Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

NHỮNG BÍ ẨN MỚI HÉ LỘ!

20 trả lời, 1.733 lượt xem — Trang 1 / 1
Hồ thủng - bí ẩn chưa được giải thích


Kirghizistan, miền trung Á, được nuôi dưỡng bởi các đỉnh núi cao đến 7.000 mét, con sông băng Inylchek chứa đựng một bí ẩn chưa giải thích được từ trăm năm nay, và là duy nhất trên thế giới: cứ mỗi mùa hè, hồ Merzbacher ở đó lại cạn khô nước trong 3 ngày. Tại sao?



Hồ Merzbacher, cứ đến tháng 8 hằng năm lại rút sạch đi trong 3 ngày.


Lần đầu tiên, các nhà khoa học cố gắng trả lời các câu hỏi đó.

Con sông băng khổng lồ Inylchek dài 65 km, với hai nhánh chính hội tụ nhau cách đoạn cuối sông 15 km. Tại chỗ giao nhau của hai nhánh, ở độ cao 3.300 m, đó là hồ Merzbacher, sâu 130 mét, một phần bị bao phủ bởi các núi băng trôi. Mỗi năm, nước hồ rút sạch đi trong 3 ngày, vào khoảng đầu tháng 8.

Điều không thể đã diễn ra. Vào lúc 16h ngày 6/8/2004, hồ Merzbacher bắt đầu tự tháo cạn nước đi! Cứ mỗi năm, hiện tượng lạ lùng trên lại xảy đến vào thời gian này. Với vẻ ngoài bình lặng, lượng nước đông giá của nó dần dần đổ vào đáy sâu của con sông băng Inylchek. Thấp hơn 30 km và sau vài giờ, đến lượt thung lũng bao la bị ngập nước. Từ một con sông khiêm tốn trên núi, Inylchek đã trở thành một đại dương hung dữ, chiếm trọn cả không gian. Trong 3 ngày đêm, chiếc hồ tháo sạch 250 triệu m3 nước của mình, chỉ để lại trong lòng hồ một thảm các khối băng khổng lồ u buồn. Ngày 9/8, hiện tượng nước rút hoàn tất trong thung lũng. Con sông băng chấm dứt sự thay hình đổi dạng của nó. Còn hồ Merzbacher đã trống rỗng. Nhờ điều kỳ diệu nào mà chiếc hồ bắt nguồn từ sông băng này có thể tự tháo nước đi trong vòng 3 ngày? Nước đã chảy đi đâu? Sự tháo sạch nước đã xảy ra như thế nào? Và bằng cách nào hồ lại đầy nước trở lại?

Các câu hỏi này đặt ra từ đúng một thế kỷ nay, khi nhà địa chất người Đức Gottfried Merzbacher khám phá chiếc hồ vào một ngày đáng nhớ trong năm 1904, và từ đó nó được mang tên ông. Với mong muốn phá vỡ bí ẩn của hồ Merzbacher, một đoàn thám hiểm quốc tế do GFZ ở Berlin tiến hành đã lên đường đến chiếc hồ thủng vào mùa hè năm nay.

Ngày 19/7/2004. Khi đến Bichkek, thủ đô Kirghizistan, khó khăn đã lộ ra. Serguei Dushavili, một trong những lãnh đạo của đoàn thám hiểm, thông báo: "Có thể chúng ta buộc phải dùng ngựa cho 4 ngày đường, nếu như trực thăng không sử dụng được". Không thể bỏ lại những người Nga, chiếm đại đa số trong đoàn, cho dù ở Kirghizistan chỉ có một chiếc trực thăng duy nhất. Nhưng rồi cuối cùng một chiếc MI-8 khổng lồ cũng xuất hiện đón chúng tôi sau hai ngày đường vất vả trên con đường xấu.

Chúng tôi dựng lên hai trại, cách nhau 20 km: một trại nằm dưới chân con sông băng, nơi mà sông Inylchek bắt nguồn và trại thứ hai nằm ngay trên con sông, đối diện với hồ Merzbacher. Trong liên lạc vô tuyến hằng ngày với nhau, chúng tôi gọi tên hai trại lần lượt là Paliana và Basa. Con sông băng được chia cắt thành nhiều khu vực, từ tây sang đông, và mỗi êkip chịu trách nhiệm nghiên cứu các khu vực gần với trại của mình. Lúc này hồ còn đầy nước, do chúng tôi đã quan sát trước bằng máy bay vào buổi sáng. Thậm chí là rất đầy nước, theo các phi công thường bay tới đây để thả các nhà leo núi xuống chân ngọn núi Khan Tengri cao 7.000 mét. Trong tháng 7, hồ Merzbacher đạt mức lưu lượng nước kỷ lục.

Mỗi người một giả thuyết riêng

Đặc điểm của mỗi cuộc thám hiểm là sự may rủi đè nặng trước các bí ẩn của tự nhiên. Cuộc thám hiểm của chúng tôi cũng không thoát khỏi quy luật đó. Chúng tôi muốn có nhanh những câu trả lời sau khi có mặt tại hiện trường được vài hôm. Tuy nhiên, cuộc thám hiểm được lên chương trình cho 4 năm. Mục tiêu của năm đầu tiên này là thiết lập mạng lưới các điểm GPS, để đo đạc, nhờ vào các vệ tinh định vị mọi sự di chuyển của con sông băng. Tiến sĩ Wasili Michaljow, trưởng đoàn thám hiểm, dự đoán: "Có lẽ chúng ta sẽ có nhiều câu trả lời vào vài tuần nữa. Nhưng hiện thời chúng ta nên giảm thiểu bớt các giả thuyết". Mặc dù vậy, các giả thuyết vẫn kích thích trí tò mò của mọi người. Lúc đó, Serguei Dudashvili đưa ra giả thuyết của mình:

Đã không có bất kỳ một lỗ thủng nào cho phép hồ Merzbacher tháo nước đi, nhưng nhiều miệng lỗ bị tắc nghẽn do các khối băng khổng lồ. Vào mùa đông, các khối băng này vẫn còn áp sát bề mặt đáy nhiều lỗ xốp như là một loại rào cản tự nhiên. Nhờ thế mà chiếc hồ ngập nước, vì các "nắp van" vẫn bị đóng lại do hiệu quả của áp suất và nhiệt độ thấp. Khi mùa hè đến, nước nóng dần lên và các khối băng to bắt đầu tan chảy, cho đến lúc mà - theo Serguei - chúng mất đi sự bám dính, đột ngột trồi lên bề mặt. Hiện tượng này tương ứng với sự mở đột ngột các "nắp van". Một giả thuyết như thế chỉ có thể đứng vững nếu như mực nước hồ dâng lên về phía hạ lưu cũng đột ngột không kém. Do đó chúng ta còn phải chờ đợi để biết sự thật nằm ở đâu.

Ngày 28/7/2004. 6 ngày đã trôi qua kể từ lúc chúng tôi đặt chân đến trại Paliana. Chúng tôi kẻ ô vuông khu vực một vùng khoảng 10 km. Độ cao trung bình 3.000 mét. Vì lý do an toàn, trại của chúng tôi nằm ở phía tây con sông Inylchek, điều đó khiến chúng tôi buộc phải lội nước để đến con sông băng. Nhiệt độ nước là 1 độ C.

Trong khi chúng tôi lắp đặt các cột mốc trên khu vực cuối sông băng, nhà nghiên cứu hang động Wasili Filipienko xác định được hai hang động khổng lồ. Ở cách hồ chưa đầy 2 km, hai hang này có thể nằm trong mạng lưới thủy văn tiêu nước của chúng. Trong thời kỳ "nóng", sự tan chảy và lưu lượng nước đóng băng trong hai hang động trên, không kể đến chiếc hồ đang đe dọa rạn vỡ bất cứ lúc nào, không cho phép các nhà khoa học thăm dò chúng được. Sau hai lần mạo hiểm thâm nhập hang bất thành, chúng tôi đành bỏ cuộc. Công việc nghiên cứu hang động phải rời sang mùa thu.

Ngày 1/8/2004. Như không màng đến sự chờ đợi của đoàn thám hiểm, hồ Merzbacher vẫn cứ đầy nước. Serguei lúc đó đề nghị tiến về hướng nam. Ở đây sông băng rộng hơn, khoảng 4 km và đặc biệt xáo trộn. Từ trại chúng tôi, phải mất 3 giờ đi bộ mới đến được vùng đất bí mật tách nước khỏi hồ, khỏi con sông băng nói riêng. Chúng tôi biết chiếc hồ thủng nằm tại vùng này, nhưng không có ai đến được đó. Điều gì xảy ra trong cái rào chắn tự nhiên này? Sự chuyển tiếp giữa yếu tố nước và băng đã diễn ra như thế nào?

Yếu tố đơn giản, và rất có thể giải thích cho sự tồn tại của chiếc hồ, là sự dâng lên của băng từ nhánh nam của con sông băng tại nơi này. Thay vì tan chảy cùng nhánh bắc trong một chữ Y hoàn hảo, như mọi con sông băng trên thế giới, nhánh này lại dâng lên hình thành một rào cản băng giá khiến nước hồ Merzbacher được giữ lại.

Chúng tôi không bao giờ đến được bờ nam của hồ. Càng đến gần, các núi băng càng to ra, hòa vào nhau và tạo ra nhiều khe nứt. Chúng tôi có một điều chắc chắn: mặt băng dâng lên này của nhánh nam là nguyên nhân của hiện tượng hồ thủng duy nhất trên thế giới. Không có sự bất thường này sẽ chẳng có chiếc hồ. Trong một thế kỷ, hồ Merzbacher dịch chuyển từ 2 đến 3 km đến hạ lưu. Từ nay rào cản băng giá rất gần chỗ giao nhau của hai nhánh sông, và có lẽ hồ sẽ biến mất trong một tương lai khá gần.

Ngày 3/8/2004. Kết thúc cuộc thám hiểm tạm thời. Chiếc hồ vẫn đầy nước. Tôi quyết định ở lại một mình cho đến lúc hồ cạn nước. Không phải tại trại Basa, nơi khó quan sát, mà trong thung lũng, cách 30 km về phía dưới, nơi hiện tượng dâng nước sẽ rất ngoạn mục.

Ngày 5/8/2004. Tatiana chia sẻ với tôi nhiều dấu hiệu cho thấy chiếc hồ bắt đầu rút nước. Những điểm nước mới xuất hiện trong lòng sông. Lưu lượng sông băng Inylchek tăng dần...

Ngày 6/8/2004. Lúc 16 giờ. Lần này con sông đã gấp 3, 4 lần khối lượng. Thung lũng tràn nước. Chắc chắn chiếc hồ đang tan rã. Giả thuyết của Serguei bị loại bỏ. Lưu lượng nước không ngừng tăng lên trong 2 ngày. Rõ ràng là sự khai mở "các nắp van" không diễn ra đột ngột. Chắc chắn là sự tan chảy của các nút băng giải phóng dần dần nước của hồ Merzbacher, chứ không phải sự dâng lên mặt của các nút băng.

Cuối cùng, để giải được bí ẩn hồ thủng Merzbacher, có lẽ chúng ta phải chờ vài năm nữa...

Kiến thức ngày nay (theo Figaro)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn của những bức chân dung 'sát nhân'


Vợ của Rubens - người đẹp Isabella, vốn là người mẫu trong hầu hết các tác phẩm của ông, đã qua đời năm 35 tuổi. Nữ công tước Alba, người mẫu cho bức tranh Maha của Goya, đã chết sau khi bức chân dung đầu tiên được hoàn thành 3 năm. Danh họa vĩ đại Picasso có 2 người vợ - người mẫu cho ông, thì đều tự tử.

Các nhà khoa học cho rằng giữa hình ảnh một con người và số phận tiếp theo của người đó có sự liên quan thần bí, thậm chí là cái chết. Lịch sử của các họa sĩ vĩ đại đã chứng tỏ điều đó.



Vợ của Rembrandt làm mẫu cho ông vẽ bức tranh Danae đã chết vì bệnh ho lao


Trong giới hội họa có vô số truyền thuyết về các bức chân dung của những họa sĩ nổi tiếng đã đem đến cái chết. Vào năm 30 tuổi, vợ của Rembrandt là Saskia chết vì ho lao. Danh họa Hà Lan vĩ đại này đã thể hiện cô trong các bức tranh Danae và Flora. 3 đứa con của ông được người cha vẽ nhiều đã chết khi còn nhỏ. Người con duy nhất còn lại Titus cũng qua đời khi mới 27 tuổi.



Bức Ivan Groznưi giết con trai mình. Gashin, người mẫu cho họa sĩ Repin vẽ Sa hoàng trong tranh này đã chết do nhảy từ cầu thang xuống.


Đối với những người quen, llia Repin nổi tiếng là "nhà tiên tri đen". Ông kết thúc bức chân dung nhà phẫu thuật Pirogov và nhạc sĩ Mousorgsky đúng vào ngày họ qua đời. Nhà văn Vsevolod Garshin, mà từ mẫu người này ông vẽ ra Sa hoàng trong bức Ivan Groznưi giết con trai mình, chẳng bao lâu đã chết sau khi nhảy từ cầu thang xuống. Thủ tướng Stolưpin bị bắn chết ngay sau khi Repin đặt nét vẽ cuối cùng. Người vợ trẻ của Repin, không lâu sau khi bước vào tác phẩm của chồng, cũng chết vì ho lao.

Bà Tachiana ludkevich - nhân viên khoa học chính của Viện bảo tàng nghệ thuật Trechiakov giải thích rằng tất cả những sự kiện lạ lùng đó chỉ là sự trùng hợp: "Mousorgsky được Repin vẽ khi ở tình trạng sắp chết. Còn Pirogov khi đó đã 71 tuổi. Garshin là người không ổn định về tâm thần. Trước Repin, Stolưpin đã được Surikov và các họa sĩ Pháp vẽ, nhưng tại sao khi đó ông không chết? Ngoài ra, vào thời gian đó rất nhiều người chết vì ho lao. Những đứa con của Rembrandt bị chết vì mẹ của chúng là một phụ nữ rất ốm yếu".

Song những điều bí ẩn không dừng lại ở đó. Tại Matxcơva, người ta đồn đại nhiều về cái chết của con gái Aleksandr Shilov và vợ của llia Glazunov. Shilov vẽ cô con gái đẹp Misha của mình nhiều lần và cô bé qua đời ở tuổi 16. Vợ của họa sĩ Glazunov là Nhina Vinogradova thì tự tử trong hoàn cảnh rất lạ lùng.

Phó chủ tịch Viện Hàn lâm nghệ thuật Nga - ông Eduard Drobitski - bảo vệ đồng nghiệp bằng lập luận rằng khi vẽ con gái, Shilov đã không biết con gái mình bị ung thư, còn Glazunov chỉ vẽ duy nhất một bức chân dung của vợ. Eduard Drobitski cũng cho rằng cái chết của bà Nhina rất rắc rối. Bà bị ung thư vòm họng, và vì đau đớn nên có lẽ bà đã mất minh mẫn, dẫn đến việc tự tử.

Mặc dù bác bỏ truyền thuyết cổ xưa, các chuyên gia đáng kính cũng phải thừa nhận rằng quả thực tồn tại bí ẩn xung quanh vấn đề này. Bà Tachiana ludkevich đưa ra những ví dụ. Người mẫu nổi tiếng của hoạ sĩ Vladimir Lukich Borovikovski là Lopukhina đã chết 3 năm sau khi bức chân dung hoàn thành mà không có nguyên nhân. Số phận tương tự cũng đến với cậu bé Vasia, người mẫu cho bức tranh Bộ ba của Petrov. Mẹ của cậu như đã linh cảm thấy gì đó, bà cấm cậu bé làm mẫu cho họa sĩ vì sợ con mình sẽ chết.

Còn Eduard Drobitski sau khi kể về bi kịch trong gia đình Shilov và Glazunov, đã công nhận là có một chuyện khó giải thích xảy ra với chính mình: "Nhiều năm trước tôi vẽ một bức tranh kép với hình Vưsotski (nam ca sĩ nổi tiếng thời Liên Xô cũ) và nhà thơ vĩ đại Puskin. Vưsotski trong trang phục nhà thơ, còn Puskin mặc đồ jean. 2 tuần sau Vưsotski qua đời. Các đồng nghiệp nói với tôi rằng bút vẽ tôi đã truyền năng lượng của nhà thơ quá cố sang Vưsotski và điều ấy đã đưa anh ta với chỗ kết thúc cuộc đời".

Giải thích cho hiện tượng này, Eduard Drobitski cho rằng một số họa sĩ có linh cảm của bác sĩ chẩn đoán. Khi vẽ một khuôn mặt, thậm chí không suy tính gì, anh ta cảm thấy có một căn bệnh nghiêm trọng đang tới gần. Và đây là một trường hợp như thế. Huân tước Anh Malgrov một lần đến gặp họa sĩ Gilbert Stewart, tác giả bức chân dung nổi tiếng vẽ George Washington, đặt vẽ chân dung anh trai mình là tướng Philps. Khi đến lấy bức tranh, Malgrov nhận thấy chân dung không giống thật và điều đó đã gây ra một ấn tượng khủng khiếp. Chẳng bao lâu sau người ta biết rằng tướng Philps đột ngột mất trí.

Chuyên gia khoa học của Viện bảo tàng Ermitage ở Saint Petersburg - giáo sư Boris Sapunov - lại có cách giải thích khác: khi vẽ chân dung, người họa sĩ như xâm nhập vào thế giới nội tâm của người mẫu. Họa sĩ càng tài hoa, càng đưa vào tác phẩm nhiều năng lượng của mình ở dạng tốt hay xấu. Có thể nhận thấy "sự định hướng" của năng lượng theo cách người họa sĩ tạo các sắc màu trên tranh. Khi họa sĩ ở tâm trạng yên tĩnh, các vệt màu của người đó đều đặn và ngay ngắn, nhưng khi bức chân dung được vẽ trong trạng thái thần kinh bị kích thích, buồn bã hay căng thẳng, thì các nét vẽ bắt đầu "đung đưa". Điều đó không thấy rõ bằng mắt thường mà chỉ hiện ra khi được nghiên cứu kỹ lưỡng. Nhưng não người tiếp nhận những chỗ "không bằng phẳng" này ở mức độ tiềm thức, nó tạo ra tác động giống như kiểu thôi miên, hướng tới việc loại bỏ người được vẽ.

Tất nhiên bạn vẫn có thể phản bác: biết bao họa sĩ không nổi tiếng hàng ngày vẫn vẽ ra các bức chân dung mà chẳng có hậu quả bi thảm nào! Nhưng có thể các thiên tài có khả năng thần giao cách cảm nào đó?

Thế Giới Mới (theo Sự thật Thanh niên, Nga)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
'Điểm chết' - bí ẩn chưa được giải mã


Có những khu vực trên trái đất được gọi là "điểm chết". Tại đó có sự bất thường về trọng lực và khí quyển. Thỉnh thoảng những chiếc xe chạy ngang qua đột nhiên bị một lực vô hình kéo đi trên một đoạn, những tín hiệu vô tuyến không còn tác dụng... Hiện các nhà khoa học vẫn chưa có lời giải về những hiện tượng trên.


Tại Mexico có một khu vực kỳ lạ được gọi là điểm chết thuộc vùng Chihuahua, bang Ceballos. Đó là một hoang mạc rộng lớn gồm những bụi cây dại và xương rồng. Giống như những hoang mạc khác, nơi đây có rất nhiều rắn độc và bọ cạp sinh sống. Điều kỳ lạ là tại khu vực này, những tín hiệu vô tuyến đều không còn tác dụng và người ta đặt giả thuyết rằng đây có thể là do người hành tinh khác gây ra.

Theo tiến sĩ Santiago Garcia ngay từ giữa thế kỷ 19, người ta đã phát hiện ra những tính chất không bình thường của khu vực này. Khi ấy, những người nông dân nhận thấy vào ngày đẹp trời có những hòn đá cuội nóng từ trên trời rơi xuống khu vực điểm chết. Vào năm 1930, một phi công người Mexico tên là Francisco Sarabia thông báo rằng máy bay của anh không thể truyền được tín hiệu radio khi bay qua khu vực này.

Tuy vậy, phải đến năm 1970 thì điểm chết mới được biết đến một cách rộng rãi: Một chiếc tên lửa Athena được phóng từ căn cứ tên lửa White Sand của Mỹ khi bay qua vùng này bỗng nhiên bị lệch quỹ đạo bay một cách khó hiểu và rơi xuống đất. Hai năm sau đó, một phần trên của tên lửa đẩy Saturn sử dụng cho tàu vũ trụ Apollo của Mỹ cũng bị rơi khi bay ngang qua đây. Người ta cũng không tìm ra được nguyên nhân sau khi đã điều tra kỹ lưỡng, chỉ biết rằng các chi tiết kỹ thuật và đường bay của tàu Apollo trước đó đều không có gì sai sót. Bộ Quốc phòng Mỹ đã cử một nhóm điều tra sang Mexico để tìm rõ nguyên nhân nhưng không có kết quả.

Kỹ sư Harry de la Pena là người đầu tiên phát hiện ra những đặc tính kỳ lạ gây nhiễu sóng radio của khu vực này. Pena và những đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu của ông nhận thấy tại nơi này, các máy vô tuyến điện đều không thể liên lạc được, sóng radio không thể truyền được với tốc độ, âm thanh bình thường. Cho tới nay, tín hiệu sóng truyền hình cũng không thể thu được tại Ceballos và các vùng phụ cận. Dường như tại đây có một lực hút từ trường nào đó làm vô hiệu hoá tất cả các loại sóng vô tuyến truyền thanh và truyền hình.

Kể từ sau phát hiện của kỹ sư Pena, các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới đã đổ về khu vực này với mong muốn tìm ra lời giải đáp cho những bí ẩn trên. Chính phủ Mexico thậm chí còn cho xây một trung tâm nghiên cứu ngay tại khu vực. Một điều kỳ lạ là về mặt địa lý, Điểm chết nằm ngay trên hạ chí tuyến và nam vĩ tuyến thứ 30, cùng trên một đường thẳng hàng với các khu bí ẩn khác của trái đất như tam giác quỷ Bermuda.

Nhiều người kể lại rằng họ đã tận mắt nhìn thấy đĩa bay và người ngoài hành tinh tại khu vực này. Vào năm 1976, một du khách người Đức đã chụp được các bức ảnh đĩa bay đỗ gần khu vực đồi nam châm ở Điểm chết. Các bức ảnh cho thấy rõ một vật thể giống nồi hầm khổng lồ có đường kính 10m phát ánh bạc.

Tiến sĩ Santiago Garcia đưa ra giả thuyết cho rằng một số đĩa sáng đó không phải là đĩa bay của người ngoài trái đất mà là các thiết bị do thám trên không của quân đội Mỹ. Những thiết bị này thường bay cao vào ban ngày để nạp pin mặt trời và hạ thấp vào ban đêm để do thám. Garcia cũng chỉ ra rằng khi quân đội Mỹ sang thu lượm những mảnh vỡ của tên lửa Athena tại đây, họ đã chuyển về Mỹ hàng chục xe tải cát về phân tích, trong đó có thể đã được cất giấu các thiết bị do thám trên không đã bị rơi. Có một giả thuyết khác được đưa ra là tại Điểm chết có một trữ lượng lớn quặng sắt nằm sâu dưới lòng đất, phát ra một từ trường cực mạnh vô hiệu hoá các loại sóng liên lạc. Ngoài ra, người ta cũng phát hiện tại các ngọn núi quanh điểm chết có nhiều quặng uran.

Ngoài những hiện tượng kỳ lạ, tại điểm chết ở Chihuahua còn có những tàn tích khảo cổ mà cho đến nay vẫn chưa thể xác định độ tuổi của chúng. Đó là một đài thiên văn cổ được xếp lên từ những khối đá cao 15 m, nặng 20 tấn/khối. Chúng có hình gần giống những cột đá ở Stonehenge. Một thiên thạch rơi tại Chihuahua vào năm 1959 có cấu trúc tinh thể có độ tuổi nhiều hơn cả hệ mặt trời. Theo nhà thiên văn học Luis Maeda Villalobos, thiên thạch này có cùng độ tuổi với vũ trụ, khoảng 13 tỷ năm tuổi, trong khi hệ mặt trời mới hình thành cách đây 6 tỷ năm. Cho đến nay, những bí ẩn xung quanh điểm chết như đĩa bay và người ngoài hành tinh, hiện tượng từ trường bí ẩn, vẫn chưa có lời giải thoả đáng. Và các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục công việc tìm hiểu của mình.

(Theo National Geographic)


Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Lửa vũ trụ và vụ cháy bí ẩn ở Chicago


Đêm chủ nhật, ngày 8/10/1871, đường phố Chicago (Mỹ) đang náo nhiệt vui vẻ thì đột nhiên một ngôi nhà ở phía đông bắc thành phố bốc cháy. Lính cứu hỏa chưa kịp phản ứng thì một ngọn lửa khác đã bủa kín nhà thờ thánh Paul. Khắp thành phố còi báo cháy hú vang...



Minh họa về đám cháy khủng khiếp tại Chicago.


Chicago nổi tiếng ở Mỹ vì nhiều gió nên còn được gọi là “thành phố gió”. Nay thành phố gặp lửa, tình trạng càng bi thảm hơn. Lửa mượn sức gió bốc cao dữ dội và lan nhanh khủng khiếp. Chưa đầy nửa tiếng sau, Chicago đã chìm trong biển lửa mênh mông. Dân chúng hoảng loạn chưa từng thấy, người ta nháo nhào chạy ra đường, giẫm đạp lên nhau, chen lẫn cùng đám súc vật tìm đường chạy trốn. Đám cháy khủng khiếp kéo dài tới sáng hôm sau. Hơn 17.000 ngôi nhà ở trung tâm thành phố biến thành tro bụi, hàng nghìn người tử nạn vì cháy và vì bị giày xéo.

Giải thích nguyên nhân của vụ hỏa hoạn, tờ Thời báo Chicago và một số báo lớn của Mỹ đưa tin: Do sơ suất của bà chủ, một con bò cái đã húc đổ ngọn đèn dầu gây cháy chuồng, đám cháy phát lửa từ chuồng bò đã lan khắp Chicago. Tuy nhiên, lời giải thích này bị đa số dân Chicago phản bác, họ cho rằng giới báo chí chẳng biết gì. Một vị chỉ huy trực tiếp tham gia cứu hỏa cho biết: Chỉ trong chớp mắt, thành phố đã tràn ngập trong biển lửa, do đó bảo rằng “đám cháy lan ra từ chuồng bò” là điều vô lý, đây thực sự là một trận lửa bay, chỉ có lửa bay mới nhanh đến vậy! Cả bầu trời bốc cháy, những hòn đá nóng bỏng từ trên trời trút xuống

Nhiều người dân thoát chết sau vụ hỏa hoạn cũng khẳng định: Mưa lửa là từ trên trời rơi xuống. Tập hợp lại các thông tin, cảnh sát liên bang Mỹ cho biết: Buổi tối đó, cùng với Chicago, ở các nơi như Wisconsin, Michigan, Nevada và một số vùng rừng núi, đồng cỏ phía đông Mỹ cũng có hỏa hoạn. Rõ ràng không thể là sự phát lửa bình thường. Đi tìm vật chứng cho hiện tượng lạ, người ta tìm thấy số pho tượng đá hoa cương ở trung tâm Chicago bị nung chảy; giàn giáo đỡ bằng thép của một xưởng đóng tàu đứng chơ vơ bên sông cũng bị đốt chảy ra dính vào nhau, nhiều kho sắt thép bị chảy thành đống… chứng tỏ nhiệt độ phải rất cao.

Một điều kỳ lạ nữa trong vụ đại họa của Chicago là cái chết thảm khốc của cả ngàn người dân đã chạy thoát khỏi thần lửa, ra tới được vùng ngoại ô. Giám định thi thể nạn nhân thấy cho thấy, cái chết của họ chẳng có chút gì liên quan đến lửa. Đến đây, các nhà khoa học phải vào cuộc.

Tiến sĩ W. Ximoberin, một chuyên gia lừng danh về các vụ án thiên văn đã cho rằng: “lửa đá được đem đến Chicago trong trận mưa sao băng”. Theo ông, thủ phạm của vụ này là sao chổi Bira (tên nhà thiên văn Tiệp Khắc tìm ra nó vào năm 1826). Sao chổi Bira có chu kỳ quanh mặt trời là 6,6 năm. Vào năm 1846, trong khi sạt qua trái đất, nhân Bira bị vỡ làm hai mảnh. Những quan sát tiếp theo cho thấy, đến năm 1852, hai phần nhân bị vỡ đôi kia đã cách nhau tới 2,4 triệu km để rồi mất hút trong vũ trụ. Đúng vào ngày 8/10/1871, một phần nhân sao chổi Bira lại gặp gỡ trái đất và điểm giao tiếp lần này nằm trên không phận Mỹ. Kết quả là trận mưa sao băng dữ dội đã xảy ra. Phần lớn thiên thạch bị đốt cháy khi ma sát với không khí, phần còn lại rơi ào ạt xuống mặt đất có nhiệt độ rất cao, đủ năng lực hóa lỏng sắt thép và các loại đá hoa cương. Chicago không may mắn nằm gọn trong vòng trung tâm của trận mưa lửa.

Ngoài ra, Ximoberin cũng cho rằng, trận "mưa" này do sự bốc cháy của vẩn thạch còn mang theo một lượng rất lớn khí xyanua và dioxit carbon, tạo thành các vùng “tiểu khí hậu giết người”. Điều này giải thích về việc cả nghìn người đã thoát khỏi vùng lửa, ra đến ngoại ô thành phố, song vẫn không thoát chết do ngộ độc khí đậm đặc.

Luận thuyết của Ximoberin được nhiều người quan tâm. Nhưng thực tế, đến nay người ta vẫn chưa tìm được một bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết đó, như các mẩu thiên thạch còn sót lại, thực vật bị lửa trời thiêu đốt hay các khu đất bị ô nhiễm…

Những người bác bỏ giả thuyết của Ximoberin cho rằng, sao chổi là một “thiên thể khổng lồ nhưng rất loãng”, nhân sao chổi nếu có va quyệt vào trái đất thì cũng không thể gây tai họa vì trái đất có bầu khí quyển là tấm lá chắn rất hữu hiệu. Nếu có thiên thạch nào chưa cháy hết trong bầu khí quyển, thì khi rơi xuống bề mặt trái đất cũng không thể gây ra hỏa hoạn.

“Đám cháy Chicago” vẫn còn là một bí ẩn cho đến tận ngày nay.

Tài Hoa Trẻ (theo Varuk Svetta)



Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Sóng lừng - những điều chưa biết


Có hai loại sóng cực kỳ đáng sợ đối với những người đi biển: sóng thần và sóng lừng. Sóng thần là hệ quả của hoạt động kiến tạo vỏ trái đất và đã được nghiên cứu khá kỹ, nhưng sóng lừng cho đến nay vẫn là hiện tượng gây nhiều tranh cãi.

Từ giữa mặt biển phẳng lặng, bất ngờ dựng lên một bức tường nước khổng lồ, đổ sụp xuống và tan biến... Đó là chân dung sơ bộ nhất về một cơn sóng lừng.


Sóng lừng - nguy cơ rình rập các con tàu biển.


Hai thủy thủ của chiếc tàu dầu khổng lồ Esso Langedoc mang quốc tịch Panama đã bỏ mạng vì sóng lừng ở vùng biển thuộc Ấn Độ Dương, gần Nam Phi. Theo lời kể của thuyền phó Philipp Leageour, lúc bấy giờ thời tiết tuy không tốt song chưa thể gọi là biển động. Bất ngờ từ mặt biển cách mạn tàu bên phải vài chục mét, một bức tường bằng nước dài hàng nghìn mét đột ngột dựng lên, chồm tới với cái lưỡi xoắn cuộn trên đầu, càn băng qua con tàu, chạy tiếp rồi đổ ụp xuống cách mạn trái tàu vài trăm mét. Buồng chỉ huy cao ngất nghểu, cả ngọn ăng ten là khoảng 30 mét tính từ mặt nước, vậy mà tất cả đều chìm ngập trong nước khi con sóng lướt qua. Sau phút kinh hoàng, người ta thấy thiếu hai trong số các thủy thủ bấy giờ đang làm việc trên boong. Họ đã bị lũy nước cuốn theo và nhận chìm xuống đáy biển khi nó đổ sụp xuống.

Tàu Esso Langedoc vẫn còn may mắn vì sóng lừng chỉ lướt qua. Năm 1980, trong vùng biển Nhật Bản, chiếc tàu chở hàng Derbeashir của Anh đã bị một con sóng lừng đổ ụp lên đầu và nhấn chìm ngay tức khắc. Toàn bộ thủy thủ đoàn 44 người bỏ xác đáy biển.

Theo số liệu thống kê mới đây của Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA), trong hai thập niên gần đây nhất, có khoảng 200 chiếc tàu biển bị sóng lừng làm đắm, trong đó có 22 con tàu khổng lồ được mệnh danh là "không thể đánh chìm". Tổng cộng hơn 600 người thiệt mạng. Còn theo tính toán của Trung tâm nghiên cứu tai nạn hàng hải Đức thì trên khắp các đại dương, mỗi tuần có ít nhất hai con tàu bị sóng lừng làm hư hại hoặc gây thiệt hại về người.

Từ đâu có sóng lừng?

Gió tạo nên sóng và chiều cao của sóng phụ thuộc và sức gió, thời gian thổi của gió và diện tích mặt nước mà gió thổi qua. Giả sử một cơn bão có gió cấp 12 (khá hiếm) lướt qua từ eo biển Trung Mỹ, băng qua bề mặt Thái Bình Dương, đến vùng biển Đông của Việt Nam, vượt quãng đường xấp xỉ 18.000 km, thì sau một giờ di chuyển, nó tạo được những con sóng có độ cao trung bình 4,2 mét. Theo các tính toán, sau một ngày đêm, sóng do cơn bão này tạo ra sẽ cao trung bình 14,1 mét, sau một tuần, sóng đạt 20,7 mét, nhưng rồi dừng ở đó, không thể cao hơn được nữa, do nhiều yếu tố cản trở, trong đó quan trọng nhất là trọng lực.

Vậy từ đâu sinh ra những con sóng lừng cao hơn 25 mét? Lại càng khó hiểu khi sóng lừng cao trên 30 m thường xuất hiện vào những lúc biển tốt, hoàn toàn không có gió lớn. Ngày 27/2/2003, tàu Perm của hải quân Nga đo được chiều cao của một con sóng lừng thuộc vào hàng kỷ lục: 34 mét - bằng chiều cao của tòa nhà 12 tầng! Các nhà khoa học còn cho rằng có thể có những con sóng lừng cao trên 50 mét dù cho đến nay chưa ai bắt gặp. Về lý thuyết, sóng lừng có thể xuất hiện trong lúc biển động và nếu một con sóng lừng trên 30 mét "đội" trên đầu mình một con sóng 20 mét do gió tạo ra thì chiều cao tổng cộng rõ ràng trên 50 mét.

Xác suất xảy ra điều này là rất thấp, song không phải là bằng không. Năm 1995, trên vùng biển Bắc của Nga, trong một cơn biển động, sóng đã quét sạch mọi thứ trên một giàn khoan dầu của hãng Statoil mà lúc bình thường là cao 41 mét so với mặt biển. Người ta nghi đây là loại sóng mẹ - con như đã nói ở trên.

Trong khuôn khổ chương trình lớn MaxWave của Cơ quan vũ trụ châu Âu có một dự án mang tên WaveAtlas (Bản đồ sóng) với nhiệm vụ phát hiện hoặc dự báo về sóng lừng nhằm cảnh báo cho tàu thuyền trên các hải trình quan trọng. Các nhà khoa học thực hiện dự án này không thể nào lý giải nổi hiện tượng sóng lừng xuất hiện đơn lẻ nhưng cũng có thể xuất hiện thành cặp, thậm chí thành bộ ba, bộ bốn, bộ năm song song nhau. Lại nữa, sóng lừng có thể bất ngờ nhô lên, đứng nghễu nghện vài phút rồi đổ sụp xuống, tan biến không để lại dấu vết, nhưng cũng có thể lừng lững tiến bước vượt hàng nghìn kilomét như bức tường nước di động, thậm chí cả trong trường hợp xuất hiện thành bộ ba, bộ bốn. Tất nhiên cần có một lực tác động tức thời dâng nước lên cao thành sóng lừng, nhưng lực nào giữ cho sóng chắc chân trên đường "hành quân" nghìn dặm?

Sóng lừng quả là một thứ "hạt dẻ" khó nhằn đối với các nhà nghiên cứu vì chúng không phụ thuộc bất cứ quy luật tự nhiên hay nguyên tắc vật lý nào cả. Trên quan điểm toán học, một số người cho rằng sóng lừng là tích hợp của nhiều con sóng nhỏ, song xem ra thuyết này không vững, vì khi có sóng lừng xuất hiện ngay trong điều kiện trời yên biển lặng. Trên quan điểm hải dương học, số khác lại cho rằng ở những nơi mà gió đang thổi ngược chiều cản trở dòng hải lưu bỗng yếu đi, dòng chảy đột ngột tăng tốc, phần nước chảy nhanh ở đằng sau va chạm với khối nước chảy chậm ở phía trước gây ra hiện tượng sóng lừng. Thuyết này tuy có vẻ có lý, song lại không thể áp dụng để lý giải sóng lừng vùng biển Bắc, nơi không hề có dòng hải lưu nào cả.

Một số khác nữa vận dụng kiến thức vật lý địa cầu, cho rằng ở một số nơi trên trái đất, đặc biệt trên các đại dương, có những điểm mà trọng lực có những biến thiên nhất định; nếu ở đó lực hút của Trái đất cao hơn mức bình thường thì sẽ tạo ra vùng lõm trên mặt biển, trường hợp ngược lại - tạo vùng lồi (trên thực tế, các nhà du hành vũ trụ quả có quan sát được những vùng lồi hoặc lõm như thế trên bề mặt các đại dương). Dưới tác động của lực quay trái đất, kết hợp nhiều yếu tố khác, ven rìa các vùng lồi - lõm này rất có thể xuất hiện sóng lừng. Nhưng điều lạ là sóng lừng vẫn thường xuất hiện ngay cả ở những nơi mà lực hút trái đất tỏ ra bình thường và trên mặt biển chẳng có vùng lồi hay lõm nào cả. Mọi chuyện lại rơi vào bế tắc!

Qua hoạt động thực tiễn, các chuyên gia thuộc dự án WaveAtlas khẳng định: không thể dự báo sóng lừng, cả về thời gian lẫn địa điểm. Họ chỉ có thể đưa ra những lời khuyên: các nhà khai thác dầu nên nâng chiều cao giàn khoan lên tối thiểu 20%, các chủ tàu biển, ngoài việc chớ quên mua bảo hiểm, nên gia cố mạn và boong tàu, tăng khả năng chống chịu nếu chẳng may bị sóng lừng ập xuống, còn khách du lịch đường biển thì... chỉ có cách phó mặc cho sự may rủi mà thôi.

Thế Giới Mới (theo KP và Membrana)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí mật những ngôi nhà ma


Những bóng ma là kết quả của trí tưởng tượng của chúng ta, hay xuất phát từ những nguyên nhân có thực từ cảm giác kỳ lạ về sự hiện hữu của một linh hồn?



Cung điện Hampton Court.


Tất cả bắt đầu cách đây ba năm. Richard Wiseman nhận được giấy phép tiến hành các thí nghiệm tại hai trong số các địa điểm "bị ma ám" nổi tiếng thế giới: Cung điện Hampton Court, gần London và cây cầu Nam Edinbourg xứ Ecot. Địa điểm đầu tiên, nơi ở cũ của Hoàng đế Henri VIII, theo nhiều lời đồn đại thường xuất hiện bóng ma của hoàng hậu thứ năm, người đã bị kết án tử hình vào thế kỷ thứ 17 vì tội ngoại tình. Còn về địa điểm thứ hai, dưới vòm cầu, nơi có hàng trăm xác chết - nạn nhân của bệnh dịch hạch vào thế kỷ thứ 17. Bị lãng quên sau đó, những địa điểm này được mở cửa lại vào năm 1996. Kể từ đó, bóng ma bắt đầu lảng vảng...

Richard Wiseman đã chọn ra 700 người tình nguyện tham gia quá trình nghiên cứu. Với một bộ câu hỏi trong tay, họ được đưa vào những địa điểm "ma" với nhiệm vụ ghi lại "tất cả những gì khác thường" trong mỗi một gian phòng. Kết quả là một nửa số người tình nguyện có ít nhất một lần gặp cảm xúc “kỳ quặc”, thậm chí một cảm giác về những "sự hiện hình không thể giải thích” mà họ cho rằng thực sự là những bóng ma.

Sự trùng hợp gây bối rối. Tất nhiên, tất cả tình nguyện viên đều biết rõ những gì họ sắp trải qua nên có thể "thần hồn nát thần tính”. Nhưng tại sao lại chỉ ở các gian phòng nổi tiếng "ma ám''? Để khám phá bí ẩn này, Richard Wiseman và nhóm của ông đã xem xét tỉ mỉ một vài địa điểm "nhiều ma nhất'' và một vài khu vực "bình thường”. Họ đã sử dụng những từ kế siêu chính xác để đo từ trường, thiết bị kiểm tra sự di chuyển của không khí và máy đo cường độ ánh sáng. “Những kẻ săn ma” cũng nghiên cứu ở các lối đi khác nhau của các đường quanh và ở các độ cao khác nhau.

Kết quả đầu tiên: Trong những gian phòng “bình thường” ở Hampton Court, từ trường gần như tương đương với từ trường của Trái Đất, 50 microtesla (ut). Nhưng trong các gian phòng "có ma", máy đo ghi nhận có những thay đổi đột ngột về từ trường, dao động một vài phần mười microtesla trong vài phút. Những biến đổi này có thể liên quan đến hệ thống điện chiếu sáng trong lâu đài.

Tuy nhiên, một số nhà khoa học cho rằng từ trường có thể gây ra đau đầu, hoa mắt và những rối loạn nhỏ, nhưng để đạt đến điều đó, cần phải đạt đến con số 60.000 ut!

Giả thuyết từ trường của Richard Wiseman dường như không đi đúng hướng. Vì lẽ rằng tại địa điểm thứ hai, cây cầu Edinbourg, người ta không đo được bất kỳ một thay đổi nào của từ trường. Thường ở những khúc quanh tối nhất, lớn nhất và có trần cao nhất thì những cảm giác kỳ lạ xuất hiện nhiều nhất.

"Có thể đó là những khu vực mà người ta cảm thấy nhỏ bé và vô nghĩa, nơi mà trò chơi của bóng tối phát huy nhiều nhất", Richard Wiseman bình luận. Tóm lại, một gian phòng sầu thảm rất thuận lợi cho sự xuất hiện của ''bóng ma''. Tuy nhiên đây chưa phải là một kết luận khoa học. Vì vậy, những bí ẩn về ngôi nhà ma chắc còn lâu mới sáng tỏ.

(Theo Khoa học và Đời sống)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Thiên tài và những căn bệnh bí ẩn


Thiên tài được sinh ra một cách ngẫu nhiên hay theo một quy luật nhất định nào đó? Đây là câu hỏi lớn đối với các nhà khoa học. Theo một thuyết được nhiều người quan tâm thì thiên tài thường mắc một căn bệnh đặc biệt nào đó và chính căn bệnh này đã tác động khiến họ có những khả năng phi thường.

Thuyết này lần đầu tiên được nhà di truyền học người Nga Vladimir Froismon đưa ra hồi đầu thế kỷ 20.



Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln là nhân vật nổi tiếng mắc hội chứng Marfan.


Vladimir Froismon đã dành nhiều thời gian để thống kê thành một danh sách những thiên tài bị ảnh hưởng của bệnh viêm khớp, trong đó có những tên tuổi lớn như Isaac Newton, Charles Darwin, Christophe Colombo, Galileo, Francis Bacon, Desiderius, Voltaire... Theo nghiên cứu của Froismon thì bệnh viêm khớp thường gây ra một lượng axit uric cao trong máu. Loại axit này là tác nhân kích thích bộ óc làm việc mạnh mẽ. Thành phần của axit uric cũng tương tự như thành phần của chất caffein và theobromin, những chất kích thích có trong cà phê và chè. Hiện tượng nhiều axit uric trong máu không chỉ giúp làm tăng khả năng nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên như toán học, vật lý học, hoá học, thiên văn học mà còn thúc đẩy các nhà hoạt động xã hội và tài năng nghệ thuật, văn chương phát triển. Danh sách những người chịu ảnh hưởng của bệnh viêm khớp còn có các danh họa như Michel Angelo, Rembrandt, thiên tài âm nhạc Beethoven và nhà chính trị nổi tiếng người Đức Otto Bismarck.

Một căn bệnh khác cũng được coi là có liên quan đến sự ra đời của các thiên tài là hội chứng Marfan. Những người mắc hội chứng này thường có tầm vóc cao lớn quá khổ với những ngón tay, ngón chân, cẳng tay, cẳng chân dài một cách khác thường. Một đặc điểm nữa là hầu hết những người mắc hội chứng Marfan đều có khuôn mặt dài và hẹp.

Đặc trưng lạ lùng trên là do những biến thể đặc biệt của cơ thể con người dưới tác động của hội chứng Marfan gây ra. Nhiều nhà khoa học cho rằng chính sự biến đổi như vậy đã mang lại cho thế giới nhiều nhân vật xuất chúng. Có thể liệt kê nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới mắc hội chứng Marfan có những đặc điểm như vậy, trong đó tiêu biểu nhất là 3 người sau đây.

Thứ nhất là tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (1809-1865), người có công xoá bỏ chế độ nô lệ ở nước này. Abraham Lincoln xuất thân từ một thợ khắc gỗ, sau đó nhờ nghị lực trở thành luật sư, rồi tổng thống Mỹ. Ông có năng lực làm việc phi thường, khả năng phán đoán và lòng dũng cảm. Tổng thống Lincoln có khuôn mặt dài và hẹp đặc trưng.

Người thứ 2 là nhà văn nổi tiếng người Đan Mạch, Hans Christian Andersen (1805-1875). Ông vốn là con trai của một người thợ đóng giày nghèo khổ, mồ côi từ nhỏ, Andersen bắt đầu đi học rất muộn và mãi đến năm 23 tuổi mới vào đại học. Ông nổi tiếng qua những câu chuyện cổ tích ngụ ngôn làm say mê cả trẻ em lẫn người lớn trên thế giới suốt hơn thế kỷ qua. Khuôn mặt của Andersen cũng có nét nhỏ hẹp của những người mắc hội chứng Marfan.

Người thứ 3 là tổng thống Pháp Charles de Gaulle (1890-1970). Ông là một vị tướng nổi tiếng của Pháp trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2 và về sau trở thành vị tổng thống ghi đậm dấu ấn trong lịch sử chính trị Pháp giai đoạn sau chiến tranh. Ngay từ khi còn nhỏ, de Gaulle đã biểu hiện lòng dũng cảm và thông minh. Ông có tầm vóc cao lớn hơn tất cả bạn bè và bờ vai hẹp hình góc nhọn rất đặc biệt.

Cả 3 nhân vật nổi tiếng nêu trên đều mang những triệu chứng của hội chứng Marfan. Ngoài năng khiếu đặc biệt về chính trị, văn học và quân sự, họ còn có sức khoẻ rất đáng chú ý.

Các nhà khoa học cho rằng hội chứng Marfan là nguyên nhân sản sinh ra nhiều chất catecholamin trong máu. Đây là tố chất góp phần kích thích sự hoạt động cao của trí óc và sinh lý cơ thể, khiến cho hầu hết những người mắc hội chứng Marfan đều có năng lực làm việc phi thường. Ngoài ra, một trong những điểm chung của người mắc hội chứng Marfan là đa số họ đều có những khả năng hài hước đặc biệt. Tổng thống Lincoln và nhà văn Andersen là minh chứng cho nhận định này.

KH&ĐS (theo Hebdo)
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn 'thung lũng chết' ở Xibia


Rải rác trên khu vực rộng lớn ít người tại thung lũng Yakutia Xibia, người ta có thể bắt gặp các tấm kim loại có cấu trúc lạ giống như bằng chứng của các vụ nổ bom nguyên tử. Chúng chỉ là một trong số ít các dấu hiệu về những hiện tượng lạ ở nơi đây.


Thung lũng Yakutia.


Nằm ở phía tây bắc Yakutia, Xibia, gần thượng lưu sông Viliuy có một thung lũng kỳ lạ, nơi in dấu vết của nhiều sự biến đổi lớn về địa chất trong lòng đất xảy ra cách đây hàng trăm năm. Ở khu vực này, người ta còn tìm thấy các mảnh kim loại lạ nằm sâu dưới lớp đất mà cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định được thành phần hóa học của chúng. Tên gọi theo tiếng địa phương của vùng đất này là Uliuiu Cherkechekh, còn gọi là "Thung lũng chết". Khu vực này trải rộng trên một diện tích hơn 100 nghìn km2, được bao phủ bởi các cánh rừng taiga rộng lớn với rất nhiều đầm lầy, các miệng núi lửa và là nơi hằn in dấu vết của các vụ va chạm thiên thạch với Trái đất.

Xưa kia, vùng đất này là nơi qua lại của những người dân du mục Evenk. Họ đến từ Bodaibo, qua Annybar để ra biển Laptev. Những người du mục kể lại rằng, họ thường thấy những tấm kim loại có màu sắc giống như đồng, nhưng rất cứng và sắc, có thể cắt được các kim loại khác một cách dễ dàng. Mỗi tấm có đường kính từ 6 đến 9 mét. Bao phủ bên ngoài lớp vỏ kim loại là một lớp giống như bột mài. Khi dùng dao để cứa vào nó, người ta không thấy bất kỳ một vệt xước nào để lại trên bề mặt.

Qua phân tích, các nhà khoa học nhận thấy những tấm kim loại này là mảnh vỡ của các khối cầu hình tròn lớn chứa đủ nhiều người ở bên trong. Năm 1936, trong lúc thám hiểm Thung Lũng chết, một nhà địa chất học Nga đã phát hiện ra một khối bán cầu bằng kim loại có sắc đỏ, nhô lên từ mặt đất. Khối bán cầu này đủ lớn để chứa hai người nằm gọn bên trong. Khi đó, nhà địa chất chưa có đủ dụng cụ đo đạc cần thiết cũng như kiến thức để xác định đó là cái gì. Đến năm 1979, một nhóm khảo cổ khác đến nơi này cùng nhà địa chất nọ, thì mặt đất ở đó đã trống trơn.

Những người dân sống ở gần Thung lũng chết kể rằng họ đã tận mắt chứng kiến nhiều hiện tượng lạ xảy ra ở khu vực, như các khối cầu khổng lồ bay lên từ lòng đất, phát nổ và bắn ra các mảnh kim loại trên, hiện tượng sét khô, sét hòn và dấu vết để lại của các vụ va chạm thiên thạch đến từ ngoài trái đất. Nhiều người cho biết họ đã tận mắt chứng kiến các khối cầu lửa lớn hình nấm bốc lên trời giống như vụ nổ của một quả bom hạt nhân. Đặc biệt, người ta nhận thấy ở đây cây cỏ mọc không giống cây cỏ tự nhiên. Chúng rất xanh tốt, lá rộng hơn bình thường và có rất nhiều nhánh. Cỏ cũng rất lớn và có chiều cao gấp đôi thân người.

Một trong những truyền thuyết kỳ lạ nhất về Thung lũng chết được những người dân du mục Yakut kể lại rằng: "vào một ngày nọ, giữa lòng thung lũng đột nhiên bị bao phủ bởi các đám mây mù xám xịt và bị sét đánh dữ dội. Một cơn lốc xoáy khổng lồ bốc lên từ dưới mặt đất, bụi bay mù mịt hàng trăm dặm. Sau khi mọi thứ trở lại bình thường và những đám mây đen tan đi, những người du mục nhìn thấy nhô lên từ dưới mặt đất một hình chóp thẳng đứng khổng lồ mà mắt thường có thể nhìn thấy được từ khoảng cách hàng trăm dặm. Vật thể lạ này có màu đỏ giống màu đồng và phát ra những âm thanh rất chói tai. Ít lâu sau, nó biến mất dưới lòng đất sâu, để lại miệng hố khổng lồ có bán kính rộng đến 200 mét. Người ta kể rằng, bất cứ ai tò mò muốn đến gần miệng hố xem điều gì đã xảy ra đều không bao giờ quay trở lại. Sau đó ở khu vực này xuất hiện các khối cầu lửa khổng lồ vọt lên từ dưới mặt đất. Khi chạm đất, chúng gây ra các tiếng nổ khủng khiếp và tạo ra các hố sâu đến 100 mét ở khu vực núi bao quanh thung lũng. Sau khi xảy ra các vụ nổ trên, những người dân du mục phải rời bỏ nơi này để tìm đến các vùng đất an toàn hơn cho cuộc sống của họ.

Theo các nhà khoa học, những vụ nổ kỳ lạ trong truyền thuyết trên rất giống với các vụ nổ hạt nhân ngày nay. Họ cũng phát hiện ra rằng, những tàn tích còn sót lại ở "Thung lũng chết" có nhiều điểm gần giống với những bí ẩn của nền văn minh cổ đại Maya ở Mexico (đã biến mất từ năm 830 sau ảnh hưởng của một vụ nổ được tạo ra bởi một sức mạnh bí ẩn mà cho đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân). Đặc biệt, ở Thung lũng chết vào một số thời điểm nhất định trong ngày, các nhà khoa học đã đo được mức phóng xạ cao hơn bình thường từ dưới lòng đất.

Các nhà khoa học cho rằng, ẩn sâu dưới lớp đất của Thung lũng chết tồn tại sự hoạt động mạnh của các dòng từ trường. Do trước đây quân đội Liên Xô đã chọn nơi này để thử nghiệm vũ khí hạt nhân nên trữ lượng phóng xạ còn sót lại kết hợp với từ trường trong đất đã khiến cho vùng này bị nhiễm xạ nặng. Mặc dù vậy, người ta vẫn chưa giải thích được nguồn gốc của các tấm kim loại lạ được tìm thấy ở đây và chưa phân tích được thành phần hóa học của nó. Một số người thậm chí cho rằng đây chính là mảnh vỡ của các đĩa bay đến từ ngoài Trái đất, vì nhiều người ở khu vực này đã tận mắt chứng kiến các vật thể lạ phát sáng bay lên từ lòng thung lũng. Cho đến nay, những bí ẩn về vùng đất này vẫn chưa được sáng tỏ.

KH & ĐS (theo Pravda)
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Điều kỳ lạ về giác quan thứ sáu


Có một chuyện gì đó vừa xảy ra và bạn bỗng ngờ ngợ là đã biết chuyện này một lần nào đó trong quá khứ. Thực ra chuyện đó chỉ xảy ra một lần duy nhất trong thời điểm hiện tại. Còn cái mà bạn ngờ ngợ là một linh cảm kỳ lạ mà các nhà khoa học gọi là giác quan thứ 6.



Giác quan thứ 6 có thể báo trước chuyện gì sẽ xảy ra.


Các chuyên gia thống nhất nhận định rằng những linh cảm như vậy xuất hiện không ít trong cuộc sống và nhiều khi nằm ngoài kiểm soát của con người. Tiến sĩ tâm lý học Timothy D. Wilson, Đại học Virginia (Mỹ), cho rằng: "Linh cảm là sự gợi nhớ từ một miền vô thức. Đây không phải là những ký ức bị dồn nén hay những cảm xúc nguyên thủy mà là một cơ chế trong não có tác dụng điều hành các thông tin về cảm giác cùng với những hành động vượt ra ngoài tầm ý thức của con người.

Còn tiến sĩ Gary Klein, tác giả cuốn sách "Trực giác hoạt động", thì cho rằng cái mà người ta thường gọi là khả năng nhìn thấy cái vô hình chính là những năng lực tiềm tàng của trực giác con người. Đặc biệt, đối với những người mà nghề nghiệp buộc họ phải đưa ra những quyết định sinh tử và tức thì như lính cứu hỏa, y tá cấp cứu hay lính trận là những người thường thấy xuất hiện giác quan thứ sáu. Họ thường thực hiện các hành động theo một linh tính nào đó trong những tình huống khẩn cấp khi họ không thể chọn lựa hay đưa ra một quyết định có ý thức.

Klein đã kể lại câu chuyện về linh cảm của một viên trung úy cứu hỏa đã cứu anh ta cùng đồng đội. Khi cùng đồng đội cứu một căn nhà bị cháy, anh ta bỗng cảm giác có một mối nguy hiểm nghiêm trọng đang cận kề liền ra lệnh cho các đội viên rút ra khỏi ngôi nhà và ngay lúc họ vừa thoát khỏi chỗ đó thì toàn bộ căn nhà đổ sập xuống.

Ông cho rằng linh cảm của viên trung úy thực chất là một sự hồi ức của tiềm thức. Căn phòng nóng khủng khiếp, ngọn lửa không thể dập tắt.... là những hồi chuông báo động trong tiềm thức của anh ta và lệnh rút lui cũng xuất phát từ một mệnh lệnh của tiềm thức

Khả năng đọc tín hiệu
John, nhân viên thuộc sở cảnh sát Los Angeles (Mỹ), trong một lần đối mặt với một gã tài xế khả nghi có vũ khí, anh có thể rút súng hạ gục đối tượng một cách hợp pháp nhưng anh không bắn. Chỉ vài giây sau đó, tên tài xế buông súng đầu hàng. Lúc đó, John không hiểu tại sao mình lại làm thế. Sau này các nhà nghiên cứu giải thích rằng trong cuộc đối đầu chớp nhoáng, linh cảm của anh đã tiến hành một thủ thuật gọi là "đọc gương mặt" đối phương. Khi nhìn mặt gã tài xế, linh cảm đã báo cho anh biết là hắn sẽ không bắn trước và chính linh cảm đó đã giúp cho anh quyết định không nổ súng.

Các nhà khoa học cho rằng mỗi chúng ta đều có khả năng này, tất nhiên là với những mức độ khác nhau. Có thể đó là những cảm giác mạnh mẽ chỉ xuất hiện trong nháy mắt nhưng cũng đủ "bóc trần" suy nghĩ thực của đối phương ngay cả khi đối phương cố tình che giấu.

Tự "đọc vị" chính mình


Theo các nhà khoa học thì ngay cả khi không rơi vào các tình trạng. khẩn cấp, hệ thống "radar" trong con người vẫn hoạt động và sẵn sàng phát tín hiệu về mối đe dọa đối với bản thân hoặc người thân.

George Soros, nhà tỷ phú Mỹ xếp hạng 38 trong số những người giàu nhất thế giới, là một ví dụ về khả năng tận dụng giác quan thứ 6. Phần lớn các cuộc đầu tư bạc tỷ của Soros đều dựa vào linh cảm. Ông cũng nói rằng mỗi khi lưng mình bắt đầu nhói đau là tín hiệu báo trước một điều gì đó không thuận lợi trong quyết định đầu tư chuẩn bị được đưa ra. Những trường hợp đó, ông ta đã nghiên cứu kỹ các điều kiện hoặc rút lui đúng lúc và nhờ vậy đã nhiều lần tránh được thất bại.

Theo Sức Khỏe Gia Đình


Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn 'thế giới màu tím' của các loài chim


Trong khi con người chỉ nhìn được 3 loại ánh sáng là đỏ, xanh lục và xanh dương, thì chim có thêm khả năng nhạy cảm với tia cực tím. Nói cách khác, đối với chim muông, chúng ta là những kẻ mù màu.



Chim sáo đá.


Philipp Heeb thuộc Đại học Lausanne(Thụy Sĩ) đã tìm hiểu về loài chim sáo đá và sơn tước, cách thức xử trí của chúng khi mang thức ăn về cho bầy con trong tổ. Vì không thể đáp ứng được tất cả trong một lần, vậy chúng chọn con nào để cho ăn trước tiên? Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chim mẹ thấy chim con từ động tác hay tiếng chiêm chiếp của chúng. Nhưng Philipp Heeb lại tìm ra tín hiệu khác mà trước đây chưa từng biết đến: Sự phân phát thức ăn thay đổi tuỳ theo cường độ phản xạ tia cực tím trên cơ thể chim con.

Từ thập niên 1970, các nhà điểu học đã biết rằng đa số các loài chim đều có thể cảm nhận được tia cực tím, giống như nhiều loài côn trùng, nhện, cá, bò sát và cả một vài loài có vú (gặm nhấm). Võng mạc của chim có một khác biệt cơ bản: Trong khi ở người chỉ có 3 loại tế bào hình nón nhạy cảm với ánh sáng đỏ, xanh lục và xanh dương, loại chim lại có thêm một loại tế bào nhạy cảm với tia cực tím. Con người không nhìn thấy một thế giới giống như chúng.

Trước kia, có rất ít công trình về đề tài này, nhưng từ 10 năm nay, các chuyên gia về tập tính chim muông đã có phương tiện để nghiên cứu cái nhìn tia cực tím bằng cách phân tích cường độ bức xạ ánh sáng nhờ quang phổ kế. Và các kết quả không ngừng khiến người ta bất ngờ.

Từ năm 1996, Andrew Bennett và Innes Cuthill ở Đại học Bristol (Anh) đã chứng minh khả năng nhìn phổ cực tím có liên quan đến việc lựa chọn bạn tình của một số loài chim. Khi gắn những dải băng phản chiếu tia cực tím cho chim nhạn biển trống, họ nhận thấy rằng chim mái thích chúng hơn những chim trống bình thường.

Mới đây, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một số loài chim phát hiện được con mồi nhờ dấu vết nước tiểu phản chiếu tia cực tím. Như thế người ta khám phá những thông tin thị giác mà trước đây không ngờ tới, và chúng giải thích cho các tập tính đôi khi có thể chuyển vị sang loài khác. Trong năm vừa qua, các nhà khoa học Hà Lan đã phát hiện một điều thú vị: Chim sơn tước mái bị lôi cuốn nhiều hơn bởi chim trống có bộ lông phản xạ tối đa tia cực tím. Chim trống cũng cuốn hút kẻ thù hơn, và nếu chúng sống sót được là nhờ có thể chất khoẻ mạnh. Hậu duệ của chúng có nhiều khả năng cũng giống như thế và sinh sản dễ dàng hơn.

Philipp Heeb quan tâm đến mối liên hệ cha mẹ và con cái của loài chim. Ông quan sát chim sáo đá con: "Tôi thấy rằng khoé mỏ và cả da của chim con phản xạ tia cực tím. Vậy là tôi nghĩ rằng điều đó có thể đóng một vai trò trong việc nhận biết của chim bố mẹ". Ông đã cùng với cộng sự bắt tay so sánh sự tăng trọng của chim con "bình thường" với chim con phản xạ tia cực tím. Kết quả thật rõ ràng: Những chim sáo đá con bị trét một lớp gel ngăn tia cực tím tăng trọng ít hơn chim không bị trét gel. Nói cách khác, những chú chim con "tím" nhất sẽ nhận được thức ăn từ bố mẹ nhiều hơn.

Nhóm nghiên cứu cho rằng có thể chúng dễ được bố mẹ nhận ra trong cái tổ tối tăm. Họ cũng quan sát thấy có mối liên hệ giữa độ phản xạ tia cực tím với sức đề kháng của chim con. Như thế, phổ ánh sáng này là một tiêu chí chủ yếu đối với sự sinh tồn của chim con, một sự phân biệt của thị giác mà chúng ta hoàn toàn không nhận ra.

Tài Hoa Trẻ (theo Science et Vie)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn hiện tượng ướp xác tự nhiên ở Colombia


40 năm trước đây, các thợ đào huyệt ở một ngôi làng Colombia đã mở một số quan tài cũ ra và nhận thấy: những xác người bên trong đã khô quắt lại và còn nguyên hình dáng. Làm thế nào những thi thể đó vẫn còn nguyên vẹn đến nay đang là một điều bí ẩn đối với các nhà khoa học.



Xác ướp bên trong hầm mộ ở nghĩa trang San Bernado.


Phát hiện này đã biến nghĩa trang San Bernado thành một điểm dừng chân cho khách du lịch, nơi họ có thể chiêm ngưỡng những xác ướp được cất trong hòm kính: tóc, răng và móng chân, tay vẫn còn nguyên vẹn. Một dòng chữ ở bên trên có ghi: "Hỡi Chúa, hãy cho họ được yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng".

Những xác ướp được phát hiện khi công nhân mở nắp quan tài để chuyển thi thể sang bình đựng di cốt, một thủ tục thông thường để dọn chỗ trong các nghĩa địa ở Colombia. Các nhà khoa học vẫn chưa tìm được cách giải thích kín kẽ cho việc những xác ướp ở nghĩa trang San Bernardo, nằm ở một thung lũng màu mỡ cách thủ đô Bogota 72 km về phía tây nam, không bị phân rã mà lại héo khô như vậy.

Người dân địa phương cho rằng hợp chất hoá học trong đất ở khu vực, sự phân huỷ loài quả bản xứ nhiều gai gọi là guatila, và khí hậu khô cằn đã giúp bảo quản những thi thể này.

Minh Thi (theo AP)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Sự lựa chọn bí ẩn của tự nhiên


Nếu tự nhiên là một cô gái thì người ấy sẽ có 2 tay trái và 2 chân phải - một cơ thể không cân đối. Thật vậy, các phân tử không thể thiếu cho sự sống, các axit amin của protein hoặc đường của ADN, chỉ tồn tại trong một hình dạng không gian duy nhất, chỉ bên phải hoặc chỉ bên trái của hai hình đối nhau qua gương.


Nếu đã tồn tại dạng này, thì dạng kia sẽ không có trong tự nhiên nữa. Tại sao vậy? Có lẽ lời giải ẩn chứa trong từ trường của các ngôi sao.

Từ lâu, vấn đề “cùng tay” của tự nhiên đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà sinh vật học và hóa học, bởi hình dáng của các phân tử sẽ quyết định đến hiệu quả sử dụng của nó. Chẳng hạn, một số loại dược phẩm chỉ có thể sử dụng các phân tử trái, hay phải mà thôi. Louis Pasteur cũng từng cố gắng tạo ra hình dạng của axit tatric có trong nước nho, nhưng vô ích.

Giải thích cho vấn đề cùng phía này, một số nhà sinh học cho rằng, trước kia, số các phân tử phải và trái bằng nhau, rồi tự nhiên đã lựa chọn để chỉ giữ lại một dạng duy nhất, Tuy nhiên họ không có bằng chứng thực nghiệm về điều này. Nhiều nhà hóa học khác lại tin là sự sống chỉ xuất hiện trong một môi trường đã bất đối xứng lớn. Chẳng hạn, sự trùng đôi của ADN là không thể có trong một môi trường mà các phân tử phải và trái bằng nhau.



Ánh sáng và từ trường tác động cùng lúc vào các phân tử trái và phải với số lượng như nhau (A). Những liên kết bị phá vỡ (B) để tạo nên một dạng phân tử trái hoặc phải (C).


Như vậy sự thật cần được tìm ra theo cách khác, đó là các lực bên ngoài tác động vào phân tử. Mới đây, hai nhà nghiên cứu thuộc phòng thí nghiệm từ trường ở Grenoble (Pháp) Geert Rikken và Ernst Raupach, đã lựa chọn ánh sáng và từ trường để làm việc này.

Từ lâu người ta đã biết rằng để nhận biết các phân tử trái và phải, cách tốt nhất là dùng máy chiếu. Bởi sự hút ánh sáng phụ thuộc vào những đặc tính điện của phân tử, hay hình dạng không gian của chúng. Bằng việc phối hợp rất hợp lý giữa ánh sáng và từ trường, Rikken và Raupach đã thành công khi làm mất cân bằng một nhóm các phân tử hóa học ban đầu, gồm các phân tử phải và trái với số lượng như nhau. Các phân tử này hút ánh sáng khác nhau trong điều kiện có từ trường song song với tia sáng. Kết quả là cân bằng bị phá vỡ, các phân tử được tạo ra hoặc chỉ cùng phải, hoặc cùng trái. Từ trường càng mạnh thì sự mất cân bằng càng lớn.

Từ phát hiện này, các nhà nghiên cứu cho rằng rất có thể dạng “tay một phía” - phân tử cùng phải hoặc cùng trái - đã xuất hiện trong các ngôi sao (nơi có từ trường mạnh hơn hàng triệu lần so với trong thí nghiệm và hàng nghìn tỷ lần so với trên trái đất).

Nghiên cứu còn dẫn tới một khám phá thú vị khác. Đó là chỉ cần tạo sự vượt trội rất nhỏ về số lượng của một loại so với loại kia (một phân tử trái được thêm trên 1.000 phân tử phải có trước), thế cũng đủ để làm đảo lộn trật tự các phân tử. Kết quả là chúng đều ở một phía của gương.

Tuy nhiên, để chứng minh được tầm quan trọng của hiện tượng này, hai nhà nghiên cứu còn phải làm được việc tương tự với những phân tử chuyển hóa, như các axit amin. Vấn đề đặt ra ở đây là thiếu phương tiện và một số người phản đối, bởi theo họ, thí nghiệm này đụng chạm đến “nguồn gốc của sự sống”.

(Theo Science et Avenir)





Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn trụ sắt không gỉ


Tại vùng nông thôn miền tây Ấn Độ sừng sững một cây cột sắt được đúc vào thế kỷ 5 sau Công nguyên. Cây cột cao 7 m, dùng thép đã tôi đúc thành, đặc, trên đỉnh trang trí những hoa văn cổ.




Tương truyền cây cột sắt này được đúc để tưởng nhớ nhà Vua Chamdaro. Nhưng điều làm người ta kinh ngạc là cột sắt đứng lộ thiên đã hơn 1.500 năm, trải qua không biết bao mưa gió cho tới tận ngày nay vẫn không thấy một vết gỉ sét nào. Trong khi đó, sắt là kim loại rất dễ gỉ sau vài chục năm chứ không cần nói tới hơn nghìn năm.

Cho tới nay, người trái đất vẫn chưa tìm ra được một phương pháp hiệu quả để chống sự gỉ sét của các đồ làm bằng sắt. Mặc dù theo lý thuyết, sắt nguyên chất là không bị gỉ nhưng sắt nguyên chất khó luyện, giá thành lại cực cao. Hơn nữa, một số nhà khoa học đã phân tích thành phần của cột sắt, phát hiện ra trong đó có rất nhiều tạp chất chứ không phải là sắt nguyên chất. Và theo lý thuyết, cột sắt dễ gỉ sét hơn những loại sắt thông thường.

Nếu cho rằng người Ấn Độ cổ đại đã sớm nắm được kỹ thuật luyện sắt không gỉ và kỹ thuật này đã bị thất truyền thì tại sao họ lại không luyện ra những đồ sắt không gỉ khác? Hơn nữa trong cuốn chế tạo đồ sắt của người Ấn Độ cổ cũng không có một dòng ghi chép nào nói tới vấn đề này.

Cột sắt đó cứ đứng đơn độc sừng sững dường như thách thức với tài trí thông minh khám phá của nhân loại, đồng thời cũng là tượng trưng cho nền văn minh Ấn Độ cổ.

(Theo Khoa Học)



Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Đồng hồ gạch đếm ngược thời gian


Tại một vùng hẻo lánh ở Uzbekistan, có một công trình kiến trúc cổ được dân địa phương gọi là "đồng hồ trần thế". Công trình này được xây lên chỉ để... thành hoang phế vì mỗi năm lại bị rơi mất một viên gạch, mà theo dân sở tại, khi viên gạch cuối cùng rơi khỏi bức tường thì đó cũng chính là ngày tận thế!



Tamerlan.


Người xưa khi xây dựng công trình này hẳn cho rằng cuộc sống trần gian không trường tồn vĩnh cửu. Ở phương Tây không ít nhà tiên tri đã đưa ra những câu sấm về ngày tận thế, nhưng rất mơ hồ, khiến hậu bối phải đau đầu giải mã với những kết quả khác nhau một trời một vực. Còn nơi đây, ngày cuối cùng của cuộc sống trần gian dường như đã được những người xây dựng công trình biết chắc, vì số lượng gạch là hữu hạn.

Nói đến đồng hồ, con người hiện đại thường liên tưởng đến mặt số, kim giờ, kim phút... nhưng đối với những người phương Đông cổ, thời gian không "chạy" mà "trôi" và được tính không phải bằng giờ, phút, giây... mà bằng thập kỷ, thế kỷ, thiên niên kỷ. Thời gian dường như không quan trọng bằng thời thế. Vì vậy, "đồng hồ trần thế" ở làng Guiaur-Kala thuộc vùng Nukus của Uzbekistan là một tòa lâu đài khá lớn thủa ban đầu mà mỗi năm từ trong tường rơi ra một viên gạch. Quá trình "đếm ngược thời gian" này diễn ra từ bao giờ không ai biết, nhưng số gạch còn lại có thể tính được với một kết quả gần đúng. Phải chăng tác giả công trình đã dự đoán chính xác ngày tận thế, thể hiện qua số lượng gạch xây tường? Lại còn một điều gây thắc mắc: cơ chế nào khiến hằng năm, vào một ngày đẹp trời nào đó, đúng một viên gạch tự rơi khỏi bức tường mà không do bất cứ một lực tác động nào từ bên ngoài?

Người hiện đại hẳn không mấy ai tin kiểu đếm ngược thời gian kỳ quặc này, song họ cũng không dám kiểm tra nó. Ngay cả giới trí thức, khoa học địa phương cũng tỏ ra sùng kính "tòa đồng hồ gạch". Tương truyền, đây là lăng mộ của Tamerlan, thủ lĩnh của một bộ lạc hùng mạnh từng tồn tại ở vùng này từ thời cổ xưa. Lúc lâm chung, ông có lời nguyền sẽ hủy diệt cuộc sống của loài người nếu có kẻ nào động đến nơi yên nghỉ vĩnh hằng của ông. Người ta còn liên hệ tới một sự kiện lịch sử: ngày 20/6/1941, các nhà khảo cổ Xô Viết khai quật hầm mộ của Amir Temur - một vị tướng lỗi lạc của Uzbekistan thời trung đại, cũng có lời nguyền tương tự - và chỉ vài giờ sau, phát xít Đức tấn công Liên Xô, gây ra cái chết cho 20 triệu người nước này qua 4 năm chiến tranh khốc liệt. Có thể đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng sau sự việc đó, không ai dám động đến nơi yên nghỉ của Tamerlan. Nhờ những nỗ lực của cán bộ văn hóa địa phương, công trình này đã được xếp hạng là di tích lịch sử, văn hóa. Du khách cứ việc đến tham quan, chiêm ngưỡng, nhưng tuyệt nhiên không ai dám "thủ" lấy một viên gạch về làm kỷ niệm như thường thấy ở các nơi khác.

Những dữ kiện làm rối thêm câu chuyện

Vùng đất nơi tọa lạc "đồng hồ trần thế" cũng có những điểm khác thường. Ở ngoại ô thành phố Nukus, không xa tòa "đồng hồ gạch" có một quần thể lịch sử - khảo cổ mang tên Mizdakhan. Đó là một nghĩa địa cổ rộng khoảng 1 km2, trên 2.000 năm tuổi. Theo các nhà sử học, đó là một trong những nghĩa địa cổ nhất trên toàn châu Á. Các sử liệu cho biết, ngay trên mảnh đất của nghĩa địa này, thời cổ đại từng tồn tại một tòa thành lớn. Không ai biết tên gọi nguyên thủy của tòa thành, nhưng từ khi đạo Hồi được truyền bá tới đây, thành được gọi tên Guiayr-kala, tức là "thành phố của những người không tin vào thượng đế". "Những người không tin vào thượng đế" ấy là ai? Các nhà khoa học Uzbekistan cho rằng đó là những môn đồ của Zoroastrianism-đạo thờ thần Lửa (và chính từ nơi đây, đạo này lan tới nhiều nơi trên thế giới). Lại có một truyền thuyết dân gian địa phương cho rằng Gaiomard, ông tổ của loài người và cũng là tổ sư của đạo thờ thần Lửa, được chôn cất đúng ngay nơi bây giờ là tòa "đồng hồ trần thế", nhưng truyền thuyết không cho biết vị sư tổ này có lời nguyền ghê gớm gì như Tamerlan tướng quân hay không.

Tòa gạch đồng hồ đã thu hút rất nhiều khách hành hương, đủ mọi tôn giáo. Dù thuộc tôn giáo nào, họ đến đây không chỉ được thấy tận mắt "chiếc đồng hồ trần thế", mà còn vì một đức tin mãnh liệt: xếp 7 viên gạch rời thành một chồng và ước nguyện điều gì thì điều ước đó chắc chắn thành hiện thực. Ngày nay, xung quanh tòa "đồng hồ" vẫn còn vô số những chồng gạch 7 viên của khách thập phương. Những người đến sau có thể phá những chồng gạch của người đến trước để chồng gạch của mình lên mà không bị ngăn cấm hay phản đối.

Tại sao "chồng gạch ước nguyện" gồm 7 viên mà không phải là con số nào khác? Vấn đề ở chỗ khu nhà nguyện cho khách hành hương ở gần đấy có đúng 7 ngọn chóp tròn. Khu nhà nguyện này mang tên Shamun-Nabi, một vị thánh được sùng bái ở vùng Trung Á. 7 ngọn chóp tượng trưng cho 7 người con gái của ông. Tương truyền, Shamun-Nabi còn là một nhà phù thủy linh nghiệm, nhiều người trong cơn khốn cùng đã tìm đến ông nhờ cứu giúp. Những người được giúp đỡ đã đến xếp 7 viên gạch để tạ ơn ông. Từ đó, lại có giả thuyết rằng tòa lâu đài "đồng hồ gạch" chính là nơi chôn cất vị thánh này. Giả thuyết càng được củng cố bởi sự kiện sau đây: cỗ quan tài đá dài 25 mét trong khu nhà nguyện vốn được cho là quàn thi hài Shamun-Nabi, nhưng cách đây không lâu, khi các nhà nghiên cứu quyết định mở nắp thì phát hiện ra rằng đó chỉ là cỗ quan tài rỗng. Đào sâu xuống bên dưới, họ quả có phát hiện thấy một vài mảnh vụn xương người đã phân hủy gần hết. Nhưng các phân tích bằng máy lại cho kết quả rằng đó là một phụ nữ độ tuổi 30-35, được chôn cất từ thế kỷ 14. Tóm lại, càng nhiều dữ kiện, câu chuyện càng thêm rắc rối. Nhưng các dữ kiện không chỉ có thế. Ở gần khu đồng hồ gạch còn có quả đồi Jomard Kassap, cũng được coi là một chốn linh thiêng. Cứ 10 ngày một lần, những người phụ nữ muốn sinh con kéo đến đây cầu khấn. "Thủ tục" bắt buộc là sau khi khấn nguyện, từ đỉnh đồi, khổ chủ phải lăn đúng 7 vòng xuống bên dưới. Các nhà nghiên cứu cho rằng giữa ngọn đồi này và tòa đồng hồ gạch có một mối liên hệ huyền bí nào đó.

Điều lo ngại dành cho tương lai

Trở lại với tòa đồng hồ gạch. Giả sử đó thật sự là phương tiện đếm ngược thời gian của trần thế, việc tính xem thời gian đó còn bao lâu cũng chẳng khó khăn gì. Một người bình thường cũng có thể thực hiện việc đó với sai số chỉ đến hàng chục. Nhưng thật lạ là cho đến nay vẫn không một ai bắt tay tính đếm. Đặc biệt, chẳng ai có thể khẳng định các viên gạch rời tường chính xác vào thời gian nào trong năm và viên gạch nào sẽ "rụng" vào năm tới. Theo tính toán chung, cho đến thời điểm hiện nay, tòa lâu đài đã bị hủy hoại (hay tự hủy hoại?) khoảng 35-40%, phần chóp tròn (hình củ hành) và phần lớn bức tường phía bắc đã không còn nữa. Bức tường phía tây tuy còn một vết nứt khá lớn, song trông còn khá vững chắc. Hai bức tường phía nam và đông, theo đánh giá của các chuyên gia, có thể bền vững muôn đời nếu gạch không bị "rụng từng viên một" bởi một lực tác động vô hình nào đó. Lại giả sử tòa đồng hồ gạch này đã tồn tại 2000 năm (không thể ít hơn) thì sự "tự hủy hoại" của nó còn kéo dài 3000-4000 năm nữa.

Chuyện của vài nghìn năm sau chưa phải là nỗi lo cấp bách của chúng ta ngày nay. Nhưng rồi cũng đến ngay viên gạch cuối cùng rơi xuống. Lúc đó, cháu chắt chúng ta sẽ cười thầm về sự ấu trĩ của tổ tiên hay... chẳng còn cơ hội nào để cười hoặc khóc?

Thế Giới Mới (theo Itogi)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn xung quanh cuốn di cảo Voynich thế kỷ 13


Cuốn sách khổ 14,6 cm x 21,6 cm, gồm 232 trang giấy da cừu. Nét chữ đều chằn chặn, không tẩy xóa, kể cả các hình minh họa. Hẳn người viết đã cân nhắc rất kỹ trước khi đặt bút. Có điều, đó là một kiểu chữ chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, còn những hình vẽ thực vật và động vật lại không hề giống với những gì chúng ta thấy trên mặt đất.



Một trang trong Bản cảo Voynich.


Nguồn gốc của cuốn sách cũng không rõ ràng. Một tài liệu lịch sử viết năm 1666 cho hay, nó được Hoàng đế Rudolf II (1552-1612) của Đức mua với giá cao khủng khiếp: 600 thùng vàng. Vị vua này đoán rằng cuốn sách bí hiểm được nhà bác học và tiên tri Roger Bacon (1220-1292) viết ra, và trong đó hẳn chứa những kiến thức kỳ lạ, những lời sấm về tương lai.



Cuốn sách được viết bằng bút lông với nét chữ đều đặn, chính xác và sạch sẽ kỳ lạ. Ký tự thoáng nhìn như chữ latinh, nhưng kỳ thực đó là một kiểu chữ chưa từng có trong lịch sử chữ viết nhân loại. Một số hình vẽ trông giống người và cây cỏ, nhưng lại không phải vậy.

Cuốn sách nổi tiếng này hiện được giữ như một báu vật tại Đại học Yale (Mỹ). Nó còn có tên là Bản cảo Voynich. Các nhà nghiên cứu ký tự cổ hàng đầu thế giới đã vắt óc để tìm ra những "điểm yếu" của văn bản. Điểm yếu ở đây được hiểu là các đoạn chữ mà những ký tự xuất hiện có quy luật. Trong kỹ thuật giải mã chữ, những điểm yếu này là chìa khóa để mở bí mật của một ngôn ngữ. Cũng bằng cách này, nhà ngôn ngữ học Mỹ Herbert Yardley đã giải được nhiều đoạn mã trong các công hàm ngoại giao mật của Nhật Bản, dù ông
không giỏi tiếng Nhật. Tuy nhiên lần này, Yardley không tìm ra được những tín hiệu lặp lại thường thấy ở một ngôn ngữ trong Bản cảo Voynich. Theo Yardley, cái được viết trong bản cảo này có thể không phải ngôn ngữ mà chúng ta biết, hoặc nó đã được mã hóa nhiều lần một cách tài tình đến nỗi không thể lần ra được nữa.



Sự việc không dừng lại ở đó. Ở trang cuối của cuốn sách, có một đoạn được viết bởi chữ của một người khác, có lẽ là một lời nhận xét. Nét chữ mờ mịt, rối rắm, hầu như không thể đọc được. Nhưng sau nhiều năm mày mò, Giáo sư William R. Newbold, Đại học California (Mỹ), tin rằng trong đó có một đoạn tiếng latinh: A mihi dabas multas portas. Newbold khẳng định, nội dung cuốn sách đã được mã hóa nhiều lần. Có thể tác giả đã ghép hai hoặc ba chữ cái latinh thành một chữ cái theo cách nào đó. Tuy nhiên, ông cũng chỉ dừng lại ở đây mà không thể giải thêm được gì nữa.



Gần đây nhất, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng tại Đại học Yale, Giáo sư Brumbaugh, cho rằng Bản cảo Voynich được viết bằng một bảng mã gồm 26 ký tự. Con số này trùng lặp với số chữ cái latinh (liệu đây có phải là một sự ngẫu nhiên?). Có điều, mọi giải pháp latinh hóa những ký tự này, rồi thay vào các dòng chữ viết tay trong bản cảo, đều tạo ra các đoạn chạy không theo quy luật, và có vẻ không mang một ý nghĩa gì. Brumbaugh cho rằng, có lẽ nội dung cuốn sách đã được mã hóa theo hệ ngôn ngữ khác latinh. Đến nay, Bản cảo Voynich vẫn còn là một bí ẩn.

Minh Hy (theo Freenet.DE)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Tượng tiki bí ẩn ở Hawaii


Hơn 20 bức tượng gỗ quý hiếm có từ đầu thế kỷ 19 mới được phát hiện trong một hang động ở North Kona, Hawaii. Chúng được coi là tiki, một vị thần được thổ dân Hawaii thờ cúng.



Những công nhân xây dựng đã vô tình phá thủng một hang nham thạch khi đang chuẩn bị xây dựng sân golf. Hang nham thạch là những hang được tạo ra từ dung nham đã bị khô cứng. Tương tự như hang đá vôi, một số hang ở Hawaii nằm sâu 15 m dưới mặt đất.

Lịch sử gia Herb Kane cho biết những bức tượng với các hình khắc khác nhau có thể đã được giấu trong hang khi tín ngưỡng bị xem là ngoại đạo này bị cấm vào năm 1819.

Khi đó những tín đồ Cơ đốc đã đến định cư ở hòn đảo này và với sự hậu thuẫn của vua Liholiho Kamehameha II và người mẹ kế nhiếp chính, Cơ đốc giáo trở thành tín ngưỡng chính thống, thay thế đạo thờ thần tiki. Sau khi bị cấm, các ngôi đền bằng đá bị phá huỷ và các tượng thần bằng gỗ bị đốt.

Tiki đóng vai trò trung tâm trong hình thức tôn giáo cổ xưa. Hầu hết các bức tượng mang hình ảnh con người với đôi chân gập phía dưới. Tiki cũng ám chỉ tên của người đàn ông đầu tiên, theo truyền thuyết của người Polynesi.

Trong lúc này, do tranh chấp với các nhóm thổ dân Hawaii về quyền kiểm soát những vật thể tìm được, hang động và tượng tiki đang được niêm phong và kiểm soát chặt chẽ.

M.T. (theo Discovery)


Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn về những ngọn đèn vĩnh cửu


Đèn cháy hết bấc và hết dầu thì phải tắt, ấy vậy mà vẫn có những ngọn đèn rực sáng qua hàng thiên niên kỷ với cả “dầu” lẫn bấc còn nguyên. Phải chăng, người xưa đã tìm ra kỹ thuật cháy trong chân không hay có thể duy trì sự cháy mà không cần ôxy.



"Đèn" của người Ai Cập cổ đại.


Nhà thơ trào phúng Hy Lạp Lucian (120-180) là người thích chu du. Một lần, khi đặt chân đến Syrie và thăm thú khu vực Heirapolis, ông nhận thấy một pho tượng rất lớn đặt giữa một ngôi đền. Trên trán pho tượng là một viên ngọc sáng rực, soi rõ cả khu vực vào ban đêm. Trên bàn tay phải là một ngọn đèn vĩnh cửu. Theo lời kể của dân địa phương thì “không ai biết ngọn đèn ấy cháy từ bao giờ và bao giờ tắt”. Hoàng đế Numa Pompilius (La Mã) cũng có một ngọn đèn vĩnh cửu và không hề tiết lộ tại sao nó cứ cháy mãi.

Từ thế kỷ thứ nhất, triết gia La Mã Pliny đã cho rằng ngọn đèn vĩnh cửu phải được thắp bằng một loại dầu đặc biệt và có một sợi bấc cũng hết sức khác thường. Lời kết luận mơ hồ này được các nhà khoa học ngày nay bổ sung như sau: đó là một loại dầu cực kỳ tinh khiết (không hề có tạp chất), còn bấc có lẽ được làm từ amiante. Tất nhiên, để được gọi là ngọn đèn vĩnh cửu thì nó phải phát sáng ít nhất là vài chục năm mà không cần châm dầu, thay bấc.

Thế kỷ thứ hai, nhà nghiên cứu Pausanius đã mô tả khá chi tiết một ngọn đèn vĩnh cửu trong tác phẩm Atlicus. Sự trùng hợp nằm ở chỗ, có khoảng vài trăm tư liệu khác cũng nói về cây đèn này. Nó nằm trong ngôi đền Minerve Polius ở Athen (Hy Lạp), do một người có tên là Callimadun sáng chế. Nhiều tác phẩm cổ xưa của Hy Lạp đôi khi cũng nhắc đến nhân vật này: “…Một người tài hoa, biết chế tạo những dụng cụ hết sức kỳ lạ, đặc biệt là những ngọn đèn vĩnh cửu. Ông ta có loại dầu đặc biệt, cho phép những ngọn đèn này cháy mãi”. Đền thờ thần Apollon Carneus và đền Aberdain đều có một bàn thờ, trên đó có ngọn đèn vĩnh cửu.

Nhưng cháy mãi là một chuyện, còn cháy trong gió mưa lại là bí ẩn lớn hơn nhiều.

Saint Augustin (354-430) đã mô tả về một ngọn đèn vĩnh cửu trong ngôi đền Isis (Ai Cập). Điều khó hiểu nhất là nó nằm ở phần không có mái che, bất chấp gió mưa. Tương tự như thế, ngọn đèn ở Edessa (Syrie) đã cháy suốt 500 năm trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Năm 1300, lý thuyết “dầu đặc biệt” được soi rõ phần nào, khi nhà nghiên cứu Marcus Grecus viết trong tác phẩm Liber Ignum (Sách lửa) rằng một số ngọn đèn vĩnh cửu có dùng nhiên liệu đặc biệt. Đó không phải là dầu mà chỉ là một loại bột mịn được tạo ra từ những “con sâu phát sáng”, nhưng là loại sâu gì thì Marcus không biết và bí ẩn mãi mãi bị chôn vùi. Marcus chỉ nói rằng “ta đã quan sát sợi bấc, nó dài bằng cánh tay ta. Rất lâu sau đó, ta quay lại và thấy chiều dài của nó vẫn thế, chẳng có ai thay bấc mới hay trút thêm bột”.

Năm 1401, trong mộ phần Pallas (con trai vua Evandra - La Mã), người ta tìm được một ngọn đèn vĩnh cửu và cho rằng nó đã cháy được 2.600 năm. Để dập tắt nó, theo các bậc cao niên, chỉ có cách đập vỡ tất cả hoặc trút ngược “dầu” của nó.

Năm 1450, một nông dân ở Padoue (Italy), trong lúc cày xới cánh đồng của mình đã tìm được một cái bình bằng đất nung, kế đó là hai bình nhỏ bằng kim loại, một bằng vàng và một bằng bạc. Trong hai hũ này là một loại chất nhờn kỳ lạ, nửa như dầu nửa như mật ong. Bên trong cái bình bằng đất nung là một cái bình đất nung khác đựng một ngọn đèn vĩnh cửu vẫn đang cháy. Bị chôn dưới đất (không biết từ bao giờ) và cháy trong điều kiện ít ôxy như vậy, đó quả là một bí ẩn.

Năm 1610, nhà nghiên cứu Ludovicius Vives khẳng định ông đã từng nhìn thấy một ngọn đèn vĩnh cửu (cháy qua 1.500 năm) và bị đám thợ gốm đập vỡ. Nhà sử học Cambden (Anh) vào năm 1586 cũng nhắc về một ngọn đèn vĩnh cửu tại phần mộ của Constantius Chlorus, cha của Costantin Đại Đế. Chlorus qua đời năm 306 ở Anh và từ đó, có một ngọn đèn vĩnh cửu được đặt trong phần mộ của ông. Vua Henri 8 vào năm 1539 đã giải tán rất nhiều nhà thờ và tu viện ở Anh, từ đó, có rất nhiều ngọn đèn vĩnh cửu được thắp lên và không bao giờ tắt, trừ khi bị đập vỡ. Ở Tây Ban Nha, cũng có một ngọn đèn vĩnh cửu được tìm thấy tại Cordone vào năm 1846.

Các phát hiện nói trên chứng tỏ những ngọn đèn kỳ bí này không phải là sản phẩm của riêng Hy Lạp, Ai Cập hay La Mã. Linh mục Evariste - Regis Huc (1813-1860) là người rất thích du ngoạn ở châu Á và đã tìm được một ngọn đèn bất tử như vậy ở Tây Tạng vào năm 1853.

Nhưng tại sao thông tin về loại đèn bí ẩn này lại ít ỏi đến vậy? Một số người cho rằng chúng chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng, vì người xưa không thể nào tạo ra những kỳ tích như thế. Tuy nhiên, một số nhà sử học lại lập luận rằng, “vậy bằng cách nào, người ta có thể tạo ra kim tự tháp khi mà cần cẩu, xe nâng hay xe tải chưa xuất hiện?”. Nhà hóa học Brand (Hambourg - Đức) vào năm 1669 nhận định những ngọn đèn vĩnh cửu này cháy lâu như thế là do phốt pho. Người khác lại cho rằng chúng cháy lâu là do không cần không khí, ngược lại, nếu tiếp xúc với không khí chúng sẽ tắt. Nếu quả ý kiến này là đúng, thì lẽ nào người xưa đã biết kỹ thuật hút chân không? Vả chăng, lửa cháy không cần ôxy là chuyện hết sức khó hiểu.

Những cuộc tranh luận này buộc người ta quay về một bí ẩn khác: kỹ thuật chiếu sáng của người Ai Cập.

Trên các đường phố Ai Cập cổ, người ta dùng đèn dầu và đuốc. Nhiên liệu là những cặn bã có nhiều chất béo và chất nhờn. Nhưng ở những hầm mộ được đào sâu vào núi đến 100 mét thì các nô lệ và nhà điêu khắc đã làm việc với ánh sáng gì? Trong các hầm mộ này, không hề có dấu vết của ngọn đèn hay ngọn đuốc nào. Vậy phải chăng người Ai Cập đã dùng các loại gương để phản chiếu ánh sáng mặt trời? Nhưng các loại “gương” thời ấy chỉ bằng bạc, và chỉ có thể phản chiếu 40% ánh sáng, nghĩa là ở độ sâu vài chục mét, bóng tối sẽ lại bao phủ hoàn toàn.

Và rồi một phát hiện chấn động đã làm thế giới khảo cổ bàng hoàng: tại đền Hator ở Denderah (được xây dựng cách đây hơn 4.200 năm) có một gian phòng nằm rất sâu. Trong đó có những bức vẽ cho thấy người Ai Cập “đã sử dụng những dụng cụ kỳ lạ trông như bóng đèn điện ngày nay!”. Phải chăng đây chính là kỹ thuật ánh sáng bí ẩn. Nhà khoa học Erich Von Daniken (Đức) đang cố công tái tạo những bóng đèn to tướng này trong phòng thí nghiệm, nhưng vẫn chưa tìm được cốt lõi của vấn đề. Các nhà Ai Cập học cũng chào thua, vì rõ ràng thời ấy chưa có điện. Vậy, những ngọn đèn ấy được thắp sáng bằng gì? Giải được bài toán này, chúng ta cũng sẽ có câu trả lời cho bí ẩn về những ngọn đèn vĩnh cửu.

Thế Giới Mới (theo Lycos, Marcogce)
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Bí ẩn của những tượng đá trên đảo Phục Sinh


Trên hòn đảo nhỏ ở nam Thái Bình Dương này, hàng trăm bức tượng đá cao từ 7-10 mét (mỗi bức nặng gần 90 tấn) vẫn ngoảnh mặt ra biển như đợi chờ một điều gì đó trong suốt mấy nghìn năm qua. Đến nay, người ta vẫn chưa hiểu vì sao các cư dân cổ xưa có thể dựng những bức tượng khổng lồ này.



Các bức tượng trên đảo Phục Sinh.

Đúng vào ngày lễ Phục sinh năm 1772, một đoàn thám hiểm Hà Lan do đô đốc hải quân Iacopu Rosiven dẫn dần đã đặt chân lên hòn đảo rộng chưa đầy 18 km, dài 24 km này. Họ vô cùng kinh ngạc khi thấy vòng quanh đảo có trên 600 pho tượng mặt người, to nhỏ khác nhau, sắp thành hàng trên các bệ đá. Có bức cao tới trên 30 mét và nặng vài trăm tấn. Các bệ đá đều vuông vức, cao trên 4 mét. Tổng cộng có hơn 100 bệ, mỗi bệ đặt từ 4-6 pho tượng.

Điều giống nhau ở các pho tượng đá là đều có khuôn mặt dài, hai mắt lõm sâu, lông mày rậm rịt, miệng nhô, tai dài, sống mũi cao gồ. Chúng có đôi tay dài, nhất loạt đặt trước bụng, mặt hướng ra biển như trông ngóng một điều gì đó.

Ngoài ra, đoàn thám hiểm của Rosiven còn phát hiện trên 300 pho tượng mặt người trong tình trạng chế tác dang dở ở phía đông nam đảo. Pho lớn nhất cao tới 22 mét, nặng khoảng 400 tấn.

Quanh các pho tượng còn dấu tích của đá gọt rải rác cùng 40 hố sâu giống nhau phân bố khắp vùng. Các nhà khoa học trong đoàn không sao lý giải nổi nguồn gốc các pho tượng này. Sau này, nhớ lại thời điểm đặt chân lên đảo, Rosiven đã đặt tên nó là đảo Phục Sinh.

Bí ẩn của các tượng đá trên đảo Phục Sinh đã cuốn hút sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trong suốt ba thế kỷ qua. Các chuyên gia về văn hóa cổ thuộc Đại học Hoàng gia Anh cho rằng, những tác phẩm điêu khắc trên đảo Phục Sinh là một bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa cổ Polynesia ở Thái Bình Dương.

Cùng quan điểm trên, vào năm 1926, chuyên gia nhân chủng học Mỹ, Tiến sĩ Yanmus Quisiwa, cho xuất bản công trình nghiên cứu nổi tiếng có tựa đề “Đại lục chìm đắm MV”. Trong đó, ông chứng minh rằng MV là cái nôi của loài người. 50.000 năm trước, số dân ở đây lên tới 64 triệu người, và đã có một nền văn hóa phát triển khá cao.

MV là đại lục có lịch sử lâu đời. Do những vận động của vỏ trái đất, đại lục này đã bị chìm xuống đáy biển kéo theo toàn bộ sinh linh cùng với nền văn minh của họ. Phần còn lại của “đại lục” chính là quần đảo Polynesia, thuộc vùng biển Thái Bình Dương.

Theo Quisiwa, phía đông đại lục MV là vùng quần đảo Polynesia (trong đó có đảo Phục Sinh), phía tây tiếp giáp Phillippines, phía bắc giáp đảo Hawaii. Diện tích đại lục MV tương đương với Nam Mỹ. Phần lớn đại lục là bình nguyên, phù hợp với nghề trồng trọt và chăn nuôi. Với nền văn hóa và phát triển cao, người dân xứ MV đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, trong đó có những tượng đá lớn đặt khắp nơi trên lãnh thổ của họ. Thế nhưng thảm họa đã xảy ra và nhấn chìm hầu hết diện tích đại lục. Riêng đảo Phục Sinh, một góc nhỏ nhoi ở vòng ngoài lục địa, đã may mắn còn sót lại vài trăm cư dân và cả ngàn pho tượng đá mặt người.

Tuy nhiên, những bức tượng đá đồ sộ như vậy đã được tạo dựng như thế nào vẫn còn là một bí ẩn. Với cả ngàn pho tượng, ít nhất cũng phải tập trung hàng nghìn người trên công trường, đòi hỏi công tác hậu cần, tổ chức, chỉ huy… rất chặt chẽ. Các nhà khoa học một lần nữa đứng trước câu hỏi lớn, tương tự như khi người ta khảo sát kỹ thuật xây dựng của người Ai Cập cổ trong các kim tự tháp.

Khi xác định niên đại nền văn hóa khắc đá trên đảo Phục Sinh, giới khảo cổ học rất chú ý tới ý kiến của nhà khảo cổ học Tua Haiati (Mỹ). Ông đã dùng phương pháp carbon phóng xạ xác định được tuổi của các đống than củi còn sót lại trên đảo 4.000 năm trước Công nguyên. Như vậy, các tượng đá mặt người trên đảo Phục Sinh tính đến nay đã 6.000 tuổi.

Một số nhà khoa học đưa ra ý kiến rằng nền văn hóa khắc đá kỳ lạ tồn tại ở đây không có mối liên quan nào với nền văn minh của cư dân quần đảo Polynesia. Bởi vì "đảo Phục Sinh mới có người cư trú của loài người từ trên dưới 1.000 năm nay", nên họ không thể là tác giả của các pho tượng đá đã trên 6.000 năm tuổi. Vậy nên, nhà điêu khắc đích thực của chúng phải là “người ngoài hành tinh”. Nhóm khoa học này đã đưa ra các lý lẽ sau:

- Có một số pho tượng đá có hình đầu con ếch, miệng ếch bẹt nhô ra ngoài, mặt tròn nhìn lên bầu trời. Đây có thể là chân dung của người ngoài hành tinh. Trong các thư tịch cổ cũng miêu tả người ngoài hành tinh rất giống loại tượng này.

- Giả sử 6.000 năm trước, đảo Phục Sinh có người nguyên thủy sinh sống, thì những công trình kỳ vĩ trên đảo đã vượt xa khả năng của họ, như thiết bị xây dựng siêu nặng, công nghệ chế tác dụng cụ vận chuyển hết sức tinh vi....

- Theo truyền thuyết của thổ dân vùng nam Thái Bình Dương, ở đây từng có người bay từ trên trời xuống đảo. Tướng mạo của giống người bay này hoàn toàn giống với các tượng đá “người ếch xanh” xen lẫn trong 1.000 pho tượng đá mặt người.

Nhóm khoa học trên đưa ra giả thuyết khá thuyết phục sau: Khoảng 6.000 năm trước, đoàn thám hiểm của người hành tinh lạ đã dùng phi thuyền bay đến trái đất, và nơi hạ cánh đầu tiên của họ là đảo Phục Sinh. Để đánh dấu chuyến viếng thăm này, họ đã dựng lại hàng loạt tượng đá với công nghệ rất cao. Bằng ngôn ngữ là các pho tượng, họ muốn đánh dấu tọa độ đổ bộ và muốn thông tin với người trái đất về sức mạnh của họ. Nhưng đã 6.000 năm trôi qua, tại sao chủ nhân của những pho tượng này không một lần quay lại? Bí ẩn của 1.000 pho tượng đá trên đảo Phục Sinh vẫn chưa có lời giải.

(Theo Tài Hoa Trẻ)


Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
mấy pác nhẽ ra phải cho phần này vào khoa học huyền bí mới phải chứ[sm=beatup.gif]
Trọn Kiếp Chỉ Yêu Mình Em
Đăng nhập để trả lời
0
Thực ra như Bác học điên nói cũng đúng nhưng VDTH nghĩ những điều nêu ở trên có thể đưa và khoa học phổ thông cũng được.[:)]
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Lời nguyền - Truyền thuyết hay điều có thật đã được mã hoá


Vào thế kỷ 17 và 18, những hầm mộ đầu tiên của các Pharaon bị khai quật. Từ đó, câu chuyện có thật về lời nguyền đã hơn một lần vượt khỏi các kim tự tháp, vang lên điều răn đe khủng khiếp. Người ta nhớ đến vụ cả nước Anh run lên vì cái nắp quách được tìm thấy vào năm 1860, thuộc sở hữu của Viện Bảo tàng Hoàng gia Anh.



Liệu những cái chết bí ẩn xung quanh kim tự tháp có liên quan đến lời nguyền.


Cái nắp đó lấy lên từ phần mộ của một nữ tu sĩ thời xưa. Khi về Anh quốc, vật phẩm lạ kia đã gieo rắc tai họa cho tất cả những người tiếp xúc với nó. Người chủ sở hữu đầu tiên là ông Douglas Murray. Ông này bị mất hẳn một cánh tay ngay sau khi mua cái nắp bởi một viên đạn phát nổ từ chính khẩu súng của mình. Ít lâu sau, người thứ hai nếm trải sự trừng phạt là một nhà báo ở London. Cô mượn cái nắp về nhà để… xem. Ít ngày sau, mẹ cô đột ngột qua đời, rồi lời hứa hôn bị tan vỡ và cô bị mắc một chứng bệnh nan y bí hiểm, y học thời đó bó tay.

Nhưng sự trừng phạt vẫn tiếp tục khi ông Murray “cung tiến” cái nắp quỷ quái nọ cho Viện Bảo tàng. Một nhà khoa học về Ai Cập, khi đang xem xét những dòng chữ cổ in trên nắp, bỗng lăn ra chết bất ngờ. Nạn nhân tiếp theo là một nhà nhiếp ảnh. Ông này đột tử sau khi chụp được tấm ảnh làm rõ nét gian ác của khuôn mặt vẽ phía ngoài nắp (mà ai cũng cho là gương mặt hiền lành, khả ái)…

Tin đồn về sự ghê gớm của cái nắp quách lan nhanh đến nỗi vào thập niên 1930, đồ cúng lễ từ khắp hành tinh tới tấp gửi về Viện bảo tàng Hoàng gia Anh, đặc biệt là các vòng hoa quanh nắp luôn tươi mới. Nhưng nhiều cái chết kỳ lạ và đột ngột vẫn liên tiếp diễn ra ở các điểm khai quật khảo cổ ở Ai Cập và những nơi khác trên thế giới.

Lời nguyền không chỉ có từ các đồ vật ở mộ phần các Pharaon. Những vị chủ nhân khác cũng có khả năng “tẩm” lời nguyền độc địa vào cái mà họ cảm thấy cần giữ gìn. Thurston Hopkins ghi lại câu chuyện như sau:

Vào thời Nữ hoàng Victoria, tên sát nhân William Corder đã giết chết tình nhân của hắn tại Polsted (nước Anh) vào khoảng tháng 5/1827. Hắn bị hành hình. 50 năm sau, phần thi thể của tên sát nhân được vị bác sĩ có tên Kilmer cất giữ. Ông là một nhà khoa học có quan điểm rõ ràng đối với hiện tượng kỳ bí. Vị bác sĩ đã tách chiếc sọ của tên giết người, đánh bóng nó và bày “làm cảnh” ở phòng làm việc. Thế rồi điều kỳ lạ xảy ra. Vị bác sĩ và cả cô hầu đều cùng nhìn thấy lúc mơ hồ, lúc rất rõ kẻ lạ mặt đứng trong phòng, vận y phục thời Victoria. Riêng bác sĩ Kilmer còn nghe rõ cả tiếng lẩm bẩm và hơi thở phì phò. Nhiều lần nửa đêm thức giấc, bác sĩ nghe nhiều tiếng động bất bình thường ở căn phòng chứa cái sọ. Một đêm, cơn gió lạnh từ đâu thốc tới, giữa lúc Kilmer bước vào phòng, cái giá đặt sọ rơi vỡ tung, còn sọ tên sát nhân tự dịch chuyển sang vị trí khác và ông thấy nó như cười nhăn nhở (?). Kilmer đã kiểm soát nhà cửa nhưng tịnh không thấy dấu hiệu nào của người lạ hiện diện bên trong. Vị bác sĩ, nhà khoa học, thật sự thảng thốt. Ông đem chiếc sọ Corder trả lại cho cha Thurston Hopkins, ông này đem các thứ ấy chôn cất ở nghĩa địa. Từ đó trở đi, hiện tượng kỳ lạ trong gia thất bác sĩ Kilmer cũng biến mất.

Chuyện chiếc áo khoác của Nhà hát Công tước York gây ra nỗi khiếp sợ đến lạnh người. Vào năm 1948, Thora Hird, nữ diễn viên hài kịch nổi tiếng đã mặc chiếc áo đó khi trình diễn một vở kịch. Cô kinh hãi khi thấy chiếc áo cứ ngày càng thít chặt vào mình. Tất cả đồng nghiệp của cô cũng gặp nỗi sợ tương tự khi khoác chiếc áo này lên người...

Phải chăng lời nguyền đã bao phủ lên tai họa trong các câu chuyện trên, hay tai họa có nguyên do từ nỗi khiếp sợ ám ảnh. Câu hỏi vẫn lơ lửng khi người ta ngày càng tìm thấy nhiều bằng chứng kỳ bí ở những vật hiếm hoi, đắt tiền hơn. Viên kim cương “Hy vọng” là điển hình của chuỗi giai thoại theo mô típ ấy: Mở đầu là thảm họa của vị chủ nhân thứ nhất: mất cả người lẫn của. Sau đó tai ương giáng xuống hoàng hậu Marie Antoinette, cũng từ việc sở hữu “Hy vọng”. Tiếp đến, nó liên tiếp reo rắc những vụ tự sát, khuynh gia bại sản cho một loạt những người khác, trong đó có một vị vua Hồi giáo mất ngôi.

Đi tìm lời giải cho truyền thuyết có thật về lời nguyền, nhiều nhà khoa học đồng tình với ý kiến cho rằng nguyên nhân của những cái chết và cả loạt tai họa bí ẩn trên là do một loại vi khuẩn “chưa biết đến” đang nằm yên trong hầm mộ, tích tụ ngày một nhiều trong các đồ vật. Khi hầm mộ được khai quật, các “quái vật” nhỏ li ti giải phóng khỏi chổ ẩn náu, chúng liền chứng tỏ ngay sức mạnh tàn phá.

Nhưng vẫn còn nhiều điều bí ẩn chưa biết đến, và liệu lời giải thích bằng loại “vi khuẩn chưa biết đến" này có đủ sức chinh phục những người còn tin vào sự hiện hữu mang vóc dáng thêu dệt của lời nguyền.

Tài Hoa Trẻ (theo Mysteries of Unexplained)

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0