Bất kỳ khi ông ta cười, tôi liếc mắt nhìn ông như thể tôi không cách gì rời mắt ra khỏi ông ta được , Hatsumono rất sung sướng hả dạ, nhìn chúng tôi, đến nỗi không thèm lưu tâm đến những ánh mắt hâm mộ của các ông dành cho cô ta. Hay có thể cô ta đã quen được người ta nhìn như thế này rồi. Đêm đó cô ta đẹp một cách mê hồn, người thanh niên ngồi ở cuối bàn ngồi sững sờ hút thuốc và chỉ nhìn cô ta. Ngay cả ông Chủ tịch cũng thế, ông ngồi yên, mấy ngón tay hững hờ ôm quanh cốc rượu, chốc chốc lại đưa mắt nhìn lên cô ta. Tôi không ngạc nhiên khi đàn ông thường mù quáng trước sắc đẹp, đến nỗi họ đem hết đời mình để phục vụ cho một con quỷ có nhan sắc. Bỗng tôi mường tượng ra trong óc một buổi khuya, ông Chủ tịch bước vào gian tiền sảnh của nhà kỹ nữ chúng tôi để gặp Hatsumono, tay cầm mũ phớt, mỉm cười nhìn tôi rồi đưa tay kia cởi áo khoác. Tôi hy vọng ông ta không bị sắc đẹp của Hatsumono làm mờ mắt, cũng như hy vọng ông ta nhận ra những nét độc ác lộ rõ trên mặt cô ta. Nhưng có một điều tôi tin chắc, nếu Hatsumono biết được tình cảm của tôi dành cho ông Chủ tịch, thế nào cô ta cũng tìm cách để dụ dỗ ông ấy, mục đích duy nhất chỉ để làm cho tôi đau khổ.
Tôi đoán chắc thế nào Hatsumono cũng rời bàn tiệc ra về sớm. Tối biết cô ta đến đây là để gíam sát “mối tình đang phát triển”, cho nên tôi quyết định phải trình diễn cho cô ta thấy. Tôi cứ đưa tay lên sờ trên cổ, trên tóc hoài, để tỏ cho cô ta thấy tôi rất lo về vẻ ngoài của tôi. Khi tay tôi bất ngờ chạm phải một món nữ trang trên tóc, tôi liền nảy ra một ý trong óc. Tôi đợi cho đến khi có người nói chuyện khôi hài để cười, và trong lúc vừa cười vừa sửa mái tóc, tôi nghiêng người qua phía ông Nobu. Tôi xin thú nhận rằng việc sửa tóc là điều kỳ lạ khó tin, vì tóc tôi đã được chải sáp dính vào nhau rất chặt, khỏi sợ chúng bung ra. Nhưng mục đích của tôi là làm tung ra một món trang sức – một chuỗi hoa lụa màu vàng và cam – và thả nó rơi xuống lòng của ông Nobu. Nhưng cái cây trâm gỗ đính chuỗi hoa lụa dính rất sâu vào mái tóc tôi, nên khi tôi cố lôi mạnh nó ra, nó văng trúng vào ngực ông Nobu, rồi rơi xuống hai chân bắt tréo của ông. Tôi định đưa tay vào giữa lòng ông để lấy lên với vẻ lúng túng của một cô gái mới lớn, nhưng tôi không đưa tay vào giữa hai chân ông được.
Chính ông Nobu lấy món nữ trang lên, ông cầm cái trâm gỗ quay quay trong tay rồi nói với tôi:
- Cô đi tìm chị hầu chào đón tôi hồi nãy, nói với chị ấy tôi muốn lấy cái gói tôi đã gởi cho chị ta.
Tôi làm theo lời Nobu và quay về phòng, thấy mọi người đang đợi. Ông ta vẫn còn cầm cái trâm gỗ, để cho chùm hoa trắng lủng lẳng trên mặt bàn. Và khi tôi đưa cái gói cho ông, ông không buồn nắm lấy.
- Tôi định chốc nữa mới tặng món qùa này cho cô, khi nào cô ra về, nhưng bây giờ tôi thấy muốn tặng cho cô – ông ta nói rồi gật đầu chỉ cái gói như muốn bảo tôi mở cái gói ra xem. Tôi cảm thấy lúng túng trước mắt mọi người đang nhìn tôi, nhưng tôi vẫn mở gói giấy ra. Bên trong là một cái hộp gỗ nhỏ, đựng một cái lược cài tóc rất đẹp để trên lớp sa tanh. Cái lược có hình bán nguyệt, màu đỏ tươi có đính đóa hoa sáng lấp lánh.
- Đó là món đồ cổ tôi đã mua được cách đây vài hôm – Nobu nói.
Ông Chủ tịch nhìn món trang sức trong hộp để trên bàn với vẻ thích thú, ông mấp máy môi nhưng chưa nói ngay được mà đợi hắng giọng rồi mới lên tiếng, giọng có vẻ buồn buồn:
- Trời Nobu, tôi không ngờ anh là con người đa cảm như thế này!
Hatsumono đứng lên, tôi tưởng tôi đã thoát được cô ta, nhưng không, tôi quá kinh ngạc khi thấy cô ta đến quỳ bên cạnh tôi. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi yên cho đến khi cô ta lấy cái lược ra khỏi hộp rồi cẩn thận cài lên tóc tôi, ngay dưới búi tóc lớn có hình như cái gối găm kim. Cô ta đưa tay ra và Nobu trao cho cô ta món trang sức có hình chùm hoa lủng lẳng cô ta cẩn thận đeo vào tóc tôi như người mẹ ân cần chăm sóc cho con. Tôi nhẹ cúi người để cám ơn cô ta.
- Cô ta quá đẹp phải không? – cô ta nói, chủ yếu nói cho Nobu nghe. Rồi cô ta buông tiếng thở dài rất kịch, như thể những giây phút vừa qua rất tình tứ, lãng mạn không thua sút gì đời cô ta, sau đó cô ta đứng dậy ra về như lòng tôi mong đợi .
Chuyện đời không ai dám nói đàn ông có cá tính khác nhau rõ ràng như hoa nở theo mùa. Mặc dù ông Nobu và ông Chủ tịch quan tâm đến tôi trong vòng mấy tuần sau buổi trình diễn đô vật, nhưng nhiều tháng trôi qua mà chúng tôi không nghe tin tức gì của ông bác sĩ Cua và ông Uchida. Mameha nhất quyết chúng tôi nên đợi cho đến khi nào họ nhắn tin, chứ không tìm cớ để gặp họ lại, cuối cùng cô ấy không chịu được sự căng thẳng nữa, bèn đến tìm Uchida vào một buổi chiều.
Thì ra sau lần chúng tôi ghé thăm Uchida một thời gian ngắn, con mèo của ông ta bị chồn cắn khiến cho nó bị nhiễm trùng và mấy ngày sau thì chết. Kết quả là Uchida uống rượu giải sầu một thời gian. Mameha đến thăm để động viên ông ta mất mấy hôm. Và cuối cùng khi ông ta đã bình tĩnh trở lại, cô ấy bảo tôi mặc áo kimono màu xanh láng có thêu ở lai áo nhiều dải vải ngũ sắc, thêm vào phần hóa trang vài nét trang điểm kiểu phương Tây cho có vẻ màu mè, như cô ấy thường làm, rồi sai tôi đến tặng cho ông ta một con mèo con có bộ lông trắng như ngọc, con mèo đáng giá bao nhiêu tiền, tôi không biết. Tôi thấy con mèo rất dễ thương, nhưng Uchida không thèm chú ý, mà chỉ ngồi nhìn tôi, nghiêng đầu qua bên này, nghiêng đầu qua bên kia. Mấy ngày sau ông ta nhắn tin ông ta muốn tôi làm mẫu cho ông ta vẽ. Mameha không muốn tôi nói nhiều và phái cô hầu Tatsumi đi theo canh chừng tôi, chị ta ngồi ngủ gà ngủ gật cả buổi trong góc phòng vẽ, trong khi ông Uchida chuyển tôi từ chỗ này sang chỗ khác, loay hoay pha mực và vẽ trên giấy bổi rồi lại đi di chuyển tôi sang chỗ khác nữa.
Nếu anh đã đi khắp nước Nhật và đã xem những tác phẩm của Uchida vẽ trong thời gian tôi làm mẫu cho ông ta suốt mùa đông năm đó và nhiều năm sau nữa, như là bức tranh sơn dầu duy nhất còn sót lại đang treo trong phòng của ban lãnh đạo ngân hàng Sumitomo ở Osaka, thì chắc anh có thể tưởng tượng ra cảnh ngồi làm mẫu cho ông ta là việc đáng hãnh diện. Thế nhưng công việc ấy không có gì buồn chán hơn. Hầu hết thời gian ngồi làm mẫu rất khó chịu, mỗi lần lâu khoảng hơn một giờ. Tôi nhớ điều làm tôi khó chịu nhất là khát nước, vì Uchida không bao giờ cho tôi uống gì cả. Thậm chí có khi tôi mang theo bình nước trà, ông ta cũng đem nó để vào một xó để cho ông ta không bị phân tâm. Theo lời dặn dò của Mameha thì không được nói năng gì với ông ta hết, thậm chí có một buổi chiều vào giữa tháng hai trời quá lạnh, tôi định nói đôi lời, nhưng rồi tôi cũng thôi. Uchida đến ngồi ngay trước mặt tôi, miệng nhai cái nốt ruồi bên khóe môi. ông ta có nhiều thỏi mực tàu và một ít nước để mài mực, nhưng rất nhiều lần ông mài mực để pha với màu xanh và màu xám, màu pha rồi ông không vừa ý, ông liền đem đổ ra ngoài tuyết. Cứ nhìn tôi suốt buổi chiều, mắt ông đâm ra mệt mỏi, ông ta bắt đầu tức giận và một lát sau ông ta bảo tôi đi về.
Tôi không nghe ông ta nhắn nhe gì hơn hai tuần, và sau đó tôi biết ông ta đang uống rượu trở lại.
Còn về phần ông bác sĩ Cua, trong lần chúng tôi gặp ông ta đầu tiên hôm đó, ông ta hứa gặp lại chúng tôi ở phòng trà Shirao, nhưng mãi cho đến sáu tuần sau, chúng tôi không nhận được tin tức gì của ông hết. Tuần này tuần nọ trôi qua, Mameha càng lo lắng thêm. Tôi vẫn không biết kế họach làm cho Hatsumono hỏng chân của cô ấy ra sao, nhưng tôi chỉ thấy kế họach ấy như cánh cửa có hai bản lề, một bản lề để mở cho ông Nobu, bản lề kia dành cho bác sĩ Cua. Còn kế họach cô ấy dùng với Uchida, tôi không biết nói sao, nhưng tôi nghĩ đây là một kế họach riêng biệt, có lẽ không phải là kế họach trọng tâm của cô ấy.
Cuối cùng, vào cuối tháng hai Mameha gặp bác sĩ Cua ở phòng trà Ichiriki, mới biết lâu nay ông ta bận lo việc thành lập bệnh viện mới ở Osaka. Công việc đã xong xuôi, ông hy vọng gặp chúng tôi ở phòng trà Shirao vào tuần sau. Chắc anh còn nhớ Mameha kể rằng tôi có rất nhiều khách ái mộ ở phòng trà Ichiriki, nếu tôi đến đấy, thế nào cũng có nhiều người mời, cho nên ông bác sĩ Cua mời chúng tôi đến phòng trà Shirae. Dĩ nhiên nguyên nhân Mameha không muốn chúng tôi đến phòng trà Ichiriki là vì cô ấy không muốn gặp mặt Hatsumono, thế nhưng khi tôi chuẩn bị gặp mặt ông bác sĩ Cua, tôi không thể nào không lo sợ việc Hatsumono có thể tìm ra chúng tôi. Nhưng khi tôi tìm thấy phòng trà Shirae, tôi liền bật cười, vì đây là chỗ mà Hatsumono không bao giờ thèm đến. Phòng trà làm cho tôi nghĩ đến một đóa hoa nhỏ xơ xác trên một cái cây nhiều hoa nở rực rỡ. Gion là khu vui chơi đông đúc ngay cả khi đất nước đang trải qua những năm cuối cùng của thời đại suy thoái, nhưng phòng trà Shirae, nơi không được sang trọng, lại càng vắng khách hơn nữa. Lý do duy nhất mà ông bác sĩ Cua đứng ra bảo trợ nơi này là vì ông không được giàu có cho lắm. Trong những năm giàu có đầu tiên của ông, phòng trà Shirae có lẽ là nơi tốt nhất cho ông bảo trợ. Nhưng khi phòng trà Ichiriki chào đón ông niềm nở, không vì thế mà ông cắt đứt mối dây liên lạc với Shirae. Khi đàn ông có tình nhân, không bắt buộc họ phải về ly dị với vợ.
Tối đó ở phòng trà Shirae, tôi rót rượu sake còn Mameha thì kể chuyện, và suốt thời gian vui chơi, ông bác sĩ ngồi chìa hai khuỷu tay ra thật xa đến nỗi thỉnh thoảng ông đụng hai chúng tôi, rồi ông quay qua gật đầu xin lỗi. Tôi nhận ra ông ta là người trầm lặng, suốt buổi tối hôm đó, ông chỉ nhìn xuống mặt bàn qua cặp kính tròn nhỏ và nhiều lần ông để những vụn thức ăn dính vào bộ râu dưới mép. Tối đó khi ra về, chúng tôi tưởng mình đã thất bại và chắc sẽ không gặp lại ông ta nữa, vì thường thường người đàn ông nào thấy không được mấy vui, họ không bận tâm trở lại Gion làm gì. Nhưng trái lại tuần sau chúng tôi nhận được tin nhắn của ông bác sĩ mời tôi đến, và hầu như trong suốt các tuần sau đó, kéo dài mấy tháng trời, ông đều mời tôi đến vui chơi.
Chuyện của tôi với ông bác sĩ diễn ra trôi chảy cho đến một buổi chiều vào giữa tháng ba thì tôi gây nên một chuyện ngu ngốc, gần như làm hỏng bét kế hoạch của Mameha. Tôi nghĩ trên đời này có nhiều cô gái làm hỏng tương lai sự nghiệp của mình bằng cách không chịu làm những việc phải làm, hay cư xử sai lầm với một nhân vật quan trọng, hay đại lọai một vài việc như thế. Nhưng lỗi lầm tôi gây ra hết sức tầm thường, thậm chí tôi cũng không biết là mình đã gây ra nó nữa.
Chuyện xảy ra trong nhà kỹ nữ tôi ở, chỉ trong khoảnh khắc chừng một phút, không lâu sau bữa ăn trưa, vào một hôm trời lạnh, tôi đang quỳ trên lối đi lát ván với chiếc đàn Shamisen, Hatsumono đi ngang qua để đến nhà vệ sinh. Nếu tôi có mang giày, chắc tôi đã bước qua hành lang đất để tránh chỗ cho cô ta đi, nhưng vì không có giày nên tôi cố đứng dậy, tay chân lạnh cóng. Nếu tôi nhanh chân một chút thì chắc Hatsumono không bực mình để phải gây gỗ với tôi. Đàng này tôi đứng lên hơi chậm nên cô ta nói với tôi:
- Ông Đạ sứ Đức đến thành phố, nhưng Bí Ngô không rảnh để giúp vui cho ông ta, cô hỏi Mameha thu xếp công việc để đến thay thế chỗ cho Bí Ngô được không? – nói xong cô ta phá ra cười như thể cô ta muốn nói tôi làm công việc ấy trông thật nực cười như việc dọn cho vua ăn hạt đấu không bằng.
Khi ấy ngài Đại sứ Đức đang gây nên cảnh ồn ào ở Gion. Trong thời gian này, 1935, ở Đức, chính phủ mới lên cầm quyền. Mặc dù tôi không biết nhiều về chính trị, nhưng tôi cũng biết nước Nhật quay lưng với Hoa kỳ và hăm hở gây ấn tượng tốt đẹp với ông Đại sứ Đức mới. Mọi người ở Gion đều muốn biết ai là người có hân hạnh được đến hầu vui ông ta trong chuyến thăm sắp tới của ông.
Khi Hatsumono nói thế với tôi, đáng ra tôi phải cúi đầu xuống, làm ra vẻ buồn rầu đau khổ, không dám so sánh với tài năng của Bí Ngô. Nhưng tôi đã không làm thế, tôi nghĩ đến tương lai tươi sáng của tôi với kế hoạch của Mameha dùng để loại Hatsumono, hai chúng tôi thực hiện đã thành công. Khi nghe Hatsumono nói như thế, tôi đã định cười, nhưng tôi kịp giữ mặt bình thảnh như chiếc mặt nạ, và lòng cảm thấy vui vì không thốt ra điều gì. Hatsumono nhìn tôi với ánh mắt kỳ lạ, đáng ra tôi phải nhận ra ngay cô ta đang nghĩ gì trong óc mới phải. Tôi bước nhanh sang một bên và cô ta đi qua. Câu chuyện chấm dứt ngang đó và tôi không có tí nghi ngờ gì cả.
Rồi mấy ngày sau tôi và Mameha đến phòng trà Shirae để gặp bác sĩ Cua. Nhưng khi chúng tôi đẩy cửa ra thì thấy Bí Ngô đang ngồi xỏ chân vào giày để đi về. Tôi giật mình kinh ngạc tự hỏi không biết cái gì đã đưa cô ta đến đây. Rồi Hatsumono cũng đi ra cửa và thế là tôi hiểu: Hatsumono đã khôn ngoan hơn chúng tôi.
- Chào chị Mameha – Hatsumono nói – và kìa, người đi cùng chị! Cô tập sự được ông bác sĩ ưa chuộng!
Tôi biết Mameha cũng sửng sốt như tôi nhưng cô ấy không để lộ ra mặt.
- Kìa chị Hatsumono – Mameha đáp – tôi không nhận ra chị..nhưng trời ơi, chị trông già quá!
Hatsumono chưa già, cô ta chỉ có 28 hay 29 tuổi, tôi nghĩ Mameha chỉ tìm cách chọc tức cô ta mà thôi.
- Tôi đoán chị đến để gặp ông bác sĩ – Hatsumono nói – thật là một con người tuyệt vời! Tôi hy vọng ông ta vẫn còn sung sướng khi gặp chị. Thôi xin chào – Hatsumono bỏ đi với vẻ vui tươi, nhưng dưới ánh đèn đường, tôi thấy nét mặt buồn rầu của Bí Ngô.
Mameha và tôi tuột giày ra mà không nói một tiếng, chúng tôi không ai biết phải nói cái gì. Khung cảnh trong phòng trà Shirae đêm ấy âm u ngột ngạt như nước tù trong hồ. Không khí thoảng mùi hôi do đồ hóa trang bốc ra, hồ vữa ẩm ướt tróc ra khỏi vách tường, trong các góc phòng. Tôi muốn sự vật thay đổi để tôi ra về.
Khi chúng tôi mở cửa ở hành lang, chúng tôi thấy bà chủ phòng trà đang ngồi tiếp bác sĩ Cua. Thường khi bà ta ở lại vài phút sau khi chúng tôi đến, có lẽ để đủ thì giờ tính tiền ông bác sĩ. Nhưng đêm nay bà ta cáo lỗi rút lui ngay khi chúng tôi vào và thậm chí không ngước mắt nhìn khi bà ta đi ngang qua. Bác sĩ Cua ngồi quay lưng về phía chúng tôi, cho nên chúng tôi bỏ qua nghi thức cúi chào mà đi ngay đến ngồi với ông ta ở bàn.
- Thưa bác sĩ, ông có vẻ mệt – Mameha nói – tối nay ông khỏe chứ?
Bác sĩ Cua không nói, ông ta chỉ xoay xoay cái ly bia trên bàn để giết thì giờ, mặc dù ông là người có tửu lượng cao, ông có thể uống bất cứ lúc nào ông muốn.
- Phải, tôi mệt – cuối cùng ông đáp – tôi không muốn nói chuyện nữa.
Nói xong ông ta uống hết ly bia rồi đứng dậy ra về. Mameha và tôi nhìn nhau. Khi bác sĩ Cua ra đến cửa, ông ta quay lại nhìn chúng tôi và nói:
- Tôi không tôn trọng những người lừa dối tôi khi tôi tin tưởng vào họ.
Nói xong ông ta đi ra mà không thèm đóng cửa lại.
Mameha và tôi quá kinh ngạc không nói được một lời nào. Cuối cùng cô ấy đứng lên đóng cửa lại. Trở lại bàn, cô ấy vuốt áo kimono cho thẳng thắn rồi nheo mắt giận dữ và nói với tôi:
- Sayuri, được thôi. Cô đã nói gì với Hatsumono?
- Chị Mameha, nói gì về chuyện này à? Em đã hứa với chị em không bao giờ nói cái gì để hại đến tương lai của em!
- Có lẽ bác sĩ đã dẹp cô sang một bên như thể cô không có gì giá trị hơn một cái bao rỗng. Tôi nghĩ chắc có lý do gì. Nhưng chúng ta chỉ biết được lý do khi nào chúng ta biết được Hatsumono đã nói gì với bác sĩ Cua tối nay.
- Làm sao chúng ta biết được?
- Bí Ngô có mặt ở đây. Cô phải tìm hỏi cô ta mới được.
Tôi không biết Bí Ngô có chịu nói cho tôi biết không, nhưng tôi vẫn trả lời là tôi sẽ cố hỏi cô ta, và Mameha có vẻ hài lòng khi nghe thế. Cô ấy đứng lên chuẩn bị ra về, nhưng tôi nán lại cho đến khi cô ấy quay qua để xem cái gì đã giữ tôi ở lại.
- Thưa chị Mameha, em xin hỏi chị một câu được không? Bây giờ Hatsumono đã biết từ lâu em mua vui giải trí cho ông bác sĩ, và có lẽ cô ta biết lý do tại sao. Chị biết lý do, thậm chí Bí Ngô cũng có thể biết. Chỉ có em là người không biết! xin chị làm ơn nói rõ kế họach của chị cho em nghe được không?
Mameha có vẻ rất buồn khi nghe tôi hỏi như thế. Cô ấy nhìn tôi đăm đăm một hồi lâu, cuối cùng cô buông ra tiếng thở dài và quỳ xuống bên bàn để nói cho tôi nghe những điều tôi muốn biết.
Cô ấy nói:
- Chắc cô thừa biết ông Uchida nhìn cô với con mắt của nhà họa sĩ. Nhưng ông bác sĩ quan tâm đến cô vì chuyện khác. Và ông Nobu cũng thế. Cô có biết cái từ “con bướm không tổ” có nghĩa như thế nào không?
Tôi trả lời là tôi không biết điều cô vừa nói.
- Đàn ông có một thứ ..ờ.. có “con lươn” trong người họ- cô ấy nói tiếp – đàn bà không có con lươn, nhưng đàn ông thì có. Nó ở tại…
- Em biết chị nói cái gì rồi – tôi nói – nhưng em không biết nó được gọi là con lươn.
- Thực ra không phải con lươn, nhưng cứ để cho nó là con lươn cho dễ hiểu vấn đề hơn. Con lươn cả đời đi tìm cái tổ và cô có biết đàn bà có cái gì trong người họ không? Có cái hang nơi con lươn thích ở. Cái hang là nơi máu chảy ra hàng tháng khi “Mây bay qua mặt trăng”, như chúng ta thường nói.
Tôi đã lớn nên hiểu điều Mameha nói về mây bay qua mặt trăng, vì tôi đã trải qua chuyện này mấy năm nay rồi. Lần đầu tiên, tôi không thể nào không cảm thấy hoảng hốt như hỉ mũi mà thấy những miếng óc của mình dính trong khăn. Thú thật tôi sợ sắp chết đến nơi, cho đến khi bà Dì thấy tôi giặt miếng giẻ dính máu, bà ta mới giảng cho tôi hiểu rằng đàn bà thường chảy máu như thế hàng tháng.
- Chắc cô chưa hiểu về chuyện những con lươn này – Mameha nói tiếp – chúng rất cần có lãnh thổ. Khi chúng đã tìm ra cái hang chúng thích, chúng vùng vẫy trong hang một hồi để biết chắc rằng…ờ, để biết chắc rằng đấy là một cái hang đẹp, tôi đóan thế. Và khi chúng tin chắc rằng đấy là chỗ an tòan, đảm bảo, chúng làm dấu cái hang như là lãnh thổ của mình, bằng cách phun vào đấy. Cô hiểu không?
Nếu Mameha nói thẳng những điều cô ấy muốn nói, chắc thế nào tôi cũng bàng hoàng hoảng hốt, nhưng đàng này cô ấy nói dông dài, cho nên chí ít ra tôi cũng có thì giờ để chuẩn bị tư tưởng. Mấy năm sau, tôi phát hiện ra rằng những điều cô ấy giải thích cho tôi nghe chính là những điều cô ấy đã được nghe từ bà chị cả của cô ấy.
- Sau đây là phần sẽ làm cho cô thấy kỳ lạ - Mameha nói tiếp như thể nãy giờ cô toàn nói chuyện không kỳ lạ - đàn ông rất thích làm cái việc này. Quả vậy, họ rất thích. Thậm chí có những ông chẳng làm việc gì cả ngoài việc đi tìm những cái hang khác cho con lươn của họ ở. Hang của người đàn bà nào chưa có con lươn nào vào ở, thì rất có giá trị cho đàn ông, cô hiểu chứ? Chúng ta gọi trường hợp này là mizuage.
- Chúng ta gọi cái gì là mizuage?
- Lần đầu tiên hang của phụ nữ được con lươn đàn ông khám phá. Việc này chúng ta gọi là mizuage.
Thực ra thì chữ “mizu” có nghĩa là nước còn age có nghĩa là “dâng lên” hay “để vào”. Cho nên từ mizuage có nghĩa là có cái gì đấy làm cho nước dâng lên hay thả cái gì đấy vào nước. nếu anh gặp ba người geisha trong phòng, tất cả đều hiểu khác nhau về ý nghĩa của từ này. Khi nghe Mameha giảng giải xong, tôi cảm thấy hoang mang hơn nữa, nhưng tôi cố giả vờ đã hiểu hết lời cô ấy nói.
- Tôi nghĩ chắc cô đoán được lý do tại sao bác sĩ Cua thích giải trí ở Gion – Mameha nói tiếp – ông ta kiếm ra rất nhiều tiền ở bệnh viện. Ngoài số tiền ông ta để dành ra nuôi gia đình, ông dùng tiền để tìm thú hưởng mizuage. Sayuri, cô cần phải quan tâm đến chuyện này vì cô đúng là loại thiếu nữ mà ông ta thích nhất. Tôi biết chuyện này rất rõ, vì chính tôi đã trải qua chuyện này rồi.
Sau đó tôi mới hiểu ra rằng trước ngày tôi đến Gion một hay hai năm gì đấy, bác sĩ Cua đã trả một số tiền kỷ lục để mua mizuage của Mameha – có lẽ là 7000 hay 8000 yen gì đấy. Bây giờ nghe ra có vẻ không nhiều, nhưng vào thời ấy đó là một số tiền lớn. Ngay cả những người như Mẹ - người luôn luôn nghĩ đến tiền và làm sao kiếm ra tiền – chỉ thấy được một hoặc hai lần trong đời mà thôi. Mizuage của Mameha cao giá như thế là vì cô ấy nổi tiếng. Nhưng còn có lý do khác nữa, như cô ấy nói cho tôi biết vào chiều hôm ấy. Hai người đàn ông rất giàu hô giá ganh đua nhau để mua Mizuage của Mameha, một người là bác sĩ Cua, người kia là một thương gia có tên Fugikado. Thông thường đàn ông ở Gion không cạnh tranh nhau theo kiểu này, họ đã biết nhau và thích đi đến thỏa thuận về mọi việc. Nhưng Fujikado ở chỗ khác, chỉ thỉnh thoảng mới đến Gion. Nếu ông ta có làm cho bác sĩ Cua mất mặt, ông ta cũng cóc cần. Còn bác sĩ Cua thường tuyên bố ông ta là giòng dõi quý tộc, rất ghét loại người tự lập như Fujikado, mặc dù thật ra thì chính ông ta cũng là người tự lập, căn bản là như thế.
Khi Mameha và tôi đi xem đấu đô vật, cô ấy đã báo cho tôi biết Nobu rất thích tôi, cô nghĩ đến chuyện Nobu rất giống ông Fujikado, tự lập và ghê tởm những người như ông bác sĩ Cua. Với Hatsumono săn đuổi tôi khắp nơi như bà nội trợ săn đuổi gián, có lẽ tôi sẽ không trở thành người nổi tiếng như Mameha để có giá mizuage cao. Nhưng nếu hai người đàn ông này thấy tôi hấp dẫn, họ có thể thi nhau trả giá, khiến cho tôi có thể đạt được vị thế đủ tiền trang trải nợ nần, như thể tôi là geisha đã nổi tiếng bấy lâu. Đây chính là lý do khiến cho Mameha muốn làm cho “Hatsumono hổng cẳng”. Hatsumono vui mừng khi thấy Nobu thích tôi, điều mà cô ta không nhận ra được là việc Nobu thich tôi sẽ có thể nâng giá mua mizuage của tôi lên rất cao.
Rõ ràng chúng tôi phải lấy lại tình cảm của ông bác sĩ. Không có ông ta, Nobu có thể đưa giá ra mua mizuage của tôi theo ý ông muốn – nghĩa là nếu ông ta có ý quan tâm đến chuyện này. Tôi không chắc ông ta quan tâm, nhưng Mameha quả quyết rằng người đàn ông nào mà không có ý mua mizuage của một cô gái tập sự 15 tuổi, thì ông ta không đời nào quan tâm đến chuyện thắt chặt mối dây liên hệ tình cảm với cô ta hết.
- Cô hãy tin rằng không phải vì chuyện trò với nhau mà ông ta thích cô đâu – cô ấy nói.
Tôi cố giả vờ làm ra vẻ tôi không cảm thấy đau đớn khi nghe cô ấy nói như thế.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 06:55:54Chuột lắc>
CHƯƠNG 20

Sau này tôi thấy cuộc nói chuyện của tôi với Mameha đã đánh dấu sự chuyển biến của tôi trong quan niệm cuộc đời. Trước đó tôi không biết gì về mizuage hết, tôi vẫn là cô gái thơ ngây, biết việc đời rất ít. Nhưng sau đó tôi biết một người như bác sĩ Cua muốn gì với số thời gian và tiền bạc ông ta có. Khi người ta biết chuyện này rồi, người ta không thể không tìm hiểu vấn đề. Tôi không nghĩ về ông ta như trước nữa.
Đêm đó sau khi trở về nhà kỹ nữ, tôi ngồi đợi Hatsumono và Bí Ngô đi lên cầu thang. Khoảng một giờ sáng hai người mới về. Nhìn cách Bí Ngô chống hai tay trên cầu thang mà đi, tôi biết cô ta mệt, vì thỉnh thoảng cô ta lên thang lầu bằng bốn chân như chó. Trước khi đóng cửa phòng, Hatsumono sai một chị hầu đem lên cho cô ta ly bia.
- Khoan, đợi một chút - cô ta nói – mang lên cho tôi hai ly bia. Tôi muốn Bí Ngô cũng uống với tôi.
- Thôi chị Hatsumono – tôi nghe Bí Ngô nói – em thích uống nước lạnh hơn.
- Cô sẽ đọc to cho tôi nghe trong khi tôi uống bia, cho nên cô cũng phải có một ly. Ngoài ra tôi rất ghét những người quá điều độ. Trông nhức con mắt lắm.
Sau đó chị hầu đi xuống cầu thang. Lát sau chị đi lên, tôi nghe tiếng ly va vào nhau trên khay kêu leng keng. Tôi ngồi dán tai vào cửa phòng tôi một hồi lâu, lắng nghe giọng Bí Ngô đọc một đọan bài viết về người diễn viên mới trong đoàn kịch Kabuki. Sau cùng Hatsumono đi ra hành lang, mở cửa phòng vệ sinh trên lầu.
- Bí Ngô này – tôi nghe cô ta nói – cô có thích ăn mì sợi không?
- Không, thưa chị.
- Nhờ cô tìm mua giúp tôi một tô. Và cô cũng ăn một tô để thức cùng với tôi cho có bạn.
Bí Ngô thở dài đi xuống cầu thang. Tôi đợi cho Hatsumono vào phòng rồi lẻn theo. Nếu Bí Ngô không mệt, chắc tôi sẽ không đuổi kịp cô ta. Cô ta có vẻ hoảng hốt khi trong thấy tôi và hỏi tôi tìm gặp cô ta để làm gì.
- Chẳng có chuyện gì quan trọng – tôi đáp - ngọai trừ tôi nhờ bạn giúp cho tôi một việc…
- Ô Chiyo – cô ta nói với tôi –tôi nghĩ cô ta là người duy nhất còn gọi tôi là Chiyo – mình không có thì giờ, mình phải đi mua mì sợi cho Hatsumono!
- Bí Ngô, cô tội nghiệp quá! – tôi nói và Bí Ngô giống như nước đá bắt đầu tan, mặt cô ta xịu xuống vì mệt mỏi, cái áo kimono nặng nề như muốn lôi cô ta nhào xuống đất. Tôi bảo cô ta tìm chỗ ngồi nghỉ, tôi đi mua mì sợi cho. Cô ta quá mệt nên không từ chối, bèn đưa tiền cho tôi rồi đến ngồi bên chiếc ghế dài bên bờ suối Shirakawa.
Tôi phải tìm một hồi mới thấy cái xe bán rong mì sợi, tôi mua hai tô mì nóng hổi khói bốc lên nghi ngút. Bí Ngô tựa đầu ra lưng ghế ngủ ngon lành, miệng hé ra như hy vọng hứng được nước mưa. Đã gần hai giờ sáng mà vẫn còn vài người đi chơi. Một tốp đàn ông nhìn thấy Bí Ngô, có lẽ họ cho đây là cảnh buồn cười nhất họ thấy trong nhiều tuần nay – và tôi xác nhận cảnh cô geisha tập sự ngồi ngủ trên ghế đá như thế này quả là kỳ cục.
Khi tôi để hai tô mì sợi xuống bên cạnh Bí Ngô, nhẹ nhàng đánh thức cô ta dậy rồi nói:
- Bí Ngô mình muốn yêu cầu bạn giúp mình một việc…nhưng mình sợ bạn không vui khi nghe chuyện này.
- Không thành vấn đề - cô ta đáp ngay – chẳng có chuyện gì làm cho mình vui hơn.
- Khi Hatsumono nói chuyện với ông bác sĩ tối nay, bạn có mặt trong phòng. Mình nghĩ câu chuyện này có ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của mình. Chắc Hatsumono đã bày chuyện nói xấu mình với ông bác sĩ, vì bây giờ ông ta không muốn thấy mình nữa.
Vì quá ghét Hatsumono, vì quá muốn biết tối nay cô ta đã nói gì với ông bác sĩ, nên tôi cảm thấy ân hận đã khơi chuyện này lên với Bí Ngô. Cô ta có vẻ đau đớn khi nghe tôi nói, tôi nghĩ chỉ một chuyện nhỏ nhặt thôi cũng đủ làm cô ta đau khổ nhiều. Nước mắt trào ra trên mặt cô như thể chúng đã nằm chực sẵn đấy từ lâu.
- Chiyo, mình không biết – cô ta nói, đưa tay ra moi chiếc khăn trong thắt lưng – mình không rõ chuyện gì hết!
- Chắc bạn nhớ Hatsumono nói chuyện gì chứ? Có ai nữa biết chuyện đó không?
- Không có. Thật mình không biết có ai độc ác như thế! Mình không biết chuyện ấy. Cô ta làm mọi việc chỉ để làm cho người khác đau khổ mà thôi. Và điều bậy nhất là cô ta nghĩ rằng mình khâm phục cô ta và muốn được như cô ta. Nhưng mình ghét cô ta! Chưa bao giờ mình ghét ai như ghét cô ta!
Chiếc khăn tay màu vàng của Bí Ngô lấm đồ hóa trang trắng hếu. Nếu mới đây cô ta là thỏi nước đá bắt đầu tan thì bây giờ cô ta là vũng bùn.
- Bí Ngô làm ơn nghe mình nói – tôi nói – nếu mình có ai khác để hỏi chắc mình đã không hỏi bạn chuyện này đâu. Mình không muốn trở lại làm kẻ tôi tớ suốt đời, và nếu Hatsumono có cách hại mình, thì mình sẽ như thế đấy. Cô ta sẽ không bao giờ dừng tay lại cho đến khi mình trở thành con gián dưới chân cô ta! Nếu bạn không giúp mình chạy thoát được, mình sẽ bị cô ta chà đạp cho nát bét!
Bí Ngô cho đây là chuyện tức cười, cho nên cả hai chúng tôi đều phá ra cười. Trong khi cô ấy vừa khóc vừa cười, tôi lấy cái khăn tay lau mặt cho cô ấy. tôi cảm thấy quá xúc động khi thấy lại Bí Ngô trước đây, Bí Ngô đã từng là bạn của tôi nên mắt tôi cũng bắt đầu rướm lệ và bỗng hai chúng tôi ôm ghì lấy nhau.
- Ôi Bí Ngô, mặt hóa trang của bạn bị nhòe hết rồi! – sau cùng tôi lên tiếng.
- Không sao, mình sẽ nói với Hatsumono rằng có thằng say gặp mình giữa đường, hắn lấy khăn lau lên mặt mình mà mình không làm gì được vì hai tay phải bưng hai tô mì.
Tôi tưởng cô ta sẽ không nói gì nữa nhưng rồi cô ta cất tiếng thở dài và nói tiếp:
- Chiyo, mình muốn giúp bạn, nhưng mình đi ra ngoài lâu quá rồi. Nếu mình không về ngay, thế nào Hatsumono cũng đi tìm. Khi ấy cô ta sẽ thấy hai đứa mình.
- Mình chỉ hỏi bạn vài câu thôi, Bí Ngô à. Bạn chỉ nói cho mình biết làm sao Hatsumono biết được mình đang mua vui cho ông bác sĩ ở phòng trà Shirae.
- Ồ dễ thôi – Bí Ngô đáp – cô ấy đã nói khích bạn về chuyện ông Đại sứ Đức cách đây mây ngày, nhưng bạn không tỏ vẻ gì quan tâm đến chuyện ấy, trông bạn có vẻ bình tĩng nên cô ta nghĩ bạn và Mameha đang có kế hoạch gì đấy. Cho nên cô ta đến gặp ông Awajiuma ở phòng đăng ký, hỏi ông ta bạn ghi hóa đơn tính tiền ở phòng trà nào. Khi cô ta nghe trong số các phòng trà bạn lui tới, có hóa đơn phòng trà Shirae, cô ta nghi liền. Thế là chúng tôi đến gặp tìm ông bác sĩ ngay đêm ấy. Chúng tôi đến hai lần mới gặp ông ta.
Ít có nhân vật quan trọng nào bảo trợ cho phòng trà Shirae. Cho nên Hatsumono nghĩ ngay đến bác sĩ Cua. Sau này tôi mới biết ông ta nổi tiếng là người “chuyên mua trinh con gái”. Ngay khi Hatsumono nghĩ đến ông ta, có lẽ cô ta biết được kế họach của Mameha ra sao.
- Tối nay cô ta đã nói gì với ông ấy? khi chúng tôi ghé đến gặp ông ta, vừa lúc bạn và cô ta ra về, ông ta không muốn nói chuyện với chúng tôi.
- Hai người nói chuyện gẫu một lát, rồi Hatsumono giả vờ sực nhớ một chuyện gì đấy. Thế là cô ta kể ra “có một geisha tập sự ở cùng nhà với tôi tên là Sayuri..”, khi ông bác sĩ nghe đến tên bạn, bạn biết không, ông ta ngồi sững như bị ong đốt. Rồi ông ta hỏi “cô biết cô ấy à?’ Thế là Hatsumono đáp liền “biết chứ , dĩ nhiên là tôi biết chứ, thưa bác sĩ. Cô ta ở cùng nhà kỹ nữ với tôi mà” Sau đó cô ta nói cái gì đấy mà mình không nhớ hết, nhưng chỉ nhớ vài câu như thế này “tôi không nên nói về Sayuri, thú thực với ông, tôi phải giữ kín chuyện bí mật cho cô ta.”
Tôi lạnh người khi nghe như thế. Tôi biết Hatsumono có tài bịa đặt nhiều chuyện rất độc ác.
- Bí Ngô, chuyện bí mật gì thế?
- Ồ, mình không biết chuyện này, mà hình như cũng không có. Hatsumono nói với ông ta rằng có một thanh niên ở gần nhà chúng ta, là bạn trai của bạn mà Mẹ rất nghiêm khắc về việc này. Hatsumono nói bạn và chàng trai này thương nhau, và cô ta cương quyết bao che cho bạn vì Mẹ quá nghêm khắc. Cô ta còn nói cô ta để cho hai người vào tình tứ với nhau ngay trong phòng cô ta mỗi khi Mẹ đi khỏi. Rồi cô ta nói như thế này “Ồ, mà thưa bác sĩ, đáng ra tôi không nên nói chuyện này ra với ông!” Nhưng ông ta đã trả lời rằng ông ta cám ơn Hatsumono về chuyện cô ta vừa nói, và ông hứa sẽ giữ kín, chỉ mình ông ta biết mà thôi.
Khi ấy tôi đã hình dung ra sự sung sướng của Hatsumono sau khi đã thực hiện xong mưu mô của mình. Tôi hỏi Bí Ngô còn có chuyện gì nữa không, nhưng cô ta bảo là không.
Tôi cám ơn cô ta nhiều lần vì đã giúp đỡ tôi, và tôi nói rất buồn khi thấy trong mấy năm vừa qua, cô ta như là kẻ nô lệ cho Hatsumono.
- Mình thấy có vài dấu hiệu đáng mừng cho mình – Bí Ngô trả lời – mới cách đây mấy hôm, Mẹ có ý định nhận mình làm con. Cho nên giấc mơ có nơi để sống đến hết đời của mình có thể thành hiện thực.
Tôi cảm thấy đau đớn khi nghe cô ta nói như thế, mặc dù tôi nói tôi rất mừng cho cô ta. Quả tôi mừng cho Bí Ngô thôi, nhưng tôi nghĩ kế hoạch của Mameha có tầm rất quan trọng là để cho Mẹ nhận tôi làm con.
Ngày hôm sau khi đến nhà Mameha, tôi kể cho cô ta nghe chuyện tôi đã biết, khi nghe chuyện về anh chàng bạn trai, cô ta lắc đầu ghê tởm. Tôi biết cô ta nghĩ cái gì rồi, nhưng cô ấy vẫn nói cho tôi nghe rằng Hatsumono đã khôn ngoan làm cho bác sĩ Cua tin rằng “cái hang” của tôi đã có “con lươn” của người khác khám phá rồi.
Mameha còn chán nản khi nghe Bí Ngô sắp được nhận làm con. Cô ấy nói:
- Nhưng còn mấy tháng nữa mới đến ngày nhận làm con xảy ra. Nghĩa là ta phải tính đến chuyện mizuage của cô, Sayuri à, dù cô có chuẩn bị sẵn sàng hay chưa.
Ngay trong tuần ấy, Mameha đến tiệm bánh kẹo đặt làm cho tôi một cái bánh ngọt bằng bột gạo có tên là ekubo, nghĩa là núm đồng tiền. Nhúng tôi gọi là ekubo là vì trên đầu bánh có cái núm đồng tiền và ở giữa có cái vòng tròn màu đỏ nho nhỏ, có người cho rằng hình này trông thật khêu gợi. Tôi thường nghĩ bánh này trông giống như những chiếc gối nhỏ, có lõm xuống một tí, như thể người phụ nữ vừa kê mặt lên đó mà ngủ đã để dính một tí son môi vào gối, vì trước khi đi ngủ, cô ta mệt quá mà không lau mặt được. Nhưng dù sao thì khi người geisha tập sự đến tuổi mizuage, họ đều phải tặng quà bằng bánh ekubo này cho những người đàn ông bảo trợ cho họ. Hầu hết các cô tập sự đều tặng bánh cho ít ra cũng đến hàng chục ông, có lẽ còn nhiều hơn nữa, nhưng với tôi, có lẽ tặng cho ông Nobu và ông bác sĩ Cua là đủ - nếu chúng tôi may mắn. Tôi cảm thấy buồn vì không gởi cho ông Chủ tịch, nhưng nếu gởi cho ông ta, tôi thấy việc này đáng tởm quá, cho nên tôi không buồn lắm khi gạt tên ông ra ngoài danh sách.
Tặng bánh ekubo cho Nobu dễ dàng. Bà chủ phòng trà Ichiriki thu xếp cho ông ta đến vào ban đêm, rồi Mameha và tôi gặp ông trong một căn phòng nhỏ nhìn ra sân trước. Tôi cảm ơn ông ta vì đã lưu tâm nhiều đến tôi, không những thường gọi tôi đến giúp vui ở các buổi tiệc ngay cả khi không có ông Chủ tịch, mà còn cho tôi rất nhiều quà ngoài cái lược cài tóc vào đêm có Hatsumono đến. Sau khi cám ơn ông ta, tôi lấy cái hộp bánh ekubo lên, hộp được gói trong giấy dày màu xám và buộc dây bện. Tôi cúi chào ông và đẩy cái hộp qua bàn cho ông. Ông nhận món quà, Mameha và tôi cám ơn ông ta nhiều lần về lòng tốt của ông, cúi chào nhiều lần cho đến khi tôi choáng váng. Nghi thức gọn nhẹ và Nobu cầm món quà trên một tay, đi ra khỏi phòng. Sau đó khi tôi hầu vui ở buổi tiệc của ông, ông không đá động gì đến chuyện này. Tôi nghĩ chắc chuyện này đã làm cho ông ta bất ổn trong lòng.
Còn bác sĩ Cua thì nhiều khó khăn hơn. Mameha phải đến khắp các phòng trà ở Gion để nhờ các bà chủ ở đấy, khi nào thấy ông ta xuất hiện thì báo cho cô ấy biết. có thể đợi mấy đêm mớii có tin nhắn cho biết ông ta đang có mặt ở phòng trà Yshino, đóng vai khách của một ông khác. Tôi chạy đến nhà của Mameha để thay áo quần rồi đem hộp bánh đến phòng trà Yashiro, hộp ekubo được gói trong một tấm lụa vuông.
Phòng trà Yashino mới xây cất rất đẹp, hoàn toàn theo kiểu phương Tây. Phòng ốc mới tân kỳ, xà gỗ màu đen sẫm và các thứ khác đều đẹp đẽ, nhưng thay vì trải chiếu rơm quanh bàn lót nệm, thì cái phòng tôi được đưa vào tối đó có nền nhà lát gỗ cứng, trải thảm Ba tư màu đen, bàn xa lông với vài cái ghế bọc nệm. Tôi nghĩ là ngồi trên ghế chắc không hợp cho tôi, cho nên tôi quỳ trên thảm để đợi Mameha, mặc dù nền nhà dưới đầu gối tôi cứng như đá. Tôi quỳ như thế suốt nửa giờ mới thấy cô ấy quay trở lại.
- Cô làm cái gì thế? – cô ấy nói với tôi – phòng này không phải phòng kiểu Nhật, cứ ngồi trên ghế tự nhiên đi.
Tôi làm theo lời của Mameha, nhưng khi cô ấy ngồi xuống trước mặt tôi, trông cô ấy có vẻ bất an như tôi.
Tôi nghe cô ấy cho biết ông bác sĩ đang dự tiệc ở phòng bên cạnh. Mameha phục vụ mua vui cho ông ta một lát rồi. Cô ấy nói với tôi:
- Tôi đã rót cho ông ta uống nhiều bia, thế nào ông ta cũng phải đi vệ sinh. Khi nào ông ta đi, tôi sẽ chặn ông ta ở ngoài hành lang và mời ông ta lại đây. Cô phải trao bánh ekubo cho ông ta ngay. Tôi không biết ông ta sẽ phản ứng ra sao, nhưng chúng ta chỉ còn hy vọng có cơ may để phá hỏng kế hoạch gian ác của Hatsumono mà thôi.
Mameha đi ra, tôi ngồi trên ghế đợi một hồi lâu. Tôi thấy nóng và căng thẳng. Tôi sợ lớp hóa trang của tôi sẽ thành một đống hổ lốn nhem nhuốc và nhàu nhò như cái nệm sau một đêm ngủ dậy. Tôi tìm trong phòng xem có cái gì để giải trí không, nhưng thứ tốt nhất trong phòng xem ra có thể để giải trí là đến soi mặt vào trong tấm gương nhỏ treo trên tường.
Sau cùng tôi nghe có tiếng người, rồi có tiếng gõ cửa và Mameha mở cửa ra:
- Một lát thôi, thưa bác sĩ, xin bác sĩ vui lòng – cô ấy nói.
Tôi thấy bác sĩ Cua đứng trong hành lang lờ mờ tối, vẻ mặt nghiêm trọng như các bức tranh cổ người ta thường thấy trong các hành lang ở các ngân hàng. Ông ta nhìn tôi qua cặp kính đeo mắt. Tôi không biết phải làm gì, mọi khi tôi cúi người trên chiếu để chào, cho nên tôi quỳ xuống thảm để chào như trước, mặc dù tôi tin chắc Mameha sẽ không hài lòng việc tôi làm. Tôi không biết ông bác sĩ có nhìn tôi không, nhưng tôi nghe ông ta nói:
- Tôi muốn về lại buổi tiệc, xin cô tha lỗi cho tôi.
- Sayuri có mang đến cho ông một món quà – Mameha nói với ông – xin ông vui lòng đợi cho một lát thôi.
Cô ấy mời ông ta vào phòng và mời ngồi vào trong chiếc ghế bành êm ái. Mời xong, tôi thấy cô ấy quên phứt chuyện cô ấy nói với tôi hồi nãy, vì hai chúng tôi đều qùy trên thảm, mỗi người một bên đầu gối ông bác sĩ Cua. Tôi nghĩ ông bác sĩ hẳn hãnh diện lắm vì có hai người đàn bà ăn mặc đẹp đẽ đang qùy bên chân ông ta như thế.
- Em rất buồn không gặp được ông nhiều ngày rồi – tôi nói – mà thời tiết thì đã ấm áp. Em thấy mùa lạnh sắp hết đến nơi rồi đó.
Ông bác sĩ không đáp nhưng đã nhìn lại tôi.
- Xin bác sĩ vui lòng nhận bán ekubo của em – tôi nói và sau khi cúi chào, tôi để hộp bánh trên bàn gần tay của ông ta,. Ông thụt tay vào lòng như muốn nói rằng ông ta không muốn nhận.
- Tại sao cô biếu tôi đồ này?
Mameha nói chen vào:
- Tôi xin lỗi, thưa bác sĩ. Tôi thuyết phục cho Sayuri tin rằng ông sẽ vui lòng nhận bán ekubo của cô ta. Hy vọng tôi không lầm chứ?
- Cô lầm rồi. Có lẽ cô không biết hết cô gái này như cô tưởng đâu. Cô Mameha, tôi đánh giá cô cao, nhưng cô đã sai lầm khi giới thiệu cô gái này cho tôi.
- Xin lỗi bác sĩ, tôi không hiểu tại sao ông nói thế. Tôi hoàn toàn có linh cảm là ông rất thích Sayuri.
- Đúng là rất thích. Nhưng bây giờ thì mọi việc rõ ràng rồi, tôi phải về dự tiệc lại thôi.
- Nhưng xin phép ông được không? Có thể Sayuri đã xúc phạm đến ông chăng? Mọi việc thay đổi một cách quá bất ngờ.
- Cô ta đã xúc phạm đến tôi, như tôi đã nói rồi, tôi bị xúc phạm vì người ta đã lừa dối tôi.
- Cô Sayuri, thật xấu hổ là cô đã lừa dối bác sĩ- Mameha nói với tôi – cô đã nói với bác sĩ điều gì không đúng sự thật rồi. chuyện gì thế?
- Em không biết – tôi trả lời ra vẻ thơ ngây – trừ phi cách đây mấy tuần em có nói là trời đang bắt đầu ấm áp mà không đúng…
Mameha nhìn tôi như thể cô ấy không thích câu nói của tôi.
- Đây là chuyện liên quan giữa hai người với nhau – ông bác sĩ lên tiếng – không dính dáng gì đến tôi, xin tha lỗi cho tôi.
- Nhưng thưa bác sĩ – Mameha nói – trước khi ông đi, xin phép ông cho biết, có thể có sự hiểu lầm gì ở đây? Sayuri là cô gái chân thật, mọi người đều biết không bao giờ cô ấy lừa dối ai hết. Nhất là người đã đối xử tử tế với cô ấy.
- Tôi yêu cầu cô hỏi cô ấy về anh chàng hàng xóm của cô ấy thì biết – ông bác sĩ nói.
Tôi rất nhẹ người khi thấy cuối cùng ông ta đã nêu vấn đề chính ra. Ông ta là người kín đáo, nếu ông ta không chịu nói chuyện này ra, thì tôi cũng sẽ không ngạc nhiên.
- Thì ra chuyện rắc rối là thế - Mameha nói với ông ta – chắc ông đã có nói chuyện với Hatsumono rồi.
- Nói chuyện với cô ấy thì có sao đâu?
- Cô ấy phao tin này khắp cả Gion. Tin này hoàn toàn bịa đặt. Kể từ khi Sayuri được giao cho một vai quan trọng trên sân khấu trong vũ khúc cố đô thì Hatsumono ra sức bêu riếu cô ta.
Vũ khúc cố đô là vở múa hàng năm trọng đại nhất ở Gion. Buổi múa sẽ tổ chức vào đầu tháng tư. Các vai múa đã được phân bố trước đây mấy tháng rồi, và tôi rất hân hạnh được chọn đóng một vai. Một cô giáo của tôi đã cho tôi biết rồi, nhưng theo chỗ tôi biết, thì vai của tôi chỉ ở trong chỗ ban nhạc, chứ không lên sân khấu. Mameha nói thế để nhấn mạnh đến ý đồ xấu của Hatsumono.
- Thưa bác sĩ, tôi không muốn nói đến chuyện này, nhưng quả thật Hatsumono là người nói láo nổi tiếng – Mameha nói tiếp – tin vào điều cô ta nói thật nguy hiểm.
- Nếu Hatsumono là người nói láo, thì đây là lần đầu tôi nghe nói như vậy.
- Không ai muốn nói cho ông biết chuyện như thế đâu – Mameha đáp, giọng nho nhỏ như thể cô ấy sợ có ai nghe – rất nhiều geisha không thành thật. Không ai muốn mình là người đầu tiên lên tiếng tố cáo cô ta là người nói láo cả. Nhưng hoặc là tôi đang nói láo với ông hoặc là Hatsumono đã nói láo khi cô ta kể câu chuyện ấy cho ông nghe. Thưa bác sĩ, đây là vấn đề của ông phải quyết định giữa hai chúng tôi ai là người ông biết rõ hơn, và trong hai chúng tôi ai là người được ông tin tưởng hơn.
- Tôi không hiểu tại sao Hatsumono lại bày trò nói xấu Sayuri chỉ vì cô ấy có vai trên sân khấu?
- Chắc ông đã gặp cô em út của Hatsumono rồi, cô Bí Ngô. Hatsumono hy vọng cô Bí Ngô sẽ có vai trong vở múa, nhưng kết quả lại là Sayuri. Còn tôi thì được giao cho vai mà Hatsumono mong muốn! Nhưng thưa bác sĩ, chuyện này không thành vấn đề. Nếu sự thành thật của Sayuri đáng nghi ngờ, tôi rất thông cảm chuyện ông không nhận bánh ekubo do cô ấy tặng cho ông.
Ông bác sĩ ngồi nhìn tôi một hồi lâu. Cuối cùng ông nói:
- Tôi sẽ cho một bác sĩ ở bệnh viện tôi đến khám cho cô ấy.
- Tôi hoàn tòan ủng hộ việc này – Mameha đáp – nhưng tôi rất khó thu xếp để làm việc này, vì ông chưa bằng lòng làm người bảo trợ mizuage cho cô ấy. Nếu ông còn nghi ngờ tính chân thật của cô ta..mà thôi, Sayuri sẽ gởi bánh ekubo cho nhiều người. Tôi tin chắc hầu hết đều không tin câu chuyện do Hatsumono dựng lên.
Câu nói hình như đã có tác dụng tốt như Mameha mong muốn. Bác sĩ Cua ngồi im lặng một lát. Cuối cùng ông ta nói:
- Tôi không biết phải tính sao đây. Đây là lần đầu tiên tôi lâm vào một hoàn cảnh đặc biệt như thế này.
- Thưa bác sĩ, xin ông vui lòng nhận bánh ekubo và quên chuyện điên khùng của Hatsumono đi.
- Tôi thường nghe có nhiều cô gian xảo thu xếp chuyện mizuage trúng vào thời gian có kinh, lúc ấy đàn ông dễ bị nhầm lẫn. Tôi là bác sĩ, chắc cô biết. Tôi sẽ không để cho cô qua mặt dễ dàng đâu!
- Nhưng không ai muốn qua mặt ông hết!
Ông ta ngồi một lát nữa rồi đứng dậy, hai vai co lại để đi, một khủy tay chìa tới trước, ông bước ra khỏi phòng. Tôi quá bận cúi chào tạm biệt đến nỗi tôi không biết ông ta có lấy hộp bánh hay không, nhưng may thay, sau khi ông ta và Mameha đi rồi, tôi nhìn vào bàn, thấy bánh không còn ở đấy nữa.
Khi Mameha nêu ra vai trò của tôi trên sân khấu, tôi cứ nghĩ cô ấy bày chuyện ra để giải thích lý do tại sao Hatsumono đặt điều nói láo về tôi. Cho nên chắc anh biết tôi quá đỗi ngạc nhiên khi vào ngày hôm sau tôi biết chuyện cô ấy nói là có thật. Hay nếu chuyện không đúng, thì chắc Mameha đã tin tưởng chuyện ấy sẽ thành hiện thực vào cuối tuần.
Thời ấy, vào giữa thập niên 30, ở Gion lúc đó có khoảng bảy hay tám trăm geisha, nhưng vì số geisha được chọn để đóng các vai trong vở Vũ khúc cố đô để diễn vào mùa xuân, có không quá 60 người, nên mọi người ganh đua nhau để có được một vai, khiến cho nhiều tình bạn bị sứt mẻ. Khi Mameha nói cô ấy chiếm vai của Hatsumono là cô nói không đúng, cô ấy là một trong vài geisha ít ỏi ở Gion được đảm bảo thủ vai một mình hàng năm. Nhưng chuyện Hatsumono rất muốn thấy Bí Ngô lên sân khấu là chuyện hòan toàn có thật. Tôi không biết cô ta căn cứ vào đâu mà nghĩ ra chuyện như thế có thể xảy ra được. Bí Ngô có thể có phần thưởng của geisha tập sự và ngoài ra còn nhận được nhiều vinh dự khác nữa, nhưng cô ta không có tài múa. Tuy nhiên mấy ngày trước ngày tôi tặng bánh ekubo cho ông bác sĩ, một cô tập sự 17 tuổi thủ vai diễn một mình đã bị trượt chân ở cầu thang té gãy chân. Cô gái tội nghiệp bị loại, và các cô tập sự khác ở Gion đều hy vọng được thay thế. Cuối cùng chính vai này được rơi vào tay tôi. Lúc ấy tôi mới 15 tuổi và trước đó chưa bao múa trên sân khấu, nói thế không có nghĩa là tôi không chuẩn bị để múa. Nhiều đêm tôi ở nhà và bà Dì thường đánh đàn Shamisen để tôi thực tập múa. Vì thế tôi đã được xếp thứ 11 vào năm 15 tuổi, mặc dù có lẽ tôi không có tài múa như các vũ công khác. Nếu Mameha không bảo tôi ở nhà vì sợ Hatsumono theo đuổi quấy phá mà được ra mắt công chúng nhiều, có lẽ tôi đã có vai trong các vở múa vào mùa xuân năm trước rồi.
Vai này giao cho tôi vào giữa tháng ba, cho nên tôi chỉ có chừng một tháng để diễn tập. May thay, cô giáo của tôi rất tận tâm, thường làm việc riêng với tôi suốt các buổi chiều. bà Mẹ không biết chuyện gì xảy ra hết – có lẽ Hatsumono không nói cho bà biết – cho đến nhiều ngày sau đó, khi bà nghe người ta nói trong một buổi đánh mạt chược. Bà quay về nhà, hỏi có phải tôi được giao cho vai ấy không. Sau khi nghe tôi trả lời, bà ta đã quay đi với ánh mắt kinh ngạc như bà đã bắt gặp con chó Taku ghi thêm nhiều cột nợ trong sổ kế toán của bà.
Dĩ nhiên Hatsumono rất tức giận, nhưng Mameha không quan tâm đến việc này. Thời gian để chúng tôi hất cẳng Hatsumono ra khỏi sợi dây trên võ đài đã đến, như cô ấy đã định.

Đã hiệu đính
0
Hi.
Chi đăng ký sửa lỗi trong bản text được k? Chi cũng có cuốn sách này. Có thể đem ra so sánh được.
Thuỳ Chi
0

Trích đoạn: thuychi
Hi.
Chi đăng ký sửa lỗi trong bản text được k? Chi cũng có cuốn sách này. Có thể đem ra so sánh được.


Mình rất vui và cám ơn nếu Thuỳ Chi đồng ý góp sức sửa bản text. Sau khi hiệu đính, Chi có thể mở 1 topic "hiệu đính truyện Đời Kỹ Nữ" ngay trong box này hoặc trong box hiệu đính.
Thân mến.
***
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 03:33:47Chuột lắc>
ok. Nhưng mà Chi k biết lập box mới. Hướng dẫn nha. Mấy hôm tối rảnh sẽ ngồi sửa bắt đầu từ chương 1.
Hay Chuot Lac lap luon di. Chi cu the add bai vao thoi.
Chuc ky nghi cuoi tuan vui ve.

Sao hôm nay gõ không dấu vậy Chi? hic[:(]
Để tránh làm phiền bạn tumbleweed, CL đã PM cho Chi đó, Chi nhớ đọc nha
Thuỳ Chi
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-22 09:03:35Chuột lắc>
CHƯƠNG 21

Khoảng một tuần sau vào buổi xế chiều, trong giờ giải lao của buổi diễn tập, Mameha đến tìm tôi, trông cô ấy nôn nóng muốn nói về chuyện gì đấy. Tôi biết vào ngày hôm trước, ông Nam tước bất thần nó cho cô ấy biết ông muốn tổ chức một buổi tiệc vào cuối tuần sắp đến để chiêu đãi một ông thợ may áo kimono nào đấy tên là Arashino. Ông Nam tước có rất nhiều áo kimono đẹp nổi tiếng khắp nước! Hầu hết số áo của ông đều xưa, nhưng thỉnh thoảng ông mua một cái rất đẹp do một họa sĩ trang trí. Quyết định mua cái áo của Arashino khiến cho ông có ý định mở buổi tiệc chiêu đãi.
- Chắc tôi biết cái người tên Arashino này - Mameha nói với tôi – nhưng khi nghe ông Nam tước nói, tôi không nhớ ra cụ thể. Ông ta là một trong số bạn thân nhất của Nobu. Cô không thấy đây là một dịp tốt hay sao? Tôi sẽ thuyết phục Nam tước mời cả Nobu và ông bác sĩ đến dự buổi tiệc nhỏ này. Hai người chắc chắn không ưa nhau. Khi việc hô giá về chuyện mizuage của cô bắt đầu, cô sẽ thấy họ không ngồi yên đâu, vì người này sợ người kia ra giá cao hơn.
Tôi cảm thấy mệt nhưng vì Mameha mà tôi làm ra vẻ phấn khởi và cám ơn cô ấy hết lời, vì cô ấy đã nghĩ ra được kế hoạch hay ho như vậy. Và tôi nghĩ đây là kế hoạch hay ho thật, nhưng điều hay ho rõ ràng nhất là cô ấy tin chắc cô không gặp khó khăn gì trong việc thuyết phục ông Nam tước mờI hai người đàn ông này đến dự tiệc. Rõ ràng hai người này sẽ bằng lòng đến - trường hợp của ông Nobu vì ông Nam tước là nhà đầu tư ở công ty đồ điện Iwamura, còn trường hợp của ông bác sĩ Cua thì vì…ờ phải, vì ông bác sĩ tự xem mình là người thuộc giai cấp quý tộc, mặc dù ông có một vị tổ tiên không chắc có dòng máu quý tộc, và chắc ông ta xem việc này là bổn phận của một người quý tộc đến dự tiệc do ông Nam tước mời. Còn chuyện ông Nam tước có muốn mờI họ hay không thì tôi không biết. Ông ta không ưa ông Nobu, rất ít người ưa ông ta. Còn phần ông bác sĩ Cua, ông Nam tước chưa bao giờ gặp ông ta lần nào, và xem như ông mời một người xa lạ.
Nhưng Mameha rất có tài thuyết phục, tôi biết rất rõ. Buổi tiệc đã được thu xếp, cô ấy tin cô giáo dạy múa của tôi sẽ cho tôi nghỉ diễn tập vào ngày thứ bảy sắp tới để tôi có thể đến dự. Buổi tiệc bắt đầu vào buổi chiều và kéo dài qua buổI ăn tối – nhưng tôi và Mameha đến lúc buổi tiệc đang diễn tiến. Cho nên chúng tôi đã lên xe kéo lúc ba giờ để đến dinh cơ của ông Nam tước tọa lạc dưới chân đồi nằm phía Đông Bắc của thành phố. Đây là lần đầu tiên tôi đến một chỗ sang trọng như thế này, và tôi đã hoàn toàn choáng ngợp trước những gì tôi thấy, vì bất cứ cái gì ở đây cũng gợi lên cho nhà nghệ sĩ những chi tiết để họ sáng tạo ra áo kimono. Ngôi nhà chính xây theo kiểu thời ông nội của ông ta, nhưng các khu vườn, những khu vườn làm cho tôi sửng sốt vì trông giống các bức thảm thêu khổng lồ, được bố ông ta tạo mẫu thiết kế xây dựng. Ngôi nhà và các khu vườn không ăn khớp vườn nhau cho đến khi người anh cả của ông Nam tước đã di chuyển vị trí cái hồ đi - trước khi ông ta bị ám sát một năm - lại còn thiết lập một vườn hoa có đường đi lát đá chạy từ lầu vọng nguyệt nằm ở một bên nhà. Những con thiên nga đen lướt trên mặt hồ với vẻ hiếu kỳ, làm cho tôi cảm thấy xấu hổ vì đã sinh ra làm phận con người vụng về xấu xí như thế này.
Chúng tôi phải chuẩn bị buổi uống trà theo nghi thức cổ truyền để các ông đến dự khi họ đã chuẩn bị sẵn sàng, cho nên tôi rất bàng hoàng kinh ngạc khi chúng tôi đi qua cổng chính rồi đến nơi uống trà, nhưng không phải là phòng trà bình thường. Mà đi thẳng đến bờ hồ để lên một chiếc thuyền nhỏ. Thuyền rộng bằng một cái phòng nhỏ. Chỗ ngồi hầu hết bằng gỗ sắp dọc hai bên mạn thuyền, nhưng ở một đầu thuyền nhô lên một cái lều nhỏ có mái riêng che một cái bệ trảI chiếu rơm. Vách lều làm bằng màn giấy có thể đẩy mở ra cho thoáng khí, và ngay giữa lều có một cái hộc gỗ hình vuông đổ đầy cát, cái hộc này xem như cái lò than để Mameha đốt than nấu nước trong một cái ấm trà bằng sắt rất đẹp. Trong khi cô ấy làm việc này, tôi cũng tỏ ra mình là người hữu dụng bằng cách sắp xếp các dụng cụ dùng cho nghi lễ. Tôi đang cảm thấy lo lo trong lòng, bỗng Mameha quay qua phía tôi sau khi đã bắc ấm nước lên lò lửa và nói:
- Sayuri, cô là người thông minh. Tôi không cần nói đến tương lai của cô ra sao nếu ông bác sĩ Cua hay ông Nobu không quan tâm đến cô. Cô không được để cho người này nghĩ là cô để ý đến người kia. Nhưng dĩ nhiên ghen tuông là sự thường tình. Tôi tin chắc cô xoay sở được việc này.
Tôi không biết sao, nhưng tôi hiểu là tôi phải cố gắng. Nửa giờ sau, ông Nam tước và khoảng 10 người khác đi ra khỏi nhà, chốc chốc dừng lại để ngắm cảnh sườn đồi từ nhiều góc cạnh khác nhau. Khi họ lên thuyền, ông Nam tước dùng sào đưa thuyền ra giữa hồ. Mameha pha trà, còn tôi đem tách ra để trước mặt các quan khách.
Sau đó, chúng tôi đi qua vườn với các ông, rồi lát sau đến một cái bệ gỗ treo lơ lửng trên mặt nước, ở trên bệ, các cô hầu mặc kimono giống nhau sắp nệm cho các ông ngồi, và để những chai rượu sake đã hâm ấm trên khay. Tôi tìm chỗ quỳ bên cạnh bác sĩ Cua, và đang loay hoay tìm câu chuyện gì để nói với ông ta, thì ông bác sĩ quay qua nhìn tôi và hỏi:
- Vết rách trên đùi của cô lành có đẹp không?
Anh biết, khi ấy là tháng ba, mà lúc tôi bị cắt chân là vào tháng 11 năm trước. Thời gian đã qua nhiều tháng rồi, tôi đã gặp bác sĩ Cua không biết bao nhiêu lần rồi, cho nên tôi không biết tại sao ông ta đợi đến lúc ấy mới hỏi tôi về vết cắt, và hỏi trước mặt nhiều người. May thay, tôi nghĩ là không ai nghe hết, cho nên tôi trả lời nho nhỏ với ông ta:
- Cám ơn bác sĩ rất nhiều. Nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ mà nó lành rất tốt.
- Tôi hy vọng vết thương không để sẹo nhiều lắm - ông ta nói.
- Ồ không, chỉ một đường nho nhỏ thôi.
Tôi có thể chấm dứt câu chuyện ngang đó bằng cách rót thêm rượu cho ông ta, hay là thay đổi đề tài, nhưng tôi chợt trông thấy ông ta lấy tay thoa lên ngón tay cái của bàn tay kia. Ông bác sĩ là loại người không bao giờ làm việc gì mà không có mục đích. Nếu ông thoa vào ngón tay cái theo kiểu ấy trong khi nghĩ đến cái chân của tôi …phải rồi, tôi thấy nếu tôi thay đổi đề tài thì quả là điên.
- Cái sẹo không lớn - tôi nói tiếp - thỉnh thoảng khi em ở trong phòng tắm, em chà ngón tay lên cái sẹo và… nó chỉ là một đường gồ lên nho nhỏ. Quãng như thế này.
Tôi lấy ngón tay trỏ chà lên khớp đốt ngón tay ở bàn tay kia rồI đưa khớp ra cho ông bác sĩ để ông ta làm như thế. Ông ta đưa tay lên, nhưng rồi ông ngần ngừ. Tôi thấy mắt ông nhìn vào mắt tôi. Bỗng ông rút tay về và chà lên khớp ngón tay của ông thôi.
- Một vết cắt như thế sẽ lành trơn tru thôi - ông ta nói.
- Có lẽ nó không lớn như em nói đâu. Chân em rất …ờ, nhạy cảm. Chỉ một giọt nước giọt vào cũng đủ làm cho em giật mình.
Tôi nói chân tôi nhạy cảm là không nói ngoa. Một đường gồ nho nhỏ không làm cho chân tôi mất nhạy cảm, nhưng lần tôi cảm thấy nước gịot lên cái chân trần của tôi là khi nào? Nhưng thế là tôi đã hiểu lý do tại sao ông bác sĩ Cua quan tâm đến tôi, tôi thấy tôi vừa ghê tởm lạI vừa say sưa thích thú khi nghĩ đến những gì đang diễn ra trong óc ông ta. Bỗng ông bác sĩ đằng hắng giọng và nghiêng qua gần tôi, ông hỏI;
- Và…có phải cô có thực tập?
- Thực tập à?
- Cô bị vết thương trong khi cô mất thăng bằng trong khi cô…ờ, chắc cô biết tôi muốn nói gì rồi. Cô không muốn việc như thế xảy ra lại, Cho nên tôi nghĩ là cô đang thực tập. Nhưng tại sao người ta lại thực tập một việc như thế?
Nói xong, ông ta tựa người ra sau và nhắm mắt lại. Tôi thấy rõ ràng ông ta đợI nghe tôi trả lời nhiều chứ không phải chỉ nói một hai tiếng.
- Phải, chắc chắn ông cho em là đồ ngu ngốc, nhưng mỗI đêm - tôi nói, rồi dừng lại một lát như con chim con chờ mỏ chim mẹ mớm mồi - mỗi đêm - tôi nói tiếp - trước khi vào phòng tắm, em thực tập giữ thăng bằng với nhiều tư thế. Thỉnh thoảng em run vì lạnh, hơi lạnh phả lên da thịt để trần của em, nhưng em trải qua được như thế năm hay mười phút.
Ông bác sĩ đằng hắng giọng, tôi thấy như thế là co dấu hiệu tốt.
- Trước hết em giữ thăng bằng trên một chân rồi đổi qua chân kia, nhưng chuyện rắc rối là…
Mãi cho đến bấy giờ, ông Nam tước ngồi phía bên kia bệ trước mặt tôi, bận nói chuyện với những người khách khác, nhưng khi ấy ông thôi nói với họ. Những lời tôi nói tiếp theo rõ ràng như thể tôi đứng trên bục mà nói ra:
- Khi em không có áo quần trên người…
Tôi đập tay lên miệng nhưng trước khi tôi có thể suy nghĩ được điều gì để làm tiếp thì ông Nam tước đã nói:
- Trời đất! Hai người nói chuyện gì với nhau thế. Nghe ra có vẻ hấp dẫn hơn chuyện của chúng tôi nhiều.
Những người đàn ông cười lớn khi nghe thế. Sau đó, ông bác sĩ tỏ ra tốt bụng đã lên tiếng giải thích:
- Vào cuối năm ngoái, cô Sayuri đã đến nhờ tôi chữa một vết thương ở chân. Cô ấy bị thương vì té. Do đó tôi khuyên cô ấy nên tập giữ thăng bằng cho tốt.
- Cô ấy tập giữ thăng bằng nhiều lắm – Mameha nói – Áo quần cồng kềnh nên khó di chuyển lắm.
- Vậy thì ta cởi hết chúng ra! - một ông nói, nhưng đấy chỉ là một câu nói đùa, nên mọI ngườI cườI vang.
- Đúng, tôi đồng ý – ông Nam tước nói – Tôi không hiểu tại sao đàn bà cứ bận tâm đến việc mặc kimono như thế. NgườI đàn bà khi không mặc áo quần là tuyệt vờI nhất.
- Nếu mặc kimono của ông bạn thân Arashino của tôi may, thì điều ông vừa nói không đúng – Nobu lên tiếng.
- Ngay cả áo của Arashino may rất đẹp đi nữa cũng không bằng – ông Nam tước nói, và cố để ngay ngắn cốc sake xuống bệ, nhưng rượu vẫn bắn ra ngòai. Ông ta không say, nhưng ông đã uống quá chén hơn mọI khi nhiều - Đừng hiểu sai ý của tôi – ông ta nói tiếp – tôi xác nhận áo của Arashino may là tuyệt vời. Nếu không thì chắc ông ấy đã không ngồi bên tôi như thế này, phải không? Nhưng nếu ông hỏi tôi là tôi thích nhìn phụ nữ mặc kimono hay thích nhìn phụ nữ ở truồng thì…ôi!
- Không ai hỏI ông đâu – Nobu đáp – tôi muốn nghe ông Arashino trong thời gian gần đây đã may được bao nhiêu áo đẹp mà thôi.
Nhưng ông Arashino không có cơ hội để trả lời, vì ông Nam tước vừa nốc hết rượu trong tách, vội vã lên tiếng xen vào khiến cho ông ta gần như bị sặc.
- Chà…chà…này nhé - ông ta nói - bộ không phải tất cả đàn ông trên trái đất này đều thích nhìn đàn bà lõa thể hay sao? Ông Nobu này, tôi muốn hỏi ông, bộ cơ thể đàn bà lõa lồ không làm cho ông chú ý à?
- Tôi không muốn nói thế - ông Nobu đáp - Điều tôi muốn nói là theo tôi thì đã đến lúc chúng ta nghe Arashino nói về sự nghiệp sáng tác của ông ta lâu nay ra sao.
- Ồ đúng, chính tôi cũng muốn thế - ông Nam tước đáp – nhưng xin ông biết cho điều này, tất cả đàn ông chúng ta đều chẳng khác gì nhau, tất cả chúng ta đều có ham muốn như nhau. Ông đừng giả vờ làm ra vẻ ta đây hơn người. Ông Nobu à. Chúng ta đều biết sự thật hết, phảI không? Không có người đàn ông nào ngồi ở đây mà lại không muốn trả một số tiền lớn để nhìn Sayuri tắm trong bồn, phải không? Tôi xác nhận chính tôi cũng ao ước như thế. Này ông ơi, đừng giả vờ làm ra bộ ta đây không muốn như thế.
- Sayuri chỉ là một cô tập sự tội nghiệp – Mameha lên tiếng – có lẽ chúng ta nên tha cho cô ấy khỏi nghe chuyện này.
- Không được! – ông Nam tước đáp - cô ấy thấy rõ thực chất cuộc đời sớm chừng nào thì tốt chừng ấy. Nhiều người cứ làm ra vẻ ta đây không chạy theo đàn bà để có cơ hội chui vào dưới áo họ, nhưng cô hãy nghe tôi nói đây, Sayuri: ở đời chỉ có một loại đàn ông mà thôi! Và trong lúc chúng ta đang bàn về vấn đề này, thì đây là điều cô nên ghi nhớ trong óc: bất kỳ người đàn ông nào đang ngồi ở đây đều cũng rất muốn nhìn cô ở truồng. Cô nghĩ sao về chuyện này?
Tôi ngồi để hai tay trên lòng, mặt nhìn xuống và cố làm ra vẻ e thẹn. Đằng nào tôi cũng phải trả lờI câu hỏi của ông Nam tước, nhất là khi mọi người đều im lặng để chờ đợi, nhưng trong lúc tôi đang tìm ý để nói thì bỗng ông Nobu có một hành động rất tốt. Ông để tách rượu sake xuống bục rồI đứng lên, xin lỗi mọi người để đi đến nhà vệ sinh.
- Xin lỗi ông Nam tước, tôi không biết đường đến nhà vệ sinh - ông ta nói. Dĩ nhiên đấy là dấu hiệu báo cho tôi biết để dẫn ông đi.
Tôi cũng không biết đường đi đến nhà vệ sinh như ông Nobu, nhưng tôi để mất cơ hội đi khỏi đám người đang chờ tôi nói. Khi tôi đứng lên, một cô hầu chỉ đường cho tôi, dẫn tôi đi vòng quanh hồ, có ông Nobu đi theo sau.
Vào trong nhà, chúng tôi đi theo hành lang dài bằng gỗ vàng có cửa sổ một bên. Phía bên kia, nhiều tủ kính lên tận nóc đựng các vật quý giá sáng long lanh dướI ánh mặt trời. Tôi định dẫn Nobu đi đến cuối hành lang, thì bỗng ông ta dừng lại trước một cái tủ đựng bộ sưu tập về gươm cổ. Ông ta có vẻ đang nhìn vào đồ trưng bày ở trong tủ, nhưng ông gõ mấy ngón tay lên mặt kính, mũi thở phì phò, vì ông đang còn tức giận. Tôi cũng cảm thấy bối rối trước những việc đã xảy ra, nhưng tôi rất cám ơn ông ta đã cứu tôi ra khỏi tình trạng ấy, tôi không biết làm sao để nói lên lòng biết ơn của mình. Đến tủ kế bên – trưng bày đủ thứ hình chạm trổ trên ngà voi – tôi hỏi có phải ông thích đồ cổ không.
- Cô muốn nói là đồ cổ như ông Nam tước à? Dĩ nhiên là không.
Ông Nam tước không phải là một ông già lụ khụ - ông ta còn trẻ hơn ông Nobu. Nhưng tôi hiểu ông ta muốn nói gì, ông ta cho ông Nam tước là di sản của thời đại phong kiến.
- Em xin lỗi, em muốn nói đến đồ cổ trong tủ này.
- Khi tôi nhìn vào các thanh gươm trong tủ kia, chúng làm cho tôi nghĩ đến ông Nam tước. Ông ta là người nâng đỡ công ty của chúng tôi, và tôi nợ ông ta rất nhiều. Nhưng không vì thế mà tôi phí thì giờ để nghĩ đến ông ta. Tôi trả lời như thế được chưa?
Tôi cúi người chào ông ta, ông ta bỏ đi theo hành lang về phía nhà vệ sinh, đi rất nhanh đến nỗi tôi không theo kịp để mở cửa cho ông ta.
Sau đó khi chúng tôi về lại bên bờ hồ, tôi vui mừng thấy bữa tiệc đã tan. Chỉ còn vài người đàn ông ở lại để dùng cơm tối. Mameha và tôi đưa những người khác ra tận cổng.Chúng tôi chào tạm biệt cho đến người cuối cùng và tôi quay lại đã thấy một gia nhân của ông Nam tước đứng chờ dẫn chúng tôi vào nhà.
Mameha và tôi ngồi cả một giờ sau đó trong khu của gia nhân, ăn bữa tối ngon lành gồm có món tai so usugiri - những lát cá vền biển cắt mỏng như giấy trải trên cái đĩa có hình ngọn lá và ăn với nước sốt ponzu. Nếu Mameha không có vẻ buồn rầu thì chắc tôi sẽ cảm thấy vui vẻ. Cô ấy chỉ ăn vài lát cá rồi đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Trông vẻ mặt của cô ấy, tôi nghĩ chắc cô ấy muốn trở ra ngoài hồ và ngồi ở đấy, có lẽ để cắn môi giận dữ nhìn bầu trời đang phủ màn đêm.
Chúng tôi ra nhập vào nhóm vớI ông Nam tước khi họ đã ăn được nửa chừng, trogn căn phòng mà ông Nam tước gọi là “phòng tiệc nhỏ” . Thực ra, phòng tiệc nhỏ có thể dùng thết đãi đến 20 hay 25 người, nhưng khi ấy buổi tiệc đã giảm bớt người, chỉ còn ông Arashino, ông Nobu và ông bác sĩ Cua. Khi chúng tôi đi vào, họ đang lặng lẽ ăn. Ông Nam tước đã say mèm, tròng mắt như muốn văng ra ngoài.
Ngay khi Mameha bắt đầu nói chuyện, bác sĩ Cua lấy khăn ăn lau bộ râu mép hai lần rồi xin lỗi đi vệ sinh. Tôi dẫn ông ta đi qua hành lang hồi nãy ông Nobu và tôi đã đi. Khi ấy trờI đã tối rồi, tôi không thấy rõ đồ vật gì hết, vì ánh sáng trên cao phản chiếu vào mặt kính trên cái tủ trưng bày. Nhưng bác sĩ Cua dừng lại ở tủ đựng các thanh gươm, ông ta nghiêng đầu cho đến khi trông thấy các đồ vật trong đó.
- Chắc cô biết rõ đường đi trong nhà ông Nam tước - ông ta nói.
- Ồ không, thưa ông, em hoàn toàn bị lạc trong ngôi nhà đồ sộ như thế này. Sở dĩ em biết đường là vì hồi nãy em đã dẫn ông Nobu đi trên hành lang này.
- Tôi chắc ông ta đã đi khắp nơi – ông bác sĩ nói - một người như Nobu không đủ trình độ để thưởng thức những thứ trong các tủ này.
Tôi không biết trả lời ra sao, nhưng ông bác sĩ nhìn tôi đăm đăm.
- Cô chưa tiếp xúc nhiều vớI mọi người - ông ta nói tiếp – nhưng đã đến lúc cô nên học cách đề phòng những người kiêu ngạo đã nhận lời mời của một người như ông Nam tước, rồi nói năng lôm côm với ông ta ngay trong nhà ông ta, như ông Nobu đã nói vào chiều hôm nay.
Tôi cúi người chào khi nghe ông ta nói thế, và khi thấy bác sĩ Cua không nói gì thêm nữa, tôi dẫn ông ta đến phòng vệ sinh.
Khi chúng tôi về lại phòng tiệc nhỏ, các ông đã nói chuyện rôm rả, nhờ vào tài của Mameha, cô ấy chỉ ngồi lặng lẽ phía sau để chuốc rượu thôi. Cô ấy thường nói vai trò của người geisha là chỉ khuấy tô canh cho đều. Nếu có khi nào anh thấy người ta dùng đũa để khuấy tô canh cho đều trước khi múc vào chén của mình, thì anh sẽ hiểu được ý cô ấy muốn nói gì.
Chẳng bao lâu sau câu chuyện quay qua đề tài áo kimono, và chúng tôi đi xuống phòng chứa áo của ông Nam tước ở dưới tầng hầm. Dọc theo tường phòng là những chiếc tủ gỗ khổng lồ treo đầy áo kimono. Ông Nam tước ngồI trên chiếc ghế dựa ở giữa phòng, chống hai khuỷu tay lên đầu gối - mắt vẫn kèm nhèm – và không nói một tiếng trong khi Mameha dẫn chúng tôi đi xem bộ sưu tập áo. Tất cả chúng tôi đều nhất trí chiếc áo đặc biệt nhất là chiếc áo có hình vẽ phỏng theo cảnh của thành phố Kobe, thành phố này nằm trên sườn đồi thoai thoải chạy ra tận biển. Bức hình bắt đầu ở hai vai áo với cảnh trời xanh mây trắng, ở hai đầu gối vẽ cảnh sườn đồi, dưới đó là cảnh biển màu xanh lục chảy thành một đường dài ra phía sau áo, trên mặt biển, lốm đốm những ngọn sóng vàng đẹp đẽ và những chiếc tàu li ti.
- Mameha này – ông Nam tước nói – tôi nghĩ chắc em phải mặc cái áo ấy để đến dự tiệc thưởng hoa của tôi tại Hakone vào tuần sau. Mặc áo ấy, em đẹp phải biết, đúng không?
- Em thật rất thích – Mameha đáp – nhưng như em đã nói hôm kia rồi, em sợ năm nay em không đi dự tiệc được.
Tôi thấy ông Nam tước có vẻ bất bình, vì cặp lông của ông ta sụp xuống như hai cánh cửa khép lại.
- Em nói thế nghĩa là sao? Ai đã ký hợp đồng với em khiến em không hủy hợp đồng được?
- Em rất thích đến đấy ghê lắm, ông Nam tước à. Nhưng năm nay thì không được. Em đã có hẹn bên y tế nên không đi dự tiệc được.
- Hẹn với bên y tế à? Như thế nghĩa là sao? Mấy ông bác sĩ có thể thay đổi thời gian kia mà. Ngày mai em hãy đổi lại buổi hẹn, và có mặt ở buổi tiệc của anh vào tuần sau như mọi khi em thường làm.
- Em xin lỗi – Mameha nói – em đã hẹn với bên y tế cách đây mấy tuần và có sự bằng lòng của Nam tước rồi, kế hoạch này không thể thay đổi được.
- Tôi không nhớ đã bằng lòng cho em hẹn với họ khi nào. Đâu phải là chuyện cần kíp như thể em cần phải phá thai, hay là việc gì như thế…
Mọi người im lặng và có lẽ bối rối một hồi thật lâu. Mameha chỉ sửa lại tay áo cho ngay ngắn trong khi tất cả chúng tôi đứng yên lặng, đến nỗi chúng tôi nghe được cả hơi thở khò khè của ông Arashino. Tôi nhận thấy ông Nobu có vẻ không chú ý gì hết, bỗng quay qua để xem phản ứng của ông Nam tước ra sao.
- Được rồi – cuối cùng Nam tước nói – chắc là tôi quên, bây giờ nghe em nhắc đến…dĩ nhiên chúng ta không thể để có những chú nhóc nam tước rơi rớt chạy rong ngoài đường, đúng không? Nhưng Mameha này, tôi không biết tại sao em không nhắc tôi chuyện này trong chốn riêng tư…
- Em xin lỗi, Nam tước.
- Nếu em không đến Hakone được thì thô! Nhưng còn quý vị đây thì sao? Buổi tiệc này tuyệt lắm, tổ chức tại nhà tôi ở Hakone vào cuối tuần sau. Quý vị phải đến mới được! Tôi tổ chức hàng năm vào mùa hoa anh đào nở!
Ông bác sĩ và ông Arashino không thể đến được. Nobu không trả lời, nhưng khi ông Nam tước thúc ông, ông ta đáp:
- Ông Nam tước này, thực tình ông không muốn tôi đến Hakone để xem hoa anh đào nở đâu.
- Ồ việc hoa nở chỉ là cái cớ để ta mở tiệc – ông Nam tước nói – nhưng cũng chẳng sao. Chúng tôi sẽ có ông Chủ tịch của ông rồi. Năm nào ông ấy cũng đến hết.
Tôi kinh ngạc thấy mình đỏ mặt khi nghe nhắc đến ông Chủ tịch, và suốt cả buổi chiều, nhiều lúc tôi đã nghĩ đến ông ta. Bỗng tôi cảm thấy như thể mọi người đã biết chuyện bí mật của tôi.
- Tôi thật bực mình khi các vị không ai đến với tôi, - ông Nam tước nói tiếp – chúng ta đã có một buổi tối tuyệt vời cho đến khi Mameha nói đến chuyện mà đáng ra cô ấy phải nói riêng. Này Mameha, tôi phải phạt em mới được. Năm nay thế là tôi không mời được em đến dự tiệc của tôi. Thế nhưng tôi muốn em cho Sayuri đến thay em.
Tôi nghĩ ông Nam tước nói đùa, nhưng thú thực, tôi nghĩ đến cảnh sung sướng khi được cùng ông Chủ tịch đi dạo quanh dinh cơ lộng lẫy của ông Nam tước mà không có ông Nobu, hay là bác sĩ Cua, hay thậm chí cả Mameha.
- Ý kiến thật tuyệt, thưa Nam tước – Mameha nói – nhưng buồn thay là Sayuri bận diễn tập rồi.
- Vô nghĩa – ông Nam tước đáp – Tôi hy vọng sẽ gặp cô ấy ở đấy. Tại sao em cứ khăng khăng không chịu nghe lời tôi yêu cầu em một việc nhỏ nhặt như thế?
Ông ta có vẻ giận dữ, và khốn thay, vì ông ta đang say, nước dãi chảy xuống ròng ròng hai bên khóe miệng. Ông ta lấy lưng bàn tay lau đi, nhưng chỉ làm cho nước dãi lấm lem vào những sợi lông đen dài trên bộ râu cằm.
- Em có quan tâm đến yêu cầu này của tôi không? – ông ta nói tiếp – Tôi muốn thấy Sayuri ở Hakone. Em chỉ việc trả lời “Dạ được thưa Nam tước” là xong.
- Dạ được, thưa Nam tước.
- Tốt – ông Nam tước nói. Ông ta dựa người ra sau ghế, lấy cái khăn trong túi ra lau mặt.
Tôi rất buồn cho Mameha. Nhưng nói sao cho hết nỗi lòng hân hoan sung sướng của tôi khi nghĩ đến ngày dự tiệc ở nhà ông Nam tước. Khi ngồi trên xe kéo trở về Gion, mỗi lần nghĩ đến chuyện ấy, tôi cảm thấy hai tai tôi đỏ rần. Tôi sợ Mameha để ý thấy, nhưng cô chỉ nhìn ra ngòai, cho đến khi về tới nơi mới quay qua nói với tôi:
- Sayuri, cô phải rất cẩn thận khi đến Hakone.
- Vâng thưa chị, em sẽ cẩn thận.
- Hãy nhớ rằng một cô tập sự sắp sửa bán mizuage, giống như bữa cơm đã dọn trên mâm. Nếu người ta nghe nói đã có kẻ khác ăn vụng một miếng thì chẳng có ai muốn ăn mâm cơm ấy đâu.
Sau khi nghe thế, tôi không dám nhìn vào mắt cô ấy. Tôi thừa biết cô ấy muốn nói đến ông Nam tước.

Đã hiệu đính
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 05:46:34Chuột lắc>
CHƯƠNG 22

Đến lúc ấy tôi chưa biết Hakone nằm ở đâu, nhưng sau đó, tôi tìm hiểu mới biết nó nằm phía Đông nước Nhật, khá xa Kyoto. Tôi cảm thấy mình quan trọng suốt cả tuần ấy, mỗi khi nhớ đến việc một nhân vật danh tiếng như ông Nam tước mời tôi đi từ Kyoto đến đấy để dự tiệc. Thực vậy, tôi đã cố sức giữ vẻ bình tĩnh để khỏi lộ ra sự kích thích khi ngồi vào chỗ ngồi trên toa tàu hạng nhì sang trọng với ông Itchoda, người thợ may của Mameha. Ông ta ngồi ở phía ngoài gần lối đi giữa, để khỏi có ai lấy cớ đến nói chuyện với tôi. Tôi giả vờ giải trí bằng cách xem báo, nhưng thật ra tôi chỉ lật các trang báo cho có lệ, nhưng mắt thì vẫn liếc nhìn những người đi trên lối đi, họ đi chậm lại để nhìn tôi. Tôi cảm thấy sung sướng vì được họ chú ý đến, nhưng khi chúng tôi đến Shizuoka sau nửa trưa một chút, và khi đứng đợi tàu đi Hakone, bỗng tôi cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi buồn khó tả. Suốt ngày tôi đã cố quên đi cảm giác ấy, nhưng khi đứng đợi tàu trên sân ga, trong óc tôi hiện lên rất rõ hình ảnh của chính tôi vào thời gian khác, đang đứng trên sân ga khác, đợi đáp con tàu khác - lần ấy đi với ông Bekku – vào ngày mà tôi và chị tôi bị lôi ra khỏi nhà. Tôi lấy làm xấu hổ mà xác nhận rằng trong nhiều năm qua, tôi đã cố hết sức để khỏi nhớ đến chị Satsu, bố tôi, mẹ tôi và ngôi nhà ngà say của chúng tôi trên bờ núi đá ven biiển. Tôi không giống như đứa bé rúc đầu vào trong cái bao. Ngày này qua ngày nọ, tôi chỉ thấy có Gion, chỉ thấy có Gion đến nỗi tôi nghĩ Gion là tất cả, và chỉ có Gion là nơi quan trọng đáng kể trên đời này. Nhưng nay tôi ra khỏi Kyoto, tôi nhận thấy nhiều người cho rằng Gion chẳng nghĩa lý gì hết, và tôi không thể không nghĩ đến một cuộc sống khác. Sự sầu khổ là điều kỳ lạ nhất, chúng ta hết sức thất vọng khi gặp phải cảnh sầu khổ. Sự sầu khổ như cánh cửa sổ chỉ mở ra theo ý của nó. Căn phòng trở nên lạnh lẽo, và chúng ta không thể làm gì được ngoài việc run. Nhưng nó mở mỗi khi một ít, một ít, và một hôm chúng ta tự hỏi cái gì sẽ đến khi cánh cửa sầu muộn mở toang.
Gần trưa hôm sau tôi được đón đi trong một quán trọ nhỏ nhìn lên núi Phú Sĩ, và được chở trên một chiếc xe hơi của ông Nam tước để đến ngôi nhà nghỉ mát của ông ta nằm giữa khu rừng thơ mộng bên bờ hồ. Khi xe chạy vào con đường vòng trước nhà và tôi bước ra khỏi xe với khăn đai áo mão của nàng geisha tập sự ở Kyoto, nhiều người khách của ông Nam tước quay lại nhìn tôi. Tôi thấy trong đám người này có một số phụ nữ, người thì mặc kimono, người thì mặc áo theo kiểu phương Tây. Sau đó tôi mới biết họ hầu hết là geisha ở Tokyo.
Vì chúng tôi chỉ đi tàu hỏa từ Tokyo đến trong vòng vài giờ mà thôi. Rồi ông Nam tước xuất hiện, đi trên con đường từ trong rừng với nhiều các ông khác.
- Kìa, đây là nhân vật chúng ta đang chờ đợi! - ông ta nói – Cô gái xinh đẹp này là Sayuri từ Gion đến, có lẽ một ngày nào đó sẽ là Sayuri tuyệt vời nhất ở Gion. Quý vị sẽ không bao giờ thấy lại được cặp mắt như mắt của nàng đâu, tôi cam đoan với quý vị như thế. Và cứ đợi cho đến khi quý vị thấy cách nàng di chuyển. Sayuri, xin mời cô đến đây, để tất cả quý ông có cơ may nhìn cô, cho nên cô có một công việc quan trọng. Cô phải đi khắp nơi – trong nhà, xuống hồ, qua rừng, khắp nơi. Nào bây giờ đi đi! Họat động đi!
Tôi đi khắp trong nhà như lời ông Nam tước yêu cầu, đi qua rừng anh đào trĩu hoa, cúi chào khách đây đó trên đường đi và cố đừng tỏ ra quá lộ liễu muốn tìm xem ông Chủ tịch ở đâu. Tôi đi chậm chạp, vì cứ vài bước lại có người chặn tôi lại và nói đại loại như thế này:
- Trời ơi, cô là geisha tập sự ở Gion à?
Rồi ông ta lấy máy ảnh ra, nhờ người khác chụp chúng tôi đứng chung với nhau, hay là đưa tôi đi dọc theo hồ đến nhà vọng nguyệt nhỏ, hay đến bất cứ đâu mà bọn họ có thể nhìn tôi được – y như cảnh ông ta đã làm với vài sinh vật từ thời tiền sử mà ông ta đã đánh lưới bắt được. Mameha đã căn dặn tôi rằng thế nào mọi người cũng rất kinh ngạc khi thấy tôi, vì không có ai giống một nàng geisha tập sự ở Gion hết. Đúng là trong các khu khá giả ở Tokyo, như là Shimbashi và Akasak, cô gái nào muốn vào nghề geisha đều phải học nghệ thuật cho thật thành thạo. Nhưng phần nhiều geisha ở Tokyo thời ấy đều rất tân tiến về mặt suy tư, tình cảm, cho nên một số geisha đi trong dinh cơ của ông Nam tước đều mặt âu phục.
Buổi tiệc của ông Nam tước có vẻ kéo dài. Vào lúc giữa chiều, tôi gần như hết hy vọng tìm thấy ông Chủ tịch. Tôi vào trong nhà để tìm một chỗ ngồi nghỉ, nhưng khi vừa bước vào tiền sảnh, tôi cảm thấy người khựng lại. Ông ta từ trong phòng trải thảm rơm bước ra, vừa đi vừa nói chuyện với một người đàn ông khác. Họ chào chia tay nhau xong, thì bỗng ông Chủ tịch quay qua nhìn tôi.
- Sayuri! – Ông thốt lên – Làm sao ông Nam tước dụ cô từ Gion đến đây được? Tôi không ngờ cô có quen ông ta.
Tôi nghĩ phải quay mặt đi chỗ khác nhưng tôi cứ đăm đăm nhìn vào ông Chủ tịch như bị nam châm hút. Cuối cùng tôi cúi người chào ông và nói:
- Cô Mameha cử em đi dự tiệc thay cho cô ấy! Em rất sung sướng được gặp ông Chủ tịch ở đây.
- Tôi cũng vui mừng được gặp cô. Cô có thể góp ý giúp tôi một việc. Cô đến xem món quà tôi mang tặng ông Nam tước ra sao. Tôi định ra về mà không đưa tặng cho ông ta.
Tôi đi theo ông ta vào phòng như con diều được sợi dây kéo lên. Tôi đang ở tại Hakone, xa nơi tôi quen biết, đang ở với người đàn ông tôi thường nghĩ đến hơn bất kỳ người nào khác, nghĩ đến chuyện này, tôi kinh ngạc vô cùng. Trong khi ông ta đi trước mặt tôi, tôi thán phục cách ông đi thoải mái trong bộ vét len may đo. Tôi thấy được hai bắp chân ông ta phồng ra sau ống quần, thậm chí thấy được đường nứt sau lưng như chỗ rẽ nơi gốc cây phân rễ. Ông ta lấy gói qùa trên bàn đưa cho tôi xem. Mới đầu tôi tưởng là một khối trang trí bằng vàng, nhưng xem lại thì ra là cái hộp đựng mỹ phẩm xưa tặng cho ông Nam tước. Ông Chủ tịch cho tôi biết đây là tác phẩm của nhà họa sĩ thời Edo, tên là Arata Gonroku. Cái hộp giống như cái gối sơn màu vàng có in hình những con sếu đang bay và những chú thỏ đang nhảy nhót màu đen. Khi ông ta đặt vào tay tôi, tôi sửng sốt đến ngạt thở khi nhìn vào món quà này.
- Cô có tin ông Nam tước sẽ thích món quà này không? - ông ta hỏi - tôi tìm thấy nó tuần trước và liền nghĩ đến ông ta, nhưng…
- Thưa ông Chủ tịch, tại sao ông sợ ông Nam tước không thích món quà này?
- Ồ, ông ta có nhiều thứ quý giá. Có lẽ ông ta xem đồ này chỉ là loại ba.
Tôi cam đoan với ông Chủ tịch là không ai nghĩ như thế đâu, và khi tôi đưa cái hộp cho ông, ông gói lại trong tấm vải lụa rồi gật đầu ra hiệu bảo tôi đi theo ông. Ra đến cửa, tôi giúp ông mang giầy. Khi tôi giúp ông xỏ chân vào giày, tôi nghĩ đến chuyện chúng tôi sẽ ở cùng nhau suốt buổi chiều và cả một đêm. Nghĩ thế, tôi bàng hoàng ngây ngất đến nỗi quên cả thời gian đang trôi qua, một hồi lâu tôi mới bình tĩnh trở lại. Ông Chủ tịch không có dấu hiệu gì tỏ ra nôn nóng, nhưng tôi cảm thấy ngượng ngùng khi xỏ chân vào giày Okobo của tôi, khiến cho chúng tôi mất rất nhiều thì giờ.
Ông ta dẫn tôi đi theo con đường đến hồ nước, ở đây chúng tôi thấy ông Nam tước đang ngồi trên chiếu với ba cô geisha từ Tokyo đến dưới gốc cây anh đào. Họ đứng dậy, nhưng ông Nam tước có vẻ lúng túng. Mặt ông ta có những vết đỏ vì uống rượu, cho nên trông như có ai đã lấy roi đánh vào mặt ông ta.
- Ông Chủ tịch! - ông Nam tước nói - tôi rất hân hạnh được thấy ông đến dự tiệc của tôi. Chắc ông biết tôi rất vui khi có ông ở đây chứ? Công ty của ông không ngừng phát triển phải không? Sayuri có nói cho ông biết Nobu có đến dự tiệc của tôi ở Kyoto tuần trước chứ?
- Tôi đã nghe Nobu nói lại, rất đầy đủ.
- Thế sao - ông Nam tước nói – Anh ta nhỏ nhen lắm, phải không?
Tôi không hiểu ông Nam tước muốn nói gì, vì tôi thấy ông ta nhỏ nhen hơn ông Nobu. Ông Chủ tịch có vẻ không bằng lòng lời nhận xét của ông ta, ông nhíu mày.
- Tôi muốn nói thế đấy – ông Nam tước nói tiếp. Nhưng ông Chủ tịch cắt ngang lời ông ta:
- Tôi đến để xin cám ơn ông và tạm biệt ông, nhưng trước hết tôi xin tặng ông một món quà – Nói xong ông ta đưa cái hộp đựng mỹ phẩm cho ông Nam tước. Ông Nam tước quá say nên không mở dây ra được, nên ông ta đưa cho một cô geisha để cô này mở gói quà ra.
- Món quà đẹp quá! – ông Nam tước nói – Không ai thấy sao? Nhìn này, có lẽ nó còn đẹp hơn cả con người tuyệt vời đứng bên ông nữa, ông Chủ tịch à. Ông có biết Sayuri không? Nếu không, để tôi giới thiệu với ông.
- Ồ Sayuri và tôi đã quen qua rồi – ông Chủ tịch nói.
- Quen như thế nào ông Chủ tịch? Có đủ cho tôi ganh tị không đấy?- ông Nam tước cười cho lời nói đùa của mình, nhưng không ai cười với ông ta hết – Dù sao thì món quà này đã nhắc tôi nhớ đến món quà tôi sẽ tặng cô, cô Sayuri à. Nhưng đợi cho đến khi nào các cô geisha này về hết rồi tôi mới tặng, vì tôi e rằng họ sẽ đòi tôi tặng mỗi người một món mất, cho nên cô phải ở đây cho đến khi nào mọi người về hết.
- Ông Nam tước quá tốt – tôi nói – nhưng thực tôi không muốn bị hư thân mất nết.
- Tôi thấy cô học hỏi rất nhiều ở Mameha về lời từ chối những cái mình không thích rất tài. Chỉ đợi gặp tôi ở tiền sảnh sau khi khách của tôi ra về hết thôi. Ông Chủ tịch, nhờ ông khuyên cô ấy giúp tôi, trong khi cô ta tiễn ông ra xe.
Nếu ông Nam tước không say, tôi nghĩ thế nào ông ấy cũng tiễn ông Chủ tịch ra tận xe. Nhưng hai người đã chào tạm biệt nhau, và tôi đi theo ông Chủ tịch vào nhà. Trong khi người tài xế giữ cửa xe cho ông, tôi cúi người chào, cám ơn lòng tốt của ông. Ông định bước vào xe, nhưng rồi dừng lại.
- Sayuri này – ông nói, rồi ngần ngừ một lát như không biết nói tiếp ra sao – Mameha đã nói gì với cô về ông Nam tước?
- Không nói gì nhiều, thưa ông. Hay ít ra…mà, em không biết ông Chủ tịch muốn nói gì.
- Mameha có đóng vai người chị cả tốt cho cô không? Cô ấy có nói cho cô biết những điều cần biết không?
- Ồ có, thưa ông Chủ tịch. Mameha giúp em rất nhiều.
- Tốt – ông ta nói – nếu tôi là cô, tôi phải cảnh giác khi có người đàn ông như ông Nam tước quyết định tặng quà cho cô.
Tôi không biết phải trả lời ra sao, cho nên tôi nói ông Nam tước có lòng tốt nghĩ đến tôi.
- Phải, tốt rồi, tôi biết. Có điều cô phải đề phòng, vậy thôi - ông ta nói, nhìn tôi một lát rồi bước vào xe.
Suốt một giờ sau đó, tôi đi chơi cùng một vài người khách cuối cùng, cứ nhớ mãi đến những lời ông Chủ tịch nói với tôi trong thời gian chúng tôi gặp nhau. Tôi nghĩ đến lời cảnh cáo của ông thì ít, mà hân hoan sung sướng vì đã nói chuyện với ông ta thì nhiều. Thật vậy, tâm trí tôi không rảnh để nghĩ đến chuyện gặp ông Nam tước cho đến khi tôi thấy tôi một mình đứng trước tiền sảnh trong ánh chiều tà yếu ớt. Tôi đến quỳ trong một phòng trải chiếu rơm gần đấy, nhìn ra ngoài sân qua cánh cửa sổ có kính.
Mười hay mười lăm phút trôi qua, cuối cùng ông Nam tước đi vào tiền sảnh. Vừa nhìn thấy ông ta là tôi cảm thấy lo sợ, vì ông ta chỉ mặc chiếc áo ngủ bằng vải sơ sài. Ông ta cầm cái khăn tắm trên tay lau những sợi lông đen dài trên mặt được xem là bộ râu. Rõ ràng ông ta vừa tắm xong. Tôi đứng lên, cúi người chào ông ta.
- Sayuri, tôi thật điên! - ông ta nói với tôi - tôi uống quá nhiều - chuyện này quả đúng - tôi quên mất chuyện cô đang đợi tôi! Tôi hy vọng khi cô thấy món quà tôi để dành cho cô, cô sẽ tha thứ cho tôi.
Ông Nam tước đi theo hành lang để vào phòng trong, ông nghĩ tôi sẽ đi theo ông ta. Nhưng tôi cứ đứng tại chỗ, nghĩ đến những lời Mameha đã nói với tôi: người geisha tập sự sắp sửa bán mizuage của mình như bữa cơm dọn sẵn trên mâm.
ông Nam tước dừng lại. Ông ta nói:
- Đi với tôi!
- Ồ thưa Nam tước. Không nên. Xin ông cho tôi ở lại đây.
- Tôi có món quà tặng cô. Đến phòng tôi ngồi đợi thôi. Đừng có ngu xuẩn như thế.
- Dạ thưa Nam tước, đương nhiên tôi là đứa ngu xuẩn vì tôi phải thế.
- Ngày mai cô sẽ trở về dưới sự giám sát của Mameha phải không? Nhưng ở đây không có ai giám sát cô hết.
Nếu khi ấy mà tôi có chút bình tĩnh, chắc tôi đã cám ơn ông Nam tước mời tôi đến dự buổi tiệc thịnh soạn này và tha thiết yêu cầu ông ta cho xe chở tôi về nhà trọ. Nhưng mọi việc đã diễn ra như trong giấc mơ…Tôi thấy mình đang bị rơi vào trạng thái chấn động. Điều tôi chỉ còn biết là sự lo sợ.
- Đi theo tôi, chờ tôi mặc áo quần - ông Nam tước nói - chiều nay cô uống rượu sakê phải không?
Một lát trôi qua, tôi cảm thấy mặt tôi mất hết cảm giác, không có một biểu hiện gì, trơ như đá.
- Không, thưa ông – cuối cùng tôi đáp được.
- Tôi nghĩ cô phải đi theo tôi. Tôi sẽ cho cô món quà quý giá. Nào ta đi.
- Thưa Nam tước, xin ông vui lòng cho tôi về. Chắc người ta đang đợi tôi ở quán trọ.
- Đợi à? Ai đợi cô thế?
Tôi không trả lời.
- Tôi hỏi ai đợi cô? Tôi không hiểu tại sao cô xử sự như thế. Tôi có cái này cho cô. Có phải cô muốn tôi đi lấy cho cô không?
- Tôi xin lỗi.
Ông Nam tước nhìn tôi.
- Đợi đây – cuối cùng ông ta nói, rồi đi vào nhà trong. Một lát sau ông ta trở ra, trên tay cầm một cái gói phẳng, gói trong giấy dày. Tôi mới nhìn qua là biết đấy là cái áo kimono.
- Đây - ông ta nói – vì cô cứ khăng khăng muốn làm kẻ ngu xuẩn, nên tôi phải đi lấy quà cho cô. Món quà có làm cho cô vui hơn không?
Tôi xin lỗi ông Nam tước thêm một lần nữa.
- Tôi thấy hôm nọ cô rất thích chiếc áo này. Tôi muốn tặng nó cho cô.
Ông Nam tước để cái gói lên bàn rồi mở dây buộc, tháo gói ra. Tôi nghĩ chắc đây là cái áo kimono thêu cảnh thành phố Kobe, và nói thực ra, tôi cảm thấy vừa mừng vừa lo, vì tôi biết tôi sẽ làm gì với cái áo đẹp tuyệt vời như thế này, và tôi sẽ giải thích ra sao với Mameha về việc ông Nam tước cho tôi cái áo. Thế nhưng khi ông Nam tước mở cái gói ra, tôi chỉ thấy trước mắt lớp vải sậm tuyệt vời với hình thêu màu bạc. Ông ta lấy cái áo ra và đưa lên tận vai. Đây là cái áo kimono của một viện bảo tàng – theo ông Nam tước cho tôi biết thì áo này may vào những năm thuộc thập niên 1860 cho cô cháu của Tokugawa Yoshinobu, vi tướng quân Nhật sau cùng. Hình vẽ trên áo là cảnh những con chim màu bạc bay trong bầu trời đêm, với cảnh vật huyền bí gồm cây và đá màu sẫm đen vươn lên từ dưới lai áo.
- Cô phải đi theo tôi để mặc thử áo này - ông ta nói – bây giờ đừng có ngu xuẩn! Tôi rất có kinh nghiệm trong việc buộc giải thắt lưng. Tôi sẽ giúp cô mặc áo kimono của cô vào lại, để không ai hay biết gì hết.
Tôi muốn thử cái áo của ông Nam tước cho tôi ở đâu đó chỉ một mình tôi. Nhưng ông ta là người có quá nhiều quyền đến nỗi Mameha mà cũng không dám trái lời. Nếu cô ấy không dám từ chối những điều ông ta muốn, thì làm sao tôi từ chối cho được? Tôi thấy ông ta có vẻ nôn nóng, chỉ có trời mới biết ông ta có phải tốt thật với tôi trong mấy tháng tôi mới vào nghề không, ông ta cho phép tôi đến hầu ông khi ông ăn trưa, và cho phép Mameha dẫn tôi đến dự tiệc tại nhà ông ở Kyoto. Rồi bây giờ ông tốt với tôi thêm một lần nữa, cho tôi cái áo kimono quý giá.
Cuối cùng tôi nghĩ trong bụng rằng tôi không còn lựa chọn nào khác là phải vâng lời ông ta và dù kết quả ra sao đi chăng nữa, tôi cũng phải trả cho ông ta. Tôi cụp mắt nhìn xuống chiếu, lòng thấy xấu hổ, và trong trạng thái như nằm m này, tôi cảm thấy mình buông xuôi theo số phận, tôi ý thức được bàn tay ông Nam tước nắm lấy tay tôi, dẫn tôi ra phòng phía sau nhà. Đến giữa hành lang, một gia nhân đang đi tới, anh ta cúi chào rồi quay lưng ngay khi trông thấy chúng tôi. Ông Nam tước không nói một lời, chỉ dẫn tôi đi cho đến khi chúng tôi vào một căn phòng trải thảm rơm, trên một bức tường treo đầy gương soi. Đây là phòng thay áo quần. Bức tường bên kia kê nhiều tủ, các cánh cửa tủ đều đóng kín.
Tay tôi run vì lo sợ, nhưng nếu ông Nam tước có để ý thì ông ta cũng không nói gì. Ông để tôi đứng trước dãy gương rồi đưa tay tôi lên môi, tôi tưởng ông ta hôn tay tôi, nhưng ông ta chỉ đưa lưng bàn tay tôi chạm vào những sợi râu trên mặt ông, rồi làm một việc tôi thấy rất kỳ cục, ông ta kéo tay áo của tôi lên khỏi cổ tay, rồi hít mùi thơm trên da thịt tôi. Râu của ông ta chích vào tay tôi, nhưng tôi không có cảm giác gì hết. Hình như tôi không còn cảm thấy gì hết, tình trạng của tôi khi ấy như thể tôi bị chôn vùi dưới lớp vỏ lo sợ, hoang mang, khủng khiếp…rồi ông Nam tước lôi tôi ra khỏi cơn lo sợ kinh hoàng ấy bằng cách đi ra phía sau lưng tôi, đưa tay tới trước ngực để tháo sợi dây Obujime của tôi ra. Đấy là sợi dây buộc dải khăn quàng của tôi.
Tôi hoảng hốt khi biết ông Nam tước có ý định cởi áo của tôi ra. Tôi cố nói lên cái gì nhưng mệng tôi ấp úng không nói ra lời, vả lại ông Nam tước bảo tôi im đi. Tôi cố đưa tay chặn ông ta lại, nhưng ông ta đẩy tay tôi đi và cuối cùng ông ta tháo được cái Obujime của tôi. Sau đó, ông ta bước lui, loay hoay một hồi lâu để mở cái nút của dải thắt lưng nằm ở giữa xương bả vai của tôi. Tôi van ông ta đừng tháo cái nút ra nhưng cuống họng tôi khô khốc đến nỗi nhiều lần tôi cố nói mà nói không được – nhưng ông ta không nghe tôi, và liền sau đó ông ta tháo dải khăn quàng quanh lưng tôi ra, tay ông ta vòng quanh hông tôi rồi mở ra. Tôi thấy cái khăn tay của ông Chủ tịch văng ra khỏi dải thắt lưng và rơi xuống đất. Bỗng ông Nam tước thả cái khăn quàng lưng rơi xuống một đống trên nền nhà, rồi mở miếng datejime ra. Đấy là dải vải lót quấn quanh bụng dưới dải thắt lưng. Tôi cảm thấy đau khổ khi thấy chiếc kimono mở rộng quanh eo tôi. Tôi đưa tay kéo nó cho sít lại, nhưng ông Nam tước hất tay tôi ra. Tôi không chịu được cảnh nhìn tôi trong gương. Việc cuối cùng tôi nhớ khi nhắm mắt lại là chiếc áo nặng nề được nâng lên khỏi hai vai tôi, bên tai tôi nghe tiếng vải kêu sột soạt.
Ông Nam tước hình như thực hiện xong kế hoạch ông ta vạch ra, hay trước mắt ông ta không tiến xa hơn nữa. Tôi cảm thấy hai tay ông ta để bên hông tôi, mân mê lớp vải áo lót của tôi. Cuối cùng tôi mở mắt ra lại, tôi thấy ông ta đứng yên sau lưng tôi, hít hương thơm trên tóc tôi, trên cổ tôi. Mắt ông ta nhìn đăm đăm vào gương – đúng ra là đăm đăm vào dải vải quanh eo để giữ áo của tôi cho kín. Mỗi lần mấy ngón tay của ông di động là tôi quyết tâm phải đẩy chúng đi, nhưng bỗng nhiên nhanh như cắt, chúng bò lên bụng tôi như con nhện, rồi trong khoảnh khắc chúng bám vào dải vải và lôi mạnh. Rất nhiều lần tôi cố ngăn ông ta lại, nhưng ông Nam tước đẩy tay tôi đi như những lần trước. Cuối cùng dải vải bung ra và ông Nam tước thả nó xuống nền nhà. Hai chân tôi run rẩy, căn phòng mờ đi trước mắt tôi khi ông ta nắm hai vạt áo lót của tôi mở rộng ra. Tôi không thể đứng yên mà không nắm hai tay ông giữ lại.
- Sayuri, đừng lo sợ gì hết! - ông Nam tước nói nhỏ bên tai tôi - Lạy trời, tôi không làm gì không nên làm đâu. Tôi chỉ muốn nhìn cô thôi, cô không hiểu sao? Không có gì sai phạm trong việc này hết, bất cứ người đàn ông nào cũng muốn làm thế hết.
Một sợi râu láng bóng trên mặt ông ta cọ vào vai tôi khi ông nói thế, cho nên tôi quay mặt sang một bên. Tôi nghĩ chắc ông ta cho hành động này của tôi là dấu hiệu bằng lòng, vì khi ấy hai tay ông hoạt động cấp bách hơn. Ông ta kéo rộng cái áo lót ra. Khi ông ta cố mở sợi dây thắt cái yếm trên người tôi, tôi cảm thấy mấy ngón tay của ông cà vào xương sườn tôi, làm cho tôi nhột nhạt. Một lát sau ông cởi xong. Tôi không chịu đựng được ý nghĩ không biết ông ta thấy cái gì trên người tôi, cho nên mặc dù tôi quay mặt sang một bên, nhưng tôi vẫn cố liếc mắt nhìn vào gương. Chiếc yếm mở rộng để lộ một mảng da phía dưới ngực tôi.
Rồi hai tay ông Nam tước di chuyển xuống mông tôi, hai tay ông ta lại loay hoay mở dải vải koshimaki quanh mông tôi ra. Sáng sớm hôm ấy, khi tôi quấn vải koshimaki nhiều lần quanh mông, tôi đã buộc ở eo chặt hơn mọi khi. Ông Nam tước tìm mãi không ra múi dải buộc, nên ông giật nhiều lần cho dải vải bung ra, cho nên cuối cùng ông giật mạnh một cái và cả sợi dải vải dài bung ra dưới áo lót của tôi. Khi dải lụa trượt trên da thịt tôi, tôi nghe có tiếng phát ra từ cổ họng tôi, như là âm thanh của một tiếng nấc. Tôi đưa tay chụp dải koshimaki lại, nhưng ông Nam tước đã lôi đi và thả nó xuống nền nhà. Rồi từ từ như người đàn ông lôi tấm chăn đắp cho đứa trẻ nằm ngủ, ông ta kéo cái áo lót của tôi mở rộng ra với vẻ hết sức thận trọng như thể ông ta đang lôi tấm khăn đậy cái gì tuyệt vời lắm. Tôi cảm thấy cuống họng nóng như lửa đốt, dấu hiệu cho tôi biết tôi sắp khóc, nhưng tôi không muốn để cho ông Nam tước vừa thấy thân thể loã lồ của tôi lại vừa thấy tôi khóc. Dù sao tôi cũng phải cố giữ để cho khỏi khóc, cho đúng theo quyết tâm của tôi, và tôi nhìn đăm đăm vào gương một hồi lâu. Tôi cảm thấy như thời gian ngừng trôi. Tôi chưa bao giờ nhìn tôi hoàn toàn loã lồ như thế. Thực ra tôi còn mang bít tất gài nút trên chân, nhưng tôi cảm thấy thân hình tôi phô ra quá lộ liễu vì hai tà áo lót kéo rộng ra, ngay cả khi trong phòng tắm không mặc áo quần trên người, tôi cũng không cảm thấy tôi loã lồ như thế này. Tôi thấy hai mắt ông Nam tước dán vào chỗ này rồi dán vào chỗ khác trên thân hình tôi phản chiếu trong gương. Thoạt tiên, ông ta kéo rộng hai vạt áo ra để ông ta thấy rõ đường cong hai bên hông tôi. Rồi ông hạ mắt nhìn xuống chỗ có đám lông đen, đám lông đã mọc trước khi tôi đến Kyoto. Mắt ông ta dán vào đấy thật lâu, nhưng cuối cùng ông ta từ từ nhìn lên, lướt qua bụng tôi, qua xương sườn, đến hai vòng tròn có màu trái mận - thoạt tiên nhìn một bên rồi nhìn qua bên kia. Rồi ông Nam tước thả một tay, để cho vạt áo trở lại chỗ cũ ở một bên. Ông ta làm gì với tay ấy, tôi không biết, nhưng tôi không thấy lại tay ấy nữa. Bỗng tôi hoảng hốt khi thấy một bên vai trần của ông ta nhô ra khỏi chiếc áo tắm. Tôi không biết ông ta làm gì – và mặc dù bây giờ tôi đã biết chính xác ông ta làm gì, nhưng tôi không muốn nói ra làm gì. Điều khi ấy tôi biết là tôi cảm thấy hơi thở của ông ta làm cho cổ tôi nóng lên. Sau đó, tôi không thấy gì nữa. Tấm gương soi nhoà đi và tôi không cầm được nước mắt.
Rồi một lát sau hơi thở của ông Nam tước chậm lại. Da tôi nóng lên và ẩm ướt vì lo sợ, cho nên khi ông ta thả cái áo lót của tôi ra, tôi cảm thấy luồng hơi phả vào một bên tôi như một cơn gió nhẹ. Sau đó, tôi đứng một mình trong phòng. Ông Nam tước đã ra ngoài khi nào tôi không biết. Khi biết ông ta đi ra rồi, tôi vội vàng mặc áo vào, tôi hối hả vội vàng đến nỗi khi tôi quỳ xuống nền nhà để lượm áo lên, trong óc tôi đã nảy ra hình ảnh một đứa bé đói khát vội vã chụp lấy những mảnh vụn đồ ăn.
Tôi mặc áo vội vã với hai bàn tay run run. Nhưng mãi đến khi có sự giúp đỡ của người khác, tôi chỉ làm được có việc khép kín chiếc áo lót chung quanh người và thắt chặt chiếc dải vải quanh hông để giữ áo lót cho kín. Tôi đợi trước gương, nhìn mặt hoá trang của tôi nhem nhuốc, lòng hoang mang lo lắng. Tôi chuẩn bị tinh thần, nếu đợi một giờ tôi cũng đợi. Nhưng chỉ vài phút sau, ông Nam tước quay lại, chiếc khăn quàng bên hông ngoài áo tắm của ông ta thắt chặt cái bụng phệ. Ông ta giúp tôi mặc áo kimono không nói một tiếng, và thắt dải Datejime thật chặt như ông Itchoda. Trong khi ông ta nắm chặt dải thắt lưng dài, rộng bản trên tay, sửa lại cho ngay ngắn trước khi quấn vào hông tôi, tôi có cảm giác lo sợ kinh khủng. Thoạt tiên tôi không nhận ra cái cảm giác này là cảm giác gì, nhưng rồi nó ngấm qua người tôi như vết bẩn thấm qua áo quần, rồi sau đó tôi hiểu. Đó là cảm giác tôi đã làm một chuyện sai lầm kinh khủng. Tôi không muốn khóc trước mặt ông Nam tước nhưng không thể ngăn được nước mắt - vả lại khi ông ta trở lại trong phòng, ông ta không nhìn vào mắt tôi nữa. Tôi tưởng tượng ra cảnh tôi là ngôi nhà đứng giữa trời mưa, nước xối xả chảy xuống trước mặt. Nhưng chắc ông Nam tước đã thấy, vì ông ta ra khỏi phòng rồi trở lại, mang theo chiếc khăn tay có chữ ký tắt của ông ta trên khăn. Ông ta nói tôi cứ giữ chiếc khăn, nhưng sau khi dùng xong, tôi để nó lại trên bàn.
Rồi ông ta dẫn tôi ra trước nhà, bỏ đi và không nói một tiếng. Vừa lúc ấy một gia nhân đi tới, cầm trên tay cái áo kimono xưa được gói trong giấy dày. Anh ta cúi chào tôi rồi đưa tôi ra xe của ông Nam tước. Tôi lặng lẽ khóc khi ngồi trên xe chạy về quán trọ, nhưng anh tài xế giả vờ không hay biết gì. Tôi không khóc về những việc đã xảy ra. Nhưng tôi khóc vì điều khủng khiếp đang ám ảnh trí óc tôi – nói thẳng ra là khóc vì chuyện rồi đây ông Itchoda sẽ thấy mặt hoá trang của tôi nhem nhuốc, rồi khi giúp tôi cởi áo, ông ta sẽ thấy cái nút thắt trên dải thắt lưng xấu xí, và khi mở gói giấy ra ông ta sẽ thấy món quà tôi nhận quá đắt tiền.
Trước khi xuống xe, tôi lấy khăn tay của ông Chủ tịch để lau mặt, nhưng tôi vẫn không thấy đỡ chút nào. Ông Itchoda nhìn mặt tôi, ông ta gãi cằm như thể đã hiểu mọi việc xảy ra. Khi ông ta mở dải thắt lưng cho tôi ở trong phòng trên lầu, ông hỏi:
- Có phải ông Nam tước cởi áo cô ra không?
- Tôi xin lỗi - tôi đáp.
- Ông ta cởi áo cô và nhìn cô trong gương. Nhưng ông ta không hưởng lạc với cô. Ông ta không sờ cô, hay nằm trên người cô, phải không?
- Dạ phải, thưa ông.
- Thế thì tốt - ông Itchoda nói, nhìn tới trước.
Chúng tôi không nói gì với nhau nữa.


Truyện đã được khiêng vào Thư viện đến chương 22, cám ơn sự giúp sức của bạn nha.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-28 05:04:13Chuột lắc>
CHƯƠNG 23

Vào sáng sớm hôm sau, khi tàu vào ga Kyoto, tinh thần tôi vẫn chưa ổn định. Nói tóm lại, khi ném một viên đá vào hồ, mặt nước vẫn còn dao động một thời gian sau khi viên đá đã chìm xuống nước. Nhưng khi tôi bước xuống những tầng cấp gỗ để ra khỏi sân ga, ông Itchoda đi sau tôi một bậc, một việc khiến tôi kinh ngạc quên hết mọi sự trong một thời gian.
Tờ bích chương mới trong một tủ gương quảng cáo Vũ khúc cố đô mùa xuân, và tôi đứng lại để xem. Chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày khai mạc. Tờ bích chương mới dán vào ngày hôm kia, có lẽ vào lúc tôi đang đi quanh trong khuôn viên nhà ông Nam tước với hy vọng gặp ông Chủ tịch. Vũ khúc mỗi năm có một chủ đề, như là Màu sắc bốn mùa ở Kyoto, hay là Địa danh trích từ chuyện của xứ Heike. Năm nay chủ đề là Ánh sáng long lanh của mặt trời ban mai. Bích chương, dĩ nhiên là do Uchida Koraburo vẽ - người đã sáng tạo hầu hết bích chương từ năm 1919 - vẽ một cô geisha tập sự mặc chiếc kimono màu lục và vàng cam rất đẹp đứng trên cầu vòng bằng gỗ. Tôi quá mệt vì đi xa và ngủ ít trên tàu cho nên tôi đứng choáng váng một lúc trước tấm bích chương, nhìn cái nền bức vẽ màu xanh lục và màu vàng tươi trước, mới nhìn qua hình cô gái mặc áo kimono. Cô a nhìn vào ánh sáng mặt trời rực rỡ, cặp mắt màu xanh xám quá tuyệt vời. Tôi phải vịn một tay lên lan can cho vững. Tôi là cô gái mà Uchida đã vẽ đứng trên cầu ấy.
Trên đường từ ga xe lửa về nhà, ông Itchoda chỉ cho tôi thấy từng tấm bích chương trên đường, thậm chí ông ấy còn yêu cầu bác phu xe kéo chúng tôi đến toà nhà Siêu thị Daimaru cũ để xem bích chương dán đầy cả một bức tường ở đấy nữa. Nhìn thấy hình tôi được dán khắp thành phố như thế này, cũng không làm cho tôi được hoàn toàn sung sướng, vì tôi vẫn nghĩ đến cô gái tội nghiệp đang đứng trước tấm kính soi để một gã đàn ông cởi dải thắt lưng. Mặc dù tôi chờ đợi những giây phút được người ta chúc mừng trong những ngày sắp đến, tôi cũng biết rằng bên cạnh những vinh hạnh này, tôi sẽ gặp nhiều chuyện đắng cay. Từ khi Mameha thu xếp để tôi được có vai trong những vũ khúc mùa xuân này, tôi đã nghe một số lời bình phẩm không mấy đẹp về tôi. Sau khi bích chương dán xong, tình hình càng tệ thêm ra. Ví dụ, vào sáng hôm sau, một cô geisha tập sự từng là bạn của tôi tuần trước, thì nay gặp tôi, cô ta quay mặt khi tôi cúi chào.
Riêng về phần Mameha, tôi đến thăm cô ấy tại nhà cô, cô ấy đã tỏ ra tự hào như chính cô là người trên tờ bích chương. Dĩ nhiên cô ấy không hài lòng về việc tôi đi Hakone, nhưng cô ấy có vẻ rất mãn nguyện về thành công của tôi. Tự nhiên tôi lo sợ cô ấy biết chuyện kinh khủng đã xảy ra giữa tôi với ông Nam tước, sợ cô ấy cho đây là một sự phản bội. Tôi nghĩ thế nào ông Itchoda cũng nói cho cô ấy biết chuyện này…nhưng nếu ông ta có nói, chắc không bao giờ cô ấy nêu vấn đề này ra giữa chúng tôi. Và tôi cũng không.
OOo
Hai tuần sau, vũ khúc mùa xuân bắt đầu. Vào hôm đầu tiên trong phòng thay áo quần ở Nhà hát Kaburenjo, tôi cảm thấy lòng tràn ngập hân hoan, vì Mameha cho biết ông Chủ tịch và ông Nobu có mặt trong đám khán giả. Trong khi hóa trang, tôi nhét cái khăn tay của ông Chủ tịch dưới chiếc áo lót, sát vào chỗ da trần. Tóc tôi buộc sát vào da đầu bằng một dải lụa, vì tôi phải đội tóc giả, và khi soi gương không thấy mái tóc quen thuộc phủ quanh khuôn mặt, các góc cạnh ở hai má và quanh hai mắt bỗng trở nên xa lạ với tôi. Nói ra có vẻ kỳ cục, nhưng khi tôi nhận ra khuôn mặt của tôi có vẻ xa lạ với tôi, tôi bỗng nghĩ rằng không có gì trên đời này đơn giản như ta tưởng.
Một lát sau tôi đứng với các cô tập sự khác bên cánh gà nhà hát, chuẩn bị vở múa khai mạc. Chúng tôi mặc kimono giống nhau, màu vàng và đỏ, dải thắt lưng màu vàng cam và màu vàng – cho nên mỗi người chúng tôi trông như những bóng người lung linh trong ánh mặt trời. Khi âm nhạc nổi lên, thoạt tiên tiếng trống rồi sau đó tiếng đàn Shamisen vang lên, chúng tôi cùng hiện ra, quạt trong tay mở rộng – chưa bao giờ tôi cảm thấy mình được nhập cuộc với đời như thế này.
Sau vở múa khai mạc, tôi chạy lên lầu để thay kimono. Vở múa của tôi diễn một mình có tên Nắng Mai Trên Sông, nói về một trinh nữ tắm buổi sáng dưới biển và yêu một chú cá heo đẹp mã. Y phục của tôi là kimono màu hồng lộng lẫy với hình vẽ mặt nước màu xám, tôi cầm những dải lụa xanh để tượng trưng cho nước gợn sóng sau tôi. Vai hoàng tử cá heo đẹp mã do cô geisha tên Umiyo đóng, thêm vào, có nhiều vai khác do các geisha thủ diễn để tả gió, ánh sáng mặt trời và những tia nước – cũng như một vài geisha tập sự bôi đen, mặc kimono màu xanh đứng ở xa xa ngoài mép sân khấu, làm những chú cá heo gọi hoàng tử của chúng trở về.
Tôi vội thay áo thật nhanh đến nỗi tôi còn dư được vài phút để nhìn ra khán giả ở dưới. Tôi đi theo tiếng trống chốc chốc gióng lên để đến một hành lang hẹp, âm u, chạy phía sau một trong hai căn buồng của ban nhạc nằm hai bên nhà hát. Một vài cô tập sự và geisha đang nhìn qua những khe hở nơi cửa lầu. Tôi chen vào với họ và nhìn ra, thấy ông Chủ tịch và ông Nobu ngồi với nhau – nhưng tôi thấy hình như ông Chủ tịch đã nhường cho Nobu chỗ tốt hơn. Nobu say sưa nhìn lên sân khấu, nhưng tôi ngạc nhiên thấy ông Chủ tịch có vẻ ngủ gục. Theo tiếng nhạc, tôi nhận ra vở múa của Mameha đang bắt đầu, tôi đến cuối hành lang nơi có những đường khe hở nơi cửa sổ có thể nhìn ra sân khấu.
Tôi chỉ xem Mameha múa vài phút thôi, nhưng ấn tượng mà vở múa của cô ấy in vào óc tôi không bao giờ phai. Hầu hết những vở múa của trường Inoue thường kể sự tích của một chuyện gì đấy, và sự tích của vở múa này có tên Vị Triều Thần trở về với vợ - dựa trên một tác phẩm Trung Hoa nói đến mối tình vụng trộm của một Triều Thần với một Cung Phi. Một đêm bà vợ của vị Triều Thần núp ngoài hoàng cung để xem chồng bà đi chơi ở đâu. Cuối cùng, đến lúc rạng sáng, bà thấy chồng bà chia tay với tình nhân trong một đám cây – nhưng ngay lúc đó bà ta phát bệnh vì trời quá lạnh, và sau đó bà ta mất.
Vũ khúc mùa xuân của chúng tôi, sự tích chuyển sang của Nhật chứ không dùng chuyện Trung Hoa, nhưng đàng nào thì câu chuyện cũng giống nhau. Mameha đóng vai người phụ nữ chết vì lạnh và đứng tim, còn cô geisha Kamako đóng vai người chồng, vị quan trong triều. Tôi xem vở múa đúng vào lúc vị quan triều thần chia tay với tình nhân. Cảnh trên sân khấu đẹp mê hồn, ánh sáng bình minh yếu ớt, tiếng đàn Shamisen dìu dặt như tiếng thổn thức sau hậu trường. Vị quan múa một điệu múa mê hồn để cám ơn người tình đã cho ông ta một đêm hạnh phúc, rồi tiến ra phía ánh mặt trời mọc để hứng lấy hơi ấm cho nàng. Chính lúc này Mameha múa điệu múa diễn tả nỗi sầu muộn của người vợ, cô ấy đứng khuất một bên sân khấu ngoài tầm mắt của người chồng và tình nhân của ông ta. Tôi không biết có phải vì điệu múa của Mameha quá đẹp hay vì nội dung câu chuyện mà tôi cảm thấy buồn da diết khi nhìn cô ta, tôi cảm thấy như chính tôi là nạn nhân gây ra sự phản bội kinh khủng ấy. Cuối vở múa, ánh mặt trời chiếu sáng khắp sân khấu, Mameha đến một rừng cây để múa một mình diễn tả cái chết. Tôi không thể nói cho anh nghe chuyện gì đã xảy ra sau đó. Tôi quá xúc cảm đến nỗi tôi không thể đứng lại xem được nữa, vả lại, tôi phải về hội trường để chuẩn bị phiên mình ra trình diễn.
Trong lúc tôi đợi bên cánh gà, tôi có cảm giác kỳ lạ là sức nặng của toà nhà đè nặng lên tôi – vì đối với tôi, sự buồn phiền là thứ nặng nề vô cùng kỳ lạ. Người vũ công giỏi thường mang vớ có cài nút màu trắng với cỡ rất nhỏ, cho nên cô ta cảm biết được các đường nối trên sàn gỗ với bàn chân mình. Nhưng khi tôi đứng đấy, cố sức giữ bình tĩnh để biểu diễn, tôi đã có cảm giác như có sức nặng nào đấy đè mạnh lên tôi, đến nỗi không những tôi cảm nhận được các đường nối trên đường ván, mà còn cảm nhận được cả những sợi chỉ trong đôi vớ nữa. Cuối cùng tôi nghe tiếng trống và tiếng đàn Shamisen cất lên và tiếng áo quần sột soạt của các vũ công vội vã đi qua tôi để ra sân khấu, nhưng tôi thấy rất khó mà nhớ được chuyện gì sau đó. Tôi chỉ biết tôi đã đưa tay lên với chiếc quạt khép lại và đầu gối tôi cong xuống – thì đấy là các thế để vào vở múa. Sau đó tôi không nghe ai nói gì về việc tôi không có dấu hiệu báo bắt đầu, nhưng tôi chỉ nhớ rõ ràng tôi đã nhìn hai cánh tay tôi với vẻ ngạc nhiên là động tác của tôi rất chính xác và rất đều đặn. Tôi đã tập vở múa nhiều lần, tôi nghĩ tôi tập như thế là quá đủ. Và mặc dù tinh thần tôi bị sa sút nhưng tôi đã diễn vai của tôi không khó khăn hay bị lúng túng.
Bất kỳ buổi trình diễn nào trong tháng đó, tôi đều chuẩn bị ra sân khấu một cách giống nhau, bằng cách tập trung vào vở Vị Triều Thần Trở Về Với Vợ cho đến khi tôi cảm thấy nỗi sầu muộn đè nặng lên tôi. Loài người chúng ta có đặc tính là quen với hoàn cảnh rất mau, nhưng khi tôi hình dung ra cảnh Mameha múa để miêu tả cảnh đau buồn đứng khuất trước cặp mắt của người chồng và tình nhân của chồng, tôi không thể không cảm thấy buồn phiền, không phải như anh có thể không ngửi thấy mùi trái táo cắt ra để trên bàn trước mặt anh.

oOo
Một hôm vào tuần cuối cùng của đợt trình diễn, Mameha và tôi ngồi nán lại lâu trong phòng thay áo, nói chuyện với các geisha khác. Khi chúng tôi ra khỏi nhà hát, chúng tôi cứ nghĩ chắc không gặp ai ở ngoài – và quả vậy, mọi người đã về hết. Nhưng khi chúng tôi ra đến đường, một tài xế mặc đồng phục từ trên một chiếc xe hơi bước ra, mở cửa sau xe. Mameha và tôi định đi qua thì ông Nobu xuất hiện.
- Kìa ông Nobu - Mameha thốt lên - tôi đang lo không biết sao lâu nay ông không cần Sayuri đến giúp vui! Suốt tháng này ngày nào chúng tôi cũng mong nhận được tin ông…
- Thử hỏi ai là người đợi ai? Tôi đợi ngoài nhà hát này gần một giờ rồi.
- Ông lại đến xem múa mới ra về đấy phải không? – Mameha hỏi – Sayuri đúng là một minh tinh.
- Tôi không vừa mới từ đâu đến hết – Nobu nói – Tôi vừa xem múa cách đây một giờ. Đủ thì giờ để tôi gọi một cuốc điện thoại và sai tài xế ra phố để lấy đồ về đây cho tôi.
Nobu đấm tay lên cửa xe với bàn tay độc nhất, làm cho người tài xế giật mình mạnh đến nỗi cái mũ lưỡi trai rơi ra khỏi đầu. Anh tài xế hạ kính cửa xe xuống, đưa cho Nbbu cái bao nhỏ ở nhà hàng theo kiểu phương Tây, bao làm bằng giấy trông như giấy kẽm bạc. Nobu quay qua tôi, tôi cúi chào ông ta thật thấp, nói với ông tôi rất sung sướng được gặp ông ta.
- Cô là vũ công có tài, Sayuri à. Tôi không tặng quà vô cớ đâu - ông ta nói, nhưng tôi không tin ông ta nói thật – có lẽ vì thế mà Mameha và những người khác ở Gion không thích tôi bằng những người khác.
- Ông Nobu – Mameha nói – ai có ý kiến lạ đời như thế?
- Tôi biết rõ các cô geisha thích gì. Cho nên khi đàn ông tặng cô quà, cô phải bỏ qua các thứ vô nghĩa đi.
- Kìa, ông Nobu – tôi nói - chuyện gì vô nghĩa mà ông yêu cầu tôi phải bỏ qua? – Dĩ nhiên tôi cho đây là chuyện đùa, nhưng Nobu thì không xem đấy là chuyện đùa.
- Thì tôi không vừa nói tôi không giống các người khác đó à? – ông ta cau có nói - Tại sao giới geisha các cô không tin chuyện người ta nói với các cô? Nếu cô muốn nhận gói quà này thì nhận đi, kẻo tôi đổi ý.
Tôi cám ơn ông Nobu và nhận gói quà, và ông ta đấm tay vào cửa xe. Người tài xế nhảy ra mở cửa xe cho ông ta.
Chúng tôi cúi người chào cho đến khi chiếc xe rẽ vào góc đường rồi Mameha và tôi đi lại vào trong vườn của nhà hát Kaburenjo, chúng tôi ngồi trên ghế đá nhìn ra hồ cá chép và nhìn cái gói của Nobu vừa cho tôi. Cái gói đựng một cái hộp nhỏ gói trong giấy màu vàng có in nổi tên của tiệm kim hoàn nổi tiếng, hộp được buộc bằng dải vải to. Tôi mở hộp ra, trong hộp chỉ có một viên ngọc, viên hồng ngọc to bằng hạt đào. Nó giống như giọt máu khổng lồ lấp lánh dưới ánh mặt trời trên hồ. Khi tôi xoay viên ngọc trong mấy ngón tay, ánh sáng lóng lánh nhảy từ mặt này sang mặt khác trên viên ngọc. Tôi cảm thấy ngực tôi cũng nhảy theo nhịp nhảy của từng mặt viên ngọc.
- Tôi thấy cô có vẻ sung sướng – Mameha nói – và tôi rất mừng cho cô. Nhưng đừng vui quá. Đời cô sẽ có nhiều ngọc nữa, Sayuri à, tôi nghĩ là sẽ có nhiều. Nhưng cô sẽ không có cơ hội như thế này lại nữa đâu. Cô hãy đem viên ngọc này về nhà và đưa cho bà Mẹ.
Nhìn vào viên ngọc đẹp thế này, ánh sáng từ viên ngọc toát ra nhuộm hồng đôi tay tôi, rồi nhìn bà Mẹ với cặp mắt vàng khè, mi mắt bầm tím…hừ, tôi thấy cho bà ta viên ngọc này chẳng khác nào mặc đồ lụa cho chồn. Nhưng dĩ nhiên tôi phải vâng lời Mameha.
- Khi cô đưa viên ngọc này cho bà ta - cô ấy nói tiếp – cô phải hết sức dịu dàng, nói như thế này “Thưa Mẹ, con không cần viên ngọc, con rất hân hạnh được Mẹ nhận viên ngọc này. Con đã gây cho Mẹ quá nhiều phiền hà trong những năm vừa qua” Nhưng đừng nói nhiều, nếu không bà ta sẽ cho là cô mỉa mai.
Sau đó khi tôi ngồi trong phòng, mài mực tàu để viết vài lời cám ơn ông Nobu, tôi lại thấy tức tối trong lòng. Nếu Mameha yêu cầu tôi cho cô ta viên ngọc, tôi sẽ vui vẻ đưa cho cô ta ngay. Nhưng đưa cho bà Mẹ thì ôi! Tôi cảm thấy thích ông Nobu, tôi rất buồn khi thấy món quà đắt tiền này lọt vào tay bà Mẹ. Tôi thừa biết nếu viên ngọc này là của ông Chủ tịch, tôi sẽ không cho ai hết. Nhưng dù sao, tôi đã viết xong lời cám ơn, tôi bèn đến phòng bà Mẹ để nói chuyện với bà. Bà ta đang ngồi trong ánh sáng lờ mờ, vuốt ve con chó và hút thuốc.
- Mày muốn gì đấy? – bà ta hỏi tôi – Ta định gọi đem đến một bình trà.
- Con xin lỗi đã quấy rầy Mẹ. Chiều nay khi Mameha và con rời khỏi nhà hát, ông quản lý Nobu Toshikazu đợi con…
- Chắc mày muốn nói đợi cô Mameha…
- Con không biết, thưa Mẹ. Nhưng ông ta tặng cho con một món quà. Món quà rất đẹp, nhưng con không dùng nó làm gì.
Tôi muốn nói tôi rất hân hạnh nếu được bà nhận món quà này, nhưng bà Mẹ không nghe tôi. Bà để ống vố xuống bàn, lấy cái hộp trên tay tôi trước khi tôi đưa cho bà. Tôi lại muốn nói tiếp cho rõ hơn, nhưng bà Mẹ đã lật ngược cái hộp đổ viên hồng ngọc ra trong tay bà.
- Cái gì thế này? – Bà ta hỏi.
- Đây là quà ông quản lý Nobu tặng con. Nobu Toshikazu ở công ty đồ điện Iwamura.
- Mày tưởng tao không biết Nobu Toshikazu là ai à?
Bà ta đứng dậy, đến bên cửa sổ, đẩy khung cửa giấy ra và đưa viên ngọc ra chỗ có ánh sáng của buổi chiều tà chiếu vào. Bà ta làm công việc như tôi đã làm ngoài đường, xoay quanh viên ngọc trong tay và nhìn ánh sáng lấp lánh từ mặt này sang mặt khác. Cuối cùng, bà đóng khung cửa sổ lại và về chỗ cũ.
- Chắc mày lầm, có phải ông ta bảo mày đưa viên ngọc cho Mameha không?
- Dạ, Mameha có mặt với con lúc ấy.
Tôi có thể hình dung được cảnh tượng diễn ra trong óc bà Mẹ lúc ấy, chẳng khác nào cảnh ngã tư đường vào giờ xe cộ đông đúc. Bà ta để viên ngọc lên bàn, tiếp tục hút ống vố. Tôi nghĩ tâm trí bà rối bời như đám khói thuốc bà nhả ra. Cuối cùng bà ta nói:
- Vậy là Nobu Toshikazu đã quan tâm đến mày, phải không?
- Con hân hạnh được ông ta chú ý đến từ ít lâu nay.
Nghe xong bà ta để ống vố xuống bàn như thể muốn nói rằng câu chuyện của chúng tôi sắp chuyển sang phần nghiêm trọng hơn. Bà ta nói:
- Tao chưa canh chừng mày được kỹ càng. Nếu mày đã có bạn trai, thì bây giờ hãy nói cho tao biết.
- Thưa Mẹ, con không có bạn trai nào hết.
Tôi không biết bà ta có tin tôi hay không, nhưng đến đây thì bà bảo tôi đi ra. Tôi chưa kịp nói lời tặng bà ta viên ngọc như Mameha đã dặn. Tôi cố nghĩ ra cách để nêu vấn đề. Nhưng khi tôi nhìn vào cái bàn nơi có viên ngọc, chắc bà tưởng tôi muốn lấy viên ngọc lại. Cho nên, tôi chưa kịp nói thêm lời nào, bà ta đã đưa tay nắm gọn lấy viên ngọc.

OOo
Cuối cùng, việc đó xảy ra vào một buổi chiều. Mameha đến nhà kỹ nữ, dẫn tôi vào phòng khách để báo cho tôi biết việc hô giá mua mizuage của tôi bắt đầu. Cô ấy đã nhận được tin báo của phòng trà Ichiriki vào sáng ấy.
- Tôi buồn là thời điểm tổ chức không thuận lợi – Mameha nói với tôi – Vì chiều nay tôi phải đi Tokyo. Nhưng cô không cần phải có mặt của tôi. Cô sẽ thấy giá hô sẽ cao, vì mọi việc chắc thế nào cũng xảy ra.
- Tôi không hiểu – tôi nói - Mọi việc gì thế?
- Tất cả mọi việc - cô ấy đáp, rồi ra về mà không đụng đến tách trà.
Cô ấy đi ba ngày. Mới đầu, mỗi khi tôi nghe tiếng chân của các chị hầu đến gần là tim tôi đập thình thịch. Nhưng hai ngày trôi qua không có tin tức gì mới mẻ. Sang ngày thứ ba, bà Dì đến tìm tôi ở hành lang để báo là bà Mẹ muốn gặp tôi trên lầu.
Tôi vừa bước lên tầng cấp thứ nhất của thang lầu, bỗng nghe có tiếng cửa mở, rồi Bí Ngô ào ào chạy xuống. Cô ta phóng như gió, hai chân hầu như không chạm phải bậc thang, đến giữa cầu thang, một ngón tay móc phải tay vịn quặp lại. Chắc cô ta đau lắm, vì cô ta hét lên một tiếng và khi xuống đến chân cầu thang, cô ta dừng lại để nắm lấy ngón tay.
- Hatsumono đâu rồi? - cô ta hỏi, rõ ràng cô ta đau đớn – tôi phải tìm cô ấy!
- Xem cô có vẻ đau nhiều đấy! – bà Dì nói – Cô phải tìm Hatsumono để cô ta làm cho cô đau thêm nữa phải không?
Bí Ngô có vẻ rất chán nản. Không những vì ngón tay mà thôi, nhưng khi tôi hỏi cô ta có việc gì quan trọng không, cô ta không đáp mà chạy ra cửa trước rồi biến mất.
Khi tôi vào phòng Mẹ, bà ta đang ngồi nơi bàn. Bà nhồi thuốc vào ống vố, nhưng rồi không biết nghĩ sao, bà ta dẹp đi. Trên kệ để sách kế toán, có cái đồng hồ theo kiểu Tây phương rất đẹp trong tủ kính. Chốc chốc Mẹ nhìn đồng hồ, nhưng mấy phút trôi qua mà bà vẫn không nói gì với tôi hết. Cuối cùng tôi lên tiếng:
- Thưa Mẹ, con xin lỗi đã quấy rầy Mẹ, nhưng con được lệnh lên đây để gặp Mẹ.
- Ông bác sĩ đến trễ - bà đáp – chúng ta đợi ông ta một lát.
Tôi nghĩ bà nói đến bác sĩ Cua, chắc ông ta đến đây để thu xếp về việc mua mizuage của tôi. Tôi không trông mong chuyện như thế cho nên thấy lòng xốn xang khó chịu. Mẹ vuốt ve con chó Taku để giết thì giờ, con chó có vẻ mệt mỏi vì bà ta lưu tâm đến nó quá, nên nó kêu ư ử trong họng để phản đối.
Cuối cùng tôi nghe các chị hầu cất tiếng chào khách dưới tiền sảnh, và Mẹ vội vã xuống lầu. Mấy phút sau, bà trở lên, nhưng không dẫn bác sĩ Cua lên theo mà dẫn một người đàn ông trẻ hơn có mái tóc màu bạch kim mượt mà, xách cặp da trên tay.
- Cô gái này đây - Mẹ nói với ông ta.
Tôi cúi đầu chào ông bác sĩ trẻ, ông ta chào lại tôi.
- Thưa bà, chúng ta sẽ khám tại đây?
Mẹ nói với ông ta khám ngay trong phòng chúng tôi đang ngồi là tiện nhất. Cách bà đóng cửa, tôi biết chuyện sắp xảy ra không thú vị gì. Bà bèn tháo dải thắt lưng của tôi ra, để lên bàn. Rồi bà cởi áo kimono của tôi qua vai và đến móc vào giá ở trong góc. Tôi đứng bình tĩnh với chiếc áo lót trên người, nhưng một lát sau Mẹ đến tháo dải vải buộc áo lót ra. Tôi tự nhiên đưa tay cản lại, nhưng bà hất tay tôi đi như ông Nam tước đã làm, khiến cho tôi cảm thấy đau đớn. Sau khi tháo dải vải buộc xong, bà chuồi tay vào dưới áo lót và kéo dải vải Koshimaki quanh mông ra - một lần nữa như khi ở Hakone. Tôi không thích chuyện như thế này chút nào hết, nhưng thay vì kéo rộng hai vạt áo lót ra như ông Nam tước đã làm, bà ta vấn hai vạt áo lên quanh người tôi rồi bảo tôi đến nằm xuống chiếu.
Ông bác sĩ quỳ gối xuống, sau khi xin lỗi, ông ta lôi rộng áo lót tôi để cho hai chân phô ra. Mameha đã nói cho tôi biết một ít về chuyện mizuage rồi, nhưng tôi thấy bây giờ mới đến lúc biết rõ nhiều hơn. Có phải việc hô giá đã xong xuôi và ông bác sĩ trẻ này đã thắng? Thế ông bác sĩ Cua và ông Nobu ra sao rồi? Tôi bỗng nghĩ là có thể bà Mẹ âm mưu phá hỏng kế hoạch của Mameha. Ông bác sĩ trẻ chỉnh lại hai chân tôi cho ngay thẳng rồi đưa tay vào giữa, tôi cảm thấy bàn tay ông ta mịn màng, mềm mại như tay của ông Chủ tịch. Tôi cảm thấy quá xấu hổ và trơ tráo khiến cho tôi phải lấy tay che mặt. Tôi muốn khép hai chân lại, nhưng tôi sợ làm thế sẽ gây trở ngại cho công việc của ông ta, rồi kéo dài thêm thời gian chạm trán này. Cho nên tôi nằm yên, hai mắt nhắm nghiền, nín thở. Tôi cảm thấy như con chó Taku khi nó bị mắc xương, bà Dì phải banh miệng nó ra cho bà Mẹ thọc tay vào họng nó. Bỗng tôi cảm thấy ông bác sĩ đưa cả hai tay vào giữa hai chân tôi, nhưng cuối cùng ông ta lấy tay ra rồi kéo áo lót che kín cho tôi. Khi tôi mở mắt ra, tôi thấy ông ta lau tay trên miếng vải.
- Cô gái còn trinh - ông ta nói.
- Tốt, thế là tuyệt! - Mẹ đáp – Có sẽ ra nhiều máu không?
- Chắc không ra máu đâu. Tôi chỉ nhìn mà khám thôi.
- Không, tôi nói lúc bán mizuage kìa.
- Khó nói. Tôi đoán máu sẽ chảy ra như mọi người khác thôi.
Khi ông bác sĩ trẻ về rồi, Mẹ giúp tôi mặc áo và bảo tôi ngồi vào bàn. Rồi không nói không rằng, bà ta chụp dái tai của tôi, kéo rất mạnh khiến tôi la lên. Bà ta giữ đầu tôi kê sát bên đầu bà trong khi nói:
- Mày là món hàng đắt giá, con ơi! Tao đã đánh giá mày thấp. Tao may mắn là không có gì xảy ra. Nhưng mày phải nhớ là từ rày về sau tao giám sát mày chặt chẽ đấy. Đàn ông phải trả giá thật đắt mới mua trinh của mày được, mày hiểu không?
- Dạ hiểu, thưa Mẹ! – tôi đáp. Dĩ nhiên bà ta nói gì tôi cũng dạ vì bà kéo tai tôi đau quá.
- Nếu mày để cho đàn ông trả giá tuỳ tiện tức là mày lường gạt nhà kỹ nữ này đấy. Mày còn mắc nợ tiền, tao phải lấy lại tiền của mày. Chuyện này hiển nhiên không cần phải nói nữa! - Đến đây, bà Mẹ làm phát ra tiếng kêu gớm ghiếc từ bàn tay kia, bà chà mấy ngón tay vào lòng bàn tay khiến phát ra tiếng kêu ken két.
- Đàn ông sẽ trả tiền để mua trinh – bà ta nói tiếp – nhưng họ cũng trả tiền để nói chuyện khác với mày nữa. Nếu mày trốn đi để gặp thằng nào, cho dù chỉ để nói chuyện một lát thôi – Đến đây bà kết thúc ý nghĩ của mình bằng cách kéo mạnh dái tai tôi một lần nữa mới buông ra.
Tôi phải nghiến răng chịu đau một lát mới lấy lại hơi thở. Khi bình tĩnh trở lại, tôi nói:
- Thưa Mẹ, con sẽ không làm gì cho Mẹ giận đâu!
- Chưa đấy thôi! Nếu mày có lương tri, mày không nên làm.
Tôi xin lỗi để rút lui, nhưng Mẹ bảo tôi ngồi nán lại. Bà gõ ống vố, mặc dù ống vố trống trơn, rồi khi đã nhồi thuốc và châm lửa xong, bà mới nói:
- Tao đã có quyết định. Địa vị của mày trong nhà này sắp thay đổi.
Tôi hốt hoảng khi nghe thấy thế, định lên tiếng hỏi thì Mẹ đã ngăn tôi lại.
- Tuần sau, tao và mày sẽ tổ chức một buổi lễ. Sau đó mày sẽ là con gái của tao. Tao sẽ tuyên bố quyết định nhận con nuôi. Ngày nào đó, nhà kỹ nữ này sẽ là của mày.
Tôi không biết nói năng gì, và tôi cũng không nhớ hết những gì xảy ra sau đó. Tôi chỉ nhớ Mẹ nói liên hồi, bà nói rằng vì tôi là con gái của nhà kỹ nữ, nên rồi đây tôi sẽ dọn đến ở tại phòng của Hatsumono và Bí Ngô đang ở, còn hai người ấy phải dọn đến phòng tôi đang ở nhỏ hơn. Tôi chỉ nghe mang máng cho đến khi nhận ra rằng khi đã là con gái của Mẹ rồi, tôi không còn phải vật lộn dưới sự bạo tàn của Hatsumono nữa.
Đấy là kế hoạch của Mameha, thế nhưng tôi không tin lại có ngày xảy ra được. Mẹ cứ tiếp tục nói. Tôi nhìn vào đôi môi chảy xuống và cặp mắt vàng khè của bà. Bà ta là mụ già đáng ghét thật đấy, nhưng khi tôi đã là con gái của bà ta, tôi sẽ đứng trên kệ cao khỏi tầm với của Hatsumono.
Đang nói nửa chừng, cửa mở ra và Hatsumono hiện ra nơi ngưỡng cửa.
- Cô cần gì đấy? – Mẹ hỏi – tôi đang bận.
- Đi ra – cô ta nói với tôi – tôi cần nói chuyện với Mẹ.
- Nếu cô muốn nói chuyện với ta – Mẹ nói – cô nên hỏi xem Sayuri có vui lòng ra ngoài hay không đã.
- Làm ơn vui lòng ra ngoài cho với, Sayuri – Hatsumono nói, giọng mỉa mai.
Lần đầu tiên trong đời, tôi trả lời cô ta mà không sợ cô ta trừng phạt tôi.
- Nếu Mẹ muốn tôi ra, tôi sẽ ra – tôi nói với cô ta.
- Thưa Mẹ, mẹ có vui lòng bảo cô bé ngốc này ra ngoài để yên cho chúng ta được không? – Hatsumono hỏi.
- Đừng có sinh chuyện ồn ào nữa! – Mẹ đáp – muốn nói gì thì cứ vào mà nói.
Hatsumono không thích thế, nhưng cô ta vẫn đi vào. Mẹ ngồi ở bàn. Cô ta ngồi ở giữa Mẹ và tôi, nhưng rất gần bên tôi đến nỗi tôi ngửi được cả mùi nước hoa trên người cô ta.
- Bí Ngô vừa chạy đi tìm tôi, nó rất buồn – cô ta nói – Tôi hứa tôi sẽ nói chuyện với Mẹ. Bí Ngô nói “Ôi chị Hatsumono, Mẹ đã đổi ý rồi!”, nhưng tôi nói với nó không có chuyện kỳ lạ như thế đâu.
- Ta không biết nó nói chuyện gì, chưa bao giờ ta thay đổi ý kiến về chuyện gì hết.
- Chính tôi đã nói với nó như thế, tôi nói rằng Mẹ sẽ không bao giờ nuốt lời hứa. Nhưng thưa Mẹ, nếu Mẹ nói thẳng cho cô ấy biết, chắc cô ta mới yên tâm.
- Nói với nó về việc gì thế?
- Nói Mẹ không đổi ý về việc nhận cô ta làm con.
- Cái gì khiến cho nó có ý ấy? Có bao giờ ta nảy ra ý kiến sẽ nhận nó làm con nuôi đâu?
Nghe bà ta nói, tôi đau đớn kinh khủng, vì không làm sao tôi khỏi nhớ lại cảnh Bí Ngô chạy xộc xuống cầu thang với vẻ đau khổ, và cô ta đau đớn là đúng, vì không ai biết được tương lai của cô ta sẽ ra sao. Khi mới vào, Hatsumono cười tươi rói, nhưng khi nghe Mẹ nói, mặt cô ta đanh lại như đá. Cô ta hậm hực nhìn tôi.
- Vậy là đúng rồi! Mẹ đã có kế hoạch nhận “nó” làm con nuôi. Mẹ này, thế Mẹ không nhớ Mẹ đã hứa sẽ nhận Bí Ngô làm con nuôi hay sao? Mẹ yêu cầu tôi nói lại cho cô ta biết kia mà?
- Việc cô nói với Bí Ngô không phải là ý kiến của ta. Vả lại, cô không tổ chức cho Bí Ngô thực tập được tốt như ta mong đợi. Cô chỉ làm tốt một thời gian rồi gần đây…
- Mẹ, Mẹ đã hứa rồi! – Hatsumono nói bằng giọng làm cho tôi khiếp sợ.
- Đừng nói chuyện ngu ngốc! Chắc cô biết ta đã để mắt đến Sayuri từ lâu rồi. Tại sao ta quay qua nhận Bí Ngô làm con nuôi?
Tôi thừa biết Mẹ nói láo. Rồi bà ta còn đi xa hơn nữa, vì bà quay qua tôi hỏi như thế này:
- Này Sayuri, lần đầu ta nêu vấn đề nhận cô làm con nuôi là khi nào nhỉ? Có lẽ cách đây một năm phải không?
Chắc anh đã thấy con mèo mẹ dạy con mèo con săn chuột rồi – cách nó nắm con chuột bất lực rồi xé xác ra – như thế đấy, tôi cảm thấy như thế là Mẹ giúp tôi cơ hội học hỏi để trở thành như bà ta sau này. Tôi chỉ có việc nói láo như bà ta đã nói láo, và tôi đáp:
- Dạ phải, thưa Mẹ, Mẹ đã nói chuyện này với con nhiều lần rồi!
Đây là bước đầu tiên để một ngày nào đấy tôi trở thành bà già mắt vàng khè, sống trong căn phòng âm u với sổ sách kế toán. Tôi ghét Hatsumono mà cũng không phục bà Mẹ. Tôi cụp mắt nhìn xuống chiếu để khỏi thấy người nào hết, và trả lời rằng không nhớ khi nào.
Mặt Hatsumono đỏ dừ vì tức giận. Cô ta đứng dậy, đi ra cửa, nhưng Mẹ chận lại.
- Trong vòng một tuần nữa là Sayuri làm con gái của ta – bà nói – Trong thời gian này, cô phải học cách cư xử với cô ấy cho phải phép. Khi xuống lầu, cô hãy bảo chị hầu đem trà lên cho Sayuri và ta.
Hatsumono cúi nhẹ chào, đi ra cửa.
- Thưa Mẹ - tôi nói – con rất buồn khi thấy mình là nguyên nhân sinh ra chuyện rắc rối như thế này. Con nghĩ Hatsumono hoàn toàn sai lầm trong các kế hoạch Mẹ đã đề ra cho Bí Ngô, nhưng, con xin hỏi điều này được không? Mẹ không thể nhận cả Bí Ngô và con làm con nuôi được à?
- Ồ thì ra bây giờ mày đã biết công việc làm ăn rồi phải không? – Bà ta trả lời – Mày muốn dạy ta cách thức điều hành nhà kỹ nữ phải không?
Mấy phút sau chị hầu mang khay trà lên, trên khay có bình trà và một cái tách – không phải hai cái tách, mà chỉ có một cái thôi. Hình như Mẹ chẳng cần để ý, Mẹ rót đầy tách trà và uống, giương cặp mắt vàng khè nhìn tôi.
0
«« « 1 2 » »»