Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Thông Báo-Giữ gìn sự trong sáng ngôn ngữ 🔒

79 trả lời, 12.743 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-08 17:09:24NuHiepDeThuong>
Chào Hoàng Điệp,

Bạn chắc chỉ lo đọc bài của SH1, và của tôi để..... "góp ý"[8D] , chứ không để ý bài của CDQ đã đăng vào tháng 10 năm ngoái. Rảnh thì xem kỹ lại đi HBNX. Cho HBNX mượn kiếng đeo nè. [sm=22.gif][8D]

Qua những trao đổi sai sót của tôi, tôi chỉ mong bạn có bài nào hay về tiếng Việt thì hãy đăng lên cho bà con tham khảo.
Bạn chỉ con sâu mà chắc cặp mắt có đeo kiếng của tôi không thấy rõ (già rồi). [&amp;:][8D]
Vậy thì bạn thấy con sâu nào làm rầu nồi canh thì dùm ơn vớt ra đi nha. Hay là nấu dùm nồi canh khác. [:D]J/K
Xin cảm ơn trước.[:D][:D]

Nếu chưa đi TU đắc đạo, thì cái "Tôi" của ai cũng to lớn cả.
Có điều cái "Tôi" của bạn hay của tôi cũng lớn ngang nhau đó.
Tuy vậy, nếu ai cao lớn hơn thì cái "Tôi" đó chắc cũng sẽ bự hơn.... J/K[8D][:D]

Nói gì thì nói, vừa rồi CDQ đã có 1 ý kiến rất thiết thực và tôi tôn trọng ý kiến nầy của CDQ.
Xin chân thành cảm ơn CDQ đã nhắc nhở. [sm=----------------.gif][sm=----.gif][sm=----.gif]



Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Ai cũng đã từng trải qua cuộc đời học sinh.Biết bao nhiêu những kỉ niệm vui buồn mà khiến con người ta không thể quên được.Tình yêu tuổi học trò đầy ngây thơ nhưng cũng khiên con người ta luôn mơ mộng. ngày ấy củ tôi đã qua đi nhưng tôi không bao giò có thể quên được nó.Nhưng các bạn có biết bây giờ tôi đã tìm đươc người mang về lại cho tôi tất cả những kỉ niệm ngày đó.Dù sao cũng phải cám ơn đại gia đình VNTHUQUAN vì đã giúp tôi tìm lại được tình yêu thực sự của mình

cám ơn nhiều

thân ái"penternam tvtvtvtvtvtvtvtvtvtv nhớ tv nhiều

[image]local://upfiles/3174/856BF419CCFD49C192E5472AEC522739.gif[/image]
📎 tuongus

M?t bông h?ng không th? hai ngu?i hái
M?t trái tim không th? s? làm dôi
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 15:12:31ct.ly>
Chào sis Nuhiepdethuong và Hoabuomngayxua

Mới đi mượn được cái áo " giáp " mới dám ra trong khi chiến trận đang rặt mùi thuốc súng đây.[8D]

Đã là bằng hữu với nhau , mà sao hai bạn lại " căng thẳng " với nhau quá vậy. [8|][:(]

Đây là Diễn đàn là sân chơi trong tình bạn, nên hoà nhã lẫn nhau mới đúng chớ phải không nà
Ct.ly đo cắt, ý quên đắc co, tức là " đồng ý " với sis NHDT là tiếng Việt trước và sau 1975 thật sự có nhiều thay đổi,
Có lẽ B HBNX chỉ được học tiếng Việt sau này, nếu mà có dịp đọc lại mấy cuốn truyện, hay sách có những học giả, văn nhân viết trước 75, thì HBNX sẽ hiểu ngay.

Cũng như Lữ Khách đã nói, trước sau gì cũng là tiếng Việt, chỉ có cái là mình chấp nhận hay không chấp nhận mà thôi.

Hoabuomngayxua là nam nhi mà, sao không chịu ga lăng với phái nữ chút xíu nào dzậy, HBNX lại là có một phần người Pháp,
là có tiếng " galant " nhất đó mà, có phải vậy không ??? [8D][:)]
Dù sao, hai bạn nên lấy câu " Giả hoà như quý " Ct.Ly không dùng tiếng Việt, mà dùng chử " nho " dù là nho thâm
Kệ ai có cười thì họ đưa mười cái răng họ ra .
Ct.ly thì văn chương chữ nghĩa đem mà gom góp lại không đầy một " lá me " thì không dám xía vô chuyện của các học giả,học thật như của hai bạn, nhưng mà lấy cái " TÔI " ra để nói thì...... thiệt hỏng biết nói sao????
Thật thì cái " TÔI " nó đa dạng lắm, ai cũng muốn cái " TÔI " cũa mình rổn rãng, sáng chói, chẳng ai muốn cái tôi của mình lép xẹp đâu. Nhưng mà đôi khi thùng rõng thì khua to lắm đó há??? NHDT và HBNX có " đồng ý " với Ct.Ly cái này không??? [8D]
Mong hai bạn sẽ tìm một giải quyết vui vẻ hơn, để tình bạn thêm thân thiết hơn .
Chúc hai bạn luôn vui và hạnh phúc trong an lạc [:)]
0
VDN mến chào tất cả các bạn - muốn nói nhiều - nhưng nói gì bây chừ !
Chỉ mong các bạn huề ví nhau cho vui vẻ năm mới.[sm=a flower for her.gif][sm=rinh.gif][sm=4.gif][sm=18.gif][sm=----------------.gif][sm=----------------.gif]

Blog_vdn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 04:05:40Hoabuomngayxua>
Thân mến chào các bạn và đặc biệt thành thật xin lỗi NHDT (người mà thực tình, HĐ rất tôn trọng, ái mộ và qúy mến, nhất là đối với những đóng góp lớn của NH cho VN Thư quán của chúng ta).
Thế là cuộc khảo nghiệm (không biết mình dùng từ có đúng không ?) về « thực hành tiếng Việt » của HBNX đã kết thúc !!! Càng đến phần cuối, mình càng ân hận là đã trót « đùa dai » để bạn mình (xin được gọi là BẠN cho thân chứ thực tế, có lẽ NHDT hơn tuổi HĐ nhiều) bực mình, khó chịu. (Có thể NH chửi thầm trong bụng : « Không hiểu sao cái thằng gàn dở này nó cứ mỉa mai mình ??? !!! ».)
Có một sự thật mà HĐ cũng phải nói ra đây là có mấy anh lớn tuổi người Bắc (Việt kiều tỵ nạn), hay lang thang đọc bài trên internet có phàn nàn với HĐ về những bài trích dẫn của NHDT và bài viết của SH1. Vì không phải là thành viên nên họ chỉ tỏ vẻ khó chịu, không đồng tình với quan niệm « Tiếng Việt trước và sau 75 » hoặc « Tiếng Việt Cộng sản và tiếng Việt Quốc gia ». Hơn thế nữa, họ rất cảm thông với bài viết « mỉa mai » của bạn SH1 và thắc mắc tại sao không có bài trả lời thích đáng. Cái hay ở đây là mấy anh này không biết HĐ là « nhân viên tình báo » của VN Thư quán. (Bây giờ, nếu anh Tiến và anh Bảo có đọc những bài trên và bài này thì cũng tha lỗi cho em nhé !!!). Thất tình mà nói, trình độ văn phạm tiếng Việt và Lý luận văn học của các anh ngang tầm với những học giả lỗi lạc. Trình độ Việt văn của HĐ được mở mang cũng là nhờ các anh rất nhiều.
Qua tranh luận (ảo ?) vừa rồi, HĐ cũng học được nhiều điều lắm.
Một trong nhiều ví dụ :
- Nếu NHDT dùng câu : « Vạch lá, tìm sâu ». Câu này mang ý nghĩa tiêu cực (xấu) nhưng nếu gặp người phản biện lại, họ cũng nói « Vạch lá, tìm sâu » nhưng là tìm con sâu dâu (làm vị thuốc bắc) thì lại là tích cực (tốt).
- Cũng trong hoàn cảnh này, người ta có thể nói « cay độc » hơn, không thể bắt bẻ nổi như : « Bới lông, tìm vết » hoặc « Bới bèo, ra bọ » v.v…
……

Sau đó thì….như các bạn đã biết.

Cuối cùng thì HĐ cũng chỉ muốn nhắc nhỏ với Công Ty Ly rằng: Thùng rỗng khua to lắm đó nhưng đôi khi Thùng đặc "bã đậu" (hay đặc "cán mai") còn khua lớn đến 3,4 lần cơ !!!
Xin cám ơn VDN đã quan tâm nhắc nhở !!!

Thế nhé, NHDT còn giận HĐ không ? Cho biết ý kiến nhé !
Hy vọng sẽ có ngày chúng ta hội ngộ tại cái Kinh đô ánh sáng này.
HBNX.
[sm=a flower for her.gif]



[image]local://upfiles/5055/4700C1FE641044ACB9B3F95FCF8DE3BD.jpg[/image]
📎 buom vang
..."Vua không lấy Trạng, vua thề thế,
Con bướm Vàng Tuyền đậu Thám hoa..."
NGUYỄN BÍNH
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 22:33:06ct.ly>
có lẽ NHDT hơn tuổi HĐ nhiều) bực mình, khó chịu. (Có thể NH chửi thầm trong bụng : « Không hiểu sao cái thằng gàn dở này nó cứ mỉa mai mình ??? !!! ».)


Thân chào Con Bướm Vàng,
Rất vui khi đọc được " cáo phó " ý quên cáo lỗi của bạn, cho nên Diễn Đàn thấy vui vui ,
Sis Thành viên ( TV ) cũ, Nuhiepdethuong mới , là người không già lắm đâu, chỉ đủ làm tỷ rất nhiều đệ, muội trong gia đình VNTQ, mà chỉ làm muội cho huynh, tỷ thì chắc Ct.Ly nghĩ đếm không hết một bàn tay [:D]

Chứng tỏ trong VNTQ toàn là tuổi trẻ tài cao không hà [:D]

Cuối cùng thì HĐ cũng chỉ muốn nhắc nhỏ với Công Ty Ly rằng: Thùng rỗng khua to lắm đó nhưng đôi khi Thùng đặc "bã đậu" (hay đặc "cán mai") còn khua lớn đến 3,4 lần cơ !!!

Đã nói rồi, Công tử Lỳ là con "nhà vườn " mà , đã được danh " Dốt đặt cán cuốc " mà lị,
Không những dốt mà còn lỳ nữa đó mà [8D][:D]
Nhưng đôi khi "cán cuốc " từ của Ct.Ly , "cán mai" của Bướm Vàng, cũng thông dụng lắm đó nếu mà không có cán cuốc, thì làm sao mà " khua trống " đây [8|][:)]

Ai mà " xúi dzại " HBNX đưa lưng cho người ta quánh, thì nói Công tử Lỳ cho mượn " cán cuốc," mà nện người đó nhen, vì lưng mình đau, chớ lưng của họ đâu có sao đâu nè [:@]
Đã bảo là Công tử Lỳ mới mượn áo " giáp " và mới mua thêm " bảo hiểm nhân mạng " rồi
Nên mới dám lên tiếng đó mà.

May mà con bướm vàng này mới đậu được chức " Thám Hoa " mà miệng lưỡi ghê gớm đến thế, Nếu mà lên đến chức " Trạng " chắc cũng là một trạng sư Vergez thứ hai rồi [8D][:D]

Nếu mà HBNX có cái gì bực mình thì cứ cự nự hết ra đi, vì cuối năm rồi, nếu mà đầu năm, mà cự nự thì chắc chắn, đầu năm Ất Dậu, mà chơi " lắc bầu cua " lỡ đặt con " Gà " mà lại chạy ra con " Cua " thì chắc sạch túi đó Bướm Vàng [:D]

Vậy sis NHDT uiiiiiiiiiiiii lại " rua " mí Con Bướm Vàng một cái đi sis



0
Thui các bạn vẫn tiếp tục ''KÊ'' nhau[sm=praying.gif][sm=rose1.gif][sm=praying.gif][sm=crying.gif][sm=2.gif][sm=17.gif][sm=2.gif][sm=17.gif]

Blog_vdn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 23:49:17itphy>
Trả lời Viễn Xứ một ý nhỏ.

[:D]Itphy có nghe nói như vầy...Nếu có gì sai sót xin bỏ qua cho.
Khi viết truyện những lời tả cảnh, dẫn truyện của nhà văn thì nên viết đúng chính tả. Còn những nhân vật trong truyện có thể sử dụng ngôn ngữ địa phương của nhân vật đó.[sm=beerchug.gif]
Hoa xuân nở giữa vườn xuân
Hoa Thơ đẹp mãi trong vườn ý thơ.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-11 01:49:21vienxu>
Trích đoạn: itphy

Trả lời Viễn Xứ một ý nhỏ.

[:D]Itphy có nghe nói như vầy...Nếu có gì sai sót xin bỏ qua cho.
Khi viết truyện những lời tả cảnh, dẫn truyện của nhà văn thì nên viết đúng chính tả. Còn những nhân vật trong truyện có thể sử dụng ngôn ngữ địa phương của nhân vật đó.[sm=beerchug.gif]

Rất cám ơn bạn itphy đã trả lời cho VX
Bạn thử xem lại truyện của nhà văn Hồ Biểu Chánh, ông đã dùng một số ngôn ngữ địa phương trong những đoạn tả cảnh, như vậy là sao???
Đó cũng là lý do mà VX nêu câu hỏi nầy.
Chúc bạn thật vui khi đi dạo thư quán.
[:)][:)][;)]
mời bạn dùng [sm=beerchug.gif] với VX
Ta yêu hạt bụi vướng hài
Ta yêu từng sợi tóc mai phủ chiều
Ta yêu sóng mắt mỹ miều
Vì em giọt nắng cũng nhiều vấn vương...
0
Wow! Nhà đông quá xá.

NH xin chào tất cả các bạn đã ghé qua chơi.

Xin thứ lỗi cho NH đón tiếp trễ vì bận chút công việc. Cảm ơn em SF đã mang trà vào để chị đãi các bạn ở đây.

Cảm ơn tất cả các bạn đã ghé qua chơi và góp những ý kiến rất thiết thực, hữu ích.

Chân thành cảm ơn tất cả các bạn, cũ cũng như mới, và mời tất cả các bạn uống trà nha.

Chúc cả nhà thật vui vẻ, khoẻ mạnh để đón Tết con gà. [:)]

[sm=----.gif][sm=----------------.gif][sm=----.gif]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0

Em có mang bình trà Long Tĩnh nè , Chị NHDT và huynh HBNX vừa tiếp khách vừa đàm đạo nha [:)]

[color=blue]Thân ái ,
SF


0
Chào Công ty LY,
Chiều nay tương đối rảnh rỗi, ngồi một mình ở bureau cũng buồn nên Hbnx vào VN Thư quán thì gặp ngay bài của Công ty LY.
Cám ơn « con nhà vườn » đã choHbnx một từ mới mới là « cáo phó ». Thú thực, mình không hiểu từ này (mà trên văn phòng thì làm gì có từ điển), vì vậy không thể trả lời Công ty Ly ngay được. Lúc về, vì nóng lòng muốn biết nên phải đi ngược 2 trạm métro đến nhà anh bạn để hỏi mới hiểu nghĩa từ này.
« Chơi chữ » thâm thật. Cáo phó có lẽ là một từ chữ Nho nên lại càng thâm hơn… !!!
Cũng bỏ quá cho Hbnx cứ đọc trệch Ct.ly thành Công ty LY vì Hbnx có nghe mấy anh « Việt Cộng cũ » lớn tuổi có nói là hồi xưa, ở Hà Nội có một công ty được tọa lạc tại Ô Chợ Dừa cũng nặng…lắm. Mỗi nhân viên cũng được trang bị « áo giáp » , « khẩu trang »(1) và nghe đâu cả …bảo hiểm nhân thọ (như Ct.ly đã trang bị):
- Địa bàn làm việc : Nội ngoại thành Thăng long.
- Thời gian làm việc : Thường là từ buổi tối đến 1-2 giờ sáng.
- Dụng cụ làm việc : Cũng những « thùng rỗng », « thùng đặc » cùng những « cán mai, « cán thuổng » như trên đã nói…
Cũng cần nói thêm là những nhân viên trong Công ty nếu bị « khai trừ » hoặc « tự ý » bỏ việc hoặc bị « lão hoá » thường chuyển sang làm « thám tử tư » (mà Nguyễn Công Hoan quen gọi là thám tử An nam trong « Chiếc lò gạch bí mật). Đám thám tử này thường cư ngụ tại làng Cổ Nhuế. (Nghe nói hồi chiến tranh chống Mỹ, thanh niên làng này có một « lời thề » dữ dội lắm nhưng sợ lạc đề nên Hbnx không dẫn ra đây làm gì, sợ nhàm tai các huynh đệ).
Sau này, đến thời mở cửa, Công ty này đã « ly » đi nơi khác có lẽ vì ít « đất dụng võ »( ?) và biết đâu Giám đốc Công ty (ấy chết, lại dùng từ sai rồi), Chủ nhiệm Công ty đã « ly » sang định cư tại Pháp …Nên Hbnx cứ …đoán mò Ct.ly tức là Công ty LY ???

Chúc Công ty LY vui cả ngày nhé.
Thân ái,
HBNX.

P.S. : - Mình mới học mót được một câu rất hay là : « Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng ». Ở đây, xin thưa là Công ty LY muốn « châm » vào « cái riêng tư » của Hbnx là một « chữ ký » (một câu thơ mà mình yêu thích), vậy thử tự soi gương xem : « Cái chân dung » mà Ct.ly chọn dùng làm biểu tượng với « khuôn mặt thật » của Ct.ly liệu có giống nhau không ???hihihihi...

P.S. : - Ấy chết, đến phút chót trước khi đăng bài lại được uống trà của sunflower, cám ơn bạn rất nhiều. Cầu mong cho anh chị em trong VN thư quán luôn có những bình trà như vầy, có đúng không chị NHDT ? Chúng mình cụng ly chứ ???!!!

[sm=beerchug.gif][sm=rose.gif][sm=rose.gif][sm=rose.gif]



_____
(1)
- Mặt khác, hàng trăm chữ Hán Việt đã được phổ biến như "biên chế," “danh thắng” (danh lam thắng cảnh), "đạo cụ," (dụng cụ dùng trong việc quay film), “đăng ký” (ghi danh), "hạch toán," “khẩu trang” (khăn che miệng cho đỡ bị bụi bậm, trông giống những người sắp đi ăn cướp nhà băng t
..."Vua không lấy Trạng, vua thề thế,
Con bướm Vàng Tuyền đậu Thám hoa..."
NGUYỄN BÍNH
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-11 02:02:21ct.ly>
Đã đi tìm cái hoà nhã, mà thấy HBNX nói ra những lời, còn hơn" bombe "nữa đó.
Những sự việc của Công Ty gì đó của HBNX mới kể ra, dài dòng quá, mà là " dân nhà vườn " nên hỏng hiểu gì ráo trọi.

Ct.Ly là cái nick, mà KDG đã sữa lại là công tử Lỳ, chớ hỏng phải Ly. Cho nên không phải là người trong cuộc, nên Ct.Ly xin trả lại hết những lời HBNX đã tán dương công tu ly này quá nhiều, thành thật là không dám nhận đâu [8|]

Cái nick thôi, dù xấu đẹp thì cũng là ảo, có lấy ra mà châm biếm nhau, thiệt là quá......,

Con bướm Vàng Tuyền đậu Thám hoa..."


Vào chọc HBNX chút cho vui, ai dè tánh tình của BHNX hỏng biết nói chơi, mà " xe dơ " quá thì thôi, Đừng nên nói chơi nữa, làm vậy HBNX sẽ " quan trọng hóa " vần đề này.
Vậy thì " stop" đây nhé.




0
Xin cang " Hòa khí muôn sự lành " !!!!!!

Viễn Xứ xin lổi các bạn vì VX hơi dốt nên chỉ "Tựa cột mà nghe" nghe rồi có chút thắc mắc xin quí bạn giải đáp dùm, mong các bạn thông cảm. Nếu có sai chính tả hay lổi văn phạm xin các bạn bỏ qua cho vì VX vốn dốt về chính tả và văn phạm lắm.
Xin hỏi các bạn giữa âm thanh mỗi miền và chữ viết có điểm nào giống nhau và điểm nào khác nhau?
Chữ viết dùng để biểu thị âm thanh hay là tự bản thân nó đã là một dòng riêng biệt?
Nếu viết đúng theo âm thanh của một miền nào đó ở trong lời văn để diễn tả nhân vật có được gọi là đúng chính tả không?
Nếu không làm sao diễn đạt cho người đọc hiểu mình muốn nói về người miền nào?.. giai đoạn nào?.. nơi chốn nào?
Vì sau khi đọc các bài phân tích VX không còn biết làm sao viết cho đúng nữa?
Các vị bàn luận thật hay, Chúc các bạn vui vẻ và không có tỵ hiềm khi tranh cải.
Thân[:)][:)][:)]
Ta yêu hạt bụi vướng hài
Ta yêu từng sợi tóc mai phủ chiều
Ta yêu sóng mắt mỹ miều
Vì em giọt nắng cũng nhiều vấn vương...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Thanhvien</b> -- <b>30.6.2004 4:21:56 </b> &gt;>
Trích đoạn: alonewolf
trùi ui,chờ hoài mờ hổng có thía ai reply hít á hic hic


Sư đệ ui!

TV kiếm dùm sư đệ Luật của Xướng và Hoạ, mà kiếm hoài chưa có thấy.
Thôi, để TV hiểu sao thì bày lại y vậy cho sư đệ xem hén.

TV nghĩ rằng "Xướng và hoạ" là cách đối đáp với nhau bằng những dòng thơ.
Vậy thì nếu thơ của người ta là lục bát thì thơ của mình cũng phải 6, 8, v...v...
Nhưng lời lẽ, ý tứ trong câu thơ hoạ lại, phải là "đối đáp" lại với câu của người xướng.

Thí dụ như nữ sĩ Đoàn thị Điểm có một câu xướng Nho Nôm như sau :

Da trắng vỗ bì bạch.

"Da và trắng " là chữ Nôm, "Bì và bạch" là chữ Nho. Nhưng cả 4 chữ (Nho & Nôm) đều có ý nghĩa giống nhau.
Da đối với bì. Trắng đối với bạch.

Không nhớ là bà ĐTĐ đã xướng câu nầy với nho sĩ nào, nhưng dường như người đó "chịu thua", không hoạ lại được.

Sau nầy có những câu đối lại như sau :

Rừng sâu mưa lâm thâm.

hay

Trời xanh màu thiên thanh.

Hy vọng bài trả lời nầy sẽ giúp AW sư đệ... vui hơn 1 tí và hãy... "cười lên đi cho răng vàng sáng chói"...[:D][:D][:D]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Cái chính là Mars muốn thử xem cái tên đề tài của Topic này đã sửa được lỗi chưa

http://vnthuquan.net/diendan/tm.asp?m=16612&mpage=1&key=&#16908

Nhưng còn cái này nữa:

Sau nầy có những câu đối lại như sau :

Rừng sâu mưa lâm thâm.

hay

Trời xanh màu thiên thanh.


Hi Thanhvien,

Hai câu đối này hay lắm.
Nhưng câu "Trời xanh màu Thiên thanh" thì... màu "Thiên thanh"... là màu gì vậy? Người ta nói màu xanh da trời nhưng không biết màu Thiên thanh có thể dịch ra là xanh da trời được không? nếu dịch "Thiên thanh" ngang ra thì nó sẽ là "Trời xanh" mà màu trời xanh thì không có nghĩa cho lắm. Không biết các bạn cũng có ý nghĩ như vậy không?



Các bạn ở VNTQ có ai hiểu được luật của thể loại "Xướng và hoạ" không?


xin chào alonewolf,
Mars không hiểu luật thể loại của alonewolf nói là luật gì, nhưng nếu theo nghĩa của chữ Xướng đi kèm với chữ hoạ ở đây theo Mars hiểu là Xướng ở đây có nghĩa là khởi xướng còn Hoạ ở đây là phụ hoạ theo. Ví dụ như trong một dàn nhạc thì có một nhạc cụ làm âm thanh chính của bản nhạc và thường thì âm thanh sẽ rõ ràng còn các nhạc cụ khác sẽ phụ hoạ theo. Còn ở trong thơ ca thì một câu nêu lên một ý và câu sau sẽ phụ hoạ thêm vào.
Không biết các bạn có ý kiến như thế nào?

Nếu Mars có nói sai thì cũng đừng có cười nhé. Cùng nhau học hói mà [:D]
Thân mến,
Mars

----------------------------------

0
Trích đoạn: Mars

Hi Thanhvien,

Hai câu đối này hay lắm.
Nhưng câu "Trời xanh màu Thiên thanh" thì... màu "Thiên thanh"... là màu gì vậy? Người ta nói màu xanh da trời nhưng không biết màu Thiên thanh có thể dịch ra là xanh da trời được không? nếu dịch "Thiên thanh" ngang ra thì nó sẽ là "Trời xanh" mà màu trời xanh thì không có nghĩa cho lắm. Không biết các bạn cũng có ý nghĩ như vậy không?


Hi Mars,

Mars nói đúng lắm ! Thiên thanh dịch sang tiếng Việt thì đúng là màu xanh da trời.

Nhưng vì những câu đối nầy được viết bằng chữ Hán-Nôm, nên khi dịch ra tiếng Việt hiện đại thì không được "chỉnh" cho lắm.
Như TV biết thì chữ THANH trong Hán-Nôm có thể viết ra bằng 2 chữ khác nhau. Một được viết với bộ thuỷ, và chữ kia với bộ mộc.
THANH viết với bộ thuỷ thì là màu xanh của nước.
THANH viết với bộ mộc thì là màu xanh của lá.

TV biết sao thì nói vậy hén. Có gì sai thì mời các "cao nhân" ra tay "nghĩa hiệp chỉnh lại" dùm. [:D][:D]

Hy vọng câu trả lời của TV phần nào giải thích "thắc mắc" của Mars.[;)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Hi Mars,

Mars nói đúng lắm ! Thiên thanh dịch sang tiếng Việt thì đúng là màu xanh da trời.

Nhưng vì những câu đối nầy được viết bằng chữ Hán-Nôm, nên khi dịch ra tiếng Việt hiện đại thì không được "chỉnh" cho lắm.
Như TV biết thì chữ THANH trong Hán-Nôm có thể viết ra bằng 2 chữ khác nhau. Một được viết với bộ thuỷ, và chữ kia với bộ mộc.
THANH viết với bộ thuỷ thì là màu xanh của nước.
THANH viết với bộ mộc thì là màu xanh của lá.

TV biết sao thì nói vậy hén. Có gì sai thì mời các "cao nhân" ra tay "nghĩa hiệp chỉnh lại" dùm.

Hy vọng câu trả lời của TV phần nào giải thích "thắc mắc" của Mars.



Hay lắm và cũng có lý nữa. Cảm ơn ThanhVien đã giải thích thắc mắc dùm cho Mars [:)]
Thân mến,
Mars

----------------------------------

0
Sis TV đã trả lời rồi, nhưng TT muốn thêm vào cho rõ ràng hơn. Xướng và họa trong thi ca là sự đối đáp từ 2 người trở lên. Người xướng sẽ ra đề và những người kia đáp lại. Đề ở đây có thể là 1 câu đối, 1 câu thơ, hay cả 1 bài thơ để những người khác hoạ lại. Những câu hoạ phải thật chỉnh về âm luật, ý tứ với câu xướng. Thí dụ đơn giản: thiên đối với địa, gia thù đối với quốc hận, v.v. Thông thường, câu đối, thơ Đường thất ngôn bát cú, thơ Nôm rất thông dụng trong những cuộc thi xướng họa. Về sau, khi truyện Kiều phổ biến, những câu thơ và điển tích trong truyện Kiều được đưa ra làm đề tài.
Đó là những gì TT biết được, các bạn khác có gì bổ sung thêm không.
Thân mến


[image]http://vnthuquan.net/user/totam/Avatars/sig 01.JPG[/image]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Thanhvien</b> -- <b>11.6.2004 4:18:35 </b> &gt;>
Chân thành cảm ơn AW, ct. ly, Mars & Tố Tâm đã ủng hộ chuyên mục nầy.

Xin giới thiệu với các bạn bài viết "Tiếng Việt dễ mà khó" của Nguyễn Hưng Quốc.

Mời các bạn tham khảo và góp ý cho chuyên mục thêm sinh động.

Thành thật cảm ơn tất cả các bạn.

*****************************************************************************************************


Tiếng Việt Dễ Mà Khó


Nguyễn Hưng Quốc

Tiếng Việt vừa dễ vừa khó, đúng hơn, dễ mà lại khó. Dễ đến độ rất hiếm người Việt Nam nào cảm thấy có nhu cầu phải sắm một cuốn Từ Điển Tiếng Việt trong nhà. Dễ đến độ bất cứ người nào trưởng thành ở Việt Nam cũng đều có thể tưởng là mình thông thái, và nếu muốn, đều có thể trở thành nhà văn được.

Thế nhưng, chỉ cần, một lúc thảnh thơi nào đó, ngẫm nghĩ một chút về tiếng Việt, chúng ta bỗng thấy hình như không phải cái gì chúng ta cũng hiểu và có thể giải thích được.

Trước đây, có lần, đọc cuốn Trong Cõi của Trần Quốc Vượng, một nhà nghiên cứu sử học, khảo cổ học và văn hoá dân gian nổi tiếng ở trong nước, tới đoạn ông bàn về hai chữ "làm thinh", tôi ngỡ đã tìm thấy một phát hiện quan trọng. Theo Trần Quốc Vượng, "thinh" là thanh, âm thanh, hay là tiếng ồn. "Nín thinh" là kiềm giữ tiếng động lại, là im lặng. Thế nhưng "làm thinh" lại không có nghĩa là gây nên tiếng động mà lại có nghĩa là... im lặng. Cũng giống như chữ "nín thinh". Trần Quốc Vượng xem đó như là một trong những biểu hiện của Phật tính trong ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: "nín" và "làm" y như nhau; có và không y như nhau; ấm và lạnh cũng y như nhau (áo ấm và áo lạnh là một!); "đánh bại" và "đánh thắng" y như nhau. Quả là một thứ tiếng "sắc sắc không không", nói theo ngôn ngữ Phật giáo, hay "huyền đồng", nói theo ngôn ngữ của Trang Tử. (1)

Thú thực, đọc những đoạn phân tích như thế, tôi cảm thấy mừng rỡ và thích thú vô hạn.

Thế nhưng, chẳng bao lâu sau, đọc bài viết "Tìm nguồn gốc một số từ ngữ tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm" của Lê Trung Hoa, tôi lại bàng hoàng khám phá ra là chữ "làm thinh" thực chất chỉ là biến âm của chữ "hàm thinh" trong chữ Hán. "Hàm" có nghĩa là ngậm (như trong các từ: hàm ân, hàm oan, hàm tiếu, hàm huyết phún nhân...). "Hàm thinh" là ngậm âm thanh lại, không cho chúng phát ra, tức là không nói, tức là... im lặng. (2) Y như chữ "nín thinh". Nhưng sự giống nhau ở đây chỉ là sự giống nhau của hai từ đồng nghĩa, chứ chả có chút Phật tính hay Trang Tử tính gì trong đó cả.

Tôi mới biết là mình mừng hụt.

Một ví dụ khác: về hai chữ "vợ chồng".

Trước đây, đã lâu lắm, đọc cuốn Ngôn Ngữ và Thân Xác của Nguyễn Văn Trung, tôi thấy tác giả giải thích hai chữ "vợ chồng" đại khái như sau: "Chồng" là chồng lên nhau, nằm lên nhau. Còn chữ "vợ"? Nguyễn Văn Trung chỉ viết bâng quơ, trong câu chú thích in cuối trang: "chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi, theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?" (tr. 40)

Đọc đoạn ấy, tôi hơi ngờ ngờ, nhưng rồi cũng bỏ qua, không chú ý mấy. Gần đây, tôi sực nhớ lại vấn đề ấy khi đọc cuốn Phương Ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang. Tôi được biết là ở Bình Trị Thiên, thay vì nói cái "vai", người ta lại nói cái "bai"; thay vì nói đôi "vú", người ta lại nói đôi "bụ"; thay vì nói "vải", người ta lại nói "bải"; thay vì nói "vá" áo, người ta nói "bá" áo; thay vì nói "vả" (vào miệng) , người ta lại nói "bả" (vào miệng), v.v... Qua những sự hoán chuyển giữa hai phụ âm V và B như thế, tự dưng tôi nảy ra ý nghĩ: phải chăng nguyên uỷ của chữ "vợ" là... bợ? "Vợ chồng" thực ra là "bợ chồng"?

Tôi càng tin vào giả thuyết trên khi nhớ lại, trong tiếng Việt hiện nay, có cả hàng trăm từ nguyên thuỷ khởi đầu bằng phụ âm B đã biến thành V như thế. Nhiều nhất là từ âm Hán Việt chuyển sang âm Việt. Ví dụ: trong chữ Hán, chữ "bái" sang tiếng Việt thành "vái"; chữ "bản" sang tiếng Việt thành "vốn" và "ván"; chữ "bích" sang tiếng Việt thành "vách"; chữ "biên" sang tiếng Việt thành "viền"; chữ "bố" sang tiếng Việt thành "vải"; chữ "bút" sang tiếng Việt thành "viết"; chữ "bà phạn" sang tiếng Việt thành "và cơm", v.v...

Theo Nguyễn Tài Cẩn, trong cuốn Giáo Trình Lịch Sử Ngữ Ấm Tiếng Việt (sơ thảo), quá trình hoán chuyển từ B đến V kéo dài khá lâu cho nên hiện nay thỉnh thoảng cả hai biến thể B/V vẫn còn tồn tại song song với nhau, như: băm và vằm (thịt); be và ve (rượu hay thuốc); béo và véo; bíu và víu, v.v...

Chúng ta biết là hiện tượng tồn tại song song của hai biến thể như thế không phải chỉ giới hạn trong hai phụ âm B và V. Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, ngày xưa, từ khoảng thế kỷ 17 trở về trước, trong tiếng Việt có một số phụ âm đôi như BL (blăng, blời...), ML (mlầm) hay TL (tlánh). Đến khoảng thế kỷ 18, các phụ âm đôi ấy dần dần rụng mất. Điều đáng chú ý là khi những phụ âm đôi ấy rụng đi thì chúng lại tái sinh thành một số phụ âm khác nhau. Ví dụ phụ âm đôi TL sẽ biến thành TR hoặc L, do đó, hiện nay, chúng ta có một số chữ có hai cách phát âm và hai cách viết khác hẳn nhau, cùng tồn tại song song bên nhau, đó là các chữ tránh và lánh; trộ và lộ, trồi và lồi, trêu và lêu, trũng và lũng, trộn và lộn, trọn và lọn, trệch và lệch, trèo và leo, tràn và lan, v.v... Trong khi đó phụ âm đôi ML sẽ biến thành L hoặc NH, bởi vậy, chúng ta cũng có một số từ tương tự, như lầm và nhầm, lời và nhời, lẽ và nhẽ, lát và nhát, lạt và nhạt, lớn và nhớn.(3) Trong những cặp từ tương tự vừa kể, có một số chữ dần dần bị xem là phương ngữ hoặc là cách nói cổ, càng ngày càng ít nghe, như các chữ Nhớn, Nhời, và Nhẽ. Thay vào đó, chúng ta sẽ nói là lớn, lời và lẽ. Tuy nhiên, những chữ khác thì cho đến nay cũng vẫn còn tồn tại khá phổ biến, ví dụ chúng ta có thể nói là rượu lạt hoặc rượu nhạt; nói lầm lẫn hoặc nhầm lẫn; nói một lát dao hay một nhát dao đều được cả.

Đặt trong toàn cảnh mối quan hệ giữa hai phụ âm B và V cũng như quá trình biến đổi phụ âm đầu như thế, chúng ta sẽ thấy ngay giả thuyết cho nguồn gốc của chữ "vợ" trong "vợ chồng" là "bợ" rất có khả năng gần với sự thật. "Vợ chồng" như thế, thực chất là "bợ chồng". "Bợ": từ dưới nâng lên; "chồng": từ trên úp xuống. Danh từ "bợ chồng" diễn tả tư thế thân mật giữa hai người nam nữ khi ăn ở với nhau. Cách gọi tên khá thật thà như thế kể cũng thú vị đấy chứ?

Qua các trường hợp biến đổi từ "hàm thinh" thành "làm thinh" và từ "bợ chồng" thành "vợ chồng", chúng ta tiếp cận được một hiện tượng rất phổ biến trong tiếng Việt: hiện tượng biến âm. Biến âm không phải chỉ vì nói ngọng, kiểu "long lanh" thành "nong nanh" hay "nôn nao" thành "lôn lao" như một số người ở một số địa phương nào đó. Biến âm cũng không phải chỉ vì phương ngữ, kiểu "về" thành "dề" như ở miền Nam, hay "nhà" thành "dà" như ở một số làng huyện ở miền Trung, "trung trinh" thành "chung chinh" như ở miền Bắc. Điều đáng nói hơn là những hiện tượng biến âm xuất phát từ những quy luật nội tại của ngôn ngữ, những sự biến âm có mặt ở mọi vùng đất nước và nếu không tự giác và tốn công truy lục, chúng ta sẽ không thể nào tái hiện được nguyên dạng của nó. Chúng ta dễ ngỡ biến âm là chính âm. Dễ ngỡ nó tự nhiên là thế. Ví dụ, để diễn tả tâm sự buồn nào đó dần dần giảm nhẹ đi, chúng ta hay dùng chữ "nguôi ngoai". Đúng ra là "nguôi hoai". Trong các từ điển cổ, "hoai" có nghĩa là phai nhạt. Nghĩa ấy, cho đến bây giờ chúng ta vẫn dùng trong chữ "phân đã hoai". "Nguôi hoai" là từ ghép chỉ sự phai dần của một nỗi buồn, một niềm đau. Tương tự như vậy, chữ "yếu ớt" chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ "yếu nớt". "ớt" thì không có nghĩa gì cả. Trong khi "nớt" có nghĩa là sinh thiếu tháng, vẫn còn dùng trong từ "non nớt". "Yếu nớt", do đó, có nghĩa là yếu đuối, là non nớt. Chữ "nói mớ" thật ra là biến âm của chữ "nói mơ", nói trong giấc mơ. "Nước miếng" thật ra là biến âm của "nước miệng", nước chảy ra từ miệng, cùng cách kết cấu với các chữ nước mắt hay nước mũi. Chữ "to tát" hiện nay tất cả các từ điển đều viết với chữ T ở cuối, TáT; nhưng trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì lại viết chữ TáC kết thúc bằng C: "to tác", kèm theo lời định nghĩa là: thô kệch, lớn tác. Mà chúng ta đều biết chữ TáC có nghĩa là tuổi hay vóc dáng, như trong các từ tuổi tác, tuổi cao tác lớn, hay ngày xưa người ta nói bạn tác, tức bạn hữu; trang tác, tức cùng lứa, cùng tuổi với nhau. (4)

Các con số đếm, nơi rất cần sự chính xác, cũng không thoát khỏi luật biến âm. Như số 1, chẳng hạn. Đứng một mình là một. Đứng trước các con số khác cũng là một. Nhưng khi đứng sau các con số khác, trừ số 10, nó lại biến thành "mốt": hai mươi mốt; ba mươi mốt, bốn mươi mốt. Những chữ "mốt" ấy chính là biến âm của "một". Nhưng không phải lúc nào "mốt" cũng có nghĩa là một: "Mốt" trong một trăm mốt hay trong một ngàn mốt, một triệu mốt... không phải là một. Con số 5 cũng vậy. Đứng một mình là năm. Đứng trước các số khác cũng là năm. Nhưng khi đứng sau các số, từ 1 đến 9, nó lại biến thành "lăm": mười lăm, hai mươi lăm... Con số hai mươi lăm ấy lại được biến âm thêm một lần nữa, thành hăm nhăm. Số ba mươi lăm cũng thường được biến âm thành băm nhăm. Từ số bốn mươi lăm trở lên thì chỉ có một cách rút gọn là bốn lăm; năm lăm, sáu lăm, bảy lăm, tám lăm, và chín lăm chứ không có kiểu biến âm như hăm nhăm và băm nhăm. Con số 10, cũng vậy. 10 là mười. Nhưng từ 20 trở lên thì "mười" biến thành "mươi": hai mươi, ba mươi, bốn mươi... Dấu huyền bị biến mất. Có điều, "mươi" không phải lúc nào cũng có nghĩa là mười. Trong nhóm từ "mươi cái áo", chẳng hạn, "mươi" lớn hơn hoặc nhỏ hơn mười: một con số phỏng định, ước chừng, bâng quơ.

Con số còn thay đổi được, huống gì những từ khác. Như từ "không", chẳng hạn. Phủ định điều gì, người ta có thể nói "không", mà cũng có thể nói "hông", nói "khổng", nói "hổng". Xuất hiện trong câu nghi vấn, chữ "không" ấy có thể có thêm một biến âm khác là "hôn": "nghe hôn?" Chưa hết. Một số âm vị trong cụm "nghe hôn" ấy bị nuốt đi; "nghe hôn" biến thành "nghen", rồi đến lượt nó, "nghen" lại biến thành "nghén" hay bị rút gọn lần nữa, thành "nhen", rồi "hen", rồi "hén", rồi "nhe", v.v...

Như vậy, biện pháp biến âm trở thành một biện pháp tạo từ. Đã có từ "vậy", chỉ cần thay dấu nặng bằng dấu huyền, chúng ta có từ mới: "vầy" (như vầy này!). Đã có từ "lui hui", người ta tạo thêm các chữ "lúi húi" rồi "lụi hụi". Đã có từ "chừ bự", người ta tạo thêm các từ mới: chư bư, chừ bư, chừ bử, chử bử, chứ bứ, chự bự. Đã có "trật lất", người ta tạo thêm: trết lết, trét lét, trớt lớt, trớt huớt... (5) Đã có từ "ngoại" vay mượn từ chữ Hán, chúng ta tạo thêm hay từ khác: "ngoài" để các quan hệ không gian cũng như thời gian và "ngoái" để chỉ quan hệ về thời gian: "năm ngoái".

Biện pháp biến âm như vậy đã dẫn đến một hiện tượng khá thú vị trong tiếng Việt: hiện tượng từ tương tự, tức những từ hao hao gần nhau về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa, chẳng hạn: các chữ bớt và ngớt; đớp, tợp, hớp và đợp; bẹp, xẹp, lép, khép, nép và nẹp; khan, khàn và khản; xẻ, chẻ, bẻ và xé; xoăn, xoắn, quăn và quắn; tụt, rụt và thụt; véo, nhéo, và béo; v.v...

Các từ tương tự ấy có khi khác nhau về từ loại nhưng lại tương thông tương ứng với nhau về ý nghĩa, chẳng hạn: chúng ta có cái nẹp để kẹp, cái nêm để chêm, cái nan để đan, cái mõ để gõ, cái nệm để đệm, cái vú để bú; hoặc chúng ta cưa thì thành khứa, rung thì rụng, phân thì có từng phần, dựng thì đứng, thắt thì chặt, đập thì giập, dìm thì chìm, ép thì ẹp, dứt thì đứt, chia thì lìa, gạn thì cạn, v.v....

Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ "đút" trong một câu văn không có gì đặc biệt: "Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần..." Từ chữ "đút" ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ "rút": cả hai từ làm thành một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra).

Điều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: "-ÚT". Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm "đ-" (đút) và một chữ bằng phụ âm "r-" (rút). Hơn nữa, cả từ "đút" lẫn từ "rút", tuy phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển từ không gian này sang không gian khác. "Đút" cái gì vào túi hay "rút" cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không gian ngoài túi hoặc ngược lại.

Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần "-ÚT" khác trong tiếng Việt và thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. "Sút" là động tác đưa bóng vào lưới. "Hút" là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. "Mút" cũng là động tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác "hút" ở chỗ vật thể được "mút" thường là cái gì đặc. "Trút" là đổ cái gì xuống. "Vút" là bay từ dưới lên trên. "Cút" là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. "Nút" hay "gút" là cái gì chặn lại, phân làm hai không gian khác nhau.

Thay dấu sắc (ÚT) bằng dấu nặng (ỤT), ý nghĩa chung ở trên vẫn không thay đổi. "Trụt" hay "tụt" là di chuyển từ trên xuống dưới. "Vụt" là di chuyển thật nhanh, thường là theo chiều ngang. "Lụt" là nước dâng lên quá một giới hạn không gian nào đó. "Cụt" là bị cắt ngang, không cho phát triển trong không gian. "Đụt" (mưa) là núp ở một không gian nào đó, nhỏ hơn, để tránh mưa ngoài trời. Vân vân.

Nếu những động từ có vần "-ÚT" thường ám chỉ việc di chuyển (hoặc việc ngăn chận quá trình di chuyển ấy) giữa hai không gian thì những động từ có vần "-UN" lại ám chỉ việc dồn ứ lại thành cục trong một không gian nhất định nào đó, thường là có giới hạn. "ùn", "chùn", "dùn", hay "đùn" đều có nghĩa như thế. "Thun" hay "chun" cũng như thế, đều chỉ cái gì bị rút, bị co. "Cùn" là bẹt ra. "Hùn" là góp lại. "Vun" là gom vào. "Lún" hay "lụn" là bẹp xuống. Cả những chữ như "lùn" hay (cụt) "lủn", (ngắn) "ngủn", "lũn cũn"... cũng đều ám chỉ cái gì bị dồn nhỏ hay thu ngắn lại.

Với cách phân tích như vậy, nếu đọc thật kỹ và thật chậm các cuốn từ điển tiếng Việt, chúng ta sẽ dễ thấy có khá nhiều khuôn vần hình như có một ý nghĩa chung. Chẳng hạn, phần lớn các động từ hay tính từ kết thúc bằng âm éT hay ẹT đều chỉ những động tác hay những vật thể hẹp, thấp, phẳng. "Kẹt" là mắc vào giữa hai vật gì; "chẹt" là bị cái gì ép lại. "Dẹt" là mỏng và phẳng; "tẹt" là dẹp xuống (kiểu mũi tẹt); "bét" là nát, dí sát xuống đất; "đét" là gầy, mỏng và lép. Những dộng từ kết thúc bằng âm EN thường chỉ các động tác đi qua một chỗ hẹp, một cách khó khăn, như: "chen", "chẹn", "chèn", "len", "men", "nghẽn", "nghẹn", "nén". Những từ láy có khuôn vần ỨC - ÔI thì chỉ những trạng thái khó chịu, như "tức tối", "bức bối", "bực bội", "nực nội", "nhức nhối", v.v...

Những ví dụ vừa nêu cho thấy hai điều quan trọng:

Thứ nhất, nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ phát hiện trong những chữ quen thuộc chúng ta thường sử dụng hàng ngày ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng. Tính chất bí ẩn ấy có thể nói là vô cùng vô tận, dẫu tìm kiếm cả đời cũng không hết được. Điều này khiến cho không ai có thể an tâm là mình am tường tiếng Việt. Ngay cả những nhà văn hay nhà thơ thuộc loại lừng lẫy nhất vẫn luôn luôn có cảm tưởng ngôn ngữ là một cái gì lạ lùng vô hạn.

Thứ hai, vì có những quy luật, những điểm chung tiềm tàng giữa các chữ như vậy cho nên việc học tiếng Việt không quá khó khăn. Nói chung, người Việt Nam đều có khả năng đoán được ý nghĩa của phần lớn các chữ mới lạ họ gặp lần đầu. Lần đầu gặp chữ "thun lủn", chúng ta cũng hiểu ngay nó ám chỉ cái gì rất ngắn. Lý do là vì chúng ta liên tưởng ngay đến những chữ có vần "UN" vừa kể ở trên: cụt ngủn, ngắn ngủn, v.v... Lần đầu gặp chữ "dập dềnh", chúng ta cũng có thể đoán là nó ám chỉ một cái gì trồi lên trụt xuống do sự liên tưởng đến những chữ có khuôn vần tương tự: bấp bênh, gập ghềnh, khấp khểnh, tập tễnh, v.v...

Nói tiếng Việt vừa dễ vừa khó là vì thế.



Chú thích:

1. Trần Quốc Vượng (1993), Trong Cõi, Garden Grove: Trăm Hoa, tr. 169.

2. Lê Trung Hoa, "Tìm nguồn gốc một số từ ngữ tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm", in trong cuốn Những vấn đề văn hoá, văn học và ngôn ngữ học (nhiều tác giả), nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999: 211-225.

3. Xem bài "Vài chuyển biến trong phụ âm đầu tiếng Việt và các hiện tượng láy từ liên hệ" của Nguyễn Phú Phong trên Tập san Khoa Học Xã Hội (Paris) số 3 năm 1977, tr. 73-80.

4. Một số ví dụ trong đoạn này lấy từ bài viết của Lê Trung Hoa theo sách dẫn trên.

5. Biện pháp biến âm này đặc biệt thông dụng trong phương ngữ miền Nam. Có thể xem thêmcuốn Từ Điển Phương Ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái, Lê Văn Đức và Nguyễn Công Khai, nxb Thành Phố HCM, 1994
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Thêm một bài viết về Tiếng Việt. Mời các bạn tham khảo.

*********************************************************************


Dấu "Hỏi Ngã" Trong Văn Chương Việt Nam

Tác giả: Cao Chánh Cương


Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau. Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính tri... , nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn. Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.

Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung (người viết bài này là người miền Trung). May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi...

Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.

Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.

A. LUẬT BẰNG TRẮC

Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau.

1. Luật lập láy

Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả. Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang...

2. Luật trắc

Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi).

Thí dụ:

Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.

Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.

Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.

Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.

Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang,...

3. Luật bằng

Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).

Thí dụ:

Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.

Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.

Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.

Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,...


B. CHỮ HÁN VIỆT

Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ,... tất cả đều do chữ Hán mà ra.

Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:

Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, cá chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.

Thí dụ:


Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.

Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.

Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.

Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.

Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.

Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,...

Để thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:

"Dân Là Vận Mệnh Nước"

để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.


C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC

1. Trạng từ (adverb)

Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:

Thôi thế cũng được. Trạng từ cũng viết với dấu ngã.

Xin anh đừng trách em nữa. Trạng tự nữa viết với dấu ngã.

Chắc anh đã mệt lắm rồi. Trạng từ đã viết với dấu ngã.


2. Tên họ cá nhân và quốc gia

Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:

Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến...

Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.

Nước Mỹ, A phú Hãn,...

Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.

3. Thừa trừ

Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.

Thí dụ:

Anh bỏ em đi lẻ một mình. Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.

Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.


D. KẾT LUẬN

Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.

Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thược vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam. Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.


CAO CHÁNH CƯƠNG

Trích tài liệu khóa Tu nghiệp Sư phạm 1991
Của các Trung tâm Việt ngữ Miền Nam Cali
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
TV xin tiếp tục với những chữ đồng âm dị nghĩa của tiếng Việt.
Nhân đọc các truyện ngắn, dài của VN lúc gần đây, TV nhận thấy có rất nhiều chữ viết sai chính tả cũng như ý nghĩa. Xử dụng sai nhiều nhất là hai chữ sau đây :

Chiều hay chìu?

Chiều = buổi chiều, chiều hướng, chiều tà.

Chìu = chìu chuộng, chìu ý, chìu theo, nuông chìu.

Trong các câu chuyện mà TV có dịp ghé mắt qua, toàn là viết "chiều" cho cả 2 nghĩa, thay vì "chìu" cho ý nghĩa "chìu theo ý muốn". [:o][:@][&amp;:]

Nếu các bạn nhận thấy có những chữ viết sai chánh tả hay có thắc mắc chi thì xin hãy thẳng thắn góp ý nơi đây.
Thành thật cảm ơn cả nhà. [:D][:D]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
TV tiếp tục với lỗi chánh tả của tiếng Việt nha.


"Làm dùm"
hay "làm giùm"?


Ngày xưa TV học ở VN và sau này ở hải ngoại :

Viết chữ D= ( dở dang, dấu yêu, dồi dào, làm dùm, dùm ơn, đóng dấu, làm dấu.......)
Những người gốc Bắc thì vẫn viết với chữ D nhưng mà khi nói, hay đọc thì họ phát âm với "GI".
Cũng như người miền Nam nói "đi dề" , nhưng khi viết họ vẫn viết "đi về" , hoặc nói "la-de", nhưng viết vẫn là "la-ve".

Còn bây giờ thì...chánh tả thay đổi hết rồi, TV đọc mấy truyện hiện đại mà "chóng mặt" luôn với những chữ được "thay hình, đổi dạng". Thí dụ : TV học hồi đó, "xử dụng, xử lý, xử tử, xử sự..." Bây giờ, thì thấy in trong sách là "sử dụng"... [:-]

Có lẽ do thói quen nên TV bị chóng mặt chăng?!! Nếu chung quanh mình người ta viết trúng / sai thì... một thời gian sau mình cũng sẽ bị ảnh hưởng theo cái đúng / sai của số đông đó! "Đa số thắng thiểu số" mà ![8|][&amp;o]

TV có đăng một bài "Chữ nghĩa bề bề" trong mục "tuỳ bút, tản văn". Nếu ai có rảnh ghé đọc thì sẽ thấy điều mà TV muốn trình bày.

Bạn nào có thắc mắc chi hay có ý kiến gì thì lên tiếng nhé.[:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
TV thân,
Câu hỏi "làm dùm" hay "làm giùm" của TV làm SH cực kỳ thú vị vì trong vốn từ của SH cả hai từ "dùm" hay "giùm" đều đơn giản là KHÔNG TỒN TẠI, SH sẽ chỉ nói đơn giản là "làm giúp" hay "làm hộ" thôi!!! Từ đây suy ra SH mạnh dạn cho rằng "làm giùm" có vẻ "đúng hơn".[;)]

Còn "sử dụng" thì từ nhỏ tới to SH cũng chỉ thấy viết như vậy , do đó cũng ko thấy lý do gì phải viết khác đi, còn đúng sai thì chịu thôi. [:D]


seahawk1
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>seahawk1</b> -- <b>30.6.2004 20:44:28 </b> &gt;>
SH là dân HN nên chưa bao giờ thấy có từ "chìu" nào trong ngôn ngữ hàng ngày cả. Cho dù là "buổi chiều" hay "chiều chuộng" cũng là một từ thôi. Nhiều trường hợp trong tiếng Việt khác biệt trong phát âm giữa các địa phương đã dẫn tới một số trường hợp "mới mà không phải mới, nhầm mà không phải nhầm" trong tiếng Việt.

Đơn cử "nhân" là một từ Hán Việt có nghĩa là "người", nhưng vào miền Nam lại trở thành "nhơn". Chẳng ai sai cũng chẳng ai đúng cả, cũng như người Anh viết "centre" còn người Mỹ lại viết "center" thôi.
Một vài ví dụ thú vị nữa là một số họ tiếng Việt: Vũ ở miền Bắc ---&gt; Võ ở miền Nam.
Hoàng ở miền Bắc ----&gt; Huỳnh ở miền Trung và Nam
Chu ở miền Bắc ---&gt; Châu ở miền Nam (chẳng thế đến bây giờ đọc đến cái tên "Đông Châu liệt quốc" SH vẫn thấy ngang ngang).

Một khác biệt thú vị nữa là chuyện sử dụng đại từ nhân xưng, có những cách dùng cửa miệng với người miền Nam thì người miền Bắc lại KHÔNG BAO GIỜ sử dụng:

"cổ" (Nam) ----&gt; "cô ta" hay "cô ấy" (tuỳ trường hợp - với người Bắc).
"chỉ" (miền Nam) ----&gt;"chị ta" hay "chị ấy" (với người Bắc).

Còn về chuyện băn khoăn giữa dấu "ngã" và dấu "hỏi" SH cảm thấy dân HN như SH chưa bao giờ gặp phải khó khăn nào, ngược lại do cách phát âm mà ở một số địa phương (chẳng hạn như ở Thanh Hoá, còn ở miền Nam thế nào SH cũng ko rành lắm) một số từ chỉ khác nhau trong cách phát âm do sự có mặt của một trong hai thanh này gần như được phát âm trùng làm một, điều này mang tính đặc trưng địa phương và đương nhiên gây ra khó khăn trong khi viết. Sự trùng lặp trong phát âm của người HN dễ thấy nhất là giữa hai phụ âm "tr" và "ch" gần như ko phân biệt.

Cũng cần thấy bảng chữ cái Latin chúng ta du nhập từ châu Âu vốn hình thành trong thời gian rất dài và trở nên tương thích với các ngôn ngữ đa âm tiết và sử dụng biến đổi cấu trúc từ, hai yếu tố hoàn toàn vắng mặt trong tiếng Việt. Chúng ta mới thực sự chỉ có hơn một thế kỷ để dung hoà giữa phần xác phương Tây với phần hồn phương Đông của tiếng Việt hiện đại, đồng thời sự du nhập của chữ cái latin vào VN lại trùng lặp một cách không may mắn vào thời kỳ VN thưỡng xuyên rơi vào chia cắt, chiến tranh nên việc thống nhất một hình thức viết tiêu chuẩn quả không đơn giản.
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Thanhvien</b> -- <b>30.6.2004 21:02:57 </b> &gt;>
Trích đoạn: seahawk1

SH là dân HN nên chưa bao giờ thấy có từ "chìu" nào trong ngôn ngữ hàng ngày cả. Cho dù là "buổi chiều" hay "chiều chuộng" cũng là một từ thôi. Nhiều trường hợp trong tiếng Việt khác biệt trong phát âm giữa các địa phương đã dẫn tới một số trường hợp "mới mà không phải mới, nhầm mà không phải nhầm" trong tiếng Việt.

SH1 là dân HN 100% thì dĩ nhiên là học khác rồi. Lúc Nam Bắc phân chia. Dân trong Nam học tiếng Việt như TV đã viết trong những bài trước. Sau năm 75, một số người Việt cả 3 miền Nam, Trung, Bắc di cư sang hải ngoại. TV tiếp tục học tiếng Việt ở hải ngoại. Và những người bạn TV biết thì họ cũng học giống TV thôi. Ngược lại, những ai sống ở VN một thời gian sau ngày thống nhất, không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của cách giảng dạy mới, thì phải thích ứng thôi.


Đơn cử "nhân" là một từ Hán Việt có nghĩa là "người", nhưng vào miền Nam lại trở thành "nhơn". Chẳng ai sai cũng chẳng ai đúng cả, cũng như người Ahn viết "centre" còn người Mỹ lại viết "center" thôi.
Một vài ví dụ thú vị nữa là một số họ tiếng Việt: Vũ ở miền Bắc ---&gt; Võ ở miền Nam.
Hoàng ở miền Bắc ----&gt; Huỳnh ở miền Trung và Nam
Chu ở miền Bắc ---&gt; Châu ở miền Nam (chẳng thế đến bây giờ đọc đến cái tên "Đông Châu liệt quốc" SH vẫn thấy ngang ngang).

Một khác biệt thú vị nữa là chuyện sử dụng đại từ nhân xưng, có những cách dùng cửa miệng với người miền Nam thì người miền Bắc lại KHÔNG BAO GIỜ sử dụng:

"cổ" (Nam) ----&gt; "cô ta" hay "cô ấy" (tuỳ trường hợp - với người Bắc).
"chỉ" (miền Nam) ----&gt;"chị ta" hay "chị ấy" (với người Bắc).

Còn về chuyện băn khoăn giữa dấu "ngã" và dấu "hỏi" SH cảm thấy dân HN như SH chưa bao giờ gặp phải khó khăn nào, ngược lại do cách phát âm mà ở một số địa phương (chẳng hạn như ở Thanh Hoá, còn ở miền Nam thế nào SH cũng ko rành lắm) một số từ chỉ khác nhau trong cách phát âm do sự có mặt của một trong hai thanh này gần như được phát âm trùng làm một, điều này mang tính đặc trưng địa phương và đương nhiên gây ra khó khăn trong khi viết. Sự trùng lặp trong phát âm của người HN dễ thấy nhất là giữa hai phụ âm "tr" và "ch" gần như ko phân biệt.

Những gì SH1 phân tách, TV hoàn toàn đồng tình. Thật đúng là như vậy. Trong những chuyện của các tác giả miền Nam như Hồ Biểu Chánh chẳng hạn, ông dùng từ "nhơn" nhiều hơn "nhân". Người Bắc phát âm hỏi ngã chuẩn hơn người miền Nam (miền Trung thì TV hổng biết). TV bị "sửa lưng" hoài hà.[:(] Người Bắc thì hay lộn "tr" và "ch" - họ phát âm "chả lụa" , nhưng lại viết là " trả lụa"... Ngược lại người Nam phát âm không chuẩn, nhưng những ai có đi học đều viết đúng hết, kể cả các em học tiếng Việt đang sống ở hải ngoại. Hú hồn ![;)]

Cũng cần thấy bảng chữ cái Latin chúng ta du nhập từ châu Âu vốn hình thành trong thời gian rất dài và trở nên tương thích với các ngôn ngữ đa âm tiết và sử dụng biến đổi cấu trúc từ, hai yếu tố hoàn toàn vắng mặt trong tiếng Việt. Chúng ta mới thực sự chỉ có hơn một thế kỷ để dung hoà giữa phần xác phương Tây với phần hồn phương Đông của tiếng Việt hiện đại, đồng thời sự du nhập của chữ cái latin vào VN lại trùng lặp một cách không may mắn vào thời kỳ VN thưỡng xuyên rơi vào chia cắt, chiến tranh nên việc thống nhất một hình thức viết tiêu chuẩn quả không đơn giản.



Hiện tại TV có thể tóm tắt là có 2 thứ tiếng Việt:
Tiếng Việt hải ngoại, và tiếng Việt trong nước. Cũng như tiếng Anhtiếng Mỹ thôi.

Tiếng Việt ở hải ngoại " chiều" này chỉ dùng cho "chiều hướng, chiều tối, chiều dài, chiều ngang, chiều cao" Còn "chìu" này, dùng cho "nuông chìu, chìu ý, chìu chuộng ". Đấy là tiếng Việt của trước năm 75 và ở hải ngoại đấy. Tuy nhiên, có những người sống lâu ở VN rồi mới sang hải ngoại thì họ sẽ viết như họ được dạy dỗ. Không thể nói đúng hay sai. Số đông sẽ thắng.

Câu hỏi "làm dùm" hay "làm giùm" của TV làm SH cực kỳ thú vị vì trong vốn từ của SH cả hai từ "dùm" hay "giùm" đều đơn giản là KHÔNG TỒN TẠI, SH sẽ chỉ nói đơn giản là "làm giúp" hay "làm hộ" thôi!!! Từ đây suy ra SH mạnh dạn cho rằng "làm giùm" có vẻ "đúng hơn".


Còn từ "làm dùm, dùm ơn" là của người Nam 100%. Ngày nào TV còn thở, ngày đó từ "làm dùm" sẽ còn được xử dụng, TV dám mạnh dạn khẳng định như vậy đó ! [8D][:D][:D]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Bài nầy được "chôm" từ TVVN online.

*****************************************************


CHỮ NGHĨA BỀ BỀ


Đặng Trần Huân



Thấm thoắt mục này mỗi tháng chỉ có một bài ngăn ngắn mà đã quá nửa năm rồi, trèo sang cả thiên niên kỷ lộn (vì năm 2001 mới bắt đầu). Nói ngọt, nói nhẹ người tán thành nhiều mà người giận cũng không phải ít. Trong số thư độc giả cũng có nhiều vấn đề được nêu lên, người viết xin có đôi lời trần tình.

Có vị nói viết như mục này không phải là phê bình văn học. Xin thưa ngay mấy tiếng phê bình văn học nghe đao to búa lớn quá kẻ này không đủ khả năng và không dám nhận.

Mục đích của người viết - nằm ở một nơi xa thị tứ, thiếu tài liệu tham khảo - chỉ tình cờ đọc được cuốn sách hoặc xem được cuốn phim, nghe được bài hát nào thấy là lạ thì phát biểu ý kiến về tác phẩm đó, ý kiến của một đọc giả, một khán thính giả có trình độ kiến thức trung bình như đa số. Vì vậy có khi chỉ nói lên sự thích thú hay nỗi bực mình chủ quan với cả tác phẩm, có khi chỉ là góp ý cho một câu, một đoạn mà thấy cần phải nêu lên. Cũng không câu nệ là tác phẩm mới ra hay đã cũ mèm. Không cứ mới mà hay và cũ như Kiều mà dở. Cũng như bây giờ mới được đọc thì cũ người mới ta, coi xong phải xuýt xoa hay nhăn nhó. Cũng như không phải một ca khúc được chính tác giả trình bày thì hay hơn người khác. Có khi tác giả chỉ giỏi về sáng tác mà không có giọng ca trời cho. Mà người đi xem vì ái mộ nhà soạn nhạc nên muốn thấy cái dung nhan mùa hạ.
Chính khi nói với vài bạn trong giới văn nghệ về mục này có bạn thân chỉ ở cách vài dặm đã cười hề hề và nói:
- Ông viết như thế thì bố ai dám gửi sách, gửi cho ông để ông mang ra diễu hả?

Cũng có nhiều nhận xét mà độc giả cho là sai, quá đáng hay không đồng ý, chúng tôi sẽ viết lại, nói lại để nhiều người đóng góp. Vừa để tìm ra chân lý, vừa phục thiện và được học thêm.

ĐẶNG TRẦN HUÂN
(Trích báo đầu năm 2000)
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Cũng Đủ Lãng Quên Đời

Người Việt có câu ca dao: "Lời nói chẳng mất tiền mua. Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau". Vì thế đi đâu đâu, mọi cơ hội giỗ Tết, cưới hỏi, tiệc tùng, tiếp tân, mừng con đỗ đạt, ra mắt sách, khai trương ta nghe tràn đầy những lời chúc tụng tốt đẹp, văn hoa, những lời giới thiệu, những câu tâng bốc, khen ngợi nhau ngọt hơn mật ong.

Trong lãnh vực văn chương thì những lời khen ngợi còn lên cao độ, siêu đẳng vì các nghệ sĩ là gì, nếu chẳng phải là những chuyên viên làm cho mọi sự đời thêm hồng, thêm thắm. Đây không phải là chuyện mới lạ mà là chuyện từ ngàn xưa. Còn nhớ khi văn Nôm bắt đầu có, và truyện Kiều của Nguyễn Du ra đời thì đã có biết bao nhà văn nhà báo ca tụng tác phẩm này. Số sách báo ca tụng Kiều chắc dầy gấp mấy chục lần chính cuốn Kiều. Tuy cũng có người chê Kiều nhưng chỉ chê một khía cạnh nào đó như trường hợp học giả Huỳnh Thúc Kháng.

Điển hình về những lời ca tụng Kiều chắc phải là nhà văn Phạm Quỳnh. Khi đó, ngày 8. 9. 1924, Phạm Quỳnh tổ chức một cuộc nói chuyện về truyện Kiều ở trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội với hai diễn giả làTrần Trọng Kim và chính ông. Phạm Quỳnh ca tụng Kiều với một giọng say sưa, xuất thần như trong mộng. Ông nói Kiều là một áng văn hay nhất thế giới, không nói đâu xa chỉ so sánh với văn học hai nước trực tiếp ảnh hưởng tới Việt Nam hồi đó là Pháp và Trung Hoa thì Kiều cũng xếp hạng trên cơ rồi.
Ông thao thao ca tụng Kiều vừa là kinh vừa là truyện vừa là thánh thư Phúc âm của dân tộc là quốc hồn quốc túy. Phạm Quỳnh nói như hát rằng:
"Thử hỏi cổ kim đông tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa?. . ." Than ôi mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ sửng sốt rụng rời, tưởng như hòn ngọc trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan tành. Rồi mới tỉnh ra sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ nhịp rung đùi, lớn giọng cao ngâm: "Lơ thơ tơ liễu . . ." bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời: truyện Kiều còn, nước ta còn . . .
Nghe đã thấy mê ly ngây ngất chưa?

Những lời văn của Phạm Quỳnh có ảnh hưởng chăng tới các thế hệ phê bình đi sau không? Hay là những linh hồn lớn gập nhau, các nhà phê bình giới thiệu những thế hệ sau cũng luôn luôn có những lời mật ngọt.

Hồi sinh thời y sĩ đại tá Nguyễn Tuấn Phát, ông có viết những bài phiếm về y học trên vài tờ báo Sài Gòn. Ông cũng vẽ và làm thơ. Ông viết có duyên, ngoài đời ông rất vui vẻ, cởi mở, có cảm tình với anh chị em nghệ sĩ. Có lần người viết bài này tặng sách ông đề nghị đề tặng: "Tặng anh Nguyễn Tuấn Phát, người nghệ sĩ lạc đường vào y học", ông dẫy nảy lên đáp "Đừng đề thế, mày! Chẳng gì nghề bác sĩ cũng nuôi sống mình, không nên bội bạc”.
Khi xuất bản cuốn sách đầu tay và duy nhất "Một Vài Cảm Nghĩ Của Người Thầy Thuốc", Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát được đón nhận với nhiều nồng nhiệt, và những nhà văn quen biết ông cũng dành cho ông những cảm tình đặc biệt. Một phần cũng nhờ các đơn vị cảm mến ông y sĩ trưởng của ngành, cuốn sách được tái bản ngay vài tháng sau đó. Một nhà văn có tiếng đã viết bài giới thiệu sách có một câu đại ý là Lâm Ngữ Đường viết "Một Nghệ Thuật Sống" thật là xuất sắc nhưng so với Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát thì còn kém xa. Vị bác sĩ nghệ sĩ đọc lời phê bình, má hơi ửng đỏ.

Trên Sài Gòn Nhỏ số ra ngày 17. 1. 1997, Tố Mai kể rằng nhà thơ Hà Thượng Nhân viết bài khen bài "Bát Phở Đầu Đời" của Nguyễn Tử Đóa như sau:
"Chỉ với bài thơ nhỏ tôi dám nghĩ rằng Nguyễn Tử Đóa có cái phong cách của Bạch Cư Dị lẫn Đỗ Phủ. Bạch trong sáng và Đỗ thẳm sâu."

"Trong Đêm Giữa Ban Ngày", Vũ Thư Hiên kể Kim Lân có một truyện ngắn nhan đề Thằng Câm và so sánh Kim Lân với văn hào Nga Tourgueniev cho rằng nhà văn Nga này khó vượt nổi được Kim Lân.

Lúc thanh niên, Kim Lân có dịp tới thăm tôi vì quê anh ở Phù Lưu (Bắc Ninh) cách làng tôi chỉ một cánh đồng, và anh em vẫn thường gọi là Tài Rỏm (tên thật Nguyễn Văn Tài) vì anh ốm yếu gày gò, lúc đó mới bắt đâu tập viết. Nếu tôi không lầm thì hình như Kim Lân chỉ có một tác phẩm khác là Vợ Nhặt. Bây giờ mới thấy Vũ Thư Hiên ca tụng Kim Lân với truyện Thằng Câm viết nhưng chưa bao giờ đăng báo, còn ở trong vòng bí mật.

Khi viết lời giới thiệu cho tập truyện "Tiểu Thư Con Gái Nhà Ai?" của Hoàng Dược Thảo, Trần Bích San cũng liên hệ tới nhà văn Nga Chekhov và viết:
"Anton Chekhov để lại cho nhân loại những truyện ngắn hoàn hảo đến độ một ngự sử văn học danh tiếng Tây phương cho là không ai có thể thay đổi một chữ, dù chỉ một chữ thôi, trong các đoản thiên của ông."
Khi đọc đoạn văn này, có người bạn ngồi bên cạnh tôi đã nói đùa:
- Thay đổi luôn cả câu hay bỏ luôn cả truyện cũng được. Có chết ai đâu?

Thói quen dẫn chứng quá nhiều bằng văn học ngoại quốc, ít tự tin vào văn tài của mình, mà thích dựa vào bóng một cây cổ thụ sẵn có khiến người ta nhớ đến những đoạn văn của nhà phê bình Trương Tửu viết trong cuốn Kinh Thi Việt Nam từ hơn năm chục năm trước.

Đại ý Trương Tửu thắc mắc sao hồi đó có thể có những con người Việt Nam từ đầu móng chân đến cuối sợi tóc mà lại chỉ đi tìm thú văn chương, thú tinh thần ở những thơ Quan Thư, Cát Đàm, Thảo Trùng, Hàng Lộ của Kinh Thi là một tác phẩm thuần chất Trung Hoa.

Ông cũng dẫn chứng câu Khổng Tử nói Bất học Thi vô dĩ ngôn, không đọc Kinh Thi thì không có chuyện gì mà nói và cho rằng câu đó chỉ đúng với đồng bào Tàu của ông Khổng Tử chứ đâu đúng với chúng ta.
Từ xưa hàng chục triệu người Việt không hề biết tới Kinh Thi trong ngũ kinh Trung Quốc thì họ không nói được hay sao? Có hay không có Kinh Thi với người Việt có hề chi?

Khi không muốn dẫn chứng bằng văn phẩm ngoại quốc để so sánh, một vài tác giả có tinh thần độc lập đôi khi lại chủ quan thổi phồng giá trị tác phẩm.

Bài thơ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ của Truy Phong đăng trên tuần báo Tiến Thủ được Sơn Nam nhận xét là “một trong những bài thơ đẹp nhất của thế kỷ hai mươi”.

Xuân Vũ khi giới thiệu cuốn Qua Các Nẻo Đường Quê của Xuân Tước xuất bản năm 1994, ca tụng truyện ngắn Con Rắn Vú Nàng như sau:

Trước nhất đây là một truyện ngắn kiệt xuất có thể xếp vào loại truyện hay nhất Việt Nam. Nếu có nhà xuất bản nào in một tập truyện chọn lọc Việt Nam thì xin hãy đọc truyện này . . .

Theo tôi, nói về cuộc sống nông thôn ở Nam Kỳ chưa có một truyện ngắn nào hay bằng truyện "Con Rắn Vú Nàng" của Xuân Tước tính cho đến nay. Nó có thể xếp ngang với bất cứ truyện ngắn hay nào của thế giới . . . Về bố cục thì thật là tài tình. Nó chuyển biến nhanh chóng, khoa học và đưa tình cảm của người từ thấp lên cao chót vót, rồi đổ lộn nhào một cách khoái trá, bất ngờ nhưng rất lô gích.

Có những áng văn phải hay như thế nào thì mới có người la lên mà ca tụng tận tình như thế chứ mà lại bị chìm lấp trong bóng tối thật là phí uổng. Có nên lập lại đề nghị của nhà văn Xuân Vũ rằng có nhà xuất bản nào in tuyển tập hãy nhớ đừng quên những áng văn này. Ít nhất để chúng trình diện với độc giả xem độc giả có đồng ý là những áng văn được ca tụng vào hàng quốc tế không, có làm cho văn học Việt Nam nở mày nở mặt hay không? Nếu không thì cũng được biết chân giá trị của tác phẩm theo khiếu thưởng ngoạn của riêng mình và lần sau không nghe lời giới thiệu của các vị đó nữa. Chúng ta đã có hàng chục tuyển tập xuất bản ở hải ngoại rồi mà các nhà sưu tầm, phụ trách tuyển chọn đã bỏ quên những tác phẩm lớn kể trên hay là đã tuyển chọn theo cảm hứng, theo sự thân quen, sự thù tạc hàng ngày.

Trong bài phỏng vấn luật sư Nguyễn Văn Chức đăng trên báo Con Ong Texas ngày 10. 10. 97, ông Chức cho biết ông nhận được năm cuốn Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên của những người đề nghị ông viết bài ca tụng. Trong số những người đó có cả những bậc đàn anh có nhận thức cao về văn hóa và chính trị đã ca ngợi Đêm Giữa Ban Ngày là một kiệt tác của thế kỷ thứ hai mươi. Những lờiø tâng bốc ngọt như mía đó hẳn ẩn dụ một ý đồ chính trị, đón gió trở cờ.

Những lời khen quá đáng, cũng có khi rất thành thực vì quá chủ quan, quá hài lòng về những điều mình thấy, mình đọc và vì cảm tình đã lấn át lý trí, lấn át sự vô tư?

Trong làng báo Nam Cali cũng có một hiện tượng một tờ tuần báo sinh sau nhưng đã nổi lên và đứng vững là tờ Saigon Post. Số đầu tiên ra mắt cuối năm 1995, nhờ kỹ thuật ấn loát tờ báo trông đẹp mắt, rực rỡ nhất là cái bìa, tiếc rằng tấm bìa in công phu chỉ là một tờ quảng cáo, với cái tên báo nhỏ xíu.

Thường thường bìa một tờ báo tuần giá trị phải là một bức ảnh, một họa phẩm, hay đơn giản là mục lục nhưng không để cho quảng cáo lấn lướt. Nhưng tiếc thay quảng cáo lại là lẽ sống còn của nhiều tờ báo.

Ở xứ Mỹ này ngay đối với những tờ báo thâm niên nhiều khi quảng cáo vẫn nắm sự sinh tử của chúng, trừ khi được tài trợ bởi những thế lực giấu tên. Tờ tuần báo ảnh lâu đời của nước Mỹ (hình như Saturday Evening Post) đình bản chỉ vì bị truyền hình tranh mất quảng cáo sau cả trăm năm làm mưa gió trên thị trường báo chí. Tờ Life cũng ngắc ngoải phải ra khổ nhỏ hơn, xuất bản khi trồi khi sụt vì lý do như thế.

Tờ báo in đẹp như Saigon Post đứng vững được hơn một năm phải là lý do để cho anh em tòa soạn hài lòng. Trong bài xông đất đăng số Xuân Đinh Sửu nhà văn Nhật Thịnh và nhà thơ Nguyên Phương đã tỏ ra phấn khởi khi so sánh Saigon Post với tời báo ảnh Paris Match ở tận Paris, Pháp quốc.

Paris Match có cả trăm tuổi thọ vẫn cải tiến liên miên để mong tiến thủ. Có thời tờ báo này đã đổi mới bằng cách thay vì khuôn khổ hình chữ nhật thì báo in vuông như hòn gạch bông cho lạ mắt, mục lục thì đảo lộn thông lệ thay vì in ở cuối hay đầu thì cho vào giữa các trang báo cho độc giả mất thì giờ lần mò cho vui. Loanh quanh rồi cuối cùng trở về dạng bình thường thôi. Và tờ báo đứng vững, có uy tín quốc tế chính vì nội dung của nó hơn là báo đẹp và đổi mới lố lăng, lập dị.
Khi nghe các bạn so sánh báo nhà với Paris Match tôi cũng hơi chột dạ, hơi ngượng vì mình cũng có chân trong ban biên tập mà không đóng góp đựơc là bao nhưng vẫn phải chia sẻ hoài bão của các bạn mình dù thấy rằng so sánh hơi quá đáng.

oOo

Việc giới thiệu sách nhiều khi cũng đưa đẩy người viết say sưa, xa rời thực tế. Một trường hợp điển hình là nhà văn Hồ Trường An khi viết lời bạt cho tác phẩm đầu tay của một nhà văn nữ khoan khoái quá, ca tụng tác phẩm chưa đủ còn ca tụng cả nhan sắc và duyên dáng của tác giả cuốn sách mặc dầu ông chưa gập mà chỉ nhìn qua ảnh. Ông viết:
Ở bìa sau quyển sách có in tấm ảnh màu của chị . . . Có lẽ nếu đem thơ của cụ Tiên Điền Nguyễn Du khi cụ mô tả Thúy Vân ở hai câu:

Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

thì đúng diện mạo chị . . . ngay. Khuôn mặt chị tròn nét mày hơi dầy và đậm nhưng tỉa gọt rất thanh nhã. Thúy Vân có thêm Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Trên tấm ảnh kia, nụ cười của tác giả . . . tươi ơi là tươi, như hoa hồng buổi sáng tinh mơ với cặp môi rõ nét và thanh tú được tô hồng đào ngọt lịm. Nụ cười rất tự nhiên không chút điệu đà, không chút nắn nót để phô bày đôi hàm răng ngọc trai khít khao và đều đặn. Đó là hoa cười . . .

Còn tới mười hai giòng nữa tả giọng nói và mầu áo của tác giả nhưng xin thôi không trích nữa. Chẳng trách gì người thưởng ngoạn khi gập áng văn hay, hợp gu mình thì ngất ngư khoan khoái như ca dao: Chim khôn thì khôn cả lông. Khôn cả cái lồng người xách cũng khôn.

oooOooo


Trên lãnh vực văn thơ báo chí thì vậy, nhưng trên lãnh vực ca nhạc còn du dương gấp trăm lần vì ca nhạc bản chất vốn đã du dương. Chỉ xin cử một đoạn - coi như lạc lõng - để mời quý vị thưởng lãm thêm. Đoạn này trích trong bài viết về ca sĩ Bích Chiêu của Vũ Xuân Hùng khi nàng tới thăm Cali, đăng trên nguyệt san Hồn Việt số158, tháng 11. 1996:

Phải nhìn và nghe Bích Chiêu hát mới thấy hết được chất quyến rũ, sinh động của nàng. Ở Bích Chiêu lúc đó là nam châm, là giòng điện cao thế, là cái ngọt của đường phèn. Hát Nỗi Lòng thì chẳng ai có thể ngậm ngùi, chua sót như Bích Chiêu. Hát Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa thì chưa tiếng ca nào ăn đứt được cái đằm thắm, nũng nịu, tình tứ của Bích Chiêu. Ca Gái Xuân thì chao ôi, lẳng tơ tình ái đến độ ta muốn ôm chằm mà cắn một cái cho đã cái hàm răng.

Sang đến nhạc twist, Bích Chiêu đốt lửa chuốc rượu vào lòng khách nghe bằng lối trình diễn của loài trăn, loài cọp. Nàng hát đâu ra đó. Điệu nào cũng hay, nhạc nào cùng tuyệt.

Quý vị hết bàng hoàng chưa?

Sống tha hương nơi xứ lạ, ngày đêm lăn lóc với nhiều công việc hai ba ca không ngừng nghỉ để có tiền trả tiền nhà, tiền xe, tiền bệnh viện, thì giờ nghỉ ngơi hạn hẹp có khi cả ngày chỉ có vài chục phút không có lúc nào rảnh để đọc sách, thưởng văn, không có thì giờ đi phòng trà ca nhạc thì cứ nghe kể lại cũng đủ lâng lâng, thả hồn lên tận Thiên Thai rồi.

Tiết kiệm gì một lời khen, không mất lòng ai cả. Người được khen, cũng có khi biết là hơi quá nhưng vui mừng trong bụng, người khen viết xong cũng thở phào khoan khoái. Và người đọc thì cũng được vài phút mê ly, lâng lâng như đang mừng đám cưới, như đang uống rượu trước giờ hợp cẩn và nói như mấy chữ trong thơ Đinh Hùng mà Mai Thảo đã mượn làm tên cho tiểu thuyết của mình: Cũng Đủ Lãng Quên Đời.

Tháng 1. 1998
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>Thanhvien</b> -- <b>30.6.2004 23:59:26 </b> &gt;>
CHỮ NGHĨA BỀ BỀ (tiếp theo)


Câu Chuyện Từ Điển Việt Nam


Bất cứ nước nào đã tự hào là có một nền văn hóa là phải có một cuốn tự điển để chuẩn xác cho ngôn ngữ của quốc gia mình hầu tránh sự dùng chữ bừa bãi , lố lăng hay lai căng, vay mượn. Chữ quốc ngữ sau khi thành hình không lâu đã có ngay một cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên của Paulus Huỳnh Tịnh Của, cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị xuất bản cuối thế kỷ 19.

Dựa theo cuốn tự điển đầu tiên này nhiều tự điển và từ điển Việt Nam khác được các tác giả sau này biên soạn. Trước 1975, hai cuốn thông dụng trong Nam là Việt Nam Từ Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức và Việt Nam Từ Điển của Lê Văn Đức. Phía nhà cầm quyền cộng sản sau 1946 không biên soạn tự điển tiếng Việt ngay. Cho tới khi cộng sản chiếm hoàn toàn miền Nam Việt Nam năm 1975 cuốn từ điển thông dụng của họ chỉ có Từ Điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên. Bộ Bách Khoa Tự Điển Việt Nam mà Hà Nội quảng cáo từ lâu chưa biết đến bao giờ hoàn tất.

Có nhiều tác giả thường khen Hà Nội có những công trình khảo cứu văn học công phu hơn Việt Nam Cộng Hòa vì nhà cầm quyền cộng sản chịu bỏ ra những ngân quỹ lớn cho việc biên khảo và huy động nhiều nhân lực. Điều này có thể đúng với một số tác phẩm nhưng không đúng với tất cả vì các nhà biên khảo Hà Nội vô tình hay cố ý còn nặng về tuyên truyền, và phải hướng mọi nghiên cứu của họ theo đường lối chỉ thị của đảng cộng sản nên trở thành thiếu vô tư.

Ví dụ đơn giản là cuốn biên khảo Người Anh Hùng Làng Dóng của Cao Huy Đỉnh nói về huyền thoại thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) cả hàng nghìn năm trước mà cũng xen kẽ vào những đoạn tuyên truyền chống Mỹ cứu nước khiến ta có cảm tưởng như ăn cà rem mà lại thêm gia vị . . . mắm tôm.

oOo

Trong cuốn Từ Và Vốn Từ Tiếng Việt do nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội phát hành năm 1986, tác giả Nguyễn Văn Tu viết rằng từ trước tới nay Việt Nam chỉ mới có 6 cuốn từ điển tiếng Việt mà ông gọi là từ điển một ngôn ngữ. Tác giả liệt kê những từ điển có trước 1945 như cuốn từ điển của Huình Tịnh Của, Việt Nam Tự Điển của Hộâi Khai Trí Tiến Đức tới Từ Điển Học Sinh của nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội và kể thêm một cuốn thời Việt Nam Cộng Hòa của Đào Văn Tập xuất bản tại Sài Gòn.

Sau đó, cũng tác giả Nguyễn Văn Tu cho nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghịệp, Hà Nội in cuốn Các Nhóm Từ Đồng Nghĩa Trong Tiếng Việt, khi liệt kê các từ điển Việt Nam có ghi thêm Từ Điển Tiếng Việt Phổ Thông của Viện Ngôn Ngữ Học nhưng cả hai cuốn sách của ông Tu đã dẫn đều không hề nói tới cuốn từ điển của Lê Văn Đức .

Việt Nam Từ Điển của Lê Văn Đức được biên soạn trong mười năm với sự hiệu đính của nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ, ấn hành trong ba năm và tới năm 1970, nhà xuất bản Khai Trí mới cho ra mắt tại Sài Gòn. Bộ từ điển gồm hai cuốn khổ lớn, chữ nhỏ dày tổng cộng 2515 trang có đầy đủ phần định nghĩa thông thường và các phần nhân danh, địa danh, tục ngữ, thành ngữ, điển tích . . .

Chẳng lẽ Nguyễn Văn Tu là một giáo sư nhiều năm, đã từng viết sách về ngôn ngữ mà không biết tới bộ từ điển đồ sộ Lê Văn Đức. Thực ra thì ông Tu biết nhưng hoặc là theo chỉ thị hoă.c là tự ý ông muốn dìm những tác phẩm của miền Nam chăng vì cho rằng cái gì xuất hiện ở miền Nam đều vô giá trị.

Điều nhận xét này không võ đoán mà chỉ là nhận xét về đường lối của cộng Việt xưa nay vẫn cố tình lờ đi những công trình của miền Nam.

Ví dụ về truyền hình, Việt cộng phổ biến và giảng dạy rằng truyền hình Việt Nam chỉ có từ năm 1970 là năm Hà Nội bắt đầu có đài, một tuần phát hình hai ba lần, mỗi lần vài chục phút. Trong khi tại Việt Nam Cộng Hòa đã có truyền hình từ năm 1966 khi đài phát đặt trên một phi cơ lượn trên không phận Sài Gòn trong thời gian chờ đài dưới đất đang xây cất dở đang.

Nói tới lịch sử điện ảnh thì cộng sản chỉ kể từ những phim đèn chiếu (phim tranh vẽ chỉ có hình, không cử động) sau 1946 khi họ chạy vào rừng, rồi tới phim phóng sự vài chục phút Nước Về Bắc Hưng Hải mà không nói gì tới những phim Việt Nam vùng quốc gia như Cánh Đồng Ma, Trận Phong Ba hay Kiếp Hoa.

Sách viết về lịch sử mỹ thuật hay âm nhạc chẳng hạn, họ sẵn sàng bôi tên những họa sĩ, những nhạc sĩ có tên tuổi từ trước 1945 nếu những nghệ sĩ tài danh đó đã ở lại hoặc trở về vùng quốc gia không theo họ, cùng ở với họ trên rừng già Việt Bắc.

oooOooo

Trở lại chuyện tự điển, sau hiệp định Geneva 1954, cộng sản chính thức trở về tiếp thu Hà Nội cũng chưa có thì giờ lo chuyện này. Tới sau ngày 30. 4. 75 chiếm được Sài Gòn cán bộ văn hóa Hà Nội vào Sài Gòn còn ào ào vơ vét các loại từ điển song ngữ Anh - Việt, Pháp - Việt, Hán - Việt mà Hà Nội không có.

Về tiếng Việt mãi tới năm 1963, Hà Nội mới soạn xong cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên, rồi tới năm 1967 mới phát hành. Cuốn Từ Điển Tiếng Việt này do Văn Tân chủ biên với thành phần biên soạn gồm 13 người trong đó có những nhà trí thức, học giả quen tên từ lâu như Nguyễn Tấn Gi Trọng, Ngụy Như Kontum, Trần Văn Giáp, Hoa Bằng . . .

Kể từ khi Việt cộng rút vào rừng thì ngôn ngữ Việt tại miền Bắc đã có nhiều tiếng mới rất xa lạ với tiếng Việt bình thường. Lấy ví dụ ngay trong cuốn Từ Điển Tiếng Việt của Văn Tân ta đã bắt gặp những chữ lạ tai có nghĩa khác hẳn nghĩa thông thường mà người Việt đã dùng trước khi cộng sản Việt ra công khai năm 1945. Xin đan cử vài ví dụ:

- lô gích: hợp với luận lý.
- quá độ: thời gian chuyển tiếp giữa hai thời kỳ.
- hồ hởi: cởi mở, vui vẻ, phấn khởi.
- đường kính: thứ đường ăn đã tinh chế thành tinh thể màu trắng.
- lái xe: người điều khiển tay lái cho xe ô tô chạy. ( dùng động từ làm danh từ )
- sự cố: nguyên nhân sinh ra việc biến .
- công nghiệp: phương thức dùng máy móc biến hóa nguyên liệu thành vật dụng hoặc thành công cụ.

Có lẽ vì những ngôn ngữ mới chế, ép buộc ấy ăn sâu vào tim óc các soạn giả tự điển, nên nhiều khi tiếng Việt trở nên rất ngô nghê.

Trong Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) nhiều tiếng Việt gốc Hán đã Việt hóa cho ngôn ngữ thêm phong phú thì các tác giả tự điển lại cho là lộn xộn và chủ trương loại bỏ nhiều từ thông dụng. Về điểm này các tác giả viết trong Lời Nói Đầu: “Cái hiện tượng thiếu ngăn nắp trong tiếng Việt kể ra thì còn nhiều“. Cũng trong bài này, khi giải thích cách xếp đặt từ theo thứ tự nào, họ viết: Về trật tự A B C chúng tôi theo đúng trật tự của vần chữ quốc ngữ Việt.

Ngôn ngữ của một dân tộc có phải là một cái tủ áo đâu mà gọi là một ngôn ngữ thiếu ngăn nắp. Và khi sắp xếp chữ theo vần A B C sao không gọi là theo thứ tự mà lại dùng hai chữ trật tự như khi sắp xếp ngôi vị các đảng viên trong Bộ Chính Trị, hay hô hào trật tự trong một đám biểu tình tiền chế để hoan hô lãnh tụ. Họ hô hào làm cho tiếng Việt trong sáng nhưng chính những người làm tự điển lại làm mù mờ và nghèo nàn thêm tiếng Việt.

oooOooo

Cho tới trước năm 1967, ở trong Nam và có thể cả ngoài Bắc khi cần kê cứu tiếng Việt vẫn phải dùng tạm cuốn Việt Nam Tự Điển do Hội Khai Trí Tiến Đức (Ban Văn Học) Hà Nội biên soạn và nhà in Trung Bắc Tân Văn in năm 1931. Cuốn này dày khoảng 700 trang, được tái bản nhiều lần và được dùng rộng rãi vì cuốn từ điển Huynh Tịnh Của thì quá cổ cả về định nghĩa và cách viết nên chỉ còn dùng để nghiên cứu mà thôi.

Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức còn thiếu sót nhiều (Ví dụ chữ sen chỉ có định nghĩa là một loài cây dưới nước mà thiếu định nghĩa thông thường nữa là cô giúp việc trong gia đình) nên miền Bắc năm 1967 có Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) và miền Nam năm 1970 có Việt Nam Từ Điển của Lê Văn Đức thay thế.

Viện Ngôn Ngữ Học của Hà Nội xúc tiến việc soạn thảo một cuốn tự điển Việt Nam mới, và tới năm 1988 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội in xong tại thành phố Hồ Chí Minh với tên là Từ Điển Tiếng Việt. Sách dày 1206 trang do Hoàng Phê chủ biên. Theo lời giới thiệu ở đầu sách Từ Điển Tiếng Việt là một cuốn từ điển đầu tiên của Việt Nam do một tập thể cán bộ ngôn ngữ biên soạn. Tập thể này gồm 17 người so với cuốn Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) thì tập thể của Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) đông hơn tới bốn người nhưng không có những học giả quen tên lâu đời như trường hợp từ điển Văn Tân mà toàn là những tên lạ hoắc có thể là những đảng viên được cử vào làm thành viên của Viện Ngôn Ngữ Học.

Trong lá thư đề ngày 7. 3. 1987 in trên đầu sách, thủ tướng Phạm Văn Đồng khen ngợi bộ biên tập, tán dương cuốn sách này là chuẩn hóa tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt.

Cho tới nay từ điển Hoàng Phê đã được tái bản nhiều lần và cuốn mới nhất chúng tôi được thấy là ấn bản 1996. Khi biên sọan Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê), các tác giả đã tham chiếu các từ điển trong Nam, ngoài Bắc nên có một số ưu điểm và mới mẻ hơn nếu so với Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) hoặc Việt Nam Từ Điển (Lê Văn Đức).

So với cuốn Văn Tân, từ điển Hoàng Phê có nhiều từ hơn. Chẳng hạn hai từ thanh nhạc và lâm sàng là hai từ mà báo chí cộng sản thường dùng, từ điển Hoàng Phê có giải nghĩa nhưng từ điển Văn Tân không có và từ điển Lê Văn Đức cố nhiên không có vì hình như trong Nam không ai dùng hai từ này. Về thành ngữ có từ “ đầu “ đứng trước Văn Tân có 14 thành ngữ như đầu cua tai nheo, đầu trâu mặt ngựa . . . nhưng thiếu đầu Ngô mình Sở. Hoàng Phê có đầy đủ hơn nhưng nếu so với Lê Văn Đứùc thì không thấm vào đâu vì trong Việt Nam Từ Điển (Lê Văn Đức) có tới 44 thành ngữ với từ “ đầu “ đứng trước.

Về cách định nghĩa, trong từ điển Hoàng Phê được biên soạn gọn gàng và chính xác. Tuy nhiên cũng còn nhiều trường hợp cần bàn bạc. Chẳng hạn từ trước tới nay khi định nghĩa chữ “ cây “ các tác giả thường thường theo cách định nghĩa chữ tree hay arbre trong tiếng Anh và tiếng Pháp. Và ghi cây là thực vật có lá, thân mộc, thẳng. Định nghĩa như thế thì hồng, cúc, bầu, bí không được gọi là cây nữa vì chúng làm gì có thân mộc và không thẳng. Trong từ điển Hoàng Phê và Văn Tân cây được định nghĩa là thực vật có thân lá rõ rệt. Vậy nếu tra chữ “tơ hồng“ trong từ điển Hoàng Phê thì giống thực vật không có lá rõ rệt này vẫn được gọi là cây. Theo Lê Văn Đức thì cây là tất cả loài thực vật biết ăn phân, chịu sương nắng, sống, lớn và sinh sản. Định nghĩa như thế thì lại quá dài dòng.

Từ “ly“ trong Nam thay từ “cốc“ ngoài Bắc, từ điển Văn Tân định nghĩa ly là cốc pha lê nhỏ. Từ điển Hoàng Phê định nghĩa là cốc nhỏ để uống rượu. Thực ra cốc và ly chỉ là hai tiếng của hai miền Nam và Bắc chỉ chung một đồ dùng, chứ cốc và ly không hề khác nhau như mèo và hổ. Trong trường hợp này ở từ ly có thể ghi “xem từ: cốc“ và khi ở từ cốc sẽ mô tả rõ ràng và chính xác hơn tránh rườm rà mà làm sai nghĩa.

Văn Tân giảng là cốc pha lê nhỏ, Hoàng Phê thêm cốc dùng để uống rượu. Vậy thì những cái cốc làm bằng nhôm, bằng chất dẻo, bằng thủy tinh và mang ra uống nước cam, nước trà mà không uống rượu thì không được gọi là “ly“ hay sao?

Về chính tả, tự điển Hoàng Phê viết li với chữ I ngắn và có giải thích là sở dĩ họ dùng I ngắn là tuân hành quyết định ngày 5. 4. 1984 của Bộ Giáo Dục. Cái kiểu ra sắc lệnh bắt phải viết thế này thế nọ là một lề thói quen dùng của các chế độ cộng sản. Tuy nhiên có lẽ thấy cách dùng I ngắn nó ngô nghê quá và quyết định của Bộ Giáo Dục cũng phi lý nên nhiều tác giả chẳng nghe theo. Trong cuốn Từ Điển Chính Tả Thông Dụng của Nguyễn Kim Thản do nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội in năm 1985 (sau quyết định của Bộ Giáo Dục) tác giả vẫn viết và khuyên nên viết ly, cụng ly với chữ y dài như dân ta vẫn dùng từ xưa tới nay, và cũng là mặc nhiên không coi quyết định của Bộ ra sao cả.

Một điểm nữa là từ điển Hoàng Phê còn rất nhiều từ nguyên văn Anh, Pháp. Từ volt trong từ điển Hoàng Phê được giữ nguyên tiếng Anh với định nghĩa đơn vị đo hiệu thế, điện thế. Ta cũng thấy nhan nhản những từ nguyên văn ngoại quốc khác rồi giảng nghĩa bằng tiếng Việt như logarithm, clinker, logic v . v . . . xếp thẳng hàng với những chữ Việt trong một cuốn từ điển mang danh là Từ Điển Tiếng Việt. Chúng tôi nghĩ việc định nghĩa những tiếng Anh, Pháp như trên là công việc của từ điển song ngữ Anh Việt và Pháp Việt chứ không phải là công việc của nhóm Hoàng Phê. Trừ những tiếng Anh, Pháp đã Việt hóa và viết theo lối Việt như ô tô, sà bông, xe tăng chẳng hạn, chúng tôi thấy cách làm của từ điển Văn Tân khi ghi theo lối Việt như ga men, lô ga rít, vôn, vôn kế, lô gích, ác mô ni ca . . . rồi giảng nghĩa những từ này bằng tiếng Việt hợp lý hơn. Còn nếu làm như Hoàng Phê là ghi cả clinker, logic . . . sao chẳng ghi luôn shool, book, maison, amour . . . cho từ điển Việt Nam phong phú, nhiều từ nhất thế giới.

Một điểm khác cần bàn cãi là địa vị tiếng Việt miền Nam mà Hoàng Phê có ý muốn loại bỏ. Trong Từ Điển Tiếng Việt ( Hoàng Phê ) có rất ít từ miền Nam. Khi giảng giải những từ vô (vào), mền (chăn), mùng (màn) . . . các nhà soạn từ điển thuộc Viện Ngôn Ngữ Học đã ghi chú là phương ngữ tức là thổ ngữ địa phương. Thiết nghĩ một từ nếu chỉ thông dụng ở một địa bàn thật nhỏ hẹp như cấp tỉnh chẳng hạn thì gọi là thổ ngữ được, nhưng trường hợp những chữ như vô, mùng, mền được đồng bào trên cả một lãnh thổ bát ngát từ Quảng Trị tới Cà Mau đều nói và hiểu mà chỉ coi là thổ ngữ thì người ta có thể ngờ rằng tập thể soạn giả từ điển Hoàng Phê có tinh thần tự tôn, địa phương hay kỳ thị. (Trong từ điển Văn Tân có các từ vô, mùng, mền . . . mà không hề ghi là phương ngữ).

Ngoài Bắc ai ai cũng hiểu những từ vừng, lạc, bít tất, hoa đại . . . mà đồng bào trong Nam chỉ hiểu được khi gọi là mè, đậu phộng, vớ, bông sứ . Tuy vậy trong Việt Nam Từ Điển của một người, Lê Văn Đức, vẫn có những chữ vừng, lạc, tất . . . ghi như là tiếng nói chung của quốc gia. Nếu Lê Văn Đức mà lại ghi vừng, lạc, tất . . . là thổ ngữ thì độc giả miền Bắc sẽ nghĩ sao?

Có thể vì quan niệm phương ngữ của nhóm Hoàng Phê quá khắt khe nên rất nhiều từ thông dụng trong Nam bị coi như không có trong ngôn ngữ Việt. Có thể dẫn chứng là trong Từ Điển Tiếng Việt ấn bản đầu tiên từ la ve mà đồng bào trong Nam thường đọc là la de, dùng thay cho từ bia của miền Bắc đã bị loại bỏ không được nhắc nhở. Sau khi từ điển phát hành, trên báo Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh số 528 - 15. 4. 1988 đã có người nêu lên sự bất công này nên ở ấn bản 1994, 1996 của từ điển Hoàng Phê mà chúng tôi được thấy đã bổ túc sự thiếu sót đó. Tuy nhiên từ la ve và tất cả từ miền Nam thông dụng khác nếu có trong các ấn bản mới của tư điển Hoàng Phê vẫn được các soạn giả giữ vững lập trường coi là chúng là những thổ ngữ chẳng đáng lưu tâm.

Vì người ngoài Bắc không lưu tâm tới thổ ngữ la ve nên khá nhiều nhà văn có tiếng miền Bắc đã phạm lỗi chính tả sơ đẳng khi viết là la de hai từ quá thông dụng này của miền Nam. Vũ Thị Thường trong Câu Chuyện Bắt Đầu Từ Những Đứa Trẻ do nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, Hà Nôi in năm 1977, Dương Thu Hương trong Những Bông Bần Ly cũng do Tác Phẩm Mới xuất bản năm 1981 và bao nhiêu nhà văn miền Bắc khác cho tới bây giờ vẫn viết la de với chữ D như những văn hào lói nghọng.

Nếu từ la ve và những từ miền Nam khác được ghi trong từ điển, trong các sách văn phạm chắc nhiều tác phẩm hay đã tránh được những viên sạn, cắn phải ê răng.

oooOooo
Soạn một cuốn từ điển cho có giá trị không phải là chuyện dễ mà đòi hỏi công sức của nhiều người, thời gian của nhiều năm.

Nhưng vẫn phải làm vì tương lai của một ngôn ngữ luôn luôn phải chuẩn hóa, phải gìn giữ cho trong sáng, chọn lọc thêm từ ngữ cho chính xác và phong phú. Người Pháp, người Mỹ hãnh diện với những Petit Larousse, Petit Littré hay Webster, American Heritage không cồng kềnh như các bộ từ điển bách khoa chỉ khoảng hai ngàn trang mà đầy đủ và chính xác, lẽ nào Việt Nam không có một cuốn từ điển cho đầy đủ dùng được cho toàn quốc, cả ba miền Nam, Trung, Bắc.

Việc đó chúng tôi nghĩ Hà Nội có thể làm được với một Viện Ngôn Ngữ Học trong tay miễn là các soạn giả chịu lắng nghe những ý kiến xây dựng và gạt bỏ sự tự tôn, gạt bỏ tư tưởng địa phương hay kỳ thị.

Tháng 10. 1998
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0
Chuyện Cải Cách Tiếng Việt


Kể từ khi tiếng Việt được hình thành tới nay biết bao nhiêu nhà ngôn ngữ học và không ngôn ngữ học đề xướng thay đổi nó. Nhiều quá kể ra không xuể.

Theo Vũ Ngọc Phan những nhà văn lớp trước muốn cải cách tiếng Việt được nhiều người biết đến có lẽ là Nguyễn Trọng Thuật và Trần Trọng Kim. Với cuốn Việt Văn Tinh Nghĩa xuất bản năm 1928, Nguyễn Trọng Thuật có nhiều nhận xét về tiếng Việt thời đó và đồng thời đề nghị một số cải cách nhưng những cải cách của ông bị văn phạm Pháp ảnh hưởng khá sâu đậm.

Thấy tiếng Pháp có số nhiều, số ít, giống đực, giống cái, ông đề nghị tiếng Việt cũng nên có những chữ câm đằng sau để phân biệt khi nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ kinh có nhiều nghĩa khác nhau nên mỗi khi viết chữ kinh theo nghĩa nào phải viết khác nhau cho chính xác như viết kinhs sợ, kynhp đô, kynh Thánh, kinh nghiệm v. v . . Những đề nghị của Nguyễn Trọng Thuật chỉ gây thêm rắc rối phức tạp vì tất cả mọi nghĩa của chữ kinh khi đọc nguyên một câu văn hoặc nó có kèm theo một chữ khác là đủ nghĩa rồi. Do đó cuốn Việt Văn Tinh Nghĩa của ông dù có nhiều nhận xét, phân tách Việt ngữ rất hay nhưng những đề nghị của ông không được mấy người tán thành.

Ngoài Việt Văn Tinh Nghĩa của Nguyễn Trọng Thuật, Trần Trọng Kim soạn cuốn Việt Nam Văn Phạm (chung với Phạm Duy Khiêm và Bùi Kỷ) có những tiến bộ rõ rệt. Ngay trong bài tựa, Trần Trọng Kim đã công bố đường lối minh bạch rằng Việt ngữ là một ngôn ngữ đơn giản, không nên mô phỏng văn phạm Pháp để áp đặt cho tiếng Việt. Nhưng xét về nội dung Việt Nam Văn Phạm cũng phân chia ra danh từ, động từ, tính từ . . . Một ví dụ: ba chữ cái nhà ở, Trần Trọng Kim cho là động từ vì có chữ ở. Thế nhưng khi cuốn Việt Nam Văn Phạm được dịch sang tiếng Pháp với tên Grammaire Annamite do Lê Thăng xuất bản thì cái nhà ở được dịch là maison d ' habitation thì không thể coi là động từ được nữa.

Thành ra chủ trương không theo văn phạm Pháp khi soạn tiếng Việt nhưng vô hình trung các tác giả đã bị ảnh hưởng nặng nề văn phạm Pháp mà không hay. Y như bây giờ có khá nhiều nhà văn, nhà báo hải ngoại mặc dầu biết Việt cộng đã đặt ra những chữ rất ngô nghê, lố bịch nhưng khi viết thì vẫn vô tình bị lôi cuốn và dùng những chữ lố lăng mà cộng sản đã chế ra.

Sau Nguyễn Trọng Thuật và Trần Trọng Kim, nhiều lần vấn đề cải cách ngôn ngữ được đề ra. Cái trở ngại của tiếng Việt là năm dấu và những chữ cái mà vần Pháp ngữ không có trong khi chúng ta đang sống dưới thời thuộc Pháp. Có một dạo ngành bưu điện đã đề nghị và áp dụng thử những chữ Việt mà tiếng Pháp không có như ưng ý, ăn cháo . . . thay bằng uung ý, aan cháo để dùng khi gửi điện tín. Ngành in cũng muốn bỏ năm dấu và thay những tiếng thuần túy Việt bằng chữ cái Pháp nhưng không thực hiện nổi mà vẫn phải dùng con chữ đúc riêng cho tiếng Việt không tinh xảo lắm để chờ tới khi kỹ thuật đúc chữ Việt tinh vi hơn.

Tới nay máy điện toán (computer) được phát minh, các nhu liệu tiếng Việt được sáng chế kịp thời vấn đề sắp chữ không còn nữa. Nhưng tới thư điện tử (e-mail) thì không đọc được hết các loại tiếng Việt từ các nhu liệu ở nhiều vùng khác nhau trên trái đất. Người dùng đành tùy tiện gửi cho nhau với nhu liệu tiếng Anh không dấu. Nhưng cũng có trở ngại. Ví dụ đánh thieu phu dam dang ta có thể lầm đảm đang với dâm đãng. Hoăc khi nhận một thư điện tử có câu: Bac Duong cuoi vo cho chau Hung ngay 7 thang 3 vua qua. Tuy o xa nhung cô chu Duong cung ve du dam cuoi. Người ngoài có thể biết có một người tên Duong mới làm đám cưới cho con nhưng chỉ người trong gia tộc mới hiểu được người anh tên là Đường, người em là Dương và chú rể là Hưng chứ nếu đoán sẽ có thể lộn hai tên Duong và Hưng với Hùng hay húng . . . quế.

Biết khi đề nghị cải cách có thể gặp chống đối nên những người đề xướng phải tự thực hành lối viết của mình để làm gương.

Vào thập niên 1960, khi in tập phiếm luận Chuyện Vô Lý của Lãng Nhân, nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn đã áp dụng lối viết các từ kép bỏ dấu nối và viết liền vào nhau như ânái, hạnhphúc, chínhchuyên, giađình. . . Lối viết này mới trông cũng thấy ngồ ngộ nhưng không phải là không có trở ngại. Nếu những từ kép ô mai, phát hành, bác sĩ thú y mà viết liền thành ômai, pháthành, bácsĩ thúy người ta cũng có thể lộn với ôm ai?, phá thành, bác sĩ Thúy. Phải chăng thấy chuyện thí nghiệm này cũng gian nan nên bút ký Chuyện Vô Lý lần đầu chỉ in 160 bản tặng bạn bè và chuyện dính liền cũng rơi vào quên lãng một thời gian khá dài.

Nguyễn Hữu Ngư một mình một chợ đưa ra nhiều thay đổi cách viết trong tiếng Việt như bỏ Y dài thay thế bằng I ngắn, bỏ phụ âm H trong GH, NGH v . v . . . Không ai nghe theo thì ông tự thực hành một mình. Ông bỏ tên Nguyễn Hữu Ngư của cha mẹ đặt để ký biệt hiệu là Nguiễn Ngu Í, Ngê Bá Lí đơn thương độc mã áp dụng lối viết ấy trong các tác phẩm của mình.

Sau 1975 ở hải ngoại cũng có nhiều tác giả đưa ra những cải cách có khi mới, có khi không. Về việc viết I ngắn thay thế Y dài hai nhà biên khảo Lê Hữu Mục và Nguyễn Đình Hòa nêu lại vấn đề này và hỗ trợ nó. Có nhiều người không đồng ý chuyện thay đổi này nhưng có người yểm trợ và người yểm trợ mạnh mẽ nhất là Dương Đức Nhự.

Theo một bài đăng trên tuần báo Sài Gòn Nhỏ, Westminter, CA , số xuân Kỷ Mão của Đỗ Hữu và Diên Nghị (sau đăng lại có sửa chữa trên tạp chí Tinh Hoa, Minneapolis, MN, số tháng 10. 99 với tên Đức Cố & Diên Nghị), hai tác giả cho biết Dương Đức Nhự không những yểm trợ chuyện thay thế Y dài do Lê Hữu Mục và Nguyễn Đình Hòa theo đuổi mà còn đề nghị cả chuyện viết dính liền, bỏ phụ âm H, du nhập chữ cái F, J, W, Z. Ông đề nghị viết ngẫm ngĩ, ngễnh ngãng, gồ gề thay cho ngẫm nghĩ, nghễnh ngãng, gồ ghề; viết zễ zàng, zu dương thay cho dễ dàng, du dương.

Nhà thơ Diên Nghị và Đức Cố hẳn là cũng không tán thành lối cải cách của ông Nhự khi đưa ra thí dụ chép truyện Kiều như sau:

Trăm năm trong kõj người ta
Cữ tài, cữ mệnh qéw là gét nhaw .
Trải kwa một kuộk bể zâu
Những diềw trông thấj mà daudớn lòng
Lạ jì bỉsắc tưfong,
Trời xanh kwen thój má hồng dánh gen.
Kảw thơm lần jở trướk dèn
Fongtình kổlụk kòn trwiền sử xanh . . .

Có thể bị ám ảnh về kiến thức uyên bác của mình, về những điều đã dày công học hỏi và nghiên cứu nên thạc sĩ ngôn ngữ học Dương Đức Nhự thấy cần phải thay đổi một cái gì mà ông cho là mới chăng? Nhưng thực ra những cải cách của giáo sư Nhự tưởng là mới lại không có gì là mới cả. Viết toàn I ngắn thì đã có từ khi Paulus Của viết tên ông là Hùinh Tịnh Của vào cuối thế kỷ thứ 18. Nguyễn Hữu Ngư cũng chỉ làm công việc lặp lại. Còn cộng sản Hà Nội thì quen cách cai trị theo lối độc tài nên đã ra hẳn một pháp lệnh về việc thay đổi I ngắn, Y dài.

Cách viết tiếng Việt với những chữ cái la tinh F, J, W, Z thì ông Hồ đã thực hiên và lần cuối cùng là trong chính di chúc viết tay của ông đã có những chữ nhân zân, fe xã hội chủ nghĩa, fục vụ, Đỗ Fủ . . . Lối viết đó được các đàn em bợ đỡ, điển hình nhất là Nguyễn Kim Thản, viện trưởng Viện Ngôn Ngữ Học đã tâng bốc như sau:

Ngay từ khi viết Đường Kách Mệnh người đã dùng F thay Ph, Z thay D và G , dùng K thay cho C, bỏ H trong GH và NGH. Những người làm công tác ngôn ngữ học ở nước ta ngày nay vô cùng khâm phục những sự sửa đổi nói trên của Bác. Thiên tài và sự vĩ đại của Bác biểu hiện ở từng việc làm, từng chủ trương cụ thể như vậy đó . . . (Tiếng Việt Của Chúng Ta, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1983, tr. 40).

Di chúc viết tay của ông Hồ với cách viết lố lăng như trên đã được chụp lại in trong báo Nhân Dân sau khi ông chết và năm 1976 cũng bút tích ấy trong cuốn Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Tiểu Sử Và Sự Nghiệp do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Trung Ương biên soạn. Sự thay đổi chữ nghĩa đó sau này đã được ban hành bằng một pháp lệnh của chính quyền và được thực hiện trong Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) từ ấn bản 1988 và trong Đại Từ Điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý) do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo xuất bản năm 1998.

Cách viết dính liền những từ kép thì cũng là lập lại điều mà Nam Chi Tùng Thư đã làm từ năm 1962 mà không ai theo.

Sống ở Mỹ ảnh hưởng lối viết cắt xén chữ nghĩa trong ngôn ngữ nên đã có khá nhiều người lên tiếng hoặc tự cải cách viết tiếng Việt theo một lối riêng mà mạnh mẽ nhất là viết tắt. Nhà thơ Du Tử Lê sau những sáng kiến về thơ gạch chéo cũng đã cho in hẳn ngoài bìa sách của ông cái tên với chữ thật lớn K. Khúc Của Lê mà không viết ca khúc như thường lệ.

Báo Văn Nghệ Tiền Phong đã từng lên tiếng châm biếm lối viết tắt này khi đưa ra những “dự phóng“ (đao to búa lớn cho nó oai):

K nhac, H hong, C xich
Chan minh nhung lam b b
Lai cam bo đuoc ma d chan nguoi

Những người ủng hộ lối viết tắt lý luận rằng người Mỹ viết Toys R Us (chữ R viết ngược), BBQ, U R here, Open on Nite thay cho Toys are us, Barbecue, You are here, Open all night mọi người vẫn hiểu. Không những viết mà khi đọc họ cũng bỏ những khuôn mòn sáo cũ. Khi nói về Quân Đoàn Một họ viết chữ số La Mã I Corps nhưng khi đọc họ đâu cần đọc First Corps hay Corps One mà đọc là Ai Co. Nước Mỹ là cường quốc bậc nhất thế giới tại sao ta không bắt chước họ cho tiện lợi?
Nghĩ cho cùng thì những cách viết lạ lùng khác thường ở Mỹ cũng thường chỉ thấy trong những bảng hiệu, trong những quảng cáo. Ở một quốc gia tư bản tự do, cạnh tranh kịch liệt thì một số chuyên viên quảng cáo chỉ nghĩ làm sao cho mọi người chú ý, làm sao lôi kéo được sự tò mò, lôi kéo nhiều khách hàng nghĩa là mang lại nhiều lợi lộc bằng mọi cách. Nếu không có luật lệ hạn chế hay quần chúng phản đối thì quảng cáo thương mại có thể sử dụng mọi hình thức dù lố bịch, vô luân, bạo lực, dâm đãng để làm sao kiếm được nhiều tiền. Nếu đúng như vậy có lẽ ta ta chẳng nên du nhập vào văn chương chữ nghĩa tiếng Việt để coi như một cải cách tân kỳ.

Tiếng Việt có ưu điểm của nó nhưng cũng làm cho những người ngoại quốc muốn nghiên cứu phải bối rối về việc sử dụng uyển chuyển các từ ngữ mà chẳng cần văn phạm và năm dấu Việt độc đáo không có trong ngôn ngữ nào trên thế giới.

Có thể vì lẽ đó tác giả Phụng Nghi trong cuốn 100 Năm Phát Triển Tiếng Việt (Nxb Văn Nghệ, 1999) đã dành hẳn một chương để bàn chuyện có nên bỏ một trong hai dấu hỏi (?) ngã (~) trong tiếng Việt không? (tr. 137).

Ông dẫn chứng ba khuynh hướng khác nhau về vấn đề này là khuynh hướng chỉ dùng một dấu trên toàn quốc, khuynh hướng dùng một dấu riêng tại miền Nam và khuynh hướng giữ nguyên trạng không cần thay đổi.

Vấn đề đáng nói nhất là khuynh hướng đầu được nêu lên trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1990 là hai dấu hỏi ngã nên nhập chung làm một cho tiện, hỏi ngã gì cũng được. Ý kiến của tác giả bài báo thật dễ dãi nhưng khó chấp nhận và thực tế thì đã chín năm trôi qua chưa có ai tán thành đề nghị đó. Nếu chỉ vì ngại khó mà cứ đọc sao viết vậy thì chữ nghĩa không còn là chữ nghĩa nữa. Hai dấu hỏi và ngã có nghĩa khác nhau, dùng trong những trường hợp khác nhau không thể đồng hóa thành một được.

Nếu câu nói: Anh nỡ bỏ cô ấy mà không nghĩ tới tình nghĩa những năm qua sao? mà viết toàn một dấu hỏi là Anh nở bỏ cô ấy mà không nghỉ tới tình nghỉa nhửng năm qua sao? thì chắc cả trăm năm nữa cũng khó có thể quen tai. Nếu báo thành Hồ chủ trương chỉ viết một dấu cho dễ thì cũng nên theo những anh bộ đội nói ngọng không phân biệt được hai chữ L và N, mà bỏ một chữ L đi. Khi đó học trò viết Nu na nu nống cái Bống nằm trong cái Ong nằm ngoài hoặc là Não nính nệ nàng Náng nên nàng Nủ nấy nòng nợn nuôn nuôn đều được coi là đúng chính tả. Và nhân tiện cũng bắt chước giọng đọc của người miền Nam tất cả những chữ bắt đầu bằng V đều viết thành D cho tiện việc mặc dầu trong Nam đồng bào dù đọc là D nhưng vẫn viết V trúng phóc (la ve).

Cũng như không thể viện cớ thông tin trung thực, vô tư để khi rỗi rãi ngồi ghi âm hai người nói chuyện gẫu rồi cứ thế chép lại nguyên văn in thành sách, chắc chắn tác phẩm kịch này phải dày cả nghìn trang với đầy rẫy thì, mà, à, ờ, ừ và nhiều khi còn chửi thề, nói tục.

Học chữ hay muốn nói cho đúng thì cũng phải chịu khó nên không thể ngại khó mà đơn giản hóa quá mức đến thành thiếu sót, thiếu nghĩa. Không thể viện cớ đơn giản để mà đưa đề nghị bắt chước người Mỹ chỉ cần xưng hô bằng hai tiếng I, You cho tiện để bỏ hết những từ ông, bà, cô, bác, chú, thím, cậu, dì . . . thân thương, độc đáo của Việt ngữ.

oOo

Vấn đề cải cách một ngôn ngữ không phải là một chuyện dễ dàng. Người Trung Hoa hẳn cũng biết chữ viết của họ phức tạp, bất tiện nhưng không hề nghĩ tới chuyện la tinh hóa chữ Hán mà chỉ thay đổi Hán tự từ văn ngôn ra bạch thoại cho đơn giản hơn thôi. Người Nhật mạnh dạn hơn đã đặt ra một cách viết tiếng Nhật bằng chữ cái la tinh gọi là romanji được chính quyền tích cực truyền bá nhưng cho tới nay có lẽ vẫn chưa có sách Nhật in bằng tiếng Nhật cải cách romanji. Họ vẫn yêu thích lối chữ Nhật hiện hành, hình thức hơi giống chữ Hán nhưng ít nét và không rườm rà.

Việc thay đổi chữ viết có ảnh hưởng tới kho tàng thư tịch của các dân tộc nên khó bề thực hiện. Giả thử có một nền văn học lâu đời như Trung Quốc, nếu thay đổi chữ Hán bằng chữ la tinh thì phải có một đội ngũ hùng hậu người mình dịch các áng văn của mình sang chữ mới của chính mình.

Học giả Hoàng Xuân Hãn chắc chắn đã nghiên cứu những đề nghị cải cách tiếng Việt của các tác giả trước ông, đã biết sự khó khăn khi cải cách nên năm 1942 ông đã viết trong cuốn Danh Từ Khoa Học rằng: Tiếng hiện thời của các nước đều đầy những sự vô lý. Nhưng đố ai cải cách nó được.

Để kết luận vấn đề ngôn ngữ, chúng tôi thiết nghĩ tiếng Việt hiện nay đã xử dụng được trong bậc đại học, đã có những thuật ngữ diễn đạt được những vấn đề chuyên môn, khó khăn mà không gặp trở ngại nên chúng ta có thể tự hào về ngôn ngữ hiện tại. Công việc cần của chúng ta là bảo tồn ngôn ngữ ấy sao cho tiếp tục trong sáng mà đừng chế ra những cải cách lai căng làm vẩn đục tiếng Việt như Hà Nội đã làm.

Việc thay đổi chỉ nên thực hiện khi thật sự cần thiết cho việc diễn đạt tư tưởng, hay cải đổi những phi lý rõ rệt mà không nên quá dễ dãi để a dua, mô phỏng nhất thời ngôn ngữ nước ngoài với mục đích làm duyên khiến cho mất sự đơn giản nhưng phong phú và uyển chuyển của tiếng Việt chúng ta.

Tháng 11. 1999
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
0