Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Dương Thu Hương và Chốn vắng

8 trả lời, 282 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-03 00:45:16Ngọc Lý>
.

Dương Thu Hương và Chốn vắng




Ký tên vào sách cho khách viếng Liên hoan sách Paris 2006
(ngày 22 tháng 3 năm 2006)



Nhà văn Dương Thu Hương đang ở Paris (tin ngày 22/3/2006) để cùng với nhà xuất bản Sabine Wespieser ra mắt cuốn sách mới của bà nhan đề là Terre Des Oublis, bản tiếng Pháp dịch từ tác phẩm Chốn vắng.

Cuốn sách được giới thiệu tại Liên hoan sách lần thứ 26 tại Paris, qui tụ sách của trên dưới 2.000 tác giả đến từ nhiều nơi trên thế giới.



Trong khung cảnh nhộn nhịp của một quán cafe ở thủ đô nước Pháp, nhà văn Dương Thu Hương (DTH) đã trò chuyện với Christine Nguyễn (CN), cộng tác viên của đài BBC tại Pháp.

CN: Bà nói rằng những nhân vật trong truyện có thực ngoài đời, đó là những người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh và họ đã thôi thúc bà viết cuốn Chốn vắng?

DTH: Vâng, hoàn toàn tất cả những tiểu thuyết của tôi đều dựa trên những câu chuyện thật và Chốn vắng cũng như vậy, tức là những nhân vật này tôi đã gặp họ và câu chuyện của họ xảy ra ở tại Quảng Bình. Tất nhiên là khi tôi viết thì tôi có gia cố vào đó tất cả những suy tưởng của tôi, những giấc mộng của tôi và những ý tưởng và những quan niệm sống của tôi. Và đương nhiên là tôi phải nói một cách rành rọt: phần kết chính là phần mà tôi sáng tạo. Cái đoạn kết người ta gọi là có hậu đó chính là giấc mơ của tôi cho số phận những người đàn bà như Miên. Còn trong cuộc sống thì có lẽ mọi người đều biết rằng sau cuộc chiến tranh này hàng vạn người đàn bà chết già bởi vì không có ai lấy họ nữa và họ bị dồn vào những nông trường xa xôi, những nông trường trồng cam ở Hòa Bình và các tỉnh miền núi khác, trồng cam, trồng lạc, trồng sắn và những nông trường toàn đàn bà đến nỗi ở một cái chân trời không bao giờ hiện lên một người đàn ông nào cả. Và nếu có một vài thi thoảng hiện lên một người đàn ông thì đối với họ đấy là những cái hạnh phúc rất là hiếm hoi, mặc dù nó chỉ là một cái thứ hạnh phúc vay mượn và chụp giật.

CN: Với ba nhân vật: cô Miên, anh Bôn và anh Hoan thì ba nhân vật này tạo thành một cái bi kịch trong xã hội sau thời chiến. Ý đồ sáng tác của bà khi viết tác phẩm Chốn vắng này là gì?

DTH: Thật ra tôi là người viết văn không có ý đồ. Khi nào tôi định viết, khi nào có thời gian và khi nào có đủ điều kiện để có thể ngồi viết được thì những câu chuyện mà nó còn tích trữ trong óc tôi thì nó tự nó mở đường chui ra và tôi viết là dưới sức ép của nó như người ta nói là viết như một sự ám ảnh và tôi hoàn toàn không có ý đồ gì cả. Khi tôi đã bắt đầu viết thì câu chuyện đó nó sống dậy và những nhân vật đấy nó kéo tôi theo chứ tôi không kéo họ theo.

CN: Như vậy thì phải chăng sự ám ảnh đó chính là những thân phận của những người lính cũng như là của những người phụ nữ sau chiến tranh thống nhất đất nước, thưa bà?

DTH: Vâng, chính là những lịch sử, những con người cụ thể họ luôn luôn ám ảnh tôi và tôi như một thứ tù nhân của họ vậy. Đấy là cái nhà tù lớn nhất mà tôi phải chịu đựng.

CN: Cô Miên là một trong 3 nhân vật chính, vì phải đối đầu với những sức ép truyền thống, sức ép xã hội mà phải quay về với người chồng cũ sau bao nhiêu năm thất lạc. Phải chăng sự phát triển của nhân vật này nó có một cái gì đó không được bình thường, hay là nói khác đi là nó không có đại diện cho đa số những cái trường hợp đại loại như thế có thật xảy ra ở Việt Nam, thưa bà?

DTH: Nó rất bình thường với thế hệ của chúng tôi và nó xa lạ với thế hệ của các chị. Vì bây giờ các chị trẻ tuổi và các chị đã tự cho mình quyền được sống cuộc đời của các chị. Các chị không chịu sức ép của truyền thống và sự hy sinh một cách vô tận như chúng tôi. Cho nên tôi đã nói lại là cái thích của người này có thể là cái không thích của người khác. Cái của đối với người này là tất nhiên thì đối với người khác là hoàn toàn ngược với lý chí và có thể là không tất nhiên.

CN: Cũng là một người phụ nữ đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam thì bà nghĩ gì về thân phận những người phụ nữ sau cuộc chiến hiện nay?

DTH: Tôi nghĩ rằng những thế hệ sau chiến tranh đã tiêu mòn và đã già rồi như tôi rồi và tất cả những thế hệ ấy là những cuộc đời bị đánh mất trong hoàn toàn câm lặng và quên lãng. Tôi hy vọng là các chị và những người trẻ hơn các chị sẽ không bao giờ nếm trải lại những cái địa ngục mà chúng tôi đã trải qua.

CN: Phải chăng ngoài những điều bà vừa tâm sự ra, đâu đó cũng chính là cuộc đời thật của bà được dàn trải trong quyển sách này?

DTH: Cuộc đời thật của tôi thì nó có giống cô Miên, tức là tôi luôn luôn phải hy sinh thân tôi vì người khác, và cuộc đời của tôi là một cuộc đời tù đày vì người khác. Tù đày đây không phải nghĩa là trong nhà giam của cộng sản, mà còn tù đày trong một cái nhà giam lớn hơn, vì đối với tôi thì con người ta luôn luôn phải gánh vác trách nhiệm. Và cái trách nhiệm đối với tôi thì nó cao cả hơn là cái hạnh phúc của chính bản thân mình. Cho nên khi tôi viết cô Miên thì tôi cảm thất rất là dễ dàng bởi vì tôi hiểu được cái tâm trạng của người đàn bà đó. Bản thân cuộc đời tôi cũng là một mảnh của cuộc đời người ta.


________

Bản tin BBC ngày 22 tháng 3 năm 2006
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culturesport/story/2006/03/060322_duongthuhuongchonvang.shtml

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 04:44:01Ngọc Lý>
.
Nhà văn Dương Thu Hương tham dự
Festival Văn Chương Quốc tế
tại New York

------------------------------------------
2006.04.27 Gia Minh, phóng viên đài RFA



Hiện có một hoạt động văn hóa quốc tế đang diễn ra tại thành phố New York của Hoa Kỳ. Đó là Festival Văn chương Thế giới do Hội Văn Bút Hoa Kỳ phối hợp tổ chức. Gia Minh có mặt tại một trong những sinh hoạt của kỳ festival vào tối ngày 26 tháng tư vừa qua và gửi về bài tường trình sau.

Mới hơn 7 giờ tối thế nhưng dọc con đường 43, trước cửa hội trường Town Hall ở thành phố New York, một dòng người bắt đầu xếp hàng để vào xem chương trình Faith & Reason: Writers speak, tạm dịch là ‘Nhà Văn lên tiếng về vấn đề Niềm tin và Lý lẽ’.

Đây là một sinh hoạt thuộc Festival Văn Chương Quốc tế - Pen World Voices, Tiếng nói Văn bút Thế giới. Festival kéo dài từ thứ ba 25 cho đến hết ngày 30 tháng tư 2006.

Một người đến tham dư sinh hoạt này, trong khi xếp hàng trước lúc vào dự chương trình cho biệt lý do tìm đến với hoạt động này. Đại ý theo vị nữ thính giả này thì vấn đề ‘Niềm Tin và Lý lẽ’ lâu nay có những xung đột với nhau, dù rằng đó là hai mặt cơ bản của đời sống. Chị từng nghe tiếng một số văn sĩ là diễn giả của chương trình nên đến nghe ý kiến của họ về hai điều đó.

Quá 8:15 phút một chút, chương trình bắt đầu khai mạc với phát biểu của nhà văn Salman Rushdie, nhân vật quen thuộc với nhiều người Việt qua tác phẩm 'Nhưng Vẫn Thơ của Quỷ Satan'

Bài phát biểu của nhà văn Salman Rushdie cũng như của 13 diễn giả khác đều xoay quanh chủ đề ‘Niềm tin & Lý lẽ’. Theo ban tổ chức thì đây là hai lĩnh vực luôn tồn tại trong một sự cộng sinh khó khăn. Nhiệm vụ của nhà văn với những trải nghiệm về chân lý và có khả năng làm chủ ngôn từ thì họ có thể giúp hàn gắn mối nứt rạn giữa đam mê của niềm tin và sự minh bạch của lý lẽ.

Nữ văn sĩ Gioconda Belli của Nicaragua thì nêu ra sự mông lung của con người giữa hai lĩnh vực này.

Tiêu đề của bài phát biểu của nhà văn Dương Thu Hương là “Nhu cầu của sự Giải phóng”. Theo bà, nhu cầu đó có lẽ là điều mong muốn sơ khởi nhất của con người. Trong suốt hành trình cuộc sống, con người do những yếu tố như nỗi sợ hãi, lo lắng, hy vọng về tương lai khiến con người luôn tìm đến sự giải phóng.

Trong số 14 diễn giả của chương trình có nhà văn nữ Dương Thu Hương của Việt Nam. Bài phát biểu của bà được trình bày do người phiên dịch là cô Nina McPherson.

Tiêu đề của bài phát biểu của nhà văn Dương Thu Hương là “Nhu cầu của sự Giải phóng”. Theo bà, nhu cầu đó có lẽ là điều mong muốn sơ khởi nhất của con người. Trong suốt hành trình cuộc sống, con người do những yếu tố như nỗi sợ hãi, lo lắng, hy vọng về tương lai khiến con người luôn tìm đến sự giải phóng.

Niềm tin đã giúp con người vượt qua được những thử thách, cụ thể là sự đấu tranh để sinh tồn hàng ngày. Thế rồi nảy sinh như bất đồng ngôn ngữ trong chuyện Tháp Babel, rồi đến chia rẽ về niềm tin. Từ đó nảy sinh ra chiến tranh và xung đột.

Sau khi đưa ra một số dẫn chứng về thực tế cuộc sống, bà Dương Thu Hương kết luận là nếu may mắn thế giới này còn tồn tại thì đó không phải là nhờ các vì lãnh đạo tinh thần tôn giáo các nhà khoa học nhưng nhờ vào sự tử tề, lòng độ lượng và nhờ biết lắng nghe những tiếng nói từ tấm lòng con người.

Dù không phát biểu trực tiếp, nhưng sau khi người phiên dịch đọc bài thuyết trình của mình thì nữ văn sĩ Dương Thu Hương cũng đăng đàn đọc bốn câu Kiều của Nguyễn Du.

Đây là lần đầu tiên nhà văn Dương Thu Hương đến Hoa Kỳ. Trong dịp tham gia Festival Văn chương Thế giới lần này, bà sẽ có cuộc nói chuyện cũng nhà văn Robert Stone tại Thư viện New York vào sáng chủ nhật 30 tháng tư này. Chủ đề là ‘Cuộc chiến Việt Nam, tình trạng kiểm duyệt và vai trò của nhà văn tại Việt Nam’.

Ngay sau chương trình, một nữ thỉnh giá người Mỹ có tên là Marie Alyce Devieux đưa ra ý kiến về những bài phát biểu, và đặc biệt về bài của nhà văn Dương Thu Hương. Đại ý cô Marie Alyce Devieux cho biết cô rất cảm động với các bài phát biểu và thích thú với bài của nhà văn Dương Thu Hương, nhất là được nghe chính giọng nói của bà.

Đây là lần thứ hai Festival Văn Chương Thế giới - Pen World Voice được tổ chức. Năm nay festival qui tụ 135 nhà văn từ 33 quốc gia đến tham dự. Festival có 54 chương trình.

Tổ chức Văn bút Hoa Kỳ có 3.100 thành viên gồm những nhà văn, các chủ biên, dịch giả.

Gia Minh tường trình từ New York.

___________

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 04:44:40Ngọc Lý>
.

Thiên đường đã mất và tìm lại được
Daniel Rondeau – L’Express 15-02-2006



Trọng tâm bộ ba của Chốn Vắng, một thế giới của sức thổi, với tầm mức vũ trụ, Việt Nam.

Nữ tiểu thuyết gia Dương Thu Hương đã chọn một người đàn bà, Miên, hai người đàn ông làm nhân vật cho tiểu thuyết Chốn Vắng của bà. Hai người đàn ông là chồng của Miên. Một bị cho là chết trong chiến tranh. Một buổi sáng đẹp trời tháng sáu, vị cựu chiến binh này trở về. Khát sống, ông nhanh chóng hiện nguyên hình: bất hạnh và bất lực. Người đàn ông kia là người Miên yêu và lấy sau hai năm ở góa. Ông xây nhà có sân thượng và hai người có với nhau một đứa con trai.

Miên biết nàng sẽ mất cái hạnh phúc mà nàng vừa khó nhọc xây dựng. Dưới áp lực âm thầm của chính quyền và làng xóm, nàng sửa soạn chuyến lưu đày để gặp lại bóng ma mà nàng đã quên, từ rừng về. Ba cuộc đời bị số phận trói chặt, bị sét đánh ngay nơi gặp nhau mà hoàn cảnh mới của mỗi người gần như không có lối thoát. Ba cuộc đời bất hạnh được mô tả một cách tuyệt đẹp và đậm màu sắc.

Phải nói ngay tiểu thuyết Chốn Vắng thuộc thể loại tiểu thuyết mà từng trang toát ra sức sáng tạo, mức kịch liệt, tiết tấu và hình thức của nó. Trọng tâm bộ ba của Chốn Vắng, một thế giới của sức thổi, với tầm mức vũ trụ, Việt Nam. Xứ sở này là nhân vật thứ tư của quyển truyện được tác giả kể với một giọng văn trôi chảy, gợi hình và nên thơ. Các kỷ niệm, các hy vọng, các bối cảnh, những đêm trăng, các thung lũng hoa phù dung, các đồn điền, các núi đồi, các hươu nai và cả những con người bị cháy phỏng vì bom và chất độc da cam, các xác chết bị chim ăn thịt, các linh hồn chết hiện diện rất nhiều trong tác phẩm, các chòi tranh, các biệt thự sang trọng, các ghen tương và cả huynh đệ tương tàn, các quả tạ của tin đồn.

Tiểu thuyết này cũng là tiểu thuyết của tình yêu, của những đam mê tròng tréo, của những ẩn dụ và những vết sẹo, của cái mong manh những thiên đàng đã mất và được tìm thấy lại. Đọc giả gặp ở đây những con người khát khao cái tuyệt đối, những tâm hồn tinh khiết bị sẩy chân, những ý chí bị buông bỏ, những anh hùng thất thế, những đầu óc bị giằng co; dù vậy cũng có nét dịu dàng của cuộc sống: mùi trà gừng trà hoa lài, bánh mật ngọt, những ngày đi săn, tiếng kêu inh ỏi từ bụi rậm, mùi thịt nướng thơm lừng hành tỏi. Ngẫm nghĩ về sức mạnh của cuộc sống, tuyệt tác này của Dương Thu Hương vừa làm cho chúng ta thân thiết với xứ sở này mà cũng cũng đưa chúng ta vào các ngóc ngách xa lạ, nơi con người không ngừng tự vấn về những gì đích thật trong lòng mình để có thể đến gần được, không phải là không sợ, với các bí ẩn của hành trình lang thang của mình.


Terre des oublis
Duong Thu Huong
Nhà xuất bản Sabine Wespieser
Phan Huy Đường dịch - 794 trang

http://www.tanvien.net/dich/chon_vang.html
__________

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 04:45:27Ngọc Lý>
.

Ðọc CHỐN VẮNG
Tác giả Dương Thu Hương
Nguyễn-Khoa Thái Anh điểm sách





Ấn bản Anh Ngữ: No Man’s Land
Dịch giả: Nina Mc Pherson và Phan Huy Ðường
ISBN I-4013-6664-3,U.S: Nhà Xuất Bản Hyperion East, 402 trang, $24.95



Không mấy ai còn xa lạ với nhà văn Dương Thu Hương, người phụ nữ miền Bắc quả cảm đã cống hiến quãng đời thanh xuân của mình trong đoàn văn công ủy lạo chiến binh, đấu tranh cho lý tưởng chống Mỹ cứu quốc để rồi sau cuộc “giải phóng” miền Nam năm 1975 đã phải “ngồi bệt xuống vệ đường Sài Gòn bưng mặt khóc nức nở “(1) cho một thiên đường đánh mất. Trong số các văn nghệ sĩ trong nước, có lẽ Dương Thu Hương là một ngòi bút và tiếng nói lên án nhà nước Việt-Nam mạnh dạn nhất.

Rất tiếc tiểu thuyết Chốn Vắng của bà chưa được ấn hành bằng tiếng Việt ở hải ngoại. Như mấy quyển tiểu thuyết sau này - Fragments of A Life, 1989; Novel Without A Name (Tiểu thuyết vô đề), 1995; Memories of A Pure Spring (Hồi quang của mùa Xuân), 2000 - No Man“s Land (Chốn Vắng, viết xong 1998) chỉ được xuất bản bằng tiếng Anh ở Hoa Kỳ (2005) đang tiếp tục gây tiếng vang cho tác giả. Ngoại trừ “Những Thiên Ðường Mù” (Paradise of the Blinds) đã được xuất bản trong nước trong một thời gian ngắn trước khi bị cấm - với ba quyển tiểu thuyết cuối cùng được xuất bản bằng Anh văn ở ngoài nước, Dương Thu Hương đã tạo cho mình một chỗ đứng ở Hoa Kỳ và Âu châu. Còn độc giả Việt thích đọc nguyên bản Chốn Vắng phải chờ thêm một thời gian nữa xem ở hải ngoại có ai đủ bặt thiệp và sức thuyết phục để đảm trách vai trò in ấn với tác giả hay không.

Qua văn phong bóng bẩy, đầy thi vị của No Man“s Land, độc giả không cảm thấy mình đọc truyện dịch mà trái lại được thu hút vào cốt truyện như xem một cuốn phim ly kỳ đầy màu sắc, hương vị và tình tiết éo le. Biến chuyển tài tình của cốt truyện, nghệ thuật tả chân không nhân nhượng và nghệ thuật chuyển ngữ xuất sắc của hai dịch giả Phan huy Ðường và Nina McPherson, mang lại cho người đọc cảm tưởng như đang thưởng thức một tuyệt tác Anh ngữ.

Hai dịch giả này đã hợp tác với tác giả ở ba tác phẩm và nếu không lầm thì ông Phan Huy Ðường dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp và sau đó cô Nina McPherson chuyển từ Pháp văn sang Anh văn. Ðược biết bà Nina Mc Pherson có du lịch và nghiên cứu về Việt-Nam, nên có một số vốn liếng về Việt-Nam. Trong một truyện dịch dài trên 400 trang, người thạo tiếng Việt không khỏi phát hiện được một số các từ ngữ dịch chưa chuẩn, thí dụ như: chim lợn (danh từ miền Bắc) đã dịch là “pig bird” thay vì “owl” là chim cú mèo (từ miền Nam) đậu xanh (mung bean) thành đậu vert (French green beans), măng thành tre (bambo thay vì bamboo shoot) và một vài câu ca dao tục ngữ dich sai ý. Nhưng xét trên tổng thể, No Man“s Land là một truyện dịch mà các tác phẩm được chuyển ngữ khác khó sánh được.

Chốn Vắng lần lượt xoay quanh khoảng non một chục nhân vật chính sống ở Thôn Núi (Mountain Hamlet), miền Bắc Trung bộ vào thời hậu “giải phóng” (sau 1975). Câu chuyện bắt đầu bằng một cơn giông tố thịnh nộ theo gót cô Miên và một số chị em trong làng trở về sau một chuyến đi tìm mật ong trên núi, nhưng rồi không như cơn giông qua mau và chóng tàn kia, khi cô rẽ đám đông đang vây quanh đầu ngõ để vào nhà, (độc giả cùng) cô bị một cú sét đánh ngang đầu: bóng ma của người chồng cũ tưởng đã chôn cất cùng với quá khứ nay lại tìm về án ngữ cuộc sống hạnh phúc êm ấm của cô.

Bổn, người chồng mà cô lấy vội trước khi anh ta lên đường ra trận, sau mười bốn năm biệt tăm, chỉ nghe tin đã trở thành liệt sĩ, nay lại lặn lội tìm về sau nhiều năm luân lạc, kể cả một thời gian chung sống với người vợ Lào đã cứu rỗi và phụng dưỡng anh trên vùng sơn cước. Sự xuất hiện của Bổn giữa đám dân làng không phải là một chuyện vinh quy bái tổ, không có chiêng trống hay khải hoàn ca của nhà nước đón mừng, nhưng một bàn tay vô hình ấy đã cắt đặt và đề cử sự hy sinh của một người khác, một thiếu phụ đã lập gia đình, để đền bù cho người lính đã hy sinh chuỗi đời trai trẻ cho lý tưởng cái phần thưởng mà mà vì nghĩa vụ anh chưa kịp hưởng.

Ðương nhiên sau cơn đoàn tụ bất ngờ đó, xã hội còn nặng tinh thần phong kiến của làng xã Việt-Nam đã tiếp tay quyền lực, gián tiếp ràng buộc và áp lực cô Miên phải rời bỏ Hoan, người chồng yêu quý và lý tưởng của mình - một nông-thương gia khá giả và nhân từ - để đón nhận một số phận mới, ngang trái và hẩm hiu. Từ một cuộc sống sung túc chuyển sang một chòi nhà tồi tàn, Miên phải gò bó trong cuộc sống mới với một kẻ thân tàn ma dại mà nay chỉ là một quá khứ nguội nhạt, hậu quả của mội mối tình thời non trẻ quá vắn số. Từ thuở ban đầu quen biết, rồi cưới hỏi, đến khi Bổn lên đường chinh chiến, cuộc tình của hai người chỉ diễn ra trong dăm ba tuần.

Bổn không những đã trở thành cái bóng mờ trong tim óc người thiếu phụ còn son trẻ - người đã một con với Hoan, người chồng đã cùng nàng xây 12 năm tổ ấm, sau khi nàng đã chịu tang Bổn hai năm - mà còn mang bệnh liệt dương, thân thể teo tóp, đầu óc nhỏ nhen. Anh mang bệnh tính của những cú sốc tâm thần do hệ quả của binh lửa (người Mỹ gọi là Post Traumatic Stress Syndrome/PTSD) lẫn lộn giữa hư và thực, lúc nào cũng bị ám ảnh bởi một quá khứ khốc liệt của chiến tranh đến độ không những thân thể yếu đuối, cày không hay (nằm liệt giường hai ngày sau nửa buổi làm vườn) tình không biết, vô tích sự trong việc chăn gối. Có những lúc không thể đương đầu với cuộc sống thực tại, Bổn lại lui về nương náu trong thế giới hư cấu của anh. Vì thần trí anh bất an, nhiều lúc Bổn không sống trong thực tại mà đang vấn an hoặc than trách chuỗi ngày đã qua với hồn ma của của vị trung sĩ trung đội trưởng đã bỏ mạng trong một trận đánh long trời lở đất do bom napalm Mỹ. Kết cuộc chỉ riêng Bổn còn sống sót.

Chuyện hồi tưởng hay hội ý với người quá khứ, Bổn làm thường xuyên và cũng đều đặn như chuyện đi cầu cạnh để Già Phiếu (một người đàn ông ngoài sáu mươi mà vẫn cường dương, có vợ trẻ và đông con) mách nước cho anh chinh phục lại vùng đất còn màu mỡ.

Tưởng đã chiếm cứ được thể xác của Miên, chỉ cần thời gian để tẩm bổ và hồi dương rồi có con với nàng thì Bổn sẽ có được tình yêu và mái ấm gia đình. Nhưng qua cách thử nghiệm những bí quyết gia truyền do quân sư Phiếu chỉ điểm, độc giả thương hại Bổn hẳn đã có những phen dở mếu dở cười với những hành vi tình ái cố gắng thái quá của anh. Ðiều không buồn cười là tình yêu không thể chinh phục bằng những toan tính hay mưu mô ti tiện mà trong trường hợp này có lẽ chỉ trông chờ ở một giải pháp cao đẹp hơn. Những vụ “tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn” (tiếc rằng thời đó không có Viagra) hái dược thảo, máu và tinh hoàn dê của Bổn đã đưa đến một kết tụ quái gở giữa hai người.

Trong khi đó Hoan người phải gánh chịu cảnh oan trái, ôm nỗi niềm đau khổ đi làm ăn xa, để lại cho vợ ngôi nhà lớn để lui tới (khi nàng muốn) thăm non Hạnh, đứa con trai 5 tuổi được bà chị trông nuôi. Cái cử chỉ lặng lẽ quân tử, số tiền lớn mà chàng trao lại cho Miên trước khi chia tay (cũng là phần lớn số tiền Miên đã chi để thang thuốc cho Bổn) cũng như những ơn huệ chàng đã trao cho dân làng đã nói lên phần nào con người của Hoan. Chàng chỉ còn biết giải sầu qua những xáo trộn nội tâm hoặc hồi tưởng quá khứ và những lúc sống với mối tình không chân dung ở miền duyên hải, một mình trên nhà sàn trong những đêm không trăng sao, chờ đợi Gái, người đàn bà dai dẻo; hoặc theo bạn trai đi thăm viếng những cuộc mua vui thể xác rẻ rúng khác.

Nhưng đến khi người đàn ông quả cảm này chứng nhận được chuyện cam chịu đau khổ và ý tưởng muốn tháo gỡ nỗi tù túng của Miên thì Hoan đã nhận thực được sự hy sinh vô lý của mình và ra tay thi hành kế hoạch để giải thoát người vợ yêu quí.

Ðây quả là một cuộc chiến tâm lý thu phục nhân tâm đầy đủ tính cách “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” và đến khi bản chất lật lọng của Bổn đã không được làng nước và ngay cả Xa, người bạn thân đồng ngũ của anh dung túng nữa thì kết cục cũng đã được dự đoán. Khi Bổn được về dưới mái nhà của Hoan chung sống với Miên và ông Lư, người quản gia trung tín của Hoan và được Miên chăm nuôi, người đọc không tránh khỏi ước muốn sự việc sẽ cải hóa được Bổn, nhưng từ toan tính cưỡng hiếp nàng cho đến chuyện mượn súng săn của Xa để giết Hoan, cho đến khi xã trưởng và chủ tịch hội đồng xã quyết định xử lý âm mưu thâm độc đó, thì có lẽ sự cáo chung của chế độ đen tối đã thành hình. Bổn không thể vin vào hậu thuẫn của bạn đồng ngũ và dân chúng nữa khi bị lãnh cú bộp tai chát chúa của Xa.

Do đó chuyện kết tinh hắc ám - hòn máu của Bổn trong bụng của Miên - cái thai lớn dần là một thấp thỏm, hồi hộp, một lời nguyền rủa. So với chuyện đứa con sơ sanh ở đoạn kết, có phải tác giả đã kéo màn cho ánh sáng hy vọng về với một tương lai sáng sủa hơn?

Và đến kết cục khi Bổn đã nhập cuộc hàn huyên được với vị Trung sĩ trong một thế giới mới thì mọi chuyện có lẽ đã được tọa hóa và công lý an bài.

Ðây không chỉ là một chuyện tình éo le tay ba, hay là những mảnh đời trong xã hội thôn dã thời hậu chiến mà chính là một thế giới thu gọn của Việt-Nam, ngụ ý và bao hàm ý nghĩa của cục diện đương đại. Cái hay của Dương Thu Hương không chỉ nằm trong lời văn hay kết cấu của cốt truyện mà chính ở cái bố cục “thiện thắng tà”, một triết lý nhân quả nhà Phật, rất thuần Việt, bất chấp hiện trạng bi đát của con người. Cái khéo của Dương Thu Hương là cô đã vượt qua được chính thân phận cay đắng của mình, của đất nước để chuyển đạt một thông điệp tươi sáng đến với quê hương, một sự bắt mầm, một hy vọng đang vươn lên trong màn đêm, ẩn ý một sự so sánh giữa các nhân vật trong truyện với những thực thể ngoài đời một cách tài tình và bóng bẩy vậy.

Ðộc giả có thể thấy Bổn trong vai trò của của một số lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt-Nam, biểu tượng của những ý đồ nhỏ nhen, cố chấp, tham quyền cố vị và bấu víu; Hoan là hiện thân của một thế lực dân chủ, một chính thể ngay thẳng giàu mạnh và bao dung, ngay cả khi thua trận hay thắng thế lúc nào cũng là một nguồn lực dồi dào giúp cho sự sinh tồn của đất nước. Miên là mảnh đất miền Nam màu mỡ và trù phú hay chính là cả đất nước Việt-Nam, đang trông chờ sự gỡ trói ra khỏi thế bí, giải thoát khỏi sự ám chướng hoen ố của bóng ma quá khứ.

Ngòi bút tả chân của Dương Thu Hương thật mãnh liệt và táo bạo, cho ta thấy cảnh tồi tàn của Việt -Nam thời hậu chiến, tưởng chừng mùi hôi thối của những ngõ ngách, hẻm hốc, mương cống, nhà chứa, hay ngay cả bệnh thối mồm kinh niên của Bổn đã xông lên tận mũi. Bù lại độc giả không khỏi hình dung hay mường tượng đến những màu sắc, âm thanh hay những hương vị đậm đà khác của quê hương như tiếng sóng vỗ, mùi mặn của biển, tiếng gió hú trên những buôn thượng du, mùi thơm ngào ngạt của những đồng nội rợp hương thơm của của các loài hoa, mùi đất và cây cỏ sau cơn giông. Hay là thực tại hơn: đám diều hâu vỗ cánh chập chờn theo dấu chân tàn lực của Bổn để rỉa rúc vào cái xác anh kéo lê lết sau lưng mà chúng đã mổ ăn hơn một nửa?

Còn gì thực hơn đối với những cựu chiến binh (nhất là Dương Thu Hương), hình ảnh quen thuộc của những cảnh chiến trường khốc liệt, máu me và chết chóc, một ván cờ thí bắt đầu và kết thúc bằng sự hy sinh đắt giá đến tột cùng của dân tộc mà ngày nay chính quyền Hà Nội vẫn rêu rao cho chính nghĩa cuộc chiến thắng vừa qua, cho một bóng ma tương tàn của quá khứ đã và đang được dùng làm lý cớ cho sự trường tồn của bạo quyền?

Chẳng lẽ chỉ riêng tác giả - một trong những người đã hy sinh để đóng góp cho quá khứ của chiến thắng đó - mới có quyền ước mơ cho một đất nước Việt-Nam công bằng và tươi sáng hơn?

(1) Phỏng vấn Dương Thu Hương do đài Little Saigon thực hiện, 30 tháng 4, 2001.


Nguyễn-Khoa Thái-Anh

http://nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=31242&z=12
_________

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-16 22:53:30HuaChu>
Trịnh Lữ

Dương Thu Hương trong “Xác tín và Lẽ phải



Thấy Liên hoan Văn học Quốc tế New York loan báo Dương Thu Hương và Robert Stone sẽ đối thoại với nhau về thực tế chiến tranh, tình trạng kiểm duyệt và vai trò của nhà văn trong xã hội Việt Nam tại thư viện công cộng thành phố vào giữa trưa Chủ nhật 30 tháng 4, tôi vội mua vé qua Smarttix và đi xe buýt Greyhound mất cả ngày thứ Bẩy từ Montreal về New York City.

Chủ nhật trời nắng đẹp tuyệt trần. Mọi thứ hoa đều nở rộ. Tôi đi bộ ra ga tầu điện ngầm, trong balo có hai cái potato roll kẹp dăm-bông và một chai Poland Spring làm bữa trưa, với một cuốn Utopia bằng tiếng Việt vừa dịch và xuất bản ở Hà Nội. Tôi nghĩ Dương Thu Hương, cũng như những nhân vật phản kháng khác ở bất kì đâu, chắc phải có đầu óc utopia, mà có khi cũng chưa đọc cuốn sách nhỏ vĩ đại này. Biết đâu cuốn sách lại là một món quà hay của tôi ở buổi sơ giao này.

Đây là lần thứ hai chi hội PEN tại Hoa Kỳ (PEN American Center) tổ chức Liên hoan Văn học Quốc tế có tên gọi World Voices (Tiếng nói của Thế giới). PEN, tiếng Anh nghĩa là cây bút viết, là tên của tổ chức nhân quyền và văn học đã hoạt động từ năm 1921 nhằm cổ xuý cho văn chương, bảo vệ tự do diễn ngôn và xây dựng một cộng đồng văn sĩ quốc tế trên cơ sở đồng đẳng và hữu ái. Chi hội PEN tại Hoa Kỳ đã có từ 1922, là chi hội lớn nhất và hoạt động mạnh mẽ nhất trong số 141 chi hội của PEN trên khắp thế giới, thường được biết đến với tên gọi chung là PEN International. Những thành viên của PEN bao gồm nhiều tên tuổi lớn trong làng văn nhân loại: W. H. Auden, James Baldwin, Willa Cather, Robert Frost, Allen Ginsberg, Langston Hughes, Thomas Mann, Arthur Miller, Marianne Moore, Eugene O’Neill, Susan Sontag, John Steinbeck…

Tôi biết đến chi hội PEN tại Hoa Kỳ đầu tiên là nhờ cuốn Cẩm nang cho dịch giả văn học của tổ chức này, trong đó có khẳng định vai trò đồng tác giả của người dịch và cách thực hiện vai trò này trong quan hệ nghề nghiệp với các nhà xuất bản cũng như các tác giả. Có lẽ một vài thông tin sau đây sẽ giúp ta hiểu rõ tại sao Dương Thu Hương lại có mặt ở New York City lần này: Ngoài những hoạt động bảo vệ tự do và an toàn sinh mạng cho các nhà văn bị ngược đãi và cầm tù, Chi hội PEN tại Hoa Kỳ tranh đấu cho tự do diễn ngôn, phản đối kiểm duyệt tại Hoa Kỳ và hải ngoại, bảo trợ các chương trình và diễn đàn công cộng về các vấn đề văn chương và chính trị đương thời, nuôi dưỡng tài năng và khả năng thưởng thức văn học của học sinh phổ thông, cổ võ hỗ trợ văn học quốc tế và dịch thuật văn học, tổ chức các giải thưởng văn học, đem văn học đến với tù nhân trong các trại cải huấn của Hoa Kỳ, và trợ cấp cho các nhà văn đang phải đương đầu với các tai ương tài chính hoặc sức khỏe.

Trong thể chế dân chủ Tây phương, chuyện nhà văn bị chính quyền ngược đãi là chuyện rất bình thường, và những người viết văn đã biết họp nhau để đấu tranh tự bảo vệ mình từ hàng thế kỷ nay rồi. Cái hay của dân chủ Tây phương là vậy: nó dạy người ta đừng ảo tưởng; muốn xã hội tốt hơn thì phải biết tranh đấu cho những xác tín tốt đẹp của mình chứ không thể trông chờ ở ơn trên nào hết.

Dương Thu Hương hội đủ điều kiện để trở thành khách mời của PEN từ Việt Nam. Và tôi thật sự muốn chứng kiến Dương Thu Hương sẽ góp lời mình như thế nào vào chủ đề Faith & Reason (Xác tín & Lẽ phải) của Liên hoan Văn học Quốc tế New York kì này.

Toà nhà thư viện công cộng ở góc đại lộ 5 và phố 42 vốn quen thuộc với tôi từ bao năm nay, nhưng khi rảo bước qua những hành lang đá hoa cương đầy cột và vòm cuốn với những chặng kiểm soát và lên xuống thang máy, chỗ nào cũng đầy nhân viên an ninh đồng phục đen, tôi có cảm giác mình đang vào thăm ai đó trong một nhà tù đặc biệt. Tôi bước vào phòng hội thoại với những cảm xúc không rõ rệt.

Cử toạ phần lớn là người Mỹ đã có tuổi. Một tốp quay phim người Việt. Tôi nhận ra một mục sư vẫn chủ trì bút nhóm Lửa Việt. Ngay cạnh tôi là một nữ thanh niên từ Hà Nội sang đang theo học báo chí ở NYU. Một nhóm người Việt ngồi trên hàng ghế đầu trông không ra dân New York tí nào, chắc là từ California sang.

Giới thiệu. Vỗ tay. Robert Stone trông đã khác xưa: già hơn, đẹp hơn, chậm rãi hơn, và bình thản hơn. Hoá ra Nguyễn Quí Đức làm phiên dịch cho Dương Thu Hương; trông anh vẫn thế, lúc nào tôi cũng có cảm giác anh đang làm một việc gì đó chưa đúng ý mình, và anh chỉ làm cho vui vui thế thôi. Cuộc hội thoại sẽ được dẫn dắt bởi một nhà văn người Pháp, tôi không nghe kịp tên, tiếng Anh giọng Pháp của anh nghe rất dễ chịu. Và Dương Thu Hương. Đây là lần đầu tôi nhìn thấy người đã viết Thiên đường mù. Tôi mới đọc cuốn đó của chị thôi, cũng không có cảm nhận gì rõ rệt lắm. Cảm giác của tôi về văn sĩ này phần nhiều có từ những tin tức có phần đồn thổi về những gì chị đã làm bên ngoài văn chương. Thực ra tôi có quen với em gái của Hương, và cảm giác đầu tiên khi nhìn thấy Hương là cả hai chị em đều có nét nhan sắc của đàn bà đất Kinh Bắc: sắc sảo, có ý thức rõ rệt về nữ tính mạnh mẽ của mình.

Stone đã từng làm phóng viên chiến trường ở Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết Dog Soldiers của ông có những nhân vật cựu binh Mỹ tại Việt Nam và chuyện buôn lậu ma tuý ở Nam California. Cha đẻ của nhà văn Pháp dẫn chương trình đã từng đánh trận ở Đông Dương. Anh mở đầu cuộc hội thoại bằng một đoạn tự giới thiệu hơi quá dài dòng về mối quan hệ của mình với Việt Nam, rồi nói rằng lần nào gặp Dương Thu Hương, anh cũng nghe Hương nói là “Hương sẵn sàng chết bất cứ lúc nào”, rằng “ngày nào cũng có thể là ngày cuối cùng của Hương”. Đến nỗi cứ nghĩ đến Hương là anh lại nhớ đến mấy câu nói ấy.

Không hiểu sao PEN lại chọn một người Pháp để điều khiển cuộc hội thoại về chủ đề chiến tranh, kiểm duyệt và vai trò của nhà văn giữa một người đàn ông Mỹ và một người đàn bà Việt, tôi đang bụng hỏi dạ thế thì nghe tiếng Hương cất lên – một giọng đàn bà rất khỏe và đanh qua hệ thống loa của phòng họp: “Vì tôi chọn con đường làm giặc, nên biết rằng mình có thể chết bất kì lúc nào”. Nguyễn Quí Đức, không hiểu vì lí do gì, lại dịch chữ “làm giặc” ấy của Hương là “trouble-maker” thôi chứ không phải là “rebel”. Hay là anh cố tình làm dịu câu chuyện? Mà giọng anh nghe thật mềm mỏng, như mấy làn sóng vội lan ra sau khi hòn đá “làm giặc” của Hương vừa rơi xuống nước vậy.

Câu nói mở đầu ấy của Hương đã khiến tôi ngạc nhiên hết sức. Không phải chỉ là những chữ ấy, mà là cả cái giọng của Hương, thật đanh thép, như thể đang đứng ở pháp trường vậy, mà có vẻ chỉ là một pháp trường để quay phim.

Trong suốt 45 phút tiếp theo đó, cái ý tưởng “tôi làm giặc” của Hương mạnh đến nỗi cả Stone và anh nhà văn Pháp đều không sao lái câu chuyện về chủ đề dự tính của nó được.

Có lẽ phiên dịch là một vấn đề trong cuộc hội thoại này. Nguyễn Quí Đức chỉ dịch thầm vào tai Hương những câu hỏi được nêu ra, nên cử toạ hiểu tiếng Việt không biết liệu anh có chuyển tải đúng những câu hỏi ấy không. PEN nên rút kinh nghiệm khắc phục tình trạng nhất bên trọng nhất bên khinh về ngôn ngữ đối thoại trong một liên hoan văn học quốc tế kiểu này. Nhiều câu trả lời của Hương chẳng liên quan gì đến câu hỏi của Stone hoặc anh người Pháp kia. Cô gái học báo chí ngồi cạnh có lần hỏi tôi: “Anh ấy dịch sai? Chị ấy không hiểu, hay là né tránh?”

Những gì tôi viết lại trong bài này là dựa vào những ghi chép tại chỗ của tôi. Không có máy ghi âm, cũng không có ý định làm tài liệu, tôi chỉ muốn viết lại cho thật đúng những gì mình nghe được và cảm thấy trong buổi hội thoại đó. Đây là câu chuyện của tôi về buổi gặp gỡ ngày hôm đó. Trong đời sống con người, ai cũng có một câu chuyện riêng của mình về cùng một sự kiện nào đó.

Stone hỏi Hương về việc chị xung phong đi chiến trường, và muốn biết chị nghĩ gì về những thanh niên khác cùng lứa. Hương nói: “Hồi ấy chúng tôi tham gia chống Mỹ hầu như là nghe theo bản năng mà thôi, sau này chúng tôi mới thấy là mình bị lừa”. Rồi sau khi nói phần lớn nhân loại là bị lừa, Hương đanh thép tuyên bố rằng: “Thời đó chúng tôi sống như súc vật!”. Như thể đó là nguyên nhân đã khiến cho chị và thế hệ của chị đã tham gia chống Mỹ vậy. Và để minh chứng cho cuộc sống súc vật ấy, Hương nói tiếp: “Tuyên truyền của miền Nam lúc bấy giờ là hoàn toàn đúng khi họ nói rằng ba thằng Việt cộng đánh đu một cọng đu đủ cũng không gẫy. Chúng tôi không có cả bát ăn cơm, phải dùng gáo dừa làm bát, phải ăn ngô của lợn, ăn ruột đu đủ. Miền Bắc nhập khẩu loại sữa dùng để nuôi gia súc và cũng chỉ cán bộ cao cấp mới được phân phối loại sữa ấy.”

“What’s the matter with this woman?” Tôi tự hỏi, và thấy xấu hổ vì câu hỏi ấy đã vang lên trong đầu mình bằng tiếng Anh chứ không phải tiếng Việt. Ngay cả bây giờ, khi đang viết những dòng này, tôi cũng vẫn còn thấy xấu hổ vô cùng, cho ai và vì cái gì thì tôi không muốn nghĩ đến. Hãy để tôi kể tiếp về buổi hội thoại ấy cái đã.

Stone đã đọc sách của Hương và biết rằng chị có dạy hát cho đồng đội trong lúc ở chiến trường. Ông hỏi: “Chị có viết ra những bài hát ấy không?”. Hương đáp, may quá tôi không viết ra chúng, tôi chỉ dạy người khác hát chúng thôi. “Ô”, Stone nói, mái tóc bạc của ông rung rung, “tôi cứ ngỡ rằng sự nghiệp văn chương của chị đã bắt đầu từ việc viết những ca khúc chiến tranh ấy”. Trong giây phút im lặng tiếp theo, tôi cứ ngỡ mình đã nghe thấy Stone thì thầm: “Thật đáng tiếc”. Vớ vẩn thật.

Nhưng Stone vẫn chưa nản, ông hỏi tiếp: “Cuộc đời chị đã đi theo hai hướng: đầu tiên chị theo đuổi tham gia phục vụ sự nghiệp của dân tộc mình; sau này thì có vẻ như chị lại đi theo quan niệm về chân lí của riêng mình. Chị có thể nói về chuyện này được không?”

Câu hỏi hay quá, tôi thấy bồn chồn. Nguyễn Quí Đức thì thầm một lúc với Hương. Cử toạ im phăng phắc. Rồi tiếng Hương cất lên, sang sảng: “Tôi không phải là nhà văn chuyên nghiệp như ông Stone!”

Thế là thế nào? Hương định nói rằng những câu hỏi như vậy chỉ dành cho các nhà văn hay sao? Cả hội trường ồn ào lên một lúc. Chẳng biết mọi người nghĩ thế nào. Rồi Stone hỏi tiếp : “Tại sao chị lại từ chối danh hiệu nhà văn?”

Hương đáp: “Ông to lớn, còn tôi thì nhỏ bé. Từ nhỏ tôi chỉ mơ làm quán quân bóng bàn chứ chưa bao giờ quan tâm đến viết văn. Nhưng mà tôi bị lừa, và tôi muốn viết để người khác khỏi bị lừa như tôi.”

Stone và anh nhà văn Pháp nhìn nhau. Stone hơi nhún vai, nhưng kịp thời ngăn mình không bộc lộ gì khác. Anh nhà văn Pháp chẳng biết dẫn dắt câu chuyện thế nào, cứ nhìn sang Stone, và ông lại lên tiếng, rất khó khăn, chậm chạp, như thể vừa nói vừa nghĩ xem mình đang nói gì. Tôi hiểu rằng ông đã nói như sau: “Sự thật là cái đẹp. Nhà văn là người khiến cho sự thật hiển lộ và được nhận diện. Tôi nghĩ đó là vai trò và chức phận của nhà văn”. Anh nhà văn Pháp nói: “Đó là một nhận định, không phải là một câu hỏi”. Stone nhún vai. Anh nhà văn Pháp hỏi Hương: “Chị nghĩ gì về nhận định này?”.

Nguyễn Quí Đức thì thầm. Rồi Hương nói rằng chị muốn trả lời bằng cách dẫn một đoạn thơ của Petofi. Đoạn thơ này tôi cũng đã thuộc từ hồi còn là học trò phổ thông, vì nó rất phổ biến trong đám mới lớn ở Hà Nội trong những năm 1960, nhưng bây giờ thì tôi không sao nhắc lại cho đúng được, ngay cả khi Hương đọc từng câu cho Nguyễn Quí Đức dịch. Đại khái đoạn thơ nói rằng cuộc đời thì như biển cả, còn tình yêu thì như ngọc châu hay ngọc trai gì đó, và để tìm được ngọc ấy thì mình có thể mất mạng chứ không dễ dàng gì. Có lẽ Hương muốn nói rằng chị sẵn sàng chết để làm cho sự thật được hiển lộ.

Stone nhìn nhà văn Pháp. Anh này lên tiếng: “Mới viết chị đã rất nổi tiếng, sau đó sách của chị bị cấm, 15 năm qua chị sống cô lập với đồng bào của mình, chỉ cảm thấy thế nào?”.

“Tôi chọn con đường làm giặc,” Hương nhắc lại, và Nguyễn Quí Đức vẫn dịch là “trouble-maker”, “và tôi yên ổn, một mình, tự mình thấy đủ.”

“Tại sao chị chọn làm trouble-maker”, anh nhà văn Pháp hỏi tiếp, “quyết định ấy có trải qua một quá trình lâu dài hay không?”.

Chắc hẳn mọi người đến dự buổi hội thoại này cũng đều muốn biết về cái quá trình mà nhà văn Dương Thu Hương đã trải qua để từ một nữ thanh niên xung phong trở thành một người “làm giặc” trong văn chương với nghĩa phản lại tất cả những xác tín thời trẻ tuổi của mình. Ai cũng muốn biết tại sao, cái gì đã khiến cho chị thay đổi như vậy, và có thể rút ra được bài học gì, giá trị gì, ở câu chuyện này.

Vẫn đanh thép như thế, Hương nói rằng khi chiến tranh kết thúc và miền Nam được giải phóng, mọi người đều vui sướng, “còn tôi thì khóc như cha chết” vì đội quân thắng trận lại thuộc về một thể chế man rợ hơn bên bại trận. “Cuộc chiến ấy là một trò đùa man rợ của lịch sử”, Hương khẳng định, “và nó cho thấy cái đẹp không phải lúc nào cũng thắng, văn minh có lúc phải qui hàng”. Hương cũng nói rõ rằng Việt Nam trước đây thì là phong kiến, đến khi bị chia làm hai thì miền Bắc trở thành man rợ hơn miền Nam.

Mọi người đều im lặng. Nhà văn Pháp nhìn sang Stone. Ông này cựa quậy một tí, nhìn tờ giấy của ông trên tay, rồi lên tiếng: “Đây là một câu hỏi mà tôi thấy rất ngại phải đưa ra cho chị. Chị nghĩ gì về câu nói của William James về cái đồng đẳng đạo lí của chiến tranh (the moral equivalent of war)? Đại ý ông ta muốn nói là OK, chúng ta ai cũng ghét chiến tranh, nhưng chiến tranh lại là cái duy nhất khiến cho con người bộc lộ được những phẩm chất rất tốt của mình như lòng hy sinh, ý thức tận hiến, vân vân. Phải chăng thực tế của chiến tranh cũng là điều kiện giúp nhà văn tìm thấy và làm hiển lộ được sự thật và cái đẹp?”.

Rõ ràng Stone muốn câu chuyện quay về chủ đề “realities of war and the writer’s role”. Và chắc chắn ông già đã chuẩn bị kĩ lưỡng những câu hỏi của mình.

Nguyễn Quí Đức thì thầm một lúc lâu với Hương. Cuối cùng, Hương nói: “Chiến tranh là cái tất cả chúng ta ai cũng phải lên án, bất kì ở đâu và lúc nào”. Tôi chợt nhớ đến nhan đề của bộ phim Lost in Translation, mặc dù chuyện phim chẳng liên quan gì ở đây.

Anh nhà văn Pháp quay lại câu hỏi về chuyện Hương sẵn sàng chết bất kì lúc nào, và nói có lẽ người Việt Nam có tâm lí không sợ chết. Hương nói: “Người Việt Nam có đủ cam đảm để chết, nhưng không đủ khôn và khát vọng để sống. Tôi phải làm giặc để giúp dân tôi mở mắt ra và biết sống cuộc sống con người!”. Nguyễn Quí Đức vẫn trung thành với danh từ “trouble-maker” của anh khi dịch câu trả lời này của Hương. Tôi tự hỏi không biết mình đã biết thế nào là cuộc sống con người hay chưa.

Anh nhà văn Pháp nói có theo dõi sự kiện thanh niên Việt Nam nồng nhiệt đón mừng Bill Gates trong những ngày vừa rồi. “Người Việt Nam bây giờ rõ ràng đang hướng đến tương lai”, anh nói, “tại sao chị vẫn mải mê lục lại quá khứ chiến tranh như vậy?”.

“Những phản ứng của người Việt Nam hiện nay đều là để phản kháng lại chính quyền”, Hương tuyên bố. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa thể hiểu nổi chị định nói gì. Tại sao nồng nhiệt đón Bill Gates, một thượng khách của Thủ tướng, mà lại là phản kháng lại chính quyền? Cô gái bên cạnh cũng nhìn sang tôi với một vẻ thắc mắc như vậy. Rồi Hương nói tiếp: “Có ba yếu tố đang ghìm giữ Việt Nam trong tăm tối. Một là Việt Nam chỉ biết chống ngoại xâm chứ chưa bao giờ biết chống nội xâm. Hai là dân còn ngu tối, chưa biết phải sống như thế nào mới là ra cuộc sống con người. Ba là mọi người vẫn còn mê muội trong hào quang chiến thắng từ khi kết thúc chiến tranh. Cho nên tôi có nhiệm vụ phải vạch trần sự phi lý của cuộc chiến tranh ấy, để cho xã hội đừng có ngửi hít mãi những xác chết ấy nữa.”

Một cảm giác ngao ngán xâm chiếm lấy tôi, khiến tôi không thể để ý được lời dịch của Nguyễn Quí Đức và phản ứng của cử toạ ra làm sao nữa. Sao Hương lại nhắc đến những xác chết của cuộc chiến? Ai là người thực sự vẫn muốn dựng những xác chết ấy lên để ngửi hít như Hương nói?

Stone liếc nhìn đồng hồ đeo tay của mình, rồi quay sang hỏi Hương: “Thủ tướng Việt Nam đã sang thăm Mỹ, và ông nói nhiều đến việc hoà giải giữa hai nước. Chị nghĩ gì về quá trình hoà giải hiện nay?”.

“Tôi không phải là Phan Văn Khải”, Hương đáp, “nhưng tôi nghĩ ông Phan Văn Khải không có lựa chọn nào khác.”

Stupid! Ấy là tôi bật ra trong đầu. Làm giặc cũng phải có kiến thức thì mới được chứ. Nhưng chắc là tôi nhầm rồi, làm giặc khác, làm người phản kháng khác, nhất là làm một nghệ sĩ, văn sĩ hoặc nhà khoa học có ý thức phản kháng cái xấu để xây dựng cái tốt.

Stone, ông già đáng kính đầy kiên nhẫn, vẫn muốn đưa câu chuyện về chủ đề mà tôi tin rằng đã thuyết phục được ông tham dự buổi hội thoại này. Ông nói: “Đạo lí của nghệ thuật là ở chỗ nó nhận diện được sự thật. Văn chương cũng vậy. Chị nghĩ gì về điều này?”.

Hương đáp: “Ông quá thương tôi nên mới hỏi tôi một câu to tát như vậy. Tôi đã nói tôi không phải là nhà văn mà, thưa ông. Tôi xin cám ơn vì ông đã tốt với tôi như thế.”

Nguyễn Quí Đức dịch cái ý “thương” và “tốt với tôi” ấy của Hương bằng từ “compassion”. Và Stone lập tức phản ứng một cách khá gay gắt: “Compassion is not required here!” Rồi ông nói thêm vài lời nữa, như thể tự biện chứ không phải cho cử toạ nghe, rằng chúng ta đến nói chuyện với nhau ở đây hôm nay không phải là vì thương cảm xót xa gì với nhau, mà là vì muốn tìm hiểu ý kiến của nhau mà thôi.

Anh nhà văn Pháp vội can thiệp bằng một câu hỏi khác mà anh nghĩ là chắc Dương Thu Hương sẽ hiểu và trả lời đàng hoàng được: “Những văn phẩm của chị đề cập đến tấn bi kịch hiện đại của Việt Nam, nhưng chúng có vẻ luôn gắn liền với quá khứ. Bản thân chị có cảm thấy mình là một phần của truyền thống chung của tổ quốc chị không?”.

“Tôi có hai con người”, Dương Thu Hương đáp, “một chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ, và người kia là một mụ đàn bà răng đen mắt toét. Và chính người đàn bà ấy đã giúp tôi sống sót bằng lòng kiên nhẫn và tính chịu đựng.”

Tôi biết nói gì nữa đây?

Anh nhà văn Pháp tiếp tục dẫn câu chuyện bằng cách hỏi rằng có phải đúng là Hương đã tự bỏ phiếu khai trừ mình ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam hay không? Hương kể rằng chị vào Đảng chỉ vì muốn tranh đấu cho quyền lợi của đồng nghiệp. Chị nói xưởng phim nơi chị làm việc có hơn 600 người, và số phận của họ được định đoạt bởi một dúm đảng viên có toàn quyền quyết định về lương bổng, nhà ở, và tất cả mọi chuyện khác của tất cả mọi người. Vì chị là người dám nói và biết cách phản đối cấp trên, nên đồng nghiệp đã dùng kẹo bánh quà cáp hối lộ chị suốt cả một năm trời và thuyết phục chị vào Đảng để đấu tranh cho họ. Cử toạ cười ầm lên khi Hương kể đến đó, có vẻ rất thích thú. Tôi ngồi đó mà như người lênh đênh giữa biển, như thằng Pi của Yann Martel vậy. Tôi lõm bõm nghe Hương nói tiếp về chuyện ra khỏi Đảng, rằng khi chị thấy trò chơi ấy đã chấm dứt thì chị tự bỏ phiếu khai trừ chính mình.

Rồi đến lượt cử toạ được đặt câu hỏi. Một cô gái Việt muốn biết tại sao Hương lại xây dựng mấy nhân vật ngoại tình với nhau mà để họ không hề có cảm giác xấu hổ hoặc băn khoăn như nhẽ ra phải thế, nhất là ở Việt Nam. Hương bảo là vì mấy người ấy đã có ý thức đầy đủ về bản thân và quyền làm người của họ. Một cô gái Việt khác hỏi tại sao tất cả các nhân vật nam của Hương đều yếu đuối và vớ vẩn. Hương nói chị không có ý thức làm như thế, mà chỉ viết theo những ý nghĩ tự nhiên của mình. “Tôi không có ý định hạ nhục nam giới, xin quí vị hiểu cho”, Hương nói, và cử toạ lại một lần nữa cười ầm cả lên, có vẻ vui lắm. Rồi một ông trung niên trên hàng ghế đầu nói nhóm của ông đã bay từ Cali sang chỉ cốt được gặp mặt văn sĩ, mà “trời ơi gặp được chị còn khó hơn cả gặp tổng thống Bush nữa nè...”. Đến đó thì người chủ trì cuộc gặp cương quyết cắt ngang và nói rất tiếc phải dừng ở đây để cuộc hội thoại tiếp theo có thể bắt đầu sau 15 phút nữa.

Ồn ào ra về. Trong lúc một đám người xúm quanh Hương để chụp hình, Nguyễn Quí Đức chạy ra bắt tay tôi. Đã 5 năm rồi chúng tôi mới gặp lại nhau. Nhóm quay phim đang phỏng vấn một người đàn ông Việt. Màn diễn nào lúc kết thúc cũng ngơ ngác như vậy thôi. Tôi chưa đề tặng gì vào cuốn Utopia. Ra đến ngoài, tôi ngồi hưởng nắng xuân New York và ăn hết cả hai cái potato roll kẹp dăm-bông. Lũ bồ câu quẩn chân tôi ríu rít mà chẳng có con nào tỏ ý thân thiện gì. Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ nên có một cuốn How to Be a Dissident – For Dummies. Nhiều khi lẩm cẩm cũng là khởi đầu của cái gì đó, biết đâu đấy.

Ngồi trên tầu E trên đường về nhà, tôi nghĩ Dương Thu Hương rõ ràng không phải là một nhà văn khi đối thoại với đồng nghiệp Tây phương, mà là một người phản kháng thì chị làm tôi thất vọng. Mọi chuyện ồn ào về chị bỗng trở thành chẳng có ý nghĩa gì. Chắc phải tin lời chị thôi: “Tôi chọn con đường làm giặc...” Còn để làm gì thì đến bây giờ tôi vẫn không thể hiểu nổi.

New York City, 03.5.2006

© 2006 Trịnh Lữ
© 2006 talawas
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-17 01:51:40Ngọc Lý>
.

Kính chào HuaChu,

Tôi đang e ngại không biết có nên đem những xôn xao ngoài chợ vào trong Chốn Vắng không, thì bạn đã mở đầu bằng một bài của Trịnh Lữ trên Talawas.

Cho rộng đường tham khảo, khi chúng ta đã mang vào một ý kiến, chắc phải đem vào tất cả các phản hồi.

Tôi xin phép HuaChu, lần lượt chép vào đây các ý kiến đã đăng trên Talawas.

Nếu các Quản Trị Viên của Diễn Đàn cảm thấy không thích hợp với không khí thư viện, thì xin tự nhiên xóa bỏ. Tôi chỉ yêu cầu, nếu xóa bỏ, xin bỏ từ bài của Trịnh Lữ. Vì các bài về Chốn Vắng đã có từ năm 2005, và hoàn toàn dựa trên căn bản văn học.

Tôi thực mong chúng ta sớm có ấn bản Chốn Vắng bằng tiếng Việt, để Kho văn học Việt của chúng ta dồi dào hơn.

Trong cùng tinh thần, xin cám ơn Hồng Yến, đã có bài về Dương Thu Hương và Tác Phẩm trong Việt Nam Thư Quán, từ ngày 21 tháng 9 năm 2005, tại đây: Dương Thu Hương: Tác Phẩm .

Chị Hồng Yến, thành thực ngưỡng mộ chị đã làm việc hết sức nghiêm túc và lặng lẽ, những con đường Ngọc Lý đang tìm theo, đều thấy đã có vêt khai phá của Chị. [:)]

Trong bài của Trịnh Lữ, tôi xin minh xác một điều rõ ràng.

Đề tài của Dương Thu Hương và Robert Stone trong buổi nói chuyện hôm 30 tháng 4 tại Thư Viện New York là : “Cuộc chiến Việt Nam, tình trạng kiểm duyệt và vai trò của nhà văn tại Việt Nam”, chứ không phải "Xác tín và Lẽ phải" như Trịnh Lữ đã ngộ nhận. [1]

Do đó, người đi lạc chủ đề trong bài viết của Trịnh Lữ chính là Trịnh Lữ chứ không phải Dương Thu Hương hay tất cả cử tọa hôm ấy.

Chủ đề mà Trịnh Lữ dịch là "Xác tín và Lẽ phải", nguyên văn tiếng Anh, là "Faith and Reason" (Đức Tin và Lý Lẽ), là chủ đề ngày Thứ Tư, 26 tháng 4, năm 2006. Bài nói chuyện của Dương Thu Hương trong ngày này được Nina Mc Pherson diễn đọc bằng Anh Ngữ, với chủ đề: "Sự Cứu Rỗi Cuối Cùng" , đăng trong Việt Nam Thư Quán tại đây:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=148507

Các bạn có thể vào Talawas, tại đây: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7103&rb=0102

để tham khảo các ý kiến đóng góp trên net, cùng với bài của Trịnh Lữ.

Trong tinh thần dân chủ đa ý kiến, đa nguyên, tôi nghĩ đây là một mở đầu rất hay của HuaChu, thành thật cám ơn bạn.

Mong chúng ta cùng tham dự với tinh thần đa nguyên khởi từ Bọc Trăm Trứng, và căn bản nhị nguyên của Bố Rồng Mẹ Tiên, phát huy mạnh mẽ từ thời Hậu Lý với Tam Giáo đồng nguyên, đã xây dựng một nền văn hóa Việt đặc sắc và rực rỡ.

Kính mời,


Ngọc Lý

__________

[1] Xem chương trình từ PEN American Center

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-17 01:53:17Ngọc Lý>
.


Nường Lý
Dương Thu Hương
Người đàn bà Việt răng đen mắt toét đốt đuốc làm giặc




Nhà văn Dương Thu Hương
trong buổi nói chuyện tại Thư viện
Thành phố New York
ngày 30.4.2006


Sáng ngày 30 tháng 4 năm 2006, trước thư viện tại trung tâm thành phố New York, nhiều người Việt khắp nơi trên nước Mỹ đã tụ về tham dự buổi nói chuyện của Dương Thu Hương, nhà văn nữ nổi tiếng thế giới với ngòi bút sắc sảo và nhiệt tâm tranh đấu cho tự do, dân chủ Việt Nam.

Dương Thu Hương ghé New York để dự Đại hội Văn chương Thế giới (Pen World Voices), do Hội Văn bút Hoa Kỳ (PEN), trung tâm New York, tổ chức, với sự góp mặt của 135 văn sĩ từ 33 quốc gia trong 54 chương trình, kéo dài từ 25.4 cho đến hết ngày 30.4.2006.

Chủ đề của Đại hội năm nay là: “Các tiếng nói trên thế giới” (World Voices).

Đây là lần đầu tiên nhà văn Dương Thu Hương đến New York, thành phố của Nữ thần Tự do.

Trong dịp tham gia Đại hội Văn chương Thế giới lần này, bà đã lên tiếng tối 26 tháng 4 tại Hội trường Toà Đô chính New York, với đề tài: “Nhu cầu cứu rỗi”, do dịch giả Nina McPherson trình bày bản Anh ngữ, còn riêng bà thì đọc mấy câu Kiều:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.


Chủ nhật 30 tháng Tư, Dương Thu Hương nói chuyện cùng nhà văn Robert Stone tại Thư viện New York với chủ đề “Cuộc chiến Việt Nam, tình trạng kiểm duyệt và vai trò của nhà văn tại Việt Nam”, với sự tham dự của trên 200 khán giả Mỹ, Việt đến từ khắp nơi. Thông dịch viên cho bà trong dịp này là ông Nguyễn Quí Đức (phụ trách chương tŕnh Pacific Time trên làn sóng phát thanh KQED).

Đặc biệt, người ta nhận thấy sự hiện diện của học giả Nguyễn Ngọc Bích, nữ sĩ Trương Anh Thụy, trưởng ban Việt ngữ Đài VOA Michael Mathes, ký giả Gia Minh của RFA, Ông Huỳnh Kim Khánh và Nguyễn Khoa Thái Anh của Đàn Chim Việt, Ông Đinh Quang Anh Thái của Little Saigon Radio và Viet Tide, nhóm phóng viên kiều diễm của Little Saigon, Ông Võ Thành Nhân và Đặng Văn Sâm của VATV, Ông Phạm Bội Hoàn, cameraman kỳ cựu của CBS, từng thu hình tại toà Bạch ốc qua sáu nhiệm kỳ Tổng thống dưới các thời Ford, Carter, Reagan, Bush, Clinton, Bush. Ngoài ra có Linh mục Chương từ bút nhóm Lửa Việt cùng 14 anh chị em trẻ thuộc nhóm Meet-up tại New York. Thêm vào đó, còn có sự hiện diện của một số sinh viên Hà Nội du học về ngành báo chí và một số đông các khán giả Việt Mỹ khác.

“Chỉ là một sự tình cờ…” [1]

Đó là câu trả lời của nhà văn Dương Thu Hương, khi được hỏi bà nghĩ sao về thời điểm được xếp đặt cho cuộc nói chuyện lần đầu tiên của bà tại New York, thành phố mà Nữ thần Tự do giơ cao ngọn đuốc soi đường cho những người tị nạn chính trị từ mọi nơi trên thế giới tụ về, vào đúng ngày 30 tháng 4. Dương Thu Hương đã theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, và bà đã “ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, vì nhận ra rằng, kẻ thắng trận là một chế độ man rợ hơn người thua”, bà có “một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng”, vì “cái đẹp phải tan nát, và nền văn minh phải quy hàng”. Dương Thu Hương nói: “Thế hệ của chúng tôi đã bị lừa…”

“Năm 69, khi tôi gặp những tù binh đầu tiên hoàn toàn là những người Việt Nam thì tôi biết mình đã bị lừa. Tôi tưởng kẻ thù của mình phải mắt xanh mũi lõ và da trắng… Năm 69, tôi thấy họ là người mũi tẹt da vàng tóc đen.” “Cả thế hệ của chúng tôi đã bị lừa.” Bà nói một cách cay đắng.

Dương Thu Hương cho rằng dân Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc chiến vô nghĩa vì luôn luôn mang tâm thức phải “chiến đấu chống ngoại xâm”, một hệ quả từ ngàn năm chống Tàu và trăm năm chống Tây.

Theo Dương Thu Hương, cho đến hôm nay, sức đè của phương Bắc và những cuộc chiến liên tiếp cùng sự lãnh đạo ngu dốt đã khiến người Việt đã chỉ “tranh đấu để tồn tại” chứ không thực sự “sống”.

“Người Việt Nam đầy đủ can đảm để chết, nhưng chưa bao giờ đủ trí khôn để mà sống, đủ khát vọng để mà sống một cách tử tế. Và đấy là là lý do tôi phải làm giặc. Lý do duy nhất tôi chọn làm giặc là vì tôi muốn bảo dân tộc của tôi phải biết mở mắt ra để nhìn vào cuộc sống.”

Bà tuyên bố: “Tôi chấp nhận là một kẻ làm giặc”… “như một người tội phạm luôn luôn bị săn đuổi và sẵn sàng chết bất cứ lúc nào. Khi chấp nhận như vậy thì sợ hãi không còn nữa, và người ta sống với khoảnh khắc hôm nay, và ở đây, còn ngày mai thì mặc kệ, vì vậy tôi cảm thấy rất tự do…”

Tâm sự với trên 200 khán giả đến từ khắp nơi trên nước Mỹ, bà nói chế độ cộng sản hiện còn tồn tại là nhờ vào 3 điều:


1. Sự sợ hãi của dân chúng


2. Sự thiếu hiểu biết của người Việt


3. Hào quang chiến thắng từ 31 năm xưa, mà ngày nay chỉ còn là một xác chết thối rữa nhưng vẫn được lôi ra tô điểm lại để tiếp tục ru ngủ và lừa mỵ dân Việt. “Chúng ta không thể tiếp tục ngủ với xác chết”.

Theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho một đời sống đáng sống đích thực với tự do dân chủ cho dân Việt, Dương Thu Hương đã thách thức tất cả đàn áp dọa nạt từ chính quyền cộng sản, với những ngày tù đầy, sách và hồi ký bị tịch thu, cấm phát hành hay lưu truyền trong nước. Tuy vậy, bà vẫn không ngừng sáng tác. Nhiều tác phẩm của bà đã được dịch ra trên 10 thứ tiếng và đã được giới thiệu trên hầu hết các báo lớn ở Tây phương như Figaro hay Le Monde ở Pháp, Corriere della Sera ở Ý, hoặc tờ New York Times hay cả nguyệt san Readers Digest ở Mỹ. Gần đây nhất, bà đã sáng tác ba tiểu thuyết mới. Truyện Chốn vắng được thế giới văn bút tiếp nhận nồng nhiệt qua hai bản dịch Pháp văn và Anh ngữ, tuy bản tiếng Việt vẫn chưa in.

Theo nhà văn Antoine Audouard, “những tác phẩm của bà Dương Thu Hương đã mở ra một cánh cửa để độc giả am hiểu Việt Nam một cách sâu sắc hơn, về lịch sử và những truyền thống Việt Nam, về nội tâm và nỗi đau thương của Việt Nam”.

Dương Thu Hương nói bà đã sống theo quan niệm “vô úy” của triết thuyết Phật giáo, dùng sự “không kiêu căng, không sợ hãi” để đạt đến tự do và thản nhiên trước mọi áp lực của bạo quyền. Bà luôn đi tìm cái đẹp tuyệt đối của sự thực.

Một số người trẻ cho rằng Dương Thu Hương đang tiếp tục nói về các vấn đề xưa cũ, từ trên 30 năm trước. Có ý kiến cho rằng trong truyện của bà, các nhân vật nữ quá mạnh mẽ, và thiên về tư bản, vật chất, tính dục. Cũng có người hỏi sao bà còn tiếp tục tranh đấu khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nói họ đã đổi mới rất nhiều từ năm 1986, và từ năm 1995 đến nay, đời sống vật chất đã được nâng cao tại Việt Nam.

Dương Thu Hương khẳng định, phải có sự thay đổi từ cốt lõi, chứ vật chất chỉ là cái vỏ bề ngoài, và dân Việt Nam vẫn chưa có tự do, dân chủ thực sự. Bà đòi hỏi chính quyền phải thực sự đổi từ độc đảng sang đa đảng, và tôn trọng các quyền dân chủ.

Dương Thu Hương cũng nói khả năng tồn tại dai dẳng nhất của bà là từ sức mạnh truyền thống của một người đàn bà nhà quê Việt Nam, chân đất váy đụp, không ngừng lên dốc với quang gánh nặng trĩu trên vai nhưng không bao giờ bỏ cuộc.

“Nếu mà trong tôi không có một người đàn bà răng đen mắt toét, thì tôi không thể nào tồn tại được."

New York, 30 tháng 4. 2006

© 2006 talawas



-------------------------
[1]Các đoạn in nghiêng là phát biểu chính thức của Dương Thu Hương.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7103&rb=0102

_________


Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-17 01:54:08Ngọc Lý>
.


Dương Cự
Vài ý kiến về bài của Trịnh Lữ tường trình cuộc nói chuyện của Dương Thu Hương ở New York


Tôi được may mắn có mặt trong buổi nói chuyện của bà Dương Thu Hương tại New York ngày 30 tháng Tư vừa qua. Tôi lại cũng lên talawas đọc bài viết của Trịnh Lữ Dương Thu Hương trong “Xác tín và Lẽ phải” và tôi có vài ý khác biệt với ông Trịnh Lữ.

Độc giả có thể đọc những bài tường trình một cách chính xác hơn về buổi nói chuyện của bà Dương Thu Hương ở New York tại những nơi sau đây:

Đài RFA: Cuộc trò chuyện với nhà văn Dương Thu Hương tại thư viện New York

talawas: Dương Thu Hương - Người đàn bà Việt răng đen mắt toét đốt đuốc làm giặc

Đài VOA: Nhà văn Dương Thu Hương vẫn giữ vững lập trường tranh đấu cho dân chủ


Trước hết tôi đồng ý là người dịch đã không dịch đúng 100%, nhưng đó là vấn đề của ban tổ chức, chứ không phải của bà Dương Thu Hương hay của hai ông Robert Stone và Antoine Audouard. Nếu muốn than phiền thì gửi thư cho Hội Văn bút Hoa Kỳ, chứ viết lên talawas thì không biết ông Trịnh Lữ có ý riêng gì?

Để độc giả hiểu rõ vấn đề mà tôi muốn bàn, tôi xin lưu ý là buổi đó được gọi là một cuộc nói chuyện và chủ đề là các thực trạng của chiến tranh, kiểm duyệt và vai trò của nhà văn trong xã hội của bà. (Nguyên văn tiếng Anh trích từ PEN American Center: Conversations in the Library: Duong Thu Huong & Robert Stone - The first-ever U. S. appearance by Vietnam’s foremost writer, who has been jailed and banned at home; Duong will be joined by distinguished novelist Robert Stone to discuss the realities of war, censorship, and the writer’s role in her society.)

Độc giả thấy rõ là nhân vật chính trong cuộc nói chuyện này là bà Dương Thu Hương chứ không phải ông Robert Stone hay người điều hành chương trình, ông Antoine Audouard, và đây là một cuộc nói chuyện chứ không phải là một cuộc phỏng vấn. Trong một cuộc nói chuyện thì câu chuyện đưa đẩy tùy theo nhân vật chính trong buổi đó. Người điều hành chương trình có nhiệm vụ kéo nhân vật chính về lại chủ đề nếu nhân vật chính đi ra ngoài chủ đề.

Theo những bài tường trình nêu trên và ngay cả bài của ông Trịnh Lữ thì bà Dương Thu Hương hoàn toàn nói trong chủ đề đã nêu ở trên. Ông Trịnh Lữ viết: “Hương đanh thép tuyên bố rằng: ‘Thời đó chúng tôi sống như súc vật!… Chúng tôi không có cả bát ăn cơm, phải dùng gáo dừa làm bát, phải ăn ngô của lợn, ăn ruột đu đủ. Miền Bắc nhập khẩu loại sữa dùng để nuôi gia súc và cũng chỉ cán bộ cao cấp mới được phân phối loại sữa ấy’.” Đó là thực trạng chiến tranh và không hề ra ngoài chủ đề của cuộc nói chuyện. Tôi không hiểu vì lý do gì mà ông Trịnh Lữ lại xấu hổ?

Ông Trịnh Lữ còn viết: “Trong suốt 45 phút tiếp theo đó, cái ý tưởng ‘tôi làm giặc’ của Hương mạnh đến nỗi cả Stone và anh nhà văn Pháp đều không sao lái câu chuyện về chủ đề dự tính của nó được.” Bà Dương Thu Hương nói “tôi làm giặc” là nói về vai trò của bà trong xã hội của bà, tức là nước Việt Nam. Như vậy là hoàn toàn trong chủ đề của cuộc nói chuyện. Có gì sai trái đâu?

Trong cuộc nói chuyện bà Dương Thu Hương đã tuyên bố rõ rệt là bà không phải là nhà văn chuyên nghiệp như ông Robert Stone. Sau đây là trích đoạn nghe từ bài của RFA đã nêu trên: “Tôi không phải những nhà văn mà có khuynh hướng làm nhà văn chuyên nghiệp như là ông Robert Stone và có thể nghề viết văn là một… (nghe không rõ) nhưng mà đối với tôi thì nó ở rất là xa cho nên tôi chẳng có quan tâm”. Như vậy là bà Dương Thu Hương rõ ràng không muốn nói đến những vấn đề chuyên về việc viết văn. Khi đó hai ông Robert Stone và Antoine Audouard đáng lẽ phải có nhiệm vụ đi theo dòng suy nghĩ và câu chuyện mà bà Dương Thu Hương đang nói tới. Hai ông Robert Stone và Antoine Audouard đã không làm tròn nhiệm vụ của mình vì đã khư khư đi theo những câu hỏi của mình như trong một cuôc phỏng vấn. Tôi cũng xin nhắc lại đây không phải là một cuộc phỏng vấn mà là một cuộc nói chuyện.

Ông Trịnh Lữ đã không hiểu được như thế mà còn có mặc cảm nhược tiểu, luôn luôn phải nhìn vào các “ngài” da trắng để xem có được chấp nhận hay không. Trong buổi nói chuyện ông Trịnh Lữ luôn luôn nhìn hai ông Robert Stone và Antoine Audouard. Trong bài ông Trịnh Lữ nhắc đi nhắc lại những cử chỉ của hai ông ấy: “… Stone và anh nhà văn Pháp nhìn nhau. Stone hơi nhún vai… Stone nhìn nhà văn Pháp… Nhà văn Pháp nhìn sang Stone. Ông này cựa quậy một tí… Stone liếc nhìn đồng hồ đeo tay của mình, rồi quay sang hỏi Hương… Và Stone lập tức phản ứng một cách khá gay gắt…”. Chuyện này làm tôi nghĩ tới hình ảnh một anh da vàng mũi tẹt khi được các ngài da trắng mũi lõ xoa đầu khen tốt thì sung sướng còn khi các ngài da trắng nhăn mặt, lắc đầu thì sợ hãi, lo âu không biết mình làm gì phật ý các ngài, không cần biết mình đúng hay sai.

Ông Trịnh Lữ còn viết: “Chắc hẳn mọi người đến dự buổi hội thoại này cũng đều muốn biết về cái quá trình mà nhà văn Dương Thu Hương đã trải qua để từ một nữ thanh niên xung phong trở thành một người ‘làm giặc’ trong văn chương với nghĩa phản lại tất cả những xác tín thời trẻ tuổi của mình.” Vấn đề này đã được nhà văn Dương Thu Hương trả lời rõ rệt và đầy đủ. Bà nói: “Đến năm 69 khi tôi gặp những toán tù binh đầu tiên hoàn toàn là những người Việt Nam thì tôi hiểu là tôi bị lừa”. Ở một đoạn khác bà nói: “Cái sự quay lưng trở lại để tìm sự thật là bắt đầu từ năm 69 khi tôi gặp những người tù binh Việt Nam, nhưng mà tất nhiên vào lúc ấy tôi chưa thể quyết định được ngay vì lúc đó tôi còn rất trẻ và tôi bị cuốn vào guồng máy của chiến tranh”. Bà còn nói: “Vì tôi cảm thấy cuộc chiến tranh này là một trò đùa rất là ngu xuẩn của lịch sử”. Như vậy mọi người (chắc chỉ trừ ông Trịnh Lữ) trong buổi nói chuyện đều thấy rõ ràng lý do đã khiến bà Dương Thu Hương thay đổi lập trường.

Trên đây là mấy điểm chính mà tôi muốn nói lên cùng độc giả của talawas để quí vị suy nghĩ khi đọc bài của ông Trịnh Lữ để khỏi bị lừa như bà Dương Thu Hương đã nói. Sau đây là một vài điểm phụ tôi muốn nêu lên về bài của ông Trịnh Lữ.

Ông Trịnh Lữ đã coi thường độc giả khi ông viết một bài cho mọi người đọc mà chỉ dựa vào những ghi chép tại chỗ và không có máy ghi âm như ông đã thú nhận trong bài. Muốn viết một bài cho nghiêm chỉnh thì phải thu âm và khi về nhà phải nghe đi nghe lại nhiều lần để viết cho chính xác. Quả thật ông đã thiếu sót. Thí dụ ông tường trình một câu hỏi của một thính giả: “Rồi một ông trung niên trên hàng ghế đầu nói nhóm của ông đã bay từ Cali sang chỉ cốt được gặp mặt văn sĩ, mà ‘trời ơi gặp được chị còn khó hơn cả gặp tổng thống Bush nữa nè...’. Đến đó thì người chủ trì cuộc gặp cương quyết cắt ngang.” Tường trình như vậy là sai vì câu này không phải là câu hỏi chót và bà Dương Thu Hương đã trả lời là chuyến đi của bà hoàn toàn tùy thuộc hội văn bút bảo trợ bà.

Phần đầu của bài ông Trịnh Lữ viết: “Tôi có cảm giác mình đang vào thăm ai đó trong một nhà tù đặc biệt. Tôi bước vào phòng hội thoại với những cảm xúc không rõ rệt.” Phải chăng ông muốn gieo vào đầu người đọc một ấn tượng xấu ngay lúc khởi đầu? Tại sao ông có cảm xúc không rõ rệt? Riêng tôi và những người bạn thì rất hứng khởi khi đi nghe bà Dương Thu Hương nói chuyện.

Ông Trịnh Lữ đã dùng tên Hương một cách trống không. Ông khoe là có quen em bà Dương Thu Hương, như vậy ông phải gọi bà Dương Thu Hương là chị Hương chứ không gọi trống không một cách vô lễ như vậy. Chắc ông thấy “ngài” da trắng Antoine Audouard gọi bà Dương Thu Hương là Hương nên bắt chước. Ông Antoine Audouard xưng hô như thế khi nhìn vào bà Dương Thu Hương và nói như hai người bạn nói chuyện chứ không phải trong một bài viết.

Câu kết của ông Trịnh Lữ: “Chắc phải tin lời chị thôi: ‘Tôi chọn con đường làm giặc...’ Còn để làm gì thì đến bây giờ tôi vẫn không thể hiểu nổi.” Chuyện này cũng dễ hiểu thôi. Bà Dương Thu Hương đã nói rất rõ ràng. Bà “làm giặc” là để nói lên cho thế hệ trẻ biết là bà và thế hệ của bà đã bị Đảng Cộng sản Việt Nam lừa bịp và cuộc chiến tranh là một cuộc chiến ngu xuẩn. Bà Dương Thu Hương sẽ còn tiếp tục làm giặc cho đến khi Đảng Cộng sản không còn tồn tại nữa và đất nước Việt Nam được tự do và dân chủ.

© 2006 talawas

________

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7147&rb=0102

_______________

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-17 01:54:39Ngọc Lý>
.

Trần Việt Mai
Dương Thu Hương có cần Dissident – For Dummies của Trịnh Lữ không?


Mặc dù tới một giới hạn nào đó tôi cũng chia sẻ cảm giác của ông Trịnh Lữ đối với phong cách nói chuyện của Dương Thu Hương, bởi tôi có cơ hội được đến nghe buổi nói chuyện của bà tại Maison des Écrivains tại Paris tối ngày 1.2.2006 và cũng có cảm giác nhà văn hoàn toàn có thể tỏ ra nữ tính và elegant hơn, nhưng tôi có thể nói bài viết của ông về buổi nói chuyện của Dương Thu Hương tại New York đã làm tôi rất bất bình.

Thứ nhất, tôi không hiểu bài viết này của ông Trịnh Lữ thuộc thể loại gì. Đây không phải là tường thuật báo chí, vì ông đã phạm phải một trong nguyên tắc cơ bản nhất của journalism ethics – đó là tính khách quan. Nhưng mặc dù ông Trịnh Lữ khẳng định trong bài của mình: “tôi chỉ muốn viết lại cho thật đúng những gì mình nghe được và cảm thấy trong buổi hội thoại đó”, có vẻ ông chỉ làm được vế thứ hai: đó là viết những gì ông cảm thấy, chứ tất cả mọi chi tiết, tỉ mỉ nhất, ông nhìn thấy, nghe thấy đều đã bị tường thuật lại với độc giả dưới một con mắt méo mó đầy chủ ý, chỗ rõ ràng đến mức thô lỗ, chỗ mỉa mai ẩn ý. Tôi nghĩ không cần phải đưa ra dẫn chứng cho nhận xét này của mình, vì (a), điều này quá rõ đối với độc giả, và (b) nếu chưa đủ rõ, xin đọc và so sánh bài viết của ông với một bài tường thuật khác cùng chủ đề của Nường Lý đăng cùng ngày.

Vậy nếu bài của ông không viết lại được đúng những gì diễn ra, mà chỉ viết được những gì ông cảm thấy, liệu tôi có thể xếp bài viết của ông vào trường hợp đánh giá, bình luận không? Nếu có, thì tôi có thể nói đây là một bài bình luận vô trách nhiệm, và đó là lý do thứ hai tôi bất bình với nó. Ông đã đưa ra những lời bình luận nặng nề, thậm chí mang tính lăng mạ, phỉ báng. Nếu xét đến quyền tự do ngôn luận, tôi tạm chấp nhận điều này, vì đó là ý kiến cá nhân của ông. Nhưng điều quan trọng ở đây là ông không đưa ra được justification nào cho những lời đánh giá của mình, nhất là những lời đánh giá “mạnh dạn” như vậy. Hình như ông đã lại phạm phải nguyên tắc viết bình luận, mà cũng là nguyên tắc sống nói chung của người phương Tây mà một người sống ở nước ngoài khá lâu như ông lại có vẻ không nhớ ra: Never give any comment without backing it up, không bao giờ đưa ra bình luận mà lại không tìm hiểu trước đó để có thể đưa ra dẫn chứng hoặc cơ sở cho lời bình luận của mình. Toàn bộ bài viết của ông chỉ dựa trên cảm xúc cá nhân của ông đối với những gì Dương Thu Hương nói mà không hề đưa ra một lý lẽ nào đáng kể (những cảm xúc theo tôi, là vô cùng kỳ lạ, tôi sẽ nói ở dưới); đặc biệt ông còn cho mình được quyền nói thay ý kiến người khác bằng những gì ông tưởng tượng ở họ (“Trong giây phút im lặng tiếp theo, tôi cứ ngỡ mình đã nghe thấy Stone thì thầm: “Thật đáng tiếc”…”. “Cô gái bên cạnh cũng nhìn sang tôi với một vẻ thắc mắc như vậy”, v.v..).

Với kiểu dẫn lời của Dương Thu Hương ra rồi bình luận những câu mập mờ không giải thích, dẫn chứng như “… tôi cũng vẫn còn thấy xấu hổ vô cùng, cho ai và vì cái gì thì tôi không muốn nghĩ đến”, “Một cảm giác ngao ngán xâm chiếm lấy tôi”, “Tôi biết nói gì nữa đây?”, quả thật rất khó hiểu nổi ông bất bình với nhà văn vì lẽ gì: Vì cách nhà văn trả lời hay vì nội dung những câu trả lời đó?

Nếu ông không thích cách nhà văn nói, tôi xin được nói rõ như sau: Nếu ở trên tôi viết tôi cũng không được thoải mái lắm với phong cách trả lời của nhà văn, như thế không có nghĩa tôi cho rằng nhà văn đáng bị ông ném, và độc giả bài viết của ông đáng bị đọc, những lời xúc phạm về nhà văn như vậy (ít nhất là hai chỗ ông viết ý nghĩ của ông bằng tiếng Anh – đoạn nhà văn nói về sữa dùng nuôi gia súc, và đoạn nói về thủ tướng Việt Nam, tôi cũng không tiện nhắc lại), vì theo tôi, phong cách (nói trước công chúng) của một người thuộc về tính cách và con người cá nhân, không thể dùng làm yếu tố quyết định để đánh giá trí tuệ hay sự nghiệp của người đó.

Nếu nội dung là những gì ông phản đối, tôi lại xin được hỏi tiếp: ông phản đối vì ông nghĩ nhà văn nói không đúng sự thật? Hay ông bực mình vì ông nghĩ nhà văn quá, như ông viết, “stupid”, không đủ kiến thức? Nếu ông cho rằng nhà văn đã nói không đúng sự thật, xin ông lấy dẫn chứng, và đưa ra đáp án của ông. Nếu ông bực mình vì ông cho rằng nhà văn không đủ kiến thức (mà theo tôi đây là điều chính làm ông bực mình nhất), ông lại không đưa ra dẫn chứng nào thuyết phục, mà chỉ có chuyện ông nghe thấy bà nói bà “phải ăn ngô của lợn, ăn ruột đu đủ”, bà không viết bài hát, bà đọc thơ Petofi, bà từ chối không nhận là nhà văn chuyên nghiệp, bà chỉ là “một mụ đàn bà răng đen mắt toét”, thì thưa ông, tôi thấy đây thật là một nỗi bực mình quá nực cười. Đó chính là con người của nhà văn, chính là những gì tạo ra bà, tạo ra tài năng, ra tác phẩm, tạo ra sự nghiệp văn chương và cả sự nghiệp “trouble-maker” của bà. Và thậm chí có vẻ ông cũng không thèm tìm hiểu tại sao họ nói thế. Theo tôi lần sau, trước khi đi nghe một nhà văn nào nói chuyện, ông nên tìm hiểu rõ hơn về họ, về cuộc đời, hoàn cảnh sống và sáng tác của họ, và nếu thấy có khả năng họ sẽ nói về quá khứ khốn khó của họ, về con người và những khiếm khuyết của họ - những điều có vẻ có nguy cơ chạm phải tự trọng của ông, thì ông nên ở nhà thì hơn. (Điều này cũng làm tôi hơi ngạc nhiên, hóa ra người Mỹ, hoặc những người sống ở Mỹ, lại không tự hào về chuyện nói về quá khứ khốn khó của họ như tôi tưởng.) Hay ông cho Dương Thu Hương là stupid chỉ vì ông nghĩ chắc bà chưa đọc cuốn Utopia ông mới dịch? Về chuyện này thì, xin lỗi ông, tôi phải nói rằng chính Thomas More, người viết nên Utopia, chắc cũng không có thái độ xúc phạm như vậy đối với những người chưa đọc tác phẩm đó.

Giá tôi là một chuyên gia tâm lý, sau khi xem xét những nguyên do có thể vừa kể trên, cùng với tính đến vô vàn chi tiết nho nhỏ tưởng như vô tình thừa thãi khác (cuốn Utopia ông dịch, chuyện những người đến từ California, chuyện ông tỏ ra “sắc sắc không không” với cõi đời trần tục bằng cách sưởi nắng ngắm hoa sau khi nghe nói chuyện, chuyện ông chê trách Nguyễn Quí Đức đủ điều rồi lại tả chuyện sau đó Nguyễn Quí Đức ra bắt tay ông), tôi sẽ chẩn đoán nỗi bực mình và xấu hổ kỳ lạ đó của ông trong bài viết này rốt cuộc rất có thể bắt nguồn từ, có thể mượn chữ của Dương Thu Hương, một đầu óc “vĩ nhân tỉnh lẻ”.

Nhưng rất tiếc tôi không phải là bác sĩ tâm lý, chỉ là một độc giả, và tôi nghĩ tôi có quyền đòi hỏi ông tôn trọng độc giả hơn trong các bài viết sau này. Dịp 14/2/2006 ông từng viết một dạng bài tường thuật như vậy về cuộc nói chuyện trên truyền hình cùng Vi Thùy Linh tại Hà Nội. Dù bài viết này cũng sa vào chuyện mỉa mai châm biếm, nhưng vì ông viết nó với tư cách người trong cuộc nên có thể chấp nhận hơn. Nhưng đúng là lần này thì bài viết của ông quá là vô trách nhiệm, và kém chất lượng, như tôi trình bày ở trên.

Nhân nhắc đến chuyện phiên dịch, tôi cũng có góp ý nhỏ với ông về chuyện ông dịch Faith and Reason thành Xác tín và Lẽ phải. Chắc ông hoàn toàn đồng ý với tôi về quan điểm trước khi dịch sang sản phẩm đích, dịch giả phải hiểu đối tượng nguồn trước đã. Thực ra Faith và Reason, hai con đường đối lập nhau để đến với truth, như ông có thể biết rồi, là hai nội dung khá cơ bản bắt nguồn từ tôn giáo, giờ mở rộng nghĩa sang những lĩnh vực khác nữa, và theo tôi nên dịch chúng là Đức tin và Lý trí. Nếu ông dịch Reason thành Lẽ phải thì rõ ràng ý nghĩa đã bị sai lệnh khá nhiều, bởi, Lý trí là cá nhân, còn Lẽ phải, nhiều khi, là do đám đông quy định. Yếu tố cá nhân ở đây, theo tôi, là phù hợp hơn với chủ đề của Liên hoan Văn học Quốc tế lần này, nơi người ta quan tâm đến vai trò cá nhân của nhà văn trong cuộc chống lại đám đông để phản ánh sự thật.

Cuối cùng, để trả lời cho câu hỏi tôi tự nêu ra trong tiêu đề bài viết này: Tôi nghĩ Dương Thu Hương không cần sách dạy làm Dissident, mà đúng hơn, thay vào đó, Trịnh Lữ có thể tham khảo một số sách cơ bản về kiến thức hoặc viết tường thuật cho báo chí, hoặc viết bình luận, và tôi chắc có rất nhiều những quyển như vậy, (ông không nhất quyết phải trung thành với… for Dummies, mà những Basics on…, hoặc Introduction to…, hoặc Guides to… vẫn tốt như thường!) Còn nếu ông muốn bày tỏ chính kiến của mình, ông nên đầu tư một số thời gian và công sức nhất định để tìm hiểu và bảo vệ ý kiến của mình trước khi đặt bút xuống. Khi đọc một bài tường thuật, độc giả có quyền được biết sự thật để có được cái nhìn đúng, và, khi đọc một bài bình luận, họ có quyền được người viết tôn trọng đủ để không phải đọc những phán xét vô trách nhiệm.

© 2006 talawas

_____

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7145&rb=0102

___________________

Đọc thêm về Dương Thu Hương

Các tác phẩm của Dương Thu Hương trong Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0