Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những bài viết về nhà văn Sơn Nam.

3 trả lời, 126 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 01:35:54Ngọc Lý>
.

Nhà văn Sơn Nam – Nhà nam bộ học
Hùynh Công Tín
(Mừng thượng thọ Nhà văn Sơn Nam 1926 - 2006)



Nhà văn Sơn Nam bên bức tượng của mình
(xem thêm ở đây)




“Tôi sống ở rừng U Minh từ bé đến lớn...”. Đó là câu nói của Sơn Nam khi ông tự giới thiệu về mình. Câu nói đầy vẻ tự hào về quê hương và toát lên một tính cách khiêm tốn ở ông. Nhưng con người sống ở rừng U Minh từ bé đến lớn, mà lại có một sự nghiệp văn chương đồ sộ thì quả là “đáng nể mặt”. Cá nhân tôi, từ khi biết Sơn Nam thì đã nể mặt ông rồi. Tôi biết tên tuổi Sơn Nam từ rất lâu - từ khi tôi hãy còn nhỏ, thích những chuyện đồng quê ở Nam Bộ, trên các báo và tạp chí của Sài Gòn ngày trước 1975; còn tiếp xúc với ông thì được đôi lần ở những năm gần đây. Phải nói rằng, được tiếp chuyện với ông tôi rất thích cái phong cách bình dân, giản dị ở ông. Không chỉ ở lời nói, cách ăn bận, mà cả ở những sinh hoạt thường nhật: sáng sáng, ngồi quán cà phê cóc, uống cái đen, hút vài điếu thuốc cũng đen, bữa nào khá thì hút “điếu có cán”. Là nhà văn lớn hiện nay của miền Nam, thậm chí của Việt Nam, là cây đại thụ ở đất đồng bằng Nam Bộ, theo tôi, tên tuổi ông có thể còn hơn, vượt ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia, được nhiều người ở các nước biết đến. Nhưng ông vẫn sống một cuộc đời gần với cung cách của một ông già Nam Bộ. Điều này làm tôi cảm thấy kính phục ông nhiều. Khi tiếp chuyện với ông lần đầu, tôi cũng lúng túng về cách xưng gọi. Gọi là “ông” thì cảm thấy ông già quá, dù ông cũng có tuổi, Sơn Nam sinh năm 1926; gọi là “anh” để muốn ông trẻ lại, thì cảm thấy mình không phải đạo, dù rằng, ông vẫn xem tôi là “anh bạn của tôi” (của ông), điều này làm cho tôi cảm thấy hết sức vinh dự; nhận thấy ông nhỏ tuổi hơn cha tôi, nên tôi gọi ông bằng “chú”, chú Sơn Nam, ông chấp nhận. Về phần ông, khi nói chuyện với tôi, trong các cách gọi tôi, sao tôi vẫn thích cách ông gọi tôi là “chú mày” vì như vậy tôi cảm thấy có cái gì đó thân tình và dân dã hơn.

Rất nhiều người cho rằng, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn chương cũng thừa nhận vậy: “Người miền Nam nói chung, cả nhà văn nữa, viết như nói.”. Câu nói này thường có hàm ý chê “văn miền Nam dở.” (!?), là nói sao viết vậy, nhiều từ ngữ đời thường, câu cú không thành, ý tứ không chặt... Nhưng tôi rất đồng ý với ý tưởng của Sơn Nam và một số ít nhà văn, nhà nghiên cứu khác, “...không phải cứ ghi âm lại cuộc nói chuyện của người Nam Bộ là thành văn chương được đâu...”. Văn chương Nam Bộ có một cái gì đó khác nữa kìa. Đó là một thứ văn chương gần với ngôn ngữ nói, không nặng trau chuốt mượt mà để làm mất đi bản sắc đời thường, với những “góc cạnh” của nó. Có thể nhiều người không thích lối văn này, nhưng tôi thì lại khác. Nhưng thôi, đó là chuyện sở thích. Ai thích thứ gì thì tùy. Nhưng hãy tạm gác chuyện tranh luận sang bên để thưởng thức một đoạn văn đậm chất Nam Bộ của Sơn Nam, trong truyện “Đại chiến với thầy Chà”:

“Ông Chòi Mui nhìn giọt nước mà cười một mình. Nụ cười hiền hòa không mảy may chút gì hờn oán, nao núng:

- Mày dột vô nhà tao thì tao ra sau bếp lấy cái tô hứng mày, để dành uống chơi! Khỏi mắc công ra sau hè múc.

Lộp độp! Lộp độp!

Giựt mình, ông quay lại. Mưa dột ngay nóc mùng từ nãy giờ, thấm vải mùng rớt xuống chiếu. Cuốn mùng ư? Không dám, vì mùng đã quá tuổi, đụng chạm mạnh sợ rách. Dời giường ngủ qua chỗ khác ư? Nhà chật. Dột lâm râm khắp nơi như mặt rỗ. Ông Chòi Mui ra sau bếp tìm một miếng vỏ tràm nhét sơ sịa vào mái nhà để mong hạn chế phần nào cái lỗ dột quá lớn. Ông hát lên:

Chiều chiều bắt nhái giăng câu,
Nhái kêu éo ẹo, cái phận tui nghèo, chọc ghẹo tui chi?


Thích chí, ông lập lại đoạn chót:

- Chớ phận tui nghèo, chọc ghẹo tui chi?

Có người ghé xuồng ngay bến. Không cần dòm ra, ông dư biết là Năm Pho, người láng giềng gần nhứt, cách một con kinh nhỏ chừng năm trăm thước.

Chưa kịp phủi mấy giọt mưa đọng trên mặt, trên vai áo, Năm Pho đã vội lên tiếng:

- Ông già nãy giờ nói chuyện với ai vậy? Bộ có giấu bà nào trong mùng hả? Hèn chi tui nghe ông hát, thiệt hết sức muồi!

Ông cười:

- Có thuốc rê cho tao một điếu. Buồn, hát một mình. Mấy bữa rày túng quá. Sao? Có chuyện gì lạ không?...”.


Theo cảm nghĩ của tôi, Sơn Nam xứng đáng với danh xưng là một “nhà Nam Bộ học”. Có nhiều điều để nói về những sáng tác của ông có liên quan tới khái niệm này:

1. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, ông là người thành công ở nhiều lĩnh vực: lĩnh vực nghiên cứu, ông có nhiều biên khảo công phu, khoa học, khoảng 20 tác phẩm. Có những tác phẩm rất có giá trị cho việc tìm hiểu về vùng đất Nam Bộ, như: “Ấn tượng 300 năm, Bến Nghé xưa, Cá tính miền Nam, Danh thắng miền Nam, Đất Gia Định xưa, Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa, Giới thiệu Sài Gòn xưa, Lịch sử An Giang, Lịch sự khẩn hoang miền Nam, Người Sài Gòn, Tiếp cận đồng bằng sông Cửu Long, Tìm hiểu đất Hậu Giang, Văn minh miệt vườn...”; thể loại sáng tác, ông cũng có chừng 20 sáng tác gắn liền với bối cảnh miền Nam rất có giá trị. Ông thành công ở nhiều thể loại, những tác phẩm tiêu biểu là: “Bà Chúa Hòn” (tiểu thuyết), “Xóm Bàu Láng” (truyện dài), “Hình bóng cũ, Chuyện tình một người thường dân, Âm dương cách trở, Ngôi nhà mặt tiền...” (các truyện vừa). Đặc biệt là ở truyện ngắn, ông có hàng trăm truyện ngắn rất thu hút người đọc. Chẳng hạn, các truyện ngắn sau: “Bác vật xà bông, Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Bốn cái ngu, Bức tranh con heo, Cây huê xà, Chuyện rừng tràm, Con heo khịt, Con rắn ri voi, Con sấu cuối cùng, Con trích ré, Cô Út về rừng, Đại chiến với thầy Chà, Đảng cánh buồm đen, Hai viên Ngọc, Hát bội giữa rừng, Hòn Cổ Tron, Hội ngộ bến Tầm Dương, Hồn người trong li rượu, Hương rừng, Miễu Bà Chúa Xứ, Mối tình... đầm lai, Một cuộc biển dâu, Một kiểu anh hùng, Mùa len trâu, Ông Bang cà ròn, Ruộng Lò Bom, Sông Gành Hào, Tháng chạp chim về...” (trích trong “Hương rừng Cà Mau”), “Cấm bắt rùa, Con bà Tám, Con cá chết dại, Đường về quê, Hai cõi U Minh, Kéo trúm, Lũ trẻ chăn trâu, Mây trời và rong biển, Một chuyện khó tin, Một người hàng xóm, Ngày hội ba khía, Ngày xưa tháng Chạp, Ngó lên sở Thượng, Người đi đêm, Trong lòng bàn tay, Tục lệ ăn trộm, Vẹt lục bình, Vọc nước giỡn trăng...” (trích trong “Biển cỏ miền Tây”). Ông cũng thành công ở thể loại kí, như: kí sự “Tây đầu đỏ”. Ông cũng đã viết xong 4 tập hồi kí về đời mình gắn liền với bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long và vùng Sài Gòn, Gia Định. Đó là các tập: “Từ U Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9, Hai mươi năm giữa lòng đô thị, Bình an.”.Nhiều tác phẩm của ông được dựng thành phim, tiêu biểu như: “Mùa len trâu”, “Cây huê xà”, không chỉ được người xem trong nước biết đến mà nhiều người nước ngoài cũng quan tâm. Chỉ điểm qua, các sáng tác của ông về miền Nam với những tên tựa và nội dung của những sáng tác thì cũng thấy ông xứng đáng với danh xưng “Nam Bộ học” rồi.

2. Tiếp cận với toàn bộ tác phẩm của ông, người đọc như được ông đưa về thăm từng ấp, làng của Nam Bộ. Những địa danh nghe qua cũng hết sức ấn tượng về sự hoang dã, tự nhiên của vùng đất này, như: “Ba Giồng, Ba Láng, Ba Rài, Bãi Xàu, Bàu Láng, Bảy Ngàn, Bò Ót, Cà Bây Ngọp, Cái Bè, Cái Bé, Cái Côn, Cái Hươu, Cái Mơn, Cái Nai, Cái Nước, Cái Răng, Cái Sắn, Cái Thia, Cái Vồn, Cái Vừng, Cạnh Đền, Cát Lái, Cần Chông, Cần Đước, Cần Giờ, Cần Giuộc, Cây Gừa, Chà Tre, Chắc Băng, Chắc Cà Đao, Cổ Cò, Cổ Tron, Cù Lao Cát, Cù Lao Dung, Đầu Sấu, Giồng Ông Tố, Giồng Tháp, Giồng Tượng, Giồng Xe, Gò Bầu, Gò Găng, Gò Quao, Gò Tre, Gò Xoài, Hòn Chông, Hòn Đất, Kè Đôi, Kè Một, Kinh Cùng, Lai Vung, Láng Thé, Lấp Vò, Lung Tràm, Man Thít, Mo So, Năng Gù, Nọc Nạn, Rạch Bần, Rạch Tre, Rạch Vược, Sáu Ngàn, Soài Rạp, Sóc Xoài, Tà Lơn, Tắt Ổ Cu, Tắt Ăn Chè, Tắt Quanh Queo, Thốt Nốt, Trà Ết, Trà Lồng, Trà Niền, Tràm Cừa, Tràm Trốc, U Minh, Vàm Cỏ, Vàm Láng, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Thuận, Vàm Trư, Xẻo Bần, Xẻo Lá, Xẻo Nước, Xẻo Rô...”. Có hàng trăm địa danh của vùng đồng bằng sông nước được nhắc đến trong các sáng tác của ông.

Ông còn làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ hiện nay mà cả những vài trăm năm về trước, từ chuyện khẩn hoang miền Nam, chuyện thời Đàng Cựu, đến lai lịch của từng vùng đất cụ thể: Sài Gòn, Gia Định, An Giang, Hà Tiên, Cần Thơ, Hậu Giang, Long Hồ, Vĩnh Long...; những chuyện tranh chấp thế lực của thời kì Trịnh Nguyễn; chuyện Gia Long bôn tẩu, chuyện Tây Sơn vào Nam dẹp giặc Xiêm, đánh Nguyễn Ánh; chuyện đấu tranh thời thực dân giữa ta và Tây; chuyện sinh cơ lập nghiệp của một vài dòng tộc, gia đình; chuyện kháng chiến; chuyện hơn thua tranh chấp đặc quyền giữa những gia đình, cá nhân; đan xen những chuyện xưa là những chuyện gần đây, trước và sau những năm thống nhất đất nước; chuyện thành thị lẫn chuyện nông thôn; chuyện khẩn đất, chuyện làng báo, chuyện đào thêm kinh xáng, mở rộng đồn điền, chuyện bán buôn, lập vườn, xây chợ; chuyện sinh hoạt, chuyện giải trí; các loại hình ca cổ, hò hát đối đáp, đưa em, huê tình, nói thơ, nói truyện; chuyện quan hệ yêu đương, tình cảm gia đình, xã hội... Rõ ràng, những năm tháng sống, chịu khó đi nhiều, khéo nắm bắt và tra cứu, Sơn Nam mới có được một vốn sống cực kì phong phú như vậy. Đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với những người Nam Bộ đủ các thành phần, hạng người, nghề nghiệp: giàu sang có, nghèo hèn có, công chức có, trí thức có, địa chủ, nông dân, thương gia cũng có... Ông am hiểu những nghề có tính đặc thù gắn với vùng đất, như nghề: thương hồ, tằn khạo, trị rắn cắn, làm ruộng dạo, bắt sấu, bẩy chim, ăn ong, khai thác lông chim, đánh bắt cá, len trâu, làm vườn, ruộng, rẫy... Ba tộc người được ông đề cập thường xuyên trong các tác phẩm của mình cũng là những chủ nhân của vùng đất Nam Bộ này: Kinh, Hoa, Khơ Me. Ông am hiểu nhiều phong tục, tập quán, lễ hội của họ: Tết cổ truyền, Lễ cúng trăng, Đua ghe ngo, ngày bổ tróc, ngày giỗ ông bà, thần thánh, kiêng kị... Người Khơ Me xuất hiện trong tác phẩm của ông với nhiều tình cảm mà ông dành cho họ. Bút hiệu Sơn Nam của ông cũng gắn với họ một kỉ niệm. Nghe Sơn Nam nói, ông là người Kinh, cha mẹ đặt tên là Phạm Minh Tài, (tên trong giấy khai sinh là Phạm Minh Tày, giải thích cái tên này, ông bảo do làng xã ghi lộn chữ “i" thành chữ “y”), sinh ở An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang, lúc còn nhỏ mẹ ông không đủ sữa cho ông bú, nên ở xóm có một bà mẹ Khơ Me tốt bụng, đã cho ông bú. Sau này, lớn lên viết văn, để nhớ ơn bà, ông lấy bút hiệu khởi đầu bằng chữ “Sơn”, biểu thị một họ lớn, trong một số họ phổ biến của người Khơ Me như: “Thạch, Danh, Kiên, Lâm...”; còn chữ “Nam” là ở miền Nam. Bây giờ, nếu ai hiểu bút danh của ông là “một đỉnh núi cao ở miền Nam”, thì theo tôi, cũng rất phù hợp.

Trong rất nhiều tác phẩm, ông đưa ta về với những sinh hoạt đời thường của người dân Nam Bộ trên vùng đất Nam Bộ, như truyện “Bốn cái ngu”, “Cô út về rừng”, “Con Bảy đưa đò”, “Xóm cù là”, “Ngày mưa đầu mùa”, “Ông Bang cà ròn”, “Ruộng Lò Bom”... Để phản bác câu ca dao “Trên đời bốn thứ nhàn du: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu” bằng câu ca dao tương tự “Trên đời có bốn thứ ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu” chỉ khác có mỗi một từ “nhàn du” hay là “ngu”, mà ông đã viết truyện “Bốn cái ngu” rất sinh động, để minh họa cho quan niệm này. Trong truyện là những sinh hoạt rất gần gũi với đời sống của người nông dân Nam Bộ:

“Mấy người hàng xóm la hoảng lên:

- Tư Hưng đâu rồi! Nuôi heo bầy mà bỏ nó chạy cùng đường cùng sá. Sao không nhốt lại?... Thiệt hết nói. Tanh rình tanh ói, chỗ nào cũng một đống, ai hơi đâu mà hốt. Nó còn ủi nền nhà, phá mấy liếp cải. Nói ra thì mích lòng, để trong bụng thì ấm ức.

Tư Hưng từ đầu xóm chạy lơn tơn về, lớn tiếng thanh minh:

- Bà con ơi! Tôi nhốt heo lại rồi. Chắc tại vợ tôi quên... Vợ tôi nó dại đột thì tôi chịu tội.

Nói xong, Tư Hưng chạy lùa ba con heo nái. Heo chạy tán loạn, đâm ngay vào vách lá, chui vào trong nhà. Anh ta nói to:

- Em ơi! Coi chừng heo chạy bể đồ đạc.

Nhưng hỡi ơi! Trong nhà không có một tiếng trả lời. Anh ta vào nhà, chạy tới trước cửa ngõ nhìn dáo dác. Vợ anh đâu rồi? Hay là đã xách gói trở về nhà cha mẹ ruột? Bốn tháng qua, vợ chồng anh ta gây lộn liên tu bất tận, tính đổ đồng hai ngày là xảy ra một cuộc cãi vã.

Tư Hưng nói:

- Đi đâu đi phứt cho rảnh. Gặp con vợ như vầy mau tàn mạt lắm. Thiệt là...”.


Ở một truyện khác, Sơn Nam còn đưa ta về với không khí lễ hội của đồng bào Khơ me với cuộc đua ghe ngo được ông miêu tả hết sực thú vị, hào hứng:

“Thế là sáng hôm sau lục cụ đích thân đọc kinh làm phép cho ghe ngo. Ghe đẩy xuống nước, bao nhiêu trai tráng trong làng reo vang dậy như... lân thấy pháo. Sáu mươi bốn cây dầm nhỏ phân phát ra, mỗi người mỗi cây. Trước mũi ghe, cây lộng đỏ giương lên che một cái khay đầy rượu, hương, trầu, hoa quả, và một ông Phật bằng vàng lớn cỡ ngón tay cái.

Chú phó hương quản được hân hạnh lãnh trách nhiệm chỉ huy cuộc chiến đấu sắp tới. Chú lạy lục cụ rồi đến ngồi ngay mũi ghe, dưới bóng cây lộng. Ba mươi hai cặp thanh niên lực lưỡng từ từ bước xuống, ngồi sắp hàng hai. Be ghe khẳm, ngang mí nước, tưởng chừng xê xích một phân nữa là chìm. Nhưng không đâu, chú phó hương quản đã vấn chiếc khăn nhiễu đỏ lên đầu rồi đánh vào cái cồn nhỏ:

- Môn! Môn! Môn!

Đoàn lực sĩ hạ dầm xuống khoát nước, nhịp nhàng. Chiếc ghe ngo phóng từng bực rồi nổi lên cao khỏi mặt nước.Nước văng trắng xóa hai bên. Tiếng cồn càng thêm nhặt. Rồi im bặt. Lúc ấy người ta thấy chú phó hương quản nâng cây dầm lên cao khỏi đầu, bơi trong không khí...”. (Chiếc ghe ngo)


Sơn Nam tự hào mình là người sống ở U Minh, nên những đoạn ông viết về nơi này, ông tỏ ra rất hào hứng và linh hoạt. Ông tả về rừng U Minh có một sức thu hút đến kì lạ. Ông nói về sân chim, ông kể về chuyện ăn ong, những kinh nghiệm đánh bắt cá, bẫy chim rất thú vị. Trong “Tháng chạp chim về”, ông viết về tâm sự của một lão nông lúc gặp lại con chim già sói thật là cảm động, khi “hai người bạn già” đã sống qua bao thăng trầm biến đổi của cuộc đời mà như thông cảm, chia xẻ được cho nhau:

“Con chim già sói đứng cao nghệu trên cây gòn, day mỏ qua phía nhà ông Tư.

Ông Tư đứng tần ngần, lấy tay che mắt nhìn nó, cố sức nhìn kỹ từ nét mặt như hỏi han sức khỏe của người bạn già quen thuộc, biết giữ thủy chung đạo bằng hữu. Ông nói:

- Mấy chục năm rồi, năm nào tháng Tết nó cũng về đây vài ngày. Năm nay nó già nhiều rồi. Đầu sói hơn mọi năm, cháu thấy không?

Như lời ông Tư, tôi thấy rõ ràng một đốm trắng ở giữa đầu con chim nọ. Là kẻ sanh sau đẻ muộn tôi nào gặp con chim này hồi mấy mươi năm về trước để so sánh cho biết nó già nhiều hay già ít? Mặt trời gần lặng rồi, nền trời đỏ khé. Con già sói đứng sững đó, im lìm như đúc bằng đồng đen, phía sau có hào quang.

Nó nhìn ông tư, râu tóc bạc phếu.

Ông Tư nhìn nó. Có lẽ ông nghĩ đến phận mình mà nãy sinh ra bao mối cảm hoài. Trong con tim già, qua thời gian, giờ đây chắc chắn đã lắng xuống hết bao hung bạo của thời xuân xanh của ông và của đất nước hoang vu. Giữa ông và con chim nọ, không còn oán thù. Biển im lặng sau cơn giông tố. Đây là Bá Nha với Tử Kỳ cảm thông nhau. Cầu cho ông Tư với con chim già sói được sống lâu hơn trăm tuổi! Xin tạ ơn đấng tạo hóa đã dành cho đất nước này bao nhiêu đặc ân như những sân chim đây là một. Hiên ngang thay! Đẹp đẽ thay! Hỡi người Việt đầu tiên đến vùng Kiên Giang hưởng ơn Trời lộc Nước mà khai phá miền Nam...”.


3. Điểm nổi bật khác làm xứng danh “Nam Bộ học” ở các tác phẩm của ông là ông đã để cho các nhân vật của mình suy nghĩ, hành động, biểu thị tính cách hoàn toàn phù hợp với đặc trưng của một người Nam Bộ. Đặc trưng người Nam Bộ ở đây được khái quát thành một số khái niệm, như: “mộc mạc, bộc trực, chân thành, hào hiệp, trọng nhân nghĩa, điệu nghệ...”; nhưng đó là các khái niệm, còn với nhiều người đọc Nam Bộ, khi đọc tác phẩm của Sơn Nam, họ như thấy mình xuất hiện trong các tác phẩm của ông, có một tính cách, suy nghĩ nào đó được hóa vai trong các nhân vật mà ông đã xây dựng, như: “lão Khăn Đen, lão Ngượt, lão Nhị, Lục cụ, ông Đạo Đất, ông Bang cà ròn, ông Từ Thông, bà Chúa Hòn, Cai tổng Biện, giáo Lý, giáo Trích, thầy Chà, thầy Hai Rắn, cô Ngó, cô Út, cậu Ba, cậu Cẩu, cậu Hai Điền, Hai Cần, Hai Đẹt, Hai Khị, Hai Khoánh, Hai Lành, Hai Lến, Hai Lượng, Hai Tỵ, Tư Hạnh, Tư Hiếm, Tư Hít, Tư Huỳnh, Tư Hưng, Tư Lập, Tư Thính, Năm Hến, Năm Tự, Bảy Út, Tám Theo, Mười Hấu, Mười Hy, Bá vạn, Xí Vĩnh, thằng Mến, con Lài...”. Việc xây dựng tính cách, con người Nam Bộ điển hình qua những sáng tác của mình là không dễ dàng chút nào đối với lớp nhà văn Nam Bộ đã thành danh hiện nay, như: Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi, Lê Văn Thảo, Dạ Ngân..., và càng khó khăn với lớp nhà văn Nam Bộ trẻ đang cầm bút. Với cảm nhận riêng của tôi, những người cầm bút trẻ hiện nay, rất ít, và rất khó thể hiện được chất Nam Bộ trong việc xây dựng những nhân vật đặc thù của mình, ngoại trừ nhà văn trẻ Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư là người để lại dấu ấn tốt về tính cách đặc trưng con người Nam Bộ trong những sáng tác của chị mà tôi tâm đắc.

Trở lại tìm hiểu tính cách nhân vật trong các sáng tác của Sơn Nam, người đọc vẫn thấy cảm mến “lão Khăn Đen” trong truyện “Xóm Bàu Láng”, tuy là chúa đảng cướp, nhưng cách xử sự của lão với mọi người xung quanh vẫn theo quy luật hào hiệp, trọng nhân nghĩa, khinh tiền tài vốn tiềm ẩn ở con người Nam Bộ. Có thể nói, cai tổng Biện là “kẻ thù” của lão Khăn Đen, sau những năm tháng cai tổng ngồi tù ra, gặp lại lão Khăn Đen, lão vẫn niềm nở mời vào nhà và đã có những lời nói, tâm sự rất chí tình, thể hiện được bản chất con người của lão:

“Lão Khăn Đen rót rượu mời:

- Ông Cai uống trước. Tôi muốn mời ông ghé vô đây rồi thủng thẳng anh em mình tới xóm Bàu Láng chơi. Người ta quên bọn già như chúng mình, Tuy không ở tù mất dạng như ông anh nhưng xóm này chẳng ai nhắc tới tôi. Tôi như thằng già vô dụng gần đất xa trời. Nói thiệt với ông anh, xưa kia tôi lỡ tay giết cha thằng Mến. Tôi hứa chuộc tội, cho thằng Mến với con Lài thành vợ chồng. Con Lài là tình nhân của thằng Mến hồi còn ở Hà Tiên. Ông Cai đừng hờn giận tụi nó.

Cai tổng Biện trợn mắt:

- Gia tài của tôi bị người ngoài sang đoạt. Biểu tôi đừng giận sao được.

- Có cái gì mà sang đoạt! Tụi nó bây giờ đang trả quả, nói theo lời nhà Phật. Ông anh đừng nóng. Có lẽ khi về già, tụi nó khổ bằng mười lần anh em mình. Mà anh em mình sống thui thủi như vầy cũng là trả quả, tôi là đứa sát nhân. Còn ông anh thì xin miễn nói.”.


Đoạn đối thoại giữa cô Huôi (bà chúa Hòn) với Tư Thiện trong tiểu thuyết “Bà Chúa Hòn”, cho thấy tính cách của một người phụ nữ, tuy ít học nhưng vẫn có những suy xét thấu lí đạt tình, phản ánh được nét bình dân, chân chất, trọng nhân nghĩa, khinh tiền tài ở họ:

“- Thưa cô, cô tránh về đâu?

Đôi mắt cô Huôi trở nên mơ màng:

- Về quê, ở với cha. Cha tôi hiền lành và khôn ngoan lắm. Ông không bao giờ đòi hỏi địa vị, danh vọng. Năm ngoái, tôi giúp ông một số tiền. Tuổi già, đâu cần ăn uống, rượu thịt. Ông đem tiền ấy trao cho một ông đạo, nhờ xây cất một ngôi chùa nhỏ. Tôi về ngôi chùa đó, xem thử còn thiếu sót điều gì không? Hoặc là cần dùng ít tiền nhưng mấy tháng qua, sư sãi không cho tôi biết.

Tư Thiện nói:

- Làm sao tôi theo cô cho tấm thân được an nhàn?

Như hiểu thâm ý của Tư Thiện, cô Huôi nói:

- Bây giờ thì chưa được. Nhưng ông đừng buồn. Đó là do trời định. Ngày xưa, nghe ba tôi nói lại thì phen đó bông quỳnh hoa nở rộ. Ông Đạo đất biết rằng hễ bông nở thì tôi được làm bà Chúa. Điều ấy đúng thật. Nhưng khó lắm. Số mạng của tôi giống như đóa hoa.”.


Lời tâm sự của ông hương giáo với thằng Kìm (“đệ tử” của Tư Lập) về Tư Lập trong truyện ngắn “Hương rừng” của Sơn Nam đã phác họa được đôi nét về tính cách ở những con người Nam Bộ như Tư Lập: trọng lẽ phải, trọng nghĩa khinh tài, có chí tang bồng mà Sơn Nam gọi là “bịnh giang hồ”: “- Ta hiểu lắm. Dù sao, trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quý phái huyền ảo. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn sức lực để bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Cậu thúc Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tội là tội cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.”.

4. Điều quan trọng hơn để thiên hạ gọi ông “nhà Nam Bộ học” chính là ở văn phong của ông. Văn phong của ông đã kế thừa và phát huy được tốt văn phong của những nhà văn Nam Bộ tiền bối hoặc đàn anh, như: Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Trọng Quản, Phú Đức, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc... Đặc biệt là ở ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật. Nó mang những đặc trưng đầy đủ về phương ngữ Nam Bộ ở cả các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và cả phong cách diễn đạt. Trong điều kiện giao lưu hiện nay, sự lưu giữ những đặc trưng thuộc về văn phong Nam Bộ trong những sáng tác của người cầm bút trẻ là điều cực kì khó khăn. Người xưa có nói, hoặc nóng, hoặc lạnh, chớ âm ấm, theo kiểu “dở dở ương ương” thì tâm lí chung là có nhiều người không thích. Trong thưởng thức nghệ thuật, không biết có nên cực đoan như vậy không, chớ tôi thì vừa thích đọc văn phong của Tự Lực văn đoàn, kiểu như: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo...; vừa thích đọc văn phong Nam Bộ, kiểu như Phi Vân, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư..., chớ không khoái thứ văn phong hỗn hợp: Bắc Nam. Việc dùng từ ngữ trong văn bản khoa học, hành chính đòi hỏi sự chuẩn mực toàn dân; nhưng việc dùng từ ngữ trong sáng tác văn chương thì cần phải có chất liệu đời sống mà điều này thì cần phải có một lối diễn đạt thích hợp.

Tôi thích Sơn Nam dùng ngôn ngữ dẫn chuyện trong các tác phẩm “Bà Chúa Hòn”, “Xóm Bàu Láng”, tập truyện “Hương rừng Cà Mau”, “Biển cỏ miền Tây”, “Hồi kí Sơn Nam” (4 tập). Có những đoạn có thể xem là tiêu biểu của lối “văn nói Nam Bộ”, lối văn thường gồm những câu ngắn gọn, có nhiều từ ngữ Nam Bộ trong giao tiếp bằng lời được thể thành văn viết, như:

Đoạn nói về tình cảnh “gà trống nuôi con” của Tư Thính: “Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái dĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng.” (Bà Chúa Hòn)

Đoạn nói về tình cảnh cha con Hai Lến: “Nó chưa hiểu tại sao cha nó chiều nay bỏ qua thời tụng kinh chiều. Là người cư sĩ tu tại gia, cha nó luôn luôn đi chùa Phù Dung vào ngày sóc, ngày vọng và năm sáu năm liên tiếp, chưa bao giờ bỏ qua thời kinh chiều, dẫu là khi đau ốm. Ba nó lên bàn thờ ông Bổn để làm gì? Nó không dám hỏi, sợ bị rầy.

Từ trên cao, giọng khàn khàn của lão Hai Lến khấn vái nghe mơ hồ. Thằng Mến nghiêng tai nhưng chẳng tài hiểu rõ vì ba nó khấn vái lâm râm, tiếng to, tiếng nhỏ đứt quãng...” (Xóm Bàu Láng)


Đoạn nói về những trăn trở của Tư Lập khi quyết định rời khỏi khu rừng U Minh, mảnh đất lập nghiệp ban đầu của mình: “Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về Long Xuyên. Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại không được.

Chú lại trở về. “ (“Hương rừng” trích trong “Hương rừng Cà Mau”)


Đoạn miêu tả đặc điểm ở một địa hình sông nước có nhiều lục bình: “Dông dài lắm. Chỗ này kêu là “giáp nước”, do Tây đào kinh xáng gây ra. Nước lớn phía Cần Thơ dồn qua, nước lớn phía Rạch Giá dồn lại. Hai ngọn nước gặp nhau tại đây. Suốt ngày đêm, nước đứng tại chỗ. Xa biển, ngoài biển vừa ròng, thỏm nỏm, chưa rút hết thì đứng lại, rồi nước lớn. Bởi vậy, từ mấy chục năm rồi, nó sanh đẻ tại chỗ, dày bịt, quy tụ nào xác chó, rắn nước, cá tôm. Giống như cái trấp ở U Minh, trên mặt cứng, phía dưới nước lõng bõng, coi như bơi xuồng được, nhưng rốt cuộc là chịu thua, sa lầy.” (“Vẹt lục bình” trích trong “Biển cỏ miền Tây”)

Đoạn tự sự trong hồi kí của Sơn Nam: “Lão ta không nói láo. Gần đất xa trời rồi! Nói láo làm chi cho mang tội. Chẳng qua là kinh nghiệm trường đời có giới hạn, muốn truyền lại, già trẻ ai muốn nghe thì nghe. Và dường như ít ai nghe. Họa chăng khi lão mất, người trẻ trở thành người già, nhớ lại bóng dáng lão, rồi đánh giá rằng là người có tư cách. Theo ngôn ngữ xưa trước năm 1945, có tư cách là có đầu óc, tức là người quan tâm ít nhiều đến chính trị, là người biết vinh nhục, có trách nhiệm.” (Từ U Minh đến Cần Thơ)

Ngôn ngữ đối thoại, hay ngôn ngữ nhân vật trong truyện Sơn Nam là ngôn ngữ thường nhật của người dân Nam Bộ. Nó thể thiện được tính cách và tâm lí ứng xử của người Nam Bộ, chẳng hạn; sự bộc trực, mộc mạc, dân dã..., tính hào hiệp, trọng nhân nghĩa... Tôi thích những đoạn đối thoại trong các truyện: “Hình bóng cũ, Mùa len trâu, Cây huê xà...”.

Đoạn đối thoại giữ bà Henri Nhan và văn sĩ Hoài Hương trong truyện “Hình bóng cũ” đã thể hiện được khả năng xây dựng những nhân vật giàu chất Nam Bộ ở Sơn Nam. Cuộc đối thoại không kiểu cách, khách sáo. Chủ nhà thì chân tình, bộc trực, tâm lí với khách; khách thì có phần e dè, ngần ngại:

Tiễn tôi đến khỏi bực tam cấp, bà nói khẽ:
- Công việc chẳng long trọng, to tát như ổng nói đâu! Cứ nhận lãnh đi, ông đừng quá khiêm tốn. Ban nãy, dường như ông hơi phật ý.
Cơn buồn giận của tôi đã bắt đầu dịu xuống:
- Dạ, tôi đâu dám phiền ai.
- Một hai ổng muốn trở về điền đất cũ ở Mỹ Lâm. Thật là khuấy nước giỡn trăng! Tôi khuyên ổng nên bỏ hết, vợ chồng đi lên Sài Gòn tìm huê lợi khác. Rầu quá. À, ban nãy tôi quên hỏi...
- Thưa bà...
-Ông ở Miệt Thứ, thuộc xóm nào? Chú ruột tôi là ông hội đồng X, chắc ông biết
- Dạ ông hội đồng là bạn của ông dượng tôi.
Bà Henri tiếp:
- Tôi ít về quê lắm. Đi học Sài Gòn từ nhỏ tới lớn.
Đến cổng rào, bà kéo nhẹ cánh cửa sắt, đứng nép một bên, sờ vào túi:
-Đây, tôi gởi sở phí ông về xe. Ngày mai nhớ trở lại nghe. Chừng một tuần lễ thôi. Về tiền bạc, tôi lo liệu để ông được bề rộng rãi.”.


Đoạn đối thoại giữa những người trong gia đinh chú Tư trong “Mùa len trâu”, có thể làm ngạc nhiên vì cách ăn nói có vẻ quá “bình đẳng, dân chủ” trong một gia đình, làm người nghe hơi khó chịu vì nó thiếu tính “lễ nghi, thứ bậc, tình cảm” cần có của một gia đình, nhưng trong cách nói năng của người Nam Bộ thì điều ấy cũng bình thường. Vì theo họ, cái chính là sự chân thật trong tình cảm của các thành viên. Ta hãy nghe họ nói chuyện:

“Chú Tư Đinh lại vấn điếu thuốc thứ nhì, mỉm cười khi thấy từ chân trời một cơn mưa to hơn sắp kéo đến:

- Ừ! Mưa hoài đi. Ông trời năm nay biết điệu, thuận mùa, thuận tiết...

Thím Tư như phản đối chồng:

- Mưa vài đám nữa thì có môn leo lên nóc nhà mà ở. Ba cái lu, cái hũ trôi lểnh nghểnh trong nhà rồi, ba nó chưa hay sao? Gạo hết, tiền hết...”,...

Chú Tư chờ thằng Nhì vào nhà. Nó cởi cái áo ướt mem quăng trên sàn:

- Xung quanh đây hết cỏ rồi. Làm sao bây giờ hả ba? Trâu đói nữa, con mắt nó đổ ghèn hoài.

Chú nói:

- Bên giòng cát Sóc Xoài... Mày có qua tới đó không?

- Có. Mà hết cỏ rồi. Mấy lõm cỏ sau chùa không đủ cho trâu bò ở đó ăn, đâu có dư tới mình. Trâu mình ốm nhiều. Từ đây tới nước giựt còn trên ba tháng nữa, làm sao chịu nổi?

- Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu cho họ len đi miệt khác kiếm cỏ. Má mày ngăn cản. Bây giờ tới nước này rồi...”.


Đoạn đối thoại tình cảm giữa thằng Lợi và con Lài, con của hai ông thầy thuốc rắn, trong “Cây huê xà”, cũng dân dã, mộc mạc; không hoa mĩ, trau chuốt như lớp thanh niên thành thị, cố tìm những lời hay ý đẹp cho vừa lòng nhau:

“Thằng Lợi day lại cười:

- Đi đâu vậy cô hai... rắn bông súng?

Con Lài sực nhìn chiếc áo có bông đang mặc. Nó e thẹn, liếc thằng Lợi:

- Em giống như con rắn bông súng. Còn anh, áo đen mốc như con rắn hổ đất. Cười em làm chi.

- Rắn đâu dám cười rắn. - Nó vừa nói vừa nắm tay con Lài.”.


5. Trong sáng tác của Sơn Nam, chúng tôi học được rất nhiều từ ngữ Nam Bộ. Những từ này được ông dùng trong văn cảnh, hoặc diễn giải cẩn thận. Có đôi khi ông làm công việc giải nghĩa từ ngữ của một nhà ngữ học. Điều này đủ nói lên sự quan tâm của ông với từ địa phương Nam Bộ, mà ông sợ rằng, với thời gian chúng có thể bị mai một, chẳng hạn: “bài kía, bến bạ, bòng bong, bối, bồn bồn, bốn cốt, buồm dưới nước, cà lang, cà ràng, cà ròn, chạy tờ, choại, chòi mui, củi lục, đất phát, điệu nghệ, gay chèo, giá triệu, ghe bè, ghe cui, ghe diệu, ghe giản, huê xà, hươi, lái rổi, len trâu, lóc, mái cuốc, mái dài, miệt thứ, miệt vườn, ngọc ong, ngủ nước, nò cạn, nò Xiêm, nước rặc, nước rằm, phân đồng, phần do, phần thủ, sầu đâu, sở Thượng, tam sên, tắt, tầm bo, thèo lèo, thị quá, thỏn mỏn, xã Tây, xài giấy năm trăm, xiêm lo, xính xái, xổ nho...”. Nhờ lớp từ ngữ này, chúng tôi hiểu được nhiều câu ca dao, nắm bắt được nhiều đoạn văn hay, qua đó hiểu được những đặc điểm tự nhiên, xã hội của vùng đất chúng tôi đang sống mà lâu nay có nhiều điều vẫn thấy khó hiểu, hoặc còn bàng quan không muốn biết. Chẳng hạn:

“Ngó lên Sở Thượng thêm buồn,
Muốn châm cội rễ, ngặt đường xa xuôi.”.


Hay:

“U Minh, Rạch Giá, thị quá sơn trường,
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.”.


Hay:

“Xứ đâu thị tứ bằng xứ Kinh Cùng,
Tràm xanh củi lục, anh hùng thiếu chi.”.


Hay:

“Một mai ai đứng bên kinh,
Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài?
Bên kinh đã có con trai,
Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu...”.


Hay:

“Đèn thương ai đèn tắt?
Nước thương ai nước rặc về Đông?”.


Hay:

“Nước rằm chảy thấu Nam Vang,
Sầu đâu chín rụng, sao chàng biệt li?”.


Hay:

“Anh ngồi phần thủ trống treo,
Miệng kêu ghe ghé chân trèo xuống thang.”.


Hay:

“Thương em, anh phải đi đêm,
Phần do bắt được, đánh mềm như dưa.”...


Ngoài ra, ông còn sử dụng một khối lượng rất lớn từ ngữ Nam Bộ thông thường trong cuộc sống mà bất cứ người Nam Bộ nào khi đọc tác phẩm của ông, họ cũng nhận ra, có thể nêu một ít lớp từ ngữ thông dụng đã được ông sử dụng trong các sáng tác của mình, như: “ai dè, ảnh, ăng kết, ất giáp, ậy, ba, bà cậu, bảnh, bàu, bển, bịnh, bóp đầm, bông cỏ, bông phướn, bông rua, bùng binh, cà rá, cá kèo, cào cào châu chấu, cắc, cắn, cây da, Chà chóp, Chà và, chén, chẹt, Chệt, Chệt Sơn Đông, chỉ, chiến, chìm xuồng, choại, chơn, chúa nhựt, con mẻ, dân Năm Căm, dân Sài Gòn, dừa nước, dòm, dợm, dượng, đau, đèn Huê Kì, đèn lồng, điên điển, đờn, đờn kìm, gây lộn, ghe hát, ghe hầu, giàn thun, giấy bộ lư, giấy con công, hà lãng, hàng xáo, hát bóng, heo, hóc Bà Tó, hòm, hươi, khóm, kiếng, kinh, láng, Lèo, lỏn chỏn, lóng, lội, lục bình, lung, má, mảng, mắm, mắm lòng, mần, miệt, miệt dưới, miệt trên, nằng nằng, ngách, nhà mát, nhểu hột, ô rô, ổng, qua, ra quô, rạch, rắn mối, rặt mùi, ròng, tằng khạo, tắt, thằn lằn, thiềng thị, thương hồ, tốc lực, trà, trấp, un, va, vẹt, vinh diệu, xe đò, xe hơi, xẻo, xôm, xúp lê...”.

Sáu mươi năm viết văn, Sơn Nam đã tiếp nối được truyền thống văn xuôi Nam Bộ của lớp nhà văn đi trước, như: Nguyễn Trọng Quản, Phú Đức, Hồ Biểu Chánh, Phi vân, Bình Nguyên Lộc...; hơn thế nữa, ông còn làm được nhiều hơn những nhà văn đi trước là không chỉ dừng lại ở những sáng tác văn chương, mà còn quan tâm tới lĩnh vực biên khảo. Một lĩnh vực mà các nhà biên khảo miền Nam cũng có những đóng góp lớn, như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Lê Ngọc Trụ, Vương Hồng Sển... Có thể nói, văn chương biên khảo là phân nửa gia tài sự nghiệp cầm viết của Sơn Nam. Truyền thống văn xuôi Nam Bộ, tuy hãy còn non trẻ, nhưng ông và lớp nhà văn sau ông cũng đã mang vào kho tàng văn chương Việt Nam một bản sắc riêng cần phải được đón nhận với lòng trân trọng. Được biết, trước khi viết văn, ông cũng có làm thơ, và những vần thơ mà ông còn tâm đắc giữ lại là những câu thơ vẽ lên hình ảnh của những con người vô danh làm công việc khai hoang mở đất. Có lớp người này, chúng ta mới có được mảnh đất trù phú Nam Bộ hiện nay. Xin chép lại mấy vần thơ của Sơn Nam, để ghi lại tấm lòng của ông với vùng đất Nam Bộ yêu quý này: “Trong khói sóng mênh mông, Có bóng người vô danh, Từ bên này sông Tiền, Qua bên kia sông Hậu, Mang theo chiếc độc huyền, Điệu thơ Lục Vân Tiên, Với câu chữ: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, Tới Cà Mau - Rạch Giá, Cất chòi, đốt lửa giữa rừng thiêng... Muỗi, vắt nhiều hơn cỏ, Chướng khí mù như sương...”.

Khái niệm “Nam Bộ học” có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng chúng tôi muốn nói, ông là người am hiểu nhiều vấn đề của Nam Bộ; biết rõ về tâm lí, tính cách con người Nam Bộ. Các sáng tác của ông đã giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu những vấn đề của Nam Bộ từ nhiều phương diện: “lịch sử, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán, lễ hội, phương ngữ, ngành nghề...”.


Tôi kính trọng nhà văn Sơn Nam không chỉ ở văn nghiệp đồ sộ mà còn ở tính cách của con người Nam Bộ bình dị, hòa đồng này và tấm lòng biết nâng đỡ thế hệ đi sau.


01/ 2006
HÙYNH CÔNG TÍN


http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacgia.asp?TGID=851&LOAIID=15&LOAIREF=5

_________

Các tác phẩm của Sơn Nam trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-05 07:39:42Ngọc Lý>
.


SƠN NAM



Hơn nửa thế kỷ nay, từ thập niên 1950, Sơn Nam được giới văn học cả nước biết đến như một tài năng của văn chương Nam bộ. Ông không những là một nhà văn, mà còn được đánh giá cao như một nhà Nam bộ học, một nhà văn hoá. Những năm gần đây, tác phẩm của ông liên tục được xuất bản và tái bản.

Sơn Nam - tên thật là Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 ở vùng quê Kiên Giang. Hồi đầu thế kỷ, ông nội của nhà văn đã đưa cả gia đình từ Cù lao Ông Chưởng ở Long Xuyên đến lập nghiệp ở ven rừng U Minh Cà Mau, nơi phần lớn người Khmer sinh sống. Tuổi thơ của ông được tắm mình trong hương sắc của rừng U Minh với muôn vàn cỏ cây, hoa lá, chim muông. Ðó cũng chính là vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tác được ông thể hiện trên các trang viết sau này. Nhà văn Nguyễn Trọng Tín, vốn là bạn văn, và là người ngưỡng mộ tài năng của Sơn Nam, ông nhận xét: "Nhà văn Sơn Nam là một trong hai người còn lại hiểu biết nhiều về Nam bộ. Ông có nhiều cống hiến cho văn chương và là người đứng đầu trong số các nhà văn Nam bộ. Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn rất nhiều công trình khảo cứu và sưu tập về văn hoá Nam bộ. Ðặc biệt, ông là người hiểu biết quá trình hình thành dải đất Nam bộ. Từ hiểu biết uyên bác đó ông lại thể hiện bằng những trang viết rất giản dị khiến nhiều tầng lớp độc giả đều đọc và dễ hiểu tác phẩm của ông".

Vốn là nhà văn sống dưới chế độ cũ, để tồn tại cùng sự nghiệp văn chương, nhà văn Sơn Nam đã chọn cách viết văn theo kiểu dã sử hiện đại và khảo cứu lịch sử vùng đất khẩn hoang Nam bộ. Ông nói cách viết này được nhiều độc giả quan tâm, lại không khiêu khích chính quyền đương thời cũ. Tuy nhiên, người đọc tinh tế cũng dễ nhận ra sự đồng cảm tinh thần yêu nước, tưởng nhớ cội nguồn tiên tổ trong những trang viết.

Tác phẩm đầu tay của Nhà văn Sơn Nam là một tập thơ mang tựa đề Lúa reo, do Hội Văn hoá kháng chiến Kiên Giang xuất bản năm 1948. Năm 1951-1952, hai truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung và Tây đầu đỏ, ông đã giành giải nhất trong cuộc thi do Uỷ ban Kháng chiến-Hành chính Nam bộ tổ chức. Tuy nhiên, ông lại nổi danh trên văn đàn là tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, xuất bản năm 1962. Nói về tác phẩm của nhà văn Sơn Nam, bạn văn của ông là Nguyễn Trọng Tín nhận xét: "Trong số những sáng tác của nhà văn Sơn Nam thì tôi thích nhất là truyện ngắn Hương rừng Cà Mau - đây là tập truyện ngắn được xếp ở vị trí cao trong số những tác phẩm văn học đặc sắc nhất của Nam bộ. Hồi còn nhỏ, tôi đọc tác phẩm của ông là vì mình thích, lớn lên khi bước vào nghiệp văn chương tôi đọc tác phẩm của Sơn Nam như một cách học làm nghề. Tôi học ông về cách viết văn, về cách ứng xử của người viết văn Nam bộ".

Ngoài truyện dã sử, truyện ngắn, nhà văn Sơn Nam còn thành công cả ở những công trình biên khảo có hệ thống như Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn Gia Ðịnh xưa, Bến Nghé xưa... Và đây cũng là những đề tài mà ông đeo đuổi suốt sự nghiệp. Nhà văn Sơn Nam tâm sự: Lịch sử Nam bộ Việt Nam là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực. Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Ðời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang, mở đất. Nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và thế là viết về khẩn hoang trở thành sở trường của tôi. Hơn nữa đây cũng là đề tài mà người dân Nam bộ rất quan tâm, bởi trong ký ức của những người Sài Gòn cũ, người Nam bộ cũ vẫn còn lưu giữ nhiều ấn tượng trong việc vật lộn với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên trong những ngày đầu mở đất, mở nước.

Ngày nay, cho dù trong thế giới văn chương muôn màu muôn vẻ, nhưng trong lòng bạn đọc yêu văn chương vẫn giữ lại nét chân dung về Sơn Nam - đó là một nhà văn Nam bộ với tính cách đặc biệt Nam bộ. Ông không giống ai, đi theo con đường mà mình đã chọn: quay về cội nguồn văn hoá dân tộc, mà chính xác là văn hoá Nam bộ bằng lối văn mộc mạc, bằng chữ nghĩa giản dị gần gũi với đời sống thực tế.

Tác phẩm đã xuất bản:

Chuyện Xưa Tích Cũ (truyện)
Tìm Hiểu Ðất Hậu Giang (BK)
Hương Rừng Cà Mau(truyện)
Chim Quyên Xuống Ðất (truyện)
Văn Minh Miệt Vườn (BK)
Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam (BK)
Hai Cõi U Minh (truyện)
Vọc Nước Dỡn Trăng (truyện)
Bà Chúa Hòn (truyện)
Bến Nghé Xưa (BK)
Cá Tính Miền Nam (BK)
Ngôi Nhà Mặt Tiền (truyện)
Một Mảnh Tình Riêng (bút ký)

http://thoangsaigon.com/saigon/vhnambo/sonnam.asp

_________

Các tác phẩm của Sơn Nam trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-05 07:39:08Ngọc Lý>
.

Sơn Nam:
'Bản sắc nước mắm, cá kho không bao giờ phai'



Nhà văn Sơn Nam.
Ảnh: T.V.


Khi "Mùa len trâu" đang ngao du trời Tây, đón nhận sự trân trọng và ủng hộ của khán giả nước ngoài, thì nhà văn Sơn Nam, người khơi nguồn ý tưởng cho bộ phim, vẫn lặng lẽ với nếp sống giản dị. VnExpress đã có cuộc trò chuyện với ông.

- Hãng phim Sài Gòn từng dựng phim "Cây Huê Xà" dựa theo truyện ngắn cùng tên trong tập truyện "Hương rừng Cà Mau". "Mùa len trâu", cũng lấy ý tưởng từ hai truyện ngắn trong tập truyện này của ông, đang liên tiếp thành công ở nước ngoài. Theo ông, điều gì đã mang đến sức hấp dẫn lớn như vậy cho tập truyện?

- Hương rừng Cà Mau thành công ở chỗ nó phần nào dựng lại được phong tục, lối sống, suy nghĩ và tình cảm của người dân miền Nam ở buổi đầu đi khẩn hoang. Một giai đoạn đầy gian truân, khổ ải của cha ông, nhưng cũng rất vinh quang, rất đẹp và dạt dào tình cảm.

Câu chuyện về những người đi khẩn hoang gợi lên cái tình người dân dã, keo sơn cái tình quê hương đồng bào khắc khoải. Là truyện thì tất nhiên phải hư cấu chút đỉnh, nhưng cái cốt lõi là chất sử liệu chân thực mà tôi cố gắng thể hiện trong truyện đã mang lại sức sống dai bền cho nó.

- Ông có thể nói thêm về hoàn cảnh ra đời của tập truyện này?

- Tôi viết tập truyện này vào khoảng năm 1954, khi vừa từ chiến khu ra và về Sài Gòn sống. Lúc đó, tôi ở một căn nhà thuê trên đường Ngô Gia Tự. Tự dưng thấy một thôi thúc mãnh liệt là phải viết những chuyện về vùng đất mà mình đã sinh ra, lớn lên và trải qua một phần trai trẻ. Viết để người Sài Gòn, người xứ khác hiểu về miền Tây Nam Bộ và viết cũng vì để kiếm tiền sống.

- Theo ông, trong "Hương rừng Cà Mau" còn những truyện nào có thể dựng thành phim?

- Tôi rất thích mấy truyện: Cô Út về rừng, Hát bội giữa rừng, Hương rừng... Đọc mấy truyện này thấy thấm thía cái tình người khẩn hoang, thấu suốt cái công mở cõi của họ. Bây giờ tụi trẻ dường như ít chịu nghe kể chuyện xưa, vậy thì dựng phim cho hay, thêm thắt cho hấp dẫn, cho đạt nghệ thuật để tụi nó hiểu thêm về quê hương đất nước kể cũng đáng.

- Tại sao lại có cái tên "Mùa len trâu"?

- Đất nước mình có nhiều cái hay, cái đẹp lạ lùng. Nhà văn phải chịu khó học hỏi, trải nghiệm, chứng kiến để kể cho người ta biết. Tôi mong chờ Mùa len trâu chiếu cho dân mình xem, nhất là tụi nhỏ ở thành thị, để chúng thấy cảnh "len" hàng trăm con trâu là thế nào, cảnh mùa nước nổi ra sao.

"Len" ở đây có gốc tiếng Khơ-me, là tháo ra, cởi ra. "Len Krabey" nghĩa là tháo cho trâu chạy ra. Hồi xưa trâu nhiều, mà người thương trâu như bạn, giăng mùng cho trâu ngủ để khỏi bị muỗi chích, mùa nước nổi phải dắt trâu lên núi tránh nước.

- Gầy đây, ông hay đọc tác phẩm của những ai?

- Hồi trước thì có đọc truyện của Lý Lan, gần đây là Nguyễn Ngọc Tư, cô này viết tài, nhưng muốn sâu và bền hơn thì phải đi nhiều, học nhiều hơn nữa.Văn chương không chỉ là chuyện tình yêu nam nữ đơn thuần, văn chương phải giúp người ta gợi nhớ, khắc sâu về con người, cuộc sống. Muốn viết văn hay không chỉ có cảm xúc mà còn phải có kiến thức, nhất là sử địa, phải chịu khó học...

- Nhiều người cho rằng trước sức tấn công của các luồng văn hóa nước ngoài, giới trẻ Việt Nam sẽ xa dần bản sắc dân tộc. Ông nghĩ sao?

- Bản sắc canh chua, nước mắm, cá kho... thì có bao giờ phai. Nhưng quan trọng là phải giúp tuổi trẻ hiểu và yêu bản sắc dân tộc mình. Tôi có mấy ông bạn ở Tây, ở Tàu rốt cuộc rồi cũng về Việt Nam sống cho bằng được đó thôi.

Nhà văn Sơn Nam sinh ra ở vùng U Minh Hạ, tỉnh Kiên Giang. Vượt qua nghèo khó, ông xa quê, theo đuổi việc học tại Cần Thơ, rồi tham gia kháng chiến chống Pháp ở Tây Nam Bộ. Sau hiệp định Genève 1954, ông trở lại Sài Gòn tham gia viết sách, báo và các hoạt động của trí thức yêu nước.

Gần 20 năm lặn lội khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ, 60 năm cầm bút, nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn. Ở tuổi 80, ông vẫn tiếp tục sáng tác.

Tập truyện ngắn "Hương rừng Cà Mau", của nhà văn Sơn Nam - hay còn gọi là "ông già Nam Bộ", "pho từ điển sống về miền Nam", "nhà Nam Bộ học" - xuất bản lần đầu vào năm 1972. Hàng chục năm sau, đạo diễn trẻ Nghiêm Minh đã đồng cảm sâu sắc với tập truyện và thể hiện những ý tưởng trong hai truyện ngắn Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu thành bộ phim Mùa len trâu nổi tiếng.


Một cảnh trong "Mùa len trâu"




Dương Thanh

http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2005/03/3B9DC535/

__________

Các tác phẩm của Sơn Nam trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 01:57:56Ngọc Lý>
.

Sơn Nam và rừng U Minh
Tưởng Năng Tiến



Sơn Nam, Sài Gòn 2005
Nguồn/Ảnh: vietnamnet.vn//V.T


Mới đây, khi về lại Việt Nam, giáo sư Nguyễn Văn Lục ghé thăm giáo sư Lý Chánh Trung. Ông có nhận xét như sau về người bạn đồng nghiệp cũ:

“... sau 1975 ... có mấy mấy nhà văn, nhà báo trong Nam được cầm bút lại như Lý Chánh Trung. Con số đếm chưa hết một bàn tay… Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay”

Tôi có ngồi học với giáo sư Lý Chánh Trung đâu chừng... nửa giờ, ở trường Văn Khoa Đà Lạt. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Tôi không dám bàn luận lôi thôi gì (thêm) về một người thầy học cũ của mình.

Tuy thế, không hiểu sao, nhận xét vừa nêu của giáo sư Nguyễn Văn Lục lại khiến tôi nhớ đến nhà văn Sơn Nam. Ông là một trong những người may mắn hiếm hoi của miền Nam (trong “con số đếm chưa hết một bàn tay”) vẫn được phép cầm viết, sau khi vùng đất này đã được hoàn toàn... giải phóng! Ông cũng là một trong những nhà văn mà tôi thích đọc.

Tác phẩm (có lẽ) đắc ý nhất của Sơn Nam là cuốn Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Tác giả kể lại chuyện một người dân ở U Minh Hạ, đặt mua báo dài hạn nhưng không trả tiền nên nhà báo phải cử người đi đòi nợ. Xin trích vài đoạn đọc chơi – cho đỡ ghiền – bảo đảm là không dở:

- Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?

Thầy xã trưởng đáp:

- Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Để tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó lên công sở...

Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình:

- Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quí vị độc giả thân mến gần xa.

Thầy xã hỏi:

-Phái viên là gì vậy thầy?

- Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thu tiền.”
(Sơn Nam. “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Hương Rừng Cà Mau, tr. 99).(1)


Nhân vật chính trong truyện, ông Trần Văn Có, theo như lời dân cùng xóm, là một người độc thân, làm nghề giăng câu, nuôi heo, lấy tổ ong, và hơi có máu ba hoa trời biển: “Anh ta công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang Sa gởi xuống công sở; đi ăn giỗ thì nói chuyện Hít-le, chuyện nước Ý đánh nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện Tầu...”

Nghe nói vậy nhưng không phải vậy đâu. Khi phái viên báo Chim Trời giáp mặt độc giả Trần Văn Có, tại nơi cư trú của ông, cuộc hội kiến – rõ ràng – rất là đàng hoàng và (vô cùng) thắm thiết:

“Buổi cơm chiều ngon lành làm sao! Ăn cá lóc nướng trui, uống rượu... Tư Có kèm thầy phái viên ở lại ngủ một đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy trở lại công sở mà đón tàu đi. Thếp đèn dầu cá kéo thêm một tim thứ nhì nữa, cháy khá sáng. Bếp un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ rõ từng sợi khói mịn màng như mành lưới tơ giăng bủa khắp căn chòi nhỏ hẹp.

Tư Có bỏ mùng xuống, chun vơ tấn ba phía rồi mời:

- Thầy Hai vơ trong này ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngồi muỗi cắn. Khói như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh trong thếp đèn dầu cá đó.

Ngượng nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí mùng, chui lẹ vào ngồi kế bên:

- Xứ gì lạ quá! Anh Tư ở đây hồi sanh bịnh chết.

Tư Có đáp:

- Xứ Cà Bây Ngọp, tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu "len" tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn... Bởi vậy dân tình bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học.

Thầy phái viên trố mắt:

- Vậy à? Còn mấy làng khác?

- Ðông Thái, Ðông Hồ, Ðông Hưng, Vân Khánh Ðông... không làng nào có trường hết. Thầy nghĩ coi...

- Hèn chi miệt này chỉ một mình anh Tư là độc giả báo Chim Trời của chúng tôi... Báo có thích hợp không anh Tư?

- Làm báo thì cần nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên? Tiếc là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó, ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, từ cứ. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?

Thầy phái viên cười:

- Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt "ca rê", tay xách toòng teng bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.

Tư Có nói:

- Chắc là thầy muốn nói bài “chốn quê hương đẹp hơn cả” chớ gì?

Rồi chú đọc một hơi:

- Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy...

- Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá... Người du lịch mới trả lời: ở chốn quê hương... từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan... Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.

- Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ... Không, chăn trâu sướng lắm chứ.

Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:

- Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ...

Không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim…

Giọng Tư Có nói nhỏ:

- Ngủ chưa, thầy phái viên?

- Ngủ chưa anh Tư?

- Chưa!

- Tơi nãy giờ cũng vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà không thấy mệt.

Im lặng một hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một tiếng thở dài:

- Biết lấy gì làm sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt tình nghe coi... Chắc thầy tới đây thâu tiền.

- Ðâu có! Ðâu có! Mình là bạn đời với nhau...

- Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong... nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi “đăng” là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ.

- Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tín không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hồi hồi cho tới số chót.
Chú Tư Có vô cùng cảm động…”
(sđd 111-116).


Tôi đọc truyện ngắn “Tình Nghĩa Gíao Khoa Thư” khi còn ở tuổi đôi mươi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nhiều lý. Tôi và bè bạn vẫn tâm nguyện rằng, sau cuộc chiến, thế hệ của mình sẽ cố góp hết sức để dựng xây những phần đất quê hương (bị lãng quên) như vùng U Minh Hạ.

Hòa bình, tiếc thay, đã không mang lại cuộc sống an bình như mọi người mong muốn. Không những thế, nó còn khiến cho hàng triệu kẻ đã phải liều mạng rời bỏ quê hương, để mưu cầu một cuộc sống khả kham hơn - nơi đất lạ quê người.

Tôi là một trong những kẻ đã (đành đoạn) bỏ đi như thế. Vài chục năm sau, khi tóc đã điểm sương, ở một góc trời xa, tình cờ đọc được bài báo (“Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ” của phóng viên Hoàng Trí Dũng) mà không khỏi băn khoăn nhớ về chốn cũ:

“Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tơi bị “sốc” như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang - Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…”

“Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương - những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.”

“Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện. ..”

“Ông chủ nhà Nguyễn Trung Liệt - một lão nông có uy tín trong vùng - vào chuyện: “Trên 60 tuổi rồi, hơn chục năm, ba thế hệ với hơn 30 người sinh ra và lớn lên tại khu rừng này, nhưng ngặt một nỗi nhà tui không ai có được tấm hộ khẩu, cũng chẳng hề có giấy chứng minh nhân dân. Người lớn còn đỡ chứ tội nghiệp sắp nhỏ, năm đứa cháu nội ngoại ra đời trong ruột rừng này hiện tại đều thất học như ông cha nó…
Chú Ba Vinh thì kêu: “Cả trăm gia đình bà con ở đây khổ lắm, không thua gì thời kỳ Pháp thuộc…"


Chú Ba Vinh (nào đó) tuổi đời - ngó bộ – còn hơi ít nên không biết rõ cảnh sống của dân chúng ở U Minh Hạ vào thời Pháp thuộc. Chớ hồi đó, cứ theo như lời kể của ông già Nam Bộ Sơn Nam, nơi đây đã có người đặt mua dài hạn báo Chim Trời ở tận Sài Gòn, có kẻ giữa bữa giỗ (dám) bàn chuyện quốc sự và lớn tiếng chê bai tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang sa...

Những chuyện (tầm ruồng) cỡ đó, không tìm thấy trong bài phóng sự “Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ”. Cũng không nghe phóng viên báo Tuổi Trẻ kể lại chuyện ăn nhậu lai rai mấy con cá lóc nướng trui với người dân địa phương, và dùng chung với họ một bữa cơm chiều (“ngon làm sao”) như đặc phái viên của báo Chim Trời – hồi thời xa xưa cũ. Chuyện người ta ăn ở cư xử tử tế với nhau, theo kiểu “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”, tất nhiên, cũng miễn có luôn.

Ở U Minh Hạ bây giờ, theo như nguyên văn tường thuật nhà báo Hoàng Trí Dũng:“ 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất.” Có chăng chỉ là tiếng kêu gào ai oán, của những người dân khốn cùng và uất hận, vì bị cướp bóc trắng trợn mà thôi.

Sơn Nam, tiếc thay, đã không còn nghe được những tiếng kêu thương vô vọng như thế từ nơi sinh trưởng của ông - U Minh Hạ. Dường như, nhà văn của chúng ta không còn quan tâm và thiết tha gì đến phần đất này nữa, sau khi... cách mạng đã thành công!

“Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay.”

Lời nhận xét (vừa dẫn) của giáo sư Nguyễn Văn Lục, về giáo sư Lý Chánh Trung - chả hiểu sao - lại cứ khiến tôi trạnh lòng nhớ đến Sơn Nam, một nhà văn mà mình mến mộ vào lúc thiếu thời. Chúng tôi sẽ trở lại với Sơn Nam và nỗi lòng U Minh Hạ, trong một bài viết khác, cũng trên diễn đàn này.


----------------------------------
(1) Sách được in lại (và in “lậu”) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.

Copyright @ DCVonline 2006
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=1662
__________

Các tác phẩm của Sơn Nam trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0