Diễn Đàn » Sân Khấu - Điện Ảnh

Mùa Len Trâu

7 trả lời, 1.981 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-27 16:44:23Ngọc Lý>
.


Cuối tuần qua tôi có được xem phim Mùa Len Trâu do đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh viết kịch bản, đạo diễn, dựa trên hai truyện ngắn Một cuộc biển dâu Mùa "len" trâu trong tập truyện ngắn Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam .

Phim làm với nhiều tâm ý, công sức, nhiều gửi gấm của tác giả. Hình ảnh rất chọn lọc, nghệ thuật cao, với nhiều khoảng sáng tối gợi chiều sâu của đời sống ba chìm bảy nổi theo con nước của dân Lúa Nước Nam Bộ trong thời khai hoang.

Bộ phim này đã được trình chiếu tại trên 40 nước khắp thế giới, nhận được nhiều giải thưởng quốc tế, và có hy vọng sẽ tham dự giải Oscar. Ngọc Lý hơi ngạc nhiên khi không thấy các bạn trong nước nhắc đến phim Mùa Len Trâu này. Mong các bạn cho thêm tin tức.

Từ từ, Ngọc Lý sẽ viêt thêm về cảm nghĩ của riêng mình khi xem phim, và mang thêm vào đây các tin tức về Mùa Len Trâu,

Thân ái,

Ngọc Lý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-27 16:50:24Ngọc Lý>
.

"Mùa len trâu": Muốn dự Oscar nhưng chưa được chiếu trong nước?


(VietNamNet) - Giành nhiều giải thưởng quốc tế nhưng khán giả nhà chẳng biết mặt mũi Mùa len trâu ra sao. Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh về nước tiết lộ nhiều điều thú vị...


ĐD Nguyễn Võ Nghiêm Minh gặp lại nhà văn Sơn Nam. Ảnh: V.T


Thêm một lần nữa bộ phim Mùa len trâu lại được tiếp tục... hứa sẽ chiếu ở Việt Nam. Sau buổi ra mắt ngày 2/6 tại TP.HCM, Hãng phim Giải phóng cho biết vẫn chưa đăng ký được lịch chiếu cho phim vào thời điểm nào, có thể tháng 7, tháng 8 hoặc cuối năm nay!

Quanh bộ phim Mùa len trâu có khá nhiều điều lý thú nhưng tréo ngoe. Phim khởi quay từ tháng 9/2003 nhưng cho đến giờ này nó chỉ xuất hiện tại Việt Nam trong những buổi ra mắt hoặc chiếu theo hợp đồng (rất ít). Bộ phim đã dự tới hơn 20 LHP trên khắp thế giới, giành đến 4 giải thưởng quốc tế uy tín, nhưng ở Việt Nam nó lại không được đưa vào danh sách xét giải thưởng trong liên hoan phim quốc gia với lý do trễ hạn. Là phim Việt Nam 100% nhưng chưa chiếu chính thức ở Việt Nam suất nào trong khi đã có khoảng 12.000 lượt khán giả Pháp được thưởng thức Mùa len trâu tính từ ngày 23/3/2005. Khán giả các nước khác như Bỉ, Hà Lan, Mỹ, Hàn Quốc cũng đã xem Mùa len trâu từ đầu năm nay.

Quả là những điều không đáng để xảy ra, nhất là khi Hãng phim Giải phóng đã có kinh nghiệm "thương đau" với Mê Thảo thời vang bóng. VietNamNet có cuộc trò chuyện với đạo diễn Việt kiều Mỹ, Nguyễn Võ Nghiêm Minh trong lần về nước ngắn ngủi của anh.

Chiếu chậm: chuyện ngoài tầm tay

Ông Lê Đức Tiến, GĐ Hãng phim Giải phóng: Phía Việt Nam góp 1/10 trong khoản kinh phí hơn 1 triệu USD của Mùa len trâu. Phía 3B Productions (Pháp) và Novak Prod (Bỉ) giữ phần còn lại nên doanh thu cũng sẽ được chia theo tỷ lệ này. Chúng tôi góp vốn ít thì cũng không đòi hỏi gì nhiều. Bộ phận phát hành của Hãng cũng đã lên kế hoạch chiếu Mùa len trâu nhưng các rạp thông báo lại rằng họ đã kín chỗ đến 2/9 năm nay!

Ông Xavier Hirigoyen, GĐ Hãng Tadrart Film (Pháp), hãng phát hành Mùa len trâu: Sau 3 tháng rưỡi chiếu ở Pháp, doanh thu của phim Mùa len trâu cho tới nay đã đạt khoảng hơn 84.000 USD. Việc trình chiếu một bộ phim nghệ thuật của Việt Nam là điều khó khăn vì nó phải chen chân cùng lúc với 15 phim khác. Các giải thưởng mà Mùa len trâu đã đạt được là chi tiết gây chú ý cho khán giả và các ông chủ rạp phim.

Anh có thấy buồn không khi phim của mình, phim của người Việt, nói tiếng Việt, về đất nước Việt Nam lại không được chiếu sớm cho khán giả Việt xem?

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Việc Mùa len trâu được công chiếu ở VN vào thời điểm nào là ngoài tầm tay của tôi. Hãng Giải phóng sẽ lo liệu việc này nhưng tôi cũng không biết khi nào phim của tôi sẽ ra mắt khán giả trong nước.


Cảnh trong phim: Len trâu lên vùng cao trong mùa nước lớn.


Có phải vì định trước thị trường phát hành cho phim mình mà anh chọn đề tài được xem là "ăn khách" đối với người phương Tây?

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Khi bắt tay làm phim, tôi không hề nghĩ đến việc chiếu ở thị trường nào, chiếu cho khán giả Việt Nam hay các nước khác. Tôi chỉ nghĩ đến việc làm phim cho khán giả ở đâu xem cũng thấy xúc động, còn việc sau này là của nhà sản xuất.

Như thế người ta sẽ đặt câu hỏi, liệu một đạo diễn Việt kiều có thể chuyển tải, diễn đạt đầy đủ, chân thực đời sống của con người ở quê nhà. Chẳng hạn như trong phim là chuyện mai táng người chết trên cây, dưới nước?

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Ngoài cuốn Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, tôi có đọc qua một số tài liệu trong và ngoài nước về phong tục này. Nhưng chuyện thủy táng, thiên táng trong phim không đúng thật 100%, chỉ cố gắng đúng chừng nào hay chừng đó. Tất nhiên có cả hư cấu, bởi phim của tôi là phim truyện chứ không phải phim tài liệu. Ngay chính nhà văn Sơn Nam cũng thừa nhận khi tôi nhờ tư vấn là không phải cái gì ông cũng biết hết.


"Nhân vật" chính là nước


Phần hình ảnh do quay phim người Bỉ (Yves Cape) thực hiện nhưng theo người trong nghề, vẫn chưa thấy "sướng" lắm, còn cảnh nội lại có cách chiếu sáng giống sân khấu?



Nam bộ hoang sơ những năm 1930 -1940 trong phim.


Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Tôi đã có ý đồ ngay từ đầu trong việc tạo độ tương phản cao cho hình ảnh với nhiều khoảng tối. Tôi muốn tạo một phong cách riêng xuyên suốt cho bộ phim, từ câu chuyện, tâm lý nhân vật, diễn viên cùng nhiều yếu tố khác. Ngay cả ngoại cảnh tôi cũng cho quay ngược sáng. Ở đây không nói chuyện đúng sai dù rằng phim thuận sáng vẫn được coi là đẹp hơn, nhưng đó là sự lựa chọn của tôi.

Còn những cảnh quay đàn trâu bơi dưới nước chất lượng hình ảnh chưa đạt...

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Thật ra việc thực hiện cảnh quay dưới nước rất đơn giản. Chúng tôi thuê một chiếc máy quay video bình thường và cho vào một hộp nhựa, sau đó lặn xuống nước để quay. Việc chuyển từ phim video sang phim nhựa làm cho hình ảnh bị nổ hạt nhưng tôi lại thích sự không hoàn hảo đó vì nó thích hợp với cảnh mờ ảo dưới nước.

Có vẻ anh rất khéo biến chuyển tình thế bất lợi trong công việc làm phim còn nhiều khó khăn như hiện nay...

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Vì là phim đầu tay nên không phải mọi thứ đều quen thuộc ngay với tôi được. Tôi vừa làm vừa chiêm nghiệm, vừa quyền biến thêm. Nhưng quan trọng là tôi thấy hứng khởi khi làm bộ phim này, với những câu chuyện hết sức đặc biệt của nó. Những câu chuyện mà tôi đã đọc, đã biết từ hồi còn học trung học ở Việt Nam nhưng thưởng thức rất hời hợt. Mãi sau này tôi mới khám phá ra chiều sâu của cuốn truyện, ẩn ý của nhà văn, và cũng có thể là do cảm nhận của tôi chăng? Tôi viết kịch bản rất nhanh, chỉ trong vài tuần, lên phim cũng chỉ lược bỏ một vài chi tiết.




Cha con thằng Kìm.



Đó là "nhân vật" nước xuyên suốt phim. Nước là hình ảnh của sự sống, sự trong sạch. Trong Mùa len trâu, nước là biểu tượng của sự chết chóc nhưng trong cái chết ấy lại nảy sinh mầm sống, lúa gạo, tôm cá... Bởi thế nước ở đây biểu thị cho cái chết lẫn sự sống, đối kháng nhau nhưng cộng hưởng nhau, không tách rời. Tôi làm phim với cái nền tư tưởng ấy...

Nhà văn Sơn Nam: Hồn cốt trong truyện của tôi vẫn được giữ lại trên phim, chẳng hạn như tình người, lòng nhân hậu. Tôi viết cuốn truyện này đã 50 năm rồi nhưng không ai làm phim vì họ không tìm đâu ra... trâu để quay phim, bây giờ người ta xài máy cày hết rồi. Có ông Nguyễn Võ Nghiêm Minh... mướn được trâu để quay (350 con - PV) tôi thấy rất hãnh diện.

Tôi coi như đã trả được cái nợ tinh thần với đồng bào Đồng bằng sông Cửu Long quê tôi. Tôi chỉ hy vọng bộ phim được chiếu nhiều ở dưới đồng bằng, được in ra video để bán cho bà con thưởng thức xứ mình trên phim.

Dự Oscar 2006?

Anh có nghĩ mình sẽ lại tìm được một kịch bản chuyển thể từ những cuốn truyện hay như Hương rừng Cà Mau và Một cuộc biển dâu? Anh có ưng ý với cuốn phim đầu tay của mình?

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Tôi cũng hy vọng như thế. Nhưng mọi việc trong đầu tôi vẫn còn lờ mờ, chưa rõ ràng. Sau khi làm xong phim, tôi thấy mình đã đạt được những hy vọng đặt ra từ ban đầu. Trừ những điều ngoài khả năng, tôi thấy thỏa mãn với những gì đã đạt được. Tôi luôn áp dụng những bài học đã có cho công việc trong tương lai chứ không phải để nhìn lại xem mình đã làm được gì.

Xin anh xác nhận thông tin Mùa len trâu sẽ dự giải Phim nước ngoài hay nhất tại Oscar năm tới?

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: - Tôi chưa biết gì về việc này. Giải Oscar rất quan trọng nhưng không phải là quan trọng nhất đối với Mùa len trâu. Oscar rất cao quý nhưng còn nhiều liên hoan phim khác nữa. Việc này là do Bộ VHTT tin chủ động quyết định.

Võ Tiến thực hiện

http://www.vnn.vn/vanhoa/dienanh/2005/06/445989/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-24 22:04:41Ngọc Lý>
.


Vài hình ảnh trong phim "Mùa Len Trâu"
































.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-24 21:50:49Ngọc Lý>

.

Hành trình Mùa len trâu



Cách đây gần 40 năm, có một cậu bé ở Vũng Tàu trốn vào rạp chiếu phim để tránh xa cuộc chiến bên ngoài. Cậu bé ấy cũng bị lôi cuốn bởi cuộc sống dân dã miền Nam bộ qua những trang sách Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Nhiều năm trôi qua, cậu bé nay đã trở thành một tiến sĩ vật lý, quay trở về nước để thực hiện giấc mơ thưở nhỏ: làm bộ phim Mùa len trâu, với cảm hứng từ hai truyện ngắn trong tập truyện Hương rừng Cà Mau. Ngày 2.6.2005, Nguyễn Võ Nghiêm Minh hạnh phúc giới thiệu giấc mơ của mình với mẹ anh, với nhà văn Sơn Nam và khán giả trong nước sau một loạt thành công gặt hái ở các LHP quốc tế.

Mùa len trâu mở đầu khi cháu gái của Kìm tìm thấy sợ dây thừng buộc cái cối xay vào một bộ xương người. Đó là cái gì? Chuyện gì đã xảy ra, và lưu lại trên mảnh đất này? Câu chuyện hồi tưởng lại nhiều năm trước đó, khi Kìm là cậu con trai 15 tuổi trong một gia đình nghèo ở Nam Bộ. Nhà có hai con trâu, nhưng không có tiền để trả cho dân len trâu dắt đi trong mùa nước lũ, Kìm phải tự mình dắt trâu đi. Sau mỗi chuyến đi, Kìm lại trưởng thành hơn. Sau mỗi chuyến đi, Kìm lại giã từ những người thân yêu, vì quá giận và cũng vì quá yêu…

“Sau khi hoàn thành bộ phim, tôi cảm thấy một khoảng trống rất là lớn trong tâm hồn, nhưng tôi cảm thấy rất là thoả mãn với những gì đạt được với Mùa len trâu”. Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh tâm sự. Tiến sĩ vật lý này đã ấp ủ giấc mơ được làm phim từ nhỏ, khi anh còn là một cậu bé ở Vũng Tàu. “Tôi thường tìm cách trốn thoát cái chết chóc, đau khổ của chiến tranh bên ngoài bằng cách ráng đi vô coi phim. Vì ba tôi là quản lý rạp phim nên những người gác cửa rạp họ biết và để tôi vào xem không có gì khó khăn lắm. Xem phim, ngoài việc là phương tiện để tôi trốn thoát cái đau khổ của cuộc chiến tranh bên ngoài kia, nó còn là cửa sổ để tôi nhìn ra thế giới bên ngoài. tôi xem phim Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Pháp… Trong cái nhìn của một đứa trẻ tám, chín tuổi thì ấn tượng đó rất là sâu đậm. Nhưng không chỉ ở Việt Nam mà cả ở Âu châu, ngay cả ở Mỹ cũng vậy, sống bằng nghề làm phim không là chuyện vô cùng khó khăn nên tôi đành tạm gác cái đam mê của mình lại”. Thế rồi một ngày kia, khi anh đã ổn định cuộc sống và nghề nghiệp, anh nhìn lại giấc mơ của mình. “Tôi chợt nghĩ, một là mình làm phim bây giờ, hai là mình chắc phải lãng quên giấc mơ này. Và tôi phải quyết định, không hẳn là bỏ hẳn ngành vật lý của mình, nhưng tôi phải giảm bớt vai trò của công việc vật lý để bắt đầu đi học làm phim và làm các phim ngắn. Rồi tôi bắt đầu viết kịch bản phim Mùa len trâu. Kịch bản viết rất là nhanh, tôi nhớ rằng tôi viết trong vòng khoảng 30 ngày. Tôi rất vui là kể từ khi viết kịch bản, bắt tay vào làm phim thì hầu như không có nhiều thay đổi.”



Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh


Dù đây là phim đầu tay của mình, nhưng với sự tinh tế của người đàn ông tuổi 50, cùng với niềm đam mê tâm huyết, Nguyễn Võ Nghiêm Minh hoàn toàn chinh phục khán giả với chất Nam Bộ đặc sệt trong mọi khuôn hình của bộ phim. Cái chất Nam Bộ ấy hiển hiện trong sự mạnh mẽ của hình ảnh – ngay cả những góc máy quay chỉ có nước vẫn thấy chất mạnh mẽ cứng rắn, của ánh sáng tương phản cao sáng tối rõ ràng, của tính cách con người đứng trước những hạnh phúc và đau đớn. Bao trùm cả bộ phim là nước, như một nhân vật chính và không thể thiếu của bộ phim. “Nước là một nhân vật luôn hiện hữu trong suốt cả bộ phim. Nước trong nhiều nền văn hoá khác nhau, ngay cả trong văn hoá Việt Nam, là biểu tượng của sự trong sạch, của sự sống. Nhưng trong Mùa len trâu, nước còn được gắn liền với cả hình ảnh của cái chết. Tôi thấy rằng, trong một tác phẩm nghệ thuật, nếu chúng ta gọi phim là một tác phẩm nghệ thuật, thì các biểu tượng, ẩn dụ phải vượt ra ngoài những ý nghĩa thông thường mà chúng ta vẫn từng quen thuộc. Trong phim, nước là biểu tượng hỗn hợp cả sự chết lẫn sự sống. Đó là hai yếu tố rất là đối kháng nhau, nhưng không thể phân chia ra được”. Đạo diễn thổ lộ.

Sau buổi chiếu họp báo 2.6.2005 ở thành phố Hồ Chí Minh và 4.6.2005 tại Hà Nội, đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh tiếp tục lên đường cùng bộ phim của mình chu du thế giới tại các LHP quốc tế khác. Bộ phim của anh cho đến nay cũng vẫn chưa biết được ngày công chiếu rộng rãi cho chính khán giả ở quê hương anh. “Với tôi, được chiếu bộ phim cho khán giả Việt Nam là một niềm hạnh phúc lớn lao”, anh phát biểu trong buổi chiếu ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh. Thế nhưng theo ông Lê Đức tiến, đại diện của hãng phim Giải Phóng – đơn vị chịu trách nhiệm phát hành bộ phim này tại thị trường Việt Nam, thì hãng dự kiến trình chiếu vào khoảng tháng 7 hoặc 8, nhưng các rạp đã kín lịch đến ngày 2.9, đồng nghĩa với việc khó mà biết khi nào Mùa Len Trâu công chiếu rộng rãi. Cũng cần nhắc lại hãng phim Giải Phóng từng tranh đua quyết liệt để phim Lấy vợ Sài Gòn chen chân với hai bộ phim Việt Nam khác chiếu trong dịp Tết 2005 và vẫn kiếm được đủ rạp để chiếu trong mùa phim cao điểm.


Nhà văn Sơn Nam
Tác giả của tuyển tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau.


“Len” trong tiếng Khơme có nghĩa là đi tự do, “len trâu” có nghĩa là cho trâu đi tự do. Ở đây nước lụt, nước lụt từ 1m đến 4m. Người ta ở nơi lụt, người ta không có chỗ ở là phải, và trâu cũng không có chỗ ở. Cho nên nó phải đi đến những vùng đất cao để có cỏ cho nó ăn. Ở nhà tối nó ngủ không được, ngủ với nước sao mà ngủ được, và trưa thì làm sao cho nó ăn, cỏ đâu ra mà cho nó ăn. Người nuôi trâu, chủ nhà có trâu, phải đưa trâu đến vùng đất cao. Làm sao người làm ruộng nuôi trâu? Muốn nuôi trâu thì phải lùa trâu đi. Ngày thường trời nắng, nuôi trâu trong chuồng. Đến ngày trời mưa thì phải lùa trâu đi. Vì vậy cho nên phải đem trâu đi chỗ khác. Đưa trâu đến vùng bảy Núi. Nhưng nó xa nhà mình đến 30 – 40 km, xa quá sao mà đưa đi. Vì vậy, mình phải đưa nó đi lòng vòng, ăn hết cỏ chỗ này, nước lên, thì đưa trâu sang chỗ khác. Có khi đến ba bốn tháng mới đưa trâu về. Trâu dẫn đi phải có người giữ. Trâu không dẫn đi thì phải mướn người ta giữ. Người nghèo mướn ai bây giờ? Vậy thì để con cái đi giữ nó. Ngày trước trẻ con đi theo con trâu, áo quần không có, mùng mền không có, gạo cơm thiếu, đó là cả một chuyện khó khăn. Vì vậy đối với chúng tôi dân miệt dưới, tôi là dân miệt dưới, đó là một bài học cho thanh niên trở thành người lớn. Nhưng mà trẻ con ở đó không có được đi học. Học với ai. Thằng dốt học với thằng dốt, thằng du côn học với thằng du côn. Tôi rất hãnh diện, vì tác phẩm tôi viết đã gần 50 năm rồi, nhiều anh em tính làm phim, nhưng nghĩ làm hông nổi. Thời buổi này đâu còn trâu, máy cày hết rồi, thành ra tôi để đó coi, chờ xem. May mà có anh Nguyễn Võ Nghiêm Minh, ổng làm sao mà ổng có tiền ổng mướn trâu, thiên hạ sợ quá. Chứ làm sao thằng cha này có tiền mướn ba bốn trăm con trâu để đóng phim, dân làm phim Sài Gòn ngán Nguyễn Võ Nghiêm Minh, tưởng cha này là tỷ phú Việt Kiều Mỹ hay gì đó.

Tôi hãnh diện, được thấy cái phim này, đối với đồng bào ở đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã trả được một món nợ tinh thần. Tôi là một đứa con có hiếu với dân ở dưới. Tôi hy vọng các anh có phương tiện, phải làm sao chiếu ở dưới cho nhiều, và băng video in ra bán rẻ cho dân ở dưới coi. Họ sẽ rất hài lòng, họ thấy việc hợp tác giữa Việt, Pháp và Bỉ có kết quả rất lớn.


http://www.yxine.com/?gf=bv&view=1&articles_id=315
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-26 02:53:56Ngọc Lý>
.


Thêm vài hình ảnh trong phim
Mùa Len Trâu



































.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-27 01:19:11Ngọc Lý>
.

Nguyễn Võ Nghiêm Minh
Nghệ thuật luôn tiềm ẩn bên trong nó một sự mâu thuẫn
Phỏng vấn của tạp chí Khám Phá
Bảo Khánh thực hiện



Mùa len trâu, tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất trong nhiều năm trở lại đây do người Việt Nam làm và làm về người Việt Nam, vẫn chưa được ra mắt rộng rãi công chúng, nên bạn có thể đã xem, hoặc có thể chưa.



Cảnh trong phim "Mùa len trâu"




Dù vậy, còn rất nhiều thông tin hậu trường thú vị về bộ phim, và tác giả của nó - đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh, thì chắc chắn đây là lần đầu tiên bạn được biết. Chính người trả lời phỏng vấn đã phải thốt lên: “Với cuộc phỏng vấn của Khám Phá, có nhiều điều lần đầu tiên tôi bộc lộ. Có nhiều câu hỏi phỏng vấn về cá nhân tôi, về bộ phim, lần đầu tiên tôi được hỏi, cho dù tôi có trả lời không ít các nhà báo nước ngoài chuyên viết về điện ảnh”.

Xin giới thiệu với bạn đọc một chân dung của đạo diễn Mùa len trâu qua một bài phỏng vấn với nhiều chi tiết đặc biệt.



*


Khám Phá: Trước Mùa len trâu anh đã làm gì liên quan đến điện ảnh chưa? Trước 3 bộ phim truyện chính thức, đạo diễn Trần Anh Hùng cũng đã từng thực hiện 2 bộ phim ngắn gây được dấu ấn và là bàn đạp để anh ấy thực hiện các bộ phim truyện sau đó. Còn anh thì sao?

Nguyễn Võ Nghiêm Minh: Phim ngắn đầu tiên của tôi, Crimson Wings, lấy hứng từ giấc mơ hóa bướm của Trang Tử. Phim ngắn thứ hai, Nơi chốn và thời gian, là một “nhật ký” bằng hình ảnh. Trong một chuyến đi chọn cảnh đầu tiên cho phim Mùa len trâu, tôi đã hụt mất mùa nước nổi. Với thời giờ trống, tôi cố đi tìm lại một người thân cũ đã từ nhiều năm bị mất hẳn liên lạc. Khi gặp lại người nầy, tôi chợt nhận được rằng ký ức là những gì luôn thay đổi trong mỗi chúng ta. Tìm lại chúng chỉ là ảo tưởng. Tôi nghĩ là ta chỉ có thể sáng tạo lại những ký ức và những kỷ niệm xưa.

Anh bắt tay vào viết kịch bản Mùa len trâu vào lúc nào? Và động lực nào mạnh mẽ nhất khiến anh thực hiện đề tài về con người và thiên nhiên ở vùng nước nổi miền Tây Nam Bộ này chứ không phải là một đề tài nào khác?

Tôi bắt đầu viết kịch bản ngay khi vừa làm xong phim ngắn đầu tay. Tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam kể lại những câu chuyện tranh sống trong một hoàn cảnh hết sức đặc thù của vùng đất thấp trong bán đảo Cà Mau. Ở đây mỗi năm nước lũ về tràn ngập cả ruộng đồng trong mấy tháng trời. Khung cảnh sống nầy đã làm cho tôi tưởng tượng ra những hình ảnh của một cuộc phiêu lưu giữa vùng "nước nổi" minh mông. Nhưng trong nhiều năm trời vì chiến tranh, đi học, di tản, rồi bận việc kiếm sống, tôi cũng không bao giờ được đặt chân đến Cà Mau hay nghĩ đến chuyện làm một cuốn phim về đề tài nầy. Mùa nước nổi ở Cà Mau không biết có thật hay chỉ là một hư cấu của Sơn Nam? Tôi không bao giờ thắc mắc vì nó đã trở thành một thực tại trong lòng tôi.

Dù vậy, so với hai truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam mà anh chuyển thể, bộ phim đã khác rất nhiều. Tinh thần của câu chuyện thì vẫn thế nhưng tư tưởng, nội dung, tình tiết đã khác khá nhiều. Trả lời báo chí Pháp, anh có nói rằng bộ phim này mang nhiều biến thể mang dấu ấn của cá nhân anh?

Về liên hệ giữa kịch bản Mùa len trâu và tập Hương rừng Cà Mau, tôi nghĩ dùng chữ “gợi hứng” thì chính xác hơn là chuyển thể, vì tôi chỉ lấy không khí, một vài sự cố và nhân vật từ hai truyện ngắn trong tập HRCM để viết kịch bản theo những cảm nhận riêng của tôi. Hơn nữa tôi không nghĩ là một tác phẩm văn học có thể được chuyển thể mà không bị mất đi cái hồn của nó. Nói như thế không có nghĩa là tôi có thể quên rằng nếu không có tập Hương rừng Cà Mau thì chắc đã không có phim Mùa len trâu.

Tuy nhiên, một tác phẩm điện ảnh theo tôi cần có nhiều khía cạnh khác hơn là chỉ kể lại một hay vài câu chuyện lạ với những hình ảnh đẹp. Tôi cố gắng tìm tòi một cái gì đó vượt qua những hình ảnh, những câu chuyện.

Về dấu ấn cá nhân của tôi, tôi viết kịch bản Mùa len trâu khi cha tôi trong giai đoạn cuối cùng của đời ông và tôi thì vừa mới có một đứa con trai đầu lòng.

Khi Mùa len trâu chiếu ở Việt Nam, có nhiều nhận định khác nhau về những ẩn dụ trong bộ phim này. Có người coi đó như một hoài niệm nhiều chua xót về những con người khai hoang ở vùng nước nổi. Có người nhận định nó là một câu chuyện muôn thuở về cuộc đấu tranh sinh tồn giữa thiên nhiên và con người. Có nhận định lại cho rằng đó là bi kịch của những người đàn ông không làm chủ được cuộc sống và bản thân mình... Thực ra khi viết kịch bản và làm phim Mùa len trâu, ẩn dụ lớn nhất mà anh đưa ra trong bộ phim này là gì?

Tất cả những nhận định trên theo tôi đều có giá trị cả. Riêng tôi, trong lúc viết kịch bản tôi bắt đầu cảm nhận được trong phim Mùa len trâu rằng nước không chỉ là một phần của hậu cảnh mà là một “nhân vật” luôn có mặt trong phim. Trong nhiều văn hóa khác nhau kể cả văn hóa Việt Nam, thường thì nước là một biểu tượng của trong sạch, của sự sống, nhưng tôi lại muốn những ẩn dụ trong một tác phẩm nghệ thuật lại theo những ý nghĩa thông thường của nó. Trong phim Mùa len trâu, nước lại được gắn liền với sự chết và rũ mục. Tuy vậy trong phim ta thấy cũng từ nước nầy mà người dân có được tôm cá và lúa gạo là hai nguồn thực phẩm quan trọng nhứt. Sự sống và sự chết kề cạnh nhau, nuôi dưỡng nhau. Và nước trở thành một biểu tượng cho sự không phân cách được giữa sống và chết, hai yếu tố đối kháng nhưng bất ly, không thể tách rời nhau được.

Tôi không bao giờ đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống (the meaning of life) vì đó là việc của các tôn giáo, tôi không có khả năng làm việc đó. Tôi chỉ muốn đưa ra một kinh nghiệm về sự hiện hữu (the experience of being alive), trong Mùa len trâu, chết là một phần của sự hiện hữu.

Nhưng đó là những ý kiến chủ quan của người làm phim. Phải có những phê bình khách quan của người xem thì ta mới biết được những chủ ý của mình muốn gởi gắm vào phim có thành tựu hay không?

Giovana Fulvi, giám khảo tuyển lựa phim ở đại hội điện ảnh Toronto, đại hội lớn nhất ở Bắc Mỹ, đã viết như sau về biểu tượng của nước:

"Dùng nước làm một biểu tượng mạnh mẽ và một phương tiện tạo hình táo bạo, Mùa len trâu có nhịp điệu cuồn loạn của tuổi trẻ. Những biến chuyển trong dòng đời chứa đựng những phá hủy và sinh tạo như dòng nước mùa lũ: tình cảm và liên hệ gia đình bị tràn ngập và cuốn đi trong một thúc giục vào tuổi trưởng thành và những bí ẩn bị dìm kín dưới đáy nước cạn. Cuồng bạo về mỹ thuật và ngay cả thô bạo trong cấu trúc, Mùa len trâu có một sức thu hút mạnh của một câu chuyện về hiện hữu và sống còn."

Tôi vẫn chờ đợi nghe những phê bình của khán giả.

Trong Mùa len trâu, hình ảnh biểu tượng mạnh nhất là nước. Dòng nước mạnh mẽ, sôi sục, dữ dội ở trên bề mặt và dòng nước lặng lẽ ở bên trong. Điều này lại khiến tôi liên tưởng đến cách sử dụng thủ pháp nghệ thuật khá tương đồng trong hai bộ phim The Piano của nữ đạo diễn New Zealand Jane Campion và phim The Return của đạo diễn Nga Andrei Zvyagintsev. Sự đối lập giữa cái dữ dội bên ngoài và cái lặng lẽ bên trong lòng nước mang một thông điệp gì?

Thật là một vinh dự cho Mùa len trâu được so sánh với The Piano và nhất là The Return là một phim mà tôi rất ưa chuộng. Điện ảnh Xô-Viết và Nga cũng như Nhật có lẽ là 2 nền điện ảnh có ảnh hưởng đến phong cách làm phim của tôi nhiều nhất. Tuy nhiên, dù có một vài điểm tương đồng, Mùa len trâu và The Return rất khác nhau từ phong cách đến nội dung.

Về câu hỏi sự đối lập giữa cái dữ dội bên ngoài và cái lặng lẽ bên trong lòng nước. Nước cuốn chảy là biểu tượng của thời gian trôi qua. Đây là một ẩn dụ rất cũ trong văn chương Việt Nam và thế giới. Nhưng trong Mùa len trâu có hai loại thời gian khác nhau. “Thời gian thực” với sự mục rã của xác chết và cây cỏ làm nước đục ngầu mà ta đã bàn đến bên trên. Và “thời gian lịch sử” với sự qua đi của chiến tranh và chế độ thuộc địa. Mỗi chuyến đi chăn trâu là một cuộc hành trình vào thế giới trưởng thành. Hành trình nầy diễn ra dưới chế độ thuộc địa Pháp. Những thanh niên bản xứ, bất lực dưới sự đè ép của một cường lực từ bên ngoài, đã xoay ra phát tiết nam tánh bạo tợn của mình trong sự tranh chấp lẫn nhau và đối với phụ nữ.

Một lần nữa, theo Giovana Fulvi: “Mùa len trâu có nhịp điệu sôi sục của tuổi trẻ, biến cuộc chiến đấu cho tự do cá nhân của Kìm thành một ẩn dụ cho cuộc đấu tranh giành độc lập của đất nước.”

Hành trình nầy được kết thúc khi Kìm phải đứng trước quyết định làm cha, mặc dù vẫn còn có nhiều vấn đề chưa giải quyết được trong liên hệ với cha mình.

Khi làm phim, anh quan tâm đến vấn đề nội dung, cốt truyện và tư tưởng của bộ phim nhiều hơn hay phong cách nghệ thuật, hình thức nhiều hơn? Anh có muốn tạo dựng cho mình một phong cách nghệ thuật xuyên suốt hay thay đổi cách thể hiện qua từng bộ phim?

Một tác phẩm điện ảnh theo tôi cần có nhiều khía cạnh khác hơn là chỉ kể lại một hay vài câu chuyện lạ với những hình ảnh đẹp và nhân vật kỳ thú. Tôi cố gắng tìm tòi một cái gì đó vượt qua những hình ảnh, những câu chuyện, những nhân vật. Tôi muốn nêu lên một vài gợi ý để khán giả cùng tôi đóp góp vào việc sáng tạo cho theo những suy nghĩ riêng của mỗi người.

Ê-kíp tham gia bộ phim của anh thật hoàn hảo. Đặc biệt là hình ảnh của nhà quay phim người Bỉ Yves Cape, hoà âm của chuyên gia người Pháp Thomas Gauder và nhất là âm nhạc với những bản sáo tha hương của người Miên của nhạc sĩ Pháp gốc Việt Tôn Thất Tiết mang rõ âm hưởng của bản sắc Việt. Điều gì giúp anh có được một ê-kíp làm việc tài giỏi và đồng bộ đó. Anh có thể kể thêm về những kỷ niệm khi hợp tác với nhà quay phim người Bỉ Yves Cape và đặc biệt là nhạc sĩ Tôn Thất Tiết?

Từ khi viết kịch bản tôi đã lựa chọn một phong cách cho cả phim, đó là phong cách tối giản (minimalism). Phong cách nầy quyết định tất cả các yếu tố khác trong phim, từ hình ảnh đến âm nhạc, hoà âm, từ thiết kế đến phục trang và diễn xuất. Và cả diễn xuất nữa, tôi muốn diễn viên cảm xúc mạnh thật trong lòng nhưng không “diễn”, bởi vì khi bắt đầu “diễn” là khán giả sẽ thấy giả tạo ngay. Chính Lê Thế Lữ, diễn viên chánh của phim đã đề cập đến việc nầy trong một lần phỏng vấn gần đây.

Nhưng lựa chọn một phong cách chung cho phim Mùa len trâu không có nghĩa là đây phong cách mà tôi sẽ dùng cho các phim khác trong tương lai. Đối với tôi mỗi phim là một cuộc phiêu lưu mới, và tôi muốn được đứng trước một chân trời mở rộng để hoàn toàn được tự do lựa chọn phong cách thực hiện.

Trở lại với hình ảnh, từ phong cách tối giản nầy, tôi đã quyết định hình ảnh của phim Mùa len trâu sẽ có một độ tương phản cao, với nhiều khoảng tối trong khung hình. Chỉ những chi tiết quan trọng nhất trong khung hình được chiếu sáng. Nhiều chi tiết không quan trọng sẽ bị chìm vào bóng tối. Tôi dùng tranh của hai họa sĩ de la Tour (Pháp) và Carravagio (Ý) làm mô hình. Riêng những hình ảnh trong lòng nước tôi cũng đã viết vào kịch bản từ đầu và đã nghĩ đến cách đặt máy, ánh sáng v.v... Tôi gặp Yves Cape ở Bruxelles năm 2002 sau khi đã xem qua các phim mà Yves đã quay như là L’Humanité của Bruno Dumont (phim đoạt 3 giải tại LHP Cannes 99, được đề cử giải Quay phim xuất sắc nhất cho Yevs Cape - BK), với phong cách hoàn toàn khác hẳn Mùa len trâu. Tôi trình bày cho Yves ý định của tôi và đưa anh xem một vài bức tranh của hai họa sĩ trên. Sau đó chúng tôi tiếp tục trao đổi thư từ trong gần một năm trời tìm cách tạo hình trong phong cách đơn sơ, mộc mạc nhất. Cùng nhau chúng tôi đã quyết định sẽ luôn giữ máy quay cố định và ở độ cao của tầm mắt và luôn luôn quay trái sáng để tạo độ tương phản cao. Việc để máy ở ngang tầm mắt là vì tôi muốn thể hiện một sự chạm trán giữa cha và con giữa đàn ông và đàn bà, giữa con người và thiên nhiên.

Phần quay phim chủ yếu do Yves Cape thực hiện. Tuy nhiên, tất cả các hình ảnh trong lòng nước đều do anh Nguyễn Trọng Tâm quay chớ không phải Yves. Anh Tâm là một nguời thợ lặn chuyên nghề quay video dưới nước cho việc bảo trì đáy tàu bè. Chúng tôi chỉ dùng máy quay video tài tử rất nhỏ và rẻ tiền, chớ không phải là loại máy chuyên nghề to lớn cồng kềnh. Chính vì thiết bị rất thô sơ với “kỹ thuật thấp” nầy mà những hình ảnh trong lòng nước vẩn đục rất mờ ảo và tạo nên hiệu năng mà tôi mong muốn từ đầu. Nước là biểu tượng của sự chết và mục rữa.

Về âm nhạc, anh Tôn Thất Tiết không phải là một nhà soạn nhạc cho phim chuyên nghề. Trước hết anh là một nhà soạn nhạc cận đại cho hòa tấu, khiêu vũ trong nhiều năm trời. Mãi về sau nầy anh mới viết nhạc cho phim của anh Trần Anh Hùng. Tôi cảm thấy vô cùng may mắn và vinh hạnh được anh nhận lời sau khi đọc qua kịch bản. Sau đó chúng tôi cũng trao đổi nhau trong khoảng một năm trời, và anh đã soạn tất cả nhạc cho phim Mùa len trâu trước khi thấy bất cứ một thước phim nào cả. Theo tôi biết, anh Tiết cũng chưa bao giờ đặt chân đến vùng nước nổi bao giờ. Riêng tôi không muốn nhạc bị nô lệ vào hình ảnh. Nhạc không dùng để minh họa hình ảnh, không đi theo hành động, mà kể một “câu chuyện” riêng của nó và gây ra một không khí cho phim vượt khỏi khả năng của hình ảnh. Trong Mùa len trâu, có rất ít nhạc, chỉ một vài nét chấm phá thưa thớt, tối thiểu.

Riêng hai bài sáo đã dùng trong phim là bài “Lý con trâu” (dân ca Nam Bộ) và một bài theo âm hưởng Khmer do anh Trần Khánh Tường thổi theo hứng (improvise).

Về âm thanh, Olivier Rey, phụ trách hậu kỳ âm thanh. Thomas Gauder mặc dù rất bận rộn đã đồng ý hòa âm cho phim. Cả hai đều thích phim khi xem qua bản dựng, đều hăng hái và nhiệt tâm.

Anh sống và làm việc ở Mỹ, nơi điện ảnh là một ngành công nghiệp bạc tỷ, vậy tại sao anh lại đi tìm nguồn tài trợ, ê-kíp làm việc và nhà sản xuất ở châu Âu chứ không phải tại Mỹ? Hay anh muốn làm điện ảnh theo phong cách nghệ thuật mang dấu ấn của châu Âu?

Thật tình thì tôi không đặc biệt quan trọng việc nguồn tài chánh của phim tôi từ Mỹ hay Âu châu. Hơn nữa, Mùa len trâu ngoài việc được góp vốn từ ba nước chấu Âu là Pháp, Bỉ và Đức, nó còn nhận được nguồn tài chánh từ nhà phát hành Mỹ, Global Film Initiative (GFI), hãng truyền hình quốc gia Úc (SBS-TV) và hãng thiết bị Canada là Production Services. GFI và SBS-TV đã mua bản quyền cho phim ở Mỹ, Úc từ trước khi phim được quay.

Anh có theo dõi những hoạt động của điện ảnh Việt Nam trong nhiều năm qua? Anh có thể nhận định thêm về những đạo diễn Việt Nam và gốc Việt gặt hái được những thành quả quốc tế hoặc được giới phê bình công nhận như Đặng Nhật Minh, Trần Anh Hùng, Tony Bùi, Việt Linh, Hồ Quang Minh, Nguyễn Thanh Vân...?

Tôi phải nhìn nhận rằng chỉ mới được xem một phần nhỏ phim Việt Nam, nên không thể có một nhận định chính xác được. Tuy nhiên, bên cạnh các đạo diễn mà anh đã nêu, tôi xin kể thêm anh Lưu Trọng Ninh (Bến không chồng), chị Phạm Nhuệ Giang (Thung lũng hoang vắng) và anh Vương Đức (Cỏ lau) đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng.


Nguồn: Tạp chí Khám Phá, số 11 (19/8/2005)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-27 16:54:14Ngọc Lý>
.

vài cảm nghĩ rời
khi xem phim Mùa len trâu



tôi nghĩ khi viết truyện phim này,
Nguyễn Võ Nghiêm Minh chịu nhiều ảnh hưởng
của Một cuộc biển dâu, hơn là Mùa len trâu.

Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh




Nước, nước, bao la và mênh mông.

Cả không gian chìm xuống chỉ còn hai ấn tượng sáng - tối. Những màu sáng làm viền cho rõ hơn bóng tối. Và những mảnh màu xanh lá cây của sự sống miền đồng lúa thì xen lốm đốm như để làm cảnh. Không đủ no mắt.

Sức sống.

Trong không gian kia là sức sống của đàn trâu ào ào theo nhau, dưới sự chỉ huy của các người đàn ông tứ chiếng vạm vỡ, những tham vọng tính toán mãnh liệt mà nhỏ nhoi: sao cho đủ miếng ăn, sao cho đủ trả nợ mùa tới, sao cho đủ sức nuôi người yêu đã có con với mình năm năm trước, sao cho không bị tiêu diệt bởi những kẻ chung một tham vọng sống còn nhỏ nhoi mà bức thiết.

Đàn trâu là sức sống của ruộng lúa.

Người đàn ông là sức sống của gia đình chòm xóm.

Tưởng tượng đang ở giữa giòng nước cuốn xiết, giữa bầy trâu hơn ba trăm con, sức sống mãnh liệt xô về phía trước. Có lẽ đây là nét sống mãnh liệt nhất của bộ phim. Làm ngạc nhiên và hoan hỉ hài lòng chính Sơn Nam, một người con yêu của miền Nam Bộ. Chưa bao giờ thấy nhiều trâu như vậy.

Nhưng sức sống đi đâu? Hay là tắt nghẹn?

Nước lù dâng. Cánh đồng cỏ đã bị cắt sạch. Chém giết nhau vì dành phần sống. Thây ma thảy xuống ruộng. Hay treo giữa đồng, làm thức ăn cho quạ. Người tồn tại lại đuổi theo chu kỳ sống còn, mùa qua mùa, theo con nước.

Trong cố gắng vươn tới của nhân vật và đạo diễn, của thời tiết và bầy trâu, hình như vẫn còn thiếu điều gì đó.

Một nháng lửa?

Trong suốt chuyện phim, Kìm lênh đênh qua nhiều chiến đấu để tồn tại, nhưng với tuổi bẻ gãy sừng trâu kia, Kìm đã có thực "sống"?

Câu trả lời là "chưa". Kìm chưa thực sự trở thành đàn ông.

Vậy thì, làm sao Kìm hiểu nổi cái lý do đích thực của sự hiện hữu của anh? Lý do đích thực của những quyết định táo bạo của Bân? Và lý do đích thực của tất cả mọi xoay vần và mọi quyết định của Cha Kìm, của Đẹt, của Lập, của ông bà Hai Tích?

Khi Kìm và Thiệu còn lại ở hai đầu con thuyền lênh đênh trên sông nước, chỉ là hai đứa bé con trai, cách nhau mười tuổi, tiếp tục trôi ngang cuộc đời và chưa hề định hướng được tương lai.

Làm sao Kìm đủ sức làm "một người cha" cho Thiệu?

Vì nếu thực sự đủ bản lãnh, kinh nghiệm, và khả năng, Kìm đã không thể để nàng Bân dứt áo quay lưng ra đi, chèo chống chiếc thuyền mỏng manh trên dòng nước lũ vô định.

Bầy trâu tiếp tục chết dần qua các mùa lũ. Kìm lặng lẽ chôn ông Hai Tích ven bờ đê vang tiếng bước chân đoàn lính ngoại xâm. Và cái cối xay gạo còn dùng để giữ cho xác cha Kìm không bị cuốn theo mùa lũ, nhưng chính Kìm đã không tìm lại được xác cha, dù ngay trong thửa ruộng nhà. Phải chờ đến thế hệ một đứa cháu gái, tình cờ, tìm ra mối dây đưa đến cột sống của Ông Cố, giữa bùn nước.


*

Tôi có các băn khoăn này khi xem phim:

1. Tại sao Kìm trải qua bao giai đoạn sống mà vẫn chưa thực sự trưởng thành? Tôi nghĩ nếu kịch bản "cho phép" Kìm thành đàn ông trong phút bị hút vào Bân, người con gái duy nhất chung quanh Kìm, thì truyện phim sẽ sâu sắc hơn. Vi nhờ thế, Kìm mới có thể hiểu được cha anh một cách thấm thía, và ý thức tội lỗi đi đôi với trách nhiệm sẽ giúp chuyện Kìm nhận nuôi Thiện (con Bân) diễn ra tự nhiên hơn.

2. Tại sao nàng Bân có thể dứt áo đưa đứa con 5 tuổi cho một thằng bé trai 15 tuổi nuôi hộ, với ý tưởng thằng bé 15 tuổi kia có thể thay thế người cha cho đứa bé?

Tâm lý nàng Bân, theo Nguyễn Võ Nghiêm Minh, là một biểu tượng "đột phá" cuả người phụ nữ Việt. Tôi nghĩ điều này không thích hợp lắm với tâm thức "mẫu" của người đàn bà Việt trong văn minh lúa nước. Nhất là trong vai Bân. vì Bân đã yêu Đẹt, đã chịu đựng mọi khó khăn của gia đình và hoàn cảnh khi mang thai với Đẹt, và đã sinh dưỡng Thiệu suốt năm năm, chờ ngày xum họp với Đẹt. Không có lý do gì để Bân thình lình tìm Kìm, trao Thiệu cho Kìm nuôi với ý tưởng "cháu nó cần một người cha". Kìm lúc ấy, mới là một thanh niên 15.

Tuy Kìm có thể nuôi Thiệu, và nàng Bân có thể dứt áo ra đi, để các hư cấu có phần nghệ thuật, lãng mạn, và tính "bứt phá" hơn, nhưng cần thêm một số động lực tâm lý đủ sức mạnh hầu đưa đến các quyết định kia. Đó, chính là các sấm chớp làm thêm chiều sâu cho cơn bão.

3. Tại sao cả phim có lũ lụt, mưa giông, mà không có sấm chớp?
Phim đẹp, nhưng thiếu sự liên tục và một chiều sâu sắc sảo hơn.

4. Tại sao trên đồng lúa mà không có chim cò, các loại chim nước, chỉ có quạ? Điều này làm sự đột nhiên có mặt của vài con quạ thành hơi gượng ép.

5. Tại sao nước triều dâng bao mùa mà không thấy trăng? Triều luôn dâng theo ánh trăng. Và đây là một chi tiết thời tiết cùng tâm lý không thể tách lìa trong một cốt truyện mà nước là nhân vật chính.


*

Phim đẹp, ảnh nghệ thuật. Nhưng có lẽ các chi tiết và tình tiết chưa "tới" đủ để giúp các nhân vật sống xuất thần hơn. Với quan niệm "không diễn xuất mà chỉ sống", đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã đặt một tiêu chuẩn rất cao cho cả người diễn lẫn người xem. Nhưng chính vì vậy, mà truyện phim cần có các điểm nhói động tới tâm con người, để tình cảm tự nhiên trào ra không diễn xuất.

Thế Lữ có đôi mắt nói lên rất nhiều u uẩn và sức tranh đấu, nhưng anh chưa diễn tả trọn vẹn vai trò, nhất là sự trưởng thành, gìa dặn của tâm lý vai trò qua nhiều biến động.

Trái với sức sống mãnh liệt mà người xem cảm nhận được từ các vai trò, từ đàn trâu, từ dòng nước lũ, cuộn phim chưa đạt đến một mức có khả năng rung động thật sự. Mà chỉ đọng lại một điều gì ấm ức, nửa chừng, và rất ngậm ngùi.

Hay đó chính là hoàn cảnh xã hội chúng ta?

Những con trâu đói chết dần.

Những người đàn ông không làm chủ được định mệnh chính mình và vợ con?

Những người thực sự muốn làm điều thay đổi đã bị bó chiếu thảy xuống lòng sông đục ngầu, hay treo lên cho quạ riả, hay bỏ xứ đi mất biệt?

*

Chỉ còn những ánh sáng viền quanh bóng tối.

Và nước lũ mênh mông.

Vẫn đang mùa bão tại quê nhà. Nhiều người chết, nhiều người mất xác. Cho đến hôm nay, 2006, khả năng chống bão lụt của chúng ta vẫn chưa trưởng thành.

Có lẽ đó là điều đẹp nhất của phim. Nói lên chu trình sống với những bất khả thay đổi, và khả năng chịu đựng vô bờ bến của con người, qua mọi hủy diệt và mục rữa.

Đột nhiên, trong khung cảnh mênh mông nước lũ không bến bờ kia, số phần - định mệnh - trở thành một triết lý đê chấp nhận cái chết, ba nổi bảy chìm; cũng như cách sống "tới đâu hay tới đó" - trôi theo giòng đời - thành một khả năng hòa nhập. Và nén nhang cháy đỏ trên ban thờ tổ tiên giữa bao la bỗng linh thiêng vô cùng.

[:(]


Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã rất khe khắt và nghiêm túc trong các chọn lựa riêng của Ông khi làm phim. Chính điều này làm tác phẩm của Ông rất "có nét". Tôi tin những phim kế tiếp sẽ tạo nhiều ngạc nhiên thích thú cho người xem. Và chắc chắn đó sẽ là những tác phẩm nghệ thuật rất chọn lọc và đặc sắc.


Ngọc Lý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-27 06:23:58Ngọc Lý>
.

Phan Tam Khê

Xem phim

MÙA LEN TRÂU

của Nguyễn Võ Nghiêm Minh






Hãng phim : NOVAK PRODUCTION, Hãng phim GIẢI PHÓNG và TADRART film

Đạo diễn, viết kịch bản : Nguyễn Võ Nghiêm Minh

Diễn viên: Lê Thế Lữ, Nguyễn Thị Kiều Trinh, Nguyễn Hữu Thành, Kra Zan Sram, Nguyễn Anh Hoa, Nguyễn Thị Thắm, Võ Hoàng Nhân.

Âm nhạc: Tôn Thất Tiết

Người quay phim: Yves CAPE

Giải thưởng: Tuổi trẻ của liên hoan điện ảnh phim LOCARNO 2004, Kì lân Vàng của Liên hoan điện ảnh AMIENS 2004, Giải nhất về đạo diễn liên hoan điện ảnh CHICAGO 2004, Giải thưởng ban giám khảo, đại hội điện ảnh MANAUS 2004.

____


Trên cánh đồng lầy lội, một bé gái đang loay hoay lôi một vật gì từ trong đám ruộng bùn ra. Bé cất tiếng gọi : “ Ngoại ơi, lại đây xem nè ”. Một tiếng vọng già nua vang lên như kể lễ cho con cháu nghe về quá khứ đời mình.

Bỗng màn hình trở nên sinh động : một cậu thiếu niên bì bõm ra sức kéo cặp trâu về nhà. Nhà là một túp lều chơ vơ bồng bềnh trên sông nước mênh mông. Một cặp vợ chồng già ra đón. Qua cuộc đối thoại ngắn gọn của 3 người, khán giả nắm bắt ngay được cốt lõi toàn chuyện phim : Nước lũ bao trùm toàn vùng, trâu là tài sản duy nhất của nông dân bị nạn thiếu cỏ đe doạ. Người ta phải lùa trâu lên vùng cao để kiếm cái ăn cho trâu, và vì thế mà các nhóm “ len trâu ” được tổ chức. Thế nhưng không phải ai cũng “ len trâu ” được vì những nhóm này là các bè đảng tụ tập những tay anh chị trong vùng, họ là những người đấm đá và giết chóc nhau không thương tiếc. Để nhập bọn, phải đóng cho họ một số tiền rất lớn. Kìm, tên của thiếu niên được cha giao phó cho nhiệm vụ, dắt hai trâu và xin nhập bọn, và Kìm hứa sẽ trả nợ vào vụ mùa đến.

Kìm ra đi, và gian truân bắt đầu. Chuyến đi làm Kìm lớn hẳn ra và đã làm mất bản tính ngây thơ mộc mạc, thuở ban đầu của chàng.

Ngày trở về lại càng ảo não hơn. Kìm chẳng giúp gì cho gia đình, vì cậu chỉ trở về với mỗi một con trâu, và con kia thì chỉ còn là một bộ da vắt vẻo trên lưng của chú trâu đồng hành. Chủ nợ lại rả riết. Cuối cùng cha Kìm phải bán nốt con trâu còn lại. Niềm an ủi thân thương của hai cha con đã mất, và chẳng còn gì giữ chân họ lại ở miền đất nghiệt ngã này.

Kìm bỏ nhà ra đi,và cùng một người bạn thân lập ra nhóm “ len trâu ” riêng. Nhưng định mệnh cũng chẳng tha cho Kìm. Kìm phải lòng vợ bạn. Và lương tâm vẫn còn đó, nhân khi nghe cha bị ốm nặng, Kìm bỏ người yêu và nhóm “ len trâu ” ra đi. Sau khi chôn cha dưới lòng nước sâu, Kìm quay về quê hương để lại an phận với cuộc đời chân lấm tay bùn muôn thuở.

Trên màn hình lại hiện ra đứa bé đang hì hục lôi vật gì trong bùn đen ra. Tiếng cụ già vang vọng : “ Con đang cầm trong tay hài cốt của ông Cố con ”. Chà bao nhiêu thế hệ rồi nhỉ ? Khán giả thầm tính. Cuốn phim kết thúc ở đây. Cảnh vật vẫn mang màu bùn đen u tối, ảm đạm như số phận của người dân miền Cà Mau từ thế hệ này sang thế hệ khác luân lưu thay đổi theo nhịp của 2 mùa.

Nguyễn Võ Nghiêm Minh sinh năm 1956 tại miền Nam Việt Nam. Sau khi đỗ tú tài anh được học bổng qua Pháp học tại Poitiers. Ở đây anh đậu bằng kỹ sư và tiếp tục sang học đại học Los Angeles (UCLA) và đậu bằng tiến sĩ vật lý ứng dụng.

Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong đời anh. Anh bỏ tất cả để quay qua học về điện ảnh. Kịch bản Mùa len trâu dựa trên một truyện ngắn của Sơn Nam, nhưng cấu tiết và mọi tình tiết trong phim đều do anh tạo ra.

Có thể nói, vai chính của cuốn phim là : sóng nước. Toàn bộ phim bị lũ lụt bao trùm. Và đây là dụng ý của Đạo diễn. Theo anh thì nước không phải là hậu cảnh cho cuốn phim mà là một biểu hiện sự có mặt thường trực của thiên nhiên để giải kết mọi mâu thuẫn luân lưu của cuộc đời những người dân miền đất Cà Mau. Cũng theo anh: thường thì nước biểu hiện cho sự thâu lọc ô uế, thể hiện cho cuộc sống, nhưng nước ở đây lại là một sự kết hợp của chết chóc, rủn mục và cùng một lúc, cá và lúa gạo đã nuôi đời sống của dân miền này cũng từ nước mà ra. Nước làm nát vữa mọi vật để phù bồi cho sự sống : ở đây nước là một thể hỗn hợp biến thái của sự sống và sự chết.

Sự thay đổi mùa mưa nắng đã thôi thúc cuộc sống và đạo diễn đã nắm vững yếu tố này làm chủ đề cho cuốn phim. Tiếc rằng sự tương phản về màu sắc giữa hai mùa không được rõ rệt lắm mà, phim thiếu hẳn màu xanh tươi mát mà khán giả chờ đợi sau những phút căng thẳng não trạng khi cùng đạo diễn đi qua suốt một mùa mưa. Nhưng chắc gì đây không phải là dụng ý của đạo diễn: màu xanh lam, màu lam nhạt, màu đen nhũn của bùn lầy cứ bàng bạc đến vô cùng như nói lên được cuộc đời đen tối của người nông Đất Mũi ?

Có một vài lần, trong phim xuất hiện vài chiếc xuồng máy mang cờ Tam Tài như để xác định mốc thời gian. Các xuồng máy xuất hiện một cách vụng về gượng ép và rời rạc. Đáng tiếc. Vì sao nghệ thuật lại cần đến mốc thời gian nhỉ ?

Câu chuyện phim đã đánh một vòng 360o để đoạn cuối được “ Nối vòng tay lớn ” với đoạn đầu. Ở đây cũng là dụng ý của đạo diễn: cuộc đời cứ thay đổi vòng vòng, bất biến và bất tận.

Người quay phim, Yves CAPE, cho biết trước lúc nhận làm phim ông không biết một chút gì về Việt Nam. Qua kịch bản ông cũng không được biết thêm gì ngoài việc ông sẽ quay một cuốn phim đầy khó khăn, loại “ cao bồi trên nước ”. Trước khi đi, ông đã xem qua hai bộ phim của Trần Anh Hùng : Mùi đu đủ xanh và Mùa hè chiều thẳng đứng để có một ý niệm khái quát về thẩm mỹ của miền đất lạ. Ông cho biết tiếp : Khi đến nơi, ông thấy ở đây, mọi người, mọi vật, mọi cảnh đều mang một vẻ đẹp tự nhiên và ông không cần phải cố gắng để tô hồng điểm lục. Ông chỉ có việc là cứ ghi lại những điều trông thấy đúng như sự thật của người ngắm nhìn tại chỗ.

Và có lẽ vì như thế nên ông đã cống hiến cho chúng ta những hình ảnh tuyệt đẹp. Những hình ảnh hoành tráng chen nhau, rộn ràng đến nỗi làm choá mắt, và người xem bị phân tâm khó theo dõi được dòng chảy của bộ phim …

Qua ống kính của ông Yves CAPE, đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã cho khán giả khám phá một vùng đất lạ, khám phá những phong tục tập quán mà hình như cho đến bây giờ chưa một ai đưa lên màn ảnh như: chôn người dưới đáy nước, treo xác người trên cây chờ nước rút.

Mãi đến gần 50 tuổi đạo diễn đã bỏ tất cả để quay ra nghề làm phim. Với lòng can đảm, tự tin hi hữu, cùng một tài năng như thế, Nguyễn Võ Nghiêm Minh chắc sẽ còn đi rất xa trên con đường điện ảnh.

Phan Tam Khê
© http://www.diendan.org

http://zdfree.free.fr/diendan/articles/u149ptkhe.html
Đăng nhập để trả lời
0