Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nguyễn Đức Tùng - Thơ và phân tâm học

3 trả lời, 158 lượt xem — Trang 1 / 1
.
Nguyễn Đức Tùng
Thơ và phân tâm học


Tặng các bạn: Đỗ Quyên, Thận Nhiên, Đinh Trường Chinh, Phan Nhiên Hạo, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Quốc Chánh, Bùi Chát, Ngô Tự Lập, Inrasara, để nhớ một thời.



1. Bài thơ đầu tiên

Bài thơ đầu tiên thường được viết khi ta còn nhỏ. Đứa trẻ ít khi đủ can đảm trình diện nó với cha mẹ, trừ khi được hết sức khuyến khích. Nhưng chỉ khuyến khích thôi chưa đủ.

Phản ứng đầu tiên của cha mẹ thường ghi dấu ấn sâu trong kí ức một đứa trẻ. Bạn thốt lên một nhận xét với vẻ ngạc nhiên, thích thú, hay bạn càu nhàu khó chịu, chỉ vì hôm đó thật không may, ở sở làm bạn đang có chuyện bực mình? Tôi xin nói để bạn nghe rằng, vào lúc đứa trẻ ngượng nghịu đưa cho bạn bài thơ mà nó đã nhiều ngày nhét kĩ dưới gậm giường, chỉ một vẻ mặt lơ đãng của bạn cũng đủ để đứa trẻ bị tổn thương, thậm chí về sau suốt đời không có một bài thơ nào nữa được mang ra trình diện với cuộc đời.

Làm thơ tập cho trẻ con khả năng sử dụng ngôn ngữ, thói quen biểu hiện các ý tưởng, khả năng cảm thông với người khác, và đặc biệt là rèn luyện một trí tuệ sắc sảo. Một nhà thơ Mỹ nổi tiếng, Stanley Kunitz, đã từng viết rằng không có một công việc nào khó khăn bằng công việc của người làm thơ. Thơ mang lại sự nhạy cảm tâm hồn, điều mà mỗi chúng ta đánh mất dần dần trong quá trình trở thành người lớn, như hòn cuội trắng đầy góc cạnh từ trên núi cao lăn theo suối, càng lăn xuống càng tròn lại mất đi các góc cạnh ban đầu. Nhưng bạn có thể hỏi: sự nhạy cảm tâm hồn có cần thiết không? Trong xã hội hiện nay, có vẻ như những năng khiếu kĩ thuật là quan trọng nhất trong đường lối giáo dục, đáng ngạc nhiên thay sự tổng hợp của ba yếu tố: thể chất, trí thông minh và tâm hồn lại được chứng minh trong nhiều nghiên cứu xã hội học là có vai trò như nhau trong sự phát triển một tài năng, ngay cả trong những lĩnh vực thuần tuý khoa học như toán học, vật lý và y khoa. Khác với các yếu tố khác, sự nhạy cảm tâm hồn chỉ có thể được khơi dậy khi ta bắt đầu điều đó ở tuổi đến trường, có vẻ quá muộn khi một ai có ý định dời nó lại những giai đoạn về sau. Khác với niềm tin của nhiều người, một nền thơ ca chân thực không dẫn đến sự yếu đuối theo kiểu “lãng mạn ướt át”, nó đưa ta thẳng đến sân chơi rèn luyện các năng khiếu sắc bén nhằm giải quyết các vấn nạn hiện thực, thiết yếu cho đời sống. Hạnh phúc được định nghĩa là sự hoà hợp của môi trường và tính cách của một nhân vật. Mọi sự hoà hợp lâu bền đều xây trên sự thật thuần khiết và trong suốt.

Thơ dẫn bạn thẳng đến sự thật. Nếu đó là một bài thơ hay. Bởi vì sự thật là vẻ đẹp duy nhất của thơ ca. Và tôi e rằng không có ngoại lệ nào cả.

Ở trên, chúng ta đã nói rằng thơ tập cho trẻ nhỏ khả năng ngôn ngữ. Nói vậy là đúng nhưng chưa đủ. Ngôn ngữ ở đây là ngôn ngữ nào? Ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ. Trong một dịp gặp gỡ ở Nhã Điển, một giáo sư sử học người Hy Lạp, rất giỏi các sinh ngữ Anh, Pháp, có tâm sự với tôi rằng sở dĩ ông nói lưu loát nhiều thứ tiếng khác nhau là nhờ nắm rất vững tiếng mẹ đẻ.


2. Những quan hệ riêng tư

Ta dễ dàng nhận ra rằng, khác với tiểu thuyết và các thể văn xuôi khác, thơ Việt Nam thường giới hạn về đề tài. Không những trong thơ cổ điển những thế kỷ trước, mà cả thơ tiền chiến, thời kỳ kháng chiến chống pháp, và sau năm 1954 ở cả hai miền Nam Bắc. Trong một nền thơ sôi động, tự do, phóng khoáng như ở miền Nam trong gần 20 năm (1954-1975), các đề tài về cái tôi lãng mạn, cái tôi siêu hình, thân phận con người trong chiến tranh, tình yêu đất nước… là những cảm hứng lớn, chủ đạo. Sau năm 1975, ở hải ngoại cũng như trong nước, các khuynh hướng nói trên dĩ nhiên vẫn tiếp tục phát triển. Tôi ngạc nhiên thấy rằng các quan hệ riêng tư, có thật và cụ thể trong đời sống mỗi người, không mấy khi được đặt lên trang giấy trắng. Ngay cả trong thơ tình là thứ mà các nhà thơ Việt Nam thường bắt đầu và kết thúc cuộc đời thơ ca của họ, người đọc có cảm tưởng rằng họ đang đọc một thứ thơ viết về một tình yêu mơ hồ nào đó hơn là về mối quan hệ trong đời sống hàng ngày giữa hai người đang yêu nhau. Những điều mà người Việt Nam thường nói nhỏ với nhau lúc tâm sự, lớn tiếng khi tranh cãi giữa bụi bặm đường phố, hay trong những khung cảnh hoàn toàn thơ mộng, có vẻ như được mọi người đồng ý ngầm là để chúng nằm im phía sau bậc cửa, bên trong ngôi nhà của mình.

Những người lớn thường mỗi ngày đi xuyên qua dòng sông của tuổi ấu thơ nhiều lần trên cây cầu của mối quan hệ riêng tư, giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em và bạn hữu. Một đứa trẻ sáu bảy tuổi chờ mong điều gì ở cha mẹ mình? Nỗi thất vọng nào xâm chiếm tâm hồn nó, khi lớn lên nhận ra rằng những niềm hy vọng ở người thân chỉ là ảo tưởng? Sự giằng co đầy đau khổ, giữa cảm giác yêu thương và sự căm hận ngấm ngầm, một tình yêu được bày tỏ trọn vẹn hay sự đè nén tình cảm theo kiểu Đông phương, sự hoà hợp giữa các thế hệ và sự nổi loạn, đã in dấu ấn như thế nào lên nhân cách và hành vi của một người?

Làm thơ là dựng một bức tượng sáp (wax) của thời gian, là vẽ ra trong bóng đêm vẻ đẹp sâu kín của những khía cạnh u uất tâm hồn, vốn chi phối hầu hết các hành động của chúng ta. Mỗi lần đọc được một bài thơ hay, tiếng Việt hay tiếng Anh, có vần theo kiểu cổ điển hay hoàn toàn tự do, thậm chí phá bỏ các luật lệ, tôi đều có ấn tượng như đứng trước một bức tượng đã dựng xong, bằng ngôn ngữ của những cảm xúc đơn giản hoặc tinh tế, u hoài hay dữ dội đau đớn, nhưng chúng đều có thật. Cũng như tư tưởng, một tình cảm không được tác giả định hình, bao giờ cũng là một tình cảm không có thật, thậm chí là ảo tưởng. Chỉ có những nhà thơ trung thực với tình cảm của mình mới có khả năng trong muôn một gọi tên được chúng.

Hãy xem thơ Việt Nam viết về mẹ. Đây dĩ nhiên là một đề tài lớn, về một tình cảm lớn, mà các nhà thơ có thể khai thác bất tận. Chúng ta đã có vài bài thơ hay hoặc rất hay viết về mẹ, như những bài của Lưu Trọng Lư, Du Tử Lê…, những ca từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Đọc kỹ đó là những bài thơ về tình mẫu tử, thậm chí viết về thân phận của nhà thơ đặt trong bối cảnh của tình mẫu tử, và đôi khi, của đất nước quê hương, hơn là cảm xúc trực tiếp của tác giả trước mối quan hệ mẹ và con. Người đọc ít khi tìm thấy ở đó chân dung giản dị của một người phụ nữ, hạnh phúc và bất mãn, những cay đắng và giận dữ, sự bất hoà có tính gia đình vốn là chuyện cơm bữa trong đời sống của người Việt Nam. Ở đó ta không thấy được sự khác nhau giữa một người mẹ hai mươi tuổi và một người mẹ bảy mươi tuổi, và sự khác nhau trong tình cảm của một đứa con lúc mười tuổi và khi nó đã lớn lên, tóc đã bạc.

Những mối quan hệ khác trong gia đình, giữa bạn bè, ở chỗ làm, giữa người trên và người dưới, giữa những đồng nghiệp ngang hàng, không những có thật mà còn quyết định hầu hết diện mạo đời sống chúng ta. Chúng là những động lực vô thức đằng sau các hành vi cá nhân và hành vi công dân, ở học sinh và thầy giáo, ở bệnh nhân và thầy thuốc, những người lao công cầm chổi quét đường và những người đứng đầu các chính phủ. Sự tấn công của thơ vào bóng tối sau lưng đời sống mỗi người là nguồn gốc của sự nghi ngại, thậm chí ghét bỏ, đối với thơ ca, ở một số người, không đủ can đảm phơi mở các vết thương tâm hồn.

Platon có một câu nói nổi tiếng: “Hãy quàng cho thi sĩ một vòng hoa, và đuổi họ ra khỏi thành phố”. Không phải vì nhà triết học vĩ đại của Hy Lạp không nhận ra được sức mạnh của thơ, trái lại tôi tin rằng ông hiểu rất rõ về tác động của các nhà thơ lên đời sống xã hội dân sự. Vì không muốn họ can thiệp vào một chính thể Cộng hoà được những người Hy Lạp dựng lên như cái cách mà họ đã dựng lên các đền đài sang trọng bằng các cột đá trắng vững chãi, uy nghi, cao vút bên bờ biển Địa Trung Hải quanh năm nắng gió xanh như ngọc mà Platon đã mời các nhà thơ đi chơi chỗ khác.

Một vị vua nổi tiếng ở châu Âu, Frederic đệ nhị, đã cho làm một thí nghiệm nổi tiếng như sau, độc đáo đến nỗi về tính cách khoa học là không thể lặp lại: ông ta ra lệnh bắt một số đứa trẻ sơ sinh về nuôi trong một khu biệt lập, cách ly hoàn toàn với cha mẹ chúng. Những đứa trẻ này được nuôi nấng cẩn thận bởi những người vú em được huấn luyện. Nhà ở, giường ngủ, thức ăn và môi trường vật chất được xem là đầy đủ hoàn toàn. Điều chính yếu là trong thí nghiệm này những cô bảo mẫu bị cấm không được nói chuyện, thậm chí không được phát ra bất cứ một tiếng nói nào khi chăm sóc các đứa trẻ. Chủ định của người làm thí nghiệm là để quan sát xem ngôn ngữ có được di truyền không, và nếu không được dạy dỗ, một đứa trẻ sẽ nói bằng thứ ngôn ngữ tự nhiên nào mà Thượng đế ban cho.

Thí nghiệm này thất bại, vì tất cả những đứa trẻ đều chết.

Như vậy, câu hỏi ngôn ngữ có di truyền trong các genes hay không đã được trả lời trên một phương diện khác: ngôn ngữ cần thiết như thế nào cho đời sống. Có phải vì chúng xây dựng các quan hệ cá nhân?


3. Người đọc, người nghe và người viết

Trong một quán cà phê, vào khoảng tháng mười một khi trời đầy sương mù, tôi đến muộn để nghe một vài nhà thơ trẻ Canada đọc thơ của mình và thơ của người khác. Giữa những xúc cảm mà các bài thơ mang lại, tôi nhận ra rằng sự quyến rũ của thơ ca không chỉ nằm trên các trang giấy mà còn ở trong giọng đọc, nhất là bởi chính các tác giả, trên sân khấu, sau những bàn cà phê đầy người ngồi và khói thuốc lá.

Không phải các quốc gia trên thế giới đều có nghệ thuật ngâm thơ như Việt Nam. Do nhiều đặc tính ngôn ngữ, thơ Việt cũng như thơ Trung Hoa với các qui ước về thơ có vần, có thể được diễn tả bằng cách ngâm lên. Một số ngôn ngữ khác, như tiếng Anh, tiếng Pháp, người đọc thơ thường chỉ đọc, hoặc đọc một cách diễn cảm, chứ không thể ngâm. Đó là ưu điểm, nhưng cũng là hạn chế lớn của thơ Việt Nam. Đám đông độc giả đã quen với hình thức thơ dễ nhớ, dễ ngâm và hát, như một loại hình văn học truyền miệng. Sức mạnh của các con chữ, được chọn chính xác, và được đặt trong một trật tự đẹp nhất, đã không được chú ý. Những nhà thơ hiện nay của chúng ta, kiệt sức vì những cuộc tranh luận vô bổ, một đằng cố bảo vệ đến cùng những giá trị truyền thống theo thói quen của họ, một đằng cố phá phách vượt ra khỏi những xiềng xích cũ, đôi khi, hoặc thường khi, quên đi rằng giá trị của thơ hoàn toàn tuỳ thuộc vào mối quan hệ tâm linh, thậm chí thần bí, giữa người đọc, người nghe và người viết. Dù nhiều tác giả tuyên bố rằng, họ không làm thơ, hoặc thơ của họ không viết cho người khác, thì bản chất của vấn đề vẫn nằm ở chỗ thơ trước hết là sự diễn cảm và biểu hiện của đời sống tâm hồn, và như thế tức là lời kêu gọi sự tương tác giữa chủ thể người làm thơ và thế giới bên ngoài.

Một tình cảm không chân thật, không gây được tiếng dội (echo) trong lòng người khác. Cũng như trong vũ trụ, những tương tác vật lý xảy ra trên nền của những tấm thảm dệt đầy giọng điệu hài hoà, những bài thơ không thành công có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng bắt đầu trước hết là sự không hoà hợp về âm nhạc, mà cội rễ là sự không chân thật về xúc cảm. Nói cách khác, những xúc cảm không chân thật thật ra vốn không hiện hữu. Điều này không liên hệ gì với việc thành công hay thất bại của một tập thơ về mặt thị trường. Các chỉ số hời hợt như số lượng được bán ra của một cuốn sách, sự yêu thích nhiều hay ít của một công chúng nào đó, thậm chí thấp kém, đối với một tác giả, sự “lăng xê” của một vài tờ báo hoặc diễn đàn dựa trên sự quen biết phi văn học, không phải là điều mà chúng ta đang bàn ở đây. Dù số lượng độc giả ít hay nhiều, một tình cảm thơ ca chân thật, sau khi len lỏi qua nhiều năm tháng như hạt mầm im ả trong mạch đất sâu xa, thế nào cũng tìm được cách ngoi lên giữa tiết xuân hoa cỏ dạt dào, khi từ các sườn núi cao, con suối đóng băng bắt đầu vỡ ra từng mảnh, chuyển mình đi trong đêm tối. Các bài thơ thành công bao giờ cũng tìm được cho mình một công chúng độc giả nhất định. Khi nói rằng các hình thức thể thơ không quan trọng, người viết không có ý cho rằng các khám phá mới lạ là vô ích.

Sự thật thì ngược lại.

Chính ra là những tình cảm mới trong không khí của một xã hội mới, hiển nhiên phải tìm thấy cho nó những nốt nhạc mới và dàn nhạc mới. Những người làm thơ có vần có thể khéo léo che đậy sự giả dối của họ bằng các nhịp điệu quen thuộc và êm tai, dễ ru ngủ người đọc, dễ làm cho cả hai phía, người đọc và người viết, có ảo tưởng rằng, một bài thơ như vậy là đã được hoàn thành. Các thể thơ tự do và không vần gặp khó khăn hơn. Nhà thơ phải đi tìm lấy giọng điệu riêng của mình, âm nhạc riêng của bài thơ, tức là phương cách riêng của tâm hồn trong việc biểu hiện một xúc cảm hay một ý tưởng cụ thể. Trong quá trình này, anh ta hoàn toàn đơn độc, không biết dựa vào đâu cả. Công việc khó khăn hơn thì việc thất bại cũng lớn hơn. Đó là lý do chính yếu vì sao thơ không vần, thơ tự do, thơ hậu hiện đại, thường tỏ ra thất bại trước công chúng. Thật ra cả loại thơ cổ điển, có vần, kiểu thơ tiền chiến và loại hình thứ hai đều đang thất bại như nhau, chỉ có khác là một bên được giấu đi và một bên được thể hiện rõ ràng hơn.

Sự tiếp cận của độc giả với đời sống thơ ca còn quá nghèo nàn trong xã hội nhiễu nhương của chúng ta. Các sinh hoạt trí thức và sự dẫn đạo tâm hồn là bí quyết để xây dựng lại một đời sống vô thức tập thể, linh hồn tập thể, một không gian văn hoá như mái nhà chung đầy sự che chở. Thơ là người dẫn đường, là người tiên đoán về các số phận riêng lẻ, mặc dù anh ta xuất hiện thường như một người hát rong về số phận của dân tộc mình.

Dưới vẻ nghèo nàn không che đậy, sự du thủ du thực trong một số phong cách, dưới vẻ bất cần, hậm hực và nổi loạn, ẩn giấu những tâm hồn nhân hậu, thiết tha với đời sống, một nhiệt tình văn chương bao giờ cũng cháy đỏ như lửa và những ước mơ về một xã hội tốt đẹp hơn.

Ngay cả ở những nghệ sĩ, hoạ sĩ, nhà thơ tinh ma, quỷ quái có vẻ lăng xăng lộn xộn nhất, những bài thơ thành công, hay thậm chí một vài câu thơ thành công của họ, không thể xuất phát từ một điều gì khác.

Trong một dịp về Việt Nam, tôi được đến dự một đêm ra mắt không chính thức một tập thơ do nhiều người làm chung (tuyển tập 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại). Hôm đó, các tác giả tự đọc thơ của mình và đọc thơ của bạn bè. Tôi đã hạnh phúc được nghe giọng đọc của Thận Nhiên, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Quốc Chánh, và Inrasara. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác xúc động bàng hoàng trước giọng đọc của bạn bè mình, sự nhấn giọng và ngắt quãng đột ngột của các câu chữ, ý nghĩa của từng lời, ngẩn ngơ đến nỗi quên mất đến lượt mình như một tác giả. Tôi nhớ cảm giác trang trọng và thân ái của công chúng nhỏ hôm đó dành cho các thi sĩ của chúng ta.

Nhưng tôi không có một ảo tưởng nào về đám đông: vẫn còn tỉnh táo để nhận ra một vài phụ nữ lấy tay che miệng ngáp, và một vài người mở cửa ra về giữa hai câu thơ của một nhà thơ đang nhắm mắt ngước lên trời.

Nhiều năm về trước nữa, trong một chuyến đi cắm trại mùa hè ở giữa rừng rậm Canada, phía bắc Toronto, giữa sương mù cao nguyên càng về đêm càng dày đặc như một bàn tay khô lạnh ấn năm ngón tay lên má mình, bên đống lửa trại bằng củi thông và tùng bách nổ tí tách bập bùng, tôi được nghe nhà thơ Đỗ Quyên đọc diễn cảm toàn bộ mấy chương dài trong tập trường ca của anh, trên nền tiếng đàn guitare của một chàng nhạc sĩ trẻ tuổi. Tôi ngắm nhìn khuôn mặt tĩnh lặng thanh bình của những người ngồi nghe đọc thơ đêm đó, và hiểu ra rằng thơ vẫn còn chỗ ở dù nhỏ nhoi trong tâm hồn họ, và nếu các nhà thơ biết được các phương cách hữu hiệu, chắc rằng họ có thể khai phá những chỗ ở ấy, làm cho chúng lớn lên, xây được những căn nhà tráng lệ hay những túp lều như túp lều của nhà thơ haiku Nhật Bản Basho.


4. Vô thức và cảm hứng

Vô thức là những hoạt động tinh thần mà chúng ta không thể nhận thức ra được. Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Diễn dịch các giấc mơ, Freud lần đầu tiên đề nghị khái niệm vô thức (unconscious) để phân biệt với ý thức (conscious) và tiềm thức (preconscious), sau này gọi là lý thuyết topo. Vô thức chứa những suy tưởng bị đè nén, những nguyện vọng bị vùi lấp, những giấc mơ và hy vọng như những cọng cỏ non dưới tảng đá mãi mãi không bao giờ ngoi lên được với ánh sáng của mặt trời lý trí. Thế giới của vô thức vì vậy hoàn toàn không thể hiểu được trừ hai trường hợp, khi chúng tự thể hiện trong những giấc mơ hoặc xuyên qua những rung động sáng tạo trong nghệ thuật như thơ ca và âm nhạc.

Những hoạt động tinh thần của vô thức được coi là các quá trình sơ cấp, nguyên thuỷ. Những hoạt động tương tự của ý thức và tiềm thức gọi là các quá trình thứ cấp. Trong quá trình sơ cấp, tinh thần vượt qua các qui luật hợp lý, phá bỏ các cấu trúc, chấp nhận các mâu thuẫn, hoà giải các nghịch lý lịch sử.

Những người làm thơ đôi khi trải qua một kinh nghiệm tuyệt diệu: trong một giấc mơ ngắn, một bài thơ dài được hoàn tất. Nếu khi ngủ dậy, anh ta còn may mắn nhớ lại được, thì công việc của nhà thơ chỉ là ngồi chép lại một sáng tạo vô thức. Nhiều nhạc sĩ cũng có những kinh nghiệm tương tự. Có nhiều người còn đi xa hơn đến mức chuyên dùng các giấc mơ của mình làm căn bản cho các tác phẩm. Có những tác giả không chấp nhận việc sửa chữa và chỉnh lý các bài thơ vì cho rằng chỉ có những chữ đầu tiên, những câu thơ đầu tiên là sáng tạo thần bí của vũ trụ, và như vậy mới có giá trị nghệ thuật.

Trong thơ, cảm hứng là điều quan trọng nhất, nếu so với những loại hình văn học khác như tiểu thuyết, tiểu luận, tuỳ bút. Ai cũng biết rằng có những tác giả viết một mạch nhiều bài thơ hay một lúc, nhưng cũng chính tác giả đó có thể năm bảy năm liền không cầm bút được. Vô thức có lẽ là người mẹ của cảm hứng. Trong những hoàn cảnh nào đó, một không gian nào đó, trước một tình huống đặc biệt, các động lực vô thức trở nên chín muồi và thúc đẩy sự biểu hiện chúng lên bề mặt của nhận thức. Các nhà phân tâm học tin rằng trong cõi sương mờ của vô thức, nguyên lý vui chơi (pleasure principle) là lực căn bản nhất chi phối các động lực. Vậy thì cảm hứng phải chăng là kết quả của nhu cầu vui thú của tâm hồn? Nỗi vui thú ở đây không nên được hiểu một cách hời hợt như kiểu sự vui chơi của trẻ con, mà nên được xem là sự thoả mãn, hài lòng với chính mình. Khi một tâm hồn đang đau khổ vì sự mất mát, thơ đem lại sự biểu hiện và chia sẻ, và như vậy làm thoả mãn tâm hồn đó. Khi một kẻ tràn ngập hạnh phúc như trong mối tình đầu, trái tim hét to lên đến vỡ lồng ngực một niềm vui bất tận mà tuổi hai mươi không thể nào chịu đựng được nữa: khi đó thơ đến với anh, và nói cho anh biết rằng nó có những phương cách khác để mang niềm vui của anh đi tặng mỗi người và những cỏ hoa, và anh lập tức nhận ra rằng sự chia sẻ ấy càng chia ra càng được nhân lên, và hoá ra là chịu đựng nổi. Như thế tình yêu mang lại cho người thanh niên niềm vui, thường chỉ là chốc lát, nhưng thơ mang lại cho anh niềm vui thứ hai, có vẻ lâu bền.

Nhưng vô thức không phải là tất cả cội nguồn của cảm hứng. Khi nhà thơ gặp một điều mới mẻ, nhận thức bừng sáng trong tia chớp, đánh động những thói quen cũ kỹ, một lối sống cũ kỹ, những cột nhà và rường nhà kêu răng rắc, rung lên trong cơn bão nhận thức, căn nhà trí tuệ của nhà thơ, nơi trú ẩn tâm hồn anh, cũng tràn ngập cảm hứng. Ở những cá nhân khác, trí tuệ chọn cho mình những con đường phản ứng khác, nhưng ở người làm thơ, nó lập tức liên kết mình với sự xúc cảm. Chỉ khi nào xúc cảm thực sự bắt tay vào việc, bài thơ mới có cơ hội khởi đầu. Trí tuệ và xúc cảm đều thuộc về ý thức, nhưng xúc cảm gần hơn với các hoạt động vô thức, chính chúng là những kênh tương tác kỳ lạ giữa ánh sáng và bóng tối, giữa lý trí và những điều thần bí.

Các tác phẩm đẻ ra các tác phẩm. Các nhà thơ kêu gọi nhau. Các tài năng có một tính chất đặc biệt là làm phát triển các tài năng khác. Sống giữa thời đại của mình, một nhà thơ bao giờ cũng làm nảy sinh trong tâm hồn một nhà thơ khác, thường là cùng một thế hệ với mình, có khi là bạn bè thân thiết, cái nhu cầu được sáng tạo y hệt và hơn so với nhà thơ đó. Tôi xin gọi đó là sự cộng hưởng và sự tranh đua lành mạnh. Sự cộng hưởng có tính vô thức, và sự tranh đua có tính ý thức.

Không có gì đáng ngạc nhiên là trong một xã hội văn minh và cởi mở, tương đối phóng khoáng, khi các nhà thơ tự do đi lại, xuất bản, trao đổi, bàn bạc, tự do tập hợp với nhau dưới những bảng hiệu khác nhau, trường phái khác nhau, kiểu Tự lực Văn đoàn, hay Nghệ an Thi xã, tự do nhậu nhẹt, tự do chơi bời, tự do sáng tạo, thì xã hội đó và thời đại đó có nhiều tài năng, và các tài năng này đều lớn, vì chúng được kích thích bởi nhau.

Do tính chất mong manh của nó, thơ thường sinh ra dưới bàn tay săn sóc đùm bọc kỹ càng của rất nhiều cơ duyên trên đời, và vì nhạy cảm, thơ thường bay đi mất trước một cố gắng dù chỉ hơi phần nào dung tục. Xin đừng nhầm với đề tài: Thơ có thể nói về bất cứ chuyện gì, thậm chí về những đề tài tội lỗi, xấu xa, tục tĩu, dơ bẩn, căm ghét, cay đắng nhưng cội nguồn cảm hứng của nhà thơ bao giờ cũng chiếu rọi vào nó thứ ánh sáng làm nẩy lên các hạt mầm mùa xuân, thứ ánh sáng của lòng tin và tình yêu cao thượng.

Vô thức không biết đến sự cao thượng, nó chỉ biết đến vui chơi.

Nhưng một đứa trẻ có thể được/bị dạy dỗ để trở nên vui thú với những trò chơi ác độc hay những trò chơi lành mạnh. Vũ trụ là mù, nhưng nhân loại cầm tay nhau đi qua sự mù loà của vũ trụ bằng khả năng tự nhận thức và bằng tâm hồn thơ ca như ngọn đèn thắp lên trên bậc cửa giữa hai thế giới hữu thức và vô thức.

© 2006 talawas


http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6958&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn tỷ Ngọc Lý nha!

Bài sưu tầm nào của tỷ cũng hay, cũng hấp dẫn cả.

Tỷ là 1 chuyên gia sưu tầm đấy. Hi... Ko phải ai cũng làm được.

Chúc tỷ vui, khỏe và tiếp tục đăng nhìu bài cho muội cùng các bạn đọc nha ![:)]


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
Hi NL, ttl thấy bài này cũng liên quan đến chủ đề của NL đăng nên rinh về dán luôn ở đây nha (NL hông cho phép thì ttl rinh đi, dễ dàng thôi [:D])

**********
Phân tâm học và Thơ
Frederick Feirstein
Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch


Hơn vài mươi năm qua, một trong cách biện minh cho việc từ bỏ các kỹ thuật "hình thức" của vần luật và thể loại như truyện kể tuyến tính, đến từ sự hiểu lầm, theo phân tâm học, về đặc tính tự nhiên của vô thức. Vô thức được nhận thức như một thực thể hoàn toàn "tự do", như trong tiểu thuyết tình cảm, người điên được coi là "tự do". (Hiểu biết thông thường cho biết, người điên không được tự do, mà bị tù hãm bởi những bí hiệu, trong trường hợp này là ảo giác và ảo tưởng.) Khái niệm sai lầm về đặc tính tự nhiên của vô thức, bắt nguồn từ những nhà hiện đại thuở đầu. Khi sự hiểu lầm biến thành kinh nghiệm truyền lại cho người đi sau, nó được dùng để tấn công, cho hình thức là lừa phỉnh giả mạo trên tiến trình vô thức, chỉ nói riêng về nguồn gốc sáng tạo thôi. Nhưng các nhà phân tâm học cũng biết, từ dữ kiện bệnh nghiệm, những bày tỏ của vô thức "tự do" như thế, được tìm thấy trong chiêm bao và "những phối hợp tự do" (mang lại hiện tượng tự động viết) thật ra từ những ảo tưởng thường trực của vô thức. Không chỉ có dữ kiện bệnh nghiệm của nhà phân tâm học, mà gần đây các nhà chuyên khoa não bộ và các nhà nghiên cứu về chiêm bao dẫn chúng ta đến chỗ hiểu được rằng vô thức, khác xa với vô kỷ luật, giống như vũ trụ của lý thuyết hỗn mang và phức tạp. Nó có những điều luật riêng đưa đến trật tự, mà phải được huấn luyện để quan sát thì mới nhận ra. Chúng ta gọi là "những tiến trình chính yếu" của dời đổi và cô đọng, và cũng là những điều luật đã hình thành ẩn dụ trong thơ và tác động ẩn dụ trong truyện và kịch. Điều thật sự giải phóng chúng ta là học hỏi và áp dụng những điều luật này trong nghệ thuật, kể cả nghệ thuật phân tâm học là nơi mà tiến trình chính yếu bị lay chuyển dưới sức lực ngày càng lớn mạnh của tiên nghiệm và bản ngã.
Mỉa mai thay, phân tâm học, từng là trọng tâm văn hóa trong phần lớn thế kỷ vừa qua, đã bị phỉ báng trong nhiều năm gần đây bởi giới hàn lâm với cùng lý do họ phỉ báng thơ "hình thức" và thơ tính truyện. Chủ yếu, nghệ thuật phân tâm là một nghệ thuật có tính truyện, trong đó truyện đời của một người được lần giở ngược lại, như một bi kịch Hy lạp, từ hậu quả đến nguyên nhân. Câu truyện được diễn ra có kịch tính và biểu tượng trong sự chuyển nhượng mà người phân tích kinh qua, như những hữu thể khác và "vật thể", thí dụ, người phối ngẫu trong phát triển tình cảm của bệnh nhân, cả hai đều có thật hoặc chỉ là tưởng tượng. Phòng mạch tràn ngập những ông cha và bà mẹ, anh, chị, em và nhiều bản cái tôi khác. Ảo mộng và vết thương đã giúp hình thành những cái tôi như thế và chủ quan hóa những thứ khác, hiện ra trong chiêm bao kể cho nhà phân tâm nghe, và trong sự phối hợp tự do giữa mộng và thực chất khác. Trong tiến trình chữa trị, truyện kể mở ra và ẩn dụ chính yếu phát hiện động lực của những cái tôi khác nhau, bệnh nhân dần nhận thức được rằng anh hay chị ấy đang sống cuộc đời song đôi: một đời có ý thức, đời kia là ảo ảnh trau chuốt và vì nó là vô thức nên tự lặp lại trong vô số cảnh tương tự, cấu tiết với nhiều tình tiết phụ, tất cả đều được hư cấu bởi đứa trẻ (trong tâm trí họ).
Tựa như nhà thơ tính truyện dùng tình tiết có sẵn để tạo nên tác phẩm, tâm thức dùng tình tiết tiêu biểu để tạo nên những ảo mộng vô thức, thường để đáp lại cho cả hai, ước muốn bị cấm đoán và chấn thương. Giống nhà thơ tính truyện, đứa trẻ (trong tâm trí) trau chuốt một cách sáng tạo những tiêu biểu này với các chi tiết lấy từ đời riêng. Trong quá trình chữa trị, bệnh nhân và nhà phân tâm rồi sẽ cùng nhau khám phá hoặc dựng lại những thứ tình tiết chất chứa ấy như vài thí dụ sau đây, mặc cảm Oedipus hoặc ảo ảnh sinh đẻ bằng hậu môn hoặc ảo mộng Cô Bé Lọ Lem, biến thành điều mà Jacob Arlow gọi là "thần thoại cá nhân", dẫn dắt phần lớn sự hiện hữu của một người.
Tâm tưởng của đứa trẻ, từ cách tạo nên thần thoại cá nhân để tồn tại và sinh trưởng, chúng ta có thể suy ra nền tảng tâm lý cho những xung động có tính truyện. Trong khi chúng ta buộc phải diễn lại những ảo ảnh như thế suốt đời mình để thỏa mãn và thích ứng, thì một vài người tái sản xuất chúng thành nghệ thuật tính truyện. Suốt đời chúng ta tạo nên nhiều bản khác nhau của những thần thoại một cách vô thức để đáp lời cho từng giai đoạn phát triển và mỗi chấn thương mới. Sự làm lại thần thoại cá nhân của tâm tưởng song đôi với cách một nhà văn trưởng thành lặp lại và phát triển yếu tố tình tiết chính, đề mục, và mô hình của hình tượng qua toàn thể tác phẩm. Như tất cả mọi nhà văn đều biết, hành động thám hiểm những ảo tưởng một cách sáng tạo vừa giúp giải quyết mâu thuẫn nội tại vừa dẫn đến chiều sâu ngữ căn xa hơn. Khi chúng ta bị nghẽn sáng tác hoặc rơi vào sự lặp lại một cách ngán ngẩm, đó là vì có vài khía cạnh nào đó của mâu thuẫn mà biểu tượng vẫn chưa chạm đến được, thay vào đó lại dẫn đến những biểu tượng bí ẩn của triệu chứng, tự mô phỏng, và thỉnh thoảng ngã lòng. (Ngay lúc này, tái diễn những ảo tưởng trong chuyển nhượng tốt cho việc nghẽn sáng tác – giống như một nhà đạo diễn hay sẽ giúp nhà soạn kịch viết lại kịch bản; trong trường hợp này là kịch bản đời sống.)
Bởi vì thần thoại cá nhân dựa trên những thứ tiêu biểu, thí dụ chia sẻ chung những thần thoại, có tiếng dội giữa tác phẩm của người viết và độc giả hay thính giả là những người tự họ diễn lại thần thoại ngày đêm một cách vô thức. Khi đèn mờ dần trong rạp hát hay khi độc giả tạo nên một màn tối bao trùm quanh một tập thơ, một trạng thái tựa-như-xuất-thần có thể xảy ra, qua đó độc giả bước vào thần thoại của tác giả một cách cương quyết, tìm được an ủi và giúp đỡ cho mâu thuẫn nội tâm. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về đời sống nội tại của một tác giả ở tuổi niên thiếu, và vài người trong chúng ta, kinh nghiệm này đã biến họ thành nhà văn. Vì lý do nào đó, mù mờ đối với tôi lúc này, khi đọc Le Bateau Ivre của Rimbaud ở tuổi 17 lại có một ảnh hưởng mạnh trên tôi. Trạng thái xuất thần này là một thứ mà tiên nghiệm (phần tâm tưởng nối cả hai với vô thức và hiện thực thức tỉnh) trở nên linh hoạt một cách cuồng nhiệt và đồng bộ. Là người viết, chúng ta kinh qua điều này khi đang trong hứng sáng tác. Chúng ta cũng kinh qua thứ xuất thần như thế khi thực thi nghệ thuật phân tâm, nhất là khi người được phân giải bắt đầu nói một cách ẩn dụ với nhịp điệu thôi miên. Phân tích gia bước vào trạng thái đó một cách cảm thông, dùng tiên nghiệm của riêng họ, như một diễn viên có phương pháp, làm khi nhập vai. Kinh nghiệm thường xảy ra khi sự đối kháng với chữa trị (phản ánh sự phòng vệ vô thức) giảm đi, những huyễn mộng vô thức và biến chuyển của chúng ló dạng trên dòng tuôn chảy của phối hợp tự do và ẩn dụ.
Nhà phân tích, như tôi, từ buổi đầu lắng nghe để tìm những ẩn dụ này bởi vì chúng dẫn đến vô thức, tổ chức biểu tượng của nó phải được tái hoạt động để sự thay đổi lâu dài xảy ra. Người được phân giải dùng một hoặc hai ẩn dụ chính nhiều lần suốt quá trình chữa trị. Chúng thường xuất hiện trong những phê bình có vẻ bình thường về cái tôi hoặc về hiện thực, cũng như trong chiêm bao. Arlow tìm thấy, ẩn dụ chính thường dẫn ngược lại những huyễn mộng vô thức đại biểu cho ước muốn bản năng và sự đối kháng. Tôi đã viết về việc làm thế nào mà ẩn dụ chính đó dẫn trở lại chấn thương. Ẩn dụ đại diện cho bản ngã, chấn thương đối với bản ngã, và đáp ứng của bản ngã đối với chấn thương. Tâm linh thì thơ mộng trong việc bày tỏ một cách tiện tặn những kinh nghiệm khác biệt này. Nó dùng một ẩn dụ thôi để diễn bày lý lẽ nội tại đối với kinh nghiệm của một vài chấn thương, rất giống nhà thơ, viết một chuỗi nhạc tính, phối hợp những ẩn dụ chính để có một tính truyện tiếp giáp.
Những ẩn dụ diễn bày chấn thương thường xuất hiện ngay trong lần chữa trị đầu tiên như là cliché, không phải người ta chỉ dùng đến thứ tiêu biểu mà còn vì tiên nghiệm chưa đủ mềm dẻo để làm sống lại những cliché đó và biến chúng thành ẩn dụ thực thụ. Khi cuộc phân tâm thành công, chúng ta thường thấy cliché được cảm nhận sâu xa hơn và được dùng trong đoạn cuối chữa trị, hoàn toàn khác với cách dùng ở lần chữa trị đầu tiên. Và cũng vậy, thoạt đầu cái tôi được tỏ bày trong cliché là thụ động, đến cuối cuộc chữa trị, cái tôi trở thành môi giới tác động trong cùng một ẩn dụ. Như vậy, thí dụ, (tôi đã kể lại đầy đủ chi tiết trong “Trauma, Fantasy, and Psychosomatosis”), một bệnh nhân trong lần chữa đầu tiên đã tả cách anh ta kẹt cứng trong ám ảnh, bằng cách nói là anh đang ở trong “một chiếc xe chưa sang số chạy.” (a car in neutral). Giấc mơ đầu tiên anh ta kể lại, anh ngồi trong một chiếc xe thể thao không nổ máy được. Suốt quá trình phân giải, anh có nhiều giấc mơ liên quan tới nhiều chiếc xe, và chúng ta rồi sẽ biết là đại biểu cho nhiều bản cái tôi khác nhau của anh ta. Ẩn dụ xe thể thao xuất hiện trong giấc mơ sau cùng anh kể và vẽ lại gọn gàng sự thay đổi trong vô thức là kết quả việc làm của cả hai, tôi và anh ấy: “Tôi đang lái một chiếc BMW trắng. Tôi thắng giải xe trong một cuộc thi. Tôi đang lái xe trên đường với kính xe mở rộng. Ngày tuyệt đẹp. Tôi không bao giờ nghĩ được một chiếc xe có thể khiến tôi cảm thấy sung sướng như thế này. Đây là dấu hiệu của giàu có, mọi việc đều hanh thông, Fred. Tôi đang lái xe trên đường. Một chiếc BMW. Quả là tốt đẹp hơn tôi tưởng.”
Tiên nghiệm của người bệnh (mà Suzanne Langer gọi là “biểu tượng hóa biến đổi” (symbolizing transformer)) đã trở nên vững chắc bằng cách học hỏi và thực hành nghệ thuật phân tâm học. Anh ta hiểu được ẩn dụ xe hơi một cách rõ ràng đến độ ngay cả trong trạng thái chiêm bao nó cũng dội lại nhiều hơn. Tiên nghiệm của anh bền vững hơn, được tự do nhờ ngủ nên thoát khỏi hiện thực, bắt đầu chơi đùa với dạng thức khác nhau của ẩn dụ dành cho những mục đích mới – như một nhà thơ chơi đùa với ẩn dụ, lật xoay chúng để tạo nên ý nghĩa.
Tiên nghiệm của anh trở nên mạnh mẽ bởi chính hành động kể lại giấc mơ cho cả anh và tôi cùng nghe. Anh cho tôi biết, qua nhiều năm điều mà Ephron và Carrington đã tìm thấy trong nghiên cứu một số R.E.M chiêm bao – rằng trong lúc (sức khỏe tâm thần của) một người tiến bộ theo với phân tích, không những chỉ có biểu tượng trong mơ trở nên dễ truyền đạt mà tự chính giấc mơ cũng trở nên có nhiều tính truyện hơn. Trong tiểu luận lôi cuốn của họ, Ephron và Carrington chứng minh rằng nhiều người ở lần chữa trị đầu tiên, giấc mơ của họ không những rời rạc phân mảnh và/hoặc không mạch lạc mà còn thiếu cả nhân vật và không có kết cấu. Rồi trong lúc bệnh nhân dần bình phục, nhân vật xuất hiện trong chiêm bao cũng như tình tiết của nó; thể như họ đang học cách sử dụng những tiến trình tiên nghiệm của họ, rất giống một nhà thơ tính truyện sử dụng khi làm thơ.
Tôi thấy, không những người ta chỉ học cách sử dụng ẩn dụ, biểu tượng, và kể truyện trong lúc cùng thực hành nghệ thuật phân tâm với tôi mà họ còn học cách sử dụng hình thức, như một “nhà thơ hình thức” dùng cả hai vần và luật để tạo nên tác phẩm nghệ thuật, một phương tiện để thám hiểm hiện thực nội tâm. Những người dùng vần luật đều biết rằng phương sách này thay vì gò bó, nó lại giúp tạo nên trạng thái xuất thần đưa đến những đẳng cấp sâu hơn trong tâm tưởng của mình. Thí dụ, chúng ta biết rằng vần dẫn đến sự nối kết ý nghĩa mà ý thức thường không sao chạm đến được. Bởi vì vần hình như là một cách để kết tụ vài ngả phối hợp đến từ những huyễn mộng vô thức.
Một bệnh nhân của tôi, canh tân lối chữa trị cũng như trong phát minh bệnh lý học, tìm ra phương pháp phối hợp tự do có hiệu quả hơn là kể cho tôi nghe những giấc mơ hoặc nói bất cứ gì hiện ra trong đầu. Anh vặn mờ đèn phòng ngủ và viết xuống những vần anh đặt ra trên xấp giấy dài. Anh giữ những vần này cuốn theo nhau cho đến khi chúng đưa đến một chất liệu hãy còn lạ lùng đối với tiên nghiệm hay vô thức. Vần giúp anh nâng lên chất liệu vô thức từ những bó buộc của chế phục, làm anh ta trở nên khỏe mạnh hơn, và vần biến thành những bài thơ đơn sơ.
Trong lúc làm việc với anh, tôi tình cờ đọc một cuốn sách, bản in giờ đã hết, của một tác giả tài ba và không mấy nổi tiếng, Theodore Thass-Thienemann, ông đã tìm và chứng minh trong hai quyển, ngữ nguyên học là con đường vương giả dẫn đến vô thức. Trong phần mang tựa đề “Sound Association and Rhyme”, ông nói (và tôi nghĩ rằng rất đáng để chép lại nguyên văn cả đoạn):

Khi có sự phối hợp của âm thanh, cũng sẽ có sự phối hợp của ý nghĩa... Nếu ta xem xét... một hoặc vài khái luận về vần, ta sẽ tìm thấy lần nữa sự xác nhận không cố ý của diễn dịch tâm lý qua dữ kiện triết học... Thơ thời trung cổ ưa chuộng những công thức vần tiêu biểu. Những công thức này đã được khảo sát kỹ bởi vô số kinh nghiệm nói, cho đến khi chúng đạt được sự chấp nhận tiêu biểu chung; kết quả chúng thường trưng bày với sự phân loại đặc biệt những đặc tính riêng của vần. Trong thơ trung cổ Đức, vần tiêu biểu thông thường nhất là kết nối lip:wip (chữ Đức hiện đại là Leib: Weib, "body":"woman" – tạm dịch "thân hình":"đàn bà"). Tuy nhiên, chữ Đức Leib không phải chỉ có “body” và “body-self” trong ngôn ngữ không dùng nữa, mà còn là "womb" (tử cung); Mutter-leib, đúng là "mother-body", nghĩa giản dị là "womb". Vần này được lặp đi lặp lại, ám ảnh dai dẳng trong tất cả thơ trung cổ Đức. Trong "Parzival" của Wolfram có một trăm hai mươi ba lần, và những bài thơ khác cũng có con số tương tự. Đâu là lý do lặp lại cách dùng công thức vần này? Ta biết được từ thí dụ bệnh lý, những lặp lại như thế là sự tuôn chảy của cưỡng chế và lo âu. Phối hợp "Tử cung" – "đàn bà" là căn nguyên lớn nhất của đè nén nỗi sợ và lo âu. Và còn có nhiều thí dụ tương tự nữa.
Qua nhiều thế kỷ, cá nhân chủ nghĩa ngày càng tăng, những công thức vần tiêu biểu mòn nhẵn đến độ biến thành dấu ấn của thơ dở nhất. Mỗi nhà thơ tự trọng đều cẩn thận né tránh như một thứ cấm kỵ (taboos), nhưng nhìn từ quan điểm tâm lý, loại vần-cấm-kỵ bị né tránh trong thơ thế kỷ mười tám cũng phơi bày chẳng kém gì những hình ảnh tiêu biểu trong thời Trung Cổ. Tôi lựa một trong những vần không có gì đặc sắc này như một kiểm thử cho diễn dịch ở trên. Ở thời trung cổ tiếng Đức muot-guot-tuot-bluot (tiếng Đức hiện đại Mut, "boldness"-gut, "good"-tut, "does"-Blut, "blood") là một công thức thường dùng; nó dường như giản dị nói, tính can đảm (của trái tim) là những việc tốt. Công thức này thành vần-cấm-kỵ tầm thường Blut-Mut, "blood-boldness, bravery". Tôi chọn những chữ hợp vần Đức vì tiếng Anh tương tự, blood, boldness, không hợp vần với nhau. Tuy nhiên, nếu cả hai khái niệm này đi với nhau trong tiếng Anh, phối hợp này sẽ đi qua sự kết nối vô thức của ý nghĩa. Tuy vậy, trong trường hợp này, công thức hợp vần Đức cũng không phải chỉ là sự phối hợp âm thanh mà thôi. Nhìn đến ngôn ngữ của Shakespeare ta thấy blood and boldness, cho dù không hợp thành một phối hợp vần mang vẻ thu hút lẫn nhau. Shakespeare nói, “The world will say, he is not Talbot’s blood / That basely fled when noble Talbot stood.” Tuy là vần khác nhau nhưng sự phối hợp của những ý nghĩa riêng biệt vẫn có. Một thí dụ khác: trong ngôn ngữ Shakespeare: "Be bloody, bold and resolute"; hay "He is bold and blushes not at death"; hay "O the blood more stirs to rouse a lion than to start a hare." Những thí dụ như thế sinh sôi nảy nở và tập hợp trong cả một ngữ vựng chứng minh rằng những phối hợp thanh âm là biểu thị của ý nghĩa.
Để kết luận, thể nói rằng những thí dụ này chứng minh, những ý nghĩa đáng ngờ đã được phối hợp trong Anh ngữ không có vần; hậu quả là, nếu chúng được liên kết bằng vần, như trong Đức ngữ, thì hợp vần ấy cũng được ước đoán là “hợp vần của ý nghĩa.” Luận thuyết này đã bị chối từ một cách mãnh liệt bởi thí nghiệm tâm lý học, nhưng lại được xác nhận qua diễn dịch chiêm bao.
Phối hợp thanh âm nảy ra vài lạc thú từ cái kho thích nhại tiếng người khác một cách tự kiêu, được kinh qua bởi đứa trẻ. Nó nảy mầm từ lớp vỏ ngôn ngữ vô thức đầu tiên. Nó chân thật với cái ngôn ngữ lãng quên của ảo tưởng vô thức. Diễn dịch phân tích cố gắng dịch ngôn ngữ ảo tưởng vô thức này ra ngôn ngữ nói bình thường. Vần là một trong những đặc tính của ngôn ngữ gần như lãng quên và không ai biết của ảo tưởng. (173-75)

Thass-Thienemann là người duy nhất trong số những nhà văn phân tâm học sử dụng những từ trong thơ để giải thích tâm tưởng hoạt động, tạo nên cả hai, bệnh lý và sức khỏe. Có bốn người (Susan Deri, Laurence Kubie, Henry Krystal, và Joyce McDougall) đặc biệt lưu tâm đến việc diễn tả những khuyết điểm trong việc dùng biểu tượng để dẫn đến bệnh lý, và sử dụng trôi chảy những biểu tượng bên trong tâm tưởng và giữa tâm tưởng với thế giới bên ngoài, giúp tạo nên sức khỏe (tâm lý.) Mô hình sức khỏe của Deri là người nghệ sĩ đang sáng tác. Khi chúng ta "mạnh khỏe", tiên nghiệm chuyên chở biểu tượng qua lại giữa những tiến trình vô thức và ý thức. Khi chúng ta "bệnh hoạn", đó là vì tiên nghiệm đã gắn liền một cách cứng ngắc hoặc với hiện thực hoặc tiến trình vô thức. Thay vì thương thuyết đời sống nội tại và ngoại giới với nhau bằng những biểu tượng cộng hưởng, tiên nghiệm lại dựa trên cliché và ký hiệu, ngắt đi ảnh hưởng và chỉ phát ra trong tác động ngẫu nhiên.
Như thế, khi chấn thương khốc liệt hay sự lặp lại xảy ra, theo đó là sự bất lực hiển nhiên, biểu tượng hóa ảnh hưởng mà tâm tưởng bị sốc đang dựa hầu như hoàn toàn trên những ký hiệu. Một cựu chiến binh Việt Nam tôi đã chữa trị, cố tìm cách đọc người khác qua cảm tính, để có thể có câu trả lời đúng, tùy theo trường hợp. Cách nói của ông, Krystal gọi là “thích nghi” – hầu như hoàn toàn thiếu sự trầm bổng. Khi tôi hỏi đến sự phối hợp với chiêm bao (ít có và rất đơn giản) thì ông thường cho biết một cách máy móc, nhiều chi tiết hơn, không có màu sắc nhịp điệu, giống như một đứa trẻ kể lại tình tiết của một cuốn phim.
Trong cuốn Plea For A Measure Of Abnormality, Joyce McDougall thấy sự hình thành của triệu chứng rất quan trọng trong việc giúp những tâm tưởng tê cứng đó sống còn – nhất là khi sự thay thế là căn bệnh trí mạng psychosomatic, thứ bệnh khi tâm tưởng tê cứng, đưa đến việc dùng cơ thể một cách câm nín để truyền đạt cái đau. McDougall giúp những người như thế tránh được hiểm nguy psychosomatosis với triệu chứng bảo vệ dựa trên lời nói của chứng loạn thần kinh. Một khi chứng loạn thần kinh hình thành, McDougall từ từ giúp họ mang cái tâm tưởng tự vệ đến sự thật và tiến trình biểu tượng hóa uyển chuyển mà chúng ta gọi là (tâm thần) mạnh khỏe.
Như hầu hết những nhà phân tích hiện nay, nhất là những người chú ý đến truyện kể hay biểu tượng hóa, McDougall cẩn thận không dùng phân loại chẩn bệnh để miêu tả con người. Thay vào đó, trong hai cuốn rất hay Theaters Of The Mind và Theatres Of The Body, bà dung hợp ẩn dụ rạp hát, cả hai cho sự thấu hiểu những thất bại trong các tiến trình biểu tượng hóa và miêu tả cuộc du hành nội tại mà bà và bệnh nhân trải qua để chữa trị:

Khi dùng rạp hát như một ẩn dụ cho hiện thực tâm thần, tôi hy vọng tránh được sự phân loại tâm thần căn bản của thực thể y học. Những từ này áp dụng cho triệu chứng chứ không phải cho con người. Để nói một người nào đó là "điên khùng" (neurotic), "điên loạn" (psychotic), "làm việc xấu" (pervert), hay "loạn thần kinh hủy cơ thể" (psychosomatic), nó chỉ hơn việc đặt tên một chút xíu, chứ không đủ để diễn tả sự thể phức tạp và tinh tế là cá tính con người. Nó không những chỉ nuôi ảo tưởng rằng chúng ta đang nói một điều gì thích đáng về một người nào đó, mà còn ám chỉ rằng phần còn lại của chúng ta đều thoát khỏi bi kịch tâm thần nằm dưới triệu chứng mà những từ này nói đến.

Mỗi rạp-hát-bí-mật trong ta... đều giao ước trong việc diễn lại những vai trong quá khứ, dùng kỹ thuật đã khám phá ra ở tuổi thơ và tái sản xuất, với sự chính xác kỳ lạ, cũng những bi hài kịch ấy, với chung cuộc y hệt, cùng lượng đau và lạc thú như cũ. Thứ đã từng cố gắng tự chữa nỗi đau tâm thần và mâu thuẫn giờ lại là triệu chứng mà một người lớn, ta làm lại nữa, theo sau những giải quyết thời con trẻ giờ đã quên. Cảnh kết cuộc phân tâm này có thể gọi là mất trật tự tâm thần hay tự tôn, ghiền hay làm việc xấu, tâm thần hay thác loạn thần kinh, nhưng chúng đều đến từ cái Tôi trẻ con cần tự bảo vệ để chống lại những nỗi khổ tâm thần (3-7).
Nhà phân tâm bước vào những bi kịch thi vị của người bệnh, một cách biểu tượng hóa, với quan niệm giúp họ viết lại bi kịch, để chúng không còn là những hướng dẫn vô thức cố định, gò bó đời sống. Để làm được việc này một cách an toàn, nhà phân tâm phải có một kiến thức sâu kín với “những cá tính nội tâm và viễn kiến riêng” đến từ sự phân tích và tự phân tâm lấy mình. Kết quả, nhà phân tâm phải phân giải hai người cùng lúc, người được phân tâm giải và ông hay bà phân tâm gia, với sự nhận biết toàn triệt rằng người được phân giải sẽ đưa cả hai trên hành trình, dẫn đến những nơi không biết trước và nguy hiểm cho cả hai. Trong mỗi buổi phân giải, sự việc cùng-chữa- trị sẽ xảy ra, nếu nhà phân tâm vẫn mở rộng tâm tình và không ngừng đặt câu hỏi.
Roy Schafer trong The Analytic Attitude gọi phân tâm học là "cuộc đối thoại" và tả nó như cuộc đối thoại tính truyện, trong đó câu truyện lẫn lộn và bao quanh về cái tôi, ta đã học để sống bằng cách đi lại kinh nghiệm ấy một cách tích cực trong sự chuyển nhượng và làm lại một cách khó khăn, thể như thế giới tính truyện của một nhà thơ sẽ là thế. Schafer nói rằng:

Người ta trải qua cuộc phân giải – người được phân giải – kể với nhà phân tâm về chính họ và những người khác trong quá khứ và hiện tại. Trong lúc làm việc diễn dịch, nhà phân tâm kể lại những câu truyện này. Trong lúc kể lại, vài đặc điểm được nhấn mạnh trong khi những đặc điểm khác được đặt trong ngoặc đơn; vài đặc điểm được phát triển xa hơn, có thể thông suốt từ đầu tới đuôi. Việc kể lại là một đường dọc theo phân tâm học... sự phân chia trong nhà phân tâm và người được phân giải không cung cấp được vì cường độ ngày càng tăng, trong đó người được phân giải dần biến thành nhà đồng phân tâm những vấn đề của anh hay chị ấy và, trong vài liên quan nào đó, kể cả vấn đề của nhà phân tâm. Người được phân giải, chính thị, biến thành người kể truyện gan dạ và đáng tin hơn. (210-20)

Trong phần kết luận, chúng ta có thể nói rằng mục đích tối hậu của phân tâm học giúp người ta tự chữa bằng cách giúp họ trở thành những nhà thơ tính truyện hay hơn – với một khả năng tập quen để đổi những biểu tượng bí ẩn của triệu chứng ra ẩn dụ, và viết lại xung động và mục đích của những nhân vật nội tại của họ như thế nào, để tình tiết của đời sống có thể thay đổi tốt đẹp nhất, tùy theo hoàn cảnh thực tại cho phép.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch
Trong cuốn “After New Formalism” của Annie Finch

http://www.thotanhinhthuc.com/THTHTML-N/NTNNTieuLPhanTamHoc




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-22 08:34:16Ngọc Lý>
.


Cám ơn Mộc Hoa Lê và thầy TTL đã góp ý vào đề tài này.

Ngọc Lý đang đi học, nên thấy các bài khảo cứu về tâm lý con người rất thích thú, nhất là trong lãnh vực sáng tạo.

Trong thư quán của chúng ta, cũng có tác phẩm Phân Tâm Học nhập môn do Sigmund Freud viết, Nguyễn Xuân Hiến dịch, và bạn Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003, từ nguồn của VNExpress. Tại đây:

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn4n2nvn31n343tq83a3q3m3237nvn

Cám ơn bạn Thành Viên VN thư quán.

Trong lúc chúng ta đang nói chuyện về Bùi Giáng, cũng như các hiện tượng xôn xao quanh sự phê bình Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư, hay Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu, cách phân tích dựa trên phản ứng con người với các áp lực dồn nén từ vô thức rọi vào những tia sáng giúp chúng ta nhìn rõ bức tranh chung hơn.

Và ngậm ngùi.

Vì nhận ra tất cả các vai trò, như Lý Lạc Long đã viết [1], đều đang phải mang những mặt nạ, và hành trình cởi bỏ các mặt nạ khó khăn đau đớn hơn cho một số người chưa quen sống thực với tâm thức, mà còn đang oằn mình dưới áp lực bên ngoài.

Có phải đó là điều Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu đã nhận ra: tất cả đều là nạn nhân của hoàn cảnh bó buộc từ quá khứ, nhưng hãy dồn sinh lực nuôi lớn thai nhi cho thành NGƯỜI., một con người đúng nghĩa.

Bước đầu tiên, phải là giải tỏa mọi áp lực vô lý của xã hội đang đè nén trên tâm thức người. [:(]




thảm kịch của con. người
bắt đầu từ ta
hay
chúng ta?
một sợi chỉ vàng xuyên suốt ấy
giăng giăng buộc kéo tiếng khóc cười



___

[1] Lý Lạc Long: Cuộc sống và những chiếc mặt nạ.
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=109693&mpage=4
.
Đăng nhập để trả lời
0