Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

3 người lính ngự lâm-Alexandre Dumas 🔒

41 trả lời, 6.919 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-13 13:33:32Ct.Ly>
Chương 1-2 đã có dạng text ở đây:

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=25744

mời mọi người đăng ký gõ tiếp từ chương 3

Chương 3-4

Hoa Tulip đen nhận gõ


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-17 11:06:20ct.ly>
chương 5-6

CuLong767805 nhận gõ
📎 chuong56


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
Mọt Sách thân mến,
CuLong đang gõ truyện Người từ miền đất lạnh, gần xong rồi. Mọt Sách cho CuLong đăng ký tham gia chương 5-6 nhé.
Thông cảm chút. CuLong tham quá, cứ tranh phần với mọi người (vì CuLong rỗi mà).
Có xấu tính quá không?
0
Vậy cho HTLĐ đăng ký gõ chương 3-4 nha!

Thân,
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
0

Trích đoạn: CuLong767805

Mọt Sách thân mến,
CuLong đang gõ truyện Người từ miền đất lạnh, gần xong rồi. Mọt Sách cho CuLong đăng ký tham gia chương 5-6 nhé.
Thông cảm chút. CuLong tham quá, cứ tranh phần với mọi người (vì CuLong rỗi mà).
Có xấu tính quá không?


Thay mặt MS trả lời cho culong nhé

Tham ăn thì xấu, chứ tham gõ truyện thì MS khg có thấy xấu đâu, mà thấy rất là " hảo " lắm đó

Chúc các hiệp sĩ giúp dùm một tay nhé , cho truyện này hoàn tất sớm,
Truyện này hay lắm đó , cố lên các hiệp sĩ ơi [:D]
0
3 NGƯỜI LÍNH NGỰ LÂM

CHƯƠNG III
CUỘC BÁI YẾT


Lúc này Ngài đờ T’rêvin đang rất bực dọc khó chịu; tuy nhiên Ngài lịch sự chào người thanh niên đang cúi mình sát đất để thi lễ và Ngài mỉm cười nhận lời chúc tụng của chàng mà cái giọng xứ Bêác gợi Ngài nhớ lại đồng thời buổi thiếu thời và quê hương ông, cái kỷ niệm kép đó khiến người ta ở mọi lứa tuổi đều mỉm cười, nhưng, hầu như ngay tức khắc, Ngài bước đến gần tiền sảnh và lấy tay ra hiệu với đ’Actanhăng tựa hồ muốn xin phép chàng được giải quyết xong với những người khác đã, trước khi bắt đầu với chàng, rồi Ngài gọi ba lần, lần sau lớn tiếng hơn lần trước thành thử Ngài đi lướt qua cái âm sắc giữa giọng mệnh lệnh và giọng tức giận.
- Atôx! Pooctôx! Aramix!
Hai chàng ngự lâm mà chúng ta đã làm quen đáp lại hai tiếng gọi sau cùng kia và lập tức rời các nhóm họ tham gia, tiến về phía cửa văn phòng mà cánh cửa khép liền ngay sau lưng họ khi họ vừa bước qua ngưỡng cửa. Thái độ của họ mặc dầu không hoàn toàn bình tĩnh, nhưng qua cái vẻ phớt đời vừa đầy tự trọng vừa đầy phục tùng của nó đã gợi lên ở đ'Actanhăng lòng khâm phục, chàng nhìn thấy ở những con người ấy những vị thần và ở thủ lĩnh của họ một Juypite (1) trên núi Olympơ được vũ trang bằng tất cả sấm sét của mình.
Khi hai chàng ngự lâm quân vào rồi, khi cánh cửa đã đóng lại sau lưng họ; khi tiếng rì rầm của gian tiền sảnh mà việc gọi tên vừa rồi chắc chắn đã bồi thêm một món ăn mới bắt đầu trở lại; khi cuối cùng Ngài đờ T’rêvin yên lặng và chau mày đã ba bốn lần đo bước chân suốt chiều dài của văn phòng, mỗi lần đều đi qua trứơc mặt của Pooctôx và Aramix đứng thẳng đơ và câm lặng như trong buổi duyệt binh, Ngài bỗng nhiên dừng lại trước họ và bực tức nhìn họ từ đầu đến chân.
- Các ông có biết đức vua phán bảo gì tôi không, và vừa mới tối hôm qua thôi; các ông có biết không? Ông hét to.
- Bẩm không, hai chàng ngự lâm quân đáp lại sau một lát im lặng, thưa Ngài không, chúng tôi không biết.
Bằng cái giọng lễ phép nhất của mình và bằng cái nghiêng mình thi lễ ưu nhã nhất, Aramix nói thêm:
- Nhưng tôi mong Ngài hãy ra ơn nói cho chúng tôi hay.
- Đức vua phán bảo tôi rằng từ nay Ngài sẽ tuyển mộ ngự lâm quân trong số những vệ sĩ của quan tể tướng!
- Trong số những vệ sĩ của quan tể tướng! Và tại sao vậy? Pooctôx hỏi gấp.
- Bởi vì đức vua thấy rõ là món rượu xoàng của mình phải làm nồng thêm bằng cách pha rượu tốt vào.
Mặt của hai chàng ngự lâm quân đỏ lên tới tận tròng trắng của con mắt. Đ'Actanhăng thất kinh và muốn chui sâu xuống đất.
- Đúng, đúng, Ngài đờ T’rêvin sôi nổi nói tiếp, Hoàng thượng nghĩ phải, vì rằng tôi lấy danh dự mà nói, quả là ngự lâm quân chẳng còn cái thể thống gì ở trong triều. Hôm qua trong buổi đánh bạc với nhà vua, quan tể tướng kể lại với bộ mặt chia buồn làm tôi rất bực mình, rằng hôm kia những tên ngự lâm quân chết tiệt ấy, những bọn thiên lôi quỷ sứ ấy, ông ta nhấn mạnh các từ đó với một giọng mỉa mai khiến tôi càng bực bội hơn; những tên đồ tể xẻ người làm đôi ấy, ông ta vừa nói thêm vừa nhìn tôi bằng con mắt mèo rừng, chúng đã la cà ở phố Fêru trong một quán rượu và một tốp vệ sĩ đi tuần của ông ta – tôi chắc ông ta sắp cười vào mũi tôi - buộc phải giữ những kẻ gây rối. Cha chả! Các ông phải hay biết một chút gì chứ! Bắt giữ lính ngự lâm! Các ông cùng trong bọn đó, các ông ấy, đừng có bào chữa, người ta đã nhận ra các ông và giáo chủ đã nêu tên các ông. Đấy, rõ ràng là lỗi của tôi, phải lỗi của tôi, bởi vì chính tôi đã tuyển chọn người của tôi. Nào, Aramix, đồ quỷ, tại sao ông xin tôi cái áo lính trong khi ông sắp khoác cái áo thầy tu rất hợp với ông? Nào, Pooctôx, chẳng phải ông đã có một cái dải thêu kim tuyến thật mỹ miều để treo một thanh kiếm rơm đó ư? Còn Atôx nữa, tôi không thấy Atôx, ông ta đâu rồi?
- Thưa ngài, Aramix buồn rầu trả lời, ông ấy bị ốm, ốm nặng.
- Ốm nặng à, đúng không? Mà ốm bệnh gì?
Muốn đến lượt mình xen vào câu chuyện Pooctôx đáp:
- Bẩm Ngài, người ta e đó là bệnh đậu mùa; và điều tai hại chắc chắn nó sẽ làm hỏng khuôn mặt của ông ta.
- Bệnh đậu mùa! Pooctôx, ông lại kể cho tôi nghe một câu chuyện ly kỳ nữa đấy! Mắc bệnh đậu mùa vào cái tuổi của ông ta. Không đâu! Chắc chắn là bị thương hay bị giết rồi cũng nên. Tệ thật! Các ông ngự lâm quân, tôi không bằng lòng người ta hay lui tới những nơi bất hảo như vậy, cãi lộn nhau ở ngoài phố và múa kiếm ở các ngã tư. Tóm lại tôi không muốn người ta làm trò cười cho bọn vệ sĩ của ông giáo chủ, họ là những người trung hậu, bình tĩnh, khôn ngoan, chẳng bao giờ để rơi vào trường hợp bắt giữ, vả lại họ cũng chẳng chịu để bị bắt giữ! Tôi tin chắc như vậy. Họ thà chết tại chỗ còn hơn lùi một bước. Tẩu thoát, chuồn lủi, trốn chạy, cái đó thật hợp với ngự lâm quân đấy!
Pooctôx và Aramix tức run lên. Họ có lẽ sẵn sàng bóp cổ Ngài đờ T’rêvin nếu như từ trong chiều sâu của những điều đó hô không cảm thấy lòng yêu thương lớn lao của Ngài đối với họ đã khiến Ngài nói năng như vậy. Họ dậm chân lên tấm thảm, cắn môi đến chảy máu và xiết chặt chuôi kiếm.
Như đã nói, ở bên ngoài người ta đã nghe thấy gọi Atôx, Pooctôx và Aramix và qua giọng nói của Ngài đờ T’rêvin, người ta đã đoán được rằng Ngài đang tức giận vô cùng. Mười cái đầu tò mò áp vào tấm thảm bọc tường và tái đi vì phẫn nộ, bởi vì tai họ dán vào cánh cửa chẳng để sót một tiếng nào trong câu chuyện, trong khi miệng họ lần lần nhắc lại những lời sỉ nhục của người chỉ huy cho mọi người ở tiền sảnh nghe. Trong chốc lát, từ cửa văn phòng đến ra phố, tất cả toà nhà sôi sục lên.
- Chà! Lính cận vệ của nhà vua để cho lính hộ vệ của Ngài tể tướng bắt giữ! Ngài đờ T’rêvin cũng giận dữ như lính của Ngài, tiếp tục nói nhưng giọng giật từng tiếng một và có thể nói lần lượt đâm chúng như ngần ấy mũi dao vào ngực người nghe. Chà! Sáu hộ vệ của Các hạ bắt giữ sáu cận vệ của Hoàng thượng! Ức thật! Tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ đi ngay lập tức đến hoàng cung Luvrơ, tôi xin từ chức chỉ huy ngự lâm quân để xin một chức phó trong đội vệ sĩ của quan tể tướng, và nếu như Ngài chối từ thì, mẹ kiếp, tôi ra làm tu viện trưởng.
Nghe những lời nói đó, tiếng ồn ào ở bên ngoài thành một sự bùng nổ: khắp chỗ chỉ nghe thấy lời chửi rủa và báng bổ. Những tiếng tức thật! Bậy thật! Mẹ kiếp! Chết cha chúng nó đi!... đan vào nhau trong không khí. Đ'Actanhăng tìm một tấm thảm treo để núp sau đó và cảm thấy một nỗi thèm muốn tột độ là rúc xuống gầm bàn.
Pooctôx phát khùng nói:
- A! Thưa Ngài chỉ huy, thật sự sáu người chọi sáu đấy, nhưng chúng tôi bị phản phúc, trước khi chúng tôi có thời giờ rút kiếm ra thì hai người trong bọn chúng nó đã ngã chết, còn Atôx bị thương nặng, cũng chẳng kém là chết là bao. Atôx! Chà! Cậu ta đã hai lần gượng dậy nhưng hai lần lại ngã xuống. Tuy nhiên, chúng tôi không đầu hàng, không! Họ dùng vũ lực lôi chúng tôi đi. Giữa đường chúng tôi chạy thoát. Còn Atôx, họ tưởng chết rồi nên để yên ở bãi chiến trường, cho rằng chẳng bõ mang đi cho mệt xác. Đấy chuyện chỉ có thế. Khổ thay, thưa ngài chỉ huy! Có phải ai cũng trăm trận trăm thắng cả đâu. Pompê (2) vĩ đại đã thua trận ở Phácsan, và vua Frăngxoa đệ nhất (3) , tôi nghe nói chẳng kém cạnh gì ai, thế mà đã thất bại ở Pari.
Aramix tiếp lời:
- Và tôi hân hạnh đảm bảo với Ngài rằng tôi đã giết một tên vệ sĩ bằng kiếm của chính nó, vì kiếm của tôi gãy ngay từ miếng đỡ đầu tiên. Gọi là giết hay đâm chết là tuỳ ý thích của Ngài.
Ngài đờ T’rêvin hơi dịu giọng:
- Tôi không biết việc đó. Theo tôi thấy thì, quan tể tướng đã nói quá đi.
Thấy vị chỉ huy của mình đã nguôi giận, Aramix đánh bạo đưa ra một lời thỉnh cầu:
- Nhưng xin Ngài, xin Ngài làm ơn đừng nói rằng chính Atôx bị thương; chuyện đó đến tai nhà vua người sẽ thất vọng, và do vết thương vào loại nặng nhất, bởi rằng sau khi xuyên qua vai vết thương vào tới ngực, có thể ngại rằng…
Cùng lúc ấy tấm màn cửa nâng lên và một cái đầu thanh cao và đẹp nhưng nhợt nhạt một cách kinh khủng hiện ra dưới tua viền tấm màn.
- Atôx! Hai chàng ngự lâm quân kêu lên.
- Atôx! Ngài đờ T’rêvin cũng nhắc lại.
- Thưa Ngài đã đòi tôi? Atôx nói với Ngài đờ T’rêvin bằng một giọng yếu ớt nhưng hoàn toàn bình thản, theo các bạn cho tôi biết, Ngài đã cho gọi và tôi vội đến nhận lệnh; vậy tôi đây thưa Ngài, Ngài có điều gì cần đến tôi, xin cứ dạy.
Chàng ngự lâm quân mới đến ăn vận không chê vào đâu được, nai nịt như thường lệ, nói xong chững chạc bước vào văn phòng. Ngài đờ T’rêvin xúc động tận đáy lòng trước bằng chứng dũng cảm đó, chạy xô đến chàng và bảo:
- Tôi đang nói với các ông này rằng tôi cấm ngự lâm quân của tôi phơi mạng của mình ra một cách không cần thiết, và rằng những con người trung kiên là rất quý đối với nhà vua và nhà vua biết rằng đội cận vệ của Ngài là những người trung kiên nhất trần đời. Nào, bắt tay ông Atôx.
Và không đợi người mới đến tự mình đáp lại biểu hiện thân ái đó, Ngài đờ T'rêvin nắm lấy tay phải chàng và siết rất mạnh, không nhận thấy rằng mặc dầu tự kiềm chế Atôx vẫn để buột ra một cử chỉ đau đớn và càng tái nhợt hơn, điều mà người ta tưởng như không thể có được ở chàng.
Cánh cửa vẫn hé mở cho nên chuyện Atôx bị thương mặc dầu được giữ kín mọi người vẫn biết cả, việc chàng đến gây một xúc động mạnh mẽ. Một tiếng ồn ào mãn nguyện những lời nói sau cùng của người chỉ huy và vài ba cái đầu bị lòng cuồng nhiệt lôi cuốn hiện ra ở chỗ màn hở. Chắc Ngài đờ T'rêvin sắp sửa dùng những lời gay gắt để trấn áp những sự vi phạm những quy tắc về lễ nghi ấy thì bỗng nhiên Ngài thấy bàn tay Atôx co quắp lại trong bàn tay ông, và đưa mắt nhìn chàng, Ngài thấy chàng sắp ngất. Cùng lúc ấy Atôx gom hết sức lại để chống lại nỗi đau đớn nhưng cuối cùng không thắng nổi, chàng ngã vật xuống sàn như thể chết rồi.
Ngài đờ T'rêvin la to:
- Gọi ngay một nhà giải phẫu! Nhà giải phẫu của tôi hoặc của nhà vua, người giỏi nhất ấy! Một nhà giải phẫu ngay! Nếu không thì trời ơi, Atôx trung hậu của tôi chết đến nơi ồi.
Nghe tiếng kêu của Ngài đờ T'rêvin, mọi người ùa vào văn phòng mà Ngài chẳng còn nghĩ đến ngăn cản một người nào, ai nấy xúm quanh người bị thương. Nhưng sự ân cần cũng sẽ là vô ích nếu thầy thuốc được gọi không ở ngay trong dinh này; ông ta rẽ đám đông, đến gần chỗ Atôx vẫn còn bất tỉnh, và vì tất cả những ồn ào và cử động kia trở ngại rất lớn cho ông ta, ông ta yêu cầu việc đầu tiên và cấp bách nhất là đưa chàng ngự lâm quân sang một phòng bên. Tức khắc, Ngài đờ T'rêvin mở một cánh cửa và chỉ đường cho Pooctôx và Aramix khiêng đồng đội mang đi. Nhà giải phẫu bước theo sau họ và rồi cánh cửa đóng lại sau lưng ông ta.
Thế là cái văn phòng Ngài đờ T'rêvin, cái nơi thường ngày được tôn trọng là thế, trong chốc lát trở thành một chi nhánh của tiền sảnh. Người ta nói năng, bàn tán, hò hét, chửi rủa, văng tục và dành cho quan tể tướng những vệ sĩ của Ngài mọi thứ dơ dáy.
Một lát sau, Pooctôx và Aramix trở lại, chỉ còn nhà giải phẫu và Ngài đờ T'rêvin ở bên người bị thương.
Cuối cùng Ngài đờ T'rêvin cũng quay về. Người bị thương đã tỉnh, nhà giải phẫu tuyên bố rằng tình trạng của chàng ngự lâm quân chẳng có gì đáng làm các bạn anh ta lo ngại, sự suy yếu của anh ta thuần tuý và đơn giản là do mất máu.
Rồi Ngài đờ T'rêvin giơ tay ra hiệu và mọi người rút lui, trừ đ'Actanhăng, chàng không hề quên rằng chàng còn phải yết kiến người chỉ huy và, với tính bền bỉ của người Gaxcông, chàng vẫn ở nguyên tại chỗ.
Khi mọi người ra khỏi phòng và cánh cửa đã khép, Ngài đờ T'rêvin quay lại và thấy chỉ có mình với chàng thanh niên. Sự kiện vừa xảy ra khiến Ngài có phần nào đứt dòng suy nghĩ. Ngài hỏi xem cái người khẩn cầu gan lì này cần gì ở ông. Đ'Actanhăng bèn xưng danh và Ngài đờ T'rêvin lập tức nhớ lại ngay mọi kỷ niệm hiện tại và quá khứ và hiểu ra cảnh ngộ giờ đây của Ngài. Ngài mỉm cười bảo chàng:
- Xin lỗi anh bạn đồng hương thân mến, vừa rồi tôi quên bẵng mất anh. Anh bảo làm thế nào được! Một người chỉ huy chẳng qua là một người cha trong gia đình gánh một trách nhiệm lớn hơn một người cha gia đình thông thường. Lính tráng là những đứa trẻ lớn; nhưng vì tôi rất muốn rằng những mệnh lệnh của nhà vua và nhất là của quan tể tướng được thi hành…
Đ'Actanhăng không giấu nổi một nụ cười. Trước nụ cười đó, Ngài đờ T'rêvin xét thấy mình không phải tiếp chuyện một thằng khờ dại, vừa đi thẳng vào việc, vừa thay đổi câu chuyện, Ngài nói:
- Tôi rất quý mến cụ thân sinh ra anh. Tôi có thể giúp gì cho con cụ nhỉ? Nào nhanh lên, thời gian không thuộc về tôi.
- Thưa Ngài, đ'Actanhăng nói, rời Tacbơ đến đây, nhớ đến tình bằng hữu kia mà Ngài không quên, tôi trù tình xin Ngài ban cho một tấm áo ngự lâm quân; nhưng khi chứng kiến mọi chuyện xảy ra từ hai tiếng đồng hồ qua, tôi hiểu rằng một ân huệ như vậy thật là lớn lao, và tôi e sợ không xứng đáng với nó.
- Quả thật đó là một ân huệ, anh bạn trẻ ạ, Ngài đờ T'rêvin đáp, nhưng có thể nó không quá cao xa như anh tưởng hoặc như anh có vẻ tưởng vậy đâu. Tuy nhiên một sắc dụ của Hoàng thượng đã tiên liệu trường hợp đó; và tôi lấy làm tiếc phải thông báo với anh rằng người ta không nhận bất cứ ai vào ngự lâm quân trước khi có sự thử thách tiên quyết trong vào chiến dịch, vài hành động lẫy lừng hoặc trong việc phục vụ hai năm tại một trung đoàn nào khác không được ưu đãi bằng trung đoàn của chúng tôi.
Đ'Actanhăng cúi mình không đáp. Chàng tự cảm thấy cành khao khát mặc đồng phục ngự lâm quân hơn từ lúc chàng cảm thấy có nhiều khó khăn lớn lao đến thế để giành lấy nó.
Ngài đờ T'rêvin vừa nói vừa nhìn chằm chằm vào gn đồng hương bằng một cái nhìn sắc bén đến mức có thể như Ngài muốn đọc thấu tim gan chàng:
- Nhưng thể tình cụ thân sinh anh, người bạn chiến đấu cũ của tôi như tôi đã nói với anh, tôi muốn làm một cái gì đó cho anh, anh bạn trẻ ạ. Những người sinh sau chúng tôi ở Bêác thường không giàu có và tôi nghĩ rằng từ khi tôi rời tỉnh nhà mọi sự đã thay đổi bộ mặt nhiều lắm. Chắc anh chẳng có thừa thãi để tiêu xài với số tiền anh mang theo.
Đ'Actanhăng dướn thẳng người lên với một vẻ kiêu hãnh như muốn nói rằng chàng không xin bất cứ ai bố thí cả.
- Khá đấy! Khá đấy! Chàng trai trẻ ạ, Ngài đờ T'rêvin tiếp tục, tôi hiểu những bộ dạng ấy rồi; tôi đã đến Pari với bốn êquy trong túi vậy mà tôi sẽ đánh nhau với bất cứ ai dám bảo rằng tôi không thể tậu nổi cung điện Luvrơ.
Đ'Actanhăng càng dướn thẳng người hơn nữa, nhờ bán con ngựa, chàng đã bắt đầu sự nghiệp của mình với những bốn êquy nhiều hơn Ngài đờ T'rêvin khi Ngài bắt đầu sự nghiệp của Ngài.
- Vậy theo tôi, anh cần phải giữ gìn lấy cái mà anh có, dù cho món tiền đó lớn mấy chăng nữa, nhưng anh cũng cần tự rèn luyện bằng những cuộc tập dượt xứng đáng với một người quý tộc. Ngay hôm nay, tôi sẽ viết một bức thư cho ông Giám đốc học viện võ thuật Hoàng gia, và ngay ngày mai, ông ta sẽ nhận anh vào mà chẳng lấy một chút tiền lệ phí nào. Chớ có từ chối điều ân cần nhỏ bé này. Những người danh gia thế phiệt nhất và giàu có nhất của chúng ta đôi khi cầu cạnh lấy nó mà chẳng được đấy. Anh sẽ học đua ngựa, đấu kiếm và khiêu vũ; ở đó anh sẽ giao thiệp với những người tử tế, và thỉnh thoảng anh sẽ trở lại cho tôi biết anh đã tiến tới đâu và xem tôi cò thể làm điều gì cho anh.
Đ'Actanhăng, mặc dù còn hoàn toàn xa lạ với những kiểu cách của triều đình, cũng nhận thấy vẻ lạnh nhạt trong sự tiếp đón.Chàng nói:
- Than ôi, thưa Ngài, bây giờ tôi mới thấy rõ không mang bức thư giới thiệu của cha tôi đã trao cho tôi để trình Ngài hôm nay thật tai hại cho tôi biết chừng nào!
- Quả thật, Ngài đờ T'rêvin đáp, tôi ngạc nhiên là anh đã làm cuộc hành trình dài đến thế mà không có cái khoảnlộ phí bắt buộc ấy, phương tiện duy nhất của người Bêác chúng ta.
Đ'Actanhăng kêu lên:
- Bẩm Ngài, tôi đã có mang bức thư và lạy trời, đúng như quy cách, nhưng người ta đã điên đảo lấy cắp mất của tôi rồi.
Rồi chàng kể lại ngọn ngành cuộc xung đột ở Mơng, tả gã quý tộc không quen biết với những chi tiết nhỏ nhặt nhất, tất cả với một niềm hăng hái và một sự thật khiến Ngài đờ T'rêvin rất thích thú.
- Thế mới kỳ lạ, Ngài trầm ngâm nói, vậy là anh đã nói to tên tôi lên phải không?
- Thưa vâng, có lẽ tôi đã mắc cái điều khinh suất ấy; nhưng biết làm thế nào, một cái tên như tên Ngài cần được sử dụng làm cái mộc cho tôi khi đi đường xin Ngài xét xem liệu tôi có luôn luôn được che chở an toàn không!
Câu tâng bốc ấy thật là đắc địa và Ngài đờ T'rêvin thích những lời tán tụng chẳng khác gì một đức vua hoặc một vị hồng y giáo chủ. Ngài không thể nén được một nụ cười thoả mãn. Song nụ cười ấy sớm tắt ngay, và tự mình trở lại câu chuyện xảy ra ở Mơng, Ngài nói:
- Anh hãy cho tôi biết, gã quý tộc có một vết sẹo nhỏ ở má phải không?
- Có, như một vết đạn xướt qua.
- Có phải một người có vẻ phong nhã không?
- Vâng.
- Da tái và tóc nâu?
- Vâng, vâng, đúng như thế. Thưa Ngài, làm sao Ngài lại biết được người ấy? À! Nếu có bao giờ tôi thấy lại hắn, và nhất định sẽ thấy lại hắn thôi, tôi xin thề với Ngài, dù là ở dưới âm phủ…
- Hắn đợi một người đàn bà à? T’rêvin hỏi tiếp.
- Ít ra là hắn cũng ra đi sau khi đã nói chuyện một lát với người đàm bà mà hắn chờ đợi.
- Anh không biết họ nói về chuyện gì ư?
- Hắn đưa bà ta một cái hộp và nói rằng trong đó đựng những điều huấn thị và dặn đến Luân đôn mới được mở ra.
- Người đàn bà là người Anh?
- Hắn gọi là Milađy.
- Đúng hắn! Ngài đờ T'rêvin lẩm bẩm, đúng hắn! Ta tưởng hắn hãy còn ở Bruxen.
- Ôi thưa Ngài, đ'Actanhăng vội nói, nếu Ngài bếit người đó là ai, xin hãy chỉ cho tôi rõ hắn tên là gì, ở đâu, và tôi xin coi như là Ngài đã hết nợ với tôi, kể cả lời hứa của Ngài cho tôi vào ngự lâm quân, vì rằng trước hết mọi việc, tôi muốn rửa hận đã.
- Hãy hết sức cẩn thận với người ấy, anh bạn trẻ ạ, Ngài đờ T'rêvin kêu lên; trái lại nếu có thấy hắn đi bên này đường, anh hãy đi sang phía bên kia! Chớ có húc vào một tảng đá như vậy, anh sẽ tan tành như một quả trứng.
- Điều đó không ngăn cản tôi nếu có ngày tôi gặp lại hắn… đ'Actanhăng nói.
- Trong khi chờ đợi, Ngài đờ T'rêvin tiếp, đừng có tìm hắn, tôi khuyên anh đấy.
Bỗng Ngài đờ T'rêvin ngừng lại, bàng hoàng vì một mối nghi ngờ đột ngột. Mối thù hằn tột độ mà tên du khách trẻ tuổi cứ nói oang oang lên như thế đối với người kia, người đã lấy cắp bức thư của cha hắn, mối thù hằn ấy có phải che giấu một âm mưu nham hiểm nào đó? Phải chăng tên thanh niên này do Các hạ phái đến? Phải chăng hắn đến để bẫy Ngài? Cái kẻ tự xưng là đ'Actanhăng này phải chăng là một tên do thám của Hồng y giáo chủ mà người ta đã tìm cách đưa vào nhà Ngài để dùng mưu lấy lòng tin cậy của Ngài rồi làm hại Ngài sau này, như điều đó đã được áp dụng hàng nghìn lần rồi? Lần này Ngài nhìn đ'Actanhăng chằm chặp hơn lần đầu. Cái vẻ mặt ánh lên tinh thần giảo hoạt và cung kính giả tạo kia khiến Ngài không được yên tâm lắm.
- Ta biết rõ hắn là người Gaxcông, ông nghĩ bụng, nhưng hắn rất có thể là Gaxcông đối với ông giáo chủ cũng như đối với ta. Nào thử thách hắn xem sao. Ngài từ tốn nói: Anh bạn ơi, do chỗ anh bạn là con ông bạn cũ của tôi và bởi vì tôi xem chuyện bứcthư bị mất là có thật, tôi muốn sửa chữa vẻ lạnh nhạt mà anh thấy lúc ban đầu tôi tiếp anh, tôi sẽ bộc lộ với anh về chính sách của chúng tôi. Đức vua và quan tể tướng là những người bạn tốt nhất; những chuyện rắc rối bề ngoài giữa hai người chỉ là để đánh lừa những kẻ ngốc nghếch thôi. Tôi không muốn rằng một bạn đồng hương, một kỵ mã đẹp trai, một con người trung hậu, sinh ra dể thăng tiến lại bị lừa bởi tất cả những trò giả vờ đó và mắc vào lưới như là một kẻ ngu đần theo sau biết bao nhiêu kẻ khác đã sa vào đó. Anh hãy tin rằng tôi trung thành với cả hai vị chúa tể toàn năng ấy, và những hoạt động nghiêm túc của tôi chẳng bao giờ có một mục đích nào khác ngoài việc phụng sự đức vua và phụng sự quan tể tướng, một trong những thiên tài lỗi lạc nhất mà nước Pháp đã sinh ra. Bây giờ anh bạn trẻ ạ, anh hãy noi theo đó, và nếu do hoặc gốc gác họ hàng, hoặc những mối quan hệ, hoặc do ngay bản năng, anh mang một mối thù hằn nào đó với quan tể tướng như chúng ta vừa thấy bùng ra ở những chàng quý tộc nọ, thì anh hãy nói lời vĩnh biệt và chúng ta hãy chia tay nhau. Tôi sẽ giúp đỡ anh mọi hoàn cảnh nhưng không ràng buộc anh với cá nhân tôi. Dẫu sao tôi hy vọng rằng tấm lòng thành thật của tôi sẽ khiến anh trở thành người bạn trẻ duy nhất mà tôi có thể nói thật ra như vừa rồi.
Ngài đờ T'rêvin tự nhủ thầm:
- Hồng y giáo chủ thừa biết ta ghét cay ghét đắng lão, nếu như lão phái đến ta con cáo non này, hẳn là lão đã chẳng quên dặn dò tên gián điệp của lão rằng cách tốt nhất để lấy lòng ta là bôi nhọ lão thậm tệ; cho nên mặc dầu những lời thanh minh của ta, chắc chắn thằng cha láu cá này sẽ trả lời ta rằng nó kinh tởm Các hạ.
Nhưng khác hẳn điều Ngài đờ T'rêvin chờ đợi, đ'Actanhăng trả lời một cách giản dị nhất:
- Thưa Ngài, tôi đến Pari với ý đồ hoàn toàn giống như vậy. Cha tôi đã dặn dò tôi chỉ chịu nhịn có đức vua, quan tể tướng và đờ T’rêvin mà người cho là ba vị đứng đầu nước Pháp.
Như ta có thể nhận thấy, đ'Actanhăng đã đưa thêm Ngài đờ T'rêvin vào hai vị kia, nhưng chàng nghĩ rằng việc thêm thắt đó chẳng có hại gì, chàng nói tiếp:
- Vì vậy tôi hết sức tôn sùng quan tể tướng và hết sức kính trọng những hành động của người. Thưa Ngài, nếu Ngài chuyện trò với tôi như Ngài cừa nói với lòng thành thực thì càng hay cho tôi; bởi vì Ngài sẽ cho tôi vinh dự được tr6an trọng sự giống nhau về sở nguyện này; nhưng nếu Ngài có một chút nghi ngờ nào điều đó rất tự nhiên thôi, thì tôi cảm thấy mình bị hố khi nói lên sự thật; nhưng không sao, rồi Ngài sẽ chẳng thể nào không mến chuộng tôi và đó là điều tôi tha thiết nhất, hơn tất cả mọi sự ở đời.
Ngài đờ T'rêvin kinh ngạc đến cực điểm. Biết bao thấm thía, biết bao chân thành cuối cùng đã gây nên lòng thán phục, nhưng vẫn chưa cất hết được những nỗi nghi ngờ của Ngài; người thanh niên này càng siêu việt hơn những chàng trẻ khác thì lại càng đáng sợ hơn nếu như Ngài lầm lẫn. Tuy vậy, Ngài bắt tay đ'Actanhăng và bảo:
- Anh là một người trung thực, nhưng lúc này tôi chỉ có thể làm cái điều mà tôi hứa với anh. Nhà tôi sẽ luôn mở rộng đối với anh. Sau này anh có thể tìm gặp tôi bất cứ lúc nào và do đó tranh thủ mọi cơ hội chắc anh sẽ đạt được điều mà anh mong muốn.
- Thưa Ngài, thế có nghĩa là Ngài đợi cho đến khi tôi trở nên xứng đáng với điều đó, vậy thì Ngài hãy yên tâm, Ngài sẽ không phải chờ đợi lâu đâu.
Đ'Actanhăng nói như vậy với cái vẻ suồng sã của người Gaxcông. Rồi chàng cáo biệt như thể từ nay trở đi mọi cái đều do càhng định đoạt.
- Nhưng hãy đợi tí đã, Ngài đờ T'rêvin ngăn chàng lại, tôi đã hứa với anh một bức thư gửi quan Giám đốc Học viện võ thuật, anh có quá kiêu hãnh đến nỗi không nhận nó không, nhà quý tộc của tôi?
- Thưa không, đ'Actanhăng đáp, tôi xin bảo đảm là nó sẽ chẳng bị như bức thư trước. Tôi sẽ giữ gìn nó cẩn thận đến mức tôi xin thề với Ngài là nó sẽ đến tận địa chỉ của nó, và vô phúc cho kẻ nào mưu toan đoạt thư đó của tôi.
Ngài đờ T'rêvin mỉm cười trước lời nói huênh hoang đó và để người đồng hương trẻ đứng ở cửa sổ, nơi hai người vừa nói chuyện với nhau, Ngài bắt đầu viết bức thư đã hứa. Trong khi ấy đ'Actanhăng chẳng biết làm gì hơn là lững thững bước trên nền nhà nhìn những ngự lâm quân người nọ tiếp theo sau người kia đi ra ngoài và trông theo họ cho đến lúc họ khuất chỗ ngoặc thành phố.
Sau khi viết xong bức thư và niêm phong, Ngài đờ T'rêvin đứng dậy gần chàng thanh niên để đưa cho chàng, nhưng đúng lúc đ'Actanhăng chìa tay ra nhận thì Ngài đờ T'rêvin rất đỗi ngạc nhiên khi thấy con người được ông che chở nhảy vọt lên, mặt đỏ bừng vì giận dữ và vừa băng bình ra khỏi văn phòng, vừa băng mình ra ngoài văn phòng vừa la lên:
- A! Đồ chết tiệt! Lần này nó không thoát khỏi tay ta.
- Nhưng ai đấy? Ngài đờ T'rêvin hỏi.
- Nó đấy! Thằng ăn cắp của tôi! Đ'Actanhăng trả lời. A! Đồ phản trắc!
Và chàng biến mất.
- Thằng điên rồ! Ngài đờ T'rêvin lẩm bẩm. Tuy nhiên, Ngài nói tiếp, trừ phi đó là một thủ đoạn khôn khéo để chuồn khi nó nhận thấy rằng nó đã bị lộ chân tướng.

(1) Trong thần thoại Juypite là chúa tể của các vị thần ở núi Olympơ, là thần của Trời, Ánh sáng ban ngày, Sấm sét và Thời gian.
(2) Pompê, tướng La Mã cùng với Xêda và Croxux lập nên Tam hùng chế, sau chống lại Xêda, bị thua trận ở Pharxan năm 48 trước công nguyên, trốn sang Ai Cập và bị ám sát.
(3) Frăngxoa đệ nhất, vua nước Pháp (1515 – 1547) chống lại đế tộc Áo và bị thua trận ở Pari năm 1525.


(hết chương 3)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
0
Ba người lính ngự lâm, chương V
📎 CHƯƠNGV|CHƯƠNGV
0
CHƯƠNG IV
CAI VAI CỦA ATÔX, TẤM DA ĐEO GƯƠM CỦA POOCTÔX VÀ CHIẾC KHĂN TAY CỦA ARAMIX.


Đ'Actanhăng giận dữ đã vượt qua tiền sảnh bằng ba bước nhảy và băng ra cầu thang mà chàng toan xuống bốn bậc một thì vì mải chạy chàng húc phải một người lính ngự lâm vừa ra khỏi nhà Ngài đờ T'rêvin bằng một cửa phụ và trán chàng va vào vai người đó khiến anh ta kêu lên hay đúng hơn là rú lên một tiếng:
- Xin lỗi ông, đ'Actanhăng vừa nói vừa định tiếp tục chạy, xin lỗi ông, tôi đang vội quá.
Chàng chưa xuống hết cầu thang thứ nhất thì một bàn tay sắt đã nắm lấy dải áo chàng và giữ chàng lại. Người lính ngự lâm nhợt nhạt như tấm vải liệm la lên:
- Ông đang vội, với lý do đó ông húc tôi rồi ông nói “xin lỗi” và ông tưởng như thế là đủ à? Không hẳn như vậy đâu ông bạn trẻ ạ! Vì hôm nay, ông đã được nghe thấy Ngài đờ T'rêvin nói năng với chúng tôi hơi sỗ sàng, ông tưởng rằng, người ta có thể đối xử với chúng tôi như Ngài ấy nói với chúng tôi được chăng? Hãy tỉnh ra ông bạn ạ, ông đâu có phải là Ngài đờ T'rêvin!
Đ'Actanhăng nhận ra là Atôx sau khi được thầy thuốc băng bó xong trở về nhà, vội nói:
- Tôi xin thề rằng đã không cố tình làm như vậy và vì không cố tình làm, tôi đã nói “xin lỗi ông”. Tôi tưởng như thế đã đủ rồi. Tuy nhiên, tôi xin nhắc lại, lần này có lẽ là quá đấy; tôi lấy danh dự mà nói là tôi đang vội, rất vội. Vậy ông hãy buông tôi ra, tôi van ông, và hãy để cho tôi đi đến nơi tôi có việc. Atôx buông chàng ra và nói:
- Thưa ông, ông có lễ độ. Người ta thấy là ông từ xa đến đây.
Đ'Actanhăng đã nhảy được ba bốn bậc, nhưng trước sự nhận xét của Atôx, chàng liền đứng phắt lại và nói:
- Lạ thật! Này ông, dù tôi có ở xa mấy đến đây chăng nữa cũng không phải là ông sẽ dạy tôi một bài học về sự lịch thiệp đâu, tôi nói cho ông biết.
- Cũng có thể, Atôx nói.
- A! nếu như tôi không rất vội, đ'Actanhăng kêu lên, và nếu như tôi không bận chạy theo một người…
- Này, thưa ông vội vã, ông sẽ thấy là chẳng chạy đâu, ông hiểu chứ?
- Vậy thì ở đâu nào, xin cho biết.
- Ở gần Cácmơ-Đêsô.
- Mấy giờ?
- Buổi trưa.
- Buổi trưa, được lắm, tôi sẽ đến đó.
- Ráng đừng để tôi phải đợi, vì quá trưa mười lăm phút, tôi sẽ đuổi theo và xẻo tai ông đó.
- Được! Đ'Actanhăng quát to, ta sẽ ở đó lúc mười hai giờ kém mười phút.
Và chàng lại chạy như bị ma đuổi, hy vọng tìm thấy kẻ lạ mặt mà bước chân bình thản chưa thể dẫn hắn đi xa.
Nhưng ở cổng ra phố, Pooctôx đang nói chuyện với một người lính trong đội thị vệ của nhà vua, giữa hai người đang trò chuyện có một khoảng cách vừa đúng cho một người đi. Đ'Actanhăng cho rằng khoảng cách đó rất đủ và chàng băng mình để lọt qua hai người như một mũi tên. Nhưng đ'Actanhăng đã không tính đến sức gió. Khi chàng vừa tới nơi thì gió lùa tung tấm áo choàng dài của Pooctôx và đ'Actanhăng nhào thẳng vào tấm áo. Chắc hẳn Pooctôx có những duyên cớ để không bỏ đi cái phần thiết yếu ấy trên bộ y phục của mình, vì đáng lẽ để mặc kệ cái tà áo choàng đang giữ thì chàng lại vội kéo nó lại thành thử bằng một vòng quay đ'Actanhăng bị quấn vào trong tấm áo choàng nhung, điều đó chứng tỏ anh chàng Pooctôx ngoan cố đã chống cự đến thế nào để giữ áo lại.
Nghe người lính ngự lâm chửi rủa, đ'Actanhăng muốn chui ra khỏi tấm áo choàng đã che lấp mắt chàng và mò tìm lối thoát ở trong nếp áo. Chàng sợ nhất là đã làm hư hại tấm dải đeo gươm mới tinh và tuyệt đẹp mà chúng ta đã biết; nhưng rụt rè mở mắt ra chàng thấy mũi mình dính vào giữa hai vai Pooctôx nghĩa là đúng chỗ tấm dải đeo gươm.
Hỡi ôi! Giống như phần lớn các sự vật ở trên đời này chỉ có cái mã ngoài cho chúng mà thôi, tấm dải đeo gươm được thêu kim tuyến phía trước, còn phía sau trần là da trâu. Pooctôx vốn là người thật sự hư vinh, đã không thể có một dải đeo gươm toàn dát vàng thì ít nhất phải có được một nửa; từ đó, ta hiểu chứng cảm mạo là cần thiết và tấm áo choàng là cấp bách cho chàng.
- Con khỉ! Pooctôx vừa kêu vừa cố hết sức tống khứ đ'Actanhăng đang lục đục trong lưng áo mình; anh hoá dại hay sao mà đâm quàng đâm xiên vào người ta như thế.
Đ'Actanhăng chui ra ở dưới vai người khổng lồ và nói:
- Xin lỗi ông, tôi vội quá, tôi đang chạy theo một người và…
- Có phải tình cờ mà ông bỏ quên cả mắt khi chạy không? Pooctôx hỏi.
- Không đâu, đ'Actanhăng cáu tiết trả lời; không đâu, chính nhờ đôi mắt của tôi mà tôi nhìn thấy cả những cái mà người khác không nhìn thấy.
Pooctôx có hiểu hay không hiểu, chỉ biết chàng đùng đùng nổi giận:
- Này ông, nếu ông chà xát như vậy vào người lính ngự lâm, ông sẽ tự làm cho ông được chải lông (1), tôi báo trước cho ông biết.
- Chải lông à? Tiếng đó nghe sỗ sàng đấy ông ạ!
- Đó là tiếng thích hợp với một người quen nhìn thẳng vào mặt kẻ thù của mình.
- A! Mẹ kiếp! Tôi biết chắc rằng ông chẳng có quay lưng lại kẻ thù của ông đâu.
Khoái trá vì câu nói tinh quái của mình chàng thanh niên vừa rời bước đi vừa cười nắc nẻ,
Pooctôx tức sùi bọt mép và định nhảy bổ vào đ'Actanhăng.
- Khoan, khoan, đ'Actanhăng hét to, khi nào ông không mang áo choàng nữa chứ.
- Vậy thì vào một giờ, sau vườn Luyxembua.
- Được lắm, một giờ, đ'Actanhăng đáp và rẽ ngoặt vào góc phố.
Nhưng ở phố chàng vừa chạy qua lẫn trong phố chàng đang nhìn bao quát, chàng chẳng thấy một ai. Cho dù kẻ lạ mặt có đi rất thong thả, hắn cũng đã lợi đường đất rồi; cũng có thể hắn đã vào một nhà nào đó – Đ'Actanhăng gặp ai cũng hỏi về hắn, chàng đi xuống tận bến phà, ngược phố sông Xen và phố Hồng thập tự nhưng chẳng có gì, tuyệt đối không có gì hết. Song cuộc chạy ấy có lợi cho chàng ở chỗ mồ hôi ướt đẫm trán chàng chừng nào thì con tim chàng cũng nguội theo chừng ấy.
Chàng bắt đầu suy nghĩ về những sự kiện chồng chất và xúi quẩy vừa xảy ra: bây giờ mới xuýt xoa mười một giờ trưa. Vậy mà buổi sáng nay đã đem lại cho chàng sự thất sủng của Ngài đờ T'rêvin. Ngài ấy không khỏi thấy chàng từ biệt Ngài ấy một cách hơi lỗ mãng.
Ngoài ra chàng đã gom nhặt được hai trận quyết đấu đáng gờm với hai người, mỗi người có thể giết chết ba đ'Actanhăng, rốt cuộc là với hai lính ngự lâm nghĩa hai trong số những con người chàng hết sức quý trọng ấy, mà chàng đặt lên trên mọi người khác ở trong tư tưởng và trong trái tim mình.
Sự ức đoán thật đáng buồn. Người ta biết rằng, cầm chắc chết vì tay Atôx rồi, chàng thanh niên không lo ngại nhiều lắm về Pooctôx. Dù sao hy vọng vẫn là cái điều cuối cùng lụi tắt ở trong trái tim con người, chàng lại đi đến hy vọng có thể sống sót đấu với những vết thương khủng khiếp, dĩ nhiên, và trong trường hợp sống sót, chàng tự đề ra cho tương lai những điều quở trách dưới đây:
- Ta đến là quẫn trí và thật là một kẻ thô lỗ! Anh chàng Atôx quả cảm và bất hạnh ấy bị thương đúng vào bên vai mà ta húc đầu vào như một cái chày phá cổng thành. Điều duy nhất làm ta ngạc nhiên là sao anh ta không giết chết tươi mình ngay; anh ta có quyền làm như thế, và sự đau đớn ta gây cho anh ta chắc khủng khiếp lắm. Còn về Pooctôx, ồ! Còn về Pooctôx quả thật là buồn cười hơn.
Và dù không muốn, chàng thanh niên vẫn cứ cười, nhưng vừa cười vừa nhìn xem cái cười đơn độc và vô cớ ở trong con mắt những ai thông thấy chàng cười liệu có xúc phạm phải một người đi đường nào không.
- Còn về Pooctôx, thật là buồn cười hơn; nhưng ta cũng là một kẻ dại dột chẳng kém; có ai lại đi đâm bổ như thế vào người ta mà không báo trước! Không! Và có ai lại đi dòm người ta ở dưới áo choàng để xem cái gì không có ở đấy! Chắc chắn anh ta đã tha thứ cho ta; nếu như ta không nói bóng nói gió về tấm da đeo gươm của nó ấy; đúng thế, bóng gió một cách hay ho! Chà! Ta là một thằng Gaxcông đáng nguyền rủa, có phen toi mạng vì giở trò láu cá châm chọc. Này đ'Actanhăng anh bạn của ta ơi. Chàng tiếp tục nói với mình với tất cả sự hoà nhã mà chàng thấy cần phải có, nếu cậu thoát nạn, điều ấy không chắc, thì sau này chính là phải có một thái độ lịch sự hoàn toàn. Từ nay trở đi cần phải làm cho người ta thán phục cậu, kể vể cậu như một mẫu mực. Ân cần và lễ độ không phải là hèn nhát. Hãy nhìn Aramix mà xem, Aramix đó là hiện thân của dịu dàng, của ưu nhã. Vậy mà có ai dám nói rằng Aramix là một kẻ hèn nhát đâu! Không, hẳn hoi là không, và từ nay trở đi ta muốn noi theo anh ta về mọi điểm. A! Vừa đúng anh ta đây rồi.
Vừa bước đi vừa độc thoại, đ'Actanhăng đã đến cách dinh Eghiông vài bước và trước cửa dinh chàng thấy Aramix đang chuyện trò vui vẻ với ba nhà quý tộc trong đội thị vệ nhà vua. Về phần mình, Aramix cũng trông thấy đ'Actanhăng nhưng vì không quên rằng sáng nay chính trước mắt người thanh niên này Ngài đờ T'rêvin đã nổi cơn thịnh nộ, và một kẻ chứng kiến một điều quở trách ngự lâm quân đối với chàng là chẳng dễ chịu một tí nào cả, cho nên chàng giả vờ không nhìn thấy. Trái lại, đ'Actanhăng toàn tâm toàn ý với kế hoạch hoà giải và phép lịch sự của mình, vừa bước đến gần bốn người trẻ tuổi kia vừa thi lễ rất trịnh trọng kèm theo một nụ cười duyên dáng nhất. Aramix khẽ cúi đầu nhưng không mỉm cười. Ngoài ra cả bốn người tức khắc ngừng ngay câu chuyện của họ lại.
Đ'Actanhăng chẳng phải khá đần độn để không nhận thấy mình là thừa; nhưng chàng chưa đủ từng trải với những kiểu cách của giới thượng lưu để rút lui ít vụng về nhất, thì nhận thấy Aramix đánh rơi chiếc khăn tay và có lẽ vô tình đã giẫm chân lên; xem chừng cái cơ hội cho chàng sửa chữa điều phi lễ của mình đã tới, chàng bèn cúi xuống và với vẻ tao nhã nhất chàng có thể tìm được chàng rút khăn tay ở dưới chân người lính ngự lâm mặc dầu anh ta cố ra sức giữ lại, rồi đưa trả anh ta chàng vừa nói:
- Thưa ông, tôi nghĩ rằng đây là chiếc khăn tay của ông mà nếu bị mất chắc là ông sẽ khá là phiền lòng.
Quả thật cái khăn tay được thêu rất là sang trọng và mang tước hiệu và gia huy ở một góc. Aramix đỏ bừng mặt và giật lấy đúng hơn là cầm lấy chiếc khăn tay từ tay chàng Gaxcông.
- A, a! Một người thị vệ kêu lên, anh chàng Aramix kín đáo, cậu có còn nói rằng cậu giận nhau với bà Boa-Thaxy nữa không, khi mà vị phu nhận duyên dáng kia có hảo ý cho cậu mượn những khăn tay của bà.
Aramix ném vào đ'Actanhăng cái nhìn nó làm cho người ta hiểu được rằng mình mới chuốc lấy một kẻ tử thù. Rồi lấy lại vẻ hiền dịu của mình, chàng nói:
- Thưa các Ngài, các Ngài lầm rồi, cái khăn tay này không phải của tôi và tôi không hiểu tại sao ông này đã có ngông ý là đưa cho tôi chứ không phải cho một người khác, và chứng cớ của điều tôi nói là khăn tay của tôi đây ở trong túi tôi.
Dứt lời chàng rút khăn riêng của mình ra, một chiếc khăn cũng rất diện gằng vải gai mịn mỏng, mặc dầu thứ vải ấy hồi đó rất đắt, nhưng là khăn không thêu, không huy hiệu mà chỉ trang trí một đấu riêng, chữ tắt của chủ nó.
Lần này đ'Actanhăng không nói nửa lời, chàng đã nhận thấy mình bị hố to rồi; nhưng mấy người bạn của Aramix không chịu nghe những lời chối cãi của Aramix và một người quya ra nói với chàng ngự lâm trẻ bằng một vẻ làm ra nghiêm trang:
- Aramix thân mến ạ, nếu đúng như cậu nói, tôi buộc phải xin lại cậu chiếc khăn; bởi vì như cậu biết đấy, ông Boa-Thaxy là chỗ bạn thân của tôi, và tôi không muốn người khác lấy áo xống của vợ ông ta làm điều vẻ vang.
- Cậu đòi thế bậy rồi, Aramix đáp; và dù thừa nhận yêu sách của cậu là xác đáng về nội dung thì tôi cũng từ chối về hình thức.
Đ'Actanhăng rụt rè đưa ra ý kiến của mình:
- Sự thật là tôi không trông thấy chiếc khăn tay rơi từ túi ông Aramix ra. Ông ấy chỉ dẫm chân lên, tất cả chỉ có thế, nhưng tôi đã nghĩ rằng bởi vì ông ấy dẫm chân lên thì chiếc khăn là của ông ấy.
- Và ông đã lầm, thưa ông thân mến, Aramix lạnh lùng, thờ ơ với lời nói chữa.
Rồi quay lại phía người thị vệ tự xưng là bạn của ông Boa-Thaxy, chàng nói tiếp:
- Vả lại người thân với Boa-Thaxy ơi, tôi suy nghĩ rằng đối với ông ta tôi là người bạn không kém thân mến như cậu, thành thử ra nói cho cùng, chiếc khăn tay cũng có thể rơi từ túi của cậu hoặc của tôi.
- Không đâu, tôi lấy danh dự mà thề! Người thị vệ nhà vua kêu lên.
- Cậu lấy danh dự ra mà thề, còn tôi, tôi lấy lời nói ra thề, vậy thì hiển nhiên có một trong hai chúng ta nói dối. Này Môngtarăng, tốt hơn hết là mỗi người chúng ta lấy một nửa.
- Của chiếc khăn ư?
- Ừ.
Hai người thị vệ khác hét to:
- Hay lắm, sự phán xét của vua Xalômông (2) Aramix này, dứt khoát là cậu khôn thấy bà đấy.
Bọn trai trẻ phá ra cười và đúng như người ta nghĩ, tất nhiên sự việc không có tiếp diễn gì. Một lát sau khi câu chuyện chấm dứt, ba người thị vệ và người lính ngự lâm thân mật siết tay nhau rồi dời chân, người thị vệ đi đàng họ và Aramix đi đàng mình.
- Đây là lúc dàn hoà với con người phong nhã kia đây, đ'Actanhăng nói một mình như vậy; trong suốt phần cuối của câu chuyện chàng đã đứng hơi tách ra. Với thiện ý đó, chàng bước đến gần Aramix lúc ấy đang dời xa chẳng để ý đến chàng.
- Thưa ông, chàng nói, tôi hy vọng ông sẽ thứ lỗi cho.
- A, ông đấy à? Aramix ngắt lời, cho phép tôi lưu ý ông là trong trường hợp vừa rồi, ông đã chẳng hành động như một người phong nhã phải làm.
- Sao vậy thưa ông, đ'Actanhăng kêu lên, ông giả định…
- Tôi giả định rằng ông không phải là một người ngu, và dù ông mới từ Gaxcông đến, ông cũng phải biết rằng không dưng người ta lại vô cớ dẫm lên chiếc khăn bỏ túi. Quỷ thật nhỉ! Pari đâu có được lát bằng vải gai mịn.
Cái bản tính hay gây gổ trong đ'Actanhăng bắt đầu cất tiếng cao hơn những quyết định hoà bình. Chàng nói:
- Này ông, ông tìm cách sỉ nhục tôi là sai lầm đó. Tôi là người Gaxcông thật đấy, và bởi vì ông đã biết như vậy, tôi sẽ chẳng cần nói với ông rrằng những người Gaxcông thường ít kiên nhẫn, thành thử khi họ nói xin lỗi một lần, dù là về một sự dại dột, họ tin rằng họ đã làm quá cái họ cần phải làm đến một nửa.
- Ông ơi, cái điều tôi vừa nói với ông chẳng hề nhằm gây sự với ông đâu. Nhờ trời, tôi không phải là người thích quyết đấu và làm lính ngự lâm chỉ là việc lâm thời cho nên tôi chỉ đánh nhau khi bị bắt buộc, và bao giờ cũng rất ghê tởm; nhưng lần này sự việc thật là nghiêm trọng, bởi vì đây là một vị phu nhân bị ông làm hại đến danh giá.
- Nghĩa là bị chúng ta làm hại chứ! Đ'Actanhăng nói.
- Tại sao ông lại vụng dại đi trả lại tôi chiếc khăn tay?
- Thế tại sao ông lại vụng dại đánh rơi nó?
- Tôi đã nói và tôi xin nhắc lại, thưa ông, rằng chiếc khăn đó không rơi ra từ túi của tôi.
- Này này ông ơi, ông đã nói dối hai lần vì chính tôi đã trông thấy nó rơi ra từ đấy.
- A, ông giở cái giọng ấy ra đấy à, hả ông người Gaxcông? Thế thì tôi sẽ dạy cho ông cách sống.
- Và tôi sẽ duổi ông về với kinh với lễ, ông tu viện trưởng ạ! Xin mời ông tuốt kiếm ra và ngay bây giờ.
- Không đâu anh bạn đẹp mã ạ, ít nhất không phải ở đây. Ông chẳng thấy là chúng ta đang ở trước lâu đài Eghiông, trong đó đầy những người của giáo chủ đó sao? Ai dám nói rằng chẳng phải Các hạ đã sai ông dâng thủ cấp của tôi cho Ngài? Do tôi tha thiết với cái đầu mình một cách kỳ lạ, nhân vì nó khá chỉnh tề với đôi vai tôi, vậy thì tôi muốn hạ sát ông, xin cứ yên trí, hạ sát ông một cách hoàn toàn êm thấm, trong một nơi kín đáo và che phủ, ở cái nơi đó ông không có thể khoe khoang cái chết của mình với ai cả.
- Tôi rất mong như vậy, nhưng ông chớ vội tin vào đó và hãy mang theo chiếc khăn tay, dù nó thuộc về ông hay không có thể ông có dịp dúng đến nó đấy.
- Ông là người Gaxcông à? Aramix hỏi.
- Phải, ông không vì thận trọng mà hoãn cuộc gặp gỡ chứ?
- Thận trọng là một đức tính khá vô ích với ngự lâm quân ông ạ, tôi biết thế, nhưng nó lại cần thiết đối với người của nhà thờ; và do tôi chỉ tạm thời làm lính ngự lâm, tôi vẫn muốn thận trọng. Đến hai giờ, tôi sẽ hân hạnh được đợi ông ở dinh Ngài đờ T'rêvin. Tới đó tôi sẽ chỉ cho ông một chỗ thuận lợi.
Hai chàng thanh niên chào nhau, rồi Aramix đi ngược lên phố đường Luyxembua, còn đ'Actanhăng thấy thì giờ cũng gấp, đi đường Cácmơ-Đêsô, vừa đi vừa tự nhủ thầm:
- Cố nhiên là ta không thể thay đổi ý kiến, nhưng nếu ta có bị giết thì ít ra cũng sẽ chết vì tay một ngự lâm quân.

(1) Etriller là chải lông ngựa và còn có nghĩa là đánh nhừ tử.
(2) Xalômông là người kế ngôi Đavit làm vua Ixraem từ 970 đến 931 (trước CN). Sự khôn ngoan của ông có tính cách truyền kỳ ở khắp phương Đông và trong kinh Thánh.


(hết chương IV)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
0
Chương 3-4 HTLĐ đã đánh máy xong rồi đó MS ơi! MS đưa vào thư việc đi nhé!

Thân,
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
0
CuLong đã hoàn tất chương V và VI rồi.
Bây giờ CuLong sẽ dạo qua các trang khác, khi nào MS scan tiếp thì CuLong lại tham gia tiếp nhé. Truyện này CuLong đã đọc từ lâu lắm rồi, rất thú vị, nhưng CuLong khoái tập hai hơn, MS cố gắng scan nhanh nhé.
Bye
📎 CHUONGVI
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-21 06:50:59Mọt Sách>
chương 7-8 dunght



chương 9-10 CuLong767805


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
Ôi truyện kiếm hiệp phương Tây đầu đời của tui đây mà !!! Cho tui đăng ký gõ chương 7-8 nhé !
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-22 10:36:29Mọt Sách>
chương 11-12 dunght
chương 13-14 Mập Muội Muội


Ôi truyện kiếm hiệp phương Tây đầu đời của tui đây mà !!! Cho tui đăng ký gõ chương 7-8 nhé !


cám ơn bạn dunght cùng tham gia.[sm=40.gif]

chúc vui!

Chương 3-4 HTLĐ đã đánh máy xong rồi đó MS ơi! MS đưa vào thư việc đi nhé!

Thân,


Chừng nào xong cuốn 1 thì ms sẽ đăng vào thư quán...[:)]


CuLong đã hoàn tất chương V và VI rồi.
Bây giờ CuLong sẽ dạo qua các trang khác, khi nào MS scan tiếp thì CuLong lại tham gia tiếp nhé. Truyện này CuLong đã đọc từ lâu lắm rồi, rất thú vị, nhưng CuLong khoái tập hai hơn, MS cố gắng scan nhanh nhé.
Bye


ms đã scan thêm 8 chương nữa rồi đó...[;)]


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
Có ai đăng ký chương 9,10 chưa nè? CuLong xí phần nha. CuLong đang gõ Tay Cự Phách nhưng cũng sắp xong rồi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-25 16:39:16Ct.Ly>
Tui xong chương 7-8 rồi nè. Bạn mọt sách vui lòng kiểm tra coi tui làm vậy là đúng yêu cầu chưa nhé, vì tui mới tham gia đánh máy lần đầu, hổng biết vậy có đúng quy cách hông, nhờ bạn góp ý dùm.

Cho tui đăng ký tiếp chương 10-11 đi nha. [;)]

Đánh máy: dunght

VII
TRONG NHÀ CÁC NGỰ LÂM QUÂN

Khi d’Actanhăng ra khỏi cung điện Lurvo, chàng hỏi ý kiến các bạn xem chàng nên dùng phần mình trong số bốn mươi đồng pistôn như thế nào. Atôx khuyên chàng nên đặt một bữa chén thật ngon ở khách sạn Quả thông. Pooctox khuyên nuôi một tên hầu còn Aramix khuyên nên kiếm một nhân tình thật xứng đáng.
Bữa ăn được thực hiện ngay hôm ấy và tên đầy tớ hầu bàn luôn ở đấy. Bữa ăn do Atôx đặt và tên hầu do Pooctôx cung cấp. Đó là một người Pica mà anh chàng ngự lâm huênh hoang thuê ngay hôm ấy nhân dịp đi trên cầu La Tuốcnen trong khi nó nhổ nước bọ xuống sông để làm thành những vòng tròn trên mặt nước.
Pooctôx cho rằng cái việc nhổ nước bọt ấy là bằng chứng một tư chất chín chắn và trầm tĩnh. Chàng đã lôi nó đi theo mà không hỏi han gì cả. Cái tướng mạo oai phong của chàng quý tộc ấy mà Plăngsê - tên người Pica kia tưởng sẽ được hầu hạ làm hắn thích mê, nhưng nó hơi thất vọng khi thấy bạn đồng nghiệp của nó tên là Muxcơtông đã làm việc đó rồi và khi Pooctôx cho nó biết rằng nhà ở của chàng tuy rộng lớn cũng không cần gì đến hai đầy tớ, nó phải vào hầu hạ đ’Actanhăng. Tuy nhiên, khi nó đứng hầu bữa aun trưa do chủ nó thết đãi và khi thấy ông chủ móc ở túi ra một nắm tiền vàng để trả, nó tưởng phen này vận may của mình đã đến và cảm ơn Chúa mình đã được như chuột sa chĩnh gạo. Nó đeo đuổi mãi ý kiến ấy cho đến sau bữa tiệc mà những thức ăn thừa thãi đã giúp nó bù đắp lại được những bữa nhịn dài. Nhưng đến tối, khi dọn giường cho chủ, bao nhiêu ảo mộng của Plăngsê tắt ngấm. Có độc một cái giường trong căn nhà gồm một phòng đợi và một phòng ngủ. Plăngsê nằm ở phòng đợi trên một tấm mền lột ở giường đ’Actanhăng mà từ đó chàng thôi không dùng nữa.
Về phần mình, Atôx có một gã hầu tên gọi là Grimmô được chàng huấn luyện theo một cách đặc biệt để hầu hạ chàng. Cái vị quý tộc tôn quý này đến là lầm lì. Dĩ nhiên là chúng tôi nói về Atôx. Từ năm sáu năm nay, chàng sống trong tình bạn chí thiết với các đồng đội Pooctôx và Aramix của chàng, các bạn chàng nhớ ra rằng có trông thấy chàng mỉm cười luôn, nhưng chưa bao giờ nge thấy chàng cười thành tiếng. Lời lẽ của chàng vắn tắt và rất diễn đạt, luôn luôn nói đủ cái điều muốn nói, không thừa, không màu mè, không thêu dệt hoa mỹ, không kiểu cách. Cuộc đàm thoại của chàng là một sự việc không chút văn vẻ thêm thắt nào. Mặc dầu mới ba mươi tuổi và thật rất là đẹp đẽ cả về thân thể lẫn tâm hồn, chẳng ai thấy chàng có tình nhân. Không bao giờ chàng nói chuyện về đàn bà, song chàng chẳng ngăn cản người ta nói đến trước mặt mình, tuy người ta dễ nhận thấy là loại chuyện đó khiến chàng hết sức khó chịu, và chàng chỉ xen vào bằng những lời chua chát và những bình phẩm chán đời. Thái độ thận trọng tính khí tàn nhẫn và lầm lì khiến chàng chẳng khác gì một ông già; vì vậy để khỏi làm trái với thói quen của mình, chàng luyện cho Grimmô chỉ cần thấy chủ hất hàm, vẫy tay hay nhếch mép là biết ý tuân theo. Chàng chỉ nói với hăn trong trường hợp tối cần thiết.
Vừa rất mến con người và rất kính phục tài năng chủ, vừa sợ chủ như cọp, Grimmô đôi khi tuồng như hoàn toàn hiểu chàng muốn gì, lao ngay đi thi hành mệnh lệnh nhưng lại làm ngược lại. Tức thì, Atôx nhún vai, chẳng hề nổi giận, quất cho Grimmô mấy roi. Những hôm ấy chàng mới nói năng chút ít.
Pooctôx, như ta có thể thấy, có một tính cách hoàn toàn đối lập với Atôx: không những chàng nói nhiều mà nói oang oang; vả lại cũng phải nhận cho công bằng rằng chàng nói để được nói và được nghe mình nói, còn ai nghe không, chàng không cần; chàng nói về đủ mọi chuyện trên đời trừ môn khoa học, viện cớ rằng từ hồi nhỏ chàng đã có mối ác cảm thâm căn cố đế với các nhà bác học. Chàng không có vẻ uy nghi chững chạc bằng Atôx và vào buổi đầu quen biết nhau cái niềm mặc cảm tự ti đã khiến chàng thường hay bất công với con người quý tộc kia đến mức chàng ra sức vượt bạn bằng những phục sức lộng lẫy. Nhưng với tấm áo choàng ngự lâm bình dị và cái hất đầu ra sau, và bước chân lên, Atôx lập tức chiếm giữ cái địa vị vốn dành cho mình và quẳng anh chàng Pooctôx hào nhoáng xuống hàng dưới rồi. Pooctôx đành tự an ủi bằng cách phao tin tràn lan ở tiền sảnh của Ngài đờ T’rêvin và ở khắp các đơn vị bảo vệ hoàng cung Lurvơ về những hạnh vận của chàng mà Atôx chẳng bao giờ nói đến; và, lúc này, sau khi chuyển từ quý tộc pháp quan sang quý tộc binh gia, từ bà pháp quan sang bà nam tước, đối với Pooctox chỉ có tồn tại một vấn đề là có một nữ quận chúa nước ngoài mong muốn một tài sản lớn cho chàng.
Một câu tục ngữ xưa nói: “Thấy nào tớ ấy”. Vậy ta hãy chuyển từ gã hầu của Atôx sang gã hầu của Pooctôx, từ Grimmô sang Muxcơtông.
Muxcơtông là một người Noocmăng có cái tên hoà bình là Bônifaxơ bị chủ hắn đổi thành cái tên kêu hơn là Muxcơtông . Hắn nhận vào giúp việc Pooctôx với điều kiện được mặc và ở thôi nhưng phải thật oách; hắn chỉ xin có hai giờ một ngày để hắn dành cho một nghề nghiệp riêng có thể chu cấp đủ cho hắn những nhu cầu khác. Pooctôx ưng thuận: cái đó thật là thích hợp với chàng. Chàng đến một gã thợ may rất thông minh thường lộn và chữa cho chàng những quần áo cũ thành mới và người vợ thì nghi là muốn lôi kéo Pooctôx rời khỏi những tập quán quý phái của mình, thuê may cho Muxcơtông những quần áo chẽn bằng áo cũ và áo choàng thay đổi của chàng. Nhờ đó Muxcơtông mặt mày hớn hở đi điếu đóm cho chủ.
Còn về phần Aramix, chúng tôi thiết tưởng đã trình bày đủ tính cách của chàng. Ngoài ra cũng giống như tính cách của các bạn đồng đội chàng, chúng ta có theo dõi tính cách của Aramix ở tên gọi Badanh . Nhờ cái kỳ vọng của chủ hắn một ngày nào đó sẽ thụ giới vào hội đạo, lúc nào hắn cũng vận đồ đen như lẽ thường đầy tớ của một vị thầy tu phải mặc. Đó là một người xứ Bery khoảng từ ba mươi lăm đến bốn mươi tuổi, hiền lành, bình tĩnh, mập mạp, chăm lo đọc các sách kinh vào những giờ nhàn rỗi mà ông chủ dành cho, bần cùng phải làm một bữa ăn chiều cho họ, ít món nhưng thật ngon. Ngoài ra, hắn như câm, mù, điếc, và nhất mực trung thành với chủ.
Bây giờ ít ra đã biết sơ qua về đám thầy và tớ, ta hãy qua nơi ăn chốn ở của mỗi người.
Atôx ở phố Fêru cách công viên Luýchxembua dăm bước chân; căn nhà gồm hai buồng nhỏ, bày biện đồ đạc rất tinh tươm trong một toà nhà cho thuê sẵn đồ đạc. Bà chủ nhà hãy còn trẻ và thật sự còn đẹp thường hay đưa mắt tống tình chàng mà chẳng nước non gì. Vài ba mảnh di vật của một thời huy hoàng lộng lẫy đã qua nổi bật lên ở chỗ này chỗ kia trên các bức tường của căn nhà nhũn nhặn đó; chẳng hạn một thanh kiếm khảm vàng bạc rất sang, nhìn cách chế tạo biết ngay nó ở tận thời vua Frăngxoa đệ nhất, và chỉ riêng cái cán nạm ngọc quý có thể đáng giá hai trăm pixtôn, vậy mà trong những lúc túng quẫn nhất, Atôx cũng chẳng bao giờ chịu đem cầm cố hay bán đi. Pooctox thèm rỏ rãi thanh kiếm đó từ lâu. Chàng có thể cho đi mười năm tuổi thọ để có được thanh kiếm ấy. Một hôm thử nhân có cuộc hẹn hò với một nữ công tước, Pooctôx hỏi mượng Atôx thanh kiếm. Atôx chẳng nói chẳng rằng dốc hết túi, thu thập tất cả tư trang, tiền nong, tua ngù và dây chuyền vàng đưa biếu Pooctôx; nhưng còn thanh kiếm thì chàng bảo bạn rằng nó được gắn chặt tại chỗ của nó và chỉ dời khỏi khi nào chính chủ nó dời bỏ nơi ở của mình. Ngoài thanh kiếm ra còn có một bức chân dung hoạ một đại lãnh chúa thời vua Hăngri đệ tam, ăn vận hết sức cao sang và đeo huân chương Thánh – Linh; so với Atôx chân dung ấy có vài chỗ hao hao về đường nét, vài chỗ tương đồng về gia tộc, chứng tỏ rằng vị đại thần đó, người được tặng thưởng những huân chương của nhà vua là tổ phụ của chàng.
Cuối cùng, một cái hộp kim hoàn tuyệt mỹ có cùng một huy hiệu như thanh kiếm và bức chân dung, đặt ở giữa lò sưởi, nó xung khắc một cách ghê gớm với những thứ bày biện khác trên đó: Atôx luôn mang theo người chìa khoá của cái hộp đó. Nhưng một hôm chàng đã mở nó ra trước mặt Pooctôx và Pooctôx có thể tin rằng cái hộp ấy chỉ đựng có thư từ và giấy má; chắc là những thư tình và giấy tờ của gia đình.
Pooctôx ở một căn nhà rộng thênh thang có bề ngoài rất lộng lẫy ở phố Viơ – Côlombiê. Mỗi lần chàng cùng một người bạn nào đó đi qua dưới hàng cửa sổ, bao giờ cũng có Muxcơtông mặc chế phục đàng hoàng đứng ở một ô cửa, thì Pooctôx ngẩng đầu và giơ tay lên nói: Tệ sá đấy! Nhưng chẳng bao giờ chàng mời ai lên và chẳng ai có thể biết được cái bề ngoài lộng lẫy ấy chứa đựng những của cải thực sự gì.
Còn Aramix, chàng ngụ tại một căn nhà nhỏ, ở tần sát đất gồm một khuê phòng, một phòng ăn và một phòng ngủ, phòng ngủ trông ra một mảnh vườn nhỏ mát mẻ, xanh tươi, có bóng râm và mắt hàng xóm láng giềng không thể lọt vào được.
Về phần đ’Actanhăng, chúng ta đã biết chàng ở như thế nào rồi và ta đã làm quen với người hầu của chàng là bác Plăngsê.
Đ'Actanhăng vốn tính rất tò mò như những người tài bày mưu tính kế thường thế, đã ráng sức tìm hiểu xem Atôx, Pooctôx và Aramix đúng ra là những người thế nào, vì rằng dưới những cái tên đăng lính ấy, mỗi chàng trai trẻ đã giấu đi cái tên quý tộc của mình, nhất là Atôx, từ xa một dặm đã sực lên mùi đại lãnh chúa rồi. Chàng bèn hỏi Pooctôx để tìm hiểu về Atôx và Aramix, và hỏi Aramix để biết về Pooctôx.
Khốn nỗi chính Pooctôx cũng chỉ biết về đời người bạn thầm lặng của mình qua những biểu hiện toát ra bên ngoài mà thôi. Người ta đồn rằng Atôx gặp những bất hạnh lớn trong đường tình ái và một sự phản bội xấu xa đã đầu độc mãi mãi cuộc đời của con người phong nhã này. Sự phản bội ấy thế nào? Chẳng ai biết cả.
Về Pooctôx, trừ cái tên thật của chàng chỉ riêng Ngài đờ T’rêvin biết, cũng như tên thật của hai bạn chàng, cuộc đời của chàng thật dễ hiểu. Tự phụ và bộc tuệch, người ta nhìn qua chàng như qua một tấm pha lê. Điều duy nhất có thể khiến người điều tra lầm lẫn là nếu họ tin vào tất cả những cái hay cái tốt chàng nói về mình.
Còn về Aramix, có vẻ chẳng có một điều thầm kín nào thì lại là một con người chất chứa đầy bí mật, ít trả lời những câu người ta hỏi về người khác và lảng tránh những điều người ta hỏi về chàng. Một hôm sau khi hỏi chàng rất lâu về Pooctôx và qua đó được biết cái tin đồn về số đỏ của Pooctôx với một quận chúa, đ’Actanhăng cũng lại muốn biết sự thể ra sao về các chuyện tình duyên của người đối thoại, đ'Actanhăng hỏi:
- Này bạn thân mến, thế còn cậu, người ta nói về những nữ nam tước, nữ bá tước và nữ quận chúa của những người khác, thì sao?
- Xin lỗi, Aramix ngắt lời, tôi nói bởi vì bản thân Pooctôx tự nói đến, bởi vì cậu ấy oang oang phô ra tất cả những chuyện đó trước mặt tôi. Nhưng ông đ'Actanhăng thân mến ơi, hãy tin rằng nếu tôi nghe những điều đó từ một nguồn khác hoặc giả Pooctôx tâm sự riêng với tôi, thì sẽ chẳng có một người nghe tâm sự nào kín đáo hơn tôi đâu.
- Tôi chẳng hoài nghi điều ấy, đ'Actanhăng lại nói, nhưng rốt cuộc thì hình như chính cậu, cậu cũng khá thân thuộc với những huy hiệu, bằng chứng là chiếc khăn tay thêu mà nhờ nó mình có hân hạnh được quen biết cậu.
Lần này Aramix chẳng hề tức giận, nhưng lấy cái vẻ khiêm tốn nhất ra mà trả lời một cách thân ái:
- Bạn thân mến ơi, chớ quên rằng tôi muốn là người của nhà thờ, và trốn tránh mọi cảnh ngộ phù hoa. Cái khăn mà cậu nom thấy chẳng phải là được trao tặng tôi đâu mà do một anh bạn bỏ quên ở nhà tôi. Tôi phải nhặt lấy để khỏi làm tổn hại đến danh giá của anh bạn và cái bà mà anh ta yêu. Còn về phần mình, tôi chẳng có và chẳng hề muốn có tình nhân, về mặt này tôi theo tấm gương rất đúng đắn của Atôx, cậu ta cũng chẳng có tình nhân như tôi.
- Vớ vẩn thế? Cậu không phải là tu viện trưởng mà cậu là ngự lâm quân.
- Ngự lâm quân lâm thời bạn ạ, như giáo chủ nói, ngự lâm quân bắt đắc dĩ, nhưng tâm hồn là người của nhà thờ, cậu hãy tin tôi. Atôx và Pooctôx đã nhét tôi vào trong ngự lâm quân đã chiếm lấy tôi. Vào cái lúc sắp được phong chức giáo sĩ tôi đã có một va vấp nhỏ với … Nhưng thôi điều đó chẳng liên quan gì đến cậu mấy, và tôi đã chiếm khá nhiều thời giờ quý báu của cậu rồi.
- Không đâu, chuyện đó tôi rất thích thú, đ'Actanhăng kêu, và lúc này tôi hoàn toàn không có một việc gì phải làm cả.
- Ừ, nhưng tôi, tôi còn quyển kinh phải đọc, Aramix đáp, rồi lại còn mấy câu thơ phải làm cho bà đ’Eghiông; sau đó phải ra phố Xanh – Onorê để mua son hộ bà đờ Sơvrơi; cậu thấy đấy, nếu như cậu chẳng có việc gì gấp thì mình lại rất vội.
Rồi Aramix thân ái chìa tay cho người bạn trẻ của mình và cáo lui.
Dù vất vả mấy, đ'Actanhăng vẫn chẳng hiểu biết gì hơn về ba người bạn mới. Chàng đành quyết định trước mắt hãy tin ở những điều người ta nói về quá khứ của họ, hy vọng vào những điều phát hiện chắc chắn và phong phú hơn của tương lai. Trong khi chờ đợi, chàng coi Atôx như một Asin; Pooctôx như một Ajax và Aramix như một Jôdép .
Vả chăng, cuộc sống của bốn chàng trai thật vui vẻ. Atôx đánh bạc luôn luôn đen đủi. Song chàng không bao giờ vay mượn bạn lấy một xu mặc dầu túi tiền chàng không ngừng phục vụ cho các bạn; và khi nào phải chơi bạc miệng thì bao giờ chàng cũng đánh thức chủ nợ từ sáu giờ sáng để trả món nợ đêm hôm trước.
Pooctôx có những cơn hăng máu; những hôm được bạc, người ta thấy chàng hớn hở và ngạo mạn; nếu thua, chàng biến hẳn đi mấy ngày liền, sau đó chàng xuất hiện mặt mày nhợt nhạt và dài thuỗn ra nhưng trong túi lại rủng rỉnh tiền.
Còn Aramix không hề chơi bạc bao giờ. Đích thị chàng là người lính ngự lâm vụng nhất và người thực khác dở nhất. Chàng lúc nào cũng thấy cần phải làm việc. Đôi khi giữa một bữa ăn, khi men rượu đang bốc và chuyện trò đang sôi nổi, ai nấy đều nghĩ rằng còn phải ngồi đến vài ba tiếng nữa, Aramix nhìn đồng hồ, đứng dậy với một nụ cười duyên dáng xin cáo biệt bạn bè để theo chàng, đi thỉnh giáo một nhà thần học chuyên giải quyết những vấn đề khó nghĩ mà chàng đã hẹn gặp. Lần khác, chàng trở về nhà để viết một bản luận thuyết và yêu cầu bạn bè đừng làm chàng lãng ý.
Trong khi ấy, Atôx mỉm một nụ cười buồn rầu mà dễ thương rất hợp với gương mặt cao quý của chàng, còn Pooctôx thì nốc rượu mà rủa rằng Aramix suốt đời cũng chỉ có thể là một cha đạo xóm lẻ.
Plăngsê, người hầu của đ'Actanhăng chịu đựng hạnh vận một cách cao thượng; hắn lãnh ba mươi xu một ngày và trong một tháng hắn về nhà vui như sáo và lễ phép với ông chủ. Khi cơn gió bĩ bắt đầu thổi vào căn nhà phố Phu đào huyệt, nghĩa là khi bốn chục pixtôn của vua Lu-i XIII đã bị ngốn sạch hoặc gần như hết sạch, Plăngsê bắt đầu thốt ra những lời phàn nàn mà Atôx thấy lợm giọng, Pooctôx thấy hỗn hào và Aramix thấy lố bịch. Atôx bèn khuyên đ'Actanhăng thải cái thằng vô lại ấy, Pooctôx muốn trước đó hãy đánh đòn, và Aramix cho rằng một người chủ chỉ nên được nghe những lời gia nhân ca tụng mình.
Đ'Actanhăng nói:
- Việc đó các cậu nói thì dễ lắm. Atôx, cậu sống câm lặng với Grimmô và cấm hắn mở miệng, do đó có bao giờ cậu nặng lời với hắn. Pooctôx, cậu sống như ông hoàng thì làm gì Muxcơtông chẳng coi cậu như thánh như thần. Còn cuối cùng, Aramix, lúc nào cậu cũng mải mê vào những cuộc nghiên cứu thần học, thì dĩ nhiên cậu gây được lòng kính trọng sâu xa cho tên hầu Badanh của cậu vốn đã hiền lành và sùng đạo. Còn tôi, tôi chưa có gì ổn định chắc chắn, của nả cũng không; tôi không là lính ngự lâm cũng chẳng phải thị vệ, tôi làm sao khiến thằng Plăngsê quý mến, khiếp sợ hoặc kính trọng được cơ chứ?
- Việc nghiêm trọng đấy, ba người bạn đáp, mà đó là chuyện trong nhà; có những tên đầy tớ chẳng khác chi đàn bà, cần phải tức khắc đặt chúng vào cái chỗ mà ta muốn chúng ở đó. Cậu hãy suy nghĩ đi.
Đ'Actanhăng suy nghĩ và quyết định tạm đánh cho Plăngsê một trận, điều đó được thực hiện với ý thức mà chàng đặt vào mọi việc chàng làm. Rồi sau đó chàng cấm hắn bỏ việc mà chưa được phép; bởi vì, chàng nói thêm, tương lai chẳng thể thiếu với ta, ta đang đợi những ngày khá giả hơn và nhất định sẽ đến. Mày cũng sẽ nở mày nở mặt nếu ở lại đây với ta, và ta là người chủ quá tốt nên không thể để mày sa cơ lỡ vận bằng cách cho mày nghỉ việc như mày xin đâu.
Cách xử sự đó khiến các bạn ngự lâm quân rất kính trọng cái quyền mưu của đ'Actanhăng. Plăngsê cũng khâm phục và không nói đến chuyện bỏ đi nữa.
Cuộc sống của bốn chàng trai trẻ chan hoà với nhau: đ'Actanhăng chưa có một thói quên gì vì từ tỉnh nhỏ đến và rơi ngay vào giữa một thế giới hoàn toàn mới mẻ, nhanh chóng ngả theo những thói quen của bè bạn.
Về mùa đông, họ dậy vào tám giờ và mùa hè vào sáu giờ rồi họ đi đến dinh Ngài đờ T’rêvin để nhận khẩu lệnh và xem công việc ra sao. Mặc dầu không phải ngự lâm quân, đ'Actanhăng vẫn làm công việc của một ngự lâm quân một cách đúng đắn đáng cảm động. Chàng cũng canh gác vì bao giờ cũng cùng đi với một trong ba người bạn đến phiên gác. Cả dinh ngự lâm quân đều biết chàng và ai nấy đều coi chàng như một người đồng đội tốt. Ngài đờ T’rêvin đã coi trọng chàng từ lúc mới sơ kiến và thật tình thương mến chàng, không ngớt tiến cử chàng với nhà vua.
Về phần mình, ba chàng lính ngự lâm rất yêu quý người bạn trẻ. Tình bằng hữu gắn bó bốn người đó lại với nhau mỗi ngày ba bốn lần, hoặc để đi quyết đấu, hoặc vì công việc, hoặc để vui chơi, khiến họ luôn luôn theo sát nhau như hình với bóng, và người ta luôn gặp những người bạn chí thiết đó đi tìm kiếm nhau từ vường Luýchxembua đến quảng trường Xanh-Xuynbix hoặc từ phố Viơ-Côlombiê đến vườn Luýchxembua.
Trong khi chờ đợi, những lời hứa của Ngài đờ T’rêvin vẫn được xúc tiến. Một hôm nhà vua ra lệnh cho ông hiệp sĩ đề Etxe lấy đ'Actanhăng vào làm tập sự trong đại đội thị vệ của ông. Đ'Actanhăng thở dài, mặc bộ quần áo thị vệ mà chàng những muốn đánh đổi lấy cái áo ngự lâm bằng giá mười năm tuổi thọ của mình. Nhưng Ngài đờ T’rêvin hứa sẽ ban cho cái ân huệ đó sau hai năm tập sự, cái thời gian có thể vả chăng sẽ rút ngắn nếu đ'Actanhăng có cơ hội hoàn thành một nhiệm vụ nào đó cho nhà vua hoặc làm được một hành động oanh liệt nào. Đ'Actanhăng ra về sau khi được hứa hẹn như vậy và ngay hôm sau bước vào đời lính.
Thế là đến lượt Atôx, Pooctôx, và Aramix cùng đi gác với đ'Actanhăng khi đến phiên chàng. Như vậy đại đội ông hiệp sĩ đờ Etxa đã nhận những bốn người, lẽ ra là một, vào hôm nhận đ'Actanhăng.

VIII
MỘT ÂM MƯU TRONG TRIỀU ĐÌNH

Trong khi đó thì bốn mươi đồng pixtôn của vua Lu-i XIII cũng như mọi sự ở trên đời này, đã có khởi đầu ắt phải có kết thúc, và từ sau sự kết thúc đó bốn người bạn của chúng ta lâm vào cảnh túng thiếu. Đầu tiên, Atôx dùng tiền riêng của mình cứu mạng cả bọn được ít lâu. Rồi Pooctôx kế tiếp, và nhờ một trong những đợt đi biệt tăm người ta đã quen thuộc kia chàng chu cấp cho nhu cầu mọi người được nửa tháng. Cuối cùng đến lượt Aramix, chàng vui lòng đóng góp, và theo chàng nói, nhờ bán cuốn sách thần học của mình, chàng đã kiếm được dăm pixtôn.
Thế rồi, như thường lệ, người ta nhờ vả Ngài đờ T’rêvin, ngày cho ứng trước một phần tiền lương; nhưng các khoản ứng trước đó chẳng thể kéo dài đối với ba chàng lính ngự lâm đã mắc vô khối nợ quá hạn và một anh thị vệ còn chưa vay mượn gì.
Cuối cùng khi thấy sắp trắng tay rồi, bằng một cố gắng lần chót, họ ráng thu góp được tám hay mười pixtôn cho Pooctôx đánh bạc. Không may, đang vận rủi, chàng nướng sạch, lại còn nợ thêm hai mươi lăm pixtôn bạc miếng.
Thế là túng thiếu trở thành quẫn bách, người ta thấy những anh chàng đói bụng có kẻ hầu theo sau, chạy cùng các bến kè và các cơ lính thị vệ, ghé vào các nhà bạn hữu bên ngoài, gặp đâu chén đấy: vì rằng theo ý kiến của Aramix, trong khi sung túc người ta cần gieo rắc các bữa ăn ra tứ phía để trong cơn bĩ cực thu hoạch lấy vài ba bữa.
Atôx được mời ăn bốn bận và mỗi bận chàng kéo theo cả bạn bè cùng đầy tớ. Pooctôx có sáu cơ hội và cũng để các bạn cùng hưởng. Aramix được những tám lần. Như người ta đã có thể nhìn thấy, đó là một người làm thì ít ồn ào nhưng làm được nhiều việc.
Còn đ'Actanhăng chưa quen biết ai ở chốn kinh kỳ chỉ được mời ăn một bữa sôcôla lót dạ ở nhà của một linh mục cùng quê và một bữa ăn trưa ở nhà một tay cầm cờ của quân thị vệ. Chàng dẫn đại đội binh nhà đến nhà ông linh mục ngốn sạch chỗ thực phẩm dự trữ cho hai tháng của ông; và đến nhà tay cầm cờ, anh này đãi một bữa rất thịnh soạn, nhưng như lời Plăngsê nói: dù có ăn lòi tù và ra thì vẫn chỉ là ăn có một bữa mà thôi.
Đ'Actanhăng cảm thấy khá ngượng ngùng vì đáp lại những tiệc linh đình mà Atôx, Pooctôx và Aramix kiếm chác được, chàng chỉ có một bữa rưỡi, bởi vì bữa lót dạ nhà ông linh mục chỉ có thể tính là nửa bữa. Chàng nghĩ rằng mình là gánh nặng cho đồng bọn, trong thiện ý hoàn toàn thơ trẻ của chàng, chàng quên khuấy mất rằng chàng đã nuôi cả hội này trong một tháng trời và tâm trí băn khoăn của chàng bắt đầu làm việc hung. Chàng suy nghĩ rằng cái liên minh bốn người trẻ tuổi, dũng cảm, táo bạo và hoạt động này cần có một mục đích khác hơn là những cuộc đi dạo rạc cẳng, những bài học đấu kiếm và những trò nhạo báng ít nhiều hóm hỉnh.
Quả vậy, bốn con người như họ, bốn người hy sinh cho nhau từ tiền nong đến cả tính mạng, bốn người luôn luôn nâng đỡ nhau, không bao giờ chùn bước, thi hành riêng lẻ hợac cùng nhau những quyết định cùng đề ra; bốn cánh tay hăm doạ bốn phương trời hoặc cùng hướng về một điểm duy nhất, nhất định phải mở ra cho mình, ngấm ngầm hoặc lộ liễu, bằng chất nổ hoặc bằng hảo rãnh, bằng mưu mẹo hoặc bằng vũ lực, một con đường đi đến mục đích mà họ muốn đạt tới, dù nó được phòng thủ chắc chắn hay dù nó xa xôi đến đâu đi nữa. Điều duy nhất khiến đ'Actanhăng ngạc nhiên là các bạn đồng đội của chàng không hề suy nghĩ đến chuyện đó.
Riêng chàng thì chàng đang suy nghĩ đến và suy nghĩ nghiêm túc nữa là khác, chàng vắt óc để tìm ra một hường đi cho cái sức mạnh độc nhất được nhân lên bốn lần kia, với sức mạnh ấy giống như cái đòn bẩy mà Aximét tìm kiếm, chàng chắc chắn rằng, người ta có thể mang bổng cả thế giới, thì bỗng nhiên có tiếng gõ nhè nhẹ ở cửa. Đ'Actanhăng đánh thức Plăngsê dậy và bảo mở cửa.
Mong rằng từ cái câu “đ'Actanhăng đánh thức Plăngsê dậy” kia, bạn đọc chớ suy đoán rằng lúc ấy là đang đêm hay trời còn chưa sáng. Không! Bồn giờ chiều vừa mới điểm xong. Trước đó hai giờ, Plăngsê đến xin chủ cho ăn bữa trưa thì ông chủ trả lời bằng câu tục ngữ: “Ai ngủ thì người ấy ăn”. Và Plăngsê đã ăn bằng cách đi ngủ.
Một người được dẫn vào, bộ dạng khá giản dị và có vẻ một thị dân.
Để thế cho bữa tráng miệng, Plăngsê rất muốn nghe lỏm câu chuyện, nhưng người thị dân ngỏ ý với đ'Actanhăng rằng điều bác sẽ nói là chuyện quan trọng và bí mật, bác muốn được ngồi riêng với chàng.
Đ'Actanhăng bảo Plăngsê ra và mời khách ngồi.
Hai người yên lặng nhìn nhau một lát như để làm quen trước đã, sau đó đ'Actanhăng nghiêng mình ra ý chờ nghe. Bác thị dân bắt đầu:
- Tôi được nghe đồn ông đ'Actanhăng là một trang thanh niên rất dũng cảm và cái tiếng tăm ông ta hưởng một cách chính đáng ấy đã quyết định tôi thổ lộ với ông một điều bí mật.
- Thưa ông, mời ông cứ nói, đ'Actanhăng nói, chàng như linh cảm thấy một điều gì có lợi.
Bác thị dân lại ngừng một lát rồi tiếp:
- Thưa ông tôi có vợ làm người trông nom quần áo cho hoàng hậu, cô ta chẳng thiếu khôn ngoan lẫn nhan sắc. Người ta cưới cô cho tôi thấm thoát đã ba năm, mặc dù cô ta chỉ có ít vốn nhỏ mọn, bởi vì ông đờ La Póoc, quan ngự báo của hoàng hậu, là người đỡ đầu và che chở nhà tôi.
- Rồi thì sao hả ông?
- Rồi thì! Bác thị dân lặp lại; rồi thì buổi sáng hôm sau nhà tôi đã bị bắt cóc khi ra khỏi phòng làm việc.
- Thế bà nhà bị ai bắt cóc?
- Tôi không biết chắc cái gì hết, ông ạ, nhưng tôi nghi ngờ một người.
- Người ông nghi ngờ đó là ai?
- Một người đã theo dõi vợ tôi từ lâu.
- Gớm nhỉ!
- Nhưng ông ạ, tôi xin nói với ông, bác thị dân tiếp tục, tôi tin trong việc này có chuyện chính trị hơn là chuyện tình ái.
- Chính trị hơn là tình ái, đ'Actanhăng nhắc lại với vẻ rất đăm chiêu, và ông nghi ngờ cái gì?
- Tôi không biết có nên nói ra với ông điều tôi nghi ngờ không.
- Thưa ông, tôi xin lưu ý ông rằng tuyệt đối tôi chẳng đòi hỏi gì ông cả. Chính ông đến đây. Chính ông nói rằng có điều bí mật tâm sự với tôi, xin ông cứ tuỳ tiện, hãy còn thì giờ để ông rút lui.
- Ấy không, thưa ông, không mà, ông có vẻ một thanh niên trung thực và tôi tin cậy ở ông. Vậy là tôi cho rằng vợ tôi bị bắt giữ không phải do chuyện tình ái của cô ta mà do một chuyện tình ái của một phu nhân cao sang hơn nhà tôi gấp bội.
- A! À có lẽ do những chuyện tình ái của bà đờ Boa Thaxy? Đ'Actanhăng nói, muốn tỏ ra trước mặt bác thị dân rằng mình am hiểu công việc triều đình.
- Cao hơn, ông ạ, cao hơn.
- Của bả đ’Eghiông?
- Cao hơn nữa.
- Của bà đờ Sơvrơi?
- Cao hơn, cao hơn rất nhiều!
- Của bà… đ'Actanhăng ngừng lại.
- Vâng thưa ông, bác thị dân hốt hoảng trả lời rất khẽ, chỉ hơi đủ cho người ta nghe thấy.
- Và với ai?
- Với người nào mà chuyện đó có thể xảy ra, nếu không phải là với quận công đờ…
- Quận công đờ…
- Vâng, thưa ông! Bác thị dân đáp bằng một giọng còn nhỏ hơn nữa.
- Nhưng làm thế nào mà ông biết tất cả những điều đó?
- Chà! Làm sao tôi biết ư?
- Ô, làm sao ông biết nào? Không có lối tâm sự nửa vời, nếu không thì… ông hiểu chứ?
- Tôi biết là do vợ tôi, do chính vợ tôi.
- Do ai mà vợ ông biết được?
- Do ông đờ La Póoc. Tôi đã chẳng nói rằng nhà tôi là con đỡ đầu của ông đờ La Póoc đã cắt đặt vợ tôi ở bên mình Lệnh bà để hoàng hậu tội nghiệp của chúng ta ít ra cũng có một người nào đó có thể tin cậy được trong khi hoàng hậu bị đức vua bỏ rơi như thế, bị quan tể tướng do thám như thế, bị mọi người phản bội như thế.
- A! A! Câu chuyện rõ ra một chút. đ'Actanhăng nói.
- Ông ạ, một trong những điều kiện của vợ tôi là một tuần phải được về thăm tôi hai lần, tôi được hân hạnh thưa với ông là nhà tôi thương tôi lắm. Cách đây bốn hôm nhà tôi mới về và kể với tôi rằng hoàng hậu lúc này đang có những mối lo ngại lớn lắm.
- Thật ư?
- Vâng, xem ra quan tể tướng có vẻ đang theo dõi hoàng hậu và hành hạ bà hơn bao giờ hết. Ông ta không thể tha thứ cho bà về câu chuyện buổi khiêu vũ xarabăng . Ông biết câu chuyện đó chứ?
- Ô, sao lại không …! Đ'Actanhăng chẳng biết gì hết, nhưng muốn làm ra vẻ thông thạo.
- Thành thử bây giờ, không còn phải là ghen ghét nữa mà là trả thù.
- Thật ư?
- Và hoàng hậu cho rằng …
- Sao, hoàng hậu cho rằng làm sao?
- Lệnh bà cho rằng người ta đã mạo danh Lệnh bà mà viết cho ngài quận công đờ Bấckinhâm.
- Mạo danh hoàng hậu?
- Phải, để mới ông ta đến Paris rồi dụ ông ta vào một cái bẫy nào đó.
- Quỷ thần ơi! Nhưng ông bạn này, vợ ông thì có can dự gì đến tất cả những chuyện đó?
- Người ta biết nhà tôi hết lòng trung thành với hoàng hậu, nên người ta muốn tách xa nhà tôi ra khỏi hoàng hậu hoặc hăm doạ cô ta để biết được những bí mật của Lệnh bà, hoặc dụ dỗ cô ta để sử dụng làm một kẻ do thám.
- Có khả năng, đ'Actanhăng nói; nhưng ông có biết cái kẻ đã bắt cóc bà nhà không?
- Tôi đã nói với ông rằng tôi ngỡ là có biết hắn.
- Tên hắn là gì?
- Tôi không rõ; duy chỉ biết rằng đó là một bộ hạ của quan tể tướng, kẻ một lòng một dạ theo ông ta.
- Nhưng ông đã trông thấy mặt hắn chưa?
- Có, một hôm vợ tôi trỏ cho tôi xem.
- Hắn có tướng mạo gì để người ta có thể nhận ra không?
- Ô; chắc chắn; đó là một vị công hầu dáng bộ kiêu kỳ, râu tóc đen, da ngăm ngăm, tóc đen và dáng bộ kiêu kỳ.
- Ồ, đó là địch thủ ở Mơng của ta rồi.
- Ông bảo đó là địch thủ của ông à?
- Phải, phải, nhưng cái đó chẳng ảnh hưởng gì đến sự việc này cả. Không, tôi nhầm, trái lại điều đó làm cho sự việc này đơn giản đi nhiều; nếu địch thủ của ông cũng là của tôi, tôi sẽ làm một đòn hai cuộc trả thù, có thế thôi; nhưng biết hắn ở đâu mà tìm?
- Tôi cũng không biết nữa.
- Ông không biết một chút nào về chỗ ở của hắn à?
- Tuyệt không, một hôm tôi đưa vợ tôi đến hoàng cung Luvrơ, hắn đi ra trong khi vợ tôi đi vào và nhà tôi đã trỏ hắn cho tôi.
- Quái thật! Quái thật! Đ'Actanhăng lẩm bẩm, những điều này thật mơ hồ. Ai cho ông biết rằng vợ ông bị bắt cóc?
- Ơng đờ La Poóc.
- Ông ta có cho biết chi tiết gì không?
- Không một mảy may.
- Mà ông cũng không biết được gì thêm từ một nguồn khác?
- A có, tôi đã nhận được …
- Cái gì cơ?
- Nhưng không biết liệu tôi có làm một việc bất cẩn quá không đây!
- Ông lại trở lại điều đó rồi; tuy nhiên tôi xin lưu ý ông rằng lần này có muốn lùi bước cũng hơi muộn.
- Cho nên tôi đâu có lùi, mẹ kiếp! Bác thị dân vừa kêu to vừa chửi thề để tự kích thích mình. Vả lại lấy danh dự Bônaxiơ mà thề …
- Ông là Bônaxiơ à? Đ’Actanhăng ngắt lời.
- Phải tên tôi đó.
- Ông vừa bảo lấy danh dự Bônaxiơ! Xin lỗi tôi đã ngắt lời ông, nhưng hình như cái tên đó tôi nghe quen quen.
- Rất có thể thưa ông. Tôi là chủ nhà của ông mà.
- Ái chà! Đ’Actanhăng vừa nói vừa nhỏm người lên để chào, ông là chủ nhà của tôi?
- Vâng, vâng, từ ba tháng nay ông ở nhà tôi và có lẽ vì quá bận rộn về những việc lớn, ông đã quên trả tiền thuê nhà; nhưng tôi đâu có làm rấy rà ông một chút nào và nghĩ rằng ông sẽ vị nể sự tế nhị của tôi.
- Chết nỗi, ông Bônaxiơ thân mến ơi, đ'Actanhăng nói tiếp, xin ông hãy tin rằng tôi rất đỗi cảm ơn cách đối đãi như vậy, và tôi đã nói đấy nếu tôi có thể giúp ông được việc gì …
- Ông ơi, tôi tin ông, tôi tin ông mà, và như tôi sắp nói ra, lấy danh tự Bônaxiơ mà thề, tôi tin cậy ở ông.
- Vậy thì ông hãy nói nốt cái điều ông đã bắt đầu nói ra.
Bác thị dân rút ở túi ra một tờ giấy và đưa cho đ'Actanhăng.
- Một bức thư! Chàng thanh niên thốt lên.
- Mà tôi nhận được sáng nay.
Đ’Actanhăng mở cửa ra và do trời bắt đầu xẩm tối, chàng bước ra gần cửa sổ. Bác thị dân đi theo. Đ’Actanhăng đọc:
“Chớ nên tìm kiếm vợ ông. Người ta sẽ trả lại ông khi nào không cần thiết đến bà ta nữa. Nếu ông chạy chọt một chút nào thôi để tìm lại vợ ông thì ông đi đứt.”
- Xác thực đấy, đ'Actanhăng nói tiếp, song dù sao đó chỉ là một lời hăm doạ.
- Vậy, nhưng lời hăm doạ đã làm tôi kinh hãi. Ông ơi, tôi đâu phải là con nhà võ, và tôi sợ nhà ngục Baxti lắm.
- Hừm! Đ’Actanhăng nói; nhưng nhà ngục Baxti tôi có kém sợ hơn gì ông đâu. Nếu như chỉ có việc đánh kiếm thôi còn được.
- Nhưng thưa ông, tôi hết lòng trông cậy vào ông trong cảnh ngộ này.
- Vậy ư?
- Thấy ông luôn luôn quấn quít với những ông lính ngự lâm cốt cách oai phong và nhận ra rằng những ông ấy là người của ông chỉ huy đờ T’rêvin, do đó là kẻ thù của quan tể tướng, tôi đã nghĩ rằng ông và bạn bè của ông trong khi chuộc lại thanh danh cho hoàng hậu đáng thương của chúng ta, các ông có lẽ cũng sẽ rất khoái là chơi cho Các hạ một vố đau.
- Hẳn thế.
- Với lại tôi nghĩ rằng tiền nợ ba tháng thuê nhà mà tôi không bao giờ nhắc đến …
- Vâng, vâng, ông đã viện cái lẽ đó ra cho tôi và tôi thấy nó thật là tuyệt.
- Thêm nữa, chừng nào ông còn hạ cố ở lại nhà tôi, tôi sẽ chẳng nói ông về tiền nhà sau này.
- Hay lắm.
- Và thêm vào đó, nếu cần, tôi tính sẽ biếu ông năm mươi pixtôn, nếu điều này chắc đâu như vậy, trong lúc này ông cảm thấy thiếu thốn.
- Tuyệt thật! Nhưng ông Bônaxiơ thân mến ơi, vậy là ông giàu đấy nhỉ?
- Tôi sống ung dung, nói đúng ra là như vậy ông ạ. Tôi thu nhặt được chừng vài ba nghìn ê-quy tiền niên thu trong việc buôn bán hàng xén, và nhất là do đặt chút vốn vào chuyến viễn du gần đây của nhà hàng hải nổi tiếng Jăng Môckê; thành thử ra, ông hiểu cho rằng … A, nhưng kìa … bác thị dân kêu lên.
- Cái gì thế? Đ’Actanhăng hỏi.
- Tôi nom thấy cái gì kia?
- Đâu?
- Ngoài phố trước cửa sổ phòng ông, trong khuôn cửa kia kìa, một người trùm áo choàng.
- Nó đấy à? Cả đ'Actanhăng và bác thị dân cùng kêu lên, cùng lúc mỗi người nhận ra địch thủ của mình.
- A! Đ’Actanhăng vừa la lên vừa nhảy bổ tới thanh kiếm, lần này nó không thoát khỏi tay tôi.
Rồi tuốt kiếm khỏi bao, chàng phóng vội ra khỏi nhà.
Tới cầu thang chàng gặp Atôx, Pooctôx đến thăm. Họ tránh ra, đ'Actanhăng vụt qua giữa họ như một mũi tên.
- Ơ này, cậu chạy đi đâu vậy? Hai anh lính ngự lâm cùng kêu lên.
- Cái thằng cha ở Mơng! Đ’Actanhăng đáp và vụt biến.
Đ’Actanhăng đã nhiều lần kể cho các bạn của chàng về câu chuyện ly kỳ của chàng với kẻ lạ mặt, cũng như sự xuất hiện của người nữ du khách xinh đẹp mà kẻ kia đã có thể trao cho một bức thư quan trọng như thế.
Ý kiến Atôx cho là đ'Actanhăng có thể đã đánh mất bức thư tiến cử của mình trong cuộc ẩu đả. Theo hình dạng mà đ'Actanhăng tả về kẻ lạ mặt thì kẻ đó chỉ có thể là một nhà quý tộc, và theo Atôx, một nhà quý tộc không thể làm cái điều hèn hạ kia là đã đánh cắp một bức thư.
Pooctôx thì chỉ nhìn thấy ở đó một cuộc gặp gỡ yêu đương do một phu nhân hẹn với một kỵ sĩ, và nó đã bị quấy rối bởi sự có mặt của đ'Actanhăng và con ngựa vàng của chàng.
Aramix nói rằng những loại chuyện bí ẩn ấy, tốt hơn cả là đừng có đi sâu tìm hiểu làm gì.
Qua vài lời đ'Actanhăng thốt ra, Atôx và Pooctôx hiểu ngay đó là chuyện gì rồi và do nghĩ rằng dù có đuổi kịp hoặc mất hút địch thủ của chàng, cuối cùng đ'Actanhăng vẫn sẽ trở về cho nên họ tiếp tục lên nhà.
Khi họ vào phòng đ'Actanhăng thì gian phòng trống không; bác chủ nhà lo ngại hậu quả của cuộc chạm trán chắc chắn sắp xảy ra giữa chàng thanh niên và kẻ lạ mặt, sau khi chính bác đã trình bày hết tính cách của hắn, bác đã tính nước chuồn là hơn cả.

📎 VIIbclngulam
0
Tui xong chương 7-8 rồi nè. Bạn mọt sách vui lòng kiểm tra coi tui làm vậy là đúng yêu cầu chưa nhé, vì tui mới tham gia đánh máy lần đầu, hổng biết vậy có đúng quy cách hông, nhờ bạn góp ý dùm.


Quá tuyệt vời! bạn Dunght à, bạn trình bày rất chuyên nghiệp[:D]

Cho tui đăng ký tiếp chương 10-11 đi nha


à quên số chương đó ms ghi lộn nó là chương 11-12 đó. sory nhen.


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-22 10:49:22Mập Muội Muội>
Mọt Sách cho Tam M đăng kí gõ phần 13-14 nha.

Cám ơn nhìu ! hìhì. [:)]
0
Chương IX, chương IX đây

IX
Đactanhăng nổi bật lên
Như Atôx, Pooctôx và Aramix dự đoán, chừng nửa giờ sau Đactanhăng trở về. Lần này nữa, chàng lại hụt mất địch thủ của mình, hắn biến mất như có phép tàng hình. Tay kiếm lăm lăm, Đactanhăng chạy ra các góc phố xung quanh, nhưng chẳng thấy ai giống như kẻ mình cần tìm, rồi cuối cùng chàng trở lại các việc đáng lẽ chàng phải làm lúc đầu, tức là gõ vào cái cánh cửa kẻ lạ mặt tựa vào; nhưng đập cửa rầm rầm đến chục lần vô ích, vẫn chẳng có ai thưa.. Những người hàng xóm nghe thấy tiếng động chạy ra bậc cửa hoặc chõ mũi ra cửa sổ, bảo đảm với chàng rằng ngôi nhà đó đóng cửa kín mít, từ sáu tháng nay hoàn toàn không có người ở.
Trong lúc Đactanhăng chạy rong khắp phố và gõ vào các cửa nhà thì Aramix theo kịp đồng đội thành thử Đactanhăng trở về đã thấy cuộc hội họp đông đủ.
- Thế nào? Cả ba ngự lâm quân đều hỏi khi thấy Đactanhăng trán ướt đẫm mồ hôi bước vào, mặt mày bực tức.
Đactanhăng quẳng thanh kiếm xuống giường và kêu lên:
- Còn thế nào nữa? Cái thằng cha ấy phải là quỷ hiện thân, nó biến đi như một con ma, như một cái bóng, như một quái tượng.
- Cậu có tin ma quỷ hịên hình không? Atôx hỏi Pooctôx.
- Tôi chỉ tin ở cái gì tôi nhìn thấy và do chưa nhìn thấy ma quỷ hiện hình nên tôi không tin.
Aramix nói:
- Kinh thánh buộc ta phải tin vào cái đó: Xamuen hiện lên cho Xaun thấy và đó là một tín điều và nếu ai hoài nghi thì tôi bực mình lắm đấy, Pooctôx ạ.
- Dù trường hợp nào, Đactanhăng nói, người hay quỷ, hình hay bóng, ảo ảnh hay hiện thực, thằng cha ấy sinh ra để làm tình làm tội tôi, vì rằng cuộc tẩu thoát của nó làm cho chúng ta lỡ mất công việc tuyệt diệu đấy các cậu ạ, một công việc khiến chúng ta có thể kiếm một trăm pixtôn và có thể còn hơn thế nữa.
- Thế nào? Pooctôx và Aramix cùng hỏi.
Còn Atôx trung thành với chế độ câm lặng của mình đành hỏi Đactanhăng bằng cặp mắt.
Lúc này, Plăngsê đang thập thò nơi cánh cửa mở hé để nghe lỏm câu chuyện, Đactanhăng bèn bảo hắn:
- Này Plăngsê, xuống chỗ ông chủ nhà, ông Bônaixiơ ấy, bảo ông ta đưa cho ta sáu chai rượu vang Bôgiăngxy, đó là thứ ta thích!
- Ái chà! Thế ra cậu mở tài khoản ở chỗ ông chủ nhà ấy à? Pooctôx hỏi.
- Chứ sao! Đactanhăng đáp, bắt đầu từ hôm nay và hãy yên trí, nếu rượu vang của hắn tồi chúng ta sẽ bắt hắn kiếm rượu khác.
- Ta nên sử dụng chứ không nên lạm dụng, Aramix nói giọng nghiêm trang.
- Tôi vẫn chẳng bảo rằng Đactanhăng là người đầu lĩnh trong bốn chúng ta mà, Atôx đưa ra ý kiến đó và sau khi Đactanhăng đáp lại bằng cái chào, chàng trai lại rơi vào trầm ngâm thường lệ.
- Nhưng rốt cuộc câu chuyện ra sao? Pooctôx hỏi
- Ờ phải đấy, Aramix nói, hãy kể cho bọn mình nghe đi anh bạn, trừ phi danh dự của một phu nhân nào đó dính dáng đến câu chuyện riêng tư này, trường hợp đó tốt nhất cậu hãy giữ cho riêng cậu.
- Yên trí, Đactanhăng nói, chẳng ai phải phàn nàn về danh dự của mình trong cậu chuyện tôi sẽ kể với các cậu.
Và chàng kể lại tường tận cho các bạn nghe câu chuyện đã diễn ra giữa chàng và bác chủ nhà và tại sao cái kẻ bắt cóc vợ bác chủ nhà tử tế lại vẫn là kẻ đã có chuyện lôi thôi với chàng ở lữ quán Frăng-Mơniê.
Sau khi nếm rượu ra người sành sỏi và gật đầu tỏ ý rượu ngon, Atôx nói:
- Công việc của cậu không đến nỗi tồi và có thể moi ở con người đáng quý kia năm sáu chục pixtôn đấy. Bây giờ chỉ xem xét xem năm sáu chục pixtôn có đáng mạo hiểm bốn cái đầu không.
- Nhưng xin chú ý rằng, Đactanhăng nói, có một người đàn bà trong việc này, một thiếu phụ bị bắt cóc, một thiếu phụ chắc chắn đang bị đe doạ, có thể bị tra tấn nữa mà tất cả chỉ vì nàng trung thành với nữ chúa của mình!
- Hãy coi chừng, Đactanhăng hãy con chừng, Aramix nói, tôi thấy cậu quá sốt sắng cho số phận của bà Bônaixiơ đấy. Đàn bà được sinh ra chỉ là để đẩy ta vào chỗ tổn thất, bao nhiêu nỗi khốn khổ của ta đều do họ mà ra cả đấy.
Nghe câu châm ngôn đó của Aramix, Atôx chau mày và cắn môi.
- Không phải lo ngại cho bà Bônaixiơ đâu, Đactanhăng la lên, mà cho hoàng hậu người bị nhà vua bỏ rơi, bị giáo chủ hành hạ, người đang phải nhìn các bạn bè của mình lần lượt bị rơi đầu.
- Tại sao bà ta lại đi yêu những thứ mà bọn ta ghét nhất đời, bọn Tây Ban Nha và bọn Anh Cát Lợi.
- Tây Ban Nha là tổ quốc của bà ta, Đactanhăng đáp, và bà ta yêu người Tây Ban Nha, những người con cùng đất nước bà ta là điều hoàn toàn đơn giản. Còn điều thứ hai cậu trách bà ta thì tôi nghe nói rằng không phải bà ta yêu người Anh mà bà ta chỉ yêu một người Anh thôi.
- Này, Atôx nói, của đáng tội gã người Anh đó xứng đáng được yêu. Tôi chưa hề thấy ai có vẻ uy nghiêm đường bệ như ông ta.
- Đó là chưa kể lối phục sức có một không hai, Pooctôx chêm vào. Tôi đã có mặt ở điện Luvrơ cái đêm ông ta vung vãi những viên ngọc, và mẹ kiếp, tôi đã nhặt được hai viên ngọc và đem bán ngon ơ được mười pixtôn.
- Tôi cũng chẳng thua gì các cậu vì tôi là một trong bọn người đã ngăn ông ta tại vường Amiêng, nơi ông đờ Puytăng giám mã của hoàng hậu đã đưa tôi tới đó. Hồi đó tôi vẫn còn ở chủng viện và tôi thấy cuộc phiêu lưu đó hơn tàn nhẫn đối với đức vua.
- Điều đó chẳng ngăn cản tôi, Đactanhăng nói, nếu biết quận công đờ Bắckinhâm ở đâu, tôi sẽ dẫn ông ta đến bên hoàng hậu dù chỉ là để Hồng y giáo chủ tức hộc máu ra. Bởi vì thưa các bạn, kẻ thù thực sự, duy nhất và vĩnh viễn của chúng ta là Hồng y giáo chủ, và nếu chúng ta có thể tìm cách chơi xỏ ông ta một vố đau, tôi xin thú thật là tôi sẵn sàng thí cái đầu mình.
- Này Đactanhăng, Atôx nói, lão hàng xén nói với cậu rằng hoàng hậu nghĩ rằng người ta đã mạo danh ông đờ Bắckinhâm để đến đây, phải không?
- Bà ta sợ như vậy.
- A, đợi tí nào, Aramix nói
- Sao? Pooctôx hỏi
- Cứ tiếp tục đi, tôi đang cố nhớ lại những sự kiện.
- Và bây giờ, Đactanhăng nói, tôi tin chắc rằng việc bắt người đàn bà đó gắn liền với những sự kiện chúng ta vừa nói và có thể là với sự có mặt của ông đờ Bắckinhâm ở Paris.
- Cái tên Gaxcong này lắm ý thật đấy, Pooctôx nói với vẻ khâm phục.
- Tôi rất thích nghe cậu ta nói chuyện, Atôx nói, cái thổ âm của cậu ta nghe hay hay lạ,
- Này các cậu, Aramix nói, hãy nghe cái này đã.
- Nào hãy nghe Aramix, cả ba cùng nói.
- Hôm qua tôi tới nhà một vị tiến sĩ thần học thông thái, thỉnh thoảng tôi vẫn đến thỉnh giáo cho việc nghiên cứu của mình.
Atôx mỉm cười:
- Ông ta ở một nơi vắng vẻ, Aramix tiếp, sở thích và nghề nghiệp của ông ta đòi hỏi như vậy. Mà, vào lúc tôi ra khỏi nhà ông ta…
Đến đây Aramix ngừng lại, các người nghe hỏi dồn:
- Sao nữa, vào lúc cậu ra khỏi nhà ông ta thì sao?
Aramix có vẻ cố gượng, giống như một người thao thao nói dối bỗng thấy mình bị chặn lại bởi một chướng ngại vật bất ngờ; nhưng những con mắt của ba người bạn dán chặt vào chàng, tai họ vểnh cả lên chờ đợi, họ không còn đường nào lui nữa. Chàng nói tiếp:
- Vị tiến sĩ ấy có một cô cháu gái
- A! Ông ta có một cô cháu gái, Pooctôx ngắt lời
- Một phu nhân rất đáng kính trọng, Aramix nói
Ba người bạn phá ra cười
- A! Nếu các cậu cười hoặc hoài nghi, Aramix tiếp, các cậu sẽ cóc biết gì hết đấy.
Atôx nói:
- Chúng tớ tín ngưỡng như những người Hồi giáo và câm như hến ấy.
- Vậy thì tôi tiếp tục. Cô cháu đó thỉnh thoảng đến thăm ông chú; hôm qua nhân tình cờ cô ta ở đó với tôi, và tôi xin dẫn cô ta ra xe của cô.
- Ái chà! Cô cháu gái của vị tiến sĩ, nàng có xe kia à? Pooctôx ngắt lời, một trong những khuyết điểm của chàng là tính nói nhiều; chỗ quen biết khớ đấy anh bạn ạ!
- Pooctôx, Aramix nói, tôi đã nhiều lần lưu ý là cậu rất trống miệng và cái đó làm hại cậu trong quan hệ với phụ nữ.
Đã hé thấy nội dung của câu chuyện ly kỳ, Đactanhăng la lên:
- Này các cậu, chuyện nghiêm túc đấy, đừng đùa nữa. Tiếp tục đi Aramix.
- Bỗng nhiên một người cao lớn, da nâu nâu, phong cách ra vẻ nhà quý tộc… này, Đactanhăng, trông như kiểu địch thủ của cậu ấy.
- Không chừng cũng là hắn đấy, Đactanhăng nói
- Có thể lắm, Aramix tiếp tục, hắn lại gần tôi, năm hoặc sáu người đi sau hắn cách độ chục bước. Với giọng lễ phép nhất, hắn nói: “Thưa quận công và thưa… phu nhân” hắn nói thêm với người đàn bà khoác tay tôi.
- Với cô cháu vị tiến sĩ à?
- Im nào, Pooctôx! Atôx nói, không thể chịu nổi cậu
- Mời các vị lên cỗ xe này cho và xin chớ mưu toan kháng cự một tí nào, đừng làm ồn chút nào!
- Hắn tưởng cậu là đờ Bắckinhâm rồi! Đactanhăng kêu lên.
- Thế còn người đàn bà kia? Pooctôx hỏi
- Hắn tưởng là hoàng hậu chứ còn gì nữa, Đactanhăng nói
- Đúng thế, Aramix đáp
- Anh chàng Gaxcong này mả thật, Atôx kêu lên, chẳng có gì qua khỏi mắt nó.
Pooctôx nói:
- Sự thực thì cỡ người và vóc dáng của Aramix cũng hao hao giống với ông quận công đẹp trai đó; thế nhưng tôi thấy bộ quần áo ngự lâm quân hình như…
- Lúc đó tôi mặc một áo choàng lớn, Aramix nói
- Cha mẹ ơi! Mặc một áo choàng giữa tháng bảy! Pooctôx nói, phải chăng vị tiến sĩ sợ rằng người ta nhận ra cậu?
- Cũng có thể, Atôx nói, tên do thám có thể bị nhầm bởi dáng điệu nhưng còn bộ mặt…
- Tôi đội cái mũ to xùm xụp mà, Aramix đáp
- Trời đất ơi! Pooctôx nói, nghiên cứu thần học mà phải trang bị kỹ càng như thế ư?
- Thôi các cậu ơi, Đactanhăng nói, đừng mất thì giờ bông đùa, chúng ta hãy phân tán ra và đi tìm vợ ông hàng xóm, đó là chìa khoá mở câu chuyện ly kỳ này.
Pooctôx vừa nói vừa bĩu môi ra vẻ khinh bỉ:
- Một người đàn bà thấp kém như thế hả Đactanhăng?
- Đó là con đỡ đầu của đờ La Pooc, quan nội giám tin cẩn của hoàng hậu, tôi đã chẳng nói với các cậu như thế là gì? Và biết đâu đó là sự tính toán của lệnh bà lần này tìm chỗ dựa ở những đám thấp hèn như vậy. Những vị mũ cao áo dài thì từ xa người ta đã thấy, mà ngài giáo chủ thì có đôi mắt cú vọ.
- Vậy thì, Pooctôx nói, trước mắt phải đặt giá với lão hàng xén và giá phải hời.
- Chẳng cần, Đactanhăng nói, vì tôi cho rằng nếu hắn không trả công ta thì ta cũng sẽ được trả công ở phía khác, lo gì.
Vừa lúc đó, tiếng bước chân dồn dập vang lên từ phía cầu thang, cánh cửa phòng mở rầm ra và bác hàng xóm khốn khổ lao vào phòng đang có cuộc họp.
- Ối các ông ơi, bác la lớn, cứu tôi với, các ông ơi, trời ơi, cứu tôi với. Có bốn người đến bắt tôi, cứu tôi với, cứu tôi với!
Pooctôx và Aramix đứng dậy
- Khoan, Đactanhăng kêu lên và ra hiệu cho họ tra lại vào bao những mũi kiếm đã rút nửa chừng. Khoan, chưa cần đến dũng cảm lúc này mà cần đến khôn ngoan đã.
- Tuy nhiên, Pooctôx nói, chúng ta không để…
Atôx nói:
- Các cậu hãy để cho Đactanhăng đối phó, tôi xin nhắc lại đó là đầu lĩnh của tất cả chúng ta, và về phần tôi, tôi tuyên bố là tôi phục tùng cậu ấy, Đactanhăng, cậu làm thế nào là tuỳ cậu.
Đúng lúc ấy, bốn vệ sĩ xuất hiện ở cửa phòng và nhìn thấy bốn ngự lâm quân đang đứng, gươm kè kè bên mình, họ ngần ngại không dấn lên nữa.
- Cứ vào, xin mời các ông vào, Đactanhăng nói to, các ông đang ở nhà tôi, mà chúng ta đều là bầy tôi trung thành của nhà vua và quan tể tướng cả.
Người có vẻ là đội trưởng lên tiếng:
- Thưa các ông, vậy là các ông không phản đối chúng tôi thực hịên những mệnh lệnh đã được giao?
- Trái lại là khác, các ông ạ! Nếu cần chúng tôi còn sẵn sàng tiếp tay cho các ông.
Pooctôx lẩm bẩm:
- Này, nó nói gì lạ vậy?
- Cậu là một thằng ngốc, Atôx nói, im đi!
Bác hàng xén nói không ra tiếng:
- Nhưng các ông đã hứa với tôi…
Đactanhăng đáp khẽ và nhanh:
- Chúng tôi chỉ có thể cứu ông nếu chúng tôi còn được tự do, và nếu chúng tôi tỏ ra bênh vực ông, người ta sẽ bắt chúng tôi cùng với ông.
- Tuy nhiên, tôi thấy dường như…
- Lại đây các ông, lại đây, Đactanhăng la to, tôi chẳng có lý do bênh vực ông này. Hôm nay là lần đầu tiên tôi thấy ông ấy và nhân cơ hội nào, tự ông ta sẽ nói với các ông, ông ta đến đòi tôi tiền thuê nhà. Có đúng thế không, ông Bônaixiơ? Trả lời đi…
- Vâng đúng như vậy, bác hàng xén nói, nhưng ông đây quên nói rằng…
- Chớ có nói gì về tôi, về các bạn tôi, nhất là chớ có bép xép gì về hoàng hậu, nếu không ông sẽ làm hại tất cả mọi người mà không cứu được mình đâu. Nào các ông, hãy dẫn người này đi!
Và Đactanhăng đẩy bác hàng xén đang hết sức bàng hoàng vào tay bọn vệ sĩ và bảo:
- Ông là đồ lếu láo, ông bạn ạ; ông đến đòi tiền nhà tôi, đòi tôi! Đòi một ngự lâm quân của đức vua à? Vào tù thì có! Một lần nữa xin các ông hãy dẫn hắn vào tù và giam hắn thật chặt càng lâu càng tốt, như thế để tôi có thời gian trả tiền nhà.
Bọn sai nha rối rít cảm ơn và dẫn miếng mồi của chúng đi.
Khi chúng đi rồi, Đactanhăng vỗ vai viên đội trưởng bảo:
- Chúng ta chẳng uống mừng sức khoẻ của nhau một chút sao? Chàng nói và rót đầy hai cốc rượu vang Bôgiăngxy mà Bônaixiơ đã hào phóng đãi chàng.
- Thật là vinh dự cho tôi biết mấy, viên đội trưởng nói, và tôi xin nhận với lòng biết ơn.
- Vậy xin chúc mừng sức khoẻ ông… ông tên là gì nhỉ?
- Boarơna!
- Ông Boarơna!
- Xin chúc mừng sức khoẻ vị quý tộc của tôi! Mà cũng xin ông cho biết quý danh nhỉ?
- Đactanhăng.
- Nào, xin chúc sức khoẻ ông!
- Và trên hết mọi sức khoẻ, Đactanhăng kêu to lên phấn khích vì cuồng nhiệt; ta hãy nâng cốc chúc sức khoẻ của đức vua và quan tể tướng.
Tên đội trưởng có lẽ sẽ hoài nghi lòng chân thật của Đactanhăng nếu như rượu tồi, nhưng rượu lại ngon nên hắn tin chắc.
Khi tên đội trưởng đã theo kịp đồng đội, Pooctôx la lên:
- Cậu làm cái gì tồi tệ thế? Hèn thật! Bốn ngự lâm quân để mặc một người khốn khổ bị bắt giữ kêu cứu ngay trước mặt họ! Một nhà quý tộc đi chạm cốc với một tên trợ thủ thừa phát lại!
- Này Pooctôx, Aramix nói, Atôx đã bảo rằng cậu là một kẻ ngốc và tôi đồng ý với Atôx. Đactanhăng, cậu là một vĩ nhân, và khi nào cậu ngồi vào địa vị ngài đờ T’rêvin, tôi sẽ xin cậu bảo trợ để tôi có một tu viện.
- Lạ thật, tôi chẳng hiểu vì sao các cậu lại tán thành việc Đactanhăng vừa làm cơ chứ?
Đactanhăng không buồn giải thích cách xử sự của mình cho Pooctôx nghe, chàng nói:
- Này các cậu, bây giờ thì mọi người vì một người, một người vì mọi người, đó là phương châm của chúng ta phải không?
- Tuy nhiên… Pooctôx nói
- Cậu hãy giơ tay ra và thề đi, Atôx và Aramix đồng thanh nói
Bị khuất phục với tấm gương của các bạn, miệng vẫn còn làu nhàu, Pooctôx giơ tay ra, cả bốn người cùng đồng thanh hô lại khẩu hiệu do Đactanhăng xướng lên:
“Mọi người vì một người, một người vì mọi người”
- Hay lắm, bây giờ ai về nhà người nấy, Đactanhăng nói cứ như mình sinh ra ở đời chỉ để có thể chỉ huy – và hãy coi chừng, kể từ giờ phút này trở đi, chúng ta đọ sức với tể tướng rồi đó.

0
Thế là CuLong hoàn tất nhiệm vụ của mình rồi. Bao giờ có tiếp đây MS ơi, ới, ời...

CHƯƠNG X
X
MỘT CÁI BẪY CHUỘT THẾ KỶ XVII
Không phải ngày nay mới sáng chế ra cái bẫy chuột. Ngay từ khi hình thành, các xã hội đã sáng chế ra một bộ máy cảnh sát nào đó, và cái bộ máy cảnh sát đó đã sáng chế ra các bộ bẫy chuột rồi.
Do có thể các bạn đọc chưa quen với tiếng lóng của phố Jerusalem, và từ khi chúng tôi viết chuyện, kể đã có đến mười lăm năm rồi, lần đầu tiên chúng tôi dùng đến cái danh từ ấy, cho nên chúng tôi xin giải thích với các bạn như thế nào là một cái bẫy chuột.
Khi một ngôi nhà, dù là nhà gì đi chăng nữa, người ta đã bắt giữ một người bị nghi là phạm một tội gì đó, người ta giữ kín việc bắt bớ; người ta bố trí bốn năm người ở phòng đầu tiên, tất cả những ai đến gõ cửa người ta đều mở cửa cho vào rồi đóng ngay lại và bắt họ; cứ như thế trong vòng hai bà ngày, người ta tóm hầu hết những người quen thuộc của ngôi nhà.
Cái bẫy chuột là như thế đó.
Vậy người ta làm một cái bẫy chuột ở ngôi nhà bác Bônaixiơ, và bất cứ ai xuất hiện ở đó đều bị các vệ sĩ của Hồng y giáo chủ tóm cổ và tra hỏi. Tất nhiên, những ai đến nhà của Đactanhăng đều không bị xét hỏi gì vì có một lối dẫn riêng dẫn lên tầng gác một là nơi chàng ở.
Vả lại, chỉ có ba chàng ngự lâm quân đến đó. Họ đã chia nhau đi tìm nhưng chẳng tìm thấy gì cả, chẳng phát hiện được gì. Atôx còn hỏi ngài đờ T’rêvin, chàng lính ngự lâm quân đứng đắn này vốn dĩ có thói quen câm lặng cho nên điều đó khiến vị chỉ huy vô cùng sửng sốt, nhưng Ngài chẳng biết gì hết, trừ lần cuối cùng đến gặp tể tướng, đức vua và hoàng hậu. Ngài thấy quan tể tướng có vẻ rất tư lự, nhà vua thì lo âu và cặp mắt đỏ hoe của hoàng hậu đã tỏ rõ bà đã thức đêm hoặc khóc nhiều. Nhưng tình tiết cuối cùng này không làm ông ngạc nhiên, từ ngày cưới đến nay, hoàng hậu vẫn thường thức đêm và khóc nhiều.
Ngài đờ T’rêvin cũng dặn dò Atôx dẫu sao cũng phải phụng sự nhà vua, nhất là hoàng hậu, và bảo chàng dặn dò các bạn chàng như vậy.
Còn về Đactanhăng, chàng ở yên trong nhà. Chàng biến căn nhà mình thành trạm quan sát. Từ cửa sổ, chàng nhìn những người đến ngôi nhà và bị bắt. Rồi do chàng tháo gạch lát sàn và soi rầm nhà cho đến khi chỉ còn lại một lớp trần mỏng ngăn cách chàng với buồng dưới, nơi tiến hành những cuộc hỏi cung, chàng có thể nghe mọi chuyện xảy ra giữa người thẩm vấn và kẻ bị cáo.
Các cuộc hỏi cung bắt đầu từ sự lục soát kỹ càng người bị bắt, thường quanh quẩn gần như có mấy câu:
- Bà Bônaixiơ có nhờ ông bà đưa cái gì cho chồng bà ta hoặc cho người khác không?
- Ông ta hoặc bà ta có nói miệng với ông, bà một câu chuyện riêng tư, bí mật nào không?
Đactanhăng tự bảo rằng, nếu chúng biết được điều gì rồi thì chúng đã chẳng hỏi như vậy. Bây giờ chúng muốn tìm hiểu cái gì? Xem liệu quận công đờ Bắckinhâm có ở Pari hay không và liệu ông ta đã hoặc sẽ có cuộc hội kiến nào với hoàng hậu không?
Đactanhăng dừng lại ở ý nghĩ đó vì căn cứ vào những điều chàng nghe được, điều đó không phải là không có khả năng.
Trong khi chờ đợi, cái bẫy chuột vẫn hoạt động thường xuyên và tinh thần cảnh giác của Đactanhăng cũng như vậy.
Buổi tối sau ngày bắt giam bác Bônaixiơ tội nghiệp, khi Atôx vừa rời khỏi nhà Đactanhăng để đến dinh vị chỉ huy, khi chín giờ rưỡi mới điểm và Plăngse đang dọn giường, thì có tiếng gõ ở dưới cửa ra đường, tức thì cánh cửa mở ra và đóng lại, một người nào đó vừa đâm đầu vào bẫy chuột.
Đactanhăng lao ra chỗ sàn nhà đã dỡ gạch và nằm sấp xuống để nghe.
Chẳng mấy chốc đã vang lên tiếng kêu la và tiếng rên rỉ mà người ta tìm cách dập tắt. Chẳng phải là chuyện hỏi cung.
- Quái quỷ! Đactanhăng tự nhủ, hình như đó là một người đàn bà; chúng nó lục soát, chị ta kháng cự - chúng nó cưỡng chế chị ta – quân khốn khiếp.
Và tuy khôn ngoan thận trọng, Đactanhăng phải cố tự kiềm chế để khỏi dây vào cái cảnh đang diễn ra ở bên dưới.
Người đàn bà đáng thương la lên
- Tôi đã bảo các ông tôi là chủ nhân ngôi nhà này; tôi đã bảo rằng tôi là bà Bônaixiơ, tôi đã bảo rằng tôi là nữ tì của hoàng hậu!
- Bà Bônaixiơ! Đactanhăng lẩm bẩm, ta há lại khá may mắn là thấy được cái người mà thiên hạ đang tìm kiếm.
- Thì chính chúng tôi đang đợi bà đây! Bọn hỏi cung nói.
Tiếng người thiếu phụ mỗi lúc nghẹt dần; một tiếng náo động làm rung miếng gỗ bịt tường. Nạn nhân chống cự như một người đàn bà có thể chống cự bốn người đàn ông.
- Tha cho tôi, các ông ơi! Tha cho… giọng nói rì rầm chỉ còn thành những tiếng rời rạc.
- Chúng bịt miệng chị ta, chúng sắp lôi chị ta đi! Đactanhăng vừa kêu lên vừa bật đứng dậy như cái lò xo. Thanh kiếm của ta đâu, à nó đây rồi. Này, Plăngsê!
- Thưa ông bảo gì?
- Chạy ngay đi tìm Atôx, Pooctôx và Aramix. Một trong ba người chắc chắn đã về nhà, có thể cả ba đã ở nhà. Bảo họ mang vũ khí đến đây, chạy ngay đến đây. A, ta nhớ ra rồi, Atôx đang ở chỗ ngài T’rêvin.
- Nhưng ông đi đâu hả ông, ông đi đâu?
- Ta xuống lối cửa sổ cho nhanh, còn mày hãy xếp lại những viên gạch như cũ, quét sàn nhà, đi ra bằng cửa lớn và chạy đến những nơi ta bảo nghe!
- Ối ông ơi, ông ơi, ông đi vào chỗ chết à? Plăngsê kêu lên.
- Im ngay, đồ ngu! Đactanhăng quát
Rồi lấy tay bám vào thành cửa sổ, chàng buông mình xuống gác một, may sao cũng không cao và cũng chẳng xây xát gì.
Chàng lập tức gõ cửa, miệng lẩm bẩm:
- Đến lượt tao đút đầu vào bẫy chuột đây và vô phúc cho lũ mèo nào bắt phải chú chuột này.
Tay chàng thanh niên vừa giật cái vồ gõ cửa thì tiếng náo động trong nhà im bặt ngay, tiếng bước chân đến gần, cánh cửa mở ra và Đactanhăng kiếm tuốt trần lao ngay vào nhà bác Bônaixiơ mà cánh cửa chắc có lò xo đã tự khép lại ngay sau lưng chàng.
Thế nhưng những người còn ở lại trong ngôi nhà bất hạnh của Bônaixiơ và những người hàng xóm gần nhất nghe thấy tiếng kêu la, tiếng chân rậm rịch, tiếng kiếm chạm nhau và tiếng đổ của bàn ghế kéo dài. Rồi một lát sau, những người kinh ngạc vì tiếng ồn ào đó, ra cửa sổ để biết ngọn ngành, đã có thể nhìn thấy cánh cửa mở ra và bốn người mặc quần áo đen không phải đi ra mà bay ra như những con quạ hốt hoảng, để rơi rụng ra đất và góc bàn những lông cánh của chúng, nghĩa là những mảnh áo quần và măng tô tơi tả.
Phải nói rằng, Đactanhăng thắng trận không khó nhọc lắm, bởi vì chỉ có một viên cảnh sát mang vũ khí mà hắn chỉ tự vệ chiếu lệ thôi. Đúng là ba tên đã toan đập chết chàng thanh niên bằng ghế dựa, ghế đẩu và đồ gốm nhưng mấy vết xước da do thanh trường kiếm của chàng thanh niên Gaxcong gây nên khiến chúng hết hồn. Mười phút đủ cho chúng chịu thua và Đactanhăng làm chủ chiến trường.
Những người hàng xóm ban nãy mở cửa ra xem với sự bình tĩnh đặc biệt của dân Pari vào cái thời buổi đầy những cuộc hỗn loạn và đánh nhau như cơm bữa ấy, bây giờ thấy bốn người mặc đồ đen bỏ chạy, liền đóng ngay cửa lại: linh tính bảo họ rằng lúc này mọi việc đã xong.
Vả lại, đêm đã về khuya. Lúc bấy giờ cũng giống như ngày nay ở khu vường Luychxembua, người ta hay đi ngủ sớm.
Còn lại một mình với bà Bônaixiơ, Đactanhăng quay lại phía bà ta; người thiếu phụ nằm vật trên chiếc ghế bành và gần như bất tỉnh. Đactanhăng đưa mắt quan sát bà ta.
Đó là một thiếu phụ kiều diễm trạc hai lăm hai sáu tuổi, tóc nâu, mắt xanh, mũi hơi hếch, hàng răng tuyệt đẹp, nước da trắng hồng. Tuy nhiên đến đó thì dừng lại các dấu hiệu khiến bà ta có thể bị nhầm với các phu nhân quyền quý. Bàn tay trắng nhưng không thanh tú, bàn chân không nói lên sự sang trọng. May thay, Đactanhăng chưa kịp bận tâm tới những chi tiết ấy.
Trong khi Đactanhăng ngắm nghía bà Bônaixiơ và đang nhìn xuống bàn chân như đã nói, chàng chợt trông thấy ở dưới đất một chiếc khăn tay bằng vải gai mịn; theo thói quen chàng nhặt lên và thấy ở góc khăn vẫn dấu hiệu giống như trên chiếc khăn tay mà vì nó chàng suýt rơi đầu bởi Aramix.
Từ hồi đó, Đactanhăng dè chừng với những chiếc khăn tay thêu phù hiệu, chàng chẳng nói chằng rằng đặt trả chiếc khăn vào túi bà Bônaixiơ. Vừa lúc đó bà Bônaixiơ tỉnh dậy. Bà mở mắt nhìn quanh thấy căn phòng trống không và chỉ có mình bà với người đã giải thoát bà. Bà vội giơ tay về phía chàng mỉm cười. Bà Bônaixiơ có nụ cười duyên dáng nhất đời.
- Ôi, thưa ông! Bà nói, chính ông đã cứu tôi? Cho phép tôi được cảm tạ ông.
- Thưa bà, Đactanhăng đáp, tôi chỉ làm cái điều mà mọi người quý phái ở địa vị tôi đều phải làm, vậy chẳng có gì để bà phải cảm ơn tôi cả.
- Có chứ, thưa ông có chứ, và tôi hy vọng sẽ có ngày chứng minh với ông rằng ông đã không giúp đỡ một kẻ bội bạc. Nhưng mà những người kia muốn gì ở tôi cơ chứ, thoạt đầu tôi cho rằng đó là những tên ăn cắp, mà tại sao ông Bônaixiơ không có ở đây nhỉ?
- Bà ạ, những kẻ đó còn nguy hiểm hơn bọn trộm cắp nhiều, vì rằng đó là những nhân viên của quan tể tướng. Còn chồng bà, ông Bônaixiơ không có ở đây vì ngày hôm qua ông ta đã bị bắt đi nhà ngục Baxti.
- Chồng tôi bị bắt đi nhà ngục Baxti? Bà Bônaixiơ kêu lên, ôi! Lạy Chúa! Nhà tôi đã làm gì nên nỗi? Khổ thân mình quá, mình ơi! Ông ấy nhà tôi hiền lành như cục đấy ấy.
Và một cái gì đó như một nụ cười lóe trên khuôn mặt hãy còn hoảng sợ của người thiếu phụ.
- Ông ấy đã làm gì ư, thưa bà? Đactanhăng nói. Tôi cho rằng tội duy nhất của ông ấy là vừa có diễm phúc vừa bất hạnh được làm chồng bà
- Nhưng thưa ông, vậy là ông biết…
- Tôi biết bà đã bị bắt cóc
- Mà bởi ai, ông có biết không? Ôi, nếu ông biết ông có bảo vệ tôi không?
- Bởi một người khoảng bốn mươi bốn lăm tuổi, tóc đen, nước da ngăm ngăm, có một vết sẹo ở thái dương bên trái.
- Đúng rồi, đúng rồi. Nhưng hắn tên là gì?
- Chà, tên hắn ư? Chính là điều tôi không biết
- Thế chồng tôi có biết tôi bị bắt cóc không?
- Ông nhà được chính tên bắt cóc viết thư báo cho biết.
- Và ông ấy có nghi ngờ gì, bà Bônaixiơ hỏi với vẻ bối rối, nguyên nhân của sự kiện này không?
- Hình như ông ta quy vào một lý do chính trị.
- Lúc đầu tôi mới ngờ ngợ thôi còn bây giờ thì tôi nghĩ như nhà tôi. Vậy tôi nói nhà tôi không nghi ngờ tôi chút nào…
- A! Còn lâu thưa bà, ông ta quá tự hào về tính nết na và tình yêu của bà
Một nụ cười thứ hai hầu như không thể nhận thấy lướt trên môi hồng của người đàn bà trẻ đẹp.
- Nhưng làm thế nào mà bà trốn thoát được? Đactanhăng hỏi tiếp.
- Do từ buổi sáng hôm ấy tôi đã biết sự thể việc bắt cóc tôi ra sao, nhưng thừa lúc người ta để tôi một mình, tôi bèn dùng mấy tấm vải của tôi để tụt xuống từ cửa sổ; rồi thì tưởng nhà tôi còn ở đây, tôi bèn chạy về.
- Để nhờ ông ấy che chở chăng?
- Ồ, không! Tội nghiệp nhà tôi, tôi biết rõ rằng ông ấy chẳng thể nào bảo vệ được tôi; nhưng vì có thể ông ấy giúp ích chúng tôi vào việc khác, tôi muốn báo tin ông ấy phòng ngừa.
- Phòng ngừa việc gì chứ?
- Ô! Điều này không phải là bí mật của tôi, cho nên tôi không thể nói với ông được.
- Vả chăng, Đactanhăng nói, tôi chỉ là anh lính thị vệ quèn, xin bà miễn thứ nếu tôi nhắc nhở bà phải thận trọng, theo tôi ở đây không phải chỗ thích hợp cho chúng ta thổ lộ chuyện kín. Những kẻ vừa bị tôi đánh bỏ chạy sắp trở lại với lực lượng viện trợ, nếu họ thấy chúng ta ở đây thì chúng ta đi toi. Tôi đã cẩn thận cho người đi báo tin với ba anh bạn của tôi rồi nhưng không biết liệu có gặp họ ở nhà không?
- Vâng, vâng, ông nói có lý, bà Bônaixiơ kinh hoàng kêu lên; trốn đi, ta hãy trốn đi thôi.
Dứt lời, chàng quàng tay quanh Đactanhăng và kéo chàng đi
- Nhưng trốn đi đâu bây giờ? Đactanhăng nói
- Cứ rời căn nhà này đã rồi ta sẽ tính sau.
Thế là thiếu phụ và chàng thanh niên chẳng buồn đóng cửa nữa, vội đi nhanh ra Phố Phu đào huyệt, rồi băng qua phố Ông Hoàng và chỉ đến quảng trường Xanh Xuynpix mới dừng chân.
Đactanhăng hỏi:
- Bây giờ chúng ta làm gì đây? Bà muốn tôi dẫn ba đi đâu nào?
- Thú thật là tôi rất lúng túng chưa biết trả lời ông như thế nào. Ý định của tôi là nhờ chồng tôi báo tin cho quan nội giám La Pooc để ông ta có thể cho chúng ta biết đích xác ba ngày qua đã xảy ra những chuyện gì ở cung điện Luvrơ và liệu tôi trở về cung có nguy hiểm gì không?
- Thì tôi, tôi cũng có thể báo tin cho ông La Pooc được, Đactanhăng nói
- Tất nhiên; duy chỉ có điều không may là ở hoàng cung người ta biết mặt của ông Bônaixiơ và để cho ra vào, còn ông, người ta có biết mặt ông đâu mà cho vào.
- Ái chà, lại còn thế nữa! Đactanhăng nói, chắc bà có một người gác cổng thân tín nào đó ở hoàng cung Luvrơ và nhờ một mật hiệu thì…
Bà Bônaixiơ nhìn chằm chằm vào mặt chàng thanh niên và nói:
- Nếu tôi cho ông biết mật hiệu đó thì sau khi dùng xong, ông có quên ngay lập tức không?
- Xin lấy danh dự nhà quý tộc mà thề! Đactanhăng vội nói với giọng chân tình không ai nghi ngờ được.
- Thôi được tôi tin ở ông. Ông có vẻ một thanh niên trung thực, vả lại con đường công danh của ông có lẽ tuỳ thuộc vào nhiệt tình của ông.
- Chẳng cần phải được hứa hẹn gì hết, tôi vẫn hết lòng làm mọi việc có thể làm để phụng sự đức vua và để hoàng hậu vui lòng; vậy xin bà cứ sử dụng tôi như một người bạn thân.
- Nhưng trong thời gian ấy ông để tôi ở đâu?
- Bà không có một người nào mà ông La Pooc có thể đón bà hay sao?
- Không, tôi không muốn tin vào ai…
- Thôi được, bà chờ một lát, ta sắp đến nhà Atôx rồi. Phải đấy.
- Atôx là ai?
- Một người bạn thân của tôi
- Thế nhỡ ông ta có nhà và nhìn thấy tôi thì sao?
- Ông ấy không có nhà và tôi sẽ đưa bà vào đấy rồi mang chìa khoá theo.
- Nhưng nếu ông ta về thì sao?
- Bạn tôi sẽ không trở về đâu; vả lại tôi sẽ nhắn bảo ông ấy rằng tôi dẫn một bà đến và bà ta đang ở nhà ông ấy.
- Nhưng ông có biết làm như vậy sẽ phương hại đến danh giá của tôi không?
- Bà chẳng nên bận tâm, chẳng ai biết bà; vả chăng chúng ta đang ở trong một tình trạng cần phải bỏ qua ít nhiều điều lễ giáo.
- Vậy ta đến nhà bạn ông đi, ông ấy ở đâu?
- Ở phố Fêru, cách đây vài bước.
- Đi thôi.
Và cả hai tiếp tục. Đúng như Đactanhăng đoán, Atôx không có nhà; chàng nhận chìa khoá mà người gác cổng vẫn đưa cho chàng như đưa cho một người thân trong nhà, rồi lên cầu thang, đưa bà Bônaixiơ vào trong căn nhà nhỏ mà ta đã tả qua.
Đactanhăng nói:
- Xin bà cứ coi như đang ở nhà bà. Bà chờ ở đây, khoá cửa kỹ bên trong và chớ mở cửa cho bất kỳ ai, trừ phi bà nghe gõ ba tiếng như thế này: Đactanhăng gõ ba tiếng, hai tiếng đầu khá mạnh và gần nhau, tiếng thứ ba cách lâu hơn và nhẹ hơn.
- Được rồi, bà Bônaixiơ nói, bây giờ đến lượt tôi chỉ dẫn cho ông.
- Tôi nghe.
- Ông hãy đến cái khuôn cửa nhỏ ở cung Luvrơ phía đường Cái thang và hỏi người có tên Giecmanh
- Được, rồi sao nữa?
- Người đó sẽ hỏi ông cần gì và ông sẽ đáp lại bằng hai tiếng này: Tua và Bruxen. Người ấy sẽ lập tức nghe lệnh ông.
- Tôi sẽ ra lệnh cho hắn như thế nào?
- Ông bảo hắn đi tìm ngay ông La Pooc, nội giám của hoàng hậu
- Khi hắn đã tìm được rồi và ông La Pooc đến thì tôi phải làm gì?
- Thì ông chỉ chỗ cho ông La Pooc đến đón tôi.
- Được, nhưng tôi làm thế nào được gặp lại bà và gặp ở đâu?
- Ông có thiết gặp lại tôi lắm không?
- Có chứ
- Vậy thì xin ông hãy để tôi lo chuyện đó và ông hãy yên tâm
- Tôi tin cậy ở lời hứa của bà.
- Ông hãy tin vào nó.
Đactanhăng chào bà Bônaixiơ và liếc nhìn bằng cặp mắt tình tứ nhất mà chàng có thể tập trung vào con người nhỏ nhắn, kiều diễm kia, và trong khi bước xuống cầu thang, chàng nghe thấy tiếng cánh cửa đóng lại sau lưng mình với hai lần vặn khoá. Chàng vọt mấy bước đến cung điện Luvrơ. Khi chàng bước vào cái cửa nhỏ đường cái thang thì đồng hồ điểm mười giờ. Tất cả các sự kiện tôi vừa kể trên đã kế tiếp nhau trong vòng nửa giờ.
Mọi việc tiến hành trôi chảy như bà Bônaixiơ cho biết. Nghe mật hiệu, Giecmanh cúi chào; mười phút sau ông La Pooc đến; Đactanhăng nói vắn tắt cho ông biết qua tình hình và chỉ cho ông nơi bà Bônaixiơ đang ẩn náu. Ông La Pooc hỏi đi hỏi lại hai lần rồi chạy vội đi. Thế nhưng mới được chục bước, ông lộn trở lại và bảo Đactanhăng:
- Này anh bạn trẻ, tôi khuyên anh một lời nhé.
- Xin ông cứ nói
- Những việc vừa xảy ra có thể gây rắc rối cho ông đấy.
- Vậy ư?
- Phải. Anh có người bạn nào nhà có đồng hồ chạy chậm không?
- Rồi sao?
- Anh nên tới nhà người đó để người đó có thể làm chứng rằng anh đã có mặt ở nhà họ lúc chín giờ rưỡi. Về tư pháp, cái đó gọi là chứng cứ chứng tỏ rằng khi việc ấy xảy ra thì mình không có mặt ở nơi đó.
Đactanhăng thấy rằng lời khuyên đó thật khôn ngoan. Chàng vắt chân lên cổ chạy thẳng tới dinh ngài T’rêvin, nhưng đáng lẽ vào phòng khách với mọi người, chàng xin vào thẳng văn phòng ngài. Vì Đactanhăng vốn là người thường hay lui tới dinh, người ta cho chàng vào dễ dàng và đi báo với vị chỉ huy rằng người đồng hương của ngài có việc quan trọng cần thưa với ngài nên xin được vào yết kiến bất thường. Năm phút sau, ngài T’rêvin hỏi Đactanhăng xem ngài có thể giúp chàng việc gì và vì sao chàng lại đến thăm vào lúc quá muộn màng thế này.
Đã lợi dụng lúc có một mình để vặn kim đồng hồ chậm lại bốn mươi lăm phút, Đactanhăng bèn nói:
- Xin ngài thứ lỗi! Tôi nghĩ là mới có chín giờ hai mươi lăm phút thì vẫn còn thì giờ để đến trình ngài.
Ngài T’rêvin nhìn đồng hồ kêu lên:
- Chín giờ hai lăm phút? Vô lý thật!
- Xin ngài hãy nhìn kỹ lại xem, đồng hồ chỉ rành rành như vậy.
- Ừ nhỉ! Ngài T’rêvin nói, tôi cứ tưởng phải khuya hơn kia. Nhưng nào, anh có việc gì cần đến tôi?
Thế là Đactanhăng thuật lại cho ngài T’rêvin nghe chuyện dài dòng về hoàng hậu. Chàng trình bày những nỗi lo của chàng cho ngài nghe, chàng kể lại những điều đã nghe được về dự định của quan tể tướng với quận công Bắckinhâm, tất cả những chuyện đó chàng kể một cách bình tĩnh và chững chạc khiến ngài T’rêvin mắc lỡm thêm, vì như đã nói, ngài đã nhận thấy sự khác lạ giữa quan tể tướng, nhà vua và hoàng hậu.
Đồng hồ điểm mười tiếng, Đactanhăng cáo biệt ngài T’rêvin, ngài cảm ơn chàng đã cho biết các tin tức, căn dặn chàng luôn luôn phục vụ đức vua và hoàng hậu, rồi ngài trở lại phòng khách. Nhưng xuống đến cầu thang, Đactanhăng sực nhớ ra mình quên cây gậy, vì thế chàng vội chạy lên, vào văn phòng đưa ngón tay quay kim đồng hồ lại để ngày hôm sau người ta không nhận thấy đồng hồ đã bị vặn sai, và từ giờ phút này trở đi, chàng chắc chắn có một nhân chứng xác minh cho chàng khi sự việc xảy ra thì chàng đang ở nơi khác, chàng xuống cầu thang và chẳng mấy chốc đã ở ngoài phố.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-01 20:29:59Mọt Sách>
Thế là CuLong hoàn tất nhiệm vụ của mình rồi. Bao giờ có tiếp đây MS ơi, ới, ời...


chương 15-16 bản scan bạn dunght đã nhận


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
CHƯƠNG XIII

ÔNG BÔNAXIƠ


Như ta có thể nhận thấy, qua tất cả những chuyện vừa xảy ra, có một nhân vật, mặc dầu sống trong tình thế bất an, lại ít được người ta lo lắng tới. Nhân vật đó là bác Bônaxiơ, vật hy sinh đáng kính trọng của những âm mưu chính trị và tình ái dằng dịt với nhau hết sức chặt chẽ giữa cái thời buổi rất là hiệp khách và cũng rất là phong tình này.

May sao, dù bạn đọc có nhớ đến hay không nhớ, chúng tôi đã hứa là không bỏ mất tăm tích bác ta.

Những cái tên sai nha xách kiếm đến bắt bác ta và dẫn thẳng vào nhà ngục Baxti và người ta đưa bác Bônaxiơ run như cầy sấy đến trước một tiểu đội lính đang nạp đạn vào súng trường.

Từ đó bác bị đưa vào một đường hầm nửa chìm dưới đất và bị những tên dẫn đến tha hồ chửi rủa bằng những lời tục tằn nhất và hành hạ rất dã man. Bọn cảnh sát thấy bác chẳng phải là một nhà quý tộc nên đối xử với bác như với một kẻ nhà quê thật sự.

Chừng nửa giờ sau, một viên lục sư đến chấm dứt những cực hình với bác nhưng chẳng chấm dứt được những nỗi lo sợ của bác khi ra lệnh dẫn bác ta sang phòng hỏi cung. Thông thường, người ta hỏi cung tù nhân ở ngay nơi ở của họ, nhưng với Bônaxiơ, họ chẳng phải nề hà quá như vậy.

Hai tên gác ngục chộp lấy người hàng xén, dẫn qua một cái sân, đưa vào một cái hành lang có ba tên lính canh mở một cái cửa ra và đẩy vào một gian buồng thấp tè, đồ đạc chổng cho có một cái bàn, một ghế tựa và một pháp quan cảnh sát. Viên quan này đang ngồi ở ghế và đang hí hoáy viết trên bàn.

Hai tên gác dẫn tù nhân đến trước bàn và viên quan ra hiệu cho chúng lui xa ra khỏi tầm nghe thấy tiếng nói. Viên pháp quan nãy giờ vẫn cúi đầu trên đống giấy tờ, bây giờ ngẩng đầu lên xem hắn phải làm việc với ai. Hắn là một người có vẻ nom dẫ sợ, mũi nhọn, lưỡng quyền vàng khè và cao gồ, mắt ti hí như soi mói và linh lợi, bộ mặt coi vừa giống chồn vừa giống cáo. Được đỡ bởi một cái cổ dài nghêu và linh hoạt, đầu hắn thò ra khỏi cái áo cổ dài đen rộng thùng thình, cứ lắc lư với một cử động giống như con rùa thò đầu ra khỏi cái mai.

Thoạt tiên hắn hỏi Bônaxiơ họ tên, tuổi, nghề nghiệp và chỗ ở.
- Bị cáo khai là Jắc-Misen Bônaxiơ, năm mươi mốt tuổi, làm nghề buôn hàng xén, nay đã nghỉ rồi, ở nhà số 11, phố Phu đào huyệt.

Đến đây, đáng lẽ tiếp tục hỏi cung, viên pháp quan lại dài dòng diễn giải về mối nguy cho một anh trưởng giả hèn hạ học đòi chen vào các việc công.

Hắn còn làm rắc rối thêm phần khai đề ấy bằng một bài trần thuật trong đó hắn kể lể uy lực hành động của Hồng y giáo chủ, vị thừa tướng không ai sánh kịp, ngài ăn đứt các thừa tướng trước kia và là tấm gương cho các thừa tướng sau này noi theo: những hành động và uy lực không có kẻ nào chống lại mà thoát khỏi trừng phạt.

Sau phần thứ hai của bài diễn văn ấy, viên pháp quan còn đưa mắt diều hâu chằm chằm nhìn bác Bônaxiơ đáng thương và mời bác suy nghĩ về tình thế nghiêm trọng của mình.

Những suy nghĩ của bác hàng xén đều có sẵn. Bác nguyền rủa cái giờ phút ông đờ La Pooc đã có ý định gả con gái đỡ đầu của ông cho bác, và nhất là giờ phút cô con gái đỡ đầu ấy được nhận làm tì nữ lo về áo xống cho hoàng hậu.

Điều căn bản trong tính cách của bác Bônaxiơ là tính ích kỷ sâu xa trộn lẫn tính keo kiệt bẩn thỉu, pha thêm tính nhát gan cực kỳ. Tình yêu của bác đối với người vợ trẻ là một tình cảm rất phụ không thể nào chống lại được những tính nết cố hữu như vừa kể.

Quả nhiên Bônaxiơ suy nghĩ về những điều viên pháp quan vừa nói, bác lạnh lùng đáp:
- Nhưng bẩm thượng quan, xin ngài hãy tin rằng tôi biết rõ và tôi hâm mộ hơn ai hết tài đức của đức Các hạ vô song và chúng tôi thật vinh dự được ngài trị vì.
- Thật chứ? Viên pháp quan hỏi lại với vẻ nghi ngờ, nếu thật như vậy thì làm thế nào ông lại lọt được vào ngục Baxti này?
- Làm thế nào, hay nói đúng hơn, tại sao tôi lại ở đây, Bônaxiơ đáp, đó chính là điều tôi hoàn toàn không thể nói với ngài được vì bản thân tôi cũng chẳng biết ra làm sao cả; nhưng chắc chắn rằng, dù sao, chẳng phải tôi đã cố tình xúc phạm đến quan tể tướng.
- Thế nhưng mà ông cũng phải phạm vào một trọng tội nào chứ, bởi ông bị buộc vào tội phản nghịch rành rành ra đây này.
- Tội đại phản nghịch! Bônaxiơ hốt hoảng kêu lên; tội đại phản nghịch! Một kẻ buôn hàng xén khốn khổ như tôi vốn ghét cay ghét đắng bọn tín đồ Tân giáo và thù độc địa bọn Tây Ban Nha, làm thế nào lại bị buộc tội đại phản nghịch cho được? Bẩm xin quan lớn đèn trời soi xét, việc đó quả tình không thể có được.
Viên pháp quan nhìn bị cáo như thể đôi mắt ti hí của hắn có khả năng đọc thấu tim gan của người ta và nói:
- Ông Bônaxiơ, ông có vợ chứ?
- Bẩm quan vâng, bác hàng xén trả lời run run như cầy sấy, cảm thấy như đó là chỗ mọi việc sắp sửa lôi thôi rắc rối đây; bẩm nghĩa là trước đây tôi đã có một người vợ.
- Thế nào? Trước đây ông có một người vợ! Bây giờ ông không có nữa, vậy ông để vợ ông đâu rồi?
- Bẩm quan người ta đã bắt cóc mất vợ tôi rồi ạ.
- Người ta bắt cóc mất vợ ông rồi? Ái chà! Pháp quan nói.
Qua tiếng “Ái chà!” ấy, Bônaxiơ thấy vụ này càng ngày càng rắc rối thêm.
- Người ta đã bắt cóc mất vợ ông! Pháp quan lại nói, thế ông có biết người nào bắt cóc vợ ông không?
- Tôi nghĩ là có biết người ấy.
- Người nào vậy?
- Bẩm quan, xin ngài nhớ cho rằng tôi chẳng dám khẳng định gì, tôi chỉ nghi nghi thôi.
- Ông nghi ai? Nào, hãy cứ nói thẳng ra.
Bônaxiơ lưỡng lự trăm chiều; nên chối cãi tuốt hay là nói hết ra. Chối tất, người ta sẽ tưởng bác biết quá nhiều nên không dám thú nhận; nói hết thì tỏ ra là có thiện chí. Vậy nên bác quyết định nói bằng hết:
- Tôi nghi cho một người cao lớn tóc hung, vẻ mặt kiêu kỳ, rất có vẻ là một nhà đại quý tộc; hắn ta hình như đã theo dõi chúng tôi nhiều lần khi tôi đến trước cái cửa nhỏ của cung Luvrơ để đợi và đón vợ tôi về nhà.
Viên pháp quan tỏ vẻ hơi lo ngại, hỏi:
- Tên hắn là gì?
- Ôi! Về họ tên hắn, tôi chẳng biết tí gì cả, nhưng nếu có bao giờ gặp lại hắn, tôi sẽ nhận ran gay lập tức dù hắn có đứng lẫn trong hàng nghìn người, tôi xin bảo đảm như vậy.
Viên pháp quan sa sầm mặt lại và hỏi:
- Ông bảo hắn có lẫn trong hàng nghìn người ông cũng nhận ra ngay phải không?
Thấy mình đã lỡ miệng rồi, Bônaxiơ đáp:
- Nghĩa là, nghĩa là…
Pháp quan nói:
- Ông đã khai là có thể nhận ra hắn, tốt lắm; thôi hôm nay như thế là đủ rồi; trước khi đi xa hơn nữa, cần phải báo cáo lên rằng ông quen biết người bắt vợ ông.
Bônaxiơ thất vọng la lên:
- Nhưng tôi có nói rằng tôi quen biết người ấy đâi! Trái lại, tôi nói rằng…
Viên pháp quan bảo hai tên gác ngục:
- Dẫn tên tù đi.
- Bẩm phải dẫn hắn đến chỗ nào ạ? Viên lục sự hỏi.
- Vào ngục tối.
- Ngục tối nào?
- Ô hay, ngục tối nào chả được, miễn là khoá chặt vào, viên pháp quan trả lời với vẻ thản nhiên khiến bác Bônaxiơ tội nghiệp thấy lạnh đến tận xương sống.
Bác ta than thở với mình:
- Hỡi ôi! Hỡi ôi! Tai họa treo trên đầu tôi rồi, vợ tôi ắt phạm một tội tày đình; người ta tưởng tôi đồng loã với nó và sẽ trị tội tôi cùng với nó, nó sẽ thú nhận đã nói hết với tôi; một người đàn bà mà, thật là yếu đuối! Vào ngục tối, ngục tối nào chả được! Thôi rồi! Một đêm phút chốc qua đi, rồi ngày mai ra xa hình, lên giá treo cổ! Ôi! Lạy chúa! Lạy chúa! Hãy thương con với!
Chẳng them để tai chút nào đến những lời than khóc của Bônaxiơ vả chăng họ đã quá quen với những lời than khóc như vậy rồi, hai tên gác ngục nắm lấy tay bác ta và dẫn đi trong khi đó viên pháp quan đang viết vội một bức thư mà tên lục sự đang chờ mang đi.
Bônaxiơ chẳng hề chợp mắt, chẳng phải vì ngục tối quá ư khó chịu mà vì thấp thỏm lo âu. Bác ngồi suốt đêm trên chiếc ghế đẩu; mỗi tiếng động nhỏ đều làm bác giật nảy mình, và khi những tia sáng đầu tiên củ ban ngày lọt vào căn ngục, bác thấy dường như rạng đông cũng mang màu tang tóc.
Bỗng nhiên nghe loảng xoảng tiếng mở khoá, bác nhày chồm lên một cái kinh khủng. Bác ngỡ người ta đưa mình ra máy chem., thế nên khi nhìn thấy thuần tuý và đơn giản chỉ có viên pháp quan và tên lục sự hôm trước, chứ không phải tên đao phủ mà mình đang chờ đọi, bác suýt nữa nhảy lên bá cổ họ.
Viên pháp quan nói:
- Vụ này của ông rắc rối thêm nhiều từ chiều tối hôm qua ông bạn ạ, và tôi khuyên ông nên nói bằng hết sự thật; vì chỉ sự ăn năn hối lỗi của ông mới có thể làm khuây cơn thịnh nộ của quan tể tướng mà thôi.
- Tôi xin sẵn sàng khai hết, Bônaxiơ kêu lên, ít ra là tất cả những điều tôi biết. Xin ngài cứ hỏi.
- Trước hết vợ ông hiện giờ ở đâu?
- Hẳn tôi đã thưa với ngài là người ta bắt cóc vợ tôi rồi mà.
- Phải, nhưng mà từ năm giời chiều hôm qua, nhờ ông mà vợ ông đã trốn thoát rồi.
- Vợ tôi trốn thoát rồi! Bônaxiơ kêu lên; ôi khổ thân tôi! Bẩm ngài, nếu vợ tôi trốn thoát thì đó chẳng phải là lỗi của tôi, tôi xin thề như vậy.
- Thế ông đã sang nhà ông hàng xóm d’Actanhăng rồi cùng với ông ta họp rất lâu trong ngày để làm gì?
- À vâng, bẩm quan, cái ấy có ạ, và tôi xin nhận là có lỗi, tôi có sang nhà ông d’Actanhăng.
- Ông sang có mục đích gì?
- Dạ, để nhờ ông ấy tìm giúp vợ tôi. Tôi cứ tưởng là tôi có quyền đòi vợ tôi về; bây giờ hình như là tôi nhầm và xin ngài đại xá cho.
- Ông d’Actanhăng trả lời như thế nào?
- Ông d’Actanhăng hứa là sẽ giúp; nhưng tôi nhận ran gay rằng ông ta đánh lừa tôi.
- Ông lừa dối công lý. Ông d’Actanhăng đã có giao ước với ông và theo lời giao ước ấy mới đánh các nhân viên cảnh sát đã bắt vợ ông khiến họ phải bỏ chạy, và sau đó đem giấu vợ ông đi đâu mất chẳng thể truy nã được.
- Chết nỗi, ngài bảo sao ạ? Ông d’Actanhăng đã cướp vợ tôi đi ư?
- May thay ông d’Actanhăng hiện đang ở trong tay chúng tôi và ông sắp được đối chất với ông ta.
- A! Thật tình tôi không mong gì hơn, Bônaxiơ nói, tôi sẽ chẳng bất bình vì gặp người quen đâu.
Viên pháp quan bảo hai tên gác ngục:
- Dẫn ông d’Actanhăng vào.
Hai tên gác ngục dẫn Atôx vào.
Viên pháp quan quay lại nói với Atôx:
- Này ông d’Actanhăng, hãy khai ra việc gì đã xảy ra giữa ông với ông này.
Bônaxiơ vội kêu lên:
- Ôi! Người này đâu phải ông d’Actanhăng à.
Viên pháp quan ngạc nhiên hỏi:
- Sao không phải ông d’Actanhăng à?
- Dạ, không phải chút nào ạ, Bônaxiơ đáp.
- Thế ông này tên là gì?
- Tôi không thể thưa với ngài được vì tôi không biết ông ta.
- Sao! Ông không quen biết với ông ta à?
- Không!
- Ông không hề gặp ông này bao giờ sao?
- Có ạ; nhưng tôi không biết tên ông ta là gì.
Viên pháp quan hỏi Atôx:
- Ông cho biết tên.
- Atôx, người linh ngự lâm đáp.
- Nhưng đó đâu phải tên người, đó là tên núi tên non gì chứ! Gã hỏi cung la lên, hắn bắt đầu phát điên.
- Đó là tên tôi, Atôx bình tĩnh nói.
- Thế sao ông đã khai tên ông là d’Actanhăng?
- Tôi à?
- Phải, ông.
- Nghĩa là người ta bảo tôi thế này: “Ông là ông d’Actanhăng?”.Tôi đã trả lời: “Ông nghĩ như vậy ư?”. Mấy người lính canh giữ tôi đã kêu lên rằng họ chắc chắn như vậy. Tôi đã chẳng muốn làm phật ý họ. Vả chăng tôi có thể lắm.
- Này ông, ông đã nhục mạ đến uy nghiêm của công lý.
- Mảy may không, Atôx thản nhiên đáp.
- Ông là ông d’Actanhăng.
- Ông thấy đấy đến bây giờ mà ông vẫn còn bảo tôi là thế.
Đến lượt Bônaxiơ la lên:
- Bẩm quan tôi đã thưa rằng chẳng còn phải nghi ngờ chút nào hết. Ông d’Actanhăng lả người thuê nhà của tôi tất nhiên tôi phải biết ông ta, ông ấy lại chẳng trả tiền nhà thì tôi lại càng phải biết rõ ông ta chứ. Ông d’Actanhăng là một thanh niên tuổi độ mười chín đôi mươi là cùng; còn ông đây ít ra cũng phải ba mươi tuổi. Ông d’Actanhăng ở trong đội ngự lâm quân của ngài đờ Etxa, còn ông đây thuộc đội ngự lâm quân của ngài đờ T’rêvin; xin ngài cứ nhìn bộ quân phục mà xem.
- Đúng rồi, viên pháp quan lẩm bẩm, đúng quá đi rồi.
Vừa lúc đó cánh cửa mở tung ra và một người đưa tin do một tên gác cổng nhà ngục Baxti dẫn vào trao một bức thư cho viên pháp quan.
- Ôi chao! Con mụ khốn kiếp! Viên pháp quan nói.
- Bẩm quan lớn, ngài nói sao? Ngài nói về ai thế? Lạy trời không phải là vợ tôi!
- Trái lại, chính là vợ ông đó. Việc của ông hay đấy.
- Ô hay! Bác hàng xén phát khùng nói, xin ngài hãy vui lòng cho tôi biết vì sao việc của tôi có thể xấu đi do những điều vợ tôi đã làm trong khi tôi đang ngồi tù?
- Vì rằng những việc vợ ông làm là sự tiếp diễn của một kế hoạch đã được vạch sẵn giữa các người với nhau, một kế hoạch thâm hiểm.
- Bẩm ngài pháp quan, tôi dám thề rằng ngài lấm to rồi, tôi chẳng hay biết tí gì về việc vợ tôi làm; và nếu như vợ tôi có làm những điều xằng bậy thì tôi xin từ bỏ nó, phản đối nó, nguyền rủa nó.
- A này! Atôx nó với viên pháp quan, nếu như ông không cần đến tôi ở đây nữa thì xin hãy cho tôi ra chỗ khác, thật chán cái ông Bônaxiơ của ông quá.
Viên pháp quan chỉ cả Atôx và Bônaxiơ mà nói:
- Hãy dẫn hai tù nhân này về ngục tối, và phải canh gác gắt gao hơn bao giờ hết nghe không?
Atôx vẫn bình thản như thường lệ nói:
- Nếu ông có chuyện với ông d’Actanhăng thì tôi không hiểu tôi làm sao có thể thay thế ông ta được?
Viên pháp quan la lên:
- Tôi bảo sao cứ làm vậy! Và phải tuyệt đối bí mật! Có nghe không!
Atôx nhún vai đi theo tên gác ngục, còn Bônaxiơ thì than khóc thảm thiết đến hùm beo cũng phải não lòng.

Người hàng xén bị dẫn về căn ngục đêm trước và bị bỏ đó suốt ngày. Suốt ngày bác ta khóc lóc như một gã hàng xén thực thụ, do không phải con nhà kiếm cung, chính bác ta đã nói với chúng ta như vậy.
Khoảng chín giờ tối, vào lúc bác ta sắp quyết định đi nằm thì chợt nghe tiếng bước chân ngoài hành lang. Tiếng chân bước lại gần ngục tối giam bác rồi cánh cửa mở ra và những tên ngục tốt xuất hiện.
Một lính cảnh sát đi sau những tên ngục tốt bảo:
- Hãy đi theo tôi.
- Đi theo ngài! Bônaxiơ la lên, đi theo ngài vào giờ này ư! Mà đi đâu đây, trời ơi!
- Đi dến chỗ mà chúng tôi được lệnh dẫn ông tới.
- Nhưng đó đâu phải là một câu trả lời.
- Vậy mà đó là lời duy nhất chúng tôi có thể nói với ông.
- Ôi, trời ơi là trời, bác hàng xén lẩm bẩm, phen này thì tôi chết mất rồi!
Và bác ta đi theo lũ ngục tốt như một cái máy chẳng hề cưỡng lại.
Bác ta đi theo đường hành lang hôm nọ đi vào, qua cái sân thứ nhất, rồi một dãy nhà, cuối cùng tới cổng của cái sân đằng trước, thấy có một cỗ xe lớn có bốn lính gác cưỡi ngực vây quanh. Bác ta bị đẩy vào trong xe tên lính gác ngồi bên cạnh; cửa xe khoá lại và cả hai người ở trong một nhà tù lưu động.
Cỗ xe chuyển bánh, chậm chạp như một cỗ xe tang. Qua khung cửa song sắt cũng khóa chặt, người tù nhìn thấy nhà và mặt đường, tất cả có vậy; nhưng vốn là dân Pari chính cống, Bônaxiơ cứ nhìn các cọc đá, các biển hàng, các cột đèn đã nhận ra từng phố. Lúc đến bãi Xanh Pôn là nơi hành quyết các kẻ tử tù ngục Baxti, bác suýt ngất đi và làm dấu thánh hai lần. Tuy nhiên cỗ xe vượt qua đó.
Xa hơn nữa, bác ta lại hết vía lần nữa, đó là khi xe chạy men nghĩa trang Xanh- Jăng nơi người ta chôn những kẻ phạm tội quốc sự. Một điều duy nhất khiến bác hơi yên tâm là trước khi chôn người ta thường chặt đầu họ, mà đầu bác thì vẫn dính liền trên cổ. Nhưng khi thấy cỗ xe đi theo đường Grevơ, khi những mái nhà nhọn hoắt của toà thị chính và cỗ xe đi vào dưới cổng tò vò, bác cho là phen này đời bác chết hẳn rồi, bác toan xưng tội với tên cảnh sát và khi tên này từ chối, bác thét lên những tiếng kêu thảm thiết đến nỗi tên cảnh sát phải bảo rằng nếu cứ làm điếc tai hắn như vậy hắn sẽ nhét giẻ vào miệng bác.
Lời đe doạ ấy khiến Bônaxiơ yên dạ đôi chút: nếu người ta định hành quyết ở bãi Grevơ thì hà tất phải bịt miệng lại cho mất công, vì cũng sắp tới nơi hành quyết rồi. Quả thật cỗ xe đi qua cái bãi bất hạnh mà không dừng lại. Chỉ còn phải sợ bãi Thập tự T’rahoa: Cỗ xe đi đúng vào con đường đó.
Lần này thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa, ở bãi thập tự T’rahoa người ta hành quyết những tội nhân thường phạm. Bônaxiơ đã tự đắc tưởng xứng đáng được chết ở Xanh Pôn hoặc bãi Grevơ kia, nhưng cuộc hành trình và số kiếp của bác lại sắp chấm dứt ở bãi Thập tự T’rahoa này! Bác ta vẫn chưa có thể nhìn thấy cây thập tự vô phúc ấy, nhưng đã cảm thấy nó đang đến đón mình. Khi chỉ còn cách đó vài chục bước, bác nghe tiếng xôn xao và cỗ xe ngừng lại. Thật quá sức chịu đựng của bác Bônaxiơ tội nghiệp bị hành hạ khổ sở bởi những cơn xúc động liên tiếp mà bác đã trải qua. Bác thốt lên một tiếng rên yếu ớt nghe như tiếng thở hắt ra cuối cùng của một người sắp lìa đời và bác ngất xỉu.

---------

Hiệu đính: Horus



0
Hic, dạo này hơi bận nên gõ lâu quá, cả tuần mà chỉ được 20 trang. Thông cảm nhé mọt sách, kiến tha lâu đầy tổ mà. Cho tui đăng ký tiếp chương 15-16 nhé. Tui đính kèm file 11-12 (.doc) không được, làm sao bây giờ? Không lẽ post hết lên à? Giúp với !
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-02 21:03:13Mọt Sách>
Hic, dạo này hơi bận nên gõ lâu quá, cả tuần mà chỉ được 20 trang. Thông cảm nhé mọt sách, kiến tha lâu đầy tổ mà. Cho tui đăng ký tiếp chương 15-16 nhé. Tui đính kèm file 11-12 (.doc) không được, làm sao bây giờ? Không lẽ post hết lên à? Giúp với !


Đúng rồi! bạn cứ post lên như bạn culong và bạn mập muội muội cũng được mà. ms sẽ lựa(hiệu đính) và đưa vào thư quán sau.

hoặc bạn có thể gửi về địa chỉ e-mail: saomai1268@yahoo.de

[:D]



Thêm bốn chương nữa nè:

chương 17-18 bản scan

chương 19-20 bản scan


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
Mình nhận đánh chương 17-18 nhé.
0
CHƯƠNG XIV

NGƯỜI LẠ MẶT Ở MƠNG


Đám người tụ tập đó không phải để chờ xem người sắp bị treo cổ mà ngắm một kẻ chết treo. Cỗ xe dừng lại một lát rồi lại chuyển bánh, băng qua đám đông, tiếp tục cuộc hành trình đi vào đường Xanh-Onôrê, quành qua phố Trẻ ngoan và dừng lại trước một cửa thấp.
Cửa mở, hai lính gác đỡ lấy Bônaxiơ được tên cảnh sát dìu ra, họ đẩy bác vào một hành lang, đưa lên thang gác và dẫn vào một gian tiền sảnh.
Bác làm tất cả hành động đó một cách vô ý thức.
Bác bước đi như bước trong chiêm bao, nhìn các vật như qua một màn sương, tai nghe tiếng động mà không hiểu là gì. Giả thử lúc ấy có đem bác ra hành quyết, bác cũng chẳng có lấy một cử chỉ tự vệ nào, chẳng thốt ra một tiếng kêu van nào.
Bác ngồi trên chiếc ghế dài, lưng dựng vào tường, hai tay buông thong và cứ ngồi nguyên như thế ở ngay cái chỗ hai tên lính gác đã đặt bác xuống.
Tuy nhiên, vì nhìn quanh chẳng thấy vật gì đáng sợ, chẳng có gì chứng tỏ bác đang trải qua một mối nguy hiểm vì cái ghế dài lót nệm tươm tất, vì bức tường phủ một lớp Coocđi rất đẹp, vì những tấm màn Đamát đỏ có móc chữ bằng vàng bay phần phật trước song cửa, bác dần dần hiểu rằng nỗi kinh hoàng của mình là quá đáng và bác lúc lắc cái đầu qua trái qua phải và từ dưới lên trên.
Chẳng thấy ai phản đối, bác bạo dạn thêm một chút và liền thu nốt chân kia, cuối cùng chống hai tay nhấc mình lên khỏi ghế và đứng hẳn dậy lúc ấy, một viên sĩ quan mặt mày tươi tỉnh vén tấm rèm cửa lên, tiếp tục trao đổi thêm một vài lời với một người ở trong phòng bên cạnh rồi quay lại phía người tù mà hỏi:
- Có phải ông tên là Bônaxiơ không?
Bác hàng xén sợ chết điếng người, lắp bắp:
- Bẩm ngài sĩ quan, chính tôi đây ạ.
- Vào đi.
Viên sĩ quan tránh ra cho bác hàng xén đi qua. Bác tuân theo, không một lời nói lại và bước vào căn phòng hình như có người đang chờ đợi bác trong đó.
Đó là một công đường lớn, trên treo đầy vĩ khí tiến công và phòng ngự, kín như bưng và ngột ngạt, mới cuối tháng chín mà đã đốt lò sưởi. Chính giữa phòng kê một chiếc bàn vuông đầy sách vở và giấy tờ trên đó mở sẵn một tấm bản đồ lớn thành La Rôsen.
Đứng trước lò sưởi là một người đàn ông tầm thước, vẻ mặt kiêu hãnh, mắt sắc, trán rộng, khuôn mặt gầy càng dài thêm ra vì một chòm râu cằm phía trên vểnh đôi ria mép. Mặc dầu người đó chưa đầy ba mươi sáu tuổi, tóc và râu ria đã ngả hoa râm. Không đem kiếm, người đó vẫn có đủ tướng mạo một võ tướng và đôi giày ống bằng da trâu còn hơi dính bụi chứng tỏ ông ta cưỡi ngựa trong ngày.
Người đó chính là Acmăng-Jaăng Đuyplêxix, giáo chủ đờ Rixơliơ, không hề giống như người ta miêu tả: ốm o như một ông già, đau khổ như một kẻ tử vì đạo, thân hình tiều tụy, giọng nói thì thào, vùi mình trong chiếc ghế bành như một nấm mồ sống, chỉ còn gượng sống được nhờ sức mạnh thiên tài mình và chỉ còn đeo đẳng được cuộc chiến tranh với châu Âu nhờ không ngừng vận dụng tư tưởng của mình mà là đúng như con người thật của ông ta hồi đó, mộ kỵ sĩ thiện nghệ và phong nhã, cơ thể có suy yếu nhưng được sức mạnh tinh thần chống đỡ, khiến ông ta thành một trong những con người phi thường nhất xưa nay; sau khi ủng hộ quận công Nơve tại lãnh địa Măngtu của ông này, sau khi chiếm thành Nin, Caxtrơ và Uyzex, cuối cùng ông ta đang chuẩn bị đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo Rê và bao vây thành phố La Rôsen.
Vậy là thoạt nhìn chẳng có gì chứng tỏ đấy là Hồng y giáo chủ, và những người chưa từng biết mặt ông ta thì không tài nào đoán được ai đang đứng trước mặt họ.
Cho nên bác hàng xén tội nghiệp đứng ngây ra ở cửa sổ và đôi mắt của nhân vật chúng tôi vừa miêu tả thì cứ nhìn chằm chằm vào bác như muốn soi thấu đến tận cùng của quá khứ.
Sau một lát im lặng người ấy hỏi:
- Người kia là Bônaxiơ đấy hả?
- Bẩm đức ông phải, viên sĩ quan đáp.
- Được, đưa tôi tập giấy tờ kia rồi hãy để mặc chúng tôi.
Viên sĩ quan cầm ở bàn tập giấy tờ vừa nói trao cho người đòi hỏi rồi cúi rạp tới đất và đi ra ngoài.
Bônaxiơ nhận ra tập giấy đó là hồ sơ hỏi cung mình ở nhà ngục Baxti. Chốc chốc, người đứng trước lò sưởi lại ngước đôi mắt lên khỏi hàng chữ và xuyên như hai lưỡi dao găm vào tận tim gan bác hàng xén tội nghiệp.
Sau độ mười phút và mười giây quan sát, giáo chủ đã có ý định rõ ràng và lẩm bẩm: “Cái ngữ này thì có bao giờ dám âm mưu; nhưng mặc, ta cứ thử xem”. Rồi ông chậm rãi nói:
- Anh bị khép vào tội đại phản nghịch.
- Bẩm đức ông, người ta cũng đã bảo tôi như vậy, Bônaxiơ gán cho người hỏi cung mình cái tước hiệu mà bác đã nghe viên sĩ quan gọi; nhưng tôi xin thề là tôi không hiểu gì hết về chuyện đó.
Quan tể tướng nén một nụ cười, nói tiếp:
- Anh đã âm mưu với vợ anh, với bà đờ Sovroi và nói Milo quận công đờ Bấckinhâm.
- Bẩm đức ông, quả thật tôi có nghe vợ tôi nói tất cả các cái tên ấy.
- Vào dịp nào?
- Vợ tôi bảo rằng quan tể tướng đờ Risơliơ đã dụ quận công đờ Bấckinhâm để làm hại ông ta và làm hại luôn cả hoàng hậu nữa.
- Vợ anh nói như vậy sao? Tể tướng la lên giận dữ.
- Bẩm đức ông vâng, nhưng tôi đã bảo nhà tôi rằng nói như vậy là bậy lắm, rằng Các hạ không thể nào…
- Thôi im đi, anh là đồ ngu, tể tướng ngắt lời.
- Bẩm đức ông, chính nhà tôi nó cũng bảo tôi như vậy.
- Anh có biết ai bắt cóc vợ anh không?
- Bẩm đức ông không.
- Nhưng anh có nghi ngờ ai chứ?
- Bẩm đức ông có ạ; nhưng những điều nghi ngờ của tôi hình như làm phật ý vị pháp quan nên tôi không còn những điều nghi ngờ ấy nữa.
- Vợ anh trốn thoát rồi, anh có biết không?
- Bẩm đức ông không, chỉ từ khi tôi vào tù tôi mới biết tin đó và biết đuợc cũng nhờ vị pháp quan là một người dễ thương lắm ạ.
Tể tướng nén một nụ cười thứ hai.
- Từ khi trốn thoát, vợ anh ra sao rồi, anh không biết chứ?
- Bẩm đức ông, tuyệt không; nhưng chắc là vợ tôi lại trở về hoàng cung Luvrơ.
- Lúc mười một giờ đêm vợ anh vẫn chưa về đó.
- Ôi trời ơi! Thế thì vợ tôi nó ra nông nỗi nào rồi.
- Rồi sẽ biết, cứ yên tâm, chẳng ai giấu giếm tể tướng được chút gì đâu, tể tướng biết hết mọi chuyện.
- Bẩm đức ông, nếu vậy thì đức ông có cho rằng quan tể tướng người sẽ bằng lòng nói cho tôi biết vợ tôi bây giờ ra sao không?
- Cũng có thể, nhưng trước hết anh cần phải thú nhận hết mọi mà điều anh biết có những liên quan của vợ anh với bà đờ Sơvrơi.
- Bẩm đức ông, nhưng tôi không biết gì cả; tôi chưa hề thấy mặt bà ta bao giờ.
- Trước đây khi anh đón vợ anh ở cung Luvrơ, vợ anh có về thẳng nhà anh không?
- Bẩm hầu như không; nhà tôi có việc mua bán với những người bán vải và tôi cứ phải dẫn vợ tô đến nhà họ.
- Thế có bao nhiêu người bán vải?
- Bẩm hai ạ.
- Họ ở đâu?
- Một người ở phố Vôgira; một người ở phố La Hácpơ ạ.
- Anh có cùng vợ vào nhà họ không?
- Bẩm đức ông không bao giờ ạ, tôi đợi nhà tôi ở ngoài cửa.
- Thế vợ anh viện cớ gì mà vào có một mình?
- Nhà tôi không cho biết lý do; nó bảo chờ thì tôi chờ.
- Anh là một nguời chiều vợ đấy, ông Bônaxiơ thân mến.
Bônaxiơ tự nhủ thầm: “Ông ta gọi mình bằng ông Bônaxiơ thân mến! Mẹ kiếp! Cơ sự khá đấy!”
- Anh có nhận ra được các cửa nhà đó không?
- Được ạ.
- Có biết số nhà không?
- Có ạ.
- Nói xem.
- Bẩm số 25 phố Vôgira, số 75 phố La Hacpơ.
- Tốt lắm.
Tể tướng nói rồi cầm một chiếc chuông bạc và rung lên;viên sĩ quan vào. Người khẽ bảo:
- Đi gọi Rôsơpho cho ta; nếu ông về rồi thì bảo vào đây ngay lập tức.
Viên sĩ quan nói:
- Bẩm, Bá tước ở ngoài kia và khẩn khoản xin vào trình ngay với Các hạ!
- Thế thì cho vào ngay, cho vào ngay đi! Risơliơ vội vã đáp.
Viên sĩ quan phóng ngay ra khỏi cửa với cái nếp mau lẹ mà mọi người phục dịch tể tướng thường dùng để tuân lịnh nghi.
- A thế ra là Các hạ! Bônaxiơ lẩm bẩm và đảo quanh đôi mắt ngơ ngác.
Viên sĩ quan ra chưa được năm giây đồng hồ thì cửa đã mở và một nhân vật mới bước vào.
- Chính hắn ta! Bônaxiơ la lên.
- Hắn nào? Tể tướng hỏi?
- Người đã bắt cóc vợ con.
Tể tướng rung chuông lần thứ hai. Viên sĩ quan vào.
- Trả người này lại cho hai tên ngục tốt canh giữ và bảo hắn đợi ta sẽ lại gọi hắn vào hầu.
Bônaxiơ la lên:
- Bẩm đức ông, không phải ạ! Không phải hắn ta con lầm ạ; đây là một người khác chẳng giống hắn chút nào! Ông đây là một người đứng đắn ạ.
- Đem thằng ngu này đi! Tể tướng nói.
Viên sĩ quan nắm lấy cánh tay Bônaxiơ và dẫn ra ngoài phòng đợi, bác ta thấy lại hai tên gác ngục của mình.
Nhân vật mới vừa được dẫn vào đưa mắt sốt ruột nhìn theo Bônaxiơ cho đến lúc bác ra hẳn ngoài và cánh cửa đóng lại, mới vội vã bước lại gần tể tướng và nói:
- Họ gặp nhau rồi.
- Ai cơ? Tể tướng hỏi.
- Nàng và hắn.
Risơliơ kêu lên:
- Hoàng hậu và quận công!
- Vâng.
- Ở đâu chứ?
- Ở Luvrơ.
- Có chắc thế không?
- Hoàn toàn chắc chắn ạ!
- Ai bảo ông thế?
- Lannoa phu nhân, người hết lòng với Các hạ như ngài đã biết.
- Tại sao bà ấy không nói sớm hơn?
- Không rõ vì tình cờ hay nghi nờ mà hoàng hậu đã khiến bà Xuyagix vào trong phòng bà đờ Lannoa và canh giữ bà suốt cả ngày.
- Thôi được, chúng ta thua keo này rồi. Ta hãy gắng phục thù vậy.
- Bẩm đức ông, tôi xin hết lòng hết sức tiếp tay ngài keo sau, xin ngày cứ yên tâm.
- Chuyện đó xảy ra như thế nào?
- Vào khoảng mười hai giờ rưỡi đêm, hoàng hậu với các cung nữ…
- Ở chỗ nào?
- Trong phòng ngủ của hoàng hậu.
- Được.
- Thì có người đến trao cho hoàng hậu một chiếc khăn tay của người thị tì chuyên lo về xiêm y của hoàng hậu.
- Rồi sao nữa?
- Tức thì hoàng hậu tỏ ra xúc động mạnh và mặc dầu đã thoa phấn hồng, mặt hoàng hậu tái hẳn đi.
- Sao nữa? Sao nữa?
- Tuy nhiên hoàng hậu vẫn đứng dậy và nói bằng một giọng lạc hẳn: “Các phu nhân, hãy chờ ta mười phút, ta sẽ trở lại ngay”. Rồi hoàng hậu mở cửa cấm phòng của mình và ra ngoài.
- Tại sao ngay lúc đó bà Lannoa không đến báo cho chúng ta?
- Lúc ấy nào đã có gì chắc chắn đâu, vả lại hoàng hậu đã bảo: “Các phu nhân hãy chờ ta”, và bà Lannoa chẳng dám trái lệnh hoàng hậu.
- Thế hoàng hậu ra khỏi phòng bao nhiêu lâu?
- Bốn mươi lăm phút.
- Không một cung nữ theo hầu ư?
- Chỉ có một Đôna Extêfania.
- Rồi hoàng hậu có quay trở lại phòng ngay không?
- Có, nhưng là để lấy một cái tráp nhỏ bằng gỗ hồng có khảm tên chữ hoàng hậu rồi đi ra ngay.
- Thế sau đó bà ta trở về có mang cái tráp về không?
- Không.
- Bà Lannoa có biết trong tráp ấy đựng gì không?
- Có những hạt kim cương mà hoàng thượng đã tặng hoàng hậu.
- Và hoàng hậu đã trở về mà không có cái tráp ấy à?
- Vâng.
- Bà Lannoa cho rằng hoàng hậu đã trao cái tráp ấy cho Bấckinhâm ư?
- Bà ấy quả quyết như vậy.
- Làm sao mà biết được?
- Với tư cách người giữ đồ nữ trang cho hoàng hậu, ngày hôm nay Lannoa phu nhân đã tìm kiếm chiếc tráp, tỏ vẻ rất lo ngại vì không tìm thấy và cuối cùng đã hỏi hoàng hậu.
- Hoàng hậu bảo sao?
- Hoàng hậu đỏ bừng mặt lên và trả lời rằng hôm trước làm vỡ một hạt nên đã dưa cho người thợ kim hoàn của hoàng hậu để sửa rồi.
- Phải qua nhà người đó để biết chắc xem thực hư thế nào.
- Tôi đã đến đó rồi.
- Người thợ kim hoàn bảo sao?
- Bác ta bảo rằng chẳng thấy ai nói gì cả.
- Được rồi, được rồi! Rôsơpho này, mọi việc chưa đến nỗi hỏng bét cả đâu, mà có lẽ… có lẽ mọi việc còn mười phần tốt đẹp hơn nữa là khác!
- Sự thực là tôi chẳng nghi ngờ thiên tài của Các hạ…
- Lại không sửa chữa được những điều ngu dại của nhân viên mình phải không?
- Dạ đúng như điều tôi định nói nếu như vừa rồi Các hạ để cho tôi nói hết câu.
- Bây giờ ông có biết công tước phu nhân đờ Sơvrơi và quận công Bấckinhâm đang trốn ở đâu không?
- Bẩm đức ông, người của tôi chẳng thể nói với tôi điều gì xác thực về điều đó.
- Thế mà ta biết đấy.
- Đức ông biết ư?
- Phải, hay ít ra ta cũng nghi như vậy. Bọn họ đã ờ nhà một người tại phố Vôgira số nhà 25, một người tại phố La Hacpơ số nhà 75.
- Các hạ có cần cho tôi bắt cả hai người không?
- Sợ muộn quá, họ đã đi mất rồi.
- Không sao, cứ làm thử cho chắc.
- Hãy lấy người trong đội vệ binh của ta và lục soát cả hai căn nhà.
- Thưa đức ông, tôi đi ngay bây giò.
Và Rôsơpho phóng ra ngoài.
Còn lại một mình, quan tể tướng suy nghĩ một lát rồi rung chuông lần thứ ba.
Viên sĩ quan trước lại xuất hiện.
- Cho tên tù vào.
Bônaxiơ lại được dẫn vào và tể tướng ra hiệu cho viên sĩ quan đi ra.
Tể tướng nghiêm khắc nói:
- Anh đã đánh lừa tôi.
- Con mà đánh lừa các hạ!
- Vợ anh tới phố Vơgira và phố La Hácpơ chẳng phải đến nhà những người bán vải.
- Vậy thì nó đến nhà ai rồi hả trời?
- Vợ anh đến nhà nữ công tước đờ Sơvrơi và nhà quận công đờ Bấckinhâm.
Bônaxiơ nhớ lại những chuyện cũ nói:
- Vâng, vâng đúng thế, các hạ nói có lý. Con đã nhiều lần bảo vợ con rằng những người bán vải mà ở những ngôi nhà như thế, những ngôi nhà không có biển hàng thì lạ thật, và lần nào nhả con cũng chỉ cười trừ.
Rồi Bônaxiơ phục xuống chân Các hạ mà nói tiếp:
- Ôi, đức ông! Đích thị Ngài là Đức Hồng y giáo chủ, Đức giáo chủ vĩ đại, vị thiên tài mà cả thế giới sùng bái.
Mặc dù thắng lợi giành được ở một kẻ vô danh tiểu tốt như Bônaxiơ là rất tầm thường, quan tể tướng không vì thế mà không vui thích giây lát; rồi liền ngay đó như có một ý nghĩ mới vừa hiện ra trong óc, một nụ cười làm răn đôi môi và chìa tay chỉ gã hàng xén, quan tể tướng nói:
- Thôi đứng dậy ông bạn, ông là một con người trung hậu.
Bônaxiơ la lên:
- Quan tể tướng nắm tay tôi! Tôi được cầm tay bậc vĩ nhân! Bậc vĩ nhân gọi tôi là bạn của người!
- Phải rồi, ông bạn của ta, phải rồi! – Hồng y tể tướng nói với cái giọng nhân từ mà đôi khi ông cũng dùng nhưng nó chỉ lừa dối những người không biết ông ta mà thôi – và do ông bị nghi oan, thì đây ông phải được đền bù: Ông hãy cầm lấy cái túi có một trăm đồng pixtôn này và hãy thứ lỗi cho ta.
Bônaxiơ ngần ngừ không dám cầm túi tiền, chắc hẳn sợ rằng việc trao tặng đó chỉ là một trò đùa, bác ta nói:
- Con mà tha thứ cho đức ông ư! Nhưng mà đức ông có thể tùy ý cho bắt con, tuỳ ý cho tra tấn con, tùy ý cho treo cổ con, đức ông là chúa tể và con đâu dám nói nửa lời. Vậy mà lại thứ lỗi cho đức ông! Bẩm đức ông không nghĩ đến điều đó hay sao?
- A! Ông Bônaxiơ thân mến của ta! Ông tỏ ra thật hào hiệp, ta thấy rõ và ta xin cảm ơn. Vậy thì ông hãy cầm lấy túi tiền ra về mà không đến nỗi bất bình chứ?
- Bẩm đức ông con hoan hỉ ra về.
- Vậy thì vĩnh biệt nhé, hay đúng hơn là tạm biệt, vì ta hi vọng còn gặp nhau sau này.
- Bất cứ lúc nào đức ông muốn, con xin sẵn sang tuân lệnh Các hạ.
- Ta sẽ cho gọi luôn đấy, cứ yên trí, vì ta thấy cách nói chuyện của ông cực kì thú vị.
- Ôi đức ông!
- Tạm biệt ông Bônaxiơ, tạm biệt nhé!
Và quan tể tướng vẫy tay ra hiệu, Bônaxiơ cúi mọp sát đất để đáp lại rồi đi giật lùi trở ra, khi bác tới tiền sảnh rồi, tể tường còn thấy bác hoan hỉ la to đến váng óc: “Đức ông vạn tuế! Các hạ vạn tuế! Quan tể tướng vạn tuế!” Tể tướng mỉm cười nghe cách biểu hiện xuất sắc những tình cảm nhiệt thành của Bônaxiơ, rồi khi những tiếng hô của bác tắt hẳn ở phía xa, tể tướng nói:
- Tốt lắm, từ năy có thêm một người sẵn sàng dám chết ví ta.
Rối tể tướng xoay sang xem xét một cách hết sức chăm chú bản đồ thành La Rôsen trải trên bàn giấy lấy bút chì vạch con đường mà con đê nổi tiếng sẽ đi theo, con đê mười tám tháng sau sẽ bịt chặt cửa cảng của thành phố bị bao vây.
Giữa lúc tể tướng đắm mình sâu xa nhất trong những suy tư chiến lược cánh cửa lại mở ra và Rôsơpho lại bước vào.
Tể tướng đứng dậy một cách vội vàng chứng tỏ tầm quan trọng của nhiệm vụ mà ngài đã giao cho bá tước và hỏi dồn:
- Thế nào?
- Dạ, bá tước đáp, quả thật là có một thiếu phụ chạc hai mươi sáu tuổi đến hai mươi tám tuổi và một người đàn ông chạc ba mươi lăm bốn mươi tuổi ở những căn nhà mà Các hạ chỉ, nhưng người đàn bà đã đi từ đêm qua và người đàn ông đi sáng nay.
- Chính họ rồi! Tể tướng nhìn đồng hồ và nói tiếp, bây giờ mà đuổi theo bọn họ thì đã quá muộn rồi; nữ công tước đang ở thành Tua và quận công đang ở Bulônhơ. Chính Luân Đôn là nơi ta bắt kịp họ.
- Xin Các hạ ban cho những mệnh lệnh mới.
- Không được ra một lời nào vể chuyện đã xảy ra; hoàng hậu phải được yên ổn hoàn toàn; hoàng hậu phải không hay biết rằng chúng ta đã biết được bí mật của bà; phải làm cho hoàng hậu tưởng rằng chúng ta đang tìm kiếm một âm mưu nào khác. Gọi quan chưởng ấn Xêghiê đến đây cho ta
- Còn người kia, Các hạ đã dùng làm gì?
- Người nào?
- Lão Bônaxiơ ấy?
- Ta dùng hắn vào tất cả những việc gì mà người ta có thể dùng hắn. Ta đã biến hắn thành tên do thám vợ hắn.
Rôsơpho cúi mình ra người nhận biết tính siêu việt của quan thầy và rút lui.
Còn lại một mình, Risơliơ lại ngồi xuống, viết một bức thư, lấy ấn riêng niêm phong lại rồi rung chuông. Viên sĩ quan vào lần thứ tư.
- Gọi Vit’ray đến cho ta, tể tướng nói, và bảo hắn chuẩn bị một chuyến đi xa nhé.
Một lúc sau người được gọi đứng trước mặt tể tướng, mang đủ giày ống và đinh thúc ngựa sẵn sàng.
- Này Vit’ray, tể tướng nói, ông phải đi thật mau tới Luân đôn, dọc đường ông không được dừng chân một lúc nào. Ông trao bức thư này cho Mylady. Đây là ngân phiếu hai trăm đồng pixtôn, hãy đưa qua viên thủ ngân của ta mà lĩnh tiền. Ông sẽ được lĩnh thêm ngần ấy nữa nếu sáu ngày ông trở về tới đây và nếu ông đã làm tròn công việc ta giao
Người đưa thư không đáp lại một tiếng nào, cúi mình cầm lấy bức thư và tấm ngân phiếu hai trăm pixtôn rồi đi ra.
Nội dung bức thư như sau:
“Milady,
Phu nhân hãy có mặt ở buổi khiêu vũ đầu tiên của quận công đờ Bấckinhâm tham dự. Ông ta sẽ mang trên áo chẽn mười hai hạt kim cương, phu nhân hãy đến gần và cắt lấy hai hạt.
Ngay sau khi chiếm được những hạt kim cương đó, báo cho ta biết.”

--------------

Hiệu đính: Horus
0
Chương 17, 18 mình đã hoàn thành rồi này.

Chương XVII
Vợ chồng ông Bônaxiơ


Đây là lần thứ hai quan tể tướng trở lại câu chuyện những chuỗi kim cương đối với nhà vua. Vậy nên Luy XIII rất ngạc nhiên vì sự nài nỉ ấy và nghĩ rằng lời dặn dò ấy giấu giếm một điều bí ẩn gì.
Cơ quan cảnh sát riêng của tể tướng tuy chưa đạt tới mức hoàn hảo của cảnh sát hiện đại nhưng cũng đã giỏi lắm rồi, nhờ nó mà tể tướng còn thông tường hơn cả nhà vua về những chuyện diễn ra trong cuộc sống riêng của vợ chồng vua, điều đó khiến nhà vua nhiều lần phải xấu hổ. Vậy nên nhà vua hy vọng trong một buổi chuyện trò với Annơ đ’Ot’risơ lượm ra từ đó một vài tia sáng và sau đó đến ngay chỗ tể tướng, với một bí mật nào đó mà tể tướng biết hoặc không biết, trong cả hai trường hợp, việc đó đều đề cao vai trò nhà vua trước mắt giáo chủ tể tướng.
Nhà vua bèn đi gặp Hoàng hậu và theo thói quen, tiếp cận nàng với những lời doạ dẫm đối với những người ở quanh nnàng. Annơ đ’Ot’risơ cúi đầu để mặc cho cơn thịnh nộ trôi qua mà không đáp, hy vọng cuối cùng nó cũng phải ngừng lại; nhưng vua Lu-I XIII đâu có muốn vậy; Lu-I XIII muốn một cuộc tranh luận mà từ đó loé r một tia sáng nào đó, và đinh ninh rằng quan tể tướng có một ẩn ý nào và đang sắp đặt cho nhà vua một bất ngờ ghê gớm như Các hạ vẫn quen làm. Nhà vua đạt tới đích đó bằng cách cứ khăng khăng buộc tội mãi.
Bực mình vì những công kích vu vơ ấy, Annơ đ’Ot’risơ kêu lên:
- Nhưng mà tâu Hoàng thượng, Người không nói hết cho thiếp rõ những điều Người suy nghĩ trong lòng. Mà thiếp có làm gì? Nào, thiếp đã phạm trọng tội gì? Chẳng thể nào Hoàng thượng lại làm to chuyện như thế vì một bức thư thiếp viết cho anh của thiếp.
Đến lượt mình bị tấn công trực diện như thế, nhà vua chẳng biết trả lời ra sao? Ngài nghĩ rằng đây là lúc đưa vào câu chuyện lời dặn dò đáng lẽ chỉ nên ói vào hôm trước của buổi vũ hội mà thôi.
Người nói với vẻ trang nghiêm:
- Thưa bà, vũ hội sắp được tổ chức gấp nay mai tại toà đô sảnh; ta muốn rằng để làm vih dự cho các thẩm phán quan trung hậu của chúng ta, khanh sẽ tới đó dự với bộ đại lễ phục, và nhất là trang sức bằng những chuỗi hạt kim cương mà ta đã ban cho khanh vào dịp mừng sinh nhật của khanh. Đó, câu trảlời của ta đó.
Câu trả lời thật khủng khiếp. Annơ đ'Ot'risơ ngỡ là Lu-i XIII đã biết cả hết rồi và quan tể tướng đã được nhà vua thuận cho làm cái việc giấu giếm lâu đến bảy tám ngày kia, vốn dĩ thuộc bản tính của người. Hoàng hậu mặt cắt không còn một hột máu, tì lên chiếc kỷ nhỏ bàn tay kiều diễm của mình lúc ấy trắng bệch như sáp và nhìn nhà vua với đôi mắt kinh hoàng, nàng không đáp lại được một tiếng nào.
Nhà vua thưởng thức tất cả sự bối rối phơi bày ra đó, nhưng không đoán được nguyên do, Ngài nói:
- Khanh đã nghe rõ chưa?
- Tâu bệ hạ thiếp đã nghe rõ rồi – Hoàng hậu ấp úng đáp.
- Khanh sẽ tới dự vũ hội chứ?
- Vâng.
- Với cả những chuỗi kim cương?
- Vâng.
Sắc mặt của Hoàng hậu tái xanh hết mức và chẳng còn tái xanh thêm vào đâu được nữa; nhà vua thấy rõ tình trạng đó và thưởng thức với vẻ tàn nhẫn lạnh lùng vốn là một trong những tật xấu của nhà vua.
- Thôi thế là thoả thuận rồi nhé - nhà vua nói - và đó là tất cả những điều ta muốn nói với khanh.
- Nhưng vũ hội sẽ tổ chức vào ngày nào? Hoàng hậu hỏi.
Nghe Hoàng hậu nói với cái giọng như sắp tắt hơi, nhà vua bất giác cảm thấy không nên trả lời câu hỏi đó.
- Sắp tới ngay thôi mà – nhà vua nói – nhưng ta không nhớ đích xác là hôm nào, để ta hỏi lại quan tể tướng.
- Vậy ra chính quan tể tướng thông báo vũ hội đó với Hoàng thượng? Hoàng hậu kê lên.
- Phải đó khanh ạ - nhà vua ngạc nhiên đáp – Nhưng chuyện gì cơ chứ?
- Chính quan tể tướng tâu với bệ hạ mời thiếp đi dự vũ hội với những chuỗi hạt kim cương?
- Khanh ạ, nghĩa là…
- Chính ông ta, tâu bệ hạ, chính ông ta?
- Ô hay, ông ấy hay ta thì có can hệ gì? Mời như vậy thì có tội gì?
- Không, tâu bệ hạ.
- Thế khanh sẽ có mặt chứ?
- Vâng, tâu bệ hạ.
- Tốt lắm, tốt lắm! Ta trông đợi đấy – Nhà vua nói và quay ra.
Hoàng hậu xụp xuống thi lễ, vì nghi thức ít hơn là vì hai đầu gối nàng quỵ xuống.
Nhà vua thích chí bỏ đi.
Hoàng hậu lẩm bẩm:
- Ta nguy rồi! Nguy rôi! Hồng y giáo chủ biết hết rồi và chính hắn thúc đẩy đức vua, đức vua chưa biết nhưng cũng sắp biết hết cả rồi. Ta nguy to rồi! Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi!
Nàng quỳ lên một chiếc nệm và cầu nguyện, đầu vùi trong đôi tay run rẩy.
Quả là tình tế đáng sợ, Bắckinhhâm đã trở về Luân Đôn, phu nhân đờ Sơvrơi ở thành Tua bị giám sát hơn bao giờ hết, Hoàng hậu thầm cảm thấy có một người trong đám cung nữ của nàng đã phản bội nàng mà chưa biết là ai. Ông La Pooc thì không thẻ rời cung Luvrơ được, nàng chẳng có lấy một người nào ở trên đời này có thể tin cậy được.
Cho nên trước tai hoạ đang đe doạ nàng và trước tình cảnh bị bỏ rơi như lúc này, nàng oà lên khóc nức nở.
Bỗng nhiên một tiếng nói dịu dàng và đầy thương cảm vẳng vào tai nàng:
- Con chẳng thể giúp ích gì được chút gì cho lệnh bà sao?
Hoàng hậu quay ngoắt lại, bởi vì không thể nào lầm đối với cái giọng này được; chỉ một người bạn chân tình mới nói được như vậy mà thôi.
Thật vậy, ở một cửa thông vào phòng cấm, bà Bônaxiơ xinh đẹp xuất hiện; nàng bận xếp dọn quần áo trong một phòng bên thì nhà vua vào, nàng không có lối ra và đã nghe rõ hết cả.
Thấy mình bị bắt chợt như vậy, Hoàng hậu rú lên một tiếng chói tai, vì trong cơn bối rối, thoạt tiên nàng không nhận ra người thiếu phụ mà quan nội hầu La Pooc đã tiến cử cho mình.
Thiếu phụ cũng chắp tay lại và cũng khóc vì những nỗi lo âu của Hoàng hậu, nàng nói:
- Ôi! Tâu lệnh bà, xin Người đừng lo sợ gì hết, con một lòng một dạ với lệnh bà, và dù con có xa cách lệnh bà một trời một vự, dù thân phận con bèo bọt đến đâu, con vẫn tin rằng con có cách gỡ cho lệnh bà khỏi nỗi ưu phiền.
- Em đấy à? Trời ơi! Em! Hoàng hậu kêu lên, nhưng nào, em hãy nhìn thẳng vào mặt ta xem. Ta bị phản bội trăm bề, liệu ta có thể tin cậy vào em không?
Người thiếu phụ quỳ xuống nói:
- Chao ôi, lệnh bà! Con xin nguyện với linh hồn con rằng con sẵn sàng được chết vì lệnh bà!
Lời nói ấy thốt ra tự đáy lòng và cũng giống như lời nói đầu tiên không ai có thể lầm được.
Bà Bônaxiơ nói tiếp:
- Vâng, đành rằng nơi đây có những quân phản chúa, nhưng trước thánh danh Đức Mẹ Đồng Trinh, con xin thể với lệnh bà rằng không ai tận trung với lệnh bà hơn con. Những chuỗi kim cương mà đức vua hỏi ấy, lệnh bà đã trao tặng quận công đờ Bắckinhâm rồi phải không? Những chuỗi kim cương ấy đựng trong một cái tráp nhỏ bằng gỗ cây hồng mà ngài quận công đã kẹp ở cánh tay? Con có lầm không? Phải chăng là không phải như vậy?
- Ôi! Lạy Chúa! Lạy Chúa! Hoàng hậu lẩm bẩm, răng va lập cập vào nhau vì sợ hãi.
- Thế thì phải lấy lại những chuỗi hạt ấy, bà Bônaxiơ tiếp.
- Ừ, hẳn nhiên, phải lấy lại, Hoàng hậu kêu lên, nhưng làm thế nào, lấy lại bằng cách nào?
- Phải phái một người nào đó đến chỗ quận công.
- Nhưng mà ai?... Ai?... Ta biết trông cậy vào ai?
- Xin lệnh bà hãy tin ở con; hãy ban cho con cái vinh dự ấy rồi con sẽ tìm ra người mật sự.
- Nhưng thế thì sẽ phải viết thư!
- Vâng đã đành. Cái đó cần thiết lắm. Vài chữ tự tay lệnh bà viết và đóng dấu riêng của lệnh bà.
- Khốn nhưng vài chữ đó đủ để ta bị kết tội, bị ly dị, bị lưu đầy!
- Vâng, nếu nó rơi vầoty bọn đê mạt! Nhưng con bảo đảm rằng mấy chữ đó sẽ được trao đến tận nơi.
- Ôi, trời ơi! Như vậy là ta phải trao đổi tính mạng của ta, danh dự của ta vào trong tay em!
- Vâng, tâu lệnh bà cần phải như vậy và chính con sẽ cứu tất cả những cái đó.
- Nhưng bằng cách nào? Ít nhất em cũng nói cho ta biết chứ?
- Chồng của con được phóng thích hai ba ngày nay, con chưa có thì giờ gặp lại. Đó là một người chất phác thật thà, chẳng ghét mà cũng chẳng thương ai bao giờ. Con muốn thế nào, nhà con làm thế ấy. Con ra lệnh một tiếng là nhà con đi ngay, chẳng cần biết mình mang cái gì và sẽ chuyển ngay bức thư của lệnh bà đến đúng địa chỉ mà ngay nhà con cũng chẳng hề biết bức thư đó là của lệnh bà.
Hoàng hậu nắm lấy tay người thiếu phụ với niềm phấn khởi dạt dào, nhìn nàng như thể đọc thấu được đáy lòng nàng, và chỉ thấy toàn thành tâm thiện ý trong đôi mắt diễm lệ của nàng. Hoàng hậu trìu mến ôm hôn nàng và nói:
- Làm như vậy đi và em sẽ cứu được cuộc đời ta, cứu được danh dự ta!
- Ôi, xin lệnh bà chớ quá khen cái công việc mà con có diễm phúc được hầu hạ bà; con có phải cứu vớt gì cho lệnh bà đâu, lệnh bà chỉ là nạn nhân của những âm mưu nham hiểm.
- Đúng vậy! Đúng vậy em nhỏ ạ, em nói có lý.
- Bức thư sẽ được trao tận tay quận công.
- Em tốt bụng quá! Annơ đ'Ot'risơ thốt lên.
Bà Bônaxiơ hôn tay Hoàng hậu, dấu mảnh giấy vào trong ngực rồi biến đi nhẹ nhàng như một cánh chim.
Mười phút sau, nàng đã về đến nhà. Như nàng đã nói với Hoàng hậu, nàng chưa gặp lại chồng từ khi chồng được phóng thích, nàng không hay biết gì về sự thay đổi thái độ của chồng mình đối với giáo chủ, sự thay đổi ấy lại được hai ba lần viếng thăm của bá tước đờ Rôsơfo củng cố vững vàng thêm, Rôsơfo trở thành người bạn tốt nhất của Bônaxiơ và chẳng tốn công gì lắm đã khiến Bôxaniơ tin rằng chẳng phải một tình cảm tội lỗi nào đã dẫn đến việc bắt cóc vợ hắn, đó chỉ là một sự thận trọng chính trị mà thôi.
Nàng thấy Bôxaniơ chỉ có một mình, con người tội nghiệp đó đang vất vả dọn dẹp lại nhà cửa, hắn thấy đồ đạc gần như gẫy nát hết, tủ gần như trống trơn; công lý chẳng như vua Xalômông đã chỉ rõ là một trong ba thứ chẳng hề để lại dấu vết gì khi chúng đi qua. Còn đứa hầu gái thì đã trốn biệt từ khi chủ nó bị bắt. Nó sợ mất mặt đến nỗi cứ cuốc bộ từ Pari đến tận Buốcgônhơ, quê hương nó.
Vợ vừa về đến nhà, gã hàng xén tử tế liền nói cho vợ hay về sự trở về may mắn của mình và vợ thì đã đáp lại để chúc mừng chồng và để nói cho chồng biết rằng giờ phút đầu tiên mình dứt ra khỏi công việc là hoàn toàn dành để về thăm chồng.
Cái giờ phút đầu tiên ấy phải chờ mất năm ngày, điều mà vào mọi hoàn cảnh khác hẳn là dài dằng dẵng đối với Bônaxiơ, nhưng qua lần hắn được gặp quan tể tướng và những lần Rôsơfo đến thăm hắn, hắn đã có một đề tài rộng để suy nghĩ, mà như ta biết, không có gì khiến thì giờ qua đi mau chóng bằng suy nghĩ.
Hơn thế nữa, những suy nghĩ của Bônaxiơ lại toàn màu hồng. Rôsơfo gọi hắn là bạn, là Bôxaniơ thân mến và không ngớt nói với hắn rằng quan tể tướng trọng thị hắn nhất. Gã hàng xén đã thấy mình trên con đường danh giá và giàu sang.
Về phần mình bà Bônaxiơ cũng đã suy nghĩ, nhưng phải nói rằng nàng suy nghĩ đến những chuyện hoàn toàn khác chuyện tham vọng. Dầu nàng không muốn, những suy nghĩ của nàng đã có chàng thanh niên đẹp trai đến là can trường và tỏ ra đến là si tình kia làm động lực không thay đổi. Mười tám tuổi đầu lấy ông Bônaxiơ, luôn sống giữa bạn bè của chồng, người chồng ít có thể gây được tình cảm nào đó đối với người vợ trẻ có tấm lòng vượt cao hơn địa vị của nàng, bà Bônaxiơ trơ trơ trước những lời quyến rũ tầm thường; nhưng nhất là ở thời đó, danh hiệu quý tộc có một ảnh hưởng lớn trong giới thị dân, mà đ’Actanhăng lại là một nhà quý tộc, hơn nữa chàng mang bộ quân phục thị vệ, là thứ sau bộ quân phục ngự lâm được các bà các cô ưa chuộng nhất. Đ'Actanhăng, xin nhắc lại, là một người trẻ tuổi đẹp trai, mạo hiểm; chàng nói đến tình yêu như một người đang yêu và khao khát được yêu; như thế là quá đủ để làm say lòng một người đàn ba hai mươi ba tuổi, và bà Bônaxiơ thì vừa đúng đến cái tuổi sung sướng đó của cuộc đời.
Hai vợ chồng mặc dù chưa gặp nhau từ tám hôm nay, và trong tuần lễ đó nhiều sự kiện nghiêm trọng đã xảy ra giữa họ, cho nên họ đến với nhau với một mối bận tâm riêng nào đó; tuy nhiên ông Bônaxiơ cũng tỏ ra vui mừng thật sự và giang rộng cánh tay tiến về phía vợ.
Bà Bônaxiơ giơ trán cho chồng hôn.
- Chúng ta hãy chuyện trò một chút nhé, nàng nói.
- Sao? Bônaxiơ chồng ngạc nhiên hỏi.
- Vâng, đúng thế, em có một việc tối quan trọng muốn nói với mình.
- Thực ra tôi cũng vậy, tôi có mấy vấn đề nghiêm túc cần nói với mình. Mình hãy cắt nghĩ việc mình bị bắt cóc cho tôi nghe xem một chút nào.
- Bây giờ chưa phải lúc bàn đến chuyện đó, bà Bônaxiơ nói.
- Vậy thì là lúc bàn chuyện gì? Chuyện tôi bị bắt ư?
- Em hay tin mình bị bắt ngay hôm đó rồi, nhưng bì mình chẳng mắc một trọng tội nào, vì mình chẳng can dự vào một âm mưu nào, vì mình rốt cuộc chẳng biết một tí gì có thể gây luỵ cho mình hay cho một ai khác, nên em không phải quá lo lắng về chuyện đó.
Bônaxiơ chồng thấy vợ ít quan tâm đến, tự ái nói:
- Này bà, bà nói đến chuyện đó thật là tuỳ tiện nhỉ! Bà có biết tôi bị giam một ngày một đêm trong một căn hầm tối ở nhà ngục Baxti không?
- Một ngày một đêm thì cũng qua rồi; hãy gác lại chuyện mình bị bắt và trở lại câu chuyện khiến em về đây với mình.
- Sao! Câu chuyện khiến mình về đây với tôi! Thế ra chẳng phải là lòng mong mỏi được gặp lại một người chồng đã tám ngày xa cách ư? Gã hàng xén tức khí hỏi vợ.
- Trước hết là chuyện ấy và sau đến chuyện khác.
- Vậy thì nói đi!
- Một việc quan trọng bậc nhất và có lẽ vận hội của vợ chồng mình sau này cũng sẽ tùy thuộc vào đó.
- Bà Bônaxiơ ạ, vận hội của chúng ta đã thay đổi khá nhiều kể từ ngày tôi biết bà, và tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu từ nay đến vài tháng tới nó lại không làm cho khối kẻ rỏ dãi.
- Phải rồi, nhất là mình chịu làm theo những điều em sẽ chỉ dẫn cho mình.
- Cho tôi?
- Vâng, cho mình. Mình ạ, có một việc thiện, việc phúc đức cần mình làm ạ, đồng thời sẽ lại kiếm rất nhiều tiền bạc.
Bà Bônaxiơ biết rằng nói đến tiền bạc là nói đánh trúng chỗ yếu của chồng mình.
Khốn như một con người, dù là một gã hàng xén khi đã nói chuyện mười phút với Hồng y giáo chủ Risơliơ thì không còn là con người lúc trước nữa rồi.
Bônaxiơ chồng bĩu dài môi ra và nói:
- Kiếm được rất nhiều tiền bạc!
- Vâng, nhiều lắm.
- Đại khái bao nhiêu?
- Có lẽ một nghìn pixtôn.
- Việc mình nhờ tôi làm nghiêm trọng lắm vậy sao?
- Vâng.
- Phải làm gì nào?
- Mình sẽ phải đi ngay lập tức, em sẽ đưa mình một mảnh giấy mà không được để nó bị đoạt mất bất cứ lý do gì và mình sẽ phải đưa nó đến tận tay người nhận.
- Thế tôi sẽ phải đi tận đâu?
- Đi Luân Đôn.
- Tôi mà đi Luân Đôn! Thôi nào, đừng có nói đùa, tôi chẳng có việc gì ở Luân Đôn.
- Nhưng những người khác lại cần mình đi đến đấy.
- Những người khác ấy là ai? Tôi báo trước để mình biết là từ nay tôi sẽ không nhắm mắt làm liều nữa đâu, và không những tôi muốn biết liều thân vì điều gì mà còn phải biết tôi liều thân vì ai nữa.
- Một nhân vật danh tiếng phái mình đi, một nhân vật danh tiếng thì chờ đó mình; phần thưởng sẽ vượt xa những điều mình ao ước, tôi chỉ có thế hứa với mình như thế thôi.
- Lại những chuyện âm mưu nữa rồi! Lúc nào cũng toàn là chuyện âm mưu. Thôi xin cảm ơn; bây giờ tôi ngờ vực tất, và quan tể tướng làm cho tôi mở mắt về việc đó rồi.
Ba Bônaxiơ kêu lên:
- Quan tể tướng! Mình đã gặp quan tể tướng à?
- Ngài cho gọi tôi lên hầu, gã hàng xén hãnh diện đáp.
- Rồi mình lên hầu ngài ư? Sao mà dại dột đến thế.
- Phải nói rằng tôi không có quyền lựa chọn nên đến hay không đến bởi vì tôi ở giữa hai tên lính gác áp giải.Cần nói thêm rằng lúc đó tôi không quen biết gì Các hạ chứ nếu thoái thác được cuộc viếng thăm ấy thì tôi mừng hết sức.
- Vậy quan tể tướng đã ngược đãi mình sao? Ngài đã hăm doạ mình sao?
- Ngài đã chìa tay ra bắt tay tôi và gọi tôi là bạn của ngài, là bạn thân của ngài, mình nghe rõ chưa? Tôi là bạn thân của Hồng y giáo chủ vĩ đại!
- Của Hồng y giáo chủ vĩ đại?
- Phải chăng tình cờ bà phủ nhận cái tước vị đó của ngài tể tướng, thưa bà?
- Em chẳng phủ nhận gì của ngài hết, nhưng em nói cho mình biết rằng ân sủng của một ông thượng thư nó phù du lắm, và có điên mới buộc mình vào một ông thượng thư, còn có những quyền uy cao hơn quyền uy của ông ta, những quyền uy ấy không dựa vào tính khí bất thường của một con người hoặc vào kết quả một biến cố, chính đó là những quyền uy mà mình phải quy phục.
- Thế thì toi lấy làm tiếc lắm bà ạ, nhưng tôi chẳng biết quyền uy nào khác ngoài quyển uy của bậc vĩ nhân mà tôi được vinh dự phụng sự.
- Mình phụng sự quan tể tướng?
- Phải đó bà ạ, và do là bầy tôi của quan tể tướng, nên tôi không cho phép bà lao vào những âm mưu chống lại nền an ninh quốc gia, và không cho phép bà phụng sự những âm mưu của một người đàn bà không phải là người Pháp và có bụng dạ Tây Ban Nha. May than quan tể tướng vĩ đại có đó, con mắt cảnh giác của ngài canh chừng và soi thấu vào tận tâm địa người ta.
Bônaxiơ chồng nhắc lại từng chữ một cái câu mà gã đã được nghe bá tước Rôsơfo nói; nhưng đã trót trông cậy vào chồng mình và trong niềm hy vọng ấy đã đảm bảo về y với Hoàng hậu, người thiếu phụ đáng thương không phải vì thế mà kém kinh sợ cho cả mối nguy cơ suýt nữa nàng đâm đầu vào cũng như tình trạng bất lực hiện giờ của nàng. Tuy nhiên biết rõ chỗ yếu và nhất là máu tham của chồng mình, nàng chưa mất hy vọng dẫn dắt chồng vào những mục đích của nàng. Nàng kêu lên:
- A! Mình đi theo phe quan tể tướng! Mình đi phục dịch phe ơhái những kẻ đã hành hạ vợ mình và lăng mạ nữ hoàng của mình.
Bônaxiơ chồng nói với giọng khoa trương:
- Lợi ích riêng tư thì có đáng kể gì trước lợi ích của mọi người. Tôi tán thành những người nào cứu Quốc gia.
Đấy là một câu nói khác của bá tước Rôsơfo mà hắn nhớ và tìm được dịp đem dùng.
Bà Bônaxiơ nhún vai nói:
- Thế mình biết Quốc gia mà mình vừa nói là cái gì không nào? Thôi, mình hãy bằng lòng làm cái anh trưởng giả không có láy một chút tinh tế nào, và hãy quay về phía nào ban cho mình nhiều lợi lộc hơn.
Bônaxiơ chồng vỗ vào cái túi căng phồng kêu xủng xẳng tiếng kim ngân mà nói:
- Ê! Ê! Thế cái này đây thì bà bảo sao?
- Tiền ở đâu ra thế?
- Không đoán ra được ư?
- Của quan tể tướng à?
- Của quan tể tướng và của ông bạn thân của tôi là bá tước đờ Rôsơfo.
- Bá tước đờ Rôsơfo! Nhưng chính hắn đã bắt cóc em!
- Và mình nhận tiền của con người đó?
- Bà chẳng đã nói với tôi rằng cuộc bắt cóc đó hoàn toàn có tính chất chính trị đó sao?
- Phải, nhưng cuộc bắt cóc đó có mục đích khiến em phải phản bội lại chủ của mình, dùng tra tấn để bắt em phải khai ra những điều có thể tổn hại đến danh dự và có thể cả tính mạng của nữ chúa tôn nghiêm của em nữa.
- Này bà, Bônaxiơ chồng nói, vị nữ chúa tôn ngiêm của bà chỉ là một mụ Tây Ban Nha quỷ quyệt, và những điều quan tể tướng làm là chí phải.
- Ông này, thiếu phụ nói, tôi biết ông là người hèn nhát, keo kiệt và ngu ngốc, nhưng tôi không ngờ ông lại đê tiện nữa!
Bônaxiơ chưa từng trông thấy vợ mình nổi giận nên đã nhượng bộ trước cơn phẫn nợ của nàng, và nói:
- Bà, bà nói vậy?
Bà Bônaxiơ thấy mình lấy được ít nhiều ảnh hưởng đối với chồng, nói tiếp:
- Tôi bảo ông là một kẻ khốn nạn! Trời, ông mà đi làm chính trị, là lại làm chính trị theo phe tể tướng nữa! Chao ôi, vì tiền ông bán mình, cả thể xác lẫn linh hồn cho quỷ dữ.
- Đâu có mà, cho ngài giáo chủ đấy chứ.
- Thì cũng vậy thôi. Nói Risơliơ là nói quỷ satăng.
- Chết nỗi! Bà có im ngay không, người ta có thể nghe thấy đấy!
- Phải rồi, ông nói phải lắm, người ta nghe thấy thì tôi đến xấu hổ vì thói hèn nhát của ông.
- Thế bà muốn tôi phải thế nào?
- Thì em đã nói với mình: mình phải đi ngay bây giờ, mình phải trung tín làm tròn sứ mạng mà em chiếu cố giao cho mình, và có như vậy em mới quên hết và tha thứ, và hơn thế nữa – nàng chìa tay ra cho chồng – em sẽ lại thân tình với mình.
Bônaxiơ chồng nhút nhát và keo kiêt, nhưng yêu vợ, hắn cảm động lắm. Một người chồng năm mươi tuổi chẳng hề hiềm giận dai một người vợ hai mươi ba. Bà Bônaxiơ thấy rõ chồng do dự,, nàng nói:
- Thế nào, mình quyết định chưa?
- Nhưng mình ạ, hãy nghĩ lại một chút về điều đòi hỏi tôi làm; Luân Đôn ở xa Pari, rất xa, và có thể sứ mạng mà mình giao cho tôi không phải không nguy hiểm.
- Sợ gì, nếu mình tránh các nguy hiểm.
- Này bà nó ạ, gã hàng xén nói, này, dứt khoát là tôi từ chối; tôi sợ các chuyện âm mưu lắm rồi. Tôi đã biết ngục Baxti. Eo ôi! Thật kinh khủng cái ngục Baxti! Chỉ mới nghĩ đến nó thôi, tôi đã sởn gai ốc rồi. Người ta đã doạ tra tấn tôi. Bà có biết tra tấn là thế nào không? Những thanh gỗ thọc vào giữa hai chân cho đến khi xương vỡ ra! Không, dứt khoát tôi không đi đâu. Mà mẹ kiếp! Tại sao bà không tự mình đi lấy có được không? Vì quả thật tôi cho rằng cho đến bây giờ tôi đã lầm lẫn về bàn: tôi thấy bà là một thằng đàn ông loại điên cuồng nhất!
- Còn ông, ông là một mụ đàn bà, một mụ đàn bà khốn kiếp, ngu xuẩn và đần độn. Chà! Ông sợ! Đã thế, nếu ông không đi ngay lập tức, tôi sẽ theo lệnh của Hoàng hậu cho bắt ông và tôi sẽ cho tống giam ông vào cái ngục Baxti mà ông khiếp sợ đến thế.
Bônaxiơ chồng suy nghĩ lung lắm; gã cân nhắc chín chắn trong đầu hai cơn phẫn nộ của quan tể tướng và của Hoàng hậu: cơn phẫn nộ của quan tể tướng vượt rất xa. Gã nói:
- Thôi thì bà bắt tôi theo lệnh của Hoàng hậu đi, tôi sẽ kêu lên quan tể tướng.
Lần này, bà Bônaxiơ thấy mình đã đi quá xa và hoảng sợ vì mình đã quá liều bước tới. Nàng kinh hoàng ngắm nghĩa cái bộ mặt ngu xuẩn kia đang có một quyết định không thể cưỡng nỗi giống như của những kẻ điên khùng đang cơn sợ hãi.
- Thôi được! Nàng nói. Xét cho cùng có lẽ ông nói phải: một người đàn ông hiểu biết nhiều hơn người đàn bà về chính trị, nhất là ông, ông Bônaxiơ ạ, ông đã từng chuyện trò với quan tể tướng. Tuy nhiên, nàng nói thêm, một người chồng mà tôi có thể trông vậy ở lòng yêu thương lại đối xử với tôi tệ đến thế và chẳng chiều theo ý tôi một tí nào thì cũng thật là cực.
- Bởi vì những ngông ý của bà có thể dắt dẫn đi quá xa, và tôi ngờ vực; Bônaxiơ chồng đắc thắng nói.
Người thiếu phụ thở dài:
- Tôi từ bỏ những ý nghĩ ấy vậy. Được rồi, ta không bàn đến nữa.
Bônaxiơ chồng chợt nhớ hơi trễ, rằng Rôsơfo đã căn dặn hắn cố gắng rút ra được những điều bí mật của vợ, vội nói:
- Thì ít nhất, bà cũng cho tôi biết tôi đi Luân Đôn làm cái gì ở đó chứ?
Một sự ngờ vực theo bản năng đẩy người thiếu phụ trở lui, nàng nói:
- Ông biết chuyện đó làm gì vô ích. Chuyện nhỏ mọn đàn bà thường ao ước ấy mà, đi mua một món hàng có thể kiếm được nhiều lời.
Nhưng người thiếu phụ càng chối cãi, thì trái lại Bônaxiơ chồng càng nghĩ rằng điều bí mật nàng từ chối không cho mình hay càng quan trọng. Gã bèn quyết định ngay lập tức đến nhà bá tước đời Rôsơfo báo cho y biết Hoàng hậu đang tìm một mật sứ để phái đi Luân Đôn. Gã nói:
- Bà nó này, xin lỗi nhé, tôi phải có chút việc. Không biết trước bà về thăm nên tôi đã trót hẹn với người bạn; tôi sẽ về nhà ngay mà, và nếu bà vui lòng đợi tôi một chút thôi, xong việc với ông bạn đó tôi sẽ trở về với bà và nhân cũng sắp muộn rồi, tôi sẽ đưa bà đến cung Luvrơ.
- Thôi cảm ơn ông, bà Bônaxiơ đáp, ông chẳng đủ can đảm giúp tôi bất cứ việc gì và tôi sẽ trở về cung Luvrơ một mình.
- Tuỳ bà đấy, bà Bônaxiơ ạ, gã hàng xén tiếp. Liệu tôi có gặp bà ngay không?
- Chắc có, tôi mong tuần sau công việc rỗi rãi một chút, tôi sẽ nhân cơ hội đi về sắp xếp lại việc nhà hiện còn đang bề bộn lắm.
- Được lắm, tôi sẽ đợi bà. Bà không giận tôi chứ?
- Tôi ấy ư! Không đâu.
- Hẹn gặp lại nhé!
- Vâng, thôi chào mình.
Bônaxiơ chồng hôn tay vợ rồi vội vã ra đi.
Khi chồng đã khép cánh cửa ra ngoài đường rồi, còn lại một mình, bà Bônaxiơ nói:
- Thôi nhất định cái thằng ngốc này thuộc phe giáo chủ rồi! Thế mà mình lại đi đảm bảo với Hoàng hậu; mình lại đã hứa với vị nữ chúa đáng thương của mình mất rồi... Ôi! Lạy Chúa! Lạy Chúa! Hoàng hậu sẽ cho tôi cùng giuộc với quân khốn nạn đầy rẫy trong cung nội mà người ta đang cắt đặt ở bên lệnh bà để do thám lệnh bà! Ôi, ông Bônaxiơ! Có bao giờ thương yêu ông lắm đâu; bây giờ thì còn tệ hơn: tôi căm ghét ông! Và tôi thề rằng rồi ông sẽ biết tay tôi!
Nàng vừa dứt lời thì một tiếng gõ ở trên trần nhà làm nàng ngẩng đầu lên, và một giọng nói xuyên qua sàn gác bảo nàng:
- Bà Bônaxiơ thân mến ơi, hãy mở cánh cửa nhỏ ở lối đi và tôi sẽ xuống với bà.

Chương XVIII
Người tình và người chồng


Đ'Actanhăng bước vào theo lối cửa do người thiếu phụ mở cho và nói:
- Ôi chao! Thưa bà, bà cho phép tôi được nói với bà rằng bà có một ông chồng đáng buồn.
- Thế ra ông đã nghe được câu chuyện giữa vợ chồng tôi ư? Bà Bônaxiơ vội hỏi và nhìn đ'Actanhăng với vẻ lo ngại.
- Nghe từ đầu đến cuối.
- Trời ơi, bằng cách nào vậy?
- Bằng một cách của riêng tôi, và cũng nhờ nó mà tôi đã nghe được câu chuyện còn sôi nổi hơn giữa bà với bọn sai nha của ngài giáo chủ.
- Thế ông đã hiểu như thế nào về câu chuyện chúng tôi nói với nhau?
- Cả ngàn thứ ấy chứ: trước hết, chồng bà là một tên ngu ngốc và một tên dại dột, may thay; thứ đến, bà rất lúng túng băn khoăn điều khiến tôi rất hân hoan vì tôi có dịp giúp đỡ bà, và trời mới biết tôi sẵn sàng nhảy vào nước sôi lửa bỏng vì bà hay không; cuối cùng là Hoàng hậu đang cần một người can đảm, thông minh và tận tuỵ đi một chuyến đến Luân Đôn. Ít ra tôi cũng có được hai trong ba đức tính mà bà cần đến, và tôi đây, xin sẵn sàng.
Bà Bônaxiơ không đáp, nhưng lòng khấp khởi mừng thầm và một niềm hy vọng kín đáo ánh lên đôi mắt nàng. Nàng hỏi:
- Nếu tôi bằng lòng uỷ thác cho ông cái sứ mạng đó thì ông lấy gì bảo đảm cho tôi nào?
- Tình yêu của tôi đối với bà. Nào, bà hãy nói đi, hãy ra lệnh đi: tôi phải làm gì đây?
- Lạy Chúa! Lạy Chúa, thiếu phụ nói nho nhỏ, tôi có nên thổ lộ với ông một bí mật tối quan trọng như vậy không? Ông hầu như là một trẻ nhỏ.
- Này, tôi thấy là bà cần có một người nào đó bảm đảm về tôi với bà chứ gì?
- Thú thật là được như thế thì tôi yên tâm lắm.
- Bà có biết Atôx không?
- Không.
- Pooctôx?
- Không.
- Aramix?
- Không. Mấy ông là ai?
- Ngự lâm quân của nhà vua. Bà có biết ngài đờ T’rêvin thống lĩnh ngự lâm quân của nhà vua không?
- Có chứ, ông ấy thì tôi biết, không phải quen riêng đâu, mà và đã nhiều lần được nghe nói với Hoàng hậu về ông ấy như nói về một nhà quý tộc trung hậu và chính trực.
- Bà không sợ rằng ông ấy vì quan tể tướng mà phản lại bà chứ?
- Ô! Tất nhiên không.
- Vậy thì bà hãy bộc lộ điều bí mật với ông ấy, và hỏi ông ấy xem bà có thể ký thác nó cho tôi được không dù nó có quan trọng, quý báu, có ghê gớm đến thế nào chăng nữa.
- Nhưng điều bí mật ấy không phải của tôi, và tôi không thể lộ nó ra như thế được.
- Thì bà vừa mới thổ lộ cả với ông Bônaxiơ đấy thôi, đ'Actanhăng hờn giận nói.
- Thì cũng như người ta ký thác một bức thư vào một hốc cây, vào một cánh chim bồ câu, vào cổ một con chó ấy mà.
- Ấy thế mà tôi, bà thấy rõ là tôi yêu bà.
- Ông cứ nói thế!
- Tôi là một người hào hoa phong nhã!
- Tôi tin như vậy.
- Tôi can trường!
- Ồ, điều đó thì chắc rồi.
-Vậy thì bà hãy thử thách tôi đi.
Bà Bônaxiơ nhìn chàng thanh niên với một chút do dự cuối cùng còn giữ lại. Nhưng ánh mắt của chàng nhiệt thành, giọng nói của chàng thuyết phục đến nỗi nàng cảm thấy bị lôi cuốn tới chỗ tin cậy chàng. Vả chăng nàng đang ở vào một trong những hoàn cảnh phải đánh liều được ăn cả, ngã về không. Quá dè dặt cũng làm cho Hoàng hậu nguy khốn không khác gì quá tin cậy. Rồi, ta phải thú nhận rằng, mối cảm tình không chủ tâm đối với người che chở trẻ tuổi ấy đã quyết định nàng thổ lộ. Nàng nói:
- Ông nghe đây, tôi đầu hàng trước những lời kháng biện và nhượng bộ trước những lời bảo đảm của ông. Nhưng tôi thề trước Thượng đế linh thiêng rằng nếu ông phản bội tôi và nếu kẻ thù có tha thứ cho tôi, thì tôi cũng sẽ tự sát, lấy cái chết mà buộc tội ông.
- Còn tôi, thưa bà, tôi xin thề trước Thượng đế rằng nếu như tôi bị bắt trong khi thừa hành những mệnh lệnh của bà, tôi sẽ chết trước khi làm hay nói bất cứ cái gì gây liên luỵ đến ai.
Thế là thiếu phụ bèn kể cho chàng nghe điều bí mật ghê gớm mà sự tình cờ đã khiến cho chàng biết được một phần ở trước mặt nhà thờ Xamariten.
Đấy là sự tỏ tình giữa họ.
Đ'Actanhăng rạng rỡ mừng vui và kiêu hãnh. Điều bí mật mà chàng nắm được kia, người đàn bà mà chàng yêu kia - lòng tin cậy và tình yêu – làm cho chàng thành một người khổng lồ.
- Tôi đi đây, chàng nói, tôi đi ngay lập tức.
- Ô hay! Ông đi ngay ư? Bà Bônaxiơ kêu lên. Thế còn cơ binh, còn người chỉ huy của ông?
- Xin thề rằng quả thật bà đã làm tôi quyên khuấy các thứ đó rồi. Côngxtăng thân mến ạ! Vâng, bà nói đúng, tôi cần được nghỉ phép.
- Còn một trở ngại nữa, bà Bônaxiơ khẽ nói với vẻ đau khổ.
Sau một lát suy nghĩ, được kêu lên:
- Trở ngại ấy tôi sẽ vượt qua, bà hãy yên tâm.
- Như thế nào cơ?
- Ngay tối nay, tôi sẽ đến ngài đờ T’rêvin để nhờ xin giùm với ông đề Etxa em rể ngài ấy.
- Bây giờ hãy còn việc nữa.
Thấy bà Bônaxiơ ngập ngừng không nói tiếp, đ'Actanhăng hỏi:
- Việc gì?
- Có lẽ ông không có tiền?
- Nói “có lẽ” là thừa đấy, đ'Actanhăng mỉm cười nói.
Bà Bônaxiơ mở tủ lôi cái bọc tiền mà cách đây nửa giờ chồng nàng vừa vuốt ve đến là âu yếm.
- Vậy thì ông hãy cầm lấy bọc tiền này.
- Bọc tiền của quan tể tướng! đ'Actanhăng phá lên cười.
Như ta còn nhớ, nhờ những ô gạch bị nẫy lên đ'Actanhăng đã nghe không sót một lời nào giữa vợ chồng gã hàng xén.
- Bọc tiền của quan tể tướng có khác, bà Bônaxiơ đáp, ông trông thấy nó cũng có vẻ to lớn đấy chứ.
- Mẹ kiếp! Đ'Actanhăng nói, dùng tiền của Các hạ để cứu nguy cho Hoàng hậu thì thật là thú vị gấp hai lần!
- Ông là một thanh niên dễ thương và có duyên lắm. Xin ông tin rằng Hoàng hậu sẽ không quên ơn ông đâu.
- Ô! Tôi đã được thưởng hậu hĩ lắm rồi! Tôi yêu bà, bà cho phép tôi nói ra điều đó, thế là đã hạnh phúc hơn cả điều mà tôi dám ao ước.
- Im nào! Bà Bônaxiơ giật mình nói.
- Gì thế?
- Có tiếng người nói ngoài đường.
- Tiếng ai như tiếng…
- Tiếng chồng tôi. Đúng, tôi nhận ra rồi!
Đ’Actanhăng chạy ra phía cửa và đóng chốt lại.
- Không để hắn vào khi tôi còn ở đây, chàng nói, khi nào tôi đi khỏi đây, bà hãy mở cửa cho hắn.
- Nhưng tôi cũng phải đi chứ. Nếu tôi ở lại đây thì biện bạch vụ mất bọc tiền sao được.
- Bà nói đúng, ta phải ra thôi.
- Ra thế nào bây giờ? Nếu ta ra chồng tôi sẽ nom thấy.
- Vậy thì phải lên nhà tôi.
- Ôi chao! Ông nói với tôi chuyện đó bằng một giọng làm tôi phát sợ.
Bà Bônaxiơ rơm rớm nước mắt thốt ra những lời ấy! Đ'Actanhăng nhìn giọt lệ mà bối rối, xúc động, chàng phục xuống chân nàng nói:
- Lên nhà tôi, bà sẽ được an toàn như trong một ngôi đền, tôi xin lấy danh dự quý tộc mà thề với bà như vậy.
- Ta đi thôi, nàng nói, tôi xin phó thác cho ông, bạn ạ.
Đ'Actanhăng thận trọng mở chốt, và cả hai nhẹ nhàng như những cái bóng, luồn theo cửa sau ra hành lang yên lặng bước lên cầu thang và vào phòng chàng.
Vào đến phòng mình rồi, chàng thanh niên chẹn cửa lại cho chắc chắn hơn; rồi cả hai người đến gần cửa sổ và qua khe cửa họ nhìn thấy Bônaxiơ chồng đang nói chuyện với một người đàn ông mặc áo choàng.
Trông thấy người đàn ông mặc áo choàng, đ'Actanhăng nhảy chồm lên, và tuốt kiếm, ra nửa chứng, chàng xông ra phía cửa lớn.
Người ấy chính là kẻ lạ mặt ở Mơng.
Bà Bônaxiơ kêu lên:
-Ông định làm cái gì thế? Ông làm chúng ta chết cả bây giờ.
- Nhưng tôi đã thề phải giết chết thằng này.
- Tính mạng của ông hiện nay đã được hiến dâng rồi và không còn là của ông nữa. Nhân danh Hoàng hậu tôi cấm ông dấn mình vào bất cứ mối hiểm nguy nào khác ngoài mối hiểm nguy của cuộc viễn du.
- Thế bà không nhân danh bà ra lệnh cho tôi một chút gì ư?
Bà Bônaxiơ rất xúc động nói:
- Nhân danh tôi, tôi van ông như vậy. Nhưng nghe kìa, hình như họ đang nói về tôi.
Đ’Actanhăng đi đến sát cửa sổ và lắng tai nghe.
Bônaxiơ chồng đã mở cửa ra và thấy căn nhà trống không, lại trở ra, người mặc áo choàng vẫn đứng một mình và nói:
- Vợ tôi nó đi rồi, nó trở về cung Luvrơ.
Gã lạ mặt hỏi:
- Ông có chắc rằng vợ ông đã không nghi ngờ ông bỏ ra đi với những ý định này nọ không?
- Không, Bônaxiơ chồng đáp với vẻ tự mãn, vợ tôi nó nông nổi lắm mà.
- Tên lính tập sự ở đoàn thị vệ có nhà không?
- Không thì phải, ông thấy đấy, cửa sổ nhà nó đóng kín và chẳng thấy chút ánh sáng nào le lói qua kẽ cửa.
- Mặc kệ, cứ coi lại cho chắc chắn.
- Bằng cách nào?
- Gõ cửa nhà nó.
- Để tôi lên hỏi tên đầy tớ nhà nó.
- Đi hỏi đi.
Bônaxiơ chồng vào nhà, đi qua cái cửa mà hồi nãy hai kẻ chạy trốn đã qua, leo lện tận thềm nhà đ'Actanhăng và gõ cửa.
Chẳng có ai trả lời. Buổi tối hôm ấy, Pooctôx muốn làm vẻ sang trọng hơn đã mượn Plăngsê đi. Còn đ'Actanhăng thì đã cẩn thận tránh mọi dấu hiệu rỏ ra chàng có mặt ở nhà.
Lúc ngón tay của Bônaxiơ chồng gõ lên cái cửa, hai người trẻ tuổi cảm thấy tim mình nhảy thót lên.
- Chẳng có ai ở nhà hắn cả, Bônaxiơ chồng nói.
- Thây kệ, chúng ta cứ vào trong nhà ông đi, như thế an toàn hơn đứng ở bậc cửa.
- Thôi rồi! Bà Bônaxiơ thì thầm, thế là chúng ta sẽ chẳng nghe được gì nữa rồi.
- Trái alị, đ'Actanhăng nói, chúng ta sẽ nghe rõ hơn nữa là khác.
Đ'Actanhăng nhấc ba bốn viên gạch lên làm cho căn phòng trở nên một lỗ tai Đơnix(*) khác, trải một tấm thảm xuống đất quỳ gối rồi ra hiệu cho bà Bônaxiơ cúi xuống bên lỗ hổng như chàng.
- Ông chắc chắn là không có ai trên nhà chứ? Kẻ lạ mặt nói.
- Tôi đảm bảo mà.
- Đó là một điểm hệ trọng, ông hiểu chứ?
- Như vậy là cái tin mà tôi đem đến cho ông có một giá trị…
- Rất lớn, ông bạn Bônaxiơ thân mến ạ, tôi chẳng giấu giếm ông điều đó.
- Thế là quan tể tướng sẽ hài lòng về tôi chứ?
- Chẳng hồ nghi gì nữa.
- Quan tể tướng vĩ đại.
- Ông chắc rằng câu chuyện với ông, vợ ông không nói tới tên người nào chứ?
- Tôi không nghe thấy.
- Vợ ông không hề nói tới bà đờ Sơvrơi, ông đờ Bắckinham, hay bà đờ Vécnê sao?
- Không, nhà tôi chỉ bảo rằng muốn phái tôi Luân Đôn để phục vụ lợi ích của một nhân vật danh tiếng mà thôi.
- Đồ phản bội! Bà Bônaxiơ lẩm bẩm.
- Im! Đ'Actanhăng vừa nói vừa cầm lấy bàn tay nàng và nàng vô tình cứ vô tình cứ để mặc cho chàng nắm.
- Không can gì, người mặc áo choàng tiếp tục, ông thật là ngốc không biết giả vờ nhận làm các việc đó, như thế có phải bây giờ đã có bức thư trong tay rồi không. Quốc gia mà họ đe doạ đã được cứu, còn ông…
- Còn tôi thì sao?
- Còn ông ấy à! Quan tể tướng sẽ phong tước quý tộc cho ông…
- Ngài bảo ông thế à?
- Phải, tôi biết ngài muốn dành cho ông sự bất ngờ đó.
- Ông cứ yên tâm, Bônaxiơ chồng lại nói, vợ tôi nó quý mến tôi lắm, vẫn còn kịp mà.
- Đồ ngốc! Bà Bônaxiơ lẩm bẩm.
- Im nào! Đ'Actanhăng vừa nói vừa siết chặt thêm tay nàng.
- Vẫn còn kịp là thế nào? Người mặc áo choàng hỏi.
- Bây giờ tôi đến hoàng cung Luvrơ, tôi tìm gặp vợ tôi, tôi nói rằng tôi đã suy nghĩ lại rồi, tôi bằng lòng nhận việc, tôi lấy bức thư đó và tôi chạy ngay đến quan tể tướng.
- Thế thì đi mau lên, lát nữa tôi sẽ trở lại đây xem kết quả cuộc vận động của ông ra sao.
Người lạ mặt đi ra.
- Tên khốn kiếp! Bà Bônaxiơ lại tặng thêm cho chồng cái hình dung từ ấy.
- Im nào! Đ'Actanhăng lại nhắc và siết chặt bàn tay chặt hơn nữa.
Bỗng một tiếng rú kinh khủng cắt ngang những suy nghĩ của đ'Actanhăng và bà Bônaxiơ. Thì ra chồng nàng thấy biến mất cái bọc tiền đang kêu toán lên bắt kẻ trộm.
- Thôi chết rồi! Bà Bônaxiơ nói, hắn làm náo động cả khu xóm lên mất.
Bônaxiơ kêu gào mãi, nhưng những tiếng kêu như vậy thường xảy ra luôn, chẳng thu hút được một ai ở phố Phu đào huyệt cả, vả chăng ngôi nhà của gã hàng xén ít lâu nay đã khá mang tai tiếng rồi; thấy chẳng có ai tới, gã liền đi ra và tiếp tục la làng, và người ta nghe tiếng kêu của gã dần về hướng phố Bến phà.
Bà Bônaxiơ nói:
- Bây giờ hắn đã đi rồi, đến lượt ông phải đi thôi; hãy can đảm lên, nhưng nhất là phải thận trọng, và xin nhớ rằng ông phải tận tâm báo đền cho Hoàng hậu.
- Cho Hoàng hậu và cho bà! Đ'Actanhăng nói. Hãy yên tâm, Côngxtăng xinh đẹp ạ, tôi sẽ trở về xứng đáng với lòng biết ơn của Hoàng hậu; nhưng liệu tôi trở về có xứng đáng với tình yêu của bà không?
Thiếu phụ chỉ đáp lại bằng đôi má đỏ ứng lên. Một lát sau, đến lượt đ'Actanhăng đi ra, mình cũng trùm một tấm áo choàng lớn mà cái bao kiếm dài vén lên một cách ngang tàng.
Bà Bônaxiơ nhìn theo bằng cặp mắt đăm đăm tình tứ mà người đàn bà thường tiễn đưa người đàn ông mà lòng mình cảm thấy yêu thương; nhưng khi chàng đã khuất ở góc phố, thì nàng quỳ xuống và chắp hai tay lại nàng kêu lên:
- Ôi! Lạy Chúa! Xin phù hộ cho Hoàng hậu, phù hộ cho con!
Đơnix (Denis l’Acien): Bạo chúa của thành phố Syrarus từ năm 405 đến năm 376 trước Công nguyên. Hắn đã làm một nhà tù nằm dưới đất để nhốt các tội phạm. Hắn cho xây dựng một công trình xxxx hình cái tai để nghe hết lời tâm sự của tội nhân để đối phó với họ.



0
Chương 17, 18 mình đã hoàn thành rồi này.


Cám ơn tomolo nhiều! [sm=40.gif][sm=40.gif][sm=40.gif]

Còn chương 19-20 bạn nhận luôn không?

và ms sẽ còn scan tiếp nữa...


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
Cuối chương XVIII (phần chú thích), do bản scan mờ nên mình ko nhìn thấy chữ gi, đành đánh dấu là xxxx.

Chương 19 và 20 đã hoàn thành.
0
Chương XIX
Kế hoạch tác chiến


Đ'Actanhăng đi thẳng đến nhà ngài đờ T’rêvin. Chàng đã suy nghĩ rằng, trong vòng mấy phút, quan tể tướng sẽ được tên lạ mặt trời đánh kia thông báo, hắn có vẻ là điệp viên của quan tể tướng, và chàng nghĩ đúng đắn rằng không thể chậm trể một phút nào.
Lòng chàng trai tràn ngập niềm vui. Một cơ hội vừa để giành vinh quang vừa kiếm được tiền đang bày ra trước mắt chàng, và như điều khích lệ đầu tiên nó vừa mới dẫn chàng nhích lại một người đàn bà mà chàng yêu quý. Sự tình cờ ấy hầu như ngay từ thoạt đầu đã giúp cho chàng được nhiều hơn là chàng dám cầu xin ở Thượng đế.
Ngài đờ T’rêvin ở trong phòng khách với đám quý tộc quen thuộc. Đ'Actanhăng mà nàng ta đều quen biết như một người thân thuộc trong nhà, đi thẳng vào văn phòng và nhờ báo là chàng xin gặp ngài vì việc quan trọng.
Đ'Actanhăng đợi chưa đầy năm phút thì ngài đời T’rêvin vào. Thoạt nhìn thấy vẻ hân hoan rạng rỡ trên khuôn mặt chàng, vị chỉ huy đáng tôn quý hiểu ngay rằng đích thị vừa xảy ra chuyện gì mới mẻ.
Dọc đường được hỏi mình xem có nên thổ lộ hết với ngài đời T’rêvin không hay chỉ xin ngài cho phép tự do hành động vì một công việc bí mật. Nhưng thấy ngài đờ T’rêvin lúc nào cũng đến là hoàn hảo đối với chàng, đến là tận tuỵ được nhà vua và Hoàng hậu, ngài thực tình ghét cay ghét đắng quan tể tướng thì chàng thanh niên quyết định bộc bạch hết với ông.
- Anh bạn trẻ, anh yêu cầu gặp tôi à? Ngài đời T’rêvin nói.
- Thưa vâng và mong ngài sẽ tha lỗi cho tôi đã quấy rầy ngài khi ngài biết rằng tôi đến vì một chuyện quan trọng đến là nhường nào.
- Vậy thì anh nói đi, tôi nghe đây.
Đ'Actanhăng hạ giọng nói:
- Chuyện này không có gì khác hơn là danh dự và có lẽ là cả tính mạng của Hoàng hậu.
- Anh nói gì lạ vậy? Ngài đời T’rêvin vừa nói vừa nhìn xung quanh xem ngoài họ ra còn có ai khác không rồi đưa cặp mắt dò hỏi sang đ'Actanhăng.
- Thưa ngài, tôi xin thưa rằng sự tình cờ đã khiến tôi nắm được một điều bí mật…
- Mà tôi mong anh sẽ giữ kín bằng tính mạng của anh, anh bạn trẻ ạ.
- Nhưng tôi cần phải giãi bày với ngài, thưa ngài bởi vì chỉ có ngài mới có thể giúp tôi trong cái sứ mệnh mà tôi vừa nhận được từ nơi Hoàng hậu.
- Bí mật ấy có phải của anh không?
- Thưa không, đó là bí mật của Hoàng hậu.
- Anh có được phép lệnh bà nói với tôi điều đó không?
- Thưa không, vì rằng trái lại tôi được dặn dò giữ kín điều bí mật sâu xa nhất.
- Thế thì tại sao anh lại đi tiết lộ nó trước mặt tôi?
- Bởi vì, tôi đã thưa với ngài, không có ngài tôi chẳng thể làm được gì tốt, và tôi cũng ngại rằng ngài sẽ từ chối ban cho cái ân tôi đến càu xin nếu như ngài không biết rõ rằng tôi cầu xin nó nhằm mục đích gì.
- Anh bạn trẻ, anh hãy giữ lấy điều bí mật và nói cho tôi biết cái điều anh mong muốn.
- Tôi mong ngài nói với ông đề Extra cho tôi nghỉ phép mười lăm ngày.
- Khi nào thế?
- Ngay đêm nay.
- Anh rời Paris à?
- Tôi đi làm sứ mệnh.
- Anh có thể cho tôi biết đi đâu không?
- Đi Luân Đôn.
- Có ai đó quan tâm đến việc anh không đi được tới đích?
- Tôi chắc rằng quan tể tướng sẽ cho hết mọi thứ ở trên đời để ngăn cản tôi thành công.
- Thế anh đi một mình ư?
- Vâng, tôi đi một mình.
- Nếu thế thì anh không qua nổi Bôngđi; tôi lấy thanh danh T’rêvin mà thề với anh như vậy.
- Vì sao thế?
- Người ta sẽ cho ám sát anh.
- Tôi sẽ chết trong khi làm nhiệm vụ của mình.
- Nhưng sứ mạng của anh sẽ chẳng thể hoàn thành.
- Đúng vậy, đ'Actanhăng nói.
- Hãy tin ở tôi, T’rêvin tiếp tục, trong những chuyện công cán loại này, cứ phải là bốn người để đi tới đích được một.
- A! Thưa ngài, ngài nói chí phải; mà ngài đã biết Atôx, Pooctôx và Aramix, ngài xem liệu tôi có sử dụng bọn họ được không?
- Được, nhưng không kể với họ điều bí mật mà tôi đã không muốn biết.
- Chúng tôi đã thề nguyền một lần cho mãi mãi là sẽ tin cậy mù quáng và hết lòng hết sức với nhau trong mọi thử thách; vả lại ngài có thể nói với họ rằng ngài hết lòng tin cậy ở tôi, và họ cũng sẽ tin tưởng tôi như ngài.
- Tôi có thể gửi cho họ mỗi người một giấy phép nghỉ mười lăm ngày, thế là xong: cho Atôx đi nghỉ vùng suối nước nóng Foocgiơ vì vết thương còn đâu; cho Pooctôx và Aramix đi theo bạn mà họ không muốn bỏ mặc trong một tình cảnh đau đớn như vậy. Gửi cho họ giấy phép sẽ là bằng chứng cho phép họ làm cuộc viễn du.
- Xin đa tạ ngài, và ngài thật là muôn phần phúc đức.
- Vậy thì anh hãy đi tìm họ ngay bây giờ, và mọi việc sẽ tiến hành ngay trong đêm nay. A, này, trước hết hãy viết cho tôi lá đơn xin với ông đề Extra. Có thể anh đã bị một tên do thám theo dõi, và việc anh đến tôi trong trường hợp đó là quan tể tướng đã biết rồi và sẽ được biện giải như vậy.
Đ'Actanhăng thảo lá đơn và khi nhận nó từ tay chàng, ngài đờ T’rêvin bảo đảm rằng trước lúc hai giờ sáng, bốn tờ giấy nghỉ phép sẽ được gửi đến từng nhà những vị du khách.
- Xin ngài hãy vui lòng gửi tờ giấy của tôi đến chỗ Atôx. Tôi e rằng trở về nhà tôi có thể gặp chuyện không hay.
- Cứ yên tâm. Vĩnh biệt và chúc anh lên đường may mắn! À này!
Ngài đời T’rêvin vừa nói vừa gọi chàng lại. Đ'Actanhăng quay trở lại.
- Anh có tiền không?
Đ'Actanhăng vỗ vào bọc tiền kêu xủng xẻng ở trong túi.
- Khá không? Ngài đờ T’rêvin hỏi.
- Ba trăm pixtôn.
- Tốt lắm, người ta có thể đi đến cùng trời cuối đất với số tiền đó; thôi đi đi.
Ngài đờ T’rêvin chìa tay ra, đ'Actanhăng chào ông và siết chặt tay ông với niềm cung kính xen lẫn biết ơn. Từ khi đến Paris tới giờ, chàng chỉ biết ca tụng con nvn ưu tú mà lúc nào chàng cũng thấy đáng quý, chính trực và vĩ đại.
Đầu tiên, chàng đến nhà Aramix; chàng chưa trở lại nhà bạn từ cái buổi tối tuyệt diệu chàng theo dõi bà Bônaxiơ. Còn chuyện nữa: vừa mới thấy người lính ngự lâm trẻ mà mỗi lần gặp lại, chàng tưởng như nhận thấy một nỗi buồn sâu sắc in trên gương mặt bạn.
Buổi tối nay nữa, Aramix thức u buồn và mơ mộng. Đ'Actanhăng hỏi bạn mấy câu về nỗi buồn sâu xa đó; Aramix biện bạch là chàng rất bận tâm về một bài bình lậun chương thứ mười tám Oguýtxtanh buộc phải viết bằng tiếng Latinh cho xong vào tuần sau.
Đôi bạn chuyện trò được một lát thì một đầy tớ của ngài đờ T’rêvin mang đến một phong thư niêm phong.
- Cái gì đấy? Aramix hỏi.
- Cái giấy nghỉ phép mà ông yêu cầu, tên đầy tớ đáp.
- Tôi ấy à, tôi có xin nghỉ phép đâu?
- Thôi im đi và cầm lấy, đ'Actanhăng nói. Còn anh bạn này, có nửa pixtôn thưởng công anh đây; anh hãy về thưa với vị chỉ huy rằng ông Aramix chân thành cảm ơn ngài lắm. Thôi về đi.
Tên hầu cúi chào sát đất và đi ra.
- Thế này nghĩ là thế nào? Aramix hỏi.
- Hãy cầm lấy cái cần thiết cho một cuộc viễn du mười lăm ngày và đi theo tôi.
- Nhưng tôi không thể rời Paris vào lúc này mà không biết…
Aramix ngừng lại.
- Nàng bây giờ ra sao phải không? Đ'Actanhăng tiếp lời.
- Ai cơ? Aramix hỏi.
- Cái người đàn bà đã từng ở dây, người đàn bà có khăn tay thêu.
- Ai bảo cậu rằng đã có một người phụ nữ ở đây? Aramix cãi lại, mặt tái nhợt như xác chết.
- Tôi đã nhìn thấy.
- Thế cậu có biết người phụ nữ đó là ai không?
- Tôi thấy ngờ ngợ, ít ra là như vậy.
- Nghe đây, Aramix nói, vì cậu biết bao nhiêu là chuyện, cậu biết người phụ nữ ấy bây giờ ra sao không?
- Mình độ chừng bà ta đã trở lại thành Tua.
- Về Tua à? Phải, đúng như thế; cậu biết bà ta đấy. Nhưng vì sao bà ta về Tua mà chẳng nói gì với mình cả?
- Bởi vì bà ta sợ bị bắt giữ.
- Sao bà ta chẳng viết cho mình.
- Bởi vì bà ta sợ liên luỵ đến cậu.
Aramix reo lên:
- Đ'Actanhăng, cậu trả lại cuộc sống cho tôi rồi! Tôi cứ ngỡ mình bị khinh rẻ, phụ bạc. Tôi đã sung sướng biết bao được gặp lại nàng. Tôi không thể ngờ nàng đã mạo hiểm tự do của mình vì tôi; nhưng tuy nhiên nàng trở lại Pari là vì duyên cớ gì?
- Vì duyên cớ nó khiên chúng ta hôm nay phải đi sang nước Anh.
- Duyên cớ gì vậy? Aramix hỏi.
- Một ngày kia cậu sẽ rõ, nhưng lúc này đây, mình bắt chước tính giữ gìn của người cháu gái vị tiến sĩ.
Aramix mỉm cười, vì chàng nhớ lại câu chuyên chàng đã kể buổi tối nọ cho các bạn nghe.
- Này, đ'Actanhăng, vì nàng đã rời Pari và cậu biết chắc như vậy rồi thì chẳng còn gì ngăn giữ tôi nữa, và tôi sẵn sàng theo câuk. Cậu bảo rằng chúng ta đi…
- Bây giờ chúng ta đến chỗ Atôx và nếu cậu muốn đi cùng thì xin hãy nhanh lên, vì chúng ta đã mất khá nhiều thời giờ rồi, nhân tiện hãy báo cho Badanh.
- Badanh cùng đi với chúng ta à? Aramix hỏi.
- Có thể. Trong trường hợp nào cũng nên để Badanh đi theo chúng ta đến nhà Atôx đã.
Aramix gọi Badanh lên và sau khi căn dặn hắn đến nhà Atôx, chàng nói:
- Vậy thì đi nào.
Rồi chàng đi lấy chiếc áo choàng, thanh kiếm và ba khẩu súng ngắn, hoài công mở ba bốn cái ngăn kéo xem có sót đồng pixtôn nào không. Rồi sau khi chắc chắn rằng cuộc tìm kiếm ấy là thừa, chàng đi theo đ'Actanhăng vừa đi vừa tự hỏi làm thế nào mà cái anh chàng tập sự trẻ tuổi ở đội thị vệ lại biết rõ như chàng rằng người phụ nữ mà chàng cho nghỉ trọ là ai và còn biết rõ hơn chàng rằng nàng ra sao rồi.
Chỉ sau khi ra khỏi nhà, Aramix mới đặt bàn tay lên cánh tay đ'Actanhăng, nhìn chằm chằm vào bạn mà hỏi:
- Cậu không nói với ai về người đàn bà ấy chứ?
- Không nói với một ai cả.
- Kể cả Atôx và Pooctôx?
- Không hé với họ, nửa lời.
- Hay lắm.
Và yên tâm với cái điểm quan trọng ấy, Aramix lại tiếp tục cùng với đ'Actanhăng; chẳng mấy chốc hai người đến nhà Atôx.
Họ trông thấy Atôx đang một tay cầm tờ giấy nghỉ phép, một tay cầm lá thư của ngài đờ T’rêvin. Chàng ngạc nhiên hỏi:
- Các cậu có thể cắt nghĩa cho tôi về cái giấy phép và lá thư mà mình vừa nhận được này là thế nào không?
“Atôx thân mến,
Vì sức khoẻ của anh nhất thiết cần như vậy, tôi rất muốn rằng anh nghỉ ngơi mười lăm ngày. Vậy anh hãy đi nghỉ ở vùng suối nước nóng Foogiơ hoặc ở vùng nào đó thích hợp với mình, và chúc anh bình phục mau chóng.
Thân ái,
T’rêvin”
- Có gì đâu, cái giấy phép và bức thư đó có nghĩa là cậu phải đi theo tôi, Atôx ạ.
- Đi vùng suối Foocgiơ à?
- Nơi đó hoặc chỗ khác.
- Để phục dịch Đức vua ư?
- Đức vua hoặc Hoàng hậu, chúng ta chẳng đều là bầy tôi của Thánh thượng và Đức bà đó sao?
Vừa lúc đó Pooctôx bước vào, chàng bô bô:
- Mẹ kiếp! Đây thật là một chuyện lạ: từ bao giờ trong ngự lâm quân có chuyện người ta cho lính nghỉ phép khi mà lính chẳng yêu cầu?
- Có chứ, đ'Actanhăng nói, từ khi họ có những người bạn xin phép nghỉ cho họ.
- Ha ha! Pooctôx nói, dường như có điều gì mới đây?
- Phải, chúng ta sắp lên đường, Aramix nói.
- Đi nước nào? Pooctôx hỏi.
- Quả thật tôi chẳng biết gì sất, Aramix nói; cái đó cậu hãy hỏi đ'Actanhăng.
- Thưa các hạ, đi Luân Đôn, đ'Actanhăng nói.
- Đi Luân Đôn! Pooctôx la lên, chúng ta đi Luân Đôn làm gì?
- Đó là điều tôi không thể nói cho các cậu được, nhưng các cậu phải tin ở tôi.
- Nhưng muốn đi Luân Đôn, Pooctôx thêm, phải có tiền mà mình thì không có.
- Mình cũng không có, Aramix nói.
- Mình cũng vậy, Atôx nói.
- Mình có đây. Đ'Actanhăng vừa nói vừa rút bọc tiền từ trong túi ra và đặt lên bàn. Trong bọc này có ba trăm pixtôn; ta hãy cầm lấy mỗi người bảy mươi lăm đồng; đủ để đi Luân Đôn và trở về. Vả lại, hãy yên tâm, chúng ta sẽ chẳng đến Luân Đôn tất cả đâu.
- Tại sao vậy?
- Bởi vì tất cả có khả năng một vài người trong chúng ta sẽ phải nằm lại dọc đường.
- Như vậy phải chăng chúng ta làm một cuộc viễn chinh?
- Một trong những cuộc viễn chinh nguy hiểm nhất.
- Ai chà! Pooctôx nói, nhưng vì chúng ta có cơ bị giết chết, ít ra mình cũng muốn biết vì sao chứ?
- Cậu đòi hỏi quá sớm đấy, Atôx nói.
- Nhà vua có lệ phải báo cáo, trình bày với các cậu không nào? Không, ngài chỉ bảo các cậu một cách đơn giản: này các ngươi, đang có đánh nhau ở Gaxcônhơ hoặc ở Flăngđrơ, các người hãy đi chiến đấu. Và thế là các câuk đi đến đấy. Tại sao? Các cậu cũng chẳng buồn thắc mắc.
- Đ’Actanhăng nói đúng đấy, Atôx bảo. Có ba tờ giấy cho chúng ta do ngài đờ T’rêvin gửi đến kia rồi! Chúng ta hãy đi liều chết ở nơi nào người ta bảo chúng ta đến. Tính mạng có bõ gì đặt ra từng ấy câu hỏi! Đ'Actanhăng, tôi sẵn sàng theo cậu.
- Tôi cũng thế, Pooctôx nói.
- Tôi cũng vậy, Aramix tiếp. Tôi cũng chẳng bực mình phải rời Pari đâu. Tôi đang cần giải trí đây.
Đ'Actanhăng nói:
- Vậy thì các cậu sẽ được giải trí, cứ yên tâm.
- Thế thì bao giờ thì đi nào? Atôx nói.
- Ngay bây giờ, đ'Actanhăng đáp, không thể để chậm một phút nào.
Cả bốn chàng thanh niên hô gọi người hầu:
- Ô này! Grimmô, Plăngsê, Mutxcơtông, Badanh! Đánh bóng giầy ủng cho ta và đem ngựa ở dinh đến đây.
Thật vậy, mỗi lính ngự lâm đều để ngựa của mình và của người hầu ở ngay tổng dinh như để ở một trại lính vậy.
Plăngsê, Grimmô, Mutxcơtông, Badanh vội vã đi ngay.
Pooctôx nói:
- Bây giờ chúng ta hãy vạch kế hoạch tác chiến. Trước hết chúng ta đi đâu nào?
- Đi Cale, đ'Actanhăng nói; đó là con đường đi thẳng đến Luân Đôn.
- Này! Pooctôx nói, tôi có ý kiến như thế này.
- Nói đi.
- Bốn người đi cùng bọn thì dễ bị nghi ngờ lắm. Đ'Actanhăng sẽ cho chúng ta lời chỉ dẫn; rồi tôi sẽ đi lên trước theo đường Buôclônhơ để trinh sát dẫn đạo; hai giờ sau Atôx sẽ đi theo đường Amiêng; Aramix sẽ đi theo chúng ta bằng đường Noayông; còn đ'Actanhăng sẽ đi theo con đường nào cậu ta muốn với bộ y phục của Plăngsê trong khi Plăngsê với bộ quân phục thị vệ và đi theo chúng ta.
- Các cậu ạ, Atôx nói, ý kiến của tôi là không nên khinh suất đưa bọn gia nhân vào những việc hệ trọng như thế này; một điều bí mật có thể tình cờ bị những người quý tộc tiết lộ, nhưng hầu như luôn luôn bị các tên hầu bán rẻ.
Đ'Actanhăng nói:
- Kế hoạch của Pooctôx tôi thấy không ứng dụng được vì chính tôi cũng không biết có thể cho các cậu những điều chỉ dẫn gì. Tôi chỉ là người mang một bức thư có thế thôi. Tôi không có và không thể làm ba bản sao bức thư đó vì rằng nó được gắn dấu xi; như vậy theo ý tôi ta phải đi cùng bọn. Bức thư ấy ở trong túi áo tôi đây. Và chàng trỏ vào túi có thư. Nếu tôi bị giết thì một người trong các cậu cầm lấy bức thư và các cậu tiếp tục cuộc hành trình; nếu người đó bị giết lại đến lượt người khác và cứ thế mà tiếp tục; miễn là có một người đi tới đích, tất cả chỉ cần có vậy.
- Hoan hô đ'Actanhăng! Ý kiến của cậu cũng là ý kiến của tôi. Hơn nữa chúng ta phải nhất quán mới được; tôi đi an dưỡng, các cậu đi theo tôi, đáng lẽ tắm suối nước nóng Foocgiơ, tôi lại đi tắm biển, tôi được tự do mà. Nếu người ta định bắt chúng tôi, tôi sẽ đưa thưa của ngài đờ T’rêvin, còn các cậu đưa giấy nghỉ phép; nếu họ tấn công ta thì ta tự vệ; nếu họ xét xử ta thì ta gân cổ lên mà cãi rằng ta không có ý định nào khác là ra biển để ngâm mình dăm bảy bận; bốn người lẻ loi thì chẳng đáng cóc gì, nhưng bốn người kết đoàn lại sẽ thành một đội quân. Ta sẽ vũ trang cho bốn tên hầu súng ngắn và súng trường; nếu họ phái một đoàn quân chống chúng ta thì chúng ta chiến đấu, và người nào sống sót, như đ'Actanhăng nói, sẽ mang bức thư đi.
- Hay đấy, Aramix kêu lên; Atôx, cậu không hay nói, nhưng khi nào nói thì cứ như thánh Jăng Miệng Vàng ấy. Tôi tán thành kế sách của Atôx. Còn cậu thế nào, Pooctôx?
- Mình cũng tán thành, Pooctôx nói, nếu nó hợp với đ'Actanhăng. Đ'Actanhăng mang bức thư, tất nhiên là người chỉ huy chuyến công tác này; cậu ấy cứ quyết định và chúng ta sẽ thi hành.
Đ'Actanhăng nói:
- Vậy thì tôi quyết định rằng chúng ta chấp nhận kế hoạch của Atôx, trong nửa giờ nữa, chúng ta lên đường.
- Chấp nhận! Cả ba người lính ngự lâm đồng thanh hô.
Rồi mỗi người vươn tay ra chỗ bọc tiền cầm lấy bảy mươi lăm đồng pixtôn và để chuẩn bị vào giờ khởi hành đã định.

Chương XX
Lữ hành


Hai giờ sáng, bốn nhà mạo hiểm của chúng ta ra khỏi Pari qua cửa ô Xanh Đơni; hễ trời còn tối, họ còn ngậm tăm mà đi; dù không muốn, họ vẫn bị ảnh hưởng của bóng đêm và nhìn đâu cũng thấy toàn là ổ phục kích.
Vừa tang tảng sáng, họ liền mở miệng; niềm vui nhộn trở lại với ánh ban mai. Giống như đêm trước một trận đánh, tim thì đập mắt thì cười, người ta cảm thấy cuộc đời mà mình có lẽ sắp lìa bỏ rốt cuộc vẫn là một điều hay.
Vả chăng cảnh tượng của đoàn lữ hành thật là ghê gớm. Những con ngực đen của ngự lâm quân, cái thói quen của đội kỵ binh bắt những chiến hữu cao quý ấy của người lính luôn luôn đi đứng một cách chính quy, những cái đó có thể tiết lậu một cuộc vi hành giữ bí mật chặt chẽ nhất.
Những tên hầu theo sau, vũ trang đến tận răng.
Mọi việc trôi chảy cho đến Săngtili, nơi họ tới vào quãng tám giờ sáng. Đến lúc phải ăn sáng. Đoàn người xuống ngựa trước một quán ăn có một biển hàng vẽ ông thánh Máctanh đang chia một nửa tấm áo choàng cho một kẻ nghèo khó. Bọn gia nhân được lệnh không tháo yên cương ngựa và phải sẵn sàng để lại đi ngay tức khắc.
Bốn chàng hiệp sĩ bước vào gian phòng công cộng và ngồi vào bàn ăn.
Một nhà quý tộc vừa mới theo đường Đammactanh, ngồi vào bàn và ăn lót dạ. Hắn bắt chuyện về trời mưa trời nắng, các lữ khách đáp lại; hắn nâng cốc chúc sức khoẻ họ, các lữ khách cũng đáp lại lễ cử của hắn.
Nhưng khi Muxcơtông vào báo rằng ngựa đã sẵn sàng và mọi người đứng dậy, thì người khách lạ đề nghị Pooctôx nâng cốc chúc sức khỏe quan tt. Pooctôx trả lời rằng chàng không đòi hỏi gì hơn nếu người kia cũng nâng cốc chúc sức khoẻ nhà vua. Kẻ lạ mặt kêu lên rằng hắn không biết có nhà vua nào khác ngoài đức Các hạ. Pooctôx bảo hắn là thằng say rượu, hắn liền tuốt kiếm ra.
-Cậu vừa làm một điều dại dột, Atôx nói, nhưng thôi kệ, bây giờ đâu có lùi được nữa, hãy giết phăng thằng này đi rồi đuổi theo kịp bọn mình càng sớm càng tốt.
Rồi cả ba chàng nhảy lên ngựa và phi nước đại, trong khi Pooctôx hứa với địch thủ rằng sẽ đâm xuyên hắn bằng mọi nhát kiếm đã biết được trong môn đấu kiếm.
- Thế là một người bị rồi! Atôx nói sau khi đã đi được năm trăm bước.
- Nhưng vì sao thằng đó lại nhằm đánh Pooctôx chứ không phải một ai khác? Aramix hỏi.
- Bởi vì, pc ăn to nói lớn hơn hết thảy chúng ta, nên nó tưởng cậu ấy là chỉ huy, đ'Actanhăng nói.
Atôx lẩm bẩm:
- Mình vẫn bảo cái tên thiếu sinh xứ Gaxcônhơ này là một giống khôn ngoan mà.
Và đoàn du khách tiếp tục cuộc hành trình.
Đến Bôve, họ dừng lại hai tiếng đồng hồ, vừa để cho ngựa nghỉ ngơi vừa để chờ Pooctôx. Sau hai giờ, vì Pooctôx không tới mà cũng chẳng nhận được tin tức gì về chàng, họ lại lên đường.
Đi khỏi Bôve chừng một dặm, tới một đoạn đường hẹp lại giữa hai bờ đất, họ gặp một toán tám chín người lợi dụng quãng đường tróc mất đá rải, có vẻ như đang làm việc sửa chữa đường bằng cách đào những hố và xẻ những rãnh bùn ở đó.
Sợ lấm đôi giầy ủng của mình trong đống vữa nhân tạo ấy, Aramix quát mắng họ thậm tệ. Atôx muốn ngăn bạn lại nhưng quá muộn rồi. Bọn thợ liền chế nhạo lữ hành và cái lỗi hỗn láo của chúng khiến anh chàng Atôx vốn bình tĩnh thế cũng phải điên đầu lên mà thúc ngựa xông vào một tên trong bọn.
Thế là bọn chúng lùi đến tận cái hố và chộp lấy một cây súng hỏ mai dấu ở đó. Kết quả là bảy lữ khách của chúng ta bị đem ra xếp hàng xử bắn. Aramix bị một phát đạn xuyên qua vai, và Mutxcơtông bị một viên đạn lọt vào mông. Tuy nhiên chỉ một mình Mutxcơtông ngã xuống ngựa, không phải vì bị trọng thương, mà vì hắn không thấy vết thương nên hắn tưởng bị thương nặng hơn trong thực tế.
- Đây là một ổ phục kích, đ'Actanhăng nói, ta không nên bắn trả một phát nào cả, và đi luôn thôi.
Aramix tuy bị thương nặng nhưng vẫn nắm lấy bờm con ngựa để mặc nó mang chàng đi theo các bạn. Con ngựa của Mutxcơtông đã đuổi kịp họ và một mình nó phóng trong hàng.
- Thôi thế là chúng ta có một con ngựa để thay đổi, Atôx nói.
- Giá như có một cái mũ thì mình thích hơn, đ'Actanhăng nói; cái mũ của mình bị một phát đạn bay mất rồi. Thật tình cũng còn rất may là bức thư không để ở trong mũ.
Aramix nói:
- Ái chà! Nhưng khi Pooctôx qua đây thì chúng nó giết mất.
- Nếu Pooctôx còn sống thì cậu ta sẽ đuổi kịp chúng ta bây giờ, Atôx nói, tôi chắc khi ra bãi đấu kiếm thì tên say rượt tỉnh ra.
Và đoàn lữ khách lại phóng suốt hai tiếng đồng hồ nữa, mặc dầu những con ngựa đã mệt lả đến nỗi chỉ sợ chúng sắp không chịu đi nữa.
Đoàn lữ hành men theo đường tắt, hy vọng như vậy bớt đi được phần lo ngại; nhưng đến Crevơcơ, Aramix bảo rằng chàng không thể đi xa hơn nữa. Quả thật đi được đến đó, chàng đã phải vận dụng hết lòng dũng cảm ẩn sau cái bề ngoài trang nhã và những kiểu cách lịch thiệp của chàng. Mỗi lúc chàng một tái nhợt đi và các bạn phải đỡ chàng ngồi cho vững trên mình ngưa; đoàn người dừng trước một tửu quán đưa chàng xuống, để Badanh ở lại với chàng. Vả chăng, trong một cuộc đụng độ, Badanh chỉ laà quẩn chân hơn là giúp ích. Và đoàn lại tiếp tục ra đi, hy vọng tới kịp Amiêng sẽ nghỉ đêm tại đó.
Khi đoàn rong ruổi trên đường, chỉ còn lại hai chủ và hai tớ là Grimmô và Plăngsê. Atôx nói:
- Mẹ kiếp! Phen này mình không mắc mưu bọn chúng nữa và mình cam đoan rằng từ đây đến Cale đố chúng cậy răng mình lấy nửa lời hoặc kích mình rút kiếm ra khỏi vỏ. Mình thề như vậy...
- Thôi thề thốt làm gì, đ'Actanhăng nói, hãy phi đại lên chừng nào ngựa còn chịu chạy.
Các du khách thúc đinh vào bụng ngựa được khích lệ mãnh liệt như thế cũng lấy lại được hơi sức. Đoàn đến Amiêng lúc nửa đêm và xuống lữ quán Bông huệ vàng.
Chủ quán có vẻ một người thật thà tử tế nhất trần đời; tay mang cây đèn nến, tay cầm chiếc mũ bông, hắn ra đón khách; hắn muốn để hai vị khách mỗi người ở một căn phòng tuyệt đẹp; khốn nỗi căn phòng ấy lại ở tận một đầu lữ quám. Đ'Actanhăng và Atôx từ chối; chủ quán thưa rằng tuyệt nhiên không còn căn phòng nào khác xứng đáng với Các Đại nhân cả; nhưng hai chàng lữ khách tuyên bố bằng họ bằng lòng ngủ trong căn phòng công cộng, mỗi người nằm trên một tấm đệm trải ra đất cũng được. Chủ quán nài nỉ, lữ khách khăng khăng; chủ đành chiều theo ý khách.
Khách vừa xếp đặt giường ngủ vừa chặn cửa ở phía trong thì có tiếng gõ ở cửa sổ nhìn ra sân, họ hỏi xem ai đó và nhận ra tiếng của hai người hầu bèn mở cửa sổ.
Quả nhiên đó là Plăngsê và Grimmô.
Plăng sê thưa:
- Một mình Grimmô coi ngựa là đủ rồi; nếu các ông muốn thì tôi sẽ nằm chắn ngang cửa phòng mà ngủ; như vậy thì các ông sẽ yên tâm không có ai lọt vào chỗ ông được.
- Thế mày nằm bằng gì? Đ'Actanhăng hỏi.
- Giường của tôi đây, Plăngsê đáp.
Và hắn trỏ một bó rơm.
- Vậy thì vào đây, mày nói phải đó; cái bộ mặt chủ lão chủ quán, tao không ưa lắm, nó có vẻ quá thớ lợ.
- Mình cũng thấy vậy, Atôx nói.
Plăngsê trèo qua cửa sổ, nằm án ngữ ngay cửa ra vào, trong khi Grimmô đi ra chuồng ngựa nằm, bảo đảm rằng đến năm giờ thì hắn và bốn con ngựa sẽ sẵn sàng.
Đêm khá yên tĩnh, vào khoảng hai giờ sáng có người toan mở cửa thật; nhưng do Plăngsê giật mình tỉnh dậy và hô lên ai đó. Y đáp rằng bị lầm phòng và bỏ đi.
Lúc bốn giờ sáng có tiếng động lớn trong tàu ngựa. Grimmô, vì muốn đánh thức bọn bồi ngựa dậy nên bị chúng đánh. Khi người ta mở cửa sổ ra thì thấy tên hầu tội nghiệp đang bất tỉnh, vì bị một nhát cán chĩa đánh bể đầu.
Plăngsê toan chạy ra thắng yên cương ngựa nhưng ngựa bị bầm máu ở chân. Chỉ có con ngựa của Mutxcơtông hôm trước là chạy trong năm sáu giờ không có chủ là có thể tiếp tục lên đường, nhưng do sai lầm không thể tưởng tượng được, người có vẻ là thày thú y được mời tới đáng lẽ phải nhể máu con ngựa của chủ quán thì lại nhè vào con ngựa của Mutxcơtông mà nhể.
Sự việc bắt đầu đáng lo ngại; tất cả những tai vạ liên tiếp ấy cũng có thể do tình cờ mà cũng có thể là kết quả của một âm mưu. Atôx và đ'Actanhăng đi ra ngoài, trong khi Plăngsê tìm hỏi xem ở vùng xung quanh có ba con ngựa nào cần bán không. Ở ngoài cửa có hai con ngựa đầy đủ yên cương, đương sức và lực lưỡng. Thật là tiện dịp. Plăngsê hỏi xem chủ hai con ngựa ấy ở đâu thì được biết rằng họ cũng nghỉ đêm ở quán hàng và lúc này đang trả tiền cho chủ quán.
Atôx xuống để trả tiền, trong khi Plăngsê và đ'Actanhăng đứng ở cửa ra phố, chủ quán thì ở trong một căn phòng thấp và lui vào phía trong, người ta mời Atôx vào đó.
Atôx không nghi ngại gì bước vào móc hai pixtôn ra trả tiền trọ. Chủ quán ngồi trước bàn giấy có ngăn kéo hé mở. Hắn cầm mấy đồng tiền Atôx đưa, lật đi lật lại trên tay và bỗng nhiên kêu lên rằng đó là tiền giả, hắn nói sẽ gọi người bắt giữ chàng và người bạn đồng hành về tội làm bạc giả.
- Đồ vô lại, Atôx vừa nói vừa bước đến chỗ hắn, tao cắt tai mày bây giờ.
Cùng lúc đó bốn người vũ trang đầy mình xông vào bằng những cửa ngách và nhảy xổ vào Atôx.
Atôx ráng hết sức kêu lên:
- Tôi bị bắt rồi, chạy đi; đ'Actanhăng, phóng ngựa mau! Phóng ngựa mau!
Và chàng bắn liến hai phát súng ngắn.
Chẳng phải đợi nhắc đến lần thứ hai, đ'Actanhăng và Plăngsê tháo cương hai con ngựa cột ở trước cửa, nhảy phắt lên, thúc đinh vào bụng ngựa và phóng vụt đi như bay.
Đ'Actanhăng vừa phi vừa hỏi Plăngsê:
- Mày có biết Atôx ra sao không?
- A! Thưa ông, tôi thấy hai tên ngã xuống sau hai phát súng nổ và nhìn qua cửa kính tôi thấy hình như ông Atôx đang đấu kiếm với hai tên khác.
- Atôx can trường quá! Đ'Actanhăng lẩm bẩm. Thế mà cứ nghĩ đến phải bỏ mặc cậu ta! Nhưng không chừng những chuyện chẳng kém đang chờ chúng ta ở cách đây mấy bước thôi! Tiến lên, Plăngsê, tiến lên! Mày cũng là một người can trường đấy!
- Thì tôi đã thưa với ông như vậy rồi mà, Plăngsê đáp, những người Picacđi chúng tôi khi dùng đến mới thấy tài mà; hơn nữa, tôi đang ở trên đất quê hương nên càng phấn khích.
Và cả hai thầy trò thúc ngựa phi mau hơn nữa liền một mạch đến Xanh Ôme. Tại đây, họ xuống cho ngựa nghỉ, tay vẫn giữ dây cương, sợ xảy ra chuyện bất trắc và đứng ăn vội vàng một mẩu bánh ngay ở ngoài phố, xong lại đi luôn.
Còn cánh cửa ô thành Cale độ trăm bước, con ngựa của đ'Actanhăng quỵ xuống và không còn cách nào để nó đứng lên được nữa, máu trào ra mũi và mắt nó; còn lại con ngựa của Plăngsê nhưng con ngựa này đã đứng ỳ ra và không còn cách nào bắt nó đi tiếp nữa.
May thay, như đã nói, họ chỉ còn cách thành phố có một trăm bước, họ bỏ hai con ngựa trên đường các và chạy tới cảng. Plăngsê lưu ý chủ về một người quý tộc cũng vừa tới với một tên hầu và đi trước họ chỉ chừng năm mươi bước.
Họ tiến mau tới gần gã qúy tộc, gã này có vẻ bận rộn lắm. Hắn mang đôi ủng đầy bụi và hỏi thăm xem hắn có thể sang nước Anh ngay lúc đó được không.
Người chủ một chiếc tàu đang sẵn sàng giương buồm đáp:
- Có gì là khó đâu, nhưng sáng nay có lệnh không để bất cứ ai đi nếu không có giấy phép đặc biệt của quan tể tướng.
Gã qúy tộc móc túi lấy ra một tờ giấy và nói:
- Tôi có giấy phép ấy đây.
- Ông hãy đem đến cho quan tổng trấn cảng kiểm nhận rồi lại đây đưa giấy ưu tiên cho tôi.
- Tìm quan tổng trấn ở đâu?
- Ở biệt thự của ông ấy
- Biệt thự ấy ở đâu?
- Cách thành phố một phần tư dặm. Này, từ đây cũng nhìn thấy, cái mái nhà lợp đá đen ở chân cái gò nhỏ kia.
- Tốt lắm, gã quý tộc nói.
Và hắn cùng với tên hầu đi theo đường đến nhà quan tổng trấn.
Đ'Actanhăng và Plăngsê đi theo gã quý tộc cách chừng năm trăm bước.
Ra khỏi thành phố rồi, đ'Actanhăng dồn bước và theo kịp gã quý tộc kia khi hắn vừa vào một khu rừng nhỏ.
- Thưa ông, đ'Actanhăng nói, hình như ông rất vội thì phải.
- Vâng, vội lắm ông ạ.
- Thật tiếc quá, đ'Actanhăng nói, nhưng vì tôi cũng rất vội, tôi định nhờ ông giúp cho một việc.
- Việc gì?
- Không thể được đâu, gã quý tộc nói, tôi đã đi sáu mươi dặm trong bốn mươi tư giờ, và đến trưa mai tôi phải có mặt ở Luân Đôn.
- Tôi cũng ngần ấy dặm đường trong bốn mươi giờ và đến mười giờ sáng mai tôi phải có mặt ở Luân Đôn.
- Rất tiếc, thưa ông; nhưng tôi đến trước và tôi sẽ không qua sau đâu.
- Rất tiếc, thưa ông, tôi đến sau và tôi sẽ sang trước.
- Vì công việc của nhà vua! Gã quý tộc nói.
- Vì công việc của tôi! Đ'Actanhăng nói.
- Nhưng hình như ông định tìm cách gây sự với tôi thì phải.
- Mej kiếp! Ông muốn cho nó là chuyện gì?
- Thì ông cần gì nào?
- Ông muốn biết chứ?
- Dĩ nhiên.
- Này, xin nói cho ông biết rằng tôi thèm muốn cái công lệnh ông mang theo, bởi vì tôi không có cái đó, mà tôi thì lại cần có một cái.
- Ông đùa đấy chứ, tôi đoán chừng ngay như vậy.
- Tôi không đùa bao giờ đâu.
- Hãy để cho tôi đi!
- Ông sẽ không đi được.
- Này anh bạn trẻ ơi, tôi đánh vỡ đầu anh ra bây giờ. Ô, này Luybanh! Đưa súng ngắn cho ta.
- Plăngsê, đ'Actanhăng nói, hãy nện tên đầy tớ còn ta sẽ công kích tên chủ.
Plăngsê, phấn khởi bởi chiến công đầu tiên liền nhảy bổ vào Luybanh và do khoẻ mạnh, lực lưỡngd, nên hắn bật ngửa tên kia ra đất và đè ngay đầu gối lên ngực nó.
Rồi hắn nói với đ'Actanhăng:
- Ông lo việc của ông đi, tôi làm xong việc của tôi rồi.
Thấy vậy gã qúy tộc tuốt kiếm ra và xông vào đ'Actanhăng, nhưng hắn đã gặp phải địch thủ sừng sỏ.
Trong có ba giây đồng hồ, đ'Actanhăng đã cho hắn ba nhát kiếm, mỗi nhát chàng lại kêu lên:
- Một tặng Atôx, một tặng Pooctôx, một tặng Aramix.
Đến nhát thứ ba, gã quý tộc ngã xuống như một đống thịt.
Tưởng hắn chết hoặc ít ra cũng ngất đi, đ'Actanhăng lại gần để đoạt lấy tờ công lệnh nhưng lúc chàng vươn tay ra để lục người hắn thì kẻ bị thương vẫn chưa buông kiếm, bèn xỉa một mũi vào ngực chàng vào bảo:
- Một tặng ông.
- Một tặng ta à! Miếng ngon dành cho kẻ cuối! đ'Actanhăng cáu tiết la lên và đâm ngay một nhát kiếm thứ tư vào bụng hắn ghim chặt hắn xuống đất.
Lần này gã quý tộc nhắm mắt và bất tỉnh.
Đ'Actanhăng lục trong cái túi lúc nãy chàng thấy hắn nhét tờ thông hành và cầm lấy. Tờ lệnh mang tên bá tước đờ Oacđơ.
Rồi liếc nhìn lần chót người thanh niên đẹp trai chưa đầy hai mươi lăm tuổi mà chàng bỏ mặt nằm sóng sượt ở đó, mê man và có lẽ chết rồi, chàng thở dài ngán cho cái định mệnh kỳ quái kia nó xui khiến những con người huỷ hoại lẫn nhau vì quyền lợi của những kẻ xa lạ với mình và những kẻ xa lạ đó thường không hề biết rằng mình có mặt ở trên đời này nữa.
Nhưng chàng liền bị dứt ra khỏi những suy nghĩ ấy vì những tiếng hét rống lên, ra sức kêu cứu của Luybanh.
Plăngsê đưa tay lên bóp chặt cổ họng hắn và nói:


- Ông ạ, tôi siết cổ nó như thế này thì nó không kêu nữa, tôi chắc chắn như vậy, nhưng hễ tôi cứ buông ra là nó lại kêu tiếp… Tôi nhận ra nó là một tên miền Noocmăngđi mà bọn Noocmăngđi thì cứng đầu cứng cổ lắm.
Thật vậy, bị đè, bị siết cứng đến như thế mà Luybanh vẫn tìm cách kêu la.
- Khoan! Đ'Actanhăng nói.
Và chàng lấy chiếc khăn tay nhét vào miệng nó.
- Bây giờ thì cột nó vào một gốc cây…
Lời nói được thực hiện ngay rất cẩn thận rồi bá tước đờ Oacđơ cũng bị lôi đến bên cạnh tên đầy tớ. Do trời bắt đầu tối mà kẻ bị trói và người bị thương đều ở sâu mấy bước trong rừng hiển nhiên là họ phải ở lại đó cho đến hôm sau.
- Bây giờ, ta đến quan tổng trấn! Đ'Actanhăng bảo.
- Nhưng hình như ông bị thương cơ mà? Plăngsê nói.
- Không sao, ta hãy lo chuyện gấp hơn đã, rồi coi lại vết thương của ta sau, vả chăng hình như nó cũng không nguy hiểm lắm.
Và cả hai thầy trò bước nhanh về phía biệt thự của quan tổng trấn tôn nghiêm.
Bọn gia nhân vào báo có bá tước đờ Oacđơ tới.
Đ'Actanhăng được mời vào.
Quan tổng trấn hỏi:
- Ông có lệnh do quan tể tướng ký chứ?
-Vâng, thưa ông, lệnh đây, đ'Actanhăng đáp.
- Ái chà, lệnh này hợp thức và được giới thiệu cẩn thận lắm, ông tổng trấn nói.
- Có gì đâu, đ'Actanhăng nói, vì tôi thuộc vào hàng những bộ hạ trung thành nhất của ngài mà.
- Hình như Các hạ muốn ngăn cản một kẻ nào đó sang tận nước Anh.
- Vâng, một tên đ'Actanhăng nào đó, một gã quý tộc người Bêác đi từ Pari cùng ban người bạn thân với ý đồ vượt biên sang Luân Đôn.
- Riêng ông có biết hắn không? Viên tổng trấn hỏi.
- Ai cơ?
- Tên đ'Actanhăng ấy.
- Biết rõ quá đi chứ.
- Vậy xin ông cho biết nhân dạng của hắn.
- Chẳng có gì khó cả đâu.
Và đ'Actanhăng tả tỉ mỉ từng nét diện mạo của bá tước đời Oacđơ.
- Hắn có cùng đi với ai không?
- Có, cùng với tên đầy tớ tên là Luybanh.
- Ta sẽ canh chừng chúng, và nếu tóm được chúng, Các hạ mới có thể yên tâm, chúng sẽ bị áp giải cẩn thận về Pari.
Đ'Actanhăng nói:
- Thưa ông tổng trấn, nếu làm như vậy ông sẽ có công với quan tể tướng.
- Thưa bá tước khi trở về chắc ông sẽ gặp lại quan tể tướng chứ?
- Dĩ nhiên rồi.
- Vậy thì xin ông thưa lại với ngài rằng tôi luôn luôn hết lòng phụng sự ngài.
- Tôi sẽ không quên đâu.
Vui mừng vì lời bảo đảm ấy, viên tổng trấn phê nhận vào tờ giấy thông hành và đưa lại cho đ'Actanhăng.
Đ'Actanhăng không để mất thì giờ vào những lời chúc tụng vô ích, cảm ơn và chàng viên tổng trấn rồi đi.
Ra đến ngoài, chàng và Plăngsê liền chạy cho mau theo một đường vòng lớn để tránh khu rừng rồi trở vào thành phố bằng một cửa ô khác.
Chiếc tàu vẫn sẵn sàng nổ neo, người chủ tàu đứng chờ trên bến. Nhìn thấy đ'Actanhăng ông hỏi:
- Thế nào?
- Giấy phép của tôi được phê nhận rồi đây, đ'Actanhăng đáp.
- Thế còn vị quý tộc kia đâu?
- Ông ta không đi hôm nay, đ'Actanhăng nói, nhưng ông cứ yên tâm, tôi sẽ trả tiền tàu cho cả hai chúng tôi.
- Nếu vậy thì ta đi, người chủ tàu nói.
- Ừ, ta đi thôi!
Đ'Actanhăng nhắc lại và cùng Plăngsê nhảy vào chiếc xuồng, năm phút sau họ đã lên tàu.
Thật là kịp thời, tàu chạy được nửa dặm đ'Actanhăng nhìn thấy một ánh sáng loé lên và nghe thấy một tiếng nổ.
Đó là phát đại bác báo hiệu đóng cửa hải cảng.
Đến lúc cần chăm sóc vết thương, may thay đúng như đ'Actanhăng nghĩ, nó cũng không có gì nguy hiểm lắm, mũi kiếm chạm phải xương sườn và trượt dọc theo xương ấy, hơn nữa áo sơ mi lại dính chặt và vết thương nên chỉ rỉ ra vài giọt máu.
Đ'Actanhăng mệt lả, người ta trải cho chàng một tấm nệm trên boong tàu, chàng lăn kềnh ra mà ngủ.
Mờ sáng hôm sau tàu chỉ còn cách bờ biển nước Anh ba bốn dặm, suốt đêm gió yếu nên người ta đi được ít.
Mười giờ rưỡi đ'Actanhăng đặt chân lên nước Anh và chàng kêu to:
- Cuối cùng ta đã tới đây!
Nhưng chưng phải đã xong xuôi: còn phải đi đến Luân Đôn. Ở bên Anh xe trạm khá tốt. Đ'Actanhăng và Plăngsê mỗi người cưỡi một con ngựa nhỏ, một phu trạm chạy trước họ, bốn giờ sau họ tới cửa ô kinh đô.
Đ'Actanhăng chưa biết Luân Đôn, không biết lấy một tiếng Anh, chàng viết tên Bắckinhhâm lênh một mảnh giấy, và ai cũng trỏ dinh ông quận công tể tướng cho chàng.
Lúc ấy ông quận công đi săn với nhà vua ở Uynxơ.
Đ'Actanhăng hỏi thăm người hầu phòng tin cẩn của quận công, hắn đã theo ông trong mọi chuyến đi nên nói thông thạo tiếng Pháp. Đ'Actanhăng nói cho hắn biết chàng từ Pari đến vì một việc sinh tử và hắn cần báo tin cho chủ hắn ngay tức thì.
Giọng nói tin cậy của đ'Actanhăng thuyết phục được Pat’rixơ, đó là tên người hầu của quan tể tướng, hắn cho thắng yên cương vào hai ngựa và tự mình dẫn chàng thị vệ trẻ đi. Còn Plăngsê ngồi ngay đơ như cây sậy trên lưng ngựa và người ta phải đỡ xuống, hắn kiệt sức rồi còn đ'Actanhăng thì vẫn vững vàng như thép.
Họ đến lâu đài Uynxơ hỏi thăm được biết nhà vua và Bắckinhâm đi săn chim ở những đầm lấy cách đó hai ba dặm.
Hai mươi phút sau họ đến nơi được chỉ dẫn. Liền đó, Pat’rixơ nghe tiếng chủ mình đang gọi con chim ưng săn.
Pat’rixơ hỏi đ'Actanhăng:
- Tôi phải vào báo với milo quận công là có vị khách nào?
- Người thanh niên đã gây sự với quận công vào một buổi tối trên cầu mới, trước mặt nhà thờ Xamariten.
- Xưng danh lạ đời chưa!
- Ấy thế mà anh sẽ thấy nó chẳng kém một cách xưng danh nào khác đâu.
Pat’risơ cho ngựa phi nước đại, tới gặp quận công và báo rằng có một sứ giả đang đợi ông, theo y như lời đ'Actanhăng dặn.
Bắckinhâm biết ngay đó là đ'Actanhăng và ngờ rằng đã có chuyện xảy ra ở Pháp và người ta cho mang tin tức đến, ông chỉ còn kịp hỏi người đưa tin đó ở đau; và nhận ra bộ quân phục thị vệ từ xa, ông cho ngựa phi nước đại tới thẳng chỗ đ'Actanhăng. Pat’rixơ giữ ý đứng cách ra xa.
- Hoàng hậu không gặp phải điều bất hạnh nào chứ? Bắckinhâm kêu lên, trút ra trong câu hỏi đó tất cả ý nghĩ và niềm thương yêu của mình.
- Tôi không tin như vậy, tuy nhiên tôi e rằng Hoàng hậu đang gặp phải một nguy cơ lớn mà chỉ có Chúa công mới giải cứu cho Hoàng hậu được.
- Ta ư? Bắckinhâm nói. Còn gì bằng! Giúp ích được việc cho Hoàng hậu, ta sung sướng lắm chứ. Nói đi! Nói đi!
- Ngài hãy nhận bức thư này, đ'Actanhăng nói.
- Bức thư này! Của ai gửi cho ta?
- Hoàng hậu thì phải.
- Hoàng hậu gửi!! Bắckinhâm nói mà mặt tái nhợt hẳn đi đến nỗi đ'Actanhăng tưởng ông ta sắp ốm đến nơi.
Rồi ông bẻ vỡ dấu niêm phong.
- Vết rách này là thế nào? Ông vừa hỏi vừa chỉ cho đ'Actanhăng xem một chỗ thư bị thủng.
- À! À! Đ'Actanhăng đáp, tôi không để ý đấy; đó là do nhát kiếm của bá tước đờ Oácđơ làm rách khi đâm vào ngực tôi.
- Ông bị thương đấy à? Bắckinhâm vừa hỏi vừa dứt dấu niêm phong.
- Ồ! Không sao ạ! Đ'Actanhăng nói, một vết xước nhỏ thôi mà.
- Trời ơi! Ta đọc cái gì đây! Này Pat’rixơ, ngươi hãy ở lại đây hoặc tốt hơn là đi theo hầu đức vua và tâu với Hoàng thượng rằng ta cúi đầu van xin người tha tội vì có một việc tối quan trọng phải trở về Luân Đôn ngay. Còn ông, lại đây, đi theo tôi.
Rồi cả hai người phi nước đại trên con đường về kinh đô.



0
Dạo này bận quá nên chậm việc scan, mong mọi người thông cảm[:D]

Tiếp chương 21-22 nữa nè:

chuong 21-22 ban scan


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
«« « 1 2 » »»